Chào ngày mới 12 tháng 9

Vị trí của Cabo Verde

CNM365. Chào ngày mới 12 tháng 9. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Quốc khánh tại Cabo Verde. Năm 1683 – Liên quân Thần thánh gồm Ba LanLa Mã Thần thánh và đồng minh giành thắng lợi quyết định trước đế quốc Ottoman trong trận Viên. Năm 1890Harare được những người định cư thành lập, nay là thủ đô của Zimbabwe.Năm 1942Chiến tranh thế giới thứ hai: Mở màn trận chiến đồi Edson trên đảo Guadalcanal giữa quân Đồng Minh và quân Nhật Bản. Năm 1982 – Một tuần trước kỷ niệm sinh nhật thứ 65 của mình, võ sĩ người Mexico El Santo (hình) thi đấu trận cuối cùng trong sự nghiệp.

Cabo Verde

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hoà Cabo Verde
República de Cabo Verde (tiếng Bồ Đào Nha)
Flag of Cape Verde.svg Coat of arms of Cape Verde.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Cabo Verde
Khẩu hiệu
Thống nhất, Việc làm, Tiến bộ
Quốc ca
Cântico da Liberdade
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa
Tổng thống
Thủ tướng
Pedro Pires
José Maria Neves
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Bồ Đào Nha và chín ngôn ngữ khác
Thủ đô Praia
14°55′B, 23°31′T
Thành phố lớn nhất Praia
Địa lý
Diện tích 4.033 km² (hạng 165)
Diện tích nước không có %
Múi giờ UTC-1
Lịch sử
Ngày thành lập 5 tháng 7 năm 1975
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 418.224 người (hạng 164)
Dân số (2001) 401.343 người
Mật độ 101 người/km² (hạng 71)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 2,99 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,721 trung bình (hạng 105)
Đơn vị tiền tệ Escudo Cabo Verde (CVE)
Thông tin khác
Tên miền Internet .cv

Cộng hòa Cabo Verde (thường được biết đến trong tiếng ViệtCáp Ve (ý nghĩa là Mũi Xanh); tiếng Bồ Đào Nha: República de Cabo Verde) tên chính thức là Cộng hòa Cabo Verde, là một quốc đảo gồm một quần đảo san hô 10 đảo nằm ở trung tâm Đại Tây dương, cách bờ biển Tây Phi 570 kilomet.

Lịch sử

Trước đây, quần đảo này không có cư dân. Người Bồ Đào Nha đến Cabo Verde năm 1460 và chiếm Cabo Verde làm thuộc địa từ năm 1495. Phần lớn dân cư ngày nay là người lai giữa người Bồ Đào Nha và người châu Phi.
Với vị trí nằm ngay trên thương lộ nối châu Phi, châu Âuchâu Mỹ, Cabo Verde từng là trung tâm buôn bán nô lệ sầm uất, nhưng đến năm 1876 khi chế độ nô lệ bị bãi thì vị thế quần đảo này phai nhạt dần. Năm 1951, về mặt hành chánh Cabo Verde trở thành một tỉnh hải ngoại của Bồ Đào Nha. Năm 1961, chính phủ Bồ Đào Nha trao quyền công dân cho mọi người dân Cabo Verde, xem họ bình đẳng trước luật pháp như dân ở chính quốc. Phong trào độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng châu Phi vì Độc lập Guiné-Bissau và Cabo Verde (PAIGC), thành lập từ năm 1956. Biến cố đảo chính năm 1974 ở Bồ Đào Nha đánh dấu một trang sử mới khi chính phủ Lisboa theo đuổi chính sách “giải thực” trao độc lập cho các xứ thuộc địa. Sự việc này diễn ra ngày 20 tháng 12 khi Bồ Đào Nha chính thức ký kết trả độc lập cho Cabo Verde. Cabo Verde tuyên bố độc lập ngày 5 tháng 7 năm 1975. Đảng châu Phi vì Độc lập Guiné-Bissau và Cabo Verde nắm quyền lãnh đạo đất nước.
Năm 1977, Đại hội lần thứ 3 PAIGC chủ trương liên kết kinh tế Guiné-Bissau và Cabo Verde, tiến tới hợp nhất 2 nước thành 1 nước cộng hoà nhưng tháng 11 năm 1980, tướng Joao Bernado Vieira (người Guiné-Bissau) tiến hành đảo chính lật đổ Tổng thống Louis Cabral và lên nắm quyền. Sau sự kiện này, Guiné-Bissau và Cabo Verde cắt quan hệ, bộ phận Đảng của Cabo Verde trong PAIGC tách thành PAICV (Đảng người Phi vì Độc lập của Cabo Verde).
Năm 1990, Cabo Verde tiến hành cải cách hiến pháp, tách chức năng của đảng ra khỏi chức năng Nhà nước, chấp nhận chế độ đa đảng. Cuộc tuyển cử đa đảng đầu tiên kể từ khi độc lập diễn ra ngày 13 tháng 1 năm 1991. Đảng Phong trào vì dân chủ giành được đa số phiếu, ứng cứ viên đảng này, Antonio Monteiró trở thành Tổng thống và tái đắc cử năm 1996.
Tháng 12 năm 1995, đảng Phong trào Dân chủ (MPD) lại giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội, chiếm 59% số phiếu bầu (50/72 ghế Quốc hội).[1]
Trong cố gắng phát triển ưu thế về vị trí thuận lợi cả đường biển và đường không xuyên Đại Tây Dương, Nhà nước Cabo Verde tiến hành mở rộng các phi cảng và hải cảng. Các đoàn tàu đánh bắt cá biển và công nghiệp chế biến cá cũng được hiện đại hóa. Tình trạng nghèo đói, thất nghiệp tiếp tục gia tăng, chương trình tư nhân hóa của Chính phủ không mấy thành công đã làm cho đảng Phong trào vì dân chủ thất bại trong cuộc bầu cử năm 2001, José Maria Neves thuộc đảng châu Phi vì Độc lập của Cabo Verde trở thành Thủ tướng.[2]

Cộng đồng người Do Thái ở đất mũi Verdean

Chính trị

Cabo Verde là nước cộng hòa nghị viện. Hiến pháp được phê chuẩn vào năm 1980 và sửa đổi năm 1992, 1995 và 1999. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước và được người dân bầu chọn với nhiệm kỳ 5 năm. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Thủ tướng được đề cử bởi Quốc hội và được tổng thống chỉ định. Các thành viên của Quốc hội được bầu theo phổ thông đầu phiếu cho nhiệm kỳ 5 năm. Ba đảng phái hiện có ghế trong Quốc hội là PAICV 40 ghế, MPD 30 ghế, và Liên minh Dân chủ Cabo Verde độc lập (UCID) 2 ghế.[3]
Hệ thống tư pháp bao gồm một Tòa án tối cao mà các thành viên được bổ nhiệm bởi Tổng thống, Quốc hội và Hội đồng quản trị của ngành Tư pháp và các tòa án khu vực. Tòa án riêng biệt khác nhau sẽ xét xử các vụ dân sự, vi phạm hiến pháp và hình sự.

Đối ngoại

Cabo Verde theo đường lối độc lập dân tộc, không liên kết, quan hệ mật thiết với các nước thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha, chú trọng quan hệ với Bồ Đào Nha, Pháp.

Địa lý

Bãi biển trên đảo São Vincente

Ảnh chụp vệ tinh Cabo Verde, ngày 23 tháng 11 năm 2010.

Cabo Verde là một quần đảo nhỏ ở Tây Phi, nằm ở phía Tây Sénégal. Cabo Verde là một quần đảo núi lửa ở Đại Tây Dương, được chia thành hai nhóm: nhóm Ilhas do Barlavento ở phía Bắc, gồm các đảo Santo Antão (754 km2), Boa Vista (622 km2), São Vincente (246 km2), Sal (298 km2) và Santa Luzia (34 km2); và nhóm Ilhas do Sotavento ở phía Nam gồm có các đảo São Tiago (992 km2), Fogo (477 km2) có một núi lửa còn đang hoạt động, Maio (267 km2) và Brava (65 km2). Địa hình ở các đao này chủ yếu là núi với các vùng đất có nhiều rãnh sâu do xói mòn và nhiều đảo nhỏ.

Khí hậu

Khí hậu tương đối ôn hòa, mùa hè khô và ẩm. Lượng mưa thấp và thất thường. Trung bình nhiệt độ hàng ngày dao động từ 23°C (73°F) trong tháng đến 29°C (84,2 °F) trong tháng 9.[4] Cabo Verde là một phần của vành đai khô cằn Sahel. Mưa không đều giữa tháng 8 và tháng 10 với những trận mưa lớn thường xuyên nhưng không kéo dài.

Môi trường

Nạn phá rừng để lấy gỗ làm nhiên liệu; đất bị xói mòn do tình trạng chăn thả quá mức và sử dụng đất không đúng cách; sa mạc hóa; môi trường bị hủy hoại đe dọa đời sống một số loài chimbò sát; tình trạng đánh bắt quá mức.

Hành chính

Thành phố Nova Sintra, trên đảo Brava.

Thủ đô Praia trên đảo Santiago.

Cabo Verde được chia thành 22 thành phố (concelhos) và 32 giáo xứ (freguesias), các giáo xứ này đã tồn tại trong thời kỳ thuộc địa trên cơ sở giáo xứ của Công giáo:[5]

Trung tâm thành phố Mindelo thuộc giáo xứ Baía do Porto Grande, đảo São Vicente.

Các hòn đảo nhỏ không có người trên đảo Secos Ilhéus hoặc Ilhéus Rombo, nhìn thấy từ ngoài khơi bờ biển, với thị trấn Sintra Nova ở phía trước.

Kinh tế

Kinh tế hướng tới các ngành dịch vụ: thương mại, giao thông vận tảidịch vụ công cộng chiếm khoảng 70% GDP. Mặc dầu gần 70% dân số sống ở nông thôn nhưng nông nghiệp chỉ chiếm 8% GDP, trong đó ngư nghiệp chiếm khoảng 15% (năm 1995). Cabo Verde phải nhập khẩu đến 90% lương thực. Tiềm năng nghề cá, chủ yếu là tôm hùmcá ngừ, còn chưa được quan tâm khai thác.
Tình trạng thâm hụt hàng năm cao, phải nhờ vào viện trợ của quốc tế và tiền gửi của khoảng 60.000 người di cư (số tiền gửi này đóng góp hơn 20% GDP). Những cải cách kinh tế do Chính phủ dân chủ mới đưa ra năm 1991 đã hướng vào phát triển khu vực kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài để đa dạng hóa nền kinh tế.[2] Trước đây Cabo Verde là vùng núi lửa, nay là bán sa mạc, khô cằn, ít mưa, luôn bị hạn, kinh tế nghèo nàn, thiếu lương thực. Nguồn thu nhập chính là thuê sân bay, hải cảng, muối. Đóng góp của kiều dân Cáp-ve ở nước ngoài là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể của nền kinh tế nước này.
Từ năm 2000 đến năm 2009, GDP tăng trung bình hơn 7% một năm, cao hơn mức trung bình so với các nước tiểu vùng Sahara và nhanh hơn so với các nền kinh tế ở các quốc đảo nhỏ nhất trong khu vực. Hoạt động kinh tế phất triển mạnh mẽ do sự góp phần của ngành công nghiệp du lịch được xem là phát triển nhanh nhất trên thế giới, cũng như dòng vốn đầu tư nước ngoài đáng kể cho phép Cabo Verde phát triển mạnh kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm nhanh chóng, và đất nước đang đi đúng hướng để đạt được hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ do Liên Hợp Quốc đề ra, bao gồm giảm một nửa mức nghèo đói trong năm 1990.
Trong năm 2007, Cabo Verde gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trong năm 2008 thoát khỏi danh sách Các quốc gia kém phát triển nhất (LDC) trở thành nước có thu nhập trung bình (MIC).[6][7]
GDP (thực tế): 1,68 tỷ USD (2009). GNP bình quân: 3.900 USD (2009). Tăng trưởng: 1,8% (2009).[1]

Giáo dục

Trường Cao đẳng Đào tạo ở Praia.

Giáo dục tiểu học tại Cabo Verde là bắt buộc trong độ tuổi từ 6 đến 14 và miễn phí cho trẻ em từ 6 đến 12 tuổi.[8] Năm 2008, tỷ lệ nhập học tiểu học là 84%.[9] Khoảng 85% tổng dân số trên 15 tuổi biết chữ.[10] Sách giáo khoa được cung cấp miễn phí tới 90% học sinh, và 90% các giáo viên được tham dự dịch vụ đào tạo giáo viên. Mặc dù hầu hết trẻ em được tiếp cận với giáo dục, nhưng cũng còn một số vấn đề lớn trong việc giáo dục. Ví dụ, nhiều sinh viên và một số giáo viên nói tiếng Creole ở nhà và họ nói không rành tiếng Bồ Đào Nha (ngôn ngữ giảng dạy); không có đủ chi phí cho dụng cụ học tập, và có một tỷ lệ lưu ban cao.

Y tế

Một bệnh viện ở thủ đô Praia.

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng miễn phí, tuy nhiên chất lượng y tế không cao (thiếu thốn trang thiết bị và nhân viên). Khu vực nông thôn chỉ có khoảng 1/2 số dân được sử dụng nước sạch.
Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh tại Cabo Verde là 18 trên 1.000 ca, và tỷ lệ tử vong ở mẹ là 53,7 ca tử vong trên 100.000 ca. Tỷ lệ nhiễm AIDS là thấp – có khoảng 1.700 bệnh nhân HIV/AIDS trong cả nước, với hơn một nửa trong số này nằm ở Praia.

Nhân khẩu học

Số liệu thống kê nhân khẩu học của ESA nói Cabo Verde có dân số 567.000 trong năm 2010.

Dân tộc

Phần lớn dân số là người Creole (lai giữa người da đen và da trắng). Một nghiên cứu di truyền cho thấy tổ tiên của người Cabo Verde chủ yếu là người châu Âu trong dòng nam và Tây Phi trong dòng nữ; tính với nhau tỷ lệ này là 57% châu Phi và 43% châu Âu.[11]

Tôn giáo

Khoảng 95% dân số là Kitô giáo. Hơn 85% dân số là trên danh nghĩa là Công giáo La Mã,[12]. Các giáo phái Tin Lành lớn nhất là Giáo hội Nazarene;. Các nhóm khác bao gồm Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, Mặc Môn, Phong trào Ngũ Tuần và Tin Lành khác. Có một cộng đồng Hồi giáo nhỏ. Những người vô thần được ước tính ít hơn 1% dân số.

Văn hóa

Văn học đất mũi Verdean

Âm nhạc

Âm nhạc đảo quốc này là sự kết hợp giữ âm nhạc Bồ Đào Nha, Caribe, châu Phi, và ảnh hưởng của âm nhạc Brazil.[13] âm nhạc quốc gia tinh túy của Cabo Verde là Morna, một hình thức hát u sầu và trữ tình thường hát bằng tiếng Creole. Thể loại âm nhạc phổ biến nhất sau morna là coladeira tiếp theo funaná và âm nhạc batuque. Thế giới biết đến nền âm nhạc Cabo Verde qua những ca sĩ nổi tiếng thế giới như Ildo LoboCesária Évora mà các bài hát của họ đã trở thành một biểu tượng và nền văn hóa của đất nước. Ngoài ra còn có các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới được sinh ra ở Cabo Verde. Trong số đó có các nghệ sĩ như nghệ sĩ pianojazz Horace Silver, nghệ sĩ saxophone Paul Gonsalves Duke Ellington, Paul Pena, anh em Tavares và ca sĩ Lura.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ chính thức của Cabo Verde là tiếng Bồ Đào Nha. Nó là ngôn ngữ được giảng dạy và là ngôn ngữ chính thức của chính phủ. Tuy nhiên, tiếng Creole được sử dụng một cách thông dụng và được xem là tiếng mẹ đẻ của hầu như tất cả người Cabo Verde.

Giao thông vận tải

Ở Cabo Verde, giao thông vận tải giữa các đảo được thực hiện bằng máy bay. Có các chuyến bay thường xuyên đến và đi từ các đảo chính (Santiago, SalSão Vicente), với các chuyến bay ít hơn đối với các đảo khác. Giao thông vận tải bằng thuyền cũng có sẵn, mặc dù không được sử dụng rộng rãi cũng như sự an toàn không được bảo đảm. Trong các thành phố lớn, xe buýt công cộng chạy theo định kỳ và taxi là phương tiện di chuyển phổ biến. Ở các thị trấn nhỏ, phương tiện giao thông vận tải chủ yếu là xe khác Toyota hiaces hoặc taxi.[14]

Báo chí

Báo chí trực tuyến

Chủ đề hỗn hợp

Tháng
Nhiệt độ
Lượng mưa
Tháng 1
75 °F
24 °C
5,3mm
Tháng 2
75 °F
24 °C
3,8mm
Tháng 3
77°F
25°C
1,3mm
Tháng 4
77°F
25°C
0,0mm
Tháng 5
78°F
25°C
0,0mm
Tháng 6
79°F
26°C
0,0mm
Tháng 7
81°F
27°C
0,8mm
Tháng 8
84°F
29°C
14,1mm
Tháng 9
85°F
29°C
33,6mm
Tháng 10
83°F
29°C
6,5mm
Tháng 11
81°F
27°C
2,5mm
Tháng 12
77°F
25°C
1,6mm

Tham khảo

Liên kết ngoài

Trận Viên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trận Viên
Một phần của Đại chiến Thổ Nhĩ KỳChiến tranh Ottoman-Habsburg
Bitwa pod Wiedniem Brandt.jpg

Trận đánh Kahlenberg, họa phẩm của Joséf Brandt.

.
Thời gian 12 tháng 9 năm 1683
Địa điểm Viên, Áo
Kết quả Liên minh Thần thánh đại thắng
Tham chiến
Liên minh Thần thánh:
Chorągiew królewska króla Zygmunta III Wazy.svg Liên bang Ba Lan-Litva
Flag of the Habsburg Monarchy.svg Áo
Flag of Electoral Saxony.svg Sachsen
Flag of Bavaria (lozengy).svg Bayern
Frankenrechen.svg Franken
Coa Swabia.png Schwaben
Herbzaporowski01.jpg Người Cozak
Flag of the Ottoman Empire (1453-1517).svg Đế quốc Ottoman
Các chư hầu của Ottoman
Gerae-tamga.png Hãn quốc Krym
Coat of arms of Transylvania.svg Công quốc Transilvania
Flag of Wallachia.svg Công quốc Wallachia
Flag of Moldavia.svg Công quốc Moldavia
Chỉ huy
Chorągiew królewska króla Zygmunta III Wazy.svg Jan III Sobieski
Flag of the Habsburg Monarchy.svg Charles V, Công tước Lorraine
Flag of the Habsburg Monarchy.svg Von Starhemberg
Flag of the Ottoman Empire (1453-1517).svg Merzifonlu Kara Mustafa Pasha
Emeric Thokely
Gerae-tamga.png Murat Giray
Lực lượng
Khoảng 80.000 quân

  • 152 khẩu thần công
Khoảng 150.000 quân

  • 12.000 quân Janissary
  • 300 khẩu thần công
Tổn thất
2.000 quân tử vong
2.500 lính bị thương
Ít nhất 10.000 quân tử vong
Ít nhất 5.000 quân bị thương
Khoảng 5.000 quân bị bắt sống
Toàn bộ thần công bị phá nát
.

Trận Viên là trận chiến lớn đã diễn ra vào ngày 12 tháng 9 năm 1683 sau khi Viên (Áo bấy giờ) bị Đế quốc Ottoman bao vây trong vòng 2 tháng. Liên quân Ba Lan-Áo-Đức do vua Ba Lan Jan III Sobieski chỉ huy đã đánh cho Ottoman (do Merzifonlu Kara Mustafa Pasha) thảm bại. Trận chiến đánh dấu sự kết thúc mối đe dọa của Thổ ở miền Trung Âu.

Bối cảnh

Sau khi Köprülü Ahmed Pasha qua đời, Merzifonlu Kara Mustafa Pasha trở thành Đại Vizia của Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 5 tháng 11 năm 1676. Người Hungary nổi dậy chống lại Đế quốc La Mã Thần thánh với mong muốn được làm chư hầu của Thổ Nhĩ Kỳ. Mustafa Pasha đưa Imre Thököly lên làm vua Hungary.
Sau khi trở thành vua Hungary, Imre Thököly gây bạo động chống lại Hoàng đế Leopold I. Quân nổi dậy Hungary kêu gọi sự giúp đỡ của vua Thổ và ngày 14 tháng 7 năm 1683, Mustafa Pasha bao vây thành Viên.

Diễn biến

Cuộc bao vây kéo dài trong 60 ngày. Đại Vizia Kara Mustafa Pasha làm tổng chỉ huy quân Ottoman trong khi Giáo hoàng Innocent XI gửi vua Ba Lan Jan III Sobieski đến chặn đánh quân Ottoman. Quân Ba Lan-Litva của Jan Sobieski có 30.000 trong khi 40.000 Habsburg do Charles V, Công tước xứ Lorraine chỉ huy.[1]
Ngày 12 tháng 9 năm 1683, đội quân Liên minh Thần thánh do Jan Sobieski chỉ huy đánh thắng đội quân Ottoman trên đồi Kahlenberg. Lúc 17 giờ, ông ra lệnh tấn công, với 3 mũi kỵ binh Ba Lan và 1 mũi của Áo. Hai mươn ngàn kỵ binh lao xuống từ các ngọn đồi, tạo nên cuộc xung phong bằng kỵ binh lớn nhất trong lịch sử. Đích thân vua Ba Lan chỉ huy 3000 kỵ binh nặng Winged Hussars. Cuộc tấn công phá vỡ hàng ngũ Ottoman, đánh thẳng vào doanh trại người Thổ trong lúc quân thủ thành xông ra tham chiến. Sau hơn ba tiếng kể từ khi phát động kỵ binh tấn công, người Thiên Chúa Giáo hoàn toàn thắng trận và giải vây được thành Viên. Quân Thổ phải rút về Beograd. Với sự thất bại của người Thổ, người Áo tiến vào Hungary, và xâm lăng Vishgrad, UyvarBudapest.
Đây là lần thứ 2 mà đế quốc Ottoman không thành công trong việc bao vây Viên (sau cuộc vây hãm Viên năm 1529 của Suleiyman Đại đế).

Một số nhân vật lãnh đạo trong trận đánh

Xem thêm

Chú thích

Tham khảo

Link liên quan

Advertisements