Chào ngày mới 10 tháng 3

BanMeThuot.jpg
CNM365. Chào ngày mới 10 tháng 3. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1975Chiến tranh Việt Nam: Quân Giải phóng bắt đầu Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên, và chiếm lĩnh thị xã vào hôm sau. Năm 1814Napoléon Bonaparte bị quân đội Liên minh thứ sáu đánh bại tại trận Laon. Năm  1988 – ngày mất  Phạm Hùng, Thủ tướng Việt Nam (1987-1988) (sinh năm 1912). Năm 1996 –ngày mất Hoàng Xuân Hãn, giáo sư, kĩ sư, nhà Việt Nam học Việt Nam (sinh năm 1908)

10 tháng 3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 10 tháng 3 là ngày thứ 69 (70 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 296 ngày trong năm.

« Tháng 3 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Dương lịch

Âm lịch

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Advertisements

Chào ngày mới 3 tháng 10

 Vị trí của Iraq

CNM365. Chào ngày mới 3 tháng 10. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày quốc khánh tại Iraq (hình); ngày Khai thiên tại Hàn Quốc; Yom Kippur bắt đầu lúc hoàng hôn (Do Thái giáo, 2014). Năm 42 TCNTrận Philippi: Tam hùng Marcus AntoniusAugustus đánh trận quyết định với Brutus và Cassius. Năm 1929 – Vương quốc của người Serb, Croat và Sloven đổi tên thành Vương quốc Nam Tư, “vùng đất của người Nam Slav”. Năm 1990 – Năm bang tái lập của Cộng hòa Dân chủ Đức chính thức sáp nhập vào Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hòa Dân chủ Đức chấm dứt tồn tại. Năm 1993Quân đội Hoa Kỳ cố gắng bắt những người thuộc tổ chức của quân phiệt Somalia Mohamed Farrah Aidid tại trận Mogadishu.

Yom Kippur

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Yom Kippur
Tên chính thức Hebrew: יוֹם כִּפּוּר or יום הכיפורים
Cử hành bởi Người Do Thái
Kiểu Do Thái
Ý nghĩa Số phận của mỗi người được định đoạt cho năm kế tiếp
Ngày Ngày thứ 10 của Tishrei
Năm 2013 hoàng hôn, 13 tháng 9 – màn đêm buông xuống, 14 tháng 9. Karaite: hoàng hôn, 16 tháng 9 – màn đêm buông xuống, 17 tháng 9.
Năm 2014 hoàng hôn, 3 tháng 10 – màn đêm buông xuống, 4 tháng 10. Karaite: chưa rõ do phải căn cứ vào ngày trăng non quan sát được.
Năm 2015 hoàng hôn, 22 tháng 9 – màn đêm buông xuống, 23 tháng 9. Karaite: chưa rõ do phải căn cứ vào ngày trăng non quan sát được.
Hoạt động nhịn ăn, cầu nguyện, tránh thú vui thể xác, nghỉ làm việc

Yom Kippur (tiếng Hebrew: יוֹם כִּפּוּר, IPA: [ˈjom kiˈpuʁ] hoặc יום הכיפורים) là ngày lễ linh thiêng trong năm của người Do Thái. Vào ngày nay người Do Thái thường nhịn ăn (ta’anit) trong khoảng 25 giờ và thường dành gần hết ngày tại Hội đường Do Thái giáo.
Trong tiếng Do Thái, Yom nghĩa là “ngày” còn Kippur có gốc từ mang nghĩa “chuộc lỗi”. Vì vậy mà Yom Kippur có nghĩa là “ngày chuộc lỗi”. Là một trong những ngày lễ quan trọng nhất của Do Thái, Yom Kippur được nhiều dân Do Thái thế tục tuân theo dù họ bỏ qua nhiều ngày lễ khác.

Rosh Hashanah và Yom Kippur

Yom Kippur là “ngày thứ mười của tháng thứ bảy”[1] (Tishrei) và được gọi là “ngày sabbath của các ngày sabbath”. Rosh Hashanah (được kinh Torah gọi là Yom Teruah) là ngày đầu tiên của tháng đó theo lịch Do Thái, đồng thời cũng đánh dấu sự mở đầu của Yamim Nora’im (“Những ngày kính sợ”) trong Do Thái giáo. Yom Kippur là ngày chấm dứt Yamim Nora’im.

Mở sách thiêng

Theo tôn giáo Do Thái, Thượng đế viết số phận của mỗi người cho năm kế tiếp vào một quyển sách gọi là Sách đời vào ngày Rosh Hashanah, đến ngày Yom Kippur thì sẽ “niêm phong” lời phán quyết. Trong thời gian Yamim Nora’im, một người theo Do Thái giáo cố gắng cải thiện hành vi của mình và kiếm tìm sự tha thứ cho các lỗi lầm chống lại Thượng đế (bein adam leMakom) và chống lại người khác (bein adam lechavero). Đêm và ngày diễn ra Yom Kippur được dành cho cầu nguyện và thú tội (Vidui). Cuối ngày Yom Kippur, mọi người hi vọng rằng Thượng đế sẽ tha thứ cho họ.

Buổi hành lễ

Đối với tín đồ Do Thái, vào ngày thường họ có ba buổi hành lễ (Ma’ariv, buổi hành lễ buổi tối; Shacharit, buổi hành lễ buổi sáng; and Mincha, buổi hành lễ buổi chiều), vào ngày Shabbat hoặc Yom Tov thì có bốn buỗi hành lễ (Ma’ariv, Shacharit, Mussaf – buổi hành lễ bổ sung – và Mincha), đến ngày Yom Kippur thì có đến năm buổi hành lễ (Ma’ariv; Shacharit; Musaf; Mincha; và Ne’ilah – buổi hành lễ kết thúc). Trong các buổi hành lễ, người ta thú tội (riêng tư hoặc công khai), trong khi một buổi hành lễ đặc biệt sẽ diễn ra tại Đền thiêng Jerusalem dưới sự chủ trì của vị thầy cả (Kohen Gadol).

Tham khảo

Liên kết ngoài

Iraq

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hoà Iraq
الجمهورية العراقية (tiếng Ả Rập)
Al-Jumhuriyah Al-Iraqiyah (tiếng Ả Rập)
عیراق (tiếng Kurd)
Komara Iraqê (tiếng Kurd)
Flag of Iraq.svg Coat of arms (emblem) of Iraq 2008.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Iraq
Khẩu hiệu
الله أَكْبَر (Allahu Akbar)
(Tiếng Ả Rập: “Thượng Đế vĩ đại”)
Quốc ca
Mawtini¹
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa
Tổng thống
Thủ tướng
Jalal Talabani
Nouri al-Maliki
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Ả Rập, tiếng Kurd
Thủ đô Baghdad² – بغداد
33°20′B, 44°26′Đ
Thành phố lớn nhất Baghdad
Địa lý
Diện tích 437.072 km² (hạng 57)
Diện tích nước 1,1% %
Múi giờ UTC+3
Lịch sử
Độc lập
3 tháng 10, 1932 Từ Anh
28 tháng 6, 2004 Từ Chính quyền Lâm thời Iraq điều khiển bởi Hoa Kỳ
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 31.129.225 [1] người (hạng 39)
Mật độ 62 người/km²
Kinh tế
GDP (PPP) (2003) Tổng số: 38,790 tỉ Mỹ kim
HDI (2003) không xếp hạng
Đơn vị tiền tệ Dinar Iraq (IQD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .iq
¹ Quốc ca của người Kurd là Ey Reqib
² Thủ đô của Vùng tự trị Kurd là Arbil
³ Tôn giáo chính thứcđạo Hồi nhưng người dân được tự do tín ngưỡng

Cộng hoà Iraq (phát âm: I-rắc; phiên âm Hán-Việt là Y Lạp Khắc hay Y Lạp Khắc Cộng hòa quốc) – (tiếng Ả Rập: الجمهورية العراقية Al-Jumhuriyah Al-Iraqiyah) – (tiếng Kurd: عیراق Komara Iraqê) là một quốc gia ở miền Trung Đông, ở phía tây nam của châu Á. Nước này giáp với Ả Rập Saudi, Kuwait về phía nam, Thổ Nhĩ Kỳ về phía bắc, Syria về phía tây bắc, Jordan về phía tây, và Iran về phía đông. Thủ đô Baghdad là trung tâm của đất nước này. Quốc gia này có dân số trong tổng số 36 triệu người, trong đó khoảng 97% theo đạo Hồi, chủ yếu là Shia, Sunni, và các nhóm Kurd.
Iraq có một dải bờ biển hẹp khoảng 58 km (36 mi) ở phía bắcVịnh Ba Tư và lãnh thổ bao gồm đồng bằng Lưỡng Hà, phần tận cùng phía tây bắc của dãy núi Zagrosm, và phần phía đông của hoang mạc Syria.[2] Hai sông chính là TigrisEuphrates, chảy về phía nam qua trung tâm của Iraq và chảy vào Shatt al-Arab gần vịnh Ba Tư. Các sông này cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho vùng đất này.
Khu vực giữa hai sông Tigris và Euphrates thường được gọi là lưỡng hà và được cho là nơi sinh ra chữ viết và các nền văn minh cổ nhất. Vùng đất này cũng là nơi sinh ra nhiều nền văn minh kể từ thiên niên kỷ 6 TCN. Trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử quốc gia này, Iraq từng là trung tâm của đế quốc Akkadian, Sumerian, Assyrian, và Babylon. Nó cũng là một phần của các đế quốc Median, Achaemenid, Hellenistic, Parthian, Sassanid, Roman, Rashidun, Umayyad, Abbasid, Mongol, Safavid, Afsharid, và Ottoman, và dưới sự kiểm soát của AnhLeague of Nations mandate.[3]
Biên giới hiện đại của Iraq đã được phân định chủ yếu vào năm 1920 bởi các Hội Quốc khi Đế quốc Ottoman đã được chia cho theo Hiệp ước Sèvres. Iraq đã được đặt dưới thẩm quyền của Vương quốc Anh như là Nhiệm vụ của Anh Lưỡng Hà. Một chế độ quân chủ được thành lập vào năm 1921 và Vương quốc Iraq giành được độc lập từ Anh năm 1932. Năm 1958, chế độ quân chủ bị lật đổ và Cộng hòa Iraq đã được thành lập. Iraq được kiểm soát bởi của đảng Ba’ath từ năm 1968 cho đến năm 2003. Sau Cuộc xâm lược của Hoa Kỳ và lực lượng đa quốc gia, Saddam Hussein của đảng Ba’ath đã bị truất phế và cuộc bầu cử quốc hội diễn ra. Sự hiện diện của Mỹ ở Iraq kết thúc năm 2011.[4] nhưng các cuộc nổi dậy ở Iraq tiếp tục diễn ra và tăng cường các máy bay chiến đấu từ nội chiến Syria đổ vào nước này.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Iraq

Vùng đất màu mỡ Lưỡng Hà Châu nằm giữa hai con sông EuphratesTigris là nơi hình thành một số nền văn minh cổ đại trên thế giới như Sumer, Babylon, Assyria. Sau một thời gian dài là một bộ phận của Ba Tư, nó đã bị người Ả Rập xâm chiếm vào năm 637 và năm 762 Khalif đã được chuyển tới thành phố mới Bagdad (gần Babylon cổ). Thành phố này là trung tâm của thế giới Ả Rập cho đến khi bị sáp nhập vào Đế chế Ottoman năm 1534.
Năm 1915, quân đội Anh xâm chiếm Iraq và thiết lập chế độ thuộc địa theo sự phân chia của Hội Quốc Liên, chế độ này bị kết thúc bằng sự độc lập của Iraq năm 1932. Những người theo đường lối chủ nghĩa xã hội Ả Rập, đảng Ba’ath, đã giành quyền lãnh đạo vào năm 1968 và thiết lập một chế độ hà khắc, đặc biệt là sau khi Saddam Hussein lên nắm quyền năm 1979. Trong thập niên 1980 đã xảy ra Chiến tranh Iran-Iraq giữa Iraq và nước láng giềng Iran, được kết thúc năm 1988.
Sau khi Iraq tấn công Kuwait năm 1990Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 tiến hành bởi các lực lượng quốc tế nhằm đáp trả hành động xâm lược của Iraq thì Iraq đã bị cô lập trên trường quốc tế đến mùa xuân năm 2003 khi các quân đội Mỹ, Anh, ÚcBa Lan tấn công vào Iraq bằng không quân, hải quân và lục quân sau khi Iraq không đồng ý cho các lực lượng quốc tế vào tìm kiếm vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đảng Ba’ath và Saddam Hussein bị lật đổ vì sức kháng cự của quân đội Iraq hết sức yếu ớt.

Chính trị

Bài đọc chính: Chính trị Iraq
Từ năm 1979 cho đến năm 2003 Iraq là một quốc gia độc tài, toàn bộ quyền lực quốc gia tập trung trong tay đảng Ba’ath dưới sự lãnh đạo của tổng thống Saddam Hussein. Chính quyền này tự cho là dân chủ nhưng trong cuộc bầu cử tổng thống gian dối cuối cùng Saddam Hussein đã nhận được 100% số phiếu bầu với 100% số phiếu được kiểm.
Nghị viện duy nhất của Iraq là Quốc hội hay Majlis al-Watani có 325 ghế với nhiệm kỳ 4 năm. Cũng giống như bầu cử tổng thống, không có ứng viên nào không phải là đảng viên đảng Ba’ath.

1 binh sĩ Mỹ tặng quà cho em bé Iraq sau khi chế độ Saddam bị lật đổ

Iraq hiện nay (thời điểm 20042005) nằm dưới sự chiếm đóng của Mỹ sau Chiến tranh Iraq-Mỹ và liên quân làm tan rã đảng Ba’ath vào tháng 4 năm 2003. Tương lai chính trị của đất nước này hiện nay không chắc chắn do hàng loạt các cuộc tấn công của du kích quân vào quân đội Mỹ và liên quân làm cho hy vọng về sự ổn định hậu chiến trở nên mong manh. Cướp bóc tràn lan, tội phạm cũng như các vấn đề về hạ tầng cơ sở vẫn tiếp tục tàn phá đất nước này. Người đứng đầu quản lý dân sự của lực lượng chiếm đóng là ông L. Paul Bremer. Chính quyền lâm thời chỉ định hội đồng bộ trưởng và các chức vụ khác.
Tháng 11 năm 2003 Mỹ thông báo có kế hoạch trao trả quyền độc lập cho chính quyền lâm thời Iraq vào giữa năm 2004. Kế hoạch do Mỹ cam kết hỗ trợ (tiến hành tổ chức họp kín để bầu ra các chức vụ lãnh đạo) đã bị giáo chủ Ali al-Sistani phản đối. Kết quả của việc phản đối này là hàng loạt các cuộc biểu tình hòa bình phản đối kế hoạch kể trên. Sistani, giáo sĩ có uy tín nhất tại Iraq nói rằng kế hoạch này dễ bị biến tướng và chỉ tạo ra một chính quyền thân Mỹ mà không đại diện cho nhân dân. Mỹ đã phải tìm kiếm sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc để giải quyết những bất đồng này.
Việc chuyển giao chủ quyền diễn ra vào ngày 28 tháng 6 năm 2004. Tổng thống tạm quyền là Sheikh Ghazi Mashal Ajil al-Yawer, và thủ tướng tạm quyền là Iyad Allawi.
Theo luật về điều hành Iraq trong giai đoạn chuyển tiếp (Hiến pháp tạm thời) ký tháng 3 năm 2004 thì việc điều hành đất nước do Hội đồng tổng thổng gồm 3 thành viên đảm nhiệm. Hệ thống bầu cử sẽ đảm bảo một cách có hiệu quả để đại diện cho ba sắc tộc chính ở Iraq đều có sự hiện diện. Hiến pháp công nhận các quyền tự do cơ bản như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do hiệp hội và trên nhiều phương diện nó cởi mở hơn so với Hiến pháp Mỹ.

Binh sĩ Iraq tại thành phố Adhamiya

Tuy nhiên có nhiều điểm gây tranh cãi như việc công nhận mọi đạo luật có hiệu lực kể từ ngày chuyển giao quyền lực không thể bãi bỏ hay sự không rõ ràng trong việc lực lượng liên quân có thể kiểm soát đất nước hay không cho dù có sự chuyển giao quyền lực. Lực lượng quân đội, cảnh sát Iraq hiện nay với trang thiết bị nghèo nàn khó có thể kiểm soát tình hình an ninh trong nước. Điều đó có nghĩa là liên quân sẽ còn ở Iraq trong nhiều năm tới.
Cuối tháng 1 năm 2005 người dân Iraq lần đầu tiên kể từ tháng 4 năm 2003 đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình là đi bỏ phiếu bầu cử tổng thống. Với 48% số phiếu nhận được, liên minh của người Shi’ite đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử lịch sử của Iraq. Liên minh của cộng đồng Kurd đứng thứ hai với 26% phiếu, theo công bố 13/2/2005 của Uỷ ban bầu cử. Sau bầu cử là cuộc chạy đua để thành lập một chính quyền mới với nhiều khó khăn, và đến tận 07/4 Tổng thống lâm thời mới của Iraq Jalal Talabani chính thức làm lễ tuyên thệ.

Các tỉnh

Bài đọc chính: Các tỉnh Iraq
Iraq được chia thành 18 tỉnh (tiếng Ả Rập: muhafazat, số ít muhafazah; tiếng Kurd: پاریزگه hay Pârizgah). Lúc thì gọi nó là “chế độ thống đốc,” nhất là trong những văn kiện của chính phủ Iraq.

Bản đồ tham chiếu những thành phố lớn của Iraq

Địa lý

Bài đọc chính: Địa lý Iraq
Phần lớn đất đai Iraq là sa mạc, nhưng khu vực giữa hai con sông lớn EuphratesTigris là đất màu mỡ do hai con sông này bồi đắp phù sa cho đồng bằng châu thổ khoảng 60 triệu mét khối hàng năm. phía bắc đất nước là khu vực miền núi rộng lớn với đỉnh cao nhất là Haji Ibrahim cao 3,600 m. phía nam Iraq có bờ biển ngắn nhìn ra vịnh Ba Tư. Gần phía bờ biển và dọc theo Shatt al-Arab là những khu đầm lầy, tuy nhiên phần lớn khu vực này đã được cải tạo tưới tiêu những năm thập niên 1990.
Khí hậu phần lớn là khí hậu miền xa mạc với mùa đông ôn đới lạnh và mùa hè khô, nóng, ít mưa. Vùng núi phía bắc có mùa đông lạnh, thỉnh thoảng có nhiều tuyết rơi có thể gây ngập lụt. Thủ đô Baghdad nằm ở phần trung tâm đất nước trên bờ sông Tigris. Các thành phố lớn khác như Basra ở phía nam, Mosul ở phía bắc. Iraq được coi là một trong số 15 quốc gia thuộc “cái nôi của nhân loại“.[cần dẫn nguồn]

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Iraq

Kinh tế Iraq phụ thuộc chủ yếu vào nguồn lợi thu được từ dầu mỏ, hàng năm thu được khoảng 95% cho nguồn ngoại tệ của đất nước. Việc thiếu sự phát triển trong các lĩnh vực khác làm cho tỉ lệ thất nghiệp 18%–30% và kéo tụt GDP đầu người còn 4.000 USD.[5] Việc làm trong lĩnh vực công chiếm gần 60% số lao động toàn thời gian năm 2011.[6] Ngành công nghiệp xuất khẩu dầu tạo ra rất ít việc làm.[6] Hiện tại Hiện nay chỉ có một tỷ lệ khiêm tốn phụ nữ (ước tính cao nhất cho năm 2011 là 22%) tham gia vào lực lượng lao động.[6]
Trong thập niên 1980 các chi phí khổng lồ cho Chiến tranh Iraq-Iran do Saddam Hussein phát động cũng như các tổn thất nặng nề cho ngành khai thác dầu khí đã gây ra nhiều khó khăn về tài chính cho Iraq và chính quyền Saddam phải sử dụng các biện pháp bắt buộc như thực hiện chính sách tài chính buộc chặt, vay lãi, chậm trả nợ. Thiệt hại của Iraq do cuộc chiến tranh này gây ra ước độ 100 tỷ đô la Mỹ. Sau khi kết thúc chiến tranh vào năm 1988, xuất khẩu dầu mỏ của Iraq lại tăng lên do việc xây dựng các đường ống dẫn dầu mới và phục hồi của các cơ sở khai thác dầu.
Iraq xâm lược Kuwait vào tháng 8 năm 1990 với hậu quả là trừng phạt kinh tế của cộng đồng quốc tế cũng như tổn thất của chiến tranh vùng Vịnh do liên quân, đứng đầu là Mỹ, tiến hành tháng 1 năm 1991 đã làm suy giảm các hoạt động kinh tế của I-rắc. Chính sách sử dụng vũ lực cũng như các chi phí để duy trì an ninh của chính quyền Iraq đã làm cho nền kinh tế suy yếu.
Việc Liên Hiệp Quốc cho phép Iraq thực thi chương trình “đổi dầu lấy lương thực” vào tháng 12 năm 1996 đã góp phần cải thiện đời sống cho người dân Iraq. Trong sáu tháng giai đoạn đầu tiên của chương trình này Iraq được phép xuất khẩu một lượng giới hạn dầu mỏ để đổi lấy lương thực, thuốc men và một số nhu yếu phẩm khác.
Tháng 12 năm 1999 Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc cho phép Iraq xuất khẩu dầu mỏ theo chương trình này với một lượng đủ để đảm bảo các nhu cầu dân sự. Dầu mỏ đã được xuất khẩu nhiều hơn 3/4 sản lượng của thời kỳ trước chiến tranh. Tuy nhiên 28% thu nhập của Iraq từ xuất khẩu dầu mỏ theo chương trình này đã bị chiết trừ vào quỹ đền bù và dành cho các chi phí quản lý của Liên Hiệp Quốc. Tổng thu nhập quốc nội (GDP) trong năm 2001 đã bị giảm mạnh do kinh tế thế giới đi xuống cũng như giá dầu mỏ giảm mạnh.
Kể từ sau sự kiện xâm chiếm Iraq vào 2003 đã có những cố gắng để đưa nền kinh tế nước này thoát khỏi các hậu quả chiến tranh cũng như thế giới tội phạm tràn lan.

Dầu và năng lượng

Với trữ lượng dầu 143,1 tỷ thùng (2,275×1010 m3) đã được xác định, Iraq xếp thứ 2 trên thế giới sau Ả Rập Saudi về trữ lượng dầu.[7][8] Sản lượng dầu đạt 3,4 triểu thùng/ngày vào tháng 12 năm 2012.[9] Iraq dự định tăng sản lượng đến 5 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2014.[10] Chỉ có khoảng 2.000 giếng dầu đã được khoan ở Iraq, so với khoảng 1 triệu giếng chỉ tính riêng ở Texas.[11] Iraq là một trong những nhà sáng lập của tổ chức OPEC.[12][13]
Tính đến năm 2010, mặc dù cải thiện an ninh và hàng tỷ đô la doanh thu dầu, Iraq vẫn tạo ra khoảng một nửa lượng điện cho nhu cầu của khách hàng, dẫn đến các cuộc biểu tình trong những tháng hè nóng bức.[14]
Ngày 14 tháng 3, 2014, Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho biết sản lượng dầu của Iraq đã tăng nửa triệu thùng một ngày vào tháng Hai tới trung bình 3,6 triệu thùng một ngày. Đất nước này đã không được bơm nhiều dầu như thế nhiều kể từ năm 1979, khi Saddam Hussein lên nắm quyền.[15]

Dân số

Bài chi tiết: Dân số Iraq
Lịch sử dân số tính theo triệu dân
Năm Dân số  %±
1878 2,0
1947 4,8 140.0%
1957 6,3 31.3%
1977 12,0 90.5%
1987 16,3 35.8%
1997 22,0 35.0%
2009 31,6 43.6%
Nguồn: [16][17][18]

Theo ước tính tháng 4 năm 2009, tổng dân số Iraq là 31.234.000,[19] dân số năm 1878 chỉ khoảng 2 triệu người.[16] Chính phủ Iraq công bố dân số đạt 35 triểu do bùng nổ dân số sau chiến tranh.[20]
Khoảng 75% dân số Iraq là người Ả Rập[5], dân tộc người thiểu số chính là người Kurd (15%) sống tại khu vực miền bắc và đông bắc nước này. Nhũng dân tộc khác có thể kể đến là người Turkoman, Assyria, Iran, Lur, Armenia.[5] Khoảng 20.000 Người Ả Rập Marsh sống ở miền nam Iraq.[21] Iraq cũng có khoảng 2.500 người Chechen.[22] Miền nam Iraq bao gồm những người Iraq gốc Phi, một di sản của chế độ nô lệ thực hành thời Caliphate Hồi giáo bắt đầu trước Zanj Rebellion của thế kỷ thứ 9, và vai trò của Basra là một cổng chính.[23]

Tôn giáo

Iraq là một quốc gia theo đạo Hồi; Người theo đạo hồi chiếm khoảng 97% dân số,[5] bao gồm Shia và Sunni. Các nguồn tham khảo cho thấy khoảng 65% người theo đạo Hồi ở Iraq là Shia, và khoảng 35% là Sunni.[5][24] Người theo Sunni than phiền phải đối mặt với phân biệt đối xử trong gần như tất cả các khía cạnh của cuộc sống của chính phủ. Tuy nhiên, Thủ tướng Nouri al-Maliki từ chối điều này.[25] Người Iraq theo công giáo đã định cư ở vùng đất ngày nay là Iraq cách nay 2000 năm.[26] Người theo công giáo khoảng 1,4 triệu năm 1987.[27] người Assyria bản địa, hầu hết trong số họ là tín đồ của Chaldean Catholic Church, Giáo hội Đông phương AssyriaGiáo Hội Chính thống Syria chiếm hầu hết dân số Kitô giáo. Ước tính số lượng các Kitô hữu giảm từ 8-10% trong giữa thế kỷ 20 đến 5% trong năm 2008. Hơn một nửa số Kitô hữu Iraq đã trốn sang các nước láng giềng kể từ đầu chiến tranh, và số nhiều đã không quay trở lại, mặc dù một số di cư trở về quê hương Assyria truyền thống trong khu vực tự trị của người Kurd.[28][29]
Ngoài ra còn có các nhóm tôn giáo nhỏ của dân tộc thiểu số như Mandaean, Shabaks, YarsanYezidi. Cộng đồng người Do Thái Iraq có số lượng khoảng 150.000 vào năm 1941, đã gần như hoàn toàn rời khỏi đất nước này.[30]
Iraq có hai nơi linh thiêng nhất trên thế giới trong nhóm Hồi giáo Shia là NajafKarbala.[31]

Ngôn ngữ

Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính, Tiếng Kurd được nói trong số khoảng 10–15% dân số, tiếng Azerbaijan,[32] tiếng Neo-Aramaic của Assyrian và các nhóm khác khoảng 5%.[5]
Trước cuộc xâm lược năm 2003, tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức duy nhất. Kể từ khi Hiến pháp Iraq được thông qua tháng 6 năm 2004, cả tiếng Ả Rập và Kurdish là hai ngôn ngữ chính thức,[33] trong khi Assyrian Neo-Aramaictiếng Turkmen (được gọi theo thứ tự là “Syriac” và “Turkmen” trong Hiến pháp) được công nhận là các ngôn ngữ địa phương.[34] Ngoài ra, bất kỳ vùng hay tỉnh có thể tuyên bố ngôn ngữ chính thức khác nếu phần lớn dân cư chấp thuận trong cuộc trưng cầu dân ý.[35]
Theo Hiếp pháp Iraq: “Tiếng Ả Rập và Kurd là 2 ngôn ngữ chính thức của Iraq. Để giáo dục trẻ em tiếng mẹ đẻ của chúng, như tiếng Turkmen, Syriac/Assyrian, và Armenian nên được bảo đảm trong cơ sở giáo dục của chính phủ theo hướng dẫn giáo dục, hoặc trong bất kỳ ngôn ngữ khác trong các cơ sở giáo dục tư nhân”.[36]

Tị nạn

Sự di tản của người Iraq bản địa đến các quốc gia khác được gọi là diaspora Iraq. Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc ước tính có khoảng 2 triệu ngưới Iraq đã rời khỏi đất nước của họ sau sự xâm lược của lực lượng đa quốc gia vào Iraq năm 2003, chủ yếu sang SyriaJordan.[37] Trung tâm Giám sát di tản nội bộ ước tính hiện có thêm 1,9 triệu người hiện đã di tản trong đất nước này.[38]
Năm 2007, U.N. nói rằng khoảng 40% tầng lớp trung lưu Iraq được tin là đã chạy trốn và hầu hết đang chạy trốn khỏi cuộc đàn áp có hệ thống và không có mong muốn quay trở lại.[39] Người tị nạn đang bị sa lầy trong nghèo đói như họ thường bị cấm làm việc tại nước họ đến.[40][41] Trong những năm gần đây diaspora có vẻ đã trở lại với an ninh được tăng cường; chính phủ Iraq tuyên bố có 46.000 người tị nạn đã tự trở về nhà của họ vào tháng 10 năm 2007.[42]
Đến năm 2011, gần 3 triệu người Iraq đã di tản, với 1,3 triệu trong lãnh thổ Iraq và 1,6 triệu đã ra nước láng giềng, chủ yếu là Jordan và Syria.[43] Hơn phân nửa người Iraq theo công giáo đã chạy trốn khỏi quốc gia này từ năm 2003.[44][45] Theo thống kê của cơ quan Di dân và Công dân Hoa Kỳ, 58.811 người Iraq đã được cấp quyền công dân Hoa Kỳ theo cơ chế tị nạn đến ngày 25 tháng 5, 2011.[46]
Để thoát khỏi cuộc nội chiến, hơn 160.000 người tị nạn Syria thuộc nhiều sắc tộc khác nhau đã chạy trốn đến Iraq từ năm 2012.[47] Sự gia tăng bạo lực trong cuộc nội chiến Syria đã làm cho số người Iraq trở về quê hương của họ từ Syria ngày càng tăng.[48]

Văn hoá

Bài đọc chính: Văn hoá Iraq

Những vấn đề khác

Chú thích

  1. ^ Dân số các Quốc Gia trên Thế Giới, CIA World Factbook ước tính
  2. ^ “Declaration of Principles for a Long-Term Relationship of Cooperation and Friendship Between the Republic of Iraq and the United States of America”. 26 tháng 11 năm 2007.
  3. ^ “Top 10 Battles for the Control of Iraq”. Livescience.com. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2009.
  4. ^ Basu, Moni (18 tháng 12 năm 2011). “Deadly Iraq war ends with exit of last U.S. troops”. CNN.com. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011.
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cia
  6. ^ a ă â “Unemployment Threatens Democracy in Iraq”. USAID Iraq. Tháng 1 năm 2011.
  7. ^ “World Proved Reserves of Oil and Natural Gas, Most Recent Estimates”. Energy Information Administration. 3 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2013.
  8. ^ “Iraqi oil reserves estimated at 143B barrels”. CNN. 4 tháng 10 năm 2010.
  9. ^ “Iraq’s flood of ‘cheap oil’ could rock world markets”. The Washington Times. 3 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  10. ^ “Iraq Opens New Oil Terminal”. Nuqudy English. 12 tháng 2 năm 2012.
  11. ^ “U.S. Electricity Imports from and Electricity Exports to Canada and Mexico Data for 2008”. Web.archive.org. 26 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2013.
  12. ^ “Iraq facts and figures”. OPEC. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013.
  13. ^ “OPEC Announces it Will Absorb The Increase in Iraq’s”. Iraqidinar123. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2014.
  14. ^ “Iraqi Minister Resigns Over Electricity Shortages”. 22 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2010.
  15. ^ The Wall Street Journal(March 14, 2014) “Iraq’s Oil Output Surges to Highest Level in Over 30 Years”. The Wall Street Journal.
  16. ^ a ă Charles Philip Issawi (1988). The Fertile Crescent, 1800–1914: A Documentary Economic History. Oxford University Press. tr. 17. ISBN 978-0-19-504951-0.
  17. ^ “Population Census”. Central Organization for Statistics.
  18. ^ “Population Of Iraq For The Years 1977 – 2011 (000)”. Central Organization for Statistics.
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên imf2
  20. ^ “Iraqi population reaches about 35 million”. Aswat Al Iraq. 27 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2013.
  21. ^ Sharp, Heather (3 tháng 3 năm 2003). “BBC News – Iraq’s ‘devastated’ Marsh Arabs”. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2008.
  22. ^ “Chechens in the Middle East: Between Original and Host Cultures”. Belfer Center for Science and International Affairs. 18 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2010.
  23. ^ Williams, Timothy (2 tháng 12 năm 2009). “In Iraq’s African Enclave, Color Is Plainly Seen”. The New York Times.
  24. ^ “Mapping the Global Muslim Population” (PDF). Pew Forum on Religion & Public Life. tr. 10. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2013.
  25. ^ “Shias dominate Sunnis in the new Iraq”. CBC news World. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014.
  26. ^ “Iraqi Christians’ long history”. BBC News. 1 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2013.
  27. ^ “IRAQ: Christians live in fear of death squads”. IRIN Middle East. IRIN. 19 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2013.
  28. ^ Assyria. UNPO (2008-03-25). Retrieved on 2013-12-08.
  29. ^ Paul Schemm (15 tháng 5 năm 2009). “In Iraq, an Exodus of Christians”. Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2010.
  30. ^ Stone, Andrea (27 tháng 7 năm 2003). “Embattled Jewish community down to last survivors”. Usatoday.com. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2011.
  31. ^ On Point: The United States Army In Operation Iraqi Freedom – Page 265, Gregory Fontenot – 2004
  32. ^ Iraqi Constitution, Article 4
  33. ^ Iraqi Constitution, Article 4, 1st section
  34. ^ Iraqi Constitution, Article 4, 4th section
  35. ^ Iraqi Constitution, Article 4, 5th section
  36. ^ Iraqi Constitution. iraqinationality.gov.iq
  37. ^ “Warnings of Iraq refugee crisis”. BBC News. 22 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007.
  38. ^ “A displacement crisis”. 30 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007.
  39. ^ Lochhead, Carolyn (16 tháng 1 năm 2007). “40% of middle class believed to have fled crumbling nation”. The San Francisco Chronicle.
  40. ^ Leyne, Jon (24 tháng 1 năm 2007). “Doors closing on fleeing Iraqis”. BBC News. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2010.
  41. ^ “Plight of Iraqi refugees worsens as Syria, Jordan impose restrictions”.
  42. ^ Black, Ian (22 tháng 11 năm 2007). “Iraqi refugees start to head home” (PDF). The Guardian (London). Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2010.
  43. ^ “Will Iraq’s 1.3 million refugees ever be able to go home?”. London: The Independent. 16 tháng 12 năm 2011.
  44. ^ “Christian areas targeted in Baghdad attacks”. BBC. 10 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010.
  45. ^ Sabah, Zaid; Jervis, Rick (23 tháng 3 năm 2007). “Christians, targeted and suffering, flee Iraq”. USA Today.
  46. ^ “USCIS – Iraqi Refugee ProcessingFact Sheet”. Uscis.gov. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2011.
  47. ^ “Demographic Data of Registered Population”. UNHCR.
  48. ^ “Iraqi refugees flee war-torn Syria and seek safety back home”. UNHCR. 18 tháng 6 năm 2013.

Liên kết bên ngoài

Liên kết đến Ân xá Quốc tế

Bản mẫu:Tây nam Á


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Chào ngày mới 10 tháng 3

Tập tin:Firebombing of Tokyo.jpg
CNM365 Chào ngày mới 10 tháng 3 Wikipedia Ngày này năm xưa.  Năm 1831 – Quốc vương Louis-Philippe I của Pháp ra sắc lệnh thành lập đội quân Lê dương Pháp nhằm phục vụ trong cuộc chiến của Pháp tại Algeria. Năm 1905­ – Chelsea F.C. được thành lập tại Luân Đôn, nay là một trong các câu lạc bộ hàng đầu của bóng đá Anh. Năm 1909Hiệp ước Anh-Xiêm được ký kết, theo đó Xiêm từ bỏ chủ quyền đối với các quốc gia Mã Lai Kedah, Kelantan, PerlisTerengganu, các khu vực này trở thành lãnh thổ bảo hộ của Anh. Năm 1945Chiến tranh thế giới thứ hai: Các máy bay B-29 của Hoa Kỳ oanh tạc thủ đô Tokyo của Nhật Bản khiến hơn 100.000 dân thường thiệt mạng. Năm 1978 – Nguyên mẫu oanh tạc cơ Mirage 2000, do hãng Dassault Aviation của Pháp thiết kế và chế tạo, thực hiện chuyến bay đầu tiên.

Oanh tạc Tokyo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tàn tích sau trận ném bom

Oanh tạc Tokyo là một loạt các đợt không kích được thực hiện bởi Không lực Hoa Kỳ diễn ra trên mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến II và đây là một trong những trận ném bom tàn phá khủng khiếp nhất trong lịch sử.

Trận không kích Doolittle

Thành phố Tokyo chìm trong biển lửa sau một đợt ném bom của các máy bay B-29, 26 tháng 5-1945

Trận không kích đầu tiên được thực hiện nhắm vào TokyoTrận không kích Doolittle diễn ra vào ngày 18 tháng 4-1942, khi 16 máy bay B-25 Mitchell xuất phát từ tàu USS Hornet tấn công các mục tiêu bao gồm cả Yokohama và Tokyo rồi sau đó hạ cánh tại các sân bay ở Trung Quốc. Mặc dù đợt không kích không gây thiệt hại cho tiềm lực quân sự của Nhật nhưng đây là một thắng lợi về mặt tuyên truyền của Mỹ. Khi mà lần đầu tiên các máy bay ném bom Mỹ có thể tấn công ngay vào chính quốc Nhật. Vì kế hoạch ném bom chưa được hoạch định hoàn tất trong trận không kích này, không máy bay nào trở về được căn cứ, tất cả đều bị rơi hay phải hạ cánh khẩn cấp (ngoại trừ một máy bay đã hạ cánh thành công bên trong lãnh thổ Xô viết, sau đó bị giam giữ và được bí mật hồi hương). Hai phi hành đoàn còn lại bị bắt làm tù binh.

Nhiệm vụ các máy bay B-29

Một khu dân cư bị phá hủy gần như hoàn toàn.

Một người mẹ đang địu con trên lưng khi cuộc không kích diễn ra, phần lưng sau đó không bị cháy xém.

Tokyo-kushu-hikaku.jpg

Chìa khóa thành công của chiến dịch là các máy bay B-29, với tầm bay lên đến 3.250 hải lý (6.019 km); 90% lượng bom được thả xuống nước Nhật là được thực hiện bởi loại máy bay này. Những đợt không kích ban đầu là do không lực 20 đảm nhiệm, cất cánh từ các sân bay ở Trung Quốc trong chiến dịch Matterhorn dưới quyền của đơn vị chỉ huy và điều phối ném bom XX Bomber Command. Tiếp sau đó, những chiếc B-29 cũng hoạt động dưới quyền XXI Bomber Command từ căn cứ ở quần đảo Bắc Mariana tháng 11-1944. Sau chiến dịch Matterhoren các máy bay B-29 của đơn vị XX Bomber Command chuyển sang hoạt động trong đơn vị XXI Bomber Command ở căn cứ không quân Guam mùa xuân 1945.
Trong phi vụ đầu tiên của chiến dịch, 174 máy bay B-29 sử dụng chiến thuật bay tầm thấp và mang theo bom cháy thả xuống Tokyo vào đêm 24–25 tháng 1-1945 gây phá hủy một vùng rộng 3 km2.
Nhằm mục đích tăng bán kính phá hủy cũng như thiệt hại cho người Nhật, Không quân Mỹ đã thay đổi chiến lược ném bom. Trong đợt tiếp theo, đã có 335 máy bay B-29 cất cánh[1] vào đêm 9–10 tháng ba, 279 máy bay trong số đó[1] đã thả xuống Tokyo 1.700 tấn bom, với tổn thất là 14 chiếc B-29.[1] Xấp xỉ một diện tích rộng 16 dặm vuông (41 km²) bị tàn phá và khoảng 100.000 người được ước tính đã chết ngay lập tức trong biển lửa, hơn cả con số thương vong do bom gây ra ở Hiroshima hay Nagasaki.[2][3] Theo Cơ quan khảo sát ném bom chiến lược Hoa Kỳ đã ước tính con số bao gồm 88.000 người chết trong đợt này, 41.000 bị thương, và hơn một triệu cư dân mất nhà cửa. Về phía Sở cứu hỏa Tokyo ước tính con số thiệt hại cao hơn: 97.000 người chết và 125.000 bị thương. Còn theo ước tính của Sở cảnh sát Thủ đô Tokyo thì 124.711 người thương vong bao gồm chết và bị thương và tổng cộng 286.358 tòa nhà bị phá hủy. Tuy nhiên nhà sử học Richard Rhodes cho rằng số người tử vong vượt quá con số 100.000, và số người bị thương trong khoảng một triệu cùng với số nhà bị phá hủy cũng là một triệu. Những ước tính về thiệt hại đã bị hạ thấp hơn thực tế: nhà báo Mark Selden viết trên tờ Japan Focus như sau.

Con số xấp xỉ 100.000 người chết, được đưa ra đồng thời bởi các cơ quan chính quyền Nhật và Mỹ, cả hai phía trong cuộc chiến đều có những lý do riêng để hạ thấp con số thương vong, đối với tôi dường như con số thực tế đã bị hạ thấp nếu so với mật độ dân số cao của thành phố, điều kiện gió lúc diễn ra chiến dịch cũng như các ghi nhận của những người sống sót. Với mật độ trung bình của Tokyo là 103.000 người một dặm vuông và đạt mức cao nhất là 135.000 người, mật độ dân số cao nhất trên bất cứ thành phố công nghiệp nào khắp thế giới, con số ước tính diện tích tàn phá là 15 dặm vuông (41 km2) thành phố Tokyo là quá ư là phi lý khi mà những cơn gió dữ dội đã khiến ngọn lửa lan nhanh và hàng ngàn người bị mắt kẹt trong bức tường lửa khi trận ném bom xảy khiến cho họ không thể thoát khỏi đám cháy. Ước tính có đến 1,5 triệu người nằm trong vùng bị bao phủ bởi đám cháy[4]

Nơi bị tàn phá nặng nề nhất trong chiến dịch là khu vực nằm về phía Đông của Hoàng cung Tokyo.
Đến cuối cuộc chiến tranh, hơn 50% diện tích Tokyo bị phá hủy.

Diễn biến

  • 19 tháng 2-1945: 119 máy bay B-29 đánh trúng hải cảng và vùng ngoại ô thành phố.
  • 25 tháng 2-1945: 174 máy bay B-29 thả bom cháy phá hủy gần 28.000 tòa nhà.
  • 4 tháng 3-1945: 159 máy bay B-29 đánh trúng vùng ngoại ô[1]
  • 10 tháng 3-1945: 334 máy bay B-29 thả bom cháy phá hủy xấp xỉ 267.000 tòa nhà; tương đương gần 25% thành phố[1] (Chiến dịch Meetinghouse) giết chết 100.000 dân thường.
  • 2 tháng 4-1945: >100 máy bay B-29 đánh bom nhà máy sản xuất máy bay Nakajima.
  • 3 tháng 4-1945: 68 máy bay B-29 đánh bom nhà máy sản xuất máy bay Koizumi và vùng ngoại ô Tokyo
  • 7 tháng 4-1945: 101 máy bay B-29 đánh bom nhà máy sản xuất máy bay Nakajima.
  • 13 tháng 4-1945: 327 máy bay B-29 đánh bom kho đạn.
  • 15 tháng 4-1945: 109 máy bay B-29 đánh trúng vùng ngoại ô
  • 24 tháng 5-1945: 520 máy bay B-29 đánh trúng khu công nghiệp ở vùng ngoại ô phía Nam Hoàng cung Tokyo.
  • 26 tháng 5-1945: 464 máy bay B-29 đánh trúng vùng ngoại ô ngay phía Nam Hoàng cung Tokyo.
  • 20 tháng 7-1945: 1 máy bay B-29 thả một trái bom bí ngô (một loại vũ khí chiến lược giống như bom hạt nhân) nhưng không trúng Hoàng cung Tokyo[5]
  • 8 tháng 8-1945: khoảng 60 máy bay B-29 đánh trúng nhà máy sản xuất máy bay và kho đạn.
  • 10 tháng 8-1945: 70 máy bay B-29 đánh trúng một phức hợp kho đạn.

Các đợt oanh kích khác

Ngoài máy bay B-29, các máy bay ném bom động cơ kép và máy bay cường kích cũng tham gia vào chiến dịch.[6]

Kết quả

Bản đồ các vị trí bị tàn phá của Tokyo do cơ quan khảo sát ném bom chiến lược Mỹ

Bia kỷ niệm nạn nhân của Trận ném bom Tokyo trong Thế chiến II, công viên Sumida, Taitō, Tokyo.

Nền công nghiệp nặng của Tokyo không bị tổn thương cho đến khi bắt đầu chiến dịch, kết quả của nó đã làm thiệt hại trầm trọng nền công nghiệp nhẹ của thành phố này. Một bộ phận cấu thành quan trọng của nền sản xuất nước này góp phần tạo ra các thiết bị nhỏ và gia công các phần thiết bị tiêu tốn nhiều thời gian. Việc sử dụng bom cháy cũng đã giết chết nhiều công nhân phục vụ trong công nghiệp quốc phòng hay khiến cho họ bị mất nhà cửa. Hơn một nửa các cơ sở công nghiệp của thành phố trong chiến tranh tập giữa các khu dân cư và các khu thương mại gần đó; do đó mà chiến dịch đã khiến cho sản lượng công nghiệp sụt giảm còn một nửa.[7]
Hoàng cung Tokyo bị vây quanh bởi những khu vực bị phá hủy nặng nề trong chiến tranh. Phần chính của cung điện (Kyūden), nơi đặt Tổnh hành dinh Quân đội Đế quốc bị tàn phá nặng bởi bom máy bay, ngay cả khi đây là một vị trí cấm thả bom bởi mệnh lệnh của Quân đội Không quân Hoa Kỳ.
Hoàng đế Hirohito sau khi nhìn thấy hậu quả của trận oanh tạc vào tháng 3-1945, được cho là đã bắt đầu các cuộc vận động cá nhân nhằm thúc đẩy hòa bình, kết quả là Sự đầu hàng của Nhật Bản 5 tháng sau đó.[8]
Sau chiến tranh, thành phố Tokyo gặp phải vô vàng khó khăn trong việc tái thiết. Trong giai đoạn 1945-1946, thành phố được nhận phần trăm ngân sách tương đương với lượng bom đã trút xuống đây (26.6%), nhưng vào các năm sau ngân sách phân bổ cho thành phố bị cắt giảm để dành cho các nơi khác. Đến năm 1949, Tokyo chỉ nhận được 10.9% trong tổng ngân sách; tại thời điểm đó lạm phát đã làm giảm giá trị của đồng tiền Nhật bởi số tiền chính phủ chi tiêu đã vượt quá số tiền thu được từ thuế. Ban cố vấn Chính quyền chiếm đóng Nhật Bản thông qua đề nghị của Joseph Dodge quyết định bỏ qua việc tái thiết và tập trung vào xây dựng và cải thiện đường sá và vận chuyển. Thành phố Tokyo cũng không trải qua giai đoạn tăng trưởng nhanh của Nhật cho đến thập niên 1950.[9]
Những quả bom không phát nổ vẫn được tìm thấy và được vô hiệu hóa ở Nhật Bản đến cuối năm 2009.[10]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a b c d e Văn phòng nghiên cứu lịch sử Không quân. Không lực Hoa Kỳ trong Thế chiến II: Niên biểu các trận đánh. March 1945. Khôi phục March 3-2009.
  2. ^ Freeman Dyson. Part I: Một thất bại của Tình báo. Technology Review, 1 tháng 11 2006, MIT
  3. ^ David McNeill. The night hell fell from the sky. Japan Focus, 10 tháng 3 2005.
  4. ^ Mark Selden. A Forgotten Holocaust: US Bombing Strategy, the Destruction of Japanese Cities and the American Way of War from the Pacific War to Iraq. Japan Focus, 2 tháng 5 2007.
  5. ^ Norman Polmar. The Enola Gay: The B-29 That Dropped the Atomic Bomb on Hiroshima, tr. 24. Potomac Books (2004) ISBN 1-57488-836-6.
  6. ^ Air Force Historical Studies Office. U.S. Army Air Forces in World War II: Combat Chronology 1941–1945.
  7. ^ United States Strategic Bombing Survey, Bản báo cáo tổng kết (Chiến tranh Thái Bình Dương), tr. 18.
  8. ^ Bradley, F. J. No Strategic Targets Left. “Contribution of Major Fire Raids Toward Ending WWII” p. 38. Turner Publishing Company, limited edition. ISBN 1-56311-483-6.
  9. ^ Andre Sorensen. The Making of Urban Japan: Cities and Planning from Edo to the Twenty First Century RoutledgeCurzon, 2004. ISBN 0-415-35422-6.
  10. ^ WWII bomb explodes, Stars and Stripes January 2009

Thông tin thêm

Sách

  • Coffey, Thomas M. (1987). Iron Eagle: The Turbulent Life of General Curtis LeMay. Random House Value Publishing. ISBN 0-517-55188-8.
  • Crane, Conrad C. (1994). The cigar that brought the fire wind: Curtis LeMay and the strategic bombing of Japan. JGSDF-U.S. Army Military History Exchange. ASIN B0006PGEIQ.
  • Frank, Richard B. (2001). Downfall: The End of the Imperial Japanese Empire. Penguin. ISBN 0141001461.
  • Grayling, A. C. (2007). Among the Dead Cities: The History and Moral Legacy of the WWII Bombing of Civilians in Germany and Japan. New York: Walker Publishing Company Inc. ISBN 0-8027-1565-6.
  • Greer, Ron (2005). Fire from the Sky: A Diary Over Japan. Jacksonville, Arkansas, U.S.A.: Greer Publishing. ISBN 0-9768712-0-3.
  • Guillian, Robert (1982). I Saw Tokyo Burning: An Eyewitness Narrative from Pearl Harbor to Hiroshima. Jove Pubns. ISBN 0-86721-223-3.
  • Hoyt, Edwin P. (2000). Inferno: The Fire Bombing of Japan, March 9 – August 15, 1945. Madison Books. ISBN 1568331495.
  • Jablonski, Edward (1971). “Air War Against Japan”. Airwar Outraged Skies/Wings of Fire. An Illustrated history of Air power in the Second World War. Doubleday. ASIN B000NGPMSQ.
  • Lemay, Curtis E.; Bill Yenne (1988). Superfortress: The Story of the B-29 and American Air Power. Công ty McGraw-Hill. ISBN 0-07-037164-4.
  • McGowen, Tom (2001). Air Raid!: The Bombing Campaign. Brookfield, Connecticut, U.S.A.: Twenty-First Century Books. ISBN 0-7613-1810-0.
  • Shannon, Donald H. (1976). United States air strategy and doctrine as employed in the strategic bombing of Japan. U.S. Air University, Air War College. ASIN B0006WCQ86.
  • Smith, Jim; Malcolm Mcconnell (2002). The Last Mission: The Secret History of World War II’s Final Battle. Broadway. ISBN 0767907787.
  • Werrell, Kenneth P. (1998). Blankets of Fire. Smithsonian. ISBN 1560988711.

Web

Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Oanh tạc Tokyo

Tọa độ: 35°41′B 139°46′Đ