Chào ngày mới 01 tháng 12

Crete location map.png

CNM365. Chào ngày mới 01 tháng 12. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS; ngày Khôi phục độc lập tại Bồ Đào Nga (1640); ngày Cộng hòa tại Trung Phi (1958). Năm 900 – Sau khi khống chế hoàng cung, Lưu Quý Thuật giả chiếu của Đường Chiêu Tông, ban chiếu lệnh cho Thái tử Lý Hựu kế vị hoàng đế triều Đường. Năm 1370 – Cung Định vương Trần Phủ đến phủ Kiến Hưng, phế truất Hoàng đế Nhật Lễ, hai ngày sau Trần Phủ lên ngôi hoàng đế triều Trần, tức Trần Nghệ Tông. Năm 1913 – Sau khi giành được quyền tự quản từ Thổ Nhĩ Kỳ, đảo Crete (hình) được sáp nhập vào Hy Lạp. Năm 1959Hệ thống Hiệp ước Vùng Nam Cực bắt đầu được các bên ký kết, chính thức có hiệu lực từ năm 1961.

Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Dải băng đỏ là biểu tượng toàn cầu cho tình đoàn kết với những người nhiễm HIV và những người bệnh AIDS.

Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS, được cử hành vào ngày 1 tháng 12 hàng năm, nhằm nâng cao nhận thức về nạn dịch AIDS do việc lây nhiễm HIV, và để tưởng nhớ các nạn nhân đã chết vì HIV/AIDS.
Tính từ năm 1981 tới 2007, bệnh AIDS đã giết chết hơn 25 triệu người,[1] và tới năm 2007 ước tính có khoảng 33,2 triệu người trên khắp thế giới bị nhiễm HIV,[2] làm cho HIV/AIDS trở thành một trong các dịch bệnh phá hoại nhất trong lịch sử. Mặc dù gần đây, việc điều trị và phòng chống HIV đã được cải thiện ở nhiều vùng trên thế giới, nhưng chỉ riêng năm 2007, đã có khoảng 2 triệu người bị chết vì bệnh AIDS,[3] trong đó có khoảng 270.000 trẻ em.[4]

Lịch sử

Tem thư của Nga, 1993

“Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS” được James W. Bunn và Thomas Netter, hai viên chức thông tin đại chúng cho “Chương trình toàn cầu về bệnh AIDS” của Tổ chức Y tế Thế giới tại Genève, Thụy Sĩ nghĩ ra lần đầu trong tháng 8 năm 1987.[5][6] Bunn và Netter nêu ý kiến của họ cho Dr. Jonathan Mann, Giám đốc Chương trình toàn cầu về bệnh AIDS (nay gọi là Chương trình chung của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS). Dr. Mann thích sáng kiến này, đã chấp thuận và đồng ý với khuyến nghị về việc tổ chức “Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS” đầu tiên vào ngày 1 tháng 12 năm 1988.
Bunn – nguyên là một nhà báo của đài truyền hình KPIX ở San Francisco, Hoa Kỳ, tạm nghỉ phép – đã tiến cử ngày 1 tháng 12 vì tin rằng ngày này sẽ được các phương tiện truyền thông phương Tây theo dõi loan tin tối đa. Vì năm 1988 là năm bầu cử ở Hoa Kỳ, Bunn cho rằng các phương tiện truyền thông sẽ chán loan tin hậu bầu cử (sau đầu tháng 11) và hăm hở tìm chuyện mới để loan tin. Bunn và Netter xác định là ngày 1 tháng 12 đủ xa sau sự kiện bầu cử và đủ sớm trước kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, trên thực tế, là một điểm chết trong lịch tin tức và do đó là thời gian thích hợp nhất cho (việc loan tin về) Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS.
Ngày 18.6.1986 chương trình “AIDS Lifeline” của đài truyền hình KPIX – một dự án giáo dục cộng đồng – có vinh dự được tổng thống Ronald Reagan nêu ra như một dẫn chứng về sáng kiến trong khu vực tư nhân. Do vai trò đồng sáng tạo chương trình “AIDS Lifeline” Bunn được Dr. Mann yêu cầu – nhân danh chính phủ Hoa Kỳ – nghỉ phép 2 năm (ở đài truyền hình KPIX) để theo Dr. Mann, một nhà dịch tễ học làm việc ở các Trung tâm kiểm soát bệnh, để phụ tá trong việc sáng tạo “Chương trình toàn cầu về bệnh AIDS” cho Tổ chức Y tế Thế giới của Liên Hiệp Quốc. Bunn đồng ý và được bổ nhiệm làm Viên chức thông tin đại chúng thứ nhất cho Chương trình toàn cầu về bệnh AIDS. Cùng với Netter, Bunn đã nghĩ ra, thiết kế và thực hiện lễ khai mạc “Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS” đầu tiên – nay là nhận thức và sáng kiến phòng chống bệnh kéo dài nhất trong lịch sử y tế công cộng.
Chương trình chung của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS (Joint United Nations Programme on HIV/AIDS) (UNAIDS) đã bắt đầu hoạt động vào năm 1996, và nắm việc quy hoạch và xúc tiến Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS.[7] Thay vì tập trung vào một ngày duy nhất, Chương trình chung của Liên Hiệp Quốc về HIV/AID đã lập ra “Chiến dịch thế giới phòng chống AIDS” vào năm 1997 để tập trung vào thông tin, phòng chống và giáo dục về HIV/AIDS quanh năm.[7][8]
Trong 2 năm đầu, chủ đề của Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS tập chú vào các trẻ em và người trẻ. Các chủ đề trên lúc đó đã bị chỉ trích mạnh mẽ vì đã lờ đi sự kiện là người ta thuộc mọi lứa tuổi đều có thể bị nhiễm HIV và bệnh AIDS.[7] Tuy nhiên, các chủ đề đã thu hút sự chú ý tới nạn dịch HIV/AIDS, giúp giảm bớt một số kỳ thị xung quanh căn bệnh này, và giúp thúc đẩy sự nhìn nhận vấn đề là một bệnh gia đình.[7]
Năm 2004, “Chiến dịch thế giới phòng chống bệnh AIDS” đã trở thành một tổ chức độc lập.[7][8][9]
Hàng năm, các giáo hoàng Gioan Phaolô IIgiáo hoàng Biển Đức XVI đều gửi điện văn chào mừng tới các bệnh nhân và các thầy thuốc trong Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS.[10][11][12][13][14][15]

Việc chọn chủ đề

Từ khi bắt đầu cho tới năm 2004, Chương trình chung của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS, cơ quan dẫn đầu chiến dịch Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS, đã lựa chọn các chủ đề hàng năm có tham khảo ý kiến các tổ chức y tế toàn cầu khác.
Tính đến năm 2008, chủ đề Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS mỗi năm đều do Ban Chỉ đạo toàn cầu của Chiến dịch thế giới phòng chống bệnh AIDS lưa chọn sau khi tham khảo ý kiến rộng rãi với những người, tổ chức và cơ quan chính phủ tham gia trong công tác phòng chống và điều trị HIV/AIDS.[7] Đối với mỗi Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS từ năm 2005 đến năm 2010, thì chủ đề là “Hãy chặn đứng bệnh AIDS. Hãy giữ vững cam kết”, với một chủ đề phụ, hàng năm.[7] Chủ đề bao quát này được thiết kế để khuyến khích các nhà lãnh đạo chính trị giữ cam kết của họ cho mọi người được quyền tiếp cận việc phòng chống, điều trị HIV/AIDS, chăm sóc, và hỗ trợ vào năm 2010.[7]

Các chủ đề Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS từ năm 1988–tới nay[16]

Một dải băng đỏ treo giữa các cột ở cổng phía bắc của Nhà Trắng nhân Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS, 30.11.2007

Một bao cao su dài 67 m trên Obelisk of Buenos Aires (Cột hình tháp cùa thành phố Buenos Aires), Argentina, là một phần chiến dịch nhận thức cho Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS năm 2005
1988 Truyền thông
1989 Giới trẻ
1990 Phụ nữ và bệnh AIDS
1991 Chia sẻ sự Thách thức
1992 Cam kết của Cộng đồng
1993 Hành động
1994 Bệnh AIDS và gia đình
1995 Các quyền chung, Các trách nhiệm chung
1996 Một thế giới. Một hy vọng
1997 Cuộc sống của trẻ em trong một thế giới có bệnh AIDS
1998 Sức mạnh để Thay đổi: Chiến dịch thế giới phòng chống AIDS với các người trẻ
1999 Nghe, Học, Sống: Chiến dịch thế giới phòng chống AIDS với trẻ em & người trẻ
2000 AIDS: Người có ảnh hưởng
2001 Tôi quan tâm. Còn anh?
2002 Dấu hiệu ghét bỏ và Sự phân biệt đối xử
2003 Dấu hiệu ghét bỏ và Sự phân biệt đối xử
2004 Phụ nữ, Thiếu nữ, HIV và AIDS
2005 Hãy chặn đứng AIDS. Hãy giữ lời cam kết
2006 Hãy chặn đứng AIDS. Hãy giữ lời cam kết – Trách nhiệm
2007 Hãy chặn đứng AIDS. Hãy giữ lời cam kết – Sự lãnh đạo
2008 Hãy chặn đứng AIDS. Hãy giữ lời cam kết – Lãnh đạo – Trao sức mạnh và Sự tin tưởng – Cứu giúp [17]
2009 Quyền đạt được cho mọi người và Nhân quyền[18]
2010 Quyền đạt được cho mọi người và Nhân quyền[18]

Tháng nhận thức bệnh AIDS

Nhiều chính phủ và nhiều tổ chức đã công bố lấy các tháng khác nhau làm Tháng nhận thức bệnh AIDS. Tháng được chọn nhiều nhất là tháng 10 và tháng 12. Tháng 12 được chọn vì trùng với Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS.

Tham khảo

  1. ^ Joint United Nations Programme on HIV/AIDS (UNAIDS), Report on the Global HIV/AIDS Epidemic 2008, (Geneva, Switzerland: UNAIDS, July 2008; English original), p. 15.
  2. ^ Joint United Nations Programme on HIV/AIDS (UNAIDS), Report on the Global HIV/AIDS Epidemic 2008, (Geneva, Switzerland: UNAIDS, July 2008; English original), p. 32.
  3. ^ Joint United Nations Programme on HIV/AIDS (UNAIDS), Report on the Global HIV/AIDS Epidemic 2008, (Geneva, Switzerland: UNAIDS, July 2008; English original), p. 30.
  4. ^ Joint United Nations Programme on HIV/AIDS (UNAIDS), Report on the Global HIV/AIDS Epidemic 2008, (Geneva, Switzerland: UNAIDS, July 2008; English original), p. 37.
  5. ^ U.S. Centers for Disease Control and Prevention, International News, “World AIDS Day Co-Founder Looks Back 20 Years Later”, CDC HIV/Hepatitis/STD/TB Prevention News Update, December 12, 2007
  6. ^ “AIDS Day Co-Founder Looks Back after 20 Years” By Rose Hoban, Voice of America, 06 December, 2007
  7. ^ a ă â b c d đ e Speicher, Sara. “World AIDS Day Marks 20th Anniversary Of Solidarity.” Medical News Today. November 19, 2008.
  8. ^ a ă van Soest, Marcel. “Accountability: Main Message on World AIDS Day.” Joint United Nations Programme on HIV/AIDS. Oct 20, 2006.
  9. ^ Yearbook of the United Nations 2005. Vol. 59 Geneva, Switzerland: United Nations Publications, 2007. ISBN 9211009677
  10. ^ First World AIDS Day in 1988
  11. ^ Message for the World AIDS Day
  12. ^ Pope: “I feel near to people with AIDS and their families”
  13. ^ Message of Caritas Internationalis On Occasion of World AIDS Day 2006
  14. ^ Pope skirts condoms issue in World AIDS Day statement
  15. ^ Message from the Pope on World AIDS Day
  16. ^ World AIDS Day, Minnesota Department of Health, 2008
  17. ^ Dr. Peter Piot, “2008 World AIDS Day statements,” Joint United Nations Programme on HIV/AIDS (UNAIDS), November 30, 2008.
  18. ^ a ă World AIDS Day avert.org

Liên kết ngoài

Cộng hòa Trung Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hòa Trung Phi
République centrafricaine (tiếng Pháp)
Flag of the Central African Republic.svg Coat of arms of the Central African Republic-NEW.png
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Cộng hòa Trung Phi
Khẩu hiệu
Unité, Dignité, Travail
(tiếng Pháp: “”
Quốc ca
tiếng Pháp: La Renaissance, tiếng Sango: E Zingo
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa tổng thống
Tổng thống
Thủ tướng
Catherine Samba – Panza
Elie Doté
Ngôn ngữ chính thức tiếng Pháp
Thủ đô Bangui
4°22′B, 18°35′Đ
Thành phố lớn nhất Bangui
Địa lý
Diện tích 622.984 km²
Diện tích nước 0% %
Múi giờ CUT (UTC+1)
Lịch sử
Ngày thành lập 13 tháng 8 năm 1960
Dân cư
Dân số ước lượng (2003) 3.683.538 người (hạng 124)
Dân số (2003) 3.032.926 người
Mật độ 5,8 người/km²
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 4,53 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,355 thấp (hạng 171)
Đơn vị tiền tệ Franc CFA (XAF)
Thông tin khác
Tên miền Internet .cf

Bản đồ Cộng hòa Trung Phi

Cộng hòa Trung Phi (tiếng Pháp: République Centrafricaine; tiếng Sango: Ködörösêse tî Bêafrîka) là một quốc gia tại miền trung châu Phi. Cộng hòa Trung Phi giáp Chad về phía bắc, phía đông giáp Nam Sudan, phía nam giáp Cộng hòa Dân chủ CongoCộng hòa Congo, phía tây giáp Cameroon. Đây là một quốc gia không có bờ biển và có diện tích 622.436 kilômét vuông. Bangui là thủ đô và là thành phố lớn nhất quốc gia này. Cộng hòa Trung Phi nằm ở rìa bắc của lưu vực sông Congo. Phần lớn đất đai là cao nguyên với độ cao từ 610–790 m. Hai dãy núi ở phía bắc và đông bắc có độ cao tối đa khoảng 1400 m. Phần lớn quốc gia này có thảm thực vật là savanna, bãi cỏ xen lẫn với bụi cây. Rừng rậm tập trung ở tây nam. Quốc gia này có nhiều sông lớn: BaminguiOuham ở phía bắc, Ubangi, một chi lưu của sông Congo ở phía nam.

Lịch sử

Lịch sử thời kì tiền thuộc địa của quốc gia này ít được biết đến. Người Banda, người Ngbadi, người Bayangười Azande là các nhóm sắc tộc chính ở vùng này. Từ thập kỷ 70 của thế kỉ 19, người châu Âu bắt đầu thám hiểm vùng này.
Năm 1889, Pháp lập một tiền trạm tại Bangui, thành lập vùng thuộc địa giữa hai sông OubanguiChari năm 1905 và sáp nhập vào lãnh thổ Châu Phi Xích đạo thuộc Pháp năm 1910. Vùng lãnh thổ này trở thành Cộng hòa Trung Phi với tư cách là nước tự trị thuộc Cộng đồng nước Pháp năm 1958.
Năm 1960, Cộng hòa Trung Phi tuyên bố độc lập và David Dacko trở thành Tổng thống. Năm 1966, Jean Bedel Bokassa lên cầm quyền sau cuộc đảo chính. Bokassa tuyên bố trở thành Tổng thống trọn đời năm 1972. Năm 1976, Tổng thống Jean Bedel Bokassa tuyên bố làm Hoàng đế, đổi tên nước thành Vương quốc Trung Phi.
Những xáo trộn kinh tếxã hội, các cuộc đàn áp đẫm máu đối với những người chống đối và những cuộc tàn sát học sinh trung học dẫn đến việc Pháp giúp đỡ Tổng thống David Dacko lật đổ Bokassa, trở lại cầm quyền và lập nền cộng hòa năm 1979. Sau cuộc tuyển cử Tổng thống năm 1981, Tướng Kolingba tiến hành đảo chính và lãnh đạo đất nước. Mặc dầu Hiến pháp mới được thông qua (1986) và trở lại chế độ đa đảng (1991- 1992), Kolingba cũng không thể duy trì quyền lực. Năm 1993, Ange Félix Patassé đắc cử Tổng thống. Tháng 3 năm 1998, “Hiệp ước hòa giải dân tộc” được kí kết tại Bangui. Tổng thống Patassé sống sót sau cuộc mưu toan đảo chính tháng 5 năm 2001. Tháng 3 năm 2003, Tướng Francois Bozizé lật đổ Tổng thống Patassé và tự tuyên bố trở thành Tổng thống. Ngày 13 tháng 3 năm 2005, trong cuộc bầu cử Tổng thống ở Trung Phi, Francois Bozizé đã đắc cử với số phiếu 64,6%.

Chính trị

Trung Phi thực hiện đường lối chính trị đa đảng, mở cửa. Đảng cầm quyền hiện nay là Phong trào giải phóng nhân dân Trung Phi (Đảng của Tổng thống).
Các Đảng phái đối lập:
– Liên minh vì nền Dân chủ và Tiến bộ (ADP),
– Đảng Cộng hoà Trung Phi (PRC),
– Phong trào Dân chủ vì Đổi mới và Tiến bộ ở Trung Phi (MDREC).
Do tình hình an ninh chính trị có nhiều phức tạp, năm 1998, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 1159 thiết lập lực lượng gìn giữ hoà bình ở Trung Phi (MINURCA) thay thế cho lực lượng Liên Phi; MINURCA đã kết thúc sứ mệnh của mình năm 2000. Hiện nay, Văn phòng kiến tạo hoà bình của Liên Hiệp Quốc tại Cộng hòa Trung Phi (BONUCA), được thành lập năm 1999 để hỗ trợ các hoạt động của MINURCA vẫn đang hoạt động.
Gần đây, do chịu ảnh hưởng của xung đột Darfur (Sudan), khu vực Đông-Bắc của Trung Phi còn có những bất ổn do làn sóng người tị nạn từ Darfur cũng như xung đột giữa một số lực lượng phiến quân tại khu vực biên giới chung với SudanChad. Trong bối cảnh đó, ngày 25 tháng 9 năm 2007, Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết 1778 cho phép triển khai tại Trung Phi và Sát lực lượng quốc tế trên cơ sở phối hợp với EU để thực thi các nhiệm vụ trấn áp bạo lực, bảo vệ dân thường, người tị nạn và giám sát nhân quyền. Tháng 10 năm 2007, EU đã thông qua quyết định triển khai lực lượng của mình (EUFOR) tại khu vực này.
Ngày 26 tháng 6 năm 2008, Cộng hòa Trung Phi và hai phe nổi dậy (Quân đội nhân dân phục hồi nền dân chủ và Liên minh các lực lượng dân chủ vì tập hợp) ở miền Bắc đã ký Hiệp định hoà bình chung tại Gabon theo đó tiến hành giải giáp các phe nhóm nổi dậy, ân xá cho các binh sĩ và tái hoà nhập họ vào cộng đồng. Trước đó, hai phe này đã từng ký hiệp định riêng rẽ với chính phủ Trung Phi.
Tháng 12 năm 2008, Trung Phi tổ chức đối thoại chính trị mở rộng với sự tham gia của tất cả các phe phái chính trị, kể cả phe của cựu Tổng thống Ange Félix Patassé, và đề ra lộ trình chấm dứt xung đột vũ trang và bất ổn chính trị.

Đối ngoại

Trung Phi là thành viên Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Phi (AU), Phong trào không liên kết, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ và nhiều tổ chức khác.
Trung Phi có quan hệ mật thiết với Pháp trên nhiều lĩnh vực. Pháp đang hỗ trợ quân sự cho các lực lượng của Trung Phi. Trong giai đoạn 19701980, Libya tích cực tranh giành ảnh hưởng với Pháp tại Trung Phi và tháng 5 năm 2001, Libya từng triển khai quân tại Bangui để yểm trợ cho Tổng thống Ange Félix Patassé.
Bên cạnh đó, Trung Phi tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước phương Tây. Đầu năm 1989, Trung Phi công nhận nhà nước IxraenPalestin.
Từ năm 2005, đến nay, Trung Phi tìm cách đa dạng hoá quan hệ đối ngoại với các nước khác như các nước vùng Vịnh, Trung Quốc, Nam Phi.

Địa lí

Cộng hòa Trung Phi nằm ở khu vực Trung Phi, Bắc giáp Chad, Nam giáp Cộng hòa CongoCộng hòa Dân chủ Congo, Đông giáp Sudan vâ Tây giáp Cameroon. Địa hình phần lớn là vùng cao nguyên rộng lớn nằm giữa hai vùng trũng ở phía bắc và phía nam.

Khí hậu

Khu vực cao nguyên phía nam nằm trong miền khí hậu cận xích đạo, thuận lợi cho các khu rừng nhiệt đới phát tnển, do lượng mưa giảm dần nên khu vực phía bắc phần lớn là các vùng thảo nguyên.

Các tỉnh và đơn vị dưới tỉnh

Tỉnh của Cộng hòa Trung Phi

Cộng hòa Trung Phi được chia thành 14 tỉnh (préfectures), cùng với 2 tỉnh kinh tế (préfectures economiques) và một thành phố tự trị. Các tỉnh lại được chia thành 71 phó tỉnh (sous-préfectures).
Các tỉnh gồm:

hai tỉnh kinh tế gồm Nana-GrébiziSangha-Mbaéré; đô thị là Bangui.

Kinh tế

Trung Phi là một trong những nước nghèo ở châu Phi. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệplâm nghiệp. Nông nghiệp chiếm hơn 1/2 GDP, gỗ chiếm 16% thu nhập xuất khẩu và công nghiệp kim cương chiếm 40%. Sản phẩm nông nghiệp có: bông, cà phê, sắn, lạc, lúa, ngô, … Về khoáng sản ngoài kim cương còn có sắt, măng gan, niken… nhưng sản lượng thấp.
Hạn chế của Trung Phi là nước không tiếp giáp với biển, hệ thống giao thông lạc hậu, phần lớn là lực lượng lao động không có nghề. Thiếu sự chỉ đạo trong phát triển kinh tế vĩ mô. Tình hình bất ổn cản trở kinh tế phát triển. Phân phối thu nhập bất bình đẳng. Mặc dù được Pháp và cộng đồng quốc tế viện trợ nhưng chỉ đáp ứng một phần nhu cầu thiết yếu trong nước.
Trung Phi xuất khẩu kim cương, gỗ, bông, cà phê, thuốc lá sang các nước Bỉ (22%), Indonesia (19,3%), Ý (7,7%), Pháp (7,1%), Cộng hòa Dân chủ Công Gô (6,8%). Giá trị xuất khẩu đạt 146,7 triệu USD (2007). Nhập khẩu thực phẩm, hàng dệt may, xăng dầu, máy móc thiết bị, động cơ ôtô, hoá chất, dược phẩm từ các nước Pháp (16,6%), Hà Lan (13%), Cameroon (9,7%), Mỹ (6,3%). Giá trị nhập khẩu là 237,3 triệu USD (2007).
Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội của Trung Phi là 2,2 tỷ USD, tăng trưởng 3,7% so với năm 2006. GDP bình quân đầu người của Trung Phi là hơn 400 USD người/năm. Tỷ lệ lạm phát được duy trì dưới 1%/năm.
Về ngoại thương, năm 2010, Trung Phi xuất khẩu khoảng 200 triệu USD hàng hoá các loại, trong đó các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước này là kim cương, gỗ, bông, cà phê, thuốc lá. Các đối tác xuất khẩu của Trung Phi là Bỉ, Ý, Tây Ban Nha, Indonesia, Pháp, Mỹ. Kim ngạch nhập khẩu năm 2010 của Trung Phi là 300 triệu USD. Các mặt hàng mà nước này thường nhập là thực phẩm, hàng dệt may, sản phẩm xăng dầu, máy móc, thiết bị điện, xe cộ, hoá chất, dược phẩm, hàng tiêu dùng, sản phẩm công nghiệp. Các bạn hàng nhập khẩu của Trung Phi là Pháp, Mỹ, Cameroon, Bỉ.

Dân cư

Dân số của nước Cộng hòa Trung Phi đã tăng gấp bốn lần kể từ khi độc lập. Năm 1960, dân số là 1.232.000; ước tính của Liên Hợp Quốc năm 2009, nó là 4.422.000.[1] Liên Hiệp Quốc ước tính rằng khoảng 11% dân số trong độ tuổi từ 15 đến 49 bị nhiễm HIV. Chỉ có 3% là dương tính với căn bệnh này.[2] Dân cư được chia thành hơn 80 nhóm dân tộc, mỗi nhóm có ngôn ngữ riêng của mình. Các nhóm dân tộc lớn nhất là Baya, Banda, Mandjia, Sara, Mboum, M’Baka, Yakoma, và Fula hoặc Fulani.[3], với nhóm nhỏ người Pháp.
Hơn 55% dân số sống ở khu vực nông thôn. Các lĩnh vực nông nghiệp chính tập trung xung quanh BossangoaBambari. Bangui, Berberati, Bangassou, và Bossangoa là các trung tâm đô thị đông dân cư nhất.
Trung Phi cũng là quốc gia có tỷ lệ dân sô trẻ cao nhất châu Phi. Tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi trong năm 2010 là 40,4%, 55,6% là từ 15 đến 65 tuổi, trong khi 4% là 65 tuổi trở lên.[4]

Tôn giáo

Khoảng 80% dân số của nước Cộng hòa Trung Phi là Kitô hữu. Người ta tin rằng nhiều người trong số những người theo này kết hợp yếu tố truyền thống bản địa vào việc thực hành đức tin của họ.[5]
Tín hữu Công giáoTin Lành phân bố rải rác khắp lãnh thổ. Hồi giáo tập trung chủ yếu ở phía bắc. Khoảng 51% dân số là Tin Lành, 29% là Công giáo La Mã, và 10% là người Hồi giáo. Tín ngưỡng bản địa truyền thống được thực hiện bởi khoảng 10% dân số.[6] Ngoài ra, còn có các nhóm truyền giáo thuộc các giáo phái Kitô giáo khác như Giáo hội Luther, Baptist, và Nhân chứng Jehovah.
Công giáo Rôma ở Trung Phi chiếm trên dưới 900.000 tín hữu đại diện cho khoảng một phần tư dân số. Có chín giáo phận và một tổng giáo phận:

Hồi giáo chiếm khoảng 10% (500.000 người) dân số của nước Cộng hòa Trung Phi, làm cho nó làm cho nó trở thành tôn giáo lớn thứ 2 sau Kitô giáo. Hầu hết người Hồi giáo Trung Phi sống ở phía bắc, phía đông, các vùng gần biên giới với ChadSudan.[6]
Hiến pháp (bị đình chỉ từ năm 2003) quy định về tự do tôn giáo trong khi cấm một số hình thức cực đoan tôn giáo. Lệnh cấm này thường được coi là hướng về trào lưu chính thống Hồi giáo. Ngày lễ Kitô giáo được tổ chức như ngày lễ quốc gia. Tất cả các nhóm tôn giáo phải đăng ký thông qua Bộ Nội vụ. Giáo Hội Thống Nhất đã bị cấm kể từ giữa những năm 1980. Việc thực hành phù thủy được coi là một hành vi phạm tội hình sự, tuy nhiên truy tố thường chỉ được thực hiện kết hợp với hoạt động tội phạm khác, chẳng hạn như giết người.

Giáo dục

Giáo dục bắt buộc và miễn phí đối với trẻ em (bắt đầu từ năm 7 tuổi). Cả nước có khoảng 2/3 trẻ em theo học đầy đủ. Các cơ sở và phương tiện dạy và học còn rất thiếu thốn, khoảng 10% số học sinh theo học tiếp chương trình trung học và 2% số học sinh học lên đại học (hoặc các trường kĩ thuật).

Y tế

Các bệnh tật như sốt rét, viêm gan, bại liệt, giun sán… khá phổ biến. Trung Phi chưa có đủ các dịch vụ chăm sóc y tế. Cán bộ y tế thường làm việc tận tụy nhưng được trả lương rất thấp. Hoạt động y tế ở nông thôn được sự tài trợ của các bệnh viện tư ở thủ đô và các nhà truyền giáo.

Tham khảo

Liên kết ngoài

Kríti

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Crete)
Kríti
Tên gốc: Κρήτη
Cung điện Minoan tại Knossos.
Cung điện Minoan tại Knossos.
Địa lý

Crete location map.png
Vị trí
Tọa độ 35°B 25°Đ
Tổng số đảo 80+
Diện tích 8.336 km²
Điểm cao nhất Núi Psiloritis (2.456)
Chính quyền
Hy Lạp  Hy Lạp
Thành phố lớn nhất Heraklion
Nhân khẩu học
Dân số 623.666 (tính đến năm 2005)

Kríti (tiếng Hy Lạp: Κρήτη; [kriti]) là đảo lớn nhất và đông dân nhất của Hy Lạp, và là đảo lớn thứ năm tại Địa Trung Hải, đồng thời cũng là một trong 13 vùng của Hy Lạp. Hòn đảo có ý nghĩa lớn trong kinh tế và di sản văn hóa của Hy Lạp song vẫn duy trì các đặc điểm văn hóa địa phương (như phương ngữ Kríti, thi ca và âm nhạc). Kríti là trung tâm của văn minh Minoan (c. 2700–1420 TCN), nền văn minh có trình độ phát triển cao đầu tiên tại châu Âu, và là nền văn minh đã tạo nên các cung điện đầu tiên của châu Âu.[1]

Tên gọi

Hòn đảo lần đầu tiên được đề cập đến với tên gọi Kaptara trong các văn bản từ thành phố Mari của Syria có niên đại từ thế kỷ 18 TCN,[2] được lặp lại sau đó trong các ghi chép của Tân Assyriakinh thánh (Caphtor). Đảo được biết đến tại Ai Cập cổ đại là Keftiu, cả hai đều tương tự như tên Minoan của đảo.[3]
Tên tiếng Hy Lạp Mycenaea của Kríti không được biết; nó không được nêu trong các văn bản văn tự tuyến hình B còn lại cho đến nay. Tên gọi Crete (Κρήτη) làn đầu tiên được đề cập tới là trong sử thi Odyssey của Homer.[4] Từ nguyên của nó không rõ. Một suy đoán cho rằng nó có nguồn gốc từ tiếng Luwian *kursatta (kursawar “đảo”, kursattar “cắt, miếng”).[5] Trong tiếng Latinh, tên của đảo trở thành Creta.
Tên gốc tiếng Ả Rập của Kríti là Iqrīṭiš (tiếng Ả Rập: اقريطش < (της) Κρήτης), nhưng sau khi Tiểu vương quốc Kríti được thành lập với kinh đô mới đặt tại ربض الخندق Rabḍ al-ḫandaq (nay là Iraklion), cả thành phố và đảo đều được gọi là Χάνδαξ (Khandhax) hay Χάνδακας (Khandhakas). Dưới thời đế chế Ottoman, trong tiếng Thổ Ottoman, Kríti được gọi là Girit (كريت).

Địa lý

Quang cảnh Đèo Ha

Kríti là đảo lớn nhất tại Hy Lạp và là đảo lớn thứ hai ở phía đông của Địa Trung Hải (sau Síp). Đảo nằm ở phía nam của biển Aegea tách biển Aegea với biển Libya.
Hòn đảo có hình thon dài: kéo dài 260 km (160 mi) từ đông sang tây, điểm rộng nhất là 60 km (37 mi), và điểm hẹp nhất là 12 km (7,5 mi) (gần Ierapetra). Crete có diện tích 8.336 km2 (3.219 sq mi), với đường bờ biển dài 1.046 km (650 mi); ở phía bắc, nó giáp với biển Crete (tiếng Hy Lạp: Κρητικό Πέλαγος); và ở phía nam là biển Libya (tiếng Hy Lạp: Λιβυκό Πέλαγος); ở phía tây là biển Myrtoan, và ở phía đông là biển Karpathion. Đảo nằm cách xấp xỉ 160 km (99 mi) về phía nam của Hy Lạp đại lục.
Kríti có địa hình đồi núi, và có một dãy núi chạy từ đông sang tây, gồm ba nhóm núi khác nhau:

Khí hậu

Kríti trải dài trên hai vùng khí hậu, chủ yếu là Địa Trung Hải và một phần là Bắc Phi. Do vậy, khí hậu Crete chủ yếu là ôn đới. Bầu không khí khá ẩm ướt, tùy thuộc vào vị trí gần hay xã biển, trong khi mùa đông khá êm dịu. Tuyết thường rơi trên các ngọn núi từ giữa tháng 11 và tháng 5, song hiếm khi thấy ở các vùng thấp. Trong khi các đỉnh núi cao bị tuyết bao phủ cả năm thì vùng gần biển tuyết chỉ có thể ở lại trên mặt đất một vài phút hoặc vài giờ. Tuy nhiên, một đợt lạnh vào tháng 2 năm 2004 đã khiến toàn bộ hòn đảo bị tuyết bao phủ. Vào mùa hè tại Kríti, nhiệt độ dao động từ 20 °C đến dưới 30 °C, và tối đa có thể lên tới trên 30 °C hay thậm chí 40 °C.
Bờ biển phía nam, bao gồm đồng bằng Mesaradãy núi Asterousia, nằm trong vùng khí hậu Bắc Phi, và do đó chịu ảnh hưởng đáng kể với các ngày nắng và nhiệt độ cao trong suốt năm. Tại đây, cọ chà là đâm hoa kết quả, và nhạn sinh sống quanh năm chứ không di cư sang châu Phi. Khu vực màu mỡ quanh Ierapetra, ở góc đông nam của đảo, có thể sản xuất nông nghiệp quanh năm, với tất cả các loại rau mùa hè và hoa quả được trồng trong nhà kính suốt mùa đông.

Hành chính

Kríti là đảo đông dân nhất của Hy Lạp với trên 600.000 người. Xấp xỉ 42% cư dân sống tại các thành phố và thị trấn chính của đảo trong khi 45% sống tại các khu vực nông thôn.[6]
Kríti cùng với các đảo nhỏ lân cận tạo nên vùng Kríti (tiếng Hy Lạp: Περιφέρεια Κρήτης), một trong 13 vùng của Hy Lạp được thành lập theo đợt cải cách đơn vị hành chính vào năm 1987.[7] Theo kế hoạch Kallikratis năm 2010, quyền hạn của vùng được xác định lại và mở rộng. Thủ phủ của vùng đặt tại Heraklion và vùng được chia thành bốn đơn vị thuộc vùng (trước kế hoạch-Kallikratis là các quận). Từ tây sang đông là: Chania, Rethymno, HeraklionLasithi. Chúng được chia tiếp thành 24 khu tự quản.

Thành phố

Quảng cảnh cảng Agios Nikolaos

Văn hóa

Các vũ công đến từ Sfakia

Người dân trên đảo nói phương ngữ Kríti của tiếng Hy Lạp với nhiều từ vựng đặc trưng của đảo. Crete có thể loại thi ca Mantinada riêng biệt. Đảo được biết đến với nền âm nhạc dựa trên các tác phẩm thi ca Mantinada và nhiều điệu nhảy múa bản địa, đáng chú ý nhất trong đó là Pentozali.
Các tác gia người Crete đã có đóng góp quan trọng cho văn học Hy Lạp trong suốt thời kỳ hiện đại; các tên tuổi chính gồm Vikentios Kornaros, tác giả của sử thi lãng mạn Erotokritos (tiếng Hy Lạp: Ερωτόκριτος) vào thế kỷ 17, và đến thế kỷ 20 có tác gia Nikos Kazantzakis. Vào thời Phục hưng, Crete có các trường Crete về hội họa tượng thánh, ảnh hưởng đến El Greco và thông qua ông là với nền hội họa châu Âu.
Xã hội Crete có các gia đình khét tiếng và các mối thù truyền kiếp giữa các gia tộc vẫn còn lại trên đảo cho đến này.[9][10] Người Crete cũng có truyền thống giữ súng ở nhà, một truyền thống có từ thời kỳ kháng chiến chống lại đế chế Ottoman. Gần như mọi hộ gia đình tại vùng nông thôn của Crete đều sở hữu một khẩu súng không đăng ký.[9] Việc sở hữu súng được chính phủ Hy Lạp quy định nghêm ngặt, song các cơ quản có thẩm quyền nhắm mắt làm ngơ, chấp nhận cho họ sở hữu súng theo truyền thống.

Kinh tế

Nền kinh tế của Crete chủ yếu dựa vào nông nghiệp và là một trong số ít các hòn đảo của Hy Lạp có nền kinh tế độc lập mà không cần phải dựa vào du lịch.[11] Nền kinh tế đã bắt đầu thay đổi rõ rệt vào thập niên 1970 khi du lịch đạt được tầm quan trọng nhất định. Trong khi trồng trọt và chăn nuôi vẫn có tầm quan trọng, song do khí hậu và thổ nhưỡng trên đảo, đã có sự sụt giảm trong sản xuất và cùng với đó là sự mở rộng đáng kể của các ngành dịch vụ. Tất cả ba lĩnh vực trong nền kinh tế Crete (nông nghiệp, chế biến-đóng gói, dịch vụ), đều kết nói trực tiếp và phụ thuộc lẫn nhau. Thu nhập bình quân của đảo cao hơn nhiều so với mức trung bình của Hy Lạp, trong khi tỉ lệ thất nghiệp cũng thấp hơn.
Cũng như nhiều khu vực của Hy Lạp, nghề trồng nhoô liu khá quan trọng; camthanh yên cũng được trồng. Cho đến gần đây, có những hạn chế về việc nhập khẩu chuối đến Hy Lạp, do đó chuối cũng được trồng trên đảo, chủ yếu là trong nhà kính. Các sản phẩm từ sữa có vai trò quan trọng trong kinh tế địa phương và có một số loại pho mát đặc sản như mizithra, anthotyros, và kefalotyri.

Bãi biển cọ tại Vai, Crete

Hòn đảo có ba sân bay chính, Nikos Kazantzakis tại Heraklion, Daskalogiannis tại Chania và một sân bay nhỏ hơn tại Sitia. Hai sân bày đầu có các đường bay quốc tế, và là cửa ngõ khi các du khách đến với hòn đảo.
Hòn đảo có các tuyến phà chủ yếu là kết nối với Athens do một số công ty điều hành như Minoan LinesANEK Lines.

Lịch sử

Mảnh vỡ bức bích họa của một nữ vũ công (Knossos, 1600–1450 BC)

Họ Người đã sống tại Crete ít nhất là từ 130.000 năm trước. Vào hậu kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ đồng, dưới nền văn minh Minoa, Crete đã có một trình độ phát triển cao, một nền văn minh có học thức. Đảo được cai trị bởi các thực thể Hy Lạp cổ đại, đế quốc Đông La Mã, đế quốc Đông La Mã, Tiểu vương quốc Crete, Cộng hòa Veneziađế chế Ottoman. Sau một thời gian ngắn tự chủ (1897–1913) dưới sự quản lý của chính phủ lâm thời Crete, đảo gia nhập vương quốc Hy Lạp. Đảo bị Đức Quốc Xã xâm lược trong Chiến tranh Thế giới thứ 2.

Thời tiền sử

Cá thể người đầu tiên đến định cư tại Crete là từ 130.000 năm trước, vào thời đại đồ đá cũ.[12][13][14] Các điểm định cư vào giai đoạn tiền đồ gồm của thời kỳ đồ đá mới vào thiên niên kỷ thứ 7 TCN, sử dụng gia súc, cừu, , lợnchó cũng như các loại ngũ cốc và cây đậu đã được thuần hóa; Knossos cổ là một trong những địa điểm chính vào thời kỳ đồ đá mới (và sau này là Minoa).[15] Các điểm định cư vào thời đồ đá mới khác bao gồm Kephala, Magasa, và Trapeza.

Văn minh Minoan

Bài chi tiết: Nền văn minh Minoan

Crete là trung tâm của nền văn minh tiến đầu tiên của châu Âu, Minoan (c. 2700–1420 BC).[1] Nền văn minh này được viết trong các văn bản mà đến nay vẫn không giải mã được, chúng được gọi là văn tự tuyến hình A. Lịch sử Crete đầy rẫy những huyền thoại như Vua Minos, Theseus, và Minotaur, được truyền khẩu qua những thi sĩ như Homer. Sự kiện phun trào núi lửa Minoa trên đảo Thera đã tàn phá nền văn minh Minoa.

Văn minh Mycenea

Bắt đầu từ năm 1420 TCN, nền văn minh Minoan bị nền văn minh Mycenae từ Hy Lạp đại lục tàn phá. Các mẫu văn bản cổ nhất được viết bằng tiếng Hy Lạp, được Michael Ventris nhận dạng, là các tài liệu bằng văn tự tuyến hình B từ Knossos, có niên đại xấp xỉ 1425–1375 TCN.[16]

La Mã cai trị

Crete đã tham gia vào các cuộc chiến tranh Mithridatic, ban đầu đã đẩy lùi được cuộc tấn công của tướng La Mã Marcus Antonius Creticus vào năm 71 TCN. Tuy thế, một chiến dịch ác liệt trong ba năm đã sớm xảy ra sau đó dưới sự chỉ huy của Quintus Caecilius Metellus Creticus, trang bị với ba quân đoàn và Crete cuối cùng bị La Mã chinh phục vào năm 69 TCN, Metellus được ban tước hiệu “Creticus“. Gortyn trở thành thủ phủ của hòn đảo, và Crete trở thành một tỉnh của La Mã, cùng với Cyrenaica được gọi là Creta et Cyrenaica.

Đông La Mã – thời kỳ thứ nhất

Crete được tách khỏi Cyrenaica khoảng năm 297. Đảo vẫn là một phần của đế quốc La Mã, và đế quốc Đông La Mã sau năm 600 SCN. Crete đã phải hứng chịu một cuộc tấn công từ người Vandal vào năm 467, các trận động đất lớn vào các năm 365 và 415, một cuộc tấn công của người Slav năm 623, các cuộc tấn công của người Ả Rập vào năm 654 và thập niên 670, và tiếp diễn vào thế kỷ thứ 8. Khoảng năm 732, Hoàng đế Leo III đã chuyển hòn đảo từ phạm vi quyền lực của Giáo hoàng sang Tổng chủ giáo thính Constantinopolis.[17]

Tiểu vương quốc Kríti

Vào thập niên 820, khi Crete là một phần của Đế quốc Đông La Mã, đảo đã bị người Ả Rập do Abu Hafs cầm đầu xâm chiếm[18] và họ đã lập nên Tiểu vương quốc Crete. Đông La Mã đã phát động một chiến dịch để tái chiếm hòn đảo vào các năm 842 và 843 dưới quyền Theoktistos và đạt được một số thành công. Các chiến dịch của Đông La Mã tiếp tục vào các năm 911 và 949 song đã thất bại. Năm 960/1, chiến dịch của Nikephoros Phokas đã thu hồi thành công Crete về tay Đông La Mã.

Đông La Mã – thời kỳ thứ hai

Năm 961, Nikephoros Phokas đã đưa hòn đảo trở về với quyền cai quản của Đông La Mã sau khi trục xuất những người Ả Rập.[19] Năm 1204, cuộc Thập tự chinh lần thứ 4 đã khiến kinh đô Constantinopolis bị chiếm và cướp phá. Crete bước đầu nằm dưới quyền lãnh đạo của Boniface của Montferrat[19] trong việc phân vùng các chiến lợi phẩm sau đó. Tuy nhiên, Boniface đã bán chủ quyền của mình cho Cộng hòa Venezia,[19] thế lực chiếm đa số trong cuộc Thập tự chinh. Đối thủ của Venezia, Cộng hòa Genova đã ngay lập tức chiếm giữa hòn đảo và cho đến tận năm 1212, đảo mới trở thành một thuộc địa của Venezia.

Venezia cai trị

Cảng Chania từ thời Venezia

Từ năm 1212, trong suốt bốn thế kỷ dưới sự cai trị của Venezia, thời kỳ Phục hưng đã quét qua hòn đảo, minh chứng rõ ràng nhất là các tác phẩm nghệ thuật có niên đại trong khoảng thời gian này. Được biết đến với cái tên trường phái Crete hay Nghệ thuật hậu Byzantine, nó là một tỏng những sự thăng hóa cuối cùng cùng của nghệ thuật truyền thống. Các đại diện đáng chú ý nhất của thời kỳ Phục hưng Crete là họa sĩ El Greco và nhà văn Nicholas Kalliakis (1645–1707), Georgios Kalafatis (1652–1720), Andreas Musalus (1665–1721) và Vitsentzos Kornaros.[20][21][22]
Dưới sự cai trị của Venezia, một thế lực Công giáo, Candia được coi là thành phố vững chắc nhất tại phía đông của Địa Trung Hải.[23] Ba pháo đài chính được đặt tại Gramvousa, Spinalonga, và Fortezza. Các công sự khác bao gồm pháo đài Kazarma. Năm 1492, những người Do Thái bị trục xuất từ Tây Ban Nha đã đến định cư trên đảo.[24] Năm 1574–77, Crete nằm dưới quyền quản lý của Giacomo Foscarini. Theo Starr (1942), thời kỳ quản lý của Giacomo Foscarini là những năm đen tối đối với người Do Thái và Hy Lạp. Khi đó, những người không theo Công giáo phải nộp thuế cao và không có chiết khấu. Năm 1627, có 800 người Do Thái tại Candia, tức 7% dân số của thành phố.[25]

Ottoman cai trị

Người Ottomans đã chinh phục Crete vào năm 1669, sau cuộc bao vây Candia. Nhiều người Hy Lạp tại Crete đã đào thoát đến các khu vực khác của Cộng hòa Venezia sau các cộc chiến tranh Ottoman–Venezia, một số thậm chí còn trở nên thịnh vượng như gia đình Simone Stratigo (1733 – 1824), họ đã nhập cư đến Dalamatia từ Crete vào năm 1669.[26]. Hầu hết người Hồi giáo Crete là những người Hy Lạp bản địa cải đạo, họ nói tiếng Hy Lạp Crete, song trong bối cảnh chính trị vào thế kỷ 19 tại đảo, họ được người Thổ nhìn nhận là người Thiên Chúa giáo.[27] Các ước tính đương thời có sự khác biệt, song vài đêm trước của Chiến tranh giành độc lập Hy Lạp, có thể 45% dân cư của đảo là người Hồi giáo.[28] Số người theo phái Sufi phân bổ rộng khắp hòn đảo, Bektashi là phổ biến nhất, có ít nhất năm tekkes. Nhiều người trong số họ nguyên là Ki-tô hữu và đã cải đạo trở lại trong những năm tiếp sau, trong khi nhiều người khác rời khỏi Crete vì tình trạng bất ổn, định cư tại Thổ Nhĩ Kỳ, Rhodes, Syria và các nơi khác. Đến năm 1900, 11% dân cư của đảo là người Hồi giáo. Số còn lại này được tái định cư theo thỏa thuận Trao đổi dân cư giữa Hy Lạp và Thổ nhĩ Kỳ vào năm 1924.

Nhà nước Kríti

Crete được một lực lượng quốc tế đồn trú, với một Cao Ủy (Armostis) do chinh phủ Hy Lạp lựa chọn là Alexandros Zaimis. Hòn đảo bị phân chia thành bốn phần cho bốn thế lực chính vào thời gian đó là Ý, Nga, Anh và Pháp, các khu vực chiếm đóng tương ứng là Chania, Rethymnon, Heraklion và Lasithi. Crete thống nhất với Hy Lạp vào ngày 1 tháng 12 năm 1913.

Thế chiến II

Trong Thế chiến II, đảo là nơi đã diễn ra trận Crete nổi tiếng vào tháng 5 năm 1941. Các lính nhảy dù người Đức đã có 7.000 thương vong, gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ Khối Thịnh vượng chung Anh và người dân địa phương, do tướng Bernard Freyberg chỉ huy. Kết quả là, Adolf Hitler đã ngăn cấm các hoạt động bằng đường không có quy mô lớn hơn. Trong thời gian chiếm đóng, quân Đức thường hành quyết các thường dân là nam giới khi họ ngẫu nhiên tụ tập tại các ngôi làng nhằm trả thù cho các binh lính Đức, như tại Kondomari.

Tham khảo

  1. ^ a ă Ancient Crete Oxford Bibliographies Online: Classics
  2. ^ Stephanie Lynn Budin, The Ancient Greeks: An Introduction (New York: Oxford UP, 2004), 42.
  3. ^ O. Dickinson, The Aegean Bronze Age (Cambridge, UK: Cambridge UP, 1994), 241-244.
  4. ^ Book 14, line 199; Henry George Liddell, Robert Scott, A Greek-English Lexicon
  5. ^ Edwin L. Brown, “Linear A on Trojan Spindlewhorls, Luvian-Based ϜΑΝΑΞ at Cnossus”, in Qui miscuit utile dulci: Festschrift Essays for Paul Lachlan MacKendrick, eds., Gareth Schmeling, Jon D. Mikalson, 1998, p. 62.
  6. ^ Crete, p.44, by Victoria Kyriakopoulos.
  7. ^ Π.Δ. 51/87 “Καθορισμός των Περιφερειών της Χώρας για το σχεδιασμό κ.λ.π. της Περιφερειακής Ανάπτυξης” (Determination of the Regions of the Country for the planning etc. of the development of the Region, ΦΕΚ A 26/06.03.1987
  8. ^ a ă â 2001 Census
  9. ^ a ă Brian Murphy: Vendetta Victims: People, A Village — Crete’s `Cycle Of Blood’ Survives The Centuries at The Seattle Times, 14 January 1999.
  10. ^ Aris Tsantiropoulos: Collective Memory and Blood Feud: The Case of Mountainous CretePDF (254 KB), Crimes and Misdemeanours 2/1 (2008), University of Crete.
  11. ^ The rough guide to Crete, Introduction, p. ix by J. Fisher and G. Garvey.
  12. ^ Strasser F. Thomas et al. (2010) Stone Age seafaring in the Mediterranean, Hesperia (The Journal of the American School of Classical Studies at Athens), vol. 79, pp. 145-190.
  13. ^ Wilford, J.N., On Crete, New Evidence of Very Ancient Mariners The New York Times, 15 Feb 2010.
  14. ^ Bowner, B., Hominids Went Out of Africa on Rafts Wired, 8 Jan 2010.
  15. ^ C. Michael Hogan. 2007 Knossos fieldnotes The Modern Antiquarian
  16. ^ Shelmerdine, Cynthia. “Where Do We Go From Here? And How Can the Linear B Tablets Help Us Get There?” (PDF). Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2008.
  17. ^ Kazhdan (1991), p. 546
  18. ^ Reinhart Dozy, Histoire des Musulmans d’Espagne: jusqu’à la conquête de l’Andalousie par les Almoravides (tiếng Pháp) pg. 711–1110, Leiden, 1861 & 1881, 2nd edition
  19. ^ a ă â Panagiotakis, Introduction, p. XVI.
  20. ^ Tiepolo, Maria Francesca; Tonetti, Eurigio (2002). I greci a Venezia. Istituto veneto di scienze. tr. 201. ISBN 8888143076, 9788888143071 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). “Cretese Nikolaos Kalliakis”
  21. ^ Boehm, Eric H. (1995). Historical abstracts: Modern history abstracts, 1450-1914, Volume 46, Issues 3-4. American Bibliographical Center of ABC-Clio. tr. 755. OCLC 701679973. “Between the 15th and 19th centuries the University of Padua attracted a great number of Greek students who wanted to study medicine. They came not only from Venetian dominions (where the percentage reaches 97% of the students of Italian universities) but also from Turkish-occupied territories of Greece. Several professors of the School of Medicine and Philosophy were Greeks, including Giovanni Cottunio, Niccolò Calliachi, Giorgio Calafatti…”
  22. ^ Convegno internazionale nuove idee e nuova arte nell ‘700 italiano, Roma, 19-23 maggio 1975. Accademia nazionale dei Lincei. 1977. tr. 429. OCLC 4666566. “Nicolò Duodo riuniva alcuni pensatori ai quali Andrea Musalo, oriundo greco, professore di matematica e dilettante di architettura chiariva le nuove idée nella storia dell’arte.”
  23. ^ M. Greene. 2001. Ruling an island without a navy. A comparative view of Venetian and Ottoman Crete. Oriente moderno, 20(81), 193–207
  24. ^ A.J. Schoenfeld. 2007. Immigration and Assimilation in the Jewish Community of Late Venetian Crete (15th–17th Centuries). Journal of Modern Greek Studies, 25(1), 1–15
  25. ^ Starr,J. (1942), Jewish Life in Crete Under The Rule Of Venice, Proceedings of the American Academy for Jewish Research, Vol. 12, pp. 59–114.
  26. ^ Carlo Capra, Franco Della Peruta, Fernando Mazzocca (2002). Napoleone e la repubblica italiana: 1802-1805. Skira. tr. 200. ISBN 8884914159 9788884914156 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). “Simone Stratico, nato a Zara nel 1733 da famiglia originaria di Creta (abbandonata a seguito della conquista turca del 1669)”
  27. ^ Demetres Tziovas, Greece and the Balkans: Identities, Perceptions and Cultural Encounters Since the Enlightenment; William Yale, The Near East: A modern history Ann Arbor: The University of Michigan Press, 1958)
  28. ^ William Yale, The Near East: A modern history by (Ann Arbor, The University of Michigan Press, 1958)

Nguồn

  • Panagiotakis, Nikolaos M. (1987). “Εισαγωγικό Σημείωμα (“Introduction”)”. Trong Panagiotakis, Nikolaos M. Crete, History and Civilization (bằng Greek) I. Vikelea Library, Association of Regional Associations of Regional Municipalities. tr. XI–XX.

Liên kết ngoài


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam
Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Advertisements