Biển Đông vạn dặm

Chào ngày mới 18 tháng 6.  Phỏng vấn Nye: Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á (Interview: Joseph Nye)  Giáo sư nổi tiếng Đại học Harvard Joseph S. Nye, chuyên gia kỳ cựu về chiến lược đối ngoại Mỹ trả lời phỏng vấn của Samuel Ramani báo The Diplomat. Người dịch Đổ Kim Thêm. Tiếng Anh cho em. Hoàng Kim
Joseph Nye

Phỏng vấn Nye:
Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á

tác giả Samuel Ramani

Joseph Nye là một Giáo sư Thượng hạng Đại học Harvard. Ông cũng là cựu Khoa Trưởng của John F Kennedy School of Government tại Harvard, Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng cho chính quyền Clinton từ 1994-1995, và là thành viên của Hội đồng Chính sách Ngoại giao. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách, gần đây nhất là Is the American Century Over?

Trong dịp thuyết giảng tại Đại học Oxford vào đầu tháng 6, Joseph S. Nye đã dành cho Samuel Ramani một cuộc phỏng vấn với toàn văn sau đây:

Chính quyền Obama đã thực hiện việc chuyển trục chiến lược về châu Á là một yếu tố chính trong chính sách đối ngoại. Tuy nhiên, việc chuyển giao rộng lớn các nguồn lực quân sự của Mỹ tại Thái Bình Dương đã bị chống trả bởi việc tập trung quân sự nhanh chóng của Trung Quốc. Kể từ khi sự hiện diện quân sự của Trung Quốc tăng lên với tốc độ nhanh hơn so với sự hiện diện của Mỹ, ông có nghĩ việc chuyển trục chiến lược về châu Á sẽ có hiệu quả trong việc cân bằng quyền bá chủ khu vực của Trung Quốc trong thời gian dài?

Tôi nghĩ cụm từ tái quân bình, một thuật ngữ mà chính quyền Obama thích sử dụng hơn tạo được nhiều ý nghĩa. Chuyển trục sang châu Á đúng hơn là một chính sách quân sự. Châu Á, đặc biệt là Đông Á, là một nơi tăng trưởng nhất của nền kinh tế thế giới và tôi nghĩ chính quyền Obama cảm thấy chúng ta đã chưa quan tâm đúng mức đến khu vực này. Vì vậy, việc tái cân bằng là một nỗ lực để tập trung vào các khu vực năng động nhất của nền kinh tế toàn cầu. Nó có một thành tố quân sự, như khi cam kết của Hoa Kỳ để có 60 phần trăm của lực lượng hải quân ở Thái Bình Dương vào năm 2020. Nhưng điều quan trọng là để nhấn mạnh tác động của Đối tác Xuyên Thái Bình Dương và những nỗ lực ngoại giao trong khu vực. Đối với các thành tố quân sự, Hoa Kỳ có khả năng với 10 hàng không mẫu hạm đặc nhiệm để gia tăng lực lượng trong khu vực Thái Bình Dương, nếu cần thiết. Vì vậy, khả năng của Hoa Kỳ đã vượt qua những lực lượng được đồn trú ở đó vào bất kỳ thời gian quy định nào; khả năng huy động các lực lượng bổ sung một cách nhanh chóng là một lợi điểm quan trọng. Ngoài ra, Hoa Kỳ vẫn giữ 50.000 quân tại Nhật Bản và 20.000 quân khác tại Hàn Quốc; mà một phần được hỗ trợ bởi các điều kiện ngân sách của Nhật Bản và Hàn Quốc. Vì vậy, tôi nghĩ rằng tái cân bằng hướng tới châu Á có ý nghĩa và chúng ta nên theo đuổi với chiến lược này.

Gần đây, sự va chạm đã trở nên to tiếng hơn giữa các đồng minh truyền thống của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương, Nhật Bản và Hàn Quốc, đặc biệt là trong các cuộc thăm dò công luận. Tại sao ông nghĩ rằng việc bất hoà này đã lan rộng? Và có phải vị thế của Abe tỏ ra hung hăng đối với Trung Quốc đang gây bất ổn cho khu vực không?

Tôi không nghĩ là có những quan ngại nghiêm trọng bên trong Hoa Kỳ về những nỗ lực của Abe để cải thiện vị thế quốc phòng của Nhật Bản. Tôi nghĩ họ được hoan nghênh, nhưng tôi nghĩ Washington quan tâm về các mối quan hệ giữa Nhật Bản và Hàn Quốc. Lý do là có những nguy hiểm nghiêm trọng đến từ Bắc Hàn; và đối phó với mối đe dọa mà đòi hỏi phải có phối hợp chặt chẽ giữa Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Hoa Kỳ đã và đang làm việc trong bóng hậu trường và đôi khi công khai thuyết phục Nhật Bản và Hàn Quốc cải thiện sự hợp tác của họ, và thông qua các vấn đề lịch sử của họ, mà đó là một nguồn gốc chủ yếu của tình trạng căng thẳng. Điều đáng tiếc là có vài người trong giới hoạch định chính sách ở Nhật Bản và Hàn Quốc đang bị bám víu về những vấn đề trong những năm 1930, chứ không phải là suy nghĩ về những vấn đề của thế kỷ XXI.

Tập Cận Bình đã lên giọng điệu cao hơn theo chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc, mà đôi khi được coi là mở đầu cho tinh thần hiếu chiến của Trung Quốc. Ông có nghĩ rằng tình trạng trì trệ kinh tế ở Trung Quốc làm trầm trọng hơn cho chủ nghĩa dân tộc mới này không?

Tập Cận Bình cần một lực để làm chính thống hóa cho quyền lực của mình và quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Tăng trưởng kinh tế trong lịch sử đã được xem là động cơ chính để chính thống hoá về quyền lực, đặc biệt là kể từ khi tầm quan trọng về ý thức hệ cộng sản đã suy giảm đáng kể. Từ khi kinh tế Trung Quốc sa sút, chủ nghĩa dân tộc tăng nhiều hơn, và tôi nghĩ chúng ta đang trải qua một giai đoạn của sự quan tâm cao độ về chủ nghĩa dân tộc. Tôi nghĩ chủ nghĩa dân tộc đã làm cho Trung Quốc giải quyết cuộc xung đột với các nước láng giềng ở Biển Đông khó khăn hơn. Vì vậy, đến nay không có dấu hiệu rõ rằng việc gia tăng chủ nghĩa dân tộc tại Trung Quốc sẽ dẫn đến xâm lược quân sự. Các cuộc họp cấp cao giữa Tập Cận Bình và Abe tại hội nghị thượng đĩnh APEC là một bước đi tích cực, khi Trung Quốc đã đề kháng với các cuộc họp này trong quá khứ. Nhưng tiềm năng để làm cho chủ nghĩa dân tộc sôi động là vấn đề mà chúng ta cần theo dõi chặt chẽ.

Barack Obama đã cáo buộc Tập Cận Bình trong việc cá nhân hoá quyền lực đến một mức độ lớn hơn bất kỳ một nhà lãnh đạo nào khác của Trung Quốc kể từ Đặng Tiểu Bình. Cá nhân hóa quyền lực này đã trùng hợp với sự nhấn mạnh của Tập Cận Bình trong việc nghiêm trị tham nhũng trong nội bộ ĐCSTQ. Ông có nghĩ rằng các chiến dịch chống tham nhũng đã tăng cường cho triển vọng sống còn của chế độ và gây cho Trung Quốc nghiêng theo một chiều hướng thậm chí còn độc đoán hơn?

Tôi nghĩ các chiến dịch chống tham nhũng là một thành tố không thể thiếu trong mục tiêu Tập Cận Bình để chính thống hoá cho đảng và gia tăng sức mạnh của đảng. Những người đầu tiên chạm phải chiến dịch chống tham nhũng là những đối thủ chính trị có tiềm năng, nhưng tôi nghĩ Tập Cận Bình thừa nhận sự bất mãn phổ biến đối với tham nhũng trong Đảng Cộng Sản. Sự đàn áp tự do chính trị, tự do ngôn luận, thảo luận học thuật, những gì có thể được in trên báo, cách thắt chặt sự kiểm duyệt Internet, và vân vân là vấn đề mà tôi lo lắng hơn là những chiến dịch chống tham nhũng. Tôi nghĩ các suy sụp trong những loại tự do dân sự liên quan chặt chẽ với những nỗ lực của ông ta để củng cố quyền lực, và chúng ta phải theo dõi nếu đây là một xu hướng ngày càng thắt chặt hơn theo thời gian, hoặc là một giai đoạn tạm thời.

Ông có tin rằng chế độ toàn trị gia tăng và phân hoá giữa các tầng lớp lãnh đạo phát sinh do các chiến dịch chống tham nhũng có thể gây ra một tình trạng bất đồng gây gắt trong giới này ở Trung Quốc mà làm cho quyền lực Tập Cận Bình giảm đi?

Chuyện có thể hiểu được là có thể có chia rẽ trong nội bộ của giới thượng tầng, nhưng tôi nghĩ đây là một kết quả không có thể xãy ra. Tôi nghĩ các kịch bản có thể xảy ra nhất sẽ là nếu các máy bay và tàu chiến của Trung Quốc tham gia vào vụ xung đột với Nhật Bản ở quần đảo Điếu Ngư, và bị thua. Sức mạnh quân sự của Nhật có khả năng vượt trội trong các biến cố xung đột, và một thất bại ở đây sẽ là một mối đe dọa trực tiếp đến quyền lực của Tập Cận Bình.

Gần đây, Trung Quốc đã kết ước quan hệ đối tác kinh tế chặt chẽ hơn với Nga. Ông có nghĩ rằng chiến lược tái cân bằng đối với Trung Quốc của Putin sẽ có hiệu lực trong thời gian dài hoặc lợi ích chiến lược của Trung Quốc ở Trung Á sẽ làm suy yếu triển vọng hợp tác Hoa-Nga?

Tôi nghĩ mối quan hệ Hoa-Nga là một liên minh của sự thuận tiện chứ không phải là một liên minh thực sự. Nga-Hoa vẫn có những nghi ngờ tồn động lẫn nhau; và Trung Quốc nhận ra rằng một liên minh với Nga có thể thoả hiệp về mối quan hệ đối tác chiến lược có lợi hơn, giống như mối quan hệ của Trung Quốc với Hoa Kỳ. Các quyền lợi chính của Trung Quốc tại Nga và đặc biệt là tại Siberia là nguồn lực để duy trì tăng trưởng kinh tế cho Trung Quốc. Tăng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực dân cư thưa thớt tại Siberia chắc chắn gây ra sự lo lắng cho các nhà lãnh đạo Nga.

Về mặt liên quan đến Trung Á thì Liên minh Kinh tế Á-Âu của Putin và chương trình Nhất Đái, Nhất Lộ của Trung Quốc có thể gây xung đột tại một số điểm. Để điều đó xảy ra, Liên minh Kinh tế Á-Âu sẽ phải mở rộng ảnh hưởng hiện tại. Có một khoản tiền nhất định dành cho cơ sở hạ tầng trong các chương trình của Trung Quốc sẽ kết nối Trung Quốc với Trung Á, với Nga và cuối cùng với châu Âu, nhưng tôi không nghĩ là hoàn cảnh hiện nay đưa đến một cuộc xung đột Nga Hoa.

Trung Quốc đã tăng nhiều đầu tư kinh tế trong vùng Sub-Sahara của châu Phi. Ở vài nước châu Phi công luận đối với Trung Quốc tiếp tục thuận lợi, chứng minh có một sự gia tăng quyền lực mềm của Trung Quốc trong khu vực này. Ông có nghĩ rằng Trung Quốc đã nắm vai trò lãnh đạo không thể vượt qua mặt được trong việc khai thác tiềm năng dân số và kinh tế phát triển của châu Phi một cách nhanh chóng không? Hoa Kỳ có thể làm gì để phản công trước sức bật ngày càng tăng của Trung Quốc ở châu Phi?

Tôi không nghĩ rằng có một cuộc xung đột về lợi ích giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về các nguồn lực kinh tế. Nhu cầu của Trung Quốc đã tạo ra một thị trường mới rộng lớn cho việc xuất khẩu sang châu Phi; nhưng triển vọng của Trung Quốc thống trị châu Phi là rất thấp. Châu Phi không muốn bị lệ thuộc vào quyền bá chủ của Trung Quốc nhiều hơn là họ muốn được châu Âu cai trị. Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng ở châu Phi như một kết quả của việc mua hàng của mình, nhưng nếu tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng với lao động Trung Quốc và các nhà quản lý Trung Quốc trong ngành công nghiệp khai thác như khai khoáng hầm mỏ, có thể là có một phản ứng dữ dội. Các cuộc biểu tình của các thợ mỏ người Zambia chống lại sự tham gia của Trung Quốc trong ngành công nghiệp đồng là một ví dụ điển hình cho triển vọng này.

Trung Quốc đã tìm cách để cùng lúc tăng quyền lực cứng về kinh tế và quân sự và quyền lực mềm (thông qua các Viện Khổng Tử, Thế vận Hội, vv). Làm thế nào Trung Quốc thành công trong việc tăng quyền lực mềm và cân bằng quyền lực mềm với quyền lực cứng một cách có hiệu quả, đủ để có một quyền lực thông minh?

Quyền lực mềm tại Trung Quốc chắc chắn tăng lên sau khi Thế vận Hội năm 2008 và sau triển lãm Thượng Hải, và sau đó Trung Quốc giam Lưu Hiểu Ba, và tạo một ghế trống tại lễ trao giải Nobel tại Oslo làm giảm đi quyền lực mềm của Trung Quốc. Cách đối xử của Trung Quốc với xã hội dân sự có xu hướng tác hại đến thành công của Trung Quốc đến sức mạnh mềm của Trung Quốc. Ngoài ra, hành vi không nhất quán của Trung Quốc đối với các tác nhân khác trong khu vực gây hại cho quyền lực mềm. Ví dụ, Trung Quốc đã gia tăng căng thẳng quân sự với Philippines đã phá tan thành quả quyền lực mềm do thành lập một Viện Khổng Tử ở đó. Cho đến nay, việc chuyển đổi của Trung Quốc từ quyền lực cứng và mềm qua dạng quyền lực thông minh đã ngăn chận một liên minh thù địch đang phát triển trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng Trung Quốc đã không được thành công như họ đã hy vọng.

Cuối cùng, chiếu theo những lời lẽ thay đổi của chính quyền Obama về chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc, ông có tin rằng Mỹ nên đối xử với Trung Quốc như một đối tác chiến lược hay kẻ thù?

Tôi nghĩ cho đến ngày nay chiến lược đề ra trong thời chính quyền Clinton vẫn là chiến lược đúng đắn. Chiến lược của Clinton tập trung vào việc hội nhập Trung Quốc vào trong một hệ thống kinh tế thế giới, chẳng hạn như việc gia nhập WTO. Kể từ đó, Trung Quốc đã cố gắng nâng cao vai trò của mình trong hệ thống tiền tệ quốc tế thông qua các dự án như Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB) mà không cần làm xáo trộn trật tự Bretton Woods hiện có. Đồng thời, chiến lược Clinton đã làm đảm bảo cho Trung Quốc không trở thành một kẻ hù doạ khi củng cố Hiệp ước An ninh Mỹ-Nhật. Chính sách này đã hoạt động dưới thời các chính quyền của Clinton, Bush 43 và Obama; và tôi nghĩ rằng chiến lược này là chính xác.

____

Samuel Ramani là sinh viên ban Cao học Triết chuyên ngành nghiên cứu Nga và Đông Âu tại trường Cao đẳng St. Antony, Đại học Oxford. Ông cũng là một cộng tác viên thường xuyên cho Huffington Post PoliticsWorld Post.

Interview: Joseph Nye

Following a speech at the University of Oxford in early June, he spoke with Samuel Ramani. That interview follows.

The Obama administration has made the Pivot to Asia strategy a central element of its foreign policy. The extensive transfer of U.S .military resources to the Pacific has been countered however by China’s rapid military buildup. Since China’s military presence is growing at a faster rate than that of the U.S., do you think the Pivot to Asia strategy will be effective in balancing Chinese regional hegemony in the long run?

I think the rebalance phrase, which is the term that the Obama administration prefers, makes a lot of sense. The pivot to Asia is more than just a military policy. Asia, East Asia in particular, is the fastest growing part of the world economy and I think the Obama administration felt that we had not paid enough attention to it. So the rebalance is an effort to focus on the most dynamic parts of the global economy. It does have a military component, as it does commit the United States to having 60 percent of its naval forces in the Pacific by 2020. But it is important to emphasize the impact of the Trans-Pacific Partnership and diplomatic efforts in the region. As for the military component, the United States has the capacity with 10 carrier task forces to surge forces into the Pacific if necessary. So U.S. capabilities extend well beyond forces that are just stationed there at any given time; the ability to easily bring in additional forces is a crucial asset. Also, the United States retains 50,000 troops in Japan and another 20,000 in South Korea; which are partly supported by Japan and South Korea in budgetary terms. So I think the rebalance towards Asia makes sense and that we should stick with this strategy.

Recently, friction has become more pronounced among traditional American allies in the Pacific region, Japan and South Korea, especially in public opinion surveys. Why do you think this friction has developed? And is Abe’s more aggressive posturing towards China destabilizing for the region?

I do not think there are serious concerns within the United States about Abe’s attempts to improve Japan’s defense posture. I think they are welcomed, but I do think there is a concern in Washington about relations between Japan and South Korea. The reason is that there are major dangers coming from North Korea; and confronting that threat requires close coordination between the U.S., Japan and South Korea. The United States has been working behind the scenes and sometimes publicly to persuade Japan and South Korea to improve their cooperation, and to put the history issue behind them, which is a major source of tension. It is a pity that so many policymakers in Japan and South Korea are stuck in the 1930s rather than thinking about the problems of the twenty-first century.

Xi Jinping has escalated nationalist rhetoric in China that is sometimes regarded as a precursor for Chinese belligerence. Do you think the economic slowdown in China is fuelling this new nationalism? 

Xi Jinping needs a legitimizing force for his power and for the power of the Chinese Communist Party (CCP). Economic growth has historically been the primary legitimizer of its authority, especially since communist ideology has declined greatly in importance. As China has an economic slowdown, nationalism will increase further, and I think we are undergoing a period of heightened attention to nationalism. I think nationalism has made it more difficult for China to resolve conflicts with its neighbors in the South China Sea. So far there is no clear indication that increased Chinese nationalism will result in military aggression. The high level meeting between Xi Jinping and Abe at the APEC summit was a positive step, as China had been resistant to these meetings in the past. But the potential for nationalism to boil over, it is something we need to watch closely.

Barack Obama has accused Xi Jinping of personalizing power to a greater extent than any other Chinese leader since Deng Xiaoping. This personalization of power has coincided with Xi Jinping’s emphasis on cracking down on corruption within the CCP. Do you think the anti-corruption campaign has strengthened the regime’s survival prospects and caused China to tilt in an even more authoritarian direction?

I think the anti-corruption campaign is an integral component of Xi Jinping’s objective of legitimizing the party and increasing its power. The people hit first by the anti-corruption campaign are potential political rivals, but I think Xi Jinping recognizes popular resentment towards corruption in the Communist Party. What worries me more than the anti-corruption campaign is the crackdown on political liberalism, freedom of speech, academic discourse, what can be printed in the press, how tight the censorship of the Internet is, and so forth. I think deteriorations in these kinds of civil liberties relate closely to his efforts to consolidate power, and we have to see if this is a trend over time to get tighter or tighter, or a temporary phase.

Do you believe that this increased authoritarianism and polarizations amongst the elites resulting from the anti-corruption campaign could cause an elite schism in China that undermines Xi Jinping’s authority? 

It is conceivable that there could be splits within the elites, but I think this an unlikely outcome. I think the most probable scenario would be if Chinese planes and ships got involved in incidents with the Japanese in the Senkaku Islands, and lost. The Japanese might have superior capabilities in the event of conflict, and a defeat there would be a direct threat to Xi Jinping’s power.

China has recently engaged in a closer economic partnership with Russia. Do you think that Putin’s strategy of rebalancing towards China will be effective in the long run or will Chinese strategic interests in Central Asia undermine Sino-Russian cooperation prospects? 

I think the Chinese-Russian relationship is an alliance of convenience rather than a true alliance. Russia and China still have residual suspicions of each other; and China recognizes that an alliance with Russia could compromise more beneficial strategic partnerships, like China’s relations with the United States. The primary Chinese interest in Russia and Siberia in particular are resources to sustain Chinese economic growth. Increased Chinese influence in sparsely populated regions of Siberia definitely causes anxiety amongst the Russian leadership.

With regards to Central Asia, Putin’s Eurasian Economic Union and China’s One Belt, One Road program could conflict at some point. For that to happen, the Eurasian Economic Union will have to expand from its current influence. There is a certain amount of infrastructure in the Chinese program that will link China to Central Asia to Russia and eventually to Europe, but I do not think current circumstances point to a conflict between China and Russia.

China has greatly increased its economic investment in Sub-Saharan Africa. Public opinion towards China remains favorable in many African countries, pointing to an increase in Chinese soft power in that region. Do you think that China has taken an insurmountable lead in harnessing Africa’s rapidly growing economic and demographic potential? What can the United States do to counter China’s increased leverage in Africa?  

I do not think there is a conflict of interest between China and the United States over economic resources. Chinese demand has created an extensive new market for African exports; but the prospect of China dominating Africa is very slight. Africa does not want to be under Chinese hegemony any more than it would like to be ruled by Europeans. China will have influence in Africa as a result of its purchases but if it continues to build infrastructure with Chinese labor and Chinese managers in extractive industries like mining, there could be a backlash. The protests of Zambian miners against Chinese involvement in the copper industry is an excellent example of this prospect.

China has sought to increase its hard economic and military power and soft power (through Confucian institutes, the Olympics, etc.) simultaneously. How successful has China been in increasing its soft power and has it balanced soft power with hard power effectively enough to possess smart power?

Soft power in China definitely increased after the 2008 Olympics and after the Shanghai Exposition, and then China locked up Liu Xiaobo, and produced its empty seat at the Nobel ceremony in Oslo, which undercut Chinese soft power. The way China treats civil society tends to undermine some of the successes China has with its soft power. Also, China’s inconsistent behavior towards other regional actors compromises its soft power. For example, China has increased military tensions with the Philippines that have diluted soft power gains resulting from its establishment of a Confucian institute there. China’s conversion of hard and soft power into smart power has thus far prevented a hostile coalition from developing within the Asia-Pacific region, but China has not been as successful as it has hoped.

Finally, in light of the shifting rhetoric by the Obama administration on U.S. policy towards China, do you believe that the U.S. should treat China as a strategic partner or adversary?

I think the strategy designed during the Clinton administration remains the right strategy to this day. Clinton’s strategy focused on integrating China into the world economic system, such as joining the WTO. Since then, China has been trying to increase its role within the international monetary system through projects such as the Asian Infrastructure Investment Bank (AIIB) without overthrowing the existing Bretton Woods order. At the same time, the Clinton strategy worked to ensure that China doesn’t become a bully by reinforcing the U.S.-Japan security treaty. This policy has worked through the Clinton, Bush 43 and Obama administrations; and I think the strategy is correct.

Samuel Ramani is an MPhil student in Russian and East European Studies at St. Antony’s College, University of Oxford. He is also a regular contributor to Huffington Post Politics and World Post.

VOA Learning English
không chỉ là tiếng Anh cho em mà còn là tình yêu cuộc sống

Tinhyeucuocsong

Agriculture Report

  • 3:03

 

 

Bài viết mới

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Biển Đông vạn dặm

BienDong16615

Tình hình biển Đông có gì mới? Báo Mỹ, tờ The Wall Street Journal có bài bình luận đáng chú ý của tác giả Andrew Browne  Can China Be Contained? (Có thể ngăn chặn Trung Quốc được không? (người dịch Huỳnh Phan). Bài tổng quan tình hình và phân tích về đối sách, động thái chiến lược của Mỹ trong trật tự thế giới biến chuyển. (Hiên nay đối với nhiều người Mỹ, hứa hẹn sẽ là một đối tác ngoại giao với TQ thật xa vời hơn bao giờ hết. Ảnh: Corbis)

Bài viết của Andrew Browne là một tài liệu đánh giá tổng quan về xu thế đối ngoại của Mỹ. Nhiều nhà chiến lược Mỹ đang đào bới lại những ý tưởng ngăn chặn có từ thời Chiến tranh Lạnh thay thế cho liên minh và sự đồng thuận đã có từ lâu trong quan hệ với Bắc Kinh. Sự thay đổi tâm trạng ở Washington hiện nay liệu có thể kết thúc cơ bản giống y như sự thay đổi đến trên toàn nước Mĩ ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, khi Mỹ chợt nhận ra rằng Liên Xô sẽ không thể tiếp tục là một đồng minh. Đó là khi nhà ngoại giao huyền thoại và là nhà tư tưởng chính sách Mĩ George F. Kennan hình thành nên kế hoạch ngăn chặn?

Nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy, chính sách đối ngoại của Mỹ ngăn chặn hay hợp tác? Trung Quốc đang cưỡng chiếm Biển Đông Việt Nam và rộng ra trên vùng biển của “đường lưỡi bò chín đoạn”. Sự căng thẳng trong khu vực đang tăng lên. Trung Quốc không còn chấp nhận vai trò của Mĩ như một cảnh sát khu vực để duy trì hòa bình và giữ cho các tuyến đường biển thông suốt. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình năm ngoái tại Thượng Hải đã tuyên bố “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn trên biển Đông (xem thêm: Biển Đông và sông Mekong). Trung Quốc tìm kiếm quyền lực trên biển Đông Việt Nam thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ. Trung Quốc  thực hiện một loạt các kế sách liên hoàn:  xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp do sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngồi cạnh Tổng Thống Nga Putin trong đại lễ 70 năm kỷ niệm Ngày Chiến thắng Chủ nghĩa Phát xít khi Tổng thống Mỹ Obama cùng nguyên thủ nhiều nước châu Âu và thế giới theo phe Mỹ không tham dự, Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg  dù mọi giá  thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế , khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới.

Việt Nam làm gì trong thế giới biến chuyển? Bài học lịch sử dân tộc và nhân loại luôn nhắc nhở  chúng ta : “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình”. “Ta lớn mau mau. Vượt qua biển lớn”. “Tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi, có lý có lợi, đúng lúc “.

Hoàng Kim


Tài liêu dẫn

CÓ THỂ NGĂN CHẶN TRUNG QUỐC ĐƯỢC KHÔNG?

Tác giả: Andrew Browne

Người dịch: Huỳnh Phan

12-06-2015

Khi căng thẳng với Trung Quốc tăng lên, các nhà tư tưởng chính sách đối ngoại của Mĩ đang đào bới lại những ý tưởng thời Chiến tranh Lạnh – và đặt câu hỏi về sự đồng thuận có từ lâu cho việc quan hệ với Bắc Kinh.

Viết vào năm 1967, lúc đỉnh cao của Chiến Tranh Lạnh, Richard Nixon nêu lên một tham vọng mới của Mĩ: “thuyết phục Trung Quốc rằng họ phải thay đổi”.

Ông viết “Với tầm nhìn lâu dài, chúng ta đơn giản là không thể kham được việc để Trung Quốc ở ngoài gia đình của các quốc gia mãi mãi, ở đó họ nuôi dưỡng cái ngông của họ, ấp ủ căm thù và đe dọa các nước láng giềng.” Bốn năm sau đó, khi ngồi vào Nhà Trắng, Nixon là kiến trúc sư mở ra một “lối mở cho Trung Quốc”, hứa hẹn sẽ chuyển nước cộng sản khổng lồ này thành một đối tác ngoại giao, một đối tác sẽ thừa nhận các giá trị của Mĩ và có thể cả hệ thống dân chủ của Mĩ.

Đối với nhiều người Mĩ hiện nay, khi thấy chính quyền Chủ tịch Tập Cận Bình trấn áp mạnh bạo bất đồng chính kiến trong nước đồng thời thách thức quyền lãnh đạo của Mĩ ở Châu Á, lời hứa hẹn đó có vẻ xa vời hơn bao giờ hết. Trong cuốn sách mới xuất bản “The Hundred-Year Marathon” (Cuộc chạy Marathon 100 năm), Michael Pillsbury – một chuyên gia Châu Á và là quan chức Lầu Năm Góc dưới thời Tổng thống Ronald Reagan và George H.W. Bush – viết rằng Trung Quốc “đã không đáp ứng hầu như tất cả những kì vọng màu hồng của chúng ta.”

Chính sách đối ngoại của Mĩ đã đi tới một bước ngoặt, khi các nhà phân tích từ khắp các xu hướng chính trị  bắt đầu đào bới lại các lập luận thời Chiến Tranh Lạnh và nói về sự cần thiết cho một chính sách ngăn chặn Trung Quốc. Đồng thuận vững chắc từng có của Washington trước lợi ích của “việc quan hệ (engagement) có tính xây dựng” với Bắc Kinh đã bị đổ vở.

Niềm xác tín rằng quan hệ là con đường hiện thực duy nhất để khuyến khích tự do hóa ở Trung Quốc đã kéo dài qua tám đời tổng thống Mĩ, Cộng hòa và Dân chủ đều vậy. Jimmy Carter để lại chính sách của Nixon cho Ronald Reagan; George W. Bush cho Barack Obama.

Sự rối loạn trong chính sách của Mĩ đã đặc biệt nổi rõ trong những tháng gần đây. Một luồng các báo cáo tư vấn chưa từng có từ các trung tâm học thuật và các nhóm tư vấn hàng đầu đã đề nghị tất cả mọi thứ từ lấn trả về quân sự chống lại Trung Quốc cho tới các nhượng bộ sâu rộng. Các đơn thuốc khác nhau, nhưng điểm khởi đầu của chúng đều như nhau: bi quan về tiến trình hiện tại trong quan hệ Mĩ-Trung.

Sự thay đổi tâm trạng ở Washington có thể kết thúc cơ bản giống y như sự thay đổi đến trên toàn nước Mĩ ngay sau Thế Chiến II, khi chợt nhận ra rằng Liên Xô sẽ không tiếp tục là một đồng minh. Đó là khi nhà ngoại giao huyền thoại và là nhà tư tưởng chính sách Mĩ George F. Kennan hình thành nên kế hoạch ngăn chặn.

Trong một bài báo năm 1947 trên tạp chí Foreign Affairs, ông đã viết rằng Mĩ “trong khả năng mình phải nâng căng thẳng lên thật lớn mà chính sách Liên Xô phải hoạt động dưa trên đó, để buộc Kremlin phải có mức độ tiết chế và thận trọng lớn hơn mức họ đã tuân theo trong những năm gần đây, và theo cách này thúc đẩy các xu hướng vốn cuối cùng phải tìm lối thoát qua việc bẽ gãy hoặc việc làm nhũn dần sức mạnh của Liên Xô.” Chiến lược của Kennan – hút máu Liên Xô thông qua việc kháng cự không khiêu khích – tạo ra sự thoải mái cho người Châu Âu vốn lo sợ rằng họ phải đối mặt với một lựa chọn khắc nghiệt giữa chiến tranh và đầu hàng.

Nỗi lo tương tự về những hành động và ý đồ của Trung Quốc hiện nay đang có trong lòng rất nhiều người Châu Á. Bạn bè và đồng minh của Mĩ trong khu vực đang đổ xô đến phía Mĩ để tìm kiếm sự bảo vệ khi Trung Quốc của Tập Cận Bình tăng cường hải quân, đưa các hạm đội của họ đi xa hơn vào đại dương xanh và đẩy mạnh chủ quyền lãnh thổ. Trong điều đúng là động thái quyết đoán mới nhất báo động khu vực, Trung Quốc hiện bồi đắp các rạn san hô nhỏ ở Biển Đông để tạo ra các đường băng, có vẻ cho các máy bay quân sự.

Hoa Kì đang chống lại. Dấu ấn ‘chuyển trục’ sang Châu Á của của Tổng thống Obama – đề ra vừa để làm yên lòng bạn bè đang lo lắng của Mĩ vừa để thừa nhận tầm quan trọng chiến lược lớn của khu vực trong thế kỉ 21 – là đưa tàu chiến tiên tiến tới Singapore, thủy quân lục chiến đến Úc và các cố vấn quân sự tới Philippines. Nhật Bản, đồng minh chủ chốt của Mĩ ở Châu Á, được tái vũ trang và đã điều chỉnh hiến pháp hòa bình sau chiến tranh cho phép quân đội của họ đóng một vai trò lớn hơn trong khu vực. Mục đích của phần lớn các hoạt động này là để bảo vệ sự độc lập của các nước Châu Á nhỏ hơn vốn đang lo sợ họ có thể không có lựa chọn nào khác ngoài việc rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc và khuất phục trước các tham vọng trong lãnh thổ của họ – nói cách khác, là đầu hàng.

Về phần mình, Trung Quốc dứt khoát tin  rằng Hoa Kì đang theo đuổi một chính sách ngăn chặn. Kevin Rudd, cựu Thủ tướng Australia (và bản thân là một chuyên gia về Trung Quốc), tóm tắt nhận thức của Bắc Kinh về mục tiêu Mĩ trong năm điểm trong một nghiên cứu gần đây của Harvard: cô lập, ngăn chặn, làm suy giảm, gây chia rẻ nội bộ và phá hoại sự lãnh đạo chính trị của TQ.

Chắc chắn những căng thẳng mới trong quan hệ Mĩ-Trung không phải là điều gì giống như việc phải nhìn chằm chằm thời Chiến Tranh Lạnh vốn vướng bận tâm trí Châu Âu trong nhiều thập kỉ, khi xe tăng của NATO và của Hiệp ước Warsaw đối mặt nhau trên lằn ranh mà không bên nào dám vượt qua. Nhưng ở một khía cạnh quan trọng, lịch sử đang tự lặp lại: cả Trung Quốc lẫn Mĩ đều đã bắt đầu xem nhau không phải là đối tác, đấu thủ cạnh tranh hoặc đối thủ mà là kẻ thù.

Việc TQ tăng thêm tên lửa và hải quân cũng như phát triển các khả năng mới về chiến tranh mạng và không gian là nhằm thẳng vào việc ngăn chặn không để quân đội Mĩ can thiệp vào bất kỳ cuộc xung đột nào ở Châu Á. Trong khi đó, nhiều dự án tuỳ hứng của Lầu Năm Góc – công nghệ chiến tranh các vì sao (Star Wars) như laser và các hệ thống vũ khí tiên tiến và lasers như máy bay ném bom tầm xa – đang được phát triển với Trung Quốc trong đầu.

Thế thì cụ thể, Mĩ nên làm gì? Trong một trong những báo cáo diều hâu nhất từ các báo cáo của các nhóm chuyên gia tư vấn gần đây, Robert D. Blackwill, cựu phó cố vấn an ninh quốc gia Mĩ và đại sứ tại Ấn Độ dưới thời Tổng thống George W. Bush, và Ashley J. Tellis, nhà nghiên cứu cao cấp tại Carnegie Endowment for International Peace cũng từng là nhân viên Hội đồng An ninh Quốc gia dưới thời Tổng thống Bush, viết rằng việc quan hệ với Trung Quốc đã làm nhiệm vụ làm đối thủ cạnh tranh mạnh lên.

Hai ông cho rằng đã tới lúc cho một chiến lược mới: quan hệ ít và  “cân bằng” nhiều đảm bảo “mục tiêu trung tâm” là vị trí đứng đầu toàn cầu tiếp tục của Mĩ. Ngoài những việc khác, Mĩ nên tăng thêm quân ở Châu Á, chặn đứt việc Trung Quốc tiếp cận với công nghệ quân sự, đẩy nhanh tiến độ triển khai tên lửa phòng thủ và tăng khả năng tấn công mạng của Mĩ.

Đối với Michael D. Swaine, cũng thuộc Carnegie Endowment, đây là một dạng công thức cho một cuộc Chiến Tranh Lạnh khác, hoặc tệ hơn. Ông phát thảo một cách giải quyết sâu rộng, theo đó Mĩ sẽ nhường đi vị trí đứng đầu ở Đông Á, biến phần lớn khu vực thành một vùng đệm được kiểm soát bởi một sự cân bằng các lực lượng, gồm cả lực lượng từ một Nhật Bản đã tăng cường. Tất cả các lực lượng nước ngoài sẽ rút khỏi Hàn Quốc. Và Trung Quốc sẽ đưa ra đảm bảo rằng sẽ không tiến hành hoạt động thù địch chống lại Đài Loan, mà họ xem là một tỉnh li khai.

Những sắp xếp như vậy, ngay cả nếu xảy ra, sẽ mất hàng thập kỉ để triển khai. Trong khi đó, David M. Lampton, giáo sư Trường Nghiên Cứu Quốc Tế Cao Cấp Đại Học Johns Hopkins, cảnh báo quan hệ Mĩ-Trung đã đạt đến đỉnh điểm. “Nỗi sợ tương ứng của chúng ta gần vượt quá hi vọng của chúng ta hơn bất cứ lúc nào từ khi bình thường hóa,” ông nói trong một bài phát biểu gần đây.

Phương Tây đã ở vị thế này trước đây. Lạc quan về triển vọng chuyển một nền văn minh xa xưa qua quan hệ, tiếp theo sau là sự vỡ mộng sâu đậm, đã là khuôn mẫu từ bao giờ từ khi các nhà truyền đạo dòng Tên đầu tiên tìm cách chuyển người Trung Quốc sang đạo Thiên Chúa. Những phái viên này chấp nhận vận mũ áo quan lại Trung Hoa, để râu dài và thậm chí diễn đạt sứ điệp Tin Mừng bằng từ ngữ Nho giáo để làm cho nó dễ được chấp nhận hơn. Linh mục Đức Adam Schall thế kỉ 17 đã đi xa tới mức trở thành nhà thiên văn học đứng đầu của triều Thanh. Nhưng ông đã bị thất sủng, và các linh mục dòng Tên này sau đó đã bị trục xuất.

Thất vọng tại Mĩ hiện nay đã lên cao bởi thực tế là việc quan hệ với Trung Quốc đã hứa hẹn rất nhiều và tiến triển cho đến nay. Giao thương và công nghệ đã làm Trung Quốc thay đổi vượt quá bất cứ điều gì mà Nixon đã có thể tưởng tượng ra, và hai nước là đối tác thương mại lớn thứ hai của nhau. Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mĩ. Hơn 250 000 sinh viên Trung Quốc theo học tại các trường đại học Mĩ.

Nhưng khoảng cách về ý thức hệ đã không thu hẹp chút nào và bây giờ TậpCận Bình đã quay ngoặt chống phương Tây. Mao Trạch Đông đã  quyết định táo bạo ra thỏa thuận với Nixon, đủ tự tin để ôm lấy tư bản Mĩ ngay cả khi đang thúc đẩy chương trình quá khích về Cách mạng Văn hóa. Sau đó, Đặng Tiểu Bình đưa ra một sự cân bằng thực dụng giữa các cơ hội về liên kết kinh tế với phương Tây và các nguy hiểm do luồng tư tưởng phương Tây đi vào gây ra. “Khi mở cửa sổ, thì ruồi muỗi cũng theovào,” ông nhún vai.

Bây giờ, Tập Cận Bình đang hung hăng tiêu diệt ruồi nhặng. Một luật mới được đề xuất sẽ đặt toàn bộ khu vực phi lợi nhuận nước ngoài dưới sự quản lí của công an, thực tế là là coi các nhóm này như kẻ thù tiềm năng của nhà nước. Báo chí nhà nước chửi bới “các lực lượng thù địch nước ngoài” và cảm tình viên của họ trong nước. “Tài Liệu số 9” của Đảng Cộng Sản Trung Quốc cấm thảo luận về dân chủ phương Tây ở các trường đại học. Và khi Tập Cận Bình cổ vũ văn hoá truyền thống Trung Quốc, chính quyền ở Ôn Châu, một thành phố ven biển có rất nhiều người theo đạo Thiên Chúa – được gọi là “Jerusalem mới” của Trung Quốc, đã phá đổ thánh giá trên nóc các nhà thờ mà họ xem như là biểu tượng không mong muốn về ảnh hưởng phương Tây.

Phản ứng dữ dội chống lại phương Tây mở rộng vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc. Trong nhiều thập kỉ, Trung Quốc chấp nhận vai trò của Mĩ như một cảnh sát khu vực để duy trì hòa bình và giữ cho các tuyến đường biển thông suốt. Nhưng năm ngoái ở Thượng Hải, Tập Cận Bình tuyên bố rằng “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”.

Washington cảm thấy có một loại cảm giác bị phản bội. Xét cho cùng, thị trường mở cửa của Mĩ làm cho việc Trung Quộc nâng lên thành nền kinh tế dựa trên xuất khẩu lớn thứ hai thế giới diễn ra suôn sẻ, và hiện nay hai nền kinh tế phụ thuộc nhau sâu rộng.

Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm khi cho rằng sự phụ thuộc lẫn nhau nhất thiết sẽ ngăn chặn xung đột. Châu Âu trướcThế chiến I cũng quyện chặt với nhau qua thương mại và đầu tư.

Ngay cả cộng đồng doanh nghiệp Mĩ, từng ủng hộ trung thành nhất Bắc Kinh ở Washington, cũng đã mất một số nhiệt tình về việc quan hệ. James McGregor, cựu chủ tịch Phòng Thương Mại Mĩ tại Trung Quốc và bây giờ là chủ tịch APCO Worldwide Trung Quốc, nhà tư vấn kinh doanh, rút lại việc giúp thuyết phục các hiệp hội thương mại của Mĩ vận động cho Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế giới (WTO), điều đó xảy ra vào năm 2001.

Sự thống nhất về mục đích đó, ông nói “đã vỡ vụn từ đó.” Hiện nay, “tất cả đều tin rằng Trung Quốc ở đó để lừa đảo họ.”

Dù có các nỗi lo của Trung Quốc, chính quyền Obama vẫn còn rất ủng hộ việc quan hệ. Thỏa thuận cấp cao năm ngoái về biến đổi khí hậu đã cho thấy rằng sự hợp tác là vẫn có thể xảy ra. Trước hội nghị thượng đỉnh ở Mĩ dự định vào tháng 9, hai nước đang hoàn tất một thỏa thuận thương mại song phương đầy tham vọng. Và thường được chỉ ra rằng không một vấn đề đơn lẻ nào trên thế giới, từ cướp biển tới ô nhiễm, có thể được giải quyết mà không có nỗ lực phối hợp của hai nước.

Tuy nhiên, trong một điệu nhảy ngày càng lúng túng, chính quyền Obama đang cố gắng duy trì chính sách quan hệ này trong khi cũng gia tăng các lựa chọn quân sự ở Châu Á. Trung Quốc cũng đang chơi trò tương tự. Và chưa rõ cả hai bên sẽ có thể tiếp tục được bao lâu trước khi có một cuộc chạm trán, do sơ suất hoặc do chủ định.

Chính Obama đôi khi cũng tấn công tư thế đối đầu với Trung Quốc. Trong cố gắng thúc đẩy một khu vực thương mại tự do Châu Á-Thái Bình Dương rộng lớn thông qua một Quốc Hội chống đối, ông đã viện dẫn mối đe dọa Trung Quốc. “Nếu chúng ta không viết ra các quy tắc thì Trung Quốc sẽ vạch ra quy tắc cho khu vực này,” ông nói với The Wall Street Journal hồi tháng 4.

Ông cũng đã theo đuổi một chiến dịch – vô vọng – ngăn chặn các đồng minh như Anh và Úc không ký kết vào ngân hàng phát triển khu vực của Trung Quốc. Mặc dù ngân hàng này sẽ giúp cung cấp cơ sở hạ tầng rất cần thiết, Nhà Trắng diễn giải nó như một phần của một nỗ lực làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Mĩ trong tài chính toàn cầu.

Về phần mình, Trung Quốc tin rằng Mĩ sẽ không bao giờ chấp nhận tính hợp pháp của một chính phủ cộng sản.

Tập Cận Bình đã đề xuất một “mô hình quan hệ mới của hai cường quốc lớn”, được đề ra nhằm phá vỡ khuôn mẫu chiến tranh qua nhiều thời đại, nó xảy ra khi một cường quốc đang lên thách thức một cường quốc đang tại vị. Nhưng Mĩ đã bác bỏ, không muốn chấp nhận một công thức không những giả định rằng hai nước là ngang hàng mà dường như còn đặt hai nước trên cùng một mặt bằng đạo đức.

Một cách thích hợp, có lẽ, những căng thẳng đang đi đến giai đoạn tồi tệ phải can thiệp ở quần đảo Trường Sa, một quần đảo gồm các rạn đá ngầm và bãi cát trong Biển Đông nguy hiểm đến mức các hải đồ cũ của Hải Quân Anh đánh dấu toàn bộ khu vực là “Khu vực nguy hiểm” (Dangerous Ground).

Trong nghĩa địa này của những người đi biển, Trung Quốc đã ồ ạt mở rộng nhiều rạn san hô qua bồi đắp; một rạn có một đường băng đủ dài cho máy bay quân sự lớn nhất của Trung Quốc có thể đáp xuống. Các nước láng giềng của Trung Quốc coi chúng như là các tiền đồn cho việc Trung Quốc cuối cùng sẽ thu tóm toàn bộ Biển Đông. Lầu Năm Góc biểu đạt chúng như là một mối đe doạ cho quyền đi lại trên biển không bị thách thức của Hải quân Mĩ

Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ Ash Carter đang xem xét việc biểu dương lực lượng – và đang chịu áp lực chính trị để làm như vậy. Tháng trước, Thượng nghị sĩ Bob Corker, Chủ tịch đảng Cộng hòa trong Ủy ban đối ngoại Thượng viện, phàn nàn rằng phản ứng của Mĩ đối với việc xây dựng đảo là quá thụ động. “Tôi không thấy Trung Quốc phải trả giá gì cho các hoạt động của họ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông,” ông Corker nói. “Chẳng có gì cả. Trên thực tế, tôi thấy chúng ta đang phải trả giá”.

Không bên nào muốn có chiến tranh. Tập Cận Bình không chống phương Tây theo cách của Tổng thống Nga Vladimir Putin, và cho đến nay, ông ta chưa hành động vội vàng như Putin với việc tóm lấy lãnh thổ ở Ukraina. Trung Quốc vẫn cần thị trường và bí quyết trỗi dậy của Mĩ. Một cuộc chiến tranh với Mĩ sẽ là một thảm họa kinh tế cho Trung Quốc.

Quan hệ Mĩ-Trung từng vượt qua giông bão trước đây. Nhớ lại những ngày sau khi quân đội Trung Quốc tấn công vào sinh viên ủng hộ dân chủ ở Quảng Trường Thiên An Môn năm 1989, khi đó hợp tác giữa hai nước đã đi vào đóng băng sâu đậm. Nhưng Tổng thống George H.W. Bush tính toán rằng quan hệ Mĩ-Trung là quá quan trọng để hi sinh, và ông đã nhanh chóng gửi phái viên đến Bắc Kinh để đảm bảo rằng nó vẫn không bị sứt mẻ.

Hiện nay, chắc chắn, tính toán đó vẫn không có ít hơn sức nặng. Hơn nữa, việc cố ngăn chận Trung Quốc sẽ vô cùng tốn kém: Một trong hai nước không thể thành công về mặt kinh tế mà không có nước kia. Chiến lược ngăn chặn Liên Xô của Kennan đã có tác dụng vì Liên Xô yếu về kinh tế và hầu như không có các ràng buộc thương mại với Mĩ. Nhưng Trung Quốc ngày nay là một cường quốc kinh tế và ngân sách quân sự hai chữ số của họ được một cơ sở công nghiệp sâu rộng và đa dạng chống đỡ.

Tuy nhiên, đối nghịch với các điều thực tế này là sự kiện rằng quan hệ Mĩ-Trung đã mất raison d’être (lí do tồn tại) chiến lược: Liên Xô, mối đe dọa chung vốn đã đưa hai nước lại với nhau [đã không còn].

Việc đối kháng với Moscow là logic thúc đẩy Nixon mở cửa cho Trung Quốc. Nhưng ngay cả Nixon, một người hiện thực chủ nghĩa cứng đầu vốn chú tâm vào việc cân bằng quyền lực, cũng không chắc việc mở cửa cho Trung Quốc cuối cùng sẽ diễn ra như thế nào. Như Nixon nói với nhà báo quá cố William Safire của tờ New York Times không lâu trước khi ông mất vào năm 1994, “Chúng ta có thể đã tạo ra một Frankenstein (quái vật giết chết người tạo ra nó -ND)”.

____

* Có thể tác giả nhầm, Chu Ân Lai chỉ kiêm nhiệm BTNG trong những năm đầu (1949-1958) còn năm 1972 BTNG TQ là Cơ Bằng Phi.

Nguồn: Lan Man


Tiếng Anh cho em (đối chiếu song ngữ Anh Việt)

CAN CHINA BE CONTAINED ?

As tensions with China rise, U.S. foreign policy thinkers are dusting off ideas from the Cold War—and questioning the long-standing consensus for engagement with Beijing

For many Americans today, the promise of being diplomatic partners with China seems more remote than ever before. Photo: Pablo Martinez Monsivais/Associated Press

Writing in 1967, at the height of the Cold War, Richard Nixon proclaimed a new American ambition: to “persuade China that it must change.”

“Taking the long view,” he wrote, “we simply cannot afford to leave China forever outside the family of nations, there to nurture its fantasies, cherish its hates and threaten its neighbors.” Four years later, having ascended to the White House, Nixon engineered an “opening to China” that promised to turn the communist giant into a diplomatic partner, one that would adopt America’s values and maybe even its system of democracy.

For many Americans today, watching the administration of President Xi Jinping crack down hard on internal dissent while challenging the U.S. for leadership in Asia, that promise seems more remote than ever before. In his recently published book “The Hundred-Year Marathon,” Michael Pillsbury—an Asia specialist and Pentagon official under Presidents Ronald Reagan and George H.W. Bush—writes that China “has failed to meet nearly all of our rosy expectations.”

U.S. foreign policy has reached a turning point, as analysts from across the political spectrum have started to dust off Cold War-era arguments and to speak of the need for a policy of containment against China. The once solid Washington consensus behind the benefits of “constructive engagement” with Beijing has fallen apart.

The conviction that engagement is the only realistic way to encourage liberalization in China has persisted across eight U.S. administrations, Republican and Democratic alike. Jimmy Carter bequeathed Nixon’s policy to Ronald Reagan; George W. Bush to Barack Obama.

The turmoil in U.S. policy has been especially evident in recent months. An unprecedented stream of advisory reports from leading academic centers and think tanks has proposed everything from military pushback against China to sweeping concessions. The prescriptions vary, but their starting point is the same: pessimism about the present course of U.S.-Chinese relations.

President Richard Nixon, right, toasts Chinese Prime Minister and Foreign Minister Zhou Enlai during a banquet in Hangzhou, China, on Feb. 27, 1972. ENLARGE
President Richard Nixon, right, toasts Chinese Prime Minister and Foreign Minister Zhou Enlai during a banquet in Hangzhou, China, on Feb. 27, 1972. Photo: CORBIS

The mood shift in Washington may end up being every bit as consequential as the one that came over the U.S. immediately after World War II, when it dawned on America that the Soviet Union wasn’t going to continue to be an ally. That is when the legendary U.S. diplomat and policy thinker George F. Kennan formulated his plan for containment.

In a 1947 article in Foreign Affairs, he wrote that the U.S. “has it in its power to increase enormously the strains under which Soviet policy must operate, to force upon the Kremlin a far greater degree of moderation and circumspection than it has had to observe in recent years, and in this way to promote tendencies which must eventually find their outlet in either the breakup or the gradual mellowing of Soviet power.” Kennan’s strategy—to bleed the Soviet Union through nonprovocative resistance—offered comfort to Europeans who feared that they faced a stark choice between war and capitulation.

A similar anxiety about China’s actions and intentions has now taken hold among many Asians. U.S. friends and allies in the region are flocking to America’s side to seek protection as Mr. Xi’s China builds up its navy, pushes its fleets farther into the blue ocean and presses its territorial claims. In what is just the latest assertive move to alarm the region, China is now dredging tiny coral reefs in the South China Sea to create runways, apparently for military jets.

The U.S. is resisting. President Obama’s signature “pivot” to Asia—designed both to calm anxious U.S. friends and to recognize the region’s vast strategic importance in the 21st century—is bringing advanced American combat ships to Singapore, Marines to Australia and military advisers to the Philippines. Japan, America’s key ally in Asia, is rearming and has adjusted its pacifist postwar constitution to allow its forces to play a wider role in the region. The purpose of much of this activity is to preserve the independence of smaller Asian nations who fear they might otherwise have no choice but to fall into China’s orbit and yield to its territorial ambitions—in other words, to capitulate.

For its part, China is utterly convinced that the U.S. is pursuing a policy of containment. Kevin Rudd, the former Australian prime minister (and himself a China expert), summarized Beijing’s perception of U.S. goals in five bullet points in a recent Harvard study: to isolate China, contain it, diminish it, internally divide it and sabotage its political leadership.

To be sure, the new tension in U.S.-China relations is not anything like the Cold War stare-down that preoccupied Europe for decades, when NATO and Warsaw Pact tanks faced each other across lines that neither side dared to cross. But in one important respect, history is repeating itself: Both China and the U.S. have started to view each other not as partners, competitors or rivals but as adversaries.

China’s missile and naval buildup, as well as its development of new cyber- and space-warfare capabilities, are aimed squarely at deterring the U.S. military from intervening in any conflict in Asia. Meanwhile, many of the Pentagon’s pet projects—Star Wars technologies such as lasers and advanced weapons systems such as a long-range bomber—are being developed with China in mind.

So what, specifically, should America do? In one of the most hawkish of the recent think-tank reports, Robert D. Blackwill, a former U.S. deputy national security adviser and ambassador to India under President George W. Bush, and Ashley J. Tellis, a senior associate at the Carnegie Endowment for International Peace who also served on the National Security Council staff under President Bush, write that engagement with China has served to strengthen a competitor.

It is time, they declare, for a new grand strategy: less engagement and more “balancing” to ensure the “central objective” of continued U.S. global primacy. Among other things, America should beef up its military in Asia, choke off China’s access to military technology, accelerate missile-defense deployments and increase U.S. offensive cyber capabilities.

For Michael D. Swaine, also of the Carnegie Endowment, this is a certain recipe for another Cold War, or worse. He outlines a sweeping settlement under which America would concede its primacy in East Asia, turning much of the region into a buffer zone policed by a balance of forces, including those from a strengthened Japan. All foreign forces would withdraw from Korea. And China would offer assurances that it wouldn’t launch hostilities against Taiwan, which it regards as a renegade province.

Such arrangements, even if possible, would take decades to sort out. Meanwhile, warns David M. Lampton, a professor at the Johns Hopkins University’s School of Advanced International Studies, U.S.-China ties have reached a tipping point. “Our respective fears are nearer to outweighing our hopes than at any time since normalization,” he said in a recent speech.

The West has been in this position before. Optimism about the prospects of transforming an ancient civilization through engagement, followed by deep disillusion, has been the pattern ever since early Jesuit missionaries sought to convert the Chinese to Christianity. Those envoys adopted the gowns of the Mandarin class, grew long beards and even couched their gospel message in Confucian terms to make it more palatable. The 17th-century German priest Adam Schall got as far as becoming the chief astronomer of the Qing dynasty. But he fell from favor, and the Jesuits were later expelled.

The disappointment in the U.S. today is heightened by the fact that engagement with China has promised so much and progressed so far. Trade and technology have transformed China beyond anything that Nixon could have imaged, and the two countries are each other’s second-largest trading partners. China is America’s biggest creditor. More than a quarter million Chinese students study at U.S. universities.

But the ideological gap hasn’t narrowed at all—and now Mr. Xi has taken a sharp anti-Western turn. Mao Zedong made the bold decision to cut a deal with Nixon, confident enough to embrace American capitalists even while pressing the radical agenda of his Cultural Revolution. Later, Deng Xiaoping struck a pragmatic balance between the opportunities of economic engagement with the West and the dangers posed by an influx of Western ideas. “When you open the window, flies and mosquitoes come in,” he shrugged.

Today, Mr. Xi is furiously zapping the bugs. A newly proposed law would put the entire foreign nonprofit sector under police administration, effectively treating such groups as potential enemies of the state. State newspapers rail against “hostile foreign forces” and their local sympathizers. The Chinese Communist Party’s “Document No. 9” prohibits discussion of Western democracy on college campuses. And as Mr. Xi champions traditional Chinese culture, authorities in Wenzhou, a heavily Christian coastal city dubbed China’s “New Jerusalem,” tear down crosses atop churches as unwanted symbols of Western influence.

The backlash against the West extends well beyond China’s borders. For decades, China accepted America’s role as a regional policeman to maintain the peace and keep sea lanes open. But in Shanghai last year, Mr. Xi declared that “it is for the people of Asia to run the affairs of Asia, solve the problems of Asia and uphold the security of Asia.”

Washington feels a certain sense of betrayal. America’s open markets, after all, smoothed China’s export-led rise to become the world’s second-largest economy, and the two economies are now thoroughly enmeshed.

Still, it would be a mistake to assume that mutual dependence will necessarily prevent conflict. Pre-World War I Europe was also closely entwined through trade and investment.

Even the U.S. business community, once Beijing’s staunchest advocate in Washington, has lost some of its enthusiasm for engagement. James McGregor, a former chairman of the American Chamber of Commerce in China and now the China chairman of APCO Worldwide, a business consultancy, recalls helping to persuade U.S. trade associations to lobby for China’s admission to the World Trade Organization, which happened in 2001.

That unity of purpose, he says “has been splintering ever since.” Today, “they all believe that China is out to screw them.”

Chinese leader Deng Xiaoping accepts a cowboy hat at a rodeo near Houston, Texas, during a tour of the U.S. in 1979. ENLARGE
Chinese leader Deng Xiaoping accepts a cowboy hat at a rodeo near Houston, Texas, during a tour of the U.S. in 1979. Photo: Wally McNamee/Corbis

China’s fears notwithstanding, the Obama administration remains very much in favor of engagement. Last year’s high-profile deal on climate change showed that cooperation is still possible. Ahead of a planned summit in the U.S. in September, the two countries are hammering out an ambitious bilateral trade agreement. And it is often pointed out that not a single problem in the world, from piracy to pollution, can be solved without their joint efforts.

In an increasingly awkward dance, however, the Obama administration is trying to sustain this policy of engagement while also ramping up its military options in Asia. China is playing a similar game. And it is not clear how long both sides will be able to continue before there is a clash, by accident or design.

Mr. Obama himself sometimes strikes adversarial postures on China. In trying to push a massive Asia-Pacific free-trade zone through a resistant Congress, he has been invoking a China threat. “If we don’t write the rules, China will write the rules out in that region,” he told The Wall Street Journal in April.

He also has pursued a campaign—ultimately futile—to prevent allies such as Britain and Australia from signing on to a Chinese regional development bank. Although the bank will help deliver much-needed infrastructure, the White House interpreted it as part of a bid to undermine America’s leadership in global finance.

For its part, China believes that the U.S. will never accept the legitimacy of a communist government.

Mr. Xi has proposed a “new model of great-power relations,” designed to break a pattern of wars through the ages that occur when a rising power challenges the incumbent one. But America has turned him down, unwilling to accept a formula that not only assumes that the two countries are peers but seems to place them on the same moral plane.

Appropriately, perhaps, tensions are coming to a head in the Spratly Islands, an archipelago of reefs and sandbars in the South China Sea so hazardous that old British Admiralty sailing charts marked the entire area as “Dangerous Ground.”

In this mariners’ graveyard, China has massively expanded several reefs through dredging; one boasts a runway long enough to land China’s largest military planes. China’s neighbors regard them as outposts for an eventual Chinese takeover of the whole South China Sea. The Pentagon presents them as a threat to the U.S. Navy’s unchallenged right to sail the oceans.

U.S. Defense Secretary Ash Carter is considering a show of force—and is under political pressure to do so. Last month, Sen. Bob Corker, the Republican chairman of the Senate Committee on Foreign Relations, complained that the U.S. response to the island-building has been too passive. “I see no price whatsoever that China is paying for their activities in the South and East China Seas,” Mr. Corker said. “None. In fact, I see us paying a price.”

Neither side wants a war. Mr. Xi is not anti-West in the manner of Russian President Vladimir Putin, and so far, he has not acted rashly, as Mr. Putin has by grabbing territory in Ukraine. China still needs U.S. markets and know-how to rise. A war against America would be an economic catastrophe for China.

The U.S.-China relationship has weathered storms before. Recall the days following the Chinese army’s 1989 assault on pro-democracy students in Tiananmen Square, when cooperation between the countries went into a deep freeze. But President George H.W. Bush calculated that the U.S.-China relationship was too important to sacrifice, and he quickly sent emissaries to Beijing to ensure that it remained intact.

Today, surely, that calculation carries no less weight. Moreover, trying to contain China would be immensely costly: Neither country can succeed economically without the other. Kennan’s containment strategy worked against the Soviet Union because it was economically weak, with almost no commercial ties to America. But today’s China is an economic powerhouse, and its double-digit military budgets are supported by a deep and diversified industrial base.

Set against these realities, however, is the fact that the U.S.-China relationship has lost its strategic raison d’être: the Soviet Union, the common threat that brought the two countries together.

Opposition to Moscow was the logic that drove Nixon’s opening to China. But even Nixon, a tough-minded realist who was focused on the balance of power, wasn’t sure how his opening to China would ultimately play out. As he told the late New York Times columnist William Safire not long before Nixon’s death in 1994, “We may have created a Frankenstein.”

Write to Andrew Browne at andrew.browne@wsj.com

Source: The Wall Street Journal, June 12, 2015 10:15 a.m. ET

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Biển Đông vạn dặm

Ảnh

Hoàng Kim (bài tổng hợp).”Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình” là hai câu thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) trong bài thơ chữ Hán Cự Ngao Đới Sơn của Bạch Vân Am Thi Tập…

Chuyện phong thủy Trung Hoa về Thiên đạo.

Trung Hoa nhiều người chuộng phong thủy. Các đế vương khởi nghiệp phát triển triều đại Trung Hoa xưa và nay đều rất ý tứ trong việc này. Bắc Kinh được lưa chọn làm đế đô của nhiều đời do được coi là thế đất phong thủy  hưng vượng muôn đời. Mỗi triều đại chỉ làm một phần việc tại thủ đô để lưu dấu công tích sự nghiệp của triều đại mình cho đời sau. Chủ tịch Mao Trạch Đông, thủ tướng Chu Ân Lai khi sáng lập nước Trung Hoa mới không đụng vào quần thể di sản lịch sử văn hóa có từ nhiều đời trước mà chỉ tập trung xây dựng “cửa Trời yên”là Thiên An Môn, định rõ cửa Thiên An và hướng Thiên đạo.
TQ KimLong 1
TQ KimLong 15
TQ KimLong 13
Núi Cảnh Sơn nhìn từ điểm trung tâm của thủ đô Bắc Kinh (Center Point of Beijing City) đến trục trung tâm của thủ đô Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn (ảnh: Hoàng Long)

Điểm gốc của đế đô Bắc Kinh là Núi Cảnh Sơn ( Jǐngshān, 景山, “Núi Cảnh”, Núi Xanh, Green Mount ), địa chỉ tại 44 Jingshan W St, Xicheng, Beijing là linh địa đế đô, ngọn núi nhân tạo, cao 45,7 m này, tạo dựng dưới thời vua Vĩnh Lạc nhà Minh, được coi là linh ứng đất trời, phong thủy tuyệt đẹp, tọa lạc ở quận Tây Thành, chính bắc của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, trục trung tâm của Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn.
TQ KimLong 4
Trục khác nối Thiên Đàn (天坛; 天壇; Tiāntán, Abkai mukdehun) một quần thể các tòa nhà ở nội thành Đông Nam Bắc Kinh, tại quận Xuanwu.

TQ KimLong 7
TQ KimLong 5

Trục khác nối Di Hòa Viên (颐和园/頤和園; Yíhé Yuán, cung điện mùa hè) – là “vườn nuôi dưỡng sự ôn hòa” một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh, nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng Tây Bắc.

Một hướng khác nối Hải Nam tại thành phố hải đảo Tam Sa, nơi có pho tượng Phật thuộc loại bề thế nhất châu Á.
DaoTruongSa

Tam Sa là thành phố có diện tích đất liền nhỏ nhất, tổng diện tích lớn nhất và có dân số ít nhất tại Trung Quốc.  Theo phân định của chính phủ Trung Quốc, Tam Sa bao gồm khoảng 260 đảo, đá, đá ngầm,  bãi cát trên biển Đông với tổng diện tích đất liền là 13 km². Địa giới thành phố trải dài 900 km theo chiều đông-tây, 1800 km theo chiều bắc-nam, diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km². Đó là đường lưỡi bò huyền bí. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nằm trên trục chính của sự thèm muốn này.

Vị trí của Thông tin quốc gia

Chủ tịch Mao xác định Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải”, là phương lược căn bản để “Con sư tử phương Đông vùng dậy”. Đối với Trung Hoa thì liên Nga tránh được họa phương Bắc là tâm điểm lưu ý của các triều đại. Việc mở mang bờ cõi tranh đoạt thiên hạ phải là Nam, Hải (cửa Sinh). Sự phòng thủ Bắc Kinh hướng chính bắc là Tử Cấm Thành (cửa Tử).

Nắm vững Trung là gốc căn bản của đại kế Mao Trạch Đông, vì trong có yên thì ngoài mới ổn, nhưng trong ngoài chính phụ phải khéo chuyển hóa. Chủ tịch Mao Trạch Đông tại Hội nghị Trung Ương từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 năm 1965 đã nhấn mạnh giả thuyết chiến lược “tam tuyến” và phương lược xử lý khi có chiến tranh lớn xẩy ra: “Trung Quốc không sợ bom nguyên tử vì bất kỳ một ngọn núi nào cũng có thể ngăn chặn bức xạ hạt nhân. Dụ địch vào sâu nội địa tới bờ bắc Hoàng Hà và bờ nam Trường Giang dùng kế “đóng cửa đánh chó” lấy chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, vận động chiến, đánh lâu dài níu chân địch, tận dụng thiên thời địa lợi nhân hòa, thời tiết mưa gió lầy lội, phá tan kế hoạch tốc chiến tốc thắng của địch. Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc động loạn

Hướng về Nam, mở rộng Hải là định kế phát triển Trung Hoa của Mao Trạch Đông. “Hồi thế kỷ thứ nhất đế quốc La Mã cũng đòi chủ quyền lãnh thổ toàn vùng biển Địa Trung Hải mà họ gọi là “Biển lịch sử của chúng tôi” (Mare Nostrum: Notre Mer/ Our Sea). Địa Trung Hải là vùng biển bao la chạy từ bờ biển Tây Ban Nha qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đến các bờ biển Trung Đông và Bắc Phi. Đường Lưỡi Rồng (dân gian gọi là Lưỡi Bò) rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Gốc rễ ăn sâu vào chủ trương của Trung Nam Hải sử dụng vũ lực với Ấn Độ (1962) và Việt Nam (chiếm Hoàng Sa 1974, phát động chiến tranh biên giới 1979, chiếm các đảo và đá ngầm Trường Sa 1988) là tư tưởng Đại Hán do Mao hô hào phục hồi được nhiều học giả trong và ngoài nước phân tích. Luật sư Nguyễn Hữu Thống – tác giả biên soạn tài liệu “Hoàng Sa – Trường Sa theo Trung Quốc sử” – nhận định: “Từ sau chiến tranh biên giới Hoa – Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử”. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.” “Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế quốc Ngai Rồng phát sinh từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955”. (Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Đại Hán trên núi Tuyết).

Mao Trạch Đông đã đưa ra phương lược khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất của nhà Thanh năm 1892. Hoàng Sa và Trường Sa trở thành “tọa độ vàng” của Bắc Kinh trên bản đồ “Biển lịch sử ” do Mao Trạch Đông khoanh vùng, để lại. Và đến nay Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiếp tục đường lối đó.

Biển Đông vạn dặm giang tay giữ

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lạ lùng thay hơn 500 trước đã dự báo điều này và sứ giả Chu Xán triều Thanh đã phải khâm phục kính nể khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu.

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Núi tiên biển biếc nước trong xanh
Rùa lớn đội lên non nước thành
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá
Dầm chân đất sóng vỗ an lành
Biển Đông vạn dặm giang tay giữ
Đất Việt muôn năm vững trị bình
Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ Tổ tiên mình.

(dịch thơ: Nguyễn Khắc Mai)

Nguyên văn:

CỰ NGAO ĐỚI SƠN

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bích tầm tiên sơn triệt đế thanh
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh
Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực
Trước cước trào vô quyển địa thanh
Vạn lý Đông minh quy bá ác
Ức niên Nam cực điện long bình
Ngã kim dục triển phù nguy lực
Vãn khước quan hà cựu đế thành

Dịch nghĩa:

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI

Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đá
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời
Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất
Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay
Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình
Ta nay muốn thi thổ sức phù nguy
Lấy lại quan hà, thành xưa của Tổ tiên.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra thông điệp ngoại giao nhắn gửi con cháu về quyết tâm và lý lẽ giữ nước: “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững thái bình” (Vạn lý Đông minh quy bá ác/ Ức niên Nam cực điện long bình)

” Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình”.

Điều lạ trong câu thơ là dịch lý, ẩn ngữ, chiết tự của cách ứng xử hiện thời. Bình là hòa bình nhưng bình cũng là Tập Cận Bình. Thiên An là trời yên cũng là dân yên. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là sự thật hiển nhiên, khó ai có thể lấy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình đoạt lý để mưu toan giành giật, cho dù cuộc đấu thời vận và pháp lý trãi hàng trăm, hàng ngàn năm, là “kê cân – gân gà” mà bậc hiền minh cần sáng suốt.

“Cổ lai nhân giả tri vô địch,
Hà tất khu khu sự chiến tranh”

Từ xưa đến nay, điều nhân là vô địch, Cần gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh.

“Quân vương như hữu quang minh chúc,
ủng chiếu cùng lư bộ ốc dân”

Nếu nhà vua có bó đuốc sáng thì nên soi đến dân ở nơi nhà nát xóm nghèo.”Trời sinh ra dân chúng, sự ấm no, ai cũng có lòng mong muốn cả”; (Hàng chục triệu người dân Việt Nam mưu sinh từ nghề biển – Ảnh Internet). “Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân”.

Đạo lý, Dịch lý, Chiết tự và Ẩn ngữ Việt thật sâu sắc thay !

Chuyện đồng dao trên đèo Ngang của Bác Hồ

Bác Hồ có bài thơ đồng dao lạ “Biển là ao lớn, thuyền là con bò”  viết lúc 5 tuổi  khoàng năm 1895 – 1896 trên đèo Ngang. Chuyện do nhà văn Sơn Tùng kể ngày 11 tháng 4 năm 2001 tại trường Cán bộ quản lý giáo dục ngành Giáo dục Đào tạo.

Chuyện kể rằng Nguyễn Tất Thành 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế. Ông Sơn Tùng được ông Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho cuốn “Tất Đạt tự ngôn” vào tháng 6 – 1950, cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ. Sau đó ít tháng cụ qua đời.

Cụ Khiêm kể lại: – Hôm đó cả nhà Bác chuẩn bị đi vào Huế, Bác ngủ với bà ngoại, em Thành ngủ với mẹ, còn chị Thanh thì ngủ với dì An. Đêm đêm Bác thấy bà khóc, ngày bà vui, đêm nào cũng nghe thấy bà khóc. Sáng hôm sau thấy bà đi xin mo cau cả làng (xưa dân ta lấy mo cau làm gàu múc nước). Bác với chú Thành lấy mo cau cắt thành chiếc thuyền đem thả vào ao trước nhà, bà không cho, bà bảo đây là dép của các cháu và cha mẹ cháu để đi vào kinh đô, thời đó chưa có nhiều giày dép như bây giờ. Bác thấy bà ngoại đo chân cha mẹ Bác, đo chân cho hai anh em Bác.
Bác nói: – Mẹ, sao đêm bà khóc?
Về sau mới biết tâm sự của bà là thế này:
– Lúc đầu cha mẹ bác tưởng bà khóc vì bán ruộng cho con rể vào kinh đi học, bán mất 5 sào. Bà ngoại đêm nằm buồn mà khóc. Không phải tiếc bán 5 sào ruộng cho con rể vào kinh đi học vì “chữ nó sẽ đẻ ra ruộng, chứ ruộng nó không đẻ ra chữ”, bán ruộng cho con đi học, có chữ về thì cái chữ đẻ ra ruộng. Còn cái ruộng, bán đi đánh bạc mới mất, nên không có gì là khóc cả. Khóc là vì bà không có con trai. Ông Tú mất rồi, con rể coi như là con trai, con gái là chỗ dựa, bây giờ cả nhà kéo vào Huế, bà ở nhà cô đơn một mình, hai cháu trai và cháu gái cũng đi. (Vì thế nên cha mẹ bác chỉ cho hai anh em cùng đi vào Huế, còn chị Thanh phải ở lại quê với bà để sớm hôm, có bà, có cháu).
Như vậy cha mẹ Bác quyết định vào Huế không phải là để làm ăn sinh sống trở thành người Huế đâu, mà muốn cho anh em Bác vào Huế để học. Cha Bác vào Huế để làm bạn với các nhà khoa bảng ở kinh đô. Các ông quan thời đó đều là Tiến sĩ, là Hoàng Giáp, là Đình Nguyên, ít ra là cử nhân. Đúng là cha của Bác vào Huế đã tạo ra được một cái “chiếu văn”, các ông quan trong triều thường đến đó bình văn, bình thơ cùng với các cụ đồ ở kinh đô.
Ông Khiêm kể tiếp:
– Khi đi dép mo cau, mỗi lần rách thì phải thay cái khác, còn chú Thành thì được cha cõng trên lưng. Trên cao chú ấy quan sát hỏi hết chuyện này đến chuyện khác, ví dụ như:
– Núi này là núi gì mà cao thế?
Bà Ngoại hay ví “Trèo truông mới biết truông cao” là nghĩa làm sao?
Có bao nhiêu nước để được gọi là biển? vân vân và vân vân.
Chú ấy hỏi nhiều chuyện, còn chân Bác thì nó đau vì đi mấy ngày liền, có khi Bác khóc. Mẹ Bác lại động viên:
Em nó vui vẻ hỏi chuyện này chuyện khác, con là anh mà chẳng vui chi cả. Chú được cha cõng trên lưng, đến đồng bằng thì chạy tung tăng, hỏi nhiều thứ đến cha còn lạ mắt nên mẹ Bác nói em thông minh hơn anh.
Rồi cụ Khiêm kể tiếp:
– Mà chú ấy thông minh hơn Bác thật…! Lúc đến đèo Ngang, đường có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Ở chân Đèo Ngang có bãi cỏ rất bằng, mẹ Bác mới đặt gánh xuống, cha Bác xếp ô lại, bảo:
– Chỗ này phẳng, nghỉ lại đây ta ăn cơm nắm để rồi leo đèo. Bác ngồi xuống ôm bàn chân rộp, còn chú Thành thì nhảy chơi rồi hỏi cha:
– Thưa cha, cái gì ở trên cao mà đỏ lại ngoằn nghoèo như rứa?
Cha Bác nói:
Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên trên đó, lên cái con đường mòn đó. Nghe xong , chú ứng khẩu đọc luôn một bài thơ. Sau này Bác ghi lại trong cuốn “Tất Đạt tự ngôn” này.
Núi cõng con đường mòn
Cha thì cõng con theo
Núi nằm ì một chỗ
Cha đi cúi lom khom
Đường bám lì lưng núi
Con tập chạy lon ton
Cha siêng hơn hòn núi
Con đường lười hơn con.
Năm 1950, tôi là anh thanh niên được tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “Tất Đạt tự ngôn” của người anh ruột Bác Hồ, thấy Bác làm thơ từ lúc 5 tuổi thì hơi sững sờ.
Ông Khiêm kể tiếp:
– Lúc đó cha mở cái túi vải lấy lá số tử vi của con ra xem thì Bác mới được biết, cha Bác đã lấy số tử vi cho các con hết rồi. Cha Bác nói với mẹ: – Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn và ông ngoại đã nói như thế không nhầm.
Rồi Bác Khiêm lại kể tiếp:
– Lúc đó Bác cũng chẳng có bụng dạ nào vì chân bỏng rộp, rất đau. Ăn cơm nắm, uống nước đựng trong quả bầu khô xong, cả nhà lại leo núi, chú Thành lại được cha cõng trên lưng. Anh em Bác ở làng Sen chỉ biết ao, biết sông, biết hồ, biết núi chứ biển thì chưa thấy. Hôm đó, đến đỉnh đèo, cả nhà dừng lại nghỉ, Bác ngồi ôm chân, chú Thành lại chạy nhảy rồi nói:
– Cha ơi, cái ao ở đây sao lại lớn thế?
Cha Bác nói: – Không phải ao đâu con ơi, đó là biển đấy chứ.
Lúc đó, đang đứng trên đỉnh đèo Ngang, nhìn thấy biển, ở đây đi xuống là đến Ròn, tức Cảnh Dương của Quảng Bình. Lần đầu tiên thấy biển lại cứ gọi là ao, cha Bác phải giải thích là biển. Chú ấy lại hỏi:
– Cha ơi, tại sao bò nó lại lội trên biển? Cha Bác cười bảo:
– Không phải là bò đâu con, đó là cánh buồm nâu, thuyền nó chạy trên biển đó. Nghe xong, chú Thành liền ứng khẩu đọc ngay một bài thơ:
Biển là ao lớn
Thuyền là con bò
Bò ăn gió no
Lội trên mặt nước
Em nhìn thấy trước
Anh trông thấy sau
Ta lớn mau mau
Vượt qua ao lớn.
Cụ Khiêm nói một câu tâm sự mà cũng là tâm trạng:
– Con người ta có số mệnh. Số mệnh có khi nó xuất ra thành ý. Cái thông thường, cái lẽ thường anh là phải nhìn thấy trước em chứ, vì anh ra đời trước, khôn hơn . Nhưng đây lại nói là: “em nhìn thấy trước, anh nhìn thấy sau, ta lớn mau mau, vượt qua ao lớn”. Cái khẩu khí ấy là cái ứng mệnh, Bác là anh, Bác đau chân, Bác không còn nhìn thấy những gì ở xung quanh, nhưng chú ấy quan sát, chú ấy lại ứng khẩu được cái đó “Ta lớn mau mau, vượt qua ao lớn”.Có lẽ cũng vì cái khẩu khí ấy nên suốt cuộc đời của chú Thành phải đi hết nơi này đến nơi khác thì phải, (năm châu bốn biển) ….

Nhà văn Sơn Tùng kề rằng cụ Khiêm nói với ông điều này vào năm 1950. Sau này nhà văn Sơn Tùng  công bố hai bài thơ ấy trên báo Văn Nghệ số Tết năm 1980, lúc đó là chuẩn bị đại hội V (1981). Khi cuốn “Búp Sen Xanh” chưa in, nhà văn Sơn Tùng có đưa hai bài thơ này và viết cái đoạn gặp cụ Nguyễn Sinh Khiêm. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng là Tổng biên tập báo Văn Nghệ, trước khi đăng đã hỏi:”– Có chính xác không anh? mới 5 tuổi mà làm hai bài thơ này, trẻ con thì trẻ con thật nhưng rất trí tuệ”. Nhà văn Sơn Tùng nói, “anh cứ đăng, có gì tôi (Sơn Tùng) chịu trách nhiệm” ….

Thiên Đạo, chuyện “biển lịch sử”, “đường lưỡi Rồng” là lý của người mạnh, của nước lớn, có thể ỳ mạnh hiếp yếu. Biến Dịch, “rùa lớn đội núi”, “đường lưỡi Bò” là tình của kẻ yếu, kẻ phi thường, của nước nhỏ, có thể đội đá vá trời. Điều lạ và hay trong thơ đồng dao của Bác Hồ là không thể đánh tráo khái niệm, không thể lấy cái hữu hạn để đo cái vô hạn. Lời tuyên bố rất sớm, và “Em nhìn thấy trước. Anh trông thấy sau. Ta lớn mau mau. Vượt qua ao lớn”.

Hoàng Kim

Xem thêm

Biển Đông và sông Mekong
Tình hình biển Đông có gì mới?

Video yêu thích

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 1

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 2

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 3

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 4

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 5

KimYouTube (TÌNH YÊU CUỘC SỐNG)

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Biển Đông và sông Mekong

Biển Đông và sông Mekong cập nhật các thông tin nổi bật “Tình hình biển Đông có gì mới?” “Sông Mekong, tài liệu  tổng hợp“.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và chính quyền Bắc Kinh đang quyết tâm theo đuổi luận thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” do cố Chủ tịch Mao Trạch Đông khởi xướng theo thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm. Nay thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. “Mekong chặn dòng” “giữ thế thượng phong nước đầu nguồn” “tùy cơ dùng kinh tế và khoa học công nghệ để chế ngự”. Việt Nam đang phải ứng phó với  “biển Đông dậy sóng, Mekong chặn dòng”. Chiến lược ứng phó cơ bản, lâu dài của Việt Nam là minh triết: “Kế sách một chữ Đồng” (Trần Nhân Tông), “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)  “Biển là ao lớn/ Thuyền là con bò/ Bò ăn gió no/ Lội trên mặt nước/ Em nhìn thấy trước/ Anh trông thấy sau/ Ta lớn mau mau/ Vượt qua ao lớn (Hồ Chí Minh).

DodocTon

Tình hình biển Đông có gì mới?

Đô đốc Trung Quốc, ông Tôn Kiến Quốc nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore 2015 vào cuối tuần qua. Đô đốc Tôn cho biết, Trung Quốc đã ‘kiềm chế hết mức’ ở Biển Đông. Bắc Kinh báo hiệu: Không còn hiền lành ở Biển Đông nữa!  Bài bình luận quốc tế trên báo Mỹ  Wall Street Journal,  tác giả: Andrew Browne, người dịch: Trần Văn Minh. Với thông tin này, Trung Quốc phát đi thông điệp sẵn sàng chấp nhận đối đầu với thách thức hải chiến hoặc chiến tranh thế giới thứ ba có thể xảy ra trên biển Đông. Họ tiếp tục thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, khiêu khích và sẵn sàng tranh chấp.

Nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình sau bốn thập kỷ tăng trưởng liên tục, đã vượt lên nổi nhục Trung Quốc bị tám đế quốc xâu xé cuối thời Mãn Thanh, Quốc Cộng nội chiến  hơn 20 năm, sự xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bản , sự xáo động dữ dội của đại cách mạng văn hóa trước trong và sau thời kỳ “đại loạn” làm nhân dân Trung Quốc phải trả giá đau đớn, những hiểm họa cực kỳ nguy hiểm đến tồn vong chế độ do tham nhũng, tranh chấp quyền lực, lũng đoạn kinh tế, suy thoái môi trường , phân hóa giàu nghèo, phát triển nóng, nay tuy nguy cơ vẫn rất cao nhưng có vẻ như đang từng bước vượt qua.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang quyết tâm cao độ theo đuổi chủ thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” của Mao Trạch Đông trên cơ sở thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm nhằm đưa ra phương lược mưu chiếm trọn 80% hải phận của vùng Đông Nam Á (theo đường Lưỡi Bò), khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất.

Gốc rễ ăn sâu vào chủ trương của Trung Nam Hải sử dụng vũ lực với Ấn Độ (1962) và Việt Nam (chiếm Hoàng Sa 1974, phát động chiến tranh biên giới 1979, chiếm các đảo và đá ngầm Trường Sa 1988) là tư tưởng Đại Hán do Mao hô hào phục hồi được nhiều học giả trong và ngoài nước phân tích. Luật sư Nguyễn Hữu Thống – tác giả biên soạn tài liệu “Hoàng Sa – Trường Sa theo Trung Quốc sử” – nhận định: “Từ sau chiến tranh biên giới Hoa – Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử”. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.” “Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế quốc Ngai Rồng phát sinh từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955”. (Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Đại Hán trên núi Tuyết).

Họ nuôi dưỡng và khích lệ lòng tự hào, tự tôn của dân tộc Đại Hán bằng cách tuyên truyền nhiều năm trong dân chúng về “đường chín đoạn” trên biển Đông Việt Nam là “chuỗi ngọc trai trên cổ của bà mẹ Trung Quốc”. Ho phân bua với thế giới những vùng đất tranh chấp khi so sánh bản đồ Trung Hoa đời Thanh năm 1892 và bản đồ Trung Quốc hiện tại (Hình 1) và (Hình 2).
TQ 1892 Thanh

Hình 1: Bản đồ Trung Quốc năm 1892

Ban do Trung Quoc ngay nay
Hình 2: Bản đồ Trung Quốc ngày nay

Trung Quốc tìm kiếm quyền lực trên biển Đông Việt Nam thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ. Trung Quốc  thực hiện một loạt các kế sách liên hoàn:  xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp do sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngồi cạnh Tổng Thống Nga Putin trong đại lễ 70 năm kỷ niệm Ngày Chiến thắng Chủ nghĩa Phát xít khi Tổng thống Mỹ Obama cùng nguyên thủ nhiều nước châu Âu và thế giới theo phe Mỹ không tham dự, Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg  dù mọi giá  thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế , khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới.

Trung Quốc”  thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. Trung Quốc hiện đang hối thúc Việt Nam sớm đồng thuận theo cách “chủ quyền thuộc tôi, gác bỏ tranh chấp, cùng nhau khai thác, lấy tiền đổi đất, đất đổi hòa bình”. Để cưỡng chiếm biển Đông Việt Nam, Trung Quốc rêu rao là đang bị “Các nước nhỏ hơn ở quanh vùng biển gồm Việt Nam, Philippines và Malaysia đã thách thức sự kiên nhẫn của Bắc Kinh bằng cách đưa ra các tuyên bố chủ quyền trên nhiều đảo nhỏ, công trình xây dựng trên các đảo này và thăm dò năng lượng ở vùng biển xung quanh. Thật vậy, những hành động này đi trước bất kỳ hành động nào của Trung Quốc. Nhưng sự khoan dung cũng có giới hạn“.

Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là sự thật lịch sử hiển nhiên và hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý; Quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hướng dư luận vào sự ứng xử phù hợp, kiềm chế, không có những hành động tự phát, không tham gia vào những hoạt động không chính thống, đảm bảo nguyên tắc không làm phức tạp thêm tình hình giải quyết tranh chấp, tiếp tục đề cao ý chí, nguyện vọng và sức mạnh của toàn dân. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân,  bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc. Vấn đề biển Đông đòi hỏi sự bản lĩnh và trí tuệ, sáng suốt và kiên trì, thế và lực của toàn dân tộc, sự ủng hộ quốc tế, sự minh bạch thông tin và phổ biến sâu rộng kịp thời cho dân chúng biết các vấn đề liên quan đến tranh chấp biển Đông.

Tình hình biển Đông có gì mới đang tiếp tục diễn biến, mời xem các comment cập nhật.

Sông Mekong, tài liệu tổng hợp

Sông Mekong là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông Việt Nam. Sông Mekong tính theo độ dài đứng thứ 12 nhưng tính theo lưu lượng nước thì đứng thứ 10 trên thế giới.  Lưu vực sông Mekong là điểm nhấn địa chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội rất quan trọng của châu Á. Đó là nguồn sống, nguồn tài nguyên và nôi văn hoá, văn minh phương Đông của nhiều cộng đồng dân tộc. Đặc điểm thủy năng nổi bật của Sông Mekong là vai trò điều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap – hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á – người Việt thường gọi là “Biển Hồ”.

Phần thương nguồn sông Mekong người Trung Quốc hiện đã hoàn thành xây dựng một loạt các đập trên sông tại Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Cảnh Hồng, và đang xây đập Tiểu Loan và hơn một chục đập thủy điện điều lượng nước gây nhiều tranh cãi cho an sinh vì thay đổi trữ lượng nước, gia tăng mức độ xói mòn cũng như gây thiệt hại cho nông nghiệp và nguồn cá.


Thời gian gần đây có nhiều tài liệu quan tâm sâu sắc khu vực này. Trong đó, đáng chú ý nhất là các bài: Từ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong, Mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong 30 năm; Sông Mekong và Biển Đông hai cái gai trong quan hệ Việt Trung; Dòng sông Mekong bị bức tử nguy cơ cận kề. Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ; Hiệp Định Mekong 1995 đang tan vỡ, Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện.

“Mekong chặn dòng” xây dựng một loạt đập thủy điện và điều lượng nước sông Mekong “giữ thế thượng phong nước đầu nguồn”  là một chiến lược kinh tế chính trị sâu sắc của Trung Quốc. Với phương lược này có thể  “tùy cơ, dùng kinh tế và khoa học công nghệ để chế ngự các nước trong lưu vực vùng hạ lưu sông Mekong”.  

Sông Mekong, thông tin tổng hợp đọc báo giùm bạn và cập nhật thông tin qua các comment.

Hoàng Kim

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Tình hình biển Đông có gì mới ?

Tình hình biển Đông có gì mới ? 7 đảo nhân tạo Trung Quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra vấn đề cấp bách gì? (Hải Đăng, VHNA 30 3 2015)  Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành trên Biển  Đông (VOA 2 4 2015); Sóng ngầm địa chính trị khu vực và sự lựa chọn của Việt Nam (Lê Hồng Hiệp. Nghiên cứu Quốc tế 28. 12. 2014); Biển Đông: Thế trận đảo nhân tạo Trung Quốc đe dọa Việt Nam (RFI, 2.3. 2015); Hải quân Mỹ: VN chưa có cách ứng phó hữu hiệu ở Biển Đông (VOA, Victor Beattie 16.4. 2015). Về bản Thông cáo chung của Tổng Bí thư và Trung Quốc (RFA, Nguyễn Thị Từ Huy 20.4.2015). Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hiểm họa mất nước (VOA, Lê Anh Hùng 20.4.2015)

“Biển Đông vạn dặm chung tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình” (Nguyễn Bỉnh Khiêm).”Biển là ao lớn/ Thuyền là con bò/ Bò ăn gió no/ Lội trên mặt nước/ Em nhìn thấy trước/ Anh trông thấy sau/ Ta lớn mau mau/ Vượt qua ao lớn (Hồ Chí Minh).

Trang Tình yêu cuộc sống điểm tin Tình hình biển Đông có gì mới ?

7 đảo nhân tạo Trung Quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra vấn đề cấp bách gì?

Hải Đăng

Nguồn: Văn Hóa Nghệ An, Thứ hai, 30 Tháng 3 2015 15:56
http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/7-dao-nhan-tao-trung-quoc-vua-boi-dap-dat-ra-van-de-cap-bach-gi+&cd=1&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

ĐỒNG THUẬN NỘI BỘ & ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

Hối hả bồi đắp 7 bãi đá và rặng san hô để tạo ra các hòn đảo nhân tạo là hành động rất quyết đoán của Trung Quốc trong chiến lược biển hiện nay. Hành động ấy khẳng định tham vọng đòi chủ quyền trên toàn bộ các đảo, đá và các thực thể khác ở Biển Đông và “vùng biển tiếp giáp” được gộp thành yêu sách “đường đứt khúc chín đoạn”. Thiết lập sự hiện diện ngay tại trung tâm Biển Đông bằng cách phi pháp ấy, Trung Quốc đang muốn vẽ lại ranh giới địa lý của Đông Nam Á.

Thế trận các đảo nhân tạo của Trung Quốc trên Biển Đông giờ đây không còn là nguy cơ tiềm ẩn nữa mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp và công khai không chỉ đối với Việt Nam, đa số thành viên ASEAN, mà ngay đối với cả các bạn bè lẫn đối tác ngoài khu vực Đông Nam Á như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Ốtxrâylia và nhiều nước khác. Căn cứ vào những bức ảnh vệ tinh chụp được, trận đồ mà Trung Quốc đang triển khai trên Biển Đông được thấy rất rõ, kết nối quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã cướp từ Việt Nam năm 1974 với hệ thống 7 bãi đá, rặng san hô tại quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc cưỡng chiếm từ Việt Nam và Philippines và đã cấp tốc cải tạo trong những tháng qua. Các bãi đá, rặng san hô đó bao gồm: Tư Nghĩa (Hughes Reef), Gạc Ma (Johnson South Reef), Ga Ven (Gaven Reef), Chữ Thập (Fiery Cross Reef), Châu Viên (Cuarteron Reef), Én Đất (Eldad Reef) và Vành Khăn (Mischief Reef).

“Bình chân như vại” là nguy hiểm

Bài học từ cuộc vận động quốc nội lẫn quốc tế chống lại việc hạ đặt trái phép giàn khoan 981 không bao giờ cũ. Làm sao quên được làn sóng dâng trào trong cả nước và nhiều nơi trên thế giới hồi “mùa Hè đỏ lửa” năm ngoái khi Trung Quốc “cắm” giàn khoan khủng vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam! Tuy nhiên, vận hành hệ thống 7 bãi đá và rặng san hô nói trên nguy hiểm hơn việc hạ đặt giàn khoan 981 rất nhiều. Tiến trình Trung Quốc gia cố và mở rộng các hoạt động bồi đắp và xây dựng thành chuỗi đảo nhân tạo ấy cho thấy những tính toán chiến lược dài hạn hơn của họ trên Biển Đông. Hạ đặt Hải Dương 981 tuy là bước đi khá nguy hiểm, nhưng thực chất lại có cách xử lí và thu hút được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế dành cho các nước như Việt Nam. Trong khi đó, dù diễn ra chậm chạp và khó nhận biết, nhưng chủ trương bồi đắp đảo nhân tạo lại nguy hiểm hơn rất nhiều, vì giá trị chiến lược và khả năng thay đổi cục diện mà chuỗi đảo sẽ mang lại cho Trung Quốc khi được phát triển đầy đủ.

7 hòn đảo nhân tạo sẽ cung cấp rào cản để đối phó với bất kỳ kết quả bất lợi nào từ Tòa án Trọng tài Quốc tế hiện đang xem xét đơn kiện của Philippines chống lại Trung Quốc. Bởi vì, các đảo nhân tạo không nằm trong phạm vi thủ tục pháp lý đang tiến hành. Gạt được các cứ điểm quân sự trá hình ấy khỏi trận đồ pháp lý, Trung Quốc có thể tự tung tự tác trong việc đe dọa trực tiếp đối với Việt Nam, hoặc cô lập Việt Nam thông qua việc tấn công hoặc hù dọa các thành viên ASEAN khác. Trong bối cảnh ấy, nếu không có những đột phá về tính toán chiến lược, phải thừa nhận rằng, cả Việt Nam lẫn ASEAN khó có thể có bất kỳ hành động chính trị và ngoại giao nào đối phó với Trung Quốc. Nguy hiểm hơn, với thế trận hiện nay, Trung Quốc sẽ có thể chủ động hành sự, hay phản ứng trước các sự cố nẩy sinh tại chỗ một cách nhanh chóng hơn nhiều so với trước đây. Việt Nam sẽ còn ít thời gian để đáp trả. Các nhà phân tích quân sự Việt Nam và quốc tế đều nói tới nguy cơ Bắc Kinh dễ dàng tấn công đánh chiếm các hòn đảo do Việt Nam trấn giữ mà các lực lượng Việt Nam sẽ trở tay không kịp.

Để đối phó, cho dù chỉ trên tầm ngắn hạn, chúng ta phải làm sống lại tinh thần Diên Hồng trong thời đại mới. Vấn đề không phải là “hòa” hay “đánh”. Vấn đề là trên dưới phải đồng lòng và quyết tâm, trong ngoài phải biết chia sẻ giá trị và kết nối thành một khối. Phải vô hiệu hóa càng sớm càng tốt cái triết lý của kẻ chuyên đi bắt bí và ức hiếp. Không thể để cho Trung Quốc thực hiện phương châm “cái gì của tôi là của tôi, còn cái gì của anh thì có thể đưa ra đàm phán”. Không! Đảo bị cướp quyết không thể là đảo bị mất! Trung Quốc đã chiếm giữ bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa của chúng ta trên 40 năm nhưng không hề có một quốc gia nào công nhận chủ quyền trên cơ sở chiếm đoạt bằng vũ lực ấy của Bắc Kinh. Tuy nhiên, chúng ta hiểu rằng, thời gian chờ đợi không phải là vô hạn. Chúng ta phải khẩn trương hành động trong khoảng thời gian ngắn còn lại! Lẽ phải ở phía chúng ta, sự công chính ủng hộ chúng ta. Chúng ta hãy cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực kiến tạo nên một trật tự quốc tế mới để hậu thuẫn cho xu hướng hòa bình và công lý trở lại với Biển Đông. “Bình chân như vại” lúc này là nguy hiểm và sẽ đắc tội với tiền nhân.

Bùa chú không thay được giải pháp

Chiều 5/3, tại họp báo thường kỳ, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao tuyên bố: “Việc Trung Quốc xây dựng, mở rộng trái phép công trình trên các bãi, đá và làm thay đổi nguyên trạng tại khu vực quần đảo Trường Sa không chỉ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam mà còn vi phạm Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đã được ký kết giữa Trung Quốc và ASEAN. Việt Nam phản đối và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay những hành động sai trái đó”. Trong tình hình hiện nay, những tuyên bố routine như thế này rõ ràng không mấy tác dụng. Vấn đề dư luận bức xúc hiện nay là nếu Trung Quốc cứ tiếp tục đà lấn tới như thế, liệu Việt Nam có nên liên minh với các nước khác hay không để tự bảo vệ chính mình trong tình huống khẩn cấp. Giới nghiên cứu chính sách đều đồng ý, Việt Nam sẽ không liên minh với nước này để chống nước kia, nhưng chúng ta rõ ràng cần sự hỗ trợ từ quốc tế “chống lưng” giúp Việt Nam đảm nhiệm được sứ mệnh duy trì hòa bình và an ninh ở Biển Đông. Quan điểm này được phản ánh trong phát biểu của TS. Lê Hồng Hiệp, từ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh: “Việt Nam chỉ có thể hòa hiếu với Trung Quốc nếu Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nếu Trung Quốc dùng bạo quyền để cưỡng bức thì chúng ta không thể mềm yếu để rồi mãi mãi đánh mất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ vì một thứ ‘hữu nghị viễn vông’… Trong khi tìm mọi cách cố gắng duy trì quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và tương kính với Trung Quốc, chúng ta (Việt Nam) cũng nên sẵn sàng theo đuổi các mối quan hệ liên minh với các đối tác ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau để đối phó với các mối đe dọa trên Biển Đông”[1].

TSKH. Lương Văn Kế từ Đại học Quốc gia Hà Nội tiến xa hơn khi ông kiến nghị Việt Nam cần điều chỉnh chính sách “ba không”, theo đó Việt Nam từng cam kết không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Nhà nghiên cứu về quan hệ quốc tế này dường như cùng chia sẻ quan điểm với Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Bộ Công an khi lão tướng này khẳng định sức mạnh vượt trội của Hoa Kỳ, đối tác duy nhất ông cho là Việt Nam có thể liên minh để đứng mũi chịu sào trước thế lực phương Bắc. Vị Thiếu tướng này tuyên bố chúng ta phải chơi bài ngửa: “Việt Nam không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng chúng ta cần sức mạnh của Mỹ để răn đe mọi thế lực ngoại bang muốn xâm lược Việt Nam”[2]. Qua các tuyên bố có thể thấy, ước muốn liên minh đang là nhu cầu bức thiết nhất hiện nay của đa số nhân sĩ trí thức, ngay cả trong hàng ngũ quân đội và công an. Khi Việt Nam không thể tự mình đủ sức bảo vệ đất nước thì các câu bùa chú không thể thay thế cho tư duy sáng tạo nhằm tìm ra giải pháp tối ưu, biết đặt an nguy của dân tộc lên trên tất cả.

“Lụt sẽ lút cả làng”. Thế trận biển đảo nhân tạo chính là sản phẩm từ “kinh lược hải dương” của Trung Quốc đang đe dọa lợi ích cốt lõi của các nước trong và ngoài khu vực. Nhiều nước, trong đó có các nước lớn đã lên tiếng. Một vài thành viên ASEAN cũng đã tuyên bố phản đối. Việt Nam đã bày tỏ thái độ nhưng cần phải mạnh mẽ hơn nữa. Phải tố cáo trước công luận quốc tế: thế trận đảo nhân tạo của Trung Quốc là âm mưu áp đặt quyền kiểm soát quân sự, giám sát mọi hoạt động không quân và hải quân của các nước trong và ngoài khu vực. Không chỉ bày tỏ thái độ mà Việt Nam cần phải thay đổi cả quan niệm về tập hợp lực lượng trên trường quốc tế khi hữu sự. Không chỉ hợp tác và đấu tranh, mà vấn đề là phải nhấn mạnh tinh thần đấu tranh kiên quyết để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng không thể đánh đổi và vượt qua mọi giới hạn để hợp tác toàn diện với đối tác bên ngoài khi cần thiết.

Theo ý kiến của GS. Carl Thayer (Ốtxtrâylia) Việt Nam có thể tác động đến thái độ của Trung Quốc thông qua các hoạt động ngoại giao mạnh mẽ ở cấp độ song phương và đa phương. Giới lãnh đạo Việt Nam cần thẳng thắn nêu bật vấn đề này với Trung Quốc. Việt Nam cần huy động sự trợ giúp từ khối ASEAN và từ cộng đồng hàng hải quốc tế. Điều tốt nhất mà các nỗ lực này có thể đạt tới là thuyết phục được Trung Quốc hành động với sự tự kiềm chế và minh bạch hơn về ý định của mình. Việt Nam có thể làm việc chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ và các cường quốc hàng hải khác để áp dụng một loạt “chiến lược áp đặt cái giá phải trả” (cost-imposition strategy) trên Trung Quốc. Những chiến lược áp đặt giá phải trả khả dĩ thực hiện được là nhờ sáng kiến từ Trung tâm vì An ninh Mới của Mỹ (CNAS) ở Washington DC. Chiến lược này nhằm chứng minh cho Trung Quốc thấy rằng các hành động của họ sẽ tạo ra phản ứng ngược lại từ phía các quốc gia khác, khiến cho Trung Quốc khó mà tiếp tục con đường hiện tại, phải cân nhắc hơn thiệt về các hành động của họ trong tương lai[3]./.

Bài 2: Trật tự sẽ bị đảo lộn

[1] http://nghiencuuquocte.net/2014/12/28/song-ngam-dia-chinh-tri-khu-vuc-va-lua-chon-cua-viet-nam/
[2] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/01/150102_vn_2015_foreign_relation_views
[3] http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150302-bien-dong-viet-nam-va-cac-de-doa-tu-the-tran-dao-nhan-tao-trung-quoc/

Các bài viết liên quan:

7 đảo nhân tạo Trung quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra các vấn đề cấp bách nào? (II)
Từ hải chiến Hoàng Sa (1974), Trường Sa (1988) đến căng thẳng ở Biển Đông hiện nay – Đôi điều về chiến lược biển của Trung Quốc và ứng phó của Việt Nam
Tiến tới quan hệ hưng thịnh và bền vững
Ảnh hưởng của lịch sử tới Trung Quốc ngày nay
21 sự thật nên biết về Trung Quốc
Thoát Trung hay thoát chính mình?
Giải mã sự tan băng quan hệ Mỹ- Cuba
Nghĩ gì, làm gì khi Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông?
Giải pháp nào cho “vạc dầu” ở Biển Đông?
Chủ tịch hoàng đế Trung Hoa Tập Cận Bình thắt chặt quyền kiểm soát
Quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam bị xâm phạm bởi hành vi hạ đặt giàn khoan Hải dương 981 của Trung Quốc
Trung Quốc có “từ bỏ Triều Tiên” hay không?
Vì sao Trung Quốc mãi vẫn chưa giành được giải Nobel khoa học?
Tại sao tình hữu nghị Nga-Trung sẽ bền vững
Bắc Kinh tấn công mạnh trước kỳ Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á – Thái Bình Dương
Chủ nghĩa cộng sản thân hữu tại Trung Quốc

Sóng ngầm địa chính trị khu vực và lựa chọn của Việt Nam

Tác giả: Lê Hồng HiệpTrong năm 2014, sự kiện nổi bật nhất của ngành đối ngoại Việt Nam có lẽ chính là cuộc đấu tranh xung quanh sự kiện giàn khoan Hải Dương 981. Việc Trung Quốc cuối cùng phải rút giàn khoan ở một chừng mực nào đó có thể coi là một thành công đối với Việt Nam, nhưng đó cũng là một thách thức còn để ngỏ khi hàng loạt câu hỏi vẫn chưa có lời đáp: Liệu Trung Quốc có tái diễn vụ giàn khoan, nếu có thì ở đâu, và nếu không thì Trung Quốc sẽ có hành động gì trên Biển Đông? Quan trọng hơn, Việt Nam cần phải xử lý mối quan hệ với Trung Quốc ra sao trong bối cảnh rộng lớn hơn là các sóng ngầm địa chính trị khu vực đang diễn biến ngày càng phức tạp?

Bài phân tích này sẽ cố gắng trả lời các câu hỏi trên. Tuy nhiên, trước khi đi vào vấn đề chính là quan hệ Việt – Trung, chúng ta cần điểm lại một số nét chính trong tình hình các quốc gia chủ chốt cũng như bối cảnh địa-chính trị khu vực, những yếu tố vốn có tác động quan trọng tới cục diện quan hệ song phương.

Bối cảnh các quốc gia chủ chốt

Trung Quốc

Sau hơn 3 thập niên phát triển liên tục với tốc độ 2 con số, hiện nay tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đang chững lại ở mức khoảng 7%/năm với nhiều khó khăn chồng chất như mô hình tăng trưởng cũ hết động lực, cơ cấu và xu hướng dân số bất lợi, các rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống tài chính – ngân hàng và thị trường nhà đất… Điều này đặt ra những thách thức lớn cho tính chính danh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Một mặt, thực tế này yêu cầu Trung Quốc phải tiến hành cải cách cơ cấu nền kinh tế theo hướng từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư và xuất khẩu sang dựa trên tiêu dùng trong nước và sức sáng tạo của các doanh nghiệp, thể hiện qua các biện pháp đề ra tại Hội nghị TW 3 năm 2013. Mặt khác, Trung Quốc cũng tiến hành cuộc chiến chống tham nhũng mạnh mẽ, vừa giúp củng cố quyền lực của tân Chủ tịch Tập Cận Bình, vừa giúp loại bỏ các rào cản, các nhóm lợi ích gây cản trở cải cách kinh tế, đồng thời giúp nâng cao uy tín của Đảng trong bối cảnh trụ cột chính trong tính chính danh của Đảng là thành tích phát triển kinh tế đang gặp khó khăn.

Về đối ngoại, Trung Quốc đã thoát ra ngoài tư thế “giấu mình chờ thời”, bắt đầu công khai và mạnh mẽ cạnh tranh vị thế và ảnh hưởng với Hoa Kỳ trong khu vực và trên thế giới, thể hiện qua các sáng kiến như “con đường tơ lụa thế kỷ 21”, “con đường tơ lụa trên biển”, ý tưởng “châu Á là của người châu Á”, hay việc thành lập Ngân hàng Phát triển Mới với nhóm BRIC…

Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc đề xướng mô hình “quan hệ cường quốc kiểu mới” nhằm thuyết phục Mỹ không “ngăn chặn” Trung Quốc vươn lên, vừa nhằm đạt được vị thế ngang hàng với Mỹ, qua đó phân chia khu vực ảnh hưởng với Washington. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tỏ ra hung hăng và cứng rắn hơn trong các tranh chấp biển và lãnh thổ với láng giềng, mà ví dụ tiêu biểu là vụ giàn khoan 981. Điều này vừa phù hợp với xu thế chung trong chính sách đối ngoại của chính quyền Tập Cận Bình, vừa có tác dụng giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc để củng cố sự ủng hộ của người dân trong bối cảnh tính chính danh trong nước của ĐCSTQ ngày càng bị thách thức.

Trong năm tới Trung Quốc có thể thực hiện “ngoại giao hòa hoãn” do e dè trước phản ứng của cộng đồng quốc tế sau vụ giàn khoan 981 và lo sợ các nước trong khu vực sẽ nghiêng về phía Mỹ, đi ngược lại mục tiêu lớn của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong dài hạn, với việc Trung Quốc từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời” để theo đuổi tham vọng siêu cường, kết hợp với khó khăn trong nước nhiều khả năng sẽ ngày càng nghiêm trọng, xu thế hung hăng, lấn lướt của Bắc Kinh trong chính sách đối ngoại, đặc biệt là trên vấn đề Biển Đông, nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn.

Nhật Bản

Sau khi quay lại làm thủ tướng năm 2012, ông Shinzo Abe đã tiến hành nhiều cải cách kinh tế và chính trị quan trọng. Về kinh tế ông Abe đã tiến hành chính sách Abenomics, với ba “mũi tên” gồm kích thích tài khóa, nới lỏng tiền tệ và cải cách cơ cấu. Tuy nhiên sau khi phát huy hiệu quả vào năm 2013 với việc kinh tế Nhật tăng trưởng 1,5%, thì sang năm 2014 chính sách này đã bị “hụt hơi” khi nền kinh tế bị co lại 2%, trong đó một nguyên nhân chủ yếu được đánh giá là việc chính quyền Abe tăng thuế tiêu dùng quá sớm (vào tháng 4/2014) từ mức 5% lên 8%,[1] khiến lòng tin của người tiêu dùng sụt giảm, tác động tiêu cực tới phục hồi kinh tế.

Trong bối cảnh đó, ông Abe đã tuyên bố giải tán quốc hội vào tháng trước và tổ chức bầu cử sớm vào ngày 14/12 vừa qua. Kết quả Đảng Dân chủ Tự do (LDP) đã tiếp tục giành thắng lợi áp đảo,[2] qua đó giúp củng cố và kéo dài tuổi đời chính trị của ông Abe, giúp ông có nhiều thời gian hơn để tiếp tục thực hiện chính sách Abenomics cũng như các thay đổi về chính sách đối ngoại.

Về chính sách đối ngoại, điểm tiêu biểu trong thời gian qua là chính quyền Abe đã diễn dịch lại hiến pháp để cho phép quân đội Nhật có vai trò lớn hơn. Cụ thể hiến pháp Nhật sau khi được diễn dịch lại đã cho phép Nhật tham gia phòng thủ tập thể ở những nơi lợi ích của Nhật bị đe dọa, đồng thời mở đường cho quân đội Nhật đóng vai trò quốc tế lớn hơn (nhất là trong sứ mệnh hỗ trợ nhân đạo).

Ngoài ra, mặc dù Nhật tiếp tục đề cao hợp tác quân sự với Mỹ thông qua liên minh Mỹ – Nhật, nhưng chính quyền Abe muốn tự chủ lớn hơn và bớt phụ thuộc hơn vào Mỹ về quốc phòng. Dưới thời Abe, Nhật cũng thể hiện xu hướng cứng rắn hơn với Trung Quốc, như quốc hữu hóa quần đảo Senkaku, phản đối và tảng lờ Khu vực nhận diện phòng không (ADIZ) của Trung Quốc thiết lập trên biển Hoa Đông… Nhật cũng tích cực hỗ trợ Philippines và Việt Nam về ngoại giao và an ninh, trong đó tiêu biểu là viện trợ các tàu tuần tra cho Hà Nội và Manila. Dù quy mô viện trợ còn hạn chế do bản thân Nhật cũng đang cần các nguồn lực để đối phó với Trung Quốc trên biển Hoa Đông, nhưng nó cho thấy xu thế ngày càng cứng rắn của Nhật đối với Trung Quốc.

Nay với việc Abe tiếp tục khởi đầu một nhiệm kỳ mới, các chính sách đối ngoại và an ninh mạnh mẽ của ông sẽ hầu như chắc chắn được duy trì và thúc đẩy, đưa Nhật tái trỗi dậy thành một cường quốc “bình thường” với sức ảnh hưởng đồng thời cả về kinh tế lẫn quân sự trong khu vực và trên thế giới.

Nga

Sau khi phạm sai lầm vì đã vội vàng sáp nhập Crimea, nước Nga của Putin đã phải vật lộn trong khó khăn để đương đầu với các lệnh trừng phạt của phương Tây, bên cạnh các khó khăn kinh tế chồng chất do giá dầu thế giới giảm và tình trạng rớt giá của đồng Rúp.

Ngoài ra, do bị phương Tây cô lập nên Nga đã tìm cách thắt chặt quan hệ với Trung Quốc, dẫn tới một số lo ngại rằng Trục Bắc Kinh – Moscow sẽ được hình thành nhằm giúp 2 nước đối phó với các áp lực từ Mỹ và phương Tây. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích, bao gồm cả các quan chức Mỹ, đều cho rằng giữa hai nước vẫn còn những khác biệt lớn về sự quan tâm, mục tiêu, lợi ích… nên sự gần gũi gia tăng giữa hai nước thời gian qua chủ yếu mang tính chiến thuật chứ không phải là một liên minh chiến lược lâu dài.

Trong bối cảnh đó, mối bận tâm chính của chính quyền Putin trong thời gian qua cũng như sắp tới chủ yếu là vấn đề Ukraine và quan hệ với phương Tây chứ không phải khu vực Thái Bình Dương. Cụ thể, trước áp lực của phương Tây, khó khăn kinh tế chồng chất và nhất là địa vị “thân cô thế cô”, Nga nhiều khả năng sẽ phải nhún nhường, tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Đông Ukraine và Crimea để dần dần bình thường hóa quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên điều này sẽ không đến sớm nếu Tổng thống Putin tiếp tục cầm quyền. Vì vậy, xu hướng chính sách đối ngoại Nga trong thời gian tới sẽ phụ thuộc vào diễn biến chính trị trong nước của Nga, đặc biệt là vị thế của Tổng thống Putin.

Hoa Kỳ

Trái với các quan điểm bi quan cho rằng Mỹ đang trượt dài vào thời kỳ suy thoái, sức mạnh kinh tế và quyền lực quốc gia nói chung của Hoa Kỳ vẫn được duy trì và thúc đẩy. Cụ thể, mặc dù một vài ước tính cho rằng GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) của Trung Quốc đã vượt Mỹ trong năm nay, ưu thế về sức năng động – sáng tạo, trình độ công nghệ, sự áp đảo của các công ty đa quốc gia, sự vượt trội về GDP tính theo đầu người… về cơ bản vẫn giúp cho Hoa Kỳ duy trì được khoảng cách xa về kinh tế so với Trung Quốc.

Trong khi triển vọng kinh tế Trung Quốc bắt đầu có dấu hiệu ảm đạm, thì kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng 2,3% năm 2012, 2,2% năm 2013, và dự kiến đạt 2,5% năm 2014, trong khi tỉ lệ thất nghiệp tới tháng 10/2014 đã giảm xuống chỉ còn 5,8%, mức thấp nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và thấp hơn đáng kể so với hầu hết các nước công nghiệp phát triển.

Một đặc điểm nổi bật của kinh tế Mỹ được nhiều người đánh giá cao trong thời gian gần đây là việc ngành sản xuất dầu lửa của nước này đã phát triển mạnh nhờ vào công nghệ khai thác dầu đá phiến (shale). Cụ thể, chỉ trong vòng năm năm, công nghệ này đã đưa sản lượng dầu của Mỹ tăng gần gấp đôi từ mức 5 triệu thùng/ngày năm 2008 lên 9 triệu  thùng vào năm nay.

Nếu xu hướng này tiếp tục thì đến khoảng năm 2020 Mỹ có thể vượt Arab Saudi trở thành nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Việc ngành sản xuất dầu phát triển mạnh không chỉ mang lại sự thịnh vượng và tạo công ăn việc làm cho người Mỹ mà còn mang lại cho Mỹ một vũ khí địa chính trị lợi hại, đặc biệt là giúp Mỹ có thể giảm bớt sự chú ý vào khu vực rốn dầu Trung Đông để tập trung vào các khu vực khác.

Về đối ngoại và quân sự, Hoa Kỳ đang giảm dần sự can dự vào khu vực Trung Đông, một phần do sự “mệt mỏi chiến lược” vì những can dự kéo dài nhưng kém hiệu quả ở khu vực này kể từ sau sự kiện 11/9/2001, một phần do tầm quan trọng chiến lược của khu vực có xu hướng giảm sút trong mắt Washington.

Trong khi vẫn phối hợp với EU và các đồng minh trong các vấn đề như Ukraine hay không kích Nhà nước Hồi giáo, Mỹ sẽ tập trung nhiều sự chú ý hơn vào khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhất là sự trỗi dậy của Trung Quốc, bởi chính Trung Quốc sẽ là vấn đề “sống còn”, là đối thủ duy nhất đủ tầm để có thể lật đổ vị thế siêu cường của Mỹ cũng như trật tự thế giới mà Mỹ dẫn dắt. Trong bối cảnh đó, Mỹ sẽ tiếp tục duy trì chính sách “tái cân bằng” sang khu vực, đồng thời thúc đẩy việc gắn kết, tăng cường sức mạnh của các nước đồng minh và đối tác, biến họ trở thành các quốc gia giàu mạnh và thực sự độc lập để có thể giúp hạn chế bớt ảnh hưởng của Trung Quốc, đồng thời giúp Mỹ có được vị thế tốt hơn nhằm đối phó với sự trỗi dậy ngày càng không êm ả của Bắc Kinh.

Xu hướng địa chính trị khu vực  

Một xu hướng địa chính trị khu vực đang ngày càng trở nên nổi trội, đó chính là việc Mỹ cùng các đồng minh ngày càng bất an trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc nước này công khai thách thức trật tự khu vực, nhất là vị thế siêu cường dẫn đầu của Mỹ. Xu hướng này khiến cho khu vực nhiều khả năng sẽ bước vào một cuộc Chiến tranh Lạnh mới trong vòng khoảng 20 năm tới.

Về mặt lý thuyết, nếu Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy và thách thức Mỹ, mâu thuẫn và xung đột giữa hai cường quốc là không thể tránh khỏi. Trái với thuyết “cân bằng quyền lực” (balance of power theory) cho rằng hệ thống quốc tế sẽ ổn định và hòa bình khi đạt được sự cân bằng giữa các trung tâm quyền lực chính, thuyết “chuyển giao quyền lực” (power transition theory) cho rằng một khi một cường quốc đang lên tiệm cận sức mạnh của cường quốc thống trị và khao khát giành vị thế bá chủ của cường quốc đó thì xung đột giữa hai bên là không thể tránh khỏi. Chỉ sau khi cường quốc đang lên bị kiềm chế hoặc đánh bại (giữ vững nguyên trạng) hoặc cường quốc bá chủ bị lật đổ (thiết lập nguyên trạng mới) thì hệ thống quốc tế mới lại đạt được thế cân bằng và ổn định. Quy luật này đã được chứng minh nhiều lần trong lịch sử, và sẽ tiếp tục là logic trường tồn của chính trị hiện thực trong quan hệ quốc tế.

Về mặt thực tế, hiện nay cục diện địa chính trị khu vực đang dần đi theo hướng dự báo của thuyết “chuyển giao quyền lực”. Cụ thể, trong khi Trung Quốc (cường quốc đang lên) tìm cách mở rộng ảnh hưởng, tranh giành quyền lực với Mỹ (cường quốc thống trị), thì Mỹ đang âm thầm cố gắng tìm cách kiềm chế Trung Quốc, thông qua các chiến lược tiêu biểu như “tái cân bằng” quân sự sang tây Thái Bình Dương, đàm phán Hiệp định TPP với các nước trong khu vực mà không có sự tham gia của Trung Quốc; cải thiện và thắt chặt quan hệ với các nước đồng minh và đối tác, nhất là các nước láng giềng Trung Quốc; sử dụng các công cụ như luật pháp quốc tế và các thể chế quốc tế để kiềm chế và điều chỉnh hành vi của Bắc Kinh….

Hiện nay, giới chức Mỹ vẫn đang cố gắng thận trọng, tránh “tư duy Chiến tranh lạnh”, trong khi cố gắng can dự với Trung Quốc để xây dựng lòng tin, giảm căng thẳng. Tuy nhiên đây không phải là xu hướng lâu dài mà chỉ là ngắn hạn. Trước mắt Mỹ chưa sẵn lòng mạnh tay kiềm chế Trung Quốc như từng kiềm chế Liên Xô trước đây bởi quan hệ tốt với Trung Quốc đang mang lại cho Mỹ nhiều lợi ích, đồng thời Mỹ cần thêm thời gian để đánh giá xu hướng hành vi của Trung Quốc khi hiện nay Bắc Kinh dù có biểu hiện hung hăng và thách thức lợi ích của Mỹ nhưng sự thách thức đó chưa đủ lớn để đe dọa các lợi ích sống còn, nhất là vị thế bá chủ của Mỹ.

Vì vậy trong tương lai, mức độ kiềm chế của Mỹ và đồng minh đối với Trung Quốc sẽ biến chuyển tùy theo mức độ hung hăng và thách thức mà Trung Quốc theo đuổi trong chính sách đối ngoại của mình. Ngoài ra, về phía Mỹ, nếu trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 một ứng cử viên Cộng hòa đắc cử thì nhiều khả năng Mỹ sẽ có một chính sách đối ngoại cứng rắn hơn, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc.

Mặc dù có một khả năng là Trung Quốc do các vấn đề trong nước sẽ bị chững lại, thậm chí rối loại và suy yếu, không thể đủ sức “trỗi dậy” mãi mãi đủ để đe dọa vị thế của Mỹ, nhưng khả năng cao hơn là Trung Quốc sẽ tiếp tục vươn lên, dù chậm dù nhanh, để làm cho Mỹ và đồng minh cảm thấy bất an, lo sợ. Khi đó, một cuộc Chiến tranh lạnh Mới ở khu vực, như đã nói trên, là khó có thể tránh khỏi. Cuộc Chiến tranh lạnh Mới giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ khác với cuộc Chiến tranh lạnh thế kỷ 20 giữa Mỹ và Liên Xô ở 4 điểm chính:

  • Chiến lược chứ không phải ý thức hệ: Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chủ yếu tập trung vào yếu tố lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Việc tập hợp lực lượng của hai bên sẽ dựa vào điểm đồng về lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Đây là đặc điểm chi phối 3 đặc điểm còn lại.
  • Ở cấp độ khu vực chứ không phải toàn cầu: Cuộc Chiến tranh lạnh này sẽ tập trung chủ yếu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mà ít có khả năng lan rộng ra toàn cầu bởi Trung Quốc không có một hệ thống đồng minh rộng lớn và lợi ích của Mỹ và Trung Quốc không mâu thuẫn lớn ở các khu vực khác.
  • Không phải giữa 2 khối nước cứng nhắc: Khác với Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô khi hai bên dẫn đầu hai khối nước trải khắp 5 châu thì trong Chiến tranh lạnh mới sự đối đầu tập trung chủ yếu vào quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Nga, như đã nói ở trên, ít có khả năng tham gia cùng Trung Quốc thành một khối chiến lược để đối đầu với Mỹ và đồng minh.
  • Vai trò của tương thuộc kinh tế: Khác với Chiến tranh lạnh thế kỷ 20, trong cuộc Chiến tranh lạnh mới, sự tương thuộc kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ giúp kiềm chế bớt hành vi của hai bên, giúp hai bên dễ đối thoại với nhau để giải quyết bất đồng. Tuy nhiên do lợi ích địa chính trị được coi trọng hơn lợi ích kinh tế nên sự tương thuộc kinh tế sẽ không đủ ngăn cản Chiến tranh lạnh mới diễn ra. Viễn cảnh khả dĩ nhất là “kinh tế nóng, chính trị lạnh” giữa các cường quốc.

Vậy xu hướng địa chính trị khu vực này sẽ tác động như thế nào tới Việt Nam, và Việt Nam cần phải ứng phó ra sao?

Lựa chọn chiến lược của Việt Nam

“Lời nguyền địa lý” khiến Việt Nam luôn phải đối diện với những thách thức trong xử lý quan hệ với Trung Quốc. Trước một Trung Quốc lớn mạnh hơn nhiều lần, chiến lược Trung Quốc truyền thống của Việt Nam là ngoại giao hòa hiếu, trong đế ngoài vương, nhún nhường với Trung Quốc trong khả năng cho phép để giữ hòa bình và độc lập.

Nếu không có tranh chấp Biển Đông thì Việt Nam hiện nay sẽ có điều kiện thuận lợi hơn nhiều để duy trì một chính sách hòa hiếu cùng mối quan hệ ổn định, tương kính với Trung Quốc. Thế nhưng, với việc Trung Quốc ngày càng thực hiện các chính sách hung hăng và cưỡng ép, mà sự kiện Giàn khoan 981 là ví dụ điển hình, việc duy trì một chính sách ngoại giao hòa hiếu truyền thống như vậy với Trung Quốc đang ngày càng khó khăn, thậm chí phản tác dụng.

Chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc hiện đối mặt với hai lựa chọn căn bản: ưu tiên quan hệ hữu hảo với Trung Quốc hay ưu tiên chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ?

Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước, lựa chọn này luôn được đặt ra cho các nhà cầm quyền Việt Nam, và câu trả lời luôn rõ ràng: Chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích quốc gia tối thượng. Đã có những lúc Việt Nam tỏ ra hòa hiếu, nhún nhường với Trung Quốc, nhưng đó là khi Trung Quốc không trực tiếp đe dọa chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, hoặc sau khi Việt Nam đã đánh bại các cuộc xâm lược của các đội quân phương Bắc (ví dụ, Lê Lợi cấp thuyền và ngựa cho lính nhà Minh rút quân về nước, Nguyễn Huệ cho chôn cất tử tế lính nhà Thanh tử trận, gửi sứ thần sang nhận sắc phong và “tạ tội” với hoàng đế nhà Thanh…). Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại nhún nhường, mềm yếu trước Trung Quốc khi Trung Quốc tìm cách xâm lược hoặc cưỡng ép, đe dọa… Việt Nam.

Hiện nay, đương nhiên chúng ta vẫn luôn coi chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích tối thượng. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần xác định Trung Quốc đang đe dọa Việt Nam đến mức nào để quyết định nên hòa hiếu, nhún nhường, hay cứng rắn với Trung Quốc. Nếu mối đe dọa Trung Quốc chưa lớn mà chúng ta quá cứng rắn thì sẽ gây căng thẳng không cần thiết, ngược lại nếu mối đe dọa lớn mà chúng ta nhún nhường, mềm yếu sẽ càng khuyến khích Trung Quốc lấn tới, làm phương hại lợi ích quốc gia.

Trong thời gian qua, xu hướng mối đe dọa từ Trung Quốc đang gia tăng là rõ ràng. Đặc biệt trong vấn đề Biển Đông, một loạt các hành động của Trung Quốc từ năm 2007 đến nay càng cho thấy rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Các hành động như cắt cáp tàu Bình Minh 02, đưa giàn khoan 981 cùng lực lượng hộ tống hùng hổ vào vùng biển Việt Nam, xây dựng và mở rộng đảo nhân tạo… cho thấy cường độ hung hăng của Trung Quốc ngày càng tăng, và chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên Biển Đông đang bị đe dọa hơn bao giờ hết.

Trong tương lai gần, việc Trung Quốc đưa các giàn khoan xuống Trường Sa và bãi Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, tăng cường quân sự hóa các điểm chiếm đóng, thậm chí tìm cách khống chế các tuyến đường biển của Việt Nam hay xâm lược các đảo của Việt Nam đang nắm giữ… là những khả năng không thể bị loại bỏ, nếu không muốn nói đó chỉ là vấn đề thời gian.

Trong bối cảnh đó, ngoài việc nâng cao nội lực về kinh tế, quốc phòng, xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận trong cũng như ngoài nước, Việt Nam cần tranh thủ tận dụng các diễn biến địa chính trị khu vực để nâng cao vị thế chiến lược của mình, góp phần kiềm chế tham vọng của Trung Quốc. Đặc biệt việc mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc đang dần gia tăng đang tạo cơ hội cho Việt Nam tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước đồng minh và đối tác của Mỹ, nhất là những nước có chung nhận thức về mối đe dọa và lợi ích trên Biển Đông.

Vì vậy, như tác giả bài viết từng đề xuất, trong khi vẫn duy trì nguyên tắc “ba không” trên danh nghĩa, Việt Nam cần từng bước thắt chặt quan hệ chiến lược – an ninh với các quốc gia chủ chốt trong khu vực dưới dạng các “liên minh” mềm, không chính thức, đặc biệt là với Hoa Kỳ và Nhật Bản, để có thể nâng cao vị thế chiến lược của mình trong quan hệ với Trung Quốc, nhất là trên hồ sơ Biển Đông.

Như đã lập luận trước đây, tranh chấp Biển Đông hiện tại gồm ba tầng nấc, với tầng nấc ngoài cùng đang trở nên ngày càng quan trọng là sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này biến Biển Đông trở thành một trong những “chiến trường” cho sự đối đầu giữa hai cường quốc. Một câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh đó, Việt Nam có nên can dự vào cuộc đối đầu này để rồi trở thành “nạn nhân” của một cuộc đấu đá giữa các cường quốc hay không?

Một điều chúng ta phải chấp nhận đối mặt là với vị trí địa lý của mình, đặc biệt là do sự tham gia của chúng ta vào tranh chấp Biển Đông với các lợi ích đan xen, chồng chéo, chúng ta không thể và không nên đứng ngoài các diễn biến địa chính trị khu vực. Nói cách khác, làm sao để Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi cuộc đối đầu đang tăng cường giữa Mỹ và Trung Quốc là một nhiệm vụ bất khả thi. Điều chúng ta có thể làm chỉ là làm sao hạn chế được tối đa các tác động tiêu cực của cuộc đối đầu này lên chúng ta mà thôi.

Để làm được điều này, không có cách nào khả dĩ hơn việc chúng ta chủ động can dự vào các diễn biến địa chính trị khu vực, góp phần định hình các diễn biến đó (nếu có thể), hoặc ít nhất nắm bắt được các thông tin, diễn biến, can dự vào ý đồ của các cường quốc để không phải trở thành kẻ ngoài lề, bị động đối phó, và rốt cuộc sẽ trở thành “nạn nhân” bị đem ra mặc cả trong ván cờ giữa các nước lớn như đã từng xảy ra trong lịch sử.

Hiện tại, trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam có hai vũ khí quan trọng có thể khiến Trung Quốc e sợ, đó là các lựa chọn pháp lý và việc theo đuổi chính trị liên minh. Tuy nhiên, trong khi phát súng pháp lý chưa thật sự sẵn sàng và một khi bắn ra sẽ không thể thu hồi lại, thì theo đuổi chính trị liên minh là một biện pháp linh hoạt và hiệu quả hơn mà Việt Nam có thể thực hiện để răn đe Trung Quốc.

Thứ nhất, biện pháp này đánh vào tâm lý sợ bị bao vây, “ngăn chặn” của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không bao giờ muốn Việt Nam ngã vào tay một cường quốc đối địch, vì vậy nếu Việt Nam dịch chuyển theo hướng chính trị liên minh thì Trung Quốc sẽ phải cân nhắc trong hành động để không đẩy Việt Nam ra quá xa.

Thứ hai, chính trị liên minh không phải là một con đường một chiều. Cách dễ nhất để hình dung chính trị liên minh là một đường trục với hai thái cực đối diện, một thái cực (-1) là phù thịnh (bandwagoning), đi theo đối thủ, và thái cực còn lại (+1) là tham gia liên minh quân sự để cân bằng (balancing) lại đối thủ. Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam lý tưởng nhất là ở vị trí cân bằng (0), tuy nhiên tùy theo diễn biến quan hệ song phương và bối cảnh khu vực, chúng ta có thể điều chỉnh vị trí của mình trong khoảng từ -1 đến +1 cho phù hợp. Ví dụ, nếu Trung Quốc hung hăng, hiếu chiến, Việt Nam có thể điều chỉnh dần sang vị trí  +1, nhưng nếu Trung Quốc ôn hòa, xuống nước, Việt Nam có thể điều chỉnh dần về vị trí số 0. Như vậy chúng ta không nên lo sợ phá vỡ quan hệ với Trung Quốc vì chúng ta có thể điều chỉnh tùy theo tình hình. Điều chúng ta phải lo sợ hơn là mất lãnh thổ, thứ một khi đã rơi vào tay người khác sẽ khó có thể đòi lại được.

Thứ ba, do có sự linh hoạt như trên, nên Việt Nam nếu khéo léo có thể điều chỉnh từng bước đi trong chính trị liên minh để đáp lại các hành động của Trung Quốc. Trước mắt, nếu Trung Quốc tiếp tục đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng lại chiến thuật như vừa qua, kiềm chế và kiên nhẫn đấu tranh để Trung Quốc rút, phục hồi nguyên trạng. Tuy nhiên nếu Trung Quốc lặp đi lặp lại hoặc leo thang, ví dụ không rút giàn khoan, đưa giàn khoan xuống khu vực Trường Sa/ Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, hay thậm chí xâm lược các vị trí Việt Nam đang nắm giữ, thì Việt Nam cần ứng phó ra sao? Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần phải có các bước chuẩn bị để khi Trung Quốc đi một nước cờ thì Việt Nam có thể đi được một nước tương ứng để đáp lại, tránh tình trạng Trung Quốc leo thang nhưng Việt Nam chỉ có một bài để đấu tranh. Với các nấc thang khác nhau như đã kể trên, chính trị liên minh giúp Việt Nam dự liệu trước các quân bài khác nhau để đối phó với Trung Quốc, bên cạnh chuyện đấu tranh trên thực địa.

Như vậy, trước bối cảnh Trung Quốc ngày càng có các hành động hung hăng mang tính cưỡng bức trên Biển Đông, Việt Nam cần tận dụng các biến đổi địa chính trị khu vực để giành thế chiến lược có lợi cho mình. Trước mắt, Việt Nam cần thực hiện một số các biện pháp như cảnh báo Trung Quốc về hậu quả chiến lược nếu  tiếp tục có cách hành động cưỡng bức hoặc leo thang tranh chấp; làm việc cùng các quốc gia đối tác quan trọng (đặc biệt là Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Philippines) để lập kế hoạch tăng cường các mối quan hệ song phương, nhất là trong lĩnh vực an ninh – quốc phòng, đồng thời lập kế hoạch các bước đi và nấc thang tiếp theo mà Việt Nam cần thực hiện để đáp lại các hành động gây hấn mới hoặc leo thang tranh chấp trên Biển Đông của Trung Quốc.

Tóm lại, Việt Nam chỉ có thể hòa hiếu với Trung Quốc nếu Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nếu Trung Quốc dùng bạo quyền để cưỡng bức thì chúng ta không thể mềm yếu để rồi mãi mãi đánh mất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ vì một thứ “hữu nghị viễn vông”.

Trong khi tìm mọi cách cố gắng duy trì quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và tương kính với Trung Quốc, chúng ta cũng nên sẵn sàng theo đuổi các mối quan hệ liên minh với các đối tác ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau để đối phó với các mối đe dọa trên Biển Đông. Theo nghĩa đó, liên minh không nên được hiểu là đi với nước này để chống nước kia, mà là đi với nước nào để chúng ta có thể bảo vệ được tốt nhất lợi ích quốc gia của mình.

Lê Hồng Hiệp, vừa hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia, Canberra, là giảng viên tại Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV TPHCM, và là biên tập viên sáng lập và điều hành trang mạng Nghiencuuquocte.net.

Bài liên quan:
Việt Nam theo đuổi liên minh đối phó Trung Quốc: Tại sao và nên như thế nào? Đưa quan hệ Việt – Mỹ bước vào kỷ nguyên mới
Việt Nam giữa hai bờ Trung – Mỹ
Việt Nam giữa ba tầng tranh chấp Biển Đông
Việt Nam trong cuộc chơi quyền lực Mỹ – Trung
Việt Nam và “lời nguyền địa lý”

—————

[1] Việc tăng thuế tiêu dùng (có tác động giảm phát) dựa trên cơ sở rằng trước đó hai mũi tên mở rộng tài khóa và nới lỏng tiền tệ (có tác dụng gây lạm phát) đã được thực hiện, nên sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế. Ngoài nguyên nhân chính là tăng thuế tiêu dùng thì các vấn đề như cải cách cơ cấu chậm có tác dụng, đồng yen yếu làm tăng chi phí nhập khẩu đầu vào sản xuất và cơ cấu dân số bất lợi đều tác động tiêu cực tới kinh tế Nhật trong năm 2014.

[2] Hầu như chắc chắn liên minh giữa LDP và Đảng Công minh (Komeito) sẽ tiếp tục. Trong bầu cử, LDP giành 291 ghế, Keomeito giành 35 ghế, tổng cộng là 326/475 (68,63%) ghế.

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/12/28/song-ngam-dia-chinh-tri-khu-vuc-va-lua-chon-cua-viet-nam/#sthash.TXusCnKZ.dpuf

Biển Đông: Thế trận đảo nhân tạo Trung Quốc đe dọa Việt Nam

RFI, Thứ hai, ngày 02 tháng ba năm 2015

Ảnh chụp Đá Ga Ven vào ba thời điểm khác nhau cho thấy quy mô và tiến độ công việc bồi đắp và xây dựng của Trung Quốc. CNES 2014/ Distribution Airbus DS/IHS

Vào lúc châu Á, trong đó có Việt Nam, đang chuẩn bị ăn Tết Ất Mùi, chuyên san quốc phòng Jane’s Defence Weekly ngày 15/02/2015 đã tung ra “một quả bom” :  Một loạt ảnh vệ tinh – mà bức mới nhất chụp vào hạ tuần tháng Giêng 2015 – cho thấy quy mô to lớn và tốc độ nhanh chóng của công việc bồi đắp các bãi ngầm hay rạn san hô mà Trung Quốc đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa (Biển Đông).

Yếu tố mới nhất được chuyên san Jane’s Defence nêu bật để minh họa cho cơn sốt xây dựng của Trung Quốc tại Biển Đông, là công trình bồi đắp và xây dựng trên đá Tư Nghĩa (Hughes Reef), bị chiếm từ năm 1988, biến bãi ngầm chỉ rộng 380m2 này thành một đảo lớn rộng 75.000m2 !

Hoạt động của Trung Quốc lập tức thu hút sự chú ý của các nước, đặc biệt là Hoa Kỳ – từng chính thức kêu gọi tất cả các bên tranh chấp Biển Đông đình chỉ mọi hoạt động bồi đắp, xây dựng mới trong vùng, làm cho tình hình thêm căng thẳng – và Philippines, quốc gia Đông Nam Á đã nhiều lần công khai tố cáo hành động « cải tạo địa hình » của Trung Quốc tại Trường Sa.

Nghiên cứu các bức ảnh vệ tinh mới chụp vào tháng Giêng 2015, và so sánh với các bức chụp trước đó, các chuyên gia phân tích cho rằng Trung Quốc đang rốt ráo thay đổi hiện trạng Biển Đông, xây dựng cơ sở nhằm làm bàn đạp khống chế toàn bộ Biển Đông, đặt các nước khác trước một « sự đã rồi » mới.

Hành động lấn lướt trên hiện trường này đã đi ngược lại tất cả những tuyên bố hòa dịu mà giới lãnh đạo Trung Quốc không ngừng đưa ra, đặc biệt là từ cuối năm 2014 đến nay, trong đó có thông điệp được nhắc đi nhắc lại là cần phải thực thi nghiêm túc Bản Tuyên bố Ứng xử về Biển Đông DOC ký kết năm 2002 giữa Trung Quốc và Hiệp hội Đông Nam Á ASEAN.

Bày binh bố trận trên Biển Đông

Đối với giới phân tích, Trung Quốc quả đang đẩy nhanh việc bày binh bố trận ở vùng Biển Đông, với mục tiêu là dùng sức mạnh áp đặt các yêu sách lãnh thổ cực lớn của Bắc Kinh tại vùng này, phớt lờ tuyên bố chủ quyền của các láng giềng từ Việt Nam, Philippines, cho đến Malaysia, Brunei, hay Đài Loan.

Theo hãng tin Anh Reuters ngày 20/02, « Trung Quốc đang dồn uy lực đáng kể xuống Biển Đông ». Báo Mỹ Wall Street Journal ngày 18/02 cũng ghi nhận : « Trung Quốc mở rộng công việc xây cất tại vùng Biển Đông đang tranh chấp… Việc bồi đắp đảo nhân tạo cho thấy Bắc Kinh không từ bỏ tham vọng lãnh thổ ».

Phi đạo và cơ sở có thể dùng vào mục tiêu quân sự

Căn cứ vào ảnh vệ tinh chụp được, trận đồ mà Trung Quốc đang bố trí tại Biển Đông được thấy rất rõ, liên kết quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã chiếm trọn và bồi đắp từ lâu, với một hệ thống 7 bãi đá, rạn san hô tại quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đã lấy từ tay Việt Nam và Philippines, và đang cấp tốc cải tạo : Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef), Đá Gạc Ma (Johnson South Reef), Đá Ga Ven (Gaven Reef), Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), Đá Châu Viên (Cuarteron Reef), Đá Én Đất (Eldad Reef) và Đá Vành khăn (Mischief Reef).

Tại Hoàng Sa – chiếm trọn từ tay Việt Nam năm 1974 – Bắc Kinh đã cải tạo bồi đắp đảo chính Phú Lâm (Woody Island), và từ lâu rồi, đã cho xây trên đó một phi đạo dài 2,7 km. Còn tại vùng Trường Sa, theo ảnh vệ tinh vừa chụp được, thì Bắc Kinh đang xây trên Đá Chữ Thập một đường băng dài 3 km, và có thể sắp hoàn thành một phi đạo có độ dài tương tự trên Đá Gạc Ma, chiếm vào năm 1988.

So sánh với các phi đạo của Trung Quốc, thì rõ ràng các đường băng hiện hữu – 1,2 km trên đảo Ba Bình (Itu Aba) ở Trường Sa do Đài Loan kiểm soát, khoảng 0,7 km của Việt Nam trên đảo Trường Sa Lớn, hay 1,3 km của Philippines trên đảo Thị Tứ (Thitu Island) – chẳng thấm vào đâu.

Bên cạnh các phi đạo, ảnh vệ tinh chụp các đảo nhân tạo trên đường hình thành của Trung Quốc đều cho thấy các công trình rộng lớn có thể dùng làm nhà kho, trại lính, bệ đặt radar, hệ thống phòng không, bãi đáp trực thăng…, tóm lại đủ loại cơ sở có thể được dùng vào mục tiêu quân sự.

Đối với Việt Nam, sự kiện Trung Quốc bày binh bố trận với bảy hòn đảo nhân tạo tại Trường Sa dĩ nhiên đặt ra rất nhiều mối đe dọa, đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải tìm ra đối sách. Để hiểu rõ thêm về các nguy cơ đang rình rập Việt Nam tại Biển Đông, RFI đã đặt một số câu hỏi cho Giáo sư Carlyle Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Úc.

Trung Quốc vẽ lại ranh giới địa lý vùng Đông Nam Á

Trước hết, như nhiều chuyên gia phân tích khác, Giáo sư Thayer công nhận mình hết sức bất ngờ trước tốc độ và cường độ của các công trình do Trung Quốc tiến hành, như chuyên san quốc phòng Jane’s Defence đã tiết lộ. Trả lời RFI qua thư điện tử, ông xác định :

Thayer : Các hành động của Trung Quốc đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Cho đến cuối năm ngoái (2014), hầu hết các báo cáo về hoạt động của Trung Quốc chỉ nêu bật các hoạt động xây dựng với quy mô tương đối nhỏ.
Nhưng từ năm 2014 trở đi, quy mô và tốc độ của các hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc đã trở nên rất ngoạn mục.

Đối với Giáo sư Thayer, việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ xác lập sự hiện diện của Trung Quốc ngay tại trung tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, và mặc nhiên « vẽ lại ranh giới địa lý » của khu vực :

Thayer : Các hoạt động bồi đắp đảo, đá của Trung Quốc để tạo ra các hòn đảo nhân tạo rất bạo về quan niệm chiến lược. Chúng củng cố các nỗ lực của Trung Quốc nhằm đòi chủ quyền trên toàn bộ các đảo, đá và các thực thể khác ở Biển Đông và “vùng biển tiếp giáp” được gộp trong yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc.

Việc tạo ra các hòn đảo nhân tạo sẽ thiết lập sự hiện diện của Trung Quốc ở ngay vùng trung tâm của Biển Đông, qua đó vẽ lại ranh giới địa lý của khu vực Đông Nam Á.

Năm 1995, khi thông qua Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có Vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), ASEAN đã xác định phạm vi địa lý của Đông Nam Á là “khu vực bao gồm các vùng lãnh thổ của tất cả các Quốc gia ở Đông Nam Á cụ thể là Brunei Darussalam, Cam Bốt, Indonesia , Lào, Malaysia, Miến Điện, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam, và các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các Quốc gia này… ‘lãnh thổ’ là lãnh thổ trên bộ, nội thủy, lãnh hải, vùng nước quần đảo, đáy biển và phần đất dưới đáy biển đó và vùng trời bên trên các phần nêu trên“. (Người trích nhấn mạnh).

Từ đó đến nay, Trung Quốc đã mở rộng quyền kiểm soát của họ trên khu vực Biển Đông, sử dụng tàu chấp pháp để sáp nhập bãi Scarborough Shoal, phong tỏa – hiểu theo nghĩa quân sự – Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), và đưa đội tàu đánh cá của họ xa xuống phía nam, đến tận các vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia và Indonesia ngoài Việt Nam và Philippines.

Theo Giáo sư Thayer, Việt Nam cũng đã xây dựng cơ sở hạ tầng trên các rạn san hô mà mình kiểm soát. Tuy nhiên, điều Việt Nam đã làm không vi phạm Bản Tuyên bố Ứng xử về Biển Đông DOC, trái với những gì Trung Quốc đang làm. Mặt khác, về quy mô, những gì Việt Nam đã làm chẳng thấm vào đâu so với các công trình của Trung Quốc :

Thayer : Việt Nam đã bắt đầu xây dựng trên đảo Trường Sa Lớn và các thực thể khác mà họ kiểm soát, từ trước khi Bản Tuyên bố năm 2002 về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được thông qua. Phi đạo trên Trường Sa Lớn dài 700 mét. Việt Nam cũng đã xây dựng một số công trình phòng thủ nhỏ trên một vài thực thể địa lý dưới quyền kiểm soát của mình.
Bản Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC không cấm các hoạt động như vậy. Điều 5 của DOC ghi nhận : “Các bên liên quan cam kết tự kiềm chế không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định, kể cả không tiến hành các hoạt động đưa người đến sinh sống trên các đảo, bãi đá ngầm, bãi cát ngầm, dải đá ngầm và những cấu trúc khác hiện chưa có người sinh sống và xử lý các bất đồng một cách xây dựng”. (Người trích nhấn mạnh).

Các nhà phân tích cho rằng diện tích một trong những hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc sẽ vượt quá hòn đảo lớn nhất, Itu Aba hay Ba Bình/Thái Bình, đang do Đài Loan chiếm đóng. Đảo của Trung Quốc sẽ có một chức năng kép vừa dân sự, vừa quân sự. Bến tàu trên các hòn đảo này sẽ hỗ trợ các hộ tống-khu trục hạm của Hải quân Trung Quốc. Những hòn đảo này cũng sẽ là nơi đặt các thiết bị giám sát bao gồm trạm radar, và các phương tiện tình báo điện tử.

Quy mô của các hoạt động bồi đắp, xây dựng của Trung Quốc to lớn đến mức mà các thực thể Việt Nam đang chiếm đóng chẳng thấm vào đâu. Hành động của Trung Quốc là một vi phạm Bản Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) về mặt từ ngữ nếu chưa muốn nói là tinh thần.

Áp đặt chủ quyền bằng đe dọa quân sự và né tránh luật quốc tế

Theo Giáo sư Thayer, các hoạt động cải tạo đất đai của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ cho phép Bắc Kinh áp đặt quyền kiểm soát quân sự trong khu vực, giám sát dễ dàng mọi hoạt động của hải quân và không quân nước khác :

Thayer : Mục tiêu chiến lược tối hậu của Trung Quốc là áp đặt chủ quyền và qua đó là quyền kiểm soát quân sự trên Biển Đông để bảo vệ các tuyến đường giao thông trên biển và làm tăng nguy cơ đối với các lực lượng hải quân nước ngoài, đặc biệt là Hải quân Hoa Kỳ, khi phải hoạt động trong một vùng biển nửa kín.

Đảo nhân tạo của Trung Quốc sẽ được liên kết với các thực thể địa lý khác mà Bắc Kinh đang trấn giữ, để cung cấp cho họ những cảnh báo sớm về hoạt động của các lực lượng hải quân và không quân ngoại quốc.

Ở mức tối thiểu, các hòn đảo nhân tạo sẽ trở thành cơ sở tiền phương phục vụ các lợi ích thương mại của Trung Quốc, chẳng hạn như đánh bắt thủy sản và khai thác dầu khí, cũng như cho các cơ quan thực thi luật hàng hải khác nhau của Trung Quốc. Các cơ quan này sẽ tiến được gần hơn đến các điểm nóng tiềm tàng, đồng thời có vị trí tốt để hù dọa và thúc ép cảnh sát biển của các nước khác trong khu vực.

Những hòn đảo nhân tạo sẽ cung cấp một hàng rào chống lại bất kỳ kết quả bất lợi nào của Tòa án Trọng tài Quốc tế hiện đang xem xét đơn kiện của Philippines chống lại Trung Quốc. Đảo nhân tạo không nằm trong phạm vi thủ tục pháp lý đang tiến hành.

Mục tiêu quan trọng nhất của Trung Quốc là áp đặt trên thực tế quyền kiểm soát Biển Đông bằng cách né tránh những hạn chế của luật pháp quốc tế. Tám trong số mười quốc gia Đông Nam Á sẽ bị buộc phải đối phó với thực tế mới là phải chia sẻ một đường biên giới biển với Trung Quốc hoặc là chấp nhận việc Trung Quốc phát huy quyền kiểm soát toàn vùng biển Đông Nam Á.

Đe dọa quân sự rất lớn cho Việt Nam tại Biển Đông

Đối với Việt Nam, hệ thống đảo nhân tạo của Trung Quốc đặt ra rất nhiều mối đe đe dọa, trong đó có nguy cơ Bắc Kinh dễ dàng tấn công đánh chiếm các hòn đảo do Việt Nam trấn giữ mà khiến lực lượng Việt Nam trở tay không kịp :

Thayer : Trước hết, các hành động của Trung Quốc đặt ra một mối đe dọa gián tiếp đối với Việt Nam bằng cách cô lập Việt Nam thông qua việc hù dọa và làm nản chí các thành viên ASEAN khác, để các nước này không có bất kỳ hành động chính trị và ngoại giao nào chống lại Trung Quốc.

Thứ hai, đảo nhân tạo của Trung Quốc mở rộng tầm với của Bắc Kinh  – cả về thương mại lẫn quân sự – xuống tận phía Nam của Biển Đông. Trung Quốc sẽ có thể chủ động hành sự, hay phản ứng trước các sự cố nẩy sinh tại chỗ một cách nhanh chóng hơn nhiều so với trước đây. Việt Nam sẽ còn ít thời gian chuẩn bị hơn để đáp trả.

Chẳng hạn như Trung Quốc có thể khởi động một chiến dịch phong tỏa các đảo đá mà Việt Nam đang kiểm soát tại Biển Đông, hoặc là bất ngờ đánh chiếm những tiền đồn nhỏ của Việt Nam mà Việt Nam không kịp báo động. Lực lượng Trung Quốc có thể duy trì các hành động trong khoảng thời gian dài hơn nhờ vật tư, nhiên liệu lưu trữ sẵn trên các hòn đảo nhân tạo, cũng như thông qua các cơ sở bảo trì, sửa chữa cũng như y tế đã xây dựng.

Một cách đối phó : Áp dụng chiến lược ‘áp đặt cái giá phải trả’

Theo Giáo sư Thayer, để đối phó với Trung Quốc, Việt Nam vừa phải vận động ASEAN và quốc tế, vừa phải quyết tâm liên kết với Hoa Kỳ và các cường quốc trên biển khác để buộc Bắc Kinh phải trả giá nếu manh động :

Thayer : Thẳng thắn mà nói, cả Việt Nam lẫn cộng đồng quốc tế đều khó có thể làm gì để ngăn không cho Trung Quốc tiếp tục công việc bồi đắp và xây dựng trên các hòn đảo nhân tạo.

Tuy nhiên Việt Nam có thể cố gắng tác động đến ý định của Trung Quốc thông qua các hoạt động ngoại giao mạnh mẽ ở cấp độ song phương và đa phương. Giới lãnh đạo Việt Nam cần thẳng thắn nêu bật vấn đề này với đối tác Trung Quốc. Việt Nam cần huy động sự trợ giúp từ khối ASEAN và từ cộng đồng hàng hải quốc tế. Điều tốt nhất mà các nỗ lực này có thể đạt được là thuyết phục được Trung Quốc hành động với sự tự kiềm chế và minh bạch hơn về ý định của mình.

Việt Nam có thể làm việc chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ và các cường quốc hàng hải khác để áp dụng một loạt “chiến lược áp đặt cái giá phải trả” (Cost-imposition strategy) trên Trung Quốc. Những chiến lược áp đặt giá phải trả khả dĩ thực hiện được đã được Trung tâm vì An ninh Mới của Mỹ (Center for a New American Security) tại Washington DC phát triển.

Nói chung, chiến lược này nhằm chứng minh cho Trung Quốc thấy rằng các hành động của họ sẽ tạo ra phản ứng ngược lại từ phía các quốc gia khác, khiến cho Trung Quốc khó mà tiếp tục con đường hiện tại, phải cân nhắc hơn thiệt về các hành động của họ.

Một câu hỏi được đặt ra là sau khi chuyên san quốc phòng Jane’s Defence công bố thông tin về tầm mức nghiêm trọng của các hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo do Trung Quốc tiến hành tại Biển Đông, Việt Nam hầu như không có phản ứng. Theo Giáo sư Thayer, đó có thể là vì Việt Nam đang bắt cá hai tay :

Thayer : Việt Nam đang cố gắng bắt cá hai tay, vừa muốn có quan hệ tốt với Trung Quốc, vừa muốn bảo vệ chủ quyền của mình ở Biển Đông. Hai mong muốn này không tương thích với nhau.

Quan hệ tốt với Trung Quốc có nghĩa là thỏa hiệp với Bắc Kinh bằng cách tạo ra một tạm ước (modus vivendi) nhằm duy trì nguyên trạng. Trung Quốc sẽ đòi Việt Nam phải từ bỏ chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa.

Việt Nam chỉ có thể bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của mình ở Biển Đông thông qua việc xây dựng sức mạnh quân sự của mình để ngăn chặn Trung Quốc, và phát triển quan hệ quốc phòng với các đối tác chiến lược đáng tin cậy. Việt Nam đã quyết định theo đuổi việc xây dựng sức mạnh quốc phòng của mình, nhưng lại chưa dứt khoát trong việc phát triển quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ.

Hệ quả của mong muốn bắt cá hai tay này là Việt Nam lúc này thì chạy theo quan hệ tốt với Trung Quốc, rồi lúc khác thì lại theo đuổi việc bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của mình.

Hiện nay Việt Nam đang theo đuổi việc duy trì quan hệ tốt với Trung Quốc, do đó đã giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của các hoạt động cải tạo đảo đá của Trung Quốc tại Biển Đông.

Cùng chủ đề

TRUNG QUỐC – BIỂN ĐÔNG

Bồi đắp đảo nhân tạo tại Trường Sa : Ba ý đồ của Trung Quốc

Để biết thêm

PHILIPPINES – TRUNG QUỐC

Manila phản đối Bắc Kinh bồi đắp đảo Đá Vành Khăn, Trường Sa

Để biết thêm

BIỂN ĐÔNG – CHỦ QUYỀN

Ảnh vệ tinh vạch trần việc Trung Quốc cải tạo đảo đá ở Trường Sa

Để biết thêm

BIỂN ĐÔNG

Trung Quốc nhận chìm hồ sơ Biển Đông tại Hội nghị Quốc phòng ASEAN

Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành trên Biển Đông“,
VOA, 02 tháng 4 năm 2015.

Tư Lệnh lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ, Đô Đốc Harry Harris Jr., khẳng định chính sách tái cân bằng lực lượng sang khu vực Thái Bình Dương của chính phủ Mỹ đang đi đúng hướng (Nguồn: WSJ, Worldpress)

Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành trên Biển Đông

VOA, 02.4. 2015

Các công trình lắp đất xây đảo nhân tạo của Trung Quốc trong Biển Đông đã khiến người ta hoài nghi về các ý đồ của Trung Quốc, và tự hỏi liệu Bắc Kinh thực sự muốn hợp tác hay là có ý định đối đầu với các cường quốc khác trong khu vực.

Đó là lời bình luận của Tư Lệnh lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ, bày tỏ quan tâm về việc Trung Quốc đang xây điều mà ông miêu tả là một bức “Vạn lý Trường Thành bằng Cát” trên Biển Đông.

Báo The Wall St. Journal hôm 31 tháng Ba tường thuật rằng trong một phát biểu công khai, trực tiếp chỉ trích các công trình xây cất của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa, Tư Lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương, Đô Đốc Harry Harris Jr., nói Bắc Kinh đang xây “một vạn lý trường thành” trên vùng biển đang trong vòng tranh chấp.

Đô Đốc Harris được trích lời nói rằng: “Khi xét toàn diện các hành động khiêu khích của Trung Quốc đối với các nước giành chủ quyền nhỏ hơn, sự thiếu minh bạch của cái đường 9 đoạn và tình trạng bất cân xứng giữa khả năng của Trung Quốc so với các nước láng giềng nhỏ – thì thật không đáng ngạc nhiên là quy mô của các công trình xây các đảo nhân tạo đặt ra những nghi vấn nghiêm trọng về ý đồ của Trung Quốc.”

Ông cho rằng cái đường 9 đoạn mà Trung Quốc vạch ra để đòi chủ quyền trên hầu hết Biển Đông, không phù hợp với luật quốc tế,  Ông nói việc Trung Quốc xúc tiến các hoạt động cải tạo các bãi đá với quy mô chưa từng thấy trước đây là điều “rất đáng lo ngại”.

Australia, một đồng minh lâu năm của Mỹ, cũng bày tỏ quan tâm và năm ngoái, chính phủ Úc ký hiệp định củng cố hợp tác quân sự với Nhật Bản như một cách để tăng khả năng quốc phòng trước sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc.

Tư Lệnh lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ khẳng định chính sách tái cân bằng lực lượng sang khu vực Thái Bình Dương của chính phủ Mỹ đang đi đúng hướng trong mục tiêu chuyển 60% lực lượng sang Á Châu-Thái Bình Dương trước năm 2020. Washington đã điều tàu đổ bộ mới nhất của Hải quân Hoa Kỳ, chiếc USS America sang khu vực. Đây là một tàu đổ bộ được thiết kế để chở một số lượng lớn binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến phục vụ các nhiệm vụ quân sự và cứu trợ nhân đạo. Tàu có bãi đáp cho các loại chiến đấu cơ và máy bay trực thăng.

Đô đốc Harris Jr. kêu gọi tất cả các bên liên quan phải tuân thủ Tuyên bố về cách ứng xử trên Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc đã ký với ASEAN, cam kết sẽ kiềm chế các hoạt động “gây phức tạp hay làm leo thang căng thẳng trong khu vực”.

Tư Lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương nói bằng cách duy trì sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực, trong tình huống khủng hoảng xảy ra, “Mỹ có thể dễ dàng điều lực lượng Hải quân có khả năng ứng phó nhanh tới nơi, hầu duy trì tình trạng an ninh và ổn định khu vực.”

Nguồn: WSJ, Worldpress


Releted

Tác động chiến lược và triển vọng giải quyết tranh chấp biển Đông 
218. Chiến lược hai mũi nhọn của hải quân Trung Quốc 
1888. Xung đột trên biển Đông buộc Mỹ phải triển khai chính sách trở lại châu Á Thái Bình Dương

15 trieu dan Viet song dua vao bien
Tình hình biển Đông có gì mới?

Hoàng Kim
(Bài tổng hợp, ngày 6 tháng 7 năm 2011)

Biển Đông và  đường lưỡi  bò vẫn là  chủ  đề nóng và động thái còn diễn biến phức tạp. Đây chỉ mới là sự khởi đầu của cuộc chiến pháp lý về chủ quyền trên biển Đông. Phía Trung Quốc đã chuẩn bị dư luận trong nước trên 60 năm (1950- 2011) về đường lưỡi bò “chuỗi ngọc trai của đất mẹ Trung Quốc” và đã  thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. Trung Quốc hiện đang hối thúc Việt Nam sớm đồng thuận theo cách “chủ quyền thuộc tôi, gác bỏ tranh chấp, cùng nhau khai thác, lấy tiền đổi đất, đất đổi hòa bình”.  Phía Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là sự thật lịch sử hiển nhiên và hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý; Quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hướng dư luận vào sự ứng xử phù hợp, kiềm chế, không có những hành động tự phát, không tham gia vào những hoạt động không chính thống, đảm bảo nguyên tắc không làm phức tạp thêm tình hình giải quyết tranh chấp. Bản tuyên cáo đặc biệt do một số nhân sĩ, trí thức khởi xướng về việc nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên Biển Đông ngày 25 tháng 6 hiện có 1164 người tham gia ký tên. Quan điểm của những người  ký tuyên cáo coi việc giải quyết vấn đề biển Đông trong hòa bình thuộc trách nhiệm của Chính phủ nhưng điều đó không có nghĩa người dân không được quyền tiếp tục thể hiện thái độ của mình; Tuyên cáo đề cao ý chí, nguyện vọng và sức mạnh của toàn dân. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân. Vì vậy bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc. Vấn đề biển Đông đòi hỏi sự bản lĩnh và trí tuệ, sáng suốt và kiên trì, thế và lực của toàn dân tộc, sự ủng hộ quốc tế, sự minh bạch thông tin và phổ biến sâu rộng kịp thời cho dân chúng biết các vấn đề liên quan đến tranh chấp biển Đông.
(trên 15 triệu dân Việt sống nghề biển, ảnh BĐVN)

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Lần đầu tiên, một bản phân tích kỹ lưỡng về Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (Huu Nguyen). Báo Đại đoàn kết ngày 20. 7. 2011.

 
Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược “lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

Ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ “giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH –Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.

Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên. Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

CongHamPhamVanDong1958
Bức Công hàm 1958 (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do. Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết “estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”…

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ “nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu “miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.

Nhóm PV Biển Đông

[Kỳ 25: Châu bản thời vua Bảo Đại khắc ghi

chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam]

[Kỳ 24: Châu bản thời Minh Mạng và Thiệu Trị khắc ghi

chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]

[Kỳ 23: “Đường lưỡi bò” phi lý và tham vọng bá chủ

của Trung Quốc ở Biển Đông]

[Kỳ 22: Trung Quốc chưa bao giờ có chủ quyền

ở Hoàng Sa và Trường Sa]

[Kỳ 21: Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]

[Kỳ 20: Cơ sở pháp lý quốc tế về sự thiết lập
chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo]

[Kỳ 19: Cờ Tổ quốc vẫn tung bay trên ngư trường Hoàng Sa]

[Kỳ 18: “Sinh Tồn” trên đại dương gió bão]

[Kỳ 17: Cô Lin – “Mắt thần” của biển]

[Kỳ 16: Trận chiến bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm1988]

[Kỳ 15: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn sau 1991]

[Kỳ 14: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn 1975 – 1991]

[Kỳ 13: Ký ức Hoàng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam]

[Kỳ 12: Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa
của Việt Nam năm 1974]

[Kỳ 11: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn 1954-1975]

[Kỳ10: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
giai đoạn 1945 -1954]

[Kỳ 9: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
thời Pháp thuộc]

[Kỳ 8: Hoàng Sa và Trường Sa trong thư tịch cổ Trung Hoa]

[Kỳ 7: Hoàng Sa-Trường Sa: Tư liệu cổ phươngTây]

[Kỳ 6: Hải đội Hoàng Sa thực thi chủ quyền]

[Kỳ 5: Thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa
của các triều đại Việt Nam ]

[Kỳ 4: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
trong thư tịch triều Nguyễn ]

[Kỳ 3: Chủ quyền biển đảo của Việt Nam từ các bản đồ
trong lịch sử]

[Kỳ 2: Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa
từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII]

[Kỳ 1: Vài nét địa lý tự nhiên thuộc vùng biển Việt Nam]

DANH SÁCH 1.164 NGƯỜI KÝ TUYÊN CÁO ĐẶC BIỆT
Bản Tuyên cáo đặc biệt do giới nhân sĩ trí thức khởi xướng

KIẾN NGHỊ
VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Hồ Uy Liêm | Nguyễn Trọng Vĩnh | Trần Việt Phương | Hoàng Tụy
Trần Đức Nguyên | Nguyễn Huệ Chi | Nguyễn Trung | Phạm Chi Lan
Chu Hảo | Nguyễn Xuân Diện | Nguyễn Đình Đầu | LM Huỳnh Công Minh
Lê Hiếu Đằng | Tương Lai | Trần Quốc Thuận | Vũ Thành Tư Anh
Lê Mạnh Thát | Nguyên Ngọc | Nguyễn Hữu Châu Phan | Nguyễn Đình An.Địa chỉ hộp thư tiếp nhận chữ ký
của đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài:

Email: kiennghi1007@gmail.com

VuCaoPhan

Tiến sĩ Vũ Cao Phan, người rất được dư luận coi trọng sau bài trả lời phỏng vấn  của đài Truyền hình Phượng Hoàng Trung Quốc về biển Đông, đã chia sẻ với VnExpress:

Để giải quyết tình hình căng thẳng ở biển Đông, theo ông chúng ta nên có hành động như thế nào?

– Tôi từng nói chúng ta không thể chống con sào xuống Thái Bình Dương để đẩy con thuyền Việt Nam ra xa khỏi Trung Quốc. Hai nước trở thành láng giềng đó là sự ấn định của của tạo hóa, lịch sử, không thể thay đổi được. Chúng ta không có cách nào khác là chấp nhận vị trí địa lý mà mình có, từ đó xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nước bạn, có lợi cho hai bên. Vấn đề là chúng ta phải ở tư thế như thế nào, phải xử sự ra sao thì lại là câu chuyện tưởng dễ mà khó. Nhưng tôi là một người lạc quan, tôi rất tin mọi sự sẽ được giải quyết theo hướng tích cực.

PhanHuyLe

Giáo sư Phan Huy Lê:

Những hành động của Trung Quốc đang làm cho tình hình Biển Đông nóng dần lên. Dĩ nhiên Việt Nam phải theo dõi sát sao, xây dựng chiến lược ứng phó lâu dài, đồng thời cần chủ động đối phó kịp thời với từng việc cụ thể. Tôi muốn nêu lên mấy suy nghĩ và đề xuất sau đây:

  1. Lập trường bất biến của chúng ta là coi việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ toàn vẹn của đất nước là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Trên lĩnh vực này, mọi quốc gia – dân tộc đều bình đẳng, không có phân biệt nước lớn – nước nhỏ và càng không có quyền nước lớn áp đặt cho nước nhỏ.

Lịch sử Việt Nam còn ghi lại bao lời tuyên bố vang vọng mãi với non sông đất nước, thấm sâu trong tâm trí các thế hệ con người Việt Nam như lời thề non nước. Đó là lời thơ thần “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thời chống Tống thế kỷ XI, lệnh của hoàng đế Lê Thánh Tông “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ… Kẻ nào dám đem một thước, một tấc đất của vua Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di” năm 1473, lời kêu gọi “Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ (đánh cho biết rằng nước Nam anh hùng và có chủ)” của Quang Trung Nguyễn Huệ trong chống Thanh thế kỷ XVIII, lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập năm 1945 “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”.

Lịch sử Việt Nam cũng chứng tỏ rằng Việt Nam tuy là nước nhỏ (so với nhiều nước xâm lược, nhỏ hơn nhiều lần về lãnh thổ, dân số, tiềm lực kinh tế, quân sự) nhưng vẫn có thể tạo nên sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Đó là chiến lược giữ nước “dĩ đoạn chế trường (lấy ngắn chế dài)” theo Trần Quốc Tuấn, “dĩ nhược chế cường, dĩ quá địch chúng (lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều)”, “dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chi nhân nhi địch cường bạo (lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo)” theo lời Nguyễn Trãi.

  1. Hết sức coi trọng việc giữ gìn hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực, biết tự kiềm chế, kiên trì sử dụng các giải pháp ngoại giao, chính trị để giải quyết các vụ đụng độ, tranh chấp trên Biển Đông bằng công pháp quốc tế và bằng con đường đấu tranh ngoại giao, bằng đàm phán giữa các nước có quyền lợi liên quan. Cần triển khai mạnh mẽ, chủ động mặt trận đấu tranh ngoại giao, nhất là ngoại giao pháp lý, trên các diễn đàn và trong các tổ chức khu vực và quốc tế, làm cho dư luận thế giới thấy rõ lẽ phải và chính nghĩa của Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng ASEAN và các nước trên thế giới. Trong cuộc đấu tranh này, không phải sức mạnh quân sự mà là sức mạnh của lẽ phải, của chính nghĩa và của trí tuệ có sức thuyết phục cao nhất.
  2. Bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia không chỉ là trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của nhân dân, của mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Vì vậy cần thông tin kịp thời, công khai mọi diễn biến tình hình Biển Đông cho nhân dân biết để tạo nên sự đồng thuận và tham gia của toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam.
  3. Lịch sử hàng nghìn năm bảo vệ đất nước cho thấy sức mạnh tiềm tàng lớn lao nhất của dân tộc Việt Nam là sức mạnh của lòng yêu nước, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy hay bị đe dọa, mọi người Việt Nam đều sẵn sàng gạt bỏ lợi ích riêng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết để chung sức bảo vệ đất nước. Chúng ta không bao giờ được quên những tổng kết của tổ tiên như lời Trần Quốc Tuấn, muốn giữ nước phải lo “trên dưới một dạ, lòng dân không lìa”, “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức”, “chúng chí thành thành (ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước)”, lời Nguyễn Trãi “sức dân như nước”, “thuyền bị lật mới thấy dân như nước”…

Sức mạnh quốc phòng rất quan trọng, sự liên kết quốc tế rất cần thiết nhưng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và đoàn kết dân tộc luôn luôn là nền tảng giữ vai trò định đoạt. Vì vậy, nâng cao hiểu biết của nhân dân về quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa trên Biển Đông và cơ sở lịch sử – pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là rất cần thiết và quan trọng. Rất tiếc, cho đến nay, những ấn phẩm nghiên cứu và phổ cập về những vấn đề này còn quá ít, chưa đáp ứng yêu cầu tìm hiểu của nhân dân.

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đang khẩn trương hoàn chỉnh bản thảo để xuất bản một công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng nằm trong mong muốn đóng góp một phần giải quyết nhu cầu này.

(Theo Tạp chí Xưa và Nay số 381, tháng 6/2011)

Hoàng Kim
(Bài tổng hợp)

Tin liên quan:
‘Tôi bất ngờ về hiệu ứng buổi phỏng vấn của đài Phượng Hoàng’
Học giả Việt Nam trả lời truyền hình TQ về Biển Đông
Nói chuyện chuyên đề về chủ quyền biển đảo
Tư liệu biển Đông và đường lưỡi bò

Video nhạc tuyển
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook