Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu trong tôi

CuTruNguyenNgocTriu

“Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu trong tôi” là chùm ảnh và bài viết của Hoàng Kim về Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và  mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”.(*)

BotruongTriuthamdaurong

Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất.

Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông – Lâm – Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ . Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm” .

Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu là một danh nhân lỗi lạc, một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.

Xin dâng nén tâm hương tưởng nhớ Người.

CUỘC ĐỜI CỦA CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU

Cuộc đời của cụ Nguyễn Ngọc Trìu thật hợp với bài thơ “thân phận làm người” và “Nợ quê” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Trìu tác giả tập thơ “Ký ức mưa bay” (NXB Hội nhà văn, 2015) mà Trần Văn Hạc giới thiệu ở Văn học quê nhà. Bậc lão thành Nguyễn Ngọc Trìu chắc không phải là nhà thơ Nguyễn Ngọc Trìu mà đời có một Nguyễn Ngọc Trìu khác. Sách Khôn ngoan vua Solomong không hẳn là của vua Solomong, “Hiểu đời” của Chu Dung Cơ không hẳn là của Chu Dung Cơ. nhưng văn thơ ấy thật hợp và vận vào với con người ấy.

Một thiên lục bát tài hoa.
Lọc trăm thân phận chắt ra… phận đời. …
(Chắt ra phận người)
Đồng ta lúa vẫn xanh rì
Cái nghèo sao cứ trị vì mãi thôi
Về quê chả thấy ai đòi
Ở lâu thêm nữa… nợ dôi ra nhiều
Phận nghèo khó xót càng sâu
Con về trắng nửa mái đầu chưa nguôi.
Gió đồng an ủi xa xôi
Quê cha, đất mẹ một trời bao dung. …
(Nợ quê)

Bậc lão thành Nguyễn Ngọc Trìu thật hợp với vần thơ ấy. Ông sinh ra và lớn lên ở Tiền Hải Thái Bình, danh phận có được là nhờ thân phận và cuộc đời của chính những con người nơi ấy. Thái Bình là đất ‘quê hương năm tấn’ cũng là nơi xẩy ra sự kiện Thái Bình khơi nguồn cho nhiều vấn đề trong Nông nghiệp Việt Nam. Một vị tư lệnh nông nghiệp đi lên từ cây lúa, từ nghề làm vườn và đón nhận danh hiệu 70 năm tuổi Đảng trước đó ít tuần rồi trở về với đất thanh thản nhẹ nhàng.

Con người ấy thật đáng quý.

NGUYỄN NGỌC TRÌU MỘT NHÂN CÁCH LỚN

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu có nhiều câu chuyện đời thường cảm động. Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm chuyên gia khoa học Đất Việt Nam, Cố vấn trưởng Kỹ thuật Quốc tế, Bộ Ngoại giao & Phát triển Canada, nguyên Cục trưởng Cục Khuyến nông & Khuyến lâm, có nhiều năm công tác ở Viện Nông Hóa Thổ Nhưỡng bày tỏ sự kính trọng đối với Cụ qua lời kể: Tôi vừa ở Nha Tang lễ số 5 Trần Thánh Tông về, đông lắm, đặc biệt là những người làm Nông nghiệp là nông dân Thái Bình. Đời biết ơn ông, Dân rất công bằng. Không phải “quan” nào cũng được nhiều người luyên tiếc thế đâu”. “ Những năm 1980s tôi may mắn được tháp tùng Cụ làm việc ở một số nơi. Nhớ một lần đến nông lâm trường ở Hà Tĩnh, vùng biên giới Việt – Lào, bọn phỉ Lào nã pháo sang cả đêm không ngủ được. Ở miệng hầm, Cụ hỏi: “Rừng ở đây thế nào ?”. Tôi đáp: “Phía Tây các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình rừng còn khá nhất Miền Bắc ạ”. “Đất thì sao ?”. “Dạ, có loại tốt nhất Thế giới như bazan Phủ Quì, có loại dễ thoái hóa nhất như đất trên sa thạch ở đây. Đất rừng còn khá, đất nông nghiệp thì thoái hóa nghiêm trọng”. Cụ tiếp: “Các cậu làm khoa học về Đất phải phối hợp với bên Lâm nghiệp giữ rừng. Mất rừng là mất đất. Thử hình dung chỗ này mà đất trống đồi trọc thì dân ăn gì, bộ đội nấp vào đâu !”. Lần khác thăm các nông trường Phủ Quì, ở Đông Hiếu là nông trường dẫn đầu do anh hùng Nguyễn Văn Lang làm giám đốc. Chiều, cụ bảo đi dạo. Quả đồi giáp với xã Nghĩa Thuận mênh mông đất đỏ bazan, leo heo ít cây cà phê…. Cụ hỏi: “Cậu thấy sao ?”. “Thưa anh, đan xen thế này thì trâu bò phá hết, phải hào ngăn, rào chắn rồi mới thâm canh phục hồi cà phê, cao su được”, tôi trả lời kiểu phản ứng của một anh kỹ thuật. Cụ vỗ vai: “Rào gì nổi, dân đói, công nhân đói, tự túc lương thực,… phải sắp xếp lại đất đai”. Hôm sau Cụ chỉ thị nông trường phải bàn bạc với HTX cho dân mượn tạm đất. Ý tưởng ấy sau này trở thành chủ trương rà soát lại quản lý đất đai ở nông lâm trường quốc doanh, mới giảm được lãng phí đất đai và hài hòa mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước và cư dân địa phương”

CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU TRONG MẮT TÔI

Trong mắt tôi. Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là hình ảnh của một người Chú, người Anh lớn nghề nông hiền lành phúc hậu. Trung tâm Hưng Lộc chúng tôi thời ấy làm được hai công trình có ý nghĩa tốt đối với sản xuất nông nghiệp của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam. Đó là tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”. Cụ đã củng Giáo sư Viện trưởng xuống thăm ngay và động viên mà không hề báo trước. Giáo sư Thông nói: “Lịch của Bộ trưởng đi miền Tây nhưng khi nghe Viện báo cáo, Bộ trưởng đã đề nghị lên thăm ngay. Hoàng Kim tranh thủ đưa Bộ trưởng đi thăm đồng cho kịp”.

Sau này, nhiều năm nhìn lại, tôi tâm sự với giáo sư Mai Văn Quyền và phó giáo sư Lê Văn Tố những người có nhiều tâm đắc về Cụ: “Thế hệ của các em thấm thoắt vậy mà đã trãi qua bảy đời Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Em vào đại học, đi bộ đội và trở về học tiếp đại học dưới thời của các cụ Hoàng Anh 1971- 1974, Võ Thúc Đồng 1974-1977, Võ Chí Công 1977-1979. Em bắt đầu vào Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam năm 1980 và liên tục ở Viện 27 năm và trở về giảng dạy và nghiên cứu ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh 8 năm cho tới lúc nghỉ hưu. Sự cống hiến cho khoa học nông nghiệp của thế hệ các em là dưới thời của các cụ Nguyễn Ngọc Trìu 1979- 1987, Nguyễn Công Tạn 1987-1997, Lê Huy Ngọ 1997-2004, Cao Đức Phát 2004- nay. Mỗi Bộ trưởng đều lưu lại dấu ấn riêng của mình tại mỗi thời kỳ, nhưng dấu ấn Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu thật ấn tượng. Em thích tập hợp tư liệu cho tác phẩm “Con đường lúa gạo Việt Nam” nói về con người đất đai và lương thực như sách “500 năm nông nghiệp Brazil” để nhìn nhận và đánh giá sâu sắc hơn dấu ấn nông nghiệp Việt trong lịch sử văn hóa. Trong chuỗi tiến hóa đó, rõ nhất là con người thời của mình đang sống”.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu một nhân cách lớn.

Hoàng Kim

GHI CHÚ
IAS5
(*) THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI. Tấm ảnh quý không nỡ quên. (Hoàng Kim). Nhân vào thăm ‘nhà ảo’ anh Pham Sy Tan anh bất ngờ vì ảnh này và viết: ” Hoàng Kim lôi đâu ra ảnh này vậy. Đẹp quá! Có phải GS. Van Quyen Mai và Dr. Carangal phải không?” Tôi nói: Đúng rồi, anh Tân ! đoàn có GS. Van Quyen Mai (IAS), Dr. Carangal (IRRI) TS Pham Sy Tan (Viện Phó Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long) cùng Hoàng Kim thăm mô hình trồng xen ngô đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ. Sau đó mô hình này là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp ứng dụng trên diện rộng ở Đồng Nai và nhiều tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, được bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu cùng GS Trần Thế Thông xuống trực tiếp đánh giá và khen ngợi. Những câu chuyện và tấm ảnh lưu lạc giữa đời thường, mấy chục năm sau gặp lại để nhớ …


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Advertisements

Bài học cuộc sống

KHÁT KHAO XANH.  Sống đơn giản, yêu thật lòng, quan tâm sâu sắc, hướng đến phía trước. Thực hành chín điều lành quý báu. Đó là bài học sâu sắc cuộc sống.

CHÍN ĐIỀU LÀNH QUÝ BÁU
1) Cười nhiều Giận ít
2) Vui nhiều Lo ít
3) Làm nhiều Nói ít
4) Đi nhiều Ngồi ít
5) Rau nhiều Thịt ít
6) Chay nhiều Mặn ít
7) Chua nhiều Ngọt ít
8) Tắm nhiều Lười ít
9) Thiện nhiều Tham ít

BẠN ƯỚC GẶT GÌ HÔM NAY?

Bạn gieo ích kỷ Bạn gặt cô đơn
Bạn gieo kiêu hãnh Bạn gặt đố kỵ
Bạn gieo mách lẽo Bạn gặt âu lo
Bạn gieo khoác lác Bạn gặt phiền muộn

Bạn gieo lười biếng Bạn gặt tổn hại
Bạn gieo dối trá Bạn gặt ngờ vực
Bạn gieo tham lam Bạn gặt huỷ diệt
Bân gieo tội lỗi Bạn gặt kẻ thù

Bạn gieo thành thật Bạn gặt lòng tin
Bạn gieo lòng tốt Bạn gặt thân thiện
Bạn gieo khiêm tốn Bạn gặt cao thượng
Bạn gieo kiên nhẫn Bạn gặt chiến thắng

Bạn gieo cởi mở Bạn gặt thân mật
Bạn gieo tha thứ Bạn gặt hoà giải
Bạn gieo chịu đựng Bạn gặt cộng tác
Bạn gieo chăm chỉ Bạn gặt thành công
Chăm chín điều lành Bạn thành người tốt.

BÍ QUYẾT SỐNG VUI VÀ HẠNH PHÚC

Nhiều tiền ít tiền, không phung phí là được
Ai phải ai sai, mình không sai là được
Biết ít biết nhiều, làm xong việc là được
Người già người trẻ, mạnh khỏe là được

Người giàu người nghèo, hoà thuận là được
Ông xã về sớm về trễ, miễn về là được
Bà xã cho ăn ít ăn nhiều, miễn sạch, nóng là được
Người xấu người đẹp, có duyên là được
Nhà lớn nhà nhỏ, no ấm là được
Sung túc nghèo nàn, bình an là được
Xe mới xe cũ, chạy được là được

Vui cười không mệt, buồn phiền mới mệt
Yêu thương không mệt, ghen ghét mới mệt
Chân thật không mệt, gian dối mới mệt
Tương ái không mệt, tương tàn mới mệt
Rộng rãi không mệt, ích kỷ mới mệt
Khoan dung không mệt, khó khăn mới mệt
Khiêm nhường không mệt, khoe khoang mới mệt
Mỉm cười không mệt, tức giận mới mệt
Đơn thuần không mệt, phức tạp mới mệt
Chân thành không mệt, giả dối mới mệt
Tương tư không mệt, đơn phương mới mệt
Chung tình không mệt, đa tình mới mệt
Được mất không mệt, tính toán mới mệt
Mệt trí không mệt, mệt tâm mới mệt

“Nếp nhà” của Nguyễn Khải và “Rác” của Luis Fernando Willy Zlata (Brazil) là những tản văn hay. Nếp nhà và Rác đọc chung có nhiều thú vị. Phần cuối của “Nếp nhà” Nguyễn Khải viết: “Tôi đạp xe thong thả dọc đường Phan Đình Phùng bất chợt gặp một ông già khoảng tuổi tôi chạy bộ buổi sáng từ đường Cổ Ngư về. Ông chạy bên kia đường, tôi đạp xe bên này đường, lại có một thằng cha cưỡi xe Dream chạy chậm cùng chiều với tôi. Bỗng thấy hắn hét lên: “Chạy lộn đường rồi! Văn Điển đi lối kia cụ ơi!” Ông già đứng sững lại, thằng cha vừa hét quay mặt lại nhìn tôi nhăn răng cười. Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy! Hàng hóa nhiều tất nhiên rác rưởi phải nhiều chứ nghèo quá, đói quá lấy đâu ra rác“. Phần cuối của “Rác”  Luis Fernando Willy Zlata (Brazil) viết “Lúc ấy, chẳng biết sẽ coi là rác của tôi hay rác của em?“. Chúng ta đã cùng đọc “Nhà giả kim” Kiệt tác của tâm hồn  Ngọc lục bảo Paulo Coelho, nay hãy cùng thú vị đọc “Nếp nhà” và “Rác”.

Hoàng Kim
(Sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu)

NẾP NHÀ

Nguyễn Khải

1

Mỗi lần ra Hà Nội việc đầu tiên là tôi phải tới thăm bà cô tôi. Chẳng có quà cáp gì cả, đến tay không, nhưng vẫn cứ phải đến. Vì bà là cái túi khôn của tôi mà. Năm nay các con bà sẽ làm lễ mừng thọ mẹ tám mươi tuổi. Các cụ nói: Năm mươi tuổi hiểu được mệnh trời. Người tám mươi tuổi lại vẫn minh mẫn, khôn ngoan, không chừng hiểu được cả then máy của Tạo hóa. Nói chuyện với bà tôi vẫn chờn chợn như ngày nào được hầu chuyện cụ Nguyễn. Nghĩa là vẫn phải uốn lưỡi trước khi hỏi, trước khi trả lời. Một ngôi nhà đẹp, một cửa hàng tuyệt vời ngay giữa một đại lộ trung tâm trông thẳng ra hồ Hoàn Kiếm mà chỉ bày bán lèo tèo mấy mặt hàng sơn mài, tượng gỗ thì uổng quá, coi khinh thiên hạ quá. Bà cụ cười: “Anh đã bắt đầu có con mắt thương mại rồi đấy nhỉ?” Con mắt thương mại thì chả dám nhưng với con mắt của người bây giờ thì ngôi nhà, nói cho chính xác hơn là miếng đất, của bà cô tôi cũng phải đáng giá một triệu…, tất nhiên là triệu đô. Cũng chả phải do mình đặt giá mà là đại diện các công ty nước ngoài tới trả giá. Ngày nào cũng có vài nhóm người tới hỏi nhưng bà cụ chỉ nhã nhặn trả lời: “Tôi không có ý định bán hoặc cho thuê cái nhà này.” Cho thuê cũng nhiều tiền lắm. Đã có người hỏi thuê chỉ mấy chục mét vuông của gian ngoài thôi, mỗi tháng trả năm ngàn đô, trên mười cây vàng. Vẫn là không, không bán mà cũng không cho thuê. Tại sao cụ lại gàn thế? Vì các em anh không muốn thế, cho đến hôm nay chúng nó vẫn đi làm cho nhà nước, không buôn bán gì cả, không mánh mung gì cả. Lương tiêu không đủ thì tôi bù. Bán các mặt hàng vớ vẩn như anh nói nhưng mỗi tháng cũng kiếm được khoảng trên dưới dăm triệu. Này, dăm triệu không phải là ít đâu anh nhá! Theo tôi được biết, từ trẻ đến già cô tôi sống theo một số nguyên tắc, thời thế có thể thay đổi nhưng cách sống của bà dứt khoát không thay đổi. Đó là: sống thẳng thắn, sống lương thiện và sống theo pháp luật hiện hành. Những năm Pháp tạm chiếm Hà Nội, chú tôi vẫn mở trường dạy học tư như thời trước, còn cô tôi ấn hành sách giáo khoa cấp tiểu học do chú tôi soạn. Có một tác giả đưa tập thơ “Đồi thông hai mộ” bán cho bà. In tập thơ đó chắc chắn sẽ thu lãi nhiều, bà biết thế nhưng vẫn từ chối. Vì Nhà xuất bản Nguyễn Du do bà chủ trương chỉ in có sách giáo khoa, đúng như trong giấy phép. Năm 56, cán bộ thuế tới kiểm tra kho giấy của bà để đánh thuế tồn kho, khoảng hai chục triệu. Chú tôi tính vốn nhát, vui vẻ bằng lòng ngay. Cho đỡ phiền. Nhưng bà vợ không chịu vì giấy in sách giáo khoa xưa nay không phải đóng thuế. Đã được miễn thuế thì làm gì có thuế tồn kho. Bà bướng bỉnh đến nguy hiểm, ai cũng sợ nhưng bà vẫn thản nhiên: “Lý của mình đúng, việc gì phải sợ”. Quả nhiên bà đúng thật. Bà luôn luôn đúng vì bà rất tỉnh táo trong mọi mối quan hệ, chỉ nhận những gì đáng có, có quyền được có, tuyệt đối không để bị dụ hoặc về tiền bạc cũng như về tình cảm. Một cái đầu hơi lạnh, lắm lúc tôi đã nghĩ về bà như thế. Nói cho ngay, nếu không có cái đầu lạnh làm sao bà giữ nổi một ngôi nhà quá ngon lành, quá quyến rũ trong bấy nhiêu năm, không gặp một chuyện rắc rối nào. Cho đến bây giờ đã sang tuổi tám mươi bà vẫn biết từ chối những đồng tiền rất hợp pháp ắt hẳn phải có một tính toán khôn ngoan nào đó. Cái khôn ngoan cao siêu chứ không phải là khôn vặt.

2

Mùa xuân ở Hà Nội bao giờ cũng đẹp. Với tôi đã nhiều năm không được sống ở Hà Nội vào mùa xuân lại càng thấy đẹp. Một chút lạnh trong hơi gió tạt qua mặt. Một chút mưa bụi bay lây rây như có như không. Trời hơi tối, mặt đường hơi sẫm nhưng mặt người và quần áo rét họ mặc cứ sáng bừng lên những mầu sắc tươi tắn. Đã có mùi son phấn và nước hoa bất chợt thoảng qua ở một góc phố, trong một đám đông. Nói nhỏ đi, cười nhỏ hơn, ít nghe những câu chửi tục, những tiếng đệm tục. Giàu hơn trước nhiều, sang hơn trước nhiều, cứ cho là bề ngoài thì cũng vẫn rất đáng mừng. Chỉ có nhà bà cô tôi là ít thay đổi, hầu như không thay đổi. Vẫn mấy chiếc xe máy đã cũ, và vẫn còn nhiều xe đạp, loại xe đạp cà tàng từ những năm nào. Trời nắng các em đi xe máy, trời mưa đi xe đạp, đỡ phải rửa xe. Ăn mặc của bà cụ, của các em cũng chả có gì sang hơn, như trước đây, ngày trước với Hà Nội đã là sang, bây giờ là quá thường. Bây giờ con gái Hà Nội mặc quần chẽn đen, gót xẻ, có dải buộc dưới bàn chân, mặc măng tô lửng, hoặc đi bít tất đen dài, quần cộc, áo vét trùm qua mông. Đàn ông cũng diện lắm, áo vét tông các kiểu, thắt cà vạt đủ mầu, giầy đen, cứ như họ từ các đại sảnh bước ra. Không phải đâu, chỉ là quần áo thường ngày thôi, cũng giống như trước kia họ mặc áo bông xanh, quần ka ki vàng và đi dép nhựa. Chưa bao giờ tôi thấy người Hà Nội ăn mặc sang trọng như bây giờ. Chưa bao giờ tôi thấy phố xá chói lòa những tủ kính, những bảng hiệu và ánh sáng như bây giờ. Vậy mà một nhà giàu của Hà Nội có dư điều kiện để thay đổi lại không chịu thay đổi. Một đại gia đình gồm hai con trai, hai con dâu, một gái, một rể và những đứa con của họ vẫn sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp ăn. Thiên hạ thì chia ra, bà cụ lại gom vào. Vẫn rất êm thấm mới lạ chứ. Nếp nhà đã thắng được tự do của cá nhân sao? Phải nói thêm, cái nếp nhà này cũng ít ai theo kịp. Người con dâu cả vốn là con gái Hàng Bồ, đỗ đại học, là một cô gái kiêu hãnh, tự tin, không dễ nhân nhượng. Ai cũng nghĩ hai người đàn bà, một già một trẻ, cùng sắc sảo sẽ rất khó chấp nhận nhau. Vậy mà họ ăn ở với nhau đã mười lăm năm chả có điều tiếng gì. Người chị của cô con dâu đến nói với bà cô tôi: “Bác chịu được tính nó thì con cũng phục thật đấy”. Bà cải chính: “Đúng là tôi có phần phải chịu nó nhưng nó cũng có phần phải chịu tôi, mỗi bên chịu một nửa”. Bà bảo, con dâu là vàng trời cho, mình không có công đẻ ra nó, cũng không nuôi nó ăn học ngày nào, bỗng dưng nó về nhận mình là mẹ, sinh con đẻ cái cho dòng họ, cáng đáng mọi việc từ trẻ đến già, không lễ sống nó thì thôi còn hoạnh họe nỗi gì. Bà chiều quý, và tôn trọng các con dâu thật lòng nên cả hai nàng dâu đều tâm sự với mẹ chồng: “Con ở với mẹ còn thoải mái hơn ở nhà với mẹ con”. Con rể và con gái được nhận nhà ở một khu tập thể, nhà chật, lại xa, con còn nhỏ. Nhưng anh con rể không muốn nhờ vả mẹ vợ, tự mình cũng thấy không tiện mà người ngoài nhìn vào càng không tiện. Bà biết thế nên bảo con rể: “Trong cái nhà của tôi có một phòng dành cho vợ anh. Của vợ anh tức là của anh. Cũng như mọi thứ của anh tức là của vợ anh. Chẳng lẽ anh bảo không phải”. Năm ngoái khu phố có yêu cầu bà cụ báo cáo về nếp sống gia đình cho hàng phố học tập. Bà từ chối, khi tôi lại thăm, bà nói riêng: “Cái chuyện ấy ai cũng biết cả, chỉ khó học thôi”. Tôi cười: “Lại khó đến thế sao?” Bà cụ nói: “Trong nhà này, ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao. Anh có học được không?” À, thế thì khó thật. Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống, một quan niệm sống, là nếp nhà, ở trong tay mình, nhưng nhận được ra nó, có ý thức vun trồng nó, lại hoàn toàn không dễ.

3

Trở lại câu chuyện cũ, tại sao bà cụ không chịu bán nhà, chia tiền cho các con để họ lập cơ nghiệp riêng? Lớn rồi thì phải ở riêng, nó thuận lợi với sự phát triển. Con cái đã trưởng thành, vẫn bắt ở chung, ăn chung như trại lính, đâu có phải chuyện tính toán khôn ngoan. Bà cụ nghe tôi nói cười tít cả mắt, ra cái vẻ mọi sự bà đã tính cả rồi, đâu có đợi một thằng nhà văn ngây ngô mách nước. Bà nói, hiện nay các con bà vẫn thích đi làm cho nhà nước bằng cái nghề chuyên môn đã được đào tạo của mình. Ngoài giờ đi làm thì bọn nó đọc sách, dạy con học, bù khú với bạn bè. Họ thích sống như thế và có điều kiện để sống nhàn nhã như thế. Họ không có óc kinh doanh, không có nhu cầu phải kinh doanh. Không cần đến tiền thì không nên một lúc cầm quá nhiều tiền. Đồng tiền do may mắn mà có, do thời thế đổi thay mà có rất dễ là mầm mống của nhiều tai họa. Vì người có tiền chưa kịp học cách tôn trọng đồng tiền, sai khiến đồng tiền. Ở cái nhà này, theo tôi biết, chưa bao giờ họ mua vé số. Cũng không thờ cúng ông thần bà thánh nào, ngoại trừ ngày giỗ để anh em con cháu có dịp gặp gỡ nhau. Họ không cầu gặp may mắn, không săn đón may mắn. Họ chỉ nhận những cái đáng nhận. Bà cụ vẫn đi lễ các chùa miếu đền phủ với bạn bè nhưng bà không khấn. Bà cũng chưa từng xem tướng, xem bói, xin xăm. Ngày chú tôi mất mọi việc hậu sự chỉ một mình cô tôi lo liệu, không hỏi han bất cứ ai, không xem giờ xem ngày gì cả. Việc cưới xin của các con cũng thế. Đưa con gái đi, đón con dâu về tuyệt đối không có xem tháng xem ngày. Trong một lần trò chuyện, bà hỏi tôi: “Anh có phân biệt được người giàu lương thiện và kẻ giàu bất lương không?” “Trong bao lâu?” “Trong một lần tiếp xúc” “Thế thì khó!” Bà bảo, bà vẫn phân biệt được. Những đứa giàu lên do cướp đoạt, lừa đảo nói chuyện một lúc là biết. Bọn họ khinh người rẻ của lắm. Họ không tin một ai cả, càng không tin còn có lòng tốt ở đời. Họ chỉ tin có tiền. Tiền là quân của họ. Một đội quân giặc cướp, sẵn sàng tàn phá tất cả, tiêu diệt tất cả để đạt được những cái đích phù phiếm của chủ nó. Bà nói, bà là người biết quý trọng đồng tiền từ trẻ tới già, nhưng mấy năm gần đây bà lại sợ tiền. Nghe chuyện của thiên hạ mà sợ. Càng ít sờ mó tới tiền càng tốt. Nó có độc đấy! Bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay của bạn bè đếm mãi tiền nhiễm độc lúc nào không hay, sẽ không còn là bàn tay của người nữa. Vì lẽ đó mà bà chưa muốn bán nhà. Các con bà cũng không ỷ eo, nài ép bà phải bán nhà. Thế là may. Nhưng cái may này còn kéo dài được bao lâu? Bà vốn không tin vào sự may rủi. Bà chỉ tin vào sự chuẩn bị của mình, chuẩn bị trong cái khả năng có thể, chứ liệu hết thế nào được những việc của chục năm sau.

4

Bữa tôi sắp trở vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi có lại chào bà. Cũng như mọi lần tôi nói nửa vui nửa buồn: “Mong cô khỏe mạnh mãi để mỗi lần ra, cô cháu mình có dịp bàn chuyện thế sự, văn chương”. Bà cụ cười rất hồn nhiên! “Nếu được sống thêm mươi năm nữa thì vui lắm đấy. Nhưng mà khó”. Vì biết là khó nên ngay từ năm ngoái bà đã làm chúc thư, phòng khi đột nhiên phải ra đi thì các con đã có cẩm nang hành động. Làm chúc thư là khó lắm, sống làm sao chia của làm vậy. Chia khéo thì trai gái dâu rể mãi mãi là con của mình, mãi mãi là anh em ruột thịt của nhau. Chia vụng thì xẻ đàn tan nghé ngay tức khắc, càng đông con cháu càng lắm mối họa. Trước hết bà gặp riêng năm người con của mình vào một buổi, con dâu con rể không được tham dự. Nguyên tắc làm chúc thư của bà là công khai và công bằng, không phân biệt trai gái, trưởng thứ. Tài sản chia làm sáu phần bằng nhau, năm con năm phần, mẹ một phần. Phần của mẹ hoặc gửi ngân hàng, hoặc đem kinh doanh, tùy, số lãi hàng năm lại chia làm sáu. Con trai đầu phải giữ việc hương khói được nhận hai phần. Bốn phần còn lại sẽ bỏ vào một quỹ riêng để chi các việc: Tu bổ nhà thờ, sửa sang phần mộ, góp giỗ tết với các chi khác và cấp đỡ cho bà con nghèo của hai họ nội ngoại. Đồ gỗ và đồ sứ trong nhà thì cho hai con trai. Đồ trang sức của mẹ thì cho ba con gái. Sau buổi họp bà cụ phân công cho con gái lớn viết lại chúc thư làm sáu bản, viết tay không đánh máy, cả sáu người đều ký, mỗi người giữ một bản, có giá trị trước pháp luật. Từ nay bán nhà hay cho thuê nhà bà cụ coi như không biết, đám thừa kế cứ theo nguyên tắc chia sáu mà xử sự. Bà cụ nói xong, nhìn tôi một lúc lâu rồi bà cười rất ý nhị:- Con người ta ai ai cũng có phần thiện phần ác. Muốn dưỡng thiện diệt ác thì trong nhà phải có gia pháp, ngoài xã hội phải có luật pháp. Trong gia pháp có phần truyền thống và danh dự của dòng họ, có phần đạo đức của người trên và nghĩa vụ của kẻ dưới. Gia pháp cũng phải theo thời mà điều chỉnh, quá ngược với thời thế thì con cháu khó theo, quá xu mị thời thế thì bỏ mất gốc rễ. Theo chỗ tôi biết gia pháp của nhiều danh gia vọng tộc ở Hà Nội đang gặp hồi khủng hoảng. Suốt mấy chục năm anh dạy các con anh khinh miệt đồng tiền, lên án tư hữu và những người giàu có đều là phần tử bất hảo. Bây giờ anh tính sao? Bây giờ các con anh đều lao vào kiếm tiền, đều nuôi mộng làm triệu phú tỷ phú trong chớp mắt. Khốn một nỗi chúng lại chưa từng được ai dạy bảo cái cách ăn ở với đồng tiền. Đồng tiền vừa là đày tớ vừa là ông chủ, vừa là bạn đường vừa là giặc cướp, các con anh biết chọn cách nào? Chúng chỉ biết lựa chọn theo trực giác, theo kinh nghiệm tức thì, theo lợi ích trước mắt. Anh nghĩ xem, đã đến thế thì con người và nền văn minh của con người đã bị chúng gạt khỏi mọi sự tính toán rồi.

5

Mấy hôm trước trời ấm nhưng hơi nồm, chỗ nào cũng lép nhép nhầy nhụa đến khó chịu. Đêm như có mưa, hơi nặng hạt thì phải, hạt mưa gõ trên mái ngói nghe rất rõ. Sáng ra tất cả đã ráo khô, mảnh sân trắng toát, hè nhà trắng toát, trời khô và lạnh. Cái lạnh của mùa xuân thật dịu dàng, thở rất dễ, người rất nhẹ, mặc một cái áo len mỏng, khoác thêm một cái áo ngoài, đạp xe ra đường nhìn vào cái gì cũng đẹp. Huống hồ bây giờ Hà Nội lại đang đẹp, mỗi ngày một đẹp ra, trẻ ra. Lắm lúc nghĩ cũng tiếc đã trót đưa vợ con vào sống trong Sài Gòn. Tiếc thì tiếc chứ không thể làm lại được. Một chân đã thõng vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa. Không còn cả thì giờ để ganh ghét, để hờn giận. Chỉ còn đủ thời gian để làm lành, có thua thiệt vẫn cứ nên làm lành. Văn chương làm lành cố nhiên là không hay rồi, thôi kệ, vì cũng chả còn hơi sức đâu gây sự, dầu chỉ là gây sự vặt. Tôi đạp xe thong thả dọc đường Phan Đình Phùng bất chợt gặp một ông già khoảng tuổi tôi chạy bộ buổi sáng từ đường Cổ Ngư về. Ông chạy bên kia đường, tôi đạp xe bên này đường, lại có một thằng cha cưỡi xe Dream chạy chậm cùng chiều với tôi. Bỗng thấy hắn hét lên: “Chạy lộn đường rồi! Văn Điển đi lối kia cụ ơi!” Ông già đứng sững lại, thằng cha vừa hét quay mặt lại nhìn tôi nhăn răng cười. Chớ có ngạc nhiên! Rác của Hà Nội đấy! Hàng hóa nhiều tất nhiên rác rưởi phải nhiều chứ nghèo quá, đói quá lấy đâu ra rác.

Rác
Luis Fernando Willy Zlata (Brazil)

Hai người chạm mặt nhau trong một hành lang công cộng, mỗi người đều xách một giỏ rác trong tay. Đây là lần đầu tiên họ nói chuyện với nhau.
“Chào bà …”
“Chào ông …”
“Có phải bà đang ở phòng 610, phải không?”
“Còn ông thì đang ở phòng 612, phải không?”
“Đúng rồi!.”
“Tôi thực không biết ông chính là …”
“Chẳng phải là …”
“Xin lỗi, tôi đã mạo muội liếc qua giỏ rác của ông …”
“Cái gì của tôi?”
“Giỏ rác của ông ấy mà.”
“Ồ, …”
“Tôi thấy giỏ rác mỗi lần ông đi đổ đều không có nhiều rác lắm. Nhà ông chắc là chỉ có ít người?.”
“Thực tình tôi ở chỉ có một mình.”
“À ra thế! … Tôi thấy ông thường mua đồ hộp về dùng.”
“Đúng vậy, tôi phải tự mình vào bếp, mà tôi lại không biết nấu nướng …”
“Tôi hiểu rồi.”
“Thưa phu nhân, bà cũng là …”
“Xin ông vui lòng dùng chữ “em” để xưng hô cho nó thân mật!”
“Xin em tha thứ cho sự mạo muội của tôi, tôi cũng nhìn thấy rằng trong giỏ rác của em thường có thức ăn thừa, chẳng hạn như món nấm hoặc một món gì đó

.”
“Em rất thích nấu ăn, thường làm nhiều loại món ăn khác nhau, nhưng vì em cũng đang sống một mình, cho nên thường ăn không hết …”
“Thưa phu nhân … À quên, em! Em có gia đình không?”
“Có, nhưng gia đình em không ở đây.”
“Ở Aixibilito Santo phải không?”
“Sao anh lại biết?”
“Giỏ rác của em có những chiếc phong bì gửi từ Aixibilito Santo tới.”
“Vâng, mẹ em tuần nào cũng gửi cho em một lá thư.”
“Bà ấy là một cô giáo phải không.”
“Không thể tưởng tượng nổi! Làm sao mà anh lại nghĩ thế?”
“À, tôi nhìn dòng chữ viết tay trên phong bì, tôi thấy giống nét chữ của một cô giáo.”
“Anh chỉ nhìn thấy một vài phong bì trong giỏ rác mà có thể đoán ra điều đó ư?”
“Đúng như thế!”
“Có một ngày, anh đã ném đi một bức điện đã nhàu nát phải không?.”
“Đúng thế.”
“Chắc là anh có tin gì không hay phải không?”
“Cha tôi đã qua đời.”
“Em xin chia buồn cùng anh.”
“Ông ấy đã rất già, sống ở miền Nam, đã lâu lắm rồi tôi không được gặp ông ấy.”
“Vì thế cho nên sau đó anh đã bắt đầu hút thuốc phải không?”
“Làm sao mà em biết được?”
“Gần đây giỏ rác của anh thường có các vỏ bao thuốc lá đã vò nát .”
“Đúng như vậy đấy! Nhưng tôi đã bỏ thuốc lá rồi.”
“Cảm ơn Chúa, em không bao giờ hút thuốc lá cả.”
“Điều này tôi đã hiểu, nhưng tôi lại thấy một vài vỏ lọ thuốc trong giỏ rác của em …”
“Thuốc an thần đấy. Em có uống thuốc an thần một thời gian, bây giờ thì đã ổn rồi.”
“Em và bạn trai đã chia tay nhau rồi, đúng không?”
“Chẳng lẽ điều này cũng phát hiện ra từ giỏ rác ư?”
“Trước tiên, em vứt một bó hoa và một danh thiếp, sau đó còn có vài khăn giấy nữa.”
“Đúng thế, sau đó em đã khóc rất đau khổ, và bây giờ thì mọi chuyện đã qua rồi.”
“Nhưng hôm nay lại có một vài khăn giấy nữa.”
“Em bị cảm lạnh đấy mà.”
“Ồ! Thì ra là như thế!”
“Trong giỏ rác của anh thường có tạp chí Du lịch phải không?.”
“Đúng thế, không sai tí nào. Tôi chỉ thích ở nhà, không thích đi ra ngoài, em có biết là tại sao không?”
“Ở nhà cùng bạn gái chăng?”
“Không phải đâu!”
“Tuy nhiên, một vài ngày trước, trong giỏ rác của anh, có ảnh một người phụ nữ, chị ta trông khá đẹp đấy chứ!”
“Ấy là lúc tôi dọn dẹp đồ đạc trong tủ, tôi liền đem quẳng nó đi, chuyện đã cho vào dĩ vãng ấy mà.”
“Anh không xé cái ảnh đi, chắc là trái tim của anh vẫn có chút hy vọng cô ấy trở lại phải không?”
“Em đã phân tích giỏ rác một cách toàn diện đối với tôi.”
“Giỏ rác của anh thực sự đã làm em muốn quan tâm, em không phủ nhận điều đó.”
“Thật thú vị, có một lần nhìn giỏ rác của em, tôi nghĩ rằng tôi thực sự mong muốn hiểu về em. Có lẽ là sau khi thấy em làm thơ.”
“Cái gì cơ? Anh đã đọc thơ của em?”
“Không chỉ đọc thôi mà còn thích nữa là đằng khác.”
“Em làm thơ chả ra gì đâu!”
“Nếu em thực sự nghĩ rằng em viết những vần thơ không hay lắm thì xé bỏ nó đi. Nhưng trên thực tế, em lại xếp rất ngay ngắn.”
“Nếu em mà biết anh sẽ đọc những vần thơ ấy …”
“Tôi không nhớ những bài thơ của em, bởi vì tôi nghĩ rằng hành vi ấy gần như là trộm cắp, mặc dù ngay cả bản thân tôi cũng không rõ lắm, rác của người khác dù thế nào vẫn là sở hữu riêng.”
“Theo quan điểm của em thì không coi là như thế. Đã là rác thì là sở hữu công cộng rồi.”
“Đúng thế! Rác có thể tiết lộ cuộc sống riêng tư của của một người, có thể kết hợp các phần còn lại trong cuộc sống riêng tư của một người khác với phần còn lại trong cuộc sống riêng tư của chúng ta với nhau. Nó là chiếc cầu nối liền tình cảm, làm cho người với người hiểu nhau hơn, nó là một phần có tính xã hội trong cuộc sống chúng ta, có phải không em? ”
“Đúng thế anh ạ, anh đã phân tích quá sâu về giỏ rác, em nhận thấy rằng …”
“Hôm qua, trong giỏ rác của em …”
“Cái gì cơ?”
“Nếu tôi nói không nhầm, thì trong giỏ rác của em có tôm khô.”
“Anh nói đúng đấy, em đã mua một ít tôm khô bóc vỏ rồi.”
“Tôi rất thích ăn thứ này.”
“Em đã mua về, nhưng lại không ăn …Hay là chúng mình….”
“Cùng ăn bữa tối phải không?”
“Hoàn toàn đúng như vậy!”
“Việc này sẽ làm cho em thêm rắc rối đấy.”
“Chẳng có bất kỳ rắc rối nào đâu.”
“Sẽ làm cho phòng bếp của em lộn xộn ra đấy.”
“Không sao đâu, chỉ một lát là thu dọn gọn gàng ngay ấy mà, sau đó bỏ vào giỏ rác mang đi đổ đi xong.”

“Lúc ấy, chẳng biết sẽ coi là rác của tôi hay rác của em?”

PHẠM THANH CẢI dịch từ bản triếng Trung


Anh Trọng Tùng vừa gửi mấy bức ảnh đẹp

NHỮNG LOẠI HOA LAN KỲ DỊ.
L’orchidée tête de singe (Dracula simia)

> > > > > > > > >
L’orchidée homme nu (Orchis italica)

> > > > > > > > >
La fleur « lèvres de prostituée » (Psychotria elata)

> > > > > > > > >
Des danseuses (Impatiens bequaertii)

> > > > > > > > >
L’orchidée bourdon rieur (Ophrys bomybliflora)

> > > > > > > > >

> > > > > > > > >
Des bébés dans les langes (Anguloa uniflora)

> > > > > > > > >
La fleur perroquet (Impatiens psittacina)

> > > > > > > > >
La fleur tête de mort (Antirrhinum)

> > > > > > > > >
L’orchidée canard volant (Caleana major)

> > > > > > > > >
Des extraterrestres heureux (Calceolaria uniflora)

> > > > > > > > >
L’orchidée colombe (Peristeria elata)
> > > > > > > > >
Une orchidée qui ressemble à une danseuse étoile
> > > > > > > > >
L’orchidée aigrette blanche (Habenaria radiata)

> > > > > > > > >
La fleur Dark Vador (Aristolochia salvadorensis)

Chúc ngủ ngon
và ngày mới vui vẻ. …

Hoàng Kim
Sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn

Ngọc phương Nam: Bạn ước gặt gì hôm nay?
Học mỗi ngày, Bài học sâu sắc của cuộc sống

Video yêu thíchSuối Mường Hum còn chảy mãi. http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con