Thung dung dạy và học

THUNG DUNG DẠY VÀ HỌC
Hoàng Kim

Thầy nghề nông chiến sĩ
Cây Lương Thực Việt Nam
Thung dung Dạy và Học
Hoa Đất Ngọc phương Nam

Lên Trúc Lâm Yên Tử
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Đồng xuân lưu dấu hiền .

Lời dặn của Thánh Trần
Lời thề trên sông Hóa
Lê Quý Đôn tinh hoa
Lên Thái Sơn hướng Phật

Đi bộ trong đêm thiêng
Sự chậm rãi minh triết
Vui sống giữa thiên nhiên
Vui đi dưới mặt trời

Về miền Tây yêu thương
Đến với Tây Nguyên mới
Về với vùng cát đá
Ai tỏ Ngọc Quan Âm

Nông nghiệp sinh thái Việt
Việt Nam con đường xanh

CHUYỆN ĐỜI TÔI
Hoàng Kim


Suốt đời chuyên một việc
Cây Lương Thực Việt Nam
Thung dung Dạy và Học
Hoa Đất Ngọc Phương Nam

Nhớ Thầy Tôn Thất Trình
Chiếc bàn Thầy lưu lại
Góc phải nhà chữ U
“Dĩ nông vi bản ” đấy.

Tới thầy Lê Minh Triết
Giảng dạy ba mươi năm
Cây Lương thực Việt Nam
Hoàng Kim vui về đấy

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay

Bố hưu con về dạy (*)
Hoàng Long nối nghiệp nhà
Cùng thầy hiền bạn quý
Chăm đất lành nở hoa

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng(*)

Hoàng Kim đã cập nhật ảnh đại diện của anh ấy. 19 tháng 3, 2011 lúc 23:44 ,Cám ơn Face Book đã lưu ảnh ngày này năm xưa, Hoang Long nay vui về đấy, tiếp nối dạy và học Cây Lương thực — tại Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM

xem tiếp http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-20-thang-3https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-31-thang-3/

MINH TRIẾT CHO MỖI NGÀY. Tâm tĩnh lặng an nhiên. Có một kiểu người cả đời chẳng hề già đi, năm tháng dường như đã lãng quên họ. Cái già đi chỉ là tuổi tác, còn khí chất và thần thái là không hề thay đổi. Tất cả là bởi họ có trên mình những điều rất đặc biệt . https://youtu.be/zCFGN2XT54E

MINH TRIẾT CHO MỖI NGÀY
Hoàng Kim

Minh triết sống phúc hậu Tâm tĩnh lặng an nhiên. Một gia đình yêu thương Chín điều lành hạnh phúc Minh triết cho mỗi ngày https://youtu.be/zCFGN2XT54E Cuộc đời như mắt trong. Mắt thứ nhất soi mình, tâm nguyện mình yêu thích. Mắt thứ hai soi người. Người thân thầy bạn quý. Mắt thứ ba tuệ nhãn. Ánh sáng soi tâm hồn. Sức khỏe và tình yêu. Lao động và nghĩ ngơi Điều độ và hài hòa An nhiên vui khỏe sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-cho-moi-ngay/

XUÂN MÃN
Hoàng Thanh Luận


Cảnh vật đa màu sắc đổi thay
Diệu kỳ biến ảo nắng hong đầy
Tơ trời vương vấn dăng sương bạc
Muông thú hò hẹn đậu kín cây
Trình tự nhịp nhàng đua tiếng hót
Đua tranh sau trước cố tô bày
Cà phê bạn đợi vui bao chuyện
Xuân mãn hè sang chỉ sải tay

Thầy bạn trong đời tôi. Hoàng Kim chúc mừng thầy Bùi Cách Tuyến và quý Thầy Cô của Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường: Cô Lê Thị Diệu Trang (Phó Viện trưởng phụ trách), Cô Phùng Võ Cẩm Hồng, Thầy Huỳnh Văn Biết (Phó Viện trưởng), Thầy Nguyễn Bảo Quốc (GĐ Thư viện) và Thầy Phạm Đức Toàn (Phó Trưởng phòng Sau Đại học). Các Thầy Cô vừa được bổ nhiệm cho nhiệm kỳ 2020-2025. 30/3/2021 Hoàng Kim góp vui bài thơ ngày giao mùa

HÈ SANG
Hoàng Kim


Xuân mãn hè sang cảnh đổi thay
Thanh minh tiết lớn phước đong đầy
Trời thay biển động mưa lam gió
Đất lành chim đậu nắng xanh cây
Đêm xuân nhẹ nhỏm vui ngon giấc
Ngày hè thanh thản khỏe phô bày
Tâm tĩnh lặng an nhiên 1 phúc hậu
Thung dung dạy và học2 tầm tay

HÈ SANG
Hoàng Kim


Xuân mãn hè sang cảnh đổi thay
Thanh minh tiết lớn phước đong đầy
Trời thay biển động mưa lam gió
Đất lành chim đậu nắng xanh cây
Đêm xuân nhẹ nhõm vui ngon giấc
Ngày hè thanh thản khỏe phô bày
Tâm tĩnh lặng an nhiên 1 phúc hậu
Thung dung dạy và học2 tầm tay

1. https://youtu.be/zCFGN2XT54E
2. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thung-dung-day-va-hoc/

Cảm ơn cậu Hoàng Thanh Luận thơ XUÂN MÃN , cháu Hoàng Kim họa đối HÈ SANG và xin phép tích hợp về chung trang viết https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thung-dung-day-va-hoc/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) – Thanh Thúy

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Advertisement

Tâm tĩnh lặng an nhiên

TÂM TĨNH LẶNG AN NHIÊN
Hoàng Kim

Minh triết đời người là yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Niềm tin thắp lên nghị lực
Yêu thương mở cửa thiên đường.

Minh triết sống phúc hậu Tâm tĩnh lặng an nhiên. Một gia đình yêu thương Chín điều lành hạnh phúc Minh triết cho mỗi ngày https://youtu.be/zCFGN2XT54E Cuộc đời như mắt trong. Mắt thứ nhất soi mình, tâm nguyện mình yêu thích. Mắt thứ hai soi người. Người thân thầy bạn quý. Mắt thứ ba tuệ nhãn. Ánh sáng soi tâm hồn. Sức khỏe và tình yêu. Lao động và nghĩ ngơi Điều độ và hài hòa An nhiên vui khỏe sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-cho-moi-ngay/

1

GIẤC MƠ LÀNH YÊU THƯƠNG

nhắm mắt lại đi em
để thấy rõ giấc mơ hạnh phúc
trời thanh thản xanh
đêm nồng nàn thở
ta có nhau trong cuộc đời này
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương

nhắm mắt lại đi em
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh

nhắm mắt lại đi em,
tận hưởng thú an lành.

Nhắm mắt lại đi em
Giấc ngủ ngoan
giấc mơ hạnh phúc
Em mãi bên anh,
Đồng hành với anh
Bài ca yêu thương
Bài ca hạnh phúc
Giấc mơ lành yêu thương

Nhắm mắt lại đi em
Giấc mơ cuộc đời
giấc mơ hạnh phúc
ngôi nhà tâm thức
Giấc mơ lành yêu thương
Có cánh cửa khép hờ
Có bãi cỏ xanh non.
Đất nước cây và hoa
Một khu vườn tĩnh lặng.
Chim sóc chó mèo gà
luôn quấn quýt sớm hôm.
Ban mai ửng
nghe chim trời gọi cửa.
Hoàng hôn buông
trăng gió nhẹ lay màn.
Ta về với ruộng đồng
Vui giấc mơ hạnh phúc
Vui một giấc mơ con
Hoa Lúa Hoa Người Hoa Đất 
Giấc mơ lành yêu thương.

2

HÌNH NHƯ
Hoàng Kim

Hình như xuân về trước ngõ
Hình như mưa bụi ngập ngừng
Hơi đông vẫn còn se lạnh
Mà chồi non đã rưng rưng …

Hạnh phúc sao mà giản dị
An nhiên vui với mỗi ngày
Ríu rít nghe chim gọi tổ
Nồng nàn hương mít thơm cây …

Hoa Lúa quyện vào Hoa Đất
Giấc mơ hạnh phúc bình an
Ngắm gốc mai vàng trước ngõ
Thời gian lắng đọng người hiền.


3

Minh triết về TỈNH THỨC
Thiên hà trong vắt khuya
Tỉnh thức lên Thái Sơn
Thung dung ngủ cội tùng
Chiếu đất ở Thái An

TỈNH THỨC
Hoàng Kim
thơ đề ảnh Kenny Rogers‘s photo.


thiên hà trong vắt khuya
chuyển mùa
tự nhiên tỉnh
ta ngắm trời, ngắm biển
chòm sao em.
vầng sáng anh,
dưới vòm trời lấp lánh
khoảnh khắc thời gian
thăm thẳm
một tầm nhìn.

(GET UP
clear late galaxies
transfer season
natural awakening
I watch the sun, watching the sea
watching the constellations.
glow from where he
under the sparkling sky
moment of time
chasms
a vision).

4

CHIẾU ĐẤT Ở THÁI AN
Hoàng Kim


Tỉnh thức lên Thái Sơn
Thung dung ngủ cội tùng
Chiếu đất ở Thái An
Đêm thiêng chào ngày mới

Ai uống rượu Hàm Hanh
Lòng tưởng nhớ Lỗ Tấn (*)
Ta mang rượu Thái Sơn
Ngon xách về chẳng dễ

“Núi cao ta trồng
Đường rộng ta đi
Tuy đích chưa đến
Nhưng lòng hướng về”


Lên Thái Sơn hướng Phật
Về ngủ bên cội tùng
Trải một cơn gió bụi
Thoáng chốc ba mươi năm

THÁI AN NÚI THÁI SƠN

Thái An là nơi trung tâm quần thể du lịch Thái Sơn. Tôi xách rượu Thái Sơn và khoai lang Hoàng Long (hình) định mang về Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh để làm quà cho thầy bạn quý. Trong ảnh phía sau lưng tôi là gốc tùng nơi Hoàng Long và tôi đã nằm ngủ suốt đêm qua ngoài trời vì không thể thuê được nhà trọ. Trung Quốc luật lệ hiện thời yêu cầu khách ngoại quốc phải ngủ ở những khách sạn được phép tiếp nhận người nước ngoài nên người lái xe taxi tuy đã cố gắng chạy lòng vòng tìm kiếm suốt hơn 90 phút nhưng vẫn không thể giúp được. Tôi sau khi lên ga Thái An của đường sắt cao tốc Sơn Đông Bắc Kinh về cửa khẩu sân bay thì món đặc sản quý giá rượu Thái Sơn lại không được mang về. Mặc dầu chúng tôi có đầy đủ phiếu hàng giấy tờ cần thiết nhất để minh chứng rượu được mang đi chứ không phạm lỗi ‘mang chất lỏng lên máy bay’. Tôi đã cố gắng hết sức giải thích tôi là thầy giáo nông học Việt Nam từng tới Sơn Đông từ thuở xưa ba mươi năm trước và nay thăm lại chốn cũ, nhưng vẫn không thể mang rượu về. Tôi đã tặng lại số quà này cho các bạn hải quan ở cửa khẩu bên đó.

Tấm hình này là Giáo sư viện sĩ Zhikang Li nhà di truyền chọn giống cây trồng hàng đầu Trung Quốc, IRRI và Thế giới, nhà khoa học chính của Dự án IRRI Green Super Rice GSR với Phó Giáo sư Tiến sĩ Tian Qing Zheng là Trưởng nhóm nghiên cứu GSR vùng Châu Á và Châu Phi, quản lý nguồn gen lúa gạo GSR của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, Bắc Kinh, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.  Tôi đã tâm đắc nói với thầy Li và thầy Zheng: “Khoai Hoang Long, Lúa Siêu Xanh, Núi Thái Sơn là ba điểm đến yêu thích nhất của tôi tại đất nước Trung Hoa“. “Tôi bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu của mình bằng giống khoai Hoàng Long và lấy tên khoai Hoàng Long đặt tên cho con trai Hoang Long của mình. Con trai tôi bắt đầu sự nghiệp của cuộc đời con bằng lúa siêu xanh, học và sau 9 năm làm việc cùng hai Thầy nay đã thành tựu. Hai cha con tôi trước khi về nước sẽ lên núi Thái Sơn hướng Phật đêm trăng rằm Phật Đản 2018 ở đất nước Trung Hoa”.

Thái An núi Thái Sơn, tôi lưu lại hình ảnh và câu chuyện suy ngẫm về chuyến đi Lên Thái Sơn hướng Phật, một sự lắng đọng tiếp nối Giống khoai lang Hoàng Long

Tôi có 17 ghi chú nhỏ (Notes), mỗi ghi chú là một đường link, được chép chung trong bài “Lên Thái Sơn hướng Phật” ghi lại TRUNG QUỐC HỌC TINH HOA, là những ký ức về các chuyến du khảo Trung Hoa của đời tôi tạm coi là một nhận thức luận của riêng mình. Ngoài ra còn có bài nghiên cứu lịch sử Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình. Trung Quốc có nhiều nơi hiểm trở, núi cao vọi và sông vực sâu thẳm quanh co, hạng người có đủ cả chí thiện và cực ác, gợi nhớ Nguyễn Du trăng huyền thoại, nay xin lần lượt chép tặng bạn đọc.

LÊN THÁI SƠN HƯỚNG PHẬT Hoàng Kim và Hoàng Long Đường trần thênh thênh bước/ Đỉnh xanh mờ sương đêm/ Hoàng Thành Trúc Lâm sáng/ Phước Đức vui kiếm tìm/.Lên Thái Sơn hướng Phật/ Chiếu đất ở Thái An/ Đi thuyền trên Trường Giang/ Nguyễn Du trăng huyền thoại/ Khổng Tử dạy và học/ Đến Thái Sơn nhớ Người/ Kho báu đỉnh Tuyết Sơn/ Huyền Trang tháp Đại Nhạn/ Tô Đông Pha Tây Hồ/ Đỗ Phủ thương đọc lại/ Hoa Mai thơ Thiệu Ung/ Ngày xuân đọc Trạng Trình/ Quảng Tây nay và xưa/ Lên đỉnh Thiên Môn Sơn/ Ngày mới vui xuân hiểu/ Kim Dung trong ngày mới/ Trung Quốc một suy ngẫm

5

Minh triết về ĐỨC TIN

nguyenhienle

Suy nghĩ về câu Mác trả lời con gái: – Câu châm ngôn mà cha yêu thích? – Nghi ngờ tất cả. Cụ Nguyễn Hiến Lê sao sáng: viết trên trang đầu của sách Khổng Tử của chính Cụ Nguyễn biên soạn năm 1991. “Triết thuyết nào cũng chỉ để cứu cái tệ của một thời thôi. Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó giải quyết được những vấn đề của thời đó không, có là một tiến bộ so với các thời khác, một nguồn cảm hứng cho các thời sau không. Và nếu sau mươi thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi” Điều ấy suy rộng ra có nghĩa là Đánh giá người nào việc gì cũng cần phải thấu suốt sự thật lịch sử cụ thể Con người tự do được hoài nghi tất cả, đó là nền tảng của một xã hội văn hóa. Nguyễn Hiến Lê (1912–1984) là nhà giáo, nhà văn, học giả, dịch giả, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Ông là người được giới trí thức và nhân dân lao động kính trọng vì nhân cách cao qúy, cuộc sống thanh bạch, học vấn uyên bác và hiệu qủa lao động hiếm thấy. Trong “Lời mở đầu” tác phẩm “Đời viết văn của tôi” Nguyễn Hiến Lê đã viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ học và viết. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời. Tôi viết để học và học để viết”. Nguyễn Hiến Lê trí tuệ bậc Thầy, ngọn đèn văn hóa, sao sáng trời Nam. Cuộc đời và di sản của Nguyễn Hiến Lê là mẫu mực nhân cách người hiền còn mãi với thời gian.

Nguyễn Trọng Tạo nhịp đồng dao Bài tham luận của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đọc tại Liên hoan văn học ASEAN lần thứ 2, Indonesia: “Chủ nghĩa tiêu dùng với tác phẩm văn học”. Đó là tuyên ngôn văn chương sau cùng và hay nhất của anh, mà những người lính chiến trường và các bạn hữu, người thân của anh ở mũi nhọn của trận tuyến dân trí, không thể không đọc lại và suy ngẫm: “… Vấn đề quan trọng là nhà văn có tin những điều mình viết ra là sự thật, là nhân văn, là hấp dẫn người đọc và dẫn dắt tâm hồn, tư tưởng của họ hay không. Đó là điều không dễ dàng. Tôi cũng đã nhiều lần nghiền ngẫm về điều đó. Tin hay không tin? Và tôi đã viết nó thành bài thơ “Tin thì tin không tin thì thôi”. Tôi xin đọc bài thơ này thay cho lời kết thúc bài phát biểu của mình:

TIN THÌ TIN KHÔNG TIN THÌ THÔI
Nguyễn Trọng Tạo

bốn lăm bậc thời gian dốc ngược
tôi đã vượt qua
em cách một sợi tơ
tôi đã không qua được
tin thì tin không tin thì thôi
tôi đã tới hang động yến sào tôi đã thèm ăn yến
vậy mà chưa được nếm bao giờ
hàng quốc cấm
nghe nói từ xưa làm vua sướng lắm
mà đôi khi tôi cũng sợ làm vua
tin thì tin không tin thì thôi
có anh hề đã nói với tôi
– đời thằng hề buồn lắm anh ơi
và tôi đã khóc
tin thì tin không tin thì thôi
nhưng tôi người cầm bút, than ôi
không thể không tin gì mà viết.
tin thì tin không tin thì thôi!

1991

“… it is important whether the writer believes what he wrote are truth, are human, are compelling to the reader and guide their soul and their thought or not. This is not easy. I also have mulled several times about it. Believe it or not? And I wrote the poem “Believe or don’t believe it’s alright.” I would like to read this poem as my closing words:

BELIEVE OR DON’T BELIEVE IT´S ALRIGHT

forty-five steps of time upside down
I have overcome
you are just a fine line of silk away
I have not overcome
believe or don’t believe it’s alright
I have come to the bird’s cave, I have longed to eat the bird’s nest
but I have not tasted
the national forbidden food
I have heard from old time it’s great to be king
but sometimes I am afraid to be king
believe or don’t believe it’s alright
there is a clown who told me
– a clown’s life is so sad, my brother
and I have cried
believe or don’t believe it’s alright
but me, a writer, oh dear
I can’t write without belief.
Believe or don’t believe it’s alright!
1991

Poet Nguyen Trong Tao
(Vietnam)

6

Minh triết về THIỀN ĐỘNG

TÂM TĨNH LẶNG AN NHIÊN
Hoàng Kim
Minh triết sống phúc hậu Tâm tĩnh lặng an nhiên. Một gia đình yêu thương Chín điều lành hạnh phúc Minh triết cho mỗi ngày https://youtu.be/zCFGN2XT54E Cuộc đời như mắt trong. Mắt thứ nhất soi mình, tâm nguyện mình yêu thích. Mắt thứ hai soi người. Người thân thầy bạn quý. Mắt thứ ba tuệ nhãn. Ánh sáng soi tâm hồn. Sức khỏe và tình yêu. Lao động và nghĩ ngơi Điều độ và hài hòa An nhiên vui khỏe sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-cho-moi-ngay/


Giáo sư Kazuo Kawano nói tại bài viết Sắn Việt Nam hôm nay và mai sau (Cassava and Vietnam: Now and Then) : “My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap. I might be a little too positively partial to those friends of mine. Nevertheless, I have a similar feeling toward some of my colleagues in Rayong, Thailand and Nanning, China to count a few. During the two decades of post-war Japan, we seem to have many Japanese of this category as well.” (Mười năm cộng tác chặt chẽ của tôi với các đồng nghiệp chọn giống sắn Việt Nam vào những năm 1987-1997 và cuộc hội ngộ với họ trong chuyến đi này đã thay đổi hoàn toàn đánh giá của tôi về người Việt Nam. Bằng chứng là một loạt các báo cáo của tôi ở đây, họ cần cù, sâu sắc, ân cần và năng động, như thể để thi đua Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi có thể là một phần quá tích cực với những người bạn của tôi. Tuy nhiên, tôi có một cảm giác tương tự đối với một số đồng nghiệp của tôi ở Rayong, Thái Lan và Nam Ninh, Trung Quốc. Trong hai thập kỷ Nhật Bản sau chiến tranh, chúng ta dường như có nhiều người Nhật thuộc loại này)

THIỀN ĐỘNG
Hoàng Kim


Ngày xuân đọc Trạng Trình
Học Thái Ất Thần Kinh
Đùa vui cùng Thuận Nghĩa
Tiếu ngạo với Lan Hoa

*

Học Thái Ất Thần Kinh

Ta về lại thăm rừng xưa Thuannghia
Chuyện cùng Lão Phu đàm đạo Thần Thông
Thập nhị nhân duyên mười hai tuyệt kỹ
Khả năng thích nghi năng lực siêu phàm

Tha tâm thông hiểu hành vi người khác
Thiên nhãn thông nhìn thấu suốt nơi xa
Thiên nhĩ thông nghe những lời kín tiếng
Khinh công thông nhanh gió dục mây vần

Thủy thượng phiêu lướt bay trên mặt nước
Tâm thức chuyển di thoắt ở thoắt về
Huyền nhiệt luyện ngọn lửa thiêng Tam muội
Lôi hỏa điện thân phát điện ngàn vôn

Thiết bố sam luyện mình đồng, thân sắt
Sư tử hống tiếng gầm chúa sơn lâm
Truyền âm nhập mật thâm sâu thấu tỏ
Năng lực thích nghi bí ẩn sinh tồn

Ta chợt thấu những chuyện đời khó giải
Tình thế Biển Đông tiến thoái lưỡng nan
Mèo vờn chuột thuận thiên và kế hiểm
Bức tranh nhân gian thiện ác khó bàn.

*

Đùa vui cùng Thuận Nghĩa

Ta về lại rừng xưa cùng Thuannghia
Gặp Lão Phu múa gậy dưới trăng rằm
Thuận thời Càn Khôn, Hàm Hằng chính đạo
Kí Tế xong rồi, Vị Tế chưa xong …

Thích Tiếu Ngạo Giang Hồ qua bể ái
Cưỡi hạc tung tăng chơi chốn Bồng Lai
Thung dung cuộc đời, thảnh thơi trời đất
Vô sự an nhàn sống giữa thiên nhiên.

Thích cùng lão
dạo chơi VÔ PHƯƠNG CÚ
Dấu chân hoang
Thong thả lạc non ngàn
Chẳng e ngại chông chênh hay tâm bão
Bởi tâm hồn tĩnh lặng thật an nhiên

Hoa của Đất
duyên may còn sức khỏe
Nẻo Âm Dương xin Bụt ước ba điều
Con và cháu
thêm ba nguồn trí huệ
Ngọc cho đời
Thành Phước Đức cho Dân

Tâm an định
nên lòng không vướng bận
trí an hòa xử thế thật thung dung
khi kho báu
trong lòng ta đã rõ
chẳng Ưu Tư mặc gió dục mây vần

dẫu như vậy
đôi khi bâng khuâng hỏi
cửa Thần Phù
khéo giữ trọn đường tu
lênh đênh nước
lênh đênh con thuyền nhỏ
chốn nhân gian ước được thế nhân phù.

những lúc ấy
mới hay duyên tiền định
trong thâm tâm
mới tỏ sự luân hồi
luật Nhân Quả
lật Sách Trời gạn hỏi
Mới hiểu đời học mãi vẫn chưa thôi

Vô Phương Cú
Câu thơ thần tĩnh lặng
Vòm trời xanh
thăm thẳm một thinh không
Ta chợt ngộ
Ban mai chào trước ngõ
Bình minh lên
Trời đất thật VÔ CÙNG…

*

Tiếu ngạo với bạn hiền

Nhớ hôm trước qua rừng thiêng cổ tích
Gặp bạn hiền chuỗi ngọc kết Càn Khôn
Đá năng lượng người tâm thành trao tặng
Lịch Việt Thường ta phước đức dùng luôn.

Nhậm Thái Ất trung cung kỳ Ngũ Phúc
Tâm Thần Cơ địa ất đại du Cầm
Vui nhị thập nhân duyên theo nghề ruộng
Mừng thời trời tiết khí lịch nhà nông.

Luân xa mở những điều hay đáng học
Minh triết mỗi ngày, con mắt thứ ba
Dạy và học suốt đời chăm chí thiện
Thái Ất Thần Kinh Thiên Địa Nhân Hòa



Còn nữa…


See more…
Những thay đổi gần đây trong ngành sắn Việt Nam
Chọn giống sắn kháng CMD
Sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển bền vững

Chọn giống sắn Việt Nam
Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em

Giúp bà con cải thiện mùa vụ

Quà tặng cuộc sống yêu thích

Vietnamese food paradise

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Tỉnh lặng với chính mình

TỈNH LẶNG VỚI CHÍNH MÌNH
Hoàng Kim


Tĩnh lặng với chính mình chỉ dẫn cho ta bí quyết thiết yếu của tâm thế tỉnh lặng, an nhiên tự tại, thung dung, sự thực hành thiền định sâu. Ta chạm đáy sự thật, về nơi tịch lặng, đến chốn thung dung thấu hiểu sự sống.

Khi đối thoại với người Thầy thiền định lỗi lạc, ta đi vào thế giới tịch lặng, Năng lượng tích tụ và giải phóng giúp ta về trong tịch lặng, xuống đáy địa ngục, đối diện sinh tử, lạc vào thế giới vô thức, khác thế giới thường nhật, trút bỏ toàn bô bận tâm, lo âu phiền muộn, danh vị chức phận, không trò chuyện, không điện thoại, không email, chỉ với nổ lực duy nhất là bảo tồn sự sống.

Xả năng lượng là bài học vô giá.
Giải phóng năng lượng con người
Lời Phật dạy Từ Bi Hỷ Xả
Cười là Xả. Buông bỏ là Xả.

Vất bỏ ngoài tai mọi chuyện đời
Lòng không vướng bận, dạ an thôi … (1)
Năng lượng giải phóng cần sáng tạo và vô hại.
Thiền giúp bạn trút bỏ gánh nặng.

Năng lượng tích tụ là hiểm họa tiềm ẩm:
Năng lượng biển tích tụ gây nên sóng thần.
Năng lượng trời tích tụ gây nên bão.
Năng lượng người tích tụ gây nên cách mạng xã hội.

Người trầm cảm u uất dễ stress.
Hồ tích nhiều nước dễ vỡ bờ.
Đồng cỏ khô hạn dễ bắt lửa.
Xã hội kiểm soát chặt dễ kích động.

Tỉnh lặng với chính mình
(1) Tâm sự với Thiền sư  Lòng không vướng bận dạ an thôi, thơ Hoàng Trung Trực

Bay ngay dem tinh lang

Ký ức bảy ngày đêm tĩnh lặng
Đời người là một chuỗi trãi nghiệm.
Trãi nghiệm sự sống chính là hiện tại.
Tỉnh lặng là sự chứng ngộ cao nhất.

Tôi đã từng Dạo chơi non nước Việt: Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng ở Việt Trì, Phú Thọ; lLên Trúc Lâm Yên Tử Lên Việt Bắc điểm hẹn; về thủ đô Hà Nội thăm dấu xưa đức Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm; đến Kiếp Bạc Côn Sơn ngưỡng vọng Lời dặn của Thánh Trần và thấu hiểu sâu sắc Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn; Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn; vào Tràng An Thần Phù Ninh Bình “Lênh đênh trên cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm“, Ngày xuân đọc Trạng Trình, tìm về chốn xưa thăm Đào Duy Từ còn mãi; nhớ Nguyễn Minh Không Bái Đính; Nguyễn Du trăng huyền thoại; Nguyễn Hiến Lê sao sáng trọn đời làm Thầy nghề nông chiến sĩ

Tôi cũng đã từng đi nước ngoài:Tiệp Khắc kỷ niệm một thời, Praha Goethe và lâu đài cổ, Giấc mơ thiêng cùng Goethe;Học để làm ở Ấn Độ; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Đi thuyền trên Trường Giang; Lên Thái Sơn hướng Phật; Lên đỉnh Thiên Môn Sơn; Đi để hiểu quê hương; Châu Mỹ chuyện không quên; Nhớ bạn nhớ châu Phi; Walter Scott bút hơn gươm

Tôi cũng đã tùng Câu cá bên dòng Sêrêpôk, nhưng Tỉnh lặng với chính mình là sâu đậm nhất

XUÂN SỚM NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Trời trong vắt và em gần gũi quá
Đóa hoa xuân lặng lẽ nở bên thềm
Giọt sương ngọc lung linh trên lộc nõn
Đất giao hòa xuân sớm hóa mênh mông.

Hôm nay là ngày mới.

Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-1/



(*)  Osho (11/12/1931- 19/1/1990) là vị thiền sư nổi tiếng người Án Độ, được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất trong thời hiện đại,  với bài giảng nổi tiếng “Con đường hoàn hảo”  thuật lại chuyện của chính ông bảy ngày đêm tỉnh lặng với những bạn đồng hành.

(**) “Hạnh phúc tại tâm” bản chất sự sống, khả năng hạnh phúc và hạnh phúc chân thật của con người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ những tác phẩm của Osho.

(***) “Osho là bậc thầy chứng ngộ đang làm việc với tất cả mọi khả năng để giúp cho nhân loại vượt qua giai đoạn khó khăn trong sự phát triển tâm thức“. Dailai Latma đã viết như vậy về người thầy lỗi lạc này cuối trang bìa của tác phẩm Osho “Con đường của nhà huyền môn“.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Phạm Minh Giắng bạn tôi

PHẠM MINH GIẮNG BẠN TÔI
Hoàng Kim

Phạm Minh Giắng bạn tôi là trang web và câu chuyện cảm động gửi lại của anh Phạm Minh Giắng. Nhân đề thi Văn 2016 Nỗi lòng nàng Thúy Vân, tôi đọc lại bài thơ Thay lời Thúy Vân của anh Phạm Minh Giắng và câu thơ của anh gửi tặng “Thầy tôi sao sáng giữa trời/ Áo cơm thì thấp cuộc đời thì cao. Anh Phạm Minh Giắng đã mất mấy năm nhưng trang thơ và gương đời lắng đọng. Tôi cảm phục kính trọng Anh một người bị liệt từ nhỏ nhưng nghị lực sống, nhân cách người hiền, và bài bình thơ Thay lời Thúy Vân lấp lánh viên ngọc quý.

Chuyện đời Phạm Minh Giắng

Bài thơ ‘Thay lời Thúy Vân’ của anh Phạm Minh Giắng thực sư làm tôi bàng hoàng xúc động ám ảnh bởi lối suy nghĩ của anh Giắng thật thuận lòng người và lời thơ lục bát giản dị đẹp kỳ lạ. Truyện Kiều của Nguyễn Du là kiêt tác văn chương Việt còn mãi với thời gian. Hiểu và đánh giá đúng các nhân vât của Nguyễn Du mới thực sự hiểu được Truyện Kiều . Số bài bình thơ về nỗi lòng Thúy Vân lâu nay có nhiều nhưng tôi cảm nhận dường như hiếm bài nào sâu sắc tinh tế hơn Thay lời Thúy Vân của anh Phạm Minh Giắng mà tôi sẽ dành một chuyên mục để bàn luân. Đìều bất ngờ lớn nhất là tôi trước đó chưa hề biết anh Phạm Minh Giắng bị liệt từ nhỏ.

Anh Phạm Minh Giắng (http://phamigia.vn102.space/?page=1&paged=2&cat=572003) ghé thăm tôi tại trang dạy và học (http://dayvahoc.blogtiengviet.net), và anh bùi ngùi viết :”Tôi bị nằm liệt từ khi còn nhỏ. Thầy Hoàng Kim viết bài Thầy bạn là lộc xuân có kể chuyện Bill Clinton có năm điều ước từ nhỏ: được làm người tốt, có một gia đình êm ấm, có thầy quý bạn hiền, có một sự nghiệp thành đạt và viết được một cuốn sách để đời) Tôi (PMG) đã cố gắng thực hiện được ba điều. Còn hai điều: một gia đình êm ấm và một sự nghiệp thành đạt thì chắc là không thể thực hiện”.

Anh Phạm Minh Giắng tặng tôi bài thơ “Thầy tôi” làm tôi thực sự xúc động. Tôi thưa với anh là tôi nhỏ tuổi hơn anh và nhân xưng Thầy là cao quý lắm. Tôi hiểu ‘Thầy tôi’ là một bài học làm người sâu xa anh gửi lại:

Thầy tôi
Phạm Minh Giắng

Một đời quang đãng nhà gianh
Không chui cửa lớn, chẳng tranh ghế ngồi
Người thầy xưa cũ của tôi
Ai đem đom đóm mà soi vàng mười.

Trái tim khối óc sáng ngời
Dạ dầy Thầy có khác người chi đâu!
Học trò hư hỏng, thì đau
Phụ huynh nói xấu đằng sau, mặc lời.

Vinh quang sao sáng giữa đời
Áo cơm thì thấp, nụ cười thì cao.

Thầy tôi sao sáng giữa trời sau này tôi chọn tứ thơ tôn kính này để đưa vào diễn đạt sự trân trọng tri ân và noi gương Thầy:

Thầy tôi sao sáng giữa trời
Hoàng Kim

Thầy tôi sao sáng giữa trời
Áo cơm thì thấp cuộc đời thì cao.
Tiễn Thầy Hoa Nắng xôn xao
Hoa Người Hoa Đất biết bao ân tình.

Nhớ Thầy xưa rạng sử xanh
Thương Thầy phúc hậu trời dành đức cho.
Con đường xanh sáng ước mơ 
Tình yêu cuộc sống tới bờ thung dung.

Xem thêm: https://youtu.be/QH2UDskXmbU.

Thơ ‘Thay lời Thúy Vân’

“Thay lời Thúy Vân” của anh Phạm Minh Giắng là một góc nhìn thấu hiểu Sự tĩnh lặng nội tâm làm anh Giắng nhìn đời sâu sắc đã tạo nên trầm tích của bài viết. Tôi tin anh Giắng là người hiểu đúng Thúy Vân, hiểu đúng tâm sự thánh thiện của cụ Nguyễn Du. Bình thơ của anh thật hay, xin đươc so sánh lần lượt năm bài thơ “Nỗi lòng Thúy Vân” của Trương Nam Hương, An Thi, LMT, Lính Thủy, và sau cùng là Phạm Minh Giắng thay lời Thúy Vân (HK)

Nỗi lòng Thúy Vân
Trương Nam Hương

Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Còn em nước mắt đâu dành chàng Kim

Ơ kìa sao chị ngồi im?
Máu còn biết chảy về tim để hồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên

Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên
Chị khóc kẻ khuất đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu !

Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chỉ theo tiếng khóc dưới sông Tiền Đường

Chị nhiều hờn giận yêu thương
Vầng trăng còn lắm mùi hương hẹn hò
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim

Em thành vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Giấu đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi em đợi kiếp nào được yêu ???!!!!

Nỗi lòng Thúy Vân
An Thi

Em biết mình thua chị đủ mọi bề,
Cả trí tuệ, lẫn tài hoa, nhan sắc;
Nhưng có một điều, chỉ tim em rõ nhất
Rằng vết thương lòng em chẳng kém phần đau!

Tiết Thanh minh ngày nào én nhạn gặp nhau,
Chợt xao xuyến, nhịp yêu sao bổi hổi,
Chợt xót xa, rồi hẫng lòng, đau nhói
Trong mắt người tachỉ có chị mà thôi!

Buổi chia tay, em nghé mắt, xa xôi
Trở về nhà còn vấn vương nỗi nhớ;
Chị hò hẹn với người, em biết chứ
Chiếc thoa kia nào bắt được hư không?!?

Phận quần hồng chị trắc trở long đong
Nỗi gia đình, nỗi tình duyên trăn trở
Em nhận về mình mối duyên thừa trăn trở…
Mười mấy năm trời hạnh phúc có hay không?

Có hay không hạnh phúc với người chồng
Mà mãi mãi trong tim chỉ có hình bóng chị?!?
Chị phận bạc còn có tình chung thủy
Còn em thì…cảnh đồng sàng dị mộng có gì vui?!?

Cả một đời hoa chị bị dập vùi,
Em thương chị, lòng ghen chưa hề có!
Em cũng không trách hờn ai đó;
Chỉ xin đời hiểu cho rằng:
Sâu thẳm trong lòng Vân cũng có một vết thương!

Trăng mờ vì khuất màn sương
Câu ca một thuở vấn vương trọn đời,
“Keo loan mà chắp duyên rời
Hoa rơi hữu ý, nước trôi vô tình!”
Chị nào có khổ một mình!…

Nỗi lòng Thúy Vân
LMT
Một lần đọc lại Kiều

Chị ơi, thương chị truân chuyên
Phần em thôi cũng muộn phiền bi ai
Cũng rằng phận ngọc, mày ngài
Tuổi xuân hồng thắm chưa ai trao tình .

Đắng cay cũng một đời mình
Vì lòng hiếu nghĩa, nhận tình chị trao
Xuân thì hoa bướm xôn xao
Em chưa hề có giao duyên một lần
.
Thương thân, giọt lệ trong ngần
Duyên hờ em nắn phím đàn tơ mây
Trời xanh oan nghiệt lắm thay
Gieo bao cay đắng , đọa đày chị ơi.

Lại buồn nhân thế lắm lời
Rằng em hời hợt, một đời vô lo
Bao nhiêu sóng cả, gió to
Một mình chị phải sầu lo chống chèo .

Ngẫm đời, lòng lại buồn theo
Má hồng em cũng phận bèo lênh đênh
Dạt trôi trong cõi phong trần
Mặc cho con tạo xoay vần ra sao.

Tiền Đường , sông nước nao nao
Chị giờ mộng nhạt , tâm trao Bồ Đề
Còn em đời vẫn trầm mê
Lòng xuân tro lạnh, não nề chị ơi …

Cảm tác cùng bác Giắng
Lính Thủy

Người đời thương cảm Thuý Vân
Không yêu cũng phải thế chân chị Kiều
Vợ chồng không có tình yêu
Một đời tẻ lạnh, sớm chiều buồn tanh

Sau đây là bài của Phạm Minh Giắng

Thay lời Thúy Vân
Phạm Minh Giắng

Người đời thương cái duyên em
Kết hôn thay chị, chắc thèm tình yêu?
Em xin thưa tỏ đôi điều
Trời cho nhan sắc em nhiều phần xinh.

Vô tâm vụng tính, chút tình
Lấy người thương chị em mình…em nương
Giấc xuân giữa cảnh đau thương
Tình phần em sướng, hiếu nhường chị đeo.

Người ta yêu mộng mơ nhiều
Chồng mình ôm chặt mình yêu mặn nồng
Cảm ơn chị hiểu thấu lòng
Thương em, chị chẳng lòng thòng cố nhân

Cho em trọn chỗ ấm thân:
“Một cây cù mộc, một sân quế hòe”.
Cái em cần, nói em nghe,
Với em trăng gió màu mè bỏ đi

Em nào có tủi buồn chi
Tố Như thánh thiện nhầm gì chị ơi.

Hoàng Kim đôi lời cảm nhận

Thay lời Thúy Vân.là một công án tuyệt vời về Truyện Kiều. Tôi bàng hoàng trước lời thơ của anh:

Giấc xuân giữa cảnh đau thương
Tình phần em sướng, hiếu nhường chị đeo.
Người ta yêu mộng mơ nhiều
Chồng mình ôm chặt mình yêu mặn nồng

Cảm ơn chị hiểu thấu lòng
Thương em, chị chẳng lòng thòng cố nhân
Cho em trọn chỗ ấm thân:
“Một cây cù mộc, một sân quế hòe”.

Nguyễn Du (1765-1820) là nhà thơ lỗi lạc, nhà ngoại giao xuất chúng. Ông cũng là một võ quan có chí lớn, nhà lãnh đạo đặc biệt tài năng đã từng đương đầu với Nguyễn Huệ, đối thoại với Gia Long, hiểu rõ Nguyễn Văn Thành, thân thiết với Nguyễn Nễ, Vũ Trinh, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức. Ông hiểu sâu Lý số, thông tỏ Phong Thủy, rất vững Thiền học, thành thạo biến Dịch, đã đọc trên nghìn lần bộ kinh Kim Cương, với tâm sự gửi gắm Truyện Kiều và đặc biệt gửi gắm qua các nhân vật của mình. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là hai danh nhân cùng thời . Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: “Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai .” Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du đó là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Thúy Vân là môt đầu mối quan trọng để hiểu Thúy Kiều. Hiểu nhân vật của Nguyễn Du mới thực sự hiểu được Nguyễn Du.

Bài viết của các anh Phạm Minh Giắng, Nguyễn Thế Quang, Huy Việt … thực sự bổ ích. Bài viết này của anh Phạm Minh Giắng thưc sư là một khám phá mới.

Cám ơn anh và trân trọng chúc mừng anh.

Hoàng Kim

Trang thơ Phạm Minh Giắng

Anh Phạm Minh Giắng gửi lại cho đời nhiều bài viết hay, “Anh tâm sự trong lời ngõ:Tôi nằm trong góc cô đơn / Với thơ thì chẳng tính hơn thiệt gì” Di cảo thơ anh để lại, tôi thích nhất sáu bài. Thầy tôi; Thay lời Thúy Vân; Vịnh Bắp Ngô, Chuối Ngự; Đang xuân; Độc Ẩm.

Vịnh Bắp Ngô
Phạm Minh Giắng

Không phải non tơ cũng chửa già
Đã thương mặc kệ kẻ dèm pha
Nâng niu bóc cánh vàng nhè nhẹ
Mới biết rằng em nhất ngọc ngà

Chuối Ngự
Phạm Minh Giắng

Đâu chỉ xênh xang chốn phượng rồng
Không cam rẻ rúng, chẳng thèm ngông
Kính người thiên cổ, thăm người ốm
Nghĩa ngọt tình thơm rất thật lòng.

Đang xuân
Phạm Minh Giắng
01/01/2013@21h25,

Sáu ba tròn mới độ đang xuân
Tâm đức đời cho cũng được phần
Sức liệt chẳng tài đâu giúp nước
Trí còm chưa giỏi vẫn nhờ dân
Khi vui tết đến mong bầu bạn
Lúc tủi xuân về ngóng họ thân
Còn chút tâm hồn còn sống đẹp
Danh này không toại cũng thành nhân

Độc Ẩm
Phạm Minh Giắng

Chẳng rót chi đầy, nửa chén vơi
Bạn xa không đến, một mình chơi
Nâng lên hờ hững không buồn nhấp
Đặt xuống thờ ơ chẳng hứng mời
Chiếc bóng ngọn đèn dòng rượu đổ
Quả tim cây bút mạch thơ khơi
Khuya rồi còn đợi chờ chi nữa
Ngửa mặt lên ta dốc sự đời

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) – Thanh Thúy

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Chuyện thầy Lê Quý Kha

TS. Lê Quý Kha (bìa trái) với thầy bạn Đại học Nông Lâm Hồ Chí Minh

CHUYỆN THẦY LÊ QUÝ KHA
Hoàng Kim

Tiến sĩ Lê Quý Kha là cựu Phó Viện Trưởng Viện Khoa học Kỷ thuật Nông nghiệp Miền Nam, chuyên gia ngô, thầy và bạn nhà nông, người có nhiều đóng góp tốt cho nghề trồng ngô Việt Nam. Thông tin dưới đây là giới thiệu sách và tư vấn học tập

Ngô Việt Nam là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa, có diện tích canh tác hàng năm hiện đạt khoảng 1,15 triệu ha, năng suất bình quân 4,55 tấn/ha, sản lượng 5,24 triệu tấn (Tổng cục Thống kê 2017). Sản phẩm ngô Việt Nam chủ yếu dùng cho chăn nuôi, nay dùng làm thực phẩm cho người hơn 5%. Cuộc cách mạng về giống ngô lai Việt Nam đã góp phần tăng nhanh diện tích, năng suất và sản lượng ngô trong toàn quốc, đưa nước ta đứng vào hàng ngũ những nước trồng ngô lai tiên tiến của vùng châu Á. So với năm 1985 trước đổi mới, ngô Việt Nam lúc ấy có diện tích 397 ngàn ha, năng suất bình quân 1,47 tấn/ha, sản lượng 0,37 triệu tấn thì đến nay ngô Việt Nam đã đạt một bước tiến vượt bậc, gấp 3 lần về năng suất và 14 lần về sản lượng. Mặc dù vậy, sản lượng ngô hiện nay vẫn chưa đủ cung cấp cho ngành chăn nuôi của cả nước, Việt Nam mỗi năm vẫn phải nhập khoảng 1,60 – 2,00 triệu tấn ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi, nhưng Việt Nam đã cùng Thái Lan và Trung Quốc nằm tốp đầu trồng ngô tiên tiến của châu Á. Trong thành tựu ấy, có công đóng góp hiệu quả của giáo sư Trần Hồng Uy, giáo sư Ngô Hữu Tình, giáo sư Trần Văn Minh, tiến sĩ Phạm Đồng Quảng, phó giáo sư Trương Đích, tiến sĩ Mai Xuân Triệu, tiến sĩ Bùi Mạnh Cường, tiến sĩ Phan Xuân Hào,Tiến sĩ Lê Quý Kha Tiến sĩ Lê Quý Tường, thầy Luyện Hữu Chỉ, thầy Võ Đình Long, thầy Đỗ Hữu Quốc, tiến sĩ Trần Kim Định, tiến sĩ Trần Thị Dạ Thảo, tiến sĩ Nguyễn Phương, kỹ sư Phạm Thị Rịnh, kỹ sư La Đức Vực, kỹ sư Phạm Văn Ngọc … là những chuyên gia chính của nghề ngô Việt Nam nhiều kinh nghiệm thực tiển với nhiều công sức đào tạo bồi dưỡng đội ngũ hiệu quả cho nguồn lực nghề trồng ngô Việt Nam trong chặng đường đầu 45 năm qua.,

Trang sách ngô Việt của tiến sĩ Lê Quý Kha là những cẩm nang nghề nghiệp, tiêu biểu gồm: 1) TS Lê Quý Kha, TS Lê Quý Tường 2019. NGÔ SINH KHỐI Kỹ thuật canh tác, thu hoạch và chế biến phục vụ chăn nuôi. Nhà Xuất bản Nông nghiệp ISBN 978-606-60- 2930-4 2) CIMMYT & IBPGR – Rome, 1991 Biên dịch Lê Quý Kha 2013. Hướng dẫn mô tả nguyên liệu ngô. Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. 3) Lê Quý Kha (Chủ biên) 2013. Hướng dẫn khảo sát, so sánh và khảo nghiệm giống ngô lai. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật . Sách cẩm nang nghề nghiệp cây Ngô. Tài liệu Học tập CÂY LƯƠNG THỰC Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Nhà sách Việt Nam, FoodCrops.vn, CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM, Hoàng Long , Hoàng Kim tuyển chọn và giới thiệu www.nhasachvietnam.blogspot.com

TS Lê Quý Kha (thứ hai phải qua) và nghiên cứu sinh với quý thầy cô Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam , Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ chí Minh

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim

chúc mừng Lê Quý Kha

Có một ngày như thế.
Vui bạn đầy niềm vui
Nụ cười tươi rạng rỡ.
Ngày mỗi ngày tốt lành

Phúc hậu và thực việc
Tận tụy với nghề nông
Thân thiết tình thầy bạn
Chăm chút từng trang văn.

Quảng Tây nay và xưa

QUẢNG TÂY NAY VÀ XƯA
Hoàng Kim

Quảng Tây ngày nay, với thủ phủ Nam Ninh là nơi diễn ra Hội thảo Cây Có Củ Toàn Cầu (*), https://youtu.be/81aJ5-cGp28 diện mạo thành phố khác rất xa so với Quảng Tây trước đây, nơi tôi đã có nhiều lần đến đó và có nhiều người bạn gắn bó tại đấy. Văn hóa lịch sử khoa học và công nghệ toàn cầu giao hội ở điểm đến Nam Ninh. Quảng Tây nay so sánh với Ung Khâm Liêm xưa là một góc nhìn thú vị. Bài này tôi không viết về nông nghiệp mà muốn lưu lại một chút cảm nhận về lịch sử.

Du lịch sinh thái Quảng Tây ngày nay là khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, với Nam Ninh, Khâm Châu, Hợp Phố đã biết bao thay đổi, so với đất Ung Khâm Liêm xưa Tôi đến Quảng Tây nhiều lần, đã từng du thuyền ở Quế Lâm, leo núi cao và cùng ăn cơm người dân tộc Choang, thăm khu di chỉ khảo cổ Tây Sa Pha nơi khai quật được các loại rìu đá, dao đá, những công cụ nguyên thủy của người cổ Bách Việt, nơi câu thơ “châu về Hợp Phố” vẫn còn văng vẳng bên lòng. Nam Ninh thủ phủ của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, nay là nơi tổ chức Hội thảo Cây Có Củ Toàn Cầu, xưa là trọng điểm của chiến dịch đánh Tống 1075-1076 do danh tướng nhà Lý là Lý Thường Kiệt phát động nhằm tấn công quân Tống ở ba châu Ung Khâm Liêm, chặn đứng âm mưu của Vương An Thạch chủ trương Nam tiến tìm kiếm chiến thắng bên ngoài để giải tỏa những căng thẳng trong nước. Tôi nhớ Tô Đông Pha bị đày ải ở Thiểm Tây, Hàng Châu, biên viễn Giang Nam, suốt đời lận đận vì chống lại biến pháp không bền vững của Vương An Thạch. Tuy ông bị đối xử không công bằng nhưng người yêu thương ông, túi thơ, kiếm bút, công trình thủy lợi Hàng Châu di sản văn hóa thế giới mà ông lưu lại vẫn như trăng rằm lồng lộng giữa trời. Tôi nhớ câu thơ Nguyễn Du: “Giang sơn vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen“. Tôi nhớ Hồ Chí Minh “Đi đường mới biết gian lao, Núi cao rồi lại núi cao trập trùng; Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non“. Và tôi nhớ câu thơ cảm khái của chính mình ‘Lên non thiêng Yên Tử’ “Non sông bao cảnh đổi. Kế sách một chữ Đồng. Lồng lộng gương trời buổi sáng. Trong ngần thăm thẳm mênh mông“.

Ung Châu là tên xưa, nay là Nam Ninh thành phố lớn nhất và là thủ phủ của khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc. Thành phố này nằm cách biên giới Việt Nam 180 km. Dân số Nam Ninh hiện khoảng 7,5 – 9,0 triệu người, (tương đương dân số thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam). Nam Ninh có 6 quận Giang Nam, Hưng Ninh, Lương Khánh, Tây Hương Đường, Thanh Tú, Ung Ninh và 6 huyện Hoành Long An, Mã Sơn, Tân Dương, Thượng Lâm, Vũ Minh. Thủ phủ Nam Ninh là nơi trung chuyển khách đến tham quan Quế Lâm nổi tiếng, thăm các làng dân tộc thiểu số ở Bắc và Tây Quảng Tây và khách Trung Quốc sang thăm Việt Nam bằng đường bộ. Khâm Châu xưa và nay tên gọi không đổi. Khâm Châu là một trong 14 địa cấp thị thuộc khu tự trị tỉnh Quảng Tây. Khâm Châu nằm bên vịnh Bắc Bộ với diện tích 10.843 km2 và dân số trên 3,1 triệu người. Khâm Châu nằm ở phía nam Quảng Tây, trên vùng bờ biển thuộc vịnh Bắc Bộ. Phía bắc tiếp giáp với địa cấp thị Nam Ninh, phía tây tiếp giáp địa cấp thị Phòng Thành Cảng, phía đông tiếp giáp địa cấp thị Ngọc Lâm, phía đông bắc tiếp giáp Quý Cảng, phía đông nam giáp Bắc Hải. Nằm trong khoảng từ 20°54′ tới 22°41′ vĩ bắc, 107°27′ tới 109°56′ kinh đông. Đường bờ biển dài 311,44 km. Phía đông bắc và tây bắc có 2 dãy núi là Lục Vạn Đại Sơn và Thập Vạn Đại Sơn, với độ cao đều trên 1.000 m. Khâm Châu là hải cảng chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu cho vùng duyên hải tây nam Trung Quốc. Khâm Châu có 4 đơn vị cấp huyện: quận Khâm Nam, quận Khâm Bắc, huyện Linh Sơn, huyện Phố Bắc. Liêm Châu xưa chính là Hợp Phố, Bắc Hải ngày nay. Bắc Hải có nghĩa là biển bắc, là nơi có cảng biển, một nhà máy đóng tàu lớn nằm bên bờ phía bắc của vịnh Bắc Bộ. Hợp Phố trước đây gọi là Liêm Châu, là một huyện thuộc địa cấp thị Bắc Hải. Huyện này có diện tích 2.380 km², dân số hiện khoảng 1,3 triệu người, huyện lỵ là trấn Liêm Châu. Khoảng 5.000 năm trước, trong thời kỳ đồ đá mới tại khu vực Hợp Phố ngày nay đã có những hoạt động của con người. Tại di chỉ khảo cổ Tây Sa Pha người ta đã khai quật được các loại rìu đá, dao đá, những công cụ nguyên thủy của con người. Trước khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, Hợp Phố là vùng đất của Bách Việt. Năm thứ 33 thời Tần Thủy Hoàng (214 TCN), quân đội Tần thống nhất Lĩnh Nam, lập ra Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận. Hợp Phố thuộc về Tượng Quận. Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 thời Hán Vũ Đế (111 TCN), quân đội Tây Hán xâm chiếm Nam Việt, lấy vùng giáp giới Nam Hải, Tượng Quận lập ra quận Hợp Phố, với thủ phủ quận đặt tại Từ Văn (nay thuộc huyện Hải Khang tỉnh Quảng Đông), đồng thời thiết lập huyện Hợp Phố. Năm Hoàng Vũ thứ 7 (228) thời Tam Quốc, Đông Ngô đổi quận Hợp Phố thành quận Châu Quan, nhưng chẳng bao lâu sau lại đổi về tên cũ. Năm Trinh Quan thứ 8 (634) thời Đường Hợp Phố được gọi là Liêm Châu. Năm Chí Nguyên thứ 17 (1280), nhà Nguyên đổi thành tổng quản phủ Liêm Châu. Từ năm Hồng Vũ thứ nhất (1368) thời Minh cho tới thời Thanh người ta lập phủ Liêm Châu, trực thuộc tỉnh Quảng Đông. Thời kỳ Trung Hoa dân quốc (1911– 1949), huyện Hợp Phố trước sau thuộc về đạo Khâm Liêm, tỉnh Quảng Đông, Thời kỳ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau nhiều lần tách nhập và thay đổi, nay thuộc Bắc Hải một địa cấp thị Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây.

Tỉnh Quảng Tây năm 1958, được chuyển đổi thành Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây theo đề nghị của Thủ tướng Chu Ân Lai. Lý do vì người Choang là dân tộc thiểu số lớn nhất ở Trung Hoa và tập trung nhiều ở Quảng Tây. Người Hán đứng đầu chiếm khoảng 92% dân số của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khoảng 98% dân số của Đài Loan và khoảng 19% dân số thế giới. Người Choang ở Trung Quốc cũng chính là người Nùng và người Tày ở Việt Nam có dân số trên 18 triệu người đứng thứ hai chiếm sau người Hán trong số 55 dân tộc thiểu số được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận. Người Choang có 94 % dân số sống tại tỉnh Quảng Tây, tập trung ở phía tây và tây nam tỉnh. Tại tỉnh Quảng Tây theo Cục Thống kê Quảng Tây thì 61,5% dân số toàn tỉnh là người Hán, người Choang chiếm 32,6%, còn lại 6% là các sắc tộc thiểu số khác.

Quảng Tây xưa là “Quảng Nam Tây lộ” tên gọi có từ thời nhà Tống. “Quảng” có nghĩa là “mở rộng”, và được đặt cho vùng này kể từ thời nhà Tây Tấn trở đi. “Quảng Tây” và tỉnh láng giềng Quảng Đông có tên gọi chung đầy đủ là “Lưỡng Quảng”, tên gọi tắt là “Quế”, lấy theo tên Quế Lâm là một thành phố lớn và được coi là danh lam thắng cảnh bậc nhất của Trung Hoa cổ xưa và hiện đại. Bill Clinton tổng thống Hoa Kỳ sang thăm Trung Quốc đại lục sau nhiều năm Trung Mỹ tách biệt địa chính trị, đã chọn Quế Lâm là điểm đến sau Bắc Kinh. Vùng đất này chính thức thuộc về Trung Quốc từ năm 214 TCN, khi quân đội nhà Tần xâm chiếm hầu hết miền nam Trung Hoa ngày nay. Tên gọi “Quảng Tây” bắt nguồn từ thời nhà Tống, khi khu vực này được tổ chức thành một lộ, gọi là Quảng Nam Tây Lộ. Vào cuối đời nhà Nguyên, vùng này được tổ chức thành một tỉnh với tên gọi được rút gọn thành “Quảng Tây”. Vào cuối đời nhà Thanh, ở huyện Quế Bình, miền đông Quảng Tây, đã nổ ra Khởi nghĩa Kim Điền vào ngày 11 tháng 1 năm 1851, khởi đầu của phong trào khởi nghĩa nông dân vĩ đại Thái Bình Thiên Quốc. Cửa ải Trấn Nam Quan (ngày nay là Hữu Nghị Quan) trên biên giới với Việt Nam cũng là nơi diễn ra trận đánh Trấn Nam Quan nổi tiếng vào ngày 23 tháng 3 năm 1885, trong Chiến tranh Pháp-Thanh. Trong trận đánh này, mũi tấn công của quân Pháp đã bị lực lượng Trung Quốc của tướng Phùng Tử Tài đánh bại, một sự kiện lịch sử rất được những người yêu nước Trung Hoa ca tụng. Sau ngày thành lập Trung Hoa Dân Quốc, Quảng Tây trở thành căn cứ của một trong những tập đoàn quân phiệt hùng mạnh nhất của Trung Quốc: Tập đoàn Quảng Tây (Quế hệ) cũ do Lục Vinh Đình và những người khác lãnh đạo, tập đoàn này đã vươn ra kiểm soát cả các tỉnh Hồ Nam và Quảng Đông ở liền kề. Đầu thập niên 1920, Tập đoàn Quảng Tây cũ bị thất bại, và được thay thế bằng Tập đoàn Quảng Tây mới, do Lý Tông Nhân và Bạch Sùng Hi cầm đầu. Quảng Tây còn được nhắc đến bởi Khởi nghĩa Bách Sắc, một cuộc khởi nghĩa cộng sản do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo vào năm 1929 nhưng các căn cứ cộng sản đã được thiết lập này cuối cùng đều bị lực lượng Quốc dân Đảng tiêu diệt. Vào năm 1944 gần kết thúc Thế chiến II, Nhật Bản chiếm đóng Quảng Tây sau Chiến dịch Ichigo (hay còn gọi là Chiến dịch Dự Tương Quế trong một nỗ lực thu tóm tuyến đường sắt Hồ Nam-Quảng Tây và thiết lập một vùng đất nối với Đông Dương Pháp thuộc. Người Nhật đã chiến thắng và một loạt các thành phố chính ở Quảng Tây trở thành thuộc địa của Nhật Bản. Tỉnh Quảng Tây do nằm ở xa phía nam, lực lượng cộng sản kiểm soát Quảng Tây muộn hơn nên chính quyền tỉnh thay đổi muộn hơn, mãi vào tháng 12 năm 1949, hai tháng sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quân đội Nhân dân Việt Nam có chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn tổ chức phối hợp cùng với Giải phóng quân Trung Quốc chính là trong dịp này. Trong sáu thế kỷ tiếp theo, Quảng Tây vẫn là một tỉnh của Trung Quốc cho đến khi được Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chuyển thành một khu tự trị dành cho dân tộc thiểu số đông đảo ở đây. Tỉnh Quảng Tây trong suốt chiều dài lịch sử là vùng đất không có biển. Sau năm 1952 một phần nhỏ của bờ biển Quảng Đông được chuyển giao cho Quảng Tây, từ đó vùng đất này được thông với biển, đến năm 1955 chuyển giao lại, và năm 1965 tiếp nhận lại.

Tỉnh Quảng Tây gần tỉnh Quảng Đông và Đài Loan. Vì những đặc điểm địa chính trị quan trọng nêu trên, nên Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đã có chuyến du phương Nam những năm cuối của Cách mạng Văn hóa để bịt kín những mưu lược liên kết của Lâm Bưu, người bị tử nạn ngày 13 tháng 9 năm 1971, sau khi kế hoạch đảo chính bị bại lộ, đã bị hỏa tiễn bắn khi đi ăn tiệc về, hoặc do máy bay rơi ở Mông Cổ khi đang trốn chạy sau vụ mưu sát Mao Trạch Đông không thành.

Soi vào Quảng Tây là soi vào lịch sử Trung – Việt giác ngộ được nhiều vấn đề sâu sắc của hiện tại và quá khứ. Những huyền thoại về gốc gác người Việt cổ, nhà Trần phương Nam, nhà Trần phương Bắc, Nùng Trí Cao, chiến dịch đánh Tống 1075-1076 do danh tướng nhà Lý là Lý Thường Kiệt phát động, Giáp Hải bài thơ “Vịnh Bèo”, Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi “Hải Khẩu dạ bạc hữu cảm”, “Sấm động Nam Vang/ Vũ qua Bắc Hải”, Bí ẩn việc vua Quang Trung cầu hôn công chúa Mãn Thanh và xin đất định đô trên đất người Việt cổ để về thăm thiên triều bớt xa xôi cách trở, v.v và v.v…có quan hệ đến bài học sâu sắc lịch sử này.

Quảng Tây nay và xưa là một điểm nhìn tham chiếu.
xem thêm (*) https://youtu.be/81aJ5-cGp28

Thác Bản Giốc và sông Ka Long
Cách mạng sắn Việt Nam

Cách mạng sắn Việt Nam https://youtu.be/81aJ5-cGp28 báo cáo tại Hội thảo Cây Có Củ Toàn Cầu

NGƯỜI VỊN TRỜI XANH CHẤP SÓI RỪNG
Hoang Kim

Hà Giang ơi Hà Giang ơi
Núi thẳm mờ sương thấu cửa trời
Nơi đâu bạn cũ (*) thành sương khói
Bồng bềnh mây trắng dốc chơi vơi.

Trời rất xanh và rừng rất sâu
Mèo Vạc xa kìa, Lũng Dẻ đâu
Nào hang Cắc Cớ nào Công Cốc
Núi Tản ngàn năm biếc một màu.

Phình ngán Phình ngán Ắt tắc tím
Bạn ra kéo mình ra búa
Trò chơi mê mãi suối bên mai
Người vịn trời xanh chấp sói rừng.

(*) Hoàng Kim ở E568 F325B sau này là nòng cốt của F356 nước mắt Vị Xuyên, chính ủy sư đoàn Phạm Hồng (Hải Dương) là người thân.

LendinhMaPhiLeng1

LÊN ĐỈNH MÃ PHÌ LÈNG
ảnh Phan Chí, thơ Hoàng Kim

Đội anh Phan Chi ngắm thiệt mê
Cùng nhau lên đỉnh ngó mà ghê
Gió mù sương núi trời cao thế
Lưu Nguyễn cùng Tiên lạc lối về.

Đỉnh Mã Phì Lèng ở Hà Giang
Con Đường Hạnh Phúc nối Đồng Văn
Vua Núi các con đèo nước Việt (1)
Tây Tiến (2) tìm lên đỉnh một lần.

Người vịn trời xanh chấp sói rừng
Tuyết Sơn Phi Hồ nhớ Kim Dung (3)
Đường hiểm khi trèo lên tận đỉnh
Một tiếng kêu vang dội mấy từng. (4).

Ghi chú:

(1) Đỉnh Mã Phì Lèng ở Hà Giang là Vua Núi của các con đèo Việt Nam. Tam giác châu huyền thoại Việt Trì- Ninh Bình – Quảng Ninh là vùng đất địa linh nhân kiệt cho sự trường tồn của tộc Việt trong cuộc “đấu tranh giành quyền sống với vạn vật” mời đọc  “Minh Không huyền thoại Bái Đính
(2) Tây Tiến, “… Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” … mời đọc “Quang Dũng những bài thơ hay”.
(3) Tuyết Sơn Phi Hồ nhớ Kim Dung: mời đọc Kim Dung Tuyết Sơn Phi Hồ
(4) Ý thơ Ngôn Hoài bài kệ của Không Lộ thiền sư: mời đọc “Ngôn Hoài”: Một bài Kệ Thiền rất khó dịch của Nguyễn Cẩm Xuyên đăng trên Kiến thức ngày nay số 829  ngày 20.8.2013.

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Những điều thú vị về Quảng Tây https://www.facebook.com/watch/?v=755159555368168
Secret Garden – Poéme

Vuonxuan

Ngày hạnh phúc của em Một niềm tin thắp lửa (Trúc Mai Sắn Phú Yên ở Hà Nội)
Giúp bà con cải thiện mùa vụ (Video Long Phu ở Lào)
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Thơ văn thầy Hồ Ngọc Diệp

THƠ VĂN THẦY HỒ NGỌC DIỆP
Hoàng Kim


Học văn để làm gì? Để giữ ngọc di sản. Quảng Bình đất và người thẳm thẳm nhớ trong tôi với nhiều chuyện quý.

Thuở nhỏ học văn, tôi ấn tượng nhất là tích cổ cha mẹ kể về Lục Vân Tiên tại Nguồn Son nối Phong Nha (1) và Cao Biền trong sử Việt (2). Cha mẹ tôi mất sớm, những thầy văn đầu đời của tôi là Hoàng Ngọc Dộ khát vọng (3), “Hoàng Trung Trực đời lính” (4), thầy Nguyễn Khoa Tịnh “Em ơi can đảm lên” (5), thầy Trần Đình Côn Bài ca Trường Quảng Trạch (6), thầy Phạm Ngọc Căng (7) người Thanh Hóa, phó Hiệu trưởng đầu tiên của Trường cấp ba bắc Quảng Trạch và thầy Hồ Ngọc Diệp người Đồng Hới dạy văn (8). Tôi cũng may mắn được học văn với ông tôi Minh Sơn Hoàng Bá Chuân (9) là em ruột bà ngoại tôi khi thăm ông ra ở với cậu tại 64 Hàng Bạc Hà Nội. Ông đã bày cho tôi cách làm thơ Đường. .

Hoàng Kim nay chép lại sáu câu chuyện lắng đọng Thơ văn thầy Hồ Ngọc Diệp 1) “Tìm mộ em ở Trường Sơn” 2) “Người thầy chiến sĩ” 3) “Bác Hồ với ngày thương binh liệt sĩ 27/7”; 4) “Chuyện về nữ anh hùng bên dòng sông Lũy” 5) “Nhà văn Hoàng Bình Trọng với nghiệp đời gập ghềnh”; 6) “Nhạc sĩ Trần Hoàn viết cho sự giã biệt”, lưu lại một tích truyện về người thầy dạy văn của mình. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-van-thay-ho-ngoc-diep/

QUẢNG BÌNH ĐẤT VÀ NGƯỜI
Hoàng Kim

kính tặng thầy Hồ Ngọc Diệp

Đọc trang văn hóa Bạc Liêu
Thơ thầy giáo cũ thương yêu gọi về
Thầy ơi nắng sớm mưa che
Lời thương thầm lắng mải mê kiếm tìm.

Nhớ thầy đáy biển tìm kim
Chim sa núi Bắc thầy tìm non Nam
Tìm Người ở giữa Trường Sơn
Dáng ai bóng núi xanh hơn sắc rừng

Tháng năm lắng đọng yêu thương

xem tiếp Ngày mới lời yêu thương; Quảng Bình đất và người https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-van-thay-ho-ngoc-diep/

TÌM MỘ EM Ở TRƯỜNG SƠN
Hồ Ngọc Diệp


Vươt đèo, leo dốc,phạt gai
Qua bao con suối,miệt mài tìm em
Mộ em núi đã giăng lèn
Ba bề là đá,bốn bên là rừng

Nghe con mang,tác ngập ngừng
Suối xa như đã lạnh dừng tiếng reo
Ngặt thưa bìm bịp kêu chiều
Giữa hoang sơ,lòng những phiêu diêu buồn

Ngàn lau trắng thác mây tuôn
Bước chân hoang hoải bồn chồn ngẩn ngơ
Em đi từ bấy đến giờ
Thương con,lòng mẹ thẫn thờ đợi con

Xa quê từ buổi trăng tròn
.Ấp e chưa đón nụ hôn người tình
Em ngã xuống,sắc nguyên trinh
Vì dân,vì nước quên mình tuổi xanh

Mau về với mẹ cùng anh
Ở đâu? chiều đã phủ nhanh rừng già

NGƯỜI THẦY CHIẾN SĨ
Hồ Ngọc Diệp


Từ mái trường, tình nguyện xung phong
Khoác AK, thầy lên đường ra trận
Người thì gầy, bộ Tô Châu thì rộng
Nào hề chi, có thép ở bên trong

Đường hành quân qua bao núi, bao sông
Bỗng gặp học sinh, cùng chiến hào đánh Mỹ
Đêm Trường Sơn, thầy và trò tri kỷ
Chuyện trường xưa, nỗi nhớ cháy đêm tàn….

Đơn vị thầy lại cấp tập hướng Nam
Nã đạn pháo gầm ran đầu lũ giặc
Dáng hiên ngang như thiên thần lẫm liệt
Giữa trận tiền khi bom giặc phản công

Góp máu mình cho độc lập non sông
Thêm kiêu hãnh những bài ca sư phạm
Gieo lòng người đâu chỉ là lời giảng
Mà cả bằng: đức nguyện tiến công

Những đạo hàm, ta lét, parabol
Những tan, cos, góc bù, góc nhọn
Rồi cuộc đời và những lời thầy giảng
Thành vinh quang những chân lý của đời

Chúng tôi nhắc thầy trong kí ức bồi hồi
Để nhớ mãi ngôi trường phố cũ
Hình ảnh thầy, người thầy – Chiến sĩ
Gieo lòng người rực rỡ những cành xuân.

(*) Thầy Hồ Ngọc Diệp ngày 14 10 2021 viết Cảm ơn văn nghệ Bạc Liêu đã đăng bài thơ “Tìm mộ em ở Trương Sơn” số tháng 7/202l

BÁC HỒ VỚI NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ 27/7
trích: Bác Hồ với Quảng Bình,
Hồ Ngọc Diệp 2021 (*)
Nhà Xuất bản Thuận Hóa, trang 150


Bác Hồ bùi ngùi không cầm được nước mắt, đọc bài từ như sau: Hỡi các liệt sĩ ! trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ Quốc, vì dân tộc. Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuốm lá quốc kỳ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời truyền với sử xanh:

Một nén hương thanh
Vài lời an ủi
Anh linh của các liệt sĩ bất diệt
Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm!


(*) Hồ Ngọc Diệp địa chỉ liên lạc: Hồ Ngọc Diệp Hội văn học Nghệ thuật Quảng Bình, đường Đoàn Thị Điểm, phường Đồng Hải, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Số điện thoại: 0968 237 320 Tài khoản: Hồ Ngọc Diệp 040027737627 Ngân hàng Sacombank Đồng Hới, Quảng Bình

CHUYỆN VỀ NỮ ANH HÙNG BÊN DÒNG SÔNG LUỸ
Hồ Ngọc Diệp

Chị Trần Thị Lý sinh ra trong một gia đình nghèo bên dòng sông Lũy, một nhánh của con sông Nhật Lệ, phía Nam Cầu Dài, đó là làng Phú Thượng, Phú Hải, Đồng Hới, Quảng Bình. Là một người lanh lợi, hoạt bát, có ý thức tập thể cao nên chị được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho Đảng ủy, Xã đội. Năm 1964, chị được kết nạp Đảng, lúc đó chị tròn 19 tuổi. Tháng 2 năm 1965, Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc đã chọn thị xã Đồng Hới làm điểm đánh mở đầu. Phú Hải là một trong những điểm nóng chiến sự. Lúc này, chị Trần Thị Lý được sung vào lực lượng dân quân, làm chiến sĩ phòng không nam Cầu Dài thị xã Đồng Hới.

Chị Trần Thị Lý trong những cuộc chiến đấu đánh trả máy bay thù đã tỏ rõ bản lĩnh chiến đấu xuất sắc. Chị đã chạy từ trận địa phòng không này sang trận địa phòng không khác để truyền mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên chuyển về, đồng thời dùng súng trường K44 bắn trả máy bay Mỹ rất kiên cường. Chị đã đào hầm sập, cứu đồng đội, đồng bào bị bom Mỹ vùi lấp. Đặc biệt trong ngày 4/4/1965, đế quốc Mỹ đã huy động hàng trăm lượt máy bay đến ném bom Cầu Dài, triệt hạ thị xã Đồng Hới, chị Trần Thị Lý đã dũng cảm mưu trí chèo đò chở Bí thư Đảng ủy xã Lê Viết Thuật vượt sông để chỉ đạo dân quân, nhân dân chiến đấu, rồi trở lại trận địa an toàn. Trong một lần bị bom vùi, chị đã kịp thời bình tĩnh cởi áo ngoài khoác lên đầu súng để đất đá khỏi vào làm chẹt nòng. Sau đó, chị đã bươn mình ra, tiếp tục nổ súng bắn vào kẻ thù.

Với những thành tích xuất sắc đó, chị đã được Quốc hội tuyên dương anh hùng vào ngày 01/01/1967. Cũng trong năm đó chị được chuyển sang quân đội, làm chính trị viên phó Thị đội Đồng Hới. Từ năm 1967 , chị được cử đi học trường văn hóa quân khu, sau đó được cử đi học tiếp tại Học viện chính trị quân sự của Bộ quốc phòng. Năm 1978, chị đảm nhiệm chức Phó đội trưởng đội công tác thuộc đoàn 871, Tổng cục chính trị. Từ 1985 chị được điều về giữ chức Phó rồi Giám đốc, Phó Bí thư chi bộ khách sạn Bạch Đằng của Quân khu 5 ở Đà Nẵng. Chị là Đại biểu Quốc hội khóa IV, V và VI. Chị từng là ủy viên Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chị đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.

Anh hùng Trần Thị Lý là người giàu tình cảm với mảnh đất minh sinh ra và lớn lên. Sau này, khi làm Giám đốc khách sạn Bạch Đằng, hễ có các con cháu quê hương Phú Hải vào học hay công tác tại Đà Nẵng, nếu gặp khó khăn, chị đã tìm cách giúp đỡ, động viên để các cháu an tâm học tập và công tác. Nhiều lần về thăm quê chị đều đến thăm và tặng quà cho Đảng ủy, UBND và các đoàn thể trong phường. Chị đã giúp Hội Người cao tuổi địa phương sắm một cỗ xe tang, đóng góp cho quỹ xây dựng nhà văn hóa, trạm y tế phường và giúp đỡ những hộ nghèo hoặc gặp khó khăn. Đến phút lâm chung chị còn hỏi người nhà: “Xã mình đã được phong anh hùng chưa?” (thực ra, phường Phú Hải được phong anh hùng trước đó mà chị chưa có được thông tin).

Có nhiều chuyện kể lý thú, dí dỏm về anh hùng Trần Thị Lý thời thanh xuân.

Tháng 7 năm 1967, anh hùng Trần Thị Lý được mời dự Đại hội liên hoan thanh niên sinh viên Hoà bình thế giới tại nước XHCN Cu Ba.Sau báo cáo của chị, trong giờ giải lao, hàng trăm nhà báo vây quanh chị để quay phim, chụp ảnh và phỏng vấn. Có một nhà báo Phương Tây hỏi chị:- Chị là một anh hùng của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Vậy, ai là người chị sẽ chọn xây dựng gia đình? Không phải suy nghĩ lâu, chị Trần Thị Lý vui vẻ trả lời: – Đó sẽ là người đàn ông thương yêu tôi nhất! Trong quãng ngày công tác, chị đã được vinh dự 3 lần gặp Bác Hồ và được Bác trực tiếp chỉ giáo. Lần thứ nhất là lần cùng đoàn Quảng Bình được ưu tiên gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau ngày Đại hội liên hoan chiến sĩ anh hùng thi đua toàn quốc (1/1/1967). Gần cuối buổi, Bác Hồ bảo chị Lý hát bài “Quảng Bình quê ta ơi” của nhạc sĩ Hoàng Vân cho Bác nghe. Quá cảm động và lúng túng nên chưa thực hiện được ngay thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng “cứu nguy” cho chị và bảo: “Cháu Lý hãy “cầm càng” cho tất cả đoàn cùng hát”. Thế là anh hùng Trần Thị Lý đã đứng dậy và bắt nhịp cho toàn đoàn Quảng Bình hát vang bài hát mà Bác và Thủ tướng yêu thích. Lần thứ hai, chị gặp và được Bác Hồ chỉ giáo là ngày trước lúc lên đường sang Cu Ba tham dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới. Khi Bác hỏi: “Cháu đã chuẩn bị những gì sang thăm và tham quan ở Cu Ba?” chị Lý đã thuật lại chuyện các chú lãnh đạo cho may áo dài, sắm dày cao gót nhưng sử dụng còn lúng túng lắm. Bác liền bảo: “Cháu sang Cu Ba lần này để báo cáo thành tích kinh nghiệm chiến đấu của mình và học tập kinh nghiệm của nhiều người khác chứ đâu có phải đi du lịch mà sắm các thứ ấy. Để Bác nói chú Song Hào chuẩn bị bộ đồ bộ đội và dép cao su cho cháu”. Và chị Trần Thị Lý đã mặc trang phục như thế trong suốt thời kỳ ở Cu Ba.

Người ta còn kể cho nhau nghe câu chuyện tình yêu của chị với Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn. Lần đó, Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn (sau này là Thượng tướng, Thứ trương Bộ Quốc phòng) về Hà Nội tham dự Đại hội liên hoan anh hùng LLVTND của quân đội. Người anh hùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng đó vì xông pha lăn lộn nơi trận mạc, hết Nam lại Bắc, hết Bắc lại Nam nên sắp đã bén tuổi tứ tuần mà vẫn chưa có một bóng hồng nằm lại trong tim mình. Thấy Nguyễn Chơn về dự Đại hội lần này có làm thân với nữ anh hùng Trần Thị Lý (nhân một lần xem phim ngồi cạnh nhau), anh em, đồng chí bèn “Ra tay” để giúp Nguyễn Chơn rút ngắn khoảng cách. Vào một tối thứ bảy nọ, họ rủ nhau (không quên kéo Trần Thị Lý cùng đi) đến phòng nghỉ của anh hùng Nguyễn Chơn uống nước, chuyện trò. Rồi như là đã bàn trước, họ bấm tay nhau, lần lượt rút lui. Đến người cuối cùng ra khỏi phòng, họ không quên khoá trái cửa lại, cốt là để tạo cơ hội cho hai người tự nhiên tâm sự với nhau.

Hơn 1 giờ đồng hồ, Đại tá anh hùng Nguyễn Chơn hút hết không biết bao nhiêu là thuốc lá, mặt đỏ gay, không biết nói một câu gì cả. Nữ anh hùng Trần Thị Lý ngồi yên như vậy, cũng không giám nhìn Nguyễn Chơn, tay bứt xé không biết mấy lá hoa trong lọ giữa bàn. “Thôi phải mở đường thoát cho hai người”. Nghĩ vậy, chị liền lên tiếng trước:- Cớ làm răng mà anh em họ nhốt mình trong phòng rứa, Thủ trưởng? Anh hùng Nguyễn Chơn lúc bấy giờ mới ngẩng lên, ấp úng:- Là vì…vì…họ nói, …họ nói…- Họ nói mần răng, thưa Thủ trưởng? – Trần Thị Lý khơi gợi. Anh hùng Nguyễn Chơn dũng cảm, táo bạo như cố vượt qua một trọng điểm: – Họ nói là tui ưng o! Anh hùng Trần Thị Lý mặt đỏ lên, mãi một hồi rất lâu nữa mới cất tiếng: – Họ nói như rứa thì ý Thủ trưởng mần răng? Nguyễn Chơn lúng túng như một học trò có lỗi:- Thì … thì…tui cũng ưng o như họ nói thật! Chỉ đợi được như thế. Tuy nhiên mãi một lúc sau, Trần Thị Lý mới bộc bạch được ý nghĩ của mình: – Ý Thủ trưởng răng thì em cũng rứa! Và thế là, anh em đồng chí “nghe trộm” ngoài cửa, mở cửa chạy vào. Một người vui tính hét vang:- Xong rồi! xong rồi! Trận đánh kết thúc hoàn toàn thắng lợi! Trai anh hùng, gái thuyền quyên! Chúc mừng anh chị đã phá được hàng rào, xung kích tiến lên chiếm lĩnh trận địa của tình yêu ! Không lâu sau, Nguyễn Chơn ở tuổi 48, Trần Thị Lý ở tuổi 34 thành vợ, thành chồng. Tình yêu của hai anh hùng LLVT ấy có được do sự chân thật của hai người, song cũng nhờ công rất lớn của bạn bè, đồng chí. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cha nuôi tinh thần của Trần Thị Lý bận việc không đến dự lễ cưới được đã gửi tặng đôi tân hôn 1 chai rượu ngoại, 2 cây bút máy. Chai rượu mang ý nghĩa mừng cuộc vui. Cặp bút máy mang ý nghĩa khuyên vợ chồng nên chỉ sinh 2 con. Quả vậy, vợ chồng Nguyễn Chơn và Trần Thị Lý sinh được 2 cô gái lanh lợi giỏi giang. Bây giờ 2 cô gái đã có gia đình và làm việc ở 2 cơ quan nhà nước.

Anh hùng Trần Thị Lý lần đó ra Hà Nội họp, được Bác Hồ mời vào thăm, ăn cơm cùng Bác với hai nữ anh hùng khác.Mâm cơm dọn ra, có thịt gà, canh bí đao, rau muống luộc, 1 bát cà pháo muối chua và bát nước chấm. Gắp nhiều thịt gà bỏ vào bát các nữ anh hùng, Bác nói: – Ở chiến trường, các cháu ăn uống kham khổ, công việc thì vất vả, nay phải ăn nhiều thịt gà vào cho khỏe, mai mốt trở lại chiến trường, có thêm sức mà chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ của mình. Còn Bác, Bác chỉ thích ăn rau muống luộc chấm tương và cà muối xứ Nghệ thôi. Ba nữ anh hùng được ngồi ăn cơm với Bác, sung sướng quá, cảm động quá, trước sự săn sóc của Bác nên không ai và nổi cơm. Thấy thế, bác giục: – Nhanh lên, đẩy mạnh tốc độ, thao tác linh hoạt, lanh lợi như đang vào trận, hỡi các nữ anh hùng!Được ngồi cạnh Bác, nữ anh hùng Trần Thị Lý chăm chú đợi Bác ăn xong bát thứ nhất, đặt bát đũa mình xuống, đưa hai tay đón bát của Bác để đơm thêm cơm. Có lẽ, vì quá sung sướng, vì được lần đầu tiên làm công việc này nên nữ anh hùng đất Đồng Hới Quảng Bình đâm ra lóng ngóng. Bởi vậy, không may một thìa cơm bị lọt xuống mâm. Sợ Trần Thị Lý hót bỏ sang bát trống đựng thức ăn thải loại, Bác liền dùng thìa và đũa hớt phần trên của phần cơm bị rơi ra mâm đó bỏ vào bát của mình và nói: – Được ngồi cạnh, rồi được đơm cơm cho Bác, sung sướng quá nên lóng ngóng, làm rơi cơm ra ngoài chứ gì? Không sao! Hạt cơm là hạt ngọc của trời, không nên bỏ phí. Thái độ chân thành và xử lý hợp thời của Bác khiến Trần Thị Lý vô cùng cảm động. Và câu nói của Bác biểu lộ tính kiệm cần của một người nông dân, gắn bó với sản phẩm của mình làm ra. Đối với anh hùng Trần Thị Lý, và thảy mọi người là một lời dạy sắt son luôn mang tính thời sự về ý thức tiết kiệm và sự tránh lãng phí mọi phương diện của cuộc sống.

Thiếu tá Trần Thanh Hương (em ruột anh hùng Trần Thị Lý đang nghỉ hưu ở khu dân cư số 8, phường Đồng Sơn, Tp. Đồng Hới) đã cho tôi biết một chi tiết vô cùng cảm động. Chị Trần Thị Lý bị đau đường ruột, điều trị khắp các bệnh viện trong nước không đỡ nên đã sang Trung Quốc điều trị. Nhưng bệnh tình vẫn ít thuyên giảm. Sau đó đơn vị đã đưa chị về điều trị tại bệnh viện Quân y 17 quân khu 5. Biết mình sẽ không qua nổi, chị xin bệnh viện về nhà nghỉ một đêm. Đêm đó chị dặn dò chồng, con, em và các cháu nhiều điều và ngủ một đêm rất ngon lành trong ngôi nhà ấm cúng của mình trước khi sáng mai phải trở lại bệnh viện. Ít hôm sau chị đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7/5/2000.

Anh hùng Trần Thị Lý là một trong 3 khuôn mặt nữ anh hùng bên sông Nhật Lệ trong những ngày đánh Mỹ. Đó là những người đã góp phần làm sáng danh lịch sử quê hương Đồng Hới anh hùng.

Nhà văn Hoàng Bình Trọng với nghiệp đời gập ghềnh
NGẬM NGÙI VỚI NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
Hồ Ngọc Diệp, ngày 26 tháng 3 năm 2022

Ông đã ” Tự trào”

“Tớ không có chí làm vua
Nên trời bắt tớ cày bừa ruộng văn
Thôi thì tám đóm tám khoanh
Chăm gieo chuyện ngắn gặt nhanh chuyện vừa
Lại còn tiểu thuyết còn thơ
Lại còn dịch diệt ăng ô Tây Tàu”

Nhà văn Hoàng Bình Trọng, nguyên là kỉ sư ngành trắc đạt bản đồ mỏ địa chất. Do đi nhiều và và lòng ham chuộng văn học,ông có mấy bài báo viết cho các báo hiện hành những năm 1969 – 1970. Thấy năng lực đầy triển vọng, Nhà Xuất Bản Kim Đồng thời kì đó đặt hàng cho ông viết tiểu thuyết cho thiếu nhi,.sau gần ba tháng vừa giảng dạy tại trường trung cấp mỏ địa chất ở Vỉnh Phú, vừa viết sách, cuốn chuyện “Bí mật một khu rừng”, dày hơn 300 trang ra đời. Cuốn truyện thu hút bạn đọc thiếu nhi và cả người lớn đến nỗi, sau “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài, “Bí mật một khu rừng”, được tái bản 10 lần,mỗi lần 3 vạn cuốn. Sách còn được dich sang tiếng Nga và Đài Tiếng Nói Việt Nam đã 3 lần phát ở chương trình “Đoc chuyện đêm khuya” ,mỗi kì phát ngót nghét một tháng trời. sau tác phẩm nổi tiếng đầu tay đó Hoàng Bình Trọng được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Cho đến cuối đời, ông đã viết 38 tác phẩm, trong đó 13 tiểu thuyết, 3 trường ca v.v…. Năm 1971,Hoàng Bình Trọng có gia nhập vào quân đội và có 5 năm chiến đấu ở chiến trường B. Hết chiến tranh,ông ra quân và Hội văn học Vĩnh Phú nhận ông về biên tập cho tạp chi “Đất Tổ”. Mấy năm sau, chia tỉnh, ông lênh đênh tìm bến đỗ . Nạn tiếm quyền buổi giao thời này khiến ông không đến được nơi ông cần đến. Nơi cũ thì đã cắt giấy tờ, nơi đến thì không nhận vì đã có ngươi choán chỗ. Ba tháng trời không lương, lại hết tỉnh Vĩnh Phúc đến Phú Thọ, mệt mỏi, bất lực,ông đành về 176. Về với vơ ở Quảng Hòa Quảng Trạch ông đi làm thuê, thậm chí lên rừng hái củi về bán nuôi vợ và con trai. Ông Nguyễn Văn Lợi tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Quảng Bình (sau này là tạp chí Nhật Lệ) đã đón ông vào làm biên tập viên. 14 năm trời làm việc ở đây, không bia rượu, thuốc lá,chỉ mấy cái song tự nấu ăn hàng ngày, ông vừa làm việc vừa sáng tác. Ở Quảng Bình, chưa ai có nhiều giải thưởng văn học danh giá như ông, từ địa phương đến trung ương. Khi Nhật Lệ đủ biên chế rồi, ông phải về quê sống với ngòi bút của mình

Và ông cười khẩy

“Một giọt rơi,
Một quảng đời tàn lụi
Tiếc làm chi cái kiếp phù sinh
Chỉ cần biết bao giờ nến tắt
Ấy là khi đã cháy hết mình”.

Về quê cũ, bệnh viêm phổi mãn tính hoành hành. Đã nghèo nhưng phải nằm viện liên miên. Hết Cu Ba đến Huế, Hết Quảng Trạch lại Hà Nội, cuối cùng Hoàng Bình Trọng đã rời cõi tạm đầu năm 2021. Báo Văn Nghệ đã chia sẻ nhà văn Hoàng Bình Trọng qua bài viết nhỏ của tôi. Cảm ơn quý báo.

Nhạc sĩ Trần Hoàn
VIẾT CHO SỰ GIÃ BIỆT
Hồ Ngọc Diệp, 20 tháng 1 năm 2022 ·

Nhạc sĩ Trần Hoàn có nhiều duyên nợ với Quảng Bình . Nhưng nhiều người chưa được biết ông có một ca khúc viết về một cô gái mà chỉ ông biết tại Quảng Bình, viết cho một cuộc giã từ đi xa mãi mãi, trên đất Quảng Bình. Tôi đã được báo Văn Nghệ Công An giới thiệu bài viết về sự kiện này với bạn đọc gần xa. Một phần thưởng lớn lao đầy ý nghĩa đã đến với tôi,đó là bà Thúy Hồng, vợ của Nguyễn Tăng Hích( tên thật của nhạc sĩ Trần Hoàn) điện về tổng biên tâp báo Văn Nghệ Công An xin số điện thoại của tôi. Sau đó bà đã điện vào cảm ơn tôi đã có một bài viết hay và những điều bà chưa được biết hết về người chồng thân yêu của mình. Với tôi, đó là phần thưởng vô giá.

Bài ca trường Quảng Trạch https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-truong-quang-trach/ Dạo chơi non nước Việt https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-choi-non-nuoc-viet/

Câu chuyện ảnh tháng Mười

Vào Tràng An Bái Đính

Nha Trang

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Mênh mang một khúc sông Hồng
Huyền Thoại Hồ Núi Cốc
Một thoáng Tây Hồ
Trên đỉnh Phù Vân
Chảy đi sông ơi …

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Giống khoai Bí Đà Lạt

GIỐNG KHOAI BÍ ĐÀ LẠT
Hoàng Long, Hoàng Kim, Nguyễn Văn Phu
(Bài giảng Cây Lương thực Việt Nam, http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong; Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh)

Nguồn gốc giống Giống khoai lang Bí Đà Lạt hay còn gọi là khoai lang Bí Mật Đà Lạt là giống một giống khoai lang phổ biến bản địa nguồn gốc tại Đà Lạt do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Hoàng Kim Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Ngày nay (2021) vẫn là giống khoai lang phổ biến ở Đà Lạt.

Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 23 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 25-27%, chất lượng củ luộc dẽo ngọt, tươm mật, độ dẽo hơn độ bột, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam nhạt đến đậm, dạng củ đẹp, dây tím xanh, lá xanh tím hình tim không khía, phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình

Tuyển chọn hệ củ khoai lang Bí Đà Lạt

IAS90

Kỷ yếu 90 năm Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam 1925- 2015, trang 51, xác định: Bảy giống khoai lang tốt được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận giống ở các tỉnh phía Nam, được trồng phổ biến trong sản xuất và mang lại sự thay đổi căn bản về năng suất cao, chất lượng ngon cho sự canh tác khoai lang tại nhiều tỉnh Việt Nam.

KhoaiSan

Bảy giống khoai lang gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Khoai Gạo, Bí Đà Lạt (Bộ Nông nghiệp Công nghiệp Thực phẩm công nhận giống năm 1981). HL4 ( Bộ Nông nghiệp Công nghiệp Thực phẩm công nhận giống năm 1987). HL518 và HL491 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997). Đây là những giống khoai lang chủ lực trong sản xuất tại thời điểm. HL518 (Nhật đỏ) và HL491 (Nhật tím) đột phá về chất lượng khoai ngon. Những tỉnh trồng hai giống khoai lang này nhiều là Vĩnh Long, Kiên Giang, Đà Lạt, Đắk Nông, Gia Lai, Đồng Nai và Sóc Trăng. Điển hình tỉnh Vĩnh Long sản lượng khoai lang năm 2000 là 46, 2 ngàn tấn, diện tích khoai lang 2,5 ngàn ha, năng suất bình quân 18,4 tấn/ ha , năm 2011 sản lượng khoai lang đạt 248,7 ngàn tấn, diện tích khoai lang 8,5 ngàn ha, năng suất bình quân 29,2 tấn / ha (Tổng cục Thống kê 2014) do trồng thâm canh Nhật tím HL491 và Nhật đỏ HL518.

Bài liên quan:
Giống khoai Bí Đà Lạt
Giống khoai Hoàng Long
Giống khoai lang HL4
Giống khoai lang HL491
Giống khoai lang HL518
Giống khoai lang Việt Nam

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Giúp bà con cải thiện mùa vụ (Video Long Phu ở Lào)
https://www.facebook.com/watch/?v=845140395871560

Chiến dịch Hồ Chí Minh
KỶ YẾU KHOA NÔNG HỌC 65 năm thành lập Khoa
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
Bài học quý biết chăm sóc sức khỏe
Secret Garden, Bí mật vườn thiêng 
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Ban Mai; Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Phim vua Solomon
KimYouTube

Việt Nam con đường xanh

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Hoàng Kim

Diện tích lúa bỏ hoang vì sản xuất không hiệu quả trong 12 tháng liên tục khoảng 40.000 ha, trong đó 17.413,6 ha đất lúa bị bỏ hoang do sản xuất không hiệu quả (Nguồn: Phân tích và dự báo thị trường). Làm lúa mỗi ngày thu nhập 2.000đ/sào. Hai sắc thái của ruộng hoang: [Bài II] Khi đồng ruộng không khác viện dưỡng lão (Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam ). “Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang. Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”. Đắng lòng nhớ lại câu ca dao Việt, tôi lần đọc lại “Đào Thế Tuấn chân dung người Thầy” trích đọc Đào Thế Tuấn trang văn gửi lại. Chừng nào người dân nông thôn chưa thay đổi được số phận của mình thì chừng đó bài toán kinh tế chưa khai mở được tiềm lực nông nghiêp nông dân nông thôn. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/…/viet-nam-con-duong-xa…/

Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn có nhiều trước tác gửi lại nhưng theo ý chúng tôi thì có bốn tài liệu rất ngắn và rất đáng quan tâm: Một là bài viết “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững”. Hai là bài nói “Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường” GSVS. Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo VietNamNet ngày 30 tháng 3 năm 2008, Hà Yên thực hiện. Ba là bài nói “Phải xây dựng xã hội dân sự ở nông thôn” Giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Tuần Việt Nam (trích dẫn nguồn IPSARD ngày 7.7.2009, Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Đoan Trang thực hiện) nhân sự kiện ĐSQ Pháp ở Hà Nội đã tổ chức lễ trao Huân chương hạng nhất của Chính phủ Pháp cho Giáo sư. Bốn là bài nói ‘Bài toán “tam nông” thời kỳ đô thị hóa’ GS-VS Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo Thể thao & Văn Hóa do Nguyễn Yến thực hiện trong bài viết ‘Anh hùng nông học giữa Hà thành’ ngày 2. 8. 2010.

Vì giá trị của những lời tâm huyết, chúng tôi xin dẫn nguyên văn mà không bình luận:

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn – những vấn đề không thể thiếu trong phát triển bền vững

Đào Thế Tuấn
Viện sĩ, Chủ tịch Hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

“Ở nước ta, phát triển nông nghiệp có liên quan mật thiết đến tính bền vững của sự phát triển. Nếu khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng, phân hóa xã hội quá mức thì dù có đạt được sự tăng trưởng cao chưa thể coi là đã có phát triển. Hơn thế nữa, nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề tuy khác nhau, nhưng nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách thành công được.

1 – Vấn đề nông nghiệp

Hiện nay, có ý kiến cho rằng, nông nghiệp nước ta đã phát triển tương đối tốt. Đặc biệt, chúng ta xuất khẩu được nhiều nông sản trong điều kiện giá lương thực và nông sản thế giới đang tăng. Tuy nhiên, thực tế không hẳn là như vậy, vẫn còn nhiều bất cập khiến chúng ta phải quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển của nông nghiệp. Tỷ trọng của nông nghiệp trong sản phẩm quốc nội (GDP) giảm dần, nhưng không có nghĩa là vai trò của nông nghiệp ngày càng giảm. Thực tế cho thấy, Hoa Kỳ và Pháp, hai nước có nền công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới cũng là hai nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Ngược lại, các nước Đông Á, vốn được coi là giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp song song với công nghiệp hóa, thì hiện nay phải nhập khẩu lương thực và nông sản ngày càng nhiều, vì nông nghiệp đã giảm sút nghiêm trọng(1). Việc các nước đã phát triển đang phải trợ cấp cho nông nghiệp rất nhiều làm cho các nước đang phát triển gặp không ít khó khăn là cái giá phải trả cho việc đã không chú ý đến nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa.

Các nước đang phát triển hiện nay có dư lượng lao động nông thôn quá cao, và ngày càng tăng. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, dự báo vào năm 2020, nông nghiệp trong GDP còn 5%, lao động nông nghiệp còn 35% và lao động nông thôn còn 45%. ở nước ta, theo dự báo của chúng tôi, cũng vào năm ấy, nông nghiệp trong GDP sẽ còn 10%, lao động nông nghiệp vẫn còn 23%. Như vậy, ngay khi đã công nghiệp hóa thành công, vai trò của nông nghiệp ở các nước đang phát triển vẫn còn cao, về thực chất vẫn còn là nước công – nông nghiệp. Do vậy, chúng ta không thể sao nhãng việc phát triển nông nghiệp, mà phải coi nó như một trong những mục tiêu trọng tâm của phát triển kinh tế.

Vấn đề lớn của nông nghiệp nước ta sau thời kỳ đổi mới là chất lượng nông sản còn thấp, vì chủ yếu xuất khẩu nông sản thô, quy mô sản xuất nhỏ nên giá thành cao, năng suất lao động thấp. Muốn tăng giá trị nông sản, cần cải tiến chất lượng sản phẩm bằng cách phát triển các sản phẩm có xuất xứ địa lý, sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn thực phẩm quốc tế và sản phẩm hữu cơ. Để làm được việc này, cần xây dựng một thể chế quản lý chất lượng nông sản đi đôi với việc phát triển công nghiệp chế biến nông sản.

Thể chế thị trường nông sản, nếu chủ yếu chỉ dựa vào quan hệ nông dân – doanh nghiệp theo kiểu hợp đồng nông nghiệp sẽ dẫn đến sự độc quyền của doanh nghiệp chế biến và lưu thông. Nông dân, những người sản xuất trực tiếp vẫn chịu nhiều thiệt thòi. Muốn giải quyết tình trạng này, phải phát triển các hợp tác xã bao gồm cả hoạt động chế biến và buôn bán, lưu thông thì việc phân phối thu nhập mới được công bằng. Nhà nước không thể trợ giúp nông dân thông qua các doanh nghiệp nhà nước, vì thu lợi nhuận là mục tiêu chính và trước hết của doanh nghiệp, bởi vậy, phải thực hiện các hỗ trợ của Nhà nước thông qua các dịch vụ công. Hiện nay, các dịch vụ công phục vụ phát triển nông nghiệp còn yếu, đặc biệt các hộ nghèo ít được hưởng lợi. Chúng ta đã xây dựng được một số hệ thống cung cấp dịch vụ công do các tổ chức nông dân thực hiện cùng với Nhà nước và thị trường, cho phép nâng cao hiệu quả của việc cung cấp dịch vụ cho nông dân, tới đây cần nhân rộng các mô hình này.

Một vấn đề khác là, giá đầu vào của sản xuất nông nghiệp đang tăng mạnh, giá nông sản không theo kịp, nông dân không còn hăng hái với sản xuất nông nghiệp, lao động nông thôn đang bỏ ra đô thị kiếm việc làm, lao động nông nghiệp đang bị nữ hóa, già hóa và chuyển từ thâm canh sang quảng canh, chăn nuôi và nghề phụ đang bị giảm sút… Giá một số nông sản như lúa mì, ngô, đậu tương đang tăng rất nhanh trên thị trường thế giới mà chúng ta vẫn nghĩ đến việc nhập khẩu, không nhân cơ hội này để phát triển sản xuất trong nước. Nông thôn đang có xu hướng quay trở về độc canh cây lúa, từ bỏ việc đa dạng hóa sản xuất. Trong điều kiện này, chúng ta thiếu các biện pháp để chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thiếu biện pháp để tăng năng suất lao động. Tình trạng này sẽ dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực và thực phẩm như các nước công nghiệp mới ở Đông á và Đông – Nam á. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, trong thế kỷ XXI, thế giới sẽ thiếu lương thực, đây có phải là một thời cơ cho chúng ta phát triển nông nghiệp không?

Khoa học – kỹ thuật phục vụ nông nghiệp nước ta chưa phát triển. Các câu hỏi của công nghệ nông nghiệp thế kỷ XXI như vấn đề hướng công nghệ sinh học bảo đảm các nguy cơ đối với sức khỏe của con người và môi trường, vấn đề nông nghiệp hữu cơ với dự báo sẽ chiếm lĩnh thị trường nông sản thế giới, vấn đề phòng chống hiện tượng nóng lên của khí quyển, nước biển dâng cao làm ngập các đồng bằng – vốn được coi là những vựa lúa của nước ta, vấn đề nông nghiệp chính xác áp dụng công nghệ định vị, vấn đề nông nghiệp thẳng đứng hay không đất để giải quyết vấn đề thiếu đất và bảo vệ môi trường…., hầu hết vẫn chưa tìm được câu trả lời.

Các vấn đề biến đổi khí hậu và rủi ro trong nông nghiệp ngày càng tăng, mà chúng ta chưa có các biện pháp bảo vệ nông nghiệp, chống thiên tai và rủi ro. Hệ thống bảo hiểm chống thiên tai và rủi ro mặc dù phức tạp, nhưng không phải không có cách thực hiện được.

Chúng ta cũng chưa có một chiến lược công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, hiện đại hóa nông nghiệp như thế nào trong điều kiện đất ít, người đông, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp.

2 – Vấn đề nông dân

Một thực tế là, nông dân còn quá nghèo, việc giải quyết giảm nghèo chưa gắn liền với phát triển kinh tế nông thôn nên chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo vẫn còn rất cao. Nông dân là bộ phận công dân ít được hưởng phúc lợi xã hội, nhất là về giáo dục, y tế. Những vấn đề xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết một cách cơ bản như: bảo hiểm thiệt hại do thiên tai và thị trường, bảo hiểm xã hội. Theo kinh nghiệm của các nước, không thể chỉ giải quyết các vấn đề xã hội của nông thôn bằng các biện pháp thị trường.

Nông dân thiếu việc làm ở nông thôn phải di cư ra thành thị để tìm việc, làm thuê với giá lao động rất thấp và bị đối xử như “công dân loại hai”, mặc dù họ là động lực chủ yếu của công cuộc đổi mới. Chưa có một quy hoạch chuyển đổi cơ cấu lao động, rút lao động ra khỏi nông thôn và nông nghiệp. Nông dân tham gia thị trường lao động nhưng không được đào tạo nghề, không được Nhà nước hỗ trợ như trước kia đã làm trong các chương trình kinh tế mới. Do vậy, cần có một hệ thống biện pháp đồng bộ giúp đào tạo nông dân, đó chính là biện pháp để xây dựng giai cấp công nhân mới. Đây cũng là giải pháp hữu hiệu giúp cho lớp người này không trở thành “vô sản lưu manh”, kéo theo đó là tội phạm và tệ nạn xã hội.

Một điều tối quan trọng là, quyền lợi của nông dân chưa được bảo vệ vì thiếu nghiệp đoàn nông dân. Nông dân là bộ phận yếu thế nhất, không có quyền mặc cả trên thị trường, nên quan hệ giữa thương nghiệp với nông dân đang diễn ra thiếu công bằng. Nông dân còn thiếu chủ quyền về đất đai, bị mất đất mà không có ai bênh vực. Việc đầu cơ ruộng đất làm giá bất động sản lên cao một cách giả tạo, nhưng nông dân cũng không được hưởng lợi gì từ việc này. Tình trạng này có nguyên nhân từ sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước. Ngay ở một số nước có sở hữu đất tư nhân, nhà nước vẫn kiểm soát việc sử dụng đất một cách chặt chẽ.

Để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa có hiệu quả và năng suất lao động cao, con đường đúng đắn không phải là xóa bỏ kinh tế hộ nông dân, phát triển trang trại, mà là tổ chức hợp tác xã kiểu mới có chế biến nông sản và buôn bán chung nhằm mở rộng quy mô sản xuất, thực hiện thương nghiệp công bằng. Hiện nay, chúng ta đang thiếu một hệ thống dịch vụ trợ giúp cho nông dân xây dựng các hợp tác xã kiểu mới, bắt đầu từ việc xây dựng các tổ hợp tác để tiến lên hợp tác xã. Đây là biện pháp cơ bản để tiếp tục phát triển kinh tế gia đình nông dân, bắt đầu từ “Khoán 10”, chuyển hộ nông dân thành nông trại gia đình như ở các nước tiên tiến.

Thế nhưng, hạn chế cố hữu của nông dân ở nước ta là tính thụ động, chờ đợi sự hỗ trợ, trừ một số vùng đặc biệt có vốn xã hội cao. Hiện nay, có nhiều vùng nông dân rất năng động nhưng chúng ta chưa thực hiện được việc tổ chức nghiên cứu các trường hợp ấy để có thể chuyển giao tính năng động sang các vùng khác.

3 – Vấn đề nông thôn

Trong quá trình đổi mới, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa nhau, do chưa có chiến lược đổi mới hiệu quả.

Nông nghiệp mâu thuẫn với phát triển nông thôn. Các vùng phát triển nông nghiệp mạnh thì không chuyển đổi được cơ cấu kinh tế nông thôn, không tạo thêm được việc làm và không tăng nhanh thu nhập của nông dân. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn không thuận lợi cho việc nâng cao năng suất lao động nông thôn và tăng thu nhập của nông dân. Việc để nông dân đi bán sức lao động ở nơi khác với giá rẻ mạt, việc không có quy hoạch lao động, đã dẫn đến nhiều vùng thiếu lao động và giá lao động tăng mạnh.

Mức đóng góp của nông dân, nông thôn cao, phúc lợi cung cấp cho nông dân lại thấp, nông dân còn ít được hưởng lợi về đầu tư kết cấu hạ tầng và các nguồn cung cấp phúc lợi của Nhà nước.

Từ các hộ nông dân đang xuất hiện nhiều doanh nghiệp nhỏ: nông trại gia đình, doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ từ các làng nghề, nhưng các doanh nghiệp này không được các chương trình doanh nghiệp nhỏ và vừa hỗ trợ. Nông thôn còn thiếu các thể chế dựa vào cộng đồng như hợp tác xã và các tổ chức nghề nghiệp của nông dân để phụ trách việc cung cấp các dịch vụ công.

Một vấn đề nữa còn gây nhiều bức xúc là môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nên có các chương trình bảo vệ môi trường gắn liền Nhà nước, doanh nghiệp và các cộng đồng nông thôn cùng thực hiện việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu giao việc bảo vệ môi trường cho các tổ chức nông dân thì có thể biến việc bảo vệ môi trường trở thành những hoạt động kinh tế tạo việc làm và thu nhập cho nông dân. Việc phát triển du lịch nông thôn cũng góp phần nâng cao được chất lượng môi trường.

Nông thôn còn thiếu mạng lưới an sinh xã hội, trong khi thu nhập tương đối giảm nhanh. Việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội phải gắn liền với hoạt động tương trợ, với các tổ chức nông dân. Ở Pháp, từ một tổ chức bảo hiểm tương trợ đã phát triển lên thành một công ty bảo hiểm quốc tế lớn nhất châu Âu, từ một quỹ tín dụng nông nghiệp thành một ngân hàng giàu nhất châu Âu. Các tổ chức này vẫn là tổ chức tập thể của nông dân.

Các nguyên nhân gây cản trở cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể chỉ giải quyết bằng các biện pháp tình thế, mà có thể phải thay đổi ngay từ trong đường lối cải cách kinh tế – xã hội. Có thể thấy, cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc bị ảnh hưởng mạnh của chủ nghĩa tự do mới, quá đề cao kinh tế thị trường và sớm đồng thuận với sự rút lui của nhà nước trong quản lý, thiếu cải cách xã hội. Đó là lý do chính làm cho khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa nhau. Thêm vào đó, chúng ta lại đang dựa vào ưu thế cạnh tranh trong việc phát triển công nghiệp và dịch vụ để thu hút đầu tư nước ngoài là giá lao động rẻ, giá đất rẻ và giá môi trường rẻ. Do đó, mục tiêu của việc tăng trưởng nhanh dựa vào các ưu thế cạnh tranh này đã mâu thuẫn với các mục tiêu của phát triển nông thôn. Việc thu hút quá nhiều đầu tư nước ngoài sẽ dẫn đến sự phụ thuộc chính trị và phát triển không bền vững, gây khó khăn cho các thế hệ sau vì phải gánh nợ tích lũy từ các thế hệ trước. Mặt khác, chúng ta còn thiếu một nền kinh tế mang tính xã hội, và các doanh nhân xã hội thì không thể thực hiện được việc cải cách xã hội. Không thể chỉ dựa vào việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia hoạt động từ thiện. Cần có một đường lối xã hội hóa công cuộc cải cách kinh tế xã hội, không lẫn lộn xã hội hóa với thị trường hóa và tư nhân hóa. Xã hội hóa là huy động sự tham gia của quần chúng. Phát triển mạnh xã hội dân sự để huy động quần chúng tham gia vào sự phát triển chính là áp dụng truyền thống quan điểm quần chúng của Đảng.

Để giải quyết các vấn đề trên, cần có một hệ thống biện pháp phát triển nông thôn có hiệu lực, theo chúng tôi, đó là:

– Nhà nước cần có chính sách phát triển nông thôn toàn diện, không chỉ tập trung vào nông nghiệp. Việc phát triển nông thôn là công việc của hầu hết các bộ chứ không phải chỉ riêng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hiện nay, chúng ta đã có Hội Khoa học phát triển nông thôn để huy động lực lượng quần chúng giúp nhà nước và doanh nghiệp thực hiện công việc này. Chúng ta đang được các tổ chức quốc tế và trên 399 tổ chức phi chính phủ hỗ trợ việc phát triển nông thôn, nhưng chúng ta không biết họ đang làm gì để hợp tác một cách chặt chẽ. Hội Khoa học Phát triển nông thôn đang cố gắng xây dựng cơ sở khoa học cho việc phát triển nông thôn và xây dựng một trung tâm cung cấp dịch vụ phát triển nông thôn hoạt động theo nguyên tắc của một doanh nghiệp mang tính xã hội, giống như một mô hình kiểu mới chưa có ở nước ta nhưng rất phổ biến ở các nước…

– Nhà nước phải hỗ trợ việc tăng cường năng lực cho các cộng đồng nông thôn để nông dân có thể tham gia vào việc phát triển nông thôn. Xây dựng các thể chế nông thôn dựa vào cộng đồng: hợp tác xã và các tổ chức nghề nghiệp của nông dân. Cần tổng kết các sáng kiến mới đang xuất hiện ở nông thôn như việc phát triển các cụm nông nghiệp và công nghiệp, việc hình thành các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn, việc phát triển du lịch nông thôn, việc áp dụng công tác khuyến nông kinh tế xã hội và tư vấn quản lý nông trại, việc đào tạo nông dân, không những để sớm có những “nhà nông” chuyên nghiệp có trình độ sản xuất, kinh doanh tiên tiến, mà còn gắn bó lâu bền với nông thôn…/.”

(1) Phi-lip-pin là một nước nông nghiệp, trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã dành quá nhiều diện tích canh tác cho phát triển đô thị và khu công nghiệp, khu chế xuất, nhất là có quá nhiều sân golf, nay đang “đau đầu” vì thiếu lương thực một cách trầm trọng.

Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường

GSVS. Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo VietNamNet,30/03/2008, Hà Yên thực hiện “Đừng để nông dân thêm yếu thế trong cơ chế thị trường”.

“Có một sự hiểu nhầm rằng, phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn là một, và Chính phủ giao Bộ NN-PTNT lo về phát triển nông thôn. Trên thực tế, Bộ này chưa làm được gì nhiều cả. Ngày trước, việc phát triển nông thôn do Bộ máy bên Đảng làm, có Ban Nông nghiệp TƯ lo tất cả các vấn đề về nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, xây dựng nông thôn như thế nào…, được cụ thể trong Chỉ thị 100, Nghị quyết TƯ 10… Bây giờ, đưa nông thôn về Bộ NN-PTNT, trong khi Bộ hầu như chỉ lo phát triển sản xuất và phòng chống thiên tai, mà lẽ ra phòng chống thiên tai là do Bộ Tài nguyên – Môi trường phải làm. Nên mỗi lần có thiên tai, Bộ trưởng Bộ NN-PTTN lại phải chạy khắp các địa phương để chỉ đạo, không có thì giờ để lo phát triển nông thôn.

Thứ hai ở Việt Nam có sự hiểu nhầm về chuyện phát triển nông nghiệp tốt thì phát triển nông thôn tốt vì nông nghiệp đi lên kéo theo nông thôn phát triển. Thực tế không phải như vậy. Nông nghiệp là ngành sản xuất còn nông thôn là lãnh thổ. Hầu như tất cả các bộ, ngành của ta đều có bộ phận lo về nông thôn, như Giáo dục, Y tế rồi LĐ-TBXH… Vậy tại sao lại giao cho một bộ phụ trách cả công việc lớn như vậy?… Hiện nay, trong phát triển nông thôn có hai vấn đề lớn: ruộng đất và lao động, nhưng Bộ NN-PTNT lại không được quản lý.”

”Giảm thủy lợi phí và nhiều khoản thuế khác tất nhiên là tốt rồi nhưng cái đó không phải là chính . Ở Trung Quốc, thu nhập của người dân thành thị cao hơn nông thôn 3,6 lần . Họ cho rằng đó là mới tính thu nhập bằng tiền chứ chưa tính phúc lợi là giáo dục và y tế . Nếu cộng cả hai yếu tố này , khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn thành thị Trung Quốc là hơn 5 lần. Con số này ở Việt Nam hiện là 2,6 lần. Nếu tình hình vẫn như hiện nay thì sẽ giống như Trung Quốc. Theo tôi muốn giải quyết được vấn đề phúc lợi không thể làm theo kiểu kinh tế thị trường. Bây giờ Việt Nam đang lẫn lộn giữa xã hội hóa, thị trường hóa và tư nhân hóa . Nếu muốn làm phúc lợi cho nông dân phải xã hội hóa . Xã hội hóa thực chất là bắt dân đóng tiền thôi. Xã hội hóa là cả xã hội phải lo công việc đó”.

Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay về thực chất là vấn đề phát triển bền vững . Nếu công cuộc đổi mới của nước ta dẫn đến một sự phân hóa xã hội quá mức, tăng khoảng cách giữa thành thị và nông thôn thì sự phát triển sẽ không bền vững. Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề khác nhau, song nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể CNH-HĐH đất nước một cách vững chắc được.

“Phải xây dựng xã hội dân sự ở nông thôn”

Giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Tuần Việt Nam (trích dẫn nguồn IPSARD ngày 7.7.2009, Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Đoan Trang thực hiện) nhân sự kiện ĐSQ Pháp ở Hà Nội đã tổ chức lễ trao Huân chương hạng nhất của Chính phủ Pháp cho Giáo sư.

“Tôi không đồng ý với cách nói “phát triển nông nghiệp vì chúng ta có lợi thế về nông nghiệp”. Nông nghiệp là ngành mà chúng ta phải duy trì và phát triển, không phải vì lợi thế cạnh tranh nào cả, mà vì phát triển nông nghiệp là chuyện bắt buộc phải làm, không là chết, vậy thôi. Người ta đã tính rằng đến năm 2050, thế giới cần lương thực gấp đôi hiện nay, đến cuối thế kỷ thì nhu cầu tăng gấp ba. Nếu cung lương thực cho thế giới thiếu thì giá chắc chắn sẽ tăng lên. Nói cách khác, nếu để mất an ninh lương thực thì sẽ phải nhập khẩu để sống sót, mà nhập khẩu thì càng ngày càng đắt. Việt Nam có 86 triệu dân, con số không hề nhỏ. Phải xây dựng được nền nông nghiệp ít nhất là bảo vệ được an ninh lương thực của nước nhà, còn nếu biết làm tốt hơn thì càng có lợi về kinh tế. Nhìn từ góc độ chính trị – xã hội, nông dân Việt Nam là những người ít được hưởng lợi từ đổi mới nhất. Nông dân còn quá nghèo, ít được hưởng phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế…), thiếu việc làm ở nông thôn và buộc phải di cư ra thành phố làm thuê với giá lao động rẻ mạt. Nông dân đang bị bần cùng hóa, và đó là nguy cơ gây bất ổn xã hội. Như ở Trung Quốc bây giờ, bạo loạn ở nông thôn xảy ra nhiều lắm, ấy là hậu quả của sự bần cùng hóa nông dân.”

“Quá trình công nghiệp hóa ở các nước không giống nhau. Thế kỷ 17-19, các nước tư bản dùng nguồn lợi bóc lột từ hệ thống thuộc địa để làm công nghiệp hóa, ví dụ Anh, Pháp là theo cách này. Nước nào không có thuộc địa, như Đức, thì gây chiến để giành lấy thuộc địa. Thế kỷ 20, Liên Xô sau khi tiến hành Cách mạng Tháng Mười, không có nguồn lực để công nghiệp hóa nên họ buộc phải dùng nông nghiệp để làm công nghiệp. Trung Quốc từ thời Mao Trạch Đông cũng vậy, bóc lột nông dân, vắt kiệt nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp. Và Việt Nam ta bây giờ đang diễn lại đúng kịch bản đó”. Chúng ta tuy không có một chủ trương nào nói rằng phải dùng nông nghiệp để nuôi công nghiệp nhưng thực tế đang cho thấy đúng như vậy đó. Tất cả những câu “nông dân là lực lượng cách mạng”, “nông dân là những người khởi xướng Đổi mới”, “phải biết ơn nông dân”, “phải ưu tiên phát triển hợp lý nông nghiệp”, tôi cho đều là mị dân cả. Trên thực tế, nông nghiệp đang bị lép vế, nông dân thua thiệt đủ bề. Đó là hậu quả của việc bóc lột nông nghiệp để dồn lực cho công nghiệp hóa. Tôi nói cách khác, việc nông thôn, nông nghiệp Việt Nam bây giờ kém phát triển hoàn toàn là do cơ chế, do đường lối, quyết định của lãnh đạo mà thôi.”

“Từ kinh nghiệm chung của thế giới, tôi thấy là nếu anh làm quản lý ruộng đất tốt thì còn đất nông nghiệp tăng thêm, còn thừa đất ấy chứ. Tình trạng mất đất nông nghiệp ở ta là do đầu cơ mà ra cả. Nói sâu xa hơn thì do cách quản lý của ta là quản lý để đầu cơ. Ngay xung quanh Hà Nội đây này, tôi biết có nhiều nơi, người ta xây những ngôi mộ giả để găm đấy, chờ khi nào chính quyền lấy đất thì sẽ được đền bù.Bây giờ có lắm ý kiến nói tới việc tăng hạn điền cho nông dân. Tôi thì tôi cho rằng nhiều người nói vậy vì họ có quyền lợi liên quan tới việc đầu cơ ruộng đất. Hạn điền ở nước ta không thấp. Ngay Hàn Quốc cũng chỉ có 3 hécta, Nhật Bản 10 hécta. Mở rộng thêm để làm gì, chỉ tạo điều kiện cho đầu cơ phát triển thêm”.

“Vấn đề sở hữu tư nhân về đất nông nghiệp cũng vậy, đang được đặt ra, nhưng theo tôi là không cần thiết. Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất còn rộng hơn quyền sở hữu đất ở Pháp. Có tập trung ruộng đất trong tay địa chủ thì cũng không đẻ ra sản phẩm. Ở nhiều nước đang phát triển, phải tồn tại nông dân nghèo không ruộng đất thì mới có người làm thuê. Ví dụ như ở Brazil, nông dân biến thành thợ. Họ ở thành phố, hàng ngày về nông thôn làm việc rồi chiều tối lại lên thành phố.”

“Thu nhập thấp, mất đất, không có việc làm. Khoảng cách thu nhập, chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn là rất lớn. Nông dân ở nông thôn không được tiếp cận rộng rãi với giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, không có tích lũy. Nhà có người ốm đi viện một lần là của cải mất hết, trắng tay. Thêm một đứa con đi học xa, học lên cao là cả nhà lao đao. Việc làm cho nông dân là vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam và cũng là vấn đề lớn với thế giới. Nhìn chung, thế giới càng công nghiệp hóa càng thừa lao động, bởi vì công nghiệp và dịch vụ sử dụng lao động ít hơn nông nghiệp. Nói cách khác, công nghiệp và dịch vụ không thể “nuốt” hết số lao động dôi dư. Thừa lao động nông nghiệp là một trong các kết quả của quá trình phát triển. Ở ta, nông thôn thừa khoảng 50% lao động, nhưng lại không phải là kết quả của sự phát triển công nghiệp, mà do họ làm nông nghiệp thì không có đất, không làm nông nghiệp thì chẳng biết dùng họ vào việc gì. Xuất khẩu lao động cũng chỉ là giải pháp tình thế thôi. Hiện giờ Âu châu hạn chế nhận lao động nước ngoài. Trung Cận Đông, Hàn Quốc và Malaysia bình thường vẫn nhận nhiều lao động di cư vì họ đang có nhu cầu phát triển, nhưng nay khủng hoảng, họ cũng gặp khó khăn. Tóm lại, thất nghiệp đang là bài toán không giải quyết được ở nhiều nước. Nông dân đang phải chịu gánh nặng cho toàn xã hội. Tôi nhấn mạnh: Lao động thừa ở nông thôn là vấn đề của toàn xã hội, cho nên cả xã hội phải góp vào mà lo chứ không chỉ Bộ NN&PTNT hay Bộ LĐ&TBXH đâu”.

Có cách nào để nâng thu nhập, từ đó nâng mức sống cho người ở nông thôn không?

Tôi cho rằng đa dạng hóa sinh kế là chìa khóa để tăng thu nhập cho nông dân. Không thể chỉ làm nông được. Nói vui, tôi biết có làng ở Nam Sách (Hải Dương), cả làng bao nhiêu hiệu làm tóc.Thật ra, ở nông thôn, có nhiều việc lắm nhưng không ai giúp nông dân làm, không ai hướng dẫn cho họ cả. Chúng tôi đang tìm cách xây dựng một cơ chế để giúp nông dân đa dạng hóa sinh kế.Du lịch nông thôn chẳng hạn. Việt Nam cũng đã có du lịch nông thôn, nhưng triển khai chưa tốt, trong khi nếu làm tốt, thu nhập của mỗi nông dân có thể tăng gấp đôi. Ví dụ ở Sapa có nhiều các điểm du lịch bán vé, nhưng tiền bán vé chính quyền và doanh nghiệp đầu tư hưởng hết, dân địa phương chẳng được gì. Dân bị coi như kẻ ăn bám vào du lịch ở địa phương, ngày ngày sống nhờ bán đồ lặt vặt cho khách.Họ không được tham gia vào hoạt động du lịch nông thôn ở địa phương, trong khi nếu hoạt động này phát triển và thu hút họ thì sẽ bảo vệ được cả văn hóa lẫn sinh thái, môi trường địa phương.Tôi còn được biết, ở Huế, nhiều nhà vườn đóng cửa với khách du lịch, bởi vì họ chẳng thu được gì, tour du lịch lấy hết rồi.Ở Hội An, tôi hỏi dân sao không tổ chức kinh doanh du lịch bằng cách cho khách thuê nhà dân ở, kiểu “home-stay”, họ bảo không được phép. Chính quyền yêu cầu nếu dân làm “home-stay” thì phải đảm bảo trang thiết bị vệ sinh, máy điều hòa. Như thế, tiền đâu mà nông dân làm? Ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), có nhiều vùng cây ăn trái, tour du lịch đưa khách đi thăm, nhưng khách chỉ ngắm thôi chứ có mua về được đâu, làm sao bảo quản được mà mang về. Thế nên dân đem trái cây ra chợ bán còn thu được tiền hơn.”

“Ở Pháp, doanh nghiệp mua súp lơ của nông dân với giá 1 Franc (đồng nội tệ của Pháp trước khi chuyển sang sử dụng Euro), rồi đến khi vào siêu thị, giá súp lơ đã tăng lên 12 Franc. Như thế là bóc lột nông dân lắm.”Có nhiều việc để làm lắm nhưng không ai hướng dẫn nông dân làm cả”. GS.VS. Đào Thế Tuấn cho rằng phát triển xã hội dân sự chính là cơ chế để hướng dẫn người nông dân đa dạng hóa sinh kế.Nông dân Pháp bèn lập chợ nông thôn ngay giữa thủ đô Paris để bán hàng trực tiếp tới tay người tiêu dùng, tránh được hệ thống thu mua ở giữa.Tôi thấy các nước tiên tiến bây giờ người ta tẩy chay hệ thống doanh nghiệp buôn bán. HTX chiếm 50% công việc, tư thương chiếm 50% lĩnh vực phân phối nông sản là tốt nhất.Theo tôi, doanh nghiệp chỉ nên thực hiện khâu chế biến cao cấp, còn thu gom, buôn bán, nông dân tự làm được. Có như thế, doanh nghiệp mới mất thế độc quyền.Chứ như bây giờ ở ta, nông dân không có quyền mặc cả với tư thương. ĐBSCL chẳng hạn, nông dân trồng lúa chất lượng cao hơn trước nhưng giá bán ra thì vẫn như thế.

Vậy, tôi xin mượn lời một danh hài, “thế thì người nông dân phải làm gì”? Vấn đề quan trọng nhất của phát triển là phải có sự tham gia của cộng đồng, của người dân. Các tổ chức phi chính phủ đến Việt Nam đều nói rằng nông thôn Việt Nam không có cộng đồng.Tôi nghĩ không hoàn toàn như vậy. Ngày xưa, chúng ta đã có cộng đồng làng xã, thôn xóm đấy thôi, mà đại diện là những lý trưởng, xã trưởng. Bây giờ thì chỉ còn mấy ông bà cán bộ – ông bí thư, chủ tịch xã, chủ tịch hợp tác xã, bà tổ trưởng phụ nữ… Người dân chẳng được tham gia gì cả.Chúng ta cần phải hướng dẫn, phải tạo cơ chế để giúp nông dân tổ chức lại được với nhau, xây dựng các doanh nghiệp xã hội (social entrepreneur). Nhà nước không thu thuế đối với họ. Dĩ nhiên, họ cũng có một mức lãi nào đó, nhưng về bản chất, họ là một hệ thống các tổ chức chăm lo phát triển xã hội. Hệ thống đó là một phần của xã hội dân sự.Không thể chỉ dựa vào việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia hoạt động từ thiện, cần có một đường lối xã hội hóa công cuộc cải cách kinh tế xã hội, không lẫn lộn xã hội hóa với thị trường hóa và tư nhân hóa. Xã hội hóa là huy động sự tham gia của xã hội, của quần chúng.Tóm lại, điều quan trọng chúng ta cần làm ở nông thôn bây giờ là xây dựng xã hội dân sự.”

Bài toán “tam nông” thời kỳ đô thị hóa

GS-VS Đào Thế Tuấn trả lời phỏng vấn Báo Thể thao & Văn Hóa do Nguyễn Yến thực hiện trong bài viết ‘Anh hùng nông học giữa Hà thành’ ngày 2.8.2010

“Mô hình đô thị hóa hiện nay đang phổ biến ở châu Á không phải là phát triển các siêu đô thị (trên 8 triệu dân) mà là mô hình đô thị hóa phi tập trung bao gồm các thị trấn và thị tứ nhỏ có một vành đai nông nghiệp bao quanh. Hà Nội cần phát triển theo mô hình này”, GS-VS Đào Thế Tuấn khẳng định…Theo GS-VS Đào Thế Tuấn, việc điều chỉnh lại tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa là biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết các mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trong vấn đề đất đai và lao động. Việc xây dựng các khu công nghiệp quá nhanh và đô thị hóa quá nhanh sẽ là một sự lãng phí lớn trong lúc chưa có một hướng công nghiệp hóa mới. Nhiều đô thị mới đang ở trong một tình trạng “giả tạo” chưa có tác dụng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cả nền kinh tế. Lấy đất xong, nhưng chưa chuyển đổi được cơ cấu lao động vì chưa chuyển đổi được cơ cấu kinh tế. Nông nghiệp vẫn sẽ là cứu cánh giúp các nước ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế, nhu cầu lương thực ngày sẽ càng tăng nhanh dù có khủng hoảng kinh tế hay không. Theo dự báo, dân số thế giới hiện nay là 6,8 tỷ người, vào năm 2050 sẽ là 9,1 tỷ người và nhu cầu thực phẩm sẽ tăng gấp đôi hiện nay. Công nghiệp hóa dựa vào nông nghiệp sẽ là mô hình có ưu thế cạnh tranh ở Việt Nam, tạo được sự phát triển bền vững. Du lịch nông thôn cũng là một biện pháp trong phát triển đô thị, nó có thể tăng gấp đôi thu nhập của nông dân, tạo việc làm và thúc đẩy nâng cao chất lượng của nông nghiệp.”.

*

Đất lúa bỏ hoang vụ mùa vụ đông không còn thâm canh tăng vụ như trước nữa vì sản xuất vụ mùa vụ đông đã trở nên kém hiệu quả. Những thực tiễn nhức nhối nhưng người dân biết tìm giải pháp thích ứng phù hợp. Thông tin Lúa Lộc Trời là những tìm tòi cải tiến chuỗi giá trị sản phẩm lúa gạo thật hay. Tôi viết cho anh Dương Đình Tường tác giả “Hai sắc thái ruộng hoang” loạt bảy bài viết thật giá trị, và anh Dương Văn Chín (Chin Duong) “Lúa Lộc Trời Việt Nam” : Cám ơn anh Dương Đình Tường và anh Dương Văn Chín bài viết thật hay. Hoàng Kim xin chép về trang DẠY VÀ HỌC chung với bài VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH để so sánh đối chiếu cùng các bài nghiên cứu và trao đổi trước đây của giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn và chùm vài giới thiệu mười thương hiệu Việt mới đây của phó giáo sư tiến sĩ Đào Thế Anh. Kinh tế hộ nông dân Việt Nam trong những trở mình hiện nay là những nhức nhối thực tiễn. Người dân, đặc biệt là hộ nông dân, chủ thể sự thay đổi, đang đối mặt các tình huống cụ thể vừa cấp bách vừa lâu dài, rất cần sự quan tâm hổ trợ chuyển đổi đúng hướng để tăng thu nhập của nông dân, tạo việc làm và thúc đẩy nâng cao chất lượng cuộc sống nông nghiệp.

Việt Nam con đường xanh, những giải pháp thích ứng?

Hoàng Kim
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/


Tài liệu tham khảo

HAI SẮC THÁI CỦA RUỘNG HOANG
[Bài I] Anh hùng phủ lấm bụi mờ

Dương Đình Tường

Báo Nông nghiệp Việt Nam 23/07/2019, 14:04 (GMT+7)

Như một đám cháy, tình trạng bỏ ruộng hoang đang loang nhanh ra khắp miền Bắc. Thay vì giấu giếm hay dùng những mệnh lệnh hành chính vô nghĩa để ngăn cản thì nên chăng nhìn nhận nó cả dưới góc độ tích cực là tạo tiền đề cho việc tích tụ đất đai để có được những đại điền chủ kiểu mới…

Chuyện về anh nông dân sắm ô tô đi thuê đất trồng chuối, thu 10 tỷ/năm; Những điều trông thấy mà… ngao ngán lòng!; Tiếc đứt ruột hàng trăm hecta ‘bờ xôi ruộng mật’ bỏ hoang 2 năm nay

Hào quang một thuở
Ông Phùng Đức Trình – bảo vệ UBND xã Hợp Thịnh (Tam Dương, Vĩnh Phúc) lách cách tra chìa vào ổ khóa mở cửa hội trường rồi cầm giẻ tỉ mẩn lau lớp bụi đang bám mờ trên khung kính của tấm cờ Anh hùng Lao động tặng cho HTX Hợp Thịnh thủa nào nay đã bợt bạt. Một chút ánh sáng lóe lên trong đôi mắt già nua. Chốc lát ông như được sống lại thời thanh niên sôi nổi của mình 30 năm về trước, khi còn là một nhóm trưởng sản xuất của HTX…

Ông Trình lau bụi cho lá cờ Anh hùng Lao động của HTX Hợp Thịnh (ảnh) .

Thỉnh thoảng ông lại có nhiệm vụ mở khóa như thế để cho các đoàn khách vãng lai vào đây chụp ảnh với lá cờ. “Hồi đó, chúng tôi lao động “thật hạt” vì chẳng có nghề nào khác ngoài làm nông. Đất chật, người đông nên mỗi nhân khẩu chỉ có 1,1 sào ruộng. Nhà tôi 5 người, cấy hai vụ lúa mỗi vụ thu hoạch trên 1 tấn thóc, trồng một vụ ngô đông thu hơn 1,3 tấn hạt. Lúa để người ăn còn ngô để chăn nuôi và bán.

Tôi vẫn nhớ công thợ xây khi ấy là 20.000 đồng tương đương 12 – 13kg thóc còn làm ruộng đến mùa chia thóc cho số ngày trong vụ thu nhập bình quân cũng đạt 5 – 6kg tương đương với 8.000 – 9.000 đồng. Giờ công của thợ xây đã lên 300.000 đồng trong khi thu nhập từ làm ruộng vẫn chỉ 8.000 – 9.000 đồng/ngày, chênh lệch chừng 30 lần mà dịch bệnh mỗi lúc một nhiều, đầu tư cho sản xuất mỗi lúc một cao. Vụ lúa mùa nhiều hộ đã bỏ còn vụ đông thì cả xã bỏ”, ông kể.

Chính nhờ vụ ngô đông trên nền đất ướt mà HTX Hợp Thịnh được phong anh hùng, Chủ nhiệm về sau thăng tiến lên thành Chủ tịch tỉnh. Ông Phùng Đắc Thái – nguyên Bí thư xã giai đoạn 1988 – 2005 hồi ức: Trước khoán 10 dân chán ruộng vì không thấy quyền lợi gì ở trong đó, ngày công chỉ có 2 – 3 lạng thóc. Chính quyền mới nghĩ ra cách phân loại lao động A, B, C theo giấy khám sức khỏe do Trạm trưởng Trạm Y tế xã cấp.

A phải cấy 1,2 mẫu, B phải cấy 7 sào còn C chỉ cấy 5 sào. Trong dân cứ râm ran đồn anh này, chị kia giả ốm hoặc biếu xén cái gì đó để xin được xuống hạng B, C. Hồi ấy, ông Thái đang là Phó Chủ nhiệm HTX phụ trách lao động, mỗi tháng phải ký duyệt vào chồng đơn dày cộm của các xã viên nên cũng có nghe phong thanh về chuyện đó nhưng chẳng biết thực hư thế nào.

Mức thu sản nặng nề, nhiều gia đình không thể nộp nên cứ đến mùa số quạt máy, đài, xe đạp, giường tủ, bàn ghế… lại chất đầy kho HTX. Trong giấy tờ của những gia đình này đều bị ghi dòng chữ: “Không chấp hành chủ trương, đường lối của nhà nước” khiến cho con cái họ đi đâu, làm gì cũng khó. HTX khi đó quản lý cả đất ở, đất nông nghiệp lẫn các ngành nghề, quyền hành của Chủ nhiệm còn bao trùm cả Chủ tịch xã.
Đói, đầu gối phải bò. Xã viên lũ lượt trốn đi làm thêm. Đàn ông thì xây, đàn bà thì chạy chợ khiến cho chính quyền phải cắt cử cả một đội bảo vệ đông tới 20 người ngày đêm chốt chặn các trục đường mà cũng không xuể. Kẻ nào chẳng may bị bắt phải viết kiểm điểm, nếu cố tình không chịu lao động phải è cổ đóng nghĩa vụ quy ra tiền tương đương 15 – 20 công. Vợ ông Phó Chủ nhiệm cũng đêm đêm hòa theo dòng người bí mật lẻn sang thị trấn Hương Canh của huyện bên mua chum vại rồi ngược lên tận Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) đổi sắn chống đói…

Con bù nhìn cắm trên thửa ruộng hoang ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (ảnh) .

Khoán 10 như một cây đũa thần biến đổi người nông dân từ ghẻ lạnh sang nặng tình với đất. Mùi bùn non mới ngấu, mùi rơm rạ mới gặt, mùi lúa mới phơi quyến rũ họ hơn bất cứ thứ mùi gì trên đời. Không một thước đất bị bỏ phí. Ngoài hai vụ lúa, dân Hợp Thịnh còn tiên phong sáng tạo nên vụ ngô đông trên nền đất ướt, mở ra một cuộc cách mạng mới về lương thực cho toàn miền Bắc đang đói kém theo công thức sáng gặt lúa, chiều trồng ngô bầu.

Đất ruộng có hạn, ông Phùng Văn Gia ở thôn Thọ Khánh đã thử nghiệm trồng ngô cả dưới…ao. Tát cạn nước, ông cắm bầu xuống bùn nhưng vì ngộ độc nên thân cây cứ còi cọc mãi. Khi thay đổi đủ mọi cách chăm sóc, tình cờ ông phát hiện ra ngâm nước tiểu với tro bếp, kali để bón thì ngô mới chịu được bùn. Vậy là từ đó người người tiết kiệm từng giọt nước tiểu đến mức đi chơi nhà hàng xóm mót đái mấy cũng cố nhịn để dành cho cái vại tro ở nhà mình. Gia đình nào cũng nuôi trâu bò để lấy sức kéo đồng thời khai thác thêm phân, nước tiểu.

Họ tát cạn hết các ao chuôm trong làng, vun bùn thành luống để trồng ngô. Khi có đoàn khách 14 tỉnh thành miền Bắc về tham quan, dân Hợp Thịnh còn bàn với đại biểu Hà Nội rằng: “Hồ Giảng Võ của các bác nhà em cũng có thể trồng ngô được”. Tiếng tăm về vụ ngô đông của xã còn bay cả đến tai đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Võ Văn Kiệt…

Sau mỗi vụ, nhà ai cũng mọc lên 5 – 7 “bông hoa ngô” là những thân cây tre được dựng thẳng trên đó ngô buộc cả bắp, lớp lớp, chùm chùm. Hai vụ lúa phải đóng thuế nên chỉ đủ ăn còn vụ ngô đông được miễn là nguồn chi tiêu cho cả gia đình. Có ngô là có quần áo mới, có học phí đóng cho con, có một cái tết ấm no với chai rượu cam, gói mứt, 1 – 2kg thịt bồm (thịt vụn), 1 – 2 lạng chè bồm (chè vụn) cùng 1 – 2 gói chè Hồng Đào giêng hai dành để mừng thọ… 

Ngao ngán nỗi ruộng đồng

Tối hôm ấy tôi ngủ lại nhà lão nông tri điền Nguyễn Văn Hùng ở thôn Tân Thịnh để nghe đầy tai nỗi ngao ngán ruộng đồng. Thủa nào cứ 3h sáng hai bố con đã thức dậy rồi theo xe trâu gà gật ra đồng cày, tối đến lại tranh thủ đeo đèn cấy cố mà giờ vụ này nhà ông Hùng chỉ cấy vài sào ruộng cho đủ ăn. Trưởng thôn Lê Quốc Sơn nhẩm tính thôn có 20/150 mẫu đang bỏ không ở các xứ đồng Lỗ Chối, Sống Mé, Cống Ma…

Phùng Đắc Sơn: “Bà con cứ bỏ hoang ruộng kiểu xôi đỗ, chỗ này một mảnh, chỗ kia một mảnh nên nhiều người gọi cho mượn em cũng đành chịu” (ảnh)

“Làng có láng giềng làng. Đồng có láng giềng đồng”. Những thửa ruộng hoang là nơi trú ngụ của chuột bọ, sâu bệnh để tấn công sang thửa ruộng còn cấy khiến cho vụ sau lại phải cùng bỏ hoang tiếp. Trong chừng 350 lao động nông nghiệp của làng hiện chỉ có 2 người trẻ là Phùng Đắc Sơn và Nguyễn Văn Thành.

Sơn vốn là công nhân nhưng xin nghỉ về làng sắm máy móc, thuê 4ha đất với giá chỗ tốt 50 – 70kg thóc/sào/năm, chỗ xấu 30 – 40kg thóc/sào/năm để trồng ớt, đu đủ và lúa đặc sản. Lăn lộn cùng với thiên tai, dịch bệnh, được mùa mất giá, tính ra lờ lãi cũng được khoảng 200 triệu/năm.

Nở nụ cười rất sáng trên khuôn mặt đen nhẻm, Sơn bảo: “1 lao động nông nghiệp nếu có đủ máy móc phải làm khoảng 2ha mới cho thu nhập bằng 1 công nhân nhưng vì tiếc ruộng hoang mà em cố. Khổ nỗi đất bà con cứ bỏ hoang kiểu xôi đỗ nên nhiều người gọi cho mượn cũng đành chịu”.

Ông Nguyễn Văn Trình thở dài: “Nhà tôi có 7 sào, chỉ cấy một vụ xuân mà còn thừa thóc ăn đến vụ xuân sang năm. Mất mùa với người nông dân giờ cũng không phải cái gì ghê gớm nữa bởi đi ăn 4 cái đám cưới đã tốn 800.000 đồng rồi, bằng hơn 1 tạ lúa. Xưa đến mùa còn phải đi canh trộm giờ lúa cứ phơi ngoài đường cả tấn, tối đến chỉ phủ bạt lại phòng sương chứ chẳng ai thèm xúc trộm. Ngay cả đến ăn mày hai năm nay cũng chê không nhận gạo nữa mà chỉ lấy tiền mặt. Mức cho thấp nhất cũng phải 10.000 đồng. Nếu ai cho 5.000 đồng thì vừa ra đến cổng đã có tiếng nói xéo: “Cho thế này chẳng mua nổi một hai que kem”.

Ruộng hoang bỏ nhiều chỗ nhưng trên giấy tờ lại không hề thể hiện, ngay cả cán bộ Phòng Nông nghiệp Tam Dương cũng khẳng định rằng không. Tích tụ đất đai khó khăn khiến cả huyện mới chỉ có 1 mô hình mang chút công nghệ cao là trang trại rau hoa 2ha của anh Đỗ Trung Kiên ở thị trấn.

Chị Nguyễn Thị Chung có 5 sào ruộng chỉ cấy 2 sào còn 3 sào cho một công ty thuê trồng dược liệu. Nhà có 4 khẩu, chồng đi xây, 2 con đi công nhân còn chị đi thêu cho một công ty ngoại quốc. Công việc khá nhàn hạ, làm 8 tiếng được 135.000 đồng còn tăng ca mỗi tiếng được thêm 30.000 đồng, cuối tháng lĩnh trung bình 5 – 6 triệu.

Tuy nhiên, ngày 1/5 vừa qua, 22 chị em tuổi từ 50 như chị đã bị sa thải đột ngột với lý do là kém mắt, kém sức nhưng thực ra là để không phải tăng lương. Sau 10 năm gắn bó họ vẫn không hề được đóng bảo hiểm mà chỉ hợp đồng theo thời vụ 3 tháng một. Mỗi đợt trên về kiểm tra định kỳ thì công ty lại báo cho nghỉ, kiểm tra đột xuất thì bảo lẻn trốn về từng người… 

Gánh nặng trên đôi vai
Lão nông Nguyễn Anh Đài ở thôn Thọ khánh tâm sự rằng ngày trước không biết nghị lực ở đâu, sức mạnh ở đâu mà gia đình mình có thể cấy tới 2,8 mẫu ruộng trong khi chỉ có mỗi đôi bàn tay trắng. Không có đồng hồ nên vợ chồng ông trông vào ánh trăng để thức giấc, ăn chập chuội bát cơm nguội rồi đi làm. Có buổi cày xong 2 – 3 sào ruộng rồi mà mãi vẫn không thấy mặt trời đâu, hóa ra cả hai đã bị ánh trăng sáng đánh lừa.

Anh Hùng đi trên thửa ruộng hoang chỉ còn sót lại ít lúa chét từ vụ trước ở khu đồng Sậy  (ảnh)

Giờ thì ông bà vẫn làm ruộng nhưng trong cơn chán nản: “Con trai tôi làm kẻ biển quảng cáo, con dâu làm thợ may, mỗi tháng chúng kiếm được 14 triệu đồng tương đương với 2 tấn thóc trong khi bố mẹ cấy 8 sào, trừ hết các khoản mỗi vụ không lãi nổi 100.000 – 200.000 đồng. Thằng con tôi cày không biết, ngâm ủ mạ không biết, cấy không biết, đến cào lúa cũng không biết cách cầm bàn chang, nó bảo: “Nắng lắm! Bố cứ đi thuê hết đi, con trả tiền!”. Lớp già bỏ ruộng thì xót nhưng cánh trẻ không gắn bó như nó sao thấy chạnh lòng được?

Hợp Thịnh có 230 ha lúa, vụ này bỏ khoảng 30ha. Chán nhưng nông dân không dễ “nhả” ruộng ra cho người khác thuê. Cách đây 2 năm có công ty về muốn thuê 10ha đất trồng rau, trả tới 140kg thóc/sào/năm và cam kết sử dụng lao động địa phương. Họp xã, họp thôn, họp lên, họp xuống cuối cùng vẫn không thuyết phục được dân nên doanh nghiệp đành phải ngậm ngùi rút.

Tôi gặp Nguyễn Ngọc Hùng khi anh đang vác cái thuyền trên lưng như một con rùa vác cái mai khổng lồ. Chỉ cho tôi 7 mẫu ruộng bỏ không ở đồng Sậy ngay dưới chân mình, anh tiếc rẻ: “Của 100 hộ đấy, tôi định hỏi thuê rồi sắm máy móc trồng một vụ lúa, thả một vụ cá nhưng nhà đồng ý, nhà lại không…”.


Anh Hùng bơi thuyền kiểm tra cá thả trên ruộng hoang ở khu đồng Sậy (ảnh)

Xưa thiếu việc làm nên nông dân sống chết bám vào đồng ruộng, ngay cả muốn đi phụ vữa cũng phải sắp cái lễ gồm ván xôi, con gà, chai rượu đến bàn thờ tổ nhà ông thợ cả. Giờ có quá nhiều việc để lựa chọn, thợ cả sáng phải đến tận cổng nhà mời ăn, chiều mời đi uống, thợ chỉ việc xỏ tay túi quần mà chẳng cần mang theo thùng đồ nghề gì nữa.

[Bài II] Khi đồng ruộng không khác Viện Dưỡng Lão

Nông nghiệp Việt Nam cập nhật: 13:05, Thứ 4, 24/07/2019
Những khuôn mặt già nua, những đôi mắt đục mờ chẳng còn lóe lên tia hi vọng, cảm giác cả cánh đồng bao la ở phường Hội Hợp của thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là một viện dưỡng lão khổng lồ, chán chường và buông xuôi.

Làm lúa mỗi ngày thu nhập 2000đ/sào

Bà Liên ở phường Hội Hợp đang buộc lại hàng rào ni lông chống chuột quanh ruộng nhà mình (ảnh)

Trên bờ, cây xấu hổ ken dày cao ngang bụng người, dưới ruộng cỏ dại mọc đua chen cùng với lúa, lố nhố những vết răng chuột gặm ngang thân, xén ngọt như có máy cắt. Bà Phùng Thị Liên 63 tuổi ở xóm An Phú đang đi kiểm tra hàng rào ni lông quây quanh ruộng nhà mình xem có thủng chỗ nào không mà đã bị phá đến non nửa.

Nhà bà có 7 sào ruộng, vụ này cấy 3 sào còn bỏ trắng 4 sào. “Giờ cái gì giá cũng cao, cày bừa lên 180.000 đồng/sào, cấy lên 300.000 đồng/sào… Chuột phá quá nên tôi phải đi nhặt hết thân lúa bị cắn vứt đi rồi quãi thêm tí phân vào xem có được cây nào thì ăn cây đấy vậy!”. Bà than thở. 

Sản xuất nông nghiệp hiện nay đã nhàn hơn ngày trước nhiều. Cày, cấy, gặt những công đoạn nặng nhọc nhất của nhà nông phần lớn dân làng đều thuê cả, đến mùa xe lôi kéo lúa về tận cổng nhà, chỉ mỗi việc phơi xong rồi đút vào hòm. Thế mà nhiều nhà vẫn bỏ ruộng hoang do công sức và thu nhập không gặp nhau.

Bà Liên ở phường Hội Hợp đang vơ đám lúa bị chuột cắn ngang thân (ảnh) .

Hơn thế việc nhà nông toàn những thứ lặt vặt nhưng bìu díu nhau nên dù ra đồng 1 tiếng cũng là mất nguyên nửa buổi chẳng thể làm nổi việc gì khác ra tiền. Hiện giá đền bù mỗi sào ruộng ở Hội Hợp chỉ 83,7 triệu nhưng vẫn nhiều người mong ngóng công nghiệp, đô thị vào lấy vì gửi tiền đó vào trong ngân hàng còn lãi hơn trực tiếp trồng lúa.

Ông Nguyễn Gia Bảo – Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Nông nghiệp Hội Hợp trăn trở: “Dân bỏ ruộng một vụ là dấu hiệu sẽ bỏ ruộng lâu dài. Cánh đang làm ngày càng già, càng yếu rồi sẽ mất dần đi còn cánh trẻ lại không còn ham muốn. Đến như hai con của tôi cũng chẳng đứa nào thèm làm ruộng cả…”.


Ông Bảo – Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Nông nghiệp Hội Hợp bên một thửa ruộng tuy gieo trồng mà cỏ còn mọc tốt hơn cả lúa.

Hội Hợp chính là phần tách ra của xã Hợp Thịnh nổi tiếng năm nào về chuyện làm vụ đông, HTX từng được phong tặng Anh hùng lao động. Ánh hào quang thủa xưa nay đã lịm tắt.

Ông Nguyễn Tuấn Hải – Bí thư kiêm Chủ tịch Hội Hợp cắt nghĩa: “Người nông dân bỏ ruộng lỗi một phần của chính quyền bởi tuyên truyền chưa tốt, chưa làm thay đổi nhận thức được của nhân dân cộng với chưa thực hiện được dồn điền đổi thửa  khiến ruộng đồng quá manh mún. Nhưng cái chính là do hiệu quả của việc trồng lúa hiện nay đang quá thấp, tính chi li ra cấy lúa giỏi mỗi vụ 1 sào thu được 2,5 tạ thóc, trừ chi phí hết hơn 1 tạ, lợi nhuận trên mỗi ngày chỉ còn được khoảng 2.000 đồng”.

Khó ngăn cản

Nông dân ở đây đang được hưởng khá nhiều ưu đãi như miễn thủy lợi phí, mua phân bón chậm trả, cải tạo giao thông, thủy lợi nội đồng, có bảo vệ ngày đêm ngăn trâu bò phá hoại nên sản xuất không phải suy nghĩ… thế mà vẫn bỏ ruộng.

Vụ mùa năm 2018 phường Hội Hợp bỏ 170ha, vụ mùa năm nay bỏ khoảng 100ha trên tổng diện tích 200ha khiến cho đích thân Bí thư Thành ủy yêu cầu phải khắc phục: “Theo quy định của nhà nước bỏ ruộng 1 năm thì mới bị thu hồi đất nhưng người dân ở đây chỉ bỏ có một vụ nên chúng tôi không biết phải xử lý thế nào”, ông Hải băn khoăn.

Công nghiệp như thỏi nam châm khổng lồ hút rỗng nhân lực của các làng xã. “Đói” lao động nên giờ các công ty về Hội Hợp tuyển vét  bằng cách hạ tiêu chuẩn đến mức thấp nhất, trên 40 tuổi cũng lấy, học chỉ xong cấp II, thậm chí cấp I cũng lấy. Trước nguy cơ ruộng hoang lan tràn, chính quyền kêu gọi doanh nghiệp, cá nhân vào thuê đất nhưng chỉ được hơn 7ha.

Cỏ dại mọc đầy ven đường nội đồng ở phường Hội Hợp (ảnh) .

Đằng thẳng ra mà nói, năm 2016 cũng có một công ty muốn làm ăn lớn là DKC ở huyện Yên Lạc về Hội Hợp thuê 80ha trồng bí. Ngặt nỗi chi phí sản xuất lớn mà sản phẩm bán ra rẻ mạt 2.000 đồng cũng chẳng có ai thèm mua nên được một vụ là phải bỏ để mặc dân thích hái bao nhiêu thì hái. Hội nghị mở rộng của Đảng ủy phường ông Bí thư phải vò đầu bứt tai trước nhiều câu hỏi rằng bí đỏ đang để chật hết gầm giường nhà dân lẫn nhà cán bộ mà không biết giải quyết thế nào?

Hiện nông nghiệp chỉ chiếm 2% trong cơ cấu kinh tế của Hội Hợp. Ông Hải ước tính khoảng 90% người làm nông bây giờ để lấy cái ăn, chỉ 10% là xác định có thể làm giàu. Bởi thế thuyết phục nông dân bám ruộng mà nói đến góc độ kinh tế là thua mà phải “đánh” vào tình cảm.

Cứ gần đến ngày mùa, đảng ủy phường lại nhắc các chi bộ triển khai công việc nông gia đến những đảng viên bên dưới. 5 ban ngành đoàn thể cũng xúm lại họp bàn để mà cùng giúp sức cho ủy ban. Ngoài đồng biết nhà ai có lúa chín rũ chưa gặt là các tổ liên gia của ngõ lại đến nhắc nhở từng hộ: “Trai tráng khỏe khoắn thế này ngày mùa về anh giúp vợ con một tí đi chứ! Miếng chín rồi đừng để nó rụng rơi”. 

Phường dành sẵn 1/3 diện tích đường, dành luôn cả sân vận động để cho dân kịp phơi thóc. Nhưng không khí chộn rộn của những ngày mùa xưa cũ khi ai ai cũng háo hức đợi chờ đến ngày được ăn no, được bán thóc đi mua sắm  quần áo mới chẳng bao giờ có thể trở lại nữa. Có chăng chỉ là sự trễ nải, ơ thờ.  

Trên kêu gọi xây dựng cánh đồng mẫu lớn nhưng Hội Hợp lại có hàng ngàn mảnh ruộng rải rác khắp các xứ đồng, có mảnh nhỏ đến nỗi máy cày xong vẫn còn chành ra 4 góc không thể xoay được buộc người phải cầm cuốc ra làm nốt. Để gỡ bí cho việc dồn điền đổi thửa xã đã vời cả giáo sư ở một viện chính sách về phân tích cho bà con mặt lợi, mặt hơn.

Tuy nhiên theo ông Hải thì: “Người Việt mình vốn sợ sự chuyển đổi, sợ cái mới. Định làm cái gì cũng sợ thiệt, định nuôi con gì, trồng cây gì cũng sợ gặp rủi ro nên chỉ thiên về kiểu cũ, bởi thế đến giờ 60% diện tích của Hội Hợp vẫn còn cấy Khang Dân (giống lúa nhập khẩu có tuổi đời cỡ trên dưới 30 năm) năng suất không cao, cơm ăn không ngon nhưng được cái là dễ làm”.

Sức nóng ở Vĩnh Tường
Còn nóng hơn cả tiết hè oi ả của năm nay là tình hình ở huyện trọng điểm lúa Vĩnh Tường nơi vụ này đang bỏ trên dưới 700ha. Đây cũng là địa phương đầu tiên thí điểm dồn điền đổi thửa của tỉnh Vĩnh Phúc nhưng gặp vô vàn vướng mắc, đặc biệt là tại Phú Đa. Giao ruộng muộn cộng với tâm lý bất mãn nên dân xã này chỉ cấy có 44/210ha…

Tổng hợp tiến độ gieo trồng vụ mùa năm 2019 của Vĩnh Phúc tính đến ngày 7/7 chỉ thực hiện được 24.138/25.700ha kế hoạch, nhiều huyện thị đạt kém là Vĩnh Tường 83,7%, Yên Lạc 89,4%, Vĩnh Yên 90%…

Anh Nguyễn Văn Tứ – Phó chủ tịch xã Yên Lập kể, nước dẫn vào tận ruộng, nông dân được hỗ trợ 70% giá trị giống nhưng chỉ đăng ký 3,8 tấn, có hộ ném mạ rồi bỏ không cấy.

Trên hỗ trợ thuốc diệt chuột, xã mua lúa rồi giao cho trưởng thôn, phó thôn luộc lên, đeo găng tay vào mà trộn bả xong gọi dân đến lấy nhưng cũng có hộ không đến, cán bộ phải đi rải hộ.

Vụ mùa năm 2018 Yên Lập bỏ 20ha, vụ mùa năm nay bỏ chừng 60 – 70ha. Hội nghị nào từ xã đến thôn đều lồng ghép chuyện chống bỏ ruộng mà vẫn đành chịu vì vụ mùa hay bị ngập do nước sông Phan tràn vào, vì nhiều sâu bệnh, chuột bọ…


Tôi gặp bà Bùi Thị Ninh người thôn Phủ Yên 3 khi đang gò lưng đẩy xe chở mấy phân chuồng đi quãi cho lúa. Đồng trên bà bỏ trắng 3 sào, đồng dưới bà chỉ cấy 1 sào còn 2 sào gặt xong chờ để lúa rong (lúa chét tái sinh). Đồng làng giờ nhiều nhà bỏ hóa, cấy một mình chuột bọ dễ sinh sôi nên vụ này bà cũng chẳng có hi vọng.

Cạnh đó, bà Khổng Thị Hoạt 63 tuổi người cùng thôn đang rẫy lớp lúa lơ thơ còn sót lại để trồng 8 thước bí, mồ hôi ướt đẫm mặt dưới  chiều hè nắng quái. Bà có 5 người con, 4 gái đã yên phận nhà chồng giờ chỉ còn hi vọng mỗi thằng út là có thể tiếp nối nghiệp. Ngày bé nó cấy rất dẻo hệt như mẹ nhưng càng lớn càng căm ghét ruộng đồng, cứ nằng nặc đòi đi sang tận Bắc Ninh làm công nhân.

Già cả không thể kham nổi hơn 5 sào ruộng nên bà Hoạt mới cho người ta mượn 3 sào ruộng thả bèo làm thức ăn cho cá còn cấy 2,6 sào để lấy thóc ăn.

Gương mặt đẫm mồ hôi của bà Hoạt bên mảnh ruộng bỏ hoang (ảnh) .

Vụ xuân năm ngoái ngoài đổ đầy được cái hòm 5 tạ bà còn dư ra một bao thóc nhưng vụ mùa sau đó lại dính sâu bệnh thất thu đến nỗi phải đi ngắt từng gié, từng bông một, không buồn gặt. Bởi thế, vụ mùa này bà bỏ không cấy, cặm cụi vỡ ít đất chuyển sang trồng bí lấy ngọn mong có chút tiền tiêu. 10 ngọn bí có giá 2.000 đồng, một buổi còng lưng hái giỏi được 200 ngọn tương đương với 40.000 đồng mà cũng chỉ thu được 4 đợt là tàn cây.

Không có sổ tiết kiệm hay khoản tiền lận lưng đáng kể nào, tài sản lớn nhất của nhà bà là chiếc xe máy trị giá 18 triệu. Vì vậy, mọi chi tiêu đều phải tằn tiện. Sáng họ ăn cơm nguội, trưa chiều bữa đậu, bữa rau, thi thoảng mới được tí thịt nên trung bình mỗi ngày chỉ tiêu hết có 15.000 – 20.000 đồng. Đến bữa, hai vợ chồng già cùng người bà chị chồng ngót 80 tuổi bày ra ba cái bát, ba đôi đũa rồi ngồi lặng lẽ ăn.

Hai ba tháng thằng con bà mới từ Bắc Ninh về thăm một lần rồi lại quầy quả đi ngay. “Sức chúng tôi còn làm được mấy hơi nữa hả chú? Vài năm nữa có khi đi còn chẳng nổi thế mà gọi thằng út bảo về làm ruộng, lấy vợ thì nó giẫy nẩy lên. Năm nay nó đã 26 rồi chứ còn bé bỏng gì…”.

Bà Hoạt đang khai hoang ít đất để trồng bí (ảnh) .
Việc tích tụ ruộng đất ở Vĩnh Phúc đang gặp nhiều khó khăn bởi lý do chính là nhiều nông dân chán nhưng vẫn chưa hoàn toàn bỏ ruộng mà phổ biến chỉ bỏ vụ mùa, vụ đông hoặc bỏ hoang một phần, vẫn sản xuất vụ xuân để lấy thóc ăn cho cả năm nên chưa muốn cho thuê dài hạn hoặc chuyển nhượng. Tính đến nay diện tích tích tụ của toàn tỉnh ước chỉ đạt khoảng 4 – 5%. 

[Bài III] Xã bỏ 100% vụ mùa, có cho tiền dân cũng không cấy

DẠY VÀ HỌC theo Báo Nông nghiệp Việt Nam 25/07/2019, 14:25 (GMT+7). Anh Nguyễn Tiến Hưng – Chủ tịch xã Phù Ninh (huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) – tươi cười khẳng định với tôi rằng: “Bây giờ nếu có cho thêm 200.000đ/sào bảo cấy vụ mùa, dân chúng tôi cũng không cấy nữa”. Ngay cổng Ủy ban xã là một cánh đồng bát ngát cỏ hoang dễ đến 10 vụ mùa nay như minh chứng cho câu nói của anh.

Cố cấy vụ mùa là gieo nợ

Một con bù nhìn của vụ trước còn sót lại trên thửa ruộng hoang ở xã Phù Ninh (ảnh) .

Đây là năm thứ tư liên tiếp Phù Ninh bỏ 100% vụ lúa mùa. Trước đây mỗi vụ xã thường cấy cỡ 110 ha nhưng rồi cứ xuống thang dần, 90, 80, 70, 50 ha…và năm 2015 đã đánh dấu cho sự chấm hết của thói quen này.

Vụ đó, thấy người dân và cán bộ đều uể oải với lúa mùa, lãnh đạo xã đã phải trích khẩn một khoản ngân sách khoảng 40 triệu ra sang Thái Nguyên mua 2,5 tấn giống Bao Thai về cấp không. Loa phát thanh ời ời thúc giục, dân người làm người bỏ nhưng Đảng viên, cán bộ trong Đảng ủy, Ủy ban cũng như các chi bộ bên dưới thôn xóm đều phải răm rắp chấp hành. Bản thân nhà anh Chủ tịch xã cũng cấy dù cho vợ con có đôi chút cằn nhằn.

Anh Nguyễn Tiến Hưng (ảnh), Chủ tịch xã Phù Ninh, không phải ngẫm ngợi lâu trước câu hỏi tại sao bỏ ruộng của tôi mà trả lời thẳng: “Để ruộng không là lựa chọn của người dân. Bỏ một đồng chi phí ra mà không thu nổi một đồng về thì có ép cũng chẳng thể được. Người dân đã đúng! Nếu cứ bắt cấy tiếp vụ mùa thì chẳng khác nào gieo nợ cho họ”.

Nhưng bao công sức bỏ ra lại không được trời thương. Vụ mùa đó khi dân vừa cấy nước đã ngập băng đồng phải gieo lại mạ, khi lúa đang chuẩn bị trổ bão tố lại kéo về. Cuối vụ, nhiều nhà không được nổi một cọng rơm còn phổ biến năng suất chỉ rơi vào cỡ 70-80 kg/sào. 2 sào cấy cố của nhà Chủ tịch xã thu được 1,5 tạ thóc, tính ra lỗ mất gần 200.000đ còn toàn dân vụ đó lỗ khoảng 200-300 triệu. Vậy là bỏ, bỏ trắng hết!

Mấy năm đầu bởi Phù Ninh bỏ hết vụ mùa, Huyện ủy, Ủy ban huyện giục giã rất căng, xếp loại Đảng bộ không bao giờ lọt vào vòng khen thưởng. Nhưng giờ mọi thứ đã dần nguôi vì đã quen. Anh Nguyễn Tiến Hưng, Chủ tịch xã Phù Ninh, phân tích: Xưa không có công ăn việc làm nên phải bám vào đồng ruộng, phải tận dụng trâu bò lấy sức kéo, lấy phân.

Ngày nay có quá nhiều công việc để cho nông dân lựa chọn. Làm ruộng giờ hầu hết các công đoạn đều đi thuê, chi phí sản xuất cao, giá thóc gạo lại rẻ nên họ bỏ luôn vụ mùa.

Vụ xuân cỡ 10 năm nay tuy vẫn cấy nhưng gần như không còn ai đeo bình đi phun thuốc trừ sâu nữa bởi sợ độc hại, ngay cả rau màu cũng thế…Lao động đi hết, đến mùa gặt toàn thuê dân ở nơi khác, có lúc gấp quá còn phải nhờ cả đơn vị bộ đội gần đó giúp một tay.

Chẳng lăn tăn an ninh lương thực

Bỏ vụ mùa 100% nhưng vụ xuân Phù Ninh lại cấy hơn 100% diện tích bởi một số mượn thêm được những thửa ruộng giáp ranh của người dân xã An Đạo kề bên, ngại cấy vì quá xa làng.

Như nhà anh Chủ tịch xã cấy 4 sào lúa xuân thu được 1 tấn thóc cộng với để lại gốc rạ cho lúa chét tái sinh 30 ngày sau thu tiếp được 2 tạ nữa. 4 khẩu trong gia đình  anh cùng với đàn gà nuôi ăn mãi cũng chưa hết được. Đó là chuyện lương thực của một nhà, còn của ngàn gia đình trong xã thì sao, tôi hỏi.
Anh Hưng đưa cho tôi bài giải đã có sẵn ở trong đầu mình: Bỏ vụ mùa nên tổng lượng thóc và ngô của Phù Ninh giờ chỉ còn khoảng 1.400 tấn/năm hụt so với trước đây chừng 200 tấn. Tuy thế, vẫn còn thừa để nuôi 4.600 khẩu nông nghiệp của xã với định mức trung bình 2,6 tạ/người/năm

Nhờ có bà con bỏ ruộng mà anh Khôi mượn được 9 ha để thả cá vụ (ảnh).

Chất lượng cuộc sống tăng lên, 200 tấn thóc thiếu so với trước đây khi còn cấy vụ mùa suy cho cùng cũng chỉ bằng giá trị của một căn nhà trung bình trong làng, cỡ 1,2 tỉ. Ở quê tôi giờ toàn người già với trẻ con, chỉ ngày chủ nhật mới thấy bóng thanh niên.

Bởi thế mọi lịch họp hành, mọi đám cưới cũng phải bố trí vào ngày đó. Còn đột xuất như đám ma thì trưởng khu phải đánh kẻng lên để tập hợp mấy ông trung niên đến mà khiêng giúp…

Từ hồi toàn dân không chịu cấy vụ mùa nữa, đại lý vật tư nông nghiệp cấp làng của ông Nguyễn Xuân Thị ở khu 12 ngoài bán phân còn trưng lên tấm biển thu mua đồng nát để kiếm thêm đồng ra, đồng vào.

Trước đây mỗi khi vào vụ, ông bán phân theo bao, tháng cũng được khoảng 1-2 tấn các loại, giờ dân chỉ mua lẻ theo cân về bón rau, tháng  bán được có 2-3 tạ.

Hỏi chuyện ruộng đồng, ông vui vẻ mà rằng: “Bài toán lợi ích cả thôi. Vụ xuân cấy đủ ăn cả năm rồi, vụ mùa cố cấy làm gì khi sâu bệnh nhiều, có năm không được gặt mà phải đi ngắt từng bông, chẳng hiệu quả bằng để lúa tái sinh? Như nhà tôi 3 người cấy một vụ đã thừa ăn rồi…”.

Đại lý vật tư nông nghiệp của ông Nguyễn Xuân Thị ở khu 12 giờ thu mua cả đồng nát. (ảnh)

Toàn dân bỏ vụ mùa tạo điều kiện thuận lợi cho một số nhà mượn lại ruộng để thả cá vụ. Phù Ninh có khoảng 10 mô hình như thế với tổng diện tích khoảng 40 ha, số khác thì chuyển đổi sang trồng màu nên thực tế đồng hoang không làm gì chỉ rơi vào chừng 40 ha.

Anh Khuất Ngọc Khôi – Chủ nhân của hồ cá rộng tới 9 ha ở cánh đồng Chiềng – là một ví dụ tiêu biểu về sự thích ứng với ruộng hoang. Trước đây, ở vụ mùa 1/3 cánh đồng này vẫn còn cấy, nhưng giờ đến vụ, đợi chừng 100 hộ gặt rồi thu lúa chét xong là anh mượn lại ruộng, chặn để trữ nước và thả những con cá giống có trọng lượng 1-2 kg xuống.

Nước được dâng từ từ để ruộng thấp ngập trước, khi cá ăn hết lúa tái sinh, sâu bọ rồi mới dâng nước lên, ngập ruộng cao. Cuối năm anh chỉ việc tháo cạn nước là thu hoạch. Trung bình kiếm được khoảng 150 triệu, sau khi trừ hết chi phí giống 60 triệu còn lãi khoảng 80-90 triệu. Khỏe re!

Người dân khi cho mượn ruộng kiểu này cũng thích bởi nếu bỏ hoang thì đến vụ xuân phải rẫy cỏ, làm đất rất vất vả còn thu hoạch cá xong chỉ việc cào là có thể cấy ngay, hơn thế đất lại tốt hơn vì có nhiều mùn bã. Bờ bao thì trước khi cho mượn dân đã đóng mấy cái cọc tre để làm mốc, sau khi nhận lại chỗ nào bị sạt lở be lại một chút là xong.

Loay hoay giải “bài toán” bỏ ruộng

Lũ trâu vầy bùn trên cánh đồng bỏ hoang ở xã Phù Ninh (ảnh) .

Ngoài Phù Ninh, bỏ vụ mùa còn xảy ra nhiều ở các xã Phú Lộc, Phú Nham…trong đó có những nơi 100% diện tích. Bởi thế, trước mỗi mùa vụ, Huyện ủy đều phải ra nghị quyết chỉ đạo chống bỏ nhưng cũng khó vì xu thế giống như một bánh xe lịch sử đang quay nhanh. Hơn thế, theo quy định về điều kiện để hỗ trợ vật tư, giống phải là phải liền vùng, liền khoảnh có diện tích từ 10 ha mà ruộng hoang thì bà con toàn bỏ kiểu xôi đỗ, chẳng ai thèm nhận cấy.

Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT Phù Ninh, anh Hán Trung Kết cho hay, kế hoạch vụ này huyện cấy 1.175 ha nhưng mới thực hiện được khoảng 800 ha, bỏ chừng 30%.

Diện tích 30% này cũng không hẳn bỏ hết mà một số được tận dụng để làm lúa tái sinh theo công thức: Gặt lúa bằng tay để tránh nát gốc rạ, quãi 5-7 kg NPK, 2-3 kg đạm rồi cắm cái biển cấm thả trâu bò, đợi 30 ngày sau thu hoạch lúa tái sinh (lúa chét). Với năng suất chừng 50 kg/sào nhân với giá 6.000đ/kg (do tỷ lệ hao hụt cao nên lúa tái sinh có giá bán rẻ hơn lúa cấy-PV) được 300.000đ, trừ chi phí phân mất 40.000đ, gặt mất 1 công 160.000đ, còn lãi được 100.000đ.

Trong khi đó nếu cấy lúa mùa, cày bừa mất 200.000đ, giống 30.000đ, cấy 300.000đ, phân 100.000đ, thuốc 100.000đ, công phun 4-5 lần 100.000đ, thu hoạch 300.000đ… Phần thu được 1,7-1,8 tạ/sào nhân với giá 7.000đ/kg được khoảng 1,25 triệu, sẽ là lỗ nếu phải đi thuê nhiều công đoạn.

3-4 năm về trước, khi tình trạng bỏ ruộng hoang bắt đầu loang ra, tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT Phú Thọ thành lập đoàn công tác đi các huyện để rà soát, có biện pháp kìm chế. Nhưng chỉ hãm được tốc độ của “đoàn tàu” bỏ ruộng một chút rồi lại lao dốc tiếp.

Lúc đầu diện tích bỏ vụ mùa vào khoảng 1.000 ha, chủ yếu thuộc các chân đất xấu, trũng cấy lúa bấp bênh, cao quá nước lúc có lúc không hoặc xen kẹt ven đồi, chuột bọ nhiều khi hay quấy phá.

Giờ thì ngay cả những chỗ dễ làm, đất tốt dân cũng bắt đầu bỏ. Theo kế hoạch vụ này tỉnh cấy 29.500 ha nhưng ước chỉ đạt khoảng 28.000 ha, để không chừng trên dưới 1.500 ha trong đó những huyện, thị bỏ nhiều gồm Thị xã Phú thọ, Thanh Thủy, Phù Ninh…, không ít diện tích đã bỏ liền hai, ba vụ.
Một cán bộ nông nghiệp của tỉnh này phân tích với tôi rằng: Chỉ đạo chống bỏ ruộng bằng mệnh lệnh hành chính là rất khó vì ruộng đã giao cho dân rồi, không còn như thời hợp tác xã.

Chuyện bỏ ruộng có hai mặt. Mặt tích cực là chứng tỏ dân đã có tư duy kinh tế, tính đến yếu tố hiệu quả của sản xuất chứ không còn cấy bằng mọi giá, nó thúc đẩy cho việc phải thay đổi cơ cấu cây trồng. Không chỉ có thế, bỏ ruộng theo vụ (chủ yếu là vụ mùa) còn cắt đứt quá trình sinh trưởng của sâu bệnh, lượng thóc thu từ lúa chét (lúa tái sinh) có khi còn lãi hơn là cấy tiếp vụ mùa. Còn mặt tiêu cực là dân bỏ nhưng không trả lại đất, không cho mượn, không cho thuê, không muốn bán nên những người có tâm huyết  không có cơ hội mà tích tụ. Hệ thống thủy lợi bị bỏ lãng phí cả vụ mùa lẫn vụ đông.

Thêm vào đó ruộng hoang là nơi chứa chấp chuột để chúng tràn sang các thưa ruộng giáp ranh còn cấy để cắn phá. Tình trạng dân tự phát bỏ ruộng đã phá vỡ quy hoạch sản xuất lúa của cả tỉnh bởi theo dự kiến năm 2020 diện tích lúa hai vụ của Phú Thọ khoảng 65-66.000 ha nhưng hiện nay đã ở mức dưới ngưỡng và còn bỏ xa trong tương lai.

Ngày 18/6/2019 UBND tỉnh Phú Thọ ra văn bản số 2671 trong đó ghi rõ: “Trong nhiều năm qua, vụ mùa, vụ đông là các vụ sản xuất quan trọng, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nông dân, mang lại hiệu quả kinh tế cao…Tuy nhiên trong 2-3 năm trở lại đây tình trạng người dân bỏ ruộng ngày càng nhiều, diện tích cây vụ đông có xu hướng ngày càng giảm nguyên nhân do sản xuất vụ mùa nhiều sâu bệnh, hiệu quả không cao, sản xuất vụ đông nhỏ lẻ, tích tụ đất đai khó…Để phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất vụ mùa, vụ đông và cả năm 2019, bù đắp cho ngành chăn nuôi đang bị ảnh hưởng do dịch tả lợn châu Phi… Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Giám đốc Sở NN và PTNT, thủ trưởng các sở, ngành có liên quan, Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị quan tâm chỉ đạo…”.

[Bài IV] Xã có 155 lá đơn xin trả lại ruộng
Báo Nông nghiệp Việt Nam 26/07/2019, 08:01 (GMT+7)

Năm 2013 Báo Nông nghiệp Việt Nam tiên phong viết về nông dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương làm đơn xin trả lại ruộng. Vừa qua tôi mới hay một xã ở tỉnh Thái Bình có tới 155 lá đơn xin trả lại ruộng, lá đầu tiên viết cách đây đúng 15 năm.

Những lá đơn đầu tiên xin trả lại ruộng của người dân xã Hòa Bình, viết cách đây đã 15 năm.

Ông Vũ Đình Mầm – cựu cán bộ địa chính xã Hòa Bình (huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) giở chiếc túi mở cho tôi xem chồng đơn dày cộm. Cái đánh máy, cái viết tay trên giấy học trò. Mấy lá đầu tiên nét chữ siêu vẹo như những luống cày vụng đã nhòe mờ đi còn mấy lá gần đây vẫn còn thơm mùi mực mới. Tôi cùng hai cán bộ nông nghiệp đếm một hồi lâu mới thống nhất chốt ở con số 155 lá đơn. Hộ ít trả lại vài miếng còn hộ nhiều trả lại tới 9 sào.

Hầu như tháng nào ông Mầm cũng nhận được những lá đơn như vậy cho đến tận gần đây. Để tăng thêm sức nặng, phần cuối nhiều lá đơn còn chua thêm dòng chữ: “Nếu về sau Nhà nước có lấy đất với mục đích gì tôi cũng không có ý kiến”.

Thực tế vừa rồi ở Hòa Bình quy hoạch một khu dân cư khoảng 1,5 ha có lấy vào diện tích của những hộ dân đã viết đơn trả lại ruộng nhưng không ai đòi hỏi quyền lợi gì. Dù tiền đền bù ở đây đang vào khoảng 38 triệu đồng/sào cộng thêm một số khoản hỗ trợ khác. Dù xã vẫn còn chừng 2% hộ thuộc diện nghèo.

Có hai loại đối tượng không cấy, thứ nhất viết đơn xin trả lại, thứ hai chỉ bỏ không. Lúc đầu, người ta trả lại một phần diện tích, phần lớn là chỗ đất bạc màu, trũng hay ngập úng hoặc cao hay thiếu nước.

Cấy tay, giờ đây đã rất nhiều người bỏ.(ảnh)

Vài năm gần đây, ruộng tốt, nằm sát chân đường rộng thênh thang vẫn cứ nằng nặc trả, mà trả lại bằng hết. Lúc đầu, đối tượng trả lại là người già hoặc ốm thì giờ đây theo ông Mầm ước đến 60-70% trả ruộng là người trẻ, khỏe để đi làm công nhân hay làm ngoài. Con cái cũng không còn cấy hộ bố mẹ nữa mà chỉ muốn cất khỏi gánh nặng ruộng đồng.

Tổng diện tích làm đơn xin trả lại ruộng của xã khoảng trên dưới 20 ha nằm rải rác khắp xứ đồng. Những lá đơn đầu tiên năm 2004 viết bởi dân thôn Nam Tiền nhưng hiện nay viết nhiều lại thuộc về thôn Việt Hưng. Lẽ thường, có người chán phải có kẻ thèm nhưng suốt 15 năm trời nhận 155 đơn xin trả lại ruộng ông Mầm khẳng định chẳng nhận  một đơn nào xin ruộng cả.

Tại sao là Hòa Bình?

Một người dân đi qua cánh đồng bị bỏ hoang (ảnh) .

Nhiều xã của Thái Bình bỏ ruộng nhưng tại sao lại chỉ có Hòa Bình xuất hiện đơn xin trả lại ruộng? Tôi hỏi một cán bộ nông nghiệp đi cùng thì chị trả lời do lãnh đạo xã này mấy nhiệm kỳ trước muốn quản lý thật chặt chẽ đất đai, lãnh đạo về sau cứ thế mà tiếp nối khiến cho dân quen nề, quen nếp: “Đó là một điều rất tốt để có thể rút đất của người chán ra, kết nối với nhu cầu của người thèm”.

Còn ông Mai Văn Vinh, Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp Hòa Bình, thì giải thích: Tất cả những người không có nhu cầu cấy ruộng cần phải viết đơn để chính quyền tổng hợp lại, tạo điều kiện cho các cá nhân khác có nhu cầu nhận đất yên tâm cải tạo, không lo bị đòi lại giữa chừng.

Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp Kiến Xương vụ xuân năm ngoái huyện bỏ 108 ha, vụ mùa bỏ 129 ha… Còn vụ mùa năm nay ước lượng diện tích bỏ cũng tương tự, tập trung ở các xã An Bồi, Bình Minh, Hòa Bình, Thanh Nê, Vũ An, Vũ Quý… trong đó có nhiều ha bỏ hẳn. Toàn tỉnh Thái Bình vụ xuân 2018 bỏ hoang 490 ha tập trung ở Quỳnh Phụ, Kiến Xương, Đông Hưng, Thái Thụy…

Ai mà không có đơn trả lại, vẫn coi như là đang cấy, vẫn phải đóng 3 khoản dịch vụ bắt buộc của HTX gồm thủy nông 13,5 kg thóc/sào/năm (thủy lợi phí đã được miễn nhưng đây là để duy tu hệ thống, tưới, tiêu nước vào ruộng-PV), khoa học kỹ thuật 1 kg thóc/sào/năm, bảo vệ thực vật 1,5 kg thóc/sào/năm. 

Sau khi có diện tích bị trả lại, trưởng thôn được mời lên để bố trí  dồn đổi lại một chỗ nếu có thể. Chuẩn bị vào vụ mới, loa các thôn lại ra rả thông báo ai có nhu cầu nhận ruộng thì đăng ký nhưng chẳng có ai hồi đáp. Điều này khác hẳn với không khí của một thời chưa xa, hồi chia đất năm 1993, khi ruộng đồng và nông dân là một thực thể không thể tách biệt…

Xưa muốn đi làm công nhân phải rời làng lên thành phố, giờ chẳng phải đi đâu, công ty, nhà máy đã về ngay giữa làng. Sáng ăn cơm nhà rồi đi làm, trưa tranh thủ về ăn cơm nhà rồi đi làm tiếp, chiều lại về nấu nướng cho kịp bữa tối để ăn xong còn ghé mắt xem con cái học hành. Mỗi tháng đút túi 5-6 triệu, chẳng rủi ro giông gió, được mùa mất giá như làm nông thì sao lại không chọn?

Kẻ “lạ” về làng

Chị Xá bên những thửa ruộng hoang ở xã Hòa Bình (ảnh) .

Những lúc đi chỉ đạo dịch bệnh, chị Nguyễn Thị Xá cán bộ Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh Thái Bình thấy xót cho những cánh đồng lau sậy ở xã Hòa Bình. Chị mơ ước khi về hưu sẽ hồi sinh, biến chúng thành cánh đồng lúa chín vàng. Vậy là trước khi cầm sổ hưu, chị đến đặt vấn đề với xã xin mượn đất. Dù khá ngạc nhiên nhưng địa phương vẫn ủng hộ hết lòng về mọi thủ tục. 

Trên cánh đồng hoang đó, diện tích thuộc những hộ làm đơn xin trả lại ruộng thì không vấn đề gì nhưng của khoảng 100 hộ không có đơn  lại khá phức tạp. Thôn phải tổ chức họp để chị Xá gặp gỡ từng người xin chữ ký suốt từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2018 mới xong. Tất cả được hơn 10 ha, tương đối liền vùng, liền khoảnh. Lúc này, khó khăn không ở dưới thôn xã nữa mà đến từ phía sau lưng, gia đình chị.

Hay tin vợ mượn đất khai hoang, lo cho sức vóc đã không lấy gì làm khỏe của chị, người chồng lập tức triệu tập ngay hai đứa con trên Hà Nội về họp mặt gia đình và tuyên bố: Nếu mẹ chúng mày không từ bỏ chuyện mượn ruộng thì sau này đừng trách bố…

Đến nước này, chị chỉ còn mỗi nước van xin: “Biến cánh đồng cỏ dại thành cánh đồng lúa chín vàng là ước nguyện của cả đời em. Có gì chỉ mong anh giúp đỡ em về mặt tinh thần mà thôi”. Mềm lòng trước sự tha thiết ấy, người chồng đành gật đầu nhưng chỉ cho chị thời hạn một vụ trong khi hợp đồng mượn ruộng lại kéo dài tới 5 năm.

Lúc đầu máy cắt cỏ xuống làm nhưng lau sậy ken dày tầng tầng, lớp lớp cao gấp rưỡi, gấp đôi thân người, chuột bọ làm ổ lúc nhúc bên trong khiến lưỡi cưa không thể quay nổi. Vậy là chị phải thuê máy có công suất lớn hơn, cắt từng đoạn lau sậy một rồi lôi dần ra. Cắt xong đến đâu, cho máy cày xuống nhưng nó cứ hộc lên như thú dữ, khói phun mịt mù mà chỉ nhúc nhích được chút ít vì rễ cây kết lại dày như những tấm đệm, vơ lại, chất từng đống to như đụn rạ.

Khó khăn nào đâu đã hết, làm đất xong cấy lúa xuống cây mạ cứ vàng như bị luộc vì ngộ độc hữu cơ phải phun chế phẩm vi sinh để xử lý. Rồi úng ngập phải mua mạ cấy dặm, rồi chuột bọ từ các gò hoang xung quanh ồ ạt tràn xuống…

Chị Xá ngập người trong thửa ruộng hoang mọc đầy lau sậy ở xã Hòa Bình (ảnh) .

Đợt mẹ chị ốm nặng, bệnh viện trả về, phải đưa sang cấp cứu ở một bệnh viện khác, thấy vợ cứ cầm điện thoại gọi mua mạ, chỉ đạo cấy, chỉ đạo phun anh chồng đã nóng mắt bảo: “Chẳng lẽ lại đập cái điện thoại đi”. Chị phải vội vã phân bua: “Nếu bây giờ bỏ ruộng mà cứu được mẹ thì em bỏ ngay nhưng em không phải là bác sĩ. Là kỹ sư em có thể cứu được lúa anh à…”.

Khó khăn chồng chất khó khăn khiến chị nhiều phen ngồi khóc tu tu giữa cánh đồng nhưng rồi lại tự động viên mình. Làm ngày làm đêm, đến tối 29 Tết người ta vẫn còn thấy bóng chị ở ngoài ruộng, sáng mồng 3 Tết lại đến tiếp. Chị làm bởi tình yêu ruộng đồng, bởi suy nghĩ mình là cán bộ chỉ đạo nông nghiệp mà thất bại thì dân sẽ cười chê.

Sau bao “giông gió”, vụ đầu tiên chị xuất được trên 30 tấn lúa giống cho một công ty, thu hơn 200 triệu đồng, trừ chi phí cũng lãi khoảng 30-40 triệu. Đến lúc này, chồng chị liền nhắc lại lời hứa lúc nào. Tiếc đứt ruộng bởi khai hoang là công đoạn khó nhọc nhất, tốn kém nhất, bao mồ hôi, nước mắt đã vượt qua vụ đầu thì những vụ sau chỉ việc đều đặn sản xuất rồi thu lời thế mà chị vẫn phải chuyển nhượng ruộng cho một người khác…

Ông Trần Mạnh Báo – Chủ tịch Tập đoàn ThaiBinh Seed: Tôi thấy chuyện bỏ ruộng có nhiều yếu tố tích cực
Ngày nay người nông dân vẫn ở nông thôn nhưng không còn thiết tha với đồng ruộng và con trâu, cái cày. Tuy nhiên, không phải lo lắng về việc họ bỏ ruộng. Điều đó chứng tỏ đời sống nông dân đã thay đổi, đã tốt hơn, không phải lo nồi cơm đầy vơi nữa. Đó là tất yếu của sự phát triển xã hội ở nông thôn, chứng tỏ kinh tế ở khu vực này đã thay đổi về bản chất.

Tôi tin rằng đến một lúc nào đó vấn đề sẽ được giải quyết bằng cách chuyển giao lại đất của những hộ bỏ ruộng sang cho các hộ yêu ruộng. Lao động trong nông nghiệp sẽ ít đi nhưng ruộng đất sẽ lớn lên, phù hợp để tổ chức lại sản xuất.

Đừng sợ tích tụ đất đai sẽ hình thành địa chủ bởi vì ngày xưa địa chủ đi cùng sự bần cùng hóa người nghèo, bóc lột bằng cách cho thuê để lấy địa tô cao. Còn ngày nay Nhà nước làm sao để kiểu bóc lột đó có ngóc đầu lên được? Sự tích tụ đất đai vì thế chỉ là tổ chức lại sản xuất mà thôi.

Tất cả những gì đang diễn ra ở Việt Nam cũng từng diễn ra trên thế giới. Hai năm trước, tôi có dịp sang Mỹ, được cán bộ khuyến nông của trường Đại học Missouri dẫn đi thăm một doanh nghiệp nông nghiệp. Gia đình này đã 5 đời làm nông nghiệp, hiện trở thành một công ty nông nghiệp  có 600 ha đất nhưng chỉ cần 4 người làm. Mọi người trong gia đình làm và hưởng lương theo kết quả làm việc của mình, được chia cổ tức theo cổ phần. Việc hình thành công ty này bắt đầu từ tích tụ đất.

Sau khi kinh tế phát triển, những người nông dân không muốn làm nông nghiệp đã vào thành phố ở và bán ruộng cho những người thích làm nông nghiệp ở lại sản xuất, kinh doanh và chuyển thành doanh nhân nông nghiệp.

Do có diện tích rất lớn nên sản xuất ở đây được cơ giới hoá toàn bộ từ làm đất, tưới nước, phun thuốc trừ sâu, thu hoạch, chế biến đến bảo quản theo một chu trình khép kín với những máy móc hiện đại và được ứng dụng công nghệ mới nhất 4.0. Việc ra đời những công ty gia đình làm nông nghiệp kiểu này ở Mỹ rất phổ biến.

[Bài V] Chuyện đồng ruộng với cựu Chủ tịch tỉnh sống ở giữa làng

Báo Nông nghiệp Việt Nam 29/07/2019, 12:10 (GMT+7)

Khi biết ông chuẩn bị về hưu, có sửa sang lại căn nhà ở quê, một số người quen khuyên: “Không sống được ở làng đâu, anh lên thành phố Vĩnh Yên hoặc ra Hà Nội mà sống”. Ông chỉ cười. “Hết quan, hoàn dân”, lẽ đời là thế nhưng giờ đây ít có quan chức to to nào lại về sống ở giữa làng…

Thước đo lòng dân

Ông Phùng Quang Hùng-cựu Chủ tịch Vĩnh Phúc. Ảnh tư liệu của Kiên Cường. Lời khuyên chân tình đó xuất phát từ thực tế một số lãnh đạo ở các tỉnh, thành một thời “thét ra lửa” nhưng đến khi về hưu, nhà riêng còn bị người đến quấy nhiễu, ném này nọ vào buộc phải chuyển đi. Từ tâm lý khá phổ biến của dân ta bây giờ là rất chăm nghe đài, đọc báo, lướt mạng xem hôm nay có… kỷ luật ai không. Vậy mà, làng đã là điểm tựa để ông vượt qua những sóng gió trên trường đời mà điển hình nhất là vụ bị kỷ luật cảnh cáo khi đã về hưu.

Tôi ngẫm, suy cho cùng, thước đo đúng đắn nhất với cán bộ chính là lòng dân. Về làng, lúc ông làm ấm trà với các cụ già, khi rít điếu thuốc cùng với đám thanh niên, bận rộn nhưng vẫn sắp xếp đi ăn cỗ cưới hầu như không sót nhà nào và cửa vườn luôn mở để đón lũ trẻ vào tập đá bóng. Không gì vui bằng tiếng trẻ con cười giòn giữa một chiều hè lộng gió. Lân la tôi hỏi lý do tại sao xã có hai sân vận động rộng thênh thang mà lại đến đây để đá bóng, chúng hồn nhiên trả lời: “Chú không biết à? Sân này cỏ rất êm lại có sẵn nước lạnh uống miễn phí, thỉnh thoảng còn được cho ổi, khế, xoài nữa…”.

Ông là Phùng Quang Hùng – cựu Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc hiện đang sống ở giữa làng tại xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương nơi năm xưa từng giữ chức chủ nhiệm hợp tác xã, nức tiếng cả miền Bắc với vụ ngô đông trên nền đất ướt. Ngày hợp tác xã đón danh hiệu anh hùng lao động, lợn mổ phát cho toàn dân mỗi nhà 1kg, rượu tưng bừng, sân vận động đặc kín người nghe ca sĩ tận thủ đô về cầm micro biểu diễn. Vậy mà, giờ đây Hợp Thịnh là xã đầu tiên trong huyện bỏ trắng vụ đông, vụ mùa cũng đang bỏ tiếp, chung cảnh ngộ với nhiều tỉnh thành…

Vai trò lịch sử của khoán 10 đã hết

Ruộng đồng manh mún nên thu nhập của nông dân vẫn bọt bèo.

Tôi “vào đề” luôn chuyện nông dân đang chán ngán ruộng đồng, ông trầm giọng rằng chuyện đó không mới vì mười mấy năm trước khi còn làm Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT đã thấy manh nha. Bởi thế nên ông mới nghĩ đến chuyện phải miễn thủy lợi phí cho nông dân bởi nếu không họ sẽ bỏ tiếp: “Vướng mắc ghê lắm vì bỏ thủy lợi phí là chống lại các hợp tác xã bởi đang có thu nhập tốt từ nguồn này. Tôi thuyết phục hội đồng nhân dân tỉnh, chơi bài “khích tướng” với Bí thư, Chủ tịch tỉnh rằng miễn thủy lợi phí không đáng bao nhiêu, tính ra chỉ mất hơn 30 tỉ mà dân ơn các anh cả đời, mà Vĩnh Phúc trở thành địa phương đi tiên phong trong việc này”.

Nhận được sự chấp thuận từ bên trong, bên ngoài ông “đi đường ngầm” với các chuyên gia, các lãnh đạo liên quan đến ngành thủy lợi, vòng cuối cùng mới đến Bộ trưởng Bộ NN-PTNT lúc ấy, ông Cao Đức Phát.

Tại cuộc họp, khi ông đề xuất ý kiến miễn thủy lợi phí ngay lập tức nhiều đại biểu xúm lại phản đối rầm rầm vì bảo đang hội nhập WTO mà hỗ trợ cho nông dân thế là vi phạm. Cũng may trước đấy ông đã cẩn trọng giao cho cấp phó tìm hiểu nát nước các tài liệu xem thế giới này bao nhiêu quốc gia tham gia WTO, bao nhiêu miễn, giảm thủy lợi phí. Châu Á có Thái Lan, Malaysia còn Nga thì miễn một nửa… nên lúc đó mới tự tin “cãi” lý: “Mấy nước đó có phải là WTO hay là WC? Sao họ lại miễn, giảm được thủy lợi phí?”.

Nhóm phản biện đang hăng hái bỗng thấy hớ đành phải ngồi im còn hội trường được một mẻ cười ồ lên khoái trá. “Ông Phát bực lắm, ra giải lao bảo với tôi rằng: “Anh Hùng làm thế này rối tinh, rối mù cả nước lên, không có tiền thủy lợi phí thì lấy nguồn nào ra mà kiên cố hóa kênh mương?”. Tôi trả lời: “Vĩnh Phúc kiên cố hóa xong rồi. Anh không gỡ chuyện thủy lợi phí dân sẽ bỏ ruộng. Quê tôi bắt đầu bỏ ruộng. Thuế nhà nước miễn hết rồi thì đóng thủy lợi phí là khoản đóng góp nặng nhất, 1 sào 20 kg/vụ, không miễn cho dân thì họ thu nhập cái gì?”.

Ông Phát bảo: “Làm gì có chuyện dân bỏ ruộng?”. Vừa hay ông Đặng Kim Sơn – Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và PTNT ở gần đó nghe thấy liền nhắc: “Có nhiều tỉnh đã bắt đầu bỏ ruộng rồi anh ạ!”. Thấy thế ông Phát mới thôi, tôi tranh thủ nói luôn: “Cái chúng tôi cần ở Bộ là sự ủng hộ còn kinh phí thì tỉnh lo được anh ạ”… Năm 2006 Vĩnh Phúc miễn thủy lợi phí toàn tỉnh thì đến 2008 Thủ tướng quyết định miễn thủy lợi phí toàn quốc…”, ông Hùng hồi ức.

Sau hơn 10 năm áp dụng, chính sách miễn thủy lợi phí có nhiều ý kiến trái chiều bởi ý thức bảo vệ, duy tu công trình thủy lợi có kém đi. Trước đây, khi chưa miễn việc quản lý, tu sửa mương máng thuộc trách nhiệm của hợp tác xã nhưng từ hồi miễn đã giao cho các công ty thủy lợi, đôi khi là quá xa tầm tay với của họ. Quản lý lỏng lẻo, phí duy tu thấp dẫn tới hệ thống kênh mương xuống cấp, kêu lên trên cũng không được sửa chữa ngay, không ít địa phương lâm vào tình trạng chưa mưa đã úng, chưa nắng đã hạn.

Thêm một điều quan trọng nữa, do kinh phí được ngân sách cấp bù nên việc sử dụng khá lãng phí và không cân bằng. Những hộ dân ở đầu nguồn thường có tâm lý sử dụng nước vô tội vạ trong khi các hộ dân ở cuối nguồn hay lâm vào tình trạng thiếu nước.

Tuy nhiên nói gì thì nói, miễn thủy lợi phí đã cất đi một chút gánh nặng trên vai người nông dân trong bối cảnh khoảng cách thu nhập nông nghiệp với các ngành nghề khác ngày càng rộng. Tôi nghĩ thế nhưng dằn lòng không nói ra với ông bởi câu chuyện giữa chúng tôi đang trên đà hào hứng…

Tôi kể với ông về chuyện nông dân miền Bắc có những đặc tính rất đặc biệt là chán ruộng, bỏ ruộng nhưng phần lớn không muốn “nhả” ra bởi hai lý do chính: Đề phòng con cái lên thành phố làm ăn chẳng may sau này thất nghiệp còn có chỗ mà quay lại; đề phòng các khu công nghiệp, khu đô thị sau này mở rộng sẽ lấy vào ruộng còn được đền bù.

Ông cười mà rằng: “Phải có quy hoạch lâu dài, vĩnh viễn cho đất, chỗ nào làm khu đô thị, khu công nghiệp, chỗ nào trồng lúa thì người dân sẽ thôi mong ngóng chuyện đền bù. Tuy nhiên, quy hoạch thì có nhưng lại thường xuyên thay đổi nên đã phá vỡ lòng tin của người dân. Họ nghĩ lãnh đạo đời này không làm khu công nghiệp, đô thị ở đó nhưng đời sau biết đâu lãnh đạo khác lên lại thay đổi chính sách nên mình cứ giữ lại ruộng để phòng thân.

Xã Hợp Thịnh mấy tháng đầu năm mà đã xây gần trăm cái nhà, cái nào cũng 1-1,2 tỉ thậm chí 2 tỉ. Thứ nhất bởi họ có thu nhập đặc biệt là lớp trẻ ra ngoài làm công ty rất biết cách tích cóp. Thứ nữa là tâm lý muốn bằng anh, bằng em, bằng bạn, bằng bè, bằng hàng xóm. Tôi cũng thế, đến nhà ai chúc Tết cũng xui họ làm nhà. Miền Bắc nói chung là khác miền Nam ở điều đó! Tuy có nợ nần nhưng nông thôn vẫn có tiềm lực bởi vì bán ruộng, bởi có đất giãn dân được phân với giá rẻ 200-300 triệu nhưng bán lại cái là tiền tỉ. Nông dân chán ruộng nhưng việc tích tụ đất đai hiện nay rất khó bởi những người không có việc làm vẫn ở lại quê cấy tí ruộng lấy thóc ăn. Tư duy đó không phải ngày một ngày hai là có thể mất đi được.

Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là chỉ cấy vụ xuân, lấy ít thóc sạch để ăn còn vụ mùa, vụ đông bỏ trắng. Còn chuyện con cái một khi đã lên thành phố rồi về sau mà chẳng may thất nghiệp thì cũng sẽ chẳng quay lại với đồng ruộng đâu bởi vì sợ lỗ, sợ vất vả. Bố mẹ có giao lại đất chúng lại cho người khác thuê hoặc bán hết thôi…”.

Người ta đang hi vọng chuyện dồn điền đổi thửa sẽ cải thiện được tình trạng chán ruộng của nông dân? Tôi gợi mở. Ông lắc đầu rồi kể lại chuyện năm 1997 Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra nghị quyết dồn ghép ruộng đất, lấy huyện Vĩnh Tường làm thí điểm.

Lúc ấy đang là Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy mới 42 tuổi ông đã một mình một ý kiến phản đối rằng lòng dân đang không yên vì rất sợ chia lại ruộng bởi bao năm khoán rồi, cứ năm nay ruộng này, năm sau ruộng khác. Đến năm 1993 khi được chia đất lâu dài họ rất mừng, chăm lo hết sức cho ruộng đồng, đổ nhiều công, nhiều phân bón xuống nên ngại phải chuyển sang cho nhà khác.

Thứ nữa năm 1988 nghị quyết 10 (Khoán 10) hợp tác xã rất mạnh, chủ nhiệm là “vua” của địa phương, bao quát hết sân còn chủ tịch xã không là gì cả. Hợp tác xã chỉ đạo việc chia ruộng lúc đó rất hợp với lòng dân đang muốn bung hết ra sau thời bao cấp. Còn năm 1997, gió đã đổi chiều, hợp tác teo tóp, chủ nhiệm hết quyền lực, chủ tịch ủy ban xã mới lên, ít có kinh nghiệm nông nghiệp nên rón ra rón rén.

“Mà suy cho cùng đổi kiểu đó cũng không có mấy ý nghĩa bởi thửa to cũng chỉ là 2-3 sào. Những nhà đổi ruộng cũng chẳng có thu nhập gì hơn mà chỉ là gọn vùng, gọn thửa tí nhưng lại mất công phải đi đổi chác, thủ tục lằng nhằng nên dân không thích, thôn xã cũng ngại. Vất vả được cái gì? Người chỉ đạo không có, người thực hiện không có, dân không đồng tình thì chỉ có nước thất bại.

Hai năm sau tổng kết, y như rằng Vĩnh Tường chỉ làm được 1/3 rồi chịu chết. Bây giờ tình hình vẫn cứ như thế thôi. Vĩnh Phúc đã “bơm” nhiều tiền cho dồn điền đổi thửa rồi vẫn chưa thành công. Theo tôi Nhà nước không nên nhúng tay trực tiếp vào việc này mà chỉ cần có chính sách rồi để sao cho người dân tự nguyện dồn đổi”, ông nhận định.

Nông nghiệp miền Bắc kém vì không tích tụ được ruộng đất. Thời phong kiến bao đất đai địa chủ lấy hết nên khi mới được chia ruộng nông dân rất quý, giờ lại sinh chán. “Chúng ta đang lúng túng trong việc giải quyết hậu Khoán 10 là ruộng đồng manh mún. Hơn nữa sản xuất nông nghiệp thu nhập chẳng mấy, đụng vào đất đai là đụng vào phức tạp, ai sẽ làm đây? Ta cứ nói sửa Luật Đất đai mà từ lâu có sửa được đâu?”, ông hỏi ngược lại tôi.

Mạch chuyện đang tuôn trào, ông khoát tay bảo: “Thôi ra ao câu cá, được con nào tí còn có cái nấu cho mà ăn không thì đói”. Sau khi 3-4 con rô phi to bằng chiếc dép được giật lên, giãy đành đạch trên bờ, vài nắm rau trong vườn đã được vặt, câu chuyện giữa chúng tôi lại tiếp tục.

Doanh nghiệp phải là đầu tàu
Tôi hỏi ông một chính sách đột phá cho khu vực tam nông tương tự như Khoán 10 tiếp theo phải chăng là đến lúc phải có, ông lắc đầu…

Tích tụ ruộng đất kiểu trang trại, gia trại, nông hộ theo hình dung của ông sẽ chỉ chiếm một phần nhỏ còn phần chính phải là doanh nghiệp – yếu tố quyết định cuộc chơi này bởi họ sống chết vì thương hiệu của mình. Để khuyến khích, Nhà nước phải có chính sách cụ thể hóa về đất đai, chuyển nhượng thì thế nào, cho thuê thì thế nào, bao nhiêu năm.

Anh nông dân đuổi theo con nghé mới tậu trên thửa ruộng hoang. Bán ruộng giờ cũng không mấy ai mua, nếu có cũng phần lớn là nông dân ham ham gom ít một nhưng sản xuất không ăn thua bởi kiến thức không có, vốn không có, thị trường không có, tuổi tác lại cao. Vì thế vẫn phải doanh nghiệp nhảy vào bởi họ có sẵn đầu ra, vốn và tư tưởng đổi mới
Riêng với thuê phải có giấy tờ bảo lãnh kiểu bìa xanh, bìa tím hay bìa vàng để xác nhận với thời gian cho thuê ít nhất từ 20 năm trở lên để nông dân và doanh nghiệp cùng yên tâm. Một khi doanh nghiệp muốn thuê trả mức giá gấp rưỡi, gấp đôi so với lợi nhuận từ việc trồng lúa, ruộng đất sau khi hết thời gian vẫn là của mình thì làm sao dân lại không hưởng ứng?

“Hồi tôi còn làm Chủ tịch tỉnh, anh Phạm Nhật Vượng ở tập đoàn Vingroup có liên lạc bảo đại ý rằng bạn bè xung quanh nhiều người đã chết vì ung thư nên rất muốn được tham gia vào sản xuất nông nghiệp sạch.

Tôi trả lời Vĩnh Phúc đang có diện tích đất nông nghiệp chừng 40.000ha đấy. Anh Vượng mới bảo 40.000ha thì Vingroup thừa sức làm được, tới đây sẽ xây dựng hệ thống siêu thị ở 63 tỉnh thành để đem nông sản sạch vào trong đó bán…

Tôi mới bàn hãy làm thử trước 500ha đã. Tuy anh Vượng không biết gì về nông nghiệp cũng như chắc không biết gì về cả ô tô lẫn máy bay nhưng vẫn cứ đầu tư vào bởi có kinh tế khắc sẽ có nhiều chuyên gia tìm đến giúp. Đáng tiếc là hệ thống nhà lưới rất hiện đại của Vingroup ở Vĩnh Phúc hiện nay không mở rộng thêm được là bao bởi vì vướng mắc nhiều thứ.”

Tại sao pháp luật cho phép sự chuyển nhượng đất nông nghiệp nhưng lại không hình thành nên thị trường như chúng ta mong muốn? Là bởi người hăng say làm ruộng giờ có ít. Thêm vào đó là trình độ nông dân còn thấp. Suy cho cùng, thấp là đúng. Bao nhiêu năm sống trong bao cấp nên lứa tuổi lớn thì sợ sệt, chậm đổi mới còn lớp trẻ thì phần lớn thoát ly ra thành phố làm công nghiệp, dịch vụ. Cũng sẽ đến một lúc nào đó chúng trở về nhưng chưa phải bây giờ. Quê tôi, kể cả dân miền núi vẫn chờ công nghiệp vào lấy đất. Con cái đi công nhân hết, không chịu làm ruộng nữa chỉ còn lại những người 40-50 tuổi trở lên. Chỉ gọi là có ít thóc đủ ăn khỏi đong còn tiền thì tìm cái khác, làm công nghiệp, làm dịch vụ và làm tất cả những nghề có thể nên vẫn cứ giữ ruộng”.

Không có thực tiễn là dễ “ăn đòn”

Bất cứ chính sách gì nếu không xuất phát từ thực tiễn chỉ như một cái cây không có rễ, chẳng sớm thì muộn sẽ chết? Câu hỏi của tôi khiến ông bật cười ha hả: “Tôi kể với anh một chuyện rằng, năm 2004, ngành nông nghiệp họp tại Thái Bình để phát động phong trào xây dựng cánh đồng 50 triệu. Hội nghị rất lớn, ngồi bàn chủ tọa có tới 1 ủy viên Bộ Chính trị và 4 ủy viên Trung ương gồm các ông Lê Huy Ngọ – Bộ trưởng Bộ NN-PTNT, ông Nguyễn Đức Triều – Chủ tịch Hội Nông dân, ông Đinh Thế Huynh – Tổng Biên tập Báo Nhân dân, ông Bùi Sĩ Tiếu – Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình… Cuộc họp đó người ta vẽ ra viễn cảnh quê hương cánh đồng 5 tấn thóc năm xưa giờ sẽ là quê hương của cánh đồng 50 triệu.

Toàn báo cáo điển hình nào là trồng thuốc lào 200 triệu/ha, trồng hoa hồng 150 triệu/ha, rồi hoa nọ, rau kia. Phấn đấu xã 50 triệu, huyện 50 triệu, tỉnh 50 triệu, đảng bộ nào trong sạch vững mạnh phải có cánh đồng 50 triệu… Trưa hôm đó ông Trần Mạnh Báo – Tổng giám đốc Công ty giống Thái Bình rủ tôi đi ăn cơm, mấy anh em có đôi chén, mặt phừng phừng mãi 1h30 mới về để kịp họp lúc 2h. Vừa vào đến cửa ông Lã Văn Lý lúc đó là Chánh văn phòng Bộ NN-PTNT đã gọi toáng lên: “Hùng, Hùng, tôi tìm mãi mà không thấy chú đâu? Ông Ngọ đang bắt tôi đi tìm chú để phát biểu”.

Ngồi chưa nóng chỗ, tôi đã bị gọi lên. Tôi dẫn chứng, Vĩnh Phúc có 370ha hoa hồng của huyện Mê Linh 15 năm nay mà vẫn chỉ dừng lại ở 370ha, không phát triển thêm được. Lúc đắt thì 10 bông bán được 1.000đ còn lúc rẻ gần như là cho không. Thế mà bây giờ Thái Bình, Hải Dương mở ra trồng hoa hồng khắp tỉnh thì bán cho ai? Thuốc lào đâu đâu cũng phát triển thì để dân hút thay cơm à?

Một người nông dân dừng tay nghỉ chốc lát khi đang khai hoang ruộng.

Tôi cũng nghe một số người dự buổi ngày hôm đó thuật lại, các chủ tọa sau khi bị ông Hùng “quại” cho một thôi một hồi thì giật mình nghĩ lại. Bí thư huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình hồi đó mới chân ướt chân ráo đi tham quan mô hình trồng hoa hồng ở huyện Mê Linh về trồng có 20ha mà còn đang “chết” nặng nên nghe thấy thế không lên phát biểu nữa. Còn lãnh đạo Thái Bình lúc ra giải lao mới nhăn nhó bảo rằng: “Hôm nay chú dội nước đá lên đầu anh rồi!”. Ông Hùng cười: “Em nói thật với anh, nói cái gì cũng phải có thực tiễn kẻo mà ăn đòn đấy!”.

Bởi ông nhớ năm 1992 khi còn là Phó Chủ tịch huyện Tam Dương đã cùng với ông Trần Văn Đăng – Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú cũ và mấy Bí thư huyện nữa về Thái Bình học tập. Hồi ấy, ở Thái Bình người ta đang khoán sản 1 năm thu 1 sào tới 90kg thóc, trong đó 18kg chi riêng cho thuốc trừ sâu. Lạ quá, ông mới hỏi thu nhiều thế thì lo được gì cho dân? Họ trả lời: Lo phun thuốc định kỳ, trong đó phun trên mạ xuân hồi tháng chạp hết 3kg/sào, lúc thời tiết rét chẳng có sâu bệnh gì sống nổi cả.
Xã ông hồi trước cũng có lạm thu như thế nhưng kể từ năm 1988 khi lên làm Chủ nhiệm HTX Hợp Thịnh (huyện Tam Dương) thay vì tiếp tục thu 90kg/sào ông đã cắt xuống còn 60kg, rồi xuống 40kg, vụ cuối cùng chỉ còn lại 17kg/sào. Nhận thấy càng thu nhiều dân lại càng chây ỳ không nộp, một cái xã bé tí thế mà nợ tới 1.096 tấn thóc sản nên ông mới đề ra chính sách ai đang nợ 1 tấn thóc sản chẳng hạn, nếu nộp luôn sẽ được trừ ngay cho 7 tạ. Thấy hợp lý, dân tình ai cũng hồ hởi khiêng thóc đi nộp.

Quay trở lại chuyện Thái Bình, thu nhiều khiến dân kiệt quệ ông mới nhận định kiểu gì cũng có chuyện. Mấy năm sau dân Thái Bình “nổi lên” thật. Sự kiện đã thức tỉnh Trung ương phải có những chính sách mới thích hợp hơn, nâng cao chất lượng đời sống cho nông dân toàn quốc. Nhân chuyện này, ông Trần Mạnh Báo – Tổng giám đốc Công ty giống Thái Bình mới có mấy câu thơ dịp gặp ông Hùng rằng: “Thái Bình là đất ăn chơi/ Tay gậy tay bị khắp nơi tung hoành/ Gậy Thái Bình đập tan tham nhũng/ Bị Thái Bình làm sáng nội cương. Bao giờ đất nước ấm êm/ Nhân dân cả nước biết ơn Thái Bình”…

[Bài VI]: Sự thấp thỏm của những đại điền chủ kiểu mới
Báo Nông nghiệp Việt Nam 30/07/2019, 14:55 (GMT+7)

Rút bớt nông dân ra khỏi nông nghiệp, khuyến khích tích tụ ruộng đất là quy luật tất yếu để cho người nông dân cùng cánh đồng của họ lớn lên trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên, những đại điền chủ kiểu mới ấy vẫn còn thấp thỏm bởi chưa có một chính sách nào “bảo hiểm” cho họ…

Máy bay đi phun thuốc

Anh Trần Xuân Lưỡng kiểm tra khu gieo mạ khay 

Chiếc máy bay nhỏ gắn 4 cánh quạt bốc thẳng lên trên mặt ruộng, cách ngọn cây lúa chừng 1m rồi nhả ra một luồng khí đều và căng như một dải lụa. Trên bờ, người già, trẻ nhỏ và cả đám thanh niên vừa chăm chú dõi mắt theo vừa chỉ trỏ, nói cười về chuyện lần đầu tiên được thấy trong đời. Đó là cảnh máy bay đi phun thuốc trừ sâu trên khu ruộng nhà anh Trần Xuân Lưỡng ở xã Quang Hưng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Với tốc độ 15 phút/1ha, vừa bay vừa nghỉ để đổ tiếp thuốc nên hơn 13ha của anh chỉ cần nửa buổi là xong, thay cho 10 lao động phải vất vả đeo bình phun đi mấy ngày ròng rã thân ngập trong hóa chất như trước. Mỗi vụ 2-3 lần máy bay của một công ty giống có trụ sở ở Bắc Giang lại về phun thuốc thuê cho anh như vậy.

Vốn là một hàng xáo có hạng chuyên đi thu mua lúa trong vùng, tính anh Lưỡng xởi lởi, dễ gần nên cứ tháng ba, ngày tám bà con hay tìm đến hỏi vay tiền và hứa đến mùa sẽ trả bằng lúa. Nhưng rồi người trả, người không, nợ lai rai qua nhiều vụ mà xét hoàn cảnh của ai khó khăn quá anh cũng chẳng nỡ đòi riết. Cũng trong quá trình đi thu mua lúa ấy, thấy cánh đồng Lò Gạch người bỏ không, người cho thuê kiểu “xôi đỗ”anh mới quyết định thuê lại để cấy.

Tại cuộc họp của hai thôn có diện tích trên đồng Lò Gạch, anh thuyết trình: “Thưa bà con, thay vì cho bà con vay tiền rồi đến vụ thu lại bằng lúa kiểu mua lẻ như trước giờ đây tôi muốn chuyển sang được thuê ruộng để đủ thóc cho hoạt động xay xát của mình, mong bà con ủng hộ cho”.

Thấy giá anh đề xuất hợp lý, ruộng đồng lại đang cấy vụ ăn, vụ thua nên bà con nhất loạt gật đầu, ký tên vào hợp đồng. Tiếng là thời gian thuê 15 năm nhưng có lẽ cũng là suốt đời họ bởi với giá 200.000 đ/sào/năm tính ra vẫn còn lãi hơn tự cấy mà lại nhàn hạ, ung dung không lo gì giông gió.

Giai đoạn đầu anh tích tụ được 12,5ha, về sau thuê thêm 1ha nữa, đủ rộng để quây vùng, chủ động tưới tiêu, làm lệch vụ với bà con phần để tiện cách ly về thời gian cho lúa giống, phần để giảm giá thuê lao động lúc cao trào.

Với 2 máy cấy, 2 máy làm đất, 1 máy gặt anh không chỉ dư sức làm hết diện tích nhà mình mà còn có thể “ôm” thêm 10-20ha nữa nếu liền vùng, liền thửa. Lãnh đạo nhiều xã hay các giám đốc hợp tác xã cứ chuẩn bị đến vụ lại gọi điện cho anh đến nóng ran cả máy, bảo rằng có ruộng bà con bỏ, mời đến cấy. Ngặt nỗi thửa hình chữ nhật, thửa hình thang, thửa hình tam giác lại nằm rải rác khắp các xứ đồng nên dù muốn mở mang thêm diện tích anh cũng đành bó tay…

Cái nhà kho bỗng thành tro bụi


Vết tích cái nhà kho bị đốt trụi của anh Lưỡng
“Nhà nước nên khuyến khích hỗ trợ người tích tụ đất tiền điện để bơm lấy nước, tiêu nước, một phần tiền mua máy bay phun thuốc (giá trị vài trăm triệu/cái-PV) như đang hỗ trợ với các loại máy móc nông nghiệp khác”  Anh Trần Xuân Lưỡng

Biết đoàn khách nào đến tham quan, xã, huyện cũng thường dẫn đến mô hình của anh Lưỡng, tôi hỏi, có được hỗ trợ gì không? Anh chỉ cười buồn, ngậm ngùi: Trừ năm 2017 lúa bị bệnh lùn sọc đen mất mùa 100% tôi được hỗ trợ 12 triệu, ngoài ra không được một cái gì cả! Nước tưới hay tiêu bà con kêu một tiếng với trưởng thôn là được đáp ứng ngay, đằng này tôi phải tự túc hết. Ruộng dân cấy hợp tác xã phải mang máy bơm ra phục vụ, ruộng của tôi phải tự mua máy bơm, tự kéo điện 3 pha ra. Viết đơn xin được hỗ trợ điện cho thủy lợi huyện lại bảo về xã, xã lại bảo không nằm trong đối tượng được.

Đường giao thông nội đồng nhỏ chỉ hơn 1m nhiều đoạn sạt lở mà không ai nhòm ngó, tu bổ kể từ khi cho tôi thuê khiến ngay cả một cái xe lôi cũng không vào nổi, viết đơn gửi lên xã xin đề nghị làm mãi cũng không chấp nhận. Chỉ cách có một bờ thửa mà ruộng của dân được nhiều ưu ái còn của tôi thì không thì bất công quá…”.
Không chỉ thế, ở nông thôn không tránh khỏi hiện tượng ghen ăn, tức ở. Tối ngày 26/12/2017 kho chứa vật tư nông nghiệp và dụng cụ sản xuất của gia đình anh bỗng dưng bốc cháy, tổng thiệt hại lên đến hơn 100 triệu đồng.Theo anh, công an có về xác minh hiện trường sau đó thông báo vụ cháy không phải do chập điện mà là do có sự tác động từ bên ngoài. Tuy nhiên từ đó đến nay vẫn không tìm ra thủ phạm.

Anh Lưỡng đang vận hành máy bơm nước.

Ngày 9/4/2018 công an mời anh lên để cho biết tin tạm đình chỉ điều tra.Trong lá đơn kêu cứu gửi UBND tỉnh Thái Bình, anh viết: “Là một nông dân đi đầu trong phong trào tích tụ ruộng đất và sản xuất nông nghiệp cánh đồng mẫu lớn, tôi phải vất vả đầu tư công sức và tiền của mới có được cánh đồng như ngày hôm nay và cũng để làm gương cho bà con. Nhưng bị kẻ xấu đốt cháy, làm hại gia đình, tôi không biết kêu ai…

Hiện giờ gia đình tôi rất lo sợ, nếu còn bị kẻ xấu làm hại thế này thì tôi không có thể an tâm lao động, sản xuất được vì số tiền và công bỏ ra để sản xuất 12ha ruộng quá nhiều… Các công ty tôi ký hợp đồng làm lúa giống họ cũng rất ái ngại đầu tư…

Xin quý lãnh đạo thương đến người nông dân chân lấm, tay bùn, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, dầm mưa dãi nắng mà chẳng được là bao, nay lại bị thiệt hại hết này, xin giúp gia đình tôi tìm ra thủ phạm để an tâm tiếp tục sản xuất”. 

Đất đai như … vịt đuổi đồng

Chân dung chị Lanh – người cấy nhiều lúa nhất nhì tỉnh Thái Bình (Ảnh)

Chị Trần Thị Lanh – Trưởng thôn Giáo Nghĩa của xã Bình Minh kể, năm 2012 địa phương tiến hành dồn điền đổi thửa, mỗi hộ chỉ còn 1-2 thửa, năm 2015 các công ty bắt đầu về tận làng mở xưởng đã lác đác thấy có người chán ruộng, bỏ ruộng. Là chủ cơ sở sản xuất gạch, những ngày mùa, công nhân của chị đồng loạt xin nghỉ để về cấy bằng tay, thu hoạch cũng bằng tay, hầu hết công đoạn nặng nhọc đều bằng tay hết.

Thấy thế, chị mới sắm máy làm đất, máy gặt để làm dịch vụ, giải phóng sức lao động cho bà con. Tuy nhiên, sau mỗi một vụ, các thôn bỏ ruộng mỗi lúc một nhiều. Tiếc của chị đánh tiếng xin mượn để vỡ hoang, bà con hay tin gọi cho tơi tới. Từ 5 sào phút chốc lên 5 mẫu là quá sức của gia đình chị vì bà con bỏ ruộng mỗi mảnh một vùng, một cánh đồng…

Đầu tiên, chị thuyết phục các đồng nghiệp cùng là trưởng thôn ở trong xã rằng: “Các bác cố gắng dồn bà con đang cấy vào một chỗ tốt, còn chỗ xấu thì để em mượn, khi nào Nhà nước sờ đến thì em sẽ trả lại ruộng ngay”.

Sau đó, các trưởng thôn họp dân lại để phổ biến: “Cô Lanh muốn mượn ruộng hoang của làng ta để sản xuất nhưng ngặt nỗi toàn kiểu “xôi đỗ”, khó làm nên bà con dồn đổi ruộng tốt, ruộng gần vào một chỗ để mình cấy, còn ruộng xấu cũng dồn lại một chỗ để cô ấy cấy…”. Lời nói phải nhưng người nghe, kẻ không nên mới có những thửa ruộng “hoa báo” nằm giữa vùng canh tác của mình chị Lanh cũng đành phải chịu.

Có ruộng lớn ở 6 thôn,chị mạnh tay mua sắm máy móc với 2 máy cày, 1 máy gieo hạt, 20.000 khay mạ, 3 máy cấy 3 trong 1 vừa cấy, vừa phun, vừa bón phân, 2 máy gặt đập liên hợp, 1 máy sấy công suất hơn 10 tấn/mẻ… Cơ giới hóa đồng bộ giúp cho chị làm đất một lèo, cấy xong chỉ trong vài buổi.

Máy cấy xuống đồng. Chị Lanh: “Mượn ruộng chẳng khác gì chăn vịt thả đồng”

Những thửa ruộng xen kẹt của dân bên trong không còn là bạn đồng cùng các thửa ruộng của chị nữa vì bà con cấy tay chậm dẫn đến không cùng trà, khi thu hoạch cũng thế, còn sót mỗi mình chưa kịp gặt, chuột bọ thi nhau vào cắn phá. Bởi thế dần dà chủ của những thửa ruộng này cũng muốn đổi đất để ra chỗ cấy riêng của những người vẫn còn nặng nghiệp nông gia.

“Cấy lúa mà chỉ có 2 – 3ha, máy móc sẽ thường xuyên bị “đói” dẫn đến không có hiệu quả kinh tế, phải từ 10ha trở lên máy móc mới “no mồi”, sản xuất mới có nhiều lãi”.
Chị Trần Thị Lanh nói.

Vụ trước chị cấy 25ha, mới đây bà con gọi cho mượn thêm 2ha thành ra 27ha, thuộc vào dạng cấy nhiều nhất nhì tỉnh Thái Bình. Vẫn còn có nhiều người đánh tiếng cho mượn ruộng nhưng vì ở đó thôn chưa tổ chức dồn đổi được nên chị chưa dám gật đầu.

Khác với cách thuê ruộng của anh Lưỡng, cách mượn ruộng của chị Lanh không tốn một đồng nào dựa trên nguyên tắc cùng có lợi. Người vẫn cấy thì được ruộng gần, ruộng tốt còn người không cấy cho chị mượn ruộng được lợi là lúc cần cấy lại sẽ không phải vỡ hoang, đỡ được vài chục ngàn đồng/sào không phải đóng 4 khâu dịch vụ bắt buộc là thủy lợi nội đồng, khoa học kỹ thuật, bảo vệ thực vật và diệt chuột nữa. Còn chị được lợi là có tới 27ha để cho máy móc thỏa sức vẫy vùng.

Ruộng lớn, với 3 khâu cơ bản nhất của nhà nông là cày, cấy và gặt tự làm bằng máy đã đỡ được cho chị Lanh khoảng 400.000 đ/sào lại thêm được cái thuận lợi mua phân gio, giống má, vật tư nông nghiệp với giá bán sỉ. Lúc trước, còn manh mún, chị cấy lúa thương phẩm, nay tích tụ được nhiều chị chuyển sang sản xuất giống. Ngoài làm cho mình, chị còn dịch vụ thêm bên ngoài khoảng 70ha nữa, tổng lãi cũng được khoảng 500-600 triệu/năm.

Tôi ra cánh đồng thôn Phương Ngải, thửa nào của chị tít tắp chẳng thấy bờ bao giống như ở trời tây còn thửa nào của dân thì nhỏ bé, thấp thoáng những ông bà già còng lưng cắm cúi. Bà Lê Thị Tám có 3 sào ruộng ở Hậu Đồng giải thích về chuyện đổi ruộng cho chị Lanh như sau: “Lúc trước, vì thửa ruộng của tôi nằm ở giữa khiến cho máy móc của cô Lanh khó di chuyển. Cô ấy dùng mạ khay, cấy máy nên tốc độ nhanh còn nhà mình mạ sân, cấy tay, tốc độ chậm, làm cái gì cũng thành sau, thành muộn nên tôi vui vẻ đổi”. Còn bà Phạm Thị Hồng kể vụ này cho chị Lanh mượn 3 sào ở khu Tiền Đồng mà chỉ cấy có 4 sào.

Rất nhiều người già đang lom khom cấy tay trên cánh đồng này chỉ để lấy gạo ăn như thế, không chỉ cho bản thân mà còn gửi chút “gạo sạch” cấp cho con cháu trên phố. Mùa đến, mùa đi, họ thêm ốm o và sẽ có lúc phải ngã xuống trong khi lớp trẻ nhất định không chịu tiếp nối nghiệp của mình.

Chị Lanh (bìa trái) đang nói chuyện với hai người đổi ruộng, cho mình mượn ruộng.
Với bình quân mỗi khẩu 1,5 sào ruộng thì để có được 27ha chị phải mượn bằng miệng của 500 người. Nhiều người cho mượn mà còn rối rít cảm ơn chị bởi không chỉ đỡ phải đóng phí cho hợp tác xã, đỡ phải làm cỏ khi cấy lại mà còn đỡ ảnh hưởng đến những người xung quanh bởi mỗi thửa ruộng hoang là một cái bẫy tự nhiên dẫn dụ chuột bọ.

Tôi hỏi chị Lanh với cách mượn ruộng này có thực sự yên tâm sản xuất, chị trả lời rằng nó không khác gì nuôi vịt thả đồng. Đầu tư tới hơn 2 tỉ nhưng vẫn phải vất vả chạy đồng vì nay người ta cho mượn, mai lại có thể đòi. Bởi thế chị gửi gắm ước vọng Nhà nước làm sao phải tuyên truyền cho người dân rằng họ chỉ có hai con đường khi muốn từ bỏ ruộng đồng là bỏ hoang thì sẽ bị thu hồi còn muốn giữ lại thì phải tìm người cấy hộ. Làm sao để những người thuê ruộng hay mượn ruộng như chị có khoảng thời gian ít nhất 5-10 năm, có những chính sách đảm bảo cho việc tích tụ dài lâu.

Theo báo cáo năm 2018 của Thái Bình, diện tích đất đã tập trung, tích tụ theo hình thức thuê và chuyển nhượng được 1.792,8ha trong đó: Tích tụ từ 10ha trở lên: 454,96ha. Tích tụ từ 2ha đến dưới 10ha: 1.337,84ha. Chủ yếu là thuê với giá từ 60 đến 80kg thóc/sào/năm hoặc từ 300.000 đến 500.000 đồng/sào/năm, thời hạn bình quân 5 năm.
Hầu hết các mô hình tích tụ đều có hiệu quả hơn từ 1,5 đến 2 lần so với sản xuất thông thường bởi áp dụng đồng bộ được các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tiết kiệm được chi phí, kiểm soát được đầu vào và đầu ra của sản phẩm. Tuy nhiên diện tích đó vẫn còn quá ít và chuyện tích tụ còn nhiều bấp bênh.

[Bài VII] Đất đai chưa mang lại yên bình và giàu có cho nông dân!

Báo Nông nghiệp Việt Nam 31/07/2019, 13:55 (GMT+7)

Nước mình là nước nông nghiệp, đa số dân là nông dân nên cái gì động chạm đến nông nghiệp, nông dân trong đó có đất đai đều có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến toàn xã hội…


GS.TS.Nhà giáo nhân dân Trần Đức Viên nói.

Đất đai là hồn cốt

Đất ngoài là tài sản đối với người Việt nó còn là quê hương, là máu thịt, là tâm linh (với mồ mả ông cha trong đó), là văn hóa, là tâm hồn… nên chúng ta mới có hai từ “đất nước” để chỉ Tổ quốc mình. Có lẽ do vậy, mà cha ông ta đã đi theo cách mạng, sẵn sàng hy sinh cả mạng sống, sẵn sàng vác dao bầu, đòn gánh, gậy gộc lên phủ huyện cướp chính quyền để mong một mảnh đất cắm dùi.

“Người cày có ruộng” đã làm nên sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần vô địch của tầng lớp cần lao. Từ người nông dân ngày hôm qua vác dao bầu, đòn gánh, gậy gộc lên phủ huyện cướp chính quyền để mong có được “mảnh đất cắm dùi” ấy thì nay không ít con cháu họ lại không thiết gì với đất nữa. Có lạ không? Không lạ! Có buồn không? Rất buồn!

Nhiều nông dân vẫn cấy lúa thủ công.

Nông thôn đang xảy ra ba hiện tượng hàng ngày có liên quan đến đất đai: Hiện tượng thứ nhất là nông dân mất đất bởi việc mở rộng các khu công nghiệp, đô thị. Việc qui hoạch đất đai hay giá đền bù giải phóng mặt bằng nói là theo pháp luật nhưng ở nhiều nơi là do ông Chủ tịch tỉnh hay thành phố quyết định, đương nhiên là phải thông qua Hội đồng nhân dân nữa. Có nơi thu hồi không được thì cưỡng chế. 

Về làng, điển hình là ngày tết, chỉ mồng hai thôi đã thấy lạnh lẽo rồi. Trước đây, tết từ ngày ông Công ông Táo cho đến rằm tháng Giêng, người lớn tất bật, vui vẻ, thanh niên, trẻ con háo hức. Người ta đánh cờ người, đấu vật, xúm quanh chiếu chèo, kéo co… Rất nhiều trò chơi xưa nay đã biến đi đâu hết. Thanh niên quê giờ có tâm lý không muốn làm ruộng vì không thấy ai làm giàu từ ruộng được, đặc biệt là nơi chỉ cấy lúa. Bởi thế phải ly hương tuy vẫn giữ ruộng bởi hai lý do: Nhỡ sau này nhà nước quy hoạch lấy vào đất của mình sẽ được cục tiền; Nhỡ sau này con cháu lên thành phố bị thất nghiệp, về làng còn chỗ nương thân.

Hiện tượng thứ hai là nông dân chán đất, không thiết tha gì với đồng ruộng nữa mà loạt bài “Hai sắc thái của ruộng hoang” do Báo NNVN đang phản ánh. Người nông dân không thiết gì đất bởi đất không nuôi nổi người, đất chưa mang lại cho họ sự yên lành và giàu có.

Nông dân hoặc chán hoặc đầu độc, bóc lột đất tối đa bằng sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học quá mức miễn để lấy được giá trị thặng dư cao hơn, không cần biết đến tương lai. Nếu đất kiệt quệ rồi thì bán, bán không ai mua thì cho thuê, không ai thuê nữa thì bỏ hoang…

Hiện tượng thứ ba là nông dân chán quê. Làng quê giờ đây tuy tiện nghi đầy đủ hơn, nhà cao cửa rộng nhiều hơn, nhiều người khá giả hơn nhưng dường như không còn yên ấm như xưa vì cây xanh thưa thớt, vắng bóng lũy tre làng, nhà cửa hình ống rồi “củ hành củ tỏi”, lai căng, trọc phú. Nếu về làng không vào dịp hội hè hay tết nhất thì chỉ gặp toàn người già với trẻ con, những ai có sức khỏe bỏ lên thành phố, khu công nghiệp… để kiếm sống.

Ngày xưa, theo như những gì được mô tả trong cuốn sách “Người nông dân Bắc Kỳ” của Gourou, một ngôi làng vùng đồng bằng sông Hồng điển hình bao giờ cũng được bao bọc bởi lũy tre, có cổng làng, có đình chùa miếu mạo, có giếng làng, có cây đa, sang nữa thì thêm bến nước…

Hồn vía của làng ẩn sau lũy tre, dưới mái đình, trên cánh đồng làng. Làng của ta bây giờ tre không còn nữa vì sợ chạm vào dây điện nên chặt đi. Những cây cổ thụ không còn nữa vì sợ bão đập ngả vào dây điện. Nhà kiểu quê xưa ngày một ít đi mà thay bằng nhà kiểu phố, hình ống, ngất ngưởng 2-3 tầng.

Tiện nghi ở nông thôn tốt hơn, tối có đèn sáng, có nước sạch, đường làng không còn lầy lội, hơn hẳn ngày xưa nhưng đời sống pha tạp kiểu phố phường, kiểu tây tầu, có cái gì đó sâu thẳm trong tâm hồn người làng đã bị xói mòn, mai một.

Nông dân cần thực quyền

Từ lâu rồi đã hình thành “thị trường” đất đai ở nông thôn, quê tôi người ta đang bán 35 – 40 triệu đồng/sào tùy vị trí. Một trong các lý do người nông dân không thiết tha với đồng ruộng có lẽ cũng vì họ chưa có thực quyền. Thân phận mảnh đất là do nhà đầu tư định đoạt. Sắp tới, dù muốn hay không, chúng ta cũng phải làm rõ vấn đề này. Khi nhà nước cần đất có thể đền bù theo giá thị trường. Người nông dân cũng phải được tham gia vào quá trình quy hoạch đất đai. Như hiện nay quy hoạch thế nào hầu như là do địa phương, nhà đầu tư quyết cả.

Ngoài ra tôi còn nghe bà con nhiều làng quê phàn nàn, là ở thành phố khi có bất cứ chuyện gì như ô nhiễm môi trường, xử lý rác thải, điện đường trường trạm đều là nhà nước làm hết, làm tận ngõ, vào tận nhà. Nhưng ở nông thôn lại khác. Động tí gì đến môi trường, đến điện đóm, đến đường thôn ngõ xóm, họ cũng phải lo đóng góp, phải lo thực hiện “xã hội hóa”.Gọi là xã hội hóa nhưng thực tế là kêu gọi nông dân đóng góp bằng thu nhập ít ỏi của họ. Trong khi vẫn con người ấy nếu ra thành phố thì họ không phải đóng góp gì cả, đã có nhà nước lo.Khi nông dân cảm thấy không có thực quyền, cảm thấy bất an, vì có thể vào một ngày đẹp trời mảnh đất ấy không phải đất của họ nữa. Có lẽ vì thế nên họ không chăm chút đất, nên bóc lột đất đai chăng? Bây giờ nếu trả lại cho họ tất cả các giá trị thực ấy, tôi tin là người nông dân sẽ yêu quý đất.

Một ý tôi muốn nhấn mạnh nữa là đất công. Ngày xưa các cụ ở ta có công điền, công thổ. Làng nào, tổng nào, xã nào bao giờ cũng có đất công điền (ruộng công), công thổ (đất ở công) với một tỷ lệ khoảng 20-30%. Ngay nước Mỹ phát triển như thế vẫn giữ đất công khoảng 40%. Nhưng chúng ta bây giờ diện tích đất công theo thống kê chỉ còn khoảng 5%. Tháng trước, tôi có đi tỉnh Điện Biên, thấy đồng bào định cư ở đây theo chương trình di dân lòng hồ thủy điện phá rừng làm nương rẫy dữ quá. Hỏi ra mới biết, có cam kết với đồng bào rằng đến nơi ở mới có điều kiện sinh sống và canh tác tốt hơn nơi ở cũ, mỗi gia đình được 400m2 làm nhà ở và 2ha đất canh tác. Nhưng huyện xoay xở mãi cũng không đủ 400m2 đất thổ cư cho một đầu hộ, không đủ 2ha đất luân canh rừng – rẫy và canh tác nông nghiệp vì không còn đất công nữa. Ở vùng xa xôi mà còn như vậy, thì các tỉnh đồng bằng và ven đô chắc là đất công, ruộng công còn hiếm hơn nữa… Nếu sau này cần đất để làm các công trình công cộng thì lấy đâu ra?

Học các nước cũng dùng đủa như mình

Theo tôi điều kiện của ta gần gũi với Hàn Quốc, Nhật Bản, những cư dân dùng đũa, có lẽ cũng nên học hỏi họ ít nhiều trong phát triển nông thôn. Ở Nhật có chương trình phát triển nông nghiệp dài hạn. Quá trình đi lên trở thành một nền nông nghiệp hàng đầu thế giới của họ được bắt đầu từ những thay đổi ở tầm chính sách vĩ mô sau chiến tranh thế giới lần thứ II.

Trong thập niên 70, nhiều tỉnh của Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, điều đó không những đã góp phần quan trọng vào việc phát triển nông nghiệp, thay đổi bộ mặt nông thôn mà còn góp phần phần phát triển chung cho kinh tế-xã hội trong nhiều thập niên của cả nước Nhật.

Bước đầu tiên là thực hiện cải cách đất nông nghiệp để cho nhà nông tự chủ (16 năm). Cơ giới hóa bằng việc đưa máy móc vào canh tác để nhà nông có nhiều thời gian tham gia nghề phụ, chế biến nông sản hay thành công nhân công nghiệp. Thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ sản phẩm nông nghiệp giá trị gia tăng thấp sang sản phẩm nông nghiệp có giá trị gia tăng cao (trong 30 năm).

Một trang trại trồng hoa ở huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc (ảnh) .

Từ những năm 1990, Nhật Bản luôn áp dụng “nguyên lý thị trường” trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo sự hài hòa giữa đời sống nông thôn và thành thị. Từ năm 2000, quốc gia này thực hiện chính sách nông nghiệp “Takebe” hướng tới mục tiêu cung cấp lương thực ổn định. Ban hành luật pháp về an toàn thực phẩm, luật pháp về giáo dục chế độ ăn uống, bảo đảm hài hòa giữa thành thị và nông thôn, môi trường nông thôn gần gũi với tự nhiên. Việc tái cơ cấu do doanh nghiệp nông nghiệp dẫn dắt ngày càng hoạt động hiệu quả…

Giờ rất lạ, cái gì là truyền thống lại không được coi trọng mà cứ giống mới, nhập ngoại là thích, chạy theo năng suất. Nông dân ta tự bơi, tự lo mọi thứ. Hệ thống khuyến nông mới chỉ làm mỗi việc trồng cây gì, nuôi con gì kiểu trình diễn thôi chứ không kết nối được nông dân với thị trường. Người nông dân làm hôm nay không biết ngày mai sản phẩm của họ đóng gói thế nào, bán cho ai, ở đâu, giá cả ra làm sao…

Quan tâm hỗ trợ việc tạo giá trị gia tăng cho nông dân thay vì chỉ gia tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp công nghiệp và thương mại. Người Nhật không có “cánh đồng mẫu lớn” qui mô hàng trăm, hàng ngàn ha mà nông dân vẫn cặm cụi trên mảnh đất không lớn của họ, lo duy trì và nâng cao chất lượng, sản lượng nông sản trong các Noukyou (Nông hiệp) một hình thức liên kết các hộ liền bờ liền thửa kiểu HTX.

Nông hiệp lo tổ chức sản xuất, kết nối với doanh nghiệp, lo đầu vào, đầu ra để người nông dân có thu nhập cao nhất. Chính quyền lo chính sách để người nông dân được hưởng lợi nhiều nhất, không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các nông hiệp hay của hộ nông dân.

Hiện nay, chỉ có khoảng 3% dân số Nhật Bản làm nông nghiệp nhưng lại cung cấp lương thực, thực phẩm chất lượng cao dư thừa cho dân số hơn 127 triệu người cùng xuất khẩu. Ngoài phát triển các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, hiện nay chính phủ Nhật còn hỗ trợ phát triển “du lịch nông nghiệp”, mục tiêu xây dựng 500 vùng nông thôn thực hiện chương trình “home stay”, người du lịch đến ở cùng nông dân vào năm 2020. Số khách du lịch gần đây đã tăng lên nhanh chóng khoảng trên 20 triệu người trong năm 2016 và dự kiến đạt 40 triệu lượt người năm 2021.

Trong chính sách nông nghiệp, quy định về các khoản trợ cấp, trợ giá của chính phủ thể hiện ở rất nhiều văn bản, các quỹ hỗ trợ được mở rộng dần tới một số lượng lớn các mặt hàng nông sản. Hay nói cách khác, các khoản hỗ trợ đóng vai trò đáng kể vào sự hình thành vốn nông nghiệp, đặc biệt là đầu tư vào cơ hạ tầng, đất đai, môi trường. Trong đó bao gồm 3 chính sách chính thông suốt quá trình phát triển gồm: 1. Chính sách hỗ trợ nông nghiệp; 2. Chính sách cải cách pháp lý trong nông nghiệp, 3. Chính sách cải cách hành chính trong nông nghiệp.

Điều rõ nhất của quốc gia này là đã khôn khéo đầu tư cho nông nghiệp ngay từ đầu trong công cuộc phát triển đất nước, không “hi sinh” nông nghiệp, nông thôn cho công nghiệp hóa, đô thị hóa. Trí thức hóa nông thôn để làm ra những sản phẩm có giá trị cao. Họ khẳng định bằng thực tiễn nông thôn là nơi đáng sống.

Những cư dân đô thị, nhất là tầng lớp trí thức đều có xu hướng muốn quay về nông thôn để sinh sống và làm việc. Ngay cả trong lòng cố đô Kyoto, có một đêm tháng năm đang nằm tôi bỗng ngửi thấy hương thơm ngào ngạt giống hệt mùa lúa ở quê mình nên dậy đi tìm và thấy ruộng lúa…

Người Nhật rất trân trọng những sản phẩm địa phương, bản địa như bò Kobe, bò Miyazaki, giống lúa, giống cam, giống nho… đều là của Nhật. Họ bằng mọi cách để nâng cao chất lượng của chúng lên, cải tiến hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước và quốc tế. Ngay từ đầu họ đã gắn nông dân với thị trường nội địa và toàn cầu rồi, làm hôm nay biết ngày mai sản phẩm được đối xử thế nào.

GS.TS NHÀ GIÁO NHÂN DÂN TRẦN ĐỨC VIÊN
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Dương Đình Tường (ghi)

[BDNG-200719] Công ty TNHH nghiên cứu và sản xuất giống ứng dụng công nghệ cao Hưng Thịnh ( gọi tắt là Công ty Hưng Thịnh) là một liên doanh giữa Tập đoàn Lộc Trời và tỉnh Long An có trang trại thực nghiệm tại huyện Tân Hưng tỉnh Long An .Trong 5 năm qua từ khi thành lập ( 2014) , Công ty Hưng Thịnh luôn tìm kiếm và đưa về thực nghiệm trên đồng ruộng của mình những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhằm mục đích gia tăng năng suất, tăng chất lượng nông sản , hạt giống , giảm chí phí , giảm giá thành , gia tăng lợi nhuận , bảo vệ môi trường sinh thái . Công ty đã mua 1 máy phun xịt trên đồng ruộng hiệu Maruyama từ Nhật Bản có công suất phun 20 ha / ngày . Máy đã hoạt động rất tốt hai năm qua . Trong quá trình hợp tác với Hưng Thịnh, các nhà khoa học Nhật Bản đã suy nghĩ, cải tiến để thỏa mãn nhu cầu sản xuất. Trên nền tảng máy kiểu cũ đã hoạt động tốt trên đồng ruộng Việt Nam, các nhà khoa học thuộc Maruyama đã nâng cấp thêm tính năng gieo sạ hạt giống và bón phân, hình thành kiểu máy 3 trong 1. Máy 3 trong 1 này đã được trình diễn sáng ngày 17/7/2019 tại Hưng Thịnh. Trong ngày này, công ty Agras.VN cũng trình diễn máy bay không người lái (drone) để phun xịt thuốc bảo vệ thực vật trên ruộng lúa ( Xin vui lòng xem hình và video clips )

Nguồn:
DẠY VÀ HỌC theo bài và ảnh Dương Đình Tường bài ‘Hai sắc thái của ruộng hoang’, báo Nông nghiệp Việt Nam; Bài Thông tin Lúa Lộc Trời của PGS TS.Dương Văn Chín (Chin Duong)  Việt Nam con đường xanh, xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimlong.wordpress.com
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video nhạc tuyển
Lãng du trong văn hoá Việt Nam
Việt Nam quê hương tôi
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Thượng Đức thương nhìn lại

THƯỢNG ĐỨC THƯƠNG NHÌN LẠI
Hoàng Kim

Lữ Giang có bài “Thường Đức: Trận đánh quyết định số phận của miền Nam!”. Nơi đây là “mắt ngọc của đầu rồng“, (chữ của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu). Đó là cuộc đọ sức quyết liệt nhất của cả hai bên đối chiến với những lực lượng tinh nhuệ nhất trên chiến trường cuối năm 1974.

Những vị tướng của trận đánh lớn: Ba lần vào “Kỳ Sơn” Thượng Đức.Từ trái qua phải: Thiếu tướng Hoàng Đan, Đại tướng Võ Nguyên Giáp (giữa), Đại tướng Lê Trọng Tấn (cuối phải). Thường Đức là lũy Thầy Đào Duy Từ, “Kỳ Sơn” Việt Nam, nơi Quân đoàn 2 Quân đội Nhân dân Việt Nam gìm chân sư đoàn Nhảy Dù, sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, sư đoàn 1 bộ binh đóng ở phía bắc đèo Hải Vân, sư đoàn 2 và sư đoàn 3 bộ binh đóng ở phía nam đèo Hải Vân cùng với nhiều đơn vị biệt động quân, địa phương quân, nghĩa dũng quân của quân lực Việt Nam Cộng hòa để Quân đoàn 3 thực hiện được cú đánh điểm huyệt Buôn Ma Thuột làm sụp đổ khả năng phòng thủ của chính quyền Sài Gòn, dẫn đến trận thắng 30 tháng Tư năm 1975.

Trận Thường Đức là dấu hỏi lớn của lịch sử. “Ngày xưa, khi đến cai trị Đông Dương, người Pháp đã nhận ra ngay tầm quan trọng của cái chốt Thường Đức trên đường 14, nên đã lập một đồn tại đó để kiểm soát. Chính phủ Ngô Đình Diệm cũng đã nhận ra tầm quan trọng của Thường Đức trên đường tiến quân của Bắc Việt, nên đã biến Thường Đức thành một quận và hình thành Chi Khu Thường Đức để trấn giữ. Mỹ can thiệp vào Đông Dương cũng đã đánh giá cao tầm quan trọng của Thường Đức, nên đã tìm cách khóa chặt chốt này, không cho Cộng quân di chuyển xuống miền Nam. Cộng quân phải sử dụng con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào rất vất vả.” Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi Thượng Đức là “mắt ngọc của đầu rồng“.

Ngã ba sông Con, sông Cái và sông Vu Gia hiểm yếu lạ lùng giống như Rào Nan, Nguồn Son và Linh Giang của Quảng Bình. Thường Đức là lũy Thầy Đào Duy Từ, Kỳ Sơn của Khổng Minh. Kế sách xưa của Đào Duy Từ là nhà Nguyễn muốn Nam tiến thành công phải khóa được quân Trịnh ở mặt Bắc bằng hệ thống phòng thủ chiều sâu liên hoàn ba tầng gồm Hoành Sơn, Linh Giang và Lũy Thầy. Quân Trịnh vượt qua được hai tầng phòng thủ bên ngoài, khi đến tầng thứ ba là lũy Thầy thì như viên đạn đuối tầm không còn sức công phá nữa. Các chuyên gia quân sự Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng tính toán việc ngăn chặn sự xâm nhập của Cộng quân Bắc Việt bằng cách thiết lập tuyến phòng thủ ba tầng ở đất lửa Quảng Bình, “hàng rào điện tử Măc na ma ra” với ” chốt bẫy Khe Sanh” Quảng Trị và “hiểm địa” Thường Đức để ngăn chặn sự tiếp liệu và chuyển quan trọng của tuyến đường huyết mạch Trường Sơn Đông.

Đại tá Bùi Quang Thận (thứ 2 từ phải sang) trong cuộc hội ngộ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1976

Tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Hoàng Minh Thảo đã tương kế tựu kế, vận dụng mưu kế nghi binh lừa địch. Quân đoàn 2 vào phía tây Huế và đánh Thường Đức gìm chân Quân đoàn 1 và làm di chuyển hai sư đoàn tổng trừ bị ra Huế Đà Nẵng. Quân đoàn 4 vào bắc Sài Gòn làm thế trận Tây Nguyên bị hở sườn. Quân đội nhân dân Việt Nam lúc đó bất ngờ tăng nhanh ở Tây Nguyên thêm sư đoàn 968 và sư đoàn 316 tạo thế áp đảo và giành thắng lợi quyết định. Sau trận Thượng Đức và chiến dịch Huế – Đà Nẵng, Quân đoàn 2 xốc thẳng vào Sài Gòn rất nhanh, thần tốc hơn nhiều so với các hướng khác. Lữ đoàn 203 đưa xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc lập trưa 30/4/1975 và cắm lá cờ tại Phủ Tổng thống Việt Nam cộng hòa không được sắp đặt trước.

Anh Bùi Quang Thận, Người cắm cờ trên dinh Độc Lập, … Chính Bùi Quang Thận cũng không thể ngờ được mình đã làm nên kỳ tích lịch sử chỉ bằng có… hai bàn tay không theo sự thật lịch sử được Trần Đăng Khoa kể lại trên Đài Tiếng nói Việt Nam.

Nguồn: Thượng Đức thương nhìn lại https://hoangkimlong.wordpress.com/thuong-duc-thuong-nhin-lai / Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/cate…/chao-ngay-moi-12-thang-4/

xem thêm

ĐÊM NGỦ Ở HÀ TÂN
Hoàng Kim

“Mây lành sà xuống ngã ba sông.
Núi thẳm, rừng khuya, Long Ẩn xanh.
Tháng Bảy mưa ngâu thăm Thượng Đức.
Vời vợi trăng khuya, đất trở mình.” .

Tôi có chuyến về thăm Thường Đức, nửa đêm ngủ lại chùa núi tại Hà Tân Đại Lãnh với vị đại đức Thích Đồng Nhãn nơi vùng sâu. Đêm lạnh và vắng không thể ngủ, tôi đi trong đêm thiêng dưới trăng thanh đến mũi đất hiểm ngã ba sông Vu Gia, sông Con, sông Cái, vào ngôi đền chùa núi. Tôi bật bóng điện mờ ảo trong đêm lạnh, lặng nhìn danh sách họ và tên của trên 1500 chiến binh ưu tú hi sinh tại trận đánh đẫm máu Thường Đức, nay lưu danh trong đền thiêng tưởng niệm tại đất mũi. Những người ngã xuống đều hầu hết đều ở sư đoàn 304 Điện Biên (của sư đoàn trưởng Lê Công Phê, và sư đoàn phó Nguyễn Ân), và sư đoàn 324 thuộc Quân đoàn 2 Vinh Quang của danh tướng Lê Trọng Tấn là Tư lệnh và tướng Hoàng Đan là phó Tư lệnh. Số cán bộ, chiến sĩ hi sinh còn lại phần lớn thuộc hai tiểu đoàn bộ đội Quảng Đà ưu tú dày dạn chiến trận của Quân khu 5 tư lệnh là tướng Chu Huy Mân. Non sông vẫn đó, đất hiểm còn đây. Lắng nghe sự tĩnh lặng của đêm thiêng, ngắm nhìn những xương máu hi sinh để suy ngẫm về những bài học lịch sử sâu sắc.

Tôi viết bài này để nhớ công ơn cha mẹ, anh chị và máu xương hi sinh của đồng đội và người thân cho sự độc lập và thống nhất Việt Nam . Tôi viết bài này để nhớ Bác Giáp vị tướng của lòng dân mà tôi kính phục lặng lẽ học theo đức điềm tĩnh ứng xử trong đời “Con theo Thầy nguyện làm Hoa Lúa“. Vị tướng của lòng dân mà tôi duy nhất chỉ một lần trong đời đeo huân chương đi tiễn.

Thường Đức hay Thượng Đức? Chuyện sao giống Minh Lệ và Minh Lễ vậy? Nơi đây nay là Hà Tân, Đại Lãnh, “Mắt Ngọc của đầu Rồng” đã lùi sâu vào quên lãng như Ma Ca Đá Dựng rào Nan, nơi trọng yếu hiểm địa của Nam Tiến.

Gặp bạn ở Đồng Xuân, thầy nghề nông chiến sĩ, Thường Đức thương nhớ lại.

Năm tháng qua đi chỉ tình yêu ở lại.

Hoàng Kim

Nguồn: Đêm ngủ ỏ Hà Tân https://hoangkimlong.wordpress.com/dem-ngu-o-ha-tan/ Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/cate…/chao-ngay-moi-12-thang-4/

Đọc thêm:

THƯỜNG ĐỨC: TRẬN ĐÁNH QUYẾT ĐỊNH SỐ PHẬN CỦA MIỀN NAM !
Lữ Giang

Nói đến ngày 30.4.1975 và những ngày cuối cùng của Miến Nam Việt Nam mà không nói đến trận đánh Thường Đức là một thiếu sót rất lớn, vì đây là trận đánh quyến định số phận của Miền Nam Việt Nam.

Người Pháp, chính phủ Ngô Đình Diệm và người Mỹ đều thấy rất rõ rằng nếu không giữ được cái chốt Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng, Cộng quân sẽ từ vùng rừng núi cao ở Thừa Thiên đổ xuống Quảng Nam theo con đường 14 do Pháp thành lập dọc theo dãy Trường Sơn, rồi tiến đánh Cao Nguyên Trung Phần và toàn Miền Nam, do đó họ đã thiết lập và duy trì những căn cứ rất vững chắc ở Thường Đức, không cho Cộng quân đi lọt qua. Lúc đó, muốn đi vào Cao Nguyên hay miền Nam, Cộng quân phải làm con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào rồi đổ xuống vùng Tam Biên hay Kampuchia. Đây là con đường rất dài, hiểm trở và không thể đặt ống dẫn dầu… nên khó chuyển quân và tiếp liệu nhanh để đánh lớn được.

Nhưng sau khi Mỹ đi rồi, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật, không có tầm nhìn chiến lược nên coi thường cái chốt Thượng Đức. Các tài liệu được tiết lộ sau này còn cho thấy Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không quyết tâm giữ Thường Đức mà còn muốn bỏ mất cái chốt này để Cộng quân có thể đưa lực lượng xuống miền Nam, làm nhẹ áp lực quân sự tại hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, nơi ông đang có trách nhiệm bảo vệ!

Sơ lược kế hoạch của Hà Nội

Như chúng tôi đã trình bày nhiều lần, các tài liệu cho biết sau khi ký Hiệp Định Paris, Hà Nội đã lập ngay kế hoạch đánh chiếm Miền Nam, kế hoạch đó có thể được tóm lược như sau: Đưa quân vào Phước Long và Bình Long rồi đánh thẳng vào đầu não của miền Nam là Sài Gòn, bỏ qua các tỉnh miền Trung. Muốn đưa quân vào hai tỉnh này, Hà Nội phải cho khai thông con đường 14 từ Nghệ An đến Phước Long dài khoảng 1.380km. Hà Nội cho biết nếu phải vận chuyển bằng con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào, từ Nghệ Tĩnh vào đến Pleiku, quân đội Miền Bắc phải mất ít nhất 6 tháng. Trái lại, nếu vận chuyển bằng đường 14, thường được gọi là đường Đông Trường Sơn, trên lãnh thổ Miền Nam, chỉ mất có một tháng. Trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” xuất bản năm 1976, Tướng Văn Tiến Dũng đã viết:

“Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường cơ động tốt. Công trình xây dựng con đường chiến lược Đông Trường Sơn bắt đầu từ năm 1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với nhịp độ hết sức khẩn trương nối liền từ đường số 9 (Quảng Trị) vào đến miền Đông Nam Bộ là công trình lao động của hơn 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong, đưa tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch, cũ và mới, làm trong suốt cuộc chiến tranh lên hơn 20.000 kilô mét…

“Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000 kilô mét ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, vượt cả sông, suối sâu, núi cao, có ngọn hơn 1000 mét, đủ sức tiếp dầu cho hàng chục ngàn xe các loại vào, ra trên đường…”

Muốn thực hiện kế hoạch này, công việc đầu tiên là phải phá bỏ cái chốt Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng, sau đó là cái chốt Đức Lập ở phía tây Ban Mê Thuột.

Tầm quan trọng của Thường Đức

Khúc đường 14 từ Thừa Thiên vào Quảng Nam – Đà Nẵng rất hiểm trở, phải đi qua hai thung lũng và vực sâu thuộc A Lưới và A Shau (còn gọi là A Sao hay A Sầu) thuộc tỉnh Thừa Thiên, nằm kẹp giữa dãy Động Ngài ở phía đông với độ cao trung bình trên 1.000m và dãy A Bia ở phía tây cao gần 2.000m. Độ cao của hai thung lũng này cách mặt biển khoảng 800m.

Biên giới giữa Thừa Thiên và Quảng Nam – Đà Nẵng dài khoảng 112km tính từ biên giới Lào đến Biển Đông. Phần biên giới giáp với Quảng Nam dài 56,66km, chận ở giữa là hòn Hói cao 1.166m. Phần giáp với Đà Nẵng dài 55,82km có các đỉnh của dãy Bạch Mã ở phía nam quận Phú Lộc cao 1712m và gần Lăng Cô cao 1528m.

Muốn từ Thừa Thiên vào Quảng Nam – Đà Nẵng chỉ có hai con đường: Muốn đi vào Đà Nẵng phải đi theo quốc lộ 1 qua đèo Hãi Vân nằm sát biển. Con đường này đang do Quân Lực VNCH trấn giữ. Muốn xuống Quảng Nam Cộng quân phải đi từ thung lũng A Lưới, A Shau, đến A Đớt thì vòng qua lãnh thổ Lào khoảng 10km rồi quẹo vòng lại và vượt đèo A Yên trên Trường Sơn để vào A Tep (bản đồ Mỹ ghi là Ai Yin Young) thuộc tỉnh Quảng Nam. Qua khỏi A Tep là thung lũng Hiên (người Pháp gọi là Prao) và Giằng. Phía tây Hiên có núi cao đến 1644m. Hiên và Giằng cách nhau khoảng 40km. Nay khúc đường 14 này đã được Hà Nội sửa lại, cho chạy qua hai hầm A Roàng 1 và A Roàng 2 để chui qua Trường Sơn rổi xuống A Tep, không phải đi qua đất Lào như trước nữa. Ngoài hai con đường đó, không còn con đường nào khác.

Hiên và Giằng lúc đầu thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thời Pháp thuộc, khi làm con đường 14 đi sát chân dãy Trường Sơn, Pháp nhận thấy Hiên và Giằng là điểm chiến lược quan trọng để bảo vệ an ninh, nên đã thiết lập liên tỉnh lộ 4 dài khoảng 40km, nối quốc lộ 1, khúc Điện Bàn, với Giằng ở ngã ba quốc lộ 14 để khi hữu sự có thể điều quân một cách nhanh chóng. Năm 1937, Pháp đã lập Căn Cứ số 6 (Poste No 6) tại đây và làm thêm liên tỉnh lộ 13 dài khoảng 50km, vượt qua một con đèo quanh co khoảng 20 km giữa những cánh rừng nguyên sinh, nối liền Giằng với cửa khẩu Dak Ta Ooc nằm giữa biên giới Lào –   Việt, ở độ cao 1.200m, để chế ngự cả vùng phía tây và tây bắc của Quảng Nam – Đà Nẵng.

Sau khi Hà Nội thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để đánh chiếm Miền Nam, ngày 31.7.1962, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ký Sắc Lệnh số 162-NV tách tỉnh Quảng Nam thành hai tỉnh là Quảng Nam và Quảng Tín để bảo vệ an ninh. Tỉnh Quảng Nam gồm 9 quận và tỉnh Quảng Tín 6 quận. Tại tỉnh Quảng Nam, chính phủ quan tâm đến vùng Hiên và Giằng thuộc quận Đại Lộc, nên đã tách hai vùng này ra khỏi quận Đại Lộc và thành lập một quận riêng gọi là quận Thường Đức (trong văn kiện chính thức là Thường Đức chứ không phải Thượng Đức). Quận lỵ và Chi Khu quận Thường Đức được đặt tại thôn Hà Tân, xã Đại Lãnh, nơi ngã ba sông Côn gặp sông Vu Gia, cạnh liên tỉnh lộ 4. Sở dĩ chính phủ Ngô Đình Diệm cho thành lập quận này là để cắt đứt con đường 14, không cho Cộng quân di chuyển vào Nam.

Không cần có sự đồng ý của chính phủ Phan Huy Quát, ngày 8.3.1965 Hoa Kỳ bắt đầu đổ 1.500 thủy quân lục chiến vào Đà Nẵng và ngày 7.5.1965 đưa thêm 3 tiểu đoàn nữa đến lập căn cứ Chu Lai. Quân đội Hoa Kỳ và Quân Lực VNCH quan tâm ngay đến việc củng cố căn cứ Thường Đức. Một hệ thống công sự liên hoàn đã được xây tại đây gồm 35 lô cốt lớn và hầm ngầm bằng bê tông cốt sắt hai tầng với hàng chục lô cốt tiền đồn và ụ súng nửa chìm nửa nổi ở chung quanh. Khi cuộc chiến xảy ra, mọi hoạt động đều có thể được vận hành ở dưới mặt đất.

Hoa Kỳ không phải chỉ thành lập những tiền đồn để chận Cộng quân ở Thường Đức, mà còn lập nhiều tiền đồn ở thung lũng A Shau, A Lưới trong tỉnh Thừa Thiên, nơi khúc đường 14 đổ xuống Hiên và Giằng. Trước đó, chính phủ Ngô Đình Diệm đã cho mở đường 12 từ Huế lên A- Lưới dài khoảng 40km. Quân lực Mỹ đã chiếm điểm cao 935 ở A Shau, có tên là đồi A Bia, và xây dựng căn cứ hoả lực Ripcord tại đây với 1 đại đội pháo 105mm và 1 đại đội cối 106,7mm. Hai tiểu đoàn 2/502 và 2/506 thuộc Sư đoàn Không vận 101 được đưa tới hợp với quân lực VNCH giữ các cứ điểm này. Hai phi trường quân sự đã được xây dựng, một ở A Lưới và một ở A Shau. Tại đồi 935, thường được người Mỹ gọi là “Hambuager Hill” (Đồi Thịt Băm), đã xảy ra một trận đánh gay cấn giữa quân đội Mỹ và Sư Đoàn 324B của Cộng Quân từ ngày 1 đến 23.7.1970. Cựu Ngoại trưởng Colin Powell của Mỹ, lúc đó là Đại úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 đóng tại A Shau, đã bị sập hầm chông tại đây. Sau khi rãi chất da cam làm trụi lá, B.52 cũng đã được điều động hằng chục lần đến rải thảm phá nát khu rừng hai bên đường 14 từ A Lưới đến Thường Đức.

Một vài nét về địa hình và lịch sử nói trên cũng đủ cho chúng ta thấy khúc đường 14 từ A Lưới, A Shau và cái chốt Thường Đức quan trọng như thế nào đối với chiến tranh Việt Nam. Nhưng sau Hiệp Định Paris, nhất là sau khi quân đội Mỹ rút đi, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Ngô Quang Trưởng không có tầm nhìn chiến lược, đã bỏ ngỏ con đường 14 từ Đồng Hà đến Thường Đức và coi thường cái chốt Thường Đức.

Chuẩn bị đánh Thường Đức

Trong hai năm 1969 và 1970 Cộng quân đã hai lần tấn công Thượng Đức nhưng không kết quả, vì lúc đó lực lượng VNCH còn được Mỹ yểm trợ.

Vào tháng 6/1974, lúc đó kẻ viết bài nầy và một số ký giả đang ngồi uống cà phê ở Sài Gòn thì một tùy viên quân sự Mỹ đến và nói họ muốn đưa chúng tôi ra Đà Nẵng để quan sát một mặt trận quan trọng sắp xảy ra. Họ đưa chúng tôi lên máy bay đi Đà Nẵng rồi từ phi trường Đà Nẵng được trực thăng đưa lên Thường Đức. Tại một hầm chỉ huy, chúng tôi được ngồi nghe trình bày về các hoạt động của Cộng quân chung quanh căn cứ Thường Đức. Sau này chúng tôi mới biết đó là hầm của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 79. Tiếp theo, chúng tôi được trực thăng chở bay quanh Thường Đức một vòng để chỉ cho thấy những vùng Cộng quân đang làm đường và đặt ống dẫn dầu… Chúng tôi có hỏi tại sao không phá đi thì được trả lời rằng đã cho phá nhiều lần, nhưng phá xong chúng lại làm lại. Chỉ có B.52 mới phá hủy hết được, nhưng B.52 không còn. Thì ra tùy viên quân sự Mỹ đã dùng các ký giả để báo động cho Quân Đoàn 1 biết Cộng quân sắp đánh Thường Đức, nhưng Tướng Ngô Quang Tưởng hình như chẳng quan tâm gì.

Thượng Đức có địa hình rất hiểm trở, ba bề là núi cao, dốc đứng hay sông bao bọc. Phía tây dựa vào dãy Trường Sơn với nhiều vách đá dựng đứng, phía nam và đông bắc được bao bọc bởi hợp lưu của sông Vu Gia và sông Côn. Mỹ đã xây sẵn các tiền đồn ở xa để bảo vệ và phát hiện Cộng quân từ xa.

Lực lượng phòng thủ Thường Đức được đóng trên hai ngọn đồi nằm kế cận với nhau như hình con số 8, bên lớn bên nhỏ, theo trục đông tây. Quận lỵ Thường Đức đóng ở đồi nhỏ phía tây do một các toán quân địa phương bảo vệ. Thiếu Tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng mới 30 tuổi làm Quận Trưởng và Đại úy Vũ Trung Tín làm Phó quận. Tiểu đoàn 79 thuộc Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân đóng ở đồi lớn phía đông, sau lưng quận lỵ. Đây là một căn cứ do quân đội Mỹ thiết lập trước đây để làm nơi xuất phát của những đơn vị Nhảy Toán. Đến ngày 14.11.1970, sau khi Mỹ rút, căn cứ này được chuyển giao cho TĐ79/BĐQ. Vì là hậu cứ nên ít khi quân của tiểu đoàn này có mặt tại đây. Thỉnh thoảng mới thấy các đại đội của tiểu đoàn này về đây nghĩ dưỡng quân vài tuần sau những cuộc hành quân khắp Quân Khu 1. Tiểu đoàn thường chỉ để lại đây một trung đội với khoảng vài chục binh sĩ để quản trị hậu cứ.

Tiểu đoàn 79 BĐQ do Thiếu Tá Hà Văn Lầu 35 tuổi làm Tiểu Đoàn Trưởng, thuộc quyền điều khiển của Trung Tá Chương Thanh Tòng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 14 BĐQ. Khi nghe tin Cộng Quân sắp tấn công Thường Đức, cả 4 đại đội của Tiểu đoàn 79 được lệnh trở về hậu cứ. Nhưng Trung Tá Tòng quyết định giữ lại 50 người của Đại Đôi 1 để bảo vệ an ninh Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đang đóng tại Núi Đất, nên Đại Đôi 1 trở thành đại đội thiếu. Điều này chứng tỏ Tướng Ngô Quan Trưởng chẳng chú ý gì đến việc bảo vệ Thường Đức.

Trận đánh Thường Đức

Dựa trên tài liệu “Vietnam from Cease-Fire to Capitulation” (Từ Đình Chiến đến Đầu Hàng) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ do Đại Tá William E. Le Gro biên soạn, và dựa trên sự tường thuật của các nhân chứng của cả hai bên, chúng tôi xin tóm lược về trận đánh chiếm Thường Đức như sau:

Tài liệu của Cộng quân cho biết lực lượng tham chiến ở Thượng Đức chủ yếu là Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 9) do Thượng Tá Lê Công Phê làm Sư đoàn trưởng, được tăng cường bởi Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324, Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn 219 Công binh, hai Đại đội Tên lửa A72 và B72 của Quân đoàn 2, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương, một tiểu đoàn đặc công của Quân khu 5, sau đó được tăng cường thêm một đại đội bộ binh có xe tăng và hỏa lực pháo binh. Quân đoàn 2 Cộng quân đã tổ chức một bộ phận tiền phương đi cùng Sư đoàn 304 do Đại tá Hoàng Đan, Phó tư lệnh Quân đoàn phụ trách. Như vậy Đại Tá Hoàng Đan là người chỉ huy mặt trận.

Lực lượng phòng thủ của Quân Lực VNCH gồm có Tiểu đoàn 79 BĐQ, 1 đồn biên phòng, 1 đại đội bảo an, 17 trung đội dân vệ, 1 trung đội pháo binh 105mm, 1 trung đội cảnh sát dã chiến và 1 trung đội thám báo. Toàn bộ lực lượng khoảng 950 người do Thiếu tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng chỉ huy.

Nhìn tương quan lực lượng chúng ta có thể thấy Thường Đức sẽ bị thua, nhưng vì các công sự ở đây được xây rất vững chắc và các binh sĩ quyết tâm chiến đấu nên việc đánh chiếm không dễ. Lực lượng trong hậu cứ của Tiểu đoàn 79 được phối trí như sau: Đại đội 2 đối phó ở hướng tây bắc, Đại đội 3 hướng đông bắc và Đại đội 4 hướng đông nam, nơi giáp lưng với Văn phòng Quận và là Chi khu Thường Đức. Trên ngọn đồi kế cận nhỏ hơn, về hướng tây, là nơi đóng quân của Đại đội 1.

Lúc 5 giờ sáng ngày 28.7.1974 Cộng quân bắt đầu pháo kích dữ dội vào Thường Đức. Mặc dầu Cộng quân chuyển quân cấp sư đoàn rất rầm rộ, có cả chiến xa và xe vận tải, không có tin tình báo nào dự báo Cộng quân có thể tấn công Thường Đức vào ngày đó và cũng không có lệnh tăng cường phòng thủ Thường Đức.

Buổi tối trước ngày bị tấn công là ngày Trung đội 1 của Đại đội 1 đến phiên trực có nhiệm vụ đi ra nằm tiền đồn bên ngoài phạm vi phòng thủ, cách nơi Đại đội đóng khoảng 1km. Ở đây chỉ có năm ba cái hầm nổi được bao bọc chung quanh và trên đầu bằng những bao cát. Nhiệm vụ của tiền đồn là quan sát và báo cáo tình hình. Ngay từ cuộc pháo kích đầu tiên, trung đội này bị tấn công nặng, không rút lui được. Phải đợi dứt pháo mới rút dần về.

Sáng 30.7.1974, Đại úy Chi Khu Phó Thường Đức bị thương do pháo kích, nhưng các cuộc tấn công của Cộng quân đều bị đẩy lui. Sau đó, phi cơ quan sát của Không Quân nhìn thấy một đoàn xe của Cộng quân đang di chuyển trên liên tỉnh lộ 4 ở phía tây Thường Đức, liền gọi phi cơ đến oanh tạc, phá hủy được 3 chiến xa và nhiều xe vận tải khác.

Ngày 31.7.1974, Cộng quân bắt đầu cho bộ đội tấn công vào Thường Đức. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 79 gọi pháo binh bắn trọng pháo vào ngay Bộ Chĩ Huy của tiểu đoàn. Điều này chứng tỏ Cộng quân đã tràn ngập căn cứ của tiểu đoàn. Được tin này, Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư  Đoàn 3,  quyết định cho Trung Đoàn 2 thuộc Sư Đoàn  này đang ở phía tây Đại Lộc tiến theo liên tỉnh lộ 4 đến giải cứu Thường Đức, nhưng không tiến được. Tướng Hinh phải đưa đại bác 175 ly vào Hiếu Đức để bắn yểm trợ cho Thượng Đức, trong khi đó Không Quân cho máy bay đến oanh tạc vòng đai quanh Thượng Đức. Cộng quân đã thất bại nặng trong đợt tấn công này. Chúng ta hãy nghe một đoạn trong bài “Trận Thượng Đức” của tác giả Trần Hoàng Tiến đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân:

“Ta bị thương vong nhiều mà hàng rào vào quận lỵ vẫn chưa mở hết được. Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Tham mưu phó Trung đoàn 66 bồi hồi: “Khi mở cửa, đơn vị bị tổn thất khá nặng nề. Một số thương binh nằm ngay trước cửa mở, có anh em hy sinh, người nằm vắt trên hàng rào của địch. Càng đau xót, càng căm thù địch sâu sắc, quyết tâm chiếm bằng được mục tiêu, trả thù cho đồng đội”.

Sau đó, Cộng quân đã thay đổi chiến thuật bằng cách đưa pháo chống tăng loại 76,2 mm và cao xạ 37 mm lên đồi cao, bắn thẳng vào lỗ châu mai giống như khi đánh Điện Biên Phủ. Để làm được việc này, Cộng quân đã huy động 300 dân và bộ đội đưa pháo lên điểm cao 500 mét. Đến nửa đêm 5.8.1974, lúc đầu, các khẩu đại pháo và hỏa tiễn đa nòng đã bắn vào căn cứ Tiểu đoàn 79 như mưa. Các binh sĩ trong căn cứ đã lui vào cố thủ trong hầm ngầm, lô cốt…  Cộng quân liền ra lệnh cho  các pháo trên đồi hạ tầm và bắn thẳng vào các lỗ châu mai. Ngay từ loạt đạn đầu, Thiếu tá Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng đã bị trúng đạn và bị thương nặng. Chúng ta hãy nghe các chiến binh của Tiểu đoàn 79 kể lại:

“Từ trên cao độ, Cộng quân cho pháo bắn thẳng xối xả vào những hầm hố nào còn nhô ra trên mặt đất. Gồng mình hứng trận đòn thù. Lần này chúng tôi có cảm giác họ muốn chôn sống những ai còn lại. Họ muốn dùng hầm hố và giao thông hào làm mồ chôn chúng tôi.

“Dù có thành đồng cốt sắt cũng không làm sao có thể đứng vững trước sự tàn phá khủng khiếp này. Lần lượt, từng cái hầm bị sụp đổ. Từng đoạn giao thông hào bị san bằng. Một trái pháo nổ ngay trên bờ hầm của Trung Úy Tẩm, Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, máu từ đầu ông chảy xuống che khuất một bên mắt…”

Tiểu đoàn 79 có nhiều người bị thương nên đã yêu cầu cho trực thăng đến chuyển thương, nhưng Không Quân trả lời rằng chỉ khi nào diệt xong các ổ súng phòng không của Cộng quân quanh Thường Đức, trực thăng mới có thể hạ cánh được.

Điều đáng ngạc nhiên là trong khi mặt trận đang diễn biến, Quân Đoàn I có một phi đoàn rất  lớn ở Đà Nẵng, có những toán thám báo hoạt động rất xuất sắc…, nhưng khi Cộng quân xử dụng  trên 300 dân làng và bộ đội kéo pháo lên núi quanh Thường Đức cao 500m để tấn công Tiểu Đoàn 79,  Bộ Chỉ Huy Quân  Đoàn không hay biết gì hết.  Điều này chứng tỏ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn 1 ít quan tâm đến trận Thường Đức. Khi thấy tình hình nguy ngập, Tướng Ngô Quang Trưởng  mới đưa ra biện pháp đối phó, nhưng  quá muộn và không hiệu quả: Ra lệnh cho một Chi Đội Thiết Giáp M-48 đang đóng ở Tân Mỹ, Thừa Thiên, di chuyển ngay vào Đà Nẵng để giải cứu Thường Đức. Ngày 1.8.1974, khi Chi Đội M-48 vừa đến Đà Nẵng, Tướng Hinh liền cho thiết lập một lực lượng đặc nhiệm gồm có Trung Đoàn 2 Bộ Binh và Thiết đoàn 11 Kỵ Binh đi tái chiếm Thường Đức, nhưng lực lượng này không tiến lên được.

Ngày 5.8.1974, Tướng Hinh liền cho Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 57 tiến chiếm Đồi 52, nhưng khi còn cách đồi này khoảng 4 cây số thì phải dừng lại vì pháo của Cộng quân quá mạnh. Trong khi đó, Trung đoàn 66 thuộc Sư Đoàn 304 của Cộng quân bắt đầu tấn công vào Thường Đức. Tiểu đoàn 79 cho biết đạn dược và lương thực bắt đầu cạn. Một chiếc A.37 đến thả xuống một gói đồ tiếp tế nhưng bị bay ra ngoài. Chiếc máy bay này quay trở lại thì bị bắn rơi.

Ngày 6 và đêm 7.8.1974, Cộng quân pháo khoảng 1200 trái pháo vào căn cứ Thường Đức, sau đó cho bộ đội tràn vào. Lúc 8 giờ 30 sáng ngày 7.8.1974, Tiểu Đoàn 79 thông báo không còn giữ căn cứ được, phải rút lui và cắt đứt liên lạc. Thường Đức hoàn toàn bị thất thủ. Thiếu tá Hà Văn Lầu và Phó quận Vũ Trung Tín bị bắt sống. Thiếu tá Quận Trưởng Nguyễn Quốc Hùng tự sát. Sau đó Đại úy Vũ Trung Tín cũng tự sát.

Một số binh sĩ của Tiểu Đoàn 79, Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Cảnh Sát, Cảnh Sát Dã Chiến, Nhảy Toán… đã chạy thoát được và di chuyển xuống làng, dân chúng thấy liền chạy theo. Đến bờ sông Côn thì không thể di chuyển được nữa. Hai chiếc ghe chở hai nhóm quân nhân qua sông trước làm đầu cầu. Một số nhỏ Cộng quân đang đuổi theo nên phải vừa đi vừa đánh, dân chúng và những người bị thương theo sau… Ba ngày sau mới đến được Hà Nha. Ở đây rất bình yên, gần như không biết đang có chuyện gì xảy ra. Trên đoạn đường từ Hà Nha về tới Đại Lộc, chẳng thấy một sự kiện nào chứng tỏ rằng đang có những toan tính tiếp viện hay giải vây Chi Khu Thường Đức.

Chủ trương của tướng Ngô Quang Trưởng ?

Sau khi chiếm được Thường Đức, Cộng quân khai thông đường 14, sửa chữa đường, làm cầu, đặt ống dẫn dầu, chuyển quân và vũ khí vào Cao Nguyên và miền Nam bằng xe. Theo con đường 14, từ Thường Đức đi qua mật khu Hiệp Đức, đến Khâm Đức (Phước Sơn) thì vòng lên Kontum, nhưng đến Ngọc Hồi ở phía bắc Kontun, Cộng quân phải dừng lại. Tại đây Quân Lực VNCH đang đóng trên quốc lộ 14 từ Ngọc Hồi đến Ban Mê Thuột. Cộng quân phải mở con đường khác ở trong rừng được gọi là đường 14B vào gần sát biên giới Lào để chuyển quân xuống Đức Lập ở phía tây Ban Mê Thuột. Lúc đó Cộng quân có thể chuyển quân qua Vùng I Chiến thuật từ Khe Sanh đến Khâm Đức như chỗ không người!

Như chúng tôi đã nói ở trước, Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không nhận ra được tầm quan trọng của việc giữ chốt Thường Đức mà còn muốn mở thông con đường này cho Cộng quân chuyển xuống miền Nam để Vùng I của ông khỏi bị áp lực nặng!

Một phi công A-37 đã cho chúng tôi biết khi anh đang bay  đi oanh kích  trên vùng Thường Đức, anh thấy một đoàn xe của Cộng quân đang di chuyển trên đường 14, anh đã cho máy bay lao xuống bắn cháy, nhưng sau đó anh bị Tướng Trưởng ra lệnh phạt trọng cấm. Trong cuốn “Cảnh Sát hóa, quốc-sách yểu tử của Việt Nam Cộng Hòa” xuất bản 2002 (trang 243) và trong bài “Từ Phi Trường Đà-Nẵng ra sân bay Gia-Lâm” ông Lê Xuân Nhuận, Chánh Sở Cảnh Sát Khu I, cũng đã kể lại lời tiết lộ của Đại Tá Hoàng Mạnh Đáng, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 1 như sau:

“Ngồi ở phòng giấy của đại tá Đáng, chúng tôi có dịp nghe + thấy thêm được đôi điều. Tỷ như có lần, đầu năm 1975, nghe điện thoại xong, ông bảo bên kia chờ máy, để ông vào trình Trung Tướng. Ông qua phòng giấy Tướng Ngô Quang Trưởng, trình xong, về trả lời người bên kia:

– Trung tướng chỉ thị anh em Không Quân, khi thấy xe tăng, xe tải, bộ đội của chúng di chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh, dù ở trong tầm oanh kích của ta thì cũng đừng hành động gì, cứ để cho chúng tiếp tục chuyển quân vào Nam…”

Một vài nhà quân sự đã nhận định rằng Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy từ cấp Trung Đoàn trở xuống rất xuất sắc. Nhưng việc chỉ huy một Quân Đoàn đã vượt khỏi tầm nhìn và khả năng của ông.

Năm 1981 Hà Nội đổi quận Thường Đức thành huyện Giằng và thành lập thị trấn Thạnh Mỹ  nằm dọc theo  quốc lộ 14, cách Bến Giằng khoảng 10km.    Quận lỵ Thường Đức cũ nay thuộc xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc. Năm 1999, Hà Nội biến vùng Hiên – Giằng thành 3 huyện: Hiên thành Đông Giang và Tây Giang, còn Giằng là Nam Giang. Thường Đức không còn nữa.

Ngày 5.4.2015

Lữ Giang

Đón xem: Cuộc tái chiếm Thường Đức thất bại, Sư Đoàn Nhảy Dù bị tổn thất nặng.
(Nguồn: http://vietnamdefence.info)

NGƯỜI CẮM CỜ TRÊN DINH ĐỘC LẬP

Trần Đăng Khoa

Có lẽ trong chúng ta, ai cũng biết anh đại đội trưởng xe tăng Bùi Quang Thận, người đã cắm lá cờ trận mạc trên nóc Dinh Độc Lập buổi trưa 30 tháng 4 năm 1975 . Nhưng xung quanh việc cắm cờ này, còn có khối điều thú vị mà không phải ai cũng có thể biết hết. Chính Bùi Quang Thận cũng không thể ngờ được mình đã làm nên kỳ tích lịch sử chỉ bằng có… hai bàn tay không.

TDK1


Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe tăng, lấy lá cờ giải phóng trên xe của mình cắm lên cột cờ trên nóc dinh Độc Lập lúc 11h30 ngày 30/4/1975, đánh dấu sự kết thúc thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Ảnh tư liệu.

Khi tôi viết mấy dòng này, thì Bùi Quang Thận đã thành người của cõi thương nhớ rồi. Anh đã qua đời đột ngột tại Thái Xuân, Thái Thụy, Thái Bình, khi mới tròn tuổi 64. Tang lễ đã cử hành tại làng quê anh, theo đúng thủ tục của người dân quê.

Con người bình dị ấy cũng đã từng được đề nghị tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng theo Bùi Quang Thận, khi làm các thủ tục để xét thì địa phương không đồng ý, vì ông bố anh có biểu hiện mê tín dị đoan. Huyện đội cũng đã can thiệp nhưng vẫn không xong. Anh bảo: “Kể cũng hơi buồn. Nhưng mình sống được đến giờ cũng là may mắn lắm, nếu so với những đồng đội của mình còn nằm lại trong các cánh rừng lạnh lẽo mà đến bây giờ cũng vẫn chưa tìm được hài cốt”.

TDK2

Đại tá Bùi Quang Thận

Năm 2000, Bùi Quang Thận về hưu. Anh cười hiền lành: “Mình xa vợ con biền biệt. Bây giờ mới có điều kiện giúp đỡ vợ con”. Bùi Quang Thận trở về với ruộng đồng. Anh lao động cật lực như một lão nông. Ngoài làm ruộng, anh còn thuê ao, nuôi tôm, thả cá. Rồi vợ chồng anh mở thêm cửa hàng bán ga ở quê. Nhà nào hết ga hay van ga hỏng là anh có mặt thay ga và bảo hành sửa chữa. Anh bảo, thay một van ga hỏng, cái lớn được 5000, cái nhỏ cũng 500 đồng đấy. “Toàn tiền tươi thóc thật cả!”. Trông anh thợ ga xởi lởi, thật thà, tận tụy và tốt bụng, không ai nghĩ đó là người anh hùng không có trong danh sách những người anh hùng.

Có lẽ trong chúng ta, ai cũng biết anh Đại đội trưởng xe tăng Bùi Quang Thận, người đã cắm lá cờ trận mạc trên nóc Dinh Độc Lập buổi trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng xung quanh việc cắm cờ này, còn có khối điều thú vị mà không phải ai cũng có thể biết hết. Chính Bùi Quang Thận cũng không thể ngờ được mình đã làm nên kỳ tích lịch sử chỉ bằng có… hai bàn tay không.

TDK3

Câu chuyện bắt đầu từ lúc 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4. Khi đó, trận đánh đã diễn ra căng thẳng và khốc liệt. Lữ đoàn trưởng Nguyễn Tất Tài lệnh cho đại đội 4 ở phía sau vượt lên, chiếm đầu cầu, rồi chớp thời cơ, chọc thẳng vào mạng sườn địch. Bị cú đánh bất ngờ, địch thoáng chững lại. Đội hình chúng có phần nhốn nháo. Xe tăng ta tiến đến đầu cầu Thị Nghè thì bất ngờ mấy chiếc tăng địch chẳng biết ở đâu lù lù hiện ra. Hình như chúng muốn chặn ta ở ngay trên cầu. Đại đội trưởng Lê Tiến Hùng, chỉ huy chiếc xe tăng thứ hai bị thương, bắt buộc phải dừng lại.

Tình thế khá nguy cấp. Bùi Quang Thận tức tốc cho xe 843 vượt lên, bắn cháy liền một lúc cả hai xe M.41 và M.113 của địch. Trong xe anh chỉ còn duy nhất 2 viên đạn. Sau này, anh mới biết hai viên đạn thối. Thực tình, lúc đó, chiếc xe đã hết đạn, mà chặng đường còn rất xa, phải vượt qua bao tuyến phòng thủ kiên cố dày đặc của địch mới đến được Dinh Độc Lập. Vừa qua khỏi cầu Thị Nghè, anh lại đụng phải 3 chiếc xe tăng địch xông ra đánh chặn. May sao, Vũ Đăng Toàn, chính trị viên đại đội 4, ngồi trên chiếc tăng 390 đã chỉ huy bắn cháy luôn cả 3 chiếc tăng ấy. Đạn trong xe địch nổ toang toác. Không gian sặc sụa và tanh khét mùi thép cháy. Bọn địch ngồi lố nhố trên mấy chiếc xe bọc thép gần đấy, thấy thế hoảng hốt nhảy khỏi xe, bỏ chạy tán loạn. Thế là tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch hoàn toàn tan vỡ.

Được sự giúp đỡ chỉ dẫn của nhân dân và biệt động thành, lữ đoàn tăng 203 đã chia làm 2 mũi, hướng theo đường Hồng Thập Tự tốc thẳng vào Dinh Độc Lập. Lúc 10 giờ 15 phút, chiếc xe tăng 843 của Bùi Quang Thận dẫn đầu đã vượt qua các ổ đề kháng, vượt qua khu Nhà Xanh, vượt qua cả những họng súng đang ngơ ngác của địch, lừng lững tiến thẳng vào cửa Dinh Độc Lập. Khi thấy toà nhà trắng loá hiện ra trước cửa xe, Bùi Quang Thận cho lắp một viên đạn nã thẳng vào Dinh để thị uy. Đạn thối, không nổ. Anh cho nạp viên cuối cùng. Cũng lại không nổ. Hú vía cho cái Dinh Thống Nhất bây giờ đã thoát được hai viên đạn của anh.

Một chiếc tăng của ta đã húc thẳng vào cánh cổng Dinh Độc Lập. Bùi Quang Thận cho xe lùi ra, húc tiếp vào cánh cổng bên trái của Dinh. Đó là đòn tấn công cuối cùng của chiếc tăng không còn vũ khí. Cũng thật may cho Bùi Quang Thận và đồng đội anh, một người vô danh nào đó trong Dinh đã kịp cắt cầu dao hàng rào điện tử, nếu không, chỉ chạm vào cổng sắt là chiếc tăng của anh và đồng đội anh sẽ bị nổ tung. Phải đến cú húc thứ ba cánh cổng sắt mới chịu đổ sập. Bùi Quang Thận cho xe tốc thẳng vào sân dinh.

TDK4

Xe tăng 390 húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập vào ngày 30/4/1975

Trước mặt anh, lố nhố những xe tăng, xe bọc thép tuyến phòng ngự cuối cùng của địch bảo vệ Dinh với bao nhiêu súng ống đạn dược tối tân, còn anh, chỉ có hai tay trắng và chiếc xe tăng lổng nhổng vỏ đạn. Bùi Quang Thận giật phắt lá cờ trận mạc cắm trên xe tăng, quay lại bảo lái xe Lữ Văn Hoá, pháo thủ Thái Bá Minh:

– Các cậu ở lại, mình vào Dinh nhé. Nếu không thấy mình quay ra, cũng không thấy lá cờ này nhô lên, thì tức là mình đã chết ở trong Dinh rồi!

Thế rồi, với hai bàn tay trắng, chỉ có lá cờ trận mạc ố xuộm khói đạn làm vũ khí, Bùi Quang Thận xông thẳng vào sào huyệt cuối cùng của kẻ thù. Qua bậc tam cấp, anh bị đánh bật trở lại. Hàng rào đặc biệt chống đỡ chăng? Bùi Quang Thận ngỡ ngàng một chút, rồi chợt nhận ra đó chỉ là bức tường kính trong suốt mà thoạt đầu anh không nhìn thấy, cũng chẳng biết nó là cái gì.

TDK5

Bốn chiến sĩ Binh đoàn Hương Giang mang cờ tiến thẳng vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 (người cầm cờ là chiến sĩ Bùi Quang Thận)

– Cửa ở đây mà, ông!

Một người đàn ông áo cộc tay trắng chỉ cửa cho Bùi Quang Thận. Trong nhà mát rượi như giữa hang đá. Toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn cũ đã có mặt đông đủ. Họ ngồi, đứng nhấp nhố quanh bàn. Trông ai cũng rất lịch sự. Áo cộc tay trắng. Tóc chải mượt. Mùi nước hoa thoang thoảng khắp phòng. Họ ngỡ ngàng nhìn người đại diện đầu tiên của Quân giải phóng, một người lính gầy gò, gương mặt đen đúa, hốc hác vì đói ăn và thiếu ngủ.

– Ông nào là Dương Văn Minh?- Bùi Quang Thận quát hỏi. – Cho tôi gặp ngay Dương Văn Minh!

– Dạ thưa, ngài gặp Tổng thống có việc gì ạ?

– Để ông ấy dẫn tôi đi cắm cờ.

– Dạ… dạ, cái việc ấy thì ông này làm được. Chỉ có ông ấy mới biết chỗ…

Một gã béo trắng, da dẻ mỡ màng, áo cộc tay trắng, chỉ vào một người đàn ông cũng mặc áo cộc tay trắng, nhưng gầy mảnh hơn, đứng ngay bên cạnh tôi. – Bùi Quang Thận tiếp tục câu chuyện: – Mãi sau này, khi đọc những trang sử quân đội nói về buổi trưa hôm ấy, tôi mới biết đó là đại tá Vũ Quang Chiêm, chánh văn phòng Phủ Tổng thống. Ông ta lập cập đưa tôi qua một hành lang, rồi vào hút sâu mãi phía trong, qua một gian nhà nữa cũng mát như hang đá. (Đúng là cảm giác của người lính ở rừng. TĐK)

TDK6


Rồi ông ta chọc một ngón tay vào tường. Bức tường tự nhiên nứt ra thành một cái phòng bé toen hoẻn như cái toa-lét, ba phía đều là tường. Ông ta bước vào, còn tôi thì ngần ngừ, bước vào, rồi lại quay ra ngay lập tức. Tôi nghi quá. Mình đi cắm cờ, chứ có đi toa-lét đâu. Hắn định giở cái trò khỉ gì thế này? Rõ là đồ quỷ thuật. “Dạ thưa, ông vào đi. Đây là cái thang máy. Tôi đưa ông đi cắm cờ mà”. Gã nói lắp bắp, có vẻ như là thành thật.

Nhưng tôi vẫn phải cảnh giác. Bởi tôi không có vũ khí trong tay. Tôi bắt gã úp mặt vào tường, rồi mới bước vào. Gã lại đưa tay lên, chọc một ngón vào cái nút ở trên tường kiểu như là điểm hoả. Tôi chộp ngay tay hắn. Chỉ chút nữa thì tôi cho gã một quả phật thủ. “Không! Không, tôi ấn nút thang máy mà!”. Gã kêu lên thảm thiết. Cánh cửa lập tức sập lại ngay sau lưng tôi. Bây giờ thì bốn phía đều là tường. Thật chẳng còn hiểu ra làm sao cả.

Lên tầng thượng, hắn dẫn tôi đến cột cờ. Hoá ra cờ mình bé quá. Nó là cờ hiệu cắm trên nóc xe tăng. Trong không gian, ở trên đỉnh cái Dinh lồng lộng này, nó chỉ như cái mắt muỗi. Còn cờ địch to lắm, rộng đến mấy chục mét chứ chẳng ít, lại chằng buộc rất kỳ công bằng các nút dây thép, chừng hai mươi phân một nút. Tôi gỡ mãi mới được hai nút. Nhìn xuống dưới sân Dinh, xe tăng và quân ta bắt đầu tiến vào. Thế là tôi xé luôn lá cờ ấy, thay lá cờ của ta rồi kéo lên. Lúc bấy giờ là 11giờ 30 phút.

Bốn chiến sĩ cắm cờ trên nóc phủ Tổng thống ngụy Sài Gòn ngày 30/04/1975

II

Đấy, anh Thận của chúng ta như thế đấy. Dường như anh ấy không chú ý, cũng không có ý thức về vai trò lịch sử của mình. – Trung tá Nguyễn Huy Thông, trung đoàn trưởng trung đoàn 203 mà tiền thân là Lữ đoàn 203 bình luận: – Thực tình, chúng ta đã chuẩn bị rất kỹ cho việc cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập này. Đơn vị được chọn làm công việc cuối cùng của cuộc kháng chiến cứu nước ấy là một Đơn vị Anh hùng. Người được chọn cắm cờ cũng là người có đầy những kỳ tích, cũng như người bay vào vũ trụ sau này phải là anh hùng Phạm Tuân, người đã “bắn cháy” B52, và cái máy bay Mỹ thứ 4.000 cũng phải rơi ngay trên đất tổ 4.000 năm lịch sử của Vua Hùng.

Nhưng rồi chiếc xe tăng chở lá cờ lớn được chuẩn bị rất kỹ ấy lại đi lạc, rồi lại phải đánh nhau rất dữ dội ở mãi ngoài Dinh. Và rồi Giời đã thay người cắm cờ ấy bằng anh lính nông dân Thái Bình Bùi Quang Thận. Mọi việc anh Thận làm đều rất giản dị. Khi dứt lá cờ nguỵ, thoạt đầu anh định ném xuống sân. Nhưng nhìn lại, thấy vứt đi phí quá. Cái cờ chẳng ra quái gì, nhưng vải rất tốt, dày đến mức có thể làm chăn đắp được. Thế là anh cuộn lại, định bụng mang về quê, dùng để lót ổ thay cho rơm rạ hay lá tre khô.

Đại tá Bùi Quang Thận (thứ 2 từ phải sang) trong cuộc hội ngộ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1976

Sau này lịch sử cần biết đích xác người cắm cờ. Lúc ấy mới hay là có quá nhiều người cắm cờ. Sự thật thì họ đều cắm cờ cả. Nhưng cắm ở tiền sảnh, ở góc nhà, ở rất nhiều nơi xung quanh Dinh Độc Lập và ở ngay cả chính Dinh Độc Lập. Nhưng ai là người cắm lá cờ trận mạc, lá cờ Quyết chiến quyết thắng trên nóc Dinh kia. “Thì tôi cắm đấy mà”. – Bùi Quang Thận trả lời thật giản dị. Vậy thì bằng chứng đâu? Phải có gì làm bằng chứng chứ. Lịch sử vốn cần chính xác và cụ thể. Ai bắt Dương Văn Minh? Ai thảo thư đầu hàng cho Tổng thống nguỵ? Sau này cũng phải tranh cãi, xác định mãi. Có đến cả mấy cuộc hội thảo khoa học rồi mà vẫn chưa kết luận được đích xác sự việc ấy.

Bùi Quang Thận chợt nhớ đến cái lá cờ của địch mà anh cuộn lại, định mang về quê Thái Bình trải ổ thay cho rơm rạ. Người ta khớp vết xé với những nút sắt buộc trên cột cờ mới nhận ra anh. Còn anh thì cười hiền lành: “Ôi dào, có gì đâu. Tôi chẳng nghĩ gì khi làm điều đó. Đấy là một việc rất đỗi bình thường của một người lính trận. Anh nào trong hoàn cảnh ấy cũng sẽ làm như tôi. Đơn giản thế thôi. Có gì mà các bố cứ lằng nhằng rắc rối cho nó hoá to chuyện!”.

Đại tá Bùi Quang Thận đã về cõi vĩnh hằng….

Bây giờ, Bùi Quang Thận đã là người trong cõi nhớ thương rồi. Xin coi mẫu chuyện nhỏ này như một nén tâm hương của những người chép sử bằng âm thanh VOV tưởng nhớ anh trong ngày lễ 30 tháng 4. Kính mong các cơ quan chức năng bàn lại với địa phương để trao lại Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho anh. Bởi anh hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu cao quý ấy…

Nhà thơ Trần Đăng Khoa / Radiovietnam

Chaongaymoi

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

KỶ YẾU KHOA NÔNG HỌC 65 năm thành lập Khoa
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
Bài học quý biết chăm sóc sức khỏe
Secret Garden, Bí mật vườn thiêng 
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Ban Mai; Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Phim vua Solomon
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter