#cnm365 #cltvn 31 tháng 1

#CNM365 #CLTVN 31 THÁNG 1
Hoàng Kim
CNM365 Tình yêu cuộc sống #cnm365 #cltvn Nắng mới; Chuyện ngày sinh của Thủy; #cnm365 #cltvn An nhiên; Ban mai chào ngày mới; May mắn bánh và hoa; Minh triết của đức Phật; Trường tôi nôi yêu thương; Thơ viết bên thác Iguazu; Ngọc phương Nam; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Kiệt tác của tâm hồn; 500 năm nông nghiệp Brazil; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Huyền Trang tháp Đại Nhạn. Thác nước thiên nhiên tuyệt đẹp Iguazu di sản thế giới tại khu vực bảo tồn rừng lớn nhất Nam Mỹ giữa Brasil và Argentina (ảnh). Ngày 31 tháng 1 năm 1542, Thác nước Iguazu được Alvar Núñez Cabeza de Vaca là chinh tướng người châu Âu lần đầu tiên khám phá. Thác nước Iguazu được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1984 phía ranh giới vườn quốc gia Brazil và năm 1986 phía ranh giời vườn quốc gia Argentina. Ngày 31 tháng 1 năm 1856, Robert E. Lee danh tướng Hoa Kỳ trở thành đại tướng tư lệnh của Liên minh Miền Nam trong Nội chiến Hoa Kỳ; Ngày 31 tháng 1 năm 1958, Vành đai bức xạ Van Allen bí ẩn trên vùng biển Nam Đại Tây Dương, nơi thường xuyên xảy ra những sự biến đổi không gian và thời gian bí hiểm huyền thoại, khu vực này được phát hiện bởi nhà khoa học không gian người Mỹ James Van Allen ; Bài chọn lọc ngày 31 tháng 1: #cnm365 #cltvn Nắng mới; Chuyện ngày sinh của Thủy; #cnm365 #cltvn An nhiên; Ban mai chào ngày mới; May mắn bánh và hoa; Minh triết của đức Phật; Trường tôi nôi yêu thương; Thơ viết bên thác Iguazu; Ngọc phương Nam; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Kiệt tác của tâm hồn; 500 năm nông nghiệp Brazil; Biển Hồ Chùa Bửu Minh; Huyền Trang tháp Đại Nhạn Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-31-thang-1/

#CNM365 #CLTVN NẮNG MỚI
Hoàng Kim

Đường trần chí thiện vui chơi
An nhiên chút nữa cuộc đời thung dung
Cha con nối bước thanh nhàn
Thảnh thơi đồng rộng mái trường mến yêu …

*

Hạnh phúc đơn sơ sao đẹp thế
Ngắm hoa nhớ buổi nắng đông về
Yêu sao ngày mới chờ xuân tới
Ngày mới ta còn mãi miết đi.

Đạo đức niềm tin và lối sống
Nhớ lời Hưng Đạo dặn dò Vua
Đường xuân vui bạn quên ngày tháng
Nắng hửng ban mai gió mới về .

#cltvn Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là năm vững bản chất sự vật, có lời giải đúng, và LÀM được việc

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là phu-yen-hoi-nghi-tong-ket-khcn-2026-2020-dinh-huong-2021-2025.jpg

PHÚ YÊN NÔI LÚA SẮN
Hoàng Kim


Thông tin Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên, Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Sáng ngày 31/12/2021, tại TP Tuy Hòa, UBND tỉnh Phú Yên đã phối hợp với Sở KH&CN tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại TP Tuy Hòa và kết nối trực tuyến đến các thị xã, huyện trong địa phương cùng đại diện Bộ KH&CN. Chủ trì Hội nghị là đồng chí Đào Mỹ, Phó Chủ Tịch UBND tỉnh Phú Yên và đồng chí Dương Bình Phú, Giám đốc Sở KH&CN, tham dự Hội nghị còn có ông Thân Ngọc Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển Khoa học và Công nghệ địa phương và đại diện lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành, đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh; xem tiếp https://khcnpy.gov.vn/hoi-nghi-tong-ket-hoat-dong-khoa-hoc-va-cong-nghe-phu-yen-giai-doan-2016-2020-dinh-huong-phat-trien-ung-dung-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-giai-doan-2021-2025/

Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA là lời biết ơn chân thành bởi Hoàng Kim và đs. 2021. Hoàng Kim tham dự hội nghị theo giấy mời của Chủ tịch UBND Tỉnh Phú Yên. Chúng tôi lưu trích đoạn lúa sắn thuộc lĩnh vực kỹ thuật công nghệ trong phim của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Yên với Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp thực hiện tháng 12 năm 2021. Phim chiếu tại Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng phát triển ứng dụng KHCN & ĐMST giai đoạn 2021-2025. https://www.youtube.com/embed/CKdEr4aS2NA?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=vi&autohide=2&wmode=transparent Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là cnm365-mot-nam-nhin-lai.jpg

#cnm365 #cltvn Nắng mới
https://cnm365.wordpress.com
Run away with me

Chuyên mục

NẮNG MỚI
Hoàng Kim

Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng …


NGÔI SAO MAI CHÂN TRỜI

Hoàng Kim

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi …

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi  …

Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui đời khỏe cho ta.

Vui chợp mắt dưới trời Tam Đảo

CHUYỆN NGÀY SINH CỦA THỦY
Hoàng Kim

Âm lịch giao hòa dương lịch đây.
Đêm ba mươi Tết ấm men say.
Sao Kim sao Thủy hôm mai mọc
Trăng mẹ hiền soi nước biển đầy

— với Nguyễn Thị Thủy.

Nguyễn Thị Thủy: “Khi xưa, lúc còn nhỏ, mẹ thường kể ngày này là ngày sinh”

#CNM365 Tình yêu cuộc sống
Hoàng Kim chúc vui Thiện Lạc


Ta vui hòa nhịp thời gian
Thung dung nhàn giữa gian nan đời thường

THƠ VIẾT BÊN THÁC IGUAZU
Hoàng Kim

Thương em
Nước vùn vụt dội xuống
Sóng thình thịch cuộn lên
‘Thương tiến tửu’ Lý Bạch (2)
Ta thì thương nhớ em.

‘Tỉnh dạ tư’ thơ tiên
Người hiền trong suối bạc
Chiếu đất ở Thái An (3)
Vàng ròng lầm trong cát.

“Trên giường ánh trăng rọi,
Dưới đất như mờ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.”
(2)

Thấy chăng ai
nước sông Hoàng trời tuôn 

Trút băng ra
chẳng quay về được nữa.

Lại chẳng thấy
lầu cao gương trong thương đầu bạc

Sớm tựa tơ xanh, chiều nhuốm tuyết
Đời người thoải mái cứ thung dung
Chớ để chén vàng trơ trước nguyệt” (2)

Ta với chim quấn quýt
Giữa đất trời bình yên
Nhớ quê nhà thác nước
Bản Giốc và Ka Long

Bài học lớn lòng ta
Thương emĐiểm hẹn
Kiệt tác của tâm hồn
500 năm nông nghiệp.

Thác nước Iguazu (1)
Brazil Nam Mỹ
Di sản thiên nhiên đẹp
Thăm thẳm rừng nguyên sinh

Nước vùn vụt dội xuống
Sóng thình thịch cuộn lên
‘Thương tiến tửu’ Lý Bạch
Ta thì thương nhớ em.

CHIẾU ĐẤT Ở THÁI AN
Hoàng Kim

Tỉnh thức lên Thái Sơn
Thung dung ngủ cội tùng
Chiếu đất ở Thái An
Đêm thiêng chào ngày mới

Ai uống rượu Hàm Hanh
Lòng tưởng nhớ Lỗ Tấn
Ta mang rượu Thái Sơn
Ngon xách về chẳng dễ

Núi cao ta trông
Đường rộng ta đi
Tuy đích chưa đến
Nhưng lòng hướng về

Lên Thái Sơn hướng Phật
Về ngủ bên cội tùng
Trải một cơn gió bụi
Thoáng chốc ba mươi năm

Điểm hẹn Ngọc Phương Nam
BÀI CA NHỊP THỜI GIAN
Hoàng Kim

Anh như chim ưng quay về tổ ấm
Vẫn khát bầu trời ước vọng bay lên
Ơi Bồng Lai cồn cào nỗi nhớ
Anh về bên này lại nhớ bên em.

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-nhip-thoi-gian/

NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

‘Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (4)

hứng mật đời
thành thơ
việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình

đến trúc lâm
đạt năm việc lớn hoàng thành
đất trời xanh
Yên Tử (5)…

(1) Iguazu di sản thiên nhiên thế giới tuyệt đẹp giữa Brasil và Argentina tại rừng lớn nhất Nam Mỹ https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ky-niem-mot-thoi (2) Lý Bạch nhà thơ Trung Quốc (3) Thái An điểm nhấn du lịch văn hóa bậc nhất Trung Quốc (4) thơ Trịnh Tuyên
(5) Hoàng Kim họa đối

EMBRAPA Brazil Bạn tôi ở nơi ấy

Science that transforms your life – Embrapa’s Institutional Video

Thác Iguazu

The World’s Most Beautiful Waterfalls

XUÂN
HK gửi Vien Ngoc Nam


Tảo mai mừng xuân đến
Hôm nay xuân đất trời
Thầy thêm Xuân nối nghiệp
Sớm xuân Xuân vào xuân

Tóc xanh không nỡ bạc
Đời vui cùng tháng năm
Đước dầm chân đất Mũi
Cây phủ rừng Tây Nguyên

Đường xuân thênh thênh bước
Thung dung bên bạn hiền
Tâm an lành trí sáng
Mẹ hiền là thiên nhiên.

Hoàng Kim Chúc mừng tân tiến sĩ Xuan Pm; Chúc mừng Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Khoa Lâm Nghiệp, Phòng Đào tạo Sau Đại học và Gia Đình; Chúc mừng hai thầy hướng dẫn. Ảnh của thầy Vien Ngoc Nam chụp đẹp lắm, thật tuyệt vời !

NHỚ NGƯỜI
Hoàng Kim nhớ Đào Công


Đời trãi năm trăm năm Thương người hiền một thuở Hậu sinh về chốn cũ Thăm vườn thiêng thiên thu. Ngược gió đi không nản Rừng thông tuyết phủ dày Ngọa Long cương đâu nhỉ? Đầy trời hoa tuyết bay ! Lồng lộng vầng trăng rằm Một vườn thiêng cổ tích Người là ngọc cho đời Tháng năm còn nhớ mãi.

Hoàng Kim đã về dâng hương tưởng nhớ Đào Duy Từ ở đất Tùng Châu xưa. Tôi lần tìm theo những trang ghi chép cũ để thấu hiểu sự nhọc nhằn khởi nghiệp của bậc anh hùng và để thấy dấu ấn cùng với những ảnh hưởng lớn lao của Đào Duy Từ đối với mảnh đất này. Tôi may mắn thăm Đình Lạc Giao, Lũy Thầy và các nơi ở Quảng Bình, Thanh Hóa để chứng ngộ công đức của Người và cảm nhận.

Cám ơn gia tộc Đào Duy, phó giáo sư Đào Thế Anh, giáo sư Mai Văn Quyền, giáo sư Lê Văn Tố, phó giáo sư sử học Trương Minh Dục, thầy Dương Duy Đồng, thầy Nguyễn Minh Hiếu, em Nguyễn Thị Trúc Mai, em Phạm Văn Ngọc, một số người đã trực tiếp chứng kiến các khảo sát điền dã nông nghiệp lịch sử của tôi đã gợi ý cho tôi tiếp tục hoàn thiện bài viết này.

Đào Duy Từ (1572–1634) là quân sư danh tiếng của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, bậc kỳ tài chính trị quân sự lỗi lạc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, khai quốc công thần số một được thờ ở Thái Miếu của nhà Nguyễn. Hàng năm vào ngày 17 tháng 10 âm lịch (nhằm ngày 13 đến 23 tháng 11 dương lịch tùy theo từng năm) là ngày giỗ Đào Duy Từ. Ông bắt đầu thi thố tài năng từ năm 53 tuổi đến năm 62 tuổi thì mất. Đào Duy Từ chỉ trong 9 năm ngắn ngủi (1625-1634) đã kịp làm nên năm kỳ tích phi thường với nhiều hiền tài và di sản còn mãi với non sông. Mộ của cụ Đào Duy Từ nằm khiêm nhường giữa vườn sắn KM94 xanh tốt tại thôn Phụng Du, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định . Đầu mộ của cụ là hai trụ đá lớn, đỉnh tạo dáng búp sen. Cuối mộ của cụ có một gốc cây cổ thụ, tán lẫn với rặng dừa. Thông tin tại Nhớ Người. Đào Duy Từ còn mãi với non sông https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-duy-tu-con-mai-voi-non-song/; bảo tồn và phát triển chuyên mục tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-23-thang-11/.

ĐÀO DUY TỪ THỜI THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Đào Duy Từ sinh năm 1572 ở làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Thời ấy, Nguyễn Hoàng, chúa khởi nghiệp nhà Nguyễn, có quê tại huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung). Nhà thờ họ Nguyễn hiện ở đình Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ông Nguyễn Hoàng là con thứ hai của ông Nguyễn Kim (tức Hữu vệ Điện tiền Tướng quân An Thanh hầu Nguyễn Hoằng Kim) cháu của ông Nguyễn Hoằng Dụ, chắt của ông Nguyễn Văn Lang, đều là các trọng thần của nhà Lê. Nguyên khi xưa ông Nguyễn Kim khởi nghĩa giúp nhà Lê đánh nhà Mạc đã lấy được đất Thanh Nghệ nhưng khi thừa thắng đem quân ra đánh Sơn Nam thì bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết, binh quyền giao lại cho con rể Trịnh Kiểm. Người anh của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm kiếm chuyện giết đi vì sợ đức độ và tài năng của hai anh em nhà vợ đoạt mất quyền mình. Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại nên đã hỏi kế của Nguyễn Bỉnh Khiêm và được Trạng Trình bảo rằng “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Ông đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa từ năm 1558.

Năm Đào Duy Từ ra đời thì Trịnh Kiểm vừa mới mất (1570) trao quyền lại cho Trịnh Cối để lo việc đánh dẹp. Trịnh Cối say đắm tửu sắc, tướng sĩ nhiều người không phục. Trịnh Tùng, con thứ của Trịnh Kiểm, đã rước vua Lê về đồn Vạn Lại và công khai chống lại anh ruột, Nhân lúc anh em họ Trịnh đánh nhau, Mạc Kính Điển cùng với các danh tướng Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn đem 10 vạn quân vào đánh Thanh Hóa. Trịnh Cối liệu thế không địch nổi đã đầu hàng Mạc. Trình Tùng đưa vua về Đông Sơn, phòng ngự chắc chắn, liều chết cố thủ. Mâc Kính Điển đánh mãi không được, lâu ngày hết lương, phải rút quân về. Trình Tùng oai quyền vượt vua, Anh Tông lo ngại tìm cách giết Trịnh Tùng. Mưu việc không thành, vua sợ chạy vào Nghệ An, bị Trịnh Tùng lập vua mới Thế Tông Lê Duy Đàm bảy tuổi lên làm vua và cho người truy sát giết chết vua cũ. Suốt 10 năm 1573-1583 Trịnh Tùng cố thủ vững chắc Thanh Hóa. Sau khi Mạc Kính Điển mất (1579) thế lực hai bên thay đổi. Năm 1591, Trịnh Tùng cử đại binh đánh ra Thăng Long, bắt được Nguyễn Quyện, phá hào lũy và rút về Thanh Hóa. Vua Mạc Mậu Hợp say đắm vợ người, bạc đãi tướng sĩ, làm nát cơ nghiệp nhà Mạc. Tướng nhà Mạc là Văn Khuê về hàng nhà Lê. Trịnh Tùng đem đại binh trở lại Thăng Long, đánh tan quân Mạc, giết Mạc Mậu Hợp. Nhà Mạc mất ngôi. Con cháu nhà Mạc giữ đất Cao Bằng được ba đời nữa. Vua Lê chỉ còn trên danh nghĩa được cấp bổng lộc thượng tiến, thu thuế 1000 xã và 5000 lính túc vệ và chỉ thiết triều tiếp sứ. Mọi việc lớn nhỏ đều do chúa Trịnh điều hành. Họ Trịnh tôn Lê vì sợ nhà Minh sinh sự lôi thôi và sợ những kẻ chống đối lấy cớ phù Lê, hơn nữa họ Nguyễn có thế lực mạnh và họ Mạc còn đang giữ đất Cao Bằng.

Năm 1572, nhân lúc anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng đánh nhau, nhà Mạc đem quân đánh Thanh Hóa và cho một cánh thủy quân do tướng Lập Bạo chỉ huy đánh Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng đã cho gái đẹp Ngô thị giả cách đưa vàng bạc đến cầu hòa, dụ Lập Bạo ra ái ân trên bãi biển vắng. Lập Bạo không đề phòng nên bị quân Nguyễn trong cát nổi lên giết chết. Quân Mạc bị đánh tan. Nguyễn Hoàng từ năm 1592 đến năm 1600, đã kéo quân ra Bắc giúp Trịnh diệt Mạc và lập được nhiều công to nhưng Trịnh Tùng luôn để ý đề phòng và Nguyễn Hoàng đã không thể có cớ gì để trở lại đất cũ. Năm 1600 nhân dịp đi đánh giặc, Nguyễn Hoàng đã theo đường biển về lại Thuận Hóa. Sợ họ Trịnh nghi ngờ, ông đã gả con gái Ngọc Tú cho Trịnh Tráng là con trai thứ của Trịnh Tùng. Năm 1613, Nguyễn Hoàng sắp mất, gọi người con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên vào dặn rằng: “Đất Thuận, Quảng này, bên bắc thì có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, bên nam có Hải Vân và núi Bì Sơn, thật là một nơi trời để cho người anh hùng dụng võ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để mà gây dựng cơ nghiệp về muôn đời”/ Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp cha giữ đất phương Nam, theo đúng lời di huấn của cha “thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ”, bên ngoài kính cẩn nhận chức do vua Lê phong cho, giữ hòa hiếu với anh rể Trịnh Tráng, nhưng bên trong đã ngầm súc tích nội lực, tỉnh táo đối phó với mưu mô giảo hoạt tìm mọi cách thôn tính, khống chế của họ Trịnh.

Đào Duy Từ với tầm nhìn xa rộng và nhãn quan chính trị sâu sắc đã nhận ra tình cảnh trớ trêu trên. Hình thái Lê Trịnh, Mạc, Nguyễn thời ấy thật giống như “Tam Quốc”: Họ Trịnh noi cách Tào Tháo mượn uy thiên tử để sai khiến chư hầu. Họ Mạc tuy sức cùng lực kiệt nhưng được nhà Minh hậu thuẫn Nhà Minh luôn rình đợi thời cơ để can thiệp vào nước ta như cách “giúp Trần, cầm Hồ” của triều trước. Họ Nguyễn giữ đất phương Nam chân chúa lô rõ, hiền tài theo về. Đào Duy Từ như Ngọa Long ở Long Trung ẩn nhẫn đợi thời. Ông chỉ quyết định vào Nam khi đã định rõ minh quân, danh tướng, chiến lược, sách lược các đối sách trước mắt và lâu dài của bàn cờ lớn.

Lịch sử ghi nhận rằng Đào Duy Từ có bố là Đào Tá Hán, trước làm lính cấm vệ trong triều Lê Trịnh, bị phạm húy khi làm thơ đã dám nói tên của chúa Trịnh Kiểm nên bị phạt đánh đòn và đuổi về nhà làm dân thường. Bố của ông sau trở thành kép hát nổi tiếng khắp vùng và kết duyên với bà Vũ Thị Kim Chi ở làng Ngọc Lâm. Đào Duy Từ được sinh ra ở làng Hoa Trai, khi ông lên 5 tuổi thì bố bị bệnh mất, người mẹ ở góa, tần tảo nuôi con ăn học. Theo luật lệ của triều đình bấy giờ thì con cái những người làm nghề ca xướng đều không được quyền thi cử. Bà Kim Chi tiếc cho tài học của con nên đã nhờ viên xã trưởng đổi họ Đào của con theo cha thành họ Vũ theo mẹ. Năm 1593 lúc Đào Duy Từ 21 tuổi, vào đời vua Lê Thế Tông (l567-1584) đã đỗ á nguyên tại kỳ thi Hương. Ông dự thi Hội thì bị viên xã trưởng mật báo và tố giác vì mẹ ông đã không chịu gian díu với hắn. Ông bị cấm thi vì trọng tội “gian lận trong thi cử”, bị giam giữ xét hỏi, trong khi mẹ ông ở nhà đã phẫn uất tự tử. Đào Duy Từ lấy vợ họ Cao ở Tống Sơn nên có quen biết chúa Nguyễn Hoàng từ trước. Đào Duy Từ đã rời quê hương vào Đàng Trong lập nghiệp khoảng năm 1622 đến 1625 khi ông đã 50- 53 tuổi. Đào Duy Từ vào Nam sau ba mươi năm trầm tĩnh đợi thời. Ứng xử của ông giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhẫn nại đợi thời cơ sau hai mươi năm mới ra lựa chọn triều Mạc và ra dự thi lập tức đoạt Trạng nguyên. Đào Duy Từ cũng chọn hướng vào Nam rất sâu sắc, có tính toán và đúng thời cơ. Đây không phải là một sự uất ức tầm thường mà là sự nhẫn nại của bậc trí giả, thời thế nhiễu loạn, vàng lầm trong cát mà thôi. Đào Duy Từ được Chúa Nguyễn trọng dụng, đã hết lòng giúp chúa Nguyễn đạt được năm kỳ tích lạ lùng và nổi bật ngời sáng trong lịch sử Việt Nam:

1) Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong chống cự thành công với họ Trịnh ở phía Bắc. Ông đã cùng các danh tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến bày mưu định kế, luyện tập quân sĩ, xây đồn đắp lũy, tổ chức tuyến phòng ngự chiều sâu từ phía nam sông Linh Giang đến Lũy Trường Dục (ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình) và Lũy Thầy (từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình). Suốt thời Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài suốt 45 năm (1627-1672) đánh nhau cả thảy bảy lần, họ Trịnh thường mạnh hơn nhưng quân Nam tướng sĩ hết lòng, đồn lũy chắc chắn nên đã chống cự rất hiệu quả với quân Trịnh.

2) Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh, nước lớn lên, người nhiều ra. Đào Duy Từ có duyên kỳ ngộ với tiên chúa Nguyễn Hoàng và chân chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Ông hết lòng phò vua giúp nước “cúc cung tận tụy đến chết mới thôi” như Ngọa Long Gia Cát Lượng Khổng Minh. Đào Duy Từ mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của ông không chỉ là trước tác mà còn là triều đại.

3) Đào Duy Từ là bậc kỳ tài muôn thuở với những di sản còn mãi với non sông. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường. Ông đã đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn, sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao gắn với hệ thống chính trị tiến bộ hợp lòng dân. Với tài năng tổ chức kiệt xuất của Đào Duy Từ, chỉ trong thời gian ngắn ngủi chín năm (1625-1634), ông đã kịp xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân. Triều Nguyễn sau khi Đào Duy Từ mất (1634) còn truyền được 8 đời (131 năm), cho đến năm 1735, khi Vũ Vương mất, thế tử chết, Trương Phúc Loan chuyên quyền, lòng người li tán, nhà Tây Sơn nổi lên chiếm đất Quy Nhơn, họ Trịnh lấy đất Phú Xuân, thì cơ nghiệp chúa Nguyễn mới bị xiêu đổ.

4) Tác phẩm “Hổ trướng khu cơ”; Nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc tuồng Sơn Hậu, thơ Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn đều là những kiệt tác và di sản văn hóa vô giá cùng với giai thoại, ca dao, thơ văn truyền đời trong tâm thức dân tộc. Binh thư “Hổ trướng khu cơ” sâu sắc, thực tiễn, mưu lược yếu đánh mạnh, ít địch nhiều, là một trong hai bộ sách quân sự cổ quý nhất của Việt Nam (bộ kia là Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo) ; Nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc, tuồng cổ Sơn Hậu gắn với di sản văn hóa Huế thành di sản văn hóa thế giới; Những giai thoại, ca dao truyền đời trong tâm thức dân tộc của lòng dân mến người có nhân. Ngay trong trước tác của ông cũng rất trọng gắn lý luận với thực tiễn. Binh thư “Hổ trướng khu cơ” gắn với những danh tướng cầm quân lỗi lạc một thời như Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến. Vũ khúc cung đình, tuồng cổ Sơn Hậu, thơ Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn đều thể hiện tầm cao văn hóa.

5) Đào Duy Từ là người Thầy đức độ, tài năng, bậc kỳ tài muôn thuở của dân tộc Việt, người khai sinh một dòng họ lớn với nhiều hiền tài và di sản. Đào Duy Từ lúc đương thời đã gả con gái mình cho Nguyễn Hữu Tiến sau này là một đại tướng của nhà Nguyễn. Đào Duy Từ đã đem tài trí của mình cống hiến cho xã hội về nhiều lĩnh vực. Ông là một nhà quân sự tài ba, kiến trúc sư xây dựng lũy Trường Dục ở Phong Lộc và lũy Nhật Lệ ở Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng Bình, để chống lại các cuộc tấn công của quân Trịnh. Lũy Nhật Lệ còn gọi là lũy Thầy (vì chúa Nguyễn và nhân dân Đàng Trong tôn kính gọi Đào Duy Từ là Thầy). Lũy này được hoàn thành năm 1631, có chiều dài hơn 3000 trượng (khoảng hơn 12 km), cao 1 trượng 5 thước (khoảng 6 m), mặt lũy rất rộng (voi có thể đi lại được) cứ cách một quãng lại xây pháo đài để đặt súng thần công. Chiến lũy này có vị trí gần khe, dựa vào thế núi, chạy dài suốt cửa biển Nhật Lệ, trông giống hình cầu vồng, có tác dụng chặn được bước tiến của quân Trịnh trong hàng trăm cuộc giao tranh. Đương thời có các câu ca dao: Khôn ngoan qua cửa sông La/ Dù ai có cánh chớ qua lũy Thầy “Hữu trí dũng hề, khả quá Thanh Hà / Túng hữu dực hề, Trường lũy bất khả khoa”. Mạnh thì qua được Thanh Hà/ Dẫu rằng có cánh khôn qua lũy Thầy. Đường vô xứ Huế quanh quanh / Non xanh nước như tranh họa đồ/ Yêu anh em cũng muốn vô / Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang. Phá Tam Giang bây giờ đã cạn/ Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm. Chùm thơ và giai thoại trên và dưới đây đã tồn tại lâu dài trong bia miệng người đời. Lời thơ đẹp, hợp logic tình tự dân tộc, mọi việc đều khớp đúng với sự kiện lịch sử.

NHỚ NGƯỜI
Đến Thái Sơn nhớ Đào Duy Từ
Về Tùng Châu thương Người

Hoàng Kim

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ?
Đầy trời hoa tuyết bay!

Lồng lộng vầng trăng rằm
Một vườn thiêng cổ tích
Người là ngọc cho đời
Tháng năm còn nhớ mãi.

Đời trãi năm trăm năm
Thương người hiền một thuở
Hậu sinh về chốn cũ
Thăm vườn thiêng thiên thu.

NHỚ NGƯỜI
Đêm muộn bâng khuâng về với Bác
Rưng rưng sen trắng nắng mai vàng
Trời xanh bảng lảng Người khuất nẻo
Hồ vơi đồng vắng tím niềm thương

NHỚ NGƯỜI
Hoàng Kim

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay.

NGÀY MỚI NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Thương đồng hồ sinh học
Mọi ngày như một ngày
Nhắc thức dậy với con
Thung dung trên đường sáng

Nhớ ngôi sao thăm thẳm
Người xưa thanh thận cần
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Đêm lạnh nhớ Đào Công

Đêm thiêng không nỡ ngủ
Bút hoa ý chảy nhanh
Lục Ngôn Mã Tiền Khóa
Xuất thần cùng Khổng Minh

Chúc đời nhàn thêm tuổi mới
Mừng ngày sống trọn tin yêu
Năm tháng đủ đầy tình nghĩa
Mới thương êm ấm lâu dài
Vui yêu xuân thêm tuổi thọ
Khoẻ người nhàn thích an nhiên.

BẠCH MAI SẮN TÂY NGUYÊN
Hoàng Kim

Bạch Mai sắn Tây Nguyên https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bach-mai-san-tay-nguyen/. Hoàng Kim chúc mừng BM Nguyễn sắn Tây Nguyên bảo tồn và phát triển bền vững. Một điển hình nghiên cứu (key study)

Thác Iguazu

World’s Most Beautiful Waterfalls
EMBRAPA Brazil bạn tôi ở nơi ấy
Science that transforms your life ,Embrapa’s Institutional Video
Thơ viết ở thác Iguazu di sản thế giới thiên nhiên tuyệt đẹp giữa Brasil và Argentina.

MINH TRIẾT SỐNG PHÚC HẬU
Hoàng Kim

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.(xem tiếp Minh triết sống phúc hậu)

#Thungdung
LỜI THẦY DẶN THUNG DUNG
Hoàng Kim

Việc chính đời người chỉ ít thôi.
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi.
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện.
Di sản muôn năm mãi sáng ngời

Biết đủ sống thảnh thơi
Con em và cháu vững tay rồi
Đời an nhiên lòng thanh thản
Minh triết mỗi ngày dạy học vui.

Thung dung đời thoải mái
ban mai của riêng mình
giọt thời gian điểm ngọc
thanh nhàn khát khao xanh.

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC http://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Secret Garden – Poéme

Vuonxuan

Chopin – Spring Waltz 
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Advertisement

#cnm365 #cltvn Nắng mới

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nang-moi-1-e1589670316958.jpg

NẮNG MỚI
Hoàng Kim

Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng …

THUNG DUNG CHÀO NGÀY MỚI
Hoàng Kim


Hoàng Gia Ngọc Phương Nam
Chốn vườn thiêng cổ tích
Thung dung chào ngày mới
Thanh nhàn cùng tháng năm

CNM365 TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
Hoàng Kim

Ta vui hòa nhịp thời gian
Thung dung nhàn giữa gian nan đời thường.
https://cnm365.wordpress.com
Run away with me

HẠNH PHÚC KHÁT KHAO XANH
Kim Hoàng họa
thơ Lưu Đỗ

NIỀM HẠNH PHÚC
Lưu Đỗ

CÓ một cơn mưa nhỏ
Đi qua, cỏ ướt mềm
Có một ngọn đèn đêm
Soi cho thuyền lướt sóng.

CÓ một áng mây bay
Ru lời ca cùng gió
Giọt sương bên lá cỏ
Thao thức nghe đêm trôi .

CÓ một dòng sông chảy
Phù sa vun đôi bờ
Nước xuôi về biển lớn
Nỗi niềm xanh ước mơ .

TRỜI giữa hè gió lộng
Duyên dáng đàn cò bay
Có một niềm hạnh phúc
Ta ôm trọn tháng ngày . . .

KHÁT KHAO XANH
Kim Hoàng

KHÔNG chuông nhỏ reo ngân
Hạc vàng khô chén ngọc
Không một vì sao đêm
Tim soi đường tiến bước

KHÔNG một trời khát vọng
Nước mắt chảy vào trong
Tận tâm chăm mầm sống
Thao thức mong tiếng lòng.

KHÔNG một cơn mưa nhỏ
Mồ hôi làm cơn mưa
Đời buông tay chẳng dễ
Trời xanh không phụ lòng

KHÁT khao xanh ước mơ
Đất cảm người thương mến
#Thungdung tròn giấc ngủ
Hoàng Thành rừng Trúc Lâm

ĐỢI MƯA

Khát khao ngóng sớm chờ trưa
Sắn trồng nửa tháng đợi mưa cháy lòng
Mía xơ xác khắp cánh đồng
Đất rang rẫy nóng, trời nồng nực oi.

Lúa non ruộng nứt nẻ rồi
Suối khô, hồ cạn, người người ngóng trông
Tiếng ve ngằn ngặt trưa nồng
Mấy khi tháng bảy lại mong mưa rào?

Thương mình, thương kẻ khát khao
Mưa ơi, ngóng đợi lặn vào giấc mơ.

*
Đời gừng cay muối mặn
Cha chăm tưới mỗi ngày
Mẹ siêng từng mầm sống
Con một đời rưng rưng

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hanh-phuc-khat-khao-xanh/

#CNM365 #CLTVN NẮNG MỚI
Hoàng Kim

Đường trần chí thiện vui chơi
An nhiên chút nữa cuộc đời thung dung
Cha con nối bước thanh nhàn
Thảnh thơi đồng rộng mái trường mến yêu …

*

Hạnh phúc đơn sơ sao đẹp thế
Ngắm hoa nhớ buổi nắng đông về
Yêu sao ngày mới chờ xuân tới
Ngày mới ta còn mãi miết đi.

Đạo đức niềm tin và lối sống
Nhớ lời Hưng Đạo dặn dò Vua
Đường xuân vui bạn quên ngày tháng
Nắng hửng ban mai gió mới về .

#cltvn Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là năm vững bản chất sự vật, có lời giải đúng, và LÀM được việc

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là phu-yen-hoi-nghi-tong-ket-khcn-2026-2020-dinh-huong-2021-2025.jpg

PHÚ YÊN NÔI LÚA SẮN
Hoàng Kim


Thông tin Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên, Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Sáng ngày 31/12/2021, tại TP Tuy Hòa, UBND tỉnh Phú Yên đã phối hợp với Sở KH&CN tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động khoa học và công nghệ Phú Yên giai đoạn 2016-2020; Định hướng phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại TP Tuy Hòa và kết nối trực tuyến đến các thị xã, huyện trong địa phương cùng đại diện Bộ KH&CN. Chủ trì Hội nghị là đồng chí Đào Mỹ, Phó Chủ Tịch UBND tỉnh Phú Yên và đồng chí Dương Bình Phú, Giám đốc Sở KH&CN, tham dự Hội nghị còn có ông Thân Ngọc Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển Khoa học và Công nghệ địa phương và đại diện lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành, đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh; xem tiếp https://khcnpy.gov.vn/hoi-nghi-tong-ket-hoat-dong-khoa-hoc-va-cong-nghe-phu-yen-giai-doan-2016-2020-dinh-huong-phat-trien-ung-dung-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-giai-doan-2021-2025/

Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA là lời biết ơn chân thành bởi Hoàng Kim và đs. 2021. Hoàng Kim tham dự hội nghị theo giấy mời của Chủ tịch UBND Tỉnh Phú Yên. Chúng tôi lưu trích đoạn lúa sắn thuộc lĩnh vực kỹ thuật công nghệ trong phim của Đài Phát thanh và Truyền hình Phú Yên với Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp thực hiện tháng 12 năm 2021. Phim chiếu tại Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng phát triển ứng dụng KHCN & ĐMST giai đoạn 2021-2025.

Phú Yên nôi lúa sắn https://youtu.be/CKdEr4aS2NA
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là cnm365-mot-nam-nhin-lai.jpg

#cnm365 #cltvn Nắng mới
https://cnm365.wordpress.com
Run away with me

Chuyên mục

NẮNG MỚI
Hoàng Kim

Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng …


NGÔI SAO MAI CHÂN TRỜI

Hoàng Kim

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi …

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi  …

Hãy lên đường đi em
Ban mai vừa mới rạng
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui đời khỏe cho ta.

Vui chợp mắt dưới trời Tam Đảo

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC http://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Secret Garden – Poéme

Vuonxuan

Video link Tâm tĩnh lặng sẽ sinh trí huệ https://youtu.be/pt8ONTe0TOI

Video link Nhạc Thư Giãn Du Dương https://youtu.be/hlWiI4xVXKY Nhạc Piano & Nhạc Guitar Êm Dịu | Sunny Mornings của Peder B. Helland

Chopin – Spring Waltz 
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Chuyện ngày sinh của Thủy

CHUYỆN NGÀY SINH CỦA THỦY
Hoàng Kim

Âm lịch giao hòa dương lịch đây.
Đêm ba mươi Tết ấm men say.
Sao Kim sao Thủy hôm mai mọc
Trăng mẹ hiền soi nước biển đầy

— với Nguyễn Thị Thủy.

Nguyễn Thị Thủy: “Khi xưa, lúc còn nhỏ, mẹ thường kể ngày này là ngày sinh”

SaoKimkythu

SAO KIM KỲ THÚ
Ngôi sao mai chân trời (*)
Hoàng Kim

ta gõ ban mai vào bàn phím
gõ vào khuya ngơ ngẫn kiếm tìm
biết em ngủ đợi chờ em tỉnh thức
như  ánh sao trời ở chốn xa xôi.

em em em giá mà em biết được
những yêu thương hóa đá chốn xa mờ
sợi tóc bạc vì em mà xanh lại
lời ru và nỗi nhớ ngấm vào thơ.

em thăm thẳm một vườn thiêng cổ tích
chốn ấy cõi riêng khép mở chân trời
ta như chim đại bàng trở về tổ ấm
lại khát Bồng Lai ước vọng mù khơi.

ta gõ ban mai vào bàn phím
dậy em ơi ngày mới đến rồi. (**)

ThaiDuonghe

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

CNM365 Tình yêu cuộc sống Hoàng Kim chúc vui Thiện Lạc Ta vui hòa nhịp thời gian Thung dung nhàn giũa gian nan đời thường.

CNM365 MỘT NĂM NHÌN LẠI
https://cnm365.wordpress.com
Run away with me

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Việt Nam quê hương tôi

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Thơ Xuân ngày giáp Tết

THƠ XUÂN NGÀY GIÁP TẾT
Hoàng Kim


Ngày giáp Tết, đất trời Nam tuyệt đep.
Nắng tươi vàng, mai bừng nở lung linh.
Hành trình xanh, hoa rộn ràng sắc thắm.
Búp lộc xuân, nghe nhựa ứa lên cành.

Giờ tan học, con như chim về tổ.
Bao yêu thương, cha mẹ ngóng con về.
Muôn lời chúc, rộn ràng nghe xuân đến.
Xa bạn thầy, náo nức buổi về quê.

Phiên chợ Tết, người đi như trẩy hội.
Ai cũng xuân, vui vẻ những câu chào.
Dẫu khó nhọc, lo toan hằn khoé mắt.
Cận Tết rồi, nên chỉ thấy niềm vui.

Xuôi phương Nam, tôi tìm thăm Hai Lúa.
Thắm tình thân, thầy bạn buổi tất niên.
Địa chỉ xanh, dẫu xa mà gần gũi .
Mừng xuân này công việc gắn bền thêm.

Viên ngọc ước, trong ngần như hạt gạo.
Chén cơm ngon, thơm bếp lửa gia đình.
Hạnh phúc lớn, trong niềm vui bình dị.
Cùng ruộng đồng, bạn quý với chân quê

Cám ơn công đồng Face Book đã giúp tôi bảo tồn thơ và ảnh này
Năm tháng đi qua nhìn những khuôn mặt tha62y bạn xưa và nay
xem tiếp Thơ xuân ngày giáp Tết Phóng sự ảnh Hoàng Kim.

Thích khoe ảnh với Lão Hùng tám chục (*)
Mặt xinh tươi hóng ảnh để ghi bài
Thuở Chung sức bao năm nơi Trường Viện
Nay ngựa về chung máng cỏ ngày vui.

Nhớ năm trước dịp này Ông Lão vắng
Việc mất còn thoáng chốc trải trăm năm
Ngày giáp Tết đêm trăng rằm tháng Chạp
Vần thơ Xuân lồng lộng giữa tâm hồn

Kính chúc xuân mới vui khỏe hạnh phúc.

Hôm nay chúng tôi dự tất niên ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, trò chuyện về IAS đường tới trăm năm tôi trở về nhà dưới trăng rằm tháng Chạp, và ghi lại ghi chép này. Cuối dòng sông là biển

(*) Cám ơn anh Hùng 80 tuổi còn vui khỏe lắm. Hóng ảnh anh gửi để vui đùa thầy bạn. Cám ơn công đồng Face Book đã giúp tôi bảo tồn thơ và ảnh này. Năm tháng đi qua nhìn những khuôn mặt thầy bạn xưa và nay. xem tiếp Thơ xuân ngày giáp Tết Phóng sự ảnh Hoàng Kim.

CHUNG SỨC
Võ Tòng Xuân, Hoàng Kim
Nhớ giáo sư Phạm Văn Biên

Chung sức bao năm một chặng đường
Cuộc đời nhìn lại phúc lưu hương
Ngô khoai chẳng phụ dày công Viện
Lúa sắn chuyên tâm mến nghĩa Trường
Dạy học tinh hoa giàu trí tuệ
Chuyển giao chuyên nghiệp khiếu văn chương
Người chọn vãng sanh vui một cõi
Ai theo cực lạc đức muôn phương

Liên vận bài
TIỄN ĐƯA
Tố Hữu
(Tặng bạn thơ Th.)

Đưa tiễn anh đi mấy dặm đường
Nặng tình đồng chí lại đồng hương!
Đã hay đâu cũng say tiền tuyến
Mà vẫn bâng khuâng mộng chiến trường!
Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn nghìn trang giấy luận văn chương
Đi đi, non nước chờ anh đó!
Tiền tuyến cần thêm? Có hậu phương…

GS Phạm Văn Biên, nguyên Viện Trưởng (ngồi thứ năm phải qua) cùng quý thầy bạn Viện Trường và Sinh học thành phố Hồ Chí Minh 20 11 Ngày Nhà Giáo Việt Nam. GS Phạm Văn Biên,.ngày này na7m trước đã đi xa. CNM365 bảo tồn và phát triển thông tin.

CHÀO NGÀY MỚI 28 THÁNG 1 Hoàng Kim CNM365 Thơ xuân ngày giáp Tết; Về Trường để nhớ thương; Trường tôi nôi yêu thương; IAS đường tới trăm năm; Cuối dòng sông là biển; Truyện Pie Đại đế; Sông Kỳ Lộ Phú Yên; Sớm Xuân; Hình như; Lev Tonstoy năm kiệt tác; Ngày 28 tháng 1 năm 1724 Pie Đại đế Sa hoàng Pyotr I cho thành lập Viện Hàn lâm Khoa học Sankt-Peterburg, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Ngày 28 tháng 1 năm 1887,Tháp Eiffel được khởi công xây dựng theo thiết kế và chỉ đạo của kỹ sư người Pháp Alexandre Gustave Eiffel. Ngày 28 tháng 1 năm 1985, Ca khúc We Are the World được thu âm tại Henson Recording Studios, Los Angeles, Hoa Kỳ; Bài chọn lọc ngày 28 tháng 1: Về Trường để nhớ thương; Trường tôi nôi yêu thương; IAS đường tới trăm năm; Cuối dòng sông là biển; Truyện Pie Đại đế; Sông Kỳ Lộ Phú Yên; Sớm Xuân; Hình như; Lev Tonstoy năm kiệt tác; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/…/chao-ngay-moi-28-thang-1/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích (đọc lại và suy ngẫm)
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Người lính cây sắn tuổi thơ

NGƯỜI LÍNH CÂY SẮN TUỔI THƠ
Hoàng Kim

Năm trước, tôi về thăm lại Srepok, điểm hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong ở ngã ba Đông Dương, trong lần chuyển giao tiến bộ kỹ thuật giống sắn KM419, KM440 và canh tác sắn Tây Nguyên. Từ Mekong nhớ Neva, tôi liên tưởng Đến Neva nhớ Pie Đại Đế và suy ngẫm về các dòng sông đất nước, thấu hiểu Cuối dòng sông là biển; Cách mạng sắn Việt Nam; những kinh nghiệm lắng đọng Chọn giống sắn kháng CMD.

Srepok hợp lưu của sông Mekong

Tôi đã trãi qua kinh nghiệm chiến tranh và hòa bình tại Srepok và liên tưởng so sánh sông Mekong, sông Hồng với sông Neva, sông Volga, những dòng sông Nga huyền thoại. Biển Đông sông Mekong nay đang trong vùng xoáy sôi động và dữ dội nhất thế giới cũng như biển Bantic và sông Neva trước đây đã từng là và nay tiếp tục là điểm nóng, vùng đất địa chính trị – lịch sử tàn khốc và dữ dội nhất thế giới. Đó là nơi cuốn hút hàng chục, hàng trăm triệu người vào những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Nơi mà giá trị của con người được đặt lên bàn cân sinh tử với sự lựa chọn tình yêu Tổ quốc.

Tôi đã từng đứng bên bờ sông sinh tử này, đã từng  câu cá tại dòng sông Srepok, thuở mà sông chưa làm đập thủy điện. Nay tôi về lặng ngắm dòng sông xưa với thao thiết một dòng sông chảy mãi…

Câu cá bên dòng Srepok

Hoàng Kim

Bạn chèo thuyền trên sông Neva
Có biết nơi này mình câu cá?
Srepok giữa mùa mưa lũ
Sốt rừng, muỗi vắt, đói cơm.

Suốt dọc đường hành quân
Máy bay,
pháo bầy,
thám báo,
mưa bom.
Chốt binh trạm giữa rừng
Người bạn thân
Lả người
Vì cơn rét đậm.
Thèm một chút cá tươi,
Mình câu cá
Cho bữa cơm người thân
mà nước mắt
đời người
rơi, rơi…
mặn đắng.

Bạn ơi
Con cá nhỏ trên dòng Srepok
Đã theo dòng thác cuốn đi rồi.
Đất nước nghìn năm
Trọn lời thề
Sống chết thủy chung
với dân tộc mình
Muôn suối nhỏ
Đều đi về biển lớn.

Bài thơ Câu cá bên dòng Srepok là cảm tác của tôi năm 1972 tại Tây Nguyên, trong buổi chiều câu cá bên dòng Srepok gần Buôn Đôn. Buổi câu cho bữa cơm người bạn sốt rừng ốm nặng thèm ăn cá. Nơi tôi câu cá là binh trạm nằm ở khoảng giữa Đăk Tô- Tân Cảnh và Buôn Đôn, rất gần điểm ảnh dòng sông Srepok của Đỗ Tuấn Hưng.

Lúc câu cá, tôi nghĩ nhiều về bức tranh sơn dầu nổi tiếng “Những người kéo thuyền trên sông Volga” của Repin và bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva của Hoàng Bình. Tôi cảm nhận thật rõ ràng những suy tư của người lính chiến trước dòng sông Neva, Volga Mekong và sông Hồng huyền thoại. Mekong sông Hồng là sông Việt mến yêu của Tổ Quốc tôi, còn Neva, Volga là những dòng sông Nga mãi sau này tôi mới tới.

Srepok


Tại Tây Nguyên, đơn vị tôi chốt ở ngã ba biên giới Việt – Lào- Cămpuchia, bên dòng sông  Srepok (hay Sêrêpôk, Srêpôk, mà tiếng Campuchia gọi là Tongle Xrepok). Srepok tại ngã ba Đông Dương là điểm hợp lưu quan trọng nhất, trong khi Phnôm Pênh lại chính là điểm phân lưu quan trọng nhất của sông Mekong.

Mekong

Sông Srepok vùng ngã ba Đông Dương là hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong. Sông Srepok phần Việt Nam là phụ lưu đặc biệt quan trọng của sông Mekong. Đây là ngã ba Đông Dương, hợp lưu lớn nhất của sông Mekong. Sông Srepok với các dòng sông ngắn dốc hung dữ hoang sơ chảy ngược về Mekong mà không phải chảy xuôi về Biển Đông như các sông Việt khác. “Ai nắm được nóc nhà Tây Nguyên và chế ngự được vùng hợp lưu này là quản lý được Đông Dương”. Những chuyên gia quân sự và sử học đã từng nhận định vậy, Tính từ chỗ hợp lưu của sông Krông Ana (sông Mẹ) và sông Krông Nô (sông Bố) tới cửa sông Srepok dài 406 km, trong đó đoạn chảy qua Campuchia dài khoảng 281 km, đoạn chảy trong lãnh thổ Việt Nam dài khoảng 126 km.

SongNeva

Từ Mekong nhớ Neva huyền thoại

Tôi đã có thời gian đến Neva. Tôi hôm nay đang Chọn giống sắn kháng CMD, đứng nơi hợp lưu năm con sông Mekong Champasak ngã ba biên giới mà nghĩ về Câu cá bên dòng Sêrêpôk Angkor nụ cười suy ngẫm , nhớ đến những giá trị liên kết Đông Dương không chỉ ngày này mà đã có từ thuở Cao Biền trong sử Việt, thể hiện rõ nét trên bản đồ cổ Việt Nam thời nhà Đường. Tầm nhìn viễn kiến ấy là sự kết nối các trục giao lộ sinh mạch kinh tế quốc phòng Đông Tây Bắc Nam từ Champasak ngã ba biên giới nước Lào tới biển Tỉnh Hải sông Kỳ Lộ (An Hải Phú Yên Việt Nam ngày nay). Từ Mekong nhớ Neva huyền thoại thao thức bao điều. Neva là sông mẹ thứ hai của nước Nga nơi có thành phố Sankt Peterburg lịch sử, niềm tự hào thiêng liêng của tổ quốc Nga. Nơi đây là đường sống sinh lộ nước Nga, cũng là điểm giao tranh quyết liệt nhất với những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Ngày 27 tháng 1 năm 1944  là ngày kỷ niệm thành phố Sankt Peterburg bên dòng Neva được giải phóng sau 872 ngày đêm vây hãm của phát xít Đức làm chết gần một triệu người Nga trong thành phố vì bom đạn, đói khát và bệnh tật.  ;xem tiếp… Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Cuối dòng sông là biển; Cách mạng sắn Việt Nam; Chọn giống sắn Việt Nam; Chọn giống sắn kháng CMD.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là den-voi-tay-nguyen-moi-4.jpg

Biển Hồ Chùa Bửu Minh

Tôi đã nhiều lần qua lại sông Srepok, Se San, Ea H’leo (hình 2), Kỳ Lộ (sông Cái) , sông Ba. Trong giấc mơ của tôi có con sông đào nối hợp lưu sông Mekong tới sông Kỳ Lộ ra biển Đông (dường như kênh đào Panama, kênh đào Suez?).Tôi không hiểu sao lại mơ nhiều lần thấy vậy.

Đến với Tây Nguyên mới
Thăm lại chiến trường xưa
Đất sắn nuôi bao người
Sử thi vùng huyền thoại.

Vầng đá chốn đại ngàn
Rượu cần nơi bản vắng
Câu cá bên dòng Sêrêpôk
Tắm tiên Chư Jang Sin

Thương Kim Thiết Vũ Môn
Nhớ người hiền một thuở
Đình Lạc Giao Hồ Lắk
Biển Hồ Chùa Bửu Minh

Nước, rừng và sự sống
Chuyện đời không thể quên
Cây Lương thực bạn hiền
Lớp học vui ngày mới

Ai ẩn nơi phố núi
Ai tỏ Ngọc Quan Âm
Ai hiện chốn non xanh
Mây trắng trời thăm thẳm
Nước biếc đất an lành

Soi bóng mình đáy nước
Sáng bình minh giữa đời
Thung dung làm việc thiện
Vui bước tới thảnh thơi

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là chua-buu-minh-bien-ho-1.jpg

Biển Hồ Chùa Bửu Minh,

Cao Biền trong sử Việt, Sông Kỳ Lộ Phú Yên Sinh lộ Đông Tây An Hải, đã có tự thuở xưa trong địa chí huyền thoại của vùng đất thiêng miền Trung Việt Nam.

Sông Kỳ Lộ Phú Yên

Từ Biển Hồ Gia Lai
Sông Kỳ Lộ Phú Yên
Dài hai trăm cây số
Thượng nguồn sông Bà Đài
Sông Cái ra tới biển

Sông La Hiên Cà Tơn
Bến Phú Giang, Phú Hải
Phú Mỡ huyện Đồng Xuân
Thôn Kỳ Lộ Cây Dừng.
Tre Rồng sông Kỳ Lộ
Huyền thoại vua Chí Lới
Vực Ông nối thác Dài

Xuôi dòng sông Kỳ Lộ
Lẫy lừng chuyện suối Cối
Tới suối Mun Phú Mỡ
Suối nước nóng Cây Vừng
Thấu vùng đất hoang sơ

Chợ Kỳ Lộ nổi tiếng
Người Kinh Chăm Ba Na
Xưa mỗi tháng chín phiên
Nay ngày thường vẫn họp

Sông Cái thác Rọ Heo
Vùng Hòn Ông vua Lới
Suối nước nóng Triêm Đức
Thôn Thạnh Đức Xuân Quang

Sông Trà Bương sông Con
Tiếp nước sông Kỳ Lộ
Chốn Lương Sơn Tá Quốc
Lương Văn Chánh thành hoàng

Sông Cô tới La Hai
Sông Cái hòa tiếp nước

Đồng Xuân cầu La Hai
Hợp thủy sông Kỳ Lộ
Tới Mỹ Long chia nhánh
Một ra vịnh Xuân Đài
Một vào đầm Ô Loan

Suối Đá xã An Hiệp
Chảy ra đầm Ô Loan
Suối Đá Đen An Phú
Chảy ra biển Long Thủy.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là bc23e-lahai.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 9656a-46400358.jpg

Sông Kỳ Lộ Phú Yên
Lắng đọng nhiều chuyện quý

Ngọc Phương Nam ngày mới
Giống sắn tốt Phú Yên
Lúa siêu xanh Phú Yên
Báu vật nơi đất Việt

A Na bà chúa Ngọc
Châu Văn Tiếp Phú Yên
Cao Biền trong sử Việt
Ông Rhodes chữ tiếng Việt

Video yêu thích

Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
Ban Mai
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Thầy Vũ trong lòng tôi

THẦY VŨ TRONG LÒNG TÔI
Hoàng Kim


Chúc mừng thầy Trịnh Xuân Vũ ngày xuân tuyệt vời ! Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh qua mốc vàng 65 năm, Thầy Trịnh Xuân Vũ ngày 25 tháng 1 năm 2021 vượt mốc 86 mùa xuân, là đại thụ lưu dấu rõ nét về Trường tôi nôi yêu thương. Ngày xuân vận hội mới, các học trò đồng nghiệp của Thầy vui thích đọc lại bài viết “Một chặng đường” của Thầy tại Kỷ yếu 65 năm Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh. Thầy Vũ trong lòng em là lời biết ơn thầm lặng. Em thích đọc lại Thầy Vũ “Một chặng đường” đó là trang vàng minh triết, tri thức, tận tâm, là trang đời lắng đọng. https://kyyeunonglam.blogspot.com/ Thông tin bảo tồn và phát triển tại
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-25-thang-1/

MỘT CHẶNG ĐƯỜNG
PGS Trịnh Xuân Vũ
Nguyên Phó Hiệu Trưởng (1989-1994)

Tổ chức kỷ niệm 65 nâm ngày thành lập Trường, âu cũng là một dịp để nhớ lại quá khứ, ôn lại những kỷ niệm xưa – “Uống nước nhớ nguồn”.

Tôi sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, hầu như cả thời niên thiếu của tôi đều gắn liền với chiến tranh; và thế hệ chúng tôi ai cũng đã hằng mong ước là sẽ có một ngày hòa bình và đất nước không còn chiến tranh; ước mơ duy nhất của thời đó chỉ đơn giản có vậy! Thế rồi chiến tranh đã kết thúc như một giấc mơ và thật hạnh phúc khi tháng 11 năm 1975 tôi đã có mặt tại 45 Cường Để và về công tác chính thức tại Trường từ tháng 4 năm 1976; cho tới hôm nay là vừa tròn 44 năm gắn bó với Nhà trường.

Sáu mươi lăm năm là một chặng đường dài và sự phát triển của Nhà trường luôn gắn liền với những biến cố của xã hội, vui có, buồn có; nhưng dù sao thì những năm tháng qua cũng đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng khó quên.

Đó là ấn tượng về một Trường đại học Nông nghiệp Sài Gòn, mà các cựu sinh viên quen gọi là “Nông Lâm Súc Sài Gòn”, tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh hôm nay.

Nơi đây đã từng có rất nhiều thầy tham gia ngay từ những ngày đầu thành lập trường như thầy Tôn Thất Trình, Lê Văn Ký, Lê Văn Mười, Đặng Quan Điện, Nguyễn Thành Hải, Vũ Ngọc Tân, Phùng Trung Ngân, Bùi Huy Thục, Ngô Bá Thành – đều là các chuyên gia giỏi – những cây đại thụ trong ngành nông nghiệp.

Rồi một thế hệ trẻ kế tiếp được đào tạo có định hướng, đó là thầy Nguyễn Đăng Long, Lưu Trọng Hiếu, Châu Văn Khê, Châu Tâm Luân, Nguyễn Bá Khương, Phan Hoàng Đồng, Tô Phúc Tường, cô Nguyễn Bích Liễu… Trong số đó, có nhiều thầy cô đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Nhà trường.

Tham gia giảng dạy còn có nhiều giáo sư, hầu hết là các chuyên gia đầu ngành đến từ Pháp và Mỹ – là hai quốc gia thuộc diện văn minh và giàu có nhất thế giới. Nơi đây đẩu vào có sự chọn lọc kỹ càng thông qua thi tuyển (Trường đại học Nông nghiệp Sài Gòn là một trong ba trường có thi tuyển đầu vào cùng với Trường đại học Y khoa (nay là Trường đại học Y Dược TP. Hổ Chí Minh) và Trường Kỹ thuật Phú Thọ (nay là Trường đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh). Tôi rất ấn tượng về một nền giáo dục nông nghiệp này. Rồi một “Làng Đại học” đã hình thành mang nhiều ý nghĩa, nhưng nay đã khác rồi, đáng tiếc!

Làm sao mà quên được hình ảnh của một Nguyễn Thái Bình thiết tha yêu nước, đã để lại một tấm gương sáng cho nhiều thế hệ.

Ấn tượng về một thời kỳ hòa hợp dân tộc khi đất nước thống nhất. Một sự hòa hợp Bắc Nam tưởng như trong mơ, mà lại có thật và nhân chứng vẫn còn nguyên đó. Ai nấy đều bỡ ngỡ, bỡ ngỡ đến lạ thường. Nhưng mọi chuyện đã trở nên tốt đẹp, chúng tôi đã sống và làm việc như những anh em một nhà sau nhiều năm xa cách, một không khí thân thiện, một cuộc sống cởi mở và cũng rất hồn nhiên đượm chút ngây thơ cũng bắt đầu từ đó.

Tất nhiên có rất nhiều nuối tiếc, nuối tiếc và mãi mãi vẫn là nuối tiếc như nuối tiếc tuổi thơ vậy – nhưng đó là quá khứ. Có ai mà không nuối tiếc quá khứ đâu – âu cũng là điều bình thường. Trong truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du – một đại thi hào không chỉ của Việt Nam có câu “Trải qua một cuộc bể dâu…” Vâng, thật là chí lý!

Ấn tượng về những năm tháng vô cùng khó khăn và gian khổ đã qua.

Rất khó khăn! Nhưng khó khăn đâu phải của riêng ai và thầy trò chúng tôi đã vượt qua tất cả. Thật kỳ diệu! Mà động lực chính đó là tình yêu quê hương đất nước và vì một nền nông nghiệp phát triển, bởi: “Phi Trí bất hưng và Phi Nông bất ổn”. Có ai mà quên được hình ảnh thầm lặng của các bác tài luôn miệt mài với những chiếc xe thật cũ kỹ, anh thủ quỹ hiền lành và dễ thương, các cô lao công nhiều năm tháng cặm cụi chỉ cốt sao giữ cho được ngôi Trường luôn sạch đẹp. Và hôm nay đây, thật là hạnh phúc! Ai cũng biết nơi đây trước kia chỉ là những quả đồi trọc, loáng thoáng có một vài bóng cây. Bây giờ, quang cảnh của Nhà trường đã có dáng dấp của một công viên, một”Campus” như đâu đó ở nước ngoài. Dưới bóng những hàng cây xanh mướt, có đông đảo thầy cô với học trò, luôn rạng rỡ nụ cười trên môi – một bức tranh đẹp đến lạ thường!

Nhìn lại quá khứ chúng ta không thể không không nhắc đến sự đóng góp đáng trân trọng của các bậc đàn anh đó là Thầy Trần Hữu Khối, Phạm Văn Quỳnh, Nguyễn Phan, Bùi Văn Kiên, và tiếp theo ở các khoa, phòng là Thầy Lê Văn Thượng, Trần Như Nguyện, Nguyễn Tâm Đài, Trần Thạnh, Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Lê Minh Triết (khoa Nông học); Thầy Trịnh Ngọc Lan (bộ môn Dâu tằm);Thẩy Đặng Quan Điện, Dương Thanh Liêm, Nguyễn Văn Hanh, Lê Minh Chí, Cô Nguyễn Bạch Trà, Nguyễn Phước Nhuận, Thầy Nguyễn Ngọc Tuân, Đỗ Vạn Thử, Nguyễn Văn Khanh (khoa Chăn nuôi Thú y); Thầy Ngô Bá Thành, Trần Thanh Xuân, Hồ Thanh Hoàng, Cô Nguyễn Lan Phương, Lê Thị Thanh Muốn, Thầy Trịnh Trường Giang (khoa Thủy sản); Thầy Lê Văn Ký, Lê Văn Mười, Phan Hoàng Đồng, Nguyễn Văn Bồng, Phạm Tiến, Lâm Xuân Sanh, Võ Văn Thoan, Hoàng Hữu Cải, Lê Huỳnh (khoa Lâm nghiệp); Thầy Đoàn Văn Điện, Nguyễn Trí Tiến, Nguyễn Hay, Lê Tiến Hoán, Phan Hiếu Hiền, Nguyễn Quang Lộc (khoa Cơ khí Công nghệ); Thầy Trương Hoài Châu, Nguyễn Anh Ngọc, Trần Hậu Trừng (khoa Kinh tế); Thầy Trần Hữu Lương, Ngô Thiện, Cô Nguyễn Thục Oanh, Nguyễn Thị Tiến (khoa Khoa học); Cô Đào Thị Gọn, Thầy Phan Văn Tự, Nguyễn Văn Tân (khoa Quản lý đất đai và Bất động sản), thầy Lê Bình Trị, Cô NguyễnThị Sâm,Thầy Huỳnh Kim Đảnh, Lê Hữu Trung (phòng Tổ chức); Cô Nguyễn Thị Lộc (phòng Tài vụ); Thầy Lưu Trọng Hiếu (phòng Hợp tác Quốc tế); Thầy Nguyễn Thơ, Trịnh Công Thành (phòng Khoa học); Thấy Nguyễn Văn Thuận, Trần Thanh Phong (phòng Đào tạo); Thầy Đỗ Huy Thịnh, Cô Đoàn Thị Huệ Dung (trung tâm Ngoại ngữ); Thầy Bùi Công Đặng, Nguyễn Bá Phú (bộ môn Mác – Lênin), là những người đã từng gánh vác mọi công việc khó khăn trong những ngày đầu khi còn là Trường đại học Nông nghiệp IV.

Rất ấn tượng và tự hào về sự lớn mạnh của Nhà Trường.

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh bây giờ là một trường lớn có 36 ngành đào tạo gồm 61 chuyên ngành khác nhau với gần 20.000 sinh viên. Trường có 824 viên chức, trong đó 67% là giảng viên với 151 tiến sĩ và đa số được đào tạo ở những nước phát triển.

Nhiều thế hệ sinh viên ra trường đã trưởng thành nhanh chóng. Tôi xin phép kể ra đây một số ít đại diện (chỉ một số ít thôi) của nhiều thế hệ khác nhau, âu cũng là niềm tự hào của Nhà trường:

  • Ở lãnh đạo cấp Bộ đó là nguyên các thứ trưởng: Bùi Bá Bổng, Diệp Kỉnh Tần, Bùi Cách Tuyến.
  • Ở lãnh đạo cấp tỉnh có: Đào Tấn Lộc (tỉnh Phú Yên), Phạm s (tỉnh Lâm Đồng), Ma La Điêu, Trương Xuân Thìn, Trần Xuân Hòa (tỉnh Ninh Thuận), Phạm Thị Mỹ Thanh (tỉnh Đồng Nai), Trần Thanh Liêm, Mai Hùng Dũng (tỉnh Bình Dương), Phạm Văn Tòng, Võ Văn Danh (tỉnh Bình Phước), Nguyễn Tăng Bính (tỉnh Quảng Ngãi), Lê Tuấn Quốc (tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu).
  • Lãnh đạo cấp thành phố có Nguyễn Trung Tín, Lê Thanh Liêm (TP. Hồ Chí Minh),Tôn Thiện San, Võ Tấn Hiệp (TP. Đà Lạt).
  • Ở cấp Viện có Bùi Chí Bửu (viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam) Nguyễn Thị Huệ, Trần Thị Thúy Hoa, Lại Văn Lâm, Đỗ Kim Thành, Phan Thành Dũng (viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam). Ở nhiều Viện nghiên cứu khác nữa cũng có sự đóng góp của của những cán bộ được đào tạo tại Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh như Viện Sinh học Nhiệt đới, Viện lúa ô Môn, Viện Cây ăn quả miền Nam, Phân Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Phân Viện Lâm nghiệp miền Nam, Phân Viện Kinh tế kỹ thuật thuốc lá miền Nam, Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, trung tâm Công nghệ sinh học TP. Hồ Chí Minh.
  • Nhiều lãnh đạo các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyện và Môi trường, Sở Kế hoạch – Đầu tư từng là sinh viên của Nhà trường. Ngoài ra còn có nhiều lãnh đạo của các Tập đoàn, Tổng công ty cũng vậy, đó là Tập đoàn Cao su Việt Nam, Tập đoàn Novaland, Nutiood, Nhà máy Đạm Cà Mau,… Thật đáng tự hào!

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh đã có một thời đi đẩu trong phong trào dạy và học tiếng Anh; một trung tâm Ngoại ngữ từng rất có uy tín, có tác dụng chắp cánh cho nhiều cán bộ từ Nam chí Bắc. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh còn là một trong những Trường đầu tiên có quan hệ quốc tế rộng rãi, mở đầu chương trình đào tạo liên kết với Pháp (khối Francophonie), rồi với nhiều nước thuộc Châu Âu, Châu Mỹ, mà Thầy Đặng Quan Điện và Lưu Trọng Hiếu đã có nhiều đóng góp.

Về lĩnh vực khoa học và công nghệ, không thể không nhắc đến khoa Chăn nuôi Thú ỵ một thời đi đầu trong việc sản xuất các loại Premix phục vụ cho chăn nuôi; khoa Cơ khí Công nghệ về máy sấy; khoa Lâm nghiệp về bảo quản và chế biến gỗ; khoa Thủy sản về giống cá và ngày nay đang có chuyên gia rất giỏi về tôm; khoa Nông học về cây công nghiệp và cây ăn quả, nhiều giống sắn, giống khoai lang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận, là những giống chủ lực, được trồng phổ biến hiện nay, mà tác giả là thầy Hoàng Kim. Gần đây có nhiều chế phẩm về Công nghệ sinh học và Chế biến thực phẩm mang thương hiệu của Nhà trường. Còn nhiều và nhiều lắm những điển hình tương tự.

Quay lại với hiện tại của Nhà trường có thầy Bùi Ngọc Hùng (Chủ tịch Hội đồng trường), Thầy Huỳnh Thanh Hùng, Nguyễn Tất Toàn, Trần Đình Lý (Ban Giám hiệu) rồi hàng loạt các Trưởng khoa, các giám đốc Trung tâm được đào tạo bài bản và rất trẻ như thầy Võ Thái Dân (khoa Nông học), Lê Quang Thông (khoa Chăn nuôi Thú y), Nguyễn Như Trí (khoa Thủy sản), Lê Quốc Tuấn (khoa Môi trường và Tài nguyên), Phan Tại Huân (khoa Công nghệ Thực phẩm), Phạm Văn Tính (khoa Công nghệ Thông tin), Nguyễn Thị Mai (khoa Khoa học), Nguyễn Huy Bích (khoa Cơ khí Công nghệ), La Vĩnh Hải Hà (khoa Lâm nghiệp), Bùi Văn Hải (khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản), Nguyễn Bạch Đằng (khoa Kinh tế), Lê Đình Đôn (viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường và bộ môn Công nghệ Sinh học), Vũ Thùy Anh (bộ môn Công nghệ Hóa học), Nguyễn Văn Trọn (bộ môn Lý luận Chính trị), Nguyễn Hoàng Liêm (trung tâm Tin học ứng dụng), Đào Đức Tuyên (trung tâm Ngoại ngữ và khoa Ngoại ngữ – Sư phạm), đang gánh vác những công việc cũng rất nặng nề, thay cho các thế hệ đàn anh.

Bên cạnh các Khoa và Trung tâm còn có một đội ngũ đông đảo cán bộ ở các phòng ban đang hoạt động thầm lặng, nhưng rất năng động có nhiều đóng góp thiết thực và hiệu quả cho Nhà trường đó là Thầy Lê Hữu Khương (phòng Tổ chức Cán bộ), Trần Quốc Việt (phòng Đào tạo), Lê Anh Đức (phòng Đào tạo Sau đại học), Đặng Kiên Cường (phòng Công tác Sinh viên và Trung tâm Hỗ trợ Sinh viên và Quan hệ Doanh nghiệp), Nguyễn Hay và Chế Minh Tùng (Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển), Nguyễn Ngọc Thùy (phòng Hợp tác Quốc tế), Lê Công Trứ (trung tâm Đào tạo Quốc tế), Nguyễn Bảo Quốc (thư viện), Nguyễn Trọng Thể (phòng Hành chính), Nguyễn Văn Minh (phòng Kế hoạch Tài chính), Lê Quang Giảng (phòng Quản trị Vật tư), Lê Mộng Triết (phòng Thanh tra Giáo dục), Lê Văn Sony (Đoàn Thanh Niên), Cô Nguyễn Phú Hòa (phòng Quản lý và Nghiên cứu Khoa học), Hoàng Thị Mỹ Hương (Công đoàn Trường), Võ Ngàn Thơ (phòng Quản lý Chất lượng),… Điều đáng mừng là phần lớn cán bộ quản lý đều có trình độ từ tiến sĩ trở lên.

Có thể nói Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh giờ đây đã có được một đội ngũ cán bộ đủ mạnh để đưa Nhà trường tiến lên. Tôi nghĩ đó là tất yếu và rất đáng tự hào. Tuy nhiên không có gì là ngẫu nhiên, mà cũng chẳng bỗng dưng. Người xưa có câu: “Cây có gốc mới sanh cành nở ngọn Nước có nguồn mới biển cả sông sâu”

Chúng ta vô cùng biết ơn và xin cảm ơn, cảm ơn rất nhiều các bậc đàn anh đã dày công xây dựng nền móng cho hôm nay.

Nguồn: Trịnh Xuân Vũ 2020. Một chặng đường Trong sách Kỷ yếu 65 năm Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh trang 102-104

Phạm Văn Hiền cùng với Tran Van Khai3 người khác. 14 giờ · 25-01 ngày sinh nhật PGS Trịnh Xuân Vũ – Nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.Học trò nhiều thế hệ cùng TT EnHiTech tổ chức mừng sinh nhật Thầy Trịnh Xuân Vũ lần thứ 86 (AL) Kính chúc Thầy mạnh khỏe, vui vẻ và hạnh phúc!

Quyen Mai Van : Cám ơn thầy Hiền đã chia sẽ thông tin ngày sinh vui vẽ cho mình, Thế là.mình sinh 1936 còn thầy Vũ sinh 1937 nhưng chỉ thua mấy tháng thôi, chả thế mà mình tai đã bị điếc còn tai thầy Vũ còn thính lắm. chúc thầy Vũ thầy Hiền vui vẻ hạnh phúc trọn vẹn.

Phạm Văn Hiền: @ Quyen Mai Van dạ Thầy, kính Thầy Mai Văn Quyền, hôm nào tụi em kéo qua mần sinh nhật, hét karaoke là Thầy nghe lại bình thường à! Hì hì! Lâu quá không thấy Thầy gửi hình đời thường vui vui, nhớ Thầy quá chừng! Giữ gìn sức khỏe nghe Sư Phụ!

Kim Hoàng: Kính thầy Quyen Mai Van và thầy Vu Trinh vui khỏe hạnh phúc. Em may mắn trong cuộc đời mình được trực tiếp thọ giáo hai người thầy lớn ở Viện Trường. Thầy Vu Trinh sinh cùng tháng cùng năm 1937 với anh Hai Hoàng Ngọc Dộ của em. Chuyện bây giờ mới kể.

Hai thầy đến nay đang tuyệt vời phong độ trong khi anh Hai em đã mất cách đây 27 năm, vì bệnh ung thư hiểm nghèo, vào nủa đem Rằm Nguyên Tiêu năm 1994 , trong câu chuyện “Gốc mai vàng trước ngõ“. Trước đó, anh Cao Xuân Tài (là bạn em và cũng là học trò của hai thầy đã ghé thăm anh Hai của em. Anh Hai em đã trò chuyện với anh Cao Xuân Tài bạn em trong khi em cùng vài anh em đào huyệt và xây kim tỉnh cho anh ấy. Nhìn anh ấy bình thản chơi với các cháu, em nao lòng rưng rưng. Anh Hai của em dặn em “Dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm”, Và đọc bốn câu thơ “Cảnh mãi theo người được đâu em. Hết khổ hết cay hết vận hèn. Nghiệp sáng đèn giời đà chỉ rõ. Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen”.

Ngày nay, nhìn nụ cười rạng rỡ của thầy Vũ, em lại nhớ về thời xưa, và nhớ những câu chuyện về Thầy “một chặng đường“. Hai Thầy trong lòng em.

Một số hình ảnh
Thầy bạn trong đời tôi

KỶ YẾU KHOA NÔNG HỌC 65 năm thành lập Khoa mời vào đường link để xem chi tiết https://kyyeunonghoc.blogspot.com/2020/11/ky-yeu-ky-niem-65-nam-thanh-lap-khoa.html

VỀ TRƯỜNG ĐỂ NHỚ THƯƠNG
Hoàng Kim


Đại học Nông Lâm thật thích
Bạn thầy vui thật là vui
Sân Trường giảng đường ấm áp
Đường xuân phơi phới tuyệt vời

Hình như mọi người trẻ lại
Hình như người ấy đẹp hơn
Hình như tre già măng mọc
Nắng mai soi giữa tâm hồn.

Thầy bạn trong ngoài thiện nguyện
Về Trường chia sẻ động viên
Trang sách trang đời lắng đọng
Yêu thương bao cuộc đời hiền

Thầy bạn ngày vui hẹn gặp
Lời thương mong ước bình an
Tình khúc Nông Lâm ngày mới
Sức xuân Tự nguyện Lên đàng

Thay ban trong doi toi 7

Thay ban trong doi toi 1a

Thay ban trong doi toi 1b
Thay ban trong doi toi 4
Thay ban trong doi toi 6

Vuon Quoc gia o Viet Nam 2

Thay ban trong doi toi 999
Thay ban trong doi toi.8


Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) – Thanh Thúy
Volga Xinh Đẹp – Trần Thu Hà – Tình khúc Nga bất hủ – YouTube
https://www.youtube.com/watch?v=_8SVl1bOLYY
Ban Mai
KimYouTube

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích (đọc lại và suy ngẫm)
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Đặng Thái Sơn đọc và ngẫm

ĐẶNG THÁI SƠN ĐỌC VÀ NGẪM
Hoàng Kim

Đặng Thái Sơn nói: “Bố tôi bảo sự cô đơn phải toàn phần thì mới sinh năng lượng, cô đơn cho người ta sự tập trung làm một điều gì đấy” Báo Tuổi trẻ ngày 19 tháng 1 năm 2021 ở chuyên mục văn hóa, có bài viết và hình ảnh về nghệ sĩ Đặng Thái Sơn.

Đọc và ngẫm lời tâm sự của ông:

* “Ông trời” cho ông một sự nghiệp âm nhạc đáng ngưỡng mộ ở tầm thế giới, vậy “ông ấy” đã lấy đi của ông thứ gì?-

Cái giá đầu tiên phải trả với tôi có lẽ là sự đau khổ của bố tôi. Ngày tôi mang giải Chopin về, tôi lao vào ôm ông khi ông đang gần chết vì ốm mà không được chữa bệnh. 10 năm sau thì tôi không thể về khi bố tôi mất.

Cái giá thứ hai có lẽ là sự cô đơn toàn phần. Nhưng khổ nỗi là tôi lại không hề đau khổ, dằn vặt, tìm cách trốn thoát khỏi hoàn cảnh ấy. Mọi người chắc rất khó chịu nếu phải đưa đi cách ly hai tuần khi nhập cảnh về nước vừa qua, nhưng tôi lại thấy cực kỳ sung sướng.Tôi chỉ cần có cây đàn bên cạnh, và WiFi nữa, chứ bây giờ mà không có WiFi thì chết đấy nhở (cười lớn), và đều được đáp ứng. Ở khách sạn cách ly, tôi được ưu ái cho lên tầng trên cùng, một phòng rộng rãi, có ban công, với hai cây đàn cho ban ngày và ban đêm. Tôi không cần đàn bà, không cần đàn ông, chỉ cần mỗi cây đàn”.

Đặng Thái Sơn có tấm lòng nhân hậu bao dung tài năng và trí tuệ lớn. Hiểu là lời cảm ơn sâu sắc nhất.

Tôi cũng nhớ lại sâu sắc lời các con tôi vừa nhắc lại ngày hôm qua, và lời nhận định của bạn quý Chiêm Lưu Huy “xã hội coi trọng học vấn là xã hội cầu thị”. Các con Hoàng Kim đều đồng tình với lời dặn của bố mẹ dạy con lúc còn nhỏ “hiếu thảo, lễ phép, chăm học, chăm làm”, lời khuyên con khi lớn lên “cuộc sống, tình yêu, sự nghiệp” “phúc hậu, minh triết, tận tâm” “an nhàn vô sự là tiên” . Giấc mơ lành yêu thương.

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm trao đổi cùng với Hoàng Kim3 người khác ngày.23 tháng 1 lúc 05:31 đã nhận xét: Một gia đình Việt Nam dầy công trạng. Nghệ sĩ Đặng Thái Sơn & Gia đình. Đặng Thái Sơn cả thế giới biết đến; nước ta thêm rạng ngời thì đã hẳn. Qua bài này được biết đại gia đình anh với những người lừng lẫy. Anh tâm sự: “Kể những chuyện này để hiểu bối cảnh mà những vần thơ, bức họa rất mới mẻ ra đời trong thời đại của bố tôi rất khó khăn, nhưng tôi không bao giờ nhìn một cách đen tối. Đó chỉ là thời kỳ quá độ. Và ngay cả trong thời kỳ kham khổ ấy thì cũng vẫn có rất nhiều những ân tình đẹp đẽ.Tôi không vì ích kỷ cá nhân mà bán những giá trị của mình. Tôi đã lựa chọn vẫn tự do sống theo cách của mình nhưng không được ảnh hưởng đến ai. Tôi là kiểu người không thích xung đột, chiến tranh. Nếu tôi làm cú sốc trên thì có thể rất tốt cho sự nghiệp của tôi nhưng nó không những ảnh hưởng đến gia đình, đến bố tôi, mà thậm chí tôi thấy nó như là một sự phản bội đất nước. Tôi không bao giờ làm thế”.

Một tài năng kiệt xuất, một tâm hồn cao thượng mới có tầm nhìn khách quan và sáng suốt với đất nước và con người Việt Nam như vậy. (NTS 13.1.2021).

Đọc lại và suy ngẫm
CHIÊM LƯU HUY BẠN TÔI
Hoàng Kim

cám ơn anh Chiêm Lưu Huy MƯỜI NĂM Ở BẠC LIÊU ký ức lắng đọng.

Băng qua hồ lục bình dày đặc, rộng từ 20 đến 50, có chỗ 60 mét; dài hơn nửa cây số là 4 chủ đất rộng hẹp, dài ngắn khác nhau. Trong đó, tôi sở hữu hơn 1.500 mét vuông (27 m x 56 m) ở cuối khu đất ấy. Đầu những năm 1990s thị xã Bạc Liêu giải phóng mặt bằng làm công viên Trần Huỳnh. Không kể nhà và cây cối, diện tích đất và mặt nước áp giá đền bù theo tinh thần đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Đây cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp khiến tôi dời Bạc Liêu lên Sài Gòn. Coi như một lần đời gặp cơn gió bụi…!

Tôi lặng lẽ đọc ký ức của anh không khen, không chê, chỉ thầm lặng đọc. Đến chương 141, tôi nhớ về ‘Một cơn gió bụi‘ và viết đôi lời này.

Cuốn Hồi ký ‘Một cơn gió bụi’ do Trần Trọng Kim (1883–1953) viết năm 1949 Chương 1. Cuộc đời yên lặng và vô vị. Sau 31 năm làm việc trong giáo giới, trải làm giáo sư ở trường Trung Học Bảo Hộ và … tới tâm tình của ông trong giai đoạn này. “Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào đảng phái nào cả, mà cũng không hành động gì về phương diện chính trị. Ngoài những lúc làm những công việc hàng ngày phải làm, khi rỗi rãi gặp những bạn thân, nói đến chuyện thiên hạ sự và việc nước nhà, thì tôi cũng nói chuyện phiếm và mong cho nước nhà chóng được giải phóng”.

Tôi cũng đã từng lặng mình trước lời dặn của cụ Trạng Trình “Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện. (Trung Tân quán bi ký, 1543)” “Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568).

Người lành thường lưu lại những điều đáng đọc. “Mười năm ở Bạc Liêu” dường như là điều lưu lại tâm đắc nhất của anh và mình thích. Xin được chép về và nói đôi lời.

Tài liệu dẫn

MƯỜI NĂM Ở BẠC LIÊU [Chương 141]
*
1
Thời gian này (tháng 9.2019), Bạc Liêu đang kêu đấu giá quyền xử dụng khu đất 44.000 mét vuông với giá 205 tỷ đồng để xây dựng trung tâm thương mại dịch vụ và nhà ở cao cấp. Có thể nói đây là khu đất đẹp còn nguyên vẹn trên địa bàn phường 7…!
Nguyên khu đất ấy, thời MƯỜI NĂM Ở BẠC LIÊU (1982 – 1992) tôi được biết thì nó thuộc về Trường bổ túc văn hóa công nông 1, tỉnh Minh Hải (gồm Bạc Liêu và Cà Mau sát nhập lại thời bấy giờ). Trước đó nữa nó là khu gia binh của quân đội Việt Nam cộng hòa. Hơn chục dãy nhà, mỗi dãy hơn chục căn hộ cấp 4, chung tường xây gạch, mái thấp lợp tôn, có hàng ba làm lối đi liền lạc nối tiếp nhau từ trong khu gia binh ra ngoài thị xã. Tôi còn nhớ, phía giáp với Trường bổ túc văn hóa công nông 3 (cũng là khu gia binh nhưng dành cho sĩ quan) có nhà thờ to, rộng cho binh sĩ và vợ con họ cầu nguyện, trước sân có cột cờ, lại có đường đá đủ rộng cho xe nhà binh tự do hoạt động thông suốt từ đầu đến cuối khu đất. Băng qua hồ lục bình dày đặc, rộng từ 20 đến 50, có chỗ 60 mét; dài hơn nửa cây số là 4 chủ đất rộng hẹp, dài ngắn khác nhau. Trong đó, tôi sở hữu hơn 1.500 mét vuông (27 m x 56 m) ở cuối khu đất ấy. Đầu những năm 1990s thị xã Bạc Liêu giải phóng mặt bằng làm công viên Trần Huỳnh. Không kể nhà và cây cối, diện tích đất và mặt nước áp giá đền bù theo tinh thần đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Đây cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp khiến tôi rời Bạc Liêu lên Sài Gòn. Coi như một lần đời gặp cơn gió bụi…!
Do MƯỜI NĂM Ở BẠC LIÊU, lại có nhà cửa, ao vườn nằm gọn trong khu đất ấy mà tôi biết toàn bộ nước mưa trong lưu vực bao quanh bởi đường Võ Thị Sáu, Trần Phú, Giao thông (trước sở giao thông Minh Hải xây trụ sở đồ sộ nhất khu vực đó và mở đường, nên dân quen miệng gọi vậy – giờ mở rộng ra mang tên Trần Huỳnh) gần như tập trung về đây. Tôi còn nhớ, những trận mưa lớn, kéo dài vào ngày 3.10 âm lịch hàng năm (Dân Bạc Liêu cố cựu than trời : “Ông tha, bà không tha… Đánh một trận, mùng ba tháng mười”; khu gia binh gần như chìm trong biển nước. Nền nhà tôi và gốc hàng dừa cao cũng lé đé nước lên.

2
Viết dài dòng chuyện 37 năm về trước (1982 – 2019) như vậy để mong giờ đây, nếu Bạc Liêu quy hoạch khu đất vàng ấy thành trung tâm thương mại dịch vụ và nhà ở cao cấp thì chú ý xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng hài hòa. Tuyệt đối không tham lam diện tích phủ kín bê tông, bằng mọi giá giữ hồ điều tiết nước mưa. Tuân thủ nguyên tắc tiêu úng tại chỗ, tại rốn nước – tại vùng trũng. Kết hợp trồng cây xanh lâu năm. Nói đơn giản là “nửa đào nửa đắp”. Lấy đất vượt nền bao nhiêu thì để dành bằng ấy diện tích làm hồ chứa nước mưa thiên nhiên bấy nhiêu. Kiên quyết không phá vỡ cân bằng sinh thái. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch. Có thống nhất cao như thế mới có TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ NHÀ Ở CAO CẤP theo nghĩa đích thực của cụm mỹ từ sáng giá này.

3
Hiện nay hễ mưa to, gặp triều cường là thành phố Bạc Liêu có nguy cơ ngập lụt cục bộ. Hy vọng người Bạc Liêu không lặp lại bài học không muốn coi là sai lầm – bê tông hoá quá đáng thêm lần nào nữa…! Mong lắm thay…!!!

.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
Giúp bà con cải thiện mùa vụ
Quà tặng cuộc sống yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Từ Hiếu với người hiền

TỪ HIẾU VỚI NGƯỜI HIỀN
“nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên” (cổ ngữ)
Hoàng Kim

Về quê lần trước ghé thăm đây.
Cầu Hiểu cầu Thương níu bạn thầy.
Thơ thiền Nhất Hạnh tìm gốc cũ.
Mặt trời từng hạt chính nơi này.

Hoàng Kim nhớ lần trước ra Huế đến thắp hương Nam Giao và chùa Từ Hiếu, cội nguồn của hiếu sinh. Lần khác có viếng thăm chúa Nguyễn Hoàng ở lăng Trường Cơ, tọa lạc tại xã La Khê, huyện Hương Trà, nay là làng La Khê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, và viếng thăm Thiên Thụ Sơn, vùng cây trên 2000 ha mà triều Nguyễn dày công mang kỳ hoa dị thảo cả nước về trồng ở chốn kinh kỳ để lưu dấu những hoài niệm.

Thật may mắn những lần được uống trà ban mai tĩnh lặng tại Từ Hiếu, được lắng nghe những lời dạy thân thiết và những trang văn uyên áo của người Thầy, được tĩnh lặng chứng ngộ pháp môn “cười” và pháp môn “phật giáo dấn thân”. Đời trãi ngộ lắm, thấm thía lắm, sâu sắc lắm mới có được những bài thi kệ thật hiếm có, trân quý như ngọc cho đời “Sinh Tử, cầu Hiểu cầu Thương, Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt” “Đường xưa mây trắng” “Việt Nam Phật Giáo sử luận” “Thả một bè lau”

Đời người hiếm có những dịp may được cùng những người thân chọn về đây, nói chuyện về các điều tâm đắc và lắng nghe trang đời, trang sách, cổ vật trò chuyện Từ Hiếu với Người Hiền xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tu-hieu-voi-nguoi-hien/
Đêm thiêng tưởng nhớ Thầy.
#cnm365 #cltvn An nhiên

CẢM ƠN THẦY NGỌN LỬA
Bạch Ngọc Hoàng Kim


Cảm ơn Thầy ngọn lửa
Cười nụ và dấn thân
Cầu Hiểu tới cầu Thương
Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh; Từ Hiếu với người hiền; https://hoangkimvn.wordpress.com/2022/01/22/tu-hieu-voi-nguoi-hien/ Sự nhẫn nhục tuyệt đối https://youtu.be/jyaZuR3vj2o;

Chùa Bửu Minh: một số hình ảnh của Lễ nhập kim quan của Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhất Hạnh (tại Tổ đình Từ Hiếu, Huế) https://www.youtube.com/watch?v=t04xsspfQlM

Bài phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dặn dò …

*

Nhớ kỷ niệm một thời

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tu-hieu-nho-nguoi-hien-5.jpg

LỜI THẦY DẶN THUNG DUNG
Hoàng Kim
tặng TM Ngày Hạnh Phúc của em

Mẹ lần đầu ra Huế
Cha Mẹ về mừng con
Chốn thị thành vinh hiển
Con hạnh phúc trăm năm

Huế núi Ngự sông Hương
Thăm thẳm một tầm nhìn.
Thiên Mụ, Từ Hiếu, Nam Giao
“Rùa ơi’ thương đội bia Tiến sĩ

Ngày Hạnh Phúc con biết ơn
Bao người thân hi sinh thầm lặng
Cha Mẹ người thân là động lực
Cho đồng xuân mãi mãi xuân

Tagore bậc hiền triết phương Đông:
Hãy cảm ơn ngọn đèn tỏa sáng,
nhưng chớ quên người cầm đèn
đang kiên nhẫn đứng trong đêm


Vui với chốn dân quê thuần phác
Sống thung dung trời đất cỏ cây
Vinh danh được Học Làm Người
Chí thiện công tâm phúc hậu.

Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm
Hoàng Thành tới Trúc Lâm
Mừng Phước Đức ghi ơn.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tu-hieu-nho-nguoi-hien-1.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tu-hieu-nho-nguoi-hien-2.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tu-hieu-nho-nguoi-hien-3.jpg

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

“Thung dung cùng với cỏ hoa. Thỏa thuê đèn sách, nhẫn nha dọn vườn”. Cám ơn Trung Trung đã sửa lại câu thơ trên hay hơn và sâu sắc hơn “Thỏa thuê cùng với cỏ hoa.Thung dung đèn sách nhẫn nha dọn vườn”, mình đã sửa lại. Đó là triết lý nhân sinh “Ta về sống giữa thiên nhiên” của một đội ngũ các nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ đã chấp nhận trọn đời sống với ruộng đồng và chén cơm ngon của người dân. Tình yêu cuộc sống thể hiện trong ý tứ ‘thung dung’ đứng đầu câu thơ, lựa chọn cỏ hoa, thiên nhiên, chân quê làm khởi nghiệp. Sự nghiệp ấy gắn liền với cả một đời, một nghề, để sau này nhìn lại. “Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) “Thanh nhàn vô sự là tiên” trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước. Cám ơn bạn về ý THUNG DUNG, mình đưa ý này lên đầu dòng https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

(*) Hình ảnh và chuyện vui chép trong ghi chú: Nhớ kỷ niệm một thời là hôm trước Viện trưởng Trần Thế Thông đưa Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu lên thăm Hưng Lộc thì. ngay hôm sau đó, Pham Sy Tan và Đặng Kim Sơn lại cùng thầy Quyen Mai Van và ông Carangal lên Trung tâm Hưng Lộc trao đổi và bàn chuyện hợp tác phát triển Chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam. (Hình trên là GSTS V. R. Carangal IRRI, người áo đỏ, bìa trái, đang trao đổi trên đồng ruộng với GSTS Mai Văn Quyền IAS, thứ hai phải qua,, TS. Đặng Kim Sơn CLRRI & IPSARD, TS. Phạm Sĩ Tân, CLRRI và TS Hoàng Kim cùng bàn về sự hợp tác IRRI và Việt Nam trong chương trình liên kết nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác). Tôi khi đó đã kể lại câu chuyện về ‘xếp’ Thông và cụ Trìu vừa lên thăm hôm qua, và trả lời Sơn, kể chuyện “Ấn tượng Borlaug và Hemingway” với sự đồng cảm thật sâu sắc. “Norman Borlaug nhà khoa học xanh”, “Lời Thầy dặn” thật thấm thía “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. Nhớ kỷ niệm một thời không thể nào quên. Đặng Kim Sơn hỏi : Cậu ấn tượng nhất chuyên gì trong chuyến đi học CIMMYT mới đây? Tôi cười nói :”Ấn tượng Borlaug và Hemingway” “Năm tháng ở CIMMYT” . Chuyện “Norman Borlaug nhà khoa học xanh” thầy tới thăm tôi ở nhà riêng là không thể quên. Tôi đọc bốn câu thơ cho thầy Quyen Mai Van, với các bạn Đặng Kim Sơn, Pham Sy Tan cùng nghe và, bất ngờ giáo sư V R Carangal rút bút ra ghi và nói lời đồng cảm.

Đến Huế và Từ Hiếu


THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

với Trần Ngọc Ngoạn, Van Quyen Mai, Hieu Nguyenminh, Mai Trúc Nguyễn Thị tại Vĩ Dạ Xưa đêm thiêng tháng Bảy mưa ngâu giấc mơ hạnh phúc. Tháng Bảy năm 2017 có điều kỳ diệu 5 ngày thứ Bảy, 5 ngày Chủ nhật và 5 ngày Thứ Hai mà theo Lịch Vạn Niên thì 823 năm mới lặp lại một lần. Đây là “nhóm ngày may mắn” để hành thiện những việc đặc biệt tốt đẹp đầy đặn yêu thương. Thầy bạn trong đời tôi là chùm hình ảnh và bài viết chuyện đời tự kể https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Ngày 14 &15 tháng 7 là ngày đặc biệt. Hồi tưởng lại còn có hai câu chuyện khác. Đó là ngày Nhớ cụ Nguyễn Ngọc TrìuThầy bạn trong đời tôi của thời điểm này tại năm 1987.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một danh nhân (Cụ mất ngày 9/7/2016, đưa tang ngày 14/7/2016) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”. Hình trên là Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”. Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất, vang bóng một thời..

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông Lâm Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ. Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm” .Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.

(

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu cũng có đến thăm bạn học của tôi là Đinh Thế Lữ (Hoàng Kim với Pham Sy Tan học chung một lớp Trồng trọt 4, chung giường tầng giường dưới giường trên. Tôi học chung lớp Đinh Thế Lữ lớp Trồng trọt 10 sau khi bộ đội sáu năm và cùng chung lớp tiến sĩ với Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng….Hình ảnh 3 từ trái qua phải: ô Nguyễn Quốc Tuấn PCT nguyên Viên trưởng Cây lương thực. Ô Ngô Thế Dân CT nguyên Thứ trưởng TT Bộ NN & PTNT, Bà Thanh, Ô Nguyễn Ngọc Trìu nguyên Bộ trưởng NN. PCT Hội đồng Bộ Trưởng (Phó Thủ Tướng CP). Ô Lữ. O Bùi Sỹ Tiếu PCT TT nguyên Bí thư TƯ Thái Bình Phó Trưởng Ban TW Đảng) Cụ Nguyễn Ngọc Trìu trước là Chủ tịch Hội Làm Vườn, sau mới đến GS Ngô Thế Dân. Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/

TA VỀ VỚI ĐỒNG XUÂN
Hoàng Kim

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui ở lại ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thung dung cùng với cỏ hoa
Thỏa thuê đèn sách, nhẩn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi

Ung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta về sống giữa thiên nhiên
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Bài viết này liên quan tới thời điểm của các hình ảnh (1987-1991) Nhớ cụ Nguyễn Ngọc Trìu https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/ ; Nhớ kỷ niệm một thời xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thìch

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Đại tuyết trên Hoàng Hà

ĐẠI TUYẾT TRÊN HOÀNG HÀ
Hoàng Kim


Đại tuyết trên Hoàng Hà
Đông qua rồi xuân tới
Chiếu đất ở Thái An (*)
Rồng giữa mùa biến hóa

Lên Thái Sơn hướng Phật
Giống khoai Hoàng Long
Lúa siêu xanh Việt Nam
Chiếu đất ở Thái An

Hồ Khẩu trên Hoàng Hà
Đại tuyết thành băng giá
Thế nước và thời trời
Rồng giữa mùa biến hóa.

Tuyết rơi trên Vạn Lý
Trường Thành bao đổi thay
Ngưa già thương đồng cỏ
Đại bàng nhớ trời mây.

Nguyễn Du trăng huyền thoại
Đi thuyền trên Trường Giang
Kho báu đỉnh Tuyết Sơn
Tô Đông Pha Tây Hồ

Ngày xuân đọc Trạng Trình
Ngày mới vui xuân hiểu
Lên đỉnh Thiên Môn Sơn
Hoa Mai thơ Thiệu Ung

Huyền Trang tháp Đại Nhạn
Đến Thái Sơn nhớ Người
Khổng Tử dạy và học
Đỗ Phủ thương đọc lại

Trung Quốc một suy ngẫm
Kim Dung trong ngày mới
Quảng Tây nay và xưa
Đi bộ trong đêm thiêng

Đường trần thênh thênh bước
Đỉnh xanh mờ sương đêm
Hoàng Thành Trúc Lâm sáng
Phước Đức vui kiếm tìm.

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay.

xem tiếp Chiếu đất ở Thái An Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/…/chao-ngay-moi-21-thang-1/

ĐẠI TUYẾT TRÊN HOÀNG HÀ
Hoàng Kim


Cuộc cờ Đỏ đi trước
Kết cuộc ai thắng đây?
Đại tuyết trên Hoàng Hà
Đông qua rồi xuân tới

Hieu Nguyenminh Pháo tướng 2 lần, song xe.😛😛

Hoàng Kim @ Hieu Nguyenminh. Pháo tướng lần 1, xe đen ăn pháo; Pháo tướng lần 2, xe đen cản xe đỏ.😁😘 chống nước chiếu tướng của Thương thư Bộ Học Hieu Nguyenminh ĐẠI TUYẾT TRÊN HOÀNG HÀ Hoàng Kim Đại tuyết trên Hoàng Hà Đông qua rồi xuân tới Chiếu đất ở Thái An Rồng giữa mùa biến hóa

Hieu Nguyenminh @ Hoàng Kim xe đỏ chiếu tướng, xe đỏ ăn xe đen.

@Hieu Nguyenminh Trúc Mai tốt đen chiếu tướng đỏ, buộc mã đỏ phải ăn tốt đen; Pháo đen chiếu tướng đỏ. Quân đỏ thua nếu đi nước cờ xe đỏ ăn xe đen của Thương thư Bộ Học Hieu Nguyenminh🤣😂.CHỌN GIÔ!NG SẮN KHÁNG CMD, đỏ bảo tồn và phát triển bền vững, đỏ bồi dục tốt, chống trộn lẫn giống xanh/ đen không rõ nguồn gốc và dễ mẫn cảm bệnh, thì mới an toàn và thịnh vượng được. http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-22-thang-1/

CHIẾU ĐẤT Ở THÁI AN
Hoàng Kim


Tỉnh thức lên Thái Sơn
Thung dung ngủ cội tùng
Chiếu đất ở Thái An
Đêm thiêng chào ngày mới

Ai uống rượu Hàm Hanh
Lòng tưởng nhớ Lỗ Tấn (*)
Ta mang rượu Thái Sơn
Ngon xách về chẳng dễ

“Núi cao ta trồng
Đường rộng ta đi
Tuy đích chưa đến
Nhưng lòng hướng về”


Lên Thái Sơn hướng Phật
Về ngủ bên cội tùng
Trải một cơn gió bụi
Thoáng chốc ba mươi năm

THÁI AN NÚI THÁI SƠN

Thái An là nơi trung tâm quần thể du lịch Thái Sơn. Tôi xách rượu Thái Sơn và khoai lang Hoàng Long (hình) định mang về Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh để làm quà cho thầy bạn quý. Trong ảnh phía sau lưng tôi là gốc tùng nơi Hoàng Long và tôi đã nằm ngủ suốt đêm qua ngoài trời vì không thể thuê được nhà trọ. Trung Quốc luật lệ hiện thời yêu cầu khách ngoại quốc phải ngủ ở những khách sạn được phép tiếp nhận người nước ngoài nên người lái xe taxi tuy đã cố gắng chạy lòng vòng tìm kiếm suốt hơn 90 phút nhưng vẫn không thể giúp được. Tôi sau khi lên ga Thái An của đường sắt cao tốc Sơn Đông Bắc Kinh về cửa khẩu sân bay thì món đặc sản quý giá rượu Thái Sơn lại không được mang về. Mặc dầu chúng tôi có đầy đủ phiếu hàng giấy tờ cần thiết nhất để minh chứng rượu được mang đi chứ không phạm lỗi ‘mang chất lỏng lên máy bay’. Tôi đã cố gắng hết sức giải thích tôi là thầy giáo nông học Việt Nam từng tới Sơn Đông từ thuở xưa ba mươi năm trước và nay thăm lại chốn cũ, nhưng vẫn không thể mang rượu về. Tôi đã tặng lại số quà này cho các bạn hải quan ở cửa khẩu bên đó.

Tấm hình này là Giáo sư viện sĩ Zhikang Li nhà di truyền chọn giống cây trồng hàng đầu Trung Quốc, IRRI và Thế giới, nhà khoa học chính của Dự án IRRI Green Super Rice GSR với Phó Giáo sư Tiến sĩ Tian Qing Zheng là Trưởng nhóm nghiên cứu GSR vùng Châu Á và Châu Phi, quản lý nguồn gen lúa gạo GSR của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc, Bắc Kinh, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.  Tôi đã tâm đắc nói với thầy Li và thầy Zheng: “Khoai Hoang Long, Lúa Siêu Xanh, Núi Thái Sơn là ba điểm đến yêu thích nhất của tôi tại đất nước Trung Hoa“. “Tôi bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu của mình bằng giống khoai Hoàng Long và lấy tên khoai Hoàng Long đặt tên cho con trai Hoang Long của mình. Con trai tôi bắt đầu sự nghiệp của cuộc đời con bằng lúa siêu xanh, học và sau 9 năm làm việc cùng hai Thầy nay đã thành tựu. Hai cha con tôi trước khi về nước sẽ lên núi Thái Sơn hướng Phật đêm trăng rằm Phật Đản 2018 ở đất nước Trung Hoa”.

Thái An núi Thái Sơn, tôi lưu lại hình ảnh và câu chuyện suy ngẫm về chuyến đi Lên Thái Sơn hướng Phật, một sự lắng đọng tiếp nối Giống khoai lang Hoàng Long

Tôi có 17 ghi chú nhỏ (Notes), mỗi ghi chú là một đường link, được chép chung trong bài “Lên Thái Sơn hướng Phật” ghi lại TRUNG QUỐC HỌC TINH HOA, là những ký ức về các chuyến du khảo Trung Hoa của đời tôi tạm coi là một nhận thức luận của riêng mình. Ngoài ra còn có bài nghiên cứu lịch sử Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình. Trung Quốc có nhiều nơi hiểm trở, núi cao vọi và sông vực sâu thẳm quanh co, hạng người có đủ cả chí thiện và cực ác, gợi nhớ Nguyễn Du trăng huyền thoại, nay xin lần lượt chép tặng bạn đọc.

LÊN THÁI SƠN HƯỚNG PHẬT Hoàng Kim và Hoàng Long Đường trần thênh thênh bước/ Đỉnh xanh mờ sương đêm/ Hoàng Thành Trúc Lâm sáng/ Phước Đức vui kiếm tìm/.
Lên Thái Sơn hướng Phật/ Chiếu đất ở Thái An/ Đi thuyền trên Trường Giang/ Nguyễn Du trăng huyền thoại/ Khổng Tử dạy và học/ Đến Thái Sơn nhớ Người/ Kho báu đỉnh Tuyết Sơn/ Huyền Trang tháp Đại Nhạn/ Tô Đông Pha Tây Hồ/ Đỗ Phủ thương đọc lại/ Hoa Mai thơ Thiệu Ung/ Ngày xuân đọc Trạng Trình/ Quảng Tây nay và xưa/ Lên đỉnh Thiên Môn Sơn/ Ngày mới vui xuân hiểu/ Kim Dung trong ngày mới/ Trung Quốc một suy ngẫm

Hoàng Kim

(*) Ghi chú trích dẫn
UỐNG RƯỢU Ở QUÁN HÀM HANH
Trần Quang Đạo

Nằm mơ cũng không có được
mà chiều nay tôi đang ở Hàm Hanh
nâng chén rượu nghĩ về người xưa cũ
hồn đã lâng châng mây trắng mơ màng.

Như mới đây thôi Lỗ Tấn vừa đi
một hình tượng lóe lên Người về bắt giữ
những con chữ nối nhau như bước chân Khổng Ất Kỷ
đi vào trí tưởng của triệu triệu con người.

Như mới đây thôi Khổng Ất Kỷ vừa ngồi
những hạt đỗ xanh còn vãi vương trên đất
chiếc mũ ông để quên ai đó treo lên vách
ông sẽ trở lại thôi và tôi đã ngồi chờ.

Men rượu thơm lan tỏa tận hồng cầu
người xưa ơi cho tôi cúi đầu xin chạm chén
những anh tài mỹ nhân vạn thuở đầy chinh chiến
Hàm Hanh rượu ngon chỉ lối hẹn hò.

Thi Thánh của Trung Hoa. Đại Vũ vị vua tài
Tây Thi thôn Trữ La bên suối ngồi giặt lụa…
ôi Thiệu Hưng tôi không còn mơ nữa
và Hàm Hanh có thực với tôi rồi.

Say ở Hàm Hanh là lãi với cuộc đời
Hồng Nữ Nhi thơm vào chiều mê đắm
nâng chén rượu, ô kìa đêm xuống!
trăng như mắt người xưa sóng sánh cốc thơm lừng…

Hàm Hanh (Triết Giang, Trung Quốc) Thu 1998
Xem lời bình thơ Lê Quang Vinh

MỘT NIỀM TIN THẮP LỬA
Hoàng Kim

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này giao lại cho em.

Có một mùa xuân hạnh phúc
Ơn mẹ cha lam lũ sớm hôm
Thương con vạc gọi sao mai dậy sớm
Một niềm tin thắp lửa giữa tâm hồn.

Bước tiếp bước giữa trường đời gian khó
Học làm người lao động siêng năng
Rèn nhân cách vượt lên bao cám dỗ
Đức và Tài tử tế giữa Nhân Dân.

Congviecnaytraolaichoem
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 1-mot-niem-tin-thap-lua-1a.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là mot-niem-tin-thap-lua-9.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là mot-niem-tin-thap-lua-7.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là 1-mot-niem-tin-thap-lua-7.jpg

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh

thichnhathanh

THƠ THIỀN THÍCH NHẤT HẠNH
Hoàng Kim

Tôi lắng lòng mình trong thơ họa của thiền sự Thích Nhất Hạnh và chợt tỉnh thức chứng ngộ về Sinh Tử, cầu Hiểu cầu Thương, Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt

Thầy Thích Nhất Hạnh là một thiền sư, giảng sư, nhà hoạt động xã hội và người vận động cho hòa bình, nhà văn, nhà khảo cứu khoa học nhân văn và lịch sử văn hóa xã hội, nhà ngôn ngữ, nhà thơ, nhà thư pháp. Thiền sư Thích Nhất Hạnh là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai trên thế giới sau Đạt Lai Lạt Ma 14.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh tên húy là Nguyễn Xuân Bảo, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926  tại Thừa Thiên Huế, miền Trung Việt Nam, xuất gia theo Thiền tông vào năm 16 tuổi tại chùa Từ Hiếu, trở thành nhà sư năm 1949. Ngày 1 tháng 5 năm 1966, thiền sư Thanh Quý Chân Thật trao ấn khả cho Thích Nhất Hạnh tại chùa Từ Hiếu để trở thành thiền sự và chân truyền làm Tổ nhánh Từ Hiếu đời thứ 8 dòng Liễu Quán đời thứ 42 của phái thiền Lâm Tế Dhyana (cùng hệ phái tu đạo của học giả Nguyễn Hiến Lê, mời xem Nguyễn Hiến Lê sao sáng trời Nam).

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã bảo tồn và phát triển những nhận thức sâu sắc từ truyền thống Phật giáo Đại thừa, phương pháp truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ, phối hợp với các phát kiến của ngành tâm lý học đương đại phương Tây để phát triển dòng tu Tiếp Hiện và đưa thông điệp “Phật giáo dấn thân” (engaged Buddhism) ra thế giới.

ThoThienThichNhatHanh

NỤ CƯỜI THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH chứng ngộ của thầy Thích Giác Tâm trân quý như ngọc “Người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam dạy quần chúng Phật tử tu hành bằng pháp môn cười, để kết nối mọi người lại với nhau, cười được là chúng ta sẽ đến được với nhau, cho dù có khác nhau về chính kiến, ý thức hệ, tôn giáo, chủng tộc… Và khi đã đến được với nhau rồi thì cuộc đời này sẽ đẹp hơn, vui hơn, an lạc hơn“. thầy Thích Giác Tâm nhận xét. “Sư Ông hướng dẫn đệ tử mình thực tập cười bằng một bài thi kệ: Thức dậy miệng mỉm cười. Hăm bốn giờ tinh khôi. Xin nguyện sống trọn vẹn. Mắt thương nhìn cuộc đời“.

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh có những tiếp hiện nhân văn, sâu sắc, uyên áo lạ thường. Những câu thơ hay như “chân hôn mặt đất, mắt ôm trời” ‘tháng tư đồng nội trăm hoa nở/ mong ước ôm đầy hai cánh tay/ sắc xuân rực rỡ trời phương ngoại/ thơ hát yêu thương rộng tháng ngày”… là sự thăng hoa của trí tuệ, tự thấm vào lòng người đọc.

Ba bài thơ hay “Sinh Tử”, “cầu Hiểu cầu Thương”, “Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt” là sự tỉnh thức, tâm đắc và yêu thích của tôi.

SINH TỬ

Thích Nhất Hạnh

Sinh sinh sinh tử sinh
Tử sinh sinh tử sinh
Tử sinh sinh, sinh tử
Tử sinh tử, sinh sinh.

CẦU HIỂU, CẦU THƯƠNG

Thích Nhất Hạnh

Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương
Sông núi trông ra đẹp lạ thường
Về tới quê xưa tìm gốc cũ
Qua rồi cầu Hiểu, tới cầu Thương.

THƠ TỪNG ÔM VÀ MẶT TRỜI TỪNG HẠT

Thích Nhất Hạnh

Nắng trên không gian và thơ trên nắng
Thơ làm ra nắng nắng ra thơ
Mặt trời cất chứa trong long trái khổ qua mùa đông,
trong khi bên ngoài gió hú
Thơ theo gió đi về cồn xưa bãi cũ
Mái tranh nghèo còn đứng đợi ven sông
Thơ nơi từng giọt mưa Xuân
Thơ trong từng đốm lửa hồng
Nắng cất chứa trong long gỗ thơm
Khói ấm đưa thơ về trên trang ngoại sử
Nắng vắng trong hư không,
nhưng nắng chất đầy một lò sưởi đỏ
Nắng lên thành mầu khói,
thơ đọng thành mầu sương
Nắng cất giữ trong từng hạt mưa Xuân
Giọt nước cúi xuống hôn đất cho hạt cây nẩy mầm
Thơ đi theo mưa về trên từng đọt lá
Nắng thành mầu xanh, thơ mầu hồng
Nắng chở trên cánh ong tới trút ấm trên đài hoa
Thơ theo nắng về rừng xa uống mật
Tưng bừng, xôn xao, bướm ong về chật đất
Nắng làm nên khúc múa, thơ làm nên lời ca
Mồ hôi giọt xuống đất khô, thơ bay trên luống cày
Cán cuốc trên vai, thơ vào ra theo nhịp thở
Nắng rụng bên sông, bóng chiều ngập ngừng bỡ ngỡ
Thơ đi về chân trời, nơi vầng sáng đang đắp chân mây
Mặt trời xanh rờn một rổ rau tươi
Mặt trời dẽo thơm trong bát cơm gạo Tám
Thơ trong ánh mắt em thơ,
thơ trong mầu da nắng sạm
Thơ nơi từng cái nhìn chăm chú
Thơ nơi từng bàn tay vun xới
miền đồng chua nước mặn xa xăm
Mặt trời cười tươi trên bông hướng dương
Mặt trời trĩu nặng nơi trái đào tiên tháng tám
Thơ nơi từng bước chân thiền quán
Thơ nơi từng dòng chữ
Thơ nơi từng nắp hộp kín đáo nuôi tình thương.

Tôi nghe nói về Làng Mai  của thiền sư Thích Nhất Hạnh xưa và nay có những điểm dị biệt “Có một đạọ Phật như thế” (lời Bùi Tín) (4) nên ‘đạo Phật dấn thân’ chưa bao giờ được chính quyền từ hai phía thực lòng ủng hộ. Tôi không chấp nhân Bùi Tín và các vị đang mưu toan ‘li tâm’ xa rời đường sống của dân tộc, dẫu vậy sự thực hành những thức sau đây, theo tôi  là chánh niệm: ”Từng bước chân thảnh thơi”, ”An lạc ngay lúc này”, ”Vui với từng hơi thở”, ”Bụt ở ngay trong ta”

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Tài liệu tham khảo:

* Nguồn trích dẫn ba bài thơ trên: Nhất Hạnh, Thích, 1926- Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt / Thích Nhất Hạnh – Hà Nội, Hội Nhà Văn Công ty sách Phương Nam, 2015,

** Địa chỉ anh Sơn núi, hiện ngụ tại chốn xưa của thiền sư Thích Nhất Hạnh : Anh Nguyễn Đức Sơn 0913169616, Nguyễn Đức Huy 0909356056 chị Phạm Thị Thu Hương. Đồi thông Phương Bối, thôn 2 Lộc Châu, Bảo Lộc, Lâm Đồng (lên đèo Bảo Lộc đến cầu Đại Lào, cách cầu Đại Lào khoảng 1km rẽ trái theo đường Lê Thị Riêng khoảng 2km đến vùng đất của anh Sơn núi, đồi Phương Bối nơi tu trì của thầy Nhất Hạnh thời trước)

CHÁNH NIỆM LÀ SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC

Thích Nhất Hạnh

Khi chúng ta theo đuổi hạnh phúc, chúng ta cố gắng bỏ qua và chống lại sự đau khổ. Nhưng điều này không giúp chúng ta có thể an lành hơn. Nếu biết cách chuyển hoá sự đau khổ, chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc đích thực.

Thực tế, hạnh phúc không phải sự chịu đựng. Nghệ thuật hạnh phúc cũng chính là nghệ thuật chịu đựng. Khi chúng ta có thể hiểu và chấp nhận những đau khổ chúng ta đang chịu đựng, gánh nặng ấy sẽ giảm đi. Không những thế, ta có khả năng chuyển hoá đau khổ và hài lòng với chính bản thân.

Khi chúng ta theo đuổi hạnh phúc, chúng ta cố gắng bỏ qua và chống lại sự đau khổ. Nhưng điều này không giúp chúng ta có thể an lành hơn. Nếu biết cách chuyển hoá sự đau khổ, chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc đích thực.

Ngày nay, chúng ta phiền não vì không thể xử lí những đau khổ bên trong và luôn tìm cách che đậy chúng. Trường học không dạy những người trẻ cách để xử lí những vấn đề nội tại.

Chánh niệm là cách tốt nhất để giải quyết đau khổ, sống với giây phút hiện tại hay nhận biết được những điều đang xảy ra ngay tại lúc này. Chánh niệm giúp bạn nhận ra sự hiện diện của đau khổ trong bạn và thế giới.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh nêu ra 5 điều giúp bạn chuyển hoá đau khổ thành nặng lượng của hiểu biết và chữa lành, giúp chúng ta hạnh phúc.

1. Buông bỏ

Bước đầu tiên để tạo ra niềm vui và hạnh phúc là biết buông bỏ. Chúng ta bị ràng buộc bởi quá nhiều thứ. Sự buông bỏ thực sự cần thiết cho sự sống còn và hạnh phúc của chúng ta. Đôi khi bạn nghĩ, bằng cấp, tiền lương, nhà ở hay tình yêu rất quan trọng với hạnh phúc của bạn. Nhưng ngay cả khi bạn đã sở hữu những điều trên, đau khổ vẫn tiếp diễn. Đồng thời, bạn sợ rằng, nếu buông những thứ bạn đang có, tình hình sẽ tệ hơn, bạn sẽ đau khổ và không thể sống nổi.

Nhìn sâu vào điều bạn đang sợ hãi, nó chính là trở ngại khiến bạn không thể hạnh phúc. Buông bỏ cần rất nhiều dũng cảm, nhưng một khi bạn làm được, hạnh phúc sẽ đến rất nhanh. Để nhận được hạnh phúc, bạn cần phải đánh đổi.

2. Gieo hạt giống tích cực

Mỗi chúng ta đều có những hạt giống nằm sâu trong tiềm thức, nó có thể là địa ngục, cũng có thể là thiên đường. Chúng ta có thể hiểu biết, vui vẻ và làm việc thiện. Nhưng đa số chúng ta chỉ nghĩ đến đau khổ và chìm đắm trong nỗi buồn. Thực hành gieo hạt giống tích cực mỗi ngày để những điều tốt đẹp nảy mầm và vươn lên.

Điều gì cũng có mặt đối lập. Nếu bạn có hạt giống kiểu căng, bạn cũng có hạt giống từ bi. Khi thực hành chánh niệm mỗi ngày, hạt giống từ bi sẽ mạnh mẽ và phát triển hơn. Chúng ta có thể lựa chọn sống tích cực và hạnh phúc hơn, bởi điều đó nằm trong tầm tay của bạn.

3. Niềm vui từ chánh niệm

Chánh niệm giúp chúng ta kết nối với khổ đau để ôm ấp và chuyển hoá khổ đau, giúp chúng ta chạm vào những điều kì diệu của cuộc sống. Khi thực hành chánh niệm, bạn có thể chuyển hoá từng hơi thở thành hạnh phúc. Khi nhận biết thực tại, hạnh phúc sẽ đến sớm. Năng lượng tốt lành của chánh niệm khiến mọi hoạt động trong ngày của bạn đều là hạnh phúc.

4. Chánh định

Chánh định được sinh ra từ chánh niệm, nó có sức mạnh để vượt qua và đốt cháy mọi phiễn não làm cho bạn đau khổ. Những lo ngại về tương lai sẽ luôn ở đó, khiến bạn mất kiểm soát bản thân bất kì lúc nào. Chúng ta có thể nhìn thấy, thừa nhận và dùng chánh định để đưa chính mình về giây phút hiện tại.

Chánh định xoá đi đau khổ về quá khứ và sự lo lắng cho tương lai. Chánh định là sự tập trung vào hơi thở một cách thoải mái với cả tâm trí và trái tim. Bạn không cần phải gồng mình để đạt được chánh định, hãy luyện tập nhẹ nhàng và đều đặn, hạnh phúc sẽ đến rất êm đềm.

5. Tuệ giác

Với chánh niệm, chúng ta nhìn nhận sự căng thẳng của cơ thể và mong muốn giải toả nó nhưng đôi khi không thể. Tuệ giác giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc và giải thoát chúng ta khỏi những phiền ưu như ghen tuông, giận dữ và cho phép chúng ta hạnh phúc thật sự.Thông thường, người ta bị cuốn vào vòng tham ái, hận thù và quá để tâm vào những điều tiêu cực.

Bản chất của thực hành thiền định là giúp chúng ta chuyển hoá khổ đau thành hạnh phúc. Nó không phức tạp nhưng đòi chúng ta tu tập chánh niệm, tập trung và có cái nhìn sâu sắc.

Bước đầu tiên là chúng ta trở về với chính mình, dịu dàng với sự đau khổ của chính mình, buông bỏ những điều vô ích và nuôi dưỡng hạnh phúc hàng ngày với sự hiểu biết và xót thương bản thân và những người xung quanh. Với mỗi hơi thở, chúng ta giảm bớt khổ đau và tạo ra niềm vui mới.

Theo Trí Thức Trẻ

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

Hoa Đất thương lời hiền;
Lời dặn của Thánh Trần;
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn;
Đặng Dung thơ Cảm hoài;

Ngày xuân đọc Trạng Trình;
Nguyễn Du trăng huyền thoại;
Tô Đông Pha Tây Hồ;
Kim Dung trong ngày mới;

Đào Duy Từ còn mãi
Đồng xuân lưu dấu hiền;
Đỗ Phủ thương đọc lại;
Châu Văn Tiếp Phú Yên;

Nha Trang và A. Yersin;
Cao Biền trong sử Việt;
Nguyễn Hiến Lê sao sáng;
Thương Kim Thiếp Vũ Môn;

A Na bà chúa Ngọc;
An Viên Ngọc Quan Âm;
Chuyện cổ tích người lớn;
Chuyện đồng dao cho em

CNM365 Tình yêu cuộc sống
27 đường link kiên kết
Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/

Lời dặn của Thánh Trần là “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.Đọc lại thật sâu sắc! Tôn tử binh pháp thiên thứ nhất, trang đầu là “Tính toán”. Tôn Tử nói: Chiến tranh là việc lớn quốc gia, là việc sống chết của nhân dân, là sự mất còn của một nước, không thể không xem xét cẩn thận. Cho nên phải cân nhắc năm yếu tố, phải tính toán, so đo mà tìm hiểu thực tình của đôi bên: Thứ nhất là đạo nghĩa; thứ hai là thời trời; thứ ba là địa lợi; thứ tư là chủ tướng; thứ năm là pháp chế. Chỉ nói đến trí thức tinh hoa, tinh thần ái quốc và sức mạnh toàn dân thì chỉ mới tính toán so đo thứ nhất là đạo nghĩa. Chỉ nói đến tài năng và tôn vinh cụ thể một con người như Napoleon chẳng hạn thì chỉ mới tính toán so đo thứ tư là chủ tướng. Chính vì vãy Napoleon khi thua trận bị nhốt ngoài đảo mới thốt lên: Tiếc thay trước đây ta chưa đọc sách này (Tôn Tử binh pháp) và Cụ Hồ trước khi thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nghiền ngẫm dịch Tôn Tử binh pháp, học lại thật kỹ Lịch sử Việt Nam và chọn nơi khởi binh ở làng Quốc Tuấn. .

Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300. Người được dân Việt tôn kính gọi là Đức Thánh Trần và thường dâng lễ tạ ơn sớm từ 20 tháng 8 dương lịch đến ngày lễ chính. Vua Trần Anh Tông lúc Đức Thánh Trần sắp lâm chung có ân cần ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”. Đức Thánh Trần  trả lời: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Nguyên văn: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” * (Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 trang 76 -77).

Trần Hưng Đạo giành chiến thắng trước quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 vào ngày 9 tháng 4 năm 1288, tức 8 tháng 3 năm Mậu Tý. Sau ba lần thắng giặc, đất nước thanh bình, ông lui về Vạn Kiếp và mất ngày 20 tháng 8 năm 1300 tại vườn An Lạc. Đền Kiếp Bạc ( Hải Dương) là nơi đền thờ chính của đức Thánh Trần.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh.

Đức Thánh Trần gương soi kim cổ

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, quân sự, nhà văn kiệt xuất thời nhà Trần. Chiến công kiệt xuất đánh bại quân đội nhà Nguyên năm 1285 và 1287 đã đưa Đức Thánh Trần thành đại danh tướng lừng lẫy nhất của thế giới và Việt Nam. “CHỌN TƯỚNG” là một chương trong Binh thư Yếu lược của Trần Quốc Tuấn, kiệt tác súc tích và sâu sắc lạ lùng.

“Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.

Được sự thắng nhỏ, gặp sự thua nhỏ, mà mừng lo hình ra nét mặt, hễ thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, nhát mà không tính toán gì, cất chân thì thần sắc không định, mà hay lấy lời nói để thắng người, đó là tướng ngu vậy.

Bảy phép để biết người:

1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không
2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ.
3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào.
5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không
6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không.
7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.
8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Tướng ngu có tám điều tệ:

1. Lòng tham mà không chán
2. Ghen người hiền, ghét người tài
3. Tin lời dèm pha, thích lời nịnh hót
4. Xét người mà không xét mình
5. Do dự không quả quyết
6. Say đắm rượu và sắc đẹp
7. Thích xảo trá mà lòng nhút nhát
8. Nói lời viễn vông mà không giữ lễ

Gia Cát Lượng sách Tướng Uyển chỉ bảy phép biết người.

Biết tính tình của người, chẳng gì khó bằng xem xét, lành dữ tuy khác nhau, tính tình và vẻ mặt chẳng phải một: có kẻ thì ôn hoà, hiền lành nhưng làm việc trộm cắp;có kẻ bề ngoài thì cung kính nhưng trong bụng thì vô lễ, dối trá; có kẻ bề ngoài thì mạnh dạn nhưng trong bụng thì khiếp sợ;có kẻ làm việc tận lực nhưng bụng không trung thành;

Bảy phép sau đây để biết người

1. Hỏi việc phải trái để dò chí hướng;
2. Lấy lời cật vấn để biết ứng biến;
3. Đem mưu kế hỏi để lường kiến thức;
4. Giao chuyện hiểm nguy để soi dũng cảm;
5. Mời rượu cho uống say để xét tính tình;
6. Đưa lợi gái thử để rõ thanh liêm chính trực;
7. Đem việc cậy nhờ để xét sự trung thành, tin thật.

Tám hạng tướng và bậc đại tướng

Nhân tướng là người dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ để xếp việc cho họ, hiểu thấu sự đói rét của người dưới, biết rõ khó nhọc của đồng sự, đó là nhân tướng.

Nghĩa tướng là người làm việc không cẩu thả, thấy lợi mà không tham, biết chết vinh hơn sống nhục.

Lễ tướng là người có địa vị cao quý mà không kiêu căng, công hơn người mà không cậy, tài năng mà biết hạ mình, cứng cỏi mà biết nhẫn nhịn.

Trí tướng là người gặp biến bất ngờ mà chí không đổi, ứng phó linh hoạt với việc khó khăn, có thể đổi họa thành phúc, gặp cơn nguy biến mà sắp đặt thành thắng thế.

Tín tướng là người thưởng phạt nghiêm minh công bằng, khen thưởng không chậm trễ và không bỏ sót, trừng phạt không buông tha cho kẻ cao quý.
Bộ tướng thủ hạ của đại tướng phải chọn người tay chân lẹ làng, võ nghệ tuyệt luân,  giỏi đánh gần, ứng biến di chuyển mau lẹ, để bảo vệ an toàn cao nhất cho chủ soái.
Kỵ tướng là người có thể vượt núi non cheo leo, từng trải việc nguy hiểm, cưỡi ngựa bắn tên mau lẹ như chim bay, tới thì đi trước, lui thì về sau.
Mãnh tướng là người khí thế vượt hẳn ba quân, dám coi thường địch mạnh, gặp đánh nhỏ vẫn luôn cẩn trọng, gặp đánh lớn thì can đảm quả quyết.

Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế.”

Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” gương soi kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình; xem tiếp… Lời dặn của Thánh Trần;

Chuyện cổ tích người lớn

Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” gương soi kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình; xem tiếpLời dặn của Thánh Trần;

Chuyện cổ tích người lớn
THÍCH NHẤT HẠNH GÓC NHÌN
Hoàng Kim

Thơ thiền Thích Nhất Hạnh tôi trước đã lắng lòng mình trong thơ họa của thiền sự Thích Nhất Hạnh và chợt tỉnh thức chứng ngộ về Sinh Tử, cầu Hiểu cầu Thương, Thơ từng ôm và Mặt trời từng hạt https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-thien-thich-nhat-hanh/. Hôm nay, tôi lại lắng lòng trước bài viết “Thống nhất lòng người” của nhà báo Hoàng Anh Sướng đăng trên “Góc nhìn” của VnExpress https://vnexpress.net/thong-nhat-long-nguoi-4270029.html và tôi chép laị trên CNM365 TÌNH YÊU CUỘC SỐNG Chuyện cổ tích người lớn https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/

Thống nhất lòng người

Hoàng Anh Sướng
Thứ năm, 29/4/2021, 00:05 (GMT+7)

Một ngày năm 2013 tại Mỹ, thiền sư Thích Nhất Hạnh dặn tôi: “Gặp người Việt ở đây, con đừng giới thiệu là nhà báo từ Việt Nam sang nhé”.

Tôi theo chân Thiền sư cùng 300 đệ tử của thầy trong chuyến hoằng dương đạo Phật dọc nước Mỹ năm đó. Những ngày cuối, đoàn dừng chân tại tu viện Lộc Uyển thuộc tiểu bang California. Tại đây, thiền sư tổ chức hai khóa tu cho cộng đồng người Mỹ và người Việt. Sư ông dặn tôi thế, bởi e tôi có thể gặp sự phản ứng tiêu cực của một số người.

Khóa tu diễn ra trong 5 ngày. Cả ngàn người tham dự với đủ lứa tuổi, ngành nghề. Ai đến đây dường như cũng đang ôm ấp những nỗi khổ, niềm đau.

Có những nỗi đau bắt nguồn từ đời sống đương đại như đổ vỡ gia đình, làm ăn thất bại. Song có những tổn thương dằng dai từ mấy chục năm trước, trên những chiếc thuyền lênh đênh vượt biển.

Có người chứng kiến con thuyền chở vợ và mấy đứa con bị sóng nhận chìm vào lòng đại dương. Có người không thể quên cảnh hải tặc giết chồng mình, cướp tiền vàng, vứt xác xuống biển rồi bị chúng thay nhau hãm hiếp. Khi đến nước Mỹ, họ bị mang thai rồi sinh con. Bi kịch ở chỗ, càng lớn, khuôn mặt đứa con lại càng giống kẻ đã hãm hiếp mình. Người mẹ nào không thương đứa con rứt ruột đẻ đau. Nhưng nhìn mặt con là họ lại nhớ đến mặt tên hải tặc. Cả đời, trái tim người mẹ ấy cứ giằng xé.

Nhiều người đã trị liệu, chuyển hóa được nỗi đau khi kết thúc khóa tu. Nhưng cũng có người không thể thoát khỏi ngục tù quá khứ, nhất là từng có địa vị, chức sắc, quyền lợi, sự ấm êm. Họ không thể chấp nhận được sự thật và trở nên hận thù. Thiền sư cho rằng, họ là nạn nhân của khối khổ đau trong chính mình.

Do đặc thù công việc, trong nhiều chuyến đi châu Âu kéo dài 1-2 tháng, tôi gặp gỡ đông đảo người Việt tại đây, không ít người di cư khỏi Việt Nam từ những năm 1954, 1975. Lần đầu gặp tôi, một số tỏ rõ kỳ thị, lạnh lùng, thậm chí miệt thị ra mặt. Có người còn tỏ vẻ rất cảnh giác như tôi là kẻ nguy hiểm.

Điều đó không khiến tôi ngạc nhiên hay bị tổn thương. Bởi tôi hiểu họ. Nhưng điều khiến tôi bất ngờ là một số người không hề biết gì về đất nước, con người Việt Nam đương đại. Trong suy nghĩ của họ, Việt Nam vẫn còn nghèo nàn, đói khát, lạc hậu như hơn 50 năm về trước. Bởi từ ngày rời Việt Nam, họ chưa một lần trở về, thậm chí cắt đứt mọi liên lạc.

Sau vài lần tiếp xúc, thấy tôi không xin xỏ, lợi dụng, kích động hay làm phiền ai, thiện chí làm việc lợi lạc cho cộng đồng, họ bắt đầu mở lòng. Tôi lắng nghe họ thật kỹ, không phán xét. Những biến cố đau thương dù sao cũng đã qua, chỉ giây phút hiện tại mới đích thực là của mình. Nếu cho phép quá khứ giam hãm, ta mãi sống trong ngục tù khổ đau, không thể hạnh phúc trong hiện tại. Và vì thế, cũng không có tương lai thanh thản.

Chiến tranh đã qua đi 46 năm, nhưng vẫn còn những nỗi đau. Đất nước đã thống nhất mà đâu đó lòng người còn ly tán. Làm thế nào để có được hòa hợp, thống nhất lòng người? Làm thế nào để người Việt khắp năm châu ôm lấy nhau như đồng bào?

Mọi đường lối, chính sách, hành xử của nhà nước và mỗi người hôm nay sẽ dẫn tới hàn gắn nếu bắt nguồn từ cái tâm chân thành, không phân biệt.

Thời Lý – Trần, từ vua quan đến dân thường đã thực tập từ bi, đưa Lý – Trần trở thành triều đại thuần từ nhất trong lịch sử dân tộc. Sau khi chiến thắng quân Nguyên – Mông, quan quân đệ trình vua Trần Thánh Tông một hòm tài liệu, trong có chứa những lá thư liên lạc với giặc của vài nha lại. Thay vì mở hòm để xem kẻ nào đã phản bội, vua tự tay châm lửa đốt trước mặt bá quan để thống nhất lòng trăm họ. Bởi theo ông, chúng ta đã đánh lui quân thù, giành được độc lập, mục đích tối thượng là đoàn kết dân tộc.

Năm 2008, khi về Việt Nam lần thứ hai, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã xin phép nhà nước tổ chức ba đại trai đàn chẩn tế cầu siêu bình đẳng, giải oan cho cả người Bắc, người Nam ở hai bên chiến tuyến. Người Việt cùng chắp tay cầu nguyện cho 6 triệu sinh mạng đã mất bởi chiến tranh. Hành động đó giúp thả trôi bớt hận thù trong quá khứ, vun đắp sự lòng người.

Thống nhất lòng người hôm nay có thể coi là sự nghiệp chung của nhà nước và mọi người, mọi giới. Trong hành trình hòa hợp dân tộc này, tất cả chúng ta đều là đại sứ.

xem tiếp Chuyện cổ tích người lớn

CÓ MỘT ĐẠỌ PHẬT NHƯ THẾ 
Bùi Tín

Duyên hạnh ngộ với làng Mai:
 

Tôi nghe nói về làng Mai từ lâu. Trước đó là làng Hồng. Không phải là làng trồng hoa hồng, mà là cây hồng ăn quả, như hồng Lạng sơn ở bên nhà. Trồng hồng không được tốt, quả không sai, không ngọt, nên chuyển sang trồng mai. Mai cũng không phải mai hoa vàng, như ở miền Nam nước ta, màu vàng rực vào dịp Tết. Mai đây thật ra là mận, là prunier, là thổ sản danh tiếng miền Dordogne, Tây nam nước Pháp. Cả miền rộng này bạt ngàn là mận, nổi tiếng nhất là Agen. Quả mận Agen, màu tím đậm, thơm ngọt sấy thành mứt, tiêu thụ khắp nước Pháp, xuất khẩu đi toàn thế giới cùng với rượu đỏ Bordeaux.

Từ bé tôi đã có duyên với đạo Phật. Gia đình tôi có 10 anh chị em, tôi là thứ 8. Trước tôi là 7 người chị. Mẹ tôi sinh tôi trong một thai đôi, có bọc, một gái ra trước bị ngạt, và tôi ra sau, thoi thóp. Từ mấy năm trước, mẹ tôi kiên trì cầu tự, khấn xin, qua các ngôi chùa nổi tiếng vùng Nam Định, Ninh Bình và Hà đông, mới sanh được mụn con trai. Ngôi nhà nhỏ ở quê lại gần chùa làng. Không nhà nào gần chùa đến thế. Chỉ cách nhau con đường hẻm của xóm gọi là xóm Chùa. Cổng nhà và cổng Chùa hơi chếch nhau, cách nhau chỉ 5 mét. Hồi bé, các chị em tôi hay rủ nhau lẻn sang chùa hái đầy túi quả nhót từ vàng đến đỏ chót, tay áo luôn lấm chấm những hạt trắng li ti do vỏ quả nhót chà vào để lại. Sư bà và sư cô không đuổi còn vẫy vào xoa đầu rồi hái cho những quả táo con con.

Chuông chùa ngân vang dài… và tiếng mõ đều đều, đều đều… là những âm thanh quen thuộc nhất đưa tôi vào giấc ngủ, với những chuyện mẹ tôi kể về thái tử Ấn độ đi ra 4 hướng cửa thành gặp 4 nỗi khổ đau sinh, lão, bệnh, tử rồi ra đi tìm đường cứu nhân độ thế.

Cho nên mùa thu 2006 này, tôi về làng Mai, trước tượng Phật, nghe tiếng chuông chùa âm vang, tiếng mõ đều đều, ăn chay liền mười ngày, ngắm mái chùa cong cong bên hàng cây mận trĩu quả … cảm giác đầu tiên của tôi, cảm giác kéo dài cho đến khi rời làng luôn là trở về quê mình, làng mình, nhà mình, chùa làng mình.

Có một đạo Phật nhập thế:

Làng Mai luôn mở rộng. Từ xóm Thượng xuống xóm Trung là 2 kilômét, xuôi 3 kilômét nữa là xóm Hạ, vòng sang phía Tây 2 kilômét là xóm Sơn hạ. Mấy năm nay, làng phát triển hẳn sang phía Đông gần 40 kilômét, lập nên xóm Mới, rộng hơn, khang trang hơn. Vùng Dordogne ở Tây Nam nước Pháp là một vùng hữu tình, giàu có, nhiều đồi thoai thoải phơi nắng, lại không xa Đại Tây Dương. Vườn nho nối tiếp xen với vườn mận, vườn hướng dương điểm xuyết những vạt rừng thông nhân tạo. Những ngôi Chùa, lầu chuông, thiền đường, cư xá, nhà ăn, nhà khách, khóm trúc, hồ sen… của làng Mai, xen với nhà một số cư dân Pháp bản địa lâu đời, với chuồng trại nuôi bò, lò gạch ngói, nhà thờ Thiên chúa của làng xưa làm cho phong cảnh của toàn vùng thêm sinh động.

Người gốc Việt tùy lúc chiếm hơn hay kém một nửa dân số làng Mai. Một nửa là người phương Tây về đây tu lâu dài hay tu tập ngắn hạn, – 1 hay 2 tuần lễ, từ các tỉnh nước Pháp, từ Ý, Đức, Anh, Bỉ, Hà lan, từ Tây ban nha, Bồ đào nha, từ Mỹ, Canada, Úc, Tân tây lan; ngoài ra có cả người Nhật, Ấn độ, Thái lan, Đại hàn, Philippin, lại có cả người Balan, Nga, Do thái, Palestin… Họ ở phần lớn xóm Thượng. Giữa mùa hè, nhiều gia đình mang theo con lớn nhỏ, nên có cả một xã hội thiếu niên quốc tế ở đây. Rước đèn trung thu, đèn đủ kiểu do các em tự làm lấy, hướng dẫn bởi các ni sư ni cô khéo tay yêu trẻ, kéo dài hàng cây số dưới ánh trăng thu, các em bé tý mới 3 – 4 tuổi dẫn đầu, cuối là các anh chị 16, 18 tuổi, thật hồn nhiên trong tiếng trống và tiếng hát.

Ở trong nước tôi cứ nghĩ người đi tu phần lớn là người yếm thế, chán cuộc đời trần thế, gặp những nghịch cảnh gia đình hay xã hội. Đây cũng có những trường hợp như thế, nhưng có vẻ không nhiều. Khá nhiều người có kiến thức khá cao, thành đạt trong cuộc sống, những bác sỹ, luật sư nhà cao cửa rộng, lương bổng cao, những nhà vật lý, toán học, triết học, giáo sư… muốn đi tìm ý nghĩa từ cuộc sống, của cuộc sống và cho cuộc sống trên đời này. Họ đến đây để nghiên cứu, nghiền ngẫm và thực hành luôn, thực nghiệm luôn, hành đạo luôn đạo Phật, một đạo Phật vừa cao siêu, vừa gần gũi, vứa như khó hiểu vừa dễ cảm thụ bằng cả lý trí, linh tính và trái tim.

Đến đây, ai cũng hiểu sâu 3 viên ngọc quý đầu tiên – ”Tam Bảo”, là Phật, Pháp và Tăng. Phật là một vị tiêu biểu, là Thày dạy, là Ngôi sao chỉ đường, là Lãnh tụ tinh thần, là Nguồn Sáng, thông thường cũng là Bụt, là con người thật do dày công tu luyện được soi sáng thành Phật. Pháp là hệ thống lý luận, chân lý, giải thích cuộc đời và muôn vật, hướng dẫn việc tu luyện, cách sống để con người và loài người có được niềm hạnh phúc, an lạc ngay trong cuộc đời này. Pháp vừa mênh mông vô tận, thiên kinh vạn quyển, lại có thể thu gọn trong 260 từ trong Kinh Bát nhã, lại cô đọng chỉ trong vài câu, vài từ; ở đây chú trọng việc thực hành, đặc biệt là thực tập theo 5 giới, tức là 5 phép tu tập chánh niệm. Tăng là tăng thân, là tập thể anh chị em gần xa cùng thoát giới đi tu theo chân Phật, ở khắp mọi nơi trên thế giới, cùng chung một bậc Thày, cùng chung một Đạo pháp.

Tôi dự khá nhiều cuộc pháp thoại, thuyết trình về ”pháp”, nhiều cuộc trao đổi, hỏi đáp ngay ở hội trường – Thiền đường, nhiều buổi thảo luận, tu tập trong các nhóm nhỏ, đều nói về cuộc sống trong đời thường, của cá nhân, gia đình và xã hội. Giống như ở đời thường, không khí sinh hoạt khi thì nghiêm trang đôi lúc căng thẳng, xúc động, có nước mắt, có nụ cười, nhưng nét riêng ở đây là luôn thân ái, chăm chú, thông cảm với nhau, giúp nhau hiểu rõ sự đời trong tình thương. Ngay ở hội trường lớn, mỗi khi tiếng chuông vang, ai nấy đều yên lặng, nghiêm trang, lắng sâu trong suy nghĩ, để rồi sau đó rộ lên tiếng cười vang động, vui nhộn và sảng khoái, thoải mái không cần kiềm chế.

Đạo Phật ở làng Mai là đạo Phật nhập thế, nhập cuộc đời, nên dễ hiểu, dễ gần, dễ tiếp thu. Bài giảng tiếng Việt, dịch tức thời ra các tiếng Anh, Pháp, Đức, cũng như các khẩu hiệu tiếng Việt, châm ngôn tiếng Việt, sách báo, băng đĩa tiếng Việt được dịch và in ngay tại chỗ. Khẩu hiệu đây đó: ”Từng bước chân thảnh thơi”, ”An lạc ngay lúc này”, ”Vui với từng hơi thở”, ”Bụt ở ngay trong ta”…

Sáng nghe tiếng chuông vang khi trời đang rạng, hãy ”thiền” vài phút với lời tự hẹn: Đón chào 24 giờ tinh khôi của ngày mới; tự hẹn sống an vui, có ích cho mình và xung quanh, tránh mọi cám dỗ có hại.

Khi ngồi vào bữa ăn, nghe chuông ngân, hãy ”thiền” vài phút nữa: ta biết ơn những ai làm nên bữa ăn này, trồng lúa, rau, vận chuyển, chế biến; ta nhớ đến bao người thiếu ăn trên thế gian này; hãy ăn ngon lành, nhai kỹ cho cơ thể ta khỏe khoắn. Trước đó, hãy tự lấy thức ăn vừa đủ cho mình, không thiếu không thừa, lấy bao nhiêu ăn cho hết, không lãng phí, quý trọng mỗi sản phẩm xã hội.

Ảnh: Làng Mai

Một đạo Phật cao siêu mà hồn nhiên: 

Ở làng Mai, tôi gặp mấy chục sinh viên nam nữ Việt từ Sàigòn, Huế, Cần thơ, Luân đôn (Anh), Boston (Mỹ), Sydney (Úc) … đến dự lớp học 1 hay 2 tuần lễ, vào dịp nghỉ hè. Các bạn trẻ làm quen nhau rất nhanh, để lưu luyến vô cùng khi tạm biệt. Họ đều là du sinh, học khoa lịch sử, văn học, thông tin, báo chí. Họ cũng kết bạn nhanh với các sinh viên gốc Mỹ, Anh, Pháp, Canada. Họ cùng nhau tập những bài hát tiếng Việt và tiếng Pháp do các thày cô ở làng Mai sáng tác. Các em mang theo đàn ghi-ta, sáo để chơi nhạc, ca hát với nhau.

Đến đây, các em làm quen với những khái niệm triết học, tâm lý, tâm linh khá trừu tượng, nhiều khi cao siêu, ban đầu khó hiểu. Nhân quả, tương tác, Niết bàn, khoảng không, khoảng rỗng, vô thường, vô ngã, vô minh, không bắt đầu không kết thúc… Hơn nữa, lại còn: ”Ngũ uẩn giai không” là gì; ”chư pháp không tướng” là gì; rồi những con số: Tam bảo, Tứ diệu đế, Ngũ lực, Lục căn, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên …

Các khái niệm cao siêu được giảng giải theo lối phổ cập dân gian, có ví dụ dễ hiểu, từ thấp lên cao, từ cụ thể đến trừu tượng. Tôi thử hỏi lại 2 em, các em đều hiểu khá rõ. Các bà các chị lớn tuổi cảm nhận được trên đại thể, khi trao đổi với nhau mới vỡ lẽ thêm…

Tôi hiểu dần vì sao làng Mai có thanh niên xuất gia để đi tu cũng như về tu học ngắn hạn nhiều đến vậy. Các em đều có chí, ham học, cảm thấy e ngại cái xã hội xô bồ sùng bái vật chất coi nhẹ tâm linh, nhất là cái xã hội trọc phú đầy cạm bẫy ở bên nhà, luôn đe dọa ”nuốt chửng” tuổi trẻ bất cứ lúc nào. Các em rất chăm chú nghe pháp thoại, còn ghi

Ở làng Mai, không khí yên tĩnh kéo dài thỉnh thỏang lại rộ lên những ngày hội tấp nập đông vui, có trống, có cờ phướn, múa rồng múa lân, mừng xuân, trồng cây nêu, giỗ Tổ, Phật đản, lễ Vu lan, những buổi ngâm thơ, ngày Hội hoa Thủy tiên, Hội hoa Mai, Hội hái mận, những ngày hội làng thắm tình quê hương…Tôi dự đám cưới rất vui ở xóm Mới, cô dâu là em một ni cô ở đây, ”chàng” là bác sỹ cùng ở San José (Bắc Cali) mới sang hôm trước.

Cuộc sống cao siêu khi nghe giảng, khi trầm tư, lúc ngồi thiền, hài hòa với những giờ phút sống hiếu động hồn hiên giữa thiên nhiên. Dự những cuộc múa tập thể và trò chơi tập thể, rồi đêm lửa trại ở xóm Trung và xóm Thượng, tôi thấy rõ thêm vì sao tuổi trẻ thích về đây sống. Có lúc như cuộc sống trong tổ chức Hướng đạo thời trẻ của tôi. Những trò chơi khỏe, hồn nhiên, em bé 8-9 tuổi cùng cụ già 60-62 tuổi chơi với nhau, theo vòng tròn lớn nhỏ, bỏ khăn; chim bay, cá lặn; bịt mắt bắt dê; chuyển bóng; kéo co; rồi tìm nhau trong rừng, tìm phương hướng, tìm các chòm sao trên trời, hái hoa hồng để trả lời câu đố và chọn bài hát… Tuổi già về đây như trẻ lại giữa trẻ nhỏ và thiên nhiên. Rồi những vở kịch nho nhỏ tự biên tự diễn. Cái thú vị là nội dung được hướng dẫn và khêu gợi để thực tập chánh niệm, hiểu sâu thêm các buổi học, về cuộc đời của Bụt, về tình thương yêu con người, về cái Thiện và cái Ác, về Chính và Tà, về yêu quý thiên nhiên và gìn giữ môi trường…

Có một đạo Phật nhiều khoa học, ít thần bí: 

Đã có bao nhiêu trường phái truyền bá đạo Phật. Từ Đại thưà đến Tiểu thừa, từ gốc Ấn độ, Tây tạng, qua Trung hoa, Tich lan, đến Thái lan, Cambốt, xuống Nam dương, sang Nhật bản. Có những trường phái truyền bá những điều thần bí, siêu nhiên, đầy phép thần thông kỳ ảo. Chư thày cô làng Mai đang xây dựng một đạo Phật truyền thống, thịnh hành từ đời Trần, mang đậm bản sắc Việt, lại khá là hiện đại, dựa trên những khám phá mới mẻ nhất về sinh học, vật lý, hóa học, toán học, thiên văn, tâm lý học…để lý giải cuộc sống muôn hình muôn vẻ.

Có cả một lớp trí thức cao cấp xuất gia và về dự tu học ở đây. Tiến sỹ, kỹ sư, bác sỹ, luật sư, nghiên cúu sinh, du sinh chiếm tỷ lệ không nhỏ. Các bài giảng phổ thông, dễ hiểu, có khi mở đầu bằng hỏi và đáp một thiếu niên Pháp hay Mỹ mới 12 tuổi, rất vui vẻ sinh động, hoặc mở đầu bằng thử ngắm cho sâu một chiếc lá phong để ”nhìn” thấy trong đó áng mây, mặt trời, giọt mưa, hạt mầm, hệ thống ”nhà máy” sản xuất chất lục diệp tố, không quên người trồng chăm sóc cây, để rồi cuối cùng có thể nhận ra cả vũ trụ chứa trong một hạt bụi trần. Kết quả nghiên cứu về tế bào, về ADN, về di truyền, về kỹ thuật tạo hàng lọat cơ thể sống từ một tế bào – ”clonage”, chứng tỏ trong cái riêng đều có cái chung, cái ”một” chứa cái toàn thể, phép nhiệm màu bao trùm khắp mọi nơi; con người ngày càng hiểu ra biết bao điều bí ẩn, chế tạo ra biết bao kỹ thuật tân kỳ như máy bay, tàu ngầm, vô tuyến truyền hình, điện thoại cầm tay, kính thiên văn (với khám phá ra big bang và lỗ đen), máy computơ cá nhân, để …”ngộ” ra rằng các nhà khoa học thật ra vẫn chưa hiểu biết gì cho thấu đáo về vũ trụ và con người cả; chỉ một tế bào mà hàng triệu điều bí hiểm.

Hè này có một tuần lễ 800 nhà khoa học và yêu khoa học thuộc 20 nước về làng Mai trao đổi nghiên cứu về tế bào vỏ não, tìm hiểu sâu thêm một loạt khái niệm: xúc cảm, tình cảm, tiềm thức, nhận thức, linh tính và tâm linh, mật thiết liên quan đến những khái niệm Thân và Tâm, rồi: Thọ, Tưởng, Hành, Thức thâm thúy của đạo Phật.

Ở làng Mai không còn những nhận thức thô thiển, như có một Thượng đế, một ông Phật nào đó giống như con người, có đầu mình và tứ chi, sống ở trên trời cao, ngày đêm ban phước lành cho chúng sinh; mà Phật ở ngay trong ta, trong Pháp, trong Tăng, trong ý thiện, việc thiện ta và mọi người cùng làm cho cuộc đời chung đỡ khổ, vun trồng yêu thương và hạnh phúc ở khắp nơi ngay trong cuộc đời này. Phật cũng ở khắp mọi nơi trong một vũ trụ vừa hài hòa theo quy luật chặt chẽ, lại cũng đầy những phức tạp ngẫu nhiên vô thường.

Khoa học ngày nay cũng chứng minh rằng thế giới vũ trụ là không có bắt đầu, không có kết thúc; sự vận động chuyển hóa là không cùng; cái này khác cái kia, cũng lại không khác cái kia; một là tất cả, tất cả cũng lại là một; phải trái trên dưới, một hai, đông tây nam bắc, màu sắc, mùi vị đều là khái niệm chủ quan của con người. Bụt dạy: bất sinh bất diệt, bất cấu (nhơ bẩn) bất tịnh(sạch), bất tăng bất giảm; vô vô minh diệc vô vô minh tận (không có ngu dốt mà cũng không bao giờ hết ngu dốt); vô lão tử diệc vô lão tử tận (không có già và chết, mà cũng không hết già và chết). Khoa học và phật giáo gật gù tâm đắc, khoác vai nhau chặt. Thật là vui, thú vị.

Có một đạo Phật lạc quan yêu cuộc đời này: 

Đã có thành kiến cho rằng đi tu là chịu khổ hạnh. Có nhiều trường phái tu khổ hạnh, hành xác, đi chân đất, nhịn đói, chịu khát, nằm gai nếm mật, chịu rét, từ chối nền văn minh vật chất, chịu khổ để cứu nạn.

Ở đây có sự khổ luyện, sự kiên trì thoát phàm tục, tinh tiến tâm linh, nhưng không khổ hạnh hành xác. Các thày cô ở đây được luyện để yêu đời, quý trọng cơ thể mình, cảm nhận hạnh phúc nội tâm cho mình và cho xung quanh trong mỗi một phút sống. Nụ cười làng Mai sao mà đẹp. Nụ cười ngầm, hơi tủm tỉm khi gặp nhau, nhìn nhau, như nói rằng: chúng ta là anh chị em! Buổi sáng khi mới gặp lại nhau, mọi người chắp tay trước ngực, hình búp sen bên trái tim, như một lời chào thân, trao tặng nhau một búp sen thơm mát. Người phương Tây về đây cũng vui lòng tiếp nhận cách bắt tay, cách ôm chào nhau chân thật: nhìn vào mắt nhau với tình anh chị em, ôm nhau cũng nghĩ đến nhau thật lòng, xoa tay nhẹ vào lưng nhau nếu tự thấy cần; không còn kiểu bắt tay qua loa, áp 2 bên má một cách qua quít, có khi vô cảm. Các ni cô gọi đây là ”thiền ôm”, ôm với tình thương chân thật; tất nhiên các ni cô trẻ chỉ ôm với người cùng giới.

Nét đậm đà của làng Mai là thức ăn chay mà ngon chi lạ, ngon lạ lùng. Các ni cô, ni sư rất coi trọng khoa nấu nướng, nâng bếp núc thành khoa học và nghệ thuật cao. Vệ sinh thì tuyệt hảo. Vườn rau tự túc sạch tuyệt đối. Từ rau muống, bắp cải, rau cải, rau cần, cà chua, cà rốt, đến bầu, bí, dưa chuột, mướp đắng, rau thơm: mùi, húng, tía tô, thìa là, diếp cá, bạc hà… cho đến hành, gừng, giềng… Đủ thứ, như ở quê mình, tươi ngon. Các thày cô nhà bếp luôn nói đến ngon lành, ngon đi với lành. Lại còn cân bằng âm dương, theo mùa, thứ này đi với loại rau kia, hỗ trợ bổ xung cho nhau, bổ dưỡng lại ngon miệng. Đậu phụ hấp, ninh, rán, sào với các thứ rau khác nhau, với biết bao loại đậu, loại khoai, sắn, giá, nấm… làm cho thức ăn phong phú, không bữa nào giống bữa nào suốt trong một tuần. Nộm và nước chấm cũng nhiều lọai, cùng vừng, lạc, dấm, dầu ô-liu, gừng, xả. Cơm, xôi đủ loại, bánh mì, cháo…tha hồ lựa chọn. Người phương Tây có thể dùng bơ, pho mát, sữa bò, trứng (loại không ấp thành gà con được).

Chè và bánh do các bà các chị người Huế hướng dẫn sao mà phong phú, tinh tế, ngon lành đến vậy. Từ chè hạt sen, đậu xanh, đậu ván, đậu đen đến bánh bột lọc, bánh giò, bánh xèo, bánh xu xê, bánh Trung thu…

Điều chính ở đây là quan niệm của Phật pháp nhập sâu vào bộ máy hậu cần và nuôi dưỡng con người. Hãy chăm nom thật tốt cơ thể chúng sinh, hãy mang chánh niệm từ khi trồng rau, tưới cây cho đến khi rửa sạch lương thực để chế biến; hãy mang chánh niệm vào mỗi nhát dao thái củ khoai củ cà rốt cho đều đặn, vuông vắn, mỹ thuật. Hãy mang chánh niệm vào việc nấu nướng để thấu hiểu rằng biết bao công sức của con người làm nên gạo, khoai, rau đậu này đây, ta phải nối tiếp để phục vụ lại cho chúng sinh đến mức cao nhất, cho mọi người ăn thật ngon lành để làm điều thiện cho đời này.

Các ni cô và ni sư – hơn 100 người tu ở đây, phần lớn là còn trẻ, dưới 36 tuổi, gọi nhau bằng sư ông, sư bác, sư chú, sư cô hay sư anh, sư chị, sư em, như trong một nhà. Mỗi người còn nhận một hai người bạn tâm giao thân thiết nhất để kết nghĩa, giúp nhau tu luyện tiếp thu sâu đạo pháp, tuyệt đối tránh phạm giới, trước hết là 5 giới gồm có: không sát sinh, không ăn cắp, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu và dùng ma túy…

Không khí an nhiên tự tại ở làng Mai còn được xác lập tự nhiên, bền vững vì trong cư xử hàng ngày, nội bộ gia đình lớn này thường nhắc nhau dùng ”ái ngữ”, tránh dùng những từ ngữ khó nghe. Tôi hỏi mấy thầy: như vậy có phải là bỏ qua, nhân nhượng với nhau khi có mâu thuẫn để giữ hòa khí? Thày Pháp Ấn là 1 trong 13 giáo thọ (như là trợ giáo về giảng pháp) ở làng Mai nói ngay: không phải vậy; pháp đạo, kỷ luật ở làng Mai nghiêm, không bỏ qua sai lầm, vì bỏ qua là có hại cho anh chị em mình, là thiếu thương yêu nhau; ”ái ngữ” là lời nói xuất phát từ yêu thương, đã từ yêu thương thì sẽ được tiếp nhận vào tim người mình nói chuyện, không phải chỉ là chọn hình thức chữ nghĩa cho êm tai. Khi nóng mặt lên, tức giận, thở gấp thì không thể có ”ái ngữ” . Khi tỉnh táo, thở sâu, có tình thương lập tức có ”ái ngữ” đầy sức thuyết phục dù nội dung có mạnh.

Không khí yêu đời trẻ trung ở làng Mai còn nhiều biểu hiện khác. Bên dàn đồng ca, cùng niệm kinh Bụt bằng tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức, còn hát ca nhiều bè, còn có nhóm diễn kịch ngắn, tập đàn dương cầm, guita, thổi sáo, còn xưởng nhỏ tập nặn tượng, vót tre làm diều, nhóm phụ trách mầm non, thiếu nhi, nhóm hội họa, cắm hoa, chụp ảnh, đánh cờ, – cờ tướng và cờ quốc tế, cho đến lớp học tiếng Việt… Thật vui khi được nói tiếng Việt với các ni cô Từ Nghiêm (người Mỹ), Tín Nghiêm (Đại Hàn), với các thầy Pháp Ý (người Y), Pháp Sơn (Tây Ban Nha), Pháp Hộ (Thụy Điển)… Nhiều người nói sõi như người Việt mình vậy.

Có một đạo Phật rất dân tộc cũng khá hiện đại: 

Làng Mai có một thư viện khá lớn. Riêng Thiền sư Nhất Hạnh có tủ sách riêng đồ sộ, tiếng Pháp, Anh, Đức, Ấn độ, Nhật, chữ Hán, chữ Phạn, chữ Nôm, tư liệu về lịch sử Phật giáo Tiểu thừa, Đại thừa, về lịch sử Phật giáo Việt nam từ xa xưa qua thời Lý, Trần đến nay. Nhiều kinh sách được lược dịch hoặc tóm tắt chuyển sang tiếng Việt. Bút lực của Thày Nhất Hạnh sung mãn, có đến 60 cuốn tiếng Việt do nhà xuất bản Lá Bối phát hành, cùng với những tập thơ thiền, một số bài thơ được phổ nhạc. Nét dân tộc khá rõ là gắn bó thờ cúng tổ tiên với đạo Phật ở làng Mai này.

Nét hiện đại của làng Mai cũng rất rõ. Giờ giấc nghiêm đến từng phút. Sáng dậy đúng 5 giờ rưỡi khi chuông lớn vang lên. Đúng 8 giờ rưỡi buổi giảng trên hội trường bắt đầu. Giảng bằng tiếng Việt, hoặc tiếng Pháp, Anh, tùy theo ngày, được dịch ngay sang các tiếng khác. Ngoài những loa đặt các góc phòng còn có loa tại các phòng nhỏ hay tại các cụm di động có mái che trên bải cỏ ngoài sân rộng, khi người dự quá đông. Các buổi pháp thoại đều được ghi bằng hình ảnh và âm thanh, buổi tối được nhân bản vào băng, vào đĩa để phổ biến ngay sáng hôm sau. Bộ phận ngoại ngữ và kỹ thuật có trình độ chuyên nghiệp cao, tháo vát, cập nhật với kỹ thuật truyền thông hiện đại quốc tế.

Văn phòng làng Mai cũng khá là chuyên nghiệp. Kế hoạch dự kiến cho cả năm, phân công cụ thể, có thời gian biểu hàng tuần cho từng xóm. Khách đến và đi thường xuyên, bằng đủ phương tiện, xe riêng, xe lửa, xe buýt, máy bay, đón và đưa, đâu ra đấy. Thư đến và thư đi, email gửi và nhận tới tấp. Quan hệ với chính quyền địa phương, các quận, các tỉnh và thành phố Bordeaux rất chặt. Từ sản xuất, vận chuyển, bưu điện, thuế khóa, vệ sinh môi trường, cung cấp điện nước, đường sá cầu cống, xây dựng, quản lý đất rừng…đâu có đơn giản. Bác Cả, hơn 70 tuổi người có công thăm dò, quy hoạch và xây dựng làng Mai từ những năm 1986, 87 cho biết những gian khổ về mua đất, dựng nhà, cung cấp điện nước đến công trình vệ sinh, cống rãnh được khắc phục dần để có được cơ ngơi ngày nay.

Nét đẹp hiện đại, tiên tiến nữa tôi nhận ra ở đây là an ninh rất tuyệt. Người tứ phương đến tấp nập. Thế mà hầu như không có mất mát, trộm cắp, hàng chục năm nay vẫn vậy. Ở mỗi xóm có một góc đặt các thứ để quên, đánh rơi: mũ dạ, ô, dày, dép, kính mắt, bút, cả túi, ví tiền (với tiền mặt, thẻ ngân hàng, thẻ căn cước được giao lại cho người chủ) cặp, sách, túi lớn nhỏ, một vài đồ trang sức.

Tôi nghĩ đạo pháp nhập vào mọi người, điều giới thứ 2 (không ăn cắp) được thấm sâu, chúng ta là anh chị em thân thiết, hãy sống tốt, vun trồng điều thiện, tưới tắm hạt nhân trong sạch nảy nở trong lòng ta. Anh bạn nhà báo đi với tôi thủ thỉ: ”Thích thật, ở đây ngủ không cần đóng cửa, cả xóm không cần canh gác tuần tiễu, đồ đạc riêng để đâu yên đấy, không ai nhòm ngó đụng vào. Bao giờ cho mỗi làng mạc quê ta trong nước sống như thời Nghiêu Thuấn, như ngay làng Mai này! Cần gì đến chó Bécgiê, chuông báo động, máy quay phim dọc hàng rào và cổng ra vào. Thế này mới thực là hiện đại”.

Người phương Tây và trí thức trẻ gốc Việt sống ở đây tô đậm thêm tính hiện đại của làng Việt độc đáo này. Sách báo về khoa học tự nhiên và xã hội có nhiều người đọc. Mạng internet ”làng Mai” là mạng phong phú, kỹ thuật và mỹ thuật cao, lưu trữ tốt cả hình và tiếng, đứng hàng đầu trong làng mạng tiếng Việt. Các ni cô tiến sỹ, giáo sư, thạc sỹ, các ni sư cử nhân, bác sỹ, kỹ sư… ở đây đang cùng nhau học chữ Hán nôm, học tiếng Phạn, đọc thơ ca đời Lý Trần và nghiên cứu kho tàng ca dao Việt để cùng nhau trở về với dân tộc và đưa tâm linh dân tộc phát triển tới phía trước.

Các thày cô ở đây thật sự khiêm nhường, không muốn phô trương thành tích, làm đến đâu nói đến đó; thực tế một viện phật học dân tộc hiện đại, kết hợp nghiên cứu với giáo dục và thực hành đang được hình thành ở đây, được bà con ta ở hải ngoại và trong nước cũng như giới đại học quốc tế ngày càng biết đến.

Có một số chuyện bị hiểu lầm, hiểu sai, chư vị làng Mai vẫn cứ ”tự mình biết mình”; ở đây, tôi đọc được hơn chục bài thơ của Cụ Quảng Độ được thày Nhất Hạnh in và giới thiệu bằng nhiều bút danh khác nhau từ những năm 1985,86 ….Trong lịch sử Phật giáo dạy ở đây, công sức của chư vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất luôn ở vị trí trang trọng nhất.

Đạo Phật và thái độ đối với những người cộng sản: 

Nhiều lần tôi hỏi chuyện các thầy cô ở đây về mối quan hệ giữa đạo Phật và đảng cộng sản. Các thầy cô phát biểu rất dè dặt thận trọng. Một thầy đọc khá nhiều sách mác-xít, từng học về lịch sử đảng cộng sản tại trường đại học sư phạm trong nước, cho rằng: “Chúng tôi luôn coi những người cộng sản cũng là những anh chị em mình trong gia đình dân tộc và cộng đồng loài người. Dù học thuyết họ theo đuổi đã từng ”vô minh”, từng bắt các linh mục tu sỹ đi cải tạo, thực tế bắt làm khổ sai, phá đình chùa, quẳng tượng Phật xuống ao, nay họ đã có được ít nhiều ”tuệ giác” đối với tôn giáo. Làng Mai đề ra việc đối thoại và cầu nguyện đối với chính quyền và đảng cộng sản; đối thoại để nói thẳng thắn những điều cần nói không e sợ, quanh co; cầu nguyện là cầu nguyện chư Phật soi sáng cho mọi người cộng sản, nhất là những người cộng sản cầm quyền, làm nảy nở Phật tánh dù còn ít trong tâm họ, cho họ biết noi gương các nhà cầm quyền thời Trần, yêu thương và quý trọng người dân, dựa vững vào đạo đức và cuộc sống tâm linh…”

… “Chúng tôi cho rằng phục hưng đất nước phải do cả dân tộc cùng làm, theo nhiều giới nhiều cách khác nhau, mỗi người chung một tay, nhà chính trị, nhà lãnh đạo tôn giáo, nhà dân chủ, trí thức, kinh doanh, cùng dựa vào gốc dân tộc”.

Tôi gặp anh bạn nhà báo F. Prévost ở làng Mai từ nước Bỉ đến, để tu tập chứ không để viết báo. Anh thuộc cánh tả, từ tuổi trẻ đã mê Staline – ”người cha của các dân tộc”, mê ông Mao, ông Hồ, để rồi vỡ mộng cay đắng trước cả khi bức tường Berlin vỡ tan. Nay anh tìm hiểu sâu đạo Phật; vốn có khiếu trào lộng, anh so sánh ”đạo Cộng sản” với đạo Phật; cộng sản cũng có Phật, Pháp và Tăng của họ. ”Phật” là Marx, ”Pháp” là học thuyết đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, ”Tăng” là đảng viên cộng sản đông đảo khắp nơi. Theo anh, Cộng sản là ”đạo Phật lộn ngược”, đầu cơ lòng thiện của con người để hứa hẹn một thiên đường nhân ái bốn bể là anh em, không có bóc lột, đầu cơ nguyện vọng độc lập dân tộc không bị nô dịch, để dành độc quyền thống trị con người từ tinh vi đến đẫm máu nhất.

Anh nói đến học giả Jean François Revel (mới mất tháng 4-2006 ở tuổi 82) triết gia uyên thâm của cánh tả Pháp đã tỉnh ngộ để chủ biên cuốn sách đồ sộ ”Sách đen của chủ nghĩa cộng sản”, với thống kê hơn 100 triệu sinh mạng chết thê thảm từ các cuộc thanh trừng, trại khổ sai, trại cải tạo, cách mạng văn hóa vô sản, quét sạch tôn giáo, những vụ án vu cáo gián điệp, phản động… Anh nói đến cái ”nghiệp” quá nặng của người cộng sản, đến nay nhiều người vẫn còn trong ”mê lộ”, chưa chịu tỉnh…

Có một đạo Phật có sức lan tỏa: 

Tôi gặp một số cán bộ, đảng viên cộng sản từ trong nước về đây tu tập, tìm hiểu. Có người là giáo sư đại học, là cán bộ từng làm việc trong ủy ban kế hoạch nhà nước, là sinh viên đoàn viên đoàn thanh niên cộng sản. Có chị là đảng viên, chồng là trung tướng quân đội nhân dân về hưu, vốn là cấp dưới tướng Trần Độ. Duyên hạnh ngộ bắt nguồn từ chuyến về thăm quê hương của tăng thân làng Mai đầu năm 2005. Có ni sư đến từ Huế và Bảo lộc (Lâm đồng) về đây học, tự coi là về nguồn để tu tập.

Quả vậy, hạt giống tự làng Mai đã gieo và mọc ở vùng cố đô Huế, vùng Bảo lộc với các chùa Từ Hiếu và tu viện Bát Nhã, cả trên đất Hoa kỳ, nơi có chùa Lộc Uyển (ở Nam Cali), Đạo tràng Thanh Sơn và Tu viện Rừng Phong… Lại còn nhiều tập thể, nhóm cư sĩ làng Mai, rải rác trên đất Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Canada và cả ở trong nước.

Riêng số xuất gia nhập tăng thân làng Mai nay đã lên gần 300. Số đang xin nhập còn nhiều. Số cư sĩ, dự tu tập hàng năm, theo từng mùa từng khóa không kể hết.

Các thày làng Mai đã tổ chức những cuộc Pháp thoại và Thiền hành ở Roma và Londres, ở Marseille và New York, ở Hàng Châu (Trung quốc)….nữa, và tháng 10 này ở giữa Paris.

Bí quyết của sự lan tỏa từ làng Mai là những nét đặc sắc của một đạo Phật trở về với chính gốc gác của mình, cởi bỏ những thần bí quá siêu nhân để về với nhân thế trần gian, với mỗi bước chân thảnh thơi, nụ cười hé nở trên đôi môi, búp sen tinh khiết bên trái tim, bữa ăn luôn ngon lành, giấc ngủ luôn an bình, thế ngồi luôn vững chãi trên niềm tin.

Bí quyết của làng Mai còn là sự hòa hợp giữa các tôn giáo, coi các tôn giáo đều là anh em, không tranh dành, đố kỵ, đối lập nhau. Bouddha, Jésus, Mahomet đều là anh em. Ở làng Mai có linh mục Công giáo, có mục sư Tin lành, có người theo đạo Do thái, Ấn độ giáo, Anh giáo, không nhất thiết từ bỏ hẳn tôn giáo của mình, vẫn có thể tu tập Phật giáo. Từ làng Mai đã có sáng kiến một cuộc gặp các nhà lãnh đạo cao nhất các tôn giáo để cùng cất lên nguyện vọng hòa bình của thập đại chúng sinh, góp phần dập tắt ngay các lò lửa chiến tranh – những địa ngục phi lý trên trần gian tuyệt đẹp này.

Một đạo Phật không làm chính trị? Về làng Mai, các thày và cô thường nói ”chúng tôi không làm chính trị”. Có lúc các thày nói: ”Làm chính trị, xin để dành cho các nhà chính trị ở ngoài đời, chúng tôi chỉ chuyên lo về tôn giáo”.

Hỏi chuyện các thày cô, trao đổi tâm tình với thày Nhất Hạnh, thỉnh thoảng tôi lại cười thầm một mình khi nhớ lại câu ”chúng tôi không làm chính trị”. Đây chỉ là một cách nói, có lẽ chỉ đúng trên một ý nghĩa nào đó.

Nhớ lại hồi chiến tranh, nhóm Phật giáo phản chiến, chống huynh đệ tương tàn, bị 2 bên lên án, bên quốc gia coi là đâm sau lưng chiến sỹ, bên kia coi chống chiến tranh cách mạng là tay sai đế quốc. Kẹt cứng giữa 2 làn đạn. Nhưng không thể nào khác. Chiến tranh là sát sinh; mà người Việt mình giết nhau nhiều nhất, lâu nhất, hăng say nhất. Hơn 1 triệu người Việt giết chết nhau suốt 30 năm, còn chưa đủ? Từ đâu để cho ”vô minh”, ”tà thức”, ”cuồng sát nhân sinh”, ” lôi kéo nhau vào hỏa ngục” lâu và sâu đến thế? Thế hệ trẻ vẫn còn chất vấn cha ông mình.

Với tò mò của nhà báo, tôi hỏi chuyện các thày cô về chuyến hồi hương đầu năm 2005. Các vị chức sắc của làng có vẻ thận trọng, vì đang còn tính đến chuyến đi thứ 2 dự định trong 77 ngày (11 tuần lễ) đầu năm Đinh Hợi (2007) đang được chuẩn bị; tôi hỏi quý thầy cô có ý kiến cho rằng đoàn đã bị chính quyền trong nước lợi dụng trong chuyến đi? Trả lời: ”Chúng tôi biết chuyện đó. Nhưng chúng tôi nghĩ khác. Chẳng lẽ dư luận quốc tế ngày nay lại nhẹ dạ, đơn giản đến vậy sao. Có ai chỉ lấy một chuyến đi để đánh giá về tự do tôn giáo của một chính quyền trong cả một năm; nghĩ thế là lầm to”. Vậy làng Mai có coi đó là một chuyến hành hương thắng lợi? Trả lời: ”Có chứ. Chúng tôi không dám chủ quan, nhưng thật ra vượt quá hy vọng ban đầu. Các buổi pháp thoại càng về sau càng đông. Chúng tôi in ra đĩa, hàng mấy ngàn đĩa nay còn đưa về trong nước.” Mấy thày làm báo Lá thư làng Mai nói thêm: ”Vui là nhiều quan chức cộng sản cấp cao ở các bộ, các viện, giáo sư đại học, sinh viên khá là đông chăm chú nghe, có vẻ mở lòng tiếp nhận, còn tỏ ra còn khát…”

Một cư sỹ trí thức Việt kiều làm việc ở Lyon (Pháp) từng tham gia tăng đoàn làng Mai về quê cho tôi rõ thêm: ”Các buổi pháp thoại cuối ở Hànội đông ngẹt. Sự đồng cảm tăng lên. Thày cao hứng nói vui: tăng thân làng Mai chúng tôi mới thiệt là cộng sản, không ai có xe riêng, có tiền riêng, điện thoại riêng, nhà riêng mà sống yên vui, yêu thương nhau, có hạnh phúc…; và xã hội chủ nghĩa mà sao lại tìm cách lật nhau, chống nhau, lừa nhau, tham nhũng lan tràn, xì ke ma túy, gái điếm khắp nơi, làm sao có hạnh phúc… Cả hội trường vỗ tay rất lâu khi thày nói rằng người cộng sản, người làm chính trị khi cầm quyền rất cần có đạo đức và cũng rất cần có cuộc sống tâm linh”.

Giữa tăng thân làng Mai và chính quyền cộng sản có điều gì căng thẳng không. Tôi được biết những cuộc thương lượng về chuyến trở về kéo dài từ 2 năm trước, không ít lúc căng, có lúc tưởng như không thành. Nhờ cái duyên – Bụt cho chăng, nên đã thành. Đó là khi họ gặp khó trong quan hệ với các nước và công luận quốc tế cũng như với dư luận trong nước, về vấn đề tôn giáo, họ phải điều chỉnh chính sách. Nói thẳng ra là họ không thể cứng mãi, họ buộc phải tính đến chuyện để một đoàn lớn tăng thân áo nâu về thuyết pháp từ Bắc vào Nam; để đoàn đem sách về đạo Phật về cũng như không kiểm duyệt trước nội dung các buổi pháp thoại.

Theo tin tôi nhận từ 16 Boileau – Paris (sứ quán Việt nam), ”sứ thần” làng Mai đến đây thương lượng về chuyến đi là ”nhà ngoại giao đáng nể”. Mềm mỏng trong đối xử, khá cứng cỏi trong nội dung. Việc tăng đoàn ”đến viếng lăng” – một vấn đề khá nhạy cảm cuối cùng họ chịu để buông lửng, không ghi vào chương trình. Cho đến khi những ngày cuối ở Hànội, đoàn ghé thăm Chùa Một cột xong, người hướng dẫn ”lơ đãng” dẫn sang phía lăng ông Hồ Chí Minh ngay sát đó, đoàn vẫn lặng lẽ đi ra nơi đậu xe, lên xe về nơi nghỉ. Coi như xong, không căng thẳng, rồi không bên nào nhắc đến nữa…

Khéo thật, tôi nghĩ, thế là không làm chính trị chăng.

Đề nghị 7 điểm với cái nhíu mày tạm biệt: Anh bạn nhà báo từ Hànội sang Paris kể cho tôi ngày cuối đoàn làng Mai ở Hànội, Thiền sư Nhất Hạnh gặp từ biệt Thủ tướng Phan Văn Khải, không khí hòa dịu nhẹ nhàng, nhưng ít ai biết có mấy phút khá căng, khi Thày đưa bản đề nghị 7 điểm về ”Chính sách của nhà nước Việt nam đối với Phật giáo.”

Nội dung trước hết là: tách rời tôn giáo với chính quyền, không có quyền can thiệp vào nhau. Các vị xuất gia sẽ không là dân biểu quốc hội, thành viên của hội đồng nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc hay của một đảng phái nào, cũng không nhận huân chương của chính quyền; làm như thế là phạm giới.

Hai là nhà nước mời những vị tôn túc trưởng lão Phật giáo làm cố vấn cho ngành lập pháp và hành pháp để tháo gỡ những khó khăn, hàn gắn những đổ nát, xây dựng tình huynh đệ trong cộng đồng Phật giáo, thiết lập truyền thông với nhà nước. Danh sách các vị được mời: Hòa thượng Trí Quang, Trí Tịnh, Nhật Liên, Huyền Quang, Quảng Độ, Phổ Tuệ…

Các điểm tiếp theo là: nhà nước và tôn giáo chung sức xây dựng đạo đức văn hóa, chống tham nhũng và tệ nạn xã hội, cấp hộ khẩu cho giới tu hành, phục hoạt Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất và hoạt động của Ban tôn giáo.

Chỉ liếc mắt thoáng đọc 2 điểm đầu, ông Khải đã nhíu mày, đặt bản văn xuống và không trả lời. Yên lặng và buổi tiếp kết thúc trong xã giao. Thông tấn xã nhà nước và báo chí trong nước nhận nghiêm lệnh không được công bố 7 điểm.

Thày Pháp Ấn cho tôi biết một điểm son của cuộc hồi hương là những cuộc chan hòa anh em giữa các giáo đoàn khác nhau, trong và ngoài nước, Giáo hội Phật giáo Việt nam với Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất, áo nâu xen với áo vàng, Bắc, Trung, Nam hòa hợp, cùng trò chuyện, cùng thiền hành, cùng tụng giới, tiêu biểu nhất là ở chùa Từ Đàm – Huế.

Làng Mai yên tĩnh… Mùa thu 2006 này, làng Mai từ ngoài nhìn vào vẫn yên tĩnh như một làng quê Việt nam thời xa xưa. Hôm nay lại là ”ngày làm biếng”. Vài tháng một lần, sau những ngày bận rộn, căng thẳng như các lớp học, hội thảo, tiếp khách thập phương, các ngày hội làng, làng công bố một ”ngày làm biếng”, cho mọi người thức dậy muộn, nằm nghỉ ngơi, tắm, giặt, đọc sách, viết thư riêng, thăm nhau, đi dạo. Mỗi thành viên mỗi tháng có 40 Euro tiền bỏ túi, tiêu vặt; theo giá tiền ”đồng” trong nước bằng 800.000 đồng, là khá lớn, nhưng ở đây vừa đủ để mua tem, thẻ gọi điện thoại, thiếp chúc mừng, bưu ảnh, chiếc kem, gói kẹo chocolat, túi vải, cuốn sách, bút mực, bàn chài và kem đánh răng…

Thật ra ở Văn phòng làng Mai, các thày cô đang thức khuya dạy sớm, dồn dập công việc. Việc chuẩn bị cuộc hành hương thứ hai vào đầu năm Đinh Hợi (2007) đang rất khẩn trương. Danh sách tăng đoàn, giấy tờ, hộ chiếu, visa. Làm việc với sứ quán Việt nam, với Sứ quán Pháp ở Hànội. Kế hoạch cho từng ngày của 77 ngày hồi hương, theo chủ đề: ”Bồi đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn”. Nội dung chính của cuộc trở về này vẫn là hoằng pháp, với một việc quan trọng là tổ chức Đại Trai Đàn, cầu siêu trong cả nước cho tất cả những người Việt anh chị em ta chết trong hơn nửa thế kỷ qua, không kể đứng bên chiến tuyến nào, dưới lá cờ nào, theo đảng phái hay tổ chức chính trị, tôn giáo, địa phương nào. Một cuộc cầu siêu chân thành, sâu sắc. Tôi mong dịp này ai có người thân chết trên biển cả xin thông tin cho biết tên tuổi, ngày và nơi bị nạn trên biển để làng Mai có thể thống kê và lên danh sách cầu siêu, từ đó may ra biết rõ thêm về sự kiện bi thảm này, vì hiện ước lượng quá xa nhau, từ 20 ngàn đến 500 ngàn, con số nào gần sự thật.

Lại còn việc theo dõi bộ phim ”Đường xưa mây trắng” sẽ tiến hành ra sao để lột tả đúng hoặc gần đúng cuộc đời của Bụt, tải được đạo pháp thâm thúy mà tự nhiên, tránh thần bí hóa và chạy theo thị hiếu, nhưng lại hấp dẫn người xem. Việc này không đơn giản, vì bộ phim lớn này sẽ có thể quay với ngoại cảnh ở Ấn độ, Thái lan, Việt nam và Mỹ…Nhân vật đông, nhiều vẻ, cần khung diễn viên có tài, nhập vai thật đạt, sống động, tả được cả tăng đoàn theo Bụt lên đến 1.250 đệ tử, với cuộc sống trong rừng rậm, cả một thế giới động vật: voi, hổ, hươu, nai, cừu, trâu, bò, rắn, trăn, cá sấu, thỏ, sóc, thiên nga, phượng hoàng, gà, vịt, chim sẻ, công, sáo… và thiên nhiên hùng vỹ: thác đổ, đồng cỏ, sông Hằng kỳ vỹ, núi tuyết Hymalaya, bầu trời sao và mây trắng…đều có ”vai diễn” trong phim.

Ngay trước mắt đoàn tăng thân làng Mai sẽ thiền hành giữa thủ đô Paris ngày chủ nhật 22-10 sau cuộc nói chuyện ở Hội trường lớn Mutualité tối 21-10.

Thật là duyên hạnh ngộ đẹp cho tôi được trở về làng Mai mùa thu năm nay. Cuộc đời còn lại của tôi mang dấu ấn cuộc hành hương ngắn ngủi này. Tự tin hơn, yêu đời hơn. Ăn thức ăn đơn giản mà ngon lành hơn. Tim bị bệnh vì đập thất thường nay ổn định khác hẳn trước. Danh lợi hão huyền coi nhẹ từ 16 năm tan biến hẳn như sương khói. Tôi hết đỏ mặt, cao giọng khi tranh luận. Tôi tin hơn ở con đường phi bạo lực, quý trọng gấp bội các chiến sỹ dân chủ trong nước gan góc kiên trì lẽ phải, sự thật và điều thiện, đang nêu gương cho các đảng viên cộng sản còn mê muội sớm từ bỏ tà đạo.

Tạm biệt làng Mai thân thiết, tôi nhớ đến lời Bụt nói với chú bé chăn trâu paria/tiện dân: “Con ạ, có những điều đông đảo người tin từ lâu là lẽ phải, vậy mà là tà thức đấy!” Đó là tà thức coi tầng lớp paria nhơ nhớp hơn trâu chó, ai đụng vào họ là bị nhiễm bẩn không sao gột rửa. Như tà thức gần đây coi đấu tranh giai cấp và bạo lực là thiêng liêng (!), là động lực thúc đẩy xã hội (!), như tà thức hiện tại coi độc quyền một đảng là chân lý vĩnh cửu (!), bất chấp giá trị dân chủ hiển nhiên của thời đại, bất chấp những kêu gào bất công và oan ức ngút ngàn, ngày đêm vang lên từ ngàn vạn dân oan khắp nông thôn và thành thị quê ta, bất chấp can ngăn của các bậc thức giả trong và ngoài đảng. Mọi nơi đang đòi đa nguyên đa đảng trong trật tự như đòi nước và không khí, coi như chiếc cầu vượt sóng dữ, đúng như lời dạy thâm thúy của Phật: lẽ phải không nằm ở giới quyền quý, cũng không ở giới tăng lữ, nó nằm rộng khắp trong đông đảo chúng sinh. Người cầm quyền phải học cúi đầu cầm bát đi khất thực, thực tế là ra khỏi những dinh thự xa hoa một cách láo xược, khiêm tốn đi xin những lời hay ý đẹp trong người dân thường qua lá phiếu riêng của từng công dân.

Đạo Phật canh tân, đạo Phật trẻ lại đang cùng các lực lượng dân chủ và dân tộc kết hợp đấu tranh chính trị với phục hưng văn hóa, bồi dưỡng tâm linh, đẩy lùi tà đạo và tà thức, độc đảng và bạo quyền, mở ra trang sử mới cho dân tộc Việt nam luôn quý điều Thiện, chuộng tình huynh đệ, nghĩa đồng bào.

Paris. 18/10/2006.
BÙI TÍN
(Nguồn: Tập san Phật giáo dấn thân)

Video yêu thích
Nghìn lẻ một đêm
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook