Mark Twain nhà văn Mỹ

Mark Twain

MARK TWAIN NHÀ VĂN MỸ
Hoàng Kim

Mark Twain đến nay vẫn được coi là ngôi sao sáng nhất trong giới những người cầm bút trên văn đàn Mỹ. Ông giống như vì tinh tú sao chổi Halley rực sáng trên bầu trời Florida khi ông sinh và mất. “Mark Twain đã làm thay đổi cách nghe nhìn của người Mỹ, ông chính là một Lincoln trong văn học”. Mark Twain đã cống hiến cho nền văn hóa Mỹ một thứ văn học tinh tế và đầy chất hài hước. Tôi đã viết Châu Mỹ chuyện không quên khảo luận Borlaug và Hemingway, nay muốn viết đôi điều về Mark Twain con người kì dị này.…

Mark Twain cuộc đời và sự nghiệp

Mark Twain là nhà văn khôi hài và tiểu thuyết gia nổi tiếng bậc nhất của nước Mỹ. Mark Twain tên thật là Sam Langhorne Clemens, chào đời vào ngày 30 tháng 11 năm 1835 tại Florida, thuộc tiểu bang Missouri, Ông là đứa con thứ sáu trong bảy người con. Nơi Mark Twain sinh ra ngay tại bờ sông Mississippi con sông lớn nối hai miền bắc nam,thuộc miền đất được coi là trái tim của Hoa Kỳ, gần vùng biên giới. Cha của Mark Twain là luật sư John Marshall Clemens, đã rời khỏi tiểu bang Virginia để sang định cư tại Missouri. Mẹ của Mark Twain là bà Jane Lampton Clemens. người từ tiểu bang Kentucky. Cha mẹ ông gặp nhau khi cha ông dời đến sống ở Missouri và họ cưới nhau vào năm 1823. Hai tiểu bang Missouri và Kentucky vào thời đó, đều còn duy trì chế độ nô lệ. Năm 1821, Missouri được nhận vào Liên Bang Hoa Kỳ. Gia đình của cha mẹ Mark Twain không giàu nhưng cho các con được sống tự do, thoải mái.

Mark Twain khi lên 4 tuổi vào năm 1839, gia đình cha mẹ ông dọn về Hannibal, Missouri, một thị trấn cảng nằm về phía tây trên bờ sông Mississippi. cách thành phố lớn Saint Louis 120 dặm về phía bắc. Dân số của thị xã này thuở đó khoảng 1.000 người, một nửa là nô lệ da đen. Nhiều người nô lệ da đen không đủ giấy tờ đều bị bắt.và bị bán cho các đồn điền thuộc phía Nam như Louisiana, Georgia… Mark Twain trải qua tuổi thơ tại thị xã Hannibal, đã từng bơi lội trên sông, chơi đùa trong các cánh rừng hay trên các hòn đảo của dòng sông và đọc các cuốn truyện phiêu lưu mạo hiểm.

Mark Twain đã viết ra nhiều tác phẩm danh tiếng từ các phong cảnh, kinh nghiệm và kỷ niệm với dòng sông Mississippi. Đó là dòng sông lớn, nối miền bắc với các thành phố phía nam như Memphis và New Orleans, và do con sông Ohio hội nhập nên người dân có thể đi tới Cincinnati và nhiều thành phố khác thuộc miền đông.

Mark Twain sau năm 1847 khi người cha qua đời khi ông 11 tuổi đã tới học nghề với người anh tên là Orion, người này có một nhà in và một tờ báo. Thời ấy nghề thợ in không kiếm nhiều tiền, Mark Twain đã từng đi làm công tại nhiều thành phố như Keokuk, New York, và từng mơ tới xứ Nam Mỹ để tìm vàng, mong học cách làm giàu nhanh chóng.

Mark Twain đã tới học nghề lái tàu với ông Horace Bixby vào năm 1857 và đã ưa thích nghề mới này hơn tất cả các nghề khác từng làm trước kia. Vào thời kỳ đó, thuyền trưởng lái tàu trên sông là một người đứng sau bánh lái và nhiều phong cảnh đẹp của dòng sông đã hiện ra trước mắt, thời gian khác nhau trong ngày lại có các cảnh trí khác nhau, với các khúc sông quanh co chứa nhiều phong cảnh thay đổi từ mùa này sang mùa khác. Các kinh nghiệm và kỷ niệm của quãng đời học nghề lái tàu này đã được Mark Twain mô tả trong cuốn truyện “Đời sống trên dòng sông Mississippi” (Life on the Mississippi). Sam Clemens lấy được bằng lái tàu trên sông vào năm 1859 nhưng rồi Nội chiến Hoa Kỳ đã xảy ra, khiến cho việc lưu thông trên sông Mississippi bị chấm dứt.

Mark Twain tham gia vào lực lượng quân sự miền Nam nhưng sau ba tuần lễ, đã đào ngũ, trốn đi theo nghề đào mỏ bạc tại tiểu bang Nebraska, rồi lang thang từ thị xã này qua thành phố kia và cuối cùng tới tiểu bang Nebraska, định cư tại thị xã Virginia City. Sam Clemens bắt đầu viết bài cho tờ báo Territorial Enterprise của thị xã này và bắt đầu Vào năm 1863, Sam Clemens dùng bút hiệu “Mark Twain”, có nghĩa là “sâu 2 tầm”, do từ các kỷ niệm lái tàu trên dòng sông Mississippi. Mark Twain sau mấy lần cãi nhau với chủ bút tờ báo, ông đã rời Nebraska và dọn qua tiểu bang California vào mùa xuân năm 1864.Mark Twain cho xuất bản cuốn truyện “Con ếch hay nhảy của quận hạt Calaveras” (the Jumping Frog of Calaveras County) và đạt được danh tiếng nhà văn được yêu mến. Khi công ty Tàu Thủy Thái Bình Dương (the Pacific Steamboat Company) khánh thành tuyến đường thủy giữa thành phố San Francisco và các hải đảo Hawaii, Mark Twain được tờ báo The Sacramento Union phái đi làm phóng sự. Mark Twain đã viết một loại bài phóng sự du ký theo lối văn đàm thoại (colloquial speech) nổi danh là nhà viết văn khôi hài (humorist) trong văn chương Mỹ với lối văn hài hước giễu cợt trào lộng các phong tục, tập quán và các định chế của xã hội đương thời . Ông được xếp hạng cùng với các nhà văn như Bret Harte, Artemus Ward và Petroleum V. Nasby là các nhà văn danh tiếng dân gian.

Mark Twain thực hiện một chuyến du lịch qua châu Âu và miền Đất Thánh Palestine bằng con tàu thủy Quaker City năm ăm 1867,. Các bức thư kể về chuyến du lịch này, gửi cho tờ báo Alta California tại thành phố San Francisco và tờ báo New York Tribune tại thành phố New York, được gom lại và xuất bản vào năm 1869 thành cuốn truyện “Các kẻ ngây thơ ở nước ngoài” (The Innocents Abroad). Qua cuốn này, Mark Twain đã chế giễu sự điên khùng của nhiều du khách Mỹ đã phải băng qua đại dương để đi coi các ngôi mộ của những người đã chết trong khi còn rất nhiều thứ đang sống, đáng coi hơn tại Hoa Kỳ. Tác giả Mark Twain cũng viết khôi hài về các cảnh nhìn thấy, về các tập quán nghịch lý của các quốc gia đã đi qua và so sánh Hoa Kỳ là một đất nước sống động, đang phát triển, trái ngược với châu Âu là một miền đất đang thoái hóa, suy tàn. Tác phẩm của ông đã khiến ông nổi tiếng và được nhiều người tôn trọng, đồng thời các nhà văn Miền Tây Hoa Kỳ không còn bị coi thường như trước nữa

Mark Twain khi đã nổi tiếng, ông đã kết hôn vào năm 1870 với cô Olivia Langdon thuộc một gia đình giàu có và danh giá. Các kỷ niệm và cách tán tỉnh người đẹp của thời kỳ này được lưu dấu trong các bức thư mà Mark Twain viết cho Olivia và cho các bạn của cô nàng, rồi về sau thể hiện qua lối ve vãn của Tom đối với Becky trong tác phẩm “Tom Sawyer”. Sau đám cưới 5 năm, Mark Twain rời gia đình về thành phố Elmira, thuộc tiểu bang New York, rồi dọn sang cư ngụ tại thành phố Hartford thuộc tiểu bang Connecticut vào năm 1871. Tại nơi sau này đã ra đời các người con của Mark Twain: con trai Langdon chết non vào năm 1872 do bệnh bạch hầu lúc 19 tháng tuổi, sau đó là ba cô con gái Susy, Clara và Jean, chào đời trong các năm từ 1872 tới 1880. Vào năm 1874, gia đình Mark Twain dọn về một căn nhà sang trọng 19 phòng tại Hartford. Tại nơi đây, Mark Twain đã làm quen được một số nhân vật trong giới văn học, trong số này có William Dean Howells là một tác giả danh tiếng và chủ nhiệm của tờ nguyệt san “The Atlantic Monthly”. Howells đã sớm nhận ra tài năng hài hước của Mark Twain, ông đã khuyến khích nhà văn trẻ phát triển biệt tài đó bằng cách cố vấn và trợ giúp cho tờ nguyệt san Atlantic.

Mark Twain vào những năm 1880, đã thành lập và điều hành một công ty xuất bản cho riêng mình cũng như tìm cách đầu tư vào vài phạm vi thương mại khác, đặc biệt là việc chế tạo máy in do người phát minh tên là Paige. Trong các năm từ 1881 tới 1894, Mark Twain đã lỗ vốn gần 200,000 mỹ kim đầu tư vào thứ máy in kể trên, vì các thay đổi về kiểu mẫu, đặc tính đã đưa tới thất bại. Tháng 4 năm 1894, công ty ấn loát của Mark Twain phải tuyên bố phá sản rồi từ tháng 1 năm 1895, nhà văn bị ô danh vì không trả được nợ. Nhưng nhà văn đã tìm cách phục hồi tài sản bằng cách đi diễn thuyết, có khi thu được 1,000 đô la Mỹ mỗi lần và ông đã từng thực hiện nhiều chuyến đi được quảng cáo rầm rộ, tới cả các thành phố xa xôi thuộc Ấn Độ, Nam Mỹ và châu Úc. Mark Twain kết bạn với các nhân vật danh tiếng, giàu có như Andrew Carnegie, William Rockfeller và được trao tặng các văn bằng danh dự tại Đại học Yale vào năm 1901, Đại học Missouri vào năm 1902 và Đại học Oxford vào năm 1907. Tác giả Mark Twain là một nhân vật quốc tế, thường mặc bộ âu phục màu trắng mang vẻ phô trương, hút thuốc xì gà, với các bài nói chuyện hàm chứa nhiều chỉ trích xã hội một cách cay đắng và các bài văn này về sau được phổ biến qua các tác phẩm “Người ngồi trong bóng tối” (The Person sitting in the Darkness, 1901) và “Độc Thoại của Vua Leopold” (King Leopold ‘s Soliloquy, 1905).

Mark Twain sau khi đã phục hồi được các vấn đề tài chính vào năm 1898, lại gặp các thảm cảnh trong đời sống gia đình. Người con gái lớn nhất Susy qua đời vào năm 1896 vì bệnh đau màng óc trong khi cha mẹ và em Clara đang ở nước ngoài. Năm 1903, Mark Twain bán đi ngôi nhà thân thương tại Hartford vì những kỷ niệm về Susy. Tới ngày 5 tháng 6 năm 1904, bà vợ Olivia cũng lìa đời vì bệnh tim rồi người con gái út tên là Jean, trước kia mắc bệnh kinh phong, cũng chết vào ngày 24 tháng 12 năm 1909.

Mark Twain bị giáng những khó khăn tài chính và thảm cảnh gia đình khủng khiếp vẫn vượt lên nghịch cảnh để viết văn. Các tác phẩm cuối đời ông gồm “Người Mỹ đòi quyền lợi” (The American Claimant, 1892); “Bi kịch của Pudd’nhead Wilson” (The Tragedy of Pudd’nhead Wilson, 1894) “Nhớ về Joan of Arc” (Personal Recollections of Joan of Arc, 1896), “Theo Đường Xích Đạo” (Following the Equator, 1897), “Kẻ tham nhũng tại Hadleburg” (The Man that Corrupted Hadleburg, 1899) đã lưu dấu những đóng góp lo81n của ông cho văn chương Mỹ . Mark Twain các tác phẩm của ông càng về sau,càng bớt dần tính khôi hài của thời trẻ mà đằm sâu tính triết lý chính luận

Mark Twain qua đời vì bệnh tim vào ngày 21 tháng 4 năm 1910, để lại nhiều bản thảo kể cả một cuốn tự thuật lớn và dở dang. Bản thảo của một tác phẩm bi quan xuất bản vào năm 1916 có tên là “Người xa lạ bí mật” (The Mysterious Stranger) đã mô tả cuộc viếng thăm của quỷ Sa Tăng tới một ngôi làng thuộc nước Áo vào thời Trung Cổ.

Mark Twain là một trong các nhà văn Mỹ hạng nhất, một bậc thầy về ngôn ngữ theo hình thức tiêu chuẩn, chứa đựng thứ tiếng địa phương của Miền Tây Hoa Kỳ. Thể văn buông lỏng (loose rhythm of the language) trong các tác phẩm của Mark Twain đã cho người đọc cảm giác về lời nói thực sự (real speech) và lối hành văn hiện thực này đã ảnh hưởng tới nhiều nhà văn Mỹ khác. Mark Twain vẫn nổi danh là một nhà văn khôi hài mặc dù đời ông nhiều nghịch cảnh Đóng góp lớn lao của Mark Twain là cách hành văn đặc biệt Mỹ, khác hẳn lối viết văn của các tác giả người Anh.“Mark Twain đã làm thay đổi cách nghe nhìn của người Mỹ, ông chính là một Lincoln trong văn học

Mark Twain những kiệt tác văn chương

Mark Twain di sản lắng đọng

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là chau-my-chuyen-khong-quen-1.jpg

CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN
Hoàng Kim
Tôi đã nhiều lần tới châu Mỹ, tới cả Trung Mỹ, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Đó là kinh nghiệm sống quý giá cho sự nghiên cứu và giảng dạy khoa học cây trồng, đặc biệt là cây lương thực. Tôi nhớ thầy Norman Boulaug và nhiều thầy bạn ở nơi ấy, nhớ đất. nhớ người. Tôi có thói quen chép lại ghi chú ngắn và ghi hình về kỷ niệm sau mỗi chuyến đi, lần này mới có dịp hệ thống lại. “Châu Mỹ chuyện không quên” lắng đọng trong lòng tôi những ký ức sâu sắc về công việc chuyên môn khoa học cây trồng, cây lương thực yêu thích, kết nối với đất nước, con người, bạn hữu, và nền văn hóa châu Mỹ. Tôi kể từ chuyến đi Mỹ lần đầu tiên năm 1988, cho tới nhiều lần về sau lắng đọng chuỗi trãi nghiệm thân thương với thầy bạn ở bên kia bờ đại dương. Ba nơi chính của châu Mỹ mà tôi may mắn được tới, đó là vùng vật liệu di truyền ở ba trung tâm khởi nguyên cây trồng toàn cầu của chúng tại Châu Mỹ gồm Trung tâm ngô và lúa mì quốc tế CIMMYT ở Mê hi cô. Tung tâm khoai lang và khoai tây quốc tế CIP ở Peru. Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới CIAT về sắn, đậu thực phẩm, lúa gạo châu Mỹ ở Côlômbia. Những điểm đến này tương tự như Viện Nông nghiệp Nhiệt đời Quốc tế IITA ở Nigeria châu Phí, Viện Nghiên cứu Cây trồng Quốc tế cho vùng Nhiệt đới Bán khô cằn ICRISAT ở Ấn Độ, và Viện Lúa quốc tế IRRI ở Philippines. Những chốn ấy cũng thật thân thuộc với tôi. Tại đấy sách chuyên khảo cây trồng, tạp chí, trang web, video thật phong phú, sâu sắc và thật đáng ao ước. Cũng từ đấy mà tôi may mắn được đi thăm thú rộng ra các vùng lân cận theo điều kiện và hoàn cảnh của mỗi chuyến đi.

“Châu Mỹ chuyện không quên” là chùm thông tin với mục đích nhằm cung cấp các điểm nhấn tư liệu về cây lương thực châu Mỹ cho bạn đọc và các bài học trãi nghiệm của các chuyến đi thực tế về tình yêu cuộc sống kể lại cho các em sinh viên và bạn trẻ đồng nghiệp ham học hỏi, Tác phẩm gồm 36 đường links, được hiệu đính, bổ sung, để đọc và suy ngẫm

Châu Mỹ chuyện không quên
Hoàng Kim

Niềm tin và nghị lực
Về lại mái trường xưa
Hưng Lộc nôi yêu thương
Năm tháng ở trời Âu

Vòng qua Tây Bán Cầu
CIMMYT tươi rói kỷ niệm
Mexico ấn tượng lắng đọng
Lời Thầy dặn không quên

Ấn tượng Borlaug và Hemingway
Con đường di sản Lewis Clark
Sóng yêu thương vỗ mãi
Đối thoại nền văn hóa

Truyện George Washington
Minh triết Thomas Jefferson
Mark Twain nhà văn Mỹ
Đi để hiểu quê hương

500 năm nông nghiệp Brazil
Ngọc lục bảo Paulo Coelho
Rio phố núi và biển
Kiệt tác của tâm hồn

Giấc mơ thiêng cùng Goethe
Chuyện Henry Ford lên Trời
Bài đồng dao huyền thoại
Bảo tồn và phát triển

Kazuo Kawano và Reinhardt Howeler
Một ngày với Hernán Ceballos
CIAT Colombia thật ấn tượng
Martin Fregene xa mà gần

Châu Mỹ chuyện không quên
CIP khoai tây khoai lang
Nam Mỹ trong mắt ai
Nhiều bạn tôi ở đấy

Machu Picchu di sản thế giới
Mark Zuckerberg và Facebook
Lời vàng Albert Einstein
Bill Gates học để làm

Thomas Edison một huyền thoại
Toni Morrison nhà văn Mỹ
Walt Disney bạn trẻ thơ
Lúa Việt tới Châu Mỹ..

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là chau-phi-chuyen-khong-quen-142.jpg

CIAT COLOMBIA THẬT ẤN TƯỢNG

Ở Colombia, tôi ấn tượng nhất ba nơi là 1) CIAT tại Cali, 2) sông Magdalena và đền thần Mặt trời, với dãy núi Andes và nhiều đồn điền cà phê; 3) thủ đô Bogota tại Zona Rosa nổi tiếng với các nhà hàng và cửa hiệu, có Cartagena một khu phố cổ trên bờ biển Caribê gợi nhớ biển Nha Trang của Việt Nam. Tôi thích nhất CIAT tại Cali là vườn sắn lai. Tôi nhiều ngày luôn cặm cụi ở đấy. Tôi đã kể lại trong bài “Nhớ châu Phi” lời nhắn của giáo sư tiến sĩ Martin Fregene: “Kim thân. Mình hiểu rằng CMD, bệnh virus khảm lá sắn, đã vô tình được du nhập vào Việt Nam. Mình khuyến khích bạn nhập các giống sắn nuôi cấy mô MNG-19, MNG-2 và 8-9 C-series từ CIAT để đánh giá chúng về hàm lượng tinh bột và năng suất bột. Nếu hàm lượng tinh bột và năng suất tinh bột của những giống sắn kháng bệnh CMD này đủ cao, hãy nhân lên và phân phối giống sắn mới này đến các khu vực bị ảnh hưởng. Hãy cho mình biết nếu mình có thể trợ giúp thêm”. (Dear Kim, I understand that CMD has been accidentally introduced into Vietnam. I encourage you to import tissue culture plants of MNG-19, MNG-2, and the 8-9 C-series from CIAT and evaluate them for starch content. If they are high enough, multiply and distribute to affected areas. Let me know if I can be if more help). Tôi đã trả lời: “Cám ơn bạn. Tôi đã mang nguồn gen giống sắn kháng CMD về Việt Nam rồi, nay mình đang cùng các cộng sự của mình lai tạo giống kháng này với những giống sắn ưu tú năng suất tinh bột cao của Việt Nam”.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là chau-my-chuyen-khong-quen-151.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là peru-machu-picchu.jpg

MACHU PICCHU DI SẢN THẾ GIỚI

Bạn hỏi tôi ấn tượng nhất điều gì ở Nam Mỹ?. Tôi ấn tượng nhất là Machu Picchu di sản thế giới UNESCO ở Peru, nơi được Tổ chức New7Wonders chọn là một trong bảy kỳ quan thế giới mới. Đó là di sản nền văn minh Inca, người da đỏ Inca  và thần Mặt trời. Đấy thực sự là một kho báu kỳ bí vĩ đại tâm linh khoa học kỳ bí chưa thể giải thích được đầy đủ. Đền thờ thần Mặt trời tựa lưng vào cột chống trời “Cổ Sơn”, theo tiếng quechua của người Inca; thỉnh thoảng được gọi là “Thành phố đã mất của người Inca” một khu tàn tích Inca thời tiền Columbo trong tình trạng bảo tồn tốt ở độ cao 2.430 m trên một quả núi có chóp nhọn tại thung lũng Urubamba ở Peru, khoảng 70 km phía tây bắc Cusco. Tại thủ đô Lima có một đường bay nội địa dẫn tới Cusco. CIP gần trung tâm Lima và sân bay nên bạn rỗi hai ngày là có thể đi thăm được. Tất cả các chuyến bay tới Machu Picchu đều xuất phát từ Cusco. xem tiếp Châu Mỹ chuyện không quên

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

PDF và Video yêu thích
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
Ban Mai; Chỉ tình yêu ở lại
Kỷ yếu Khoa Nông Học 65 năm thành lập Khoa
Secret Garden, Bí mật vườn thiêng 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Thương nhớ Biển Hồ trà

QUÊ TÔI BIỂN HỒ TRÀ
Thích Giác Tâm


Tôi yêu sương sớm nơi này
Với làn gió nhẹ khẽ lay giấc nồng
Nhớ tịch lặng chốn cửa Không
Nhớ tình mẹ giữa mênh mông đồi trà
Nhớ núi lửa Chư Đăng Ya
Hàng thông trăm tuổi mù sa sáng chiều
Dã Quỳ thân phận liêu xiêu
Khi lên tuyệt đỉnh, khi nhiều lãng quên
Núi cao sông rộng êm đềm
Một lần đến lòng bỗng mềm nhớ nhung.

Ngày 27.11.2019
(Chùa Bửu Minh, Nghĩa Hưng, Chư Păh, Gia Lai)
Ảnh: Công Ngô.

THƯƠNG NHỚ BIỂN HỒ TRÀ
Hoàng Kim


Tôi thương chốn ấy vô cùng
Có người thân quý giữa vùng núi sông
Thương ai thánh thiện trong lòng
Thương điều phúc hậu thiền tông trau mình
Thương cha thương mẹ hiếu sinh
Bình an trăm tuổi nghĩa tình sắt son
Sương mai nắng sớm trăng non
Gió rừng mây núi phật môn ân tình
Trà Biển Hồ Chua Buu Minh
Cao tăng bạn cũ chốn thiêng ta về

TRÀ BIỂN HỒ
Hoàng Kim


Thương trà Biển Hồ
Chua Buu Minh
Sương che mờ sáng
Biển ẩn thâm xanh
Chẳng giấu được Tháp Hiền

Nhớ Trà Tân Cương
Cụ Phùng Cung
“Quất mãi nước sôi
Trà đau nát bã
Không đổi giọng Tân Cương”

Người hiền dân tin
Đất lành chim đậu
Trần Huyền Trang
Tháp Đại Nhạn
Thăm thẳm một góc nhìn.

Một đời người
Một ngôi chùa
Một Biển Hồ
Một bóng nắng
Một dát vàng
Gần trần nhưng thoát tục

Hai đôi mắt
Hai bầu sữa
Hai Nam Bắc
Hai sớm hôm
Hai tung hoàng
Xa lòng mà một ý

NHÀ TÔI CHIM LÀM TỔ
Hoàng Kim

Thích quá đi.
Nhà tôi có chim về làm tổ
Cây bồ đề cuối vườn
Cò đêm về trắng xóa.

Gốc me cho con
Xanh non màu lá
Ong đi rồi về
Sóc từng đàn nhởn nhơ.

Cây sơ ri ba mẹ trồng
Lúc con tuổi còn thơ
Nay như hai mâm xôi
Tròn đầy trước ngõ.

Cây mai Bác trồng
Bốn mùa hoa thương nhớ
Trúc xanh từ non thiêng Yên Tử
Trúc vàng ân nghĩa Đào Công.

Em ơi!
Hôm nay trên cây lộc vừng
Chim phượng về làm tồ
Mẹ dạy con tập bay
Sao mà đẹp thế !

Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm …

xem tiếp bài viết và hình ảnh tại Nhà tôi chim làm tổ
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-toi-chim-lam-to/
Thông tin tiếp nối tại Kim Hoàng
80 khu Trung tâm Hưng Thịnh Trảng Bom Đồng Nai

Công viên Tao Đàn HCM – Tao Dan Park
https://hoangkimlong.wordpress.com/catrgory/toi-thuong-bien-ho-tra
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-bien-ho/

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn; Kim on Facebook, Kim on Twitter

Cuối dòng sông là biển

songdongnai

CUỐI DÒNG SÔNG LÀ BIỂN
Hoàng Kim

Minh triết là yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Đức tin phục sinh thánh thiện
Yêu thương mở cửa thiên đường.

Lời dặn của Thánh Trần
Yên Tử Trần Nhân Tông
Lev Tonstoy năm kiệt tác 
Ngày xuân đọc Trạng Trình.

Ngắm dấu chân thời gian

Đọc lại và suy ngẫm. Hôm nay tôi nhận được thư của một bạn sinh viên đã ra Trường. Bạn ấy đọc Facebook và thích các bài viết CNM365 Tình yêu cuộc sống của tôi. Bạn ấy hiểu Dạy và học ngày nay không chỉ trao truyền tri thúc mà còn thắp lên ngọn lửa. Bạn ấy thấu hiểu lời bài giảng mà chúng tôi luôn nhắc đi nhắc lại: “Mục đích sau cùng của dạy và học là thấu hiểu bản chất sự vật, có lời giải đúng và làm được việc” “Cái gốc của sự học là học làm người”. Cuối dòng sông là biển. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cuoi-dong-song-la-bien/

Bạn ấy hỏi như sau: “Thưa thầy! Con là Vương, lớp Nông học 14 Ninh Thuận. Con may mắn được biết thầy qua những bài giảng hay của Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả. Con xin lỗi vì những kiến thức thầy truyền dạy con đã quên đi ít nhiều. Nhưng cái con vẫn còn nhớ và vẫn còn cảm nhận được mỗi khi con suy nghĩ và bắt gặp hình ảnh của thầy trên Facebook đó là thầy cho con cảm giác an lành, gần gũi và ấm áp nữa. Con đã đi làm nhưng vẫn băn khoăn về định hướng tương lai của mình. Con không rõ sứ mệnh cuộc đời con là gì? Con không biết là mình phải tự suy nghĩ về cái sứ mệnh đó hay phải trải qua các sự kiện trong đời rồi mình mới nhận ra sứ mệnh đó. Con cũng muốn được biết Con người sinh ra trên đời này để làm gì? Có phải họ sinh ra để rồi chết đi hay còn ý nghĩa nào khác nữa. Con biết thầy rất bận nhưng rất mong được thầy giải đáp. Nếu thầy chưa có thời gian thì con sẽ chờ để được thầy giải đáp ạ! Con mong thầy có nhiều sức khoẻ!” . Tôi đã trả lời “Tuyệt vời Dép Chính Chủ (là nick name của bạn ấy) Thầy sẽ sớm trả lời câu bạn hỏi. Ý nghĩa cuộc sống, bạn đọc thêm Minh triết sống phúc hậu, CNM365 Tình yêu cuộc sốngCuối dòng sông là biển đó là câu chuyện ẩn ngữ riêng chung, là câu chuyện dài cho những ai thích nhìn lại ý nghĩa cuộc đời, những giá trị di sản lắng đọng, nhìn lại sự được mất thành bại trong đời mình, tìm về giá trị đích thực của năm tháng đi qua chỉ tình yêu còn lại, tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa dân tộc. Chúng ta đã đến lúc công tâm nhìn lại những giá trị lịch sử văn hóa di sản: 1. Phục sinh giữa tối sáng; 2. Dạo chơi non nước Việt; 3. Đi như một dòng sông; 4. Nam tiến của Người Việt. 5. Đoàn tụ đất phường Nam. ‘ Minh triết đời yêu thương; Cuối dòng sông là biển Đức tin phục sinh thánh thiện Yêu thương mở cửa thiên đường’.Tôi đã đọc ‘Phục sinh’ và ‘Đường sống’ của Lev Tonstoy giữa hai vùng tối sáng, khi cuộc đời được trãi nghiệm qua các thời khắc sinh tử hiểm nghèo, đi trong vùng tối và lần tìm ra lối sáng minh triết. Ta chợt chứng ngộ thấu hiểu giá trị của các lời khuyên khôn ngoan tại nhiều cuộc đời danh nhân và và nhiều tác phẩm lớn. ‘Phục sinh’ ,‘Đường sống’ của Lev Tonstoy là sách đúc kết kiểu đó, khó đọc nhưng thật tuyệt vời. Đó là giá trị lắng đọng. Cuối dòng sông là biển.

*

Sông Đồng Nai Biên Hòa gần Văn Miếu Trấn Biên là nơi sông về gần tới biển, nôi phục sinh của người Việt trên hành trình Nam tiến. Chúng tôi lớp sinh viên Trồng trọt khóa 2, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, đã về Văn Miếu Trấn Biên dâng hương ghi ơn những người mở đường sống cho dân tộc Việt tạo dựng nên nơi này; ghi nhớ tình thầy bạn vui học bên nhau một thời. Ghi chép và chùm ảnh quý thỉnh thoảng xem lại và suy ngẫm

Đời tôi xuôi phương Nam, sống thuận theo tự nhiên, đời lắng đọng ân tình của năm lớp bạn hữu: Trồng trọt 4 Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc; Trồng trọt 10 Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (là Đại học Nông Lâm Huế và Đại học Nông Lâm Bắc Giang ngày nay), Trồng trọt 2A, Trồng trọt 2B, Trồng trọt 2C Đại học Nông nghiệp 4 (là Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện tại. Tôi thoáng chốc nhìn lại, với ba lần ra đi và ba lần trở về trường đại học, lắng đọng một cảm xúc Trường tôi nôi yêu thương không thể nào quên.

Tôi may mắn đã Đi như một dòng sông; theo đường sống của dân tộc đang đi Nam tiến của người Việt. Sự trãi nghiệm hạnh phúc cá nhân nằm trong số phận đường sống của dân tộc. Cuối dòng sông là biển. Bài ký này, tôi lưu lại ba ghi chép nhỏ các giá trị lắng đọng: 1) Phục sinh giữa tối sáng; 2) Nam tiến của người Việt; 3) Cuối dòng sông là biển

1

PHỤC SINH GIỮA TỐI SÁNG

Phục sinh là tiểu thuyết sau cùng của Lev Tonstoy, xuất bản năm 1899, thể hiện cô đọng và đầy đủ hệ thống nhất về ước vọng, lòng nhiệt tâm, triết lý đạo đức của Tonstoy. Lâu nay chúng ta thường nghĩ về Lev Tonstoy là một đại văn hào với các tiểu thuyết lừng danh Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina và bộ ba tiểu thuyết tự truyện gồm “Thời thơ ấu”, “Thời niên thiếu”, và “Thời tuổi trẻ”mà rất ít biến đến một Lev Tonstoy “Thánh sư” nhà tư tưởng mà Sa Hoàng đặc biệt ngưỡng mộ. Lev Tonstoy Suy niệm mỗi ngày, Đường sống, cổ tích cho người lớn, ngụ ngôn cho trẻ em mới là sông lớn về tới biển , trí tuệ văn sử lắng đọng sau cùng lcủa ông . Đó là tinh hoa trí tuệ minh triết vĩ đại của một bậc Thầy. Tôi lắng nghe tiếng nói sâu thăm thẳm từ nhận thức của đạo Bụt: “Ngươi theo tay ta chỉ để thấy kia là mặt trăng, nhưng luôn nên nhớ ngón tay ta không phải là mặt trăng”. Bao nhiêu người trên đời cho đến lúc cuối đời vẫn không phân biệt nỗi trí tuệ và vô mình, luẩn quẫn trong sự cố chấp ấy. Phục sinh giữa tối sáng là chuyện của Tolstoy một vị quý tộc tìm cách chuộc lại lỗi lầm phạm phải của mình từ nhiều năm trước và gửi gắm những ước muốn, quan điểm sống mới, tình yêu cuộc sống. Maksim Gorky từng kể rằng Tolstoy đã bật khóc ngay trước mặt Gorky và Chekhov khi đọc phần kết của tác phẩm này. Tonstoy sau tác phẩm lớn Phục sinh đã chuyển hẳn nguồn năng lượng dồi dào cuối đời mình cho mảng truyện cổ tích cho người lớn và truyện ngụ ngôn cho trẻ em. Một số truyện ngụ ngôn của ông phỏng theo ngụ ngôn Ê dốp và từ truyện Hindu. Một tiểu thuyết ngắn khác, Hadji Murat, được xuất bản đồng thời vào năm 1912. Ông khoảng 20 năm cuối đã dành sức cho 365 Suy niệm mỗi ngày.

Bá tước Lev Tolstoy.có tầm ảnh hưởng sâu rộng toàn cầu về văn chương và chính luận là điều không ai có thể nghi ngờ. “Chiến tranh và hòa bình” tác phẩm đỉnh cao của ông là đỉnh cao của trí tuệ con người, tiểu thuyết sử thi vĩ đại đưa Lev Tolstoy vào trái tim của nhân loại và  được yêu mến ở khắp mọi nơi trên thế giới. Tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình được bình chọn là kiệt tác trong sách “Một trăm kiệt tác“ của hai nhà văn Nga nổi tiếng I.A.A-Bra- mốp và V.N. Đê-min do Nhà xuất bản Vê tre Liên bang Nga phát hành năm 1999, Nhà xuất bản Thế Giới Việt Nam phát hành sách này năm 2001 với tựa đề “Những kiệt tác của nhân loại“, dịch giả là Tôn Quang Tính, Tống Thị Việt Bắc và Trần Minh Tâm. “Chiến tranh và hòa bình” cũng được xây dựng thành bộ phim cùng tên do đạo diễn là Sergey Fedorovich Bondarchuk, công chiếu lần đầu năm 1965 và được phát hành ngày 28 tháng 4 năm 1968 tại Hoa Kỳ. Phim đoại giải thưởng Oscar phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất năm 1968 và danh tiếng mọi thời đại.

Lev Tolstoy sinh ngày 9 tháng 9 năm 1828, mất ngày  20 tháng 11 năm 1910, với kiệt tác “Chiến tranh và hoà bình” và “Anna Karenina” là đỉnh cao của sử thi và tiểu thuyết hiện thực cuộc sống Nga, được mệnh danh là tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong tất cả các nhà viết tiểu thuyết, con sư tử chúa tể sơn lâm trên đại ngàn văn chương Nga. Lev Tonstoy không chỉ là nhà văn kiệt xuất mà còn là một minh sư, một nhà tư tưởng vĩ đại và một bậc hiền minh, nhà đạo đức có tiếng với tư tưởng chống lại cái ác thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm “Vương quốc Chúa Trời trong bạn” (tiếng Anh: The Kingdom of God Is Within You), đã ảnh hưởng tới những hình tượng của thế kỷ 20 như Mahatma Gandhi và Martin Luther King. Lev Tonstoy là người theo chủ nghĩa hoà bình, nhà cải cách giáo dục, người ăn chay, người theo chủ nghĩa vô chính phủ tín đồ Cơ Đốc, nhà tư tưởng đạo đức, và là một thành viên có ảnh hưởng của gia đình Tolstoy.

Lev Tonstoy ngay trang đầu Phục sinh chép lời Luca, VI, 40. “Học trò không hơn được Thầy; nhưng học trò nào tu hành trọn đạo thì tất sẽ được như Thầy”. Kia là mặt trăng. Đức Nhân Tông viết “Hãy quay về với tự thân chứ không tìm ở đâu khác“. Phục sinh. Lên Yên tử

Tôi bừng tỉnh ngộ.

DẠO CHƠI NON NƯỚC VIỆT

Anh và em,
chúng mình cùng nhau
dạo chơi non nước Việt.

Anh đưa em vào miền cổ tích
nơi Lạc Long Quân gặp Âu Cơ
sinh ra đồng bào mình trong bọc trứng,
thăm đền Hùng Phú Thọ
ở Nghĩa Lĩnh, Việt Trì,
về Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội,
thủ đô Việt Nam,
hồn thiêng sông núi tụ về.

“Khắp vùng đồng bằng sông Hồng,
vùng núi và trung du phía Bắc,
không mẩu đất nào không lưu dấu tổ tiên
để giành quyền sống với vạn vật.

Suốt dọc các vùng
từ duyên hải Bắc Trung Bộ,
đến duyên hải Nam Trung Bộ,
Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ,
Đồng Bằng Sông Cửu Long,
là sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên
để mở rộng hy vọng tương lai dân tộc” (2)

Tổ Quốc bốn nghìn năm
giang sơn gấm vóc
biết bao nơi lòng ta thầm ước
một lần đến thăm.

Anh đưa em lên Phù Vân
giữa bạt ngàn Yên Tử
nơi “vũ trụ mắt soi ngoài biển cả” (1)
đến Hạ Long,
Hương Sơn,
Hương Tích
Phong Nha,
Huế,
Hải Vân,
Non nước,
Hội An,
Thiên Ấn,
Hoài Nhơn,
Nha Trang,
Đà Lạt.

Về tổ ấm chúng mình
Ngọc phương Nam.
Tình yêu muôn đời:
Non nước Việt Nam.

Anh và em,
chúng mình cùng nhau
dạo chơi non nước Việt
Tới Tràng An, Sơn Vi, Hòa Bình
Vùng thiêng văn minh lúa nước
Vào Tràng An Bái Đính.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
(ca dao cổ)

Cao Sơn thăm chốn cũ
Tràng An bao đổi thay
Minh Không thầy đâu nhỉ ?
Lững lờ mây trắng bay.

Trước khi lên Yên Tử
Vua Trần vào ở đây
Động thiêng trong núi thắm
Hạ Long cạn nơi này.

Hoa Lư Tứ giác nước
Kẽm Trống Dục Thúy Sơn,
“Quá Thần Phù hải khẩu”
Nhớ Nguyễn Trãi Ức Trai.

Đinh, Lê vùng khởi nghiệp
Lý, Trần, Nguyễn …vươn dài
Kỳ Lân trời bảng lãng
Hoàng Long sông chảy hoài …

Anh và em,
chúng mình cùng nhau
dạo chơi non nước Việt
Đồng bằng Sông Hồng
Non sông gấm vóc
Thăm vùng quê Vân Đài

Vân Đài lộng lẫy bức tranh quê.
Thao thức lòng ai mãi nhớ về.
Ruộng vàng nước biếc trời xanh ngát.
Dạo chơi non nước Việt say mê.

Anh và em
Thung dung nhìn lại
Du lịch sinh thái Việt Nam
Dạo chơi non nước Việt

Lên chùa Đồng Yên Tử
Đến Kiếp Bạc Côn Sơn
Vào Tràng An Bái Đính
Về Nghĩa Lĩnh, Đền Hùng


Thăm Trường xưa Hà Bắc
Nhớ Linh Giang quê hương
Động Thiên Đường tuyệt đẹp
Biển Nhật Lệ Quảng Bình

Đất Mẹ vùng di sản
Nguồn Son nối Phong Nha
Biển xanh kề núi thẳm
Mừng bạn về Quê choa

Thăm vùng quê Vân Đài
Về Xứ Thanh Xứ Nghệ
Lồng lộng trăng Hồng Lam
Ngự Bình và Hương Giang.

Hành trình xuôi phương Nam
Đường về tổ ấm
Ngọc phương Nam.
Tình yêu muôn đời:
Non nước Việt Nam

Hoàng Kim

Ghi chú trích dẫn
1. Nguyễn Trãi (Dư dịa chí, trong Tổng tập Dư địa chí Việt Nam)
2. Đào Duy Anh (Đất nước Việt Nam qua các đời)

2

NAM TIẾN CỦA NGƯỜI VIỆT

Hai phân kỳ Lịch sử Việt Nam; nguồn gốc động lực Nam Tiến. Tôi xin được trích dẫn nguyên văn tác phẩm ”Nỗi niềm Biển Đông” của nhà văn Nguyên Ngọc là một khái quát gọn nhất và rõ nhất về Nam Tiến :

Mở đầu cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, cụ Đào Duy Anh viết: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không mẫu đất nào là không có dấu vết thảm đảm kinh dinh của tổ tiên ta để giành quyền sống với vạn vật; suốt một dải Trung Việt vào đến trung châu Nam Việt, không một khúc đường nào là không nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hy vọng cho tương lai.” Thật ngắn gọn, thật súc tich, vị học giả cao kiến đã đúc kết chặt chẽ và cực kỳ chính xác hai chặng đường lớn mấy thiên niên kỷ của dân tộc; và chỉ bằng mấy chữ cô đọng, chỉ ra không thể rõ hơn nữa đặc điểm cơ bản của mỗi chặng, có ý nghĩa không chỉ để nhìn nhận quá khứ, mà còn để suy nghĩ về hôm nay và ngày mai – những suy nghĩ, lạ thay, dường như đang càng ngày càng trở nên nóng bỏng, cấp thiết hơn.

Chặng thứ nhất, tổ tiên ta, từ những rừng núi chật hẹp phía bắc và tây bắc, quyết chí lao xuống chiếm lĩnh hai vùng châu thổ lớn sông Hồng và sông Mã, mênh mông và vô cùng hoang vu, toàn bùn lầy chưa kịp sánh đặc, “thảm đảm kinh dinh để giành quyền sống với vạn vật” – mấy chữ mới thống thiết làm sao – hơn một nghìn năm vật lộn dai dẳng giành giật với sóng nước, với bùn lầy, với bão tố, với thuồng luồng, cá sấu … để từng ngày, từng đêm, từng giờ, vắt khô từng tấc đất, cắm xuống đấy một cây vẹt, một cây mắm, rồi một cây đước, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm  này qua năm khác, trăm năm này qua trăm năm khác, khi đất đã được vắt khô, được rửa mặn và ứng đặc, cắm xuống đấy một cây tạo bóng mát, rồi một cây ăn quả, một cây lúa, một mảnh lúa, rồi một đồng lúa …, tạo nên chỗ đứng chân cho từng con người, từng đôi lứa, từng gia đình, rồi từng cộng đồng, từng xóm mạc, từng làng, từng tổng, từng huyện, …cho đến toàn dân tộc, toàn xã hội, lập nên nửa phần là gốc cội của giang sơn ta ngày nay. Và hẳn còn phải nói thêm điều này nữa, cuộc thảm đạm kinh dinh vật lộn với thiên nhiên ấy lại còn phải cọng thêm cuộc vật lộn cũng dai dẳng, quyết liệt, không hề kém can trường và thông minh, để sáng tạo, định hình và gìn giữ một bản sắc Việt riêng giữa trăm Việt, là một Việt độc đáo và đặc sắc, không bị hòa tan bởi một thế lực hung hản, khổng lồ, luôn muốn xóa bỏ và hòa tan tất cả …   Hơn một thiên niên kỷ thiết lập và trụ vững, tạo nên nền tảng vững bền, để bước sang chặng thứ hai.

Chặng thứ hai, như cụ Đào Duy Anh đã đúc kết cũng thật ngắn gọn và chính xác, “gian nan tiến thủ để mở rộng hy vọng cho tương lai”.  Trên gốc cội ấy rồi, đi về đâu? Chỉ còn một con đường duy nhất: Về Nam. Có lẽ cũng phải nói rõ điều này: trước hết, khi đã đứng chân được trên châu thổ sông Hồng sông Mã rồi, kháng cự vô cùng dũng cảm và thông minh suốt một nghìn năm để vẫn là một Việt đặc sắc không gì đồng hóa được rồi, thì mối uy hiếp bị thôn tính đến từ phương bắc vẫn thường xuyên và mãi mãi thường trực. Không nối dài được giang sơn cho đến tận Cà Mau và Hà Tiên thì không thể nào bắc cự. Ở bước đường chiến lược này của dân tộc có cả hai khía cạnh đều hết sức trọng yếu. Khía cạnh thứ nhất: phải tạo được một hậu phương thật sâu thì mới đủ sức và đủ thế linh hoạt để kháng cự với mưu đồ thôn tính thường trực kia. Lịch sử suốt từ Đinh Lê Lý Trần Lê, và cả cuộc chiến tuyệt vời của Nguyễn Huệ đã chứng minh càng về sau càng rõ điều đó. Chỉ xin nhắc lại một sự kiện nghe có thể lạ: chỉ vừa chấm dứt được 1000 năm bắc thuộc bằng trận đại thắng của Ngô Quyền, thì Lê Hoàn đã có trận đánh sâu về phương nam đến tận Indrapura tức Đồng Dương, nam sông Thu Bồn của Quảng Nam. Đủ biết cha ông ta đã tính toán sớm và sâu về vai trò của phương Nam trong thế trận tất yếu phải đứng vững lâu dài của dân tộc trước phương bắc như thế nào.

Khía cạnh thứ hai, vừa gắn chặt với khía cạnh thứ nhất, vừa là một “bước tiến thủ” mới “mở rộng hy vọng cho tương lai”, như cách nói sâu sắc của cụ Đào Duy Anh. Bởi có một triết lý thấu suốt: chỉ có thể giữ bằng cách mở, giữ để mà mở, mở để mà giữ. Phải mở rộng hy vọng cho tương lai thì mới có thể tồn tại. Tồn tại bao giờ cũng có nghĩa là phát triển. Đi về Nam là phát triển. Là mở. Không chỉ mở đất đai. Càng quan trọng hơn nhiều là mở tầm nhìn. Có thể nói, suốt một thiên niên kỷ trước, do cuộc thảm đảm kinh dinh để giành dật sự sống với vạn vật  còn quá vật vã gian nan, mà người Việt chủ yếu mới cắm cúi nhìn xuống đất, giành thêm được một một mẩu đất là thêm được một mẩu sống còn. Bây giờ đã khác. Đã có 1000 năm lịch sử để chuẩn bị, đã có thời gian và vô số thử thách để tạo được một bản lĩnh, đã có trước mặt một không gian thoáng đảng để không chỉ nhìn xa mãi về nam, mà là nhìn ra bốn hướng. Nhìn ra biển. Phát hiện ra biển, biển một bên và ta một bên, mà lâu nay ta chưa có thể toàn tâm chú ý đến. Hay thay và cũng tuyệt thay, đi về Nam, người Việt lại cũng đồng thời nhìn ra biển, nhận ra biển, nhận ra không gian sống mới, không gian sinh tồn và phát triển mới mệnh mông của mình. Hôm nay tôi được ban tổ chức tọa đàm giao cho đề tài có tên là “nổi niềm Biển Đông”. Tôi xin nói rằng chính bằng việc đi về nam, trên con đường đi ngày càng xa về nam mà trong tâm tình Việt đã có được nổi niềm biển, nổi niềm Biển Đông. Cũng không phải ngẫu nhiên mà từ đó, nghĩa là từ đầu thiên niên kỷ thứ hai, với nổi niềm biển ngày càng thấm sâu trong máu Việt, cha ông ta, người dân Việt, và các Nhà nước Việt liên tục, đã rất sớm khẳng định chủ quyền Việt Nam trên các hải đảo và thểm lục địa “.

Sông Gianh Quảng Bình quê hương tôi là địa danh nối liền “Đằng Ngoài” và “Đằng Trong” của đôi bờ lịch sử . Biển Đông tổ quốc tôi liên kết ba miền Bắc Trung Nam sông Hồng, sông Lam, sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Kỳ Lộ, sông Đồng Nai, sông Cửu Long, trăm sông về biển cả của non sông một dãi . Lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt đi như dòng sông, thuận chiều, xuôi dòng, hướng về biển lớn. Dòng sông về biển có khi hiền hòa có khi hung dữ tùy theo thế nước nhưng sông mãi mãi là nguồn sống, mạch sinh tồn của người, cây xanh và vạn vật. Sông Gianh Sông Đồng Nai với gia đình tôi là tình yêu lớn, là dòng sông quê hương.

vietnam1009-2016

Nam tiến của người Việt là xu thế tự nhiên, tất yếu của lịch sử người Việt. Bản đồ đất nước Việt Nam qua các đời là dẫn liệu toàn cảnh, quan trọng cho tầm nhìn lịch sử Nam tiến của người Việt từ thời Lý cho đến nay. Một cách khái lược,hành trình Nam tiến kéo dài gần 700 năm từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18, nâng diện tích lãnh thổ từ ban đầu độc lập (năm 938) cho đến nay (năm 2019) lãnh thổ Việt Nam hình thành và tồn tại với tổng diện tích gấp 3 lần.

Việt Nam thời Đường đổi từ An Nam Đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân từ năm 866. Cương vực Việt Nam thời nhà Đường, như chúng tôi đã trình bày ở bài “Cao Biền trong sử Việt “, từ năm 679 đến năm 866, An Nam đô hộ phủ gồm tây nam Quảng Tây (Trung Quốc), Miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay. Từ sau năm 866, Cao Biền được phong làm Cao Vương Tĩnh Hải Quân, ông sau khi đánh đuổi được quân Nam Chiếu, đã xây thành Đại La và thiết lập hệ thống giao thông thủy bộ kết nối Đại La với Quảng Châu, Hải Phòng hình thành thế phòng thủ liên hoàn vững chắc. Vua Đường Ý Tông triệu hồi Cao Biền về Bắc dẹp loạn và chuẩn tấu cho Cao Tầm làm tiết độ sứ Tĩnh Hải. Cao Biền với tầm nhìn chiến lược sâu sắc để chống lại sự đột kích của quân Nam Chiếu và quân Lâm Ấp đã hình thành tuyến phòng thủ chiều sâu vùng ba biên giới Việt Miên Lào ngày nay duỗi dài từ núi Hoành Sơn sông Gianh đến núi Bì Sơn sông Kỳ Lộ bao gồm Tây Nguyên (Việt Nam ngày nay) và Nam Lào.

Nhà Đại Đường bị tan rã và diệt vong do vua kém nát và bị hoạn quan thuật sĩ lũng đoạn triều chính dù đã tiêu diệt được cuộc khởi nghĩa của Hoàng Sào. Các tiết độ sứ đã công khai cát cứ và gây nội chiến. Cao Biền phiền muộn vì vợ Lã Thị Nga và Cao Tầm bị giết , các danh tướng hiềi tài Trương Lân, Chu Bảo của ông bị chết thảm nên dùng kế “ve sầu thoát xác” giả bị giết chết, trốn về làm người dân Việt ở Phú Yên của đất phương Nam. Vua Đường Ai Đế bị quyền thần Chu Ôn khống chế và cướp ngôi năm 907. Các tiết độ sứ ở Tỉnh Hải sau khi Cao Biền được phong làm Cao Vương (864-868) và sau đó vua Đường triệu hồi gấp về Bắc để đánh dẹp Hoàng Sào lần lượt là Cao Tầm làm tiết độ sứ Tỉnh Hải quân (868 – 878) nhưng đã bị giết chết và lần lượt thay thế bằng Tăng Cổn (878 – 880) Cao Mậu Khanh (882 – 884) Tạ Triệu (884 – ?) An Hữu Quyền (897 – 900) Chu Toàn Dục (900 – 905). Chu Ôn quyền thần người khống chế vua Đường và đoạt ngôi, đã từng cho anh ruột là Chu Toàn Dục sang làm Tiết độ sứ ở Việt Nam, nhưng Toàn Dục quá kém cỏi không đương nổi nên phải về. Độc Cô Tổn (905) thay thế. Năm 905, Chu Ôn đày Độc Cô Tổn Tiết độ sứ Tĩnh Hải ra đảo Hải Nam và giết chết. Nhà Đường trong lúc chưa kịp cử quan cai trị mới sang trấn nhậm thì một hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm lấy thủ phủ Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ. Chu Ôn đang mưu cướp ngôi nhà Đường đã nhân danh vua Đường thừa nhận Khúc Thừa Dụ. Sau khi nhà Đường diệt vong, phiên trấn các nơi tự lập quốc.
Thời kỳ này phân thành Ngũ Đại (907-960) cùng Thập Quốc (907-979). kéo dài đến khi triều Tống thống nhất Trung Quốc bản thổ. Thời Ngũ Đại Thập Quốc tương đương thời loạn 12 sứ quân ở Việt Nam. Thời này chiến tranh liên miên, Liêu Quốc (Khiết Đan) được hình thành và Tĩnh Hải quân (miền Bắc Việt Nam) dần “ly tâm” và cuối cùng đã thoát Trung để trở thành một quốc gia độc lập.

Thời nhà Hậu Lương (907-923)Bột Hải Quốc (渤海國)Tĩnh Hải quân tiết độ sứ (靜海軍節度使)

Năm 905 Khúc Thừa Dụ tiến vào Đại La, giành quyền cai quản toàn bộ Tĩnh Hải. Người Việt khôi phục quyền tự chủ, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc lần 3 dài hơn 300 năm. (Việt Nam bị Bắc thuộc lần I từ năm 207 TCN đến năm 40 có khởi nghĩa giành độc lập của  Hai Bà Trưng năm 40-43; Bắc thuộc lần 2 từ năm 43-541 có khởi nghĩa Bà Triệu; Nhà Tiền Lý và Triệu Việt Vương 541-602)..Thời kỳ Bắc thuộc lần 3  kéo dài hơn 300 năm từ năm 602 đến năm 905Thời kỳ này bắt đầu khi Tùy Văn Đế năm 602 sai Lưu Phương đánh chiếm nước Vạn Xuân, bức hàng Lý Phật Tử là đời vua thứ ba hậu Lý Nam Đế. Thời Tùy, Việt Nam gọi là Giao châu. Lưu Phương trên đường đánh Lâm Ấp về bị bệnh chết. Khâu Hòa được cử làm đại tổng quản Giao châu . Năm 618, nhà Đường lật đổ nhà Tùy, lập ra nước Đại Đường. Khâu Hòa xin thần phục nhà Đường năm 622. Việt Nam thuộc Đại Đường Bắc thuộc lần 3 từ năm 622 đến năm 905).

vietnam-1650

Nam tiến của người Việt từ thời tự chủ (905) đến ngày nay được chia làm ba giai đoạn chính: Giai đoạn 1 Nam Tiến đến sông Gianh Quảng Bình (1009-1558) cực nam của Đằng Ngoài; Giai đoạn 2 Nam tiến đến núi đá Bia sông Kỳ Lộ, Phú Yên (1558-1693) là cực nam của Đằng Trong; giai đoạn 3 (1693- 1839) Nam tiếntới sông Đồng Nai sông Tiền sông Hậu kết nối toàn Việt Nam. Chi tiết các mốc sự kiện chính như sau

Giai đoạn 1 Nam Tiến đến sông Gianh (1009-1558) là cực nam của Đằng Ngoài;Thời Tự chủ (905-938) Họ Khúc truyền nối làm chức Tiết độ sứ gồm 3 đời: Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ, cai trị từ năm 905 tới năm 930 Khúc Thừa Mỹ bị bắt bởi Lý Khắc Chính là tướng của vua Nam Hán. Dương Đình Nghệ đánh bại tướng Nam Hán làm tiết độ sứ Tịnh Hải 8 năm, sau đó bị Kiều Công Tiển làm phản giết chết lên thay. Nhà Ngô (938-967) Ngô Quyền là nha tướng và con rể của Dương Đình Nghệ, phát binh tiêu diệt Kiều Công Tiễn, đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đặng, Ngô Quyền mất, loạn 12 sứ quân. Nhà Đinh (968-980) Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước năm 968 và kết thúc năm 980 khi thái hậu Dương Vân Nga khoác hoàng bào cho Lê Hoàn và con của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Phế Đế (6 tuổi) nhường ngôi cho Lê Hoàn, Nhà Tiền Lê (980-1009) khởi đầu từ khi Lê Hoàn lên ngôi vua năm 980 trải ba đời vua và kết thúc khi vua Lê Long Đĩnh (24 tuổi) qua đời. Nhà Lý khởi đầu từ năm 1009 Nhà Trần (1226-1400), Nhà Hồ (1400- 1407), Bắc thuộc lần 4 (1407-1427) Nhà Lê sơ (1428-1527).Nhà Mạc (1527-1592) Nhà Lê Trung hưng (1533-1789) Trịnh Nguyễn phân tranh Đằng Ngoài Đằng Trong chúa Nguyễn (1558- 1777), Cương vực nước Đại Việt là bản đồ màu xanh đến ranh giới đèo Ngang hoặc sông Gianh ranh giới Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay. Giải đất các đồng bằng nhỏ ven biển Nam Trung Bộ suốt thời kỳ này là sự giành đi chiếm lại của Đại Việt và Chiêm Thành. Đây là giai đoạn đầu mới giành được độc lập tự chủ, lãnh thổ Đại Việt bao gồm khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, các đồng bằng nhỏ ven biển Bắc Trung Bộ. Đặc trưng của giai đoạn 1 là Sông Giang làm cực Nam của Đằng Ngoài khi chúa Nguyễn Hoàng sáng nghiệp đất Đằng Trong. Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng đã cùng với con em vùng đất Thanh Nghệ vào trấn nhậm ở đất Thuận Hóa Quảng Nam, lấy Hoành Sơn, Linh Giang và Luỹ Thầy sau này làm trường thành chắn Bắc.

Núi Đá Bia Đại Lãnh Phú Yên

“Ngó ra thấy mả Cao Biền. 
Nhìn vào thấp thoáng Ma Liên Chóp Chài”
(ca dao cổ Phú Yên)

Giai đoạn 2 Nam tiến đến núi đá Bia sông Kỳ Lộ, tỉnh Phú Yên (1558-1693) Chúa Nguyễn Hoàng đã có những chính sách hiệu quả để phát triển vùng đất Đằng Trong mở rộng lãnh thổ về phương Nam. Các hậu duệ của Nguyễn Hoàng tiếp tục chính sách  bắc cự nhà Trịnh, nam mở mang đất, đến năm 1693 thì sáp nhập toàn bộ đất đai Chiêm Thành vào Đại Việt. và đến năm 1816 sáp nhập hoàn toàn Chân Lạp, Tây Nguyên với các hải đảo vào lãnh thổ của nước Đại Nam thời Minh Mệnh nhà Nguyễn để có ranh giới cương vực như hiện nay. Giai đoạn 2 Nam tiến đến núi đá Bia trãi từ Nhà Mạc (1527-1592), Nhà Lê trung hưng (1533-1789), Trịnh-Nguyễn phân tranh,  nhà Tây Sơn (1778-1802) Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn (1789-1802) Việt Nam thời Nhà Nguyễn (1804- 1839). Bản đồ cương vực màu  xanh gồm khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, các đồng bằng nhỏ ven biển Bắc Trung Bộ thuộc Đằng Ngoài, cương vực màu vàng từ địa đầu Quảng Bình đến sông Kỳ Lộ tỉnh Phú Yên, bao gồm các đồng bằng nhỏ ven biển Nam Trung Bộ, Tây Nguyên thuộc Đàng Trong, Đặc trưng của giai đoạn 2 Nam tiến tới núi  Đá Bia gần sông Kỳ Lộ núi Đại Lãnh tỉnh Phú Yên là chỉ dấu quan trọng Nam tiến của người Việt suốt từ thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ 17. Lê Hoàn năm 982 đem quân đánh Chiêm Thành mở đất phương Nam là lần xuất chinh sớm nhất của Đại Việt, và năm 1693 là năm cuối cùng toàn bộ phần đất Chiêm Thành ở Phú Yên sáp nhập hoàn toàn vào Đại Việt. Vua Lê Thánh Tông năm 1471 khi thân chinh cầm quân tấn công Chiêm Thành  tương truyền đã dừng tại chân núi đá Bia và cho quân lính trèo lên khắc ghi rõ cương vực Đại Việt.Thời Nhà Nguyễn, đến năm 1816 thì sáp nhập toàn bộ đất đai Chân Lạp, Tây Nguyên và các hải đảo vào lãnh thổ Đại Nam. Kể từ lần xuất chinh đầu tiên của Lê Hoàn từ năm 982 đến năm 1693 trãi 711 năm qua nhiều triều đại, hai vùng đất Đại Việt Chiêm Thành mới quy về một mối. Người Việt đã đi như một dòng sông lớn xuôi về biển, có khi hiền hòa có khi hung dữ, với hai lần hôn phối thời Trần (Huyền Trân Công Chúa) và thời Nguyễn (Ngọc Khoa Công Chúa), chín lần chiến tranh lớn nhỏ. đã hòa máu huyết với người Chiêm để bước qua lời nguyền núi đá Bia ở núi Phú Yên “gian nan tiến thủ để mở rộng hy vọng cho tương lai”, cho đến năm 1834 thành nước Đại Nam như ngày nay.

Giai đoạn 3 Nam tiến tới sông Đồng Nai sông Tiền sông Hậu (1639-1839). Từ năm 1693 cho đến năm 1839 lãnh thổ Việt Nam lần lượt bao gồm  Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long với các hải đảo . Từ năm 1839 cho đến 1945:  Đại Nam thời Nhà Nguyễn (1839-1945); Thời Pháp thuộc Liên bang Đông Dương (nhập chung với Lào, Campuchia, Quảng Châu Loan 1887 -1945); Giai đoạn từ năm 1945 đến nay (Đế quốc Việt Nam: tháng 4 năm 1945 – tháng 8 năm 1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: từ 2 tháng 9 năm 1945 đến 2 tháng 7 năm 1976; Quốc gia Việt Nam: dựng lên từ 1949 đến 1955 với quốc trưởng Bảo Đại bởi chính quyền Pháp; Việt Nam Cộng hòa: tồn tại với danh nghĩa kế tục Quốc gia Việt Nam từ 1955 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại miền Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam sau là Cộng hoà Miền Nam Việt Nam: từ 8 tháng 6 năm 1960 đến 2 tháng 7 năm 1976; Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: từ ngày 2 tháng 7 năm 1976 đến nay).

Đặc trưng giai đoạn 3 Nam tiến tới sông Đồng Nai sông Tiền sông Hậu là sự hình thành nước Việt Nam toàn vẹn. Chủ tịch Hồ Chí Minh người đặt nền móng cho nước Việt Nam mới đã kiên quyết khôn khéo nhanh tay giành được chính quyền và lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bởi Pháp bại Nhật hàng vua Bảo Đại thoái vị. Bác nói và làm những điều rất hợp lòng dân: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. “Nay, tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu (tôi) cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.[240]

Nam tiến của người Việt thành công vì là là xu thế tự nhiên, tất yếu của lịch sử người Việt.

tt2-1

3

CUỐI DÒNG SÔNG LÀ BIỂN

Chúng tôi là những bạn học chung lớp của lứa sinh viên trồng trọt khóa 2 Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh đã kéo nhau về dâng hương tại Văn Miếu Trấn Biên ở Biên Hòa gần Cù Lao Phố sông Đồng Nai. Nơi đây lưu dấu nhiều huyền thoại đất và người phương Nam, dòng sông hò hẹn, cuối dòng sông là biển, là vùng đất thiêng nhất của đất phương Nam, đầy ắp những câu chuyện lạ.

songdongnai

3.1 Sông Đồng Nai

Sông Đồng Nai tuy chỉ được xem là con sông đứng hàng thứ ba ở Việt Nam, sau sông Hồng và sông  Mekong nhưng chiều dài chảy trong nước lại đứng hạng nhất 635 km trước sông Hồng 566 km, sông Cửu Long 230 km, sông Thu Bồn 205km (Thái Công Tụng, 2005 ).Sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh là con sông nội địa dài nhất Việt Nam, Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ. Các phụ lưu chính của nó gồm sông Đa Nhim, sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ. Các chi lưu của nó có tên gọi là sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy), sông Đồng Tranh, sông Thị Vải, sông Soài Rạp

Giáo sư Tôn Thất Trình viết “Đồng Nai xứ sở lạ lùng. Dưới sông  sấu lội , trên bờ cọp um (Ca Dao miền Nam). Trước khi hình thành và phát triễn Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất hoang vu này, từ đầu Công Nguyên đến thế kỷ thứ 7, thuộc về vương quốc Phù Nam, bao gồm một vùng đất bao la trải dài từ  lưu vực sông Cửu Long đến sông Mênam xuống tận các đảo Mã lai (  Lâm Văn Bé, Dòng Việt số 17 năm 2005 ). Tháng 11 năm 1998, ở làng Phú Mỹ  huyện Cát Tiên khám phá ra một ngôi làng cổ, tuổi đã 2500- 3000 năm.  Đây là một phức tạp di tích  gồm  đền đài, tháp và rất nhiều  di vật tiền sử, chứng tỏ có sự lẫn lộn của  một văn hóa Phù Nam ở miền  Nam và văn hóa  Champa. Trong số di vật  có nhiều  tượng thờ như Linga – Yoni, những vật liệu linh thiêng thờ cúng, dùng các bộ phận sinh dục con người làm biểu tượng.  Có một Linga  cao 2.1 m  là một di vật  lọai này lớn nhất thế giới. Ngòai ra  còn nhiều dấu tích khác  chứng tỏ Cát Tiên cũng có thể là một thánh địa của Vương Quốc Phù Nam, xây dựng  cách đây 2000 năm. Thật ra  dưới thời Pháp thuộc, lưu vực sông Đồng Nai  với các địa điểm như cù lao Rùa, Cù Lao Phố,  bến Đò…  đã được các nhà khảo cỗ ( Cartailahac  1888, Grossin 1902, Loesh 1909, Barthère và Ripelin 1911, Malleret và Jansé 1937) …  khai quật nhiều lần, nhiều nơi, tìm được hàng ngàn cỗ vật như búa rìu bằng đá, bằng đồng, sắt, xương sọ, dụng cụ đá mài nhẵn … chứng tỏ rằng lưu vực sông Đồng Nai  đã có người cư ngụ 4000 – 2500 năm nay rồi, không có lịch  sử, không chữ viết ghi chép, nên họ là người tiền sử. Trước thời vương quốc Phù Nam, họ là những con người tiền phong đến khai thác hạ lưu sông Đồng Nai, tạo ra một nền văn minh hái lượm, làm ruộng nước nữa ( Theo Hứa Hòanh,  Tập san Đi Tới, số 69 và 70, năm 2003 ) .

Năm 1620, vua Chen Chetta II đến Thuận Hóa xin cầu hôn với công nương Ngọc Vạn, con chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên. Chúa Nguyễn lợi dụng việc gả con gái này đưa người Việt đi vào lập nghiệp ở vùng đất Phù Nam cũ ở hạ lưu sông Đồng Nai, trên danh nghĩa là đất Chân Lạp, nhưng trong thực tế  là đất vô chủ, bởi lẽ từ nhiều thế kỷ, vì sự suy yếu  nội bộ, vì chiến tranh liên tiếp với Xiêm La, vùng đất này hòan toàn hoang vu, không có guồng máy cai trị của Chân Lạp. Trước khi người Việt đến, vùng này chỉ có vài mươi nóc  nhà  người Miên- Môn, theo nhà văn quê quán Biên Hòa Bình Nguyên Lộc còn có thể cả người  tộc dân Mạ, hay có thể cả tộc dân Cho Ro, tộc dân Stiêng, cả ba thuộc họ Nam Á , ngôn ngữ thuộc hệ Môn Miên (Khmer)  vì ảnh hưởng xưa cũ của hai nước Phù Nam và Chân Lạp. Nguyễn Cư Trinh gọi chung  là Côn Man (Côn Miên), ở trên các gò cao sâu trong rừng vùng Preikor ( Sài Gòn ), sống biệt lập  với người Miên ở vương triều.

Năm 1623, Chúa Sải  cho đặt  hai trạm thu thuế ở  Prei Nokor ( Sài Gòn, nay ở khỏang quận 5 và Kas Krobei ( Bến Nghé, nay ở khỏang quận 1). Trịnh Hoài Đức cũng xác nhận trong Gia Định Thành Thống  Chí  là dân các tỉnh phía Bắc xứ Đàng Trong đã vô Mô Xòai từ đời các Tiên hoàng đế Nguyễn Hòang 1558- 1613, và chúa Sải Nguyễn Phước Nguyên ( 1613- 1635 ). Sử ghi là  năm 1665, có độ 1000 người Việt  vào lập nghiệp ở vùng đất mới này ( cũng theo  Lâm Văn Bé, Dòng Việt 2005

Năm 1679, các tướng giỏi nhà Minh là Trần Thường Tuấn và Dương Ngạn Địch và thương nhân Mạc Cữu đã tới đất phương Nam. Nguyên là năm đó nhà  Mãn Thanh thay thế nhà Minh, tướng trấn thủ Quảng Đông là Dương Ngạn Địch với Phó Tổng Binh Hoàng Tiến và Tổng binh châu Cao, châu Lôi, châu Liêm  là Trần Thượng Xuyên, Phó Tổng Binh là Trần An Bình  đem 3000 quân  và 50 chiến thuyền chạy thẳng vào cửa Tư Hiền Đà Nẳng xin làm thần dân chúa Nguyễn. Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần  dung nạp họ, cho Trần Thượng Xuyên vào cửa biển Cần Giờ, định cư ở Bàn Lân  xứ Đồng Nai, Cù Lao Phố Biên Hòa, Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho cũng khai khẩn đất đai và lập phố phường buôn bán. Người Hoa hay Minh Hương tập trung ở cù lao Phố  lập thành làng Thanh Hà, chuyên nghề thương mãi.  Cù lao Phố là  đô thị người Hoa đầu tiên ở Việt Nam  phát triển liên tục trên nữa thế kỷ, đóng một vai trò  quan trọng  xuất nhập cảng cho xứ Đồng Nai. Địa danh Cát Lái, đáng lý phải gọi là “ Các Lái “ để chỉ danh  một bến đò, một  chỗ họp chợ của  người buôn bán sĩ, các ghe lái thương hồ  chở  chén đĩa, lu hũ , đá tán kê nhà, cối xay bột… đưa về miền Tây, đồng bằng Sông Cửu Long và chuyên chở thóc lúa gạo trái cây nông sàn lên buôn bán ờ Nông Nại và Gia Định.

Năm  1689, Chúa Nguyễn Phước Chu sai Thống suất Nguyễn Hửu Cảnh  làm Kinh Lược  xứ Đồng Nai, lúc đó có tên là Đông Phố,  chia đất Đông Phố đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên; lấy xứ Sài Côn, đặt huyện Tân Bình, lập dinh  Phiên Trấn ( tức là Gia Định ). Và đặt phủ Gia Định  thống thuộc hai dinh  Trấn Biên, Phiên Trấn. Lúc này, cả hai huyện  Phước Long và Tân Bình, theo Nguyễn Hữu Cảnh thống kê, đã mở rộng đất ngàn dặm, dân số hơn 4 vạn hộ (theo Đại Nam Thực Lực Tiền Biên, quyễn IV). Chúa Nguyễn Phúc Chu  sai chiêu mộ thêm lưu dân từ  Bố Chính trở vào Bình Thuận đến ở  đây, thiết lập xã, thôn, phường, ấp, chia ranh giới, khai khẩn ruộng đất, đánh thuế tô, thuế dung, làm bộ đinh, bộ điền (Phan Khoang ,  Việt sử xứ Đàng Trong, xuất  bản năm 1967).

Năm 1739, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh  sang đánh vua Cao Miên là  Nặc Nguyên phải bỏ chạy và xin nộp đất miền Nam Gia Định là Tầm Bôn và Lôi Lạp để giảng hòa. Trước đó Nặc Nguyên đánh phá Hà Tiên. Thương nhân Mạc Cửu là di dân thời Minh đồng thời với tướng Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên, trước đó đã qui phục  chúa Nguyễn và làm Tổng Binh Hà Tiên, cùng với con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha,  phát triễn  phồn thịnh Hà Tiên, chống lại  vua Cao Miên và Xiêm La.

Năm 1747,  Cù Lao Phố đánh dấu một biến cố lớn. Hơn 60 năm thành lập, Nông Nại đại phố sầm uất hơn bao giờ hết. Một tên cầm đầu bọn khách thương người Phúc Kiến là Lý Văn Quảng, dậy lòng tham cùng 300 đồng đảng tự xưng là “ Nông Nại  đại phố vương”  định chiếm  Nông Nại, tổ chức như một triều đình, đã đánh úp dinh Trấn Biên, hạ sát trấn thủ dinh là Cẩn Thành Hầu Nguyễn Cao Cẩn.  Phó  tướng dinh Trấn Biên là Lưu thủ Cường, tước Cường Oai Hầu, rút ván cầu “ Chợ Đồn”  bắc  ngang  giữa cù lao Phố và đồn canh bờ sông, cố thủ.  ChúaNguyễn Phúc Khoát đã sai Cai  cơ Tống Phúc Đại đem binh cứu viện. Tống Phước Đại  bắt được Lý Văn Quảng  cùng đồng bọn là 57 người. Lớp còn lại  bỏ trốn vào rừng hay  theo sông Đồng Nai xuống Tân Bình.

Năm 1782 ngày 7 tháng 7  tại Chợ Quán ở Nông Nai đại phố có khoảng 4000 người Hoa đã  bị quân Tây Sơn  giết.  Chuyện là trong số tàn quân rã ngũ của Lý Văn Quảng mấy chục năm sau  có hai tên là Lý Tài và Tập Đình  giỏi vỏ nghệ, khôn ngoan,  được dân du thủ du thực tôn làm anh chị, thuộc  phe Thiên địa hội “ Phản Thanh Phục Minh”. Bọn Lý Tài, Tập Đình trước đó theo Tây Sơn nhưng  sau khi được Chu Văn Tiếp ở Đồng Xuân Phú Yên chỉ điểm đã trở cờ đến xin theo phò  Đông cung Dương từ Quảng Nam chạy vào Qui Nhơn.  Đang lúc sa cơ,  Đông cung đãi Tài và Đình như thượng khách và  khi Đông Cung tới Gia Định hợp với  quân của chúa Định , lấy hiệu là Tân Chính vương khi chúa Định nhường ngôi, Lý Tài được phong làm  đại nguyên sóai. Làm cho quân Đông Sơn do tướng Đỗ Thành Nhơn  phò tá  chúa Định vào Gia Định trước Đông cung, bất mãn. Hay tin ấy, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ kéo đại quân vào đánh, tới núi Châu Thới bắt được Lý Tài giết ngay. Huệ đuổi theo quân Nguyễn bắt được Tân Chính Vương ở Ba Vát, Thái Thượng Vương ở Cà Mau, đem về Sài Gòn hành hình.  Nguyễn Nhạc vào Nam, khi hay tin viên hộ giá thân tín của mình là Phạm Ngạn bị giết, đã nổi trận lôi đình, ra lịnh  tàn sát tất cả người Hoa  ở cù lao Phố ( vì  Nhạc còn nghi thêm là người Hoa đã giúp lương thực cho các chúa Nguyễn, và Nhạc căm ghét sự phản trắc bỏ Nhạc mà theo chúa Nguyễn trước đó ). Vụ thảm sát này rất lớn. Linh mục  Castueras, có mặt tại Chợ Quán ngày 7 tháng 7 năm 1782, cho biết có  gần 4000 người  bị quân Tây Sơn  giết.  Sử quan  nhà Nguyễn, nhất là Trịnh Hoài Đức, có thể tăng cao số nạn nhân Hoa gấp ba lần ( theo Hứa Hòanh ở tập san Đi Tới nói trên). Cù lao Phố bị quân Tây Sơn phá tan hoang, khi trung hưng lại, người ta trở về, dân số  không còn bằng một phần trăm lúc trước ( Theo Đại Nam Nhất Thống Chí). Những người Hoa còn sót lại chạy về Gia Định, gầy dựng lại cảnh Chợ Lớn, có mòi sung túc thịnh vượng hơn cù lao Phố trước (Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển).

Năm  1768, cuộc Nam Tiến  của dân Việt Nam kể như gần hoàn thiện. Lảnh thổ Nam Kỳ lúc này được chia thành 3 tỉnh : tỉnh Đồng Nai bao gồm các vùng đất miền  Đông Nam Bộ, tỉnh Sài Gòn bao gồm các vùng đất từ  sông Sài Gòn đến  cửa Cần Giờ  và tỉnh Long Hồ bao gồm các  vùng đất miền Tây Nam Bộ. Năm 1808, dưới thời  Gia Long, Nam Kỳ được gọi là Gia Định Thành bao gồm 5 trấn: Hà Tiên, Vĩnh Thạnh, Định Tường, Phiên An, Biên Hòa. Năm 1834, dưới thời Minh Mạng 5 trấn được biến thành  6 tỉnh. Năm 1888 thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia ra làm 20 hạt, rồi 20 tỉnh, trong đó có tỉnh Biên Hòa. Năm 1954,  Miền Nam, sau hiệp định Genève để chỉ vùng đất Việt Nam Cộng Hòa  Nam vĩ tuyến  17, gồm 40 tỉnh trong đó vẫn còn tỉnh Biên HòaSau 1975, tỉnh Đồng Nai được thiết lập và Biên Hòa trở thành thị xã tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai.

Văn miếu Trấn Biên

là văn miếu đầu tiên được xây dựng năm 1715  tại xứ Đàng Trong, để tôn vinh Khổng Tử, các danh nhân văn hóa nước Việt và làm nơi đào tạo nhân tài phục vụ cho chế độ. Năm 1861, nơi thờ phụng trên đã bị thực dân Pháp phá bỏ. Mãi đến năm 1998, Văn miếu Trấn Biên mới được khởi công khôi phục lại nơi vị trí cũ, và hoàn thành vào năm 2002. Hiện nay toàn thể khu vực uy nghi, đẹp đẽ và quy mô này, tọa lạc tại khu đất rộng thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.

Năm 1698, khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào đến xứ Đồng Nai, thì vùng đất ấy đã khá trù phú với một thương cảng sầm uất, đó là Cù lao Phố. Để có nơi bảo tồn, phát huy và tôn vinh các giá trị văn hóa giáo dục xưa và nay của dân tộc Việt ở vùng đất mới, 17 năm sau, tức năm Ất Mùi (1715), chúa Nguyễn Phúc Chu sai trấn thủ Nguyễn Phan Long và ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn miếu Trấn Biên. Đây là văn miếu đầu tiên được xây dựng tại xứ Đàng Trong, có trước cả văn miếu ở Vĩnh Long, Gia Định và Huế. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, ghi: Văn miếu Trấn Biên được xây dựng tại thôn Tân Lại, tổng Phước Dinh, huyện Phước Chánh (nay thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa). Và theo mô tả của Đại Nam nhất thống chí, thì Văn miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp: Phía nam trông ra sông Phước Giang, phía bắc dựa vào núi Long Sơn, là một nơi cảnh đẹp thanh tú, cỏ cây tươi tốt…Bên trong rường cột chạm trổ, tinh xảo… Trong thành trăm hoa tươi tốt, có những cây tòng, cam quýt, bưởi, hoa sứ, mít, xoài, chuối và quả hồng xiêm đầy rẫy, sum sê, quả sai lại lớn…. Trước năm 1802, hằng năm, đích thân chúa Nguyễn Phúc Ánh đến Văn miếu Trấn Biên để hành lễ hai lần vào mùa xuân và mùa thu. Nhưng từ khi chúa Nguyễn lên ngôi ở Huế, thì quan tổng trấn thành Gia Định, thay mặt vua, cùng với trấn quan Biên Hòa và quan đốc học đến đây hành lễ…

Tương tự Văn miếu Huế, bên cạnh có Quốc tử giám để giảng dạy học trò. ở Biên Hòa, bên cạnh Văn miếu Trấn Biên là Tỉnh học (trường học tỉnh Biên Hòa). Trường học lớn của cả tỉnh này mãi đến đời vua Minh Mạng mới dời về thôn Tân Lại (nay thuộc phường Hòa Bình, Biên Hòa). Như vậy, ngoài việc thờ phụng, Văn miếu Trấn Biên còn đóng vai trò như một trung tâm văn hóa, giáo dục của Biên Hòa xưa và Nam Bộ xưa trước khi Văn miếu Gia Định ra đời năm 1824.

*

GS. Trần Thanh Đạm Báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh trong bài “Góp phần nhận thức về vai trò lịch sử của nhà Nguyễn (1802 – 1945)”, số 41 ngày 30 tháng 10 năm 2008 đã nhận định : “Nhiều tư liệu đã có hoặc mới phá hiện đã chứng minh rằng trong nửa thế kỷ XIX, đối với đất nước Việt Nam, nhà Nguyễn đã làm được không ít việc, và nhiều việc có thể được gọi là những thành tựu. Ví dụ: đối với sự nghiệp thống nhất đất nước, dù rằng việc này được khởi đầu từ phong trào Tây Sơn song việc thống nhất đang còn dở dang, thậm chí cuối thời Tây Sơn cũng đang có nguy cơ phân liệt. Chính Nguyễn Ánh đã hoàn thành công việc dở dang này, hoàn thành sự nghiệp thống nhất, kết thúc tình trạng đất nước chia hai, quy giang sơn về một mối.”

3.2 Đi như một dòng sông

Nam Tiến đi như một dòng sông, nói thì dễ nhưng sự thật đời người là khó và khác biệt. Bạn cùng lớp trồng trọt 4 chúng tôi tại Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm Huế và Đại học Nông – Lâm Bắc Giang ngày nay) có hai lớp A, B thật thân thiết ‘Thầy bạn trong đời tôi”: Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Nguyễn Thị Bồng, Vũ Mạnh Hải, Phạm Huy Trung, Phạm Sĩ Tân, Nguyễn Công Hoàn, Phan Thanh Kiếm, Nguyễn Văn Toàn, Cao Văn Hàng, Nguyễn Hữu Bình, Lê Xuân Đính, Đỗ Khắc Thịnh, Lâm Quang Hinh,Phyạm Xuân Liêm, Hoàng Thiên Diễn, Dương Văn Xây, Lâm Kim Thành, Nguyễn Thị Thọ, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Niêm, Lại Thị Đua, Đỗ Thanh Nhàn, Minh Lược, Nguyễn Đình Sáng, Đinh Văn Đức, Lê Tiến Dũng, Trần Văn Mỹ, Phạm Văn Xảo, Trần Vòng, Nguyễn Quế, Đinh Thị Tuyết, chị Kim Cúc, … Trung và tôi thì cùng lên đường nhập ngũ vào ngày 2 tháng 9 năm 1971, hòa với hai bạn lớp khác thành tổ ‘bốn người Xuân, Chương,Trung, Kim’ vào trận, để sau này Xuân và Chương nằm lại đất phương Nam, còn Trung và tôi trở về trường. Lớp học thuở đó sau này chúng tôi mỗi người một số phận một hoàn cảnh và sự Nam Tiến cũng thật khác nhau. Tôi ra đi trọng ‘Lớp sinh viên ‘xếp bút nghiên lên đường chiến đấu‘ thuở ấy, để lại bài thơ ‘Thắp đèn lên đi em‘ và ‘Qua sông Thương gửi về bến nhớ‘. Sau này Trung và tôi ‘Nam Tiến” trở thành người Đồng Nai và người Sài Gòn như câu chuyện tôi đã kể trong Thầy bạn là lộc xuân. Nhiều bạn khác hiện nay địa chỉ rãi rác suốt mọi miền đất nước. Trong số đó Cao Văn Hàng “Nam tiến” là thật ấn tượng. Dường như đó là một trong số ít trường hợp ‘Nam tiến’ không thành công’

Cao Văn Hàng dân Thanh Hóa tốt nghiệp kỹ sư nông học ở Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (Anh khác với bạn bè cùng trang lứa phần lớn đều ước mơ ra Bắc về Cục Vụ Viện Trường ở Hà Nội hoặc các tỉnh lân cận, anh viết đơn tình nguyện “đi bất cứ nơi nào khi Tổ Quốc cần” theo sự phân công của tổ chức. Và anh đã được toại nguyện ‘Nam tiến’ về nông trường Con Cuông một nơi heo hút ở vùng phía Tây Nghệ An.  Anh Cao Văn Hàng ‘Nam tiến’ với ước mơ cháy bỏng “hành được những điều sở học”. Anh tình nguyện về một nông trường nghèo vùng núi sâu, ít cán bộ có bằng cấp chính quy đại học thực thụ, ước năm năm sau tạm ổn định và cố gắng lấy vợ sinh con, mười năm sau có được một vị trí công việc hợp với mình ở nơi ấy, mười lăm năm sau có được chút thành quả, hai mươi năm sau có được một sản phẩm gì đó trở về “bái tổ” ở đất quê hương.

Mấy chục năm sau, tôi về thăm anh thì anh đã lộn ngược về quê Thanh Hóa cũ. Anh trở về với cái gốc ban đầu và đang tính đường … nuôi hươu. Nằm ngủ tại nhà bạn Cao Văn Hàng dưới túp tranh nghèo, tôi ám ảnh trước bài thơ của anh:

Tiếc một đời sống dở, ở không xong
Ta đã sống một thời bay theo gió
Hương còn đó hồi sinh đang đó
Mà bơ vơ lạc lõng giữa quê nhà.

Ai bảo Nam Tiến là dễ ? Cao Văn Hàng là một thí dụ, tìm đường sống, tìm đường mưu sinh đã không dễ. Huống hồ đó lại là tìm đường sống sự trường tồn cho một dân tộc, lưu chút ân tình cho người thân quê hương đất nước còn khó biết bao.Chúng ta chỉ đi theo những giá trị chân thiện mỹ, phúc hậu, minh triết, những mách bảo của lương tri, lẽ phải, thiện tâm làm lẽ sống. Đọc thơ Cao Văn Hàng tôi chợt liên tưởng tới “Đường sống” của Lev Tonstoy mà tôi đã trích dẫn trong “Việt Nam con đường xanh“.

Thầy bạn trong đời tôi, ngày nhà giáo Việt Nam tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam là ấn tượng lắng đọng. Tôi đã có hơn 36 năm (1981-2016) gắn bó với những người trong ảnh này nên thỉnh thoảng tôi ngắm lại để nhớ.

Có một ngày như thế, đầy đặn niềm tin yêu là một ảnh khác kết nối lại một chặng đường khoa học. Trường Đại Học Tây Nguyên tổ chức buổi bảo vệ luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh Nguyễn Bạch Mai. Tôi và thầy Trình Công Tư là người hướng dẫn. Bạch Mai là người anh cả trong một gia đình hạnh phúc mẫu mực, tuy mẹ mất sớm và bố bị tai biến đột quỵ trên 20 năm vừa mất nhưng vợ chồng, anh chị em Bạch Mai đùm bọc thương yêu nhau nổ lực vươn tới. Năm trước, Đại Học Huế, Trường Đại học Nông Lâm Huế cũng đã vừa làm lễ trao bằng tiến sĩ cho Nguyễn Xuân Kỳ (lúa) và Nguyễn Thị Trúc Mai (sắn). Các em cũng là những gương sáng nghị lực nhà nghèo hiếu học. Các học viên này tôi tự hào được hướng dẫn góp công sức cùng họ thành công. Sư nổ lực của vợ chồng Nguyễn Việt Hưng, vợ chồng Trần Công Khanh và của các con tôi Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long …, sau mỗi thành công đều là bài học sâu sắc của sự cố gắng và sự hướng dẫn, dìu dắt , giúp đỡ của đội ngũ.

Chung sức bao năm một chặng đường
Cuộc đời nhìn lại phúc lưu hương
Ngô khoai chẳng phụ dày công Viện
Lúa sắn chuyên tâm mến nghĩa Trường
Dạy học tinh hoa giàu trí tuệ
Chuyển giao chuyên nghiệp khiếu văn chương
Người chọn vãng sanh vui một cõi
Ai theo cực lạc đức muôn phương

Tôi bàn luận với các anh Trần Văn Minh, Vũ Mạnh Hải, Trần Ngọc Ngoạn về chuyện Phục sinh Nam tiến Ân tình. Cả ba bạn thân nói trên, tôi đã từng ra tận nhà gõ cửa mời về làm việc ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam thuở xa xưa, nhưng không ai thu xếp được , chỉ có vợ chồng Phạm Huy Trung chuyển vào. Đó là khi tôi bắt đầu về Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc thuộc Viện. Ngày nay cả ba bạn cũ đều đã luống tuổi và đều là giáo sư giỏi có nhiều cống hiến ở ba vùng miền quan trọng. Câu chuyện Nam tiến ngày ấy nay gợi lại chợt lắng đọng và đầy suy ngẫm Ai đã qua sự lựa chọn sinh tử sẽ thấu hiểu sâu sắc hơn cái giá của hạnh phúc.

Đến với Tây Nguyên, thầy Trần Đức Viên nhắc bài thơ

3.3 Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
Hoàng Kim

TRẦN thế hay là Thiên thai đây.
Người hiền như NGỌC chốn trời mây.
Ai du ai NGOẠN nơi trần thế.
Hạnh phúc ngời lên đôi mắt say.

Nhớ thuở tìm về thăm bạn cũ.
Thái Nguyên đường thẳm hút sương mù.
Mênh mang mường Mán mình mong mỏi.
Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ.

Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
Sông Công đảo Cái ước mong chờ
Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.

Nhớ Sắn Việt Nam tình bạn quý.
Thương người Nam Bắc nghĩa anh em.
Thơ của tháng năm đời đẹp lắm.
Mình hẹn tìm nhau ở Bến Mơ.

https://cnm365.wordpress.com/2015/08/16/tho-tinh-ho-nui-coc/

HoNuiCoc01

Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm.

HoNuiCoc04
HoNuiCoc05

Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa  lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở  mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng … Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian Huyền thoại Hồ Núi Cốc, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Vũ Phong Vũ (bản khác NSƯT Thanh Hoà), Thanh Lam Tùng Dương ; Hồ trên núi, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Hồ Quỳnh Hương (bản khác NSƯT Anh Thơ); Thơ giao lưu Hồ Núi Cốc giữa những người bạn Mùa Thu Vàng, Hà Duy Tự, Trúc Nhã, LamCa07, Hoàng Kim… được giao hòa trong khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy, kỳ thú này. Chương trình Sắn Việt Nam cùng Chương trình Sắn Châu Á nhiều lần họp tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng đi khảo sát các vùng sắn ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái,  … và đã có hai lần thăm Hồ Núi Cốc.Lưu lại những ấn tượng khó quên về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.

3.4 Thầy bạn trong đời tôi

Những lớp sinh viên nông nghiệp chúng tôi, nay nhìn lại, phần lớn đều Nam tiến, theo đúng con đường của dân tộc đang đi. Chuyện học đại học ‘đúp’ 5 lớp của tôi nghe qua thì buồn cười nhưng thực tế là có thật. Tôi thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá … cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”. Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất.  Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh”.


Thầy bạn là lộc xuân Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Trồng trọt 2 thuở đó là một lớp chung mãi cuối khóa mới tách ra 2A,2B, 2C. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy ở Trường Đại học Cần Thơ. Các bạn sinh viên lứa tôi ở trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đi bộ đội đợt 1971 khoảng 150 người, sau này có khoảng bốn mươi phần trăm hi sinh ở chiến trường phía Nam, số bạn về trường học lại còn khoảng bốn mươi phần trăm, và hai mươi phần trăm nữa chuyển ngành sang học trường khác hoặc làm nghề khác. Khóa 4 thời đó, số bạn không đi bộ đội, lúc ra trường sau 1975, phần lớn đều vào nhận nhiệm sở ở Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ. Lứa bạn tôi ở khóa 10 trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc cũng vậy, có khoảng trên sáu mươi phần trăm tăng cường cho nông nghiệp miền Nam. Đối với lứa bạn ở ba lớp Trồng trọt 2A,2B, 2C của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tuyển sinh ở phía Nam thì hiển nhiên sau này ra nghề làm việc ở miền Nam. Có một số ít bạn theo gia đình sang Mỹ, Pháp, Đan Mạch … Vậy nên nghề nông chúng tôi căn bản đã đi theo đúng con đường Nam tiến của dân tộc đang đi. Hôm lớp chúng tôi về thăm Văn Miếu Trấn Biên, ngồi trò chuyện và chơi với nhau bên dòng sông lớn Đồng Nai, chúng tôi đã chiêm nghiệm về điều ấy.

3.5 Cuối dòng sông là biển

Minh triết là yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Niềm tin thắp lên nghị lực
Yêu thương mở cửa thiên đường.

Thương nước biết ơn bao người ngọc
Vì dân qua bến nhẹ tênh lòng
Nhớ bao tài đức đời phiêu dạt
Ân tình lưu mãi những dòng sông.

Núi sông muôn đời vẫn vậy
Con người vạn kiếp đổi thay
Trời đất giang sơn bền vững
Nhân gian luân chuyển tháng ngày

Yêu thương mở cửa thiên đường
Cuối dòng sông là cửa biển
Văn hóa trầm tích thời gian
Văn chương bảo tồn con người

3.6 Notes

ĐỒNG NAI VÀ NAM KỲ

Tôi lưu thêm dưới đây BẢN ĐỒ NAM KỲ LỤC TỈNH để thường xuyên học đất và người phương Nam, nơi máu thịt đời mình . Tôi luôn tự nhắc mình và các em sinh viên cùng bạn trẻ cần luôn khách quan, thận trọng để tìm hiểu đúng sự thật lịch sử. Chuyện cổ tích người lớn cũng được kể những câu chuyện chọn lọc tương tự. Đồng Nai và Nam Kỳ là hai khái niệm về địa chính trị Nam Bộ Việt Nam cần nắm rất vững.

Sông Đồng Nai và cù lao Phố thuộc thành phố Biên Hòa là bức ảnh đẹp tôi chọn làm nền cho chùm ảnh và câu chuyện dài về Văn Miếu Trấn Biên, Đồng Nai đất và người, lớp tôi bên dòng sông lớn. Đó là lớp sinh viên khóa 2 Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh về thăm và dâng hương ghi ơn những người mở đất, tạo dựng đường sống cho dân tộc Việt và cộng đồng những cư dân thân thiết, chung lưng đấu cật gầy dựng nên nơi này. Dòng sông Đông Nai và Văn Miếu Trấn Biên là nơi khởi đầu cho chuyện kể …

“Con sông nào chảy trong nội địa dài nhất Việt Nam?” Giáo sư Tôn Thất Trình trong bài viết “Lạm bàn phát triển tỉnh Đồng Nai – Biên Hòa” đăng trên blog Quà tặng (The Gift) đã giới thiệu tổng quát: “Sông Đồng Nai tuy chỉ được xem là con sông đứng hàng thứ ba ở Việt Nam, sau sông Hồng và sông Mê Kông nhưng chiều dài chảy trong nước lại đứng hạng nhất 635 km, trước sông Hồng 566 km, còn sông Cửu Long đứng hạng 8, 230 km, chỉ trên sông Thu Bồn hạng 9, 205 km (Thái Công Tụng, Vietnamologica, 2005 ). Phần sông Đồng Nai chảy qua tỉnh Đồng Nai ngày nay chỉ dài 294 Km. Tên cũ của sông Đồng Nai là sông Phước Long, còn có tên là sông Hòa Quí. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí (bản dịch của Phạm Trọng Điềm 1997 và Hoàng Đỗ sưu tập 2003), có đôi chút địa lý không hoàn toàn đúng theo phân chia hành chánh hay gọi tên ngày nay. Theo tài liệu Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì sông Đồng Nai là con sông nội địa dài nhất Việt Nam nếu tính từ đầu nguồn sông Đa Đưng thì dài 586 km và lưu vực 38.600 km², chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh. Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ. Các phụ lưu chính của nó gồm sông Đa Nhim, sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ. Các chi lưu của nó có tên gọi là sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy), sông Đồng Tranh, sông Thị Vải, sông Soài Rạp (sông Soi). Hai nguồn thông tin trên đây đều xác nhận rằng sông Đồng Nai là sông nội địa dài nhất Việt Nam, tuy “có đôi chút địa lý không hoàn toàn đúng theo phân chia hành chánh hay gọi tên ngày nay” theo lối viết của giáo sư Tôn Thất Trình, người Thầy thế hệ đầu tiên của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh mà tôi đã có dịp kể lại trong bài “Chiếc bàn của thầy Tôn Thất Trình”.

Giáo sư Tôn Thất Trình cũng trong bài viết trên, đôi chút xuôi dòng lịch sử, đã kể tiếp: “Đồng Nai xứ sở lạ lùng. Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um (Ca Dao miền Nam). Trước khi hình thành và phát triễn Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất hoang vu này, từ đầu Công Nguyên đến thế kỷ thứ 7, thuộc về vương quốc Phù Nam, bao gồm một vùng đất bao la trải dài từ lưu vực sông Cửu Long đến sông Mê nam xuống tận các đảo Mã lai (Lâm Văn Bé, Dòng Việt số 17 năm 2005 ). Tháng 11 năm 1998, ở làng Phú Mỹ huyện Cát Tiên khám phá ra một ngôi làng cổ, tuổi đã 2500- 3000 năm. Đây là một phức tạp di tích gồm đền đài, tháp và rất nhiều di vật tiền sử, chứng tỏ có sự lẫn lộn của một văn hóa Phù Nam ở miền Nam và văn hóa Champa. Trong số di vật có nhiều tượng thờ như Linga – Yoni, những vật liệu linh thiêng thờ cúng, dùng các bộ phận sinh dục con người làm biểu tượng. Có một Linga cao 2.1 m là một di vật lọai này lớn nhất thế giới. Ngoài ra còn nhiều dấu tích khác chứng tỏ Cát Tiên cũng có thể là một thánh địa của Vương Quốc Phù Nam, xây dựng cách đây 2000 năm.Thật ra dưới thời Pháp thuộc, lưu vực sông Đồng Nai với các địa điểm như cù lao Rùa, Cù Lao Phố, bến Đò… đã được các nhà khảo cỗ ( Cartailahac 1888, Grossin 1902, Loesh 1909, Barthère và Ripelin 1911, Malleret và Jansé 1937) … khai quật nhiều lần, nhiều nơi, tìm được hàng ngàn cổ vật như búa rìu bằng đá, bằng đồng, sắt, xương sọ, dụng cụ đá mài nhẵn … chứng tỏ rằng lưu vực sông Đồng Nai đã có người cư ngụ 4000 – 2500 năm nay rồi, không có lịch sử, không chữ viết ghi chép, nên họ là người tiền sử. Trước thời vương quốc Phù Nam, họ là những con người tiền phong đến khai thác hạ lưu sông Đồng Nai, tạo ra một nền văn minh hái lượm, làm ruộng nước nữa ( Theo Hứa Hòanh, Tập san Đi Tới, số 69 và 70, năm 2003 ) .

Năm 1620, vua Chen Chetta II đến Thuận Hóa xin cầu hôn với công nương Ngọc Vạn, con chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên. Chúa Nguyễn lợi dụng việc gả con gái này đưa người Việt đi vào lập nghiệp ở vùng đất Phù Nam cũ ở hạ lưu sông Đồng Nai, trên danh nghĩa là đất Chân Lạp, nhưng trong thực tế là đất vô chủ, bởi lẽ từ nhiều thế kỷ, vì sự suy yếu nội bộ, vì chiến tranh liên tiếp với Xiêm La, vùng đất này hòan toàn hoang vu, không có guồng máy cai trị của Chân Lạp. Trước khi người Việt đến, vùng này chỉ có vài mươi nóc nhà người Miên- Môn, theo nhà văn quê quán Biên Hòa Bình Nguyên Lộc còn có thể cả người tộc dân Mạ, hay có thể cả tộc dân Cho Ro, tộc dân Stiêng, cả ba thuộc họ Nam Á , ngôn ngữ thuộc hệ Môn Miên (Khmer) vì ảnh hưởng xưa cũ của hai nước Phù Nam và Chân Lạp. Nguyễn Cư Trinh gọi chung là Côn Man (Côn Miên), ở trên các gò cao sâu trong rừng vùng Preikor ( Sài Gòn ), sống biệt lập với người Miên ở vương triều.

Năm 1623, Chúa Sải cho đặt hai trạm thu thuế ở Prei Nokor ( Sài Gòn, nay ở khoảng quận 5 và Kas Krobei ( Bến Nghé, nay ở khỏang quận 1). Trịnh Hoài Đức cũng xác nhận trong Gia Định Thành Thống Chí là dân các tỉnh phía Bắc xứ Đàng Trong đã vô Mô Xòai từ đời các Tiên hoàng đế Nguyễn Hoàng 1558- 1613, và chúa Sải Nguyễn Phước Nguyên ( 1613- 1635 ). Sử ghi là năm 1665, có độ 1000 người Việt vào lập nghiệp ở vùng đất mới này ( cũng theo Lâm Văn Bé, Dòng Việt 2005 ”

“Năm 1679, các tướng giỏi nhà Minh là Trần Thường Tuấn và Dương Ngạn Địch và thương nhân Mạc Cửu đã tới đất phương Nam. Nguyên là năm đó nhà Mãn Thanh thay thế nhà Minh, tướng trấn thủ Quảng Đông là Dương Ngạn Địch với Phó Tổng Binh Hoàng Tiến và Tổng binh châu Cao, châu Lôi, châu Liêm là Trần Thượng Xuyên, Phó Tổng Binh là Trần An Bình đem 3000 quân và 50 chiến thuyền chạy thẳng vào cửa Tư Hiền Đà Nẳng xin làm thần dân chúa Nguyễn. Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần dung nạp họ, cho Trần Thượng Xuyên vào cửa biển Cần Giờ, định cư ở Bàn Lân xứ Đồng Nai, Cù Lao Phố Biên Hòa, Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho cũng khai khẩn đất đai và lập phố phường buôn bán. Người Hoa hay Minh Hương tập trung ở cù lao Phố lập thành làng Thanh Hà, chuyên nghề thương mãi. Cù lao Phố là đô thị người Hoa đầu tiên ở Việt Nam phát triển liên tục trên nữa thế kỷ, đóng một vai trò quan trọng xuất nhập cảng cho xứ Đồng Nai. Địa danh Cát Lái, đáng lý phải gọi là “ Các Lái “ để chỉ danh một bến đò, một chỗ họp chợ của người buôn bán sĩ, các ghe lái thương hồ chở chén đĩa, lu hũ , đá tán kê nhà, cối xay bột… đưa về miền Tây, đồng bằng Sông Cửu Long và chuyên chở thóc lúa gạo trái cây nông sàn lên buôn bán ờ Nông Nại và Gia Định.

Năm 1689, Chúa Nguyễn Phước Chu sai Thống suất Nguyễn Hửu Cảnh làm Kinh Lược xứ Đồng Nai, lúc đó có tên là Đông Phố, chia đất Đông Phố đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên; lấy xứ Sài Côn, đặt huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (tức là Gia Định ). Và đặt phủ Gia Định thống thuộc hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn. Lúc này, cả hai huyện Phước Long và Tân Bình, theo Nguyễn Hữu Cảnh thống kê, đã mở rộng đất ngàn dặm, dân số hơn 4 vạn hộ (theo Đại Nam Thực Lực Tiền Biên, quyễn IV). Chúa Nguyễn Phúc Chu sai chiêu mộ thêm lưu dân từ Bố Chính trở vào Bình Thuận đến ở đây, thiết lập xã, thôn, phường, ấp, chia ranh giới, khai khẩn ruộng đất, đánh thuế tô, thuế dung, làm bộ đinh, bộ điền (Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, xuất bản năm 1967).

Năm 1739, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh vua Cao Miên là Nặc Nguyên phải bỏ chạy và xin nộp đất miền Nam Gia Định là Tầm Bôn và Lôi Lạp để giảng hòa. Trước đó Nặc Nguyên đánh phá Hà Tiên. Thương nhân Mạc Cửu là di dân thời Minh đồng thời với tướng Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên, trước đó đã qui phục chúa Nguyễn và làm Tổng Binh Hà Tiên, cùng với con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, phát triển phồn thịnh Hà Tiên, chống lại vua Cao Miên và Xiêm La.

Năm 1747, Cù Lao Phố đánh dấu một biến cố lớn. Hơn 60 năm thành lập, Nông Nại đại phố sầm uất hơn bao giờ hết. Một tên cầm đầu bọn khách thương người Phúc Kiến là Lý Văn Quảng, dậy lòng tham cùng 300 đồng đảng tự xưng là “ Nông Nại đại phố vương” định chiếm Nông Nại, tổ chức như một triều đình, đã đánh úp dinh Trấn Biên, hạ sát trấn thủ dinh là Cẩn Thành Hầu Nguyễn Cao Cẩn. Phó tướng dinh Trấn Biên là Lưu thủ Cường, tước Cường Oai Hầu, rút ván cầu “Chợ Đồn” bắc ngang giữa cù lao Phố và đồn canh bờ sông, cố thủ. Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã sai Cai cơ Tống Phước Đại đem binh cứu viện. Tống Phước Đại bắt được Lý Văn Quảng cùng đồng bọn là 57 người. Lớp còn lại bỏ trốn vào rừng hay theo sông Đồng Nai xuống Tân Bình.

Năm 1782 ngày 7 tháng 7 tại Chợ Quán ở Nông Nai đại phố có khoảng 4000 người Hoa đã bị quân Tây Sơn giết. Chuyện là trong số tàn quân rã ngũ của Lý Văn Quảng mấy chục năm sau có hai tên là Lý Tài và Tập Đình giỏi vỏ nghệ, khôn ngoan, được dân du thủ du thực tôn làm anh chị, thuộc phe Thiên địa hội “ Phản Thanh Phục Minh”. Bọn Lý Tài, Tập Đình trước đó theo Tây Sơn nhưng sau khi được Chu Văn Tiếp ở Đồng Xuân Phú Yên chỉ điểm đã trở cờ đến xin theo phò Đông cung Dương từ Quảng Nam chạy vào Qui Nhơn. Đang lúc sa cơ, Đông cung đãi Tài và Đình như thượng khách và khi Đông Cung tới Gia Định hợp với quân của chúa Định, lấy hiệu là Tân Chính vương khi chúa Định nhường ngôi, Lý Tài được phong làm đại nguyên soái. Làm cho quân Đông Sơn do tướng Đỗ Thành Nhơn phò tá chúa Định vào Gia Định trước Đông cung, bất mãn. Hay tin ấy, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ kéo đại quân vào đánh, tới núi Châu Thới bắt được Lý Tài giết ngay. Huệ đuổi theo quân Nguyễn bắt được Tân Chính Vương ở Ba Vát, Thái Thượng Vương ở Cà Mau, đem về Sài Gòn hành hình. Nguyễn Nhạc vào Nam, khi hay tin viên hộ giá thân tín của mình là Phạm Ngạn bị giết, đã nổi trận lôi đình, ra lịnh tàn sát tất cả người Hoa ở cù lao Phố (vì Nhạc còn nghi thêm là người Hoa đã giúp lương thực cho các chúa Nguyễn, và Nhạc căm ghét sự phản trắc bỏ Nhạc mà theo chúa Nguyễn trước đó ). Vụ thảm sát này rất lớn. Linh mục Castueras, có mặt tại Chợ Quán ngày 7 tháng 7 năm 1782, cho biết có gần 4000 người bị quân Tây Sơn giết. Sử quan nhà Nguyễn, nhất là Trịnh Hoài Đức, có thể tăng cao số nạn nhân Hoa gấp ba lần ( theo Hứa Hoành ở tập san Đi Tới nói trên). Cù lao Phố bị quân Tây Sơn phá tan hoang, khi trung hưng lại, người ta trở về, dân số không còn bằng một phần trăm lúc trước (Theo Đại Nam Nhất Thống Chí). Những người Hoa còn sót lại chạy về Gia Định, gầy dựng lại cảnh Chợ Lớn, có mòi sung túc thịnh vượng hơn cù lao Phố trước (Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển).

Năm 1768, cuộc Nam Tiến của dân Việt Nam kể như gần hoàn thiện. Lãnh thổ Nam Kỳ lúc này được chia thành 3 tỉnh : tỉnh Đồng Nai bao gồm các vùng đất miền Đông Nam Bộ, tỉnh Sài Gòn bao gồm các vùng đất từ sông Sài Gòn đến cửa Cần Giờ và tỉnh Long Hồ bao gồm các vùng đất miền Tây Nam Bộ. Năm 1808, dưới thời Gia Long, Nam Kỳ được gọi là Gia Định Thành gồm 5 trấn: Hà Tiên, Vĩnh Thạnh, Định Tường, Phiên An, Biên Hòa.

Năm 1834, dưới thời Minh Mạng 5 trấn được biến thành 6 tỉnh. Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Giai đoạn từ năm 1834 đến năm 1888 Nam Kỳ Lục Tỉnh là giai đoan đầy biến động của Nam Kỳ Lục Tỉnh ‘nhọc nhằn tiến thủ của tổ tiên” “Lục tỉnh vô Dục bất khả” . Lưu lại chùm bản đồ lục tỉnh để quay la5i khảo cứu sâu hơn.

Năm 1888 thời Pháp thuộc, Nam Kỳ Lục Tỉnh được chia ra làm 20 hạt, rồi 20 tỉnh, trong đó có tỉnh Biên Hòa. Năm 1954, Miền Nam, sau hiệp định Genève để chỉ vùng đất Việt Nam Cộng Hòa Nam vĩ tuyến 17, gồm 40 tỉnh trong đó vẫn còn tỉnh Biên Hòa. Sau 1975, tỉnh Đồng Nai được thiết lập và Biên Hòa trở thành thị xã tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai.”

Vườn cổ tích huyền thoại, nghệ thuật kiến trúc tuyệt vời.

3.6 Notes

NGẮM DẤU CHÂN THỜI GIAN

Croatia có dấu chân lịch sử (hình)..Ở ngã ba biên giới Việt Lào Căm pu chia cũng có Dấu chân Bụt. Mỗi con người chúng ta đều lưu dấu chân thời gian. Những bài học lịch sử Đối thoại nền văn hóa; Đối thoại với Thiền sư; Đồng hành cùng đi tới. Có bài thơ ở đây.

NGẮM DẤU CHÂN THỜI GIAN
Hoàng Kim

Ngắm dấu chân thời gian
Thầy bạn lành một thuở
Đời Người là gương soi
Thơ Hiền vui gõ cửa.

Bài đồng dao huyền thoại
Trời nhân loại mênh mông
Thơ vui những ngày nhàn
Đường trần đi không mỏi

NGẮM DẤU CHÂN THỜI GIAN
Hoàng Kim


Mark Zuckerberg thật tuyệt vời
Lưu ngày này năm trước
Khuyến khích bài viết được
Bảo tồn ký ức xưa

Ngắm dấu chân thời gian
Thầy bạn lành một thuở
Đời Người là gương soi
Thơ Hiền vui gõ cửa.

Bài đồng dao huyền thoại
Trời nhân loại mênh mông
Thơ vui những ngày nhàn
Đường trần đi không mỏi

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mark-zuckerberg-that-tuyet-voi/?fbclid=IwAR2Aj_5sz49VLjFBKXnQ8qiQlrtp7T-VkM7okJkMst5tNQpCfEuORA_ynT8:
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ngam-dau-chan-thoi-gian/?fbclid=IwAR360ceGzAfEsZCYcSSwufIJNgFvw_WDxCD-4Sy592BcqD7nBfOkqsanxrw
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/?fbclid=IwAR1p0DkirPc5Ex-Ot68ytJmz2ZkdXb_EgyuW0nf4MKZdjJCm7ZyhWYGaxfI

Biển quê hương Hoàng Kim
2 tháng 12, 2012 lúc 12:29
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

PDF và Video yêu thích
KỶ YẾU 65 NĂM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KỶ YẾU KHOA NÔNG HỌC 65 năm thành lập Khoa
Kỷ niệm 65 năm Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Bài học quý giá biết chăm sóc sức khỏe
Secret Garden, Bí mật vườn thiêng 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống,Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Thung dung

THUNG DUNG
Hoàng Kim

Biết đủ thời nhàn sống thảnh thơi
Con em và cháu vững tay rồi
Đời không lo nghĩ lòng thanh thản
Minh triết mỗi ngày dạy học chơi.

VUI TRỌN ĐỜI THUNG DUNG
Hoàng Kim họa thơ Trần Duy Quý


Nắng thu rơi cuối mùa
Trần Duy Quý


“Mùa thu xanh ngát tầng không
Mùa thu đánh thức từng bông lúa vàng
Ao thu trong vắt giữa làng
Để cho hương cốm ngập tràn quê tôi
Tình thu chớ vội người ơi
Còn vương chút nắng thu rơi cuối mùa”

Vui trọn đời thung dung
Hoàng Kim


Chớm đông còn níu tình thu
Thênh thênh đồng rộng nắng thưa cuối trời
Thông reo ngàn Hống người ơi
Truyện Kiều lắng đọng những lời nước non
Tình thiên thu khúc tri âm
An nhiên thanh thản đường trần thảnh thơi

Mãi mê đồng rộng sông dài
Cùng anh cùng bạn trọn đời Thung dung.
Tảo mai nhớ đức Nhân Tông
Sớm Đông Tỉnh thức Nhớ ông Trạng Trình

(*) Ảnh Hoa Lúa
trong bài “HOA LÚA GIỮA ĐỒNG XUÂN”; (**) Thung dung. Tảo mai nhớ đức Nhân Tông, Sớm Đông, Tỉnh thức, Nhớ ông Trạng Trình là tên của năm đường dẫn tại thơ THUNG DUNG Hoàng Kim https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-lua-giua-dong-xuan/ và https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thungdung/

THUNG DUNG NHỚ BẠN HIỀN
Hoàng Kim


Năm cụ lên tiên sướng tọa thiền
Cụ ngồi ở giữa thật trang nghiêm
Bác Sinh phớn phở ưa trần thế
Chí Thái tâm thành trí an nhiên
Ta thương tri kỷ kiêng bia rượu
Mình ước hồng nhan chẳng thuốc men
Phù du trần thế xa niềm tục
Đạo học thung dung nhớ bạn hiền.

BẾN NGHÉ ĐỒNG NAI
Hoàng Kim


“Tôi đến Sài Gòn đâu phải để làm thơ?
Mà chợt tứ, chợt vần bỗng đâu ập đến
Đành chép vội thay chụp hình kỷ niệm”
(*)
333 năm Sài Gòn Bến Nghé Đồng Nai

Linh Giang sông quê hương
Đá Đứng chốn sông thiêng
Nguồn Son nối Phong Nha
Bến Lội Đền Bốn Miếu

Cầu Minh Lệ Rào Nan
Làng Minh Lệ quê tôi
Nhớ chợ Mới Thái Hòa
Quảng Bình đất Mẹ ơn Người

Ân tình đất phương Nam
An Viên Phước Hoàng Gia
Đồng Nai sớm mai trời ấm
Ngọc Phương Nam ngày mới

vui nối vần thơ Cậu Hoàng Gia Cương (*) với chùm thơ Hoàng Kim liên vận 12 đường dẫn xem tiếp 419 bài thơ Thung dung https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thung-dung

24 tiết khí nông lịch
A Na bà chúa Ngọc
A Na Bình Minh An
Ai chợp mắt Tam Đảo
Ai tỏ Ngọc Quan Âm
Ai thương núi nhớ biển
An nhiên nơi tĩnh lặng
An Viên Ngọc Quan Âm
An vui cụ Trạng Trình
Anh đi về tâm bão
Ân tình đất phương Nam
Ông bà và con cháu
Ông và cháu
Ức Trai tâm tựa Ngọc
Ba trăm năm thoáng chốc
Ban mai chào ngày mới
Ban mai lặng lẽ sáng
Ban mai trên sông Son
Ban Mai Đình Minh Lệ
Ban mai đứng trước biển
Bay lên nào Hải Âu
Bà và cháu
Bài ca nhịp thời gian
Bài ca Trường Quảng Trạch
Bài ca yêu thương
Bài học lớn muôn đời
Bài học Phủ Khai Phong
Bài học tự thắng mình
Bài thơ Viên đá Thời gian
Bài đồng dao huyền thoại
Báu vật nơi đất Việt
Bên suối một nhành mai
Bình Minh An Ngày Mới
Bóng hạc chốn xa xôi
Bến Lội Đền Bốn Miếu
Bảy bài học cuộc sống
Bảy Núi Thiên Cấm Sơn
Bảy Nhị kênh ông Kiệt và tôi
Biết mình và biết người
Biển Hồ Chùa Bửu Minh
Biển nhớ Trịnh Công Sơn
Borlaug và Hemingway
Cao Biền trong sử Việt
Càu hiếu nối bờ thương
Cánh cò bay trong mơ
Cát đá đất miền Trung
Câu cá bên dòng Sêrêpôk
Cây đời mãi xanh tươi
Có một ngày như thế
Cầu Trời nối Mẹ Cha xưa
Champasak ngã ba biên giới
Châu Mỹ chuyện không quên
Châu Văn Tiếp Phú Yên
Chín điều lành hạnh phúc
Chính Ngọ đoán Kinh Dịch
Chùa Giáng giữa đồng xuân
Chùa Một Cột Hà Nội
Chỉ tình yêu ở lại
Chớm Đông trên đồng rộng
Chợt gặp mai đầu suối
Chiêm Lưu Huy sách hay
Chiếu đất ở Thái An
Chim Phượng về làm tổ
Chung sức trên đường xuân
Chuyển đổi số nông nghiệp
Chuyện sao Kim sao Thủy
Chuyện sao Mai và Biển
Chuyện đồng dao cho em
Chuyện đời không thể quên
Chuyện đời ngày hạnh phúc
Chuyện đời Phan Chí Thắng
CIMMYT tươi rói kỷ niệm
Con nguyện làm Hoa Lúa
Con suối nguồn hạnh phúc
Con đường xanh yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Cuộc đời phúc lưu hương
Dạo chơi non nước Việt
Dạy và học để làm
Dấu xưa thầy bạn quý
Em ơi can đảm lên
Gõ ban mai vào phím
Gặp bạn giữa đồng xuân
Giấc mơ lành yêu thương
Giấc mơ thiêng cùng Goethe
Hình như
Hải Như thơ về Người
Học không bao giờ muộn
Hẹn uống rượu ngắm trăng
Hồ Ba Bể Bắc Kạn
Hồ Văn Thiện bóng chiều
Hồ Xuân Hương góc khuất
Hồ Xuân Hương đời thơ
Hoa Bình Minh Hoa Lúa
Hoa Lúa giữa Đồng Xuân
Hoa lộc vừng ngày mới
Hoa Mai với Thiền sư
Hoa và Ong Hoa Người
Hoa Xuân Vườn Tao Đàn
Hoa Đất của quê hương
Hoa Đất thương lời hiền
Hoang Kim Long Hoang Gia
Hoàng Gia Cương thơ hiền
Hoàng Kim chuyện đời tôi
Hoàng Kim thơ cho con
Hoàng Long cây lương thực
Hoàng Long thơ về Mẹ
Hoàng Ngọc Dộ khát vọng
Hoàng Tố Nguyên Lộc Trời
Hoàng Thành ngọc cho đời
Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Hoàng Trung Trực đời lính
Hoàng Đình Quang bạn tôi
Hoành Sơn và Linh Giang
Huỳnh Mai như là có nhau
Huyền Trang tháp Đại Nhạn
Hương Huế nhớ Thầy Cô
Hương lúa giữa đồng xuân
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Kế sách một chữ Đồng
Khát khao xanh
Khoảng lặng tâm hồn
Kiệt tác của tâm hồn
Lao động và nghỉ ngơi
Làng Minh Lệ quê tôi
Lâm Chiêu Đồng hương quê
Lão Mai Đinh Đình Chiến
Lên Thái Sơn hướng Phật
Lên Trúc Lâm Yên Tử
Lên Việt Bắc điểm hẹn
Lên đỉnh Thiên Môn Sơn
Lộc xuân
Lộc xuân Mẹ và Em
Lời khuyên thói quen tốt
Lời Thầy dặn thung dung
Lời Thầy luôn theo em
Lời thề trên sông Hóa
Lời thương
Lời thương cùng tháng năm
Lửa đèn vầng trăng soi
Linh Giang sông quê hương
Linh Giang Đình Minh Lệ
Mai Hạc vầng trăng soi
Mai Khoa Thu Hà Nội
Mai vàng bền mưa nắng
Martin Fregene xa mà gần
Mây lành Phổ Đà Sơn
Mình về thăm nhau thôi
Mùa Thu trong thi ca
Mẫu phương Nam Tao Đàn
Mẹ tắm mát đời con
Mỏ than Hồng giữ lửa
Một gia đình yêu thương
Một niềm tin thắp lửa
Một niềm vui ngày mới
Một vùng trời nhân văn
Mừng bạn hiền ngày mới
Mừng Cậu tròn trăm tuổi
Mexico ấn tượng lắng đọng
Mưa
Mưa bóng mây nắng đầy
Mưa Ngâu rằm Vu Lan
Mưa tháng Năm nhớ bạn
Mưa xuân trong mắt ai
Nắm chặt tay anh đi em
Nắng ban mai ngày mới
Nắng gió lành thuốc quý
Nắng lên là sương tan
Nắng mới
Nắng mới khát khao xanh
Nắng sớm
Nắng Đông
Ngày của Cha
Ngày của Mẹ
Ngày cuối năm thong thả
Ngày Hạnh Phúc của em
Ngày mới bình minh an
Ngày mới lời yêu thương
Ngày mới Ngọc cho đời
Ngày mới trên quê hương
Ngôi sao mai chân trời
Ngẫm thơ ngoài ngàn năm
Ngắm dấu chân thời gian
Ngắm vầng trăng cổ tích
Ngọc di sản Việt Nam
Ngọc Phương Nam ngày mới
Ngọt bùi nhớ trái ớt cay
Nghê Việt am Ngọa Vân
Nghê Việt trong Hồn Việt
Nghị lực và Ơn Thầy
Nguyên Hùng bạn xứ Nghệ
Nguyên Ngọc về Tây Nguyên
Nguyễn Minh Không Bái Đính
Nguyễn Trãi Dục Thúy Sơn
Nguyễn Trọng Tạo đồng dao
Nguyễn Đức Trung Hoa Đất
Ngưa không nản chân bon
Người vịn trời chấp sói
Nha Trang
Nha Trang biển và em
Nhà tôi chim làm tổ
Nhà tôi giấc mơ xanh
Nhân hậu đời quên tuổi
Nhân nghĩa cốt an dân
Nhớ Ông Bà Cậu Mợ
Nhớ ải Lạng Chi Lăng
Nhớ bạn hiền xóm núi
Nhớ bạn nhớ châu Phi
Nhớ bạn Đào Trung Kiên
Nhớ cây thông mùa đông
Nhớ kỷ niệm một thời
Nhớ lớp học trên đồng
Nhớ lời vàng Albert Einstein
Nhớ Mẹ Cha
Nhớ Núi
Nhớ Người
Nhớ quê hương
Nhớ tháng bảy mưa ngâu
Nhớ thầy Nguyễn Mộng Giác
Nhớ thầy Nguyễn Quốc Toàn
Nhớ thầy Phan Hoàng Đồng
Nhớ thầy Tôn Thất Trình
Nhớ thương cánh chim trời
Nhớ vầng trăng ngọn lửa
Nhớ Viên Minh Hoa Lúa
Những bài thơ ám ảnh
Những câu thơ lưu lạc
Những con người trung hiếu
Những trang đời lắng đọng
Nhiều bạn tôi ở đấy
Niềm tin và nghị lực
Năm tháng đó là em
Nơi một trời thương nhớ
Nơi vườn thiêng cổ tích
Nước Lào một suy ngẫm
Nước trong và ngày mới
Phan Thiết có nhà tôi
Phát triển nông thôn mới
Phạm Minh Giắng bạn tôi
Phố núi cao yêu thương
Phục sinh giữa tối sáng
Phương Nam đêm anh về
Qua sông Thương bến nhớ
Qua Waterloo nhớ Scott
Quang Dũng thơ gọi nắng
Quê Mẹ vùng di sản
Quả tốt bởi nhân lành
Quảng Bình đất Mẹ ơn Người
Quảng Bình đất và người
Quốc Công đạo làm tướng
Rừng Lipa
Sách hay thầy bạn quý
Sáng tạo và Công nghệ
Sóng yêu thương vỗ mãi
Sông Hoàng Long chảy hoài
Sông Kỳ Lộ Phú Yên
Sông Thương
Sớm Thu
Sớm Thu thơ giữa lòng
Sớm Xuân
Sớm xuân ngắm mai nở
Sớm xuân qua Đại Lãnh
Sớm Xuân thơ giữa lòng
Sớm xuân đi tảo mộ
Sớm Đông
Sự chậm rãi minh triết
Sự thật tốt hơn ngàn lời nói
Sen vào hè
Song Ngư và Tháp Một
Suy ngẫm từ núi Xanh
Suy tư sông Dương Tử
Sơn Núi trên rừng khuya
Ta về trời đất Hồng Lam
Ta về với Linh Giang
Ta về với đồng xuân
Tagore Thánh sư Ấn Độ
Tâm tĩnh lặng an nhiên
Tìm về đức Nhân Tông
Tím một trời yêu thương
Tô Đông Pha Tây Hồ
Tảo mai nhớ đức Nhân Tông
Tắm tiên Chư Yang Sin
Tết ấm áp tình thân
Tỉnh lặng
Tỉnh lặng với chính mình
Tỉnh thức
Tỉnh thức cùng tháng năm
Tứ Cô Nương bạn tôi
Tứ quý hoa bốn mùa
Từ Hiếu với người hiền
Tự do ngời tâm đức
Thanh nhàn vui tháng năm
Thao thức nhịp thời gian
Tháng Ba hoa hồng trắng
Tháng Ba nhớ bạn
Thầy là nắng tháng Ba
Thầy nghề nông chiến sĩ
Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
Thầy Norman Borlaug
Thầy tôi sao sáng giữa trời
Thầy ơi
Thắp đèn lên đi em
Thời gian lưu dấu hiền
Thiên nhiên là thú thần tiên
Thiên đường này đâu quá xa
Thiện Đức Nguyễn Đức Hà
Thu Nguyệt gai và hoa
Thung dung
Thung dung dạy và học
Thơ dâng theo dấu Tagore
Thơ Pushkin bình minh Nga
Thơ tình Hồ Núi Cốc
Thơ Tứ tuyệt Hoàng Kim
Thơ thiền Thích Nhất Hạnh
Thơ vui những ngày nhàn
Thơ văn thầy Hồ Ngọc Diệp
Thơ Xuân Chào Ngày Mới
Thơ xuân ngày giáp Tết
Thượng Đức thương nhìn lại
Thương câu thơ lưu lạc
Thương Kim Thiếp Vũ Môn
Thương mình thương thân
Thương nhớ Biển Hồ trà
Tiếng Việt lung linh sáng
Tiếng Việt thuyền và biển
Tiết Chế đức dụng nhân
Tiếu ngạo với Lan Hoa
Tiễn em vào trận đánh
Trà sớm nhớ bạn hiền
Trà sớm thương người hiền
Trân trọng Ngọc riêng mình
Trên bục giảng mùa xuân
Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Trạng Trình
Trạng Trình dưỡng sinh thi
Trầm tích ngọc cho đời
Trần Công Khanh ngày mới
Trần Khánh Dư vẹn kiếp
Trời mưa trong mắt ai
Trời nhân loại mênh mông
Trở về nơi điểm hẹn
Tre Rồng sông Kỳ Lộ
Trung Quốc một suy ngẫm
Trăng rằm sen Tây Hồ
Trăng rằm thương nhớ Anh
Trăng rằm vui chơi giăng
Trăng rằm đêm Thanh Minh
Trăng rằm đêm Trung Thu
Trường tôi nôi yêu thương
Trương Minh Thảo hoa cỏ
TTC Group Sen vào hè
Tuyệt vời Hoàng hôn tím
Vào Tràng An Bái Đính
Vạn An lời yêu thương
Vạn Xuân nơi An Hải
Về lại bến sông xưa
Về miền Tây yêu thương
Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng
Về Trường để nhớ thương
Về với vùng cát đá
Về với vùng văn hóa
Về Việt Bắc nhớ Người
Viên Minh Thích Phổ Tuệ
Viếng mộ cha mẹ
Việt Nam tâm thế mới
Việt Phương ba điều nhớ mãi
Vui bước tới thảnh thơi
Vui sống giữa thiên nhiên
Vui thu măng mỗi ngày
Vui đùa bạn Hoa Huyền
Vui đến chốn thung dung
Vui đi dưới mặt trời
Văn Công Hùng Tây Nguyên
Văn chương ngọc cho đời
Vĩ Dạ thương Miên Thẩm
Vườn nhà sớm mai nay
Vườn Tao Đàn bạn quý
Walter Scott bút hơn gươm
Xanh một trời hi vọng
Xuân ấm áp tình thân
Xuân sớm
Xuân sớm Ngọc Phương Nam
Yên Lãng Hồ Chí Minh
Yên Tử Trần Nhân Tông
Ăn cháo nói càn khôn
Đào Duy Từ còn mãi
Đá hát
Đá Đứng chốn sông thiêng
Đáy đại dương là ngọc
Đèo Ngang thăm thẳm nhớ
Đêm mai là trăng rằm
Đêm nay là Trăng rằm
Đêm ngủ ở Hà Tân
Đêm nhớ Thuyền và Biển
Đêm thanh ngắm hoa quỳnh
Đêm Vu Lan
Đêm Vu Lan thương chị
Đêm Yên Tử
Đình Lạc Giao Hồ Lắk
Đùa vui cùng Thuận Nghĩa
Đại Lãnh nhạn quay về
Đại tuyết trên Hoàng Hà
Đất Mẹ vùng di sản
Đến Thái Sơn nhớ Người
Đến với Tây Nguyên mới
Đối thoại với Thiền sư
Đồng hành cùng đi tới
Đồng Nai sớm mai trời ấm
Đồng xuân lưu dấu hiền
Đồng đội cùng tháng năm
Đỗ Hoàng Phong chiều xuân
Đỗ Phủ thương đọc lại
Đợi anh ngày trở lại
Đợi mưa
Đợi nắng
Đi bộ trong đêm thiêng
Đi như một dòng sông
Đi thuyền trên Trường Giang
Đi để hiểu quê hương
Đường về đất nở hoa

CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Beautiful Relaxing Music https://youtu.be/hlWiI4xVXKY
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Ta về trời đất Hồng Lam

TA VỀ TRỜI ĐẤT HỒNG LAM
Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Thung dung dạo bước trăng vàng lộng soi
Đường trần tới chốn thảnh thơi
Hồng Sơn Liệp Hộ bồi hồi đất quen.

Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người.

NGUYỄN DU ĐI SĂN Ở NÚI HỒNG
Hoàng Kim


Núi Hồng Lĩnh danh thắng Nghệ Tĩnh,thuộc thị xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Núi Hồng Lĩnh cùng với sông Lam, được xem là biểu tượng hồn thiêng sông núi của xứ Nghệ, từng được xếp vào danh sách 21 danh thắng nước Nam. Núi Hồng Lĩnh là nơi Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng làm ‘Hồng Sơn Liệp Hộ’ (1797-1802)  sau khi ông bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An mùa đông năm Bính Thìn (1796) về tội danh định trốn vào Nam với chúa Nguyễn Ánh, sau ông được tha về sống ở Tiên Điền; Núi Hồng Lĩnh (Ngàn Hống, Rú Hống, Hồng Sơn hay Hồng Lĩnh biệt hiệu là Hoan Châu Đệ Nhất Danh Thắng dãy núi núi nổi tiếng nhất Hà Tĩnh. Nguyễn Du tỏ chí là Nam Hải Điếu Đồ (kẻ đi câu ở biển Nam) và Hồng Sơn Liệp Hộ (người đi săn ở núi Hồng) ở hai thời khắc quyết định thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn minh triết của ông .Bài này viết về Nguyễn Du thời thế từ 1797 đến 1802 kiệt tác thơ chữ Hán Nguyễn Du soi tỏ thời thế, cuộc đời và tâm hồn Nguyễn Du trăng huyền thoại; .Tâm sự Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ, ngôn chí thể hiện rõ nhất trong bài “Đi săn”; bài chi tiết tại Nguyễn Du niên biểu luận; Nguyễn Du thời Tây Sơn; Nguyễn Du làm Ngư Tiều https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-du-lam-ngu-tieu/

ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lọng che ấy những ai ?

Bài Liệp “Đi săn” Nguyễn Du viết : “Những người áo mũ hiển đạt để chí mình ở đường mây, còn ta, ta vui với bầy hươu nai của ta, cốt là để khuây khỏa trong lúc nhàn chớ đâu phải ham được thịt thú. Diệt trừ giống khác hại chăng đến đức nhân ? Con xạ ngủ nơi đồng cỏ non hương thơm còn ướt. Con chó vượt qua nhiều lớp núi, tiếng sủa không còn nghe thấy. Tìm thú vui chơi trong cuộc phù sinh mỗi người một sở thích. Những người lọng đón xe đưa là người nào thế nhỉ ?”

Nguyễn Hành viết về Phi Tử Nguyễn Du trong bài Ca tụng việc đi săn (Trương Chính. Thơ chữ Hán Nguyễn Du  Nxb Văn Học, Hàn Nội 1965,  tr 38) : Đó là ông nói việc đi săn của người tầm thường, chứ ông đâu có biết việc đi săn của bậc đại nhân. Bậc đại nhân đi săn không ở chỗ đi săn. Họ nhỡn nhơ chỗ nọ chỗ kia, ngắm núi ngắm rừng. Họ trèo lên đỉnh cao để nhìn vực thẳm, tắm gội nơi suối trong, thơ thẩn giữa cây tùng cây bách, nhìn tạo vật biến hóa, đùa giỡn với hươu nai, do đó mà tinh thần được thư thái, ý chí được trau giồi, lòng dạ thảnh thơi không bận bịu, mây nhẹ nhàng luồn trong tay áo, gió phất phơ thổi đưa tà áo, trông thấy kinh kỳ trong gang tấc, hứa hẹn những cuộc ngao du. Bậc đại nhân đi săn như thế, người tục đâu có biết !

Để hiểu sâu thêm tâm sự Nguyễn Du, chúng ta tìm hiểu thời thế Nguyễn Du từ 1797 đến 1802 hành trạng Nguyễn Du và tác phẩm trong giai đoạn này

THỜI THẾ NGUYỄN DU TỪ 1792 ĐẾN 1802

Năm Đinh Tỵ (1797). Nguyễn Du 32 tuổi. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản đã cử Lê Trung làm tướng trấn giữ Quy Nhơn và điều Trần Quang Diệu về hầu việc trong triều. Bốn tứ trụ triều đình Cảnh Thịnh là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Nguyễn Văn Huấn và Nguyễn Văn Danh. Thế nhưng tướng Trần Quang Diệu bị người ta dèm pha là uy quyền quá lớn sắp có mưu đồ khác nên vua Cảnh Thịnh đã điều chỉnh như vậy, với phúc tướng triều Tây Sơn là Vũ Văn Dũng luôn giám quân.. Trần Quang Diệu lo sợ nên cáo bệnh không vào chầu mà đốc suất thủ hạ thân tín canh phòng tự vệ suốt ngày đêm. Nguyễn Vương truy quét thổ phỉ người Thượng, phủ dụ dân tình ở vùng núi và tìm hiểu tướng trấn giữ các nơi. Nguyễn Vương được tin mật báo nội tình Tây Sơn cả mừng, tập hợp các tướng bàn định việc ra quân. Nguyễn Vương  để Tôn Thất Hội giữ thành Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh, Nguyễn Đình Đắc theo đường bộ đánh thẳng ra Phú Yên, Quy Nhơn, còn tự mình thì cùng với hoàng tử Cảnh và tướng Nguyễn Văn Trương đem đại binh thuyền đánh ra Quy Nhơn. Quân thủy của Nguyễn Vương tiến sâu vào cửa Thị Nại. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ra lệnh cho Nguyễn Văn Huấn mang toàn quân ra chống cự, phục chức cho Trần Quang Diệu sai giữ cửa Thuận để làm thanh ứng. Nguyễn Vương tấn công quyết liệt quân Tây Sơn mấy tháng ròng ở Bình Định không phân thắng bại, thấy sự phòng thủ chặt chẽ, liệu sức không đánh đổ được bèn kéo binh thuyền ra đánh phá Quảng Nam, nhưng cũng không giành được thế thắng và quân nhu không đủ, bèn rút về Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành giữ chức khâm sai tiền tướng quân và Đặng Trần Thường làm hiệp tán quân vụ ở lại giữ thành Diên KhánhNguyễn Vương theo mưu kế của Đặng Trần Thường, một mặt sai Nguyễn Văn Thụy sang Thái Lan báo tin thắng trận cho vua Thái và nhờ quốc vương nước này xuất binh theo đường bộ Lào với sự dẫn đường của Thụy để tấn công Thuận Hóa từ hướng Tây  hoặc cho quân đột phá Nghệ An để chặn đường quân Bắc Hà vào cứu viện. Quân sĩ Nguyễn Vương cũng sẽ phối hợp tấn công ở hai mặt Đông và Nam. Mặt khác, Nguyễn Vương cũng sai binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh sang sứ nhà Thanh vừa do thám tình hình vừa trao trả lại cho nhà Thanh một số tàu thuyền mượn tiếng là thu được của quân Tàu biển “Thiên Địa Hội” phản Thanh phục Minh nhằm lấy lòng vua nhà Thanh vừa tố cáo Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn trước đây trong thì tiếm xưng là hoàng đế Quang Trung, ngoài thì giả cách thuần phục nhà Thanh, nhưng lại ngấm ngầm tiếp tay cho quân phỉ biển “Thiên Địa Hội” để gây chia rẽ nhà Thanh với nhà Tây Sơn. Mặt khác Lưu Nhân Tĩnh cũng tìm mọi cách liên kết với các cựu thần nhà Lê, tầng lớp sĩ phu và những người vốn có oán thù với nhà Tây Sơn để tăng thêm thanh thế và đồng minh.  Ngô Nhân Tĩnh vừa đi khỏi thì “phụ quốc nguyên công’ Tôn Thất Hội là tướng giỏi của Nguyễn Vương bị ốm nặng và mất. Nguyễn Ánh theo lời của quốc thúc Tôn Thất Thăng đã đưa hoàng tử Cảnh với sự trợ giúp của Bá Đa Lộc và Tống Viết Phước ra trấn giữ Diên Khánh, thay thế cho các tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tính và Đặng Trần Thường được gấp rút trở về Gia Định luyện quân để chuẩn bị cho chiến dịch mới.

Năm Mậu Ngọ (1798). Nguyễn Du 33 tuổi. Nguyễn Ánh đang bàn việc mang tin thắng lợi sang báo vua Xiêm (Thái Lan) thì vừa lúc vua Xiêm cử sứ giả sang xin viện binh chống Miến Điện. Nguyên lúc trước ở Băng Cốc vua tôi Nguyễn Ánh lúc sang nương nhờ Thái Lan đã cùng quân tướng Thái Lan đánh lui được quân Miến nên được vua Thái trong thị. Nay trước việc này, Nguyễn Vương sai Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đình Đắc đem một vạn quân và chiến thuyền sang cứu viện cho Thái Lan. Quân Nguyễn khi đến Côn Lôn vừa lúc nghe tin quân Miến đã lui, nên chỉ một mình Nguyễn Huỳnh Đức mang quốc thư sang Xiêm còn Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Đình Đắc thì mang quân về. Khi về Gia Định lại gặp Nguyễn Văn Nhơn đưa Đặng Đức Siêu là danh sĩ Hàn lâm, kỳ tài của Bồng Sơn Bình Định thường tự ví mình là Quản Trọng Nhạc Nghị, trước làm quan nhà Nguyễn, sau không chịu theo họ Trịnh và nhà Tây Sơn, nay theo thuyền buôn trốn vào dâng sách Bình Tây phương lược. Nguyễn Ánh vui mừng cử làm Trung doanh tham mưu. Nguyễn Vương cử tướng Nguyễn Văn Thụy làm Khâm sai thượng đạo đại tướng quân cùng tiền quân Lưu Phước Tường, tham mưu Nguyễn Hoài Châu, Nguyễn Văn Uẩn, tham quân Lê Văn Xuân làm cánh quân vu hồi đi cắt đường sang Lào. Cánh quân này có nhiệm vụ trên lối đi dụ người Thượng cùng dấy binh hưởng ứng và đến thành Viên Chăn dụ quốc vương Vạn Tượng cùng người dân ở Trấn Ninh, Thanh Nghệ hành binh đi theo. Quân đi đến đâu cũng phao lên rằng quân Nguyễn cùng quân Xiêm và Lào đang hành binh tiến đánh Thuận Hóa và Tây Nghệ An để đánh lạc lướng và ghìm chân lực lượng tinh nhuệ cửa hai nơi này và quân Bắc Hà vào cứu Quy Nhơn. Tướng Nguyễn Văn Thụy là người Diên Phước, Quảng Nam vốn là người mưu trí lại có sẵn thẻ thông hành đi các nước, nguyên là tướng thân tùy hộ giá Nguyễn Vương lúc trước ở Băng Cốc, đã ba lần đi sứ nước Xiêm, hai lần quản lĩnh đạo Thanh Châu, và vừa bảo hộ Nguyễn Văn Nhơn đi sứ Xiêm về, nay được Nguyễn Vương cử làm thống tướng phụ trách cánh quân vu hồi này. Nguyễn Vương lại sai cho hoàng tử thứ hai trọng trách trấn giữ vùng Gia Định và các trọng địa của đất phương Nam, cùng với các tướng là Nguyễn Văn Nhơn làm Chưởng cơ thống lĩnh quân binh kiêm chưởng Bộ Hộ, Nguyễn Tử Châu làm Tham mưu Bồi tán quân vụ. Tại Bình Định, Nguyễn Bảo là con của Nguyễn Nhạc vì căm giận vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản chiếm giữ đất Tây Sơn bèn định bỏ về hàng Nguyễn triều. Vua Cảnh Thịnh biết mưu ấy sai tướng vào bắt Nguyễn Bảo đưa về dìm xuống sông giết đi. Lại có người nói gièm rằng Nguyễn Bảo sở dĩ làm phản là tại quan trấn thủ Lê Trung. Vua Cảnh Thịnh triệu Lê Trung về Phú Xuân sai võ sĩ bắt chém đi. Được ít lâu sau quan Thái phó Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết. Từ đó tướng sĩ Tây Sơn nhiều người nản lòng tìm cơ hội bỏ theo về Nguyễn Vương.

Năm Kỷ Mùi (1799). Nguyễn Du 34 tuổi. Nguyễn Vương thấy thế Tây Sơn đã suy yếu; cánh quân vu hồi của tướng Nguyễn Văn Thụy cùng phương lược ngoại giao của binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh đã hình thành tình thế mới, bèn quyết định cử đại binh ra đánh Quy Nhơn. Nguyễn Vương tự mình làm tướng, chia binh làm hai đường thủy bộ, giao cho tướng trấn giữ Diên Khánh là Đông cung Cảnh với Tả quân phó tướng Nguyễn Đình Đắc, Hữu quân phó tướng Nguyễn Công Thái chẹn giữ các vùng hiểm yếu Phú Yên, Ninh Thuận,  Bình Thuận để làm thanh thế. Cánh quân tiên phong đường bộ do Nguyễn Văn Thành làm thống tướng, Đặng Trần Thường làm Hiệp tán quân vụ, Trịnh Hoài Đức làm Hộ bộ tham tri, Lưu thủ Vĩnh Trấn Nguyễn Văn Thịnh phụ trách việc vận chuyển lương cho bộ binh. Cánh quân thủy do Nguyễn Vương trực tiếp thống lãnh, Bình Tây tham thặng đại tướng quân Võ Tánh làm hộ giá, tướng Mai Đức Nghị quản lĩnh hơn năm mươi chiến thuyền  hộ vệ đoàn thuyền lương. Năm Kỷ Mùi (1799) đầu mùa hè, Nguyễn Vương hạ lệnh xuất quân. Quân Nguyễn và quân Tây Sơn đối trân ác liệt tại cửa Thị Nại Bình Định cho đến Quảng Ngãi. Bá Đa Lộc ốm chết trong quân ở cửa Thị Nại ngày 9 tháng 10 năm 1799, xác được ướp thuốc đưa về chôn ở gần nhà giảng của Lộc ở Gia Định, xây lăng gọi là lăng Cha Cả. Tướng sĩ Tây Sơn do sự chia rẽ của triều đình Cảnh Thịnh nên một số tướng lĩnh thân tín Nguyễn Nhạc cùng hậu duệ của họ nản lòng bỏ theo về Nguyễn Vương, trong số đó có  đại đô đốc Tây Sơn là Lê Chất, một tướng giỏi đánh trận, người huyện Phù Ly, phủ Bình Định là con rễ của Tư lệ Lê Trung. Lê Chất đưa hơn hai trăm quân bản bộ về hàng được Nguyễn Vương cho làm chức tướng quân dưới quyền Võ Tánh. Nguyên Lê Chất là thuộc tướng Lê Trung được Lê Trung mến tài gả con gái cho. Lê Chất biết tình thế triều Quang Toản sẽ tan vỡ từ bên trong nên nhiều lần khuyên Lê Trung đầu hàng Nguyễn Ánh nhưng Trung còn do dự chưa quyết. Sau sự biến Nguyễn Bảo bị dìm chết, Lê Trung và Nguyễn Văn Huấn bị giết, vua Cảnh Thịnh lùng bắt Chất rất gấp, Chất giả dạng trốn được. Lê Chất được Tổng quản Tây Sơn là Lê Văn Thanh tiếc tài giữ lại làm thân tín trong doanh. Lê Chất gặp thời cơ đã sang hàng Võ Tánh. Tướng trấn thủ Quy Nhơn là Lê Văn Ứng thấy quân Nam thế lớn sợ lương thực không đủ dùng nên lệnh cho Tổng quản Nguyễn Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Thái Phác cùng Thiếu úy Nguyễn Tiến Thúy giữ thành còn mình thì mang quân ra thành về ấp Tây Sơn thu chở quân lương. Lê Chất biết rõ tình hình báo cho Võ Tánh lập tức giao tinh binh cho Nguyễn Đức Xuyên và Lê Chất chia làm hai cánh đánh tiêu diệt lớn và cướp binh lương. Lê Văn Ứng thua to, chạy thoát được vào thành, xua quân ra ngoài dàn trận chống cự. Nguyễn Văn Thành Và Võ Tánh đem đại binh vây chặt. Tổng quản Lê Văn Thanh thế cùng phải đóng cửa thành tử thủ để chờ viện binh. Quang Toản nghe tin thua trận liền sai ngay hai đại tướng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng mang binh thuyền tới cứu viện. Quân do thám báo về Nguyễn Vương lập tức dẫn đại quân chia ba đường do Lê Văn Duyệt, Tống Viết Phước, Đông cung Cảnh với hai phó tướng là Nguyễn Đình Đắc, Nguyễn Công Thái cùng tiến đánh quân cứu viện; Võ Duy Nghi quản binh thuyền năm doanh án ngữ cửa biển Kim Bồng. Nguyễn Vương tự mình chỉ huy đại quân tiến gấp đến Tân Quan. Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vào Quảng Ngãi nghe tin quân Nam đã chiếm Tân Quan bèn bỏ thuyền lên bộ, quân đông tới vài vạn, tiến nhanh như gió cuốn đất. Quân Quang Diệu và Nguyễn Ánh giáp chiến, trong khi Võ Văn Dũng ngầm chia binh theo đường tắt thẳng đến Bến Đá định tập kích Tân Quan đang đêm vượt suối nhỏ bị chạm trán cánh quân mạnh của Tống Viết Phước bị thua to phải lùi về Quảng Ngãi. Nguyễn Vương lập tức sai đem quân thua của Võ Văn Dũng đi diễu quanh thành Bình Định để làm quân Bắc khiếp sợ, lại lệnh cho Võ Tánh gấp rút công đồn và cho người vào thành dụ hàng. Tổng quản Lê Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đại Phác, Thiếu úy Trương Tiến Thúy thấy thế không thể chống nổi, phải dâng thành xin hàng. Nguyễn Vương sai Lại bộ Tham tri Phạm Đăng Hưng cùng Lại bộ  Trần Văn Trạc đến thành Quy Nhơn chiêu dụ và tiếp nhận sự đầu hàng. Phạm Đăng Hưng nguyên là người làng Tân Hòa, Gia Định, là môn sinh của Lại bộ Nguyễn Bảo Trì, thông minh, hiếu học , thạo việc nước , binh thư lịch pháp tinh thông, thường được dự bàn mưu lược trong quân. Phạm Đăng Hưng sau này có con gái là bà Từ Dụ hoàng thái hậu, vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức. Tướng Nguyễn Văn Thành chỉ huy quân tiên phong và hữu quân kịch chiến năm ngày ở Bến Đá với quân của tướng Tây Sơn Nguyễn Quang Diệu không phân thắng bại. Quang Diệu thấy Võ Văn Dũng thua trận nên không dám ham đánh mà thu binh rút lui. Nguyễn Vương chiếm thành Quy Nhơn. Nguyễn Vương thu quân về Nam, chọn cử đại tướng quân kiêu dũng thiện chiến Võ Tánh vừa là con rể Nguyễn Vương thống tướng trấn thủ  Bình Định,  Ngô Tòng Chu làm hiệp trấn, Hình bộ Nguyễn Hoài Quýnh làm Bồi tán Quân vụ, Vệ úy Nguyễn Văn Thịnh làm Lưu thủ, Cai cơ Nguyễn Văn Tường làm Cai bạ. Phụng nghị Tá làm Ký lục giúp Võ Tánh ở dinh Trấn thủ. Ba đồn quân ngự lâm Tả Trung Tiền đặt dưới quyền của ba tướng Phan Tiến Huỳnh, Đoàn Văn Cát, Lê Chất, cùng với Nguyễn Văn Tồn chỉ huy lính Xiêm đóng tại các vị trí hiểm yếu che chắn vòng ngoài và tạo thế liên hoàn phòng thủ thành Bình Định. Nguyễn Vương cũng chọn cử tướng Nguyễn Văn Trương đóng giữ cửa Thi Nại. Tướng Nguyễn Văn Tính lưu thủ Diên Khánh, Đặng Trần Thường làm Hiệp trấn, Phạm Tiến Tuấn lưu thủ Phú Yên, Lưu Tiến Hòa lưu thủ Bình Khang, Võ Văn Lân lưu thủ Bình Thuận. Ra lệnh lập sổ dân binh, khen thưởng huân công, bổ dụng con cháu những người trung nghĩa, xét trả lại ruộng đất bị quan quân Tây Sơn chiếm đoạt. Quy Nhơn trước  thuộc trấn Quảng Nam vốn là đất khởi nghiệp của nhà Tây Sơn, sản vật dồi dào, sức binh hùng mạnh mà Trung ương Hoàng Đế Tây Sơn Nguyễn Nhạc và Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ tranh chấp để giành lấy sự chính danh ngôi vua, đã dẫn đến hiềm khích bất hòa và chia rẽ sâu sắc, dẫn đến suy yếu. Sau hai mươi sáu năm khởi nghiệp nay thành Quy Nhơn bị rơi vào tay quân Nam Triều, Nguyễn Vương cho đổi tên thành Bình Định. Vua Quang Toản nghe tin báo quân Nam đã rút về Nam, chỉ để lại quân tướng giữ thành bèn thương nghị với Trần Văn Kỷ.  Quy Nhơn là đất hưng vượng triều ta mà không giữ được thì làm sao giữ được Phú Xuân và cửa Hàn? Trần Văn Kỷ người Thuận Hóa, vốn có văn học, là bậc danh sĩ ở Nam Hà. Sách Hoàng Lê Nhất thống chí viết: “Năm Đinh Dậu (1777) niên hiệu Cảnh Hưng, Kỷ thi ở trấn (Phú Xuân) đậu giải nguyên. Năm Mậu Tuất (1778), Kỷ tới kinh (Thăng Long) thi Hội. Sĩ phu ở Bắc Hà, Kỷ có giao thiệp quen biết ít nhiều. Năm Bính Ngọ (1786), Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ) đánh lấy thành Phú Xuân, sai người tìm Kỷ hỏi việc Nam, Bắc. Kỷ đối đáp rất nhanh và rất hợp ý, nên Bắc Bình Vương rất trọng, cho ở vào chỗ “màn trướng”, việc gì cũng bàn với Kỷ, lúc nào cũng gần bên Kỷ, không mấy khi xa rời”. Năm 1786, khi  Nguyễn Huệ xuất quân ra Thăng Long lần thứ nhất để diệt Trịnh, phò Lê; gặp khi vua Lê Hiển Tông mất (ngày 10 tháng 8), Trần Văn Kỷ cùng Nguyễn Hữu Chỉnh đã thay mặt Nguyễn Huệ mặc áo trắng đi theo hầu đám tang vua đến nơi an táng ở Bàn Thạch (Thanh Hóa). Năm 1787, nội bộ Tây Sơn lâm vào tình trạng chia rẽ sâu sắc. Trần Văn Kỷ đã đứng ra lo dàn xếp giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bằng cách lấy Bản Tân làm ranh giới. Từ Quảng Ngãi trở vào Nam do Nguyễn Nhạc làm chủ, từ Thăng Diện ra Bắc thuộc về Nguyễn Huệ, nhờ mưu kế này đã chấm dứt cuộc hỗn chiến đẫm máu kéo dài suốt từ tháng 1 đến  tháng 5 năm 1787 giữa hai thủ lĩnh Tây Sơn làm thiệt hại chừng một nửa trong số 6 vạn quân của Nguyễn Huệ điều vào Quy Nhơn. Theo sách Tây Sơn thủy mạt khảo của Đào Nguyên Phổ (1861-1908) đã xác nhận điều này “nhờ mưu kế của Trần Văn Kỷ, là người hạnh thần của Nguyễn Huệ bày ra”. Do thành quả trên, ông được phong tước Kỷ Thiện hầu, giữ chức Trung thư Phụng chính, có nhiệm vụ tham mưu, nắm toàn bộ trung thư cơ mật, thảo sắc phong, chiếu lệnh, vị đại thần bên cạnh vua Quang Toản. Chính vì vậy Quang Toản  đã đích thân dẫn đại quân vào Trà Khúc để đôn đốc các tướng tiến đánh. Trần Nhật Kết nói: Nay là cuối thu, hướng gió không thuận, nên chuẩn bị kỹ quân lương mọi mặt, đầu xuân hãy ra quân. Mặt khác cũng phải đề phòng kinh thành Phú Xuân bị đột kích từ hướng tây và hướng biển. Quang Toản nghe lời, sau khi hội tướng xong bèn để Nguyễn Quang Diệu, Võ Văn Dũng  trấn thủ Quảng Nam và Quảng Ngãi, Nguyễn Văn Giáp trấn thủ Trà Khúc, còn vua thì đem quân về Phú Xuân.

Năm Canh Thân (1800). Nguyễn Du 35 tuổi. Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng về triều kiến vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ở Phú Xuân. Vua Quang Toản phủ dụ rằng: Các khanh là trụ cột của triều đình, nên đồng tâm gắng sức để trừ họa ngoài, không nên nghi ngờ nhau.  Hai tướng khóc mà tạ ơn. Diệu nói: Bọn thần đi chuyến nay nếu không thu phục được Quy Nhơn thề không đem binh trở về. Không ngờ, đây chính là chuyến xuất quân định mệnh, bước ngoặt của cục diện quân sự thay đổi dẫn đến sụp đổ nhà Tây Sơn. Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vốn là hai chiến tướng trụ cột lừng danh của nhà Tây Sơn, hai  ông cùng với Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân được người đương thời gọi là Tây Sơn tứ kiệt. Ngô Văn Sở lúc ấy đã chết. Bùi Thị Xuân thì sau này là nữ tướng lẫm liệt bậc nhất của triều Cảnh Thịnh đương đầu với thế quân áp đảo của Nguyễn Vương khi Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng bị hãm trận ở nơi xa. Nguyên là Võ Văn Dũng sau trận thua nặng nề ở Bến Đá khi ông định tập kích Tân Quan, kỹ luật của quân Tây Sơn rất nghiêm minh, Quang Toản nối chí Nguyễn Huệ nhưng đã quen phong thái chỉ huy của cha, trị quân và khiển tướng rất nghiêm. Mọi sơ suất trong hành binh, đánh trận và thưởng phạt đều xử trọng tội theo quân pháp. Võ Văn Dũng dễ bị tội chết  nhưng nhờ có Quang Diệu che giấu nên Võ Văn Dũng cảm nghĩa ấy mà kết sinh tử với Trần Quang Diệu và cố kết với nhau rất tương đắc. Trần Văn Kỷ, Trần Nhật Kết và Hồ Công Diệu trong Cơ Mật Viện ‘ban tham mưu’ của vua Cảnh Thịnh ở Phú Xuân vốn ghét Nguyễn Quang Diệu oai quyền lấn chủ, tướng ở ngoài thường tự chuyên, hành binh tiến lui và mưu lược đánh trận coi thường mưu kế của tham mưu ở xa. Nay nhân việc binh thua mất đất căn bản Quy Nhơn của Quang Diệu nên đã gửi mật chiếu lệnh cho Dũng thay Diệu nắm trọng binh. Dũng vì mang ơn Diệu nên đưa tờ chiếu ấy cho Diệu xem. Hai người kéo binh về đóng trại ở nam Sông Hương đòi trị tội tên giặc ở bên cạnh vua. Trần Văn Kỷ đổ lỗi cho Hồ Công Diệu và Trần Nhật Kết. Kết bỏ trốn. Quang Toản sai bắt Hồ Công Diệu nộp cho Nguyễn Quang Diệu, bấy giờ Trần Quang Dũng và Võ Văn Dũng mới chịu vào triều kiến và xuất quân đánh Quy Nhơn  Tháng Chạp năm 1800, Trần Quang Diệu sai đắp lũy dài vây đánh thành Quy Nhơn rất gấp, trong khi Võ Văn Dũng thì đem hai tàu lớn và hơn trăm chiến thuyền bố phòng bị nghiêm ngặt cửa biển Thị Nại, xây đồn và đặt súng đại bác ở hai bên cửa biến phòng thủy quân của nhà Nguyễn đánh ra. Tin báo về Gia Định, các tướng đều thấy quân Võ Tánh thế cô, xin xuất binh cứu viện gấp. Nguyễn Vương nói: “Lương thảo trong thành Bình Định đủ ăn một năm. Nay gió mùa đông bắc đang mạnh, chưa tiện đưa thủy quân ra”. Nói rồi cho người ruổi ngựa mang thư khuyến khích Võ Tánh đốc thúc tướng sĩ liều chết cầm cự, một mặt hội tướng bàn việc tiến quân. Nguyễn Vương điều Đông cung Cảnh về giữ thành Gia Định, lấy Nguyễn Văn Nhơn quyền lãnh Tả quân phó tướng coi sóc mọi việc cùng Đông cung và lo chi viện lương thảo, cử Hình bộ Thượng thư Nguyễn Tử Châu làm hiệp tán cơ vụ. Tấn phong Nguyễn Văn Thụy làm làm Khâm sai thượng đạo Bình Tây đại tướng quân, dẫn một cánh quân  ‘thám báo tinh nhuệ’ đi mua chuộc lòng dân, tổ chức dân binh, hội binh cùng vua Vạn Tượng loan truyền việc đánh Nghệ An và tây Phú Xuyên để kiềm chế viện binh Phú Xuân và Bắc Hà kéo vào tiếp ứng Quy Nhơn. Kế đến là tung thám báo và những người có quan hệ nhiều với triều Lê, tướng trụ cột Tây Sơn để  thăm dò nội tình, gây chia rẽ, lũng đoạn triều chính ngay trong lòng nội bộ Tây Sơn. Đội quân này xuất phát ngay. Tháng ba năm ấy, Nguyễn Vương lệnh cho Nguyễn Đức Xuyên đưa đội tượng binh và đại quân đường bộ lên đường còn tự mình thì dẫn đoàn chiến thuyền tiến phát tiếp sau. Nguyễn Đức Xuyên ra đến Diên Khánh thì Trần Quang Diệu đã lập 90 đồn binh hùng hậu liên hoàn để phòng giữ. Nguyễn Đức Xuyên xin lệnh Nguyễn Vương về phối hợp tiến công. Các tướng bàn định là nên bỏ Bình Định để tấn công Phú Xuân. Đặng Trần Thường cho rằng không nên vì quân Nam triều thuận gió ập đến, thủy quân Tây Sơn đang hùng hậu và cố thủ ở cửa Thị Nại, nếu thuyền quân Nam tiến ra Phú Xuân thì thủy quân Tây Sơn sẽ thuận gió đuổi theo, hai mặt trước sau giáp công thì quân Nam sẽ rất nguy hiểm. Nên đánh tan thủy binh mới đánh Phú Xuân được. Nguyễn Vương khen phải nên cho chiến thuyền tạm cập bến Cù Mông là nơi luồng lạch không thuận lợi bằng cửa Thị Nại vì Tây Sơn đã chiếm trước và phòng ngự chắc chắn rồi. Quân sư Đặng Đức Siêu dâng kế là quân Nam nếu bỏ tàu thuyền lên bộ thì thuyền neo lại ngoài khơi rất dễ bị Tây Sơn đánh đoạt, trong khi quân Nam sở trường thủy chiến hơn đánh bộ, sao bằng nhân trời gió nồm lớn gió thuận thế hãy dùng kế hỏa công lấy thuyền cá của dân chở thuốc dẫn nổ và đồ gây cháy đi đầu bí mật xáp trận phá sạch thủy quân của địch thì sẽ có lợi lớn. Sự cần thiết là quân bộ phải tấn công nhiều hướng để thu hút địch và phân tán sự chú ý. Nguyễn Vương theo kế này. Tướng tiền quân Nguyễn Văn Thành kiêu dũng, thiện chiến được giao thống binh tất cả các đạo quân bộ để giao chiến gìm chân tướng giỏi Nguyễn Quang Diệu. Tướng Võ Duy Nghi và Lê Văn Duyệt  cùng đại đội quân thủy tổ chức tập kích Võ Văn Dũng ở Thị Nại. Quân hai bên giao chiến rất ác liệt. Lúc bấy giờ quân bộ của Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh với quân thủy của Nguyễn Vương chưa thông được với nhau. Các tướng thống binh của hai bên đều là tướng tài, chiến sự rất ác liệt giằng co không phân thắng bại.

Năm Tân Dậu (1801). Nguyễn Du 36 tuổi. Chúa Nguyễn cùng cánh quân thủy của Lê Văn Duyệt và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương, Võ Di Nguy đánh chiếm cửa biển Thị Nại. Tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết lúc lâm trận, Lê Văn Duyệt trong mưa đạn liều chết hãm trận, càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận Thị Nại được khen là “võ công đệ nhất” của Nhà Nguyễn, và là “võ công lớn nhất” của Lê Văn Duyệt. Thủy quân Tây Sơn của danh tướng Võ Văn Dũng bị quân Nguyễn Ánh đánh bại, tàu lớn và chiến thuyền đều bị thiêu rụi. Võ Văn Dũng lên bộ, hợp quân với Trần Quang Diệu tiếp tục vây Quy Nhơn. Quân đôi bên đánh nhau rất quyết liệt thì vừa có tin Gia Định báo ra là Đông cung Cảnh bị bệnh đậu mùa đã mất. Nguyễn Vương đau đớn sai Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Tử Châu thay thế giữ công việc trấn thủ Gia Định và lo liệu việc tang. Tháng sau hoàng tử thứ hai tên là Hi cũng mất ở Diên Khánh, đem về táng ở Gia Định. Nguyễn Ánh sai tướng chỉ huy đạo Trung doanh là Nguyễn Văn Trương tấn công Quảng Ngãi và Quảng Nam. Đô đốc Tây Sơn tên là Tuấn phải bỏ chạy. Đại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể liều chết cố thủ. Trương cho quân vòng ra phía sau đánh úp, quân Tây Sơn buộc phải tháo chạy. Nguyễn Vương sai Tống Viết Phước và Phạm Văn Nhơn đem binh thuyền tiến gấp ra cửa biển Đà Nẵng phối hợp tác chiến. Đại đô đốc Nguyễn Văn Toản quê huyện Bình Sơn Quảng Ngãi đang quản sáu đạo quân Quảng Ngãi vây Quy Nhơn đã lén theo hàng Nguyễn Ánh và được Nguyễn Vương cho giữ chức Lưu thủ Quảng Ngãi. Vua Cảnh Thịnh được tin chiến sự cấp báo bèn triệu Trần Văn Kỷ vào định kế ngăn chặn quân Nam đánh ra Bắc. Trần Văn Kỷ tâu: Lực lượng tinh nhuệ quân Tây Sơn nay đang vướng bận vây thành Quy Nhơn và bị cắt đường về không thể ứng cứu, trong khi Nghệ An bị người Vạn Tượng, Trấn Ninh kéo xuống quấy nhiễu. Quân lực ở Quảng Bình và Quảng Trị chỉ đủ trấn giữ địa phương, nên Phú Xuân không còn quân dự bị để ngăn quân Nam tiến ra. Vua cần mời gấp La Sơn Phu Tử về vấn kế. Gặp vua,  La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp nói ngay: “Song Ngư thủy thiển. Nguyễn thị hoàn lương” (Song Ngư nước cạn. Họ Nguyễn về làng). “Xin bệ hạ gấp dời đô về Nghệ An, ngõ hầu còn kịp” vua Cảnh Thịnh sợ rối loạn lòng quân dân nên do dự chưa quyết. Trần Văn Kỷ hiến kế cho vua là cử Phò mã Nguyễn Văn Trị đóng đồn trọng binh ở cửa Thuận An, đắp lũy đóng cọc rào để chặn thủy quân Nguyễn Vương, lại lệnh cho Đại đô đốc Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể thu thập quân mã tiến đánh Nguyễn Văn Trương để khôi phục lại Quảng Nam làm thanh viện cho quân Tây Sơn đang vây thành Quy Nhơn. Xuân  và Thể nghe lệnh đã thu thập binh mã, trước dụ hàng và sau tiến đánh quân Nam của Nguyễn Văn Trương nhưng bị thua nên buộc phải cố thủ. Tháng 4 âm lịch năm 1801, nhận thấy quân tinh nhuệ của Tây Sơn đều ở cả Quy Nhơn mà lực lượng ở Phú Xuân (Huế) thì rất yếu ớt, Nguyễn Ánh đốc suất toàn bộ thuỷ quân và trên 1.000 chiến thuyền, thuận theo gió nam vượt biển ra phía bắc, đánh thẳng vào cửa Thuận An. Quân Tây Sơn địch không nổi và tan vỡ. Cảnh Thịnh dốc hết tướng sĩ, tự mình cầm quân tới đánh nhau với quân Nguyễn. Gần trưa, quân Tây Sơn đại bại, vỡ chạy tan tác. Quân chúa Nguyễn chiếm lại đô thành, tướng Lê Văn Duyệt bắt sống Phò mã Nguyễn Văn Trị và Đô đốc Phan Văn Sách. Ngày 3 tháng 5 (tức ngày 15 tháng 6 năm 1801),  Nguyễn Vương tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc. Một số quan tướng triều Cảnh Thịnh ra hàng, có người được dùng có người bị giết. Vua Gia Long nói: “Bọn khanh trình bày, cố nhiên là có ý phòng ngừa từ trước. Nhưng từ khi ta lấy lại Phú Xuân, bọn tướng giặc đầu hàng có, bắt được cũng có, ta đã tùy nghi xếp đặt, quân của chúng cho xen lẫn với quân ta, dưới quyền quan ta cai quản. Bọn chúng bất quá cai quản năm ba tên thuộc binh mà lệ theo súy phủ, phỏng có mang lòng phản trắc cũng không thi hành vào đâu. Bọn khanh ở quân thứ xa, chưa rõ sự cơ, nên đặc dụ cho biết”. Nguyễn Vương vừa chiếm Phú Xuân đã lập tức sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ và Tống Viết Phước đem quân thủy, bất kể ngày đêm gấp đường vào cứu Bình Định. Lê Văn Duyệt dọc đường đánh thắng nhiều trận nhưng rốt cuộc không kịp cứu Quận Công Võ Tánh và Lễ Bộ Ngô Tùng Châu. Hai ông vì lương hết, nên đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 âm lịch năm 1801. Chúa Nguyễn xét công phong Lê Văn Duyệt làm “Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận Công”, phong cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi. Nguyễn Quang Toản sau khi thua trận, chạy ra Nghệ An ở lại vài ngày, rồi vội ra Thăng Long hội họp tướng sĩ, lo việc chống giữ. Tháng 8 năm đó, vua Quang Toản ở Thăng Long đổi niên hiệu Cảnh Thịnh làm năm đầu niên hiệu Bảo Hưng. Tháng 11, vua đem quân và voi của 6 trấn Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Thanh Hoa, Nghệ An vào đánh, nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh thua, lại phải rút về.

Năm Nhâm Tuất (1802). Nguyễn Du 37 tuổi. Mùa xuân năm 1802, quân nhà Nguyễn qua sông Gianh tiến đánh, hạ được đồn Tâm Hiệu thuộc châu Bố Chính. Quân Tây Sơn tan vỡ, chạy về doanh Hà Trung trong hạt Kỳ Anh. Tháng 5 năm này, Nguyễn Ánh hạ chiếu đổi niên hiệu làm năm đầu niên hiệu Gia Long. Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng sau khi hạ được thành Quy Nhơn liền đem quân về đánh Phú Xuân. Khi Diệu đem quân ra khỏi địa giới Quy Nhơn thì bị tướng của nhà Nguyễn là Đắc Lộc hầu chặn lại. Quân của Trần Quang Diệu đánh phá nửa ngày nhưng không thể hạ được với vô số người chết và bị thương. Diệu đành đem quân theo đường núi vào Ai Lao, định ra Nghệ An. Được tin, Nguyễn Ánh lập tức cắt đặt các tướng, thống lĩnh các đạo quân thuỷ bộ, hẹn ngày kéo ra Bắc. Ngày 28 tháng 5, thuỷ quân của nhà Nguyễn tới cửa biển Đan Nhai thuộc Nghệ An, tiến đánh và phá được đồn Quần Mộc. Quân bộ cũng tiến đến phía nam sông Thanh Long rồi vượt sang bờ phía Bắc. Hai mặt thuỷ bộ đều tiến công, quân Tây Sơn bỏ chạy tán loạn. Quân nhà Nguyễn bèn xông lên cướp kho thóc Kỳ Lân. Trấn thủ của nhà Tây Sơn là Nguyễn Văn Thận cùng với hiệp trấn Nguyễn Triêm, thống lĩnh Nguyễn Văn Đại, thiếu uý Đặng Văn Đằng bỏ thành chạy ra miền Bắc. Đến đồn Tiên Lý, Nguyễn Triêm tự thắt cổ; còn Nguyễn Văn Thận chạy ra trấn Thanh Hoa. Quân nhà Nguyễn lấy được thành Nghệ An. Trần Quang Diệu ở Quỳ Hợp xuống đến địa phận Hương Sơn thì nghe tin Nghệ An đã thất thủ, bèn đến Thanh Chương, qua sông Thanh Long,  rồi chạy ra trấn Thanh Hoa. Tướng sĩ đi theo Diệu dần dần tản mát mỗi người một nơi. Quân nhà Nguyễn đuổi kịp, bắt sống được Diệu. Tháng 6, quân nhà Nguyễn tiến đánh thành Thanh Hoa. Em vua Quang Toản là đốc trấn Nguyễn Quang Bàn cùng Nguyễn Văn Thận, Đặng Văn Đằng đều đầu hàng. Ngày 18, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long, quân Tây Sơn hoàn toàn tan vỡ. Nguyễn Quang Toản bỏ thành cùng với em là Nguyễn Quang Thùy và đô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà chạy về hướng bắc. Sau đó, Quang Thùy và vợ chồng Tú đều tự thắt cổ. Còn vua cùng các bề tôi đều bị thổ hào Kinh Bắc bắt được đóng cũi giao nộp cho Nguyễn Ánh. Quan lại của nhà Tây Sơn ở các trấn hoặc trốn, hoặc hàng, không ai dám chống lại. Vua Gia Long vài tháng sau về lại Phú Xuân, sửa lễ cáo miếu dâng tù, đem Nguyễn Quang Toản ra dùng cực hình giết chết, rồi bố cáo cho khắp cả nước đều biết. Quang Toản cùng những người con khác của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực hình 5 voi xé xác. Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc cũng bị trả thù rất dã man: Mồ mả bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm cố vĩnh viễn trong ngục thất (Nơi ấy, nay thuộc địa điểm Trường Đại học Nông Lâm Huế). Quang Toản khi bị hành hình, mới 19 tuổi. Triều đại Tây Sơn chấm dứt.

NGUYỄN DU THƠ HÁN NÔM 1790-1802

Nguyễn Du thơ Hán Nôm 1790-1802 là chuyên khảo nhằm sưu tầm đúc kết chỉnh lý thơ Nguyễn Du giai đoạn này , đặc biệt là bài Đi săn ngôn chí của ông cùng với những chỉ dấu không quên của lịch sử. Bài viết chọn lọc ngày 2 tháng 11: Nguyễn Du đi săn ở núi Hồng; Ta về trời đất Hồng Lam; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-2-thang-11

(*) “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?

Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

Nước thanh bình ba trăm năm cũ.
Áo nhung trao quan vũ từ đâỵ”

(Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn)

Tôi họp sắn ở Nghệ An với giáo sư Trần Ngọc Ngoạn và dành thời gian lên thăm núi Dũng Quyết, có thắp hương. Thốt nhiên nén hương bùng cháy hết trên tay và có một con mèo rất lớn từ đâu đó nhảy phắt xuống, quấn quýt bên tôi. Câu chuyện lạ lùng này ấn tượng mãi trong tôi ngày lên núi Dũng Quyết 27 tháng 11 năm 2014 viếng thăm đền thờ Quang Trung Hoàng Đế . Tại chốn thiêng cao vọi này, tôi thành kính thắp hương, nhưng khi đó trong đầu lại vụt ra câu hỏi: ‘Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du ai là kẻ anh hùng, ai là bậc anh hùng, ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa? TÀI MỆNH ai hơn ai? Hương đột nhiên bùng cháy và có con mèo nhảy xuống. Thật ngẫu nhiên, lạ, và …buồn cười

Tôi nhớ rất rõ trên tấm bia đá lớn cạnh chuông đại hồng chung có khắc sáu câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài ‘Lịch sử nước ta’ (sau này đã thay bằng tấm văn bia khác). Nội dung thơ Bác như sau: ‘Nguyễn Huệ là kẻ phi thường./ Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,/ Ông đà chí cả mưu cao,/ Dân ta lại biết cùng nhau một lòng./ Cho nên Tàu dẫu làm hung,/ Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.’ (Hồ Chí Minh tuyển tập Q1, trang 598).

Câu chuyện lịch sử trước đó đột ngột ùa về trong nén hương đang bùng lên trên tay với lời bàn luận của thầy Nguyễn Khoa Tịnh ‘có ba dòng văn chương’. về các sách Binh thư Yếu lược Trần Quốc Tuấn, ‘Tiếu ngạo giang hồ’ và ‘Lộc Đỉnh Ký’ của Kim Dung. Sau hơn hai mươi năm cụ Hải Như tặng tôi ba tập sách “Có hai dòng văn chương” “thơ viết về Người” “Chân dung phác thảo’ Nhà giáo nhà văn Nguyễn Thế Quang cũng tặng sách có chuyện ‘Kỳ Lân Mộ’.

DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đâycập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Bài ca thời gian
Run away with me.
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Công viên Tao Đàn HCM

HoitruongThongNhat

CÔNG VIÊN TAO ĐÀN HCM
Hoàng Kim


Dinh Thống Nhất và Vườn Tao Đàn thành phố Hồ Chí Minh là quần thể danh thắng đặc biệt tiêu biểu về di sản lịch sử, địa lý, chính trị, văn hóa, kiến trúc của Sài Gòn Gia Định xưa và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

Dinh Thống Nhất

Dinh Thống Nhất nguyên là Dinh Độc Lập trước năm 1975, là di tích quốc gia đặc biệt được Chính phủ Việt Nam đặc cách xếp hạng. Tiền thân Dinh Độc lập là Dinh Thống đốc Nam Kỳ, do kiến trúc sư người Pháp Hermite thiết kế năm 1868. Sau khi dinh cũ nhiều lần bị ném bom, hư hại, san bằng và Dinh Độc Lập được xây mới năm 1962, thực hiện theo thiết kế của kiến trúc sư khôi nguyên La Mã Ngô Viết Thụ và đã khánh thành năm 1966 . Dinh Độc Lập cao 26 m, rộng 4.500 m2, với 100 phòng gồm 3 tầng chính và một sân thượng cho máy bay trực thăng đáp, hệ thống hầm ngầm kiên cố. Địa danh này chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử thăng trầm của thành phố từng được ví là Hòn ngọc phương Đông. Trưa 30/4/1975, xe tăng của quân giải phóng miền Nam đã húc đổ cánh cửa sắt Dinh Độc lập, đánh dấu thời khắc lịch sử của Sài Gòn. Quá trình chuyển giao và tiếp nhận chính thể mới cũng diễn ra tại đây. Sau 1975, Dinh Độc Lập đổi tên thành Dinh Thống Nhất, ngày nay trở thành địa điểm tham quan lịch sử của du khách khi đến với Sài Gòn. Quần thể Dinh Độc lập, vườn Tào Đàn và Hồ Con Rùa là vùng đất địa linh nổi bật nhất của dấu ấn hòn ngọc phương Đông.

Dinh Độc Lập với kiến trúc chữ T là chữ cái đầu của chữ THỤ (trong chữ THIÊN THỤ”. Đó là bốn kế lớn chấn hưng đất nước “vua sáng, kinh tế, nông nghiệp, nội chính” qua bốn công trình chính liên hoàn: chữ T dinh Độc Lập, chữ H chợ Đà Lạt, chữ U Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn và dấu nặng (.) là Hồ Con Rùa.Biểu tượng Dinh Độc lập (hình chữ T) với ý nghĩa đất nước muốn giàu mạnh, thì trước hết người lãnh đạo đất nước phải là “bậc minh quân hiền tài”, trọng “quân đức, dân tâm, học pháp”, biết “chăm lo sức dân để lập đại kế sâu rễ bền gốc” bảo tồn và phát triển bền vững năng lực Quốc gia.

Biểu tượng Chợ Đà Lạt (hình chữ H) với ý nghĩa trọng tâm của nổ lực quốc gia là phải phát triển kinh tế (phi thương bất phú), mở mang giao thương, chấn hưng nghiệp cũ, phát triển nghề mới, khuyến học dạy dân, “Nên thợ, nên thầy nhờ có học/ No ăn, no mặc bởi hay làm” (Nguyễn Trãi), “chú trọng mậu dịch buôn bán, lấy việc thông thương an toàn làm chữ Nghĩa (Nguyễn Hoàng), chú trọng lao động để dân giàu nước mạnh.

Biểu tượng Trường Đại Học Nông Nghiệp Sài Gòn (hình chữ U) với ý nghĩa là phải chấn hưng giáo dục đại học, phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là giáo dục phát triển nông nghiệp để nâng cao thu nhập, sinh kế, việc làm và an sinh xã hội, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản (dĩ nông vi bản) vì quá nữa người Việt làm nghề nông.

Và sau cùng là biểu tượng Hồ Con Rùa (hình dấu (.) nặng) với ý nghĩa là nội chính an dân, thượng tôn pháp luật,  kỷ cương phép nước, giữ vững bờ cõi, bảo tồn nguyên khí, thương yêu dân chúng an vui lạc nghiệp, “biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời” (Lời chúa Nguyễn Hoàng dặn chúa Nguyễn Phúc Nguyên),

Vườn Tao Đàn

Đền Hùng tại chính mặt sau Dinh Thống Nhất của Vườn Tao Đàn “lá phổi xanh thành phố”. Trong Vườn Tao Đàn có Đền Hùng, Giếng Ngọc đền Hùng, đền Mẫu Phương Nam, vườn đá tiếng Việt, hồ sen đền Hùng, vườn hoa và cây xanh Tao Đàn. Quần thể danh thắng Dinh Thống Nhất, Vườn Tao Đàn, Hồ Con Rùa “mắt ngọc của đầu rồng” trở thành vùng sử thi huyền thoại. Đền Hùng tại vườn Tao Đàn thành phố Hồ Chí Minh là biểu tượng khát vọng đất nước Việt Nam thống nhất, hòa hợp dân tộc, không chấp nhận chia rẽ “chia để trị” đã thấm vào máu thịt của con dân Việt. “Nam Bộ là thịt của thịt Việt Nam là máu của máu Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi” (Hồ Chí Minh). Dinh Thống Nhất vì thế đã thay cho tên gọi Dinh Độc Lập và  Dinh Thống đốc Nam Kỳ trước đó.

Mẫu Phương Nam ở Vườn Tao Đàn trong quần thể Đền Hùng cùng với mẫu Việt Nam, Bác Hồ, Giếng Ngọc Đền Hùng là những điểm nhấn lịch sử, địa chính trị, văn hóa, tâm linh huyền thoại.

Giếng Ngọc vườn Tao Đàn

Tao Đàn là chốn thần tiên tuyệt vời, lá phổi trong lành của thành phổ Hồ Chí Minh, nơi bạn có thể tìm thấy một chỗ họp mặt nhẹ nhàng và khoảng lặng cuộc sống thú vị .

Dạo chơi giếng Ngọc vườn Tao Đàn nhớ lời thơ Nguyễn Trãi: ‘Nên thợ nên thầy nhờ có học dư ăn dư mặc bởi hay làm’. Văn là đẹp, chương là sáng. Ngôn ngữ sáng đẹp, thấm thía, xúc động, ám ảnh.  Lưu ít ảnh và ghi chú mùa Covid 19, đọc lại và suy ngẫm

Đất Gia Định xưa

Lược sử đất Gia Định xưa được tóm tắt trong câu thơ của thi tướng Huỳnh Văn Nghệ “Nhớ Bắc”: “Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long“.

Đất Gia Định xưa thuộc nước Phù Nam (tồn tại khoảng đầu thế kỷ 1 đến khoảng nửa thế kỷ 7), sau đó thuộc vương quốc Chân Lạp (nay là Campuchia). Tuy nhiên, “thuộc” một cách lỏng lẻo: “các dân tộc vẫn sống tự trị, và mấy sóc Khrmer lẻ tẻ chưa hợp thành đơn vị hành chánh thuộc triều đình La Bích (Chân Lạp). Trong khi đó triều đình ấy phải tập trung lực lượng ở phía nam Biển Hồ (sau khi bỏ Ăngco ở phía bắc) để đối đầu với Xiêm La (nay là Thái Lan) đang tiếp tục lấn đất Chân Lạp ở phía tây. Đất Gia Định vẫn là đất tự do của các dân tộc và hầu như vô chủ, là đất hoang nhàn cả về kinh tế lẫn chủ quyền từ xưa”[1].

Theo sử liệu, lưu dân Việt đã đến đây khai hoang và làm ăn sinh sống vào đầu thế kỷ 17, nhờ có cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II vào năm 1620. Lưu dân Việt do mưu sinh, nên có thể đã có mặt ở Sài Gòn Gia Định từ xa xưa trước cuộc hôn nhân ấy. Song, chính nhờ mối lương duyên giữa công chúa Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II, mà quan hệ Đại Việt (nay là Việt Nam) và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống, tạo điều kiện cho lưu dân Việt ngày càng đông đảo hơn ở khu vực Đồng Nai, Sài Gòn…[2].

Chuyện kể rằng: Tiên chúa Nguyễn Hoàng, người khởi đầu của chín đời chúa Nguyễn và mười ba đời vua vương triều nhà Nguyễn, đã nghe theo lời khuyên của bậc danh sĩ tinh hoa hiền tài lỗi lạc, nhà tiên tri Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” [1]. Ông đã nhờ chị ruột mình là bà Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ ở Thuận Hoá (là khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày nay). Trịnh Kiểm thấy Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi nên đã đồng ý, và tâu vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm vào năm 1558. Nguyễn Hoàng cùng với các chúa Nguyễn sau này làm chúa phương Nam trong khi Trình Kiểm cùng với các chúa Trịnh sau đó làm chúa phương Bắc, tạo nên cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài,  Trịnh-Nguyễn phân tranh của thời Nhà Hậu Lê. Nguyễn Hoàng dùng các danh thần Lương Văn Chánh, Văn Phong vừa chống lại sự quấy nhiễu cướp phá của Chăm Pa vừa mộ dân lập ấp, khai khẩn đất đai, mở rộng về Nam.

Cho tới năm 1613 khi Nguyễn Hoàng mất, diện tích của xứ Thuận Quảng do Nguyễn Hoàng trấn nhậm đã rộng tới 45000 km²[13] trải dài từ đèo Ngang, Hoành Sơn (Quảng Bình nay) qua đèo Hải Vân tới núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn), gần đèo Cả, (tỉnh Phú Yên ngày nay và đã làm chủ Bãi Cát Vàng là một vùng đất vô chủ thời đó.

Năm 1613, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp và tuân theo di huấn của chúa Nguyễn Hoàng: “Nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía Nam“. Ông trong dụng bậc kỳ tài kiệt xuất, nhà chính trị và quân sự lỗi lạc Đào Duy Từ cùng với các danh tướng  Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến giữ vững nghiệp chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chặn được quân Trịnh ở Đàng Ngoài, làm cho Đàng Trong thời ấy trở nên phồn thịnh, nước lớn lên, người nhiều ra, xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân, đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn lưu truyền chín chúa mười ba đời vua và mở đất phương Nam thuận thời, thuận lòng người.

Năm 1631, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là Ngọc Khoa (có sách gọi là Ngọc Hoa) cho vua Chăm Pa là Po Rome,  và gả con gái là Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Hai cuộc hôn phối này làm quan hệ Việt – Chăm và Việt – Chân diễn ra tốt đẹp[24][25]. Đàng Trong thời ấy vốn đã được các nước lân ban rất nể phục . Sự kiện hai cuộc lương duyên này càng làm cho mối bang giao của Đàng Trong ở mặt phía Nam ổn định, giúp cho chúa Nguyễn có thể tập trung lực lượng để đối phó trước các cuộc tấn công của chúa Trịnh Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt di dân và mở rộng lãnh thổ về phương Nam.

Năm 1635, chúa  Nguyễn Phúc Lan kế nghiệp cho đến năm 1648 thì truyền ngôi cho cho con trai là Nguyễn Phúc Tần rồi mất. Cùng năm ấy (1648) chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần nối nghiệp cho đến năm 1687 và việc Nam tiến của người Việt đến Sài Gòn Gia Định ở thời này càng nhiều hơn trước. Năm 1658, tình hình Chân Lạp rối ren, chú cướp ngôi của cháu. Hai người con sống sót của vua Chân Lạp  Preah Outey là Ang Sur và Ang Tan dấy binh chống lại Ramathipadi I (Nặc Ông Chân) nhưng thất bại. Họ đã theo lời khuyên của Thái hậu Ngọc Vạn, cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Tần.

Sách Gia Định thành thông chí chép: “Năm Mậu Tuất (1658)…vua (chúa Nguyễn Phúc Tần) sai Phó tướng Yến Vũ hầu (Nguyễn Phước Yến)…đem 2000 quân, đi tuần đến thành Mỗi Xoài nước Cao Mên, đánh phá được, bắt vua nước ấy là Nặc Ông Chân, đóng gông đem đến hành tại ở dinh Quảng Bình. Vua dụ tha tội…Khi ấy địa đầu trấn Gia Định là hai xứ Mỗi Xoài, Đồng Nai đã có dân lưu tán của nước ta cùng ở lẫn với người Cao Mên, để khai khẩn đất”..[3]

Ang Sur lên ngôi vua xưng là Barom Reachea V, đóng tại Oudong (cố đô Campuchia từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 trước khi vương triều Khmer thiên đô xuống Phnom Penh), phong cho em là Ang Nan (Nặc Ông Nộn) làm Phó vương đóng tại thành Sài Gòn. Các Quốc vương Chân Lạp đổi lại phải thần phục Đàng Trong và thực hiện triều cống định kỳ, dẫn tới hệ quả người Việt chuyển đến sinh sống nhiều ở vùng đất thuộc Chân Lạp.

Tháng 12, năm 1672, Quốc vương Barom Reachea V (Ang Sur) bị Bô Tâm[12] giết chết rồi cướp ngôi, Bô Tâm xưng là Chey Chettha III. Ang Tan (Nặc Ông Tân), chú của Chey Chettha III, chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng ngay sau đó tháng 5 năm 1673, Chey Chettha III cũng bị giết trên giường ngủ bởi người Mã Lai thuộc phe của Nặc Ông Chân (Ramathipadi I). Ang Chea (Nặc Ông Đài), con trai đầu của vua Barom ReacheaV lên ngôi sau đó, xưng là Keo Fa II. Năm 1674, Nặc Ông Đài đã đi cầu viện Thái Lan (Ayutthaya) đánh Nặc Ông Nộn (Ang Nan) và chiếm được thành Sài Gòn. Nặc Ông Nộn bỏ chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn ở Khánh Hòa (dinh Thái Khang xưa). Trong khi đó, Nặc Ông Đài đắp lũy chống giữ ở vùng Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay và đắp thành Nam Vang, nhờ Xiêm (Thái Lan) cứu viện để chống lại quân chúa Nguyễn. Chúa Hiền bèn sai Cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm cùng với Nguyễn Đình Phái làm tham mưu đem binh chia ra hai đạo sang đánh Nặc Ông Đài.

Năm 1674, quân Nguyễn chiếm được (Sài Gòn Gia Định (đất Sài Côn xưa thuộc trấn Phiên An), và tiến quân lên vây thành Nam Vang. Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy vào rừng và bị thuộc hạ giết chết. Nặc ông Thu ra hàng. Nặc ông Thu là chính dòng con trưởng cho nên lại lập làm chính quốc vương đóng ở Oudong (cố đô Campuchia như đã dẫn) và để Nặc Ông Nộn làm đệ nhị quốc vương như cũ, đóng ở thành Sài Gòn, bắt hằng năm phải triều cống[14]. Chúa Nguyễn gia phong cho Nguyễn Dương Lâm làm Trấn thủ dinh Thái Khang (Khánh Hòa) lo việc phòng ngự ngoài biên và làm chủ tình thế cả vùng Đồng Nai. Phần lãnh thổ còn lại của người Chăm (từ Phú Yên tới Bình Thuận) sát nhập hoàn toàn vào  lãnh thổ Đàng Trong năm 1693.

Năm 1679, các quan tướng nhà Minh không chịu làm tôi nhà Thanh là Dương Ngạn Địch (tổng binh Long Môn, Quảng Tây) với Hoàng Tiến (phó tướng), Trần Thượng Xuyên ( tổng binh châu Cao, châu Lôi, châu Liêm thuộc Quảng Đông) và Trần An Bình (phó tướng),  đem 3000 quân cùng 50 chiếc thuyền cập bến cửa Hàn xin được làm dân mọn xứ Việt. Chúa Nguyễn Phúc Tần khao đãi ân cần, chuẩn y cho giữ nguyên chức hàm, phong cho quan tước rồi lệnh cho tới Nông Nại (Đồng Nai) khai khẩn đất đai. Mặt khác, triều đình còn hạ chỉ dụ cho Quốc vương Cao Miên (Thủy Chân Lạp) biết việc ấy để không xảy ra chuyện ngoài ý muốn[14]. Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến đem binh thuyền vào cửa Xoài Rạp và cửa Đại cửa Tiểu thuộc trấn Định Tường dừng trú tại xứ Mỹ Tho. Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình thì đem binh thuyền vào cửa Cần Giờ rồi đồn trú tại Đồng Nai ( trấn Biên Hòa). Họ khai khẩn đất đai, lập ra phố chợ, giao thông buôn bán. Tàu thuyền người Hoa, người phương Tây, người Nhật, người Chà Và lui tới tấp nập, phong hóa Trung Quốc dần dần lan ra cả vùng Đông Phố[14].

Khi nhà Minh bị diệt, Mạc Cửu một thương gia trẻ cũng bỏ nước ra đi gần như cùng lúc với Trần Thượng Xuyên ở Cù lao Phố, Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho. Ông đến vùng Chân Lạp, ông bỏ tiền ra mua chức Ốc Nha và làm quan tại đây. Tuy nhiên do tình hình Chân Lạp hết sức rối ren, ông bỏ Nam Vang về phủ Sài Mạt[7]

Gia Định thành thông chí là sách địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) viết về miền đất Gia Định bằng chữ Hán cổ và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam bộ Việt Nam thời nhà Nguyễn. Sách gồm sáu quyển, đóng làm 3 tập theo bản chép tay lưu tại thư viện Viện sử học Việt Nam (ký hiệu HV. 151 (1-6). Việc biên soạn được cho là đã tiến hành vào giữa các năm 1820 và 1822[3].

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép về Mạc Cửu ở đất Hà Tiên: “Hà Tiên vốn là đất cũ của Chân Lạp, tục gọi là Mường Khảm, tiếng Tàu gọi là Phương Thành[3] Ban đầu có người tên là Mạc Cửu gốc xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, vào thời Đại Thanh, niên hiệu Khang Hy thứ 19 (1680), nhà Minh mất hẳn (nhưng mãi đến năm Khang Hy thứ 19, vùng Quảng Đông mới bình định xong). Mạc Cửu không khuất phục chính sách buổi đầu của nhà Đại Thanh, mới chừa tóc rồi chạy qua phương Nam, trú tại phủ Nam Vang nước Cao Miên. Ông thấy ở phủ Sài Mạt[4] của nước ấy, người Việt, người Trung Hoa, Cao Miên, Đồ Bà (Chà Và) các nước tụ tập mở trường đánh bạc để lấy xâu, gọi là thuế hoa chi, bèn thầu mua thuế ấy, lại còn đào được một hầm bạc nên bỗng trở thành giàu có. Từ đó ông chiêu mộ dân Việt Nam lưu tán ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ (hay Trũng Kè, Lũng Cả ), Cần Bột (Cần Vọt – Kampôt), Hương Úc (Vũng Thơm – Kompong Som), Giá Khê (Rạch Giá), Cà Mau lập thành bảy xã thôn.[5] Tương truyền ở đây thường có tiên xuất hiện trên sông, do đó mới đặt tên là Hà Tiên (tiên trên sông)[6].

Sách Gia Định thành thông chí chép tiếp:  Lúc này ở Gia Định, các chúa Nguyễn đã lập xong phủ Gia Định. Người Việt và các di thần người Hoa đang định cư yên ổn. Nhận thấy muốn tồn tại phải có thế lực đủ mạnh để bảo vệ, che chở cho lãnh địa mà ông đã tốn công gây dựng. Sau khi cân nhắc, năm 1708[11] Mạc Cửu cùng thuộc hạ là Lý Xá, Trương Cầu đem lễ vật đến xin thần phục. “Mạc Cửu sai thuộc hạ là Trương Cầu, Lý Xá dâng biểu trần trình lên kinh đô Phú Xuân khẩn cầu xin được đứng đầu trông coi đất ấy. Tháng 8 mùa thu năm thứ 18 Mậu Tý (1708), chúa Nguyễn Phúc Chu, chuẩn ban cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước là Cửu Ngọc hầu. Mạc Cửu lo xây dựng dinh ngũ và đóng binh tại Phương Thành (Hà Tiên), từ đó dân càng qui tụ đông đúc.

Như vậy, các chúa Nguyễn sau các cuộc di dân của người Việt ở Đàng Trong vào sinh sống chung với người Khmer, đã lần lượt thiết lập chủ quyền từng phần trên vùng đất Nam Bộ, sau các cuộc chiến với vương quốc Khmer, vương quốc Ayutthaya cũng như các yếu tố chính trị khác. Từ năm 1698 đến năm 1757 chính quyền Đàng Trong đã giành được hoàn toàn Nam Bộ ngày nay vào sự kiểm soát của mình. Cùng với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền, chính quyền Đàng Trong lần lượt đưa người ra khai thác và kiểm soát các hòn đảo lớn và quần đảo trên biển Đông và vịnh Thái Lan. Quần đảo Hoàng Sa được khai thác và kiểm soát từ đầu thế kỷ 17, Côn Đảo từ năm 1704, Phú Quốc từ năm 1708 và quần đảo Trường Sa từ năm 1816[15]

Lịch sử Sài Gòn Gia Định đến nay đã có hơn 320 năm.

Dinh Thống Nhất xưa và nay.

Dinh Thống Nhất trước khi Việt Nam thống nhất năm 1975 gọi là Dinh Độc Lập được xây mới năm 1962 thực hiện theo thiết kế của kiến trúc sư khôi nguyên La Mã Ngô Viết Thụ và đã khánh thành năm 1966. Trước đó thời Pháp thuộc, tại nơi này dinh cũ gọi là Dinh Thống đốc Nam Kỳ do Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng năm 1868 theo đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo.

Năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm Việt Nam. Năm 1867, Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Ngày 23 tháng 2 năm 1868, ông Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đã làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Dinh mới được xây dựng theo đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo (người phác thảo đồ án Tòa thị sảnh Hongkong). Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi cạnh 50 cm, có lỗ bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng có chạm hình Napoleon đệ tam.

Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phấn lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Do chiến tranh Pháp-Phổ 1870 nên công trình này kéo dài đến 1871 mới xong. Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng được gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) nên gọi là dinh Thống đốc. Từ 1887 đến 1945, các Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur-général de l’Indochine Française) đã sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc nên dinh gọi là dinh Toàn quyền. Nơi ở và làm việc của các Thống đốc chuyển sang một dinh thự gần đó.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trong Thế chiến II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Pháp ở Việt Nam.

Sau năm 1954, người Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia, miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là nước Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9 năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng.

Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai viên phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc, lái 2 máy bay AD-6 ném bom làm sập toàn bộ phần chính cánh trái của dinh. (xem thêm: Vụ đánh bom Dinh tổng thống Việt Nam Cộng Hòa năm 1962). Do không thể khôi phục lại, ông Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã.

Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long (nay là Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh). Công trình đang xây dựng dở dang thì ông Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963. Do vậy, ngày khánh thành dinh, 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là ông Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành nơi ở và làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975.

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F-5E do phi công Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể.

Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng T54B mang số hiệu 843 của Quân đội Nhân dân Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Trung úy Bùi Quang Thận đã húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập, tiếp đó xe tăng T54 mang số hiệu 390 do Vũ Đăng Toàn chỉ huy đã húc tung cổng chính tiến thẳng vào dinh. Lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân Giải phóng Bùi Quang Thận, đại đội trưởng, chỉ huy xe 843, đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên, kết thúc 30 năm cuộc chiến tranh Việt Nam.

Sau hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc thành một đất nước Việt Nam thống nhất diễn ra tại dinh Độc Lập vào tháng 11 năm 1975. Cơ quan hiện quản lý di tích văn hoá Dinh Độc Lập có tên là Hội trường Thống Nhất[1] thuộc Cục Hành chính Quản trị II – Văn phòng Chính phủ. Đây là di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan. Nơi này được đặc cách xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 77A/VHQĐ ngày 25/6/1976 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) của chính quyền Việt Nam hiện nay.

Ngày nay, Dinh Độc Lập trở thành một trong những địa điểm du lịch không thể thiếu của mỗi người dân khi tới Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ có ý nghĩa về lịch sử mà Dinh Độc Lập còn thể hiện nét kiến trúc tiêu biểu của Việt Nam thời kì những thập niên 60.

Hoàng Kim
(sưu tầm, tổng hợp, biên soạn)

(*) Kế tiếp quần thể danh thắng “Dinh Thống Nhất – Vườn Tao Đàn – Hồ Con Rùa“, quần thể danh thắng “Tòa nhà Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh – đường hoa Sài Gòn-  Tòa nhà cao tầng Bitesco – Bến Nhà Rồng” cũng là biểu tượng đặc biệt của các điểm đến được ưa thích nhất.

Các địa điểm tham quan du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh , Địa danh du lịch thành phố Hồ Chí Minh, Mười công trình kiến trúc nổi tiếng Sài Gòn, Những công trình kiến trúc nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh,  facebook hình ảnh thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu nhiều danh thắng như  Chùa Giác Lâm, bảo tàng Hồ Chí Minh (Bến Nhà Rồng), Việt Nam Quốc Tự, Nam Thiên Nhất Trụ, Chùa Một Cột Miền Nam, chùa Bát Bửu Phật Đài, chùa Hoằng Pháp, Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược, Địa đạo Củ Chi, …

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

A New Day https://youtu.be/SN5c-m45fxs
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao) -Thanh Thúy
Ban Mai; Chỉ tình yêu ở lại
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn; Kim on Facebook, Kim on Twitter

Dạy học nghề làm vườn

DẠY HỌC NGHỀ LÀM VƯỜN
Hoàng Kim với Hoang Long

Thiền Sư Lão Nông Tăng
https://youtu.be/w21hkPfEA2M
“Mưa thuận gió hòa chăm bón đúng
Nhân tươi quả tốt được thu nhiều”

Dạy học nghề làm vườn Kỹ thuật làm vườn gia đình The life of purple rice, pumpkins, and … peanuts 紫米南瓜的一生…,还有花生丨Liziqi Channel https://youtu.be/rJSZfrJFluw; Kỹ thuật làm tiểu cảnh https://www.facebook.com/waynelaivn/videos/1064416050998249/ Làm măng ngọt giá cao https://youtu.be/i1oFFqFMlvI; “The life of okra and bamboo fence” https://youtu.be/kPIzBRPezY4; Dạy và học cây điều Agriculture Cashew Vol 03(09 04 2016) https://youtu.be/IEnAzdqeYOo Agriculture Cashew Vol 02(02 04 2016) https://youtu.be/G0DD2JeNLRY Agriculture Cashew Vol 01(26 03 2016) https://youtu.be/VEYiIeOjYOg Tre Hoàng Thành Trúc Lâm kinh nghiệm trồng măng tre https://youtu.be/_jUJrIWp2I4 Kỹ thuật trồng khoai tây https://www.facebook.com/cnliziqi/videos/3080176115398147/

Cây Lương thực Việt Nam SẮN Mười kỹ thuật thâm canh sắn: Cách mạng sắn Việt Nam https://youtu.be/81aJ5-cGp28; Cassava in Vietnam Save and Grow 1Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 2Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 3Daklak; Giống sắn KM410 và KM440 ở Phú Yên https://youtu.be/XDM6i8vLHcI; Giống sắn KM419, KM440 ở Đăk Lăk https://youtu.be/EVz0lIJv2N4; Giống sắn KM410 và KM440 ở Phú Yên https://youtu.be/XDM6i8vLHcI; Giống sắn KM419, KM440 ở Đăk Lăk https://youtu.be/EVz0lIJv2N4; Giống sắn KM419, KM440 ở Tây Ninh https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/kjWwyW0hkbU; https://youtu.be/9mZHm08MskE; Trồng sắn KM419, KM98-5, KM98-1 ở Căm pu chia https://youtu.be/TpTIxv9LaFQ; Ngăn chặn lây lan CWBD bệnh chổi rồng ở Căm pu chia https://youtu.be/0gNY0KZ2nyY; Kỹ thuật trồng sắn KM419 hàng đôi ở Tây Ninh https://youtu.be/ItF0sIL1P6I KHOAI Trồng khoai lang tím đặc sản https://youtu.be/0CHOG3r64xs Trồng khoai lang ở Hàn Quốc https://youtu.be/J_6xW3j47Sw; Trồng khoai lang tím ở Trung Quốc https://youtu.be/0CHOG3r64xs; Khoai lang Nhật ngày nay https://youtu.be/37gjuWV4OCQ Trồng và chế biến khoai tây ở Trung Quốc https://youtu.be/0gNY0KZ2nyYv; Trồng và thu hoạch 6 giống khoai lang trong châu https://youtu.be/74qDLsrulFo The life of taro…and pepper is today’s treat https://youtu.be/5b_lIKhvThMhttps://www.facebook.com/cnliziqi/videos/2379568515683406/ LÚA Trồng lúa đặc sản ở Trung Quốc https://youtu.be/rJSZfrJFluw; #Liziqi#LýTửThất#李子柒 月儿圆圆,稻米飘香,正逢农家收谷忙Full Moon, Fragrance of Ripe Rice, Farmers Busy Harvesting Crops | Liziqi Channel https://youtu.be/xSDMTIe90AY NGÔ https://youtu.be/bZsfEwr9i6I 金黄的季节,载满了收获的喜悦和玉米的香甜Golden season, full of preasure of harvest and sweet corn | Liziqi Channel

DẠY HỌC NGHỀ LÀM VƯỜN
Hoàng Kim với Nguyễn Thanh Bình


“Ôm rơm rặm bụng” ngại chi em
Tiến sĩ nghề nông cực hóa quen
Thú điền viên xa phường hám lợi
Nghề làm vườn lánh chốn bon chen
Dạy người chọn giống ham điều tốt
Xới đất chăm cây thích bạn hiền
Người khôn lắm kế chơi nhàn rỗi
Ta dại nghề vườn sống thiên nhiên.

5-Minute Crafts  · Brilliant hacks for your garden that will cost you less than a dollar. 🌸

E_Learning NLU Trường tôi nôi yêu thương https://youtu.be/bsZo5e779EA
https://el.hcmuaf.edu.vn/mod/page/view.php?id=4250&forceview=1

Bài học Cây Lương Thực (đọc thêm ngoài bài giảng)

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
Hoàng Kim, Hoàng Long (chủ biên) và đồng sự
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong

Cách mạng sắn Việt Nam
Chọn giống sắn Việt Nam
Chọn giống sắn kháng CMD
Giống sắn KM419 và KM440
Mười kỹ thuật thâm canh sắn
Sắn Việt bảo tồn phát triển
Sắn Việt Lúa Siêu Xanh
Sắn Việt Nam bài học quý
Sắn Việt Nam sách chọn
Sắn Việt Nam và Howeler
Sắn Việt Nam và Kawano
Sắn Việt và Sắn Thái
Bảo tồn và phát triển sắn
Quản lý bền vững sắn châu Á
Cassava and Vietnam: Now and Then

Lúa siêu xanh Việt Nam
Giống lúa siêu xanh GSR65
Giống lúa siêu xanh GSR90
Gạo Việt và thương hiệu
Hồ Quang Cua gạo ST
Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A
Con đường lúa gạo Việt
Chuyện cô Trâm lúa lai
Chuyện thầy Hoan lúa lai
Lúa C4 và lúa cao cây
Lúa sắn Cămpuchia và Lào
Lúa sắn Việt Châu Phi
Lúa Việt tới Châu Mỹ

Giống ngô lai VN 25-99
Giống lạc HL25 Việt Ấn


Giống khoai lang Việt Nam
Giống khoai lang HL518
Giống khoai lang HL491
Giống khoai Hoàng Long
Giống khoai lang HL4
Giống khoai Bí Đà Lạt

Việt Nam con đường xanh
Việt Nam tổ quốc tôi
Vườn Quốc gia Việt Nam
Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp sinh thái Việt
Nông nghiệp Việt trăm năm
IAS đường tới trăm năm
Viện Lúa Sao Thần Nông
Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Ngày Hạnh Phúc của em
Có một ngày như thế

Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
Sóc Trăng Lương Định Của
Thầy Quyền thâm canh lúa
Borlaug và Hemingway
Thầy Luật lúa OMCS OM
Thầy Tuấn kinh tế hộ
Thầy Tuấn trong lòng tôi
Thầy Vũ trong lòng tôi
Thầy lúa xuân Việt Nam
Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
Thầy bạn Vĩ Dạ xưa
Thầy Dương Thanh Liêm
Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
Phạm Trung Nghĩa Viện Lúa
Phạm Quang Khánh Hoa Đất
Phạm Văn Bên Cỏ May

24 tiết khí nông lịch
Nông lịch tiết Lập Xuân
Nông lịch tiết Vũ Thủy
Nông lịch tiết Kinh Trập
Nông lịch tiết Xuân Phân
Nông lịch tiết Thanh Minh
Nông lịch tiết Cốc vũ
Nông lịch tiết Lập Hạ
Nông lịch tiết Tiểu Mãn
Nông lịch tiết Mang Chủng
Nông lịch tiết Hạ Chí
Nông lịch tiết Tiểu Thử
Nông lịch tiết Đại Thử
Nông lịch tiết Lập Thu
Nông lịch Tiết Xử Thử
Nông lịch tiết Bạch Lộ
Nông lịch tiết Thu Phân
Nông lịch tiết Hàn Lộ
Nông lịch tiết Sương Giáng
Nông lịch tiết Lập Đông
Nông lịch tiết Tiểu tuyết
Nông lịch tiết Đại tuyết
Nông lịch tiết giữa Đông
Nông lịch Tiết Tiểu Hàn
Nông lịch tiết Đại Hàn

Food Crops Ngọc Phương Nam
Nhà sách Hoàng Gia

Bài viết liên quan (Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả)

Ong va Hoa

CÂY TÁO BÀI CA THỜI GIAN
Hoàng Kim

William Cullen Bryant (1794-1878) nhà thơ và nhà báo Mỹ đã viết “Bài ca cây táo” rất nổi tiếng. Lời vàng của bài thơ này đã tạc cây táo vào văn chương Anh Mỹ và văn hóa nhân loại nhưng sự dịch bài thơ này sang tiếng Việt hay và chuẩn là khó đến nản lòng. Mời bạn tham gia dịch thuật. Nguyên văn bài thơ và Bài thơ này Hoàng Kim tạm dịch như dưới đây, có nguyên tác tiếng Anh:và tạm dịch ý kèm theo

Cây táo bài ca thời gian
William Cullen Bryant ((1794-1878) nguyên tác tiếng Anh
Hoàng Kim tạm dịch thơ tiếng Việt

Cây táo này của chúng ta.
Ngọt ngào trăm suối rừng hoa xuân về.
Gió trời tải cánh đam mê,
Khi hương táo ngát tình quê gọi mời
Mở toang cánh cửa đất trời
Ong say làm mật bồi hồi bên hoa,
Hoa em mòn mỏi đợi chờ,
Nhánh hoa mừng trẻ mong chờ ngày sinh,
Hoa xuân của tiết Thanh Minh
Chúng ta trồng táo gieo lành phước duyên.

Nguyên tác tiếng Anh

“What plant we in this apple tree?
Sweets for a hundred flowery springs
To load the May-wind’s restless wings,
When, from the orchard-row,
he pours Its fragrance through our open doors;
A world of blossoms for the bee,
Flowers for the sick girl’s silent room,
For the glad infant sprigs of bloom,
We plant with the apple tree”

Nguồn: Classic Quotes by William Cullen Bryant
(1794-1878) US poet and newspaper editor
http://www.arcamax.com/knowledge/quotes/s-14832?ezine=2″

Tạm dịch ý:

Cây táo này của chúng ta.
Ngọt ngào cho trăm suối hoa xuân.
Tải cánh bồn chồn của gió tháng năm,
Khi các hàng táo đưa hương thơm
qua những cánh cửa mở;
Một thế giới của hoa cho ong,
hoa cho phòng tĩnh lặng của cô gái mòn mỏi đợi chờ,
nhánh hoa mừng cho trẻ sơ sinh,
Chúng ta trồng cây táo.

TÁO TÂY, TÁO TA VÀ TÁO TÀU

Cây Táo trên Thế giới và Việt Nam được phân biệt Táo Tây, Táo Ta và Táo Tàu. Táo Tây có tên khoa học là Malus domestica, tiếng Anh gọi là Apple, tiếng Việt gọi là Táo Tây hoặc bôm, phiên âm từ pomme tiếng Pháp. Cây táó trong tiếng Việt là gồm cả táo tây, táo ta và táo tàu; đó là một trong những loại trái cây phổ biến nhất trên thế giới. Cây táo đã gợi cảm hứng cho Steve Jobs đặt tên Apple cho thương hiệu “Quả táo khuyết’ ngày nay trở thành thương hiệu giá trị nhất hành tinh. Cây táo cũng đã gợi cảm hứng cho William Cullen Bryant (1794-1878) là nhà thơ và nhà báo Mỹ viết “Bài ca cây táo” nổi tiếng lưu danh tại thế giới thi ca Viện Hàn Lâm Khoa học Nhận văn của Mỹ. Lời vàng của bài thơ này đã tạc cây táo vào văn chương Anh Mỹ và vào văn hóa nhân loại .

Táo Tây Malus domestica là một loài cây thân gỗ trong họ Hoa hồng ( Rosaceae) được biết đến vì quả ngọt của nó (quả táo tây). Nó là loài được trồng rộng rãi nhất trong chi Hải đường (Malus).và là một loài cây ăn quả chủ lực của toàn thế giới.

Cây Táo Tây có nguồn gốc ở Trung Á, nơi tổ tiên của nó là loài táo dại Tân Cương vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Họ Táo (Rhamnaceae) là một họ lớn trong thực vật có hoa, chủ yếu là cây gỗ, cây bụi và một số dây leo. Họ này chứa khoảng 50-60 chi và khoảng 870-950 loài (APG II công nhận 52 chi với 925 loài [1]). Họ Rhamnaceae phân bố rộng khắp thế giới, nhưng là phổ biến hơn trong khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới.

Họ Táo Rhamnaceae, có chi Prunus, tiếng Việt Nam Bộ gọi là táo, tiếng Việt Bắc Bộ gọi là mận. Hai hình minh hoa dưới đây là quả táo ta.

Táo ta hay còn gọi là táo chua (tên khoa học Ziziphus mauritiana) là loài táo nhiều phổ biến hơn trong các loài táo ở Việt Nam, là loại cây ăn quả của vùng nhiệt đới, thuộc về họ Táo. Nó được gọi là táo chua, táo Ấn Độ, táo Điền Vân Nam,hay táo gai Vân Nam.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tao-ta-2.jpg

Cây Táo chua có thể lớn rất nhanh thậm chí trong các khu vực khô và cao tới 12 mét và đạt tuổi thọ 25 năm. Nó có nguồn gốc ở châu Á, chủ yếu là Ấn Độ, mặc dù cũng có thể tìm thấy ở châu Phi. Một loài táo khác tên khoa học Ziziphus nummularia, cũng được gọi là táo ta.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tao-tau.jpg

Táo Tàu trên thị trường thường hay gọi lẫn với táo Tây xanh vì vỏ quả phổ biến màu xanh (gọi là Táo xanh) và nguồn gốc địa lý mua bán loại táo xanh này chủ yếu sản xuất tại Trung Quốc Sự thật thì Táo Tàu hay đại táo hoặc hồng táo (tiếng Trung: 枣, 棗, 红枣), (tiếng Triều Tiên:대추), tiếng Nhật: 棗 natsume) (danh pháp khoa học: Ziziphus jujuba) là để chỉ một loài cây thân gỗ nhỏ hay cây bụi với lá sớm rụng, thuộc họ Rhamnaceae (họ Táo). Theo sự đúc kết của Wikipedia Ttiếng Việt, Táo Tàu được cho rằng nó có nguồn gốc từ Bắc Phi và Syria, nhưng đã dịch chuyển về phía đông, qua Ấn Độ tới Trung Quốc, là khu vực nó đã được trồng trên 4.000 năm. Cây Táo Tàu có thể cao khoảng 5–12 m, với các lá xanh bóng, và đôi khi có gai. Các hoa nhỏ, màu trắng hoặc ánh lục, khó thấy, quả hình trứng, kích cỡ tự quả ô liu, thuộc loại quả hạch. Dạng cây và dạng quà theo như hai hình dưới đây. Quả của Táo Tàu được sử dụng khá phổ biến trong y học truyền thống của người Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam

Táo Tàu (Jujube) theo Fanghong https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A1o_t%C3%A0u#/media/T%E1%BA%ADp_tin:ZiziphusJujubaVarSpinosa.jpg
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Rosids
Bộ (ordo)Rosales
Họ (familia)Rhamnaceae
Chi (genus)Ziziphus
Loài (species)Z. jujuba
Danh pháp hai phần
Ziziphus jujuba
(L.) H. Karst.
Táo Tàu, ảnh của Frank C. Müller
Apple Steven Jobs

QỦA TÁO APPLE STEVE JOBS

Quả táo là loại trái cây ngon phổ biến nhất hành tinh. Quả táo nay cũng là máy tính chất lượng   Apple là thương hiệu giá trị nhất thế giới. Quả táo Steven Jobs cũng như Kiều Nguyễn Du. Ai nói đến Kiều lập tức gợi nhớ Nguyễn Du; ai nói đến Quả táo Apple lập tức gợi nhớ Steven Jobs và ngược lại. Thương hiệu Apple, điều hay nhất là “quả táo có cắn một miếng”. Chúng ta nhìn quả táo Jobs đã cắn một miếng mà thấy thèm. Táo ngon mọi người đều thèm cắn. Apple Steven Jobs làm nên giá trị Mỹ, là tấm giấy thông hành của nước Mỹ đi ra thế giới. Việt Nam chúng ta đã có tấm giấy thông hành của một đất nước độc lập, đẹp và thân thiện với những danh nhân minh triết  dựng nước, giữ nước và nhiều gương anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang nhưng thiếu vắng những thương hiệu Việt lừng lẫy như Quả táo Apple Steve Jobs.

Tôi kể các bạn nghe “chuyện Steven Jobs”, “câu chuyện quả táo”, với “trãi nghiệm và suy ngẫm” của riêng mình. Thật lạ lùng ý tưởng này của tôi lại trùng hợp với thầy Nguyễn Lân Dũng. Thầy Lân Dũng cũng nâng niu, sưu tầm, biên soạn “Câu chuyện ông chủ Apple”. Thầy đến nay đã trên tám mươi lăm tuổi (2020) mà Thầy vẫn thật tận tụy thu thập tuyển chọn hiệu đính thông tin, cung cấp các SỰ THẬT điều hay lẽ phải, những gương sáng lập nghiệp để trao lại cho lớp trẻ. Biển học vô bờ, siêng năng là bến. Kiến thức nhân loại là mênh mông như biển và cao vọi như núi. Việc chính đời người là chọn lọc thông tin để dạy, học và làm được những điều bổ ích cho chính mình, cộng đồng và đất nước.

“Steven Jobs (24 tháng 2 năm 1955 – 5 tháng 10, 2011) là doanh nhân và nhà sáng chế người Mỹ. Ông là đồng sáng lập viên, chủ tịch, và cựu tổng giám đốc điều hành của hãng Apple, là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất ở ngành công nghiệp vi tính.” Giáo sư Nguyễn Lân Dũng đã tóm tắt như trên về Steven Jobs. Thầy viết tiếp:

“Đầu những năm 1980, Jobs là một trong những người đầu tiên nhìn thấy tiềm năng thương mại của giao diện người dùng điều khiển đồ họa bằng cách sử dụng chuột dẫn đến việc ra đời Macintosh. Quá trình hoạt động kinh doanh của Steve Jobs đã đóng góp nhiều cho các hình ảnh biểu tượng mang phong cách riêng, nhà doanh nghiệp tiêu biểu của Thung lũng Silicon, nhấn mạnh tầm quan trọng của thiết kế và hiểu biết vai trò thiết yếu của tính thẩm mỹ trong việc thu hút công chúng. Công việc của ông thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm mà chức năng và tính thanh lịch của chúng đã thu hút những người ủng hộ hết mình. Ngày 24 tháng 8 năm 2011, Steve Jobs tuyên bố từ chức tổng giám đốc điều hành của Apple. Trong thư từ chức, Jobs mạnh mẽ gửi gắm rằng Tim Cook là người kế nhiệm ông. Do yêu cầu này, Jobs được bổ nhiệm làm chủ tịch hội đồng quản trị của Apple. Ngày 5 tháng 10 năm 2011, Apple loan tin Steve Jobs đã qua đời ở tuổi 56.

Steve Jobs đã qua đời vào sáng 5/10/2011, khiến cả thế giới sửng sốt và tiếc nuối. Ông là người kín tiếng, gần như không bao giờ nói về đời tư và cuộc trò chuyện cởi mở nhất có lẽ là bài phát biểu dưới đây:

“Tôi rất vinh dự có mặt trong lễ trao bằng tốt nghiệp của các bạn hôm nay tại một trong những trường đại học uy tín nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng đại học. Phải thú nhận đây là lần tôi tiếp cận gần nhất với một buổi tốt nghiệp. Tôi muốn kể cho các bạn ba câu chuyện về cuộc đời tôi. Không có gì nhiều nhặn. Chỉ là ba câu chuyện. 

Chuyện thứ nhất là về việc kết nối các dấu chấm (kết nối các sự kiện)

Tôi bỏ trường Reed College ngay sau 6 tháng đầu, nhưng sau đó lại đăng ký học thêm 18 tháng nữa trước khi thực sự rời trường. Vậy, vì sao tôi bỏ học?

Mọi chuyện như đã định sẵn từ trước khi tôi sinh ra. Mẹ đẻ tôi là một sinh viên, bà chưa kết hôn và quyết định gửi tôi làm con nuôi. Bà nghĩ rằng tôi cần được nuôi dưỡng bởi những người đã tốt nghiệp đại học nên sắp đặt để trao tôi cho một vợ chồng luật sư ngay trong ngày sinh. Tuy nhiên, mọi chuyện thay đổi vào phút chót bởi họ muốn nhận một bé gái hơn là tôi.

Vì thế, cha mẹ nuôi của tôi, khi đó đang nằm trong danh sách xếp hàng, đã nhận được một cú điện thoại vào nửa đêm rằng: “Chúng tôi có một đứa con trai không mong đợi, ông bà có muốn chăm sóc nó không?” và họ trả lời: “Tất nhiên rồi”. Mẹ đẻ tôi sau đó phát hiện ra mẹ nuôi tôi chưa bao giờ tốt nghiệp đại học còn cha tôi thậm chí chưa tốt nghiệp phổ thông trung học. Bà từ chối ký vào giấy tờ trao nhận và chỉ đồng ý vài tháng sau đó khi bố mẹ hứa rằng ngày nào đó tôi sẽ vào đại học.

Sau đó 17 năm, tôi thực sự đã vào đại học. Nhưng tôi ngây thơ chọn ngôi trường đắt đỏ gần như Đại học Stanford vậy. Toàn bộ số tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi phải dồn vào trả học phí cho tôi. Sau 6 tháng, tôi thấy việc đó không hề hiệu quả. Tôi không có ý niệm về những gì muốn làm trong cuộc đời mình và cũng không hiểu trường đại học sẽ giúp tôi nhận ra điều đó như thế nào. Tại đó, tôi tiêu hết tiền mà cha mẹ tiết kiệm cả đời. Vì vậy tôi ra đi với niềm tin rằng mọi việc rồi sẽ ổn cả. Đó là khoảnh khắc đáng sợ, nhưng khi nhìn lại, đấy lại là một trong những quyết định sáng suốt nhất của tôi. Tôi bắt đầu bỏ những môn học bắt buộc mà tôi không thấy hứng thú và chỉ đăng ký học môn tôi quan tâm.

Tôi không có suất trong ký túc, nên tôi ngủ trên sàn nhà của bạn bè, đem đổi vỏ chai nước ngọt lấy 5 cent để mua đồ ăn và đi bộ vài km vào tối chủ nhật để có một bữa ăn ngon mỗi tuần tại trại Hare Krishna. Những gì tôi muốn nói là sau này tôi nhận ra việc cố gắng theo đuổi niềm đam mê và thỏa mãn sự tò mò của mình là vô giá.

Tôi sẽ kể cho các bạn một ví dụ: Đại học Reed khi đó có lẽ là trường tốt nhất dạy về nghệ thuật viết chữ đẹp ở Mỹ. Khắp khuôn viên là các tấm áp-phích, tranh vẽ với những dòng chữ viết tay tuyệt đep. Vì tôi đã bỏ học, tôi quyết định chỉ đăng ký vào lớp dạy viết chữ để tìm hiểu họ làm điều đó thế nào. Tôi học cách biến hóa với nét bút, về khoảng cách giữa các chữ, về nét nghiêng, nét đậm. Đây là môn học nghệ thuật và mang tính lịch sử mà khoa học không thể nắm bắt được và tôi thấy nó thật kỳ diệu.

Những thứ này khi đó dường như chẳng có chút ứng dụng thực tế nào trong cuộc đời tôi. Nhưng 10 năm sau, khi chúng tôi thiết kế máy Macintosh, mọi thứ như trở lại trong tôi. Và chúng tôi đưa nó vào trong Mac. Đó là máy tính đầu tiên có các font chữ đẹp. Nếu tôi không bỏ học chỉ để theo một khóa duy nhất đó, máy Mac sẽ không bao giờ được trang bị nhiều kiểu chữ hoặc có được sự cân xứng về khoảng cách các chữ như vậy (sau này Windows đã sao chép lại). Nếu tôi không bỏ học, tôi có lẽ sẽ không bao giờ tham gia lớp nghệ thuật viết chữ và máy tính có lẽ không có được hệ thống chữ phong phú như hiện nay.

Tất nhiên, chúng ta không thể kết nối các dấu ấn tương lai, bạn chỉ có thể móc nối chúng khi nhìn lại quá khứ. Vậy hãy tin rằng các dấu chấm, các sự kiện trong cuộc đời bạn về mặt này hay mặt khác sẽ ảnh hưởng đến tương lai của bạn. Bạn phải có niềm tin vào một thứ gì đó – sự can đảm, số phận, cuộc đời, định mệnh hay bất cứ điều gì – cách nghĩ đó đã tạo nên những sự khác biệt trong cuộc đời tôi.

Câu chuyện thứ hai là về tình yêu và sự mất mát

Tôi may mắn khi đã nhận ra những gì tôi yêu quý ngay từ khi còn trẻ. Woz (Steve Wozniak) cùng tôi sáng lập Apple tại garage của bố mẹ khi tôi mới 20 tuổi. Chúng tôi làm việc miệt mài trong 10 năm và phát triển từ một cái nhà xe thành một công ty trị giá 2 tỷ USD với 4.000 nhân viên. Chúng tôi cho ra đời thành quả sáng tạo – Macintosh – khi tôi mới bước sang tuổi 30.

Sau đó, tôi bị sa thải. Sao bạn lại có thể bị sa thải tại ngay công ty mà bạn lập ra? Apple đã thuê một người mà tôi nghĩ là đủ tài năng để điều hành công ty với mình và năm đầu tiên, mọi thứ đã diễn ra tốt đẹp. Nhưng sau đó, tầm nhìn về tương lai của chúng tôi khác nhau và không thể hợp nhất. Khi đó, ban lãnh đạo đứng về phía ông ấy. Ở tuổi 30, tôi phải ra đi. Những gì tôi theo đuổi cả đời đã biến mất, nó đã bị phá hủy.

Tôi không biết phải làm gì trong những tháng tiếp theo. Tôi cảm thấy như mình đã đánh rơi mất cây gậy trong cuộc chơi khi người ta vừa trao nó cho tôi. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce, cố gắng xin lỗi vì đã làm mọi chuyện trở nên tồi tệ. Tôi còn nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Nhưng mọi thứ bắt đầu kéo tôi trở lại. Tôi vẫn yêu những gì tôi làm. Bước ngoặt tại Apple không thay đổi con người tôi. Tôi bị từ chối, nhưng tôi vẫn còn yêu. Vì thế tôi quyết định làm lại từ đầu.

Khi đó tôi đã không nhận ra, nhưng hóa ra bị sa thải lại là điều tốt nhất dành cho tôi. Sức ép duy trì sự thành công đã được thay thế bằng tinh thần nhẹ nhàng của người mới bắt đầu lại và không chắc về những gì sẽ diễn ra. Nó giải phóng tôi để bước vào giai đoạn sáng tạo nhất cuộc đời.

Trong năm năm tiếp theo, tôi thành lập NeXT và một công ty khác mang tên Pixar và phải lòng một người phụ nữ tuyệt vời, người trở thành vợ tôi sau này. Pixar tạo ra bộ phim từ đồ họa máy tính đầu tiên trên thế giới – Toy Story và hiện là xưởng phim hoạt hình thành công nhất toàn cầu. Apple mua lại NeXT, tôi trở lại và công nghệ tôi phát triển ở NeXT là trọng tâm trong cuộc phục hưng Apple. Tôi và vợ Laurene cũng có một cuộc sống gia đình tuyệt vời.

Tôi khá chắc chắn rằng những điều trên sẽ không xảy ra nếu tôi không bị Apple sa thải. Nó như một liều thuốc đắng và kinh khủng, nhưng bệnh nhân cần nó. Đôi khi cuộc đời sẽ giáng một viên gạch vào đầu bạn. Đừng mất niềm tin. Tôi hiểu thứ duy nhất khiến tôi vững vàng chính là niềm đam mê. Bạn phải tìm ra bạn yêu cái gì. Nó đúng cho công việc và cho cả những người thân yêu của bạn. Công việc chiếm phần lớn cuộc đời và cách duy nhất để thực sự hài lòng là làm những gì bạn tin nó sẽ trở nên tuyệt vời. Và cách duy nhất có công việc tuyệt vời là yêu những gì bạn làm. Nếu chưa nhận ra, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng dừng lại. Như mọi mối quan hệ trong cuộc đời, nó sẽ trở nên ngày càng tốt đẹp hơn qua từng năm.

Câu chuyện thứ ba là về cái chết.

Khi 17 tuổi, tôi đọc ở đâu đó rằng: “Nếu sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, một ngày nào đó bạn sẽ đúng”. Điều đó gây ấn tượng với tôi và 33 năm qua, tôi nhìn vào gương mỗi sáng và hỏi: “Nếu hôm nay là ngày cuối của cuộc đời mình, mình có muốn làm những gì định làm hôm nay không?”. Nếu câu trả lời là “Không” kéo dài trong nhiều ngày, đó là lúc tôi biết tôi cần thay đổi.

Luôn nghĩ rằng mình sẽ sớm chết là công cụ quan trọng nhất giúp tôi tạo ra những quyết định lớn trong đời. Vì gần như mọi thứ, từ hy vọng, niềm tự hào, nỗi sợ hãi, tủi hộ hay thất bại, sẽ biến mất khi bạn phải đối mặt với cái chết, chỉ còn lại điều thực sự quan trọng với bạn. Nghĩ rằng mình sắp chết là cách tốt nhất tôi tránh rơi vào bẫy rằng tôi sẽ mất cái gì đó. Khi không còn gì nữa, chẳng có lý gì bạn không nghe theo lời mách bảo của trái tim.

Một năm trước, tôi biết mình bị ung thư. Tôi được chụp cắt lớp lúc 7h30 và nhìn thấy rõ khối u trong tuyến tụy. Tôi còn chẳng biết tuyến tụy là cái gì. Bác sĩ bảo tôi bệnh này không chữa được và tôi chỉ có thể sống thêm 3 đến 6 tháng nữa. Ông ấy khuyên tôi về nhà và sắp xếp lại công việc, cố gắng trò chuyện với bọn trẻ những điều mà tôi định nói với chúng trong 10 năm tới, nhưng giờ phải tâm sự trong vài tháng. Nói cách khác, hãy nói lời tạm biệt.

Tối hôm đó, tôi được kiểm tra sinh thiết. Họ đút một ống qua cổ họng tôi xuống dạ dày và ruột rồi đặt một cái kim vào tuyến tụy để lấy mẫu tế bào khối u. Tôi giữ thái độ bình thản, và vợ tôi, cũng có mặt lúc đó, kể với tôi rằng khi các bác sỹ xem các tế bào dưới kính hiển vi, họ đã reo lên khi phát hiện đây là trường hợp ung thư tuyến tụy hiếm hoi có thể chữa được bằng phẫu thuật. Tôi đã được phẫu thuật và bây giờ tôi đã khỏe lại.
Đó là lần gần nhất tôi đối mặt với cái chết. Tôi hy vọng lần tiếp theo sẽ là vài thập kỷ nữa. Không ai muốn chết. Ngay cả người mong được lên thiên đường cũng không muốn chết để tới đó. Nhưng cái chết là đích đến mà chúng ta đều phải tới. Không ai thoát được nó. Cái chết như là phát minh hay nhất của sự sống. Nó là tác nhân thay đổi cuộc sống. Nó loại bỏ sự cũ kỹ (người già) để mở đường cho cái mới (lớp trẻ). Các bạn chính là thế hệ trẻ, nhưng ngày nào đó sẽ già đi và rời bỏ cuộc sống. Xin lỗi vì đã nói thẳng nhưng điều đó là sự thật.

Thời gian của bạn không nhiều, đừng lãng phí bằng cách sống cuộc đời của người khác. Đừng nghe những lời giáo điều, vì đó là suy nghĩ của người khác. Đừng để những quan điểm ồn ào lấn át tiếng nói bên trong bạn. Chúng biết bạn muốn gì. Mọi thứ khác chỉ là thứ yếu.

Khi tôi còn trẻ, có một cuốn sách thú vị là “The Whole Earth Catalog “(Cẩm nang thế giới). Nó giống như một cuốn kinh thánh, kim chỉ nam của thế hệ tôi. Tác giả Steward Brand tạo ra nó vào thập niên 60, trước thời máy tính cá nhân. Nội dung sách được soạn bằng máy đánh chữ, bằng kéo và bằng máy ảnh polaroid. Nó như Google trên giấy vậy. Ở bìa sau của cuốn sách có in ảnh một con đường trong ánh bình minh, bên dưới là dòng chữ: “Sống khát khao. Sống dại khờ”. Tôi luôn chúc điều đó cho chính mình. Hôm nay, các bạn tốt nghiệp và sắp bước vào cuộc đời mới, tôi cầu chúc điều đó cho các bạn.

Hãy luôn khao khát. Hãy luôn dại khờ.

Steve Jobs”

Quả táo Apple là cảm hứng của Steve Jobs cho sự ra đời  thương hiệu Apple Inc nổi tiếng thế giới và chính Apple Inc. lại làm bừng sáng giá tri cao quý của Apple, Quả táo, loài quả phổ biến nhất hành tinh.

apple-4219-1412931479.jpg

Apple vẫn là thương hiệu giá trị nhất thế giới. Táo Khuyết đã qua mặt Google để chiếm vị trí thương hiệu giá trị nhất thế giới với trên 119 tỷ USD. Nggày nay ngoài Apple và Google, chưa có thương hiệu nào được định giá trên 100 tỷ USD, theo báo cáo thường niên Best Global Brands của Interbrand. Hãng tư vấn đánh giá các thương hiệu dựa trên 3 tiêu chí chính. Ngoài năng lực tài chính, họ còn nhìn vào khả năng tăng giá và ảnh hưởng của thương hiệu lên sự lựa chọn của khách hàng.” Thông tin của Hà Thu, Vnexpress, ngày 10/10/2014 cho biết. Apple được định giá 118,9 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2013. Trong khi đó, còn số này tại Google là 107,43 tỷ USD, tăng 15% so với năm ngoái. “Sự tăng trưởng của Apple và Google là minh chứng cho sức mạnh của việc xây dựng thương hiệu”, Jez Frampton – CEO Interbrand nhận xét. Các công ty công nghệ chiếm nửa top 10, với IBM ở vị trí thứ 4, Microsoft thứ 5 và Samsung thứ 7. Trong khi đó, ngành ôtô cũng có 4 đại diện trong top 20 là Toyota (8), Mercedes-Benz (10), BMW (11) và Honda (20). Giá trị 3 thương hiệu xe hơi khác là Audi, Volkswagen và Nissan cũng có sức tăng trưởng vượt bậc với hơn 20% Hai câu chuyên trên đây cho thấy Steve Jobs đã mang đến “Quả táo” “Apple” thương hiệu Mỹ giá trị biết bao

GIÁ TRỊ VÀNG ĐÍCH THỰC

Ba quả táo làm thay đổi thế giới:: Quả táo trong vườn địa đàng Adam và Eva; Quả táo rơi trúng Newton, và Quả táo cắn dở của Steve Jobs. Câu chuyện cây táo, quả táo, bài ca thời gian và câu chuyện Steve Jobs luôn là nguồn cảm hứng dồi dào cho lớp trẻ..

Bill Gates học để làm đã làm rung động lương tâm và tầm nhìn của nhiều người trên thế giới và để lại các bài học vô giá thật đáng suy ngẫm. Bill Gates là chuyên gia hàng đầu của máy tính nhưng trong Gates Notes công việc đầu tư tiền bạc, công sức và thời gian của ngân quỹ Bill & Melinda Gates Foundation lại xếp hàng đầu cho nông nghiệp, thiên nhiên, đồ ăn thức uống của con người. Bill Gates nổi tiếng bởi sự giàu có và bài học quý của cuộc đời,

Thế nhưng, khi soi vào Steve Jobs thì phần nào đó Steve Jobs vẫn nhận được ngưỡng mộ, yêu quý và cảm thông đôi khi nhiều hơn vì Steve Jobs ít may mắn hơn và thiệt thòi đau đớn hơn, cũng bởi Steve Jobs có năng lực sáng tạo, tinh thần gần gũi, một con người thực sự đã làm thay đổi thế giới: máy tính cá nhân Mac, điện thoại Iphone, Ipad, Ipod, Xưởng phim hoạt hình Pixar, hay cả trong âm nhạc với Itune…

Tôi thực sự đồng cảm với Bill Gates trước lời nói giản dị, thức tỉnh:của ông “Đừng so sánh mình với bất cứ ai trong thế giới này … nếu bạn làm như vậy, bạn đang sỉ nhục chính mình” (Don’t compare yourself with anyone in this world … if you do so, you are insulting yourself. Bill Gates). Cuộc đời của nhiều người không thành công và kém may mắn có thể vịn lời của Bill Bates và vịn bài học cuộc sống của Steve Jobs mà đứng dậy. Minh triết nhân sinh thật chí thiện, trí tuệ bậc thầy, tư duy mạch lạc hệ thống.

Cây táo bài ca thời gian, Quả táo Apple Steve Jobs, giá trị vàng đích thực

Hoàng Kim

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC http://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Vui bước tới thảnh thơi

Emve

VUI BƯỚC TỚI THẢNH THƠI
Hoàng Kim

Thăm người ngọc nơi xa, vùng tỉnh lặng,
Chốn ấy đồng xanh, người đã chào đời.
Nơi sỏi đá, giữa miền thiêng hoa cỏ,
Thiên nhiên an lành, bước tới thảnh thơi.

Sống giữa đời vui, giấc mơ hạnh phúc,
Cổ tích đời thường đằm thắm yêu thương.
Con cái quây quần thung dung tự tại,
Minh triết cuộc đời phúc hậu an nhiên.

Xuân Hạ Thu Đông, bốn mùa luân chuyển
Say chân quê ngày xuân đọc Trạng Trình
Ngày ra ruộng, đêm thì đọc sách.
Ngọc cho đời, giữ trọn niềm tin.

Chân trần bước tới thảnh thơi
Trăng rằm cổ tích nhớ lời của Anh:

“Cảnh mãi theo người được đâu em
Hết khổ hết cay hết vận hèn
Nghiệp sáng đèn giời đang chỉ rõ
Rồi đây cay đắng chẳng buồn chen”.
(Khát vọng, Hoàng Ngọc Dộ)

Vui về với ruộng đồng
Vui sống giữa thiên nhiên
Vui đến chốn thung dung
Vui bước tới thảnh thơi

Vui đi dưới mặt trời
Lên Trúc Lâm Yên Tử
Giấc mơ thiêng cùng Goethe
Giấc mơ lành yêu thương

Minh triết cuộc rong chơi
Đường trần đi không mỏi
Lắng nghe cuộc sống gọi
Việt Nam con đường xanh

Ngắm vầng trăng cổ tích
Một gia đình yêu thương
Một niềm tin thắp lửa
Mình về với chính mình

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vui-buoc-toi-thanh-thoi/

SỰ CAO QUÝ THẦM LẶNG

Phước Huệ trang nghiêm quá
Ai làm Ngốc Phương Nam
Niềm vui đón trăng rằm
Sự cao quý thầm lặng.

Dạy suốt đời không mỏi
Học và làm luôn vui
Tâm sáng lòng bồ tát
Việc tốt ngọc cho đời

Công đức chào ngày mới
Vui bước tới thảnh thơi

9ức Thánh Trần lời dặn lại

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Nong Lam University
Kỷ niệm 65 năm Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Bài học quý giá biết chăm sóc sức khỏe
Secret Garden, Bí mật vườn thiêng 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook Kim on Twitter 

Thầy Luật lúa OMCS OM

vienluathambacgiap

THẦY LUẬT LÚA OMCS OM
Hoàng Kim

Giáo sư Nguyễn Văn Luật, anh hùng lao động là tác giả chính của cụm công trình đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ 10 nhà khoa học được nhận năm 2000. Tập thể Viện Lúa là anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2000, đến năm 2014 Viện Lúa phát huy truyền thống và được nhận Huân chương Độc Lập hạng Nhất cao quý nhất của Việt Nam. Thầy là một người lính và danh tướng lỗi lạc của mặt trận nông nghiệp Điện Biên Nam Bộ. Trong câu chuyện đời thường của giáo sư Luật có ba câu chuyện tiếu lâm, học mà vui, vui mà học. Đó là “Ôm em và ôm em cực sướng”, “Nuôi heo trồng so đũa nuôi dê”, “Thầy Luật bạn và thơ”.. Chuyện được tình tự kể như dưới đây. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-luat-lua-omcs-om/

Thầy Nguyễn Văn Luật (phải) là giáo sư tiến sĩ anh hùng lao động, cựu Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, tác giả chính của OMCS OM trên đồng lúa mới với kỹ sư Hồ Quang Cua (trái) anh hùng lao động, tác giả chính thương hiệu gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng Việt Nam .

Thế hệ chúng tôi may mắn được kết nối với những người Thầy trí thức lớn, những bạn nhà nông tâm huyết, trí tuệ, gắn bó suốt đời với nông dân đồng nghiệp, sinh viên cây lương thực và nghề nông.Khi nói đến họ là nói đến một đội ngũ thầm lặng dấn thân cho hạt ngọc Việt và sự đi tới không ngưng nghỉ của Việt Nam con đường xanh, tỏa sáng nhân cách và trí tuệ Việt. “Con đường lúa gạo Việt Nam” là chuỗi giá trị sản phẩm kết nối những thế hệ vàng nông nghiệp Việt Nam làm rạng danh Tổ Quốc. Đó là Lương Định Của lúa Việt Thầy Tuấn kinh tế hộ; Thầy Luật lúa OMCS OM; Thầy Quyền thâm canh lúa; Những người Việt lỗi lạc ở FAO; Chuyện cô Trâm lúa lai; Chuyện thầy Hoan lúa lai; Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng; Thầy nghề nông chiến sĩ. Hôm nay chúng tôi tự hào giới thiệu một góc nhìn ‘Thầy Luật lúa OMCS OM’ người Thầy đã lưu dấu nhiều ấn tượng sâu xa trong cây lúa Việt Nam và vùng lúa Nam Bộ. Câu chuyện này là sự nối dài tỏa rộng thêm “Con đường lúa gạo Việt Nam” từ Đại Ngãi Long Phú Sóc Trăng quê hương của nhà bác học nông dân anh hùng lao động Lương Định Của, người thầy nghề lúa, đến Viện Lúa Ô Môn, nôi khai sinh thương hiệu OM và OMCS nổi tiếng đến làng OM, cầu OM, cầu Nhót Hà Nội quê hương của thầy Luật.

Giáo sư Nguyễn Văn Luật là tác giả chính của thương hiệu lúa giống OMCS OM, đến nay trong thương hiệu OM lúa giống đã có trên 166 giống lúa của nhiều tác giả Viện Lúa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận, mà phần lớn đều mang tên OM. GS Nguyễn Văn Luật cũng là tác giả chủ biên của bộ sách đồ sộ gần 1.500 trang “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20” ba tập do Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội. xuất bản năm 2001, 2002, 2003 mà bất cứ chuyên gia nông nghiệp Việt Nam nào khi soát xét cây lúa Việt Nam của một thời và ‘Việt Nam chốn tổ của nghề lúa’ đều không thể bỏ qua. Bài học lớn hơn hết, sâu đậm hơn hết là bài học tập hợp và phát huy được năng lực của một đội ngũ chuyên gia tuyệt vời đầy tài năng và một đội ngũ các lãnh đạo qua các thời kỳ thật tâm huyết. Bài học cao quý của sự đoàn kết một lòng hoàn thành tốt nhiệm vụ của các thế hệ cán bộ viên chức người lao động Viện Lúa, sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và các cấp lãnh đạo Trung ương, địa phương và doanh nghiệp, sự cộng hưởng, giúp đỡ và liên kết thật tuyệt vời của thầy cô, bạn hữu, đồng nghiệp bạn nhà nông cùng với đông đảo nông dân từ khắp mọi miền đất nước.

ÔM EM VÀ ÔM EM CỰC SƯỚNG

Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt thời đó cũng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiền nhiệm đều ham làm lúa, thăm lúa vì … dân đói. Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt thăm Viện Lúa giữa năm 1997 và hỏi Viện trưởng Nguyễn Văn Luật: ‘Vì sao anh đặt tên lúa giống là OM và OMCS?’

Giáo sư Nguyễn Văn Luật trả lời: “Thưa Thủ tướng, để tỏ lòng biết ơn lãnh đạo và nhân dân địa phương tạo điều kiện cho Viện hoạt động, chúng tôi lấy tên huyện Ô Môn của địa phương làm tên của giống lúa do Viện tạo chọn”.

Trong không khí vui vẻ, nhiều người đã bổ sung những ý kiến tốt đẹp. Chủ tịch tỉnh Ba Xinh cười nói OM nghĩa là Ôm Em, một phóng viên ngồi ở vòng ngoài nói xen vào OMCS nghĩa là Ôm Em Cực Sướng, đoàn tháp tùng có một cán bộ ở Hà Nội nói là địa danh quê của Viện trưởng là làng OM, cầu OM cầu Nhót Hà Nội, nên OM cũng có nghĩa là làng OM, cầu OM.Thủ tướng tóm tắt ; Vậy OM là O EM, O BẾ EM !

Ngài Ngài đại sứ Ấn Độ có lần đến thăm Viện biết chuyện có bổ xung: dân Ấn Độ chúng tôi khi phát âm Ô Ô ÔM ÔM… , hai tay chắp lại, là để tỏ lòng thành kính cầu phúc!

Có một chuyện vui liên quan là giáo sư Luật một lần đi với cố nhà báo Nhật Ninh, gặp anh xe ôm dọc đường gọi là “anh hai ôm em”..! và chuyện này đã đăng báo Nhân Dân mà tác giả là Nhật Ninh!

OM và OMCS là những câu chuyện như suối nguồn tươi trẻ thao thiết chảy giữa vùng quê Nam Bộ và xuống nông thôn càng có thêm nhiều huyền thoại thú vị.

Nghe nói có một lần cố đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đang làm Phó Thủ Tướng phụ trách Khoa học Kỹ thuật và Chương trình Kế họach hóa Gia đình, trong một chuyến thăm một đơn vị rất thành công ở miền Tây, bác Văn đã hỏi về bài học kinh nghiệm thành công. Vị giám đốc đơn vị vui vẻ trình bày: Em có bốn bài học thấm thía nhất: một là o bế dân, được lòng dân nên được tất cả; hai là o bế địa phương, mất lòng thổ địa thì chẳng thể anh hùng; ba là o bế hiền tài và các vị cao minh, sự nghiệp phát triển được là nhờ họ; bốn là o bế em, thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn.

Thầy Viện trưởng khác của tôi kể chuyện là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói vậy không là nói vui mà thực sự chính cụ đã trãi nghiệm sâu sắc về sự O bế Em thành công, mà chính mối tình này làm ông còn một người con Phan Thanh Nam sinh ngày ngày 25 tháng 2 năm 1952, người đã thay mặt gia đình đọc lời cảm tạ trong lễ tang của ông. Mẹ của Nam là bà Hồ Thị Minh, chủ bút đầu tiên của tờ Phụ nữ cứu quốc Nam bộ. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt có người vợ đầu cùng hai người con út, một trai một gái, đã thiệt mạng khi quân đội Hoa Kỳ bắn chìm tàu Thuận Phong trong một cuộc càn quét qua chiến khu Củ Chi và người con trai đầu của ông là Phan Chí Dũng đã hi sinh ngày 29 tháng 4 năm 1972 tại Sóc Trăng trong một lần đi trinh sát. Câu chuyện đời thường và lời cụ Kiệt thật thấm thía. Đó là một sự trãi nghiệm.

OM hay ÔM, O hay Ô, chữ nào hay hơn? Hóa ra hai chữ đều hay. “Om mầm nên nõn lá” việc lặt lá mai và cái lạnh giá mùa đông là sự om mầm để cây nẩy lộc xuân. Con đường lúa gạo Việt Nam, Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển có nhiều những dâng hiến lặng lẽ mà giáo sư Luật là một trong những con người ấy.

Trong bài “Thầy bạn là lộc xuân của cuộc đời” tôi có kể về giáo sư Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam :

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Tay ôm đàn độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Từ Cà Mau Rạch Giá
Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mờ như sương
Thân chưa là lính thú
Sao không về cố hương ?

Nhớ Thầy Luật lúa OM và OMCS là nhớ thầy Hai Lúa ‘anh hai ôm em’ trong số những dâng hiến lặng lẽ đó.

“NUÔI HEO, TRỒNG SO ĐŨA, NUÔI DÊ”

Ông Nguyễn Khôi phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc Văn phòng Quốc hội có bài thơ ‘Giáo sư Lúa’ tặng GSTS Nguyễn Văn Luật.

GIÁO SƯ LÚA

Trai Hà Nội đi Nông Lâm buổi ấy
Bạn bè cười cày đường nhựa được chăng?
Rồi ở Viện suốt đời vì cây lúa
Đem sông Hồng vào với Cửu Long.

Đất Ô Môn đồng chua cỏ lác,
Ôi Cần Thơ đất rộng Tây Đô
Xứ Nam Bộ hai mùa mưa nắng,
Kết 20 triệu tấn lúa ước mơ …

Anh Kỹ sư rồi thành ông Tiến sĩ,
Vị Giáo sư lội ruộng suốt ngày.
Lại nhớ thời Hải Dương – Ô Mễ
Làm bèo dâu, cấy thẳng mê say.

Nay lúa vượt 25 triệu tấn,
Ôi Việt Nam, sức sống diệu kỳ.
Sông Hồng với Cửu Long hòa sóng,
Bạn bè đùa ‘ông Tiến sĩ nhà quê”.

Mùi hạnh phúc đượm bao sương mấy nắng,
Trai Hà Thành đen nhẽm ngỡ nông dân.
Cũng xởi lởi như Bác Hai Nam Bộ
Viết vần thơ ca ngợi ruộng đồng.

Tôi xin giải thích thêm bài thơ của cụ Nguyễn Khôi về 25 triệu tấn lúa này là 25 triệu tấn lúa mà toàn quốc Việt Nam đạt được năm 1995. Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển đã góp phần đưa sản lượng lúa ở ĐBSCL từ khoảng 4 triệu tấn/ năm 1977 vượt trên 25 triệu tấn/ năm 2016, tăng hơn gấp 6 lần, và điều kì diệu là  25 triệu tấn lúa trên năm tại ĐBSCL năm 2016 bằng toàn bộ sản lượng lúa Việt Nam năm 1995.   Chùm thơ cuối của tác giả Nguyễn Khôi thật thấm thía: “Mùi hạnh phúc đượm bao sương mấy nắng,/ Trai Hà Thành đen nhẽm ngỡ nông dân/ Cũng xởi lởi như Bác Hai Nam Bộ/ Viết vần thơ ca ngợi ruộng đồng”.

Trong những câu chuyện tiếu lâm cười vui một thời có chuyện Viện Lúa Viện Dê Viện Trưởng Dê mà tôi tần ngần không dám đặt tên này mà kể chệch đi một chút là “nuôi heo, trồng so đũa, nuôi dê”. Hồi đó, cán bộ công nhân viên của các Viện nghiên cứu và Trung tâm Nông nghiệp đều quá vất vả và thiếu thốn. Hầu như nhà nào cũng nuôi heo,  phải tăng gia sản xuất mới có đồng gia đồng vào, vợ đẻ con bệnh không lo bằng heo đẻ, heo bệnh. Cán bộ công nhân ra đồng làm ruộng, vui vè chuyện trò thì thường đầu tiên là kể chuyện vợ chồng con cái, kế đến là việc nuôi heo, trồng so đũa, nuôi dê thật hợp với Viện Lúa, sau đó là đến chuyện tiếu lâm nam nữ.

Giáo sư Luật kể rằng một hôm ông đi qua dãy nhà lá trên đoạn đê cụt trong Viện chợt nghe tiếng ục ịch, sột soạt, hổn hển, ông dừng lại nghe và dòm qua cửa sổ mở thì hóa ra đó là tiếng động của hai cô kế toán trường trung cấp Xuân Mai về Viện đang vuốt ve … hai con lợn trắng hồng độ 45 – 50 kg. Cô Hinh nhanh nhẩu tự giới thiệu đây là nhà ở của Hồng heo, Hồng Hinh, Hồng Hay ! Hai cô này đến nay đã thành bà nội bà ngoại, nhà cửa khang trang, con cháu học hành thành đạt, nhưng chắc vẫn nhớ một thời gian khó đã dành nơi tốt nhất cho heo ở.

Nhiều gia đình ở Viện lúa thuở đó đều trồng so đũa và nuôi dê sữa. Nhà giáo sư Viện trưởng cũng nuôi vài con heo và một con dê Bách Thảo mỗi sáng vắt được đến 5 – 6 lít sữa, dư dùng. Lộc, Thành và Thu Hiền là con của giáo sư Luật sáng sáng thay nhau đi bỏ sữa cho các nhà cần và đi học về là vác câu liêm lấy lá so đũa để nuôi dê. Viện Lúa hồi đó, đất nền nhà và đường sá trụ sở mới được tôn lên từ đất ruộng chua phèn nên rất ít cây phát triển được, ngoại trừ rau muống dại, chuối, mía, và trồng so đũa để lấy hoa nấu canh, thân cây đục lỗ cấy nấm mèo (mộc nhĩ), lấy lá nuôi dê.

Viện Lúa ĐBSCL một thời không chỉ vang danh lúa mới OM, OMCS mà còn vang danh là Viện Dê, Viện Trưởng Dê. Bộ trưởng Nguyễn Công Tạn, Bí thư Tỉnh Ủy Tám Thanh và các cán bộ đi cùng khi đến tham quan Viện Lúa, ngoài việc thăm đồng đều không quên đến thăm các mô hình trồng so đũa  – nuôi dê, cũng như sau thăm mô hình con cá con tôm ôm cây lúa ‘canh tác bền vững trong vuông’. Một số gia đình kỹ sư giỏi nuôi dê như gia đình kỹ sư Bình Thủy có thêm tên gọi thân mật Bình dê, tương tự như nhiều cặp vợ chồng của Bổng Hòa lúa, Bửu Lang lúa quen thuộc với nông dân miền Tây.

Tôi có một kỷ niệm vui với Viện Lúa là trồng sắn ngô xen thêm đậu xanh, lạc, đậu rồng và tôi khuân về từ Viện Lúa hai con dê Bách Thảo để làm mô hình kinh tế hộ gia đình. Các con tôi Nguyên Long còn quá bé, thuở đó vợ chồng đều bận rộn suốt ngày mà dê Bách Thảo phá quá, gặm cỏ và cây cối rất miệt mài. Tôi có sáng kiến buộc hai con dê lại với nhau và treo bao cỏ trên gác bếp cao để dê rút cỏ ăn dần. Thế nhưng một hôm một con leo lên cao rút cỏ, con ở dưới giật kéo làm con ở trên ngã vật xuống và bị … ‘chấn thương sọ não’ như anh em trong cơ quan nói vui. Chúng tôi mua hai can rượu và xẻ thịt dê gõ kẽng ‘báo động’ mời anh em về liên hoan và chia thịt dê cho mọi nhà. Câu chuyện ‘mổ dê đãi tiệc’ nghe thật hoành tráng và nhớ quá một thời.

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

Con đường lúa gạo Việt Nam đang tỏa rộng nhiều vùng đất nước, kết nối lớp lớp những dâng hiến lặng lẽ tôn vinh hạt ngọc Việt. Cây lúa Việt Nam nửa thế kỷ nhìn lại (1977 – 2017) có tốc độ tăng năng suất vượt 1,73 lần so với thế giới. Thành tựu này có cống hiến hiệu quả của nhà bác học nông dân Lương Định Của ở chặng đường đầu của nước Việt Nam mới và lớp lớp những tài danh nông nghiệp Việt trong đó có giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Luật anh hùng lao động, Bác Hai Nam Bộ, ‘anh Hai ôm em’  là một điểm đến đặc biệt ấn tượng .

THẦY LUẬT BẠN VÀ THƠ

Giáo sư Lê Văn Tố nhắn trên Facebook: “Tôi kính nể hai người anh hùng chân chính này và vinh dự được đàm đao với hai anh hùng tại nhà. Nói đến nông sản mà không nói đến công nghệ sau thu hoạch là việt vị nên sau khi thành lập cơ sở nghiên cứu theo đề nghị của GS Luật, tôi đã viết phần này”. Câu chuyện của thầy Tố, tôi chỉ lưu được một chút nhỏ trong bài Chuyện đời giáo sư Lê Văn Tố và mong thầy trao đổi thêm đôi lời về lĩnh vực chuyên sâu đầy thách thức và cơ hội này đối với lớp trẻ.

Giáo sư Trịnh Xuân Vũ người thầy đại thụ sinh học và sinh lý thực vật, hôm chấm luận văn thạc sĩ mới đây, đã kể chuyện và bàn luận với chúng tôi về sự vào cuộc của các đại gia kinh tài cho Nông sản Việt, chuyện quen và lạ mà anh Nam Sinh Đoàn đã bàn. Giáo sư Nguyễn Thơ góp vui: “Đi họp với các Cụ ớn nhất là các Cụ mang thơ đến tặng. Một hội nghề nghiệp đã đùa “Xin mọi người hãy để giày dép và thơ ở ngoài”.Thế nhưng ‘thầy Luật bạn và thơ Lúa mới’ là không hề cũ và không thể quên. Nhớ và quên là hai mặt của nhận thức, minh triết của đời thường. Văn hóa là gì còn lắng đọng khi người ta đã quên đi tất cả.

Tôi may mắn trong số những người bạn vong niên của thầy Luật “Em Hoàng Kim nhớ nhất là lúc lần đầu đi cùng thầy Van Quyen Mai về Ô Môn và về Cần Thơ cùng thầy Nguyễn Văn Luật, thầy Võ Tòng Xuân (là thân phụ của thầy giáo Võ-Tòng Anh) những người đã cùng cố giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn chung sức xây dựng Chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam là điểm sáng một thời Nông Nghiệp Việt Nam (mà thầy Phạm Văn Hiền của Nong Lam University in Ho Chi Minh city, Nong Hoc Web nay đã phát triển thành giáo trình tâm đắc). Một số thầy ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đùa là nhóm thầy Van Quyen Mai và chúng tôi là về Cần Thơ Ô Môn để làm “lô đối chứng”.Nhưng chính nhờ sự giao lưu học tập ấy (về cách tập hợp dấn thân của tập thể Viện Lúa đạo quân tiên phong của Điện Biên Nam Bộ) để rồi chúng ta đã tiếp nối làm nên cuộc Cách mạng sắn ở Việt NamHoa Lúa; Hoa Đất , Hoa Người …Thật biết ơn quý Thầy khoa học nông nghiệp đầu ngành, biết ơn Viện Lúa xây dựng và phát triển

Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Luật anh hùng lao động, Bác Hai Nam Bộ, ‘anh Hai ôm em’  là một điểm đến đặc biệt ấn tượng .

Hoàng Kim chép lưu lại bài thơ ‘Thăm bạn Ô Môn’ của PTS Nguyễn Hữu Ước, Viện trưởng Viện Mía Đường, tại Ô Môn đêm 14 12 1992 cùng bài thơ “Giáo sư Lúa” của ông Nguyễn Khôi là Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc Văn phòng Quốc hội (đã trích dẫn trong bài “Thầy Luật lúa OMCS OM” phần hai) và bốn bài thơ đầu, giữa và cuối tập thơ “Lúa mới” của giáo sư Nguyễn Văn Luật

THĂM BẠN Ô MÔN
Nguyễn Hữu Ước
Thân mến tặng GSTS Nguyễn Văn Luật
và các bạn Viện Lúa ĐBSCL Ô Môn

Ô Môn ơi thế là đã đến
Bao chờ trông nay mới thỏa lòng
Trời Cần Thơ dạt dào gió nắng
Lúa ngập đồng gợn sóng mênh mông …

Giống lai nào bình chọn – tay em
Vần thơ nào dưới trăng anh viết?
Để ta say màu xanh mái tóc
Say con diều nghiêng cánh gọi trăng.

Chất dẻo thơm hạt gạo “Ô Môn”
Những chắt lọc công trình trí tuệ
Nuôi cuộc đời năng mưa vất vả
Xây niềm tin đi tới tương lai.

Gặp đây rồi – Vui quá đêm nay
Ly rượu nồng ấm tình bầu bạn
Không còn cách sông Tiền, sông Hậu
Trái tim ta làm nhịp nối bờ xa …

HOA NGỌC TRÂM
Luat Nguyen

Ngọc Trâm trong trắng thơm lâu
Chẳng khoe sắc thắm, chẳng sầu gió mưa
Trông hoa nhớ mẹ năm xưa
Hoa thanh tao ấy bây giờ còn đây.
11. 1983
Lúa mới, Nguyễn Văn Luật 1997 (bài đầu).

NHÀ NÔNG HỌC
Luat Nguyen

Là nhà nông học của nghề nông
Như những nhà thơ của ruộng đồng
Chữ tâm trong anh đầy sức sống
Tình anh như biển lúa mênh mông.
1961

TRÊN SÂN CHIM BẠC LIÊU
Luat Nguyen
Tặng ngài TLS Ấn Độ N.Dayakar

Anh với tôi trên đài quan sát
Canh rừng xanh, giữ biển Thái Bình
Đàn cò mang nắng bình minh
Ngao du kết bạn tâm tình khắp nơi
1991
Lúa mới, Nguyễn Văn Luật 1997 (bài giữa).

XUÂN
Luat Nguyen

Xuân thời gian, xuân bất tái lai
Hương sắc tình xuân đâu có phai
Sức xuân trong anh từ em đến
Viết bản tình ca -tha thiết – không lời.
22 2 1997
Lúa mới, Nguyễn Văn Luật 1997 (bài cuối)

CHỒI TƠ
Luat Nguyen

Tình em sưởi ấm mùa xuân trẻ!
Mang nắng chan hòa nhuộm sắc hoa!
Anh muốn gom mưa từ bốn bể!
Để em tưới mát những chồi tơ!

Thầy Luat Nguyen nhắn ngày 24 11 2021 “Xin đóng góp với trang mạng của TS Hoàng Kim bài thơ Chồi tơ tôi làm tặng cố bà xã tôi hồi được Nhà nước phong tạng Nhà Giáo ưu tú” xem tiếp tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-luat-lua-omcs-om/.

Tôi dừng lâu trước bài thơ xúc động của anh Nguyễn Hữu Ước viết tại Ô Môn đêm 14 12 1992. Anh Ước thăm Ô Môn chậm hơn nhiều so với chúng tôi, không được làm “lô đối chứng” hoạt động chung chương trình lúa và hệ thống canh tác kết nối từ rất sớm với Viện Lúa Ô Môn.. Giáo sư Vũ Công Hậu nói “Được làm đối chứng là tốt lắm đấy cậu ạ. Cậu phải tâm huyết lắm mới tạo được sự đột phá. Cậu thay đổi thói quen ưa thích và thị trường tiêu dùng của người dân, đặc biệt là đối với lão nông tri điền, để chọn được một giống tốt thực sự trong sản xuất là thật khó. Làm việc thật và bước đi hàng đầu là điều không dễ dàng. Người ta nhiều khi phải ‘né’ đối chứng thật tốt ‘nước sông không phạm nước giếng” đấy cậu ạ. Giáo sư Vũ Công Hậu và anh Nguyễn Huy Ước ngày nay đều là người thiên cổ nhưng những sự quý mến, trân trọng công sức của một thế hệ vàng tâm huyết và lời tâm tình thật đáng quý.

DẠY VÀ HỌC không chỉ là trao truyền kiến thức mà còn thắp lên ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Các sâu sắc của sự học làm người là noi theo gương sáng (mặt tốt) của những bậc thầy minh triết, phúc hậu, tận tâm với Người với Đời. Sức lan tỏa của một người Thầy là tình yêu thương con người, sức tập hợp và cảm hóa. Thầy Nguyễn Văn Luật trở thành nhân vật lịch sử của em để đón nhận mọi sự khen chê của đời thường, nhưng riêng em luôn nhớ về Thầy với những điều cảm phục ngưỡng mộ”.

Thầy Luật lúa OMCS OM một thời sôi nổi

Hoàng Kim

Video nhạc tuyển
Hạt gạo làng ta – Ca nhạc thiếu nhi Việt Nam
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Chuyện thầy Tôn Thất Trình

CHUYỆN THẦY TÔN THẤT TRÌNH
Hoàng Kim

Tôi noi theo dấu chân những thầy tôn kính Lương Định Của, Mai Văn Quyền, Tôn Thất Trình, Norman Borlaug để làm nhà khoa học xanh Cây Lương thực.

Thật may mắn cho tôi trong hơn mười năm cuối, tôi được về lại Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh dạy học môn Cây Lương thực, trọn con đường thầy nghề nông chiến sĩ. “Bao năm Trường Viện là nhà. Lúa ngô khoai sắn đều là thịt xương. Một đời người một rừng cây. Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Trường TH PT Lương Thế Vinh (Trường THPT số 1 Quảng Trạch) là nôi trưởng thành của tôi từ khi là sinh viên nông học, ra đi khoác áo lính cho sự thống nhất toàn vẹn Tổ Quốc, sau về làm nhà nghiên cứu nông học gần ba mươi năm và cuối cùng trở thành người thầy nghề nông. Thật hết sức thân thương khi mỗi ngày, tôi được gần gũi chiếc bàn kỷ vật thầy Tôn Thất Trình và gian phòng làm việc của Thầy với môn học Cây Lương thực. Di sản thầm lặng này đã giúp tôi cơ hội cao quý kể lại chuyện cổ tích người lớn, thầy Tôn Thất Trình, Hiệu trưởng 1964-1967, một thuyền trưởng Trường tôi. của một thời kỳ. Bài viết Chuyện thầy Tôn Thất Trình liên kết bàii “Thầy bạn là lộc xuân“. Tôi chưa được học thầy Trình nhưng cuộc đời, việc làm, trang sách và chiếc bàn kỷ vật của thầy mà tôi tiếp xúc hàng ngày ám ảnh tôi đến lạ. Thầy Tôn Thất Trình trong mắt tôi là người “sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách”. Trong bài “Thầy bạn là lộc xuân“ tôi đã giới thiệu đôi nét về thầy Tôn Thất Trình, nay xin được tích hợp về đây để bạn đọc khỏi mất công lục lại

THẦY TÔN THẤT TRÌNH DI SẢN

Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ và từ trần tại đây, ngày 11 tháng 7 năm 2021, nhằm ngày 2 tháng 6 năm Tân Sửu, hưởng thọ 90 tuổi. Thầy đã có nhiều đóng góp thiết thực, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam.

Thầy Tôn Thất Trình làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn giai đoạn 1964- 1967 (là tiền thân Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời, chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng (1).. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome).

Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…

Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngày Việt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báo Việt Nam và blog The Gift.

Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO. Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc”.

‘Thầy Trình di sản lắng đọng’, ‘Chiếc bàn của thầy Trình’, ‘FAO Trình Đạt Ngưu Bổng’, ‘Thầy Trình với lúa cá’, ‘Thầy Trình với The Gift’ là những mẫu chuyện chiêm nghiệm mà tôi thích trích dẫn và kể tại Các lớp học trên đồng .

THẦY TRÌNH VÀ THẦY CỦA

Chuyện này gợi cho tôi nhiều suy tư: Thầy Trình quý trọng thầy Của và thầy Của tìm đến ngay thầy Trình sau ngày Việt Nam thống nhất. Thầy Trình ra đi vì không thể ở lại nhưng sự ứng xử của thầy sau ngày ra đi là một bài học lớn. Thầy Của mất thật sớm, ngay cuối năm 1975, lúc Thầy mới 55 tuổi, còn rất nhiều khả năng cống hiến và chưa được hưởng không khí hoà bình bao lâu. Cuộc đời, số phận, nhân cách và cống hiến của hai người Thầy nghề nông vượt lên khen chê và lắng đọng một di sản.

Sóc Trăng Lương Định Của tôi đã có 9 bài viết (Notes) gồm: Lương Định Của con đường lúa gạo,  Lương Định Của cuộc đời và sự nghiệp; Lương Định Của quê hương và dòng họ;  Lương Định Của những năm tháng tuổi trẻ; Lương Định Của luồng gió từ Hà Nội; Lương Định Của nhà bác học nông dân;  Lương Định Của chính khách giữa lòng dân; Thầy bạn và học trò Lương Định Của;  Ông bà Của cổ tích giũa đời thường. Trong số này thì Lương Định Của luồng gió từ Hà Nội; liên quan thật nhiều chuyện thầy Trình và thầy Của, mà nay tôi muốn trích dẫn đôi điều về tình bạn tuyệt vời ấy.

Chuyện kể rằng năm 1952, giáo sư Lương Định Của lúc ấy đã đạt được học vị bác sĩ ở Nhật Bản. Đó là một danh vị thực chất cao quý thời đó mà sau này ông kiên quyết từ chối mọi danh xưng tiến sĩ mà người đời khoác cho.  Thầy Lương Định Của đạt được học vị cao, có công ăn việc làm,  vẫn nghĩ tới việc về nước phục vụ, kịp trước khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi hoàn toàn. Luồng gió từ Hà Nội đã thôi thúc ông hướng về Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đang tạo lập. Ông từ chối các cơ hội đi Mỹ, IRRI để tìm cách về nước tham gia kháng chiến nhưng “Đường về Việt Bắc xa xôi lắm!”. Sau nhiều nỗ lực móc nối, chờ đợi, xoay đường này cách khác, Ông đã đưa cả gia đình về Sài Gòn, làm việc một thời gian ngắn ở Viện Khảo cứu Nông nghiệp Sài Gòn, Bộ Canh Nông (nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam), sau đó quá cảnh bưng biền và đầu năm 1954 cả nhà cùng lên một chuyến tàu tập kết ra Bắc

Nhà báo Phan Quang kể câu chuyện Kỷ niệm đời thường về nhà khoa học Lương Định Của đã cho hay: “Hồi còn là sinh viên, ông đã cùng nhiều lưu học sinh Nhật và nước ngoài trong đó có Đặng Văn Ngữ, tham gia các cuộc biểu tình tuần hành phản đối thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Theo như ông còn nhớ, ít nhất có bốn cuộc lớn, ba lần ở Tokyo, và một lần ở Kyoto. Hoạt động chống chiến tranh Việt Nam có thuận lợi là Đảng Cộng sản Nhật Bản hết lòng ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Nhiều Việt kiều ở Nhật nhờ thông qua Đảng Cộng sản Nhật Bản hoặc các tổ chức nhân dân do Đảng lãnh đạo mà giữ được mối liên hệ liên tục với phong trào kháng chiến trong nước.

Qua sự giới thiệu của một người bạn, một mặt Lương Định Của tiếp xúc với các nghị sĩ tiến bộ trong Quốc hội Nhật, nhờ giúp đỡ tạo điều kiện cho ông sớm được trở về vùng tự do nước Việt Nam. Thượng Nghị sĩ Kazami được các bạn Nhật cử đứng ra lo liệu việc này. Mặt khác, Lương viết thư gửi Đại sứ quán ta ở Bắc Kinh bày tỏ mong muốn của mình, và chẳng bao lâu sau nhận được thư Đại sứ trả lời đã chuyển nguyện vọng của ông về nhà. Theo sự hướng dẫn của ông Kazami, mùa hè 1952 Lương Định Của xin thôi việc ở Kyoto, lên thủ đô Tokyo chờ ngày về nước.

Ông xin việc làm ở Sở Nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp Trung ương của Nhật Bản để có thể thu nhập trong thời gian chờ đợi. Đầu những năm 50, sau chiến thắng biên giới, tình hình nước ta rất sôi động. Đảng Lao động Việt Nam đảm nhiệm công khai sứ mệnh lịch sử lãnh đạo toàn dân kháng chiến. Mặt trận Liên Việt thành lập, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết. Các vùng tự do được giữ vững. Chiến tranh nhân dân phát triển mạnh ở vùng sau lưng địch.

Thực dân Pháp ý thức rõ, tiến hành phá hoại kinh tế, gây nạn đói kém, cắt nguồn hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam là một mặt trận có ý nghĩa chiến lược đối với thành bại của chúng trong chiến tranh.Thông tri của tướng De Linarès, tư lệnh chiến trường Bắc Bộ gửi các cấp dưới đề ngày 14-3-1951 hướng dẫn cụ thể như sau:

“… Về phá hoại, có hai cách thực tế có thể áp dụng: a) làm ướt thóc hoặc bắt dân phải để thóc lúa ngoài trời trong mùa mưa ẩm. Tuy nhiên, để chắc chắn hạt gạo sẽ thối hẳn, phải dấp nước cho ướt thóc trong thời gian bốn mươi tám giờ. Ngoài ra, để cho sự phá hoại bảo đảm hiệu quả chắc chắn của nó, trong thời gian ấy, phải canh giữ không để cho dân chúng đến lọc lấy phần thóc còn tốt mang đi cất giấu; b) những kho thóc quan trọng nào phát hiện được, cho tưới xăng hoặc dầu nặng vào…” .

Tháng Chín năm 1952, ông Kazami báo cho Lương Định Của biết, có một tàu buôn Nhật Bản sắp sang Hồng Công rồi từ đó đến thành phố Thiên Tân của Trung Quốc. Ông đề nghị Lương đáp chuyến tàu ấy. Vào được Trung Quốc rồi thì rất dễ dàng về Việt Bắc vì biên giới Việt Trung đã thông, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã kiến lập quan hệ ngoại giao; giữa hai nước có tình hữu nghị sâu sắc. Ông nói đã nhờ Hội Hoa kiều tại Nhật Bản làm các thủ tục cần thiết cho gia đình Lương nhập cảnh Trung Quốc, ông cũng đã có liên hệ để thông báo với Chính phủ Việt Nam về chuyện này.

Lương Định Của vào Hồng Công, đến biên giới Cửu Long trình giấy giới thiệu của Hội Hoa kiều tại Nhật Bản. Biên phòng Trung Quốc cho biết chưa nhận được chỉ thị. Các bạn khuyên Lương nên trở lại Hồng Công lấy visa nhập cảnh. Hành lý có thể cho chuyển trước sang biên giới, đưa về thành phố Quảng Châu. Vài hôm nữa gia đình Lương đến thì có thể vào Trung Quốc, đến thẳng Quảng Châu luôn.

Trở lại khách sạn, Lương tìm cách liên hệ với Đại sứ quán ta ở Bắc Kinh, vừa gọi điện thoại vừa gửi thư song chờ mãi không thấy hồi âm. Tiền túi cạn dần: phòng trọ khách sạn rất đắt. Hàng ngày bà Của xuống phố mua bánh mì cho cả nhà ăn. Lúc này mới thấy hết bản lĩnh của người phụ nữ ấy. Ông lo cuống lên, bà chỉ cười: “Không sao, để tính xem”. Về đến Việt Nam ông thú thật với bạn bè, nếu không có bà thì với hai đứa con nhỏ, ông chẳng biết đường nào xoay xở trong những ngày quá cảnh Hồng Công. Thái độ bình tĩnh và đầy thông cảm của bà có tác dụng trấn an ông.

Sau một tuần chờ đợi trong lo âu, xuất hiện một người lạ mặt ăn mặc sang trọng. Ông nói: nếu Lương có giấy giới thiệu của Ngân hàng Trung Hoa thì ông có thể giúp cho qua biên giới. Lương Định Của chẳng có giấy tờ gì khác ngoài thư giới thiệu của Hội Hoa kiều tại Nhật Bản. Người lạ mặt khuyên, nếu vậy thì nên theo ông về Macao, ở nhờ nhà con trai ông một thời gian, chờ xin phép nhập cảnh.

Hồng Công là điểm quá cảnh, khách không được phép ở lại lâu. Lương Định Của hết sức phân vân. Người này ông chưa từng quen biết. Trong túi ông lại không có tiền, trừ gói hạt giống dưa. Đến áo quần thay hằng ngày cũng không có đủ vì các valy đã gửi hết vào Trung Quốc rồi.

Ông quyết định hẵng trở về Sài Gòn, rồi tìm cách ra vùng tự do sau. Ông đánh điện cho một người bạn ở Sài Gòn, báo tin mình đang trên đường về nước, đến Hồng Công thì mất hết đồ đạc, nhờ bạn đặt mua vé máy bay cho hai người lớn hai trẻ con, và cho vay tạm hai nghìn USD.

Ngay chiều hôm ấy, nhận được ngân khoản người bạn gửi đến thông qua một ngân hàng lớn. Có tiền, có vé trong tay, ông còn nấn ná lại thành phố này ba tuần nữa, hy vọng có tin tức Đại sứ quán ta tại Bắc Kinh. Cuối cùng hết hạn quá cảnh mới đáp máy bay về Sài Gòn.

Chính quyền Sài Gòn nồng nhiệt đón bác sĩ nông học Lương Định Của du học từ Nhật Bản về. Bộ trưởng Nông Lâm mời ông đến cơ quan, mở rượu whisky chúc mừng, và ngỏ ý mời ông làm thứ trưởng. Lương tìm cách thoái thác khéo. Ông khiêm tốn nói mình xa đất nước đã lâu, xin cho làm việc hợp đồng một thời gian để quen thêm thung thổ và bạn bè, rồi mới dám chính thức nhận nhiệm vụ.”

“Gia đình ông sống cùng gia đình người em trong ngôi nhà ở Đa Cao. Em gái ông có chồng đi kháng chiến, thỉnh thoảng lại kiếm cớ vắng nhà. Ông biết chị ra bưng thăm chồng. Một hôm, vào ngày chủ nhật, ông đang ngồi chơi trước cửa thì thấy một người ăn vận có vẻ như vừa từ nông thôn ra, đi thẳng vào nhà sau nói chuyện với cô em gái. Khách về, Lương hỏi ai vậy, cô em trả lời: “Người ta muốn mời anh ra vùng kháng chiến đấy”. – Vậy em trả lời họ thế nào? Cô em cười: “Em nói, anh vợ con tùm lum thế kia thì làm sao đi kháng chiến được”. Lương Định Của lặng im, vì dự định từ Nhật Bản về thẳng miền Bắc không thành, ông không hề hé răng cho ai biết.

Hiệp định Genève về Đông Dương (1954) được ký kết. Trong giới trí thức Sài Gòn lại một lần nữa xôn xao – tuy thầm lặng – về việc ra đi hay ở lại. Nơi cơ quan Lương làm việc có một chị tên là B., em gái một bác sĩ nha khoa vốn là bạn của ông sau này cũng tập kết ra Bắc và cùng gặp lại nhau tại Hà Nội, có lần hỏi giọng nửa đùa nửa thật: “Nè, Chính phủ Việt Minh kêu gọi trí thức ra Bắc đấy, anh có đi không?”.

Lương nghiêm trang trả lời ông muốn đi. Chị B. bắt liên lạc, bố trí kế hoạch cho ông rời Sài Gòn. Chờ đợi một thời gian khá lâu mới có hồi âm. Lương Định Của nói với các em, ông muốn cho gia đình đi nghỉ mát ở Ô Cấp (Cap Saint Jacques – Vũng Tàu ngày nay) mấy hôm. Nửa đường, theo mật hiệu “cứ theo người có chửa mà đi”, ông đổi xe, đổi hướng, theo người phụ nữ ấy về thành phố Mỹ Tho. Từ đấy lại đổi xe khác, có người khác đón ra bưng biền.

Lương Định Của được nhà lãnh đạo Phạm Hùng tiếp ngay khi vừa đến cứ. Anh Bảy trò chuyện thân tình, và cho ông một bộ quần áo bà ba. Năm 1954, qua liên lạc biệt động, gia đình giáo sư gửi thư xin phép đi tập kết. Anh Hồng Việt kể lại: “Từ Sài Gòn, theo biệt động đưa về Cần Thơ, xuống căn cứ Cà Mau và đi tàu Ba Lan ra Sầm Sơn, Thanh Hoá. Ấn tượng đầu tiên là hưởng luôn một trận gió mùa đông bắc. Nhưng ngày hôm sau là 1.1.1955, gia đình được chứng kiến ngày lễ tưng bừng”.

Luồng gió từ Hà Nội là bước ngoặt của nhà nông học Lương Định Của.

Theo hồi ức của thầy Phan Gia Tân, giảng viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, thì sau ngày Việt Nam thống nhất 30.4.1975, giáo sư Lương Định Của đã đi tìm Giáo sư Tôn Thất Trình ở Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn (nay là Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh). Thầy Của tiếc không gặp được thầy Trình vì thầy đã ra đi trước đó.

Tấm lòng tri ngộ của họ là dấu ấn “biết mình, biết người” của hai trí thức lớn…

CHIẾC BÀN KỶ VẬT THẦY TRÌNH

Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có di sản biểu tượng là tòa nhà chữ U (nay gọi là tòa nhà Phượng Vĩ) do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Trong tòa nhà chữ U này có chiếc bàn của thầy Tôn Thất Trình ở lầu 1 tại Phòng Cây Lương thực Rau Hoa Quả thuộc Khoa Nông học. Đây cũng là phòng cuối nối liền gần gũi nhất với khu Thư Viện (cũ). Tầng dưới của Thư Viện là Hội Trường Lớn. Góc phải đầu nhà chữ U nay còn bảng đồng lưu danh Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thu là Khôi Nguyên La Mã.

Viện Khảo cứu Nông Lâm Đông Dương được thành lập ngày 2 tháng 4 năm 1925 tại Sài Gòn là Viện nghiên cứu khoa học nông lâm nghiệp đầu tiên và duy nhất tại Đông Dương, nay là Viện Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam là nơi thầy Tôn Thất Trình có nhiều năm làm việc ở đấy. Thầy Trình đã tham gia dự án thực hiện hợp tác nghiên cứu lúa với Đài Loan giai đoạn 1950-1957, gồm các ông Trương Văn Hiếu, Phạm Huy Lân, Tôn Thất Trình, Trần Thiện Tín, Trần Bình Cư, Đoàn Kim Quan. Hai tác giả Bùi Minh Lương, Tôn Thất Trình, Tổng Nha Canh Nông đã biên soạn sách “Đất Nông nghiệp Việt Nam” – Bắc Kontum (1959) rất công phu.

Thầy Tôn Thất Trình làm Hiệu Trưởng Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn từ năm 1964 đến năm 1968. Trước thầy Trình là thầy Đặng Quan Điện (1962-1964). Tiền thân Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn là Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao Bảo Lộc (1955-1962), Hiệu trưởng đầu tiên là thầy Vũ Ngọc Tân (1955-1958),và thầy Phan Lương Báu (1958-1962). Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn sau này được thay thế bằng Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp Sài Gòn (1968-1972), Học Viện Quốc Gia Nông nghiệp Sài Gòn (1972-1974) và  trở thành Trường Đại học Nông nghiệp trực thuộc Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (1974 -1975)  do thầy Lê Văn Ký làm Hiệu trưởng (1974-1975).

Giáo sư Tôn Thất Trình vẫn trực tiếp giảng dạy môn cây lương thực cho dù hai lần Thầy làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, tên Trường thay đổi nhiều lần và xã hội quá nhiều biến động. Chiếc bàn to quá khổ (dài 1,8m rộng 1,2m, gỗ tốt, chắc, nặng, nằm ở phòng cuối góc bên phải của khối nhà. Cái bàn này có lẽ vì quá to và nặng, không dễ mang ra khỏi cửa, phòng lại là góc khuất làm việc dạy học của người thầy “full professer” (giáo sư) Hiệu trưởng đầu tiên, mà phòng không phải ở tâm điểm chính diện phong thủy, nên nơi này và chiếc bàn này 40 năm qua có lẽ vì vậy mà rất ít thay đổi chỉ mấy lần tách nhập Bộ môn.

Chuyện tôi được may mắn về phòng này và được nghe kể lại là một câu chuyện dài …

THẦY TRÌNH NGÀY RA ĐI

Khi thời cơ lịch sử thống nhất Việt Nam xuất hiện, ngày 7 tháng 4 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ Tổng Hành Dinh Hà Nội đã phát đi mệnh lệnh tác chiến nổi tiếng đến toàn mặt trận “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!”. Năm cánh quân lớn của lực lượng giải phóng đã nhanh chóng áp sát gần thành phố. Ngày 29 tháng 4 năm 1975 Chiến dịch Gió lốc (Cuộc hành quân Frequent Wind) Những người Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam. Cũng ngày này, Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh chiếm đảo Trường Sa từ Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hoàn thành tiếp quản các đảo thuộc quần đảo Trường Sa do Việt Nam Cộng hòa chiếm giữ. Sài Gòn trước ngày thất thủ hoảng loạn cực độ.  Trừ một số quan chức và tướng lĩnh cao cấp có điều kiện và thế lực đã kiếm cớ rời đi trước đó. Số còn lại hoang mang tính toán. Nhiều người bỏ nhiệm sở lánh lo việc riêng. Thầy Tôn Thất Trình làm gì trong ngày này? Theo lời kể của thầy Phan Gia Tân thì giáo sư Tôn Thất Trình vẫn đến trường trước ngày Sài Gòn sụp đổ.

Chặng đường lịch sử 90 năm (1925 – 2015) của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (Bùi Chí Bửu, Đào Huy Đức, Trần Thị Kim Nương và cộng tác viên 2015) và Kỷ yếu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh 60 năm (1955- 2015) xây dựng và phát triển (Dương Duy Đồng, Bùi Xuân Nhã, Nguyễn Phú Hòa, Bùi Văn Miên và cộng tác viên)  ghi nhận rằng: Trường Cao Đằng Nông Lâm Súc Sài Gòn (1962-1968) thầy Tôn Thất Trình đã làm Hiệu trưởng năm 1964-1967 sau bác sĩ thú y Đặng Quan Điện (1962- 1964). Thầy Tôn Thất Trình làm Tổng trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa lần thứ nhất năm 1967. Thầy cũng kiêm nhiệm Giám đốc Nha Khảo cứu và Sưu tầm Nông Lâm Súc (thông tin đang kiểm chứng) và thầy làm Tổng Ủy Trưởng Kế Hoạch cuối năm 1968 đến cuối năm 1969 thì giải nhiệm. Thầy Trình được Hội Đồng Giảng Huấn Cao Đẳng Nông Lâm Súc bầu làm giáo sư hạng nhất và được Bộ Giáo Dục Quốc Gia nền đệ nhị Cộng hòa bổ nhiệm giáo sư chính thức. Năm 1973 thầy nhận chức Tổng trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa lần thứ hai nhưng Thầy Trình vẫn làm  giáo sư ở Trường Đại Học Nông nghiệp thuộc Viện Đại Học Thủ Đức (1974-1975) Thầy dạy Cây Lương thực, Nông học Đại cương, Mía Đường và Cây ăn trái. Trường Đại Học Nông nghiệp lúc đó do thầy Lê Văn Ký (1974-1975) làm Hiệu trưởng.

Anh Vo Hoang Nguyen có trao đổi rằng Giảng đường 45 Cường Để đẹp và vui hơn. Trong khi anh Nguyễn Huệ Chí Thái thì đánh giá việc hình thành Viện Đại Học, Làng Đại Học và di chuyển Trường từ 45 Cường Để lên Thủ Đức là thể hiện tầm nhìn của các Hiệu trưởng thưở ấy. Tôi đồng tình với nhận định của anh Nguyễn Huệ Chí Thái và trở lại hồi ức Thầy Tôn Thất Trình ngày ra đi

Thầy Phan Gia Tân kể: “Thầy Tôn Thất Trình gọi tôi lên. Thầy rất thương tôi. Thầy hỏi: Cậu tính sao? (đi hay ở?). Thầy Tân xin ý kiến thầy Trình. Thầy nói: Gia cảnh và năng lực cậu vậy. Cậu ráng ở lại làm thầy là được. Thầy thì chắc không ở lại nổi vì đến hai lần làm Tổng trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa (Thời nay, có nghĩa là hai lần làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT – Hoàng Kim chú giải), lại là dòng họ Nguyễn Phúc (Hoàng tộc) rồi lại làm Hiệu trưởng của Trường này với hàm Giáo sư gốc.  Sự dính líu với chế độ cũ sâu thế, làm sao yên mà dùng. Hãy coi gương cách mạng Nga xử sạch nhà và thân tín  Nga hoàng Nikolai II  còn có sót ai đâu?”. Thầy trầm tư lâu, thật lâu. Tôi cứ ngồi yên vậy không dám hỏi. Thốt nhiên, thầy vỗ bàn và tôi nghe một câu nói buồn thẳm: Chúng nó chạy hết rồi! Sau đó, thầy Trình đứng dậy, lầm lũi về. Ít hôm sau ngày Việt Nam thống nhất 30.4.1975, giáo sư Lương Định Của đã đi tìm Giáo sư Tôn Thất Trình ở Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn (nay là Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh), có gặp tôi (thầy Phan Gia Tân). Thầy Của tiếc không gặp được thầy Trình vì thầy đã ra đi trước đó”.

Thầy Trình đi đâu? Trong cơn lốc của các sự biến thầy Trình không đi Pháp, không đi Mỹ, cũng chẳng sang Đài Loan Trung Hoa Dân Quốc, cũng không đi Nhật  là những nơi thầy có nhiều mối quan hệ từ trước mà đi sang FAO (Roma). Giáo sư Tôn Thất Trình đã làm Tổng Thư ký Chương trình lúa gạo toàn cầu và bằng uy tín chuyên môn của mình trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh.

FAO

Giáo sư Tôn Thất Trình, tiến sĩ Trần Văn Đạt, tiến sĩ Nguyễn Văn Ngưu, phó giáo sư tiến sĩ Bùi Bá Bổng là những người Việt ở FAO (Tổ chức Lương Thực Nông nghiệp Quốc tế. FAO Bốn người Việt ở FAO đều nguồn gốc từ Khoa Nông Học Trường Đại Học Nông Lâm Hồ Chí Minh ngày nay. FAO quá danh tiếng gắn với tên bốn người thầy thành một chùm tên năm chữ mà các thầy bạn nước ngoài hay gọi làm tăng thêm sự thân thiết quý trọng chứ không làm giảm sự tôn kính. Tôi đã đến FAO Rome năm 2000 trong hội thảo của FAO về tầm nhìn toàn cầu cây sắn. Tôi nhớ mãi sự thân tình của tiến sĩ Trần Văn Đạt đối với tôi những ngày tại đó. Thầy Tôn Thất Trình, tiến sĩ Trần Văn Đạt và tiến sĩ Nguyễn Văn Ngưu nay đều đã nghỉ hưu. PGS. TS. Bùi Bá Bổng hoàn thành nhiệm vụ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam ( 2001-2013) từ ngày 3 tháng 11 năm 2013 sau đó làm chuyên gia cao cấp về sản xuất lúa gạo tại FAO- RAP trước khi nghỉ hưu. Anh Bùi Bá Bổng học khóa 13 cùng tuổi với anh Bùi Chí Bửu, Diệp Kỉnh Tần, Đào Tấn Lộc, Dương Văn Chín … và tương đương tuổi tác cũng như lớp học với các anh Trần Văn Minh, Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Hữu Bình, Lê Xuân Đính, Đỗ Khắc Thịnh , Phạm Sĩ Tân, Nguyễn An Tiêm ở lớp chúng tôi Trồng trọt 4 (Khoa Nông Học) Trường Đại Học Nông nghiệp 2 Hà Bắc, tiền thân của Đại học Nông Lâm Huế sau này. (Tôi HK dường như là bạn chung khóa với các anh chị khóa 13-15 ở Trường mình, vì có thời gian 1971-1976 ở quân đội, từng học năm lớp TT4, TT10, Trường Đại Học Nông nghiệp 2 Hà Bắc và TT2A, TT2B, TT2C của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh)

Viện Lúa Việt Nam có câu chuyện thú vị Giao ban cây lúa của bốn đời Viện Trưởng gồm GS. Nguyễn Văn Luật, PGS. Bùi Bá Bổng, GS. Bùi Chí Bửu và TS. Lê Văn Bảnh thì ở FAO Rome cũng có sự Giao ban cây lúa của bốn đời Chánh chuyên gia, Thư ký Điều hành, Thư ký Kỹ thuật của Ủy ban Lúa Gạo Quốc tế, đó là GS. Tôn Thất Trình, TS. Trần Văn Đạt, TS. Nguyễn Văn Ngưu và PGS. TS. Bùi Bá Bổng. Một sự so sánh thật thú vị chuyển tầm nhìn từ tầm nền nông nghiệp quốc gia đến nền nông nghiệp toàn cầu.

Chúng ta tự hào về những người Việt lỗi lạc ở FAO,  những diện mạo lớn của con người Việt Nam hội nhập và đóng góp tài năng, nhân cách vào vị trí chăm lo hột gạo, chén cơm ngon cho người dân không chỉ ở Việt Nam mà cho Tổ chức Lương Nông Quốc tế. Đó là người Việt, hạt gạo Việt và con đường lúa gạo Việt Nam vươn ra thế giới.

THẦY TRÌNH NGÀY TRỞ VỀ

Điếu văn của giáo sư Thái Công Tụng tiễn thầy Tôn Thất Trình ngày trở về vĩnh hằng:

“Trước linh sàng giáo sư Tôn Thất Trình, xin thay mặt các bằng hữu xa gần từ các cơ sở giáo dục Đại học Nông nghiệp Sài Gòn, v.v, tôi thành kính chia buồn với gia đình về sự ra đi vĩnh viễn của giáo sư Tôn Thất Trình.

Thầy Tôn Thất Trình trong nhiều năm là Giám Đốc Trung tâm Giáo dục Nông nghiệp Sài Gòn và đã đào tạo rất nhiều sinh viên . Với cương vị Giám Đốc của Trường, giáo sư Trình đã một lòng đem khoa học về với ruộng đồng Việt Nam, gửi cán bộ giảng dạy đi tiếp tục đào tạo ở Mỹ, tạo nên một cơ sở vững chắc cho Viện những năm sau này.

Hôm nay, giáo sư Tôn Thất Trình đã đi thật xa, lìa bỏ các đồng môn, đồng nghiệp, môn sinh, đưa thầy vào giấc ngủ miên viễn, sang nước Nhược, non Bồng. Cát bụi, hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, thầy Trình đã lìa bỏ thế giới ta bà này sang thế giới tịnh độ bên kia để hưởng an bình. Ta là cát ta sẽ về với bụi Trả trần gian những cay ðắng muộn phiền Hồn ta sẽ về nơi cao xanh ấy Không còn buồn lo lắng chốn trần ai!

Quả thật, thầy Tôn Thất Trình đã xuôi tay nhắm mắt. Tuổi dương gian gần 90 năm, dài mà ngắn, dài vì cuộc đời trôi nổi, vận nước điêu linh, qua nơi định cư đất Cali ngày nay. Chỉ một bước ngắn, chúng ta chuyển từ cõi này qua cõi khác. Ai cũng ngại ngần trước nhịp bước vô định này. Cái bước dùng dằng từ một chỗ đứng cân bằng trên mặt đất sang chỗ chênh vênh mây trời là cái bước mỗi con người phải trải qua. Cái điều chắc chắn sẽ xảy ra này, chúng ta không muốn nghĩ tới. Càng thêm tuổi, chúng ta càng làm lơ không muốn nghĩ tới. Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…

Hình tướng vốn theo lẽ vô thường: nay còn, mai mất, theo luật của Tạo hóa, tấm thân tứ đại của anh Tôn Thất Trình sẽ trở về với cát bụi, nhưng trong tâm tưởng của bạn bè xa gần, không thể nhạt nhòa những hình ảnh của thầy Trình. Con người phát sinh từ hư vô như một ánh sao sa trong trời vắng, tự tạo lấy phẩm giá cho mình rồi lại trở về với hư vô nhưng sẽ hân hoan mãn nguyện vì đã gieo một vệt sáng cho đời, dù chỉ là một vệt sáng cô đơn trong trường dạ tối tăm của trời đất: Giáo sư đã để lại cho hậu thế nhiều sách về Nông học và Hoa Màu, Cây ăn trái v.v…

Xin Đức Phật từ bi đưa linh hồn Thầy Trình về Cõi Phật: Nam Mô Quan Thế Âm Bồ tát; Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát; Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ tát”

*

Kính tiễn Thầy đi xa
Thăm thẳm trời li biệt
Những người Việt ở FAO
Thầy rạng ngời phẩm tiết
Chuyện thầy Tôn Thất Trình
Nông Lâm đời ghi nhớ
Lời Thầy dặn Thung dung
Gốc Tùng dưới đáy khe
Quà Tặng Thầy gửi lại
Nguyễn Phước đức lâu bền

Tôi đã kể câu chuyện Việt Nam con đường xanh, Trường tôi nôi yêu thương, Về Trường để nhớ thương; Một niềm tin thắp lửa, Sóc Trăng Lương Định Của, Thầy bạn là lộc xuân, Thầy bạn trong đời tôi, Những người Việt ở FAO. Nay lưu Chuyện thầy Tôn Thất Trình để kính tặng quý thầy cô giáo, các bạn sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, gia đình Nông nghiệp và những người quan tâm.

Chuyện Thầy Tôn Thất Trình lắng đọng tâm huyết.

Trường tôi thấm sâu bài học lịch sử.

Tài liệu dẫn về thầy Tôn Thất Trình:

(1) KỶ YẾU 65 NĂM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH link tại https://kyyeunonglam.blogspot.com/2020/11/ky-yeu-65-nam-truong-ai-hoc-nong-lam.html Ban biên tập Kỷ yếu gồm: Ban chỉ đạo PGS TS Huỳnh Thanh Hùng Phó Hiệu trưởng phụ trách, Trưởng ban; PGS TS Nguyễn Tất Toàn Phó Hiệu trưởng Phó ban PGSTS Nguyễn Phú Hòa Trưởng phòng Quản lý NCKH Thành viên; Ban biên tập PGS TS Nguyễn Tất Toàn, Phó Hiệu trưởng, Trưởng ban; PGS.TS Nguyễn Phú Hòa, phòng Quản lý NCKH, Phó ban; PGS TS Nguyễn Trí Quang Hưng, phòng Quản lý NCKH, thành viên; PGS TS Phan Tại Huân, khoa Công nghệ Thực phẩm, thành viên; TS Nguyễn Thị Mai, khoa Khoa học, thành viên; TS Trần Văn Thịnh, khoa Nông học, thành viên; TS Nguyễn Ngọc Thùy, phòng Hợp tác Quốc tế, thành viên; ThS Võ Ngàn Thơ, phòng Quản lý chất lượng, thành viên, Lê Văn Sony Đoàn Thanh niên, thành viên ; Đinh thị Mỹ Loan, phòng Quản lý NCKH, thành viên; Tô Tấn Long, phòng Quản lý NCKH, thành viên.

PGS TS Huỳnh Thanh Hùng đã trang trọng viết LỜI GIỚI THIỆU

Năm 2020 là mốc thời gian quan trọng, đánh dấu chặng đường 65 năm xây dựng và phát triển của Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (1955-2020). Trong suốt hành trình đó, dù trải qua biết bao thay đổi, Nhà trường vẫn giữ vững vị thế và sứ mệnh của mình, từ một chiếc nôi nông nghiệp đã và đang phấn đấu trở thành một trường đại học nghiên cứu, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực với chất lượng cao, có vị thế trong nước và quốc tế. Vị thế đó thể hiện bằng những kết quả xuất sắc về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật nông lâm ngư nghiệp, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế.

Sứ mệnh lớn lao ấy đã được Thầy và Trò bao thế hệ của Nhà trường tiếp nối, nuôi dưỡng, giữ gìn, gầy dựng và vun đắp. Từ những mầm tri thức đầu tiên của các bậc tiền nhân gieo xuống, những thế hệ nối tiếp của Nhà trường đã và đang tiếp tục gìn giữ, bảo tồn và phát huy những thành quả đạt được. Nhờ đó, màu xanh Nông Lâm ngày càng vươn tỏa mạnh mẽ đi khắp mọi miền Tổ quốc, căng đầy sức sống, tỏa bóng mát cho thế hệ tương lai. Nó thể hiện bằng những đổi thay tích cực từ chất đến lượng, từ cơ sở vật chất, cảnh quan đến nguồn nhân lực ngày càng lớn mạnh, chất lượng đào tạo ngày càng nâng cao. Đó cũng là thành quả, là niềm tự hào, là tình thân, là sự kết nối của các thế hệ một lòng vì ngôi nhà chung mang tên Nông Lâm.

Trong bối cảnh mới, đứng trước những thách thức mới, trước yêu cầu đổi mới không ngừng, hội nhập quốc tế sâu rộng, trước sự cạnh tranh mạnh mẽ trong giáo dục, cán bộ, giảng viên, viên chức Nhà trường nhiều thế hệ vẫn luôn vững tin vào sứ mệnh ấy, vẫn không ngừng phấn đấu, nỗ lực vượt qua khó khăn, đóng góp cho sự phát triển chung của Nhà trường. Minh chứng sống động cho thành quả đó là sự khang trang hơn về cơ sở hạ tầng, sự hài hòa của kiến trúc cảnh quan, sự đồng lòng, quyết tâm và lớn mạnh của tập thể. Có thể nói, Nông Lâm ngày hôm nay đã khoác lên mình một diện mạo mới đẹp đẽ, văn minh và xứng tầm hơn. Diện mạo ấy thấm đẫm mồ hôi, ghi dấu công sức của một tập thể năng động, đoàn kết, nghĩa tình, là sự tiếp nối nền tảng vững chãi của thế hệ trước, sự đóng góp, hỗ trợ, đồng hành tích cực của bao thế hệ học viên, sinh viên, các cơ quan, đơn vị trong và ngoài nước cũng như sự quan tâm của lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, và cơ quan ban ngành các cấp.

Trân trọng những thành quả đã đạt được của các thế hệ cha anh đi trước, hướng đến những mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách trong tương lai, những cơ hội đổi mới, sáng tạo trong bối cảnh tự chủ đại học và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, Đảng ủy, Hội đồng Trường, Ban Giám hiệu cùng toàn thể cán bộ viên chức Nhà trường quyết tâm đoàn kết, đồng lòng giữ gìn truyền thống tốp đẹp, tiếp tục nỗ lực xây dựng Nhà trường trở thành trường đại học nghiên cứu, là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế, là địa điểm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nổi bật, coi đó vừa là cơ hội vừa là thách thức để tập thể lãnh đạo Nhà trường cải tổ toàn diện các mặt, nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh nhằm mang đến môi trường sáng tạo và tiệm cận quốc tế trong công tác giảng dạy, học tập, đào tạo và nghiên cứu khoa học

Nhân kỷ niệm 65 năm thành lập, Nhà trường xuất bản Kỷ yếu “65 NĂM KẾT NỐI VÀ PHÁT TRIỂN” để nhắc về truyền thống đáng tự hào, lưu giữ những kỷ niệm đẹp, trải lòng bao cung bậc cảm xúc và cũng để giới thiệu, tri ân những thành quả đã đạt được của thế hệ đi trước, ghi nhận những đóng góp, nỗ lực của thế hệ hôm nay trong tiến trình xây dựng và phát triển Nhà trường.

Thay mặt Đảng ủy và Ban Giám hiệu, tôi xin ghi nhận và trân trọng cảm ơn những đóng góp của các thế hệ viên chức, giảng viên, học viên, sinh viên cũng như sự giúp đỡ, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đối với Nhà trường trong suốt thời gian qua.

Tôi xin được bày tỏ niềm tin với truyền thống tốt đẹp, với nền tảng vững chắc của 65 năm qua, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ của Nhà trường sẽ không ngừng gặt hái những thành tựu mới, xứng đáng với niềm tin của xã hội và đất nước đã trao cho.

Cuối cùng, tôi xin kính gửi đến toàn thể Quý vị lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Rất mong và hân hạnh tiếp tục đón nhận sự hỗ trợ, đồng hành, hợp tác nhiều hơn nữa của tất cả Quý vị trong thời gian tới.

Trân trọng cảm ơn!


PGS.TS. Huỳnh Thanh Hùng
Phó Hiệu trưởng phụ trách
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
:

HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUA CÁC THỜI KỲ , bài viết của TS. Trần Đình Lý Phó Hiệu trưởng , trong tập Kỷ yếu này, tại mục nhân vật và sự kiện (từ trang 95 đến trang 134); đã viết: .

“Trong một trường đại học, Hiệu trưởng được ví như “thuyền trưởng” của một con thuyền. Mỗi một chính sách, chiến lược của Hiệu trưởng đưa ra mang tính quyết định đến sự tồn vong, hưng thịnh của Nhà trường. Trường đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh trải qua 65 năm hình thành và phát triển, với gần 20 thế hệ Hiệu trưởng ghi dấu thành quả sự phát triển của Nhà trường trong từng giai đoạn – luôn tự hào vì sự lớn mạnh của mình, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong nước và quốc tế”..

(2) Chuyện thầy Tôn Thất Trình là ghi chép nhỏ của Hoàng Kim về thầy Tôn Thất Trình, chuyện chi tiết rõ thêm ngoài kỷ yếu. Đây là những ghi chép cá nhân, chỉ có ít trích đoạn đã lưu tại kỷ yếu 65 năm và 55 năm khoa Nông học Tôi (HK) cảm phục, tâm đắc về nhân cách, trí tuệ, sự dạy và học của Thầy nên lưu lại Việc chép lại những ghi chú nhỏ (Notes) không nỡ quên này là noi theo sự học Lê Quý Đôn tinh hoa

Chuyện thầy Tôn Thất Trình: Hoàng Kim cảm ơn thầy Nguyễn Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Văn học đã đánh giá trân trọng: “Kính trọng những tấm gương trí thức….”. Đọc lại và suy ngẫm PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ 21 của Chủ biên Trần Văn Đạt học trò thầy Tôn Thất Trình và đồng sự, 22 chương, có thầy Tôn Thất Trình Thái Công Tụng và nhiều chuyên gia lỗi lạc khác, Sách này thật tuyệt vời. Tiến sĩ Trần Văn Đạt kế nghiệp thầy Tôn Thất Trình làm chánh chuyên viên, tổng thư ký lúa gạo ở FAO (Tổ chức Lương Thực Nông nghiệp Quốc tế), sau đó lại trao truyền tiếp cho tiến sĩ Nguyễn Văn Ngưu, tiếp đến thứ trưởng Bộ NN& PTNTVN phó giáo sư tiến sĩ Bùi Bá Bổng tiếp tục chăm lo chương trình lúa gạo toàn cầu, Kim Hoàng thực sự xúc động! Bài viết KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM của giáo sư Tôn Thất Trình chương 1 với bài viết MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BÊN VỮNG của giáo sư Thái Công Tụng chương 2 trong tập sách trên in năm 2010 đến nay vẫn thực sự nóng hổi các kiến nghị quyết sách tinh hoa chọn lọc. . .

The Gift Về GS Tôn Thất Trình, đã viết, Báo Chí và Tác phẩm: “Trước khi về hưu trí ở Irvine , Ca Li, Hoa Kỳ, đã bắt đầu cộng tác với tuần báo khoa học kỹ thuật Sài Gòn. Sau đó tuy chưa bao giờ trở về lại Việt Nam, tiếp tục cộng tác thêm với nguyệt san Hoa Lan Cây Cảnh Sài Gòn, viết bài cho các tạp chí Dòng Việt, Tiếng Sông Hưong, Đi Tới, Vietnamologica, Định Hướng, Nam Kỳ lục tỉnh Online, và đăc biệt là tạp chí Nông Nghiêp Hải Ngoại – Ca Li. Tuy rằng với các tuần san khoa hoc kỹ thuật, nhưng viết đủ thể loại về Khoa Học – Kỹ Thuật – Kinh tế – Phát Triển – Địa Danh… và dĩ nhiên đề tài Nông Nghiệp. Điều đáng lưu ý là trong khi viết hay tổng kết các bài từ báo chí ngoại quốc, GS Trình luôn luôn giữ tinh thần khách quan của một nhà khoa học kỹ thuật, có tính cách thông tin trung thực nhắm vào giới trẻ Việt Nam, không nghiêng bất cứ về một Tôn giáo, Chính trị, Chủ Nghĩa, Đảng Phái hay Thiên Kiến nào cả. Trong số sách đã xuất bản, đa số là Nông Nghiệp, các sách được chiếu cố nhiều nhất là: Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản); Mía Đường 1972 (hai làn tái bản); Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản) Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản); Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004. (Theo tài liệu của GS Tôn Thất Trình)

(3) Thầy Tôn Thất Trình là Giáo sư thực thụ đầu tiên của Khoa Nông học.Trường NLU


KỶ YẾU KHOA NÔNG HỌC 65 năm thành lập Khoa mời vào đường link để xem chi tiết https://kyyeunonghoc.blogspot.com/2020/11/ky-yeu-ky-niem-65-nam-thanh-lap-khoa.html

(4) Cựu sinh viên Khóa 15 (1973) THAM DỰ KỶ NIỆM 65 NĂM KHOA NÔNG HỌC
https://www.facebook.com/chau.doannhat/posts/3550807504980087

(5) Thầy bạn là lộc xuân

THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN
Hoàng Kim

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân của đời tôi mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì tôi không thể có được hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí.Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” (1).

Về lại mái trường ta đã lớn khôn
Ai cũng có ước nguyện về trường. Tôi thấu hiểu vì sao thầy Đặng Quan Điện người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn (tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) năm trước đã đề nghị cho Thầy được ghé thăm Trường trước khi Thầy đi vào chốn vĩnh hằng. Thầy Tôn Thất Trình, người hiệu trưởng thứ hai của Trường nay 80 tuổi đã viết blog The Gift (2) như một quà tặng trao lại cho lớp trẻ và viết hai  bài hột lúa (3), con cá (4) cho ngày Nhà giáo Việt Nam.  Thầy Lưu Trọng Hiếu với tình yêu thương gửi lại (5) đã hiến tặng toàn bộ tiền phúng viếng của Thầy cùng với số tiền gia đình góp thêm để làm quỷ học bổng cho Trường tặng những em sinh viên nghèo hiếu học. Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên Đại học Nông Lâm gặp khó khăn học giỏi (6) vì tuổi thơ của anh nhọc nhằn không có cơ hội đến trường, khi thành đạt anh muốn chia sẻ để chắp cánh cho những ước mơ.

Tôi cũng là người học trò nghèo năm xưa với ba lần ra vào trường đại học, cựu sinh viên của năm lớp, nay tỏ lòng biết ơn bằng cách trở lại Trường góp chút công sức đào tạo và vinh danh những người Thầy người Bạn đã cống hiến không mệt mỏi, thầm lặng và yêu thương góp công cho sự nghiệp trồng người. Chừng nào mỗi chúng ta chưa thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa đủ mang lại niềm vui cho bữa ăn người nghèo thì chừng đó chúng ta vẫn còn phải dạy và học. Cái gốc của sự học là học làm người. Bài học quý về tình thầy bạn mong rằng sẽ có ích cho các em sinh viên đang nổ lực khởi nghiệp.

Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang (7) sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng (8) vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” (9)  Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.


Thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, tôi học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá … cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm” (10) Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất.  Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh” (11)

Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trồng trọt 2 thuở đó là một lớp chung mãi cuối khóa mới tách ra 2A,2B, 2C. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy Đại học Cần Thơ. Trồng trọt khóa hai chúng tôi thuở đó được học với các thầy cô: Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Nguyễn Tâm Đài, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Thượng, Ngô Kế Sương, Trần Thạnh, Lê Minh Triết, Phạm Kiến Nghiệp, Nguyễn Bá Khương, Nguyễn Tâm Thu, Nguyễn Bích Liễu, Trần Như Nguyện, Trần Nữ Thanh, Vũ Mỹ Liên, Từ Bích Thủy, Huỳnh Thị Lệ Nguyên, Trần Thị Kiếm, Vũ Thị Chỉnh, Ngô Thị Sáu, Huỳnh Trung Phu, Phan Gia Tân, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Kế, … Ngoài ra còn có nhiều thầy cô hướng dẫn thực hành, thực tập, kỹ thuật phòng thí nghiệm, chủ nhiệm lớp như Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Văn Kịp, Lê Quang Hưng, Trương Đình Khôi, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Gia Quốc, Nguyễn Văn Biền, Lê Huy Bá, Hoàng Quý Châu, Phạm Lệ Hòa, Đinh Ngọc Loan, Chung Anh Tú và cô Thảo làm thư ký văn phòng Khoa. Bác Năm Quỳnh là Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Trường sau đó là thầy Kiên và cô Bạch Trà. Thầy Nguyễn Phan là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Trại Thực nghiệm. Thầy Dương Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Tuân, Võ Thị Tuyết, Ngô Văn Mận, Bùi Xuân An … ở khoa Chăn nuôi Thú y, thầy Nguyển Yên Khâu, Nguyễn Quang Lộc … ở khoa Cơ khí, cô Nguyễn Thị Sâm ở Phòng Tổ chức, cô Văn Thị Bạch Mai dạy tiếng Anh, thầy Đặng, thầy Tuyển, thầy Châu ở Kinh tế -Mác Lê …Thầy Trần Thạnh, anh Quang, anh Đính, anh Đống ở trại Trường là những người đã gần gũi và giúp đỡ nhiều các lớp nông học.

Thuở đó đời sống thầy cô và sinh viên thật thiếu thốn. Các lớp Trồng trọt khóa 1, khóa 2, khóa 3 chúng tôi thường hoạt động chung như: thực hành sản xuất ở trại lúa Cát Lái, giúp dân phòng trừ rầy nâu, điều tra nông nghiệp, trồng cây dầu che mát sân trường, rèn nghề ở trại thực nghiệm, huấn luyện quốc phòng toàn dân, tập thể dục sáng, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tạo nên sự thân tình gắn bó. Những sinh viên các khóa đầu tiên được đào tạo ở Khoa Nông học sau ngày Việt Nam thống nhất hiện đang công tác tại trường có các thầy cô như  Từ Thị Mỹ Thuận, Lê Văn Dũ, Huỳnh Hồng, Cao Xuân Tài, Phan Văn Tự, …

Tháng 5 năm 1981, nhóm sinh viên của khoa Nông học đã bảo vệ thành công đề tài thu thập và tuyển chọn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt được Bộ Nông nghiệp công nhận giống ở Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Toàn Quốc Lần thứ Nhất tổ chức tại Thành phố Hố Chí Minh. Đây là một trong những kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đầu tiên của Trường giới thiệu cho sản xuất. Thầy Cô Khoa Nông học và hai lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 cũng đã làm họ trai họ gái tác thành đám cưới cho vợ chồng tôi. Sau này, chúng tôi lấy tên khoai Hoàng Long để đặt cho con và thầm hứa việc tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học và giảng dạy, một nghề nghiệp cao quý và lương thiện. “Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền. Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó. Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ. Có bạn thầy càng bền chí vươn lên. Trước mỗi khó khăn tập thể luôn bên. Chia ngọt xẻ bùi động viên tiếp sức. Thân thiết yêu thương như là ruột thịt. Ta tự nhủ lòng cần cố gắng hơn (11).

Bạn học chúng tôi vẫn thỉnh thoảng họp mặt, có Danh sách các lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 số điện thoại và địa chỉ liên lạc. Một số hình ảnh của các lớp ngày ấy và bây giờ.

Những bài học quý từ những người Thầy
Nhiều Thầy Bạn đã hun đúc nên nhân cách, niềm tin, nghị lực và trang bị kiến thức vào đời cho tôi, xin ghi lại một số người Thầy ảnh hưởng lớn đối với tôi và những bài học:


Thầy Mai Văn Quyền sống phúc hậu, tận tâm sát thực tiễn và hướng dẫn khoa học. Công việc làm người hướng dẫn khoa học trong điều kiện Việt Nam phải dành nhiều thời gian, chu đáo và nhiệt tình. Thầy Quyền là chuyên gia về kỹ thuật thâm canh lúa và hệ thống canh tác đã hướng nghiệp vào đời cho tôi. Những dòng thơ tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ đã nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: “Ơn Thầy (12). Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”. Thầy Quyền hiện đã 76 tuổi, đang đào tạo trên đại học cho Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều Viện Trường khác. Tấm gương phúc hậu và tận tụy của Thầy luôn nhắc nhở tôi.

Thầy Norman Borlaug sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh và nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống. Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao (13). Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”.  (14)

Thầy Tôn Thất Trình sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách. Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam. Thầy làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome). Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…

Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngàyViệt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báoViệt Nam và blog The Gift.

Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO. Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước  đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Thầy, Bạn  là lộc xuân của cuộc đời
Bill Clinton trong tác phẩm ‘Đời tôi’ (15) đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy quý bạn hiền là lộc xuân của cuộc đời. Tôi biết ơn mái trường thân yêu mà từ đó tôi đã vào đời để có được những cơ hội học và làm những điều hay lẽ phải.

Anh Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam :
Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Tay ôm đàn độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Từ Cà Mau Rạch Giá
Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mờ như sương
Thân chưa là lính thú
Sao không về cố hương  ?

Anh Mai Thành Phụng vừa lo xong diễn đàn khuyến nông Sản xuất lúa theo GAP (17) tại Tiền Giang lại lặn lội đi Sóc Trăng ngay để kịp Hội thi và trình diễn máy thu hoạch lúa. Anh Lê Hùng Lân trăn trở cho giống lúa mới Nàng Hoa 9 và thương hiệu gạo Việt xuất khẩu. Anh Trần Văn Đạt  vừa giúp ý kiến “Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam” lại hổ trợ ngay bài viết mới (18).

Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức 2005 Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển (19) đến nay 2010 đã tròn 55 năm kỹ niệm ngày thành lập. Dưới mái trường thân yêu này, có biết bao nhà khoa học xanh, nhà giáo nghề nông vô danh đã thầm lặng gắn bó đời mình với nhà nông, sinh viên, ruộng đồng, giảng đường và phòng thí nghiệm. Thật xúc động và tự hào được góp phần giới thiệu một góc nhìn về sự dấn thân và kinh nghiệm của họ..

Hoàng Kim, GVC CÂY Lương thực 
Khoa Nông học,
cựu sinh viên TT2-NLU

Tài liệu dẫn
1.   Hoàng Kim 2009 Thắp đèn lên đi em! (1970)  http://hoangkimlong.blogspot.com/2009/06/thap-en-len-i-em.html
2. Tôn Thất Trình và chủ bút tonnubn@gmail.com . The Gift
http://tonthat-tonnu.blogspot.com/
3. Tôn Thất Trình 2010. Hột nguyên vẹn
http://tonthat-tonnu.blogspot.com/2010/08/hot-nguyen-ven.html
4. Tôn Thất Trình 2010. Nuôi cá biển Việt Nam http://tonthat-tonnu.blogspot.com/2010/08/nuoi-ca-bien-viet-nam.html
5. Hoàng Kim 2009. Trường tôi và lòng yêu thương gửi lại của thầy Lưu Trọng Hiếu http://dayvahoc.blogspot.com/2009/05/truong-toi-va-long-thuong-yeu-gui-lai.html
6. Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên http://vtc.vn/151-203976/van-hoa/doi-song-van-nghe/dam-vinh-hung-tang-hoc-bong-cho-sinh-vien.htm
7. Hoàng Kim 2010. Linh Giang http://hoangkimlong.blogspot.com/2010/04/linh-giang_09.html
8. Hoàng Kim 2008 . Di cảo thơ thầy Nguyễn Khoa Tịnh : Em ơi em can đảm bước chân lên ! http://my.opera.com/hoangkimvietnam/blog/em-oi-em-can-dam
9. Trần Đình Côn 1968. Bài ca Trường cấp ba Bắc Quảng Trạch. In trong Kỷ yếu Mái trường bên dòng sông Gianh trang 23.
10. Văn Công Hùng 2007. Người thường niên thả hoa trên dòng Thạch Hãnhttp://vietbao.vn/Van-hoa/Nguoi-thuong-nien-tha-hoa-tren-dong-Thach-Han/70098849/181/
11. Hoàng Kim 2007. Nghị lực (1977). In trong Kỷ yếu Trồng trọt C Khóa 2 (1976-1981) Đại học Nông Lâm TP. HCM tr.50-51. http://thovanhoangkim.blogspot.com/2008/09/ngh-lc.htmlHoàng Kim.
12. Ơn Thầy (1991) http://hoangkimvietnam.wordpress.com/tri-tue-bac-thay/
13. Doanh Anh 2009. Cha đẻ của cách mạng xanh: Hãy vươn tới những vì sao. Mekong News. http://mekongnet.ru/index.php?mod=News&sid=112
14. Hoàng Kim 2009. Norman Borlaug di sản niềm tin và nghị lực. http://foodcrops.blogspot.com/2009/09/nho-norman-borlaug.htm
15. Bill Clinton 2007. Đời tôi. Nhà xuất bản Công an Nhân dân , TP Hồ Chí Minh. 1375 trang.
16. Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam (IAS) 2009 Research Highlights . Commemorating 85 years since foundation. 121 Nguyen Binh Khiem St. District1. Ho Chi Minh city, Vietnam. Tel: 84.8.38228371 Fax +84.8. 38297650 Email iasvn@vnn.vn, iasvn@iasvn.org Website http://iasvn.org
17. Mai Thành Phụng, Phạm Văn Tình, Vũ Tiết Sơn 2010. Diễn đàn Khuyến nông @Nông nghiệp lần thứ 5-2010 chuyên đề “Sản xuất lúa theo GAP” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia chủ trì, tổ chức tại Tiền Giang. Nhà xuất bản nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh, 468 trang.
18. Trần Văn Đạt 2010. Những tháng ngày với Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn www.tranvandat.com
19. Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức. 2005. Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển. Kỷ yếu Trường Đại Học Nông Lâm, 250 trang. Địa chỉ: Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Điện thoại: (84-8)-38966780- Fax: 84-8-38960713 Email: vp @ hcmuaf.edu.vn  – Website: http://www.hcmuaf.edu.vn

Bài đã đăng trong Kỹ yếu Khoa Nông học Kỹ niệm 55 năm ngày thành lập Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh trang 97-105.

#hoangkimlong CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC http://hoangkimvn.wordpress.com

CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Chỉ tình yêu ở lại
Ngày hạnh phúc của em
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter