Lao động và nghỉ ngơi

LAO ĐỘNG VÀ NGHỈ NGƠI
Hoàng Kim

Ngủ thuốc bổ trường sinh
Sự trút bỏ căng thẳng
Làm việc và thư giản
Ngủ tốt người khỏe hơn.

Chớ coi thường sự ngủ
Lao động và nghỉ ngơi
Ngủ đúng và ngủ đủ
Tránh mối lo cho đời.

Làm nhiều thì mệt mỏi
Buông làm người tự do
Chọn tinh hoa yêu thích
Hiệu quả cho mỗi ngày

Phật Từ Bi Hỷ Xả
Trí huệ vui thanh nhàn
Phúc hậu bài học quý
Vui khỏe và ngủ ngon

Thiền là biết an nhiên
Xả là trút gánh nặng
Vứt bỏ mọi chuyện đời
Không vướng dạ an thôi

https://www.youtube.com/embed/5FCcXCchXDk?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent

Giữa bao nổ lực lo toan cần ngủ ngon và tỉnh thức. Nhạc thiền tỉnh tâm an nhiên tự tại

OSHO CON ĐƯỜNG HOÀN HẢO
Hoàng Kim

Osho (11/12/1931- 19/1/1990) là vị thiền sư nổi tiếng người Ấn Độ, được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất trong thời hiện đại,  với bài giảng nổi tiếng “Con đường hoàn hảo”  thuật lại câu chuyện của chính ông bảy ngày đêm tỉnh lặng với những bạn đồng hành. “Hạnh phúc tại tâm” bản chất sự sống, khả năng hạnh phúc và hạnh phúc chân thật của con người, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ những tác phẩm của Osho.“Osho là bậc thầy chứng ngộ đang làm việc với tất cả mọi khả năng để giúp cho nhân loại vượt qua giai đoạn khó khăn trong sự phát triển tâm thức“. Dailai Latma đã viết như vậy về người thầy lỗi lạc này cuối trang bìa của tác phẩm Osho “Con đường của nhà huyền môn“.

Osho con đường hoàn hảo là sự thực hành ngủ ngon và tỉnh thức. Tôi may mắn đã có được bảy ngày đêm tĩnh lặng đối thoại và thực hành với vị Thiền sư người Thầy tâm linh lỗi lạc này. Osho dẫn ta đi vào thế giới tịch lặng, thiền định sâu, chỉ dẫn cho ta bí quyết thiết yếu Năng lượng tích tụ và giải phóng giúp ta tâm thế tỉnh lặng, an nhiên tự tại, thung dung trong cuộc sống. Ta chạm đáy sự thật, đối diện với sinh tử, về nơi tịch lặng, đến chốn thung dung để thấu hiểu sự sống.

Tôi nhớ ký ức Bảy ngày đêm tỉnh lặng. Đời người là một chuỗi trãi nghiệm.Trãi nghiệm sự sống chính là hiện tại. Tỉnh lặng là sự chứng ngộ ám ảnh nhất. Bạn đã bao giờ về trong tịch lặng, xuống đáy địa ngục, đối diện sinh tử, lạc vào thế giới vô thức, hoàn toàn khác thế giới thường nhật, trút bỏ bận tâm, lo âu phiền muộn, danh vị chức phận, không trò chuyện, không điện thoại, không email,  chỉ nổ lực duy nhất bảo tồn sự sống.

Tôi đã từng Dạo chơi non nước Việt: về Nghĩa Lĩnh đền Hùng ở Việt Trì, Phú Thọ; lên non thiêng Yên Tử viếng mộ đức Nhân Tông; về thủ đô Hà Nội thăm dấu xưa đức Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm; đến Kiếp Bạc Côn Sơn ngưỡng vọng đức thánh Trần và thấu hiểu sâu sắc hơn Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi; vào Tràng An Thần Phù Ninh Bình “Lênh đênh trên cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm“, Ngày xuân đọc Trạng Trình, Nhớ Đào Duy Từ; đức thánh Nguyễn Minh Không huyền thoại Bái Đính ; trọn đời làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ;  Lương Định Của con đường lúa gạo; Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời; Con theo Người nguyện làm hoa lúa, …

Tôi đã từng đi Praha, Goethe và lâu đài cổ, Dạo chơi cùng Goethe; Học để làm ở Ấn Độ; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Đến Thái Sơn; Thăm Borlaug và Hemingway ở CIANO; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hươngQua Ghent nhớ … Di sản Walter Scott; Những người Việt lỗi lạc ở FAO; Đêm trắng và bình minh; Đến với các nước châu Phi; Vua Solomon và sách Khôn ngoanSông Nin và hồ Victoria; Mười hai ngày ở Ghana

Tôi cũng đã Câu cá bên dòng Sêrêpok, nhưng Bảy ngày đêm tỉnh lặng là sâu đậm nhất

BanMaiTinhLang
Sau tĩnh lặng tôi nhìn cuộc đời dường như mới hơn, nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn…Cám ơn đời, hôm nay là ngày mới.

3
1SocCon
Cá nước

Tại sao tỉnh thức lại thật tuyệt vời? – Đạo Phật Ngày Nay

TÌNH MẸ VÀ ĐỨC NHẪN

Tình Mẹ thể hiện rõ nhất ở đức nhẫn: kiên nhẫn chăm sóc, kiên nhẫn chịu đựng, kiên nhẫn lắng nghe. Thương yêu con như mẹ hiền mới làm được chí thiện. Đức Nhẫn của Phật Di Đà ở chùa Chân Không là mẫu mực của tình yêu thương con người.

Thuở trước Di Đà tu luyện cùng 99 tăng ni tại một ngôi chùa. Di Đà ngày chuyên cần, đêm siêng năng làm lụng khiến bạn hữu nẩy sinh sự ghen ghét. Một lần nọ họ hùa nhau nói xấu Di Đà là đã làm vỡ chén ngọc và xin thầy đuổi Di Đà ra khỏi chùa. Thầy chủ trì gạn hỏi kỹ nhiều người thì ai cũng lặng thinh chẳng ai dám thề là minh thấy rõ việc đó. Nghe sư phụ la rầy mọi người, Di Đà  đã năn nỉ khuyên can và tự mình ra dựng chòi ở ngoài để tu.  Lần sau, trong chùa  có một người ăn mày chết hôi thối tại chốn phật đường. 99 tăng ni nọ đùn đẩy nhau, né tránh việc chôn cất. Di Đà đi kiếm củi về nghe chuyện đã không kịp ăn cơm, xin sư phụ để cõng đi chôn ngay. Thây ma hôi thối bám trên lưng Di Đà mỗi lúc một nặng. Đến khi Di Đà muốn dừng lại để chôn thì thây ma ôm chặt cổ Di Đà không chịu rời. Di Đà cả cười không chút nóng giận cõng thây ma đi tìm nơi chôn cất suốt đêm. Mãi cho đến lúc ban mai, khi đến chòi của Di Đà thì thây ma mới buông tay và chịu nằm xuống. Di Đà đã cởi áo mình mặc cho thây ma, Thốt nhiên, nơi đó biến thành đài sen thơm ngát.

Chốn ấy, nay là chùa CHÂN KHÔNG.

Nhẫn là một đức tính tốt đẹp từ xưa đến nay của con người. Khoan dung, độ lượng không nóng giận là “Nhẫn”. Cốt lõi của “Nhẫn” là Nhân. Khổng Tử nói: “khắc kỷ phục lễ vi nhân” (Người biết ước thúc bản thân có lời nói và hành vi hợp lẽ phải là người nhân). Chiến thắng bản thân mình là chiến thắng khó khăn nhất.

Xưa có người cha dạy con lúc bực tức hãy cố nén giận chạy ra sau nhà và đóng một cây đinh lên chiếc hàng rào gỗ. Người con nghe lời bố làm vậy và dần biết tự kiềm chế, theo thời gian số lượng đinh đóng mỗi ngày một ít đi. Đến một ngày, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt thời gian dài. Cậu đến thưa với cha và ông bảo : Tốt lắm, bây giờ con đã biết nhẫn thì cứ mỗi tháng con không nổi nóng nữa con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào. Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm người con đã vui mừng báo với cha rằng trên hàng rào đã không còn cây đinh nào nữa. Người cha nói :  Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh con để lại trên hàng rào để thấy những lời con nói lúc nóng giận như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương khó lành trong lòng người. Lời nó như tên không nên bắn bậy, đã lọt vào tai ai, không sao rút ra được.

Hoàng Kim
(chọn lọc tinh hoa)

https://www.youtube.com/embed/WbvxjUv4jgg?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent

NHẠC THIỀN SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC

Em sẽ là mùa xuân của mẹ, bài hát Hoàng Long yêu thích nhất.

Em sẽ là mùa xuân của Mẹ
Em sẽ là màu nắng của Cha
Em đến Trường học bao điều lạ
Môi mỉm cười là những nụ hoa
Trang sách hồng nằm mơ màng ngủ
Em gối đầu trên những dòng thơ
Em thấy mình là hoa hồng nhỏ
Bay giữa trời làm mát ngày qua

Trời mênh mông, đất hiền hòa
Bàn chân em đi nhè nhẹ
Đưa em vào tình người bao la
Cây có rừng bầy chim làm tổ
Sông có nguồn từ suối chảy ra
Tim mỗi người là quê nhà nhỏ
Tình nồng thắm như mặt trời xa

Em sẽ là mùa xuân của Mẹ
Em sẽ là màu nắng của Cha

Đó là bài hát tâm thức yêu thích nhất của con, suối nhạc tình yêu cuộc sống

Chào mừng 66 năm Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (19/11/1955-19/11/2021)
Nhớ kỷ niệm một thờihttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ky-niem-mot-thoi/

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Chỉ tình yêu ở lại
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Tỉnh lặng

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tinh-lang.jpg


TĨNH LẶNG

Hoàng Kim
đùa bạn Hoahuyen Đào Ngọc

Đường trần ta lại rong chơi
Vui thêm chút nữa buồn thôi lại về …

Đọc thơ cũ, bình câu thơ mới
Nhớ bạn hiền phơi phới LỘC XUÂN
Tuy xa mà thật là gần
ĐƯỜNG XUÂN vui bạn, thơ xuân an nhàn.

XẾP CỤC GẠCH chén anh chén chú
Vô tình gieo MẦM NHỚ cho ai
Đình Quang XUÂN LỘC với người
Thung dung ‘PHÍM’ CHIẾN, bạn chơi chân thành

Nay cảnh giới thuyền câu TĨNH LẶNG
Chim vào MÙA LÁ RỤNG ngẫn ngơ
VẦNG TRĂNG CỔ TÍCH duyên thơ
QUÊ HƯƠNG XỨ NHÃN đến bờ HƯƠNG GIANG

ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG thanh thản
TỈNH THỨC vui cùng bạn làm thơ
Mình vui chính việc mình ưa
Bận tâm chi những chuyện thừa thế gian

(*) Trăng, chim và thuyền câu tĩnh lặng (ảnh Hoahuyen Đào Ngọc) Những chữ in hoa là tên của các tác phẩm của Hoahuyen Đào Ngọc, Hoàng Đình Quang, Hoàng Kim và bạn hữu, được tác giả ví như LỘC XUÂN https://hoangkimvietnam.wordpress.com/locxuan/

Kiệt tác của tâm hồn

Posted on       Rate This

KIỆT TÁC CỦA TÂM HỒN
Hoàng Kim


tôi may mắn được trãi nghiệm ở Brazil bốn danh thắng và kiệt tác: 1) Rio de Janeiro thành phố núi và biển, một trong bảy kỳ quan thế giới mới nổi tiếng rất xinh đẹp; 2) Thác nước Iguaçu giữa Brazil và Achentina; 3) Ngọc lục bảo Paulo Coelho, “O Alquimista” cuốn sách bán trên 65 triệu bản, lượng phát hành chỉ sau kinh Thánh, mang thông điệp nhân văn “Hãy sống trọn vẹn ước mơ của mình” tiếng nói yêu thương con người và khai mở tâm linh vũ trụ; 4) 500 năm nông nghiệp Brazil, “Land and Food 500 years of Agriculture in Brazil” cuốn sách cẩm nang nghề nghiệp đặc biệt quý giá do các bạn Brazil tặng, giúp chỉ dấu quan trọng của sự nhận thức và phương pháp luận học tập nghiên cứu giảng dạy nông nghiệp sinh thái để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật định hướng tầm nhìn tốt hơn. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/kiet-tac-cua-tam-hon/

Rio de Janeiro thành phố núi và biển
Trong tháng 5 và tháng 6 năm 2003, tôi được khảo sát một số nước trọng điểm sắn ở châu Phi và châu Mỹ, trong đó có Brazil và Colombia và tham dự Hội thảo sắn CIAT ở Colombia “Phát triển của một giao thức cho các thế hệ sắn đơn bội kép và sử dụng chúng trong chọn giống” (The Development of a Protocol for the Generation of Cassava Doubled-Haploids and their Use in Breeding). Dịp may này đã giúp tôi được làm việc với nhiều người bạn tốt tại EMBRAPA (Empresa Brasileira de Pesquisa Agropecuária) – CNPMF, Brazil và được chiêm ngưỡng Rio de Janeiro thành phố núi và biển, Di sản thế giới UNESCO, một trong bảy kỳ quan thế giới mới nổi tiếng xinh đẹp và quyến rũ; được thăm và làm ở một số nơi và thác nước  Iguazu nằm trên sông Iguazu thuộc hai vườn quốc gia Brazil (bang Paraná) và Achentina (tỉnh Misiones) một thắng cảnh cực kỳ tuyệt đẹp.

Rio de Janeiro thành phố đẹp giữa núi và biển được khám phá lần đầu tiên ngày  1 tháng 1 năm 1502 do một đoàn thám hiểm của Bồ Đào Nha trở thành những người châu Âu tìm đến vùng đất mới Rio, nay là thành phố Rio de Janeiro tại Brasil, Di sản thế giới được công nhận bởi UNESCO, một trong bảy kỳ quan thế giới mới.

Tượng Chúa Cứu Thế tại Rio de Janeiro của Brasil đã cùng với Vạn Lý Trường Thành, Đấu trường La Mã, Chichén Itzá , Machu Picchu,  Petra, Taj Mahal, làm thành  bảy kiệt tác kiến trúc nghệ thuật mới của văn minh nhân loại do mạng lưới toàn cầu bình chọn, bên cạnh Bảy kỳ quan thế giới cổ đại

Rio de Janeiro là thành phố ở phía nam của Brasil với diện tích 1260 km² và dân số 5,6 triệu người nhưng toàn vùng đô thị Rio de Janeiro có dân số lên đến 11,6 triệu người.  Rio đã từng là thủ đô của Brasil giai đoạn 1763-1960 và thuộc Đế quốc Bồ Đào Nha từ 1808- 1821. Thành phố kỳ diệu này nổi tiếng với phong cảnh tự nhiên, nhạc samba và các lễ hội carnival, các loại hình âm nhạc khác và các  bãi biển. Sân bay quốc tế Galeão – Antônio Carlos Jobim kết nối Rio de Janeiro với nhiều chuyến bay quốc tế với các thành phố khắp trên thế giới và các tuyến điểm nội địa của Brasil. Thành phố Rio de Janeiro có  nhiệt độ ôn hòa. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 °C đến 26 °C. Do vị trí địa lý gần biển, gió thay đổi hướng thường xuyên, nên thành phố  thường hứng các đợt lạnh từ Nam Cực vào mùa thu và mùa đông. Hầu hết mùa hè thường có mưa rào gây lũ và lở đất. Các vùng núi có lượng mưa lớn hơn vì núi chắn luồng gió ẩm thổi đến từ Đại Tây Dương. Rio thuộc vùng khí hậu savan nhiệt đới rất gần với ranh giới khí hậu nhiệt đới gió mùa và thường đặc trưng bởi mùa mưa kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ mùa hè trên 27°C giống điều kiện mùa hè ở Nam Bộ Việt Nam.

Thác nước Iguaçu giữa Brazil và Achentina

Thác nước Iguazu được bảo vệ bởi hai vườn quốc gia là vườn quốc gia Iguaçu của Brazil và vườn quốc gia Iguazú của Argentina. Cả hai vườn quốc gia này lần lượt được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1984 và 1986. Đây cũng là một trong những khu vực bảo tồn rừng lớn nhất ở Nam Mỹ. Thác nước Iguaçu nổi tiếng thế giới Ngày 11 tháng 11 năm 2011, thác nước Iguazu đã được công bố là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của tổ chức Bảy kỳ quan thế giới mới (NOWC) Thác nước  Iguazu cũng thường được so sánh với thác nước Victoria ở châu Phi, cũng là thác nước nổi tiếng ngăn cách Zambia và Zimbabwe. Thác Iguazu rộng hơn, nhưng bởi vì nó được chia thành khoảng 275 thác nước nhỏ bởi các đảo nhỏ nên thác Victoria là “bức màn lớn nhất” của các thác nước trên thế giới, với chiều rộng trải dài hơn 1.600 m và cao 100 m. Địa hình của Brasil phân bố rất đa dạng và phức tạp. Đất đai Brazil phần lớn giống đất đai vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Tôi có nhiều hình ảnh đẹp chụp cùng các bạn EMBRAPA, thong thả sẽ hiến tặng bạn đọc.

Ngọc lục bảo Paulo Coelho

Ngày xưa có một người thợ đá thử 999.999 viên đá, đến viên đá cuối cùng đã tìm được một viên ngọc lục bảo quý giá vô ngần. Paulo Coelho là ngọc lục bảo của đất nước Brazil. Tác phẩm của ông “O Alquimista” là kiệt tác của tâm hồn. Tiểu thuyết này được dịch ra 56 thứ tiếng, bán chạy chỉ sau kinh Thánh, đến năm 2008 đã bán được hơn 65 triệu bản trên toàn thế giới. Cuốn sách với tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ, và bản tiếng Việt có tựa đề là “Nhà giả kim” do Lê Chu Cầu dịch, Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam và Nhà Xuất bản Văn hóa in và phát hành.  Điều gì đã làm cho nhà văn Brazil này được đọc nhiều nhất thế giới như vậy?

Bạn vào Google+ có thể nhanh chóng tìm thấy trang Paulo Coelho với ghi chú: Làm việc tại escritor; Đã theo học Santo Inacio, Rio de Janeiro; Hiện sống tại Genebra, Confederação Suíça; 2.125.931 người theo dõi và 89.976.943 lượt xem. Bạn cũng vào trang FaceBook và thấy Paulo Coelho với trên 27,897,938 người thích.

Paulo Coelho
sinh ngày 24 tháng 8 năm 1947 là tiểu thuyết gia nổi tiếng người Brasil. Ông sinh tại Rio de Janeiro, bố ông là kỹ sư Pedro Queima de Coelho de Souza (đã mất năm 2011) mẹ là Lygia Coelho. Paulo Coelho có một em gái tên là Sonia Coelho. Ông vào học trường luật ở Rio de Janeiro, nhưng đã bỏ học năm 1970 để du lịch qua Mexico, Peru, Bolivia, Chile, châu Âu và Bắc Phi. Sau đó, ông trở về Brasil viết tiểu thuyết và cộng tác với một số nhạc sĩ như Raul Seixas soạn lời cho nhạc pop và nhạc dân tộc Brasil. Ông kết hôn với Christina Oiticica, sinh ngày 23 tháng 11 năm 1951 là một họa sĩ sinh ra và lớn lên tại thành phố Rio de Janeiro, Brasil, sau này trở thành một danh họa của trường phái sơn dầu nghệ thuật đất và sinh thái. Bà có phòng tranh riêng tại hơn sáu mươi phòng trưng bày trong hai mươi quốc gia. Vợ chồng của Paulo Coelho và Christina hiện định cư tại Rio de Janeiro  của Brasil, vừa có nhà riêng tại Tarbes ở Pháp.

Paulo Coelho sống khỏe bằng nghề viết văn. Ông là tác giả viết sách  tiếng Bồ Đào Nha bán chạy nhất mọi thời đại. Những sách của ông bán chạy nhất tại Brasil, Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Ý, Israel, Hy Lạp. … Sách của ông đã được dịch ra 56 thứ tiếng và bán ra hơn 86 triệu bản của trên 150 nước. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng của các nước và tổ chức quốc tế, trong đó có nhiều giải thưởng rất danh tiếng.

O Alquimista
là kiệt tác của tâm hồn, với tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke dịch, có lẽ là tiểu thuyết danh giá và thành công nhất của Paulo Coelho. Sách đến năm 2008 đã bán được hơn 65 triệu bản trên thế giới và được dịch ra 56 thứ tiếng, trong đó có bản có tiếng Việt với tựa đề là Nhà giả kim. Tác phẩm này được dựng thành phim do Lawrence Fishburne sản xuất, vì diễn viên này rất hâm mộ Paulo Coelho. Trong danh sách những người mến mộ tác phẩm khắp thế giới có cả cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton.

Điều gì đã làm cho tác phẩm này được nhiều người yêu mến đến vậy?

Tôi có ba điều tâm đắc nói về tác phẩm.

Thứ nhất. O Alquimista là kiệt tác của tâm hồn, mang thông điệp nhân văn “Hãy sống trọn vẹn ước mơ của mình!” tiếng nói yêu thương con người và khai mở tâm linh vũ trụ. Trước đây Goethe với sử thi Faust, Nỗi đau của chàng Werther đã nói lên những khát vọng ước mơ vươn tới của con người. Paulo Coelho qua câu chuyện sử thi về một cậu bé chăn cừu chí thiện và khát khao đi đến tận cùng của ước mơ. Cậu thích chăn cừu để được đi đó đây, vui thú với thiên nhiên và lao động hồn hậu, nghị lực, cẩn trọng, trí tuệ và cố gắng không ngừng.

Thứ hai. Văn của Paulo Coelho giản dị, trong sáng, minh triết, sáng sủa lạ lùng, rất giàu chất thơ và nhạc. Bản gốc O Alquimista tiếng Brazil theo lời của những người bạn của tôi ở EMBRAPA họ rất tự hào giới thiệu và ngưỡng mộ là Paulo Coelho viết văn Brazil rất hay. Về bản tiếng Anh cũng vậy được rất nhiều người thích. Bản tiếng Việt do Lê Chu Cầu dịch Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam và Nhà Xuất bản Văn hóa in và phát hành tôi say mê đọc thật thích thú. Văn chương đích thực của Paulo Coelho đã vượt qua được rào cản ngôn ngữ. Điều đó rõ ràng là chất lượng ngôn ngữ hàng đầu.

Thứ ba. Paulo Coelho thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa. Đoạn trích kinh Thánh Tân Ước, Lukas 10: 38-42, ở đầu sách; Phần “Vào truyện” nói về sự tích hoa Thủy tiên ở đầu sách và phần Phụ lục kể câu chuyện về Thánh nữ và Chúa Hài Đồng ở cuối sách đã chứng tỏ sự huyền diệu của kiệt tác. Paulo Coelho thật khéo kể chuyện. Lối dẫn truyện của ông hay ám ảnh.

Paulo Coelho thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa“. Đề từ Kinh Thánh Tân Ước, Lukas 10: 38-42, Vào truyện Sự tích hoa Thủy tiên ở đầu sách và Chuyện Thánh nữ và Chúa Hài Đồng ở cuối sách là sự huyền diệu của kiệt tác. Các bạn sinh viên đừng bao giờ coi thường PHẦN ĐẦU và  PHỤ LỤC cuối luận văn. Những phần này dễ lơ đểnh bỏ qua nhưng thường là phần tinh tế của một kiệt tác. Một số nhà khoa học và nhà văn không thành công là khi sản phẩm khoa học và tác phẩm chưa đến được đông đảo tận tay của người tiêu dùng. Kho báu chính mình là ở chỗ đó. Nguyên bản O Alquimista gốc tiếng Bồ Đào Nha có phần đề từ, vào truyện và phụ lục mà bản dịch sách tiếng Anh đã “lược bỏ ” nhưng dịch giả Lê Chu Cầu đã “thêm vào” trở lại đúng nguyên tác trong bản dịch tiếng Việt. Đó là một trong ba điều mà tôi chợt ngộ được về trí tuệ bậc Thầy của một nhà văn lớn. Paulo Coelho thật khéo kể chuyện thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa mà những nhà văn tài giỏi đôi khi lơ đểnh bỏ qua. Tôi sẽ chép lại đầy đủ nguyên văn ba đoạn trích TUYỆT HAY này trong bài viết “Trí tuệ bậc Thầy” nhưng trước hết xin trích dẫn những lời đề từ tuyệt hay làm người đọc chú ý hơn đối với tác phẩm

* Hẹn gặp ở Samarra” của John O’Hara

Thần chết nói:

Có một thương gia ở thành Baghda sai một đầy tớ ra chợ mua thức ăn về để dành. Một lúc sau người đầy tớ quay về, mặt mày tái mét, toàn thân run lẩy bẩy. Hắn nói: “Thưa ông chủ, đúng lúc tôi vào chợ thì một bà già trong đám đông xô phải tôi. Khi quay lại nhìn, tôi thấy đó chính là Thần chết. Bà ta nhìn tôi, làm một cử chỉ đe dọa. Cầu xin ông chủ cho tôi mượn con ngựa của ông, tôi sẽ mau chóng chạy khỏi thành phố này để trốn thoát số phận. Tôi sẽ đến Samarra, Thần chết sẽ không thể tìm thấy tôi ở đấy”. Thương gia cho tên đầy tớ mượn con ngựa của mình. Người đầy tớ nhảy ngay lên lưng ngựa, đạp mạnh đinh thúc ngựa, người và ngựa phóng đi hết tốc lực. Sau đó người chủ đi ra chợ nhìn thấy ta trong đám đông, bèn đến gần và nói: “Này, sao ngươi lại đe dọa đứa con ở của ta khi ngươi gặp nó sáng nay?”. “Ta đâu có làm cử chỉ đe dọa gì”, ta đáp, “ta chỉ ngạc nhiên khi gặp hắn ở Baghda bởi vì ta hẹn gặp hắn tối nay ở Samarra kia mà”. -W- Somerset Maugham

Bay trên tổ chim cúc cu của Kenn Keyse  

Tặng Vico Lowell, người đã bảo tôi rằng loài rồng không hề có, nhưng rồi lại đưa tôi đến hang ổ của chúng. “Ai đi đâu ai về đâu/ Ai bay trên tổ vượt đầu cúc cu”

*  “Mặt trời nhà Scozta” của Gaudé

Một chiều
chúng tôi đi dọc một con đồi,
thầm lặng.
Trong bóng tối
hoàng hôn dần tắt,
em họ tôi
chàng hộ pháp
vận toàn đồ trắng,
bước chân bình thản,
gương mặt đồng hun,
lặng lẽ.

Im lặng
là đức tính của chúng tôi.
Cụ tổ chúng tôi xưa
ắt là cô đơn lắm
– một vĩ nhân giữa bầy đàn ngu xuẩn
hay một người điên bất hạnh –
nên mới truyền dạy chúng tôi
một im lặng nhường này.

CESARE PAVESE, “I mari del Sud” trong Lavorare stanca
* “Hoàng tử bé” của Saint – Exupéry do Bùi Giáng dịch,
ông thêm vào lời đề từ của chính ông.

Bích câu đâu nữa bóng chàng Uyên
Sông núi thô sơ bặt tiếng Huyền
Có lẽ hồn ta không đẹp nữa
Nét thần thôi họa bức thiên duyên.

Đề từ “Nhà giả kim” của Paulo Coelho

Kính tặng J, người đã thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa.

Chúa Jesu và các môn đệ tiếp tục đi, đến một làng nọ. Một cô gái tên Marta rước người vào nhà. Em gái cô là Maria ngồi dưới chân Người nghe giảng dạy, còn Marta thì bận rộn lo tiếp đãi Người. Rồi cô phàn nàn rằng: “Chúa không thấy em con để một mình con làm hết mọi việc sao? Xin Chúa hãy bảo nó phụ con với!”. Chúa mới bảo cô: “Marta ơi, Marta. Con bận rộn, lo lắng nhiều việc quá. Nhưng chỉ có một việc thật cần thiết thôi và Maria đã chọn phần việc ấy thì không ai truất phần của em con được.”

Thánh Kinh Tân Ước, Lukas 10:38-42

*

Thật may mắn khi gặp được kiệt tác của tâm hồn khai mở hạnh phúc lòng ta tỉnh lặng và yêu thương hơn. Thiên nhiên, Tình yêu, Tình bạn, Việc tốt, Nhà ở, Sách hay, Hoa đẹp và Thú cưng, Niềm vui Khoa học Nghệ thuật là tám cánh cửa niềm vui đời người. Sách hay là bí quyết trường thọ, trí tuệ túi khôn nhân loại, cội nguồn tri thức, kỳ quan thế giới, bổ rẻ hiệu quả, mọi lúc mọi nơi mọi lứa tuổi. Đọc lại và suy ngẫm. Bao kiệt tác thấm thía, dễ tiếp nhận, dễ kiếm là sách hay.

KHÍ – SINH NĂNG QUAN TRỌNG NHẤT CỦA CON NGƯỜI NHƯNG LẠI BỊ QUÊN LÃNG
Thầy Duy – Nam Y Thiện Dược
Chữa người bệnh, không chữa chứng bệnh.
http://www.namythienduoc.com/ DtDĐ 091 887 87 37

(lâu lâu đăng lại cho người chưa đọc)Trong Đạo học, nền tảng của Y học phương đông cho rằng mọi hình thái sự sống trong vũ trụ đều được bắt nguồn từ một dạng năng lượng gọi là Khí. Theo nghĩa dễ hiểu khí là không khí, là hơi thở và đồng thời là sinh năng, một từ tương đương với từ Prana trong yoga Ấn Độ. Tựa như Đạo, Khí là thứ không thể trông thấy được, nó không có hình dạng, lặng lẽ nhưng lại thâm nhập vào mọi thứ trong vũ trụ.

Cơ thể con người là một tiểu vũ trụ thu nhỏ nên khí có mặt khắp nơi dưới nhiều dạng khác nhau len lỏi khắp các tế bào, cung cấp năng lượng duy trì hoạt động của các cơ quan tạng phủ trong cơ thể từ khi mới thụ thai cho đến khi qua đời. Nhưng thật tiếc là đến giờ khoa học vẫn chưa thể tiếp cận và nghiên cứu về dạng năng lượng quan trọng bậc nhất này từ đó dẫn đến sự hạn chế trong phương pháp điều trị các loại bệnh cho con người.

Y học cổ truyền được phát triển qua các bậc thầy Đạo gia, những con người lỗi lạc với tầm hiểu biết bao quát và nhìn nhận sâu xa từ Tuệ năng chứ không từ trí năng như người thường, đã nhìn ra tầm quan trọng của khí đối với sự sống để từ đó đúc kết thành các phương pháp giúp phục hồi cũng như nâng cao Khí trong cơ thể con người thông qua các phương pháp tập luyện hít hở ( khí công, dưỡng sinh) và sử dụng thảo dược để tiếp thêm Khí từ ngoài vào. Hầu như tất cả những người luyện tập khí đều có một sức khoẻ vượt trội và tuổi thọ hơn người và hơn hết là một tâm trí minh mẫn sáng suốt đến cuối đời.

NGUYÊN KHÍ – SINH NĂNG CỦA SỰ SỐNG.

Bên trong con người Khí có nhiều dạng khác nhau, và Nguyên khí mà một dạng sinh năng quan trọng nhất bởi nó quyết định tình trạng sức khoẻ, thể lực cũng như tuổi thọ của một người. Nguyên khí có thể được coi như một bình Ắc quy, một cục pin vô hình cung cấp năng lượng duy trì sự sống 70 năm cho nhục thân hoạt động. Nó được hình thành vào lúc thụ thai giữa tinh cha và huyết mẹ, ở những hơi thở đầu tiên của sự sống được đưa vào bào thai trong bụng mẹ.

Nguyên khí bắt đầu hao hụt tan biến khi đứa trẻ chào đời, tỉ lệ tan biến nhanh hay chậm của nguyên khí quyết định tuổi thọ củ một đời người. Đây là lý giải tại sao người sống thọ, người chết sớm dù sinh hoạt gần giống nhau. Và lý do tại sao trẻ em sung sức và năng lượng hơn người lớn là vì sinh năng ban đầu của chúng không bị ô nhiễm và tan biến nhiều như người lớn, chúng vẫn được sạc đầy năng lượng từ bình ắc quy nhằm duy trì sự vận hành của tạng phủ ở mức tốt nhất.

Chính sự sinh hoạt mất cân đối, thức khuya, nhậu nhẹt, thủ dâm, quan hệ tình dục quá nhiều, ăn uống vô tội vạ các loại thực phẩm không tốt… làm hao hụt đẩy nhanh tốc độ tan biến của nguyên khí trong cơ thể khiến cho sức sống và tuổi thọ con người ngắn lại rất nhiều.

Nếu nguyên khí được bồi bổ và tăng cường qua thảo dược, ẩm thực, hít thở đúng cách, tập thể dục, yoga, khí công… những phương pháp này như việc nạp lại năng lượng ( sạc pin) cho bình ắc quy nguyên khí của cơ thể từ đó kéo dài sinh lực và tuổi thọ cho con người.

Khi người cha và người mẹ khoẻ mạnh, nguyên khí đầy đủ thì con cái hầu như là khoẻ mạnh. Ngược lại, cha mẹ yếu nhược, việc mang thai của người mẹ gặp vấn đề về ăn uống, thai nghi không được hấp thụ đầy đủ khí từ cha mẹ va ăn uống nên đứa trẻ ra đời với nguyên khí không đầy đủ ( Đông y xếp và chứng bệnh Tiên thiên bất túc) đưa nhỏ sẽ phát triển chậm chạm, sức khỏe kém, èo uột khó nuôi.

Sự tan biến của nguyên khí là để khí hoá tạo thành năng lượng cung cấp cho sự hoạt động của các cơ quan tạng phủ trong cơ thể. Chúng ta bị hiểu sót khi cho rằng máu và dinh dưỡng mới là năng lượng chính cho cơ thể hoạt động, nhưng các nhà khí công đã chứng minh điều này khi nhịn ăn liên tục 1 tháng hoặc lâu hơn, thập chí cả năm (khi ở trạng thái nhập định) mà cơ thể vẫn khoẻ mạnh bình thường khi không cần thức ăn. Chỉ đơn giản năng lượng được sinh ra từ nguyên khí đã nuôi sống cho cơ thể, và vì nguyên khí cần được nạp thêm nên việc ăn uống và hít thở đúng chính là phương thức tiếp thêm cho bình ắc quy huyền diệu này.

Khi chúng ta ăn uống, hệ tiêu hoá vận hành đưa dinh dưỡng vào cơ thể và cung cấp thêm một dạng năng lượng gọi là “Dinh khí” cho cơ thể vận hành. Khi chúng ta không đủ năng lượng từ việc ăn uống, các cơ quan hoạt động yếu dần đến một thời điểm thiếu hụt năng lượng trầm trọng cơ thể phát tín hiệu báo động, thế là một loạt các phản ứng sinh hoá trong các tế bào vận hành để bẻ gãy các chuỗi ATP phóng thích một lượng lớn năng lượng giúp cho cơ thể hồi phục và duy trì tiếp sự sống một thời gian nhất định. Cơ chế này chính là cơ chế cung cấp năng lượng của nguyên khí dưới con mắt khoa học. Còn chối ATP bẻ gãy giải phóng tạo ra năng lượng từ đâu thì khoa học vẫn còn mơ hồ chưa giải thích rõ được vì không soi chụp Nguyên khí ra được.

Nguyên khí tan biến tạo ra năng lượng cho cơ thể gọi là Dương khí. Dương khí luân chuyển khắp nơi theo các dòng chảy mà y học cổ truyền gọi là “Kinh Lạc” tại các dòng chảy của kinh lạc và huyệt đạo các nhà nghiên cứu dùng máy đo điện trở thì thấy chỉ số khác hẳn so với các nơi khác. Bởi vì Khí tạo ra năng lượng, như một loại điện sinh học lưu chuyển trong cơ thể nên việc dùng máy điện trở để đo là có thể giải thích được. Dương khí này phân chia ra thành các loại khí khác nhau để đảm nhiệm vai trò khác nhau trong cơ thể mà Đạo gia đã ứng dụng trong việc phòng bệnh và trị bệnh cho con người hàng ngàn năm trước.

Đầu tiên, có các dòng dương khí chảy sát dưới da được gọi là “Vệ khí” có nghĩa là dòng khí bảo vệ cho cơ thể con người. Nó có tác dụng đẩy lui các loại khí không tốt (Tà khí) xâm nhập cơ thể chúng ta. Ví như 2 người cùng ra mưa ra gió, người thì khoẻ mạnh bình thường người thì bị trúng gió cảm mạo ( do vệ khí kém). Khi Vệ khí đầy đủ và chuyển động dưới da, nếu quan sát kỹ chúng ta có thể cảm nhận nó đi như làn nước ấm lan khắp bề mặt cơ thể. Người không đủ vệ khí thì ngược lại, cứ có cảm giác lạnh lạnh gai gai và không chịu được gió, máy lạnh thổi trực tiếp vào người.

Dương khí khi đi vào tạng phủ cung cấp năng lượng cho sự hoạt động nhịp nhàng thì chúng ta không thấy hay cảm nhận được. Chỉ khi thiếu hụt dương khí ở một tạng phủ thì sự biểu hiện thông qua các triệu chứng của tạng phủ đó cho chúng ta thấy được dương khí chỗ đó bị thiếu hụt. Đông y gọi là chứng “ Khí Hư”

Ví dụ như khi hệ tiêu hoá không đủ Dương khí ( Đông y gọi là Tỳ khí hư) thì chức năng tiêu hoá hấp thụ của dạ dày và đường ruột suy kém dẫn đến tình trạng hay lạnh bụng, khó tiêu, ăn không thấy ngon, ăn đồ sống lạnh vào khó chịu, hay đi ngoài nhiều lần, đi phân sống, nát, người gầy ốm ăn bao nhiêu cũng không tăng cân, tay chân rũ rượi không có sức, hay mệt mỏi, thích nằm nghỉ, ngại lao động…

Khi hệ hô hấp không đủ dương khí ( Đông y gọi là Phế khí hư) thì xuất hiện các chứng trạng như hay mệt hụt hơi biếng nói, hơi thở ngắn, mệt mỏi nhanh khi vận động hoặc khi leo cầu thang, sợ gió sợ quạt thổi vào người, thích tắm nước nóng ngại nước lạnh, dễ bị cảm mạo, đau mỏi vai gáy, tiếng nói nhỏ, yếu, hay ra mồ hôi…

Dương khí của tạng Tâm hư yếu thì biểu hiện lâm sàng sẽ là hay hồi hộp, sợ sệt, tim đập nhanh, khó chịu vùng ngực, tinh thần uể oải không sức sống, ngủ kém chập chờn hay mơ linh tinh, hay cáu giận vô cớ, trí nhớ kém hay quên, dễ giật mình, dễ buồn và trầm cảm, lãnh cảm thờ ơ với những gì xung quanh…

Thận khí yếu thì hay chóng mặt ù tai, đau mỏi vai gáy, thay chân tê mỏi và lạnh, sợ lạnh sợ gió nhiều, đau mỏi thắt lưng (do dễ bị thoái hoá cột sống), làm việc nặng xíu là thở gấp, hay mắc tiểu và đi tiểu nhiều lần trong ngày, hay tiểu đêm, tinh thần uỷ mị yếu đuối, chức năng sinh lý suy giảm, phụ nữ hay ra huyết trắng, rong kinh, khó mang thai và dễ xẩy thai, nam giới thì tinh trùng yếu, dương sự kém, người già hay suyễn, thở yếu…

Sẽ chẳng lấy làm lạ khi bệnh nhân mắc cách triệu chứng trên khi đi khám bệnh sau khi làm đủ loại xét nghiệm chụp chiếu cũng sẽ không tìm ra bệnh gì và dựa vào các chỉ số bình thường thì bác sĩ cũng sẽ kết luận bệnh nhân không có bệnh gì dù người bệnh rất mệt và có nhiều triệu chứng nêu trên. Đơn giản vì máy móc y học ngày nay chưa chụp chiếu xét nghiệm được Khí trong cơ thể nên hầu như tất cả các triệu chứng trên chỉ được xếp vào hội chứng như hội chứng rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn tiền đình, trầm cảm sau sinh, hội chứng ruột kích thích, rối loạn lo âu… và chỉ có thuốc điều trị triệu chứng (điều trị phần ngọn) chứ không có thuốc đặc trị (điều trị phần gốc).

Và chắc chắn một điều rằng chỉ khi nào khoa học thừa nhận và nghiên cứu đầy đủ về Khí thì lúc đó Y học hiện đại mới tạo ra được các loại thuốc đặc trị các các chưng bệnh do Khí hư gây ra.

Y học cổ truyền dựa theo Đạo học và các học thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, Tạng Tượng… đã đi sâu vào việc điều trị các chứng bệnh bằng các tạo ra các bài thuốc từ thảo dược, thể dục dưỡng sinh, khí công, châm cứu ấn huyệt… để giúp cơ thể lấy lại sự quân bình do việc thiếu hụt khí hoặc huyết trong cơ thể gây ra.

Lẽ dĩ nhiên rằng việc phòng bệnh hơn là chữa bệnh nên phương Đông rất chú trọng đến việc ăn uống và thể dục theo một số quy tắc nhất định để bảo vệ khí không bị hao hụt nhiều ( gọi là phương pháp dưỡng sinh) và chỉ khi cơ thể suy yếu thì mới sử dụng thuốc và châm cứu để tác động vào khí huyết tạng phủ. Chính vì điều này mà hầu như tuyệt đối không cho trẻ và người khoẻ mạnh dùng các vị thuốc đại bổ nguyên khí như Nhân sâm và Lộc nhung, Đông trùng hạ thảo…, vì nếu cơ thể khí huyết đầy đủ thì việc dùng thuốc bổ quá thì gây ra nhiều hệ quả đáng tiếc.

Nhớ kỷ niệm một thời https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ky-niem-mot-thoi/

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Chỉ tình yêu ở lại
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

Nhớ Núi

NHỚ NÚI
Hoàng Kim

Rời phố khi trời ưng ửng sớm
Về rừng lúc đất tỏa hương khuya
Mai núi nghiêng soi bên suối biếc
Bình yên xóm nhỏ tiếng chim gù …

TẮM TIÊN Ở CHƯ JANG SIN
Hoàng Kim

II
Thiên Thai lạc bước đỉnh ngàn mây
Hạ giới quên đường tít chim bay
Vườn Tượng nai thưa sương xuống mỏng
Đào Nguyên hoa kín cỏ lên dày
Tiên Cô suối biếc yêu đời thế
Chúa Liễu rừng thông thoải mái thay
Bồng Lai nơi ấy rồng tiên ẩn
Ai thích tiêu dao hợp chốn này. (***)

Chư Yang Sin là một trong 30 Vườn Quốc gia Việt Nam, đây là khu rừng đặc dụng nằm trên địa bàn các xã Yang Mao, Cư Drăm, Cư Pui, Hoà Phong, Hoà Lễ, Hoà Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông và các xã Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắk Phơi thuộc huyện Lắk, tỉnh Đăk Lăk.  Nơi đây có đỉnh núi Chư Yang Sin 2.442 mét, cao nhất hệ thống núi cao cực Nam Trung Bộ. Vườn Quốc gia Chư Yang Sin được thành lập ngày 12 tháng 7 năm 2002 theo quyết định số 92/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tắm tiên ở Chư Jang Sin, tắm mình trong nguồn năng lượng vô tận của trời xanh, cây xanh, gió mát và không khí  an lành là quà tặng cuộc sống.

Tôi đã viết bài thơ ‘Con đường xanh yêu thương’ ‘Mưa xuân’ “Tắm tiên ở Chu Yang Sin ” của những chuyến về rừng yêu thương, và ý định nối dài thêm nhưng vẫn cần thời gian và cơ hội.

CON ĐƯỜNG YÊU THƯƠNG


Đường trần thênh thênh bước
Ngắm ảnh nhớ Cổ Sơn.
Đồng xuân hương trời thoảng
Non xanh thăm thẳm rừng.

‘Ráng trời mờ tỏ Bà Đen
Bóng in đáy nước thôi miên cả chiều
Cháy lòng khao khát Sông yêu
Lặng im nghe Núi nói điều chứa chan’ (1)

Người đi tìm Ngọc phương Nam
Nhớ bầu sữa Mẹ muôn vàn yêu thương
Bà Đen Dầu Tiếng Tây Ninh
Khoai mì (*) đậu phộng (**) nên danh ơn Người (2).

(*) Tây Ninh là nôi nuôi dưỡng và phát triển các giống khoai mì KM94, SM937-26, KM98-1, KM98-5, KM140, KM419 là các giống khoai mì chủ lực tạo nên danh tiếng toàn cầu “Cách mạng sắn Việt Nam”;
(**) Tây Ninh cũng là nôi nuôi dưỡng và phát triển các giống đậu phộng HL25, Lì và Giấy chọn lọc, đậu xanh HL89-E3, đậu rồng và các loại đậu đỗ thực phẩm … đóng góp hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp. — cùng với Hoang Kim2 người khác.

NhoNui
NHỚ NÚI
Hoàng Kim

Ngày vui lại nhớ chứa chan (*)
chán chưa, chưa chán lại càng chứa chan …

Ngày này có nhớ nhau không?
Nôn nao lòng lại giục lòng nhớ thương
Chân đi muôn dặm nẻo đường
Phải đâu cứ đất quê hương mới là …

Đêm nằm nghe gió thoảng qua
Nồng thơm hương lúa, đậm đà tình quê
Chợt dưng lòng lại gọi về
Vùng quê xa với gió hè chứa chan

Vục đầu uống ngụm nước trong
Nhớ sao nơi ấy ngọt dòng sông xanh
Nhớ từ chốn ấy xa em
Nhớ lên núi biếc, mây xanh lững lờ

Xa em từ bấy đến chừ
Một vầng trăng sáng, sẻ chia đôi miền
Em về nơi ấy đồng xanh
Anh đi muôn nẻo với niềm nhớ thương

Nằm đêm lưng chẳng tới giường
Nôn nao nhớ núi, nhớ rừng canh khuya
Trường Sơn lá đỏ (**) xa mờ
Thái Dương nhớ thuở tiến vô Sài Gòn.

Giữa ngày vui nhớ Chứa Chan
Nôn nao nổi nhớ thủy chung vẹn toàn
Phải vì vất vả gian nan
Bao năm tình nghĩa nhớ thương đến rày …

Non sông những tháng năm này
Lọc muôn sắc đỏ cho ngày hội vui
Nhớ em trong dạ bùi ngùi …
Nhớ đồng xuân nhớ đất trời Chứa Chan.

(*)  Núi Chứa Chan còn gọi là núi Gia Ray hay núi Gia Lào thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, là ngọn núi cao thứ hai khu vực Nam Bộđồng bằng Sông Cửu Long, với chiều cao 800m so với mặt nước biển. Núi Chứa Chan nổi tiếng với phong cảnh hùng vĩ.
(**) Lá đỏ (thơ Nguyễn Đình Thi, nhạc Hoàng Hiệp)
(***) Ngày Thống nhất đất nước, anh em cùng gặp nhau giữa thành phố.

Dạo chơi non nước Việt

Chào mừng 66 năm Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (19/11/1955-19/11/2021)
Nhớ kỷ niệm một thờihttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ky-niem-mot-thoi/

Bài viết mới trên CNM365 Tình yêu cuộc sống
DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
CNM365 bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Chỉ tình yêu ở lại
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter


Phan Huy Chú thầy Văn

PHAN HUY CHÚ THẦY VĂN
Hoàng Kim

Mục đích sau cùng của dạy và học là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và làm được việc Dạy và học tinh hoa lưu lại những giá trị thực học, thực tiễn, học để làm và giá trị sử thi lắng đọng. Phan Huy Chú thầy văn chương Việt Nam. Sách thầy là mẫu mực bách khoa thư di sản Việt. https://hoangkimvn.wordpress.com/2021/05/27/phan-huy-chu-thay-van/

Phan Huy Chú (1782 – 1840) là danh nhân văn hoá Việt Nam, nhà khoa học bách khoa thư văn sử địa nổi tiếng với tác phẩm lớn “Lịch triều hiến chương loại chí”. Ông đồng thời cũng là nhà giáo, nhà thơ của triều vua Minh Mạng.

Phan Huy Chú (tên khác là Phan Huy Hạo, tên hiệu là Mai Phong), sinh năm Nhâm Dần 1782, quê gốc xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, sinh ra và lớn lên ở xã Thụy Khê, huyện Yên Sơn, Phủ Quốc Oai, nay là làng Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Ông xuất thân trong gia đình có truyền thống khoa bảng, là con trai thứ ba của Lễ bộ Thượng thư, tiến sĩ Phan Huy Ích. Ông nội là tiến sĩ Phan Huy Cận, ông ngoại là Ngô Thì Sĩ, cha là Phan Huy Ích, bố vợ là Nguyễn Thế Lịch, bác là Ngô Thì Nhậm, chú là Phan Huy Ôn, anh là Phan Huy Thực… Tiến sĩ Phan Huy Ích trong “Thứ nam thực sinh hỉ phú” (bài phú mừng sinh nhật con trai thứ hai Phan Huy Thực) đã viết: “Văn phái dư lan cự cửu nguyên”, nghĩa là: “dòng văn để lại đủ cửu nguyên”. Ông cũng có lời chú trong “Dụ am ngâm lục” rằng: “Phụ thân tôi Phan Huy Cận, thi Hương, thi Hội 2 lần đỗ đầu (lưỡng nguyên). Tôi thi Hương, thi Hội, thi Ứng chế ba lần đều đỗ đầu (tam nguyên). Bác Hy Doãn (Ngô Thì Nhậm) và chú Nhã Hiên (Phan Huy Ôn) em trai thứ 3 của tôi đều đỗ đầu thi Hương. Tất cả cộng lại được chín lần đỗ đầu, gọi là cửu nguyên”. Tác động của dòng dõi tài danh, hiếu học và những quan hệ trí tuệ đã ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tính cách của nhà khoa học Phan Huy Chú. Phan Huy Chú là một nhà bác học, danh nhân văn hoá Việt Nam, với tài danh lỗi lạc về bách khoa thư. Ông đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm có giá trị, nổi bật nhất là bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” gồm 49 quyển khảo cứu về lịch sử Việt Nam từ lập quốc đến cuối triều Lê.

Phan Huy Chú trong bộ sách “Lịch triều hiến chương loại chí”, đã sưu tầm tư liệu, khảo cứu sách vở, đối chiếu sắp xếp, trình bày cô đọng, mạch lạc sinh động, có tầm khái quát cao, chia theo từng loại hiến chương gọi là chí: dư địa chí, nhân vật chí, lễ nghi chí, khoa mục chí, quốc dụng chí, hình luật chí, văn tịch chí, binh chế chí, quan chức chí, bang giao chí. Trong đó: 1) Dư địa chí: Khảo cứu về đất đai, phong thổ và lịch sử địa lý Việt Nam qua các đời; 2) Nhân vật chí: Nói về tiểu sử từ vua chúa, tướng sĩ đến những người trung thần, tiết nghĩa có công với nước; 3) Quan chức chí: Xét về chế độ quan lại ở Việt Nam; 4) Lễ nghi chí: Khảo sát các quy định, thể chế, phẩm phục của vua chúa, quan lại cùng các nghi lễ trong triều đình; 5) Khoa mục chí: Nói về chế độ giáo dục, khoa cử đời xưa; 6) Quốc dụng chí: Viết về chế độ thuế khóa, tài chính qua các triều; 7) Hình luật chí: Xét về pháp luật các đời. 8) Binh chế chí: Khảo về quy chế tổ chức và việc luyện binh qua các đời; 9) Văn tịch chí: Nói về tình hình sách vở nước Việt xưa; 10) Bang giao chí: Khảo về việc giao thiệp, nghi lễ đón tiếp sứ thần các nước qua các đời).

Lê Minh Quốc năm 2009 (5) cho biết: “Năm 1960, 120 năm sau ngày ông mất, Hội Sử học Việt Nam đã tổ chức dịch tác phẩm bày ra chữ Quốc ngữ, dày đến 1.450 trang, khổ 14,5 x 20 cm và ghi nhận: “Trong kho tàng thư tịch Việt Nam, nếu trước kia có bách khoa toàn thư, thì phải nhận rằng, Lịch triều hiến chương loại chí là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam, là cả một kho tư liệu cần thiết cho công tác nghiên cứu và xây dựng các khoa học xã hội…”. Chúng ta hãy đọc lại một đoạn ngắn trong Lịch triều hiến chương loại chí có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa … Nhà bác học Phan Huy Chú viết: “Ngoài biển phía đông bắc có đảo Hoàng Sa, nhiều núi lớn nhỏ, đến hơn 130 ngọn núi. Từ chỗ núi chính đi ra biển sang các đảo khác ước chừng hoặc một ngày; hoặc vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước chừng 30 dặm, bằng phẳng rộng rãi. Trong bãi có dòng nước trong suốt đến đáy. Sườn đảo có vô số vỏ yến sào; các thứ chim có đến hàng nghìn vạn con, thấy người vẫn cứ đỗ quanh, không bay tránh. Bên bãi cát, vật lạ rất nhiều, có thứ ốc có vằn gọi là ốc tai voi to như cái chiếu, trong bụng có hột châu to bằng ngón tay cái, nhưng sắc nó đục, không bằng ngọc châu ở trong con trai; vỏ nó đẽo làm bia được, lại có thể nung làm vôi để xây tường. Có thứ ốc gọi là ốc xà cừ, có thể khảm vào các đồ vật; có thứ gọi là ốc hương. Thịt các con trai, con hến đều có thể làm mắm hoặc nấu ăn được. Có thứ đồi mồi rất lớn, gọi là hải ba, mai nó mỏng, có thể ghép làm các đồ vật; trứng nó như đầu ngón tay cái. Lại có thứ gọi là hải sâm, tục gọi con đột đột, nó bơi lội ở bên bãi cát, bắt về, xát vôi qua, rồi bỏ ruột đi phơi khô. Khi nào ăn, lấy nước cua đồng mà ngâm, nấu với tôm và thịt lợn, ngon lắm. Các thuyền buôn khi gặp gió thường nấp vào đảo này. Các đời chúa Nguyễn đã đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh thay phiên nhau đi lấy hải vật. Hàng năm cứ đến tháng ba, khi nhận được mệnh lệnh sai đi, phải đem đủ sáu tháng lương thực, chở năm chiếc thuyền nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ tìm kiếm các thứ; bắt cá ăn, tìm được những thứ của quý của bọn Tàu ô rất nhiều và lấy được hải vật rất nhiều. Đến tháng tám thì đội ấy lại về, vào cửa Yêu Môn (còn gọi cửa Yêu Lục, tức cửa Thuận An) đến thành Phú Xuân đưa nộp”… Báo Tiếng dân (số ra ngày 23/7/1938) cụ Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa “Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trong lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn và “Lịch triều hiến chương loại chú” của Phan Huy Chú “Hoàng Sa: là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy”. Với các tài liệu ấy, theo cụ: “Trở thành món tài liệu rất quý giá có quan hệ đến công pháp quốc tế không phải là ít”.

PhanHuyChuban doVietNam

Bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ (tên gốc: 大南一統全圖 hoặc 大南一統全圖) do Phan Huy Chú xuất bản đời Nguyễn vào khoảng năm 1838 (theo Trần Nghĩa, Viện Nghiên cứu Hán Nôm 1990) là một chứng cứ pháp lý quốc tế về Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam là không thể chối cãi. Chỉ riêng một dẫn liệu về lời văn và bản đồ đã nêu trên đã cho thấy ý nghĩa và tầm vóc đóng góp của Phan Huy Chú cho non sông Việt.

Ngoài tác phẩm lớn “Lịch triều hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú còn có các tác phẩm khác như: “Hoàng Việt dư địa chí”, Mai Phong du Tây thành dã lục, “Hoa thiều ngâm lục” (tập thơ đi sứ Tàu), “Bình Định quy trang”, “Dương trình ký kiến”, “Hoa trình ngâm lục”, Lịch đại điển yếu thông luận; “Hải trình chí lược”… hay còn gọi là Dương trình kí kiến (ghi chép những điều trông thấy lúc đi Batavia); Điều trần tứ sự tấu sở.

Phan Huy Chú là tấm gương lớn về hoạt động học thuật. Ông không được khoa bảng như cha ông, song thực học, thực tài, uyên bác, xuất chúng. Ông thực hiện công việc nghiên cứu bằng lao động khoa học miệt mài, với tâm huyết lớn. “Lịch triều hiến chương loại chí” là công trình học thuật cá nhân đồ sộ với hình thức độc đáo, nội dung lớn lao đã được ông thực hiện trong mười năm (1809 – 1819), chưa kể thời gian đọc sách, ghi chép, sưu tầm trước đó. Đây là “một bộ sách thường đọc của một đời”, là điểm đặc sắc trong lịch sử văn hoá nước nhà.

Phan Huy Chú viết: “Nước Việt ta tiếng khen lễ nghĩa đã hơn nghìn năm, vốn có thư tịch đã từ lâu lắm. Kể từ Đinh, Lê dựng nước đối địch với Trung Hoa, mệnh lệnh từ chương dần dần rõ rệt. Đến Lý, Trần nội trị, văn vật mở mang, về tham định thì có những sách điển chương điều luật, về ngự, chế thì có các thể chiếu sắc thi ca. Trị bình đời nối, văn nhã đủ điều. Huống chi, nho sĩ đời nào cũng có, văn chương nảy nở như rừng, sách vở ngày càng nhiều, nếu không trải qua binh lửa mà thành tro tàn… Than ôi! Sách vở các đời đã từng tản mát, sách mất đã khó sưu tầm, sách còn lại nhiều sai lẫn, đằng đẵng ngàn năm, biết theo vào đâu mà khảo xét? Nhưng sự học ở các nhà nho quý ở tìm rộng, có sách vở để làm bằng. Tôi bèn xét tìm sử cũ, tham khảo các nhà…” (Trích quyển XLII Lịch triều hiến chương loại chí). Một thoáng như vậy để thấy tầm suy xét của Phan Huy Chú khi bắt tay vào thực hiện pho sách đồ sộ này.

Phan Huy Chú chuộng thực làm, thực học, không ưa danh hão. Ông đặt trọng tâm cuộc đời vào việc viết sách và dạy học. Với ông “văn minh của loài người đều chứa trong sách vở”. Ông không may mắn về đường quan lộ, 2 lần khoa cử chỉ đạt học vị tú tài, đến tuổi tứ tuần mới nhận chức quan, trôi dạt trong cảnh quan trường thăng giáng, mờ tỏ.

PhanHuyChulichtrieuhienchuongloaichi


Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” ngày nay (*)

Phan Huy Chú bắt đầu làm quan Hàn lâm Biên tu từ năm 1821, khi vua Minh Mạng biết đến tài năng của ông và triệu vào Huế giữ chức này. Ông đã dâng bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” lên vua Minh Mạng, được vua thưởng 30 lạng bạc, 1 áo sa đỏ, 30 cây bút và 30 thỏi mực. Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) ông làm “Lang trung bộ Lại”, năm Minh Mạng thứ 6 (1825) được sung vào sứ bộ sang Trung Quốc. Năm 1828 làm Thừa phủ Thừa Thiên. Năm 1829 làm Hiệp trấn Quảng Nam, sau đó bị giáng. Năm 1831 được cử làm Phó sứ sang Trung Quốc lần 2, khi về bị cách chức. Năm 1832 đi Biên lực ở Giang Lưu Ba (nay là nước Indonesia). Xong nhiệm vụ trở về ông được khôi phục giữ chức Tư vụ bộ Công… Vua Minh Mệnh là người chuộng tài năng nhưng có tính tự phụ và đa nghi. Ông dè dặt với tầng lớp nho sĩ Bắc Hà có quan hệ với triều Tây Sơn, trọng khí tiết và có chính kiến. Phan Huy Chú bởi ấp ủ tấm lòng ưu ái vì dân nước nên năm 1823, khi được thăng chức Lang trung bộ Lại, đã mạnh dạn dâng sớ điều trần bốn việc: bớt thuế, bớt lính; thực hiện chế độ quân điền; bãi bỏ những cuộc hành binh dẹp loạn; nghiêm trị bọn sâu mọt chuyên đục khoét lương dân. Việc dâng sớ điều trần bốn việc của Phan Huy Chú đã bị vua Minh Mệnh quở trách. Ông cũng như nhiều bậc tài trí thời ấy đã không được vua thực sự tin dùng. Từ sau mấy lần bị vua Minh Mệnh đối xử thô bạo, ông trở nên kín đáo, tuy không vội từ quan nhưng không còn hăm hở như buổi đầu. Hơn mười năm làm quan, ông dù có lúc được thăng Hiệp trấn Quảng Nam, hai lần đi sứ, nhưng ông vẫn luôn bị vua trách phạt. Cuối cùng, chán cuộc đời làm quan, Phan Huy Chú vịn cớ đau yếu, xin từ quan về nhà mở trường dạy học ở Thanh Mai thuộc huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây) rồi mất tại đó năm Canh Tý 1840, thọ 58 tuổi.

PhanHuyChulangmo


Lăng mộ nhà bác học Phan Huy Chú
(Ba Vì – Hà Nội) Ảnh Nguyễn Văn Chiến (1)

PhanHuyChulangmo1


PHAN HUY CHÚ
(1782 – 1840)
Chữ Hán 潘輝注 tự Lâm Khanh
Thuở nhỏ có tên là Hạo sau đổi tên là Chú
Là một danh sĩ triều nhà Nguyễn.

Nhà thờ Phan Huy Chú hiện toạ lạc tại quê nhà Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Đây là di tích Lịch sử – Văn hoá đã được xếp hạng bởi Bộ Văn hoá – Thông tin ngày 24 tháng 11 năm 2000.

Hoàng Kim
Tuyển chọn, Biên soạn
Bài đăng lần 1 năm 2008, soát xét và bổ sung lần 2 năm 2012
hiệu đính và bổ sung lần 3 vào ngày 27 tháng 5 năm 2016
hiệu đính và bổ sung lần 4 vào ngày 27 tháng 5 năm 2019,
hiệu đính và hoàn thiện lần 4 vào ngày 27 tháng 5 năm 2021

Tài liệu tham khảo: 1) Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Phan Huy Chú; 2) Nguyễn Văn Chiến, 2009, Học vị, học vấn, học thuật Phan Huy Chú, Quê Hương Online; 3) Hội đồng Nhân dân thành phố Đà Nẵng 2000, Nghị quyết số 06-2000/NQ-HĐ, khóa VI, ngày 19-7-2000 về đặt tên một số đường của TP Đà Nẵng trong đó có đường Phan Huy Chú (kèm lược sử); 4) TS. Phan Huy Dục 2008. Phan Huy Chú và văn hoá Việt Nam. An ninh Thủ Đô Online (Phan Huy Chú, thư hoạ hình đầu tiên là trích dẫn theo Phan Huy Dục); 5) Lê Minh Quốc 2009. Nhớ Phan Huy Chú 1782-1840 Nhà bách khoa toàn thư của Việt Nam. Phụ Nữ Online (trang bìa sách Lịch triều Hiến chương loài chi trong bài này đã dẫn theo tài liệu của Nguyễn Xuân Diện). 6) Ảnh đầu trang: Phan Huy Chú và Văn hóa Việt Nam. Báo Đăk Lăk điện tử ngày 16 tháng 7 năm 2011.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Trăng rằm sen Tây Hồ

DemNguyenTieu

TRĂNG RẰM SEN TÂY HỒ
Hoàng Kim

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm.

Rằm Tháng Giêng năm 1994 gần nửa đêm là lúc mất của anh hai tôi Hoàng Ngọc Dộ, cũng là thời khắc tôi chào đời Rằm Tháng Giêng năm Giáp Ngọ 1954. Anh hai tôi lúc sinh thời có bài thơ Cuốc đất đêm, sau nay tôi tích hợp vào bài thơ Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng.

Bài tứ tuyệt “Trăng rằm sen Tây Hồ” được anh Gia Dũng chọn đưa vào “Ngàn năm thương nhớ” tuyển thơ Thăng Long Hà Nội (1010-2010) và anh Nguyễn Chu Nhạc có bài thơ Con chim xanh với bảy chữ xanh ngẫu đối với bảy chữ trăng trong “Trăng rằm sen Tây Hồ”; Nhà thơ Nguyễn Lâm Cúc có chùm thơ Đãi trăng, Không hẹn hò đời hóa hoang vu; Hát vu vơ thật hay. Tôi đã lưu lại chung chuyên trang này để làm kỷ niệm trong thông tin ‘Trăng rằm sen Tây Hồ’ tại https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/03/05/trang_ram-sen-tay-ho/ . Năm nay nhân cậu Hoàng Gia Cương đã bảo tồn bài thơ “Hồ Gươm” của ông Minh Sơn Hoàng Bá Chuân là em ruột của bà ngoại tôi với cậu tôi là bài “Rùa ơi”. Tôi xin được chép về ở chung trang này https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-sen-tay-ho/

Hồ Gươm
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân

Tô điểm Hà Thành một hạt châu
Ấy hồ Lục Thủy tiếng từ lâu
Trăng vờn cổ thụ mây lồng nước
Tháp hướng trời xanh gió lộng cầu !
Kiếm bạc hưng bang rùa vẫn ngậm?
Bút son kiến quốc hạc đương chầu !
Trùng trùng lá biếc hoa phơi gấm
Kía tượng vua Lê chót vót cao !

Minh Sơn Hoàng Bá Chuân NGÀN NĂM THƯƠNG NHỚ
Gia Dũng Tuyển thơ Thăng Long Hà Nội, trang 782

Rùa ơi
Hoàng Gia Cương

Rùa ơi, quá nặng phải không
Cõng bia Tiến sĩ lưng còng vậy ư?
Mấy trăm năm gội nắng mưa
Dẫu cho mòn đá cũng chưa xao lòng!

Hoa đời như sắc phù dung
Đổi thay sớm tối, khôn lường thịnh suy
Ngàn năm còn mất những gì
Mà hàng bia vẫn rạng ghi tên người!

Biết ơn rùa lắm rùa ơi
Giữ cho ta một khoảng trời nhân văn
Để tôn vinh bậc trí nhân
Để nền văn hiến nghìn năm không nhòa

Rùa ơi ta chẳng là ta
Nếu như đạo học lìa xa đất này

Hoàng Gia Cương NGÀN NĂM THƯƠNG NHỚ
Gia Dũng Tuyển thơ Thăng Long Hà Nội, trang 932
Hoàng Gia Cương THEO DÒNG THỜI GIAN
Thơ tuyển chọn 2013. NXB Văn Học Hà Nội, tr. 266

Trăng rằm xưa và nay
TRĂNG RẮM ĐÊM NGUYÊN TIÊU
Cuốc đất đêm
Hoàng Ngọc Dộ

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn.

Con chim xanh
Chu Nhạc

Con chim xanh trong tán lá xanh
Chỉ một màu xanh lay động
Tiếng hót nào trên trời xanh cao rộng
Con chim xanh bay rồi tán lá vẫn xanh.

(*) Ngẫu đối Chim xanh 7 chữ xanh và Trăng rằm 7 chữ trăng.

Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng
Hoàng Kim
Thân tặng Lâm Cúc

Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Buồn ư em?
Trăng vằng vặc trên đầu!

Ta nhớ Anh ta xưa mưa nắng dãi dầu
Khi biệt thế gian chọn trăng làm bạn
“Trăng tán trời mưa, trăng quầng trời hạn”
Dâu bể cuộc đời đâu chỉ trăm năm?

Mười lăm trăng qủa thật tròn
Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn (1)

Ta mời em uống rượu ngắm trăng
Mấy khi đời có một người tri kỷ?
Nâng chén nhé!
Trăng vàng như giọt lệ
Vui ư em?
Trăng lồng lộng trên đầu!

Ta nhớ Bạn ta vào tận vùng sâu
Để kiếm tìm ta, người thanh xứ núi
Cởi bỏ cân đai xênh xang áo mũ
Rượu đế, thưởng trăng, chân đất, đũa tre.

Hoa mận chờ trăng nhạt bóng đêm
Trăng lên vời vợi vẫn êm đềm
Trăng qua vườn mận, trăng thêm sáng
Mận đón trăng về, hoa trắng thêm

Ta cùng em uống rượu ngắm trăng
Ta có một tình yêu lặng lẽ
Hãy uống đi em!
Mặc đời dâu bể.
Trăng khuyết lại tròn
Mấy kẻ tri âm?

Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm

Hoàng Kim
1) Hoàng Ngọc Dộ. Cuốc đất đêm

Đãi trăng
Nguyễn Lâm Cúc

Hôm nay nhàn ta mở tiệc mời trăng
Để thỏa thích bưng dòng sông ra uống
Bày lên mâm là dạt dào cảm hứng
Bạn tri âm, bạn có vui cùng?

Này trăng, trăng chớ ngại ngần
Cạn ly nhé. Sông có vơi cũng mặc.
Say thì say nhưng đừng khóc!
Trần gian…cứ mặc kệ trần gian.

Không hẹn hò đời hóa hoang vu
Nguyễn Lâm Cúc

Hôm nay buồn lại bày tiệc gọi trăng
Lại mời rượu
Lại bưng sông ra uống
Đặt lên mâm những quả tình nẫu chín
Hái từ vườn ấp ủ trăm năm

Nào,
Cạn ly nhé trăng!
Chớ có chau mày mà xôn xao vằng vặc
Mây bạc đầu còn lang thang như hành khách
Dưới vòm trời nơi nao chẳng cô đơn?

Chốn ồn ào chắc gì đã vui luôn?
Nói nhiều, cười nhiều. Mấy câu là thật
Đâu hay gì khi khoe sầu chất ngất
Nhưng ít ra đó là nỗi lòng ta

Nào,
Nghiêng sông, rót nữa trăng ha!
Muôn thuở tràn trên chén đầy dâu bể
Trăng ơi!
Ta có một tình yêu lặng lẽ
Không hẹn hò đời hóa hoang vu.

Hát vu vơ
Nguyễn Lâm Cúc

Trần gian một chuyến rong chơi
Thấy trăng giữa chợ, đông người vỗ tay
Mua vui một cuộc rõ hài
Gọi trăng, trăng khẽ chau mày rồi thôi…

Gõ sênh, vỗ phách, tôi cười
Nghêu ngao cất giọng hát lời bốn phương

Đó đường, đây đường, kia đường
Mà sao phải cứ đoạn trường bước đi
Buốt làm sao câu trở về
Có bằng ngồi tạm vĩa hè…mà chơi

Tình ơi! Nghĩa ơi! Thương ơi!
Bao lần ngoảnh lại gọi người khản khô
Tưởng sông rồi lại tưởng đò
Những lất phất ấy…chỉ bờ lau thưa.

TRĂNG RẰM VUI CHƠI GIĂNG
Hoàng Kim
:

Em đi chơi cùng Mẹ
Trăng rằm vui chơi giăng
Thảo thơm vui đầy đặn
Ân tình cùng nước non.

Trăng khuyết rồi lại tròn
An nhiên cùng năm tháng
Ơi vầng trăng cổ tích
Soi sáng sân nhà em.

Đêm nay là đêm nao?
Ban mai vừa ló dạng
Trăng rằm soi bóng nắng
Bạch Ngọc trời phương em

*

Trăng rằm đường sáng dạo chơi giăng,
Nhớ Bác đôi câu hỏi chị Hằng:
“Thế nước thịnh suy sao đoán định?
Lòng dân tan hợp biết hay chăng?
Vành đai thế biến nhiều mưu hiểm,
Con đường lực chuyển lắm lăng nhăng?
Dân Nam Tiếng Việt nhiều gian khó
Hưng thịnh làm sao hỡi chị Hằng?”.

*
“Bác Hồ thơ ‘Chơi giăng’ đó ông
Vầng trăng cổ tích sáng non sông,
Tâm sáng đức cao chăm việc tốt
Chí bền trung hiếu quyết thắng không?
Nội loạn dẹp tan loài phản quốc
Ngoại xâm khôn khéo giữ tương đồng.
Khó dẫu vạn lần dân cũng vượt.
Lòng dân thế nước chắc thành công”.

Nguyên vận thơ Bác Hồ
CHƠI GIĂNG
Hồ Chí Minh


Gặp tuần trăng sáng, dạo chơi giăng,
Sẵn nhắn vài câu hỏi chị Hằng:
“Non nước tơi bời sao vậy nhỉ?
Nhân dân cực khổ biết hay chăng?
Khi nào kéo được quân anh dũng,
Để dẹp cho tàn bọn nhố nhăng?
Nam Việt bao giờ thì giải phóng
Nói cho nghe thử, hỡi cô Hằng?”.

*
Nguyệt rằng: “Tôi kính trả lời ông:
Tôi đã từng soi khắp núi sông,
Muốn biết tự do chầy hay chóng,
Thì xem tổ chức khắp hay không.
Nước nhà giành lại nhờ tài sắt,
Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng.
Tổ chức, tuyên truyền càng rộng rãi,
Tức là cách mệnh chóng thành công”.

Báo Việt Nam độc lập, số 135, ngày 21-8-1942. Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-vui-choi-giang/

HÀ NỘI MÃI TRONG TIM
Hoàng Kim

Đền Ngọc Sơn Hồ Gươm
Hoàng Thành ngọc cho đời
Tháp Bút viết trời xanh
Trăng rằm sen Tây Hồ

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/den-ngoc-son-ho-guom/https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-thanh-ngoc-cho-doi/
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thap-but-viet-troi-xanh/
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram-sen-tay-ho/

Sớm xuân Đại Lãnh
Bình minh Đại Lãnh
Tàu qua Đại Lãnh
Đá Dựng Đại Lãnh

SỚM MAI QUA ĐẠI LÃNH
Hoàng Kim

Vui được dịp sớm mai qua Đại Lãnh
Ngắm đất trời núi biển lúc hừng đông
Nghe vó ngựa ruổi dài đường vạn dặm
Đá Bia ơi.thăm thẳm đất Tiên Rồng

DẠY VÀ HỌC https://hoangkimvn.wordpress.com
ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Bài ca thời gian
Run away with me.
I will be right here waiting for you
Run away with me

Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365 Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, hoangkim vietnam; Kim on Twitter

Gặp bạn ở quê nhà

GẶP BẠN Ở QUÊ NHÀ
Hoàng Kim


Rộn ràng câu chuyên cũ
Trực Đức ba bốn mốt (F341)
Kim Dục ba hai lăm (F325)
Đức Định Trọng bạn văn
Ngọ Ngời đều bạn lính
Cố hương và thân quyến
Đi đâu cũng hẹn về

*
Ngày hai sáu tháng năm
Mừng ngày sinh nhật bạn
Vui khỏe và viên mãn
Trăng rằm rạng bóng chiều
Ảo ảnh siêu trăng rằm
Mười tám giờ mười tám
Trăng rằm giữa ban ngày
Rằm tháng Tư (Al) năm nay

https://hoangkimvn.wordpress.com/2021/05/26/trang-ram-rang-bong-chieu/ — với Trương Minh Dục và 21 người khác.

xem tiếp Gặp bạn ở quê nhà

GẶP BẠN Ở QUÊ NHÀ
Hoàng Kim
Về Quê Choa gặp bọ Nguyễn Quang Lập tôi hỏi: Gia đình đều khỏe chứ? Lập và Nguyễn Quang Vinh có viết gì mới? “Sài Gòn giải phóng tôi” có đăng ở đâu không?. Bạn nói : Gia đình khỏe. “Sân khấu ngoài trời của Nguyễn Quang Vinh” là bài mới nhất. “Sài Gòn giải phóng tôi” có đăng ở người Lao động nhưng chỉnh sửa tựa đề. Mình nay viết ít hơn. Tôi đùa: Bạn buông bỏ bớt. Chúc mừng bọ Lập bạn bây giờ chỉ lắng đọng những điều tâm đắc

Chào ngày mới 27 tháng 4: Lúa siêu xanh Việt Nam; Nơi một trời thương nhớ; Câu chuyện ảnh tháng Tư; Gặp bạn ở quê nhà; Quảng Bình đất mẹ ơn Người. Tháng năm nhớ lại và suy ngẫm. Nhớ châu Phi; Thổ Nhĩ Kỳ với ‘vành đai và con đường’ Thổ Nhĩ Kỳ nông nghiệp sinh thái. Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/cate…/chao-ngay-moi-26-thang-4/

SÂN KHẤU NGOÀI TRỜI CỦA NGUYỄN QUANG VINH.
Nguyễn Quang Lập


Đã tới lúc các nhà lý luận sân khấu cần nói tới sân khấu ngoài trời, một loại hình nghệ thuật mới mẻ và hấp dẫn, nếu tui không nhầm thì nó khởi đầu từ Nguyễn Quang Vinh, hiện đang làm chủ bởi Nguyễn Quang Vinh.

Bắt đầu từ việc tổ chức các sự kiện văn hoá- lịch sử ngoài trời và việc truyền hình trực tiếp các tác phẩm sân khấu, Nguyễn Quang Vinh đã sân khấu hoá các sự kiện lịch sử- văn hoá, đồng thời mở rộng không gian ước lệ của sân khấu truyền thống, khéo léo kết hơp giữa ngôn ngữ tả thực đương đại và ngôn ngữ ước lệ truyền thống đưa đến một ngôn ngữ sân khấu hoàn toàn mới mẻ. Sân khấu ngoài trời ra đời từ đó.

Sân khấu ngoài trời là một tác phẩm sân khấu với một không gian khác biệt, một ngôn ngữ khác biệt so với sân khấu truyền thống, đưa đến nhiều hứng cảm mới cho văn hoá đại chúng, tạo ra một gout thẩm mỹ mới cho sân khấu nước nhà.

Trước nay tui chưa thừa nhận chú em của mình bất kỳ cái gì chú ấy làm, trừ các phóng sự chân dung đăng trên báo Lao Động. Với sân khấu ngoài trời thì tui thừa nhận một cách tâm phục khẩu phục.

Cứ nghĩ Vinh chẳng có tài gì ngoài tài học mót, chẳng ngờ chú ấy đã đưa đến cho sân khấu nước nhà một loại hình sân khấu- ước mơ lớn của nghệ sĩ sân khấu nước nhà từ thời sân khấu quay những năm 80 thế kỷ trước.

MỪNG!

Hoàng Minh Đức với Trương Minh Dục4 người khác.28 tháng 4, 2019 lúc 14:53 ·

Nhân kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam những cựu chiến binh Việt Nam làng Minh Lệ đến nhà 3 anh em ông Trương Minh Đức, gặp gỡ ôn lại những ký ức chiến tranh. Từ trái sang phải P Giáo sư Tiến sỹ Trương Minh Dục, Tổng Biên tập báo Đà Nẵng, Trung úy Trương Công Định, SQ pháo binh Hoàng Đăng Ngọ, Trần Thị Thé (vợ PGSTS Trương Minh Dục) Thượng sỹ Trương Minh Đức, giáo viên, Tiến sỹ Nông học Hoàng Kim,Đại đội trưởng bộ binh, Thượng tá CA Hoàng Minh Trúc. Bốn người tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30/4/1975) còn nguyên vẹn đúng 11 giờ 30 phút khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng là các CCB: Đức, Dục, Ngọ, Kim trong ảnh.Ba anh Kim, Dục, Đức trở lại nhà trường học tiếp, Ngọ ở lại đánh đấm tiếp với Pôn pốt rồi chuyển sang ngành thuế.

Hoàng Minh Đức (bìa trái) là thầy giáo nhà văn người lính, anh vừa có bài thơ hay hôm nay cho sự tiếp nối Văn nghệ Quảng Minh số 16 : “Chiều ga Minh Lệ”: Nắng chiều vàng rực sân ga / Rộn ràng những chuyến tàu ra tàu vào / Bánh đa đây tiếng em rao / Nước chè vằng chị mời chào người mua / Bâng khuâng kẻ tiễn người đưa / Bồi hồi tìm lại chốn xưa người về / Gió nồm mát rượi chân đê / Diều mang khúc nhạc đồng quê lên trời / Sông Nan bên lở bên bồi / Nhịp cầu Minh Lệ nghiêng soi giữa dòng.

GẶP BẠN Ở QUÊ NHÀ. Chúc vui Hoàng Minh Thuần. “Khoai quê mình là sâm ăn bữa sáng của người làm ruộng” mà. Bác Giáp lúc trước khi nói chuyện ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đã dùng câu ấy. Giống khoai vàng Đồng Chăm ăn rất bùi và thơm ngon. Hôm mình về Làng Minh Lệ, vợ chồng của thầy cô Hoàng Minh Đức, Trần Niềm tặng khoai ngon, mang vào Đồng Nai ăn rất thích.

QUẢNG BÌNH ĐẤT MẸ ƠN NGƯỜI
Hoàng Kim

Quảng Bình đất Mẹ ơn Người
Tổ tiên cát bụi nhiều đời thành quê
Đinh ninh như một lời thề
Trọn đời trung hiếu để về dâng hương

Lòng son trung chính biết ơn
Quê hương chung đúc khí thiêng Quảng Bình
Về quê kính nhớ Tổ tiên
Mừng vui giữa chốn bạn hiền người thân

Đất trời ngày mới thanh tân
Thung dung thăm hỏi ân cần níu chân.
Đường xuân như một dòng sông
Việt Nam thống nhất thác ghềnh đến nơi.

Hồn chính khí bốc lên ánh sáng
Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn’.
Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa
Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/quang-binh-dat-me-on-nguoi/

NG
Lò Cao Nhum


Chín sẽ quên và mười sẽ quên
Nhưng không quên Pú Thẩu (*) Đại tướng
Mùa hoa vông đếm hoa vông ngồi đợi
Mùa hoa bưởi ngắt hoa bưởi chờ mong.

Về Mường Phăng câu ca còn ngân
Sáu mươi mùa ve sôi chín núi
Ngày noọng sao hát lời buộc trói
Pú Thẩu về sợi chỉ về theo.

Củ mài thơm vương mái lán nghèo
Nuôi câu hát dành người vào trận
Mật ong rừng Phiêng Lét vàng đậm
Mãi ngọt bền lòng dạ Mường Phăng.

Dấu rừng xưa còn đắng mùa măng
Núi quay quắt tháng ba ngày tám
Chín sẽ quên và mười sẽ quên
Nhưng không quên Pú Thẩu Đại tướng.

Thương Pú về Vũng Chùa chắn sóng
Người Mường Phăng hát tiễn cửa rừng
Tinh khiết mùa hoa vông, hoa bưởi
Thắp lòng chờ Đại tướng mường ta.

Lác, 19/4/2014
————–
(*) Pú thẩu: Cách gọi tôn kính nhất đối với người già cả của người Thái.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Nhớ bạn hiền xóm núi

NHỚ BẠN HIỀN XÓM NÚI
Hoàng Kim


Bạn hiền nắng ấm trăng thanh
Thoáng chốc thời gian nhìn lại
Sự thật tốt hơn ngàn lời nói
Ngắm vầng trăng cổ tích
Con đường xanh yêu thương

NHỚ LÃO KHOA TÌM RA RƯỢU NÚI
Hoàng Kim


Lão Khoa thơ văn như phù thủy
Tôi kể truyện này đã năm năm
Hôm nay thung dung về chốn cũ
Bất ngờ Rượu núi Lò Cao Nhum

“Nào bạn ơi!
Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời.
Chụm bền ngọn núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời” (1)

“Chiều buông ngọn khói hoang sơ
Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây”
“Cái còn thì vẫn còn nguyên
Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan” (2) .

“Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm” (3)

Mình ở xóm lá với Lão Khoa (4)
Hoa và Ong việc ai siêng nấy
Rượu núi hôm nay vui biết mấy
Bạn hiền nắng ấm trăng thanh

Cảm nhận trên trang Rượu núi nhân dịp ghé thăm CÂU HÁT MƯỜNG PHĂNG “Chín sẽ quên và mười sẽ quên Nhưng không quên Pú Thẩu Đại tướng”

(1) Thơ Lò Cao Nhum
(2) Thơ Trần Đăng Khoa
(3) Thơ Hoàng Kim
(4) Bài viết “Nhớ Lão Khoa tìm ra rượu núi”
cảm nhận và bài đăng lần đầu tiên

CÂU HÁT MƯỜNG PHĂNG
Lò Cao Nhum


Chín sẽ quên và mười sẽ quên
Nhưng không quên Pú Thẩu (*) Đại tướng
Mùa hoa vông đếm hoa vông ngồi đợi
Mùa hoa bưởi ngắt hoa bưởi chờ mong.

Về Mường Phăng câu ca còn ngân
Sáu mươi mùa ve sôi chín núi
Ngày noọng sao hát lời buộc trói
Pú Thẩu về sợi chỉ về theo.

Củ mài thơm vương mái lán nghèo
Nuôi câu hát dành người vào trận
Mật ong rừng Phiêng Lét vàng đậm
Mãi ngọt bền lòng dạ Mường Phăng.

Dấu rừng xưa còn đắng mùa măng
Núi quay quắt tháng ba ngày tám
Chín sẽ quên và mười sẽ quên
Nhưng không quên Pú Thẩu Đại tướng.

Thương Pú về Vũng Chùa chắn sóng
Người Mường Phăng hát tiễn cửa rừng
Tinh khiết mùa hoa vông, hoa bưởi
Thắp lòng chờ Đại tướng mường ta.

Lác, 19/4/2014
————–
(*) Pú thẩu: Cách gọi tôn kính nhât đối với người già cả của người Thái.

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Chuyện thầy Nguyễn Tử Siêm

CHUYỆN THẦY NGUYỄN TỬ SIÊM
Hoàng Kim

Nhà khoa học đất Nguyễn Tử Siêm là tác giả và đồng tác giả của 10 bộ sách cẩm nang nghề nghiệp và 121 bài báo khoa học, phần lớn đều có liên quan mục từ ‘Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam’. Giáo sư Nguyễn Tử Siêm trong ban biên tập Việt Nam Bách Khoa Thư biên soạn tập 9 Nông nghiệp và Thủy lợi. Mười sách chuyên khảo bao gồm 1) Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên 1999. ‘Đất đồi núi Việt Nam thoái hóa và phục hồi’; 2) Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006; 3) Đất và sử dụng đất vùng cao Việt Nam, 2002; 4) Cây phủ đất ở Việt Nam, 2002; 5) Từ điển Thổ nhưỡng Anh-Việt, 2001; 6) Từ điển thuật ngữ Anh Việt về quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao, 2001; 7) Đất Việt Nam, 2000; 8) Giáo trình Chọn giống cây trồng, 2000; 9) Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam, 1998; 10) Nghiên cứu Đất và Phân bón, 1976 . Những sách chuyên khảo này và các mục từ mà thầy đã tổ chức biên soạn trong Việt Nam Từ điển Bách khoa thư. giúp chúng ta kinh nghiệm và sự hiểu biết về đất đồi núi từ  lý thuyết đến thực hành, quan hệ tới đất nước với cây trồng và thức ăn. Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam, đại cương nội dung gồm: 1. Các yếu tố xói mòn & Khả năng dự báo xói mòn. 2. Nguy cơ xói mòn rửa trôi & Biện pháp khắc phục. 3. Thoái hóa & Phục hồi đất dốc. 4. Chất hữu cơ & Độ phì nhiêu đất 5. Tuần hoàn chất hữu cơ & Biện pháp phục hồi đất nghèo. 6. Quản lý dinh dưỡng tổng hợp, nâng cao hiệu lực phân bón. Biện pháp tổng hợp quản lý bền vững đất dốc

nguyentusiem2

NGUYỄN TỬ SIÊM HẬU DUỆ ĐẤT LÀNH 

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm sinh ra ở làng Thư Điền thuộc xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, nổi danh là ‘đất học’. “Thư Điền ” được lấy ý từ câu thơ “Thư điền vô thuế tử tôn canh” nghĩa là  ‘sách là ruộng không phải đóng thuế, con cháu cần nên ngày cày ruộng đêm đọc sách’. Dòng họ Nguyễn Tử “vốn dòng thi lễ đời đời văn học”. Giáo sư Nguyễn Tử Siêm sinh nơi ấy và nhờ nơi ấy nên may mắn đã tiếp nhận được những di sản của quê hương và dòng họ để thành chuyên gia đầu ngành về đất. Giáo sư đã biên soạn 9 tác phẩm, dày dặn nhất là Đất Việt Nam năm 2000, Nhà Xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 600 trang. Nguyễn Tử Siêm hậu duệ đất lành.

Ninh Bình là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, lui có thế thủ, tiến có thể công” chót cạnh đáy của Tam Giác Châu Bắc Bộ . Dãy núi Đông Bắc là 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Đông Triều tạo thế Trường thành chắn Bắc. Dãy núi Tây Nam là dãi Tản Viên với 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù Nga Sơn tạo thành địa danh nổi tiếng Thần Phù  trong thơ “Quá Thần Phù cảm tác’ của Nguyễn Trãi và câu ca dao cổ:

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Cụ Nguyễn Tử Mẫn, người Thư Điền , Ninh Nhất trong tác phẩm “Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo luận” năm 1862 là chuyên khảo tường tận tỷ mỷ về vùng đất và con người Ninh Bình đã viết: “Ninh Bình là nơi chứa những vật báu của trời, nơi nổi tiếng có nhiều danh thắng, đó lại là điều khiến địa lý tỉnh Ninh ta càng không thể không được nghiên cứu tường tận“.  Trong ‘Lời tựa’  của giáo sư Trần Quốc Vượng tại tác phẩm” Địa chí Văn hóa Dân gian Ninh Bình” do Trương Đình Tưởng chủ biên, Nhà Xuất Bản Thế Giới năm 2004 đã viết: “Tại Nhà thờ đá Phát Diệm do Cố Lục xây dựng năm 1891 ở ngay sát bờ biển nay đã lùi sâu vào đất liền khoảng 20 km. Từ đó tôi tin theo tài liệu địa lý học (xem Lê Bá Thảo, Hoàng Thiếu Sơn, Vũ Tự Lập) là ở miền tây nam châu thổ Bắc bộ- chủ yếu ở Ninh Bình- mỗi năm trung bình phù sa lấn biển khoảng 100m“.

Ninh Bình là nôi khai sinh của người Việt cổ và chốn tổ của nghề lúa, có sông Hoàng Long huyền thoại chạy giữa lòng, điểm nhấn di sản Tràng An, ẩn chứa nhiều bí ẩn văn hóa lịch sử. Ninh Bình là một vùng đất cổ và cũng là một vùng đất mới. Mạch tâm linh dân tộc ký thác cho người, vật, cây cỏ của đất ấy bảo tồn và phát triển đường sống. Có người may mắn được làm thư đồng của quê hương và dòng họ để lưu giữ và trao lại cho đời sau những chỉ dấu.

Riêng Tài nguyên đất Ninh Bình thôi, các nhà nông học và thổ nhưỡng đã phân chia đất đai Ninh Bình thành 19 loại gộp thành 5 nhóm đất cơ bản. Nhóm đất phù sa có diện tích 74,53 nghìn ha chiếm 53% diện tích gồm 9 loại; nhóm đất đỏ vàng có 25,00 nghìn ha chiếm 17,8% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh; nhóm đất mặn có diện tích khoảng 14,19 nghìn ha chiếm 10,1%; nhóm đất xám bạc màu 3,48 nghìn ha chiếm 2,5% ; Nhóm đất thung lũng dốc tụ  có diện tich 1,60 nghìn ha chiếm 1,1% tổng diện tích đất tự nhiên. Nhìn chung tài nguyên đất của Ninh Bình có độ phì trung bình với ba loại địa hình là đồi núi đồng bằng và ven biển vì thế tỉnh có thế mạnh để phát triển nông lâm nghiệp kết hợp theo hướng đa dạng hóa. Vùng đồi núi có nhiều tiềm năng để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp vật liệu xây dựng.

Tôi nói với các em sinh viên: “Chúng ta rất cần nắm vững và xử lý tốt thông tin đất Việt Nam đất và cây trồng vật nuôi của từng tiểu vùng và địa phương cụ thể để ứng dụng thực tiễn cuộc sống. biết học thầy, học bạn, suy xét, đánh giá chất lượng thông tin và biết đọc. Các em cần nắm những thông tin cơ bản khái quát trên đây nhưng để thấu hiểu thì nên đọc sâu vào chi tiết và tốt nhất là nên đọc thẳng vào vận dụng hiệu quả những tài liệu khảo cứu sâu viết cho từng tiểu vùng sinh thái cụ thể. Nguyễn Tử Siêm đất Việt Nam là sách hay đáng đọc .

NGUYỄN TỬ SIÊM CUỘC ĐỜI NGHỀ ĐẤT

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm sinh ngày 10 tháng 5 năm 1942, tại làng Thư Điền, thuộc huyện Gia Khánh, phủ Trường An (nay thuộc xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình). là một trong những chuyên gia đầu ngành về đất đồi núi Việt Nam, chủ yếu trong các lĩnh vực bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi, phục hồi độ phì nhiêu đất, canh tác vùng cao. Đất đai là tài nguyên nuôi sống con người. GS. Nguyễn Tử Siêm đã khéo chọn đất làm nghề nghiệp. Thổ quyển quan trọng như sinh quyển, khí quyển. Đất lành và việc sử dụng đất hiệu quả bền vững để không thoái hóa là cực kỳ cấp thiết. Đất và thức ăn là tầm nhìn và kinh nghiệm đáng suy ngẫm trong đúc kết 500 năm nông nghiệp Brazil  thật đáng suy ngẫm. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm cũng là một trong số những nhà khoa học Việt Nam quan tâm nhiều đến xã hội thông qua các comment trên nhiều website.

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội năm 1964, làm nghiên cứu viên tại Bộ Nông trường Quốc doanh, Trạm Nghiên cứu Cây Nhiệt đới Tây Hiếu, từ năm 1964-1969. Bài báo khoa học đầu tiên là ‘Biện pháp sản xuất nhanh phân hữu cơ ở nông trường quốc doanh’ năm 1968. Cuối năm 1969, ông được cử làm nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Lômônôsôp Liên Xô và bảo vệ thành công Luận văn Tiến sĩ năm 1974.Ông về Việt Nam làm trưởng Bộ môn rồi Phó Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng và Nông hóa (NISF) từ năm 1974-1993 . Ông được phong Phó Giáo sư Nông nghiệp năm 1991. Từ năm 1994- 2000, ông lần lượt giữ các chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Cục trưởng Cục Khuyến nông Khuyến lâm, Trưởng ban Quản lý các dự án Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.  Ông làm chuyên gia tư vấn tự do từ 2001 đến nay. Ông được phong học hàm Giáo sư Nông nghiệp năm 2002.

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm là một trong các chuyên gia đầu ngành của Hội Khoa học Đất Việt Nam. Ông là giáo sư có uy tín, sử dụng thành thạo 4 ngoại ngữ Nga, Trung, Anh, Pháp; được mời tham gia giảng dạy ở nhiều trường Đại học trong và ngoài nước. Từ năm 2016 đến nay là Trưởng ban, Ban Soạn thảo Bách khoa Toàn thư Nông nghiệp và Thủy lợi, thuộc đề án Bách khoa Toàn thư Việt Nam. Làm việc kiêm nhiệm. Tác phẩm chính của GS. Nguyễn Tử Siêm là 9 cuốn sách đã in và 121 bài báo khoa học Hội Khoa học Đất Việt Nam  (Land Science Association Of VietNam) là đội ngũ khoa học đất Việt Nam thật to lớn và mạnh mẽ. Hội được thành lập ngày 30 tháng 8 năm 1991 có Trụ sở ở 61 Hàng Chuối, Hà Nội. Mục đích của Hội nhằm tập hợp và đoàn kết những nhà khoa học làm công tác về đất của Việt Nam. Hội Khoa học Đất Việt Nam tính đến năm 2014 đã tập hợp được 750 hội viên bao gồm 100 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, 170 thạc sĩ và 480 kỹ sư làm công tác khoa học kỹ thuật về đất bao gồm các mặt điều tra, nghiên cứu, sử dụng, bảo vệ, cải tạo, giảng dạy, quy hoạch quản lý đất để nâng cao trình độ, phổ biến kiến thức, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao độ phì đất, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.

Nhiều chuyên gia đất phân và thầy bạn quý của tôi (Hoàng Kim) có trong Hội Khoa học Đất Việt Nam.Tôi nhớ nhất những người trong số đó có TS Trần Khải, chủ tịch đầu tiên của Hội; Thầy GS. Đỗ Ánh, Thầy GS. Lê Văn Căn, PGS. Giám đốc VAAS Nguyễn Văn Bộ,  GS Võ Tòng Xuân, PGS Bùi Bá Bổng; TS Tôn Gia Huyên; GS.TSKH Phan Liêu, GS Đỗ Đình Sâm; GS. Trương Công Tín, GS Vũ Cao Thái, GS Thái Phiên, GS. Trần An Phong,  GS. Võ Minh Kha, GS. Cao Liêm, GS. Tôn Thất Chiểu, GS. Nguyễn Vi, GS Bùi Đình Dinh; GS Vũ Hữu Yêm; GS Lê Văn Tiềm; PGS Nguyễn Thị Dần; PGS Lê Thái Bạt; KS Đỗ Đình Thuận; PGS. Lê Văn Thượng,  PGS.Vũ Năng Dũng, chủ tịch Hội Khoa học Đất Việt Nam, GS. Nguyễn Tử Siêm, TS Nguyễn Đình Bồng, GS Bùi Quang Toản; GS Trần Công Tấu; GS Lê Văn Khoa; GS Võ Quang Minh; PGS. Lê Xuân Đính, PGS. Huỳnh Thanh Hùng, TS. Phạm Quang Khánh, TS Nguyễn An Tiêm; PGS. Mai Thành Phụng,  GS Nguyễn Thế Đặng; GS. Hoàng Thị Thái Hòa, PGS Nguyễn Ngọc Nông; TS Võ Thị Gương; TS Đỗ Thị Thanh Ren; TS Đào Thị Gọn; PGS. Công Doãn Sắt, TS. Nguyễn Thúc Huyên, PGS. Trình Công Tư, TS. Phạm Sĩ Tân, TS Nguyễn Đăng Nghĩa, TS. Đỗ Trung Bình, TS. Phan Thị Công, TS. Nguyễn Xuân Lai, TS. Bùi Huy Hiền, TS. Hoàng Văn Tám, TS. Chu Văn Hách, TS. Nguyễn Văn Tân, TS. Nguyễn Quang Chơn, KS. Phan Văn Tự; TS. Trần Văn Thịnh, TS. Nguyễn Thanh Bình, ThS Lê Văn Dũ, ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương, ThS. Bùi Văn Hải, ThS. Lê Ngọc Lâm …

datvietnam

“Bản đồ đất Việt Nam” do Hoàng Kim, Phạm Văn Biên, Reinhardt Howeler công bố ở FAO năm 2003, là sự kế thừa và đúc kết các số liệu cơ bản trực tiếp quản lý và sử dụng đất: Nhóm đất đỏ vàng gần 20,0 triệu ha; Nhóm đất phù sa khoảng 3,5 triệu ha (phù sa sông Cửu Long 850 nghìn ha, phù sa sông Hồng 600 nghìn ha và đất phù sa các con sông khác) Nhóm đất xám bạc màu khoảng 3,0 triệu ha; Nhóm đất phèn khoảng 2,0 triệu ha; Nhóm đất mặn khoảng 1,0 triệu ha; Nhóm đất cát khoảng 550 nghìn ha. Sự phân bố và tính chất đất cơ bản’ trong tài liệu trên của chúng tôi là dựa trên thông tin gốc sách ‘Đất Việt Nam’ năm 2000 của Giáo sư Nguyễn Tử Siêm và những cập nhật mới của PGS. Nguyễn Văn Bộ 2000 (Sau này được đúc kết trong sách Nguyễn Văn Bộ chủ biên, Bùi Huy Hiền, Hồ Quang Đức, Nguyễn Công Vinh, Nguyễn Văn Vân, Roland J. Buresh, 2009. Hướng dẫn quản lý dinh dưỡng cho cây lúa theo vùng đặc thù của Việt Nam. Nhà Xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 204 trang. http://nhasachvietnam.blogspot.com/2016/10/vaas-huong-dan-quan-ly-dinh-duong-cho.html)

NGUYỄN TỬ SIÊM TRANG ĐỜI LẮNG ĐỌNG

Chúng ta đang hướng đến những tài liệu học trực tuyến, tìm đến những người Thầy và các trang sách mở để được tư vấn trao đổi về bài học thực tiễn và tình yêu cuộc sống. Hoàng Kim chưa có điều kiện đúc kết tài liệu , chỉ trích dẫn ít thông tin thú vị và bài viết mới cập nhật. Giáo sư Nguyễn Tử Siêm có lối viết ngắn, ấn tượng. Dưới đây là một vài trích dẫn:ấn tượng bài viết của GS Nguyễn Tử Siêm tôi trích chép lại

Nhớ một trí thức chân chính
GSTS, Nguyên BT Nguyễn Quang Hà

Những bức hình về GSTS, BT Nguyễn Quang Hà được đưa lên 2 năm về trước đúng ngày tôi nhận được tin ông từ trần. Song do chưa phát tang, nên không dám nói gì, chỉ âm thầm buồn. Sinh ly tử biệt đã buồn; trường hợp về hưu của ông còn rất đau lòng.

Sinh ra ở làng lụa Vạn Phúc, trong một gia đình có công với cách mạng, ông tu dưỡng, học hành bài bản, trở thành nhà khoa học lâm nghiệp đầu đàn, Viện trưởng Viện Điều tra Qui hoạch Rừng, rồi làm Bộ trưởng Bộ Lâm Nghiệp; khi sát nhập 2 bộ, ông giữ chức Thứ trưởng thường trực Bộ NN & PTNT.

Đúng cái lúc ông về hưu, nhẹ nhàng, thanh thản, những tưởng vui thú điền viên nơi mành vườn quê, thì vụ án động trời ở Bộ bùng phát sau nhiều năm âm ỉ, làm ông vướng vòng lao lý. Vụ án là chuyện của pháp luật. Tôi chỉ muốn biểu thị lòng tin rằng ông trong sạch, không toan tính tơ hào gì về lợi ích. Với tôi, vẫn nguyên vẹn hình ảnh một trí thức chân chính, dù rằng cấp trên trực tiếp của ông ngảnh mặt đi.

Xin thắp nén nhang nhân ngày giỗ thứ hai của ông – một bậc đàn anh đáng kính trong nghề, hiền lành và đức độ bậc nhất.
(NTS 25.11.2018)./.

Cây lúa Việt Nam có gì đẹp?
Nguyễn Tử Siêm
báo Tia Sáng 04/12/2019 07:30

Gần 50 năm trước, câu hát trong bài Hai chị em của nhạc sỹ Hoàng Vân “Hỡi ai đã đi năm châu bốn biển, Hỏi rằng có gì đẹp trong cây lúa Việt Nam?” ngân lên chan chứa niềm vui và tự hào về “kỷ lục” năm tấn một héc ta trên cánh đồng Thái Bình. Đóng góp vào đột phá ấy là công sức của rất nhiều nhà nghiên cứu, kỹ sư và nông dân, trong đó không thể không kể đến một cái tên, giáo sư Bùi Huy Đáp.

Giáo sư Bùi Huy Đáp viết nhiều sách, riêng về lúa, 2 cuốn “Cây lúa miền Bắc Việt Nam” (1964) và “Cây lúa Việt Nam” (1981) của ông mang tính kinh điển và thuộc loại “bách khoa toàn thư” của nghề trồng lúa nước.  Ngoài ra, ông còn có “Lúa Việt Nam trong vùng Nam và Đông Nam châu Á” (1978), “Văn minh lúa nước và kĩ thuật trồng lúa Việt Nam” (1985), “Ca dao tục ngữ với khoa học nông nghiệp”(1999), “Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ 21” (1998). Hầu hết các cuốn sách này đều có mặt trong các thư viện quốc tế.  

Cách tiếp cận độc đáo

Ngày nay, chúng ta đều biết đến giáo sư Bùi Huy Đáp, người được mệnh danh là người đặt nền móng cho ngành canh nông Việt Nam, và những dấu ấn làm thay đổi phương pháp canh tác và mùa vụ canh tác. Ít ai biết rằng, khi mới tốt nghiệp trường Đại học Nông lâm Đông dương với tấm bằng kỹ sư nông nghiệp nhiệt đới khóa 1, thì mẹ ông, một bà mẹ-nông dân tinh tường cho rằng con bà chỉ “…mới là kỹ sư canh nông đường nhựa!”. Với một ngành thực hành như nông nghiệp, những kiến thức thu nhận trong trường không đủ, dù nó từ những nhà khoa học lớn như P. Gourou, J. Fromaget, Y. Henry, R. Dumont, E.M. Castagnol, Pièrre Gourou…, vì thế ông tiếp tục thụ giáo lão nông Xã Xướng và các “giáo sư” nông dân trên đồng ruộng Bách Cốc quê nhà để hiểu về đồng ruộng. Sự hội tụ của giáo dục nông học Pháp tiên tiến với tinh túy kinh nghiệm gieo trồng truyền thống Việt Nam làm nên một Bùi Huy Đáp vừa uyên thâm trong lý luận, vừa sáng tạo trong thực tiễn sau này. Ông thường khái quát một cách sinh động phương pháp tiếp cận trong nông nghiệp dựa trên hai nền tảng này của mình “Hỏi nông dân, hỏi cây cỏ; Khoa học từ quần chúng mà ra, trở lại phục vụ quần chúng”.

Những gặp gỡ kiến thức Đông Tây như vậy đem lại cho giáo sư Bùi Huy Đáp một cái nhìn độc đáo và thấu đáo trong công việc, đặc biệt trong những vấn đề về cây lúa. Không chấp nhận những lý thuyết giáo điều, áp đặt, ông luôn tỉnh táo kiểm nghiệm những vấn đề lý thuyết trong thực tiễn đồng ruộng Việt Nam. Do đó, vào cuối những năm 1950, ông và nhà nông học Lương Định Của đều nhận ra ngay biện pháp “cấy dồn lúa” của Trung Quốc là phản khoa học và năng suất lúa mà truyền thông Trung Quốc lúc đó đưa ra là không tưởng. Trong lúc phong trào “Nhảy vọt” ở Trung Quốc đang nóng, ở Việt Nam, một số người hối thúc thử nghiệm “cấy dồn lúa” ở Việt Nam, thậm chí có bài thơ cũng được viết phụ họa “Nghe lúa ở Trung Hoa mỗi mẫu là mười bảy tấn, đang bàng hoàng chưa nghĩ kịp bài ca, mười bốn ngày sau bỗng nghe lúa Trung Hoa, mỗi mẫu là hai mươi mốt tấn,… Lúa ơi lúa, ngươi tỏa mừng tha thiết, ngươi lùa vào tâm trí của ta. Ngươi nói tin mừng, ôi cây lúa Trung Hoa!”1. Lúc đó, ông vẫn bình tĩnh đề xuất cấy dầy vừa phải và rút cục thực tế chứng minh là ông đã đúng.

Thói quen hệ thống tài liệu, cập nhật thông tin và kết quả khảo sát luôn được ông ghi chép kịp thời nên vừa có tính thời sự vừa có giá trị lâu dài. Ở bất cứ đâu ông đều điều tra các tri thức bản địa, tổng kết kinh nghiệm truyền thống của nông dân địa phương. Ngay từ cuối những năm 1970, khi đất nước thống nhất và có dịp vào ĐBSCL, ông đã chăm chú nghe bà con nông dân kể về kinh nghiệm canh tác. Việc đúc rút kinh nghiệm thực tế của họ và những hiểu biết của mình đã gợi cho ông một sáng kiến có thể áp dụng trên toàn quốc: chuyển đổi từ một vụ năng suất thấp (chỉ 1,5 – 1,6 tấn/ha) sang hệ thống canh tác mùa vụ mới, gồm vụ Đông – Xuân, vụ Hè-Thu và một phần lúa mùa, qua đó có thể đưa năng suất cả năm lên gấp khoảng bốn lần. Kiến nghị này được Chính phủ chấp nhận đưa vào kế hoạch các tỉnh và ngay sau đó diện tích lúa Đông-Xuân và Hè-Thu ở Tây Nam Bộ mở rộng xa hơn mong đợi của ông, đưa sản lượng lúa của vùng lên cao gấp bội.

“Cuộc cách mạng xanh” lúa xuân

Có lẽ, cụm từ “cuộc cách mạng xanh” được dùng đầu tiên ở Việt Nam là từ báo cáo “Cây lúa vụ Xuân và cuộc cách mạng xanh ở miền Bắc Việt Nam” mà giáo sư Bùi Huy Đáp trình bày tại hội nghị khoa học quốc tế về cây lúa ở Bắc Kinh (1968). ông viết báo cáo này dựa trên những quan sát của ông và cộng sự trên thực tế canh tác vào đầu những năm 1960, khi thấy các giống lúa xuân cao cây đều cho năng suất cao hơn lúa chiêm truyền thống. Từ đề xuất làm ruộng thí nghiệm ở hai tỉnh Nam Hà và Thái Bình của ông, Hải Hậu trở thành huyện đầu tiên đạt 5 tấn thóc/ha và Thái Bình thành tỉnh đạt 5 tấn thóc/ha đầu tiên ở miền Bắc. Năm 1968, giáo sư Bùi Huy Đáp đánh dấu sự nghiệp của mình bằng việc nghiên cứu kỹ thuật gieo trồng giống lúa xuân ngắn ngày (IR8), yếu tố quan trọng để hình thành vụ lúa xuân và mở thêm vụ Đông ở miền Bắc (giống lúa IR8 ở miền Bắc gọi là Nông nghiệp 8, ở miền Nam gọi là giống Thần nông). Cây lúa xuân  thấp cây cho năng suất cao (tiềm năng đến 8 tấn/ha) đã thay thế giống lúa chiêm dài ngày, cao cây, dễ đổ, năng suất thấp. Do đó, giáo sư Bùi Huy Đáp đề nghị cho mở rộng vụ lúa Xuân ra toàn miền Bắc, làm mạ khay, mạ sân chủ động cung cấp đủ mạ theo lịch thời vụ. Hội tụ đủ các yếu tố đó, thời gian sản xuất lúa xuân được rút ngắn lại, số ngày dư ra cho phép tăng thêm vụ Đông.

Công trình “Lúa Xuân – vụ Đông” chính là những yếu tố mới làm thay đổi cấu trúc kinh tế ngành nông nghiệp cũng như làm thay đổi cả hình ảnh Việt Nam: từ một quốc gia phải nhập cả lương thực đến một quốc gia xuất khẩu lúa gạo.

Không ai ngờ rằng, việc áp dụng giống lúa mới và cơ cấu mùa vụ mới theo sáng kiến của giáo sư Bùi Huy Đáp đã làm thay đổi diện mạo của canh tác lúa nước Việt Nam. Việc có thêm vụ Đông khiến xã viên đề nghị hợp tác xã mượn đất, nhờ vậy sản lượng lương thực nâng lên đột biến. Đây cũng là một phần nguyên nhân khiến cơ chế “khoán hộ” của ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú từ chỗ bị phê phán lại được chấp nhận, và đưa thành chỉ thị 100 của Trung ương Đảng (tháng 1/1981), một thay đổi lớn trong quyền sử dụng đất. Thành công của “lúa Xuân – vụ Đông” tiếp tục tác động đến chính sách với sự ra đời Nghị quyết 10 (tháng 4/1988) của Đảng thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ – một cuộc cách mạng trong quan hệ sản xuất.

Tôi vẫn còn nhớ năm 1980, khi nghiên cứu chất hữu cơ đất lúa ngập nước ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), tôi gặp một nghiên cứu viên người Pháp cùng bộ môn Hóa học đất dưới sự chỉ dẫn của giáo sư F.M. Ponnamperuma. Anh ấy bảo: “Tôi đọc Bùi Huy Đáp, Nguyễn Khắc Viện, Hữu Ngọc,… trên Études Vietnamiennes rồi. Mấy chục năm trước Việt Nam từng xuất khẩu gạo sang châu Phi, nay có những chuyên gia lúa tầm cỡ như Bùi Huy Đáp, mà lại thiếu ăn đến mức phải nhập bột mì là sao, vô lý, vô lý!”. Tôi thấy đắng lòng, không trả lời được, đành chỉ nói theo “Đúng là vô lý!”.

Vì vậy phải nói rằng những thành quả lớn từ “cuộc cách mạng xanh” ở Việt Nam khiến bạn bè quốc tế thán phục. Tiến sĩ S.N. Prasad, người Ấn Độ, Trưởng bộ môn Canh tác của IRRI nhắc đi nhắc lại rằng IR8 đi vào cơ cấu cây trồng ở đồng bằng Bắc Bộ thật là ấn tượng.

Năm 1990, Viện Nông hóa Thổ nhưỡng bắt đầu tham gia Mạng lưới Đất dốc và đất chua châu Á (ASIA-LAND NETWORK) của Tổ chức Nghiên cứu Quản lý Đất quốc tế (IBSRAM). Lần đầu tiên Việt Nam có báo cáo tại Hội nghị hằng năm tại Bangkok, tôi trình bày đề cập sự kiện Việt Nam đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, không ngờ phần thảo luận bị kéo dài, hội trường xoay sang tin mới này mà quên cả trao đổi nội dung chính của báo cáo là quản lý đất. TS Marc Latham, người Pháp, Giám đốc IBSRAM, nói lời kết: “Bất ngờ, ấn tượng, khó tin, nhưng là sự thật. Chúc mừng Việt Nam !”. Ông cũng nói thêm: lúa và đất lúa đã vậy, thì với đất dốc chắc các bạn sẽ làm tốt.    

Khi tham gia Chương trình hợp tác Pháp-Việt “Nghiên cứu so sánh hệ thống nông nghiệp châu thổ sông Hồng và vùng đồng bằng Camague, Pháp”, tại phòng thí nghiệm của giáo sư A.P. Conessa ở Montpellier, có một đồng nghiệp thuộc phái hữu Le Pen không ưa gì Việt Nam hỏi: “Việt Nam đủ lương thực chứ?”, tôi đáp: “Quá đủ, còn thừa, xuất khẩu hơn hai triệu tấn đấy”. Lần khác, khi tôi tham gia soạn Hiệp định 3 bên Việt Nam-FAO-Sénégal năm 1997, các bạn Sénégal bảo: “Dân tôi chỉ biết ăn sắn, được biết đến cơm là nhờ gạo Việt Nam xuất sang từ những năm 1930, bây giờ Việt Nam đã xuất khẩu gần ba triệu tấn gạo, thật kỳ diệu”. Năm 2010, đến Sudan trong khuôn khổ Chương trình hợp tác Nghiên cứu Nông nghiệp hai nước, các bạn bảo: “Chuyên gia nhiều nước đến rồi, không thành công, phải mời các bạn, vì Việt Nam dẫn đầu thế giới về lúa gạo là nhờ nghiên cứu gắn với công tác khuyến nông theo phương pháp Bùi Huy Đáp”. Tên tuổi Bùi Huy Đáp được nhắc đến nhiều ở các nước châu Phi Pháp ngữ nhờ các công trình được trích dẫn của ông phần nhiều bằng tiếng Pháp và phương pháp Bùi Huy Đáp.

Trong cuộc đời làm khoa học của mình, giáo sư Bùi Huy Đáp nghiên cứu nhiều đối tượng cây trồng nhưng cây lúa vẫn là nơi ông đặt nhiều tâm huyết. Có lẽ, những tâm huyết ấy của ông đã đem lại sức sống mới và vẻ đẹp mới cho cây lúa, “cây ấm no” mà ngày nay trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành nông nghiệp Việt Nam, như trong câu hát “Có gì đẹp trong cây lúa Việt Nam”. □

Bài viết sử dụng tư liệu với sự đồng ý của Viện Môi trường Nông nghiệp.

Chú thích

1. Bài thơ “Nỗi mừng nghe tin lúa” của Xuân Diệu.

Bèo hoa dâu là một cống hiến của Nông học Việt Nam cho Nông học nhiệt đới ẩm thế giới. Kinh nghiệm quí báu của nông dân Bích Du (Thái Bình) về thả bèo dâu trong ruộng lúa được kỹ sư Nguyễn Công Tiễu khảo cứu và lần đầu tiên được ông giới thiệu bí mật thể cộng sinh cố định N “Azolla-Anabaena” tại Hội nghị Khoa học Khu vực châu Á-Thái Bình Dương tại York Jakarta (Indonesia, 1927). Viện trưởng Bùi Huy Đáp cùng với GS Đào Thế Tuấn hướng dẫn KS Trần Quang Thuyết ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (nay là Viện KH Nông nghiệp Việt Nam) nghiên cứu trong nhiều năm và đúc kết thành giải pháp nuôi bèo dâu trong nghề trồng lúa những năm 1960-1990. Những năm 1980, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã hợp tác với Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) nghiên cứu đi sâu chuyên đề này. Mặc dù ở ta các yếu tố tăng vụ, dùng phân đạm nhiều, công lao động đắt lên làm cho bèo dâu không còn vai trò như trước; nhưng TS Iwao Watanabe, C.P. Mamaril, J.C. Bunoan của IRRI đánh giá rất cao giải pháp sinh học này vì ở rất nhiều nước vẫn còn cần bèo dâu trong hệ thống lúa-bèo, lúa-bèo-vịt… 

Cách mạng 4.0 trong nông nghiệp Việt Nam
Nguyễn Tử Siêm

Trên thế giới, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đã giúp nền nông nghiệp của nhiều nước phát triển đạt những thành tựu quan trọng. CMCN 4.0 trong nông nghiệp gọi là “Nông nghiệp 4.0” (viết tắt NN 4.0). Tại Mỹ, Brazil, Argentina, NN 4.0 đã giúp các nước này giảm giá thành sản xuất ngô và đỗ tương tới 50%. Ở Nhật Bản, dân làm nông nghiệp chỉ còn 1,5% (2 triệu trong tổng số 127 triệu dân), canh tác trên 1,5 triệu ha đất nông nghiệp vẫn tự túc được gạo và xuất khẩu thịt bò, rau, quả một cách bền vững.

Nông nghiệp thông minh đã giúp một số nước tiên tiến sản xuất đủ hoặc dư thừa một số nông sản. Tại Israel, tỷ lệ dân nông nghiệp chỉ chiếm 2,5% tổng dân số. Năm 1995, trung bình 1 nông dân của họ sản xuất chỉ nuôi 15 người, năm 2014, mỗi nông dân nuôi được 100 người và còn xuất khẩu được hơn 3 tỷ USD nông sản mỗi năm. Tại Nhật Bản, chỉ với 2 triệu dân nông nghiệp (1,5%) trong tổng số 127 triệu dân, canh tác trên 1,5 triệu ha đất nông nghiệp nhưng họ không phải nhập gạo, thậm chí dư thừa thịt bò và một số rau quả. Tại Hàn Quốc, với 2,56 triệu dân nông nghiệp, chiếm 5% trong tổng số 51,6 triệu dân, cũng không phải nhập khẩu gạo. Giá thành sản xuất ở Mỹ, Brazil hay Argentina là 138-144 USD/tấn ngô, hay 314-323 USD/tấn đậu tương (FAOSTAT, 2016), trong khi đó giá thành sản xuất ở Việt Nam là 323 USD/tấn ngô, hay 825 USD/tấn đậu tương.

Trong khối ASEAN, Malaysia ứng dụng NN 4.0 đã giúp nông dân trồng ớt tăng thu nhập hơn gấp đôi. Philippines, chỉ mới 5-10 năm trước phải nhập khẩu hơn 2 triệu tấn ngô mỗi năm thì năm 2017 đã đạt hơn 8 triệu tấn ngô, trong khi nhu cầu chỉ cần 5,6 triệu tấn, chủ yếu nhờ tăng sử dụng giống ngô lai và công nghệ tưới bằng năng lượng mặt trời.
Việt Nam không đứng ngoài làn sóng này, nghiên cứu và ứng dụng thành quả của cuộc CMCN 4.0 vào nước ta để có nền sản xuất nông nghiệp thông minh là bước phải đi tới.

1. Tiến trình phát triển nông nghiệp thế giới

Theo khái niệm của Hiệp hội Máy Nông nghiệp châu Âu , Nông nghiệp thế giới từ thế kỷ 20 đã trải qua các giai đoạn sau:

i) Nông nghiệp 1.0 tiến hành ở thế kỷ 20, tiêu tốn sức lao động, năng suất thấp; dựa vào số lượng lớn các nông hộ nhỏ, có tới 1/3 dân số tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu thô.

ii) Nông nghiệp 2.0, đó là cách mạng xanh, xuất hiện những năm 1950, gieo trồng các giống lúa thấp cây, sử dụng nhiều phân bón khoáng, thuốc trừ sâu, máy móc chuyên dùng, hạ giá thành, tăng năng suất, đem lại lợi nhuận cho tất các các bên tham gia.

iii) Nông nghiệp 3.0, được biết từ những năm 1990 khi định vị toàn cầu (GPS) được ứng dụng để định vị và định hướng; bộ cảm biến (sensor) giúp điều khiển tự động (điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, dinh dưỡng); và ra đời các thiết bị không dây (Telematics), tạo ra bước đột phá về chất lượng, chủng loại nông sản, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả.
iv) Nông nghiệp 4.0: Đến nay, cuộc cách mạng Nông nghiệp lần 4 đang nảy nở nhờ sự kết hợp các công nghệ lại với nhau với yếu tố cốt lõi là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, kết nối thông tin mạng internet; mở ra cơ hội rất to lớn cho phát triển nông nghiệp. Một cuộc chạy tiếp sức chưa từng có đang diễn ra, nhằm tới sản xuất, kinh doanh thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano.

iv) Nông nghiệp 4.0: là thuật ngữ được sử dụng đầu tiên tại Đức (2011) và Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos (2015), hiện nay được sử dụng phổ biến hơn cả do chỗ nó hàm ý hệ thống các hoạt động nông nghiệp trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. NN 4.0 còn được coi là hàm số của Nông nghiệp thông minh x Công nghệ thông minh x Thiết kế thông minh x Doanh nghiệp thông minh. Các khái niệm Nông nghiệp chính xác, Nông nghiệp sinh thái… là hệ quả của cuộc CMCN lần thứ 4 này.

Nông nghiệp 4.0 được hiểu là các hoạt động nuôi, trồng, thu hoạch, vận chuyển, chế biến,… được kết nối mạng bên trong và bên ngoài đơn vị sản xuất kinh doanh. Mọi thông tin ở dạng số hóa được lưu chuyển cho tất cả các đối tác và các quá trình sản xuất, giao dịch với các đối tác bên ngoài đơn vị (từ các nhà cung cấp đầu vào đến khách hàng tiêu thụ); việc truyền dữ liệu, xử lý, phân tích dữ liệu phần lớn tự động qua mạng internet. Sử dụng các thiết bị internet có thể tạo điều kiện quản lý lượng lớn dữ liệu và kết nối nội bộ với các đối tác bên ngoài.

Khác với nông nghiệp công nghệ cao, NN 4.0 làm thay đổi phương thức quản lý nông nghiệp, tập trung chuyển dịch từ phương thức truyền thống sang hiện đại; mở đường cho những hoạt động sản xuất chính xác, chặt chẽ mà con người không cần có mặt trực tiếp.

(NTS 3.3.2018)

Giáo sư Nguyễn Tử và bạn hữu

Tháng Năm lại đã mùng 10
Bâng khuâng nhớ tới cái thời “trẻ con”
Những ngày ưa hát véo von
Cây cao bóng cả vẫn còn vui say

denvoitaynguyen

Những tài liệu học trực tuyến

Chúng ta đang hướng đến những tài liệu học trực tuyến, tìm đến những người Thầy và các trang sách mở để được tư vấn trao đổi về bài học thực tiễn và tình yêu cuộc sống. Hoàng Kim chưa có điều kiện đúc kết tài liệu, chỉ trích dẫn ít thông tin thú vị và bài viết mới cập nhật “Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn… Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này. Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước.” Nguyên Ngọc,  Kinh tế Sài Gòn Online  (xem  Nguyên Ngọc: Nước mội, rừng xanh và sự sống). GSTS. Nguyễn Tử Siêm thông tin về 9 cuốn sách đã in và 121 bài báo của ông liên quan tới  Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam, nội dung: 1. Các yếu tố xói mòn & Khả năng dự báo xói mòn. 2. Nguy cơ xói mòn rửa trôi & Biện pháp khắc phục. 3. Thoái hóa & Phục hồi đất dốc. 4. Chất hữu cơ & Độ phì nhiêu đất 5. Tuần hoàn chất hữu cơ & Biện pháp phục hồi đất nghèo. 6. Quản lý dinh dưỡng tổng hợp, nâng cao hiệu lực phân bón. Biện pháp tổng hợp quản lý bền vững đất dốc. Chúng ta đang hướng đến những tài liệu học trực tuyến, tìm đến những người Thầy và các trang sách mở để được tư vấn trao đổi về bài học thực tiễn và tình yêu cuộc sống.

Những chuyện đời ám ảnh

Nguyễn Tử Siêm ngày 25 .5 2021 viết: Ở Khánh Vĩnh, mình vào một xã (gần Khánh Lê) thăm hộ nghèo. Găp một chủ hộ tuổi 27, có 2 con. Cái đàn ống nữa vứt lăn lóc. Hỏi em đánh đàn coi !. Không có biết !. Vậy ai đánh đàn Chapi ?. Cha đứa này !. Cha nó đâu ?. Không biết !. Rồi chỉ vào 2 đứa bé gái, bảo: “Ở đây với mình không, rồi cho mình tiền mua mỳ tôm”. Ui,… em ui. Anh không biết đánh đàn. Bai em thui. Kim Hoàng viết Chuyện thầy Nguyễn Tử Siêm, xin giáo sư giữ lại những mẫu chuyện đời thường ám ảnh, lưu lại ngọc cho đời https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-thay-nguyen-tu-siem/

*

Chuyện thầy Nguyễn Tử Siêm
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-thay-nguyen-tu-siem/

Mời bạn thưởng thức “Một ngày nọ, khi chúng ta còn trẻ“, https://youtu.be/pCICFxJXHR8 bài hát giai điêu Nga La Tư, lời Anh với cô gái tươi vui trẻ đẹp mắt tròn xoe đang nghe lời yêu, gợi nhớ một ngày đặc biệt..

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-thay-nguyen-tu-siem

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter



Lúa siêu xanh Hòa Bình

Thầy Lúa Viên Long Bình
Lúa siêu xanh Hòa Bình
Việt Nam con đường xanh
Lúa siêu xanh Việt Nam
Bài đồng dao huyền thoại

(*) Hoàng Kim và Hoàng Long kính tưởng nhớ Thầy Lúa Viên Long Bình, lúa siêu xanh Hòa Bình http://hoangkimlong.wordpress.com/category/lua-sieu-xanh-hoa-binh/ bấm vào năm đường link để đọc chi tiết.

Cư dân mạng tiễn biệt cha đẻ lúa lai Viên Long Bình

Báo Nông nghiệp Việt Nam, Thứ Bảy 22/05/2021 , 20:53 (GMT+7)

Chiều nay, khi chiếc xe chở thi thể nhà nông học Viên Long Bình từ bệnh viện đến nhà tang lễ, đông đảo người dân tập trung dọc hai bên đường để tiễn biệt ông.

Vĩnh biệt vị anh hùng chống nạn đói

Nhà khoa học lúa gạo số một Trung Quốc đã qua đời chiều nay tại một bệnh viện ở thành phố Trường Sa, thủ phủ tỉnh Hồ Nam. Ảnh: Xinhua
Nhà khoa học lúa gạo số một Trung Quốc đã qua đời chiều nay tại một bệnh viện ở thành phố Trường Sa, thủ phủ tỉnh Hồ Nam. Ảnh: Xinhua

Trên trang Sina Weibo, nền tảng mạng tương tự Twitter của Trung Quốc, tin tức về sự ra đi của ông Viên Long Bình đã thu hút 950 triệu lượt xem chỉ sau vài giờ. Mọi tầng lớp cư dân mạng ở Trung Quốc đều bày tỏ sự tiếc thương trước cái chết của một vĩ nhân.

Nhà khoa học Trung Quốc Viên Long Bình nổi tiếng khắp thế giới với thành tựu phát triển dòng lúa lai đầu tiên giúp nhân loại thoát khỏi nạn đói, đã qua đời đầu giờ chiều thứ Bảy (22/5) sau khi bị suy tạng, hưởng thọ 91 tuổi.

Theo nguồn tin địa phương, trước khi nhắm mắt các thành viên trong gia đình viện sĩ đã ngâm nga các ca khúc tiễn biệt ông. Và khi chiếc xe chở thi thể ông Viên Long Bình tới nhà tang lễ, mọi người dân đã tập trung dọc hai ven đường để tiễn biệt nhà nông học.

“Ba lần một ngày, khi chúng tôi bưng bát cơm và thưởng thức hương thơm của gạo, chúng tôi đều nhớ đến ông”, một bình luận đã được hơn 600.000 lượt thích viết.

Tổng giám đốc tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc (FAO) Khuất Đông Ngọc viết trong một tweet: “Vô cùng đau buồn trước cái chết của Giáo sư Viên Long Bình- Sư phụ kính yêu của tôi. Ông ấy đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp nghiên cứu lúa lai, giúp hàng tỷ người có được an ninh lương thực. Ông là nguồn cảm hứng của tôi. Cầu mong ông được yên nghỉ”.

Cha đẻ lúa lai Viên Long Bình được người dân Trung Quốc coi là vị anh hùng dân tộc. Ảnh: Chinadaily
Cha đẻ lúa lai Viên Long Bình được người dân Trung Quốc coi là vị anh hùng dân tộc. Ảnh: Chinadaily

Từ ăn no đến ăn ngon

Những năm gần đây, trọng tâm của các dự án lúa lai của nhà nông học Viên Long Bình đã thay đổi, chuyển từ tăng sản lượng sang phát triển xanh và bền vững.

Vào tháng 9 năm 2017, một dòng gạo indica có hàm lượng cadmium thấp do nhóm của ông và Viện Khoa học Nông nghiệp tỉnh Hồ Nam phát triển đã có thể làm giảm hơn 90% lượng cadmium trung bình trong gạo ở những vùng bị ô nhiễm kim loại nặng.

Tờ Chinadaily viết: Trải qua hơn 5 thập kỷ nghiên cứu về lúa lai, vị viện sĩ của Học viện Kỹ thuật Trung Quốc đã giúp đất nước đông dân nhất thế giới tạo nên một kỳ tích vĩ đại – nuôi sống gần 1/5 dân số thế giới với chưa đầy 9% tổng diện tích đất canh tác trên thế giới.

Sinh thời, nhà nông học Viên Long Bình từng chia sẻ, ông có hai ước mơ là được “tận hưởng sự mát mẻ dưới những đồng lúa cao quá đầu người và lúa lai sẽ có thể được trồng trên khắp thế giới giúp giải quyết tình trạng khan hiếm lương thực toàn cầu”.

Năm 1949, chàng thanh niên họ Viên nộp đơn vào Trường Cao đẳng Nông nghiệp Tây Nam và bắt đầu niềm say mê đặc biệt của mình với lúa gạo – một loại lương thực chính của người Trung Quốc, sau này trở thành trọng tâm trong sự nghiệp nghiên cứu cả cuộc đời ông.

Trong một chuyến công tác vào năm 1970, ông đã phát hiện ra một loài lúa hoang đặc biệt ở đảo Hải Nam và nó đã trở thành sự mở đầu cho nhiều thập kỷ nghiên cứu lúa lai của Trung Quốc.

Ba năm sau, ông đã thử nghiệm trồng dòng lúa lai năng suất cao đầu tiên trên thế giới với 3 dòng gồm: dòng đực bất dục, dòng duy trì và dòng phục hồi.

Lúa lai kể từ đó đã được trồng trên khắp Trung Quốc và nông dân đã thu hoạch được sản lượng đáng kinh ngạc sau khi chuyển sang các giống lúa lai của ông Viên Long Bình. Năng suất lúa lai đã ghi nhận mức năng suất hàng năm cao hơn khoảng 20% ​​so với các giống lúa thông thường – có nghĩa là nó có thể nuôi sống thêm 70 triệu người mỗi năm.

Lúa lai vươn ra thế giới

Mặc dù giải quyết được tình trạng khủng hoảng thiếu lương thực đã gắn liền với quá khứ của Trung Quốc nhưng ông Viên Long Bình- người chống lại nạn đói còn có tham vọng lớn hơn nhiều – giải cứu thế giới khỏi nạn đói.

Ngay từ những năm 1980, nhóm cộng sự của giáo sư Viên đã tổ chức các khóa đào tạo ở hàng chục quốc gia từ khắp châu Phi, châu Mỹ và châu Á nhằm cung cấp nguồn lương thực cho người dân những khu vực có nguy cơ đói kém cao.

“Thống kê của Liên Hợp quốc, trên toàn cầu vẫn còn hơn 820 triệu người thiếu đói vào năm 2018. Và nếu lúa lai được trồng trên một nửa diện tích trong tổng số 147 triệu ha đất lúa trên thế giới, thì chỉ riêng năng suất tăng thêm đã có thể nuôi sống được 500 triệu người”, giáo sư Viên Long Bình nói.

Giáo sư Viên Long Bình (giữa) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm mô hình thử nghiệm lúa lai mới ở Tam Á, đảo Hải Nam hồi năm 2018. Ảnh: SCMP 
Giáo sư Viên Long Bình (giữa) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm mô hình thử nghiệm lúa lai mới ở Tam Á, đảo Hải Nam hồi năm 2018. Ảnh: SCMP 

Tháng 1 năm 2018, ông Viên và các nhà khoa học cộng sự đã tiếp tục có những bước đột phá mới khi sản xuất thử nghiệm giống lúa chịu mặn và kiềm trên nhiều cánh đồng ở Dubai và đạt được thành công lớn. Và kỹ thuật này được coi là một giải pháp để chống lại tình trạng mất an ninh lương thực trên toàn thế giới.

Kim Long



Trung Quốc: Cha đẻ lúa lai được đề cử Nobel Hoà bình
Thứ Sáu 15/02/2008 , 10:46 (GMT+7)

“Giáo sư Viên Long Bình đang tiến dần những bước cuối cùng đến điểm tới hạn và xô ngã các kỷ lục của chính mình sau một thập kỷ miệt mài với công tác nghiên cứu, lai tạo và phát triển giống lúa lai.”

Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) vừa loan báo tin này sau khi mời vị cha đẻ lúa lai tham gia chương trình đặc biệt “10 sự kiện tiêu biểu hàng năm”. Quay trở lại bước khởi đầu tăng năng suất lúa lai của giáo sư Viên hồi năm 1997 với thành tích đạt 700 kg/mu (0,066ha) và rồi 800 kg trong giai đoạn 2000-2004 và vào thời điểm này, ông đang ngắm đến địch 900 kg/mu. Ông Viên Long Bình cho biết, đang đặt nhiều hy vọng hoàn thành mục tiêu này từ nay đến năm 2010 để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của mình khi cùng lúc tiến hành nhiều thí nghiệm tại tỉnh Hải Nam. Hiện các cánh đồng thử nghiệm tại khắp 20 huyện của địa phương này đã bắt đầu cho thấy tiềm năng có thể nâng thêm năng suất lúa kịp đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước 1,3 tỷ người và dự kiến sẽ tăng lên 1,6 tỷ vào năm 2030.

Chủ tịch Viện khoa học hàn lâm quốc gia Zhai Huqu đã hết lời ca ngợi sự nghiệp cống hiến cho lĩnh vực nông nghiệp của giáo sư Viên Long Bình kể từ thập niên 60 của thế kỷ trước cho tới nay, đồng thời ví lúa lai là kỳ tích vĩ đại nhất trong lịch sử nông nghiệp Trung Quốc khi đã góp phần giải quyết ổn thoả vấn đề lương thực trong vòng 25 năm qua. Và chỉ riêng trong năm ngoái, tổng sản lượng các giống lúa lai cao sản đã đạt con số 500 triệu tấn, bất chấp diện tích canh tác đã bị thu hẹp. Ngoài ra, trong nhiều năm qua các giống lúa lai gắn mác họ Viên còn “bành trướng” sang hơn 20 quốc gia khác và trở thành một thương hiệu mạnh nhất Trung Quốc. 

Trong cuộc bình chọn trên mạng vừa tiến hành vừa qua, đa số người dân Trung Quốc đều nhất trí đề cử giáo sư Viên Long Bình xứng đáng trở thành chủ nhân của giải thưởng Nobel Hoà bình danh giá vì những đóng góp suốt đời của ông trong công cuộc chống đói nghèo.                      

TR.D (Theo Xinhua; Chinadaily)

Việt Nam con đường xanh
NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
Hoàng Long, Nguyễn Văn Phu,
Nguyễn Thị Trúc Mai, Hoàng Kim
thu thập, tuyển chọn, đúc kết thông tin, tích hợp và giới thiệu

Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. “Việt Nam con đường xanh ” và ” Nông nghiệp công nghệ cao” là chuyên mục thông tin địa chỉ xanh tin cậy của bạn đọc, có trên các trang http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/nong-nghiep-cong-nghe-cao/https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/; và https://www.csruniversal.org/viet-nam-con-duong-xanh/. Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp (Technological application enhances agriculture value chain), là chủ đề được Phó Giáo sư Tiến sĩ Đào Thế Anh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, giới thiệu tại diễn đàn MALICA (Markets and Agriculture Linkages for Cities in Asia Kết nối Thị trường và Nông nghiệp các thành phố châu Á) và VTV4 https://vtv.vn/video/bizline-15-3-2020-427424.htm.

Việt Nam con đường xanh, Nông nghiệp công nghệ cao bài viết kỳ này giới thiệu Định hướng chiến lược quốc gia, phương hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội 2021-2030 (* Đảng Cộng Sản Việt Nam 2020, Dự thảo các văn kiện trình đại hội Đảng XIII của Đảng) xác định 10 giải pháp cơ bản; 5 nhóm hệ thống giải pháp chính để đảm bảo phát huy hiệu quả giá trị của khối 13 sản phẩm chủ lực nông nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân lao động. Ba trụ cột cốt lõi của một quốc gia là cân đối hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.theo kết luận của Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Phát triển bền vững tại Cộng hòa Nam Phi năm 2002 với Định hướng và tầm nhìn Việt Nam con đường xanh. Năm bài viết chọn lọc, gồm: 1) Nông nghiệp hữu cơ hiện trạng và giải pháp nghiên cứu phát triển của tác giả PGS..TS Nguyễn Văn Bộ, TS Ngô Doãn Đảm 2) Đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học ứng dụng phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao và công nghệ thực phẩm tại Trường Đại học Văn Lang” của tác giả PGS.TS Phan Phước Hiền và TS Châu Tấn Phát, 3) “Nghiên cừu ứng dụng công nghệ sinh học cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao” của PGS.TS. Dương Hoa Xô, Trung Tâm Công nghệ Sinh học TP. HCM; 4) Một số thông tin chọn lọc điểm sáng nông nghiệp nông dân nông thôn nông nghiệp công nghệ cao; 5) Chọn giống sắn kháng CMD hiện trạng và triển vọng

Nông nghiệp công nghệ cao liên kết chuỗi thông tin chuyên đề tại các đường link Việt Nam con đường xanh; Nông nghiệp sinh thái Việt; Nông nghiệp Việt trăm năm; Viện Lúa Sao Thần Nông; IAS đường tới trăm năm; Trường tôi nôi yêu thương; Chọn giống sắn kháng CMD; Giống sắn KM419 và KM440; Cách mạng sắn Việt Nam; Chọn giống sắn Việt Nam; Mười kỹ thuật thâm canh sắn; Quản lý bền vững sắn châu Á; Cassava and Vietnam: Now and Then; Lúa siêu xanh Việt Nam; Gạo Việt và thương hiệu; Lúa C4 và lúa cao cây; Lúa sắn Cămpuchia và Lào; Lúa sắn Việt Châu Phi; Lúa Việt tới Châu Mỹ; Giống khoai lang Việt Nam; Giống ngô lai VN 25-99; Giống lạc HL25 Việt Ấn; Nhà sách Hoàng Gia;

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-con-duong-xanh/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-sieu-xanh-viet-nam-13.jpg

LÚA SIÊU XANH VIỆT NAM
Hoang Long, Hoàng Kim và đồng sự

Giống lúa siêu xanh GSR65
Nguồn gốc giống: Giống lúa GSR65 có nguồn gốc từ giống lúa Huang Hua Zhang (HHZ) cải tiến HHZ5-DT11-SAL2-7, được lai tạo và nhập nội nguồn gen từ chương trình chọn tạo giống lúa siêu xanh (GSR) của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) với Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS). Giống lúa GSR65 được Mạng lưới Nghiên cứu Lúa Siêu Xanh Việt Nam tuyển chọn và phát triển thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Việt Nam (Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long và ctv. 2018a, Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long và ctv. 2018b; Hoang Long et al. 2015). Giống lúa siêu xanh GSR 65 đã được tuyển chọn qua bảy vụ tại Phú Yên với sáu khảo nghiệm cơ bản (12 giống lúa trong ba vụ tại hai điểm); bốn khảo nghiệm sản xuất (5 giống lúa tuyển chọn trong hai vụ tại hai điểm), bốn trình diễn xây dựng mô hình sản xuất thử (trong hai vụ tại hai điểm). Giống lúa GSR65 đang được Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phú Yên chủ trì phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại Học Nông Lâm Huế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sóc Trăng, Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc lập hồ sơ công nhận giống lúa mới.

Đặc điểm giống: Giống lúa siêu xanh GSR65 năng suất cao chất lượng tốt thích hợp vùng thâm canh và vùng mặn, vùng hạn. Giống có thời gian sinh trưởng 95 – 100 ngày đối với lúa sạ và 100 – 105 ngày khi cấy. Giống có chiều cao cây 98 – 100 cm. Giống có 336 – 354 bông/m2, trọng lượng 1000 hạt khoảng 24 – 25g. Tỷ lệ gạo lật, tỷ lệ gạo xát và tỷ lệ gạo nguyên đều đạt tốt, chất lượng gạo loại 1. Giống GSR65 đạt mức protein cao trên 7%, có hàm lượng amylose trung bình, có mùi thơm và cơm ngon. Giống có đặc điểm nông sinh học tốt dạng hình lúa siêu xanh, bộ lá xanh lâu bền (điểm 1), thấp cây (điểm 1), cứng cây không đổ ngã (điểm 1), độ thoát cổ bông cao (điểm 1), dạng hạt gạo thon dài. Giống GSR65 kháng vừa rầy nâu, có phản ứng nhiễm vừa với bệnh đạo ôn hại lúa. Giống lúa GSR65 tại Phú Yên trong khảo nghiệm cơ bản đạt năng suất thực thu bình quân là 8,70 tấn/ ha vượt 30,12% so với đối chứng ML48 đạt 6,69 tấn/ha, trong mô hình trình diễn khảo nghiệm sản xuất thử đạt năng suất thực thu bình quân là 7,98 tấn/ ha vượt 11,92% so với đối chứng ML48 đạt 71,3 tạ/ha

Giống lúa siêu xanh GSR90
Nguồn gốc giống: Giống lúa GSR90 được lai tạo từ tổ hợp OM9921x GSR38 thực hiện tại Việt Nam (GSR38 có nguồn gốc là giống lúa Huang Hua Zhang (HHZ) cải tiến HHZ5-Y7-Y3 nhập nội từ chương trình chọn tạo giống lúa siêu xanh (GSR) của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) với Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS). Giống lúa GSR90 được Mạng lưới Nghiên cứu Lúa Siêu Xanh Việt Nam lai tạo, tuyển chọn và phát triển thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Việt Nam (Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long và ctv. 2018a, Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long và ctv. 2018b; Hoang Long et al. 2015). Giống lúa siêu xanh GSR 90 đã được tuyển chọn qua bảy vụ tại Phú Yên với sáu khảo nghiệm cơ bản (12 giống lúa trong ba vụ tại hai điểm); bốn khảo nghiệm sản xuất (5 giống lúa tuyển chọn trong hai vụ tại hai điểm), bốn trình diễn xây dựng mô hình sản xuất thử (trong hai vụ tại hai điểm). Giống lúa GSR90 đang được Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phú Yên chủ trì phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửa Long, Trường Đại Học Nông Lâm Huế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sóc Trăng, Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc lập hồ sơ công nhận giống lúa mới tại Việt Nam.

Đặc điểm giống: Giống lúa siêu xanh GSR90 năng suất cao chất lượng tốt thích hợp vùng thâm canh và vùng mặn, vùng hạn. Giống có thời gian sinh trưởng khoảng 99 – 102 ngày đối với lúa sạ và 101 – 105 ngày khi cấy. Giống có chiều cao cây 103 – 105 cm. Giống có 309 – 351 bông/m2 trọng lượng 1000 hạt khoảng 28 – 29 g. Tỷ lệ gạo lật, tỷ lệ gạo xát và tỷ lệ gạo nguyên đều đạt tốt, chất lượng gạo loại 1. Giống GSR90 đạt mức protein cao trên 7%, có hàm lượng amylose trung bình, có mùi thơm và cơm ngon. Giống có đặc điểm nông sinh học tốt dạng hình lúa siêu xanh, bộ lá xanh lâu bền (điểm 1), thấp cây (điểm 1), cứng cây không đổ ngã (điểm 1), độ thoát cổ bông cao (điểm 1), dạng hạt gạo thon dài. Giống GSR90 ít sâu bệnh hại ngoài đồng ruộng, kháng vừa rầy nâu, có phản ứng nhiễm bệnh đạo ôn hại lúa. Giống lúa GSR90 tại Phú Yên trong khảo nghiệm cơ bản đạt năng suất thực thu bình quân là 8,36 tấn/ha vượt 25,01% so với đối chứng ML48 đạt 6,69 tấn/ha; trong mô hình trình diễn khảo nghiệm sản xuất thử đạt năng suất thực thu bình quân là 8,17 tấn/ ha vượt 14,58% so với đối chứng ML48 đạt 7,13 tấn/ha.

Thông tin tại: 1) Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Văn Minh, Đặng Văn Mạnh, Ngô Thị Bích Diễm, Lê Thanh Tùng, Hoàng Kim, Tian Qing Zheng, Zhikang Li. 2018. Nghiên cứu hai giống lúa siêu xanh GSR65, GSR90 năng suất cao, chất lượng tốt và quy trình kỹ thuật thâm canh lúa thích hợp tại cánh đồng Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (Two Green Super Rice varieties GSR65, GSR90 with high productivity and quality and appropriate technical process of cultivation in the Tuy Hoa fields, Phu Yen province) Trong sách: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tạp chí Khoa học và Công nghệ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 10, trang 47- 55; Science and Technology Journal of Agriculture & Rural Development , MARD, No 10, p. 47-55, ISSN0866-7020 ; 2) Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Phạm Thị Thỏa, Đàm Thanh Tồn, Hoàng Kim 2018. Tuyển chọn giống lúa siêu xanh năng suất cao chất lượng tốt thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu ở tỉnh Phú Yên (Phần 2). Selection of Green Super Rice (GSR) with high yield, good qualities, and adaptation to climate condition in Phu Yen province (Part Two). Trong sách:Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển, JAD Tập 17 Số 4, 15-24 (2018) Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh pISSN 2615-9503 ∗ eISSN 2615949X ; 3) Nguyễn Trọng Tùng, Nguyễn Đức Thắng Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Phạm Thị Thỏa, Đàm Thanh Tồn, Hoàng Kim 2018. Tuyển chọn giống lúa siêu xanh năng suất cao chất lượng tốt thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu ở tỉnh Phú Yên (Phần 1) Selection of Green Super Rice (GSR) with high yield, good qualities, and adaptation to climate condition in Phu Yen province (Part one). Trong sách: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển, JAD Tập 17 Số 4, 15-24 (2018) Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh pISSN 2615-9503 ∗ eISSN 2615949X

Lúa Siêu Xanh Việt Nam giống tốt và kỹ thuật thâm canh là khâu trọng yếu, đầu tiên để cải tiến chuỗi giá trị sản phẩm lúa gạo Việt Nam, bảo tồn và phát triển bền vững ngành lúa gạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, thích hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam khẳng định tầm nhìn, cơ chế, chính sách mới nhằm khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn tại Nghị định 57/2018 / ND-CP. Theo đó, trục sản phẩm chính nhắm đến các sản phẩm chính quốc gia, trong khi lúa gạo vẫn tiếp tục là ngành chính của nông nghiệp Việt Nam, giá đỡ của an sinh xã hội và phát triển kinh tế, là sinh kế chính của vùng nông thôn rộng lớn, lao động và việc làm. Chuỗi giá trị sản phẩm lúa gạo ở cấp tỉnh cần đủ lớn, liên kết các khu vực nguyên liệu thô với các thương hiệu, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực. Mục tiêu hướng tới sự đáp ứng tốt nhất chất lượng cuộc sống của người lao động, đạt hiệu quả cao trong tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, tiến bộ và công bằng xã hội. Mục đích của tài liệu này là nhằm cung cấp thông tin về các kết quả nghiên cứu đã được xác định rõ ràng để giúp người nông dân nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất lúa gạo đi đôi với việc bảo vệ đất đai và môi trường. Tài liệu được thiết kế như một cẩm nang nghề lúa gạo cần thiết cho các nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông, cán bộ tổ chức phi chính phủ làm việc về phát triển nông nghiệp, cũng như các hộ nông dân trồng lúa quy mô nông hộ sản xuất lớn và nhỏ. Tài liệu nhằm cung cấp một thông tin  tham khảo kỹ lưỡng về thực hành sản xuất lúa thân thiện môi trường. Từ việc trình bày ngắn gọn tầm quan trọng lúa gạo trên thế giới và Việt Nam; sản xuất tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam; thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế lúa gạo; nguồn gốc vùng phân bố và phân loại cây lúa; Sinh học cây lúa: Đặc điểm thực vật học cây lúa (rễ, thân, lá, hoa, hạt) Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa Đặc điểm sinh lý của ruộng lúa năng suất cao; Khí hậu và đất lúa, tầm quan trọng của nó trong khu vực để đề xuất chi tiết về quản lý đất nước và cây trồng, giống mới và kỹ thuật thâm canh lúa. Tài liệu mỏng này cung cấp một bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ của chính tác giả và đồng sự sau mười năm nghiên cứu ứng dụng lúa siêu xanh (Green Super Rice) vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam, với một số kết quả bước đầu đã được xác định để tiếp tục sự nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, bảo tồn phát triển lúa siêu xanh Việt Nam cho thương hiệu gạo Việt. Kính chúc bà con nông dân những mùa thu hoạch bội thu.

Anh Nam Sinh Đoàn viết : “Ngoài đồng giống lúa không thuần, nhà nông lười khử giống bị lẫn, giống dại. Cộng với nhà lái mua vào để lẫn, hoặc cố tình pha lẫn lấy lời. Ai đời trộn lẫn hột dài với hột hơi tròn, gạo dẽo với gạo cứng cơm, gạo cũ với gạo mới, … Chính vì vậy mà nồi cơm nào cũng chỗ nhão chỗ khô, hạt mềm nhẽo cạnh hạt còn tim bột. (Chưa kể phun thêm hương liệu, chất chống mốc mọt,…thay đổi cả đặc tính hạt gạo khi đun nấu). Nhiều năm làm lúa với anh Hồ Quang Cua, mới có dịp học hỏi về việc làm giống, giữ đặc trạng của từng giống, cách thức trồng trọt – thu hoạch – tồn trữ – xay xát – lựa lọc – bao bì,…cả chục việc đòi hỏi phải chắc tay. Thế mà khi thí nghiệm trên bàn của nhóm chuyên gia còn lòi ra bao thứ khác: thời gian ngâm, tỉ lệ nước, thời gian đun và cách đun nấu, … Ví dụ, với cùng một thứ gạo, nhưng có dòng nở ít, thì chỉ 70-71% nước. Loại nào nở cơm thì ngâm trước 15 phút, loại nở búp chỉ cần mươi phút là được. Lại còn tùy loại gạo, để ăn xào với rau, gia vị cho có màu mùi như kiểu châu Âu thì nấu bằng nồi hơi như nồi hong. Để còn làm cơm xào, cơm chiên thì chớ ngâm nhiệt, tức là ngâm gạo, đun nước vừa nóng chừng 50 độ hãy cho gạo vào theo đúng tỉ lệ, mới đạt yêu cầu. Câu nói: Cơm lành canh ngọt tưởng dễ mà khó thay”. Tôi (Hoàng Kim) trả lời: Thưa anh, xin hãy nhìn tấm ảnh, từ hạt gạo đến bát cơm chỉ là một phần ngắn trong chuỗi “hoa lúa, bùn, hột lúa, cây lúa, hạt gạo, bát cơm”. Hai khâu khó nhất và nhọc nhằn nhất là hoa lúa và bùn. Mời đọc bài tiếp nối Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh; Lúa Siêu Xanh Việt Nam

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là chien-luoc-chon-tao-lua-sieu-xanh-vietnam.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-sieu-xanh-viet-nam-gsrgvn.jpg
Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là lua-sieu-xanh-viet-nam.jpg

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/lua-sieu-xanh-viet-nam/

BÀI ĐỒNG DAO HUYỀN THOẠI
Hoàng Kim

6

Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ Cha kính Mẹ ấy là chân tu
*
1) Mễ thọ vườn rộng nhà to
Tích thiện chia lộc chăm lo láng giềng
2) Sắc không với việc quà, tiền
Chẳng ham danh lợi, không phiền lụy thân
3) Sắc không bảo mẫu toàn phần
Cháu Con tự lập ân cần Ông Cha

CÁ ÔNG VỚI NGƯỜI VIỆT
Hoàng Kim

Ngày vui khát vọng non sông
Cá Ông Người Việt vui lòng thỏa thuê
Quê hương biển đảo Ông về
Kỳ Lân mộ Tháp Rùa bia ân tình.

Tiễn Ông về với biển xanh
Cháu con thân thiết hiền lành bên Ông
Thương Lúa Siêu Xanh Hòa Bình (*)
Cá Ông Người Việt tin lành ấm no

(*) Người Việt Nam cưỡi con vật lớn nhất hành tinh/cá voi xanh https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=144467627699461&id=100064086731450 Hoàng Kim thơ đề video; Lúa Siêu Xanh Hòa Bình, nhớ Thầy Lúa Viên Long Bình, người anh hùng chống nạn đói https://hoangkimlong.wordpress.com/category/lua-sieu-xanh-hoa-binh/

5
Thanh thản an vui dạo dọn vườn
Vui thầy mừng bạn ngát thêm hương
Đường xuân nhàn hạ phai mưa nắng
Tâm sáng an lành trải gió sương
Thoắt đó vườn thơm nhiều quả ngọt
Mới hay nhà phước lắm con đường
An nhiên vô sự là tiên cảnh
Sớm Xuân mai nở nắng vàng ươm

Nguồn: Ngày mới lời yêu thương; Bài thơ Viên đá Thời gianBài đồng dao huyền thoại ảnh 1 của Đỗ Dung; ảnh 2 của Phan Chí Thắng; ảnh 3, 4, 5, 6 Hoàng Kim

1
Mình ghé thăm nhau chốn núi non
Vàng ươm đồng rộng nắng lên hương
Khoai ngon, lạc béo thơm xôi đỗ
Mai núi chiều buông vọng nhạc rừng

2

Thủy vốn mạch sông nước có nguồn.
Chính Trung tiền hậu đổi nhau luôn.
Nụ cười Nghê Việt luôn đầy đặn.
Mai với Bồ Đề ẩn sau lưng.
Tóc nhuốm bạch kim phơi nắng hửng
Da pha hồng ngọc trãi mưa nhuần.
Hoa Người, Hoa Đất vui thầy bạn.
Phước Đức mừng ai thắng tuổi trăm.

Nhu ang may bay

3

Dây dã tường vi thật dẻo dai
Ba con ngỗng trong một đàn
Một bay về Đông, một bay Tây
Và một bay trên tổ chim cúc cu.

4

Tách cà phê ban mai
Gió mù sương đầy núi
Suối nguồn thao thiết chảy
Nhạc rừng đầy tiếng chim …

Phúc hậu và an nhiên
Trái ý không nóng giận
Thức ngủ cần hài hòa
An lành môi trường sống
Lao động và nghỉ ngơi
Chín điều lành hạnh phúc
Minh triết cho mỗi ngày
Bạn gieo lành gặt thiện
Yêu thương trong tầm tay.

1) Cười nhiều Giận ít
2) Vui nhiều Lo ít
3) Làm nhiều Nói ít
4) Đi nhiều Ngồi ít
5) Rau nhiều Thịt ít
6) Chay nhiều Mặn ít
7) Chua nhiều Ngọt ít
8) Tắm nhiều Lười ít
9) Thiện nhiều Tham ít

BÀI ĐỒNG DAO HUYỀN THOẠI
Hoàng Kim

Tháng 6 năm 1950 nhà văn Sơn Tùng được cụ Nguyễn Sinh Khiêm anh ruột Bác Hồ tặng sách “ Tất Đạt tự ngôn” kể chuyện Bài đồng dao huyền thoại: Năm 1895 Hồ Chí Minh lúc ấy là Nguyễn Sinh Cung đã có bài thơ “Biển là ao lớn Thuyền là con bò Thuyền ăn no gió Lội trên mặt nước Em nhìn thấy trước Anh trông thấy sau Ta lớn mau mau Vượt qua ao lớn” xem tiếp http://lethuy.edu.vn/index.aspx?u=nws&su=d&cid=350&id=3478

Video yêu thích

Bìa Sách hay  và Xem phim: Bay trên tổ chim cúc cu
Giovanni Marradi – Garden of Dreams
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Nông lịch tiết Tiểu Mãn

NÔNG LỊCH TIẾT TIỄU MÃN
Hoàng Kim


Vui sống giữa thiên nhiên
Học không bao giờ muộn
Sự thật tốt hơn ngàn lời nói
Lời Thầy dặn thung dung

Một gia đình yêu thương
Một nếp nhà văn hóa
Lời thề trên sông Hóa
Trăng rằm sen Tây Hồ

Giấc mơ lành yêu thương
Vui đi dưới mặt trời
Một niềm tin thắp lửa
Ban mai lặng lẽ sáng

Ta như ong làm mật
Cuộc đời đầy hương hoa
Thời an nhiên vẫy gọi
Vui khỏe đời cho ta.

24 TIẾT KHÍ LỊCH NHÀ NÔNG
Hoàng Kim


Khuyên em đừng quên nhất thì nhì thục
Di sản Việt Nam học mãi không cùng
Mình học để làm hai bốn tiết khí
Mộc mạc hát vần bài học đầu tiên.

Đất cảm trời thương lòng người gắn bó
Dẫu khó vạn lần khéo liệu cũng xong
Mùa xuân tới tự tiết xuân sẽ đến
Bởi biết rằng năm tháng đó là em.

6 tháng Một bắt đầu rét nhẹ
21 tháng Một trời lạnh cắt da
4 tháng Hai ngày xuân mới đến
20 tháng Hai Thiên Địa Nhân hòa.

6 tháng Ba là tiết Kinh Trập (sâu nở)
21 tháng Ba là tiết Xuân Phân (giữa xuân)
5 tháng Tư là tiết Thanh Minh (trời trong sáng)
20 tháng Tư là tiết Cốc Vũ (mưa rào)

5 tháng Năm là tiết Lập Ha (hè đến)
21 tháng Năm Tiểu Mãn vào mùa
5 tháng Sáu ngày Tua Rua mọc
21 tháng Sáu Hạ Chí giữa hè.

7 tháng Bảy là ngày nắng nhẹ
23 tháng Bảy là tiết nóng oi
7 tháng Tám chớm thu rồi đó
23 tháng Tám trời đất mây mưa.

Đồng dao cho em khuyên em đừng tưởng
Câu chuyện mùa xuân thêm cho mồng Ba
Trải Cốc Vũ qua ngày Hạ Chí (giữa hè)
Đại Thử rồi Sương Giáng thành hoa.

Qua Xử Thử đến tiết trời Bạch Lộ
Sau Mưa Ngâu đến Nắng nhạt đấy em.
Tiết Thu Phân khoảng 23 tháng Chín
Đối lịch nhà nông em nhớ đừng quên.

Tiết Hàn Lộ nghĩa là trời mát mẻ
Kế tiếp theo là Sương Giáng (sương mù)
23 tháng 10 mù sa dày đặc
Thuyền cỏ mượn tên nhớ chuyện Khổng Minh.

Ngày 7 tháng 11 là tiết Lập Đông
23 tháng 11 là ngày Tiểu Tuyết
8 tháng 12 là ngày Đại Tuyết
22 tháng 12 là chính giữa đông.

*

Khuyên em đừng quên nhất thì nhì thục
Di sản Việt Nam học mãi không cùng
Mình học để làm 24 tiết khí
Mộc mạc hát vần bài học đầu tiên.

Mùa vụ trồng cây, kinh nghiệm nghề nông
Xin em đừng quên điều ông bà dạy
Xuân Hạ Thu Đông hai bốn tiết khí
Khoa học thiên văn ẩn ngữ đời người.

Đất cảm trời thương, lòng người gắn bó
Dẫu khó vạn lần khéo liệu cũng xong
Mùa xuân tới tự tiết xuân sẽ đến
Bởi biết rằng năm tháng đó là em.

Khuyên em đừng quên nhất thì nhì thục
Di sản Việt Nam học mãi không cùng
Mình học để làm 24 tiết khí
Mộc mạc hát vần bài học đầu tiên.

Mùa vụ trồng cây, kinh nghiệm nghề nông
Xin em đừng quên điều ông bà dạy
Xuân Hạ Thu Đông hai bốn tiết khí
Khoa học thiên văn ẩn ngữ đời người.

Đất cảm trời thương, lòng người gắn bó
Dẫu khó vạn lần khéo liệu cũng xong
Mùa xuân tới tự tiết xuân sẽ đến
Bởi biết rằng năm tháng đó là em.

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim


Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-khong-bao-gio-muon/

TRẠNG TRÌNH DƯỠNG SINH THI
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585)


Giữ khí, gìn tinh, lại dưỡng thần
Ít lo, ít muốn, ít lao thân.
Cơm nên vừa bụng, đừng nhiều vị,
Rượu chỉ vài phân, chớ qúa từng.
Miệng cứ câu đùa, vui miệng mãi,
Bụng thường nghĩ tốt, bụng lâng lâng.
Bốc đồng, biến trá, thôi đừng hỏi,
Để tớ tiêu dao đến tuổi trăm.

(Bản dịch của GS. Lê Trí Viễn)

CHÍN ĐIỀU LÀNH HẠNH PHÚC
Hoàng Kim.

Cười nhiều Giận ít
Vui nhiều Lo ít
Làm nhiều Nói ít
Đi nhiều Ngồi ít
Rau nhiều Thịt ít
Chay nhiều Mặn ít
Chua nhiều Ngọt ít
Tắm nhiều Lười ít
Thiện nhiều Tham ít

Mặt trời và thiên nhiên
Môi trường sống an lành
Gia đình thầy bạn quý
Minh triết cho mỗi ngày

An nhiên và phúc hậu
Thức ngủ cần hài hòa
Lao động và nghỉ ngơi
Gieo lành thì gặt thiện

Yêu thương trong tầm tay

MƯỜI THÓI QUEN MỖI NGÀY
Hoàng Kim

1. Vui khỏe phúc hậu, an nhàn vô sự là tiên
2. Biết dưỡng sinh, sống quen thanh đạm nhẹ mình
3. Hưởng ánh nắng, khí trời và sương mai mỗi sáng
4. Dạy và học tình yêu cuộc sống cnm365 mỗi ngày
5. Đi bộ và dọn vườn, tập thể dục mỗi ngày nữa giờ
6. Tắm rửa sạch sẽ mỗi ngày có lợi cho sức khỏe
7. Luyện thói quen đi lại ít phút sau mỗi giờ làm việc
8. Sau khi đi làm về cần nghĩ ngơi 15 phút mới tắm
9. Khi người mệt mỏi tốt nhất ngủ ngon và nghỉ ngơi
10 Buông bỏ những dư thừa và hư danh giả tạm

MƯỜI TƯ DUY TÍCH CỰC

Ai đúng ai sai, mình không sai là được
Người già người trẻ, cứ vui khỏe là được
Việc nhiều lộc ít, làm xong việc là được
Tận tâm tiết kiệm, đừng lãng phí là được
Bất kể giàu nghèo, cứ hoà thuận là được
Không kén ngon dở, cứ sạch nóng là được
Bất luận đẹp xấu, cứ tốt duyên là được
Nhà lớn nhà nhỏ, cứ ấm no là được
Xe mới xe cũ, cứ chạy tốt là được
Sung túc hay nghèo, cứ bình an là được

MINH TRIẾT CHO MỖI NGÀY
Hoàng Kim

Minh triết đời người là yêu thương
Cuối dòng sông là biển
Niềm tin thắp lên nghị lực
Yêu thương mở cửa thiên đường.

Lev Tolstoy (1828 – 1910) là nhà hiền triết và đại văn hào Nga danh tiếng bậc nhất lịch sử nhân loại với những kiệt tác Chiến tranh và Hòa bình, Ana Karenina, Đường sống, Phục sinh. Minh triết cho mỗi ngày. Trước đây tôi thích ông theo tuần tự trên. Nhưng nay qua thời gian trãi nghiệm và lắng đọng tôi lại thích trình tự ngược lại. Minh triết cho mỗi ngày (Wise Thoughts for Every Day) lắng đọng tinh hoa hơn. Yêu thích là tự mình tỉnh thức.

Minh triết cho mỗi ngày là công trình trọng yếu cuối cùng của Lev Tonstoy và ông đã xem nó là đóng góp quan trọng nhất của ông cho nhân loại. Theo Peter Serikin tại lời giới thiệu của tác phẩm này “Tonstoy giữ cái ‘cẩm nang’ cho một cuộc sống tốt này trên bàn làm việc của ông trong suốt những năm cuối cùng đời mình cho đến phút cuối (thậm chí ông còn yêu cầu trợ lý cùa mình V. Chertkov, đưa cho ông xem bản in thử trên giường chết của ông) Chi tiết nhỏ này cho thấy Tonstoy yêu quý tác phẩm này xiết bao!”. Cũng theo Peter Serikin bộ ba tập sách ‘Minh triết của hiền nhân’ 1903  (The Thoughts of Wise Men) ; Một chu kỳ đọc (A Circle of Reading’ 1906; Minh triết cho mỗi ngày 1909 (Wise Thoughts for Every Day) dường như phát triển sau khi Lev Tonstoy bệnh nặng và phục sinh như một phép lạ cuối năm 1902. Bộ ba này của Tonstoy hết sức phổ biến từ lần xuất bản thứ nhất vào năm 1903 cho đến năm 1917. Rồi cả ba cuốn đều không được xuất bản trong suốt thời kỳ gần 80 năm vì nội dung tôn giáo của chúng, và nó được xuất hiện trở lại gần đây sau sự sup đổ của Liên bang Xô Viết. Sách ‘Suy niệm mỗi ngày’ nguyên tác tiếng Nga của Lev Tonstoy do Đỗ Tư Nghĩa  dịch từ bản tiếng Anh ‘Wise Thoughts for Every Day’ của Peter Serikin xuất bản ở New York Mỹ từ năm 2005 và, Bản quyền bản tiếng Việt của Công ty THHH  Văn Hóa Khai Tâm 2017. Hành trình cuốn sách này đến Việt Nam khá muộn  nhưng may mắn thay những tư tưởng minh triết của nhà hiền triết Lev Tonstoy đã tới chúng ta gợi mở cho sự suy ngẫm ‘minh triết cho mỗi ngày’ cùng đồng hành với người thầy hiền triết vĩ đại.

Lev Tonstoy viết: “Nguồn hạnh phúc chân thực nằm trong trái tim bạn. Sẽ là ngốc nghếch nếu bạn tìm kiếm nó ở nơi nào khác. Bạn sẽ giống như kẻ chăn cừu tìm kiếm một con chiên lạc, trong khi nó được nhét vào ngay bên trong áo sơ mi của y (1). Quy tắc thứ nhất của minh triết, là biết chính bạn (2). Tuy nhiên đây là cái khó làm nhất. Quy tắc thứ nhất của đức hạnh là hạnh phúc với những điều nhỏ bé (3). Điều này nữa cũng khó làm. Chỉ có những ai tuân theo những quy tắc này, mới đủ mạnh để là một tấm gương đức hạnh cho người khác. Nếu bạn chỉ yêu chính mình, bạn không thể thực sự hạnh phúc. Hãy sống cho kẻ khác, rồi thì bạn sẽ tìm thấy hạnh phúc chân thực. Các bạn đang lang thang tới đâu, hỡi những  con người bất hạnh? Đang tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn ? Bạn đang chạy đi xa, nhưng hạnh phúc phải được tìm thấy bên trong bạn. Nếu nó không có mặt ở bên trong, thì nó không có mặt ở bất cứ nơi nào khác. Hạnh phúc nằm trong khả năng yêu kẻ khác của bạn”. (Suy niệm mỗi ngày, trang 53) (1) Nguồn hạnh phúc chân thực nằm trong trái tim bạn. Phật nói ‘ phật tại tâm ’ Chúa Jesu nói ‘Vương quốc của thượng đế ở bên trong các ngươi ’ (2) Minh triết trước hết là tự biết mình. (3) Phúc hậu là hạnh phúc với những điều nhỏ bé.

Lev Tonstoy viết tiếp: Có một câu cách ngôn cổ của Do Thái: “Linh hồn của một người là ngọn đèn của Thượng đế” Khi ngọn đèn ấy chưa được thắp lên thì một cá nhân sẽ vẫn mãi bơ vơ; nhưng khi nó được thắp lên, y trở nên mạnh mẽ và tự do. Dĩ nhiên, điều này không thể khác , bởi vì đó không phải là quyền lực của chính y, mà là của Thượng đế. Mặc dù chúng ta không biết sự thiện phổ quát là gì, chúng ta thực sự biết rằng, tất cả chúng ta nên tuân theo quy luật của sự thiện, vốn hiện hữu cả trọng sự khôn ngoan của con người lẫn trong trái tim chúng ta. Nếu chúng ta tin rằng, họ có thể làm hài lòng Thượng đế thông qua những nghi lễ và những lời cầu nguyện thôi – chứ không phải bằng hành động- thì họ đã nói dối với cả thượng đế lẫn chính họ

GSR PY1
GSR PY3
GSR PY4
GSR PY5
GSR PY7
GSR PY8

CHIM PHƯỢNG VỀ LÀM TỔ
Hoàng Kim

Thích quá đi.
Nhà tôi có chim về làm tổ
Cây bồ đề cuối vườn
Cò đêm về trắng xóa

Gốc me cho con
Xanh non màu lá
Ong đi rồi về
Sóc từng đàn nhởn nhơ.

Cây sơ ri ba mẹ trồng
Lúc con tuổi còn thơ
Nay như hai mâm xôi
Tròn đầy trước ngõ.

Cây mai Bác trồng
Bốn mùa hoa thương nhớ
Trúc xanh từ non thiêng Yên Tử
Trúc vàng ân nghĩa Đào Công

Em ơi!
Hôm nay trên cây lộc vừng
Chim Phượng về làm tồ
Mẹ dạy con tập bay
Sao mà đẹp thế !

Đá vàng trao hậu thế
Người hiền noi tiếng thơm

Ngày xuân phân, 20 tháng 3 năm 2014 là ngày quốc tế hạnh phúc, với gia đình tôi đó cũng là ngày xuân phân may mắn. Trước đó, Nông lịch tiết Kinh Trập, Nhà tôi có chim về làm tổ, tôi nhặt được 18 lông chim trong đó có 9 lông chim trĩ dưới gốc Cây bồ đề nhà tôi ra lá non. Sau khi thămlúa siêu xanh ở Phú Yên về, tôi rất mừng vì chúng tôi thành công với lúa siêu xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu đạt năng suất cao chất lượng tốt trên đồng ruộng. Tôi trở về nhà đúng ngày quốc tế hạnh phúc Thật đúng là sự may mắn an nhiên và niềm vui tình yêu cuộc sống.

Chim Phượng Hoàng đất vườn nhà tôi là một chuyện may mắn. Vườn nhà tôi có cặp chim Trĩ (Phương Hoàng đất) về làm tổ sinh ra bầy chim trĩ con tuyệt đẹp. Những cây cao trong vườn có cò, chào mào, sáo sậu, yến, …và sóc về nhiều. Chim hót đủ giọng và sóc chuyền cành thật vui. Tổ chim Trĩ trên cây lộc vừng trước cửa nhà tôi bị gió lớn hất xuống sân. Con chim Trĩ non mới nở được nhà tôi cho vào một chiếc rỗ con treo lên cây để chim bố mẹ hàng ngày có thể cho ăn. Tối đó đi Phú Yên về, tôi rọi đèn ra thăm, trăng 16 đã hơi muộn. Chim non cánh vẫn còn ngắn… Sáng ra, nghe tiếng líu ríu của bố mẹ, hai con chim Phượng sà xuống lần lượt cho con ăn và gù rất lạ như là khuyến khích con bay lên. Chim Trĩ non thốt nhiên bật dậy nhảy lên thành rỗ. Sau khi lấy đà, nó bay vù qua nơi chảng ba của cây lộc vừng với sự háo hức lạ. Sau đó bổ nhào xuống cây sơn và đậu vững vàng như một con chim thành thục. Cặp Phượng Hoàng đất chuyền cành trên cây me cho con, có bộ lông đẹp, xanh mướt như ngọc và đều hót vang. Con chim non rướn mình bay lên khóm mai và cũng líu ríu. Nó đã tự tin và học đang bay. Nó đậu chắc trên cây mai và chịu mưa gió mạnh suốt đêm. Tôi lo lắng hai ba lần ra soi đèn vẫn thấy chim đậu chắc trên cây chịu mưa gió. Tôi bỗng nhớ lời Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: “Chim Hồng hộc bay được cao và xa là nhờ sáu cái trụ lông cánh, nếu không khác gì chim thường”.

chim-phuong-hoang-dat-9781-1381131449.jp
Phượng Hoàng đất là Chim trĩ ( Buceros bicornis) là loài chim quý hiếm, với các loại trĩ đỏ, trĩ  xanh và trĩ đen. Trong dân gian nó được ẩn dụ với loài chim phượng hoàng cao quý rất hiếm thấy,  một trong tứ linh (long , ly, quy phượng), mà nếu ai gặp được thì rất may mắn. Theo Truyền thuyết về chim phượng hoàng thì  Phượng hoàng là biểu thị cho sự hòa hợp âm dương, biểu tượng của đức hạnh và vẻ đẹp duyên dáng, thanh nhã . Phượng Hoàng xuất hiện ở nơi nào thì nơi đó được mừng là đất lành, thịnh vượng, và điềm lành. Rồng và Phượng là biểu tượng cho hạnh phúc vợ  chồng, hòa hợp âm dương và thường được trang trí, chúc phúc trong các đám cưới ở Việt Nam, Trung Quốc, và nhiều nước châu Á. Theo Kim Anh nguồn VN Express thì Phượng hoàng đất ở Tràng An  là loài Buceros bicornis, loài to nhất trong họ hồng hoàng, được phát hiện thấy tại một số khu rừng ở Tràng An Ninh Bình. Ở phương Nam, trong điều kiện đồng bằng tôi bất ngờ gặp loài chim trĩ  lông xanh đen (ảnh minh họa) là loài nhỏ hơn nhưng vẫn rất đẹp và quý mà tôi chưa có điều kiện để tra cứu kỹ ở Sinh vật rừng Việt Nam.

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3 là ngày được Liên Hợp quốc chọn tôn vinh niềm hạnh phúc của nhân loại. Mục tiêu của sự tôn vinh này không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn là ngày của hành động, nỗ lực nhiều hơn để đem lại hạnh phúc tốt hơn cho người người trên trái đất. Ngày Quốc tế Hạnh phúc được lấy từ ý tưởng của Vương quốc Bhutan là được đánh giá là nước có chỉ số hạnh phúc cao dựa trên các yếu tố như sức khỏe, tinh thần, giáo dục, môi trường, chất lượng quản lý và mức sống của người dân. Từ những năm đầu tiên của thập kỷ 70 thế kỷ XX, Bhutan là quốc gia đã ghi nhận vai trò của hạnh phúc quốc gia hơn là thu nhập quốc gia bằng việc thực thi mục tiêu tổng hạnh phúc quốc gia thay vì tổng sản phẩm quốc nội. Họ cho rằng nhu cầu về Ngày Hạnh phúc này là đối với tất cả quốc gia và con người trên toàn thế giới để có những bước vượt lên trên sự khác biệt giữa các nước và con người trên toàn thế giới, và liên kết, đoàn kết toàn nhân loại.

Ngày Quốc tế Hạnh phúc còn khởi nguồn từ nhu cầu về một cách tiếp cận tăng trưởng kinh tế cân bằng, hợp tình hợp lý hơn, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững, xóa nghèo và phấn đấu vì hạnh phúc và sự thịnh vượng cho tất cả mọi người và xuất phát từ nguyện vọng mỗi người hãy chọn cho mình một quan niệm đúng về hạnh phúc, quan tâm đến vấn đề cốt lõi nhất trong sự tồn tại là làm sao tìm được thật nhiều niềm vui trong cuộc sống, làm lan tỏa những điều tốt đẹp nhất trên khắp hành tinh xanh. Ngày này được Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon chính thức công bố tại một hội nghị của Liên hợp quốc từ vào ngày 28 tháng 6 năm 2012. Việc Liên hợp quốc chọn ngày 20 tháng 3 là Ngày Quốc tế Hạnh phúc xuất phát từ nguyên nhân đây là ngày đặc biệt trong năm, khi mặt trời nằm ngang đường xích đạo, nên trong ngày này có độ dài ngày và đêm bằng nhau và người ta cho đó là biểu tượng cho sự cân bằng, hài hòa của vũ trụ. Cũng là biểu tượng của sự cân bằng giữa âm và dương, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa ước mơ và hiện thực từ đó ngày này được cho là sẽ truyền tải thông điệp rằng cân bằng, hài hòa là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc.Ban Ki-moon cũng tranh thủ nhân đó kêu gọi công dân tất cả các nước cam kết giúp đỡ những người xung quanh, thúc đẩy sự phát triển bền vững và toàn diện của nhân loại bằng tình yêu thương làm lan tỏa hạnh phúc và giúp chúng ta xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn để khi tham gia làm việc thiện, bản thân chúng ta cũng nhận lại những điều tốt lành

VƯỜN VƯỜN THIÊNG CỔ TÍCH
Hoàng Kim

Anh đưa em vào
Vườn thiêng cổ tích
Nơi trời đất giao hòa
Ong làm mật yêu hoa
Lá non đùa nắng mới

Nhạc đồng xuân thung dung
Đắm say hòa quyện
Ban mai mù sương sớm
Trời xanh trong như ngọc
Cá nước chim trời
Vui thú an nhiên…

Khoảng lặng đất trời
Bí mật vườn thiêng

Vườn nhà sớm mai nay
Casava in Vietnam: Save and Grow, PhuYen

CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
Hoàng Kim, Hoàng Long (chủ biên) và đồng sự
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong

Bài viết mới (đọc thêm, ngoài giáo trình, bài giảng)

Cách mạng sắn Việt Nam
Chọn giống sắn Việt Nam
Chọn giống sắn kháng CMD
Giống sắn KM419 và KM440
Mười kỹ thuật thâm canh sắn
Sắn Việt bảo tồn phát triển
Sắn Việt Lúa Siêu Xanh
Sắn Việt Nam bài học quý
Sắn Việt Nam sách chọn
Sắn Việt Nam và Howeler
Sắn Việt Nam và Kawano
Sắn Việt và Sắn Thái
Quản lý bền vững sắn châu Á
Cassava and Vietnam: Now and Then

Lúa siêu xanh Việt Nam
Giống lúa siêu xanh GSR65
Giống lúa siêu xanh GSR90
Gạo Việt và thương hiệu
Hồ Quang Cua gạo ST
Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A
Con đường lúa gạo Việt
Chuyện cô Trâm lúa lai
Chuyện thầy Hoan lúa lai
Lúa C4 và lúa cao cây
Lúa sắn Cămpuchia và Lào
Lúa sắn Việt Châu Phi
Lúa Việt tới Châu Mỹ

Giống ngô lai VN 25-99
Giống lạc HL25 Việt Ấn


Giống khoai lang Việt Nam
Giống khoai lang HL518
Giống khoai lang HL491
Giống khoai Hoàng Long
Giống khoai lang HL4
Giống khoai Bí Đà Lạt

Việt Nam con đường xanh
Việt Nam tổ quốc tôi
Vườn Quốc gia Việt Nam
Nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp sinh thái Việt
Nông nghiệp Việt trăm năm
IAS đường tới trăm năm
Viện Lúa Sao Thần Nông
Hoàng Thành đến Trúc Lâm
Ngày Hạnh Phúc của em
Có một ngày như thế

Thầy bạn là lộc xuân
Thầy bạn trong đời tôi
Sóc Trăng Lương Định Của
Thầy Quyền thâm canh lúa
Borlaug và Hemingway
Thầy Luật lúa OMCS OM
Thầy Tuấn kinh tế hộ
Thầy Tuấn trong lòng tôi
Thầy Vũ trong lòng tôi
Thầy lúa xuân Việt Nam
Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
Thầy bạn Vĩ Dạ xưa
Thầy Dương Thanh Liêm
Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
Phạm Trung Nghĩa Viện Lúa
Phạm Quang Khánh Hoa Đất
Phạm Văn Bên Cỏ May

24 tiết khí nông lịch
Nông lịch tiết Lập Xuân
Nông lịch tiết Vũ Thủy
Nông lịch tiết Kinh Trập
Nông lịch tiết Xuân Phân
Nông lịch tiết Thanh Minh
Nông lịch tiết Cốc vũ
Nông lịch tiết Lập Hạ
Nông lịch tiết Tiểu Mãn
Nông lịch tiết Mang Chủng
Nông lịch tiết Hạ Chí
Nông lịch tiết Tiểu Thử
Nông lịch tiết Đại Thử
Nông lịch tiết Lập Thu
Nông lịch tiết Xử Thử
Nông lịch tiết Bạch Lộ
Nông lịch tiết Thu Phân
Nông lịch tiết Hàn Lộ
Nông lịch tiết Sương Giáng
Nông lịch tiết Lập Đông
Nông lịch tiết Tiểu tuyết
Nông lịch tiết Đại tuyết
Nông lịch tiết giữa Đông
Nông lịch tiết Tiểu Hàn
Nông lịch tiết Đại Hàn

Nhà sách Hoàng Gia

Video tài liệu tham khảo chọn lọc :

Cây Lương thực Việt Nam Chuyển đổi số nông nghiệp, Học không bao giờ muộn Cách mạng sắn Việt Nam https://youtu.be/81aJ5-cGp28; Mười kỹ thuật thâm canh sắn : Cassava in Vietnam Save and Grow 1Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 2Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 3Daklak; Giống sắn KM410 và KM440 ở Phú Yên https://youtu.be/XDM6i8vLHcI; Giống sắn KM419, KM440 ở Đăk Lăk https://youtu.be/EVz0lIJv2N4; Giống sắn KM419, KM440 ở Tây Ninh https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/kjWwyW0hkbU; https://youtu.be/9mZHm08MskE; Trồng sắn KM419, KM98-5, KM98-1 ở Cappuchia https://youtu.be/TpTIxv9LaFQ; Trồng khoai lang ở Hàn Quốc https://youtu.be/J_6xW3j47Sw ; Trồng lúa đặc sản ở Trung Quốc https://youtu.be/rJSZfrJFluw; Trồng khoai lang tím ở Trung Quốc https://youtu.be/0CHOG3r64xs; Làm măng ngọt giá cao ở Trung Quốc https://youtu.be/i1oFFqFMlvI;

Bài viết mới trên DẠY VÀ HỌC
https://hoangkimvn.wordpress.com bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Secret Garden – Poéme

Vuonxuan

Chopin – Spring Waltz 
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter