Chuyện cổ tích người lớn

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

Lời dặn lại của Đức Thánh Trần là “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”.Đọc lại thật sâu sắc! Tôn tử binh pháp thiên thứ nhất, trang đầu là “Tính toán”. Tôn Tử nói: Chiến tranh là việc lớn quốc gia, là việc sống chết của nhân dân, là sự mất còn của một nước, không thể không xem xét cẩn thận. Cho nên phải cân nhắc năm yếu tố, phải tính toán, so đo mà tìm hiểu thực tình của đôi bên: Thứ nhất là đạo nghĩa; thứ hai là thời trời; thứ ba là địa lợi; thứ tư là chủ tướng; thứ năm là pháp chế. Chỉ nói đến trí thức tinh hoa, tinh thần ái quốc và sức mạnh toàn dân thì chỉ mới tính toán so đo thứ nhất là đạo nghĩa. Chỉ nói đến tài năng và tôn vinh cụ thể một con người như Napoleon chẳng hạn thì chỉ mới tính toán so đo thứ tư là chủ tướng. Chính vì vãy Napoleon khi thua trận bị nhốt ngoài đảo mới thốt lên: Tiếc thay trước đây ta chưa đọc sách này (Tôn Tử binh pháp) và Cụ Hồ trước khi thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nghiền ngẫm dịch Tôn Tử binh pháp, học lại thật kỹ Lịch sử Việt Nam và chọn nơi khởi binh ở làng Quốc Tuấn. .

Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300. Người được dân Việt tôn kính gọi là Đức Thánh Trần và thường dâng lễ tạ ơn sớm từ 20 tháng 8 dương lịch đến ngày lễ chính. Vua Trần Anh Tông lúc Đức Thánh Trần sắp lâm chung có ân cần ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”. Đức Thánh Trần  trả lời: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Nguyên văn: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” * (Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 trang 76 -77).

Trần Hưng Đạo giành chiến thắng trước quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 vào ngày 9 tháng 4 năm 1288, tức 8 tháng 3 năm Mậu Tý. Sau ba lần thắng giặc, đất nước thanh bình, ông lui về Vạn Kiếp và mất ngày 20 tháng 8 năm 1300 tại vườn An Lạc. Đền Kiếp Bạc ( Hải Dương) là nơi đền thờ chính của đức Thánh Trần.

Chùa Thắng Nghiêm (Hà Nội) nơi Trần Hưng Đạo lúc nhỏ tu học, là nơi Người hiển thánh.

Đức Thánh Trần gương soi kim cổ

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà chính trị, quân sự, nhà văn kiệt xuất thời nhà Trần. Chiến công kiệt xuất đánh bại quân đội nhà Nguyên năm 1285 và 1287 đã đưa Đức Thánh Trần thành đại danh tướng lừng lẫy nhất của thế giới và Việt Nam. “CHỌN TƯỚNG” là một chương trong Binh thư Yếu lược của Trần Quốc Tuấn, kiệt tác súc tích và sâu sắc lạ lùng.

“Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.

Được sự thắng nhỏ, gặp sự thua nhỏ, mà mừng lo hình ra nét mặt, hễ thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, nhát mà không tính toán gì, cất chân thì thần sắc không định, mà hay lấy lời nói để thắng người, đó là tướng ngu vậy.

Bảy phép để biết người:

1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không
2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ.
3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không.
4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào.
5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không
6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không.
7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không.
8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không.

Tướng ngu có tám điều tệ:

1. Lòng tham mà không chán
2. Ghen người hiền, ghét người tài
3. Tin lời dèm pha, thích lời nịnh hót
4. Xét người mà không xét mình
5. Do dự không quả quyết
6. Say đắm rượu và sắc đẹp
7. Thích xảo trá mà lòng nhút nhát
8. Nói lời viễn vông mà không giữ lễ

Gia Cát Lượng sách Tướng Uyển chỉ bảy phép biết người.

Biết tính tình của người, chẳng gì khó bằng xem xét, lành dữ tuy khác nhau, tính tình và vẻ mặt chẳng phải một: có kẻ thì ôn hoà, hiền lành nhưng làm việc trộm cắp;có kẻ bề ngoài thì cung kính nhưng trong bụng thì vô lễ, dối trá; có kẻ bề ngoài thì mạnh dạn nhưng trong bụng thì khiếp sợ;có kẻ làm việc tận lực nhưng bụng không trung thành;

Bảy phép sau đây để biết người

1. Hỏi việc phải trái để dò chí hướng;
2. Lấy lời cật vấn để biết ứng biến;
3. Đem mưu kế hỏi để lường kiến thức;
4. Giao chuyện hiểm nguy để soi dũng cảm;
5. Mời rượu cho uống say để xét tính tình;
6. Đưa lợi gái thử để rõ thanh liêm chính trực;
7. Đem việc cậy nhờ để xét sự trung thành, tin thật.

Tám hạng tướng và bậc đại tướng

Nhân tướng là người dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ để xếp việc cho họ, hiểu thấu sự đói rét của người dưới, biết rõ khó nhọc của đồng sự, đó là nhân tướng.

Nghĩa tướng là người làm việc không cẩu thả, thấy lợi mà không tham, biết chết vinh hơn sống nhục.

Lễ tướng là người có địa vị cao quý mà không kiêu căng, công hơn người mà không cậy, tài năng mà biết hạ mình, cứng cỏi mà biết nhẫn nhịn.

Trí tướng là người gặp biến bất ngờ mà chí không đổi, ứng phó linh hoạt với việc khó khăn, có thể đổi họa thành phúc, gặp cơn nguy biến mà sắp đặt thành thắng thế.

Tín tướng là người thưởng phạt nghiêm minh công bằng, khen thưởng không chậm trễ và không bỏ sót, trừng phạt không buông tha cho kẻ cao quý.
Bộ tướng thủ hạ của đại tướng phải chọn người tay chân lẹ làng, võ nghệ tuyệt luân,  giỏi đánh gần, ứng biến di chuyển mau lẹ, để bảo vệ an toàn cao nhất cho chủ soái.
Kỵ tướng là người có thể vượt núi non cheo leo, từng trải việc nguy hiểm, cưỡi ngựa bắn tên mau lẹ như chim bay, tới thì đi trước, lui thì về sau.
Mãnh tướng là người khí thế vượt hẳn ba quân, dám coi thường địch mạnh, gặp đánh nhỏ vẫn luôn cẩn trọng, gặp đánh lớn thì can đảm quả quyết.

Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế.”

Ôi, đọc lại “Binh Thư Yếu lược” “Hịch Tướng Sĩ Văn” gương soi kim cổ, lắng nghe cuộc sống, để biết sửa mình; xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-dan-lai-cua-duc-thanh-tran/

Chuyện cổ tích người lớn
Đọc lại và suy ngẫm


CHƠI CỜ CỞ CAO CẦU
Hoàng Kim


Chấp chính chẳng căn cơ
Chợ cào cào châu chấu
Chơi cờ cỡ Cao Cầu
Cuối cùng chịu cám cảnh.

TAM SƯ
Phan Chi Thắng 14 8 2020

Một kỹ sư, một thiền sư và một võ sư rủ nhau lên núi so tài cao thấp. Họ chọn một tảng đá bên vách núi, thi xem ai đẩy được nó xuống vực.

Kỹ sư lấy giấy bút ra tính toán xem cần bao nhiêu thuốc nổ TNT, đặt vào đâu cho an toàn. Tính xong xuôi, đặt thuốc nổ nhưng bỏ quên dây cháy chậm ở nhà, đành chịu thua.

Thiền sư nhập định, dùng năng lượng vũ trụ đẩy được tảng đá dịch vài phân rồi ì ra đó, cũng chịu thua.

Võ sư xuống tấn, vận nội công, cơ bắp cuồn cuộn, hô to một tiếng, đẩy được hòn đá lung lay nhưng không rơi xuống vực. Coi như chưa thắng.

Một thằng bé kiếm củi đi ngang qua thấy vậy liền lấy cây gỗ làm đòn bẩy, tìm thế bẩy được hòn đá rơi xuống vực.

Ba ông sư, kỹ thiền và võ, vô cùng khâm phục, chắp tay hỏi ngài thuộc môn phái nào? Thằng bé không hiểu môn phái là gì, lắc đầu. Ba ông sư bèn hỏi ngài học cách đẩy hòn đá ở đâu, thằng bé bảo cháu thấy bố cháu làm thì cháu bắt chước thôi.

Ba ông sư nghĩ bố thằng bé đích thị là cao thủ, liền theo thằng bé về nhà xin diện kiến bố nó.

Đúng lúc đó bố mẹ thằng bé đi chợ về. Mẹ nó to béo dắt ngựa, trên lưng ngựa là bố nó gầy còm say mèm, nằm vắt ngang, hỏi gì cũng không nói vì còn mải ngật ngưỡng.

Ba ông sư kiên trì bám theo, chờ đến tối bố thằng bé tỉnh rượu để hỏi cho bằng được bí kíp đẩy đá. Ông kia bảo bí kíp gì đâu, các ông nhìn thấy vợ tôi rồi đấy, nó to thế thì phải dùng mẹo mới ấy nó được.

Ba ông tẽn tò ra về. Xe hơi đang đợi họ ở chân núi, bên hông xe có sơn dòng chữ: “Tổ tư vấn của Chính phủ”.

CHUYỆN CHƠI CỜ, CHỈ CÓ C...
Đinh Sỹ Hòa 6 Tháng 8 lúc 12:20

Cậu Cử Chinh con Cụ Cả Chiến có cái chứng chỉ chơi cờ “chại chức” (tại chức – chạy chức). Cậu còn có chứng chỉ cao cấp “chính chị”, chứng chỉ chơi chim, cá, cây cảnh…chi chi…chứa chật căng cứng cả cái cặp. Cậu có cái cơ chơi cờ cỡ Cao Cầu, còn chẳng có cái cục…”cơm cháy” chi. Cậu cậy có Cụ chinh chiến, cao cơ, Cậu cứ chơi cờ, chẳng cần có căn cơ, cần cù chi cả…Cậu còn chơi chim cảnh, cá cảnh, cá cược, cào, chắn…Cụ cũng chẳng can, chẳng cấm cản chi. Cụ chống chọi, che chắn, chịu chi cho Cậu, Cụ cũng có “chiếu chỉ” cho các chú, các con cháu, các con cô con cậu…cài cắm chằng chịt các cấp…cho Cậu cái chức cao cao. Cậu Chinh chỉ cần chơi cờ, cun cút…chẳng cần cầu cạnh chi. Cụ Cả Chiến cũng chơi cao cờ có cỡ…Cụ chạy chọt, chèo chống cho Cậu Cử các chứng chỉ cùng cấp chức cứng cựa, cáu cạnh…Con cháu chắt chút chít chịt của Cụ cũng cậy có Cụ, chúng chiếm chỗ, cơ cấu, cài cắm các cấp, các cơ “coan” có cả. Cha con Cụ chơi cuồng, chơi chướng, chẳng cần che chắn, cẩn cáo chi cả…Các cha chú chán chường, cau có chửi cha con Cậu cáo cầy, “cẩu coan” chán chê…Chửi chán, các cha chú chậc chậc: Cha chả, con cháu của chúng cả, con cha cháu cụ cả…cải cách cái chi chi? chống chạy chức, chạy chỗ, chống con cháu cái chi chi?…Chết chửa…CỤ CHỦ có cảm, có cứu, có cách chi chăng?…Cậu Cử Chinh chồm chỗm chấp chính chức “Cha” chưa chắc chân, chính chỗ, chưa cúng Cụ…Cấp cao cao cắc cớ cảnh cáo, chấn chỉnh, cắt chức Cậu cái cụp…cho cậu “chết”, cha con cậu có chừa chưa?…Cha con Cụ còn cuống cuồng chống chế, cay cú cãi cùn: “Cấp chức chính chủ, chứng chỉ cao, chuẩn, có chấm, có cử, có cơ cấu cả chứ…các cu cứ coi chừng cha con Cụ”…Cụ Cả Chiến chơi con cờ cậu Chinh cũng cùng cực, chua chát. Cắt chức “Cha” của Cậu, Cụ còn chèn cho Cậu cái chức cao cao…Công cụ câu cơm, câu cá, câu chỉ, câu cây…của Cụ có cơ cuốn cờ, chìm cả chì cả chài, chui cống cả…Cha con Cụ có cơ chết chùm…

Chợ cào cào, châu chấu…chốn “coan chường” cóc chết…Cám cảnh chưa…

Chuyện cổ tích người lớn
Đọc lại và suy ngẫm

KHỔNG TỬ BÁI KIẾN LÃO TỬ
ĐKN Theo NTDTV
Hải Sơn biên dịch


Lão Tử và Khổng Tử, hai bậc Thánh nhân trong lịch sử đã có lần tương ngộ. Và cuộc đàm đạo của các ngài đã để lại giai thoại ngàn năm. Sau khi bái kiến Lão Tử trở về, Khổng Tử trầm mặc suốt 3 ngày không nói. 

Một ngày vào năm 538 TCN, Khổng Tử nói với đệ tử là Nam Cung Kính Thúc rằng: “Lão Đam, người giữ chức Tàng thất sử của nhà Chu, bác cổ thông kim, biết cội nguồn của lễ nhạc, hiểu rõ mấu chốt của đạo đức. Nay ta muốn đến Chu xin thỉnh giáo, trò có muốn đi cùng không?”.

Nam Cung Kính Thúc vui mừng đồng ý, lập tức tâu lên vua nước Lỗ. Vua Lỗ đồng ý cho ông đi, đồng thời cấp cho ông một cỗ xe song mã, một đứa nhỏ hầu, một người đánh xe, và cử Nam Cung Kính Thúc hộ tống Khổng Tử lên đường.

Lão Tử thấy Khổng Tử xa xôi ngàn dặm đến, vô cùng vui mừng.

Lão Tử hỏi Khổng Tử: “Ông đã đắc Đạo rồi chứ?”.

Khổng Tử nói: “Học trò cầu Đạo đã 27 năm, vẫn chưa đắc được”.

Lão Tử nói: “Nếu Đạo là vật hữu hình, có thể lấy đem dâng cho người, thế thì mọi người tranh nhau lấy dâng cho quân vương. Nếu Đạo có thể tặng cho người, mọi người sẽ đem tặng cho người thân. Nếu Đạo có thể thuyết giảng rõ ràng, mọi người đều sẽ thuyết giảng cho anh em. Nếu Đạo có thể truyền cho người khác, thế thì mọi người đều sẽ tranh nhau truyền lại cho con cái. Nhưng những điều nói trên đều không thể được, nguyên nhân rất đơn giản, đó là khi cái tâm con người không nhận thức đúng đắn về Đạo, thì Đạo sẽ không bao giờ vào đến tâm người ấy”.

Khổng Tử nói: “Học trò nghiên cứu “Kinh thi”, “Kinh thư”, “Chu lễ”, “Chu nhạc”, “Kinh dịch” và “Kinh Xuân Thu”, thuyết giảng đạo trị quốc từ thời Tam Hoàng, hiểu rõ con đường công danh của Chu Công, Triệu Công, học trò đem dâng cho hơn 70 vị vua, nhưng không ai sử dụng. Xem ra con người khó thuyết phục quá!”.

Lão Tử nói: “Lục nghệ của ông đều là lịch sử cũ xưa của các đời vua xưa, ông thuyết giảng những cái đó có tác dụng gì? Những thứ ông đang tu luyện, đều là những tích xưa cũ. “Tích” chính là dấu tích vết giày người ta để lại, dấu chân với dấu chân, thì có gì khác nhau?”. 

Sau lần đối thoại ban đầu, Lão Tử lại dẫn Khổng Tử thăm Đại phu Trường Hoằng. Trường Hoằng cực kỳ tinh thâm nhạc lý, truyền thụ cho Khổng Tử nhạc luật, nhạc lý, đồng thời dẫn Khổng Tử đi quan sát các lễ tế Thần, khảo sát nơi truyền giáo, nghiên cứu các lễ nghi lễ đền, làm cho Khổng Tử cảm thán không ngớt, thọ ích rất nhiều.

(Sau này, khi Khổng Tử ở nước Tề có may mắn được thưởng thức nhạc vũ “Đại thiều”. Sau khi thưởng thức xong thì lòng khoan khoái ngây người ra, miệng không còn biết vị, ba tháng ròng ăn thịt không thấy mùi vị, thì cảm động than rằng: “Không ngờ nhạc lại có thể đạt đến cảnh giới cao siêu kỳ diệu như thế này!”. Đây chính là điển cố “Ba tháng không biết mùi vị thịt” được ghi chép trong “Luận ngữ”).

Khổng Tử lưu tại đây vài ngày rồi từ biệt Lão Tử. 

Lão Tử tiễn đưa ông ra ngoài công quán rồi nói:

Tôi nghe nói, kẻ phú quý tặng người của cải, kẻ nhân nghĩa tặng người lời nói. Tôi không phú cũng chẳng quý, không có của cải tặng ông, muốn tặng ông vài lời. Thời nay, kẻ thông minh mà sâu sắc, sở dĩ gặp nạn, thậm chí dẫn đến cái chết, là do hay chê cái sai của người; kẻ giỏi hùng biện lại thông hiểu sự việc, sở dĩ gặp họa liên miên, là do hay vạch ra cái xấu của người. Là bậc làm con, đừng cho mình là cao; là bậc bề tôi, đừng cho mình là hơn. Mong ông nhớ kỹ”.

Khổng Tử bái lạy nói: “Học trò nhất định ghi nhớ trong lòng!”.

Khi Khổng Tử đến bờ sông Hoàng Hà, thấy nước sông cuồn cuộn, sóng cuộn đục ngầu, khí thế như vạn ngựa đang phi, âm thanh như hổ gầm sấm động.

Khổng Tử đứng trên bờ rất lâu, bất giác nói thương cảm: “Cái đã qua là như thế này đây, ngày đêm không ngừng! Nước sông Hoàng Hà cuộn chảy không ngừng, tháng năm của con người qua đi chẳng dừng, nước sông chẳng biết chảy đi đâu, đời người chẳng biết đi về đâu?”.

Nghe thấy Khổng Tử nói mấy câu này, Lão Tử nói: “Con người sống ở giữa trời đất, nên cùng với trời đất là một thể. Trời đất vạn vật là tự nhiên vậy. Con người cũng là thuận theo tự nhiên. Người có thay đổi từ trẻ em, thiếu niên, tráng niên, và già, cũng giống như trời đất có xuân, hạ, thu, đông đổi thay, có gì buồn đâu? Sinh ra trong tự nhiên, chết trong tự nhiên, cứ để nó tự nhiên, thì bản tính không loạn. Không để nó theo tự nhiên, tất bật trong nhân nghĩa, thì bản tính bị trói buộc. Công danh còn trong tâm, thì cái tình lo nghĩ nảy sinh. Lợi dục giữ trong tâm, thì cái tình phiền não càng tăng thêm”.

Khổng Tử giải thích rằng: “Học trò lo đại Đạo không được thực hiện, nhân nghĩa không được thực thi, thì chiến loạn không ngừng, quốc loạn không yên, ví như cuộc đời ngắn ngủi, chẳng có công lao gì cho đời, không thể giúp gì cho dân, vậy thì tiếc lắm thay”.

Một lúc sau Lão Tử chỉ con sông Hoàng Hà mênh mông, nói với Khổng Tử: “Ông sao không học đức của nước?”

Khổng Tử nói: “Nước có đức gì?”. 

Lão Tử nói: “Cái thiện cao nhất như nước vậy: Nước thiện, có lợi cho vạn vật mà không tranh, ở nơi mà mọi người đều ghét, đó là đức khiêm nhường vậy. Sông biển sở dĩ có thể làm vua của trăm suối khe, là do nó giỏi ở chỗ thấp. Thiên hạ không có gì mềm mại yếu đuối hơn nước, mà những cái rắn chắc mạnh mẽ lại không cái nào có thể thắng được nước, đó là đức nhu vậy. Do đó nhu thắng cương (mềm thắng cứng), nhược thắng cường (yếu thắng mạnh). Vì nước không có hình thái cố định, nên có thể vào mà không bị ngăn cách, do vậy có thể thấy vô ngôn chi giáo (giáo hóa không cần nói), vô vi chi ích (lợi ích mà không cần phải làm)”.

Khổng Tử nghe xong, bỗng bừng tỉnh ngộ, nói: “Lời này của tiên sinh, khiến học trò bừng tỉnh: Mọi người ở trên cao, chỉ riêng nước ở dưới thấp; mọi người ở chỗ dễ chịu, riêng nước ở chỗ hiểm trở; mọi người ở chỗ sạch sẽ, riêng nước ở chỗ dơ bẩn. Chỗ nước ở toàn là chỗ mà mọi người ghét, thì ai còn tranh với nước đây? Đây chính là cái thiện cao nhất vậy”.

Lão Tử gật đầu nói: “Ông có thể dạy được! Ông phải nhớ kỹ: Không tranh với đời, thì thiên hạ không ai có thể tranh cùng, đó là học theo đức của nước vậy. Nước gần với Đạo. Đạo không nơi nào không có, nước không nơi nào không có lợi, tránh chỗ cao mà về chỗ thấp, chưa bao giờ trái ngược, là giỏi tìm chỗ đứng. Ở chỗ không, nên trong vắt tĩnh lặng, sâu không thể dò tìm, là giỏi làm vực sâu. Tổn mà không kiệt, làm mà không cầu báo, là giỏi làm việc nhân vậy. Tròn ắt sẽ xoay, vuông ắt sẽ gẫy, bịt ắt sẽ dừng, khơi ắt sẽ chảy, đó là giỏi giữ chữ tín. Gột rửa mọi dơ bẩn, đo chỉnh cao thấp, là giỏi xử lý mọi vật. Dùng để chở thì nổi, dùng để soi thì trong, dùng để công phá thì tất cả những gì kiên cố vững chắc cũng không thể địch nổi, đó là giỏi dùng khả năng. Ngày đêm không nghỉ, tràn đầy rồi mới tiến tiếp, là giỏi chờ thời vậy.

Do đó bậc thánh nhân tùy thời mà hành (hành sự tùy theo thời vận), bậc hiền giả ứng sự nhi biến (ứng biến tùy theo sự việc). Bậc trí giả vô vi nhi trị (vô vi mà trị vì cai quản), bậc đạt giả thuận thiên nhi sinh (thuận theo lẽ trời mà sinh ra).

Ông lần này đi rồi, nên bỏ cái ngạo khí trong lời nói và biểu cảm, xóa bỏ cái chí dục ở dung mạo. Nếu không, người chưa đến mà tiếng tăm đã đến, thân chưa tới mà gió đã động, hiển lộ phô trương, như hổ đi trên phố, ai dám dùng ông?”.

Khổng Tử nói: “Lời của tiên sinh, là từ đáy lòng tiên sinh mà vào tận tâm can học trò. Học trò thọ ích rất nhiều, cả đời không quên. Học trò sẽ tuân theo chẳng dám trễ nải, để tạ ân của tiên sinh”.

Nói xong, Khổng Tử từ biệt Lão Tử, lên xe cùng Nam Cung Kính Thúc, lưu luyến đi về hướng nước Lỗ.

Khổng Tử từ chỗ Lão Tử trở về, suốt 3 ngày im lặng không nói năng gì. Học trò Tử Cống lấy làm lạ bèn hỏi thầy làm sao. Khổng Tử lúc này mới đáp:

Nếu ta gặp người có suy nghĩ thoáng đạt như chim bay, ta có thể dùng luận điểm chính xác sắc bén như cung tên của ta bắn hạ chế phục họ. Nếu tư tưởng của người ta vun vút không trói buộc như hươu nai chạy, ta có thể dùng chó săn đuổi theo, nhất định khiến họ bị luận điểm của ta chế phục.

Nếu tư tưởng của họ như con cá bơi trong vực sâu của lý luận, ta có thể dùng lưỡi câu để bắt lên.

Nhưng nếu tư tưởng họ như con rồng, cưỡi mây đạp gió, ngao du nơi cảnh huyền ảo thái hư (vũ trụ mênh mông huyền bí), không ảnh không hình, không nắm bắt được, thì ta chẳng có cách nào đuổi theo bắt được họ cả.

Ta đã gặp Lão Tử, thấy cảnh giới tư tưởng ông như rồng ngao du trong thái hư huyền ảo, khiến ta cứ há miệng mãi mà không nói ra lời, lưỡi thè ra cũng không thu lại được, khiến cho ta tâm thần bất định, chẳng biết ông rốt cuộc là người hay là Thần nữa. Lão Đam, thực sự là Thầy của ta!”.

Và hàng ngàn năm sau, những tư tưởng sâu xa, thâm thúy của Lão Tử cho đến ngày nay vẫn là những lời dạy vô giá đối với hậu nhân.

Bài liên quan:

XỬ ÁN KIỂU THỔ NHĨ KỲ
Bùi Cách Tuyến


Chuyện xảy ra ở Vương quốc Aleppo, Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ 13. Viên Chỉ huy quân đội Nasir muốn hãm hại Vizier (quan chức hành chính cao nhất trong vương quốc) tên là Sahabettin Tugrul (là chú ruột của Sultan Giyaseldin El Aziz/vua của vương quốc Aleppo) vì ông đã biết rõ và cản trở y bắt tay với ngoại bang.

Nasir đã tuyển mộ một đội gái đẹp vào cung mua vui cho Sultan Giyaseldin El Aziz làm ông này mê muội. Nasir sàm tấu với Sultan rằng chính Sahabettin Tugrul đã và đang cấu kết với ngoại bang. Sau nhiều lần lập mưu gieo sự nghi ngờ, cuối cùng Nasir đã lấy được lệnh miệng của Sultan để bắt giam Sahabettin Tugrul, rêu rao trong vương quốc các tội danh và tuyên bố sẽ đem ông ra xử án công khai.

Để bảo đảm xử án thành công, Nasir dùng vàng mua chuộc Chánh án Efendi đồng thời hứa hẹn với Efendi rằng sẽ trình Sultan thăng chức Efendi lên làm quan cố vấn của Sultan. Efendi dù biết rõ tài đức của Sahabettin Tugrul và đã nói thẳng với Nasir rằng Sahabettin Tugrul vô tội nhưng vẫn nhận lời tuyên án tử hình Sahabettin Tugrul để được nhận tiền và chức tước.

Mặt khác, Nasir tìm 4 nhân chứng đểu để buộc tội Sahabettin Tugrul trước toà nhằm kết án tử hình ông (sau đó Nasir đã cho người giết các nhân chứng để bịt đầu mối), đồng thời Nasir mua chuộc một đám đông đến nơi chém đầu để hô vang khẩu hiệu lăng mạ Sahabettin Tugrul. May mà ông được một nhóm người cứu thoát.

PS: Té ra những thằng hung ác và kinh tởm nhất lại đi xử án những thằng đàng hoàng tử tế!

Chuyện cổ tích người lớn
XỬ ÁN KIỂU VUA GIA LONG
Hoàng Kim
Đọc lại và suy ngẫm. bài nghiên cứu lịch sử của Võ Hương An Mối thù của nhà Tây Sơn và vua Gia Long: chuyện đời vay trả đăng trên https://nghiencuulichsu.com/2014/10/02/ban-ve-tay-son-nguyen-anh-chuyen-doi-vay-tra/ Nghiên cứu lịch sử ngày 2 tháng 10 năm 2014.Chuyện cổ tích người lớn này nhiều thông tin về một sự kiện lớn đã được ghi vào chính sử triều Nguyễn, Quốc Sử Quán, Đại Nam Thực Lục, I, bản dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh, Viện Sử Học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002. xem thêm Những góc khuất của phong trào Tây Sơn nghiên cứu lịch sử của Đổng Thành Danh ..

Hiển Lâm Các

Mối thù của nhà Tây Sơn và vua Gia Long: chuyện đời vay trả
Võ Hương An

Lời người viết: Mùa Vu lan năm Canh dần 2010, tự nhiên tôi nhận được nhiều email của thân hữu gởi đến – có ngày nhận hai ba cái — kèm theo truyện ngắn “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, viết về sự tàn ác và hèn hạ của vua Gia Long trong việc hành hình vợ chồng Trần Quang Diệu & Bùi Thị Xuân — hai dũng tướng của Tây Sơn — và gia đình (mẹ già và con gái). Nội dung của các điện thư hoặc có ý hỏi tôi sự thật có đúng như vậy không, hoặc tỏ ra đồng ý với tác giả, chê trách vua Gia Long tàn ác. Bài viết này xin xem như một câu trả lời, sự thật lịch sử là một kinh nghiệm chung ở đời…

Đôi nét lịch sử

Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi,  vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn. Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này ( mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế.  Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó — vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước. (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long )

Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và  trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền  Bắc thì Nguyễn Vương đã cho « Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ » (Thực lục I, tr.473).

Sau khi chiếm được Bắc hà, bắt được  trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh,  hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày giáp tuất  tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn. Sau lễ,
 
« Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài. » (Thực lục I, tr.531)

Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu : « Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu … » và kết thúc bằng câu « Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân. » (Thực lục I, tr.532,533)

Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyện Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem « giả nát rồi vất đi ».
 
Phẩm bình của lịch sử       

Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?
 
Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết:

« Vậy mà Nã [Phá Luân, Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm ; còn Quang Trung : mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’ »

Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc:

« Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘ nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc. » (tr.240)

Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao :

Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.

Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.

Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã.

Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, Vùng An Khê. Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.

…Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.

Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc.

Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?

Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam.

Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.

Trăm năm bia đá thời mòn
Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.

(http://tuongvangvn.com/index.php?categoryid=50&p2_articleid=418)
 
Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết, Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử  VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:
 
“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù  đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65) (He showed no mercy to his beaten adversaries, dead or alive. His soldiers exhumed the bones of a deceased Tayson leader and his wife and urinated on them before the eyes of their son, whose limbs were then bound to four elephants and ripped apart.)
 
Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra. Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại). Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hổ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiễu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong. Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử được viết dưới nhãn quan xã hội chủ nghĩa, triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.
 
Câu hỏi đặt ra

Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.

Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.
 
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4)[1] .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời.” (Thực lục I, tr.508) Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).

Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…). Khi  Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh

“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta.’ [người viết in đậm]. Bèn sai quan quân đưa về (Thực lục I, tr.445)

Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẻ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẻ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544)

Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt , chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?
 
Sự thật là đây

Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:
 
“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790.” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445)
 
Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.

Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo  lễ hiến phù: “ Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” * (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ : thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẻ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.

* “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời.” Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532.
 
Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân  nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng. Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn?  Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):
 
“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.

“Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy. Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng  Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên. Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho.” (Thực lục I, tr.466)
 
Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:
 
-Thứ nhất,  Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông.

Việc này cọng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.

Đây là 8 đời chúa Nguyễn:

1.Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
2.Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);
3.Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);

4.Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)

 5.Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);
6.Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);
7.Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);
8.Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);

Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tình sổ.

Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài  từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần,  Hồ và Hậu Lê cọng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe  với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!

-Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.
Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!

Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả  cho biết thêm một chi tiết khác:

“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người). (tr.193)

Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.

Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.
 
Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay). Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.

Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác.  Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.

Phải chăng nên thử  tự đặt mình vào địa vị của  vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.
 
Một vài cảm nghĩ     

Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.
 
1/Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ,tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen. Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.
 
2/Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?

Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam,  biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời. Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.

“Chiêu hồn nạp táng là gì?

“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”.

Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.

Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.
Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành. Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân.

Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.
 (http://www.kythu.net/Tang_le/Chieu-hon-nap-tang-la-gi/84.chtml)

2/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời.”

Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên. Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sữ dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.
 
Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bĩ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).

Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao

Người trồng cây hạnh người chơi,
Ta trồng cây đức để đời về sau

Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!

Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn  thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?
Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.

Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay  trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).  

 Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên  tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.

Chú thích :

(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính dần) vua mới chánh thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.
 
(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120 tronghttp://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up
 
(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo « Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn » được phóng viên ghi nhận là « một hội thảo lịch sử », có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận :

« Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử”.
…………………….
« Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa » (http://www.thethaovanhoa.vn/133N20081020034945468T0/danh-gia-lai-chua-nguyen-va-vuong-trieu-nguyen-mot-hoi-thao-lich-su.htm
 
Tài liệu tham khảo :
 
-Quốc Sử Quán , Đại Nam Thực Lục, I, bản dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh, Viện Sử Học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002
-Trần Gia Phụng, Nhà Tây Sơn, Nxb Non Nước, Toronto, Canada, 2005
-Stanley Karnow, VietNam, A History, Penguin Book, 1984
-Hoa Bằng, Quang Trung, Anh hùng dân tộc, Bốn Phương, Saigon, 1953
-Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc, Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Nxb Thuận Hòa, Huế, 1995
-Charls,B. Maybon, La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine,http://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up.
-Chiêu hồn nạp táng là gì ? http://www.kythu.net/Tang_le/Chieu-hon-nap-tang-la-gi/84.chtml 

(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thóat ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu)
 
[1] Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thóat ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triếu Chánh Biên Toát Yếu)

Chuyện cổ tích người lớn
Thượng Đức thương nhìn lại

Chính ủy Bùi Văn Tùng, người thảo “Lời tuyên bố đầu hàng cho Tổng thống Ngụy” 30/ 4/ 1975 xứng đáng được phong Anh hùng!. Báo Điện tử Tầm nhìn ngày 24 tháng 4 năm 2020, tác giả Thu Hằng-Thùy Trang viết: Người thảo ra văn kiện lịch sử ngắn gọn, đanh thép, quan trọng cho việc chuyển giao chế độ như thế thực sự xứng đáng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang

Miền Nam được giải phóng, nước nhà được hoàn toàn độc lập đã 45 năm, nhiều người lính Giải phóng có công trong thời khắc lịch sử vô cùng quan trọng làm nên ngày 30/4/1975 chấn động địa cầu đã được phong Anh hùng LLVT, như Đại tá Bùi Quang Thận, Trung tướng Phạm Xuân Thệ. Nhưng Trung tá Chính ủy Lữ đoàn Tăng-Thiết giáp 203 Bùi Văn Tùng – người thảo Lời tuyên bố đầu hàng cho Tổng thống Ngụy Dương Văn Minh đọc cáo chung chế độ tay sai của xâm lược Mỹ, đến nay vẫn chưa được phong danh hiệu Anh hùng mà ông xứng đáng được nhận. Đó là trăn trở mà NSUT, Đạo diễn, nhà quay phim chiến trường Phạm Việt Tùng đau đáu muốn đề xuất đến Quân đội và Nhà nước.

Sự thật lịch sử ngày 30/4/1975 qua lăng kính của nhà quay phim chiến trường Phạm Việt Tùng

Đạo diễn, NSUT Phạm Việt Tùng thuộc thế hệ quay phim đầu tiên của Truyền hình Việt Nam, người cùng đoàn với nhà báo Huỳnh Văn Tiểng đã vinh dự có mặt tại Dinh Độc lập vào ngày đầu tiên ta giải phóng Sài Gòn, kết thúc cuộc chiến trường kỳ gian khổ, non sông thu về một mối. Hơn ai hết, là người quay phim đồng hành và chứng kiến nhiều mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, Đạo diễn Việt Tùng thấm thía tầm quan trọng của sự thật lịch sử với việc giáo dục thế hệ trẻ nước nhà.

Thời điểm giữa những năm 2.000 xôn xao các hội thảo với mục đích khẳng định người thảo “Lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Ngụy” là Đại úy Phạm Xuân Thệ (thời điểm giữa những năm 2.000 các hội thảo tổ chức rùm beng thì ông Phạm Xuân Thệ đang là Trung tướng). Trong khi thực tế lịch sử mà các nhân chứng cả 2 bên (ta và Ngụy) có mặt tại Dinh Độc lập trưa 30/4/1975 đều khẳng định người làm nên lịch sử đó là Trung tá Bùi Văn Tùng – Chính ủy Lữ Đoàn Tăng-Thiết giáp 203 (đã nghỉ hưu với quân hàm Đại tá) và chính sử Việt Nam trong bộ sách “Nam bộ kháng chiến 1954-1975” đã xuất bản, được Đảng-Nhà nước phê duyệt cũng đã khẳng định người thảo “Bản tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Ngụy là Chính ủy Bùi Văn Tùng”.

Nhà báo Phạm Việt Tùng trăn trở lắm, tại sao lại có những người muốn thay đổi sự thật lịch sử như vậy? Làm sao để trả lại cho lịch sử tính chân thực của nó, cho thế hệ con cháu mai sau có niềm tin vào chính sử? Đó là lý do năm 2005 Phạm Việt Tùng quyết tâm làm bộ phim Tài liệu “Dinh Độc lập trưa 30/4/1975” (do Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh sản xuất). Bộ phim đã từng gây nhiều tranh cãi! Đằng sau đó là cả một câu chuyện dài về những ngày ông đi tìm tư liệu, quyết liệt đấu tranh cho sự thật lịch sử theo đúng những gì nó diễn ra…

Từ câu chuyện “4 chàng ngự lâm” – 4 người lính giải phóng trên chiếc xe tăng 390 anh dũng đã húc tung cánh cổng Dinh, đưa quân Giải phóng vào bắt sống nội các Ngụy, là những nhân chứng khẳng định Chính ủy của họ – Trung tá Bùi Văn Tùng đã thảo “Lời tuyên bố đầu hàng” cho Tổng thống Ngụy và ông cũng thảo luôn “Lời tiếp nhận đầu hàng” của Quân Giải phóng. Đạo diễn Việt Tùng đã đi tìm gặp hàng loạt nhân chứng lịch sử như: ông Nguyễn Hữu Thái – Chủ tịch Tổng Hội Sinh viên Sài Gòn 1975, người dẫn chương trình trong buổi phát thanh lịch sử trưa 30/4/1975.

“Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng” năm ấy; Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh – Phó Tổng Tham mưu trưởng Việt Nam cộng hòa; Nhà Sử học Nguyễn Nhã đưa ra cuộn băng ghi âm mà ông đã ghi lại toàn bộ sự kiện phát trên Đài vào trưa 30/4/1975, một bằng chứng vô cùng quan trọng; rồi nghe Đại tá Bùi Văn Tùng trực tiếp thuật lại sự việc ngày hôm đó. Và thật đáng mừng, lời kể của các nhân chứng trong cuộc hoàn toàn trùng khớp với nhau, trùng khớp với nội dung trong cuốn băng ghi âm chương trình phát thanh mà nhà Sử học Nguyễn Nhã cung cấp, đều khẳng định Chính ủy Bùi Văn Tùng là nhân vật đã làm nên lịch sử đó!

chinh uy bui van tung nguoi thao loi tuyen bo dau hang cho tong thong nguy 3041975 xung dang duoc phong anh hung
Đạo diễn Việt Tùng gặp gỡ Đại tá Bùi Văn Tùng và Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh để nghe lời kể của chính những người trong cuộc

Có được cuộn băng, Đạo diễn Việt Tùng mừng như bắt được vàng. Ông trăn trở suy nghĩ cả đêm, rồi bật dậy nghe lại đoạn băng và lấy quyển sách ông Phạm Xuân Thệ viết ra so sánh. Đây rồi! Đây mới là điểm mấu chốt! Trong đoạn băng là “Quân đội hạ vũ khí” chứ không phải là “Chính quyền hạ vũ khí” như ông Thệ nói. Vì Chính quyền thì lấy đâu ra vũ khí! Đó chính là sự khác nhau về ý thức chính trị của một người là Trung tá – Chính ủy, làm công tác Đảng!

Trong khi Đạo diễn Việt Tùng cùng với ekip đi tìm chứng cứ nhằm chứng minh tính chân thực của lịch sử, thì may mắn đã đến khi xuất hiện nữ nhà báo Gallassch Kelley – phóng viên truyền hình CHLB Đức (đóng chi nhánh tại Mỹ, bà cũng là người Mỹ), đến Việt Nam tìm gặp Chính ủy Bùi Tùng. Bà là vợ của nhà báo Borries Gallassch (PV báo Tấm gương-CHLB Đức, PV chiến trường, là 1 trong 2 nhà báo hiếm hoi có mặt tại Dinh Độc lập cùng với nội các Ngụy sáng 30/4/1975).

Borries Gallassch trở thành một nhân chứng quan trọng của lịch sử Việt Nam. Ngay sau ngày VN thống nhất, Borries Gallassch đã viết và tập hợp các bài phóng sự của các phóng viên nước ngoài khác viết về ngày giải phóng 30/4/1975 của VN thành cuốn sách “Thành phố Hồ Chí Minh – thời khắc số 0” xuất bản 9/1975 bằng tiếng Đức tại CHLB Đức. Trong cuốn sách này có in tấm ảnh Borries Gallassch ngồi cạnh Tổng thống Ngụy Dương Văn Minh ngay tại đài phát thanh, đó chính là lúc ông giúp ghi âm Tổng thống Minh đọc Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Cuốn sách mà bà Gallasch Kelley mang tới đã trở thành một vật chứng vô cùng quan trọng.

chinh uy bui van tung nguoi thao loi tuyen bo dau hang cho tong thong nguy 3041975 xung dang duoc phong anh hung
Cuốn sách của nhà báo Gallassch trở thành chứng cứ quan trọng chứng minh người Thảo bản đầu hang cho Tổng thống Ngụy là ông Bùi Văn Tùng

Trong cuốn sách đó Gallassch có bài viết riêng về sự kiện này: “Cuối cùng mọi người đã sẵn sàng nhưng không ai trong số người này biết sử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rõ ràng cho chúng tôi những việc tôi phải làm: Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố đầu hàng vào máy ghi âm của tôi, việc này lặp đi lặp lại 3 lần. Lần đầu tiên Minh chần chừ bởi vì ông được yêu cầu phải đọc “Tôi, Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn”, nhưng ông ấy muốn nói: “Tôi Đại tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho quân đội hạ vũ khí đầu hàng”.

Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận, không nhượng bộ ông Minh. Ông Minh đã phải nói đúng như bản mà Chính ủy Tùng đã thảo”. Cũng theo nhà báo Gallassch: “Ông viết lên một tờ giấy màu xanh. Chính ủy Tùng đã rất khó viết. Ông ngồi bất động trong khi thảo ra được một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến đấu cho một mục đích, thật là khó để biết phải viết như thế nào”. Ông Nguyễn Hữu Thái cũng xác nhận “Phải sau 15-20 phút, ông Tùng mới thảo xong bản Tuyên bố đầu hàng cho Tướng Minh”.

Cuối cùng, sự thật luôn chiến thắng. Sự kiện Trung tá Bùi Văn Tùng – nguyên Chính ủy Lữ đoàn Tăng – Thiết giáp 203 mới chính là người thảo bản đầu hàng cho Dương Văn Minh đã chính thức được ghi vào Lịch sử Quân sự Việt Nam.

chinh uy bui van tung nguoi thao loi tuyen bo dau hang cho tong thong nguy 3041975 xung dang duoc phong anh hung
Đại tá Bùi Tùng (năm 2007) đến Đài Phát thanh, thuật lại toàn bộ sự việc trưa 30/4/1975
chinh uy bui van tung nguoi thao loi tuyen bo dau hang cho tong thong nguy 3041975 xung dang duoc phong anh hung
Nhà sử học Nguyễn Nhã nghe lại băng ghi âm 30/4/1975

“Đại tá Bùi Văn Tùng – người bộ đội Cụ Hồ chân chính”

Giờ phút toàn thắng của dân tộc cũng là giờ cáo chung chính quyền Ngụy tay sai đế quốc Mỹ xâm lược, Chính ủy Bùi Văn Tùng – người lính bộ đội Cụ Hồ kịp thời ra mệnh lệnh, tổ chức việc buộc người đứng đầu chính quyền Ngụy đầu hàng không điều kiện, chấm dứt cuộc chiến tranh đã tốn biết bao máu xương. Bằng trí tuệ và trực giác của một người có trình độ học vấn cao, làm chính trị và công tác Đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng, trong giờ khắc cốt tử ấy, Chính ủy Bùi Tùng đã trở thành biểu trưng cho hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ, đã sống, chiến đấu và rèn luyện theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu. Con người được đào tạo, có trình độ, rất thông minh, mẫn tiệp và hết sức khiêm tốn ấy, xứng đáng được tôn vinh.

Đạo diễn Việt Tùng chia sẻ: “Tôi rất cảm phục ông Bùi Tùng, ông là hiện thân của hình mẫu bộ đội Cụ Hồ chân chính. Những gì đẹp nhất đều hội tụ ở ông. Ông ấy không bao giờ nói về mình, lúc nào cũng “tôi có công gì đâu”, “đó là công lao của cả quân đội ta, của cả dân tộc ta”. Ông luôn một lòng theo Đảng. “Một lần sau ngày Giải phóng, trong cuộc họp quân chính có Chủ tịch Tôn Đức Thắng tham dự, ông Tùng rất khiêm tốn cho rằng mình cấp tá nên ngồi ở cuối cùng của hội trường. Khi được mời lên để Bác Tôn hôn, Bùi Tùng lúc này mới từ tít cuối hội trường đi lên, mọi người ai cũng ngạc nhiên. Ông luôn cho rằng mình là cán bộ chính trị, thảo bản đầu hàng là hoàn thành nhiệm vụ, chứ công lao là của biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, là của cả dân tộc Việt Nam, ta thắng Mỹ bởi đó là cuộc chiến tranh nhân dân. Một con người có công lớn nhưng khiêm nhường như thế, thử hỏi làm sao chúng ta không yêu thương, quý trọng?”.

Phạm Việt Tùng luôn đau đáu mong muốn Đại tá Bùi Văn Tùng được phong một danh hiệu chính thức. Bởi đất nước ta luôn công bằng. Những người như ông Bùi Quang Thận, ông Phạm Xuân Thệ đều đã được phong danh hiệu Anh hùng, thì người thảo ra 2 văn kiện lịch sử ngắn gọn, đanh thép, quan trọng (văn kiện Tuyên bố đầu hàng của Tổng thống ngụy và văn kiện Quân Giải phóng tiếp nhận đầu hàng) cho việc chuyển giao chế độ, chấm dứt chiến tranh như thế, thực sự xứng đáng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT! Đại tá Bùi Tùng giờ đây đã ngoài 90, người ngồi xe lăn, miệng nói không rõ, ăn phải bón. Dẫu biết ông chẳng ham muốn gì danh lợi, nhưng ông xứng đáng được phong danh hiệu cao quý. Có như vậy thì mỗi dịp kỷ niệm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả dân tộc hòa chung một niềm vui, chính con cháu ông, đồng đội của ông cũng thấy tự hào, và quan trọng là tạo niềm tin cho thế hệ trẻ.

Những người anh hùng như Đại tá Bùi Văn Tùng sẽ mãi lưu danh sử sách, được các thế hệ sau biết đến và ghi ơn!

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và học Cây Lương thực Dạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

1 thought on “Chuyện cổ tích người lớn

  1. Pingback: Chào ngày mới 1 tháng 8 | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s