Đêm thanh ngắm hoa quỳnh

ĐÊM THANH NGẮM HOA QUỲNH
Hoàng Kim


Quỳnh nở đêm thanh nhớ bạn hiền
Mai vàng trúc biếc lắng bên hiên
Ngọc lan hoa đại mùi hương dịu
Trà ướp sen thơm tốt tính tình

Video yêu thích
BÀI RẤT HAY VỀ TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tình yêu cuộc sống Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook Kim on Twitter

Trung Quốc một suy ngẫm

TRUNG QUỐC MỘT SUY NGẪM
Hoàng Kim
Trung Quốc thực hiện chiến lược dài hạn nhất quán ‘Liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi’ ‘vành đai và con đường’ do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi động, khẳng định tiếp tục cuộc Trường Chinh.. Việt Nam tự cũng cố trầm tĩnh theo dõi, xử thế có lý, có lợi, đúng lúc. Những động thái diễn biến mới được nghiên cứu và tích hợp trong tài liệu này .

Chiến tranh là việc lớn quốc qua, suy cho cùng là sự đối kháng thắng thua của con người, khí tài công nghệ và tiềm lực quân sự quốc gia cho chuỗi trận đánh then chốt quyết định. Còn nhớ cách đây 76 năm, cũng dịp này Mỹ xác lập quyền thống trị hằng hải trên biển Thái Bình Dương và Đại Tây Dương nhờ trận hải chiến lớn nhất trong lịch sử hải quân thế giới. Từ ngày 19 tháng 6 đến ngày 20 tháng 6 năm 1944, trận hải chiến trên biển Philippines tại quần đảo Mariana là trận hải chiến bằng hàng không mẫu hạm lớn nhất trong lịch sử thế giới khi Hải quân Mỹ và Hải quân Nhật Bản đối trận. Hai bên đã sử dụng tổng cộng 24 hàng không mẫu hạm trong trận đánh này (15 của Mỹ và 9 của Nhật). Kết quả trận đánh là sự đại bại của hải quân Nhật khi họ mất 475 máy bay và 3 hàng không mẫu hạm. Nước Mỹ từ đó xác lập vị trí bá chủ thế giới trên biển Đông.

Từ Nao Trạch Động tới Tập Cận Bình là một cuộc trường chinh. Mao Trạch Đông từ ngày 19 tháng 6 năm 1945, được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông liên tục giữ chức vụ này cho đến khi từ trần ngày ngày 9 tháng 9 năm 1976. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành thắng lợi trong cuộc nội chiến với Quốc Dân Đảng, lập nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 và trở thành đảng cầm quyền ở Trung Quốc. Chủ tịch Mao Trạch Đông đã tạo ra một chủ nghĩa Mác-Lênin được Trung Quốc hóa có tên là chủ nghĩa Mao mà ngày nay ban lãnh đạo Trung Quốc gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông. Những người theo chủ nghĩa này gọi là những người Mao-ít (Maoist), tương tự như Marxist, Leninist. Chủ tịch Mao Trạch Đông là người có công trong việc gần như thống nhất được Trung Quốc, đưa Trung Quốc thoát khỏi ách áp bức của ngoại quốc kể từ cuộc Chiến tranh Nha phiến cuối thế kỷ 19, nhưng cũng bị phê phán về trách nhiệm của ông trong nạn đói 1959 – 1961 và những tai họa của Cách mạng văn hóa. Dưới thời ông, nông nghiệp Trung Quốc được tập thể hóa dưới hình thức công xã nhân dân. Chính sách Đại nhảy vọt) trong kinh tế đã để lại những hậu quả tai hại. Mao Trạch Đông cũng là người phát động Đại Cách mạng văn hóa vô sản, thường gọi là Cách mạng văn hóa. Theo một số liệu thống kê, Mao Trạch Đông là nhà lãnh đạo đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho khoảng 1 triệu người. Chủ tịch Mao Trạch Đông thường được gọi một cách tôn kính tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Mao Chủ tịch. Vào thời đỉnh cao của sự sùng bái cá nhân, ông được tôn là người có bốn cái “vĩ đại”: Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại, Người cầm lái vĩ đại. Chủ tịch Mao Trạch Đông nắm chắc chức vụ tối cao của thế hệ thứ nhất và chức vụ này được trao truyền qua các thế hệ lãnh đạo tiếp nối là  Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, đến Tập Cận Bình. Từ đó cho đến ngày 19 tháng 6 năm 2020 là vừa tròn 75 năm. Theo quy định về tuổi tác và nhiệm kỳ thì Tập Cận Bình sẽ phải về hưu sau đại hội năm 2022, nhưng sau đại hội Đảng năm 2017 thì chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã xac lập vị trí vững chắc không thay thế lợi thế hơn hẳn Tổng thống Mỹ Trump trong tư thế cá nhân không bị ràng buộc bởi hiến pháp. Đường lối của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hiện nay, theo đánh giá của Peter Martin và David Cohen, là “theo Mao và mãi mãi theo Mao” (Mao and Forever).

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang quyết tâm cao độ theo đuổi chủ thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” của Chủ tịch Mao Trạch Đông trên cơ sở thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm nhằm đưa ra phương lược mưu chiếm trọn 80% hải phận của vùng Đông Nam Á (theo đường Lưỡi Bò), khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất. Trung Quốc không còn chấp nhận vai trò của Mĩ như một cảnh sát khu vực để duy trì hòa bình và giữ cho các tuyến đường biển thông suốt. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vạch chiến lược “3 mũi nhọn” thâu tóm châu Á và đã tuyên bố tại Thượng Hải năm 2012 “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn: hợp tác Thượng Hải liên Nga và bốn nước châu á cùng chung vận mệnh tại khu vực tâm điểm địa chính trị thế giới; khống chế biển Đông tranh chấp trực diện với Mỹ thông qua đầu tư trọng điểm bằng sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ; xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua dài hạn khí đốt và năng lượng từ Nga tạo món lợi cốt tủy và giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép và sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Trung Quốc tỏ rõ lập trường cam kết ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg  dù mọi giá  Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc đối đầu Mỹ Trung sự khủng hoảng địa chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ hiện ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới

Người dân Việt Nam trong thế lớn tranh chấp này dĩ nhiên lựa chọn cách ứng phó “dĩ hòa vi quý” làm bạn tốt thân thiện với Trung Quốc, hòa Mỹ, ‘liên Nga, bạn Ấn, chí cốt với các nước láng giềng chung bán đảo Đông Dương và ASEEN, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi’, làm bạn tốt với thế giới rộng lớn. Việt Nam với Trung Quốc có sẵn mối quan hệ đồng văn, thấu hiểu lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ cũng có lịch sử truyền kiếp bị đối xử không công bằng, khao khát độc lập, tự do hạnh phúc và thấu hiểu đạo lý ” cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác ( Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân).

Người dân Việt Nam ngày nay chưa thực sự đặt niềm tin chiến lược vào sự hợp tác thân thiện của Trung Quốc bởi các nguyên nhân: 1) Chính sách củ cải kinh tế đi đôi với cây gậy răn đe bất chấp lý lẽ, đạo lý khiến lòng dân bất an, đặc biệt là vấn đề biển Đông và sông Mekong; 2) An sinh môi trường, an toàn thực phẩm và chất lượng công nghệ chưa tốt như yêu cầu khiến người dân lo lắng; 3) Cách làm giao lưu trao đổi nông nghiệp, văn hóa giáo dục, …những lĩnh vực ăn học được người dân hai bên trân trọng và hai nước có thế mạnh cùng quan tâm, giúp nhau xây dựng đội ngũ hiền tài chính phủ kiến tạo chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân, chưa nghiên cứu khai thác xứng tiềm năng, 4) Thực tiễn và sự cam kết tốt hơn của Đảng và Chính phủ hai nước đối với độc lập tự do hạnh phúc chống tham nhũng là những tư tưởng đồng văn hàng đầu, cấp bách, xuyên suốt nếu sự cam kết và thực tiễn này tốt hơn thì quan hệ nhân dân cũng gắn bó hơn.

TRUNG QUỐC ‘VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƯỜNG”

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình xếp hàng đấu Mỹ, Nga, Ấn trong ‘quan hệ ngoại giao với các nước lớn’ chiến lược ‘liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi’, xếp hàng thứ hai các nước láng giếng’ trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc gồm 40 quốc gia, trong đó 15 nước có chung đường biên giới với Trung Quốc bằng “Sáng kiến Vành đai và Con đường” (BRI) do Trung Quốc khởi xướng được đưa vào điều lệ Đảng, trọng điểm là châu Á có Việt Nam.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố sẽ huy động thêm 14,5 tỷ USD đầu tư cho sáng kiến này. Ông khẳng định rằng:”Trung Quốc cần nổ lực để các nước láng giềng ngày càng thân thiện hơn về chính trị, có mối quan hệ gần gũi hơn về kinh tế, hợp tác sâu sắc hơn về an ninh, và mối quan hệ ở cấp độ nhân dân cũng gắn bó hơn“.

Trung Quốc thời Tập Cận Bình nổi bật là “liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi, một vành đai một con đường“.Ông tạo dựng được thế Tam Quốc mới trong lịch sử. Trường Giang sóng sau đè sóng trước. ngọn sóng này cao hơn! Trung Việt vành đai và con đường là thế lớn ngày nay. (xem ảnh 1, 2, 3).

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình năm 2012 đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông vạch ra chiến lược “Trung Quốc với giấc mộng châu Á”. Ông khởi xướng và thực thi chiến lược ‘liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi’ “một vành đai, một con đường”, ráo riết thực hiện một loạt kế sách liên hoàn, xử lý vấn đề biển Hoa Đông, lưỡi bò biển Đông, đưa tầu chiến áp sát cuộc tập trận NATO, trỗi dậy thách thức Mỹ về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế. Trung Quốc trong nhiệm kỳ tiếp theo của Tập Cận Bình đang rời bỏ vị thế “ẩn mình chờ thời” mà đã bước ra vũ đài thế giới khẳng định Trung Quốc như một cường quốc hàng đầu thế giới, theo giới quan sát. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố Trung Quốc bước vào “thời đại mới” và cần đóng vai trò “trung tâm trên thế giới”, nhờ “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” và cho thấy có “lựa chọn mới” cho các nước. Ông phát biểu khai mạc Đại hội Đảng 19 với 14 điểm chính sách và ba trọng tâm. (Mời đọc: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình“)

TRUNG VIỆT VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƯỜNG

Tổng Bí Thư nói: “Không ai dại trao đất cho người nước ngoài để vào gây rối” là một câu nói thật cân nhắc và giàu thông tin. Câu này kín kẽ dường như câu của ông Trump là “Trump sẽ làm cho nước Mỹ hùng mạnh trở lại” trên Twitter và mọi biểu tượng tranh cử Tổng thống Mỹ của ông ấy và sự kín đáo của ông trong quyết sách Mỹ -Triều đến lúc chót là cân nhắc chứ không nói lộ ý. Cám ơn câu hỏi chất vấn của cụ Ngọc Hạp Nguyễn “Nếu có kẻ có quyền dại mà tham tiền thì sao?” đã gợi ý cho tôi đọc lại và suy ngẫm bài nghiên cứu lịch sử này.

†Ba đặc khu liệu có đột phá? theo tôi là KHÔNG. Ba đặc khu đang dự định thành lập chỉ thích hợp cho phát triển du lịch, cơ sở nghỉ dưỡng, dịch vụ vui chơi – giải trí… Và do đó, không cần đưa ra các ưu đãi vượt trội về thuế, về quyền thuê đất lâu dài. Những nơi ấy cần nên là CON NGƯỜI và NỘI LỰC VIỆT NAM phải ở vị trí hiểm yếu. Đó là một câu chuyện khác. Luật đầu tư và hợp tác bền vững thành thực phải là vùng đặc khu hợp tác nghiên cứu phát triển trọng điểm hướng tới chén cợm ngon của người dân, lao động, việc làm, an sinh xã hội và giáo dục đào tạo nguồn lực con người hiền tài để phát huy sự tương đồng văn hóa. Một dân tộc truyền kiếp bị đối xử không bình đẳng thì độc lập, tự do, hạnh phúc là điểm tương đồng sâu sắc nhất.

Lịch sử Việt Nam “Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa” là bài học xương máu gần nhất. Tổng Bí Thư nói: “Không ai dại trao đất cho người nước ngoài để vào gây rối”. Quyết sách cơ bản là KHÔNG, là CON NGƯỜI và NỘI LỰC VIỆT NAM phải ở vị trí hiểm yếu. Mọi việc đều phải “có lý, có lợi, đúng lúc”. Trung Việt vành đai và con đường là thế lớn ngày nay. Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ trong khi Nga và Mỹ đều tính toán “Chúng ta không cần lãnh đạo thế giới mà cần sắp xếp lại ngôi nhà mình”. Việt Nam vững tin vào tương lai của nhân loại và dân tộc nhưng cũng thấy trước một bức tranh tối tương lai thế giới đầy tranh chấp của thế cờ vây lo âu hơn. Các nước lớn đang phân chia tầm ảnh hưởng. Các nước láng giềng châu Á đang buộc phải tỏ rõ thái độ và bị ‘cuốn theo chiều gió’ vào ‘một vành đai, một con đường’.

Việt Nam tự củng cố trầm tĩnh theo dõi, có lý, có lợi, đúng lúc, xử lý tốt những vấn đề thực tiễn hướng tới tương lai.

Hoàng Kim

Những bài viết liên quan
Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình
Ba đặc khu liệu có đột phá ?
Biển Đông vạn dặm
Sông Mekong tin nổi bật
Qua Trường Giang nhớ Mekong
Trận Vũ Hán lịch sử
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Minh triết sống phúc hậu

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter

Sông Mekong tin nổi bật

SÔNG MEKONG TIN NỔI BẬT
Hoàng Kim


Sông Mekong là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông Việt Nam. Sông Mekong dài 4.400 km tính theo độ dài đứng thứ 12 nhưng tính theo lưu lượng nước thì đứng thứ 10 trên thế giới với lưu lượng hàng năm đạt khoảng 475 tỉ m³. Lưu vực sông Mekong rộng khoảng 795.000 km², với lưu lượng dòng chảy trung bình 15.000 m³/s đứng thứ 8 trên thế giới. Sông Mekong là điểm nhấn địa chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội rất quan trọng của châu Á. Đó là nguồn sống, nguồn tài nguyên và nôi văn hoá, văn minh phương Đông của nhiều cộng đồng dân tộc.

Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ập tới vùng ĐBSCL nhanh hơn nhiều so với các dự báo trước đây, gây ra những hiện tượng bất thuận cho đời sống kinh tế, xã hội toàn vùng như sụt lún, xâm nhập mặn, xói lở. Thích ứng biến đổi khí hậu: ĐBSCL cần thêm sức người, sức của; Chính phủ ghi nhận nỗ lực các các cấp, ngành…; Xoay trục chiến lược nông nghiệp ĐBSCL; Đề xuất thành lập Ủy ban điều phối vùng ĐBSCL; ĐBSCL thay đổi toàn diện sau 2 năm ‘thuận theo tự nhiện”; Thủ tướng chủ trì “diễn đàn” về ĐBSCL: Không để ‘nước chảy lá môn”; Clip: Quyết tâm hành động để ĐBSCL cất cánh

Thông tin của Lê Thanh Tùng mới đây ” Khái quát về xâm nhập mặn, hạn mùa khô 2019-2020 vùng ĐBSCL” là một cảnh báo rất quan trọng.

Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn và Ủy ban Nhân dân tỉnh Long An ngày 20 tháng 6 năm 2020 đã tổ chức Hội nghị “Tổng kết công tác phòng chống hạn hán thiếu nước xâm nhập mặn mùa khô 2019-2020 và định hướng phát triển nông nghiệp bền vững vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long” .nhìn lại những được và chưa được trong mùa hạn mặn 2019-2020., có một sự liên hệ rất mật thiết về Sông Mêkong tin nổi bật và giải pháp ứng phó hiệu quả.

Biến đổi khí hậu liên quan chặt chẽ tới yếu tố kép đó là sự quản lý nước sông Mekong, sự phục hồi rừng và giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu toàn diện, tích cực, chủ động, phù hợp, hiệu quả. “Đập trên sông Mekong ” là yếu tố chính có ý nghĩa điều tiết lớn .

Đặc điểm thủy năng nổi bật của Sông Mekong là vai trò điều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap, người Việt thường gọi là “Biển Hồ” là hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á, Phần thượng nguồn sông Mekong người Trung Quốc hiện đã hoàn thành xây dựng một loạt các đập trên sông tại Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Cảnh Hồng, và đang xây đập Tiểu Loan với hơn một chục đập thủy điện điều lượng nước gây nhiều tranh cãi cho an sinh vì thay đổi trữ lượng nước, gia tăng mức độ xói mòn cũng như gây thiệt hại cho nông nghiệp và nguồn cá. Trung Quốc dùng khoa học công nghệ và kinh tế để chế ngự điều tiết lượng nước đầu nguồn và chi phối lượng nước hạ lưu sông Mekong đó là một chiến lược kinh tế chính trị sâu sắc mà gần đây nhiều tài liệu quan tâm tới điều này.

Những tài liệu đáng chú ý về sông Mekong gần đây gồm bài: Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào, Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới? Sông Mekong trong cuộc chiến tài nguyên nước; Từ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong, Mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong 30 năm; Sông Mekong và Biển Đông hai cái gai trong quan hệ Việt Trung; Dòng sông Mekong bị bức tử nguy cơ cận kề. Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ; Hiệp đinh Mekong 1995 đang tan vỡ, Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện.

Sông Mekong bị giảm mực nước do sự điều tiết nước hệ thống đập thủy điện thượng nguồn tại Trung Quốc, kết hợp với biến đổi khí hậu và sự mất rừng đang gây nên áp lực kép của sự xâm nhập mặn và hạn cục bộ diện rộng tại nhiều tỉnh Việt Nam. Tiếp theo bài Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy  thì những thông tin mới về các đập sắp xây dựng ở Lào và Campuchia; cùng với bài viết Hồi sinh sông Danube – bài học lịch sử cho dòng Mekong là cảnh báo cần đọc lại và suy ngẫm .

Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào” tiến sĩ Lê Hồng Hiệp Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế ngày 7 tháng 1 năm 2020 nhận định: “Về lâu dài, Việt Nam cần tự giải quyết các vấn đề của mình để đảm bảo một nguồn cung điện bền vững, giá cả phải chăng và thân thiện hơn với môi trường để phục vụ sự phát triển của đất nước. Ngay cả khi Việt Nam tham gia vào một số dự án xây dựng đập thủy điện ở Lào, chúng ta vẫn cần tiếp tục phản đối việc xây dựng các con đập mới trên sông Mê Kông. Trong trường hợp Lào quyết định tiến hành xây dựng các đập mới, chúng ta cần phải yêu cầu Lào lựa chọn các thiết kế đập và công nghệ thủy điện phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường. Xét cho cùng, đồng bằng sông Cửu Long rất quan trọng đối với an ninh lương thực của không chỉ Việt Nam mà còn của cả khu vực. Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên ISEAS Commentary” . Thông tin này được tiếp nối bởi bài viết Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới? góc nhìn của đại sứ Nguyễn Quang Khai tại http://www.soha.vn ngày 5 tháng 4 năm 2020 và thông tin trước đây Sông Mekong trong cuộc chiến tài nguyên nước của Lê Viết Thọ BBC News Tiếng Việt 24 tháng 10 2019. Ý kiến nói rằng, tương lai ảm đạm của Mekong vì các dự án thủy điện thượng nguồn, trong khi cơ chế tham vấn quốc tế không còn hiệu quả.

Tôi muốn trao đổi thêm đôi điều xung quan vấn đề Vựa lúa Nam Bộ bị ngập mặn và thay đổi tư duy Cố giáo sư viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng cách đây nhiều năm đã cảnh báo rằng: Việc chọn tạo nguồn lương thực thực phẩm thích ứng với điều kiện khô hạn và xâm nhập mặn là cấp thiết vì trái đất nóng lên, nạn mất rừng và các dòng sông lớn của Việt Nam có nước đầu nguồn từ Trung Quốc có thể bị điều tiết lưu lượng nước bởi việc làm thủy điện, sẽ gây khô hạn hoặc ngập úng diện rộng khi chặn dòng hoặc xả lũ. Việc chọn tạo giống cây trồng chịu hạn mặn thích ứng với biến đổi khí hậu và thích hợp vùng khó khăn đã được lưu ý từ lâu rồi, nên giáo sư Võ Tòng Xuân mới tự tin nói vậy. Nhìn xa hơn một chút vào lịch sử cho thấy nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn nằm trong tổng thể của tầm nhìn quốc gia. Việt Nam soi vào Trung Quốc và Brazil của quá khứ và hiện tại, qua 500 năm nông nghiệp BrazilTrận Vũ Hán bài học lịch sử,sẽ ngộ được nhiều bài học lớn cho nông nghiệp. Brazil hiện nay vì sao bảo tồn và phát triển nông nghiệp được, bởi họ có bài học lịch sử đắt giá của bảo tồn phát triển nông nghiệp và các ngành hàng buôn bán thương mại Việt Nam khắc phục khô hạn và ngập úng hiện nay cần giải pháp tổng thể và chuỗi lịch sử mà không thể chỉ nhìn giải pháp tình thế và phân khúc. Trận Vũ Hán bài học lịch sử năm 1938 lụt Hoàng Hà do chủ động phá đê để gây lầy lội chặn chiến dịch thần tốc của quân Nhật trong chiến tranh Trung Nhật (làm chết hơn 50 vạn dân thường), sau này đã được chủ tịch Mao Trạch Đông nghiên cứu vận dụng trong đại kế chiến lược Tam Tuyến, xây đập Tam Hiệp trên sông Trường Giang, xây nhiều đập thủy điện trên sông Mekong, hình thành khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (xem Quảng Tây nay và xưa), Đó là mưu lược liên hoàn đã có tính toán từ trước. Tình hình hiện nay, khối ASEAN đang lớn mạnh, Mỹ đang xoay trục về châu Á, BRIC (Brazil, Rusian, India, China) đang trỗi dậy, Biển Đông, Mekong, đang làm thay đổi chiều hướng chính trị kinh tế khu vực. Việt Nam và các nước cuối lưu vực sông Mekong yêu cầu mở dự trữ nước đầu nguồn, điều tiết lưu lượng nước để chống hạn và xâm nhập mặn. Các điểm nóng đang dần lộ diện nhiều vấn đề quan hệ quốc tế nhạy cảm và phức tạp về kinh tế chính trị khu vực. Sự biến đổi khí hậu, khô cạn hoặc ngập úng tại lưu vực những dòng sông lớn do điều tiết nước, diện tích đất rừng bị thu hẹp đang gây hiệu ứng kép lên nhiều vùng rộng lớn Việt Nam. Chọn tạo giống cây trồng chịu hạn mặn và giải pháp kỹ thuật canh tác thích ứng biến đổi khí hậu là cấp thiết và hiện đã có một số kết quả gợi những góc nhìn tham chiếu về bảo tồn và phát triển nông nghiệp bền vững.

Nguồn: Sông Mekong tin nổi bật https://hoangkimlong.wordpress.com/category/song-mekong-tin-noi-bat/ bảo tồn và phát triển cập nhật; thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong htps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-11-thang-4/

xem thêm
Trung Quốc tuyên bố xả nước đập thủy điện cứu sông Mekong
Tuội Trẻ Online 20/02/2020 22:40 GMT+7
TTO – Trung Quốc ngày 20-2 tuyên bố sẽ xả nước các đập thủy điện của mình trên sông Mekong để giúp đỡ các quốc gia láng giềng đối phó với khô hạn.

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (ảnh REUTERS, nguồn TTO)

Phát biểu tại một cuộc họp trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao Mekong – Lan Thương lần thứ 5, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị cho biết mưa ít là lý do chính gây khô hạn và Trung Quốc cũng đang chịu thiệt hại từ điều này.

“Trung Quốc đã vượt qua khó khăn của mình và tăng dòng chảy của sông Lan Thương (đoạn sông Mekong tại Trung Quốc) để giúp các nước thuộc lưu vực sông Mekong đối phó với khô hạn.

Chúng tôi cũng đồng ý nâng cao hợp tác trong khuôn khổ LMC nhằm đảm bảo việc sử dụng nguồn nước hợp lý và bền vững”, ông Vương nói.

Theo Reuters, Trung Quốc cũng cho biết sẽ cân nhắc việc chia sẻ thông tin thủy văn để hỗ trợ thêm trong tương lai.

Trước đó cùng ngày, một báo cáo mới do Fitch Solutions Macro Research thực hiện đã dự đoán việc xây đập thủy điện trên sông Mekong sẽ làm thay đổi các hoạt động kinh tế của 5 quốc gia thuộc lưu vực sông.

Báo cáo này dẫn nguồn từ nhiều bài nghiên cứu của Ủy ban sông Mekong (MRC) cho rằng việc xây đập sẽ gây thiệt hại nặng nề cho hoạt động khai thác thủy sản và trồng trọt, buộc các quốc gia phải nhập khẩu lương thực.

Từ đó, các chuyên gia lo lắng tình trạng lạm phát kéo dài sẽ xảy ra và các quốc gia chịu thiệt hại sẽ trở nên phụ thuộc vào Trung Quốc.

Theo Retuers, tình hình khô hạn trong nhiều năm trở lại đây đang tàn phá ngành nông nghiệp của Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar và Việt Nam.

Giới quan sát cho rằng 11 con đập của Trung Quốc tại thượng nguồn sông Mekong cũng như biến đổi khí hậu là nguyên nhân chính.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là NLU.jpg

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đâycập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Lời hẹn tình quê

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Câu chuyện ảnh tháng Sáu

Câu chuyện ảnh tháng Sáu
Hoàng Kim
Lưu lại một số hình ảnh cho câu chuyện ảnh tháng sáu

MỘT NIỀM VUI NGÀY MỚI
Hoàng Kim

Ngày mới vui chào thầy bạn quý. Người hiền việc tốt chốn yêu thương An viên nghề nông và dạy học Chung sức bao năm một chặng đường .


Xuôi phương Nam, tôi tìm thăm Hai Lúa. Thắm tình thân, thầy bạn buổi tất niên. Địa chỉ xanh, dẫu xa mà gần gũi . Mừng xuân này công việc gắn bền thêm.

Viên ngọc ước, trong ngần như hạt gạo. Chén cơm ngon, thơm bếp lửa gia đình. Hạnh phúc lớn, trong niềm vui bình dị. Cùng ruộng đồng, bạn quý với chân quê

Ngắm ảnh lúa nhớ người hiền hoa lúa. Những bạn thầy dung dị chốn chân quê. Ta về giữa trời xanh và đồng rộng. Lắng yêu thương ký ức lại quay về.

Cây Lương thực Việt Nam là hoa đất, Ngọc cho đời đằm thắm giấc mơ con. Chào ngày mới một niềm vui thầm lặng. Một niềm tin thắp lửa giữa tâm hồn

NHỚ KỶ NIỆM MỘT THỜI
Hoàng Kim

GSTS V. R. CarangalIRRI (người áo đỏ, bìa trái) đang trao đổi trên đồng ruộng với GSTS Mai Văn Quyền IAS (thứ hai phải qua), TS. Đặng Kim Sơn (CLRRI & IPSARD), TS. Phạm Sĩ Tân (CLRRI) và TS Hoàng Kim về sự hợp tác IRRI và Việt Nam trong chương trình liên kết nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác. Ảnh này chụp khi tôi kể câu chuyện Ấn tượng Borlaug và Hemingway với sự đồng cảm thật sâu sắc. Norman Borlaug nhà khoa học xanh, lời Thầy dặn thật thấm thía “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. Nhớ kỷ niệm một thời không thể nào quên. xem tiếp Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-24-thang-4/

(*) Đặng Kim Sơn hỏi : Cậu ấn tượng nhất chuyên gì trong chuyến đi học mới đây ở CIMMYT? Tôi cười nói :”Ấn tượng Borlaug và Hemingway” “Năm tháng ở CIMMYT” . Chuyện “Norman Borlaug nhà khoa học xanh” thầy tới thăm tôi ở nhà riêng là không thể quên. Tôi đọc bốn câu thơ cho thầy Quyen Mai Van, các bạn Đặng Kim Sơn, Pham Sy Tan cùng nghe và, bất ngờ, giáo sư V R Carangal rút bút ghi và nói lời đồng cảm.

NHỚ KỶ NIỆM MỘT THỜI
Hoàng Kim

Dạy học Lúa sắn Cămpuchia và Lào, tôi nhớ hai chuyện thơ của Hồ Chí Minh thật ám ảnh. Nửa đêm Ngủ thì ai cũng như lương thiện, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền; Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên. (thơ Dạ bán Hồ Chí Minh, Nam Trân dịch)Xa nhà chốc mấy mươi niên. Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con” (Hồ Chí Minh ở Xiêm); xem tiếp Nhớ kỷ niệm một thời https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ky-niem-mot-thoi/

CÂU CHUYỆN ẢNH THÁNG SÁU
Hoàng Kim


Bạn quý khi nào cũng quý
Ban mai tỉnh thức tâm hồn
Thảnh thơi vui chào ngày mới
Thanh nhàn sống giữa yêu thương
https://cnm365.wordpress.com

CHUYỆN CỤ TRƯƠNG CÔNG TÍN
Hoàng Kim

Giáo sư Trương Công Tín năm nay trên 90 xuân. Cụ là già làng lớn tuổi thứ hai của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, trên Đường tới IAS 100 năm (1925-2025). https://hoangkimlong.wordpress.com/category/duong-toi-ias-100-nam/. Giáo sư vẫn khỏe mạnh, tinh tường, giọng khỏe và chưa lẩn. Những mẫu chuyện đời thường của Cụ lấp lánh những hạt bụi vàng trí tuệ.

Tổng kết đời người Cụ nói: “Tôi may mắn cậu ạ, chẳng cần kéo dài làm cái cố vấn làm gì, nhưng lương hưu thì lại cao, vì chức Viện phó nghỉ hưu lương chỉ tương đương Vụ phó thôi nhưng tôi lại được xếp ở ngạch lương chuyên viên cao cấp của Chính phủ . Tuổi già nay vui khỏe thanh nhàn”.(Hoàng Kim chợi liên tưởng bài viết Nhớ cụ Nguyễn Ngọc Trìu https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cu-nguyen-ngoc-triu/ . Cụ Nguyễn Ngọc Trìu cũng có thuở làm đặc phái viên Chính phủ trước khi Cụ làm Chủ tịch Hội Làm vườn).

Cụ cười nhìn về xa xăm: “Tôi ở Pháp về, ở cùng với anh Lương Định Của và Bùi Huy Đáp, nằm kẹp giữa hai cây đại thụ. Anh Lương Định Của rủ tôi theo anh ấy làm lúa nhưng tôi may được Nam tiến đi B. May đấy cậu ạ, có tiêu chuẩn cẩn thận đấy, không phải ai cũng được đi được đâu. Như tôi Việt kiều về, có trên 20 năm là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp Sau này, tôi lại còn được trợ cấp nạn nhân chất độc màu da cam nữa. Thêm được một triệu hai một tháng nữa. Cũng vui!”.

“Khoa học Đất của nước mình, cậu nhận xét đúng đấy, trước hết cần có tầm nhìn về Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ; Đặc điểm, tính chất đất cơ bản, sử dụng đất thích hợp cho từng vùng sinh thái Việt Nam..Thời của các ông Tôn Thất Trình, Thái Công Tụng, Phan Hoàng Đồng như cậu nhận xét đều có các nhìn tổng quát Nông Lâm Sinh Thủy là một khối. Thời cách mạng và đổi mới Khoa học Đất và Quản lý Đất đai thêm vào chữ Quản lý Đất đai đã thay đổi nhiều rồi. Các ông Lê Duy Thước, Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bông … đều trọng tâm về Quản lý Đất đai cả. Khoa học Đất Phân bón, Quy hoạch Quản lý Đất đai có rất nhiều người làm và chia thành nhiều lĩnh vực hẹp. Nhiều người làm quản ký kiêm nhiệm. Tôi cũng vậy, sự thành công nhiều hơn là ở bắp và lúa cạn. Cái thời nó thế”. Cụ nói.

“Tôi thấy cậu viết được đấy, thông được cả trong nước và quốc tế, nhưng dường như cậu chỉ viết điều tốt đẹp và bài học nghị lực để lập nghiệp thành công, mà né tránh chuyện thị phi tranh luận gai góc. Á mà sao ông chánh án tòa án NDTC lại phải giải trình vụ hai con bé ở Long An bị giết nhỉ? là cậu đã có hỏi ông bạn của ông Luat Nguyen để biết và để đánh giá cho đúng ai là ai thôi à. Cũng phải ! nhiều chuyện tế nhị mình đâu có biết”

Tôi thưa giáo sư là sẽ gửi những ảnh này cho Cụ (ảnh của Huỳnh Hồng chụp) và bài viết mới “Dạy và học cẩn trọnghttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/day-va-hoc-can-trong/. Cụ cười vui vẻ.

Kính chúc giáo sư và mọi người vui khỏe.

Hoàng Kim

Machu Picchu di sản thế giới
Hoàng Kim

Bạn hỏi tôi ấn tượng nhất điều gì ở Nam Mỹ?.Tôi trả lời không chút ngập ngừng, đó là Machu Picchu, di sản thế giới UNESCO tại Peru, một trong 7 kỳ quan thế giới mới. Đó là di sản thần Mặt trời nền văn minh người da đỏ Inca Đấy thực sự là một kỳ quan thiên nhiên vĩ đại kho báu kỳ bí tâm linh khoa học chưa thể giải thích. Đền thờ thần Mặt trời tựa lưng vào cột chống trời “Cổ Sơn”, tại “Thành phố đã mất của người Inca” là một khu tàn tích Đế chế Inca thời tiền Columbo trong tình trạng bảo tồn tốt ở độ cao 2.430 m trên một quả núi có chóp nhọn tại thung lũng Urubamba ở Peru, khoảng 70 km phía tây bắc Cusco. Tất cả các chuyến đi tới Machu Picchu đều xuất phát từ Cusco. Ở thủ đô Lima có một đường bay nội địa dẫn tới Cusco. Trung tâm khoai tây khoai lang quốc tế CIP ( International Potato Center Headquarters Avenida La Molina 1895, La Molina Apartado 1558, Lima 12, Peru https://cipotato.org/) ở gần trung tâm Lima và sân bay nên rỗi hai ngày là bạn có thể đi thăm Machu Picchu được.

Photography by Kent and CNM365 by Kim
Khoảnh khắc và sự lắng đọng bền vững
Thời gian sáng sớm trôi đi. Thưởng thức!
Hạnh phúc là được làm điều tốt yêu thích
Hành trình xanh là sự vui sống mỗi ngày.

Machu Picchu Time Lapse Video by Kent Weakley
Vị thần mặt trời Inca bị quên lãng
Machu Picchu, di sản thế giới UNESCO ở Peru
nơi đây là một trong 7 kỳ quan thế giới mới
Châu Mỹ chuyện không quên.

Photography by Kent and CNM365 by Kim
Moment and sustainable deposition
The early morning time passed. Enjoy!
Happiness is to do good and favorite things
Green journey is the joy of living every day.

Machu Picchu Time Lapse Video by Kent Weakley
The Inca sun god was forgotten
Machu Picchu, UNESCO world heritage site in Peru
This place is one of 7 new wonders of the world
The Americas do not forget

Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/categorychao-ngay-moi-13-thang-6/ Photography by Kent Weakley https://www.facebook.com/PhotographybyKent/videos/10201546401649009/http://bit.ly/toursincusco Đừng bỏ lỡ cơ hội để biết các thành phố văn hóa của Peru yêu dấu của chúng tôi Chúng tôi có những chuyến đi hàng ngày http://bit.ly/toursincusco

*

Ba Trung tâm Nông nghiệp Quốc tế bảo tồn và phát triển nguồn gen khoai tây, khoai lang (CIP) và sắn (CIAT) và ngô, lúa mì (CIMMYT) toàn cầu ở Châu Mỹ. CIP ở Peru, CIAT ở Colombia CIMMYT ở Mexico. Ở Colombia, tôi ấn tượng nhất đó là 1) CIAT tại Cali, 2) sông Magdalena và đền thần Mặt trời, với dãy núi Andes và nhiều đồn điền cà phê; 3) thủ đô Bogota tại Zona Rosa nổi tiếng với các nhà hàng và cửa hiệu, có Cartagena một khu phố cổ trên bờ biển Caribê gợi nhớ biển Nha Trang của Việt Nam; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chau-my-chuyen-khong-quen/

Lên đỉnh Thiên Môn Sơn

LÊN ĐỈNH THIÊN MÔN SƠN
Hoàng Kim

Em cũng đi, anh cũng đi
Đường trần thăm thẳm bước say mê
Núi Thái anh lên ban mai hửng
Cổng Trời em đến nắng lên hương.

Thăm thăm trời, thăm thẳm mây
Ai xui ai chọn hiểm sơn này?
Tự do hai tiếng ngời tâm đức
Thung dung đời, thanh thản vui.

Sông núi thuận, đất phương Nam
Thời thế muôn năm biếng luận bàn
Tình Yêu Cuộc Sống đi cùng Bụt
Cửa nhà mình lối nhỏ bình an.

Em chợp mắt dưới trời Tam Đảo

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày
Video yêu thích

KimYouTube
Sao và Biển

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và học Cây Lương thực Dạy và Học Tình yêu cuộc sống Kim on LinkedIn Kim on Facebook  Kim on Twitter

Qua Waterloo nhớ Scott

QUA WATERLOO NHỚ SCOTT
Hoàng Kim

Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’
‘The Field of Waterloo 1815’
Sử thi của Walter Scott (*)
Chạm thấu mọi tâm hồn.

“Cánh đồng Waterloo đầy máu
Nói dối chỉ chục ngàn người chết
Nhưng không phải thế đâu
bởi số người bị đâm hay bị bắn
Đã giảm hơn quá nửa
Mẹ góa con côi còn lớn hơn nhiều”

Qua Waterloo nhớ Scott
Kiếm bút của hiền tài
Bền mạnh sắc hơn gươm
Lưu non sông muôn thuở.

Cánh đồng Waterloo hôm nay
Trời xanh đất màu xanh
Khuất phía xa xôi kia
Thiện Ác ẩn hiện hình

Dấu chấm hết ở đây
Vương triều Một trăm ngày
Napoléon danh tướng lẫy lừng
Waterloo trận đánh cuối cùng.

††††††José António Amorim Dias and Hoàng Kim
Đại sứ UNESCO và tôi
từ Brussels (Bỉ) đến Paris (Pháp)
Qua Waterloo nhớ Walter Scott †

Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’
‘The Field of Waterloo 1815’
Sử thi của Walter Scott
Chạm thấu mọi tâm hồn.

Kiếm bút của hiền tài
Bền mạnh sắc hơn gươm

(*) Walter Scott
là nhà thơ lỗi lạc nhất Scotland, đại diện cho nền văn học cổ điển Anh. Ông sinh ngày 14 tháng 8 năm 1771 tại Edinburgh, mất ngày 21 tháng 9 năm 1832 tại  Abbotsford House, Di sản của Walter Scott  lưu dấu sâu đậm nhất ở Scotland tại Thư viện Trường Đại học Edinburgh (Edinburgh University Library), Abbotsford House,  Edinburgh. Walter Scott rất nổi tiếng ở châu Âu, Bắc Mỹ, châu Á và Úc nhưng ở Việt Nam chưa thấy chuyên khảo hoặc dịch thuật thơ ông. Tác phẩm The Field of Waterloo 1815 dưới đây là một trong những kiệt tác Sir Walter Scott Poems. Bài thơ này được viết và xuất bản vào năm 1815, ngay sau khi quân liên minh chiến thắng quân đội Napoléon Bonaparte tại trận Waterloo vào ngày 18 tháng 6 năm 1815, Scott đã đến Bỉ vào tháng Tám, và ông là một trong các thường dân nước Anh đầu tiên đến thăm chiến trường. 

Trận Waterloo diễn ra vào ngày chủ nhật 18 tháng 6 năm 1815 tại một địa điểm gần Waterloo, thuộc Bỉ ngày nay. Trận Waterloo đặc biệt nổi tiếng trên thế giới và toàn châu Âu, là một trong những trận đánh nổi tiểng nhất , cũng là dấu chấm hết cho cuộc chiến tranh Napoléon. Quân đội Đế chế Pháp dưới sự chỉ huy trực tiếp của Napoléon Bonaparte đã bị đánh bại bởi liên quân của Liên minh thứ bảy, bao gồm quân Anh và đồng minh do Arthur Wellesley, Công tước thứ nhất của Wellington chỉ huy và quân Phổ do Thống chế Gebhard von Blücher chỉ huy. Trận Waterloo là trận đánh cuối cùng của Napoléon. Thất bại ở trận đánh này đã đặt dấu chấm hết cho ngôi vị Hoàng đế Pháp của Napoléon và Vương triều Một trăm ngày của ông. Trận Waterloo thay đổi cục diện toàn châu Âu thời Napoléon Bonaparte tương tự như Trận Xích Bích  làm thay đổi hẵn cục diện Trung Quốc thời Tam Quốc (Trận Xích Bích diễn ra vào mùa Đông  năm 208 giữa liên  quân Tôn Quyền–Lưu Bị với quân đội của Tào Tháo lấy danh nghĩa triều đình. Trận Xích Bích kết thúc với chiến thắng quyết định của phe Tôn-Lưu, tạo cơ sở hình thành thế chân vạc Tam Quốc của ba nước Tào Ngụy – Thục Hán – Đông Ngô.

The Field of Waterloo 1815 Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’  của Walter Scott nổi tiếng khắp thế giới trong mọi thời đại, tương tự như bài Tiền Xích Bích phú và Hậu Xích Bích phú của đại thi hào Tô Đông Pha. Nó thể hiện tính nhân văn của kiếm bút tài tình có sức mạnh hơn cả lưỡi gươm chinh phạt của những danh tướng lừng danh nhất thế giới. Theo cách nói của Ban zắc, đại văn hào Pháp, tính nhân văn của kiếm bút chạm thấu những phần mà kiếm sắc của Napoleon không bao giờ và không thể với tới được. Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’(The Field of Waterloo) của Walter Scott hướng tới những người nghèo, những số phận kém may mắn trong chiến tranh. Lợi nhuận từ bài thơ của Walter Scott về cuộc chiến được đi vào quỹ cho góa phụ và trẻ mồ côi của người lính. Những câu thơ đặc biệt xúc động, đơn giản nhưng rất khó dịch: “On Waterloo’s ensanguined plain / Lie tens of thousands of the slain; / But none, by sabre or by shot, / Fell half so flat as Walter Scott.” (Trên cánh đồng của Waterloo vấy đầy máu / Nói dối là (chỉ) chục ngàn người bị giết;. /
Nhưng không (phải thế đâu), bởi (số người) bị đâm hay bị bắn, / Đã giảm bằng nửa mức như vậy theo Walter Scott” (Vì những người góa bụa và trẻ mồ côi còn lớn hơn nhiều!) Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’ (The Field of Waterloo) truyền tải tình yêu cuộc sống và góc nhìn thánh thiện cho biết bao thế hệ người châu Âu, đã lan tỏa nhanh và rộng khắp toàn cầu bởi giá trị nhân văn, lời thơ giản dị xúc động ám ảnh đi thẳng vào lòng người.  Giá trị của bài thơ này tương tự như bài Tiền Xích Bích phú và Hậu Xích Bích phú của đại thi hào Tô Đông Pha, cũng tương tự như bài thơ ‘Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi đã làm lay động biết bao nhiêu khối óc, con tim của người Trung Quốc, Việt Nam và người dân các nước châu Á ở nhiều thế hệ. Đó là những dòng sông thi ca rộng lớn chảy không ngưng nghỉ giữa mạch chính của kiến thức văn hóa nhân loại.

José António Amorim Dias & Hoang Kim .Tôi may mắn được đồng hành cùng ông José António Amorim Dias, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Cộng hòa Dân chủ Timor-Leste tại UNESCO và Liên minh châu Âu đi qua cánh đồng Waterloo trên chuyến tàu tốc hành từ Brussels (Bỉ) đến Paris (Pháp). Chúng tôi chung khoang tàu và đã trò chuyện và chia sẻ rất nhiều điều về  “The Field of Waterloo” của Nam tước Walter Scott  cùng với những triết lý nhân sinh và văn hóa giáo dục. Tôi đã kể chuyện này trong bài “Đêm trắng và bình minh“.Tôi chép nguyên văn bài thơ tiếng Anh “The Field of Waterloo” dưới đây để ước mong các bậc thức giả yêu thích thi ca và thạo tiếng Anh giúp chuyển ngữ bài thơ nổi tiếng này thành tiếng Việt, ngõ hầu góp phần vào việc giao lưu thi ca và văn hóa, góp phần trong công cuộc dạy và học, chấn hưng giáo dục và nâng cao dân trí Việt bằng sự đóng góp  tận tụy, chuyển tải thông tin về danh nhân văn hóa Walter Scott đến bạn đọc Việt. Trân trọng cám ơn sự quan tâm của quý bạn.

Hoàng Kim

Nguyên tác bài thơ: Cánh đồng Waterloo

The field of Waterloo
Poem by Sir Walter Scott

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/qua-waterloo-nho-walter-scott/

“Cánh đồng Waterloo đầy máu
Nói dối chỉ chục ngàn người chết
Nhưng không phải thế đâu
bởi số người bị đâm hay bị bắn
Đã giảm hơn quá nửa
Mẹ góa con côi còn lớn hơn nhiều”


Qua Waterloo nhớ Scott Ngày 18 tháng 6 năm 1815, Trận Waterloo, Napoléon Bonaparte thất bại tại Bỉ trong Chiến tranh Liên minh thứ bảy; ông buộc phải thoái vị lần thứ nhì ít ngày sau đó. Trận Waterloo là cuộc chiến quyết định trong chiến dịch Waterloo ba ngày (từ 16-19 tháng 6 năm 1815) giữa quân Pháp do Napoleon Bonaparte trực tiếp chỉ huy đối trận với liên quân đồng minh hùng mạnh Anh, Nga, Áo, Phổ, Thụy Điển, Hà Lan Kết cục Pháp thua.

Cánh đồng Waterloo hôm nay
Trời xanh đất màu xanh
Khuất phía xa xôi kia
Thiện Ác ẩn hiện hình

Dấu chấm hết ở đây
Vương triều Một trăm ngày
Napoléon danh tướng lẫy lừng
Waterloo trận đánh cuối cùng.

Ông José António Amorim Dias (phải) và Hoàng Kim đi qua cánh đồng Waterloo trên chuyến tàu tốc hành từ Brussels đến Paris

††††††José António Amorim Dias Hoàng Kim
Đại sứ UNESCO và tôi
từ Brussels (Bỉ) đến Paris (Pháp)
Qua Waterloo nhớ Walter Scott †

Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’
‘The Field of Waterloo 1815’
Sử thi của Walter Scott
Chạm thấu mọi tâm hồn.

Kiếm bút của hiền tài
Bền mạnh sắc hơn gươm

Jose António Amorim Dias & Hoang Kim .
Tôi may mắn được đồng hành cùng ông José António Amorim Dias, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Cộng hòa Dân chủ Timor-Leste tại UNESCO và Liên minh châu Âu đi qua cánh đồng Waterloo trên chuyến tàu tốc hành từ Brussels (Bỉ) đến Paris (Pháp). Chúng tôi chung khoang tàu và đã trò chuyện và chia sẻ rất nhiều điều về  “The Field of Waterloo” của Nam tước Walter Scott  cùng với những triết lý nhân sinh và văn hóa giáo dục. Tôi đã kể chuyện này trong bài “Đêm trắng và bình minh“.Tôi chép nguyên văn bài thơ tiếng Anh “The Field of Waterloo” dưới đây để ước mong các bậc thức giả yêu thích thi ca và thạo tiếng Anh giúp chuyển ngữ bài thơ nổi tiếng này thành tiếng Việt, ngõ hầu góp phần vào việc giao lưu thi ca và văn hóa, góp phần trong công cuộc dạy và học, chấn hưng giáo dục và nâng cao dân trí Việt bằng sự đóng góp  tận tụy, chuyển tải thông tin về danh nhân văn hóa Walter Scott đến bạn đọc Việt. Trân trọng cám ơn sự quan tâm của quý bạn.

Hoàng Kim

Nguyên tác bài thơ: Cánh đồng Waterloo

THE FIELD OF WATERLOO
Poem by Sir Walter Scott

I.

Fair Brussels, thou art far behind,
Though, lingering on the morning wind,
We yet may hear the hour
Pealed over orchard and canal,
With voice prolonged and measured fall,
From proud St. Michael’s tower;
Thy wood, dark Soignies, holds us now,
Where the tall beeches’ glossy bough
For many a league around,
With birch and darksome oak between,
Spreads deep and far a pathless screen,
Of tangled forest ground.
Stems planted close by stems defy
The adventurous foot-the curious eye
For access seeks in vain;
And the brown tapestry of leaves,
Strewed on the blighted ground, receives
Nor sun, nor air, nor rain.
No opening glade dawns on our way,
No streamlet, glancing to the ray,
Our woodland path has crossed;
And the straight causeway which we tread
Prolongs a line of dull arcade,
Unvarying through the unvaried shade
Until in distance lost.

II.
A brighter, livelier scene succeeds;
In groups the scattering wood recedes,
Hedge-rows, and huts, and sunny meads,
And corn-fields glance between;
The peasant, at his labour blithe,
Plies the hooked staff and shortened scythe:-
But when these ears were green,
Placed close within destruction’s scope,
Full little was that rustic’s hope
Their ripening to have seen!
And, lo, a hamlet and its fane:-
Let not the gazer with disdain
Their architecture view;
For yonder rude ungraceful shrine,
And disproportioned spire, are thine,
Immortal WATERLOO!

III.
Fear not the heat, though full and high
The sun has scorched the autumn sky,
And scarce a forest straggler now
To shade us spreads a greenwood bough;
These fields have seen a hotter day
Than e’er was fired by sunny ray,
Yet one mile on-yon shattered hedge
Crests the soft hill whose long smooth ridge
Looks on the field below,
And sinks so gently on the dale
That not the folds of Beauty’s veil
In easier curves can flow.
Brief space from thence, the ground again
Ascending slowly from the plain
Forms an opposing screen,
Which, with its crest of upland ground,
Shuts the horizon all around.
The softened vale between
Slopes smooth and fair for courser’s tread;
Not the most timid maid need dread
To give her snow-white palfrey head
On that wide stubble-ground;
Nor wood, nor tree, nor bush are there,
Her course to intercept or scare,
Nor fosse nor fence are found,
Save where, from out her shattered bowers,
Rise Hougomont’s dismantled towers.

IV.
Now, see’st thou aught in this lone scene
Can tell of that which late hath been? –
A stranger might reply,
‘The bare extent of stubble-plain
Seems lately lightened of its grain;
And yonder sable tracks remain
Marks of the peasant’s ponderous wain,
When harvest-home was nigh.
On these broad spots of trampled ground,
Perchance the rustics danced such round
As Teniers loved to draw;
And where the earth seems scorched by flame,
To dress the homely feast they came,
And toiled the kerchiefed village dame
Around her fire of straw.’

V.
So deem’st thou-so each mortal deems,
Of that which is from that which seems:-
But other harvest here
Than that which peasant’s scythe demands,
Was gathered in by sterner hands,
With bayonet, blade, and spear.
No vulgar crop was theirs to reap,
No stinted harvest thin and cheap!
Heroes before each fatal sweep
Fell thick as ripened grain;
And ere the darkening of the day,
Piled high as autumn shocks, there lay
The ghastly harvest of the fray,
The corpses of the slain.

VI.
Ay, look again-that line, so black
And trampled, marks the bivouac,
Yon deep-graved ruts the artillery’s track,
So often lost and won;
And close beside, the hardened mud
Still shows where, fetlock-deep in blood,
The fierce dragoon, through battle’s flood,
Dashed the hot war-horse on.
These spots of excavation tell
The ravage of the bursting shell –
And feel’st thou not the tainted steam,
That reeks against the sultry beam,
From yonder trenched mound?
The pestilential fumes declare
That Carnage has replenished there
Her garner-house profound.

VII.
Far other harvest-home and feast,
Than claims the boor from scythe released,
On these scorched fields were known!
Death hovered o’er the maddening rout,
And, in the thrilling battle-shout,
Sent for the bloody banquet out
A summons of his own.
Through rolling smoke the Demon’s eye
Could well each destined guest espy,
Well could his ear in ecstasy
Distinguish every tone
That filled the chorus of the fray –
From cannon-roar and trumpet-bray,
From charging squadrons’ wild hurra,
From the wild clang that marked their way, –
Down to the dying groan,
And the last sob of life’s decay,
When breath was all but flown.

VIII.
Feast on, stern foe of mortal life,
Feast on!-but think not that a strife,
With such promiscuous carnage rife,
Protracted space may last;
The deadly tug of war at length
Must limits find in human strength,
And cease when these are past.
Vain hope!-that morn’s o’erclouded sun
Heard the wild shout of fight begun
Ere he attained his height,
And through the war-smoke, volumed high,
Still peals that unremitted cry,
Though now he stoops to night.
For ten long hours of doubt and dread,
Fresh succours from the extended head
Of either hill the contest fed;
Still down the slope they drew,
The charge of columns paused not,
Nor ceased the storm of shell and shot;
For all that war could do
Of skill and force was proved that day,
And turned not yet the doubtful fray
On bloody Waterloo.

IX.
Pale Brussels! then what thoughts were thine,
When ceaseless from the distant line
Continued thunders came!
Each burgher held his breath, to hear
These forerunners of havoc near,
Of rapine and of flame.
What ghastly sights were thine to meet,
When rolling through thy stately street,
The wounded showed their mangled plight
In token of the unfinished fight,
And from each anguish-laden wain
The blood-drops laid thy dust like rain!
How often in the distant drum
Heard’st thou the fell Invader come,
While Ruin, shouting to his band,
Shook high her torch and gory brand! –
Cheer thee, fair City! From yon stand,
Impatient, still his outstretched hand
Points to his prey in vain,
While maddening in his eager mood,
And all unwont to be withstood,
He fires the fight again.

X.
‘On! On!’ was still his stern exclaim;
‘Confront the battery’s jaws of flame!
Rush on the levelled gun!
My steel-clad cuirassiers, advance!
Each Hulan forward with his lance,
My Guard-my Chosen-charge for France,
France and Napoleon!’
Loud answered their acclaiming shout,
Greeting the mandate which sent out
Their bravest and their best to dare
The fate their leader shunned to share.
But HE, his country’s sword and shield,
Still in the battle-front revealed,
Where danger fiercest swept the field,
Came like a beam of light,
In action prompt, in sentence brief –
‘Soldiers, stand firm!’ exclaimed the Chief,
‘England shall tell the fight!’

XI.
On came the whirlwind-like the last
But fiercest sweep of tempest-blast –
On came the whirlwind-steel-gleams broke
Like lightning through the rolling smoke;
The war was waked anew,
Three hundred cannon-mouths roared loud,
And from their throats, with flash and cloud,
Their showers of iron threw.
Beneath their fire, in full career,
Rushed on the ponderous cuirassier,
The lancer couched his ruthless spear,
And hurrying as to havoc near,
The cohorts’ eagles flew.
In one dark torrent, broad and strong,
The advancing onset rolled along,
Forth harbingered by fierce acclaim,
That, from the shroud of smoke and flame,
Pealed wildly the imperial name.

XII.
But on the British heart were lost
The terrors of the charging host;
For not an eye the storm that viewed
Changed its proud glance of fortitude,
Nor was one forward footstep stayed,
As dropped the dying and the dead.
Fast as their ranks the thunders tear,
Fast they renewed each serried square;
And on the wounded and the slain
Closed their diminished files again,
Till from their line scarce spears’-lengths three,
Emerging from the smoke they see
Helmet, and plume, and panoply, –
Then waked their fire at once!
Each musketeer’s revolving knell,
As fast, as regularly fell,
As when they practise to display
Their discipline on festal day.
Then down went helm and lance,
Down were the eagle banners sent,
Down reeling steeds and riders went,
Corslets were pierced, and pennons rent;
And, to augment the fray,
Wheeled full against their staggering flanks,
The English horsemen’s foaming ranks
Forced their resistless way.
Then to the musket-knell succeeds
The clash of swords-the neigh of steeds –
As plies the smith his clanging trade,
Against the cuirass rang the blade;
And while amid their close array
The well-served cannon rent their way,
And while amid their scattered band
Raged the fierce rider’s bloody brand,
Recoiled in common rout and fear,
Lancer and guard and cuirassier,
Horsemen and foot,-a mingled host
Their leaders fall’n, their standards lost.

XIII.
Then, WELLINGTON! thy piercing eye
This crisis caught of destiny –
The British host had stood
That morn ‘gainst charge of sword and lance
As their own ocean-rocks hold stance,
But when thy voice had said, ‘Advance!’
They were their ocean’s flood. –
O Thou, whose inauspicious aim
Hath wrought thy host this hour of shame,
Think’st thou thy broken bands will bide
The terrors of yon rushing tide?
Or will thy chosen brook to feel
The British shock of levelled steel,
Or dost thou turn thine eye
Where coming squadrons gleam afar,
And fresher thunders wake the war,
And other standards fly? –
Think not that in yon columns, file
Thy conquering troops from distant Dyle –
Is Blucher yet unknown?
Or dwells not in thy memory still
(Heard frequent in thine hour of ill),
What notes of hate and vengeance thrill
In Prussia’s trumpet-tone? –
What yet remains?-shall it be thine
To head the relics of thy line
In one dread effort more? –
The Roman lore thy leisure loved,
And than canst tell what fortune proved
That Chieftain, who, of yore,
Ambition’s dizzy paths essayed
And with the gladiators’ aid
For empire enterprised –
He stood the cast his rashness played,
Left not the victims he had made,
Dug his red grave with his own blade,
And on the field he lost was laid,
Abhorred-but not despised.

XIV.
But if revolves thy fainter thought
On safety-howsoever bought, –
Then turn thy fearful rein and ride,
Though twice ten thousand men have died
On this eventful day
To gild the military fame
Which thou, for life, in traffic tame
Wilt barter thus away.
Shall future ages tell this tale
Of inconsistence faint and frail?
And art thou He of Lodi’s bridge,
Marengo’s field, and Wagram’s ridge!
Or is thy soul like mountain-tide,
That, swelled by winter storm and shower,
Rolls down in turbulence of power,
A torrent fierce and wide;
Reft of these aids, a rill obscure,
Shrinking unnoticed, mean and poor,
Whose channel shows displayed
The wrecks of its impetuous course,
But not one symptom of the force
By which these wrecks were made!

XV.
Spur on thy way!-since now thine ear
Has brooked thy veterans’ wish to hear,
Who, as thy flight they eyed
Exclaimed,-while tears of anguish came,
Wrung forth by pride, and rage, and shame,
‘O that he had but died!’
But yet, to sum this hour of ill,
Look, ere thou leav’st the fatal hill,
Back on yon broken ranks –
Upon whose wild confusion gleams
The moon, as on the troubled streams
When rivers break their banks,
And, to the ruined peasant’s eye,
Objects half seen roll swiftly by,
Down the dread current hurled –
So mingle banner, wain, and gun,
Where the tumultuous flight rolls on
Of warriors, who, when morn begun,
Defied a banded world.

XVI.
List-frequent to the hurrying rout,
The stern pursuers’ vengeful shout
Tells, that upon their broken rear
Rages the Prussian’s bloody spear.
So fell a shriek was none,
When Beresina’s icy flood
Reddened and thawed with flame and blood,
And, pressing on thy desperate way,
Raised oft and long their wild hurra,
The children of the Don.
Thine ear no yell of horror cleft
So ominous, when, all bereft
Of aid, the valiant Polack left –
Ay, left by thee-found soldiers grave
In Leipsic’s corpse-encumbered wave.
Fate, in those various perils past,
Reserved thee still some future cast;
On the dread die thou now hast thrown
Hangs not a single field alone,
Nor one campaign-thy martial fame,
Thy empire, dynasty, and name
Have felt the final stroke;
And now, o’er thy devoted head
The last stern vial’s wrath is shed,
The last dread seal is broke.

XVII.
Since live thou wilt-refuse not now
Before these demagogues to bow,
Late objects of thy scorn and hate,
Who shall thy once imperial fate
Make wordy theme of vain debate. –
Or shall we say, thou stoop’st less low
In seeking refuge from the foe,
Against whose heart, in prosperous life,
Thine hand hath ever held the knife?
Such homage hath been paid
By Roman and by Grecian voice,
And there were honour in the choice,
If it were freely made.
Then safely come-in one so low, –
So lost,-we cannot own a foe;
Though dear experience bid us end,
In thee we ne’er can hail a friend. –
Come, howsoe’er-but do not hide
Close in thy heart that germ of pride,
Erewhile, by gifted bard espied,
That ‘yet imperial hope;’
Think not that for a fresh rebound,
To raise ambition from the ground,
We yield thee means or scope.
In safety come-but ne’er again
Hold type of independent reign;
No islet calls thee lord,
We leave thee no confederate band,
No symbol of thy lost command,
To be a dagger in the hand
From which we wrenched the sword.

XVIII.
Yet, even in yon sequestered spot,
May worthier conquest be thy lot
Than yet thy life has known;
Conquest, unbought by blood or harm,
That needs nor foreign aid nor arm,
A triumph all thine own.
Such waits thee when thou shalt control
Those passions wild, that stubborn soul,
That marred thy prosperous scene:-
Hear this-from no unmoved heart,
Which sighs, comparing what THOU ART
With what thou MIGHT’ST HAVE BEEN!

XIX.
Thou, too, whose deeds of fame renewed
Bankrupt a nation’s gratitude,
To thine own noble heart must owe
More than the meed she can bestow.
For not a people’s just acclaim,
Not the full hail of Europe’s fame,
Thy Prince’s smiles, the State’s decree,
The ducal rank, the gartered knee,
Not these such pure delight afford
As that, when hanging up thy sword,
Well may’st thou think, ‘This honest steel
Was ever drawn for public weal;
And, such was rightful Heaven’s decree,
Ne’er sheathed unless with victory!’

XX.
Look forth, once more, with softened heart,
Ere from the field of fame we part;
Triumph and Sorrow border near,
And joy oft melts into a tear.
Alas! what links of love that morn
Has War’s rude hand asunder torn!
For ne’er was field so sternly fought,
And ne’er was conquest dearer bought,
Here piled in common slaughter sleep
Those whom affection long shall weep
Here rests the sire, that ne’er shall strain
His orphans to his heart again;
The son, whom, on his native shore,
The parent’s voice shall bless no more;
The bridegroom, who has hardly pressed
His blushing consort to his breast;
The husband, whom through many a year
Long love and mutual faith endear.
Thou canst not name one tender tie,
But here dissolved its relics lie!
Oh! when thou see’st some mourner’s veil
Shroud her thin form and visage pale,
Or mark’st the Matron’s bursting tears
Stream when the stricken drum she hears;
Or see’st how manlier grief, suppressed,
Is labouring in a father’s breast, –
With no inquiry vain pursue
The cause, but think on Waterloo!

XXI.
Period of honour as of woes,
What bright careers ’twas thine to close! –
Marked on thy roll of blood what names
To Britain’s memory, and to Fame’s,
Laid there their last immortal claims!
Thou saw’st in seas of gore expire
Redoubted PICTON’S soul of fire –
Saw’st in the mingled carnage lie
All that of PONSONBY could die –
DE LANCEY change Love’s bridal-wreath
For laurels from the hand of Death –
Saw’st gallant MILLER’S failing eye
Still bent where Albion’s banners fly,
And CAMERON, in the shock of steel,
Die like the offspring of Lochiel;
And generous GORDON, ‘mid the strife,
Fall while he watched his leader’s life. –
Ah! though her guardian angel’s shield
Fenced Britain’s hero through the field.
Fate not the less her power made known,
Through his friends’ hearts to pierce his own!

XXII.
Forgive, brave Dead, the imperfect lay!
Who may your names, your numbers, say?
What high-strung harp, what lofty line,
To each the dear-earned praise assign,
From high-born chiefs of martial fame
To the poor soldier’s lowlier name?
Lightly ye rose that dawning day,
From your cold couch of swamp and clay,
To fill, before the sun was low,
The bed that morning cannot know. –
Oft may the tear the green sod steep,
And sacred be the heroes’ sleep,
Till time shall cease to run;
And ne’er beside their noble grave,
May Briton pass and fail to crave
A blessing on the fallen brave
Who fought with Wellington!

XXIII.
Farewell, sad Field! whose blighted face
Wears desolation’s withering trace;
Long shall my memory retain
Thy shattered huts and trampled grain,
With every mark of martial wrong,
That scathe thy towers, fair Hougomont!
Yet though thy garden’s green arcade
The marksman’s fatal post was made,
Though on thy shattered beeches fell
The blended rage of shot and shell,
Though from thy blackened portals torn,
Their fall thy blighted fruit-trees mourn,
Has not such havoc bought a name
Immortal in the rolls of fame?
Yes-Agincourt may be forgot,
And Cressy be an unknown spot,
And Blenheim’s name be new;
But still in story and in song,
For many an age remembered long,
Shall live the towers of Hougomont
And Field of Waterloo!

Conclusion

Stern tide of human Time! that know’st not rest,
But, sweeping from the cradle to the tomb,
Bear’st ever downward on thy dusky breast
Successive generations to their doom;
While thy capacious stream has equal room
For the gay bark where Pleasure’s steamers sport,
And for the prison-ship of guilt and gloom,
The fisher-skiff, and barge that bears a court,
Still wafting onward all to one dark silent port;-

Stern tide of Time! through what mysterious change
Of hope and fear have our frail barks been driven!
For ne’er, before, vicissitude so strange
Was to one race of Adam’s offspring given.
And sure such varied change of sea and heaven,
Such unexpected bursts of joy and woe,
Such fearful strife as that where we have striven,
Succeeding ages ne’er again shall know,
Until the awful term when Thou shalt cease to flow.

Well hast thou stood, my Country!-the brave fight
Hast well maintained through good report and ill;
In thy just cause and in thy native might,
And in Heaven’s grace and justice constant still;
Whether the banded prowess, strength, and skill
Of half the world against thee stood arrayed,
Or when, with better views and freer will,
Beside thee Europe’s noblest drew the blade,
Each emulous in arms the Ocean Queen to aid.

Well art thou now repaid-though slowly rose,
And struggled long with mists thy blaze of fame,
While like the dawn that in the orient glows
On the broad wave its earlier lustre came;
Then eastern Egypt saw the growing flame,
And Maida’s myrtles gleamed beneath its ray,
Where first the soldier, stung with generous shame,
Rivalled the heroes of the watery way,
And washed in foemen’s gore unjust reproach away.

Now, Island Empress, wave thy crest on high,
And bid the banner of thy Patron flow,
Gallant Saint George, the flower of Chivalry,
For thou halt faced, like him, a dragon foe,
And rescued innocence from overthrow,
And trampled down, like him, tyrannic might,
And to the gazing world may’st proudly show
The chosen emblem of thy sainted Knight,
Who quelled devouring pride and vindicated right.

Yet ‘mid the confidence of just renown,
Renown dear-bought, but dearest thus acquired,
Write, Britain, write the moral lesson down:
‘Tis not alone the heart with valour fired,
The discipline so dreaded and admired,
In many a field of bloody conquest known,
-Such may by fame be lured, by gold be hired:
‘Tis constancy in the good cause alone
Best justifies the meed thy valiant sons have won.Sir Walter Scott

Video yêu thích
Việt Nam quê hương tôi

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter


Cuộc đời phúc lưu hương

CUỘC ĐỜI PHÚC LƯU HƯƠNG
Trương Công Tín, Phan Văn Tự, Trần Văn Lợt, Huỳnh Hồng, Hoàng Kim
nhớ Thầy Lê Văn Thượng

Nén hương lòng thanh khiết
Cuộc đời phúc lưu hương
Tiễn Thầy Đất về Đất
Thanh thản trong đời thường.

Thầy PGS.TS. Lê Văn Thượng từ trần lúc 16g50 ngày 17 tháng 6 (26/4 âm lích năm Canh Tý) hưởng thượng thọ 87 tuổi. Thầy Lê Văn Thượng sinh năm 1934 tại Cần Thơ là chuyên gia khoa học đất Việt Nam. Lễ viếng bắt đầu lúc 9;00 ngày 18/6/2020 tại Chùa Vĩnh Nghiêm 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, thành phố Chí Minh. Di qian Thầy vào lúc 9 giờ sáng ngày 20 tháng 6 (29/4 âm lịch). Hỏa táng Bình Hương Hòa. Tang gia xin miễn chấp điếu. Xin Cám ơn.

xem tiếp: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cuoc-doi-phuc-luu-huong/

Thơ dâng theo dấu Tagore

HoangKim35

THƠ DÂNG THEO DẤU TAGORE
Hoàng Kim


Ở đâu bàng hoàng Phố Thị
Ngẫn ngơ suốt cả buổi chiều
Đêm nhảy xe đò về ruộng
Mưa dầm bóng Mẹ liêu xiêu.

Con lên giảng đường học chữ
Lời nào Thầy dạy đầu tiên
Biết ơn nhọc nhằn Cha Mẹ
Lấm lem con chữ ưu phiền

Phố Thị ngày càng đông đúc
Đồng Xuân xa lại càng thưa
Vui với việc hiền ở phố
Bâng khuâng thương nhớ chiêm mùa…

Nhớ ai vừng đông vừa rạng
Ước dòng tin nhắn đầu tiên
Hương đất thơm mùa ruộng cấy
Phương xa vời vợi bạn hiền.

Ở đâu lung linh Kiếp Bạc
Sao Khuê mờ tỏ Côn Sơn
Ở đâu một trời thương nhớ
Cho ta khoảng lặng tâm hồn. †

(*) Cảm nhận “Viện Lúa rạng danh Tổ Quốc (1) (2) (3)” họa thơ Phan Đào Toàn,​ Phan Chi​ Thắng​. 

Video yêu thích
KimYouTube


Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, Kim on Facebook, Kim on Twitter,

Sơn Núi trên rừng khuya

SƠN NÚI TRÊN RỪNG KHUYA

Kim Thủy kính viếng anh
gửi Đức Trung tiễn biệt
Em tiếc chưa về thăm (*)
“Trên rừng khuya” nhớ mãi
‘Chút lời mênh mông” ấy
Hoa cỏ là thiên thu.

(*) anh Nguyễn Đức Sơn là anh con bác của vợ tôi. Anh mất sáng ngày 11.6.2020, và hỏa táng lúc 6 giờ ngày 13.6. Gia đình chúng tôi có em Nguyễn ĐứcTrung đại diện lên viếng tang tại nhà riêng ở tổ 9, thôn 2, xã Lộc Châu, Bảo Lộc, Lâm Đồng. Cảm ơn Thu Nguyệt VN đồng cảm https://cnm365.wordpress.com/2020/06/11/son-nui-tren-rung-khuya/


TRÊN RỪNG KHUYA LỜI RU
Nguyễn Đức Sơn


“những hàng cây mới lên xanh
sáo vương khi nắng đã thanh giữa mùa
chiều êm hơn cả gió lùa
tôi ra cuối bãi tôi đùa với trăng
tay choàng lên với môi hằn
tôi mơn gió lả tôi măn vú đồi
có hương có nhạc trên trời
tóc tôi se gió mắt ngời ánh sao
có con chim rủ tôi vào
ở trong giấc mộng tôi trao ái tình
ngày trong xanh nắng trong thanh
tôi ôm cỏ dại ấp tình thiên thu”