Tỉnh thức

TỈNH THỨC
Hoàng Kim

“Thiên hà trong vắt khuya/ chuyển mùa/ tự nhiên tỉnh/ Ta ngắm trời, ngắm biển/ chòm sao em/vầng sáng anh,/ dưới vòm trời lấp lánh/ khoảnh khắc thời gian/ thăm thẳm/ một tầm nhìn. (Get up /Greeting from Hoàng Kim Vietnam to Kenny Rogers/ Clear late galaxies/ transfer season/ natural awakening/ I watch the sun, watching the sea/ watching the constellations./ glow from where he/ under the sparkling sky/ moment of time/ chasms/ a vision.’. Ngày này mấy năm trước tôi ốm nặng. Huỳnh Hồng, Nguyễn Bạch Mai và các bạn lúc ban ngày đến thăm. Buổi tối, tôi lên sân thượng bệnh viện ngắm sao. Nhớ lại bức ảnh đẹp nổi tiếng của Kenny Rogers. Tôi bật ra tứ thơ trên và nhắn gửi ông. Rất nhanh sau đó, tôi đã kết nối được với Kenny Rogers, lắng nghe từ ông lời cảm ơn. I love you all… thank you. -Kenny; Sự Tỉnh thức trong tôi. Thế giới phẳng chưa bao giờ gần đến thế Tôi vào trang của ông và sáng lên trang văn CNM365 Tình yêu cuộc sống của ngày này.

CNM365. Ngày 31 tháng 5 lễ Visakha Bucha ở Thái Lan kỷ niệm sinh nhật Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Tất-đạt-đa Cồ-đàm.Phật Đản; là ngày sinh của đức Phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm sinh ra tại vườn Lâm-tì-ni năm 624 TCN, diễn ra vào ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm.NgàyTam Hiệp (Phật đản, Phật thành đạo Phật nhập Niết-bàn) .được kỷ niệm vào các ngày khác nhau tùy theo quốc gia. Ngày 31 tháng 5 năm1578, Quốc vương Henri III đặt viên đá đầu tiên cho “cầu mới” Pont Neuf, bắc qua sông Seine tại Paris, Pháp. Ngày 31 tháng 5 năm 1740 ,Thái tử Friedrich II kế vị quốc vương của Phổ, ông là một nhà lý luận quân sự nổi bật. Bài chọn lọc ngày 31 tháng 5:Tỉnh thức, Lao động và nghỉ ngơi; Tỉnh lặng với Osho, Tỉnh lặng. Đi như một dòng sông; Sự thật tốt hơn ngàn lời nói.Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong và .https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-31-thang-5/.

Mỗi nhân cách tự tỏa sáng khi khai mở chính mình. Cảm ơn Kenny Rogers đã giúp tôi học cách thông minh để làm cho Hoàng Kim biết tương tác tốt hơn với bạn hữu và mọi người. Mỗi chúng ta là một thế giới. Dạy, học và làm từ bài học của chính bản thân mình.

TỈNH THỨC VỚI KENNY ROGERS

Kenneth Donald “Kenny” Rogers sinh ngày 21 tháng 8 năm 1938, mất ngày 20 tháng 3 năm 2020, thọ 82 tuổi, Ông là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhiếp ảnh gia, nhà sản xuất thu âm, diễn viên, doanh nhân người Mỹ, và là thành viên của Country Music Hall of Fame. Kenny Rogers là nghệ sĩ có nhạc bán chạy nhất mọi thời đại.Ông thành công nhất với thể loại nhạc đồng quê, dẫu vậy ông đã ghi hơn 120 đĩa đơn trên các thể loại âm nhạc khác nhau, đứng đầu các quốc gia và bảng xếp hạng album pop cho hơn 200 tuần ở Hoa Kỳ và đã bán được hơn 165 triệu bản trên toàn thế giới. Hai trong số các album của ông, The Gambler và Kenny, được nêu tên trong cuộc thăm dò “200 Albums có ảnh hưởng nhất từ trước tới nay” của About.com.[4] Ông được bình chọn là “Ca sĩ được yêu thích nhất mọi thời đại” trong một cuộc thăm dò năm 1986 của độc giả hai tạp chí USA Today và People. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng như AMAs, giải Grammy, ACMs , CMA, và một giải thưởng thành tựu trọn đời cho sự nghiệp của Kenny Rogers một ca sĩ, nhạc sĩ, nhiếp ảnh gia, nhà sản xuất thu âm, diễn viên, doanh nhân người Mỹ được trao tặng theo ghi nhận của Wikipedia Tiếng Việt.


Kenny Rogers lắng đọng CHUYỆN CỦA CHÚNG TÔI thật cảm động: ” Siêu sao đồng quê và biểu tượng âm nhạc từng đoạt giải thưởng GRAMMY Kenny Rogers đã gặt hái thành công lớn trong suốt sự nghiệp kéo dài hơn sáu thập kỷ.

Thành viên của Đại sảnh vinh danh nhạc đồng quê và siêu sao nhạc pop đã làm say mê những người yêu nhạc trên toàn cầu với những bài hát tuyệt vời, những màn trình diễn chân thành, giọng hát đặc biệt, món quà kể chuyện và sự hấp dẫn phổ quát, và năm 2016, Rogers bắt đầu chuyến lưu diễn thế giới cuối cùng của mình với một chương trình sẽ ca ngợi di sản âm nhạc của anh ấy: Thỏa thuận cuối cùng của người đánh bạc.

Rogers đã chơi cho hàng triệu người hâm mộ trên khắp thế giới, biểu diễn các bài hát đứng đầu bảng xếp hạng từ một danh mục các bản hit phong phú, bao gồm: “The Gambler,” “Lady,” “Islands In The Stream,” “Lucille,” “Coward of the County,” “She Believes In Me,” “Ruby, Don’t Take Your Love To Town,” “We’ve Got Tonight,” “Daytime Friends,” “Through The Years,” “Love Will Turn You Around,” “You Decorated My Life,” “Crazy,” “Every Time Two Fools Collide,” and “Buy Me A Rose.”

Nghệ sĩ đồng quê đầu tiên liên tục bán hết đấu trường, Rogers đã chơi cho hàng triệu người hâm mộ trên khắp thế giới. Thật đáng kinh ngạc, ông đã lập một kỷ lục trong vòng bảy thập kỷ qua (các thập kỷ 50, 60, 70, 80, 90, 2000, 2010), trong khi gửi 24 bài hát đến vị trí số 1 của bảng xếp hạng. Rogers đã bán được hơn 120 triệu album trên toàn thế giới, đưa anh ấy trở thành một trong mười nghệ sĩ solo nam bán chạy nhất mọi thời đại, theo RIAA. Rogers đã giành được nhiều giải thưởng cho công việc âm nhạc và từ thiện của mình, bao gồm ba giải thưởng GRAMMY, 21 giải thưởng âm nhạc Mỹ, 11 giải thưởng lựa chọn của mọi người, 10 giải thưởng của Viện âm nhạc quốc gia, sáu giải thưởng Hiệp hội âm nhạc quốc gia (bao gồm giải thưởng thành tựu trọn đời CMA năm 2013) và Giải thưởng Nghệ sĩ của một đời trong chương trình trao giải Nghệ sĩ của năm 2015 CMT. Rogers đã nhận được giải thưởng Thành tựu trọn đời từ Hiệp hội người mua giải trí quốc tế, giải thưởng Cliffie Stone Pioneer từ Học viện âm nhạc quốc gia và giải thưởng Horatio Alger, được trao cho những người nổi bật dù khởi đầu khiêm tốn. Vào ngày 29 tháng 2 năm 2016, Rogers đã được vinh danh với Giải thưởng Thành tựu Giải trí trọn đời Tony Martell 2016 tại TJ Martell Foundation Columbia Honors Gala lần thứ 8. Vào ngày 5 tháng 11 năm 2017, Rogers đã nhận được giải thưởng SESAC Legacy tại Nashville.

Rogers đã giành được một đề cử giải thưởng GRAMMY® và đề cử giải thưởng CMA năm 2014, cùng với người bạn và cộng tác viên lâu năm Dolly Parton, cho bản song ca của họ, https://www.youtube.com/embed/jT4_ohTS3Os?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent.

Tôi không hề có năng khiếu âm nhạc nhưng cảm phục về cách ông và Facebook © 2020 tổ chức trang văn lắng đọng bảo tồn những giá trị vàng của ông. Đó là bài học lớn. Đọc Kenny Rogers @KennyRogersOfficial Trang chủ Giới thiệu Bài viết Ảnh Video Ghi chú Cộng đồng Tạo Trang Đã thích Đang theo dõi Giới thiệu Gợi ý chỉnh sửa Thông tin trang Chào đời vào 21 tháng 8, 1938 Thông tin liên hệ https://www.kennyrogers.com Twitter kennyrogers Tthông tin khác Thể loại Country, Pop, Rock, Jazz Quê quán Nashville, TN Hãng thu âm Warner Bros. Records Giới thiệu: Kenny Rogers’ Official Facebook. The love of God (Deluxe Edition) including “The Gospel Truth” feat. The Oak Ridge Boys available now on all digital platforms.” GRAMMY Award-winning country superstar and music icon Kenny Rogers has enjoyed great success during his storied career of nearly six decades. The enduring Coun… Xem thêm; Tiểu sử KENNY ROGERS Once again it’s Chrismas // Biography //… Xem thêm categories Nhạc sĩ/ Ban nhạcTIN Our Story GRAMMY Award-winning country superstar and music icon Kenny Rogers enjoyed great success during his storied career of over six decades.The enduring Country Music Hall of Fame member and pop superstar endeared music lovers around the globe with his amazing songs, heartfelt performances, distinctive voice, gift for storytelling and universal appeal, … Xem thêm

Giới thiệu Tạo quảng cáo Tạo Trang Nhà phát triển Tuyển dụng Quyền riêng tư Cookie Lựa chọn quảng cáo Điều khoản Trợ giúp Cài đặt Nhật ký hoạt động
Facebook © 2020

Tiếng Việt English (US) 中文(台灣) 日本語 한국어 ภาษาไทย Français (France) Español Português (Brasil) Deutsch Italiano

LAO ĐỘNG VÀ NGHỈ NGƠI
Hoàng Kim


Ngủ thuốc bổ trường sinh
Sự trút bỏ căng thẳng
Làm việc và thư giản
Ngủ tốt người khỏe hơn.

Chớ coi thường sự ngủ
Lao động và nghỉ ngơi
Ngủ đúng và ngủ đủ
Tránh mối lo cho đời.

Làm nhiều thì mệt mỏi
Buông làm người tự do
Chọn tinh hoa yêu thích
Hiệu quả cho mỗi ngày

Phật Từ Bi Hỷ Xả
Trí huệ vui thanh nhàn
Phúc hậu bài học quý
Vui khỏe và ngủ ngon

Thiền là biết an nhiên
Xả là trút gánh nặng
Vứt bỏ mọi chuyện đời
Không vướng dạ an thôi

https://www.youtube.com/embed/5FCcXCchXDk?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent

Giữa bao nổ lực lo toan cần ngủ ngon và tỉnh thức. Nhạc thiền tỉnh tâm an nhiên tự tại

OSHO CON ĐƯỜNG HOÀN HẢO
Hoàng Kim


Osho (11/12/1931- 19/1/1990) là vị thiền sư nổi tiếng người Ấn Độ, được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất trong thời hiện đại, với bài giảng nổi tiếng “Con đường hoàn hảo” thuật lại câu chuyện của chính ông bảy ngày đêm tỉnh lặng với những bạn đồng hành. “Hạnh phúc tại tâm” bản chất sự sống, khả năng hạnh phúc và hạnh phúc chân thật của con người, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ những tác phẩm của Osho.“Osho là bậc thầy chứng ngộ đang làm việc với tất cả mọi khả năng để giúp cho nhân loại vượt qua giai đoạn khó khăn trong sự phát triển tâm thức“. Dailai Latma đã viết như vậy về người thầy lỗi lạc này cuối trang bìa của tác phẩm Osho “Con đường của nhà huyền môn“.

Osho con đường hoàn hảo là sự thực hành ngủ ngon và tỉnh thức. Tôi may mắn đã có được bảy ngày đêm tĩnh lặng đối thoại và thực hành với vị Thiền sư người Thầy tâm linh lỗi lạc này. Osho dẫn ta đi vào thế giới tịch lặng, thiền định sâu, chỉ dẫn cho ta bí quyết thiết yếu Năng lượng tích tụ và giải phóng giúp ta tâm thế tỉnh lặng, an nhiên tự tại, thung dung trong cuộc sống. Ta chạm đáy sự thật, đối diện với sinh tử, về nơi tịch lặng, đến chốn thung dung để thấu hiểu sự sống.

Tôi nhớ ký ức Bảy ngày đêm tỉnh lặng. Đời người là một chuỗi trãi nghiệm.Trãi nghiệm sự sống chính là hiện tại. Tỉnh lặng là sự chứng ngộ ám ảnh nhất. Bạn đã bao giờ về trong tịch lặng, xuống đáy địa ngục, đối diện sinh tử, lạc vào thế giới vô thức, hoàn toàn khác thế giới thường nhật, trút bỏ bận tâm, lo âu phiền muộn, danh vị chức phận, không trò chuyện, không điện thoại, không email, chỉ nổ lực duy nhất bảo tồn sự sống.

Tôi đã từng Dạo chơi non nước Việt: về Nghĩa Lĩnh đền Hùng ở Việt Trì, Phú Thọ; lên non thiêng Yên Tử viếng mộ đức Nhân Tông; về thủ đô Hà Nội thăm dấu xưa đức Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm; đến Kiếp Bạc Côn Sơn ngưỡng vọng đức thánh Trần và thấu hiểu sâu sắc hơn Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi; vào Tràng An Thần Phù Ninh Bình “Lênh đênh trên cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm“, Ngày xuân đọc Trạng Trình, Nhớ Đào Duy Từ; đức thánh Nguyễn Minh Không huyền thoại Bái Đính ; trọn đời làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ; Lương Định Của con đường lúa gạo; Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời; Con theo Người nguyện làm hoa lúa, …

Tôi đã từng đi Praha, Goethe và lâu đài cổ, Dạo chơi cùng Goethe; Học để làm ở Ấn Độ; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Đến Thái Sơn; Thăm Borlaug và Hemingway ở CIANO; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương; Qua Ghent nhớ … Di sản Walter Scott; Những người Việt lỗi lạc ở FAO; Đêm trắng và bình minh; Đến với các nước châu Phi; Vua Solomon và sách Khôn ngoan; Sông Nin và hồ Victoria; Mười hai ngày ở Ghana

Tôi cũng đã Câu cá bên dòng Sêrêpok, nhưng Bảy ngày đêm tỉnh lặng là sâu đậm nhất. Sau tĩnh lặng tôi nhìn cuộc đời dường như mới hơn, nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn…Cám ơn đời, hôm nay là ngày mới.

ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Hoàng Kim
với chị Hoàng Huyền và các cháu


Linh Giang sông quê hương
Đời dòng sông độ lượng
Đèo Ngang câu thơ cũ
Chọn lọc nhớ và quên.

Quá khứ thành seo biển
Nước mát chảy vào trong
Mọi lý thuyết đều xám
Chỉ cây đời tươi xanh

Sóc Trăng Lương Định Của
Nguyễn Du trăng huyền thoại
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Lên Trúc Lâm Yên Tử
Đi như một dòng sông

Mỗi dòng đều có đường link Câu chuyện ảnh tháng năm Bảo tồn và phát triển tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-nhu-mot-dong-song

SỰ THẬT TỐT HƠN NGÀN LỜI NÓI
Hoàng Kim


Sự thật tốt hơn ngàn lời nói
Theo Người con đường xanh
Lúa, sắn Việt Nam bài học lớn
Vui chào ngày mới, cố lên em !

The truth is better than a thousand words
Follow Uncle, Vietnam is the green road
Vietnamese rice and cassava are great lessons
Glad to celebrate the new day, try to come up!

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/su-that-tot-hon-ngan-loi-noi/

Video yêu thích

Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 


Tỉnh lặng

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là tinh-lang.jpg


TĨNH LẶNG

Hoàng Kim
đùa bạn Hoahuyen Đào Ngọc

Đường trần ta lại rong chơi
Vui thêm chút nữa buồn thôi lại về …

Đọc thơ cũ, bình câu thơ mới
Nhớ bạn hiền phơi phới LỘC XUÂN
Tuy xa mà thật là gần
ĐƯỜNG XUÂN vui bạn, thơ xuân an nhàn.

XẾP CỤC GẠCH chén anh chén chú
Vô tình gieo MẦM NHỚ cho ai
Đình Quang XUÂN LỘC với người
Thung dung ‘PHÍM’ CHIẾN, bạn chơi chân thành

Nay cảnh giới thuyền câu TĨNH LẶNG
Chim vào MÙA LÁ RỤNG ngẫn ngơ
VẦNG TRĂNG CỔ TÍCH duyên thơ
QUÊ HƯƠNG XỨ NHÃN đến bờ HƯƠNG GIANG

ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG thanh thản
TỈNH THỨC vui cùng bạn làm thơ
Mình vui chính việc mình ưa
Bận tâm chi những chuyện thừa thế gian

(*) Trăng, chim và thuyền câu tĩnh lặng (ảnh Hoahuyen Đào Ngọc) Những chữ in hoa là tên của các tác phẩm của Hoahuyen Đào Ngọc, Hoàng Đình Quang, Hoàng Kim và bạn hữu, được tác giả ví như LỘC XUÂN https://hoangkimvietnam.wordpress.com/locxuan/

xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-31-thang-5/


Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTubeKim on Facebook Kim on Twitter

Lao động và nghỉ ngơi

LAO ĐỘNG VÀ NGHỈ NGƠI
Hoàng Kim

Ngủ thuốc bổ trường sinh
Sự trút bỏ căng thẳng
Làm việc và thư giản
Ngủ tốt người khỏe hơn.

Chớ coi thường sự ngủ
Lao động và nghỉ ngơi
Ngủ đúng và ngủ đủ
Tránh mối lo cho đời.

Làm nhiều thì mệt mỏi
Buông làm người tự do
Chọn tinh hoa yêu thích
Hiệu quả cho mỗi ngày

Phật Từ Bi Hỷ Xả
Trí huệ vui thanh nhàn
Phúc hậu bài học quý
Vui khỏe và ngủ ngon

Thiền là biết an nhiên
Xả là trút gánh nặng
Vứt bỏ mọi chuyện đời
Không vướng dạ an thôi

https://www.youtube.com/embed/5FCcXCchXDk?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent

Giữa bao nổ lực lo toan cần ngủ ngon và tỉnh thức. Nhạc thiền tỉnh tâm an nhiên tự tại

OSHO CON ĐƯỜNG HOÀN HẢO
Hoàng Kim

Osho (11/12/1931- 19/1/1990) là vị thiền sư nổi tiếng người Ấn Độ, được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất trong thời hiện đại,  với bài giảng nổi tiếng “Con đường hoàn hảo”  thuật lại câu chuyện của chính ông bảy ngày đêm tỉnh lặng với những bạn đồng hành. “Hạnh phúc tại tâm” bản chất sự sống, khả năng hạnh phúc và hạnh phúc chân thật của con người, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ những tác phẩm của Osho.“Osho là bậc thầy chứng ngộ đang làm việc với tất cả mọi khả năng để giúp cho nhân loại vượt qua giai đoạn khó khăn trong sự phát triển tâm thức“. Dailai Latma đã viết như vậy về người thầy lỗi lạc này cuối trang bìa của tác phẩm Osho “Con đường của nhà huyền môn“.

Osho con đường hoàn hảo là sự thực hành ngủ ngon và tỉnh thức. Tôi may mắn đã có được bảy ngày đêm tĩnh lặng đối thoại và thực hành với vị Thiền sư người Thầy tâm linh lỗi lạc này. Osho dẫn ta đi vào thế giới tịch lặng, thiền định sâu, chỉ dẫn cho ta bí quyết thiết yếu Năng lượng tích tụ và giải phóng giúp ta tâm thế tỉnh lặng, an nhiên tự tại, thung dung trong cuộc sống. Ta chạm đáy sự thật, đối diện với sinh tử, về nơi tịch lặng, đến chốn thung dung để thấu hiểu sự sống.

Tôi nhớ ký ức Bảy ngày đêm tỉnh lặng. Đời người là một chuỗi trãi nghiệm.Trãi nghiệm sự sống chính là hiện tại. Tỉnh lặng là sự chứng ngộ ám ảnh nhất. Bạn đã bao giờ về trong tịch lặng, xuống đáy địa ngục, đối diện sinh tử, lạc vào thế giới vô thức, hoàn toàn khác thế giới thường nhật, trút bỏ bận tâm, lo âu phiền muộn, danh vị chức phận, không trò chuyện, không điện thoại, không email,  chỉ nổ lực duy nhất bảo tồn sự sống.

Tôi đã từng Dạo chơi non nước Việt: về Nghĩa Lĩnh đền Hùng ở Việt Trì, Phú Thọ; lên non thiêng Yên Tử viếng mộ đức Nhân Tông; về thủ đô Hà Nội thăm dấu xưa đức Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm; đến Kiếp Bạc Côn Sơn ngưỡng vọng đức thánh Trần và thấu hiểu sâu sắc hơn Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi; vào Tràng An Thần Phù Ninh Bình “Lênh đênh trên cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm“, Ngày xuân đọc Trạng Trình, Nhớ Đào Duy Từ; đức thánh Nguyễn Minh Không huyền thoại Bái Đính ; trọn đời làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ;  Lương Định Của con đường lúa gạo; Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời; Con theo Người nguyện làm hoa lúa, …

Tôi đã từng đi Praha, Goethe và lâu đài cổ, Dạo chơi cùng Goethe; Học để làm ở Ấn Độ; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Đến Thái Sơn; Thăm Borlaug và Hemingway ở CIANO; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hươngQua Ghent nhớ … Di sản Walter Scott; Những người Việt lỗi lạc ở FAO; Đêm trắng và bình minh; Đến với các nước châu Phi; Vua Solomon và sách Khôn ngoanSông Nin và hồ Victoria; Mười hai ngày ở Ghana

Tôi cũng đã Câu cá bên dòng Sêrêpok, nhưng Bảy ngày đêm tỉnh lặng là sâu đậm nhất

BanMaiTinhLang
Sau tĩnh lặng tôi nhìn cuộc đời dường như mới hơn, nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn…Cám ơn đời, hôm nay là ngày mới.

3
1SocCon
Cá nước

Tại sao tỉnh thức lại thật tuyệt vời? – Đạo Phật Ngày Nay

TÌNH MẸ VÀ ĐỨC NHẪN

Tình Mẹ thể hiện rõ nhất ở đức nhẫn: kiên nhẫn chăm sóc, kiên nhẫn chịu đựng, kiên nhẫn lắng nghe. Thương yêu con như mẹ hiền mới làm được chí thiện. Đức Nhẫn của Phật Di Đà ở chùa Chân Không là mẫu mực của tình yêu thương con người.

Thuở trước Di Đà tu luyện cùng 99 tăng ni tại một ngôi chùa. Di Đà ngày chuyên cần, đêm siêng năng làm lụng khiến bạn hữu nẩy sinh sự ghen ghét. Một lần nọ họ hùa nhau nói xấu Di Đà là đã làm vỡ chén ngọc và xin thầy đuổi Di Đà ra khỏi chùa. Thầy chủ trì gạn hỏi kỹ nhiều người thì ai cũng lặng thinh chẳng ai dám thề là minh thấy rõ việc đó. Nghe sư phụ la rầy mọi người, Di Đà  đã năn nỉ khuyên can và tự mình ra dựng chòi ở ngoài để tu.  Lần sau, trong chùa  có một người ăn mày chết hôi thối tại chốn phật đường. 99 tăng ni nọ đùn đẩy nhau, né tránh việc chôn cất. Di Đà đi kiếm củi về nghe chuyện đã không kịp ăn cơm, xin sư phụ để cõng đi chôn ngay. Thây ma hôi thối bám trên lưng Di Đà mỗi lúc một nặng. Đến khi Di Đà muốn dừng lại để chôn thì thây ma ôm chặt cổ Di Đà không chịu rời. Di Đà cả cười không chút nóng giận cõng thây ma đi tìm nơi chôn cất suốt đêm. Mãi cho đến lúc ban mai, khi đến chòi của Di Đà thì thây ma mới buông tay và chịu nằm xuống. Di Đà đã cởi áo mình mặc cho thây ma, Thốt nhiên, nơi đó biến thành đài sen thơm ngát.

Chốn ấy, nay là chùa CHÂN KHÔNG.

Nhẫn là một đức tính tốt đẹp từ xưa đến nay của con người. Khoan dung, độ lượng không nóng giận là “Nhẫn”. Cốt lõi của “Nhẫn” là Nhân. Khổng Tử nói: “khắc kỷ phục lễ vi nhân” (Người biết ước thúc bản thân có lời nói và hành vi hợp lẽ phải là người nhân). Chiến thắng bản thân mình là chiến thắng khó khăn nhất.

Xưa có người cha dạy con lúc bực tức hãy cố nén giận chạy ra sau nhà và đóng một cây đinh lên chiếc hàng rào gỗ. Người con nghe lời bố làm vậy và dần biết tự kiềm chế, theo thời gian số lượng đinh đóng mỗi ngày một ít đi. Đến một ngày, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt thời gian dài. Cậu đến thưa với cha và ông bảo : Tốt lắm, bây giờ con đã biết nhẫn thì cứ mỗi tháng con không nổi nóng nữa con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào. Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm người con đã vui mừng báo với cha rằng trên hàng rào đã không còn cây đinh nào nữa. Người cha nói :  Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh con để lại trên hàng rào để thấy những lời con nói lúc nóng giận như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương khó lành trong lòng người. Lời nó như tên không nên bắn bậy, đã lọt vào tai ai, không sao rút ra được.

Hoàng Kim
(chọn lọc tinh hoa)

https://www.youtube.com/embed/WbvxjUv4jgg?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent

NHẠC THIỀN SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC

Em sẽ là mùa xuân của mẹ, bài hát Hoàng Long yêu thích nhất.

Em sẽ là mùa xuân của Mẹ
Em sẽ là màu nắng của Cha
Em đến Trường học bao điều lạ
Môi mỉm cười là những nụ hoa
Trang sách hồng nằm mơ màng ngủ
Em gối đầu trên những dòng thơ
Em thấy mình là hoa hồng nhỏ
Bay giữa trời làm mát ngày qua

Trời mênh mông, đất hiền hòa
Bàn chân em đi nhè nhẹ
Đưa em vào tình người bao la
Cây có rừng bầy chim làm tổ
Sông có nguồn từ suối chảy ra
Tim mỗi người là quê nhà nhỏ
Tình nồng thắm như mặt trời xa

Em sẽ là mùa xuân của Mẹ
Em sẽ là màu nắng của Cha

Đó là bài hát tâm thức yêu thích nhất của con, suối nhạc tình yêu cuộc sống

Hoàng Kim

Video yêu thích
Vietnamese food paradise
https://www.youtube.com/embed/Cnfj6QCGLyA?version=3&rel=1&fs=1&autohide=2&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&wmode=transparent

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Nhớ Cậu

NHỚ CẬU

Cột Cờ phố cổ trãi ngàn năm
Trấn thủ Hoàng Thành giữ nước non
Võ miếu hương linh ngời chí thép
Tuệ trung phúc tướng nghĩa nhân bền.

Hoàng Kim
kính nhớ Cậu, các cháu thật biết ơn tổ tiên gia đình và dòng họ, https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cau/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Nhớ Núi

NHỚ NÚI
Hoàng Kim

Rời phố khi trời ưng ửng sớm
Về rừng lúc đất tỏa hương khuya
Mai núi nghiêng soi bên suối biếc
Bình yên xóm nhỏ tiếng chim gù …

TẮM TIÊN Ở CHƯ JANG SIN
Hoàng Kim

II
Thiên Thai lạc bước đỉnh ngàn mây
Hạ giới quên đường tít chim bay
Vườn Tượng nai thưa sương xuống mỏng
Đào Nguyên hoa kín cỏ lên dày
Tiên Cô suối biếc yêu đời thế
Chúa Liễu rừng thông thoải mái thay
Bồng Lai nơi ấy rồng tiên ẩn
Ai thích tiêu dao hợp chốn này. (***)

Chư Yang Sin là một trong 30 Vườn Quốc gia Việt Nam, đây là khu rừng đặc dụng nằm trên địa bàn các xã Yang Mao, Cư Drăm, Cư Pui, Hoà Phong, Hoà Lễ, Hoà Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông và các xã Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắk Phơi thuộc huyện Lắk, tỉnh Đăk Lăk.  Nơi đây có đỉnh núi Chư Yang Sin 2.442 mét, cao nhất hệ thống núi cao cực Nam Trung Bộ. Vườn Quốc gia Chư Yang Sin được thành lập ngày 12 tháng 7 năm 2002 theo quyết định số 92/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tắm tiên ở Chư Jang Sin, tắm mình trong nguồn năng lượng vô tận của trời xanh, cây xanh, gió mát và không khí  an lành là quà tặng cuộc sống.

Tôi đã viết bài thơ ‘Con đường xanh yêu thương’ ‘Mưa xuân’ “Tắm tiên ở Chu Yang Sin ” của những chuyến về rừng yêu thương, và ý định nối dài thêm nhưng vẫn cần thời gian và cơ hội.

CON ĐƯỜNG YÊU THƯƠNG


Đường trần thênh thênh bước
Ngắm ảnh nhớ Cổ Sơn.
Đồng xuân hương trời thoảng
Non xanh thăm thẳm rừng.

‘Ráng trời mờ tỏ Bà Đen
Bóng in đáy nước thôi miên cả chiều
Cháy lòng khao khát Sông yêu
Lặng im nghe Núi nói điều chứa chan’ (1)

Người đi tìm Ngọc phương Nam
Nhớ bầu sữa Mẹ muôn vàn yêu thương
Bà Đen Dầu Tiếng Tây Ninh
Khoai mì (*) đậu phộng (**) nên danh ơn Người (2).

(*) Tây Ninh là nôi nuôi dưỡng và phát triển các giống khoai mì KM94, SM937-26, KM98-1, KM98-5, KM140, KM419 là các giống khoai mì chủ lực tạo nên danh tiếng toàn cầu “Cách mạng sắn Việt Nam”;
(**) Tây Ninh cũng là nôi nuôi dưỡng và phát triển các giống đậu phộng HL25, Lì và Giấy chọn lọc, đậu xanh HL89-E3, đậu rồng và các loại đậu đỗ thực phẩm … đóng góp hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp. — cùng với Hoang Kim2 người khác.

NhoNui
NHỚ NÚI
Hoàng Kim

Ngày vui lại nhớ chứa chan (*)
chán chưa, chưa chán lại càng chứa chan …

Ngày này có nhớ nhau không?
Nôn nao lòng lại giục lòng nhớ thương
Chân đi muôn dặm nẻo đường
Phải đâu cứ đất quê hương mới là …

Đêm nằm nghe gió thoảng qua
Nồng thơm hương lúa, đậm đà tình quê
Chợt dưng lòng lại gọi về
Vùng quê xa với gió hè chứa chan

Vục đầu uống ngụm nước trong
Nhớ sao nơi ấy ngọt dòng sông xanh
Nhớ từ chốn ấy xa em
Nhớ lên núi biếc, mây xanh lững lờ

Xa em từ bấy đến chừ
Một vầng trăng sáng, sẻ chia đôi miền
Em về nơi ấy đồng xanh
Anh đi muôn nẻo với niềm nhớ thương

Nằm đêm lưng chẳng tới giường
Nôn nao nhớ núi, nhớ rừng canh khuya
Trường Sơn lá đỏ (**) xa mờ
Thái Dương nhớ thuở tiến vô Sài Gòn.

Giữa ngày vui nhớ Chứa Chan
Nôn nao nổi nhớ thủy chung vẹn toàn
Phải vì vất vả gian nan
Bao năm tình nghĩa nhớ thương đến rày …

Non sông những tháng năm này
Lọc muôn sắc đỏ cho ngày hội vui
Nhớ em trong dạ bùi ngùi …
Nhớ đồng xuân nhớ đất trời Chứa Chan.

(*)  Núi Chứa Chan còn gọi là núi Gia Ray hay núi Gia Lào thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, là ngọn núi cao thứ hai khu vực Nam Bộđồng bằng Sông Cửu Long, với chiều cao 800m so với mặt nước biển. Núi Chứa Chan nổi tiếng với phong cảnh hùng vĩ.
(**) Lá đỏ (thơ Nguyễn Đình Thi, nhạc Hoàng Hiệp)
(***) Ngày Thống nhất đất nước, anh em cùng gặp nhau giữa thành phố.

Dạo chơi non nước Việt

KimYouTube

Trở về trang chínhHoàng KimNgọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter


Nông nghiệp sinh thái Việt Nam

NÔNG NGHIỆP SINH THÁI VIỆT NAM
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

Tiếng Việt văn hóa kinh tế 学中越文 Tổng quan văn hoá và kinh tế xã hội Việt Nam 越南社会经济和文化概述 là tập tài liệu giảng dạy nghiên cứu Việt Nam Học Người Việt, Tiếng Việt, Nông nghiệp Việt Nam, văn hóa, kinh tế xã hội, du lịch sinh thái. Mục đích nhằm cung cấp kiến thức nền Việt Nam Học giúp người nước ngoài hiểu biết đất nước con người Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” (Nguyễn Trãi, 1428) với phẩm chất văn hóa thân thiện, tốt đẹp. Người Việt, tiếng Việt và nông nghiệp Việt Nam là ba di sản quý nhất của dân tộc Việt được bảo tồn và phát triển.

Người Việt gồm cộng đồng 54 dân tộc và 1 nhóm “người nước ngoài’ trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, theo Quyết định số 421, ngày 2/3/1979 Tổng cục Thống kê). Người Việt bản địa là chủ nhân của nền văn hóa thời đồ đá tại Việt Nam từ 7.000 – 20.000 năm trước, là chủ nhân của tiếng Việt và nền văn minh lúa nước, chốn tổ của nghề trồng lúa nước trên thế giới. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính tiếng nói theo nhóm Việt-Mường của 8 nhóm ngôn ngữ Việt. Nông nghiệp Việt Nam là một trong ba ngành kinh tế, chiếm tỷ trọng trong tổng GDP Việt Nam năm 2015 ước tính: Nông nghiệp (nông lâm thủy sản) 17.4%; Công nghiệp (khai thác khoáng sản, công nghiệp chế biến, công nghiệp vật liệu xây dựng, sản xuất phân phối khí, điện, nước,…) 38.8%; Dịch vụ (thương mại, tài chính, du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế) 43.7%.

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là bài giảng của tiến sĩ Hoàng Tố Nguyên, giảng viên khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trừờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, được đào tạo chuyên ngành tiếng Trung hiện đại tại Trường Đại học Sư phạm Hoa Trung (Trung Quốc), với sự hổ trợ đúc kết thông tin liên ngành của tiến sĩ Hoàng Long, giảng viên Cây Lương thực, Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và tiến sĩ nông học Hoàng Kim. Bài giảng này là tài liệu học tập cho sinh viên nước ngoài đang giao lưu ngôn ngữ văn hóa Việt Trung Anh và tìm hiểu kinh tế xã hội, nông nghiệp sinh thái, giáo dục, du lịch Việt Nam tại Trường. Đề cương bài giảng chương Nông nghiệp sinh thái Việt Nam gồm 9 nội dung tóm tắt: 1) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là nền tảng của kinh tế; 2) Bảy vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam; 3) Đặc điểm bảy vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam; 4) Hiện trạng tầm nhìn lao động nông nghiệp sinh thái Việt Nam;  5) Du lịch nông nghiệp sinh thái Việt Nam; 6) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam ngày nay; 7) Tết Việt khởi đầu 24 tiết khí lịch nhà nông; 8) Việt Nam con đường xanh Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp (Technological application enhances agriculture value chain); 9) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam điểm đến yêu thích của bạn. Thông tin được đúc kết, cập nhật, tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/nong-nghiep-sinh-thai-viet-nam/https://cnm365.wordpress.com/category/nong-nghiep-sinh-thai-viet-nam/https://hoangkimvn.wordpress.com/

(xem mục 1-5 ở cuối bài)

VI Nông nghiệp sinh thái Việt Nam ngày nay
6.1 Nông nghiệp sinh thái Việt Nam ngày nay là lĩnh vực đặc biệt quan trọng
, tạo sự ổn định xã hội và nâng cao chất lượng sống cho người nông dân, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay, Việt Nam là nước có nhiều lợi thế, tiềm năng phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp sinh thái đặc thù nhiều tiềm năng và trở thành một nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.

Hàng nông sản chủ lực Việt Nam gồm  gạo, chè, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, rau quả, thủy sản (như cá tra, cá ba sa, cá ngừ, tôm, mực…)  là những mặt hàng có lợi thế, nhiều tiềm năng xuất khẩu sang thị trường các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Singapore, các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), thị trường châu Âu và châu Mỹ…

Năm 2017, thủy sản Việt Nam là ngành có giá trị xuất khẩu cao nhất, đạt 8,3 tỷ USD, tiếp đến là hạt điều với 3,516 tỷ USD, rau quả đạt 3,502 tỷ USD, cà phê với 3,24 tỷ USD, gạo đạt 2,6 tỷ USD, hạt tiêu đạt 1,1 tỷ USD, sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 1,03 tỷ USD…

6.2. Doanh nghiệp nông nghiệp có tỷ lệ rất thấp 8% chủ yếu nhỏ và siêu nhỏ  92,35%
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến quý II/ 2018,  các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp sinh thái Việt Nam ước tính cả nước có khoảng hơn 49.600 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chiếm khoảng 8% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, chủ yếu ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chiếm 92,35%, tiếp đến là doanh nghiệp có quy mô lớn với 5,59% và doanh nghiệp có quy mô vừa với 2,06%. Đầu tư vào nông nghiệp sinh thái đã tạo ra hơn 4,5 triệu việc làm, chiếm 32,5% lao động của toàn bộ doanh nghiệp.

Đặc thù của các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp có đặc thù là phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên như thiên tai, rủi ro dịch bệnh dẫn đến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chịu rất nhiều rủi ro so với các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn phản ánh gặp khó khăn ở một số vấn đề chính như: quỹ đất nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp; ngành công nghiệp cơ khí hỗ trợ cho nông nghiệp ở Việt Nam còn hạn chế. Nhiều thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong nông nghiệp còn bất hợp lý. Hiệu quả của hầu hết các loại hình tổ chức sản xuất, các ngành, các lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung chưa cao. Ứng dụng khoa học và công nghệ, liên kết chuỗi giá trị sản xuất trong nông nghiệp còn rất hạn chế, mới chỉ ở bước đầu phát triển…

6.3. Tầm nhìn đột phá đầu tư, cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ Việt Nam  thể chế hóa tầm nhìn chuyển đổi tái cơ cấu nông nghiệp sau 30 năm đổi mới , cụ thể hóa Nghị định 61/2010/NĐ-CP chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Những chủ trương lớn mới đây trong tầm nhìn của chính phủ Việt Nam theo Cổng thông tin Chính phủ VCP News

“Trục sản phẩm chủ lực

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, Bộ NNPTNT đề xuất một số định hướng giải pháp ưu tiên thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thời gian tới như sau:

Thứ nhất, thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới. trong đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT xác định các ưu tiên phát triển ngành theo ba trục sản phẩm chính, bao gồm:

Các sản phẩm chủ lực quốc gia (các sản phẩm có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD/ năm: lúa gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sắn, rau quả, tôm, cá tra, gỗ và sản phẩm từ gỗ; các ngành hàng có quy mô thị trường nội địa lớn như thịt lợn, thịt gia cầm).

Ưu tiên thu hút đầu tư của doanh nghiệp quy mô lớn, đóng vai trò hạt nhân, dẫn dắt, phát triển chuỗi giá trị đồng bộ. Tập trung thu hút đầu tư vào các cụm liên kết ngành cấp vùng, gắn với các vùng chuyên canh lớn của các doanh nghiệp, kết nối giữa khu hạt nhân của cụm (gồm trung tâm nghiên cứu khoa học công nghiệp, tài chính, thương mại, logistic) và các vệ tinh gồm các khu/cụm công nghiệp dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cấp tỉnh.

Các vùng ưu tiên thu hút đầu tư cho các sản phẩm chiến lược này là: lúa gạo ở vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đồng bằng sông Cửu Long; cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều ở vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ; chè ở vùng Trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên; cây ăn quả ở Trung du miền núi Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền trung, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long); cá da trơn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tôm và hải sản ở vùng Duyên hải Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long; gỗ ở miền núi phía Bắc, vùng Duyên hải Trung Bộ và Tây Nguyên.

Chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực cấp tỉnh (như các sản phẩm đủ lớn có tổng giá trị xuất khẩu từ 500 triệu USD/năm). Ưu tiên thu hút doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sản phẩm có lợi thế của địa phương, tập trung thu hút vào các cụm liên kết ngành cấp tỉnh, gắn với vùng nguyên liệu của doanh nghiệp, kết nối giữa khu hạt nhân của cụm (khu/vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các tỉnh) và các khu/cụm công nghiệp – dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cấp tỉnh.

Chuỗi giá trị đặc sản địa phương (chuỗi giá trị sản phẩm đặc thù vùng miền) có quy mô nhỏ, gắn với chỉ dẫn địa lý cụ thể, được xây dựng và phát triển cùng với xây dựng nông thôn mới theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”. Ưu tiên thu hút đầu tư của doanh nghiệp quy mô cực nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp, các hợp tác xã, hộ sản xuất kinh doanh đối với các mặt hàng đặc sản của địa phương theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm” (one commune one product – OCOP), gắn với các tiểu vùng có sản phẩm đặc sản vùng miền.

Vùng sản xuất tập trung

Thứ hai, ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng vào các nhóm lĩnh vực, ngành nghề sau:

Đầu tư, phát triển vùng sản xuất tập trung trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.

Sản xuất, phát triển giống cây trồng, vật nuôi, giống cây lâm nghiệp, giống thủy sản. Sản xuất đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi và thủy sản, chế phẩm sinh học, thuốc thú y chăn nuôi và thủy sản.

Ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa và các công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi, thủy sản.

Đầu tư vào lĩnh vực chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản, dược liệu, tinh chế muối; sản xuất máy, thiết bị, chất phụ gia, phụ trợ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, máy chế biến thực phẩm; công nghệ giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm, tập trung, công nghiệp; sản xuất hàng thủ công; sản phẩm văn hóa, dân tộc truyền thống.

Thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, nước thải sinh hoạt tại nông thôn; thu gom xử lý chất thải làng nghề; đầu tư hệ thống cấp nước sạch, thoát nước, công trình thủy lợi và hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.

Doanh nghiệp dẫn dắt các chuỗi giá trị

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách hành chính để thu hút mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Trong thời gian tới, doanh nghiệp nông nghiệp được coi là lực lượng dẫn dắt các chuỗi giá trị nông nghiệp và tạo hiệu ứng lan tỏa cho phát triển kinh tế – xã hội.

Để có thể thu hút và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm các điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh trong nông nghiệp, thực hiện tốt các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp theo các Nghị định: số 52/2018/NĐ-CP, số 57/2018/NĐ-CP, số 58/2018/NĐ-CP, số 98/2018/NĐ-CP.

Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận có thời hạn lâu dài với đất đai, phù hợp vớicác quyền sử dụng hợp pháp của nhà đầu tư; tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án; xây dựng cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn các nhà đầu tham gia xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn theo nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

Thực hiện Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp cũng sẽ khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân sản xuất trong ngành nông lâm thủy sản chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại về tài chính do các rủi ro xảy ra trong quá trình sản xuất. Các cá nhân, doanh nghiệp tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.

Bên cạnh đó, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện các chính sách nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật nông nghiệp, giúp giảm chi phí đào tạo ban đầu cho các nhà đầu tư, đặc biệt cho các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư./.”

7) Tết Việt khởi đầu 24 tiết khí lịch nhà nông

Sự nghiên cứu Tết Nguyên Đán Việt Trung tương đồng và khác biệt của tác giả Trần Vũ Đồng và Hoàng Tố Nguyên 2020 cho thấy:

(* Tác giả Trần Vũ Đồng 陈雨桐 là học viên chuyên ngành song ngữ Anh Việt và tiến sĩ Hoàng Tố Nguyên là giảng viên khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh).

Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất của Việt Nam và Trung Quốc. Việc so sánh nguồn gốc phong tục đặc điểm giống và khác nhau giữa Tết Nguyên Đán của hai nước và tìm hiểu tư tưởng, quan niệm tín ngưỡng giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về nền văn hóa, lịch sử của hai dân tộc, thúc đẩy mối quan hệ giao lưu thân thiện giữa hai quốc gia. Tết Nguyên Đán Việt Trung bất luận là tên gọi, thời gian, nguồn gốc hay phong tục đều có nhiều điểm giống nhau, nhưng không gian văn hóa và theo thời gian, mỗi nước đều tự tạo ra cho mình những nét đặc sắc riêng.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng trong cùng một không gian văn hóa Tết cổ truyền của Trung Quốc Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản Sự giao thoa Tết văn hóa và văn hóa Tết Việt Nam và Trung Hoa là gần gũi ‘đồng văn” tới mức trước đây và thậm chí gần đây, giới Đông phương học phương Tây thường xếp Việt Nam vào “Thế giới văn minh Trung Hoa” hay “Thế giới Hoa hóa” (như M.Gernet Le monde chinois, Paris, 1980, L. Vandermeersch Le monde Sinise PUF, Paris, 1986). Đối với Đông Nam Á, một khái niệm mới xuất hiện ở cuối thế chiến II, thì người ta xếp Việt Nam vào “các quốc gia Ấn hóa hay Hindou hóa” để đối sánh Việt Nam với các quốc gia Đông Nam Á khác. Người ta mệnh danh Việt Nam là bộ phận tiền đồn của văn minh Trung Hoa chọc xuống vùng Đông Nam Á.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc khác biệt năm điểm chính:

1) Lịch sử văn hóa Trung Quốc thuộc nền văn minh Trung Hoa Context Đông Á (Đàm Gia Kiện chủ biên 1993). Bản sắc lịch sử văn hóa Việt Nam thuộc nền văn minh lúa nước Hòa Bình Context Động Nam Á Nước Việt, Dân Việt trên diễn trình lịch sử lâu dài tuy nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa chính trị Trung Hoa Đông Á nhưng vẫn luôn luôn duy trì nền tảng văn hóa môi cảnh địa nhân văn Đông Nam Á của chính mình (Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và cảm nhận, Nhà Xuất bản Văn hóa Hà Nội, năm 2003);

2) Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của người Việt. Tết nguyên nghĩa là “tiết”. Văn hóa Việt thuộc văn minh Nông nghiệp lúa nước, do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau, và ứng với mỗi tiết khí này lại có một thời khắc “giao thời”. Tết Nguyên Đán nghĩa là “Tết đầu năm mới”. Chữ Tết là âm “đọc trạch” theo lối dân gian của chữ “Tiết” Hán Việt. Tiết âm Hán Việt có nghĩa là Đoạn, Khúc, Đốt. Trên dòng thời gian liên tục của một năm theo lịch cổ truyền thì Tết Nguyên Đán nương theo Tiết Lập Xuân. Tiết Nguyên Đán là Tiết Lập Xuân của người Việt trong lịch cổ Việt Thường la bàn (hướng chính Đông).

3) Nguồn của Tết Nguyên Đán thuộc không gian văn hóa Hòa Bình và nền văn hóa Đông Sơn Trống đồng.là chốn tổ nền văn minh lúa nước. Tết Nguyên Đán là một lễ hội mùa nông nghiệp. Các chuyên khảo của giáo sư Trần Quốc Vượng 2003 đã cũng cố luận điểm này “Lịch ta và nền văn hóa lúa nước cổ truyền (trang 324-331), Con trâu và nền văn hóa Việt Nam (trang 332-337) “Biểu tượng Ngưa và năm con ngựa 338-341) “Năm Giáp Tuất kể chuyện lịch ta và chú cẩu” (trang 342-347); Nhân xuân Ất Hợi 1995 chuyện vãn về con lợn trong văn hóa Việt Nam (trang 348-352).

4) Diễn trình lịch sử văn hóa Việt Nam thể hiện phong tục là khác nhau “Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc Nam cũng khác” , “trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ” đó là tác phẩm Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn thảo vào mùa xuân năm 1428. Theo Lịch sử Việt Nam diễn trình từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ năm 2879 TCN. Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa qua thông tin các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thời đại đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ. Vào thời kỳ đồ đá mới, nền văn hóa Hòa Bình Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước. Di chỉ khảo cổ tại Trống Đồng Ngọc Lũ Đông Sơn, và nhiều minh chứng khác.

5) “Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene ngưởi Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên” thông tin của Giáo sư Nông Văn Hải Viện Nghiên cứu hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) tại Nguồn: Báo Tin Sáng 27 5 2020 / với nhiều thư mục dẫn liệu kèm theo, có thể hé mở một phần câu trả lời cho sự tìm tòi và cảm nhận về Người Việt cổ và bản sắc văn hóa Việt Nam

Tết Việt khởi đầu 24 tiết khí lịch nhà nông là một bài học quý

8) Việt Nam con đường xanh Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp (Technological application enhances agriculture value chain).

Đó là chủ đề được Phó Giáo sư Tiến sĩ Đào Thế Anh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, giới thiệu tại diễn đàn MALICA (Markets and Agriculture Linkages for Cities in Asia Kết nối Thị trường và Nông nghiệp các thành phố châu Á) và VTV4 https://vtv.vn/video/bizline-15-3-2020-427424.htm.

Cách ứng dụng thông minh công nghệ thông tin trong nông nghiệp theo cách Việt Nam là giải pháp chìa khóa Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp. Một số hình ảnh và thí dụ tại Việt Nam con đường xanh về đầu tư hiệu quả Công nghệ trồng hoa tươi

Kỹ thuật trồng hoa cúc. Ông Bùi Văn Sỹ một nông dân ở phường 11, thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng với khoảng 10 tỷ đồng đã đầu tư lắp đặt nhà kính, hệ thống tưới nước, bón phân tiên tiến của Nhật, Israel cho 4 ha hoa.

Hệ thống hiện đại này giúp ông Sỹ giảm từ 10 xuống 1 nhân công .Chỉ với một nút bấm điều khiển hệ thống sẽ thực hiện mọi công đoạn từ tưới nước bón phân … Nhờ hệ thống này hoa của ông Sỹ không bị hỏng do mưa đá hay sâu bệnh, bông hoa tươi lâu hơn và được khách Hàn Quốc, Thái Lan ưa chuộng. Mỗi ha hoa cho doanh thu hơn 2 tỷ đồng trừ chi phí còn hơn 700 triệu đồng tiền lãi.

Kỹ thuật trồng hoa ly Ông Nguyễn Minh Trí xã Xuân Thọ thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng sáng tạo trồng hoa ly trong nhà lưới hai lớp. Lớp lưới đen phía trong di chuyển được kéo ra khi mưa, kéo che khi nắng gắt.

Ông Trí lắp đặt hệ thống ống tưới nước, tưới phân nhỏ giọt tự động sát từng gốc hoa … Đặc biệt, ông Trí không trồng hoa trên đất mà trồng trên giá thể xơ dừa xử lý bằng công nghệ nano.

Trang trại hoa ly giá thể của ông Trí được chọn là mô hình mẫu về nông nghiệp công nghệ cao, cho doanh thu gần 4 tỷ đồng một năm một ha, và đã có hàng chục chủ doanh trại học hỏi, ứng dụng cách canh tác thông minh này thành công.

* Một số Ghi chú (Notes) Việt Nam con đường xanh thông tin lúa nổi bật qua hình ảnh

9) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam điểm đến yêu thích của bạn

Học tiếng Trung Việt https://hoangkimvn.wordpress.com/

I. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là nền tảng của kinh tế

1.1 Người Việt trọng nông 
Thành ngữ Việt Nam: “dĩ nông vi bản” (lấy nghề nông làm gốc). Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là nền tảng kinh tế vì đất nước là môi trường sống, là nguồn sống, nguồn thức ăn căn bản của đời sống con người. Việt Nam là chốn tổ của nền văn minh lúa nước với các di tích khảo cổ về người tiền sử với các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn từ 7.000- 20.000 năm trước Công nguyên đã chứng tỏ sự xuất hiện của một nền nông nghiệp và chăn nuôi rất sớm. Nông nghiệp Việt Nam ngày nay đang vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống để không chỉ tạo ra lương thực thực phẩm cho con người (food) thức ăn cho các con vật (feed) mà còn làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, may mặc, sợi dệt, chất đốt, cây cảnh và sinh vật cảnh, chất hóa học, cơ giới hóa nông nghiệp,  sinh hóa học nông nghiệp. các loại phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ.

1.2 Ba di sản lớn nhất  Việt Nam
Người Việt, Tiếng Việt và Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là Ba di sản lớn nhất Việt Nam được nhà nước và nhân dân Việt Nam trọng tâm bảo tồn và phát triển. Việt Nam là đất nước của 54 dân tộc anh em với một nhóm “người nước ngoài”, trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, theo Quyết định số 421, ngày 2/3/1979 Tổng cục Thống kê. Thông tin của Viện Nghiên cứu hệ gene, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, do Giáo sư Nông Văn Hải, công bố nguồn:Báo Tin Sáng 27 5 2020 Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene ngưởi Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên” với nhiều thư mục dẫn liệu kèm theo, đã có thể hé mở một phần câu trả lời. “đỉnh cao tập trung sự đa dạng DNA ty thể (của Người Việt cổ là) vào khoảng thời gian trùng với nền Văn hóa Đông Sơn, “có một sự tập trung gene cổ vào vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 2.500-3.000 năm về trước”. Như vậy, không phải chỉ tổ tiên của người Kinh tập trung ở đồng bằng sông Hồng mà tổ tiên của các tộc người thuộc 5 nhóm ngữ hệ ngày nay đều có dấu vết tập trung dân cư đông đúc ở đây vào thời Đông Sơn. Nghĩa là nền văn hóa Đông Sơn là chung của các dân tộc này trong quá khứ. Đây là bằng chứng khoa học mới, đầu tiên trên thế giới về di truyền phân tử người cho thấy sự đa dạng di truyền liên quan đến khoảng thời gian ra đời của văn hóa Đông Sơn. Và điều này có thể đem lại một phần lời giải cho khẳng định của các nhà nghiên cứu khảo cổ học tiền sơ sử như TS Nguyễn Việt về các cư dân thời Đông Sơn và tiền Đông Sơn là một khối Bách Việt

Người Việt chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm 86,2 % dân số) sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. Người Kinh sống rải rác trên khắp lãnh thổ Việt Nam, nhưng tập trung nhiều nhất ở các đồng bằng và châu thổ các con sông. 53 dân tộc Việt Nam thiểu số còn lại sinh sống chủ yếu ở miền núi và trung du, trải dài từ Bắc vào Nam; hầu hết trong số họ sống xen kẽ nhau, điển hình là cộng đổng dân tộc thiểu số ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Các dân tộc thiểu số đông dân và có số lượng dao động trên dưới một triệu người gồm Tày, Thái, Mường, Khmer, H’Mông,  Nùng, Hoa, người Dao, Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Sán Dìu, Ra Glai,  Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên, miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Các dân tộc dân số ít nhất chỉ trên 300 người như Brâu, Ơ đu và Rơ Măm.  Các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển không đồng đều. Ở Trung du và miền núi phía Bắc, các cư dân ở vùng thấp như Mường, Thái, Tày, Nùng sinh sống chủ yếu bằng canh tác lúa nước và nương rẫy, chăn nuôi gia súc và gia cầm, có một phần hái lượm, săn bắn, có nghề thủ công khá tinh xảo. Các dân tộc thiểu số ở phía Nam sống biệt lập hơn. Các dân tộc thiểu số ởTây Nguyên phần lớn sống theo tổ chức buôn-làng, kiếm sống dựa vào thiên nhiên mang tính tự cung tự cấp. Người dân tộc Chăm, Hoa và Khmer sống ở vùng duyên hải miền Trung và Nam Bộ có trình độ phát triển cao hơn, tạo thành những cụm dân cư xen kẽ với người Kinh.  Tất cả các nhóm dân tộc đều có nền văn hóa riêng biệt và độc đáo. Tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc cũng khác biệt. Người Việt theo truyền thuyết dân tộc Kinh là con cháu của một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiên tên là Âu Cơ. Hai người này lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là “cùng bọc” (hay còn gọi là đồng bào) và “đồng bào” là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc. Về nhân chủng học, có ba luồng quan điểm về nguồn gốc của người Việt. Các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử khảo cổ học Việt Nam với dẫn liệu trống đồng và nỏ thần, các di chỉ khảo cổ tin rằng người Việt đầu tiên có gốc bản địa . Một số học giả khác thì truy nguyên nguồn gốc và cho rằng tộc Việt khởi đầu dần dần Một số học giả tin rằng người Việt đầu tiên dần dần chuyển từ quần đảo Indonesia thông qua bán đảo Mã Lai và Thái Lan cho đến khi họ định cư trên các cạnh của sông Hồng ở Đồng bằng Bắc Bộ bằng cách lần theo con đường của các công cụ đá từ cuối Thế Pleistocen (600,000-12,000 trước Công nguyên), trên Java, Malaysia, Thái Lan và phía bắc Miến Điện. Những công cụ bằng đá được cho là các công cụ con người đầu tiên được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ tin rằng vào thời điểm này Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi ở miền bắc Miến Điện và Trung Quốc, tạo ra một rào cản băng giá cô lập người dân Đông Nam Á. Một số khác cho rằng người Việt đầu tiên vốn là một bộ tộc gốc Mông Cổ ở Tây Tạng, di cư xuống phía nam từ thời đồ đá cũ. Nhóm dân tộc này định cư tại vùng Bắc Bộ, thượng nguồn sông Hồng ngày nay và tạo nên nền văn minh Đông Sơn. Nhóm bộ tộc này cũng có sự tương đồng rất lớn về nhân chủng, văn hóa với các tộc người ở phía Nam Trung Quốc, mà sử Trung Quốc còn gọi là cộng đồng Bách Việt.

Người Việt, tiếng Việt và ngữ hệ Nam Á (Hoàng Tố Nguyên và đồng sự 2018).

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính tiếng nói theo nhóm Việt-Mường của 8 nhóm Ngôn ngữ Việt gồm : Việt-Mường; Tày-Thái; Dao-Hmông; Tạng-Miến; Hán; Môn-Khmer; Mã Lai-Đa đảo: hỗn hợp Nam Á, khác). Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn bốn triệu người Việt hải ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm, một hệ chữ dựa trên chữ Hán để viết nhưng tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại) có nguồn gốc với ngôn ngữ Nam Á về mặt từ vựng kết hợp với ngôn ngữ Tày-Thái về mặt thanh điệu. Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ (do Alexandre de Rhodes sáng lập), cùng các dấu thanh để viết.  Tiếng Việt trong quá trình phát triển đã tiếp thu và đồng hoá nhiều từ Hán thành từ Hán-Việt, và tiếp thu một số lượng khá lớn các từ khoa học kỹ thuật của các ngôn ngữ Pháp, Nga, Anh từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Ngữ hệ Nam Á là một tổng hợp bao gồm khoảng 168 ngôn ngữ tại miền nam của châu Á, tập trung tại Đông Nam Á và rải rác tại Ấn Độ cùng Bangladesh. Ngôn ngữ có nhiều người dùng nhất trong hệ thống này là tiếng Việt, với trên 80 triệu người, sau đó là tiếng Khmer, với khoảng 16 triệu người. Trong các ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á  thì  tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Môn là có lịch sử được ghi chép lại lâu dài và tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam.

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là môi trường sống và nôi văn hóa Việt. Người Việt bản địa là chủ nhân của nền văn hóa thời đồ đá tại Việt Nam thời kỳ từ 7.000 đến 20.000 năm trước. Người Việt là chủ nhân của tiếng Việt và nền văn minh lúa nước, chốn tổ của nghề trồng lúa nước trên thế giới. Các dân tộc Việt khác với cộng đồng ít người hơn có nguồn gốc thiên di từ Tây Tạng, Hoa Nam,… di cư đến Việt Nam sau thời kỳ đồ đá muộn. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam bản địa gắn liền với Lịch sử Việt Nam. Người Việt tiền sử sinh sống tại đất Việt thì đã có hàng vạn năm trước công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì khoảng từ năm 2879 TCN đến nay (năm 2020) là 4899 năm (gần 5000 năm) Tại Việt Nam các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống từ nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ thời kỳ Đồ đá cũ. Trong nền văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn thời kỳ Đồ đá mới; văn hóa Phùng Nguyên ở xã Kinh Kệ huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây chừng 4.000 năm đến 3.500 năm; Văn hóa Đồng ĐậuVăn hóa Gò Mun ở thời đại đồ đồng, cách đây khoảng 3000 năm, di chỉ tại khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, người tiền sử tại vùng này đã phát triển chăn nuôi, nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước.Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Sa Huỳnh, và Văn hóa Óc Eo khoảng 1200 TCN, cách ngày nay 3218 năm, đã có sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước và đúc đồ đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật với các trống đồng. Các vũ khí, dụng cụ và trống đồng được khai quật của văn hóa Đông Sơn minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây, nhiều mỏ đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam. Ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen. Những người Việt tiền sử trên vùng đồng bằng sông Hồng đã trồng lúa, trồng trọt và đắp đê chống nước lụt đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã.Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng người Việt đã xuất hiện nhà nước đầu tiên trên miền Bắc Việt Nam ngày nay vào thời kỳ đồ sắt, vào khoảng thế kỷ VII TCN với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên mà người Việt Nam tự hào truyền miệng từ đời này qua đời khác.

1.3. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là sớm nhất, căn bản nhất, giá đỡ của kinh tế Việt
Quá trình hình thành dân tộc và nông nghiệp Việt Nam theo các tài liệu phổ biến trong thế kỷ XX thì có thể chia thành ba giai đoạn:

  1. Vào thời kỳ đồ đá giữa khoảng 20.000-10.000 năm trước, có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở tiểu lục địa Ấn Độ di cư về phía đông, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai.
  2. Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng khoảng 5.000 năm trước, chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống,  hình thành chủng Nam Á
  3. Chủng Nam Á tại khu vực bắc Việt Nam và nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống) mà cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khmer, Việt-Mường, Tày-Thái, H’Mông-Dao,… Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn, trong khi đó, vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chăm.

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là căn bản nhất, giá đỡ của kinh tế Việt Nam. Điều này hiển nhiên đến mức mà hầu như tất cả mọi người dân Việt đều hiểu, không cần phải phân tích.

II. Bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam

Nông nghiệp sinh thai Việt Nam liên quan chặt chẽ với bảy vùng sinh thái nông nghiệp (cần nên cập nhật thông tin chỉ dẫn đia lý sinh thái thường xuyên có hệ thống bằng cách bấm vào để khai thác trực tiệp theo các thông tin quan trọng này:

  1. Vùng núi và trung du phía Bắc, có tiểu vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnhLai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình., với tiểu vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ.
  2. Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 11 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc.
  3. Vùng Bắc Trung bộ: gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.
  4. Vùng Nam Trung bộ: gồm 6 tỉnh Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà.
  5. Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
  6. Vùng Đông Nam bộ: gồm 8 tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà rịa – Vũng Tàu.
  7. Vùng Tây Nam bộ: gồm 13 tỉnh Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh.

III. Đặc điểm bảy vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam

  1. Vùng núi và trung du phía Bắc có đặc điểm sinh thái chính: Núi cao nguyên và đồi thấp, Đất feralit đỏ vàng, đất phù sa cổ bạc màu; Khí hậu cận nhiệt đới, ôn đới trên núi, có mùa đông lạnh. Điều kiện kinh tế xã hội: Mật độ dân số tương đối thấp. Dân có kinh nghiệm sản xuất lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp. Ở vùng trung du có các cơ sở công nghiệp chế biến. Điều kiện giao thông tương đối thuận lợi.Ở vùng núi còn nhiều khó khăn. Trình độ thâm canh thấp; sản xuất theo kiểu quảng canh, đầu tư ít lao động và vật tư nông nghiệp. Ở vùng trung du trình độ thâm canh đang được nâng cao. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới (chè, trầu, sở, hồi..); Đậu tương, lạc, thuốc lá. Cây ăn quả, cây dược liệu; Trâu, bò lấy thịt và sữa, lợn (trung du).
  2. Vùng đồng bằng sông Hồng có đặc điểm chính về sinh thái nông nghiệp:Đồng bằng châu thổ có nhiều ô trũng; Đất phù sa sông Hồng và sông Thái Bình; Có mùa đông lạnh. Điều kiện kinh tế xã hội: Mật độ dân số cao nhất cả nước. Dân có kinh nghiệm thâm canh lúa nước. Mạng lưới đô thị dày đặc; các thành phố lớn tập trung công nghiệp chế biến. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang được đẩy mạnh. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh khá cao, đầu tư nhiều lao động; Áp dụng các giống mới, cao sản, công nghệ tiến bộ. Chuyên môn hóa sản xuất: Lúa cao sản, lúc có chất lượng cao; Cây thực phẩm, đặc biệt là các loại rau cao cấp. Cây ăn quả; Đay, cói; Lợn, bò sửa (ven thành phố lớn), gia cầm, nuôi thủy sản nước ngọt (ở các ô trũng), thủy sản nước mặn, nước lợ.
  3. Vùng Bắc Trung bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Đồng bằng hẹp, vùng đối trước núi Đất phù sa, đất feralit (có cả đất badan) Thường xảy ra thiên tai (bão, lụt), nạn cát bay, gió Lào; Điều kiện kinh tế – xã hội: Dân có kinh nghiệm trong đấu tranh chinh phục tự nhiên. Có một số đô thị vừa và nhỏ, chủ yếu ở dải ven biển. Có một số cơ sở công nghiệp chế biến. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh tương đối thấp. Nông nghiệp sử dụng nhiều lao động. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp hàng năm (lạc, mía, thuốc lá..) Cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su) Trâu, bò lấy thịt; nuôi thủy sản nước mặn, nước lợ.
  4. Vùng Nam Trung bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Đồng bằng hẹp, khá màu mỡ. Có nhiều vụng biển thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Dễ bị hạn hán về mùa khô; Điều kiện kinh tế xã hội: Có nhiều thành phố, thị xã dọc dài ven biển. Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh khá cao. Sử dụng nhiều lao động và vật tư nông nghiệp. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp hàng năm (mía, thuốc lá) Công công nghiệp lâu năm (dừa) Lúa Bò thịt, lợn Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
  5. Vùng Tây Nguyên: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các cao nguyên ba dan rộng lớn, ở các độ cao khác nhau. Khí hậu phân ra hai mùa mưa, khô rõ rệt. Thiếu nước về mùa khô. Điều kiện kinh tế xã hội: Có nhiều dân tộc ít người, còn tiến hành nông nghiệp kiểu cổ truyền. Có các nông trường Công nghiệp chế biến còn yếu Điều kiện giao thông khá thuận lợi Trình độ thâm canh: Ở khu vực nông nghiệp cổ truyền, quảng canh là chính. Ở các nông trường, các nông hộ, trình độ thâm canh đang được nâng lên Chuyên môn hóa sản xuất: Cà phê, cao su, chè, dâu tằm, hồ tiêu Bò thịt và bò sữa
  6. Vùng Đông Nam bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các vùng đất ba dan và đất xám phù sa cổ rộng lớn, khá bằng phẳng Các vùng trũng có khả năng nuôi trồng thủy sản Thiếu nước về mùa khô Điều kiện kinh tế – xã hội: Có các thành phố lớn, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tập trung nhiều cơ sở công nghiệp chế biến Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi Trình độ thâm canh cao. Sản xuất hàng hóa, sử dụng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp Chuyên môn hóa sản xuất: Các cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, điều) Cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, mía) Nuôi trồng thủy sản- Bò sữa (ven các thành phố lớn), gia cầm
  7. Vùng Tây Nam bộ: Các điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các dải phù sa ngọt, các vùng đất phèn, đất mặn Vịnh biển nông, ngư trường rộng Các vùng rừng ngập mặn có tiềm năng để nuôi trồng thủy sản.Có thị trường rộng lớn là vùng Đông Nam Bộ Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi Có mạng lưới đô thị vừa và nhỏ, có các cơ sở công nghiệp chế biến. Trình độ thâm canh cao. Sản xuất hàng hóa, sử dụng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp Chuyên môn hóa sản xuất: Lúa, lúa có chất lượng cao Cây công nghiệp ngắn ngày (mía, đay, cói) Cây ăn quả nhiệt đời Thủy sản (đặc biệt là tôm) Gia cầm (đặc biệt là vịt đàn)

Bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam trên đây là tương đồng với Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính;  Vùng núi và trung du phía Bắc là kết hợp của hai tiểu vùng : Tiểu vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình., với tiểu vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ

IV. Hiện trạng, tầm nhìn lao động nông nghiệp sinh thái Việt Nam
Lao động Nông nghiệp sinh thái Việt Nam hiện có khoảng 22 triệu người chủ yếu tập trung ở nông thôn khoảng 69 %, khu vực thành thị khoảng 31 %. Việt Nam là nước nông nghiệp sinh thái đặc thù với rất nhiều lợi thế từ các sản phẩm nhiệt đới nhưng sự biến đổi tiềm năng tiềm tàng và lợi thế so sánh đó thực sự thành hiện thực, làm động lực cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn và sản phẩm có thương hiệu và khả năng cạnh tranh là còn hạn chế và tiến trình phấn đấu gian khổ theo định hướng chiến lược quốc gia, khơi dậy nguồn lực sức mạnh tổng hợp Việt Nam con đường xanh

Hệ thống ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản Việt Nam đang đào tạo chính trong 9 nhóm ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản gồm: 1. Ngành Trồng trọt: 2. Ngành chăn nuôi:  3. Ngành Nông học: 4. Ngành Bảo vệ thực vật; 5. Ngành lâm nghiệp   6. Ngành Nông lâm kết hợp 7. Ngành Nuôi trồng thủy sản: 8. Ngành Cảnh quan và Kĩ thuật hoa viên: 9. Ngành Quản lí đất đai;

Việc chuyển đổi tầm nhìn và đầu tư sâu vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp sinh thái Việt Nam thích họp bền vững theo sự chuyển đổi tối ưu hóa theo ngành và vùng lành thổ là rất cấp thiết, quan trọng và cấp bách. Ngành Nông Lâm Ngư nghiệp nằm trong các nhóm ngành có thu nhập không cao, nhưng mỗi năm Việt Nam cả nước cần cung cấp ổn đinh trên 1 triệu lao động cho các nhóm ngành chính: Nông nghiệp 58.000 – 60.000 người/năm, Lâm nghiệp 8.000 – 10.000 người/năm, thủy lợi 7.000 – 9.000 người/năm; thủy sản 8.000 – 8.500 người/năm.

V. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam và Du lịch.
Việt Nam có ba vùng du lịch nông nghiệp sinh thái trọng điểm: Vùng du lịch Bắc bộ, Vùng du lịch Trung bộ, Vùng du lịch Nam bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Vùng du lịch Bắc bộ lấy Hà Nội làm trung tâm với trục động lực là Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long. Vùng du lịch Trung bộ lấy  Huế và Đà Nẵng làm trung tâm  và trục động lực là Quảng Bình – Quảng Trị – Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam – Quảng Ngãi . Vùng du lịch Nam bộ Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung lấy trung tâm là thành phố Hồ Chí Minh, với các trục động lực là thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Hà Tiên – Phú Quốc với TP. Hồ Chí Minh – Vũng Tàu – Phan Thiết – Nha Trang và TP. Hồ Chí Minh – Đà Lạt –  Nha Trang- Buôn Me Thuột – Kon Tum.

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook Kim on Twitter

Bạn tui góc khuất Đức Linh

BẠN TUI
Đinh Đình Chiến

Bạn tui cẩn thận trước sau
Cả đời với đất sợ đau hạt mầm
Bôn ba mọi cuộc phong trần
Bàn chân lội xuống ao bùn nhẹ tâng
Nụ cười khẽ… nữa chừng xuân
Mà nghe lấp lánh sáng bừng cả đông

BẠN TUI GÓC KHUẤT ĐỨC LINH
Hoàng Kim
họa thơ Đinh Đình Chiến

Bạn tui góc khuất Đức Linh
Lão Mai thầy giáo nhà văn tuyệt vời
Trưng Vương trò giỏi thầy ơi
Bạn thân Bọ Lập cũng người Quê Choa
Kim Em Oanh Cúc người nhà
Anh tài Viết Sự cũng là tri âm.

Thơ vui chẳng ngại gieo vần
Thảnh thơi sống giữa tình thân đậm đà

Bạn tui góc khuất Đức Linh

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam điểm đến yêu thích của bạn

Học tiếng Trung Việt https://hoangkimvn.wordpress.com/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là NLU.jpg

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Bài viết mới

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter hoangkim vietnam

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam

NÔNG NGHIỆP SINH THÁI VIỆT NAM
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

Tiếng Việt văn hóa kinh tế 学中越文 Tổng quan văn hoá và kinh tế xã hội Việt Nam 越南社会经济和文化概述 là tập tài liệu giảng dạy nghiên cứu Việt Nam Học Người Việt, Tiếng Việt, Nông nghiệp Việt Nam, văn hóa, kinh tế xã hội, du lịch sinh thái. Mục đích nhằm cung cấp kiến thức nền Việt Nam Học giúp người nước ngoài hiểu biết đất nước con người Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” (Nguyễn Trãi, 1428) với phẩm chất văn hóa thân thiện, tốt đẹp. Người Việt, tiếng Việt và nông nghiệp Việt Nam là ba di sản quý nhất của dân tộc Việt được bảo tồn và phát triển.

Người Việt gồm cộng đồng 54 dân tộc và 1 nhóm “người nước ngoài’ trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, theo Quyết định số 421, ngày 2/3/1979 Tổng cục Thống kê). Người Việt bản địa là chủ nhân của nền văn hóa thời đồ đá tại Việt Nam từ 7.000 – 20.000 năm trước, là chủ nhân của tiếng Việt và nền văn minh lúa nước, chốn tổ của nghề trồng lúa nước trên thế giới. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính tiếng nói theo nhóm Việt-Mường của 8 nhóm ngôn ngữ Việt. Nông nghiệp Việt Nam là một trong ba ngành kinh tế, chiếm tỷ trọng trong tổng GDP Việt Nam năm 2015 ước tính: Nông nghiệp (nông lâm thủy sản) 17.4%; Công nghiệp (khai thác khoáng sản, công nghiệp chế biến, công nghiệp vật liệu xây dựng, sản xuất phân phối khí, điện, nước,…) 38.8%; Dịch vụ (thương mại, tài chính, du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế) 43.7%.

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là bài giảng của tiến sĩ Hoàng Tố Nguyên, giảng viên khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trừờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, được đào tạo chuyên ngành tiếng Trung hiện đại tại Trường Đại học Sư phạm Hoa Trung (Trung Quốc), với sự hổ trợ đúc kết thông tin liên ngành của tiến sĩ Hoàng Long, giảng viên Cây Lương thực, Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và tiến sĩ nông học Hoàng Kim. Bài giảng này là tài liệu học tập cho sinh viên nước ngoài đang giao lưu ngôn ngữ văn hóa Việt Trung Anh và tìm hiểu kinh tế xã hội, nông nghiệp sinh thái, giáo dục, du lịch Việt Nam tại Trường. Đề cương bài giảng chương Nông nghiệp sinh thái Việt Nam gồm 9 nội dung tóm tắt: 1) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là nền tảng của kinh tế; 2) Bảy vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam; 3) Đặc điểm bảy vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam; 4) Hiện trạng tầm nhìn lao động nông nghiệp sinh thái Việt Nam;  5) Du lịch nông nghiệp sinh thái Việt Nam; 6) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam ngày nay; 7) Tết Việt khởi đầu 24 tiết khí lịch nhà nông; 8) Việt Nam con đường xanh Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp (Technological application enhances agriculture value chain); 9) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam điểm đến yêu thích của bạn. Thông tin được đúc kết, cập nhật, tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/nong-nghiep-sinh-thai-viet-nam/https://cnm365.wordpress.com/category/nong-nghiep-sinh-thai-viet-nam/https://hoangkimvn.wordpress.com/

I. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là nền tảng của kinh tế

1.1 Người Việt trọng nông 
Thành ngữ Việt Nam: “dĩ nông vi bản” (lấy nghề nông làm gốc). Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là nền tảng kinh tế vì đất nước là môi trường sống, là nguồn sống, nguồn thức ăn căn bản của đời sống con người. Việt Nam là chốn tổ của nền văn minh lúa nước với các di tích khảo cổ về người tiền sử với các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn từ 7.000- 20.000 năm trước Công nguyên đã chứng tỏ sự xuất hiện của một nền nông nghiệp và chăn nuôi rất sớm. Nông nghiệp Việt Nam ngày nay đang vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống để không chỉ tạo ra lương thực thực phẩm cho con người (food) thức ăn cho các con vật (feed) mà còn làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, may mặc, sợi dệt, chất đốt, cây cảnh và sinh vật cảnh, chất hóa học, cơ giới hóa nông nghiệp,  sinh hóa học nông nghiệp. các loại phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ.

1.2 Ba di sản lớn nhất  Việt Nam
Người Việt, Tiếng Việt và Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là Ba di sản lớn nhất Việt Nam được nhà nước và nhân dân Việt Nam trọng tâm bảo tồn và phát triển. Việt Nam là đất nước của 54 dân tộc anh em với một nhóm “người nước ngoài”, trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, theo Quyết định số 421, ngày 2/3/1979 Tổng cục Thống kê. Thông tin của Viện Nghiên cứu hệ gene, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, do Giáo sư Nông Văn Hải, công bố nguồn:Báo Tin Sáng 27 5 2020 Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene ngưởi Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên” với nhiều thư mục dẫn liệu kèm theo, đã có thể hé mở một phần câu trả lời. “đỉnh cao tập trung sự đa dạng DNA ty thể (của Người Việt cổ là) vào khoảng thời gian trùng với nền Văn hóa Đông Sơn, “có một sự tập trung gene cổ vào vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 2.500-3.000 năm về trước”. Như vậy, không phải chỉ tổ tiên của người Kinh tập trung ở đồng bằng sông Hồng mà tổ tiên của các tộc người thuộc 5 nhóm ngữ hệ ngày nay đều có dấu vết tập trung dân cư đông đúc ở đây vào thời Đông Sơn. Nghĩa là nền văn hóa Đông Sơn là chung của các dân tộc này trong quá khứ. Đây là bằng chứng khoa học mới, đầu tiên trên thế giới về di truyền phân tử người cho thấy sự đa dạng di truyền liên quan đến khoảng thời gian ra đời của văn hóa Đông Sơn. Và điều này có thể đem lại một phần lời giải cho khẳng định của các nhà nghiên cứu khảo cổ học tiền sơ sử như TS Nguyễn Việt về các cư dân thời Đông Sơn và tiền Đông Sơn là một khối Bách Việt

Người Việt chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm 86,2 % dân số) sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. Người Kinh sống rải rác trên khắp lãnh thổ Việt Nam, nhưng tập trung nhiều nhất ở các đồng bằng và châu thổ các con sông. 53 dân tộc Việt Nam thiểu số còn lại sinh sống chủ yếu ở miền núi và trung du, trải dài từ Bắc vào Nam; hầu hết trong số họ sống xen kẽ nhau, điển hình là cộng đổng dân tộc thiểu số ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Các dân tộc thiểu số đông dân và có số lượng dao động trên dưới một triệu người gồm Tày, Thái, Mường, Khmer, H’Mông,  Nùng, Hoa, người Dao, Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Sán Dìu, Ra Glai,  Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên, miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Các dân tộc dân số ít nhất chỉ trên 300 người như Brâu, Ơ đu và Rơ Măm.  Các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển không đồng đều. Ở Trung du và miền núi phía Bắc, các cư dân ở vùng thấp như Mường, Thái, Tày, Nùng sinh sống chủ yếu bằng canh tác lúa nước và nương rẫy, chăn nuôi gia súc và gia cầm, có một phần hái lượm, săn bắn, có nghề thủ công khá tinh xảo. Các dân tộc thiểu số ở phía Nam sống biệt lập hơn. Các dân tộc thiểu số ởTây Nguyên phần lớn sống theo tổ chức buôn-làng, kiếm sống dựa vào thiên nhiên mang tính tự cung tự cấp. Người dân tộc Chăm, Hoa và Khmer sống ở vùng duyên hải miền Trung và Nam Bộ có trình độ phát triển cao hơn, tạo thành những cụm dân cư xen kẽ với người Kinh.  Tất cả các nhóm dân tộc đều có nền văn hóa riêng biệt và độc đáo. Tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc cũng khác biệt. Người Việt theo truyền thuyết dân tộc Kinh là con cháu của một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiên tên là Âu Cơ. Hai người này lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là “cùng bọc” (hay còn gọi là đồng bào) và “đồng bào” là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc. Về nhân chủng học, có ba luồng quan điểm về nguồn gốc của người Việt. Các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử khảo cổ học Việt Nam với dẫn liệu trống đồng và nỏ thần, các di chỉ khảo cổ tin rằng người Việt đầu tiên có gốc bản địa . Một số học giả khác thì truy nguyên nguồn gốc và cho rằng tộc Việt khởi đầu dần dần Một số học giả tin rằng người Việt đầu tiên dần dần chuyển từ quần đảo Indonesia thông qua bán đảo Mã Lai và Thái Lan cho đến khi họ định cư trên các cạnh của sông Hồng ở Đồng bằng Bắc Bộ bằng cách lần theo con đường của các công cụ đá từ cuối Thế Pleistocen (600,000-12,000 trước Công nguyên), trên Java, Malaysia, Thái Lan và phía bắc Miến Điện. Những công cụ bằng đá được cho là các công cụ con người đầu tiên được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ tin rằng vào thời điểm này Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi ở miền bắc Miến Điện và Trung Quốc, tạo ra một rào cản băng giá cô lập người dân Đông Nam Á. Một số khác cho rằng người Việt đầu tiên vốn là một bộ tộc gốc Mông Cổ ở Tây Tạng, di cư xuống phía nam từ thời đồ đá cũ. Nhóm dân tộc này định cư tại vùng Bắc Bộ, thượng nguồn sông Hồng ngày nay và tạo nên nền văn minh Đông Sơn. Nhóm bộ tộc này cũng có sự tương đồng rất lớn về nhân chủng, văn hóa với các tộc người ở phía Nam Trung Quốc, mà sử Trung Quốc còn gọi là cộng đồng Bách Việt.

Người Việt, tiếng Việt và ngữ hệ Nam Á (Hoàng Tố Nguyên và đồng sự 2018).

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính tiếng nói theo nhóm Việt-Mường của 8 nhóm Ngôn ngữ Việt gồm : Việt-Mường; Tày-Thái; Dao-Hmông; Tạng-Miến; Hán; Môn-Khmer; Mã Lai-Đa đảo: hỗn hợp Nam Á, khác). Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn bốn triệu người Việt hải ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm, một hệ chữ dựa trên chữ Hán để viết nhưng tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại) có nguồn gốc với ngôn ngữ Nam Á về mặt từ vựng kết hợp với ngôn ngữ Tày-Thái về mặt thanh điệu. Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ (do Alexandre de Rhodes sáng lập), cùng các dấu thanh để viết.  Tiếng Việt trong quá trình phát triển đã tiếp thu và đồng hoá nhiều từ Hán thành từ Hán-Việt, và tiếp thu một số lượng khá lớn các từ khoa học kỹ thuật của các ngôn ngữ Pháp, Nga, Anh từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Ngữ hệ Nam Á là một tổng hợp bao gồm khoảng 168 ngôn ngữ tại miền nam của châu Á, tập trung tại Đông Nam Á và rải rác tại Ấn Độ cùng Bangladesh. Ngôn ngữ có nhiều người dùng nhất trong hệ thống này là tiếng Việt, với trên 80 triệu người, sau đó là tiếng Khmer, với khoảng 16 triệu người. Trong các ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á  thì  tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Môn là có lịch sử được ghi chép lại lâu dài và tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam.

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là môi trường sống và nôi văn hóa Việt. Người Việt bản địa là chủ nhân của nền văn hóa thời đồ đá tại Việt Nam thời kỳ từ 7.000 đến 20.000 năm trước. Người Việt là chủ nhân của tiếng Việt và nền văn minh lúa nước, chốn tổ của nghề trồng lúa nước trên thế giới. Các dân tộc Việt khác với cộng đồng ít người hơn có nguồn gốc thiên di từ Tây Tạng, Hoa Nam,… di cư đến Việt Nam sau thời kỳ đồ đá muộn. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam bản địa gắn liền với Lịch sử Việt Nam. Người Việt tiền sử sinh sống tại đất Việt thì đã có hàng vạn năm trước công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì khoảng từ năm 2879 TCN đến nay (năm 2020) là 4899 năm (gần 5000 năm) Tại Việt Nam các nhà khảo cổ đã tìm thấy các di tích chứng minh loài người đã từng sống từ nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ thời kỳ Đồ đá cũ. Trong nền văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn thời kỳ Đồ đá mới; văn hóa Phùng Nguyên ở xã Kinh Kệ huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây chừng 4.000 năm đến 3.500 năm; Văn hóa Đồng ĐậuVăn hóa Gò Mun ở thời đại đồ đồng, cách đây khoảng 3000 năm, di chỉ tại khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, người tiền sử tại vùng này đã phát triển chăn nuôi, nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước.Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Sa Huỳnh, và Văn hóa Óc Eo khoảng 1200 TCN, cách ngày nay 3218 năm, đã có sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước và đúc đồ đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật với các trống đồng. Các vũ khí, dụng cụ và trống đồng được khai quật của văn hóa Đông Sơn minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây, nhiều mỏ đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam. Ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen. Những người Việt tiền sử trên vùng đồng bằng sông Hồng đã trồng lúa, trồng trọt và đắp đê chống nước lụt đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã.Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng người Việt đã xuất hiện nhà nước đầu tiên trên miền Bắc Việt Nam ngày nay vào thời kỳ đồ sắt, vào khoảng thế kỷ VII TCN với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên mà người Việt Nam tự hào truyền miệng từ đời này qua đời khác.

1.3. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là sớm nhất, căn bản nhất, giá đỡ của kinh tế Việt
Quá trình hình thành dân tộc và nông nghiệp Việt Nam theo các tài liệu phổ biến trong thế kỷ XX thì có thể chia thành ba giai đoạn:

  1. Vào thời kỳ đồ đá giữa khoảng 20.000-10.000 năm trước, có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở tiểu lục địa Ấn Độ di cư về phía đông, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai.
  2. Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng khoảng 5.000 năm trước, chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống,  hình thành chủng Nam Á
  3. Chủng Nam Á tại khu vực bắc Việt Nam và nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống) mà cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khmer, Việt-Mường, Tày-Thái, H’Mông-Dao,… Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn, trong khi đó, vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chăm.

Nông nghiệp sinh thái Việt Nam là căn bản nhất, giá đỡ của kinh tế Việt Nam. Điều này hiển nhiên đến mức mà hầu như tất cả mọi người dân Việt đều hiểu, không cần phải phân tích.

II. Bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam

Nông nghiệp sinh thai Việt Nam liên quan chặt chẽ với bảy vùng sinh thái nông nghiệp (cần nên cập nhật thông tin chỉ dẫn đia lý sinh thái thường xuyên có hệ thống bằng cách bấm vào để khai thác trực tiệp theo các thông tin quan trọng này:

  1. Vùng núi và trung du phía Bắc, có tiểu vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnhLai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình., với tiểu vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ.
  2. Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 11 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc.
  3. Vùng Bắc Trung bộ: gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.
  4. Vùng Nam Trung bộ: gồm 6 tỉnh Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà.
  5. Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
  6. Vùng Đông Nam bộ: gồm 8 tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà rịa – Vũng Tàu.
  7. Vùng Tây Nam bộ: gồm 13 tỉnh Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh.

III. Đặc điểm bảy vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam

  1. Vùng núi và trung du phía Bắc có đặc điểm sinh thái chính: Núi cao nguyên và đồi thấp, Đất feralit đỏ vàng, đất phù sa cổ bạc màu; Khí hậu cận nhiệt đới, ôn đới trên núi, có mùa đông lạnh. Điều kiện kinh tế xã hội: Mật độ dân số tương đối thấp. Dân có kinh nghiệm sản xuất lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp. Ở vùng trung du có các cơ sở công nghiệp chế biến. Điều kiện giao thông tương đối thuận lợi.Ở vùng núi còn nhiều khó khăn. Trình độ thâm canh thấp; sản xuất theo kiểu quảng canh, đầu tư ít lao động và vật tư nông nghiệp. Ở vùng trung du trình độ thâm canh đang được nâng cao. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới (chè, trầu, sở, hồi..); Đậu tương, lạc, thuốc lá. Cây ăn quả, cây dược liệu; Trâu, bò lấy thịt và sữa, lợn (trung du).
  2. Vùng đồng bằng sông Hồng có đặc điểm chính về sinh thái nông nghiệp:Đồng bằng châu thổ có nhiều ô trũng; Đất phù sa sông Hồng và sông Thái Bình; Có mùa đông lạnh. Điều kiện kinh tế xã hội: Mật độ dân số cao nhất cả nước. Dân có kinh nghiệm thâm canh lúa nước. Mạng lưới đô thị dày đặc; các thành phố lớn tập trung công nghiệp chế biến. Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang được đẩy mạnh. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh khá cao, đầu tư nhiều lao động; Áp dụng các giống mới, cao sản, công nghệ tiến bộ. Chuyên môn hóa sản xuất: Lúa cao sản, lúc có chất lượng cao; Cây thực phẩm, đặc biệt là các loại rau cao cấp. Cây ăn quả; Đay, cói; Lợn, bò sửa (ven thành phố lớn), gia cầm, nuôi thủy sản nước ngọt (ở các ô trũng), thủy sản nước mặn, nước lợ.
  3. Vùng Bắc Trung bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Đồng bằng hẹp, vùng đối trước núi Đất phù sa, đất feralit (có cả đất badan) Thường xảy ra thiên tai (bão, lụt), nạn cát bay, gió Lào; Điều kiện kinh tế – xã hội: Dân có kinh nghiệm trong đấu tranh chinh phục tự nhiên. Có một số đô thị vừa và nhỏ, chủ yếu ở dải ven biển. Có một số cơ sở công nghiệp chế biến. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh tương đối thấp. Nông nghiệp sử dụng nhiều lao động. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp hàng năm (lạc, mía, thuốc lá..) Cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su) Trâu, bò lấy thịt; nuôi thủy sản nước mặn, nước lợ.
  4. Vùng Nam Trung bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Đồng bằng hẹp, khá màu mỡ. Có nhiều vụng biển thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Dễ bị hạn hán về mùa khô; Điều kiện kinh tế xã hội: Có nhiều thành phố, thị xã dọc dài ven biển. Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi. Trình độ thâm canh: Trình độ thâm canh khá cao. Sử dụng nhiều lao động và vật tư nông nghiệp. Chuyên môn hóa sản xuất: Cây công nghiệp hàng năm (mía, thuốc lá) Công công nghiệp lâu năm (dừa) Lúa Bò thịt, lợn Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.
  5. Vùng Tây Nguyên: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các cao nguyên ba dan rộng lớn, ở các độ cao khác nhau. Khí hậu phân ra hai mùa mưa, khô rõ rệt. Thiếu nước về mùa khô. Điều kiện kinh tế xã hội: Có nhiều dân tộc ít người, còn tiến hành nông nghiệp kiểu cổ truyền. Có các nông trường Công nghiệp chế biến còn yếu Điều kiện giao thông khá thuận lợi Trình độ thâm canh: Ở khu vực nông nghiệp cổ truyền, quảng canh là chính. Ở các nông trường, các nông hộ, trình độ thâm canh đang được nâng lên Chuyên môn hóa sản xuất: Cà phê, cao su, chè, dâu tằm, hồ tiêu Bò thịt và bò sữa
  6. Vùng Đông Nam bộ: Điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các vùng đất ba dan và đất xám phù sa cổ rộng lớn, khá bằng phẳng Các vùng trũng có khả năng nuôi trồng thủy sản Thiếu nước về mùa khô Điều kiện kinh tế – xã hội: Có các thành phố lớn, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tập trung nhiều cơ sở công nghiệp chế biến Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi Trình độ thâm canh cao. Sản xuất hàng hóa, sử dụng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp Chuyên môn hóa sản xuất: Các cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, điều) Cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, mía) Nuôi trồng thủy sản- Bò sữa (ven các thành phố lớn), gia cầm
  7. Vùng Tây Nam bộ: Các điều kiện sinh thái nông nghiệp: Các dải phù sa ngọt, các vùng đất phèn, đất mặn Vịnh biển nông, ngư trường rộng Các vùng rừng ngập mặn có tiềm năng để nuôi trồng thủy sản.Có thị trường rộng lớn là vùng Đông Nam Bộ Điều kiện giao thông vận tải thuận lợi Có mạng lưới đô thị vừa và nhỏ, có các cơ sở công nghiệp chế biến. Trình độ thâm canh cao. Sản xuất hàng hóa, sử dụng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp Chuyên môn hóa sản xuất: Lúa, lúa có chất lượng cao Cây công nghiệp ngắn ngày (mía, đay, cói) Cây ăn quả nhiệt đời Thủy sản (đặc biệt là tôm) Gia cầm (đặc biệt là vịt đàn)

Bảy vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam trên đây là tương đồng với Việt Nam vùng lãnh thổ hành chính;  Vùng núi và trung du phía Bắc là kết hợp của hai tiểu vùng : Tiểu vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình., với tiểu vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ

IV. Hiện trạng, tầm nhìn lao động nông nghiệp sinh thái Việt Nam
Lao động Nông nghiệp sinh thái Việt Nam hiện có khoảng 22 triệu người chủ yếu tập trung ở nông thôn khoảng 69 %, khu vực thành thị khoảng 31 %. Việt Nam là nước nông nghiệp sinh thái đặc thù với rất nhiều lợi thế từ các sản phẩm nhiệt đới nhưng sự biến đổi tiềm năng tiềm tàng và lợi thế so sánh đó thực sự thành hiện thực, làm động lực cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn và sản phẩm có thương hiệu và khả năng cạnh tranh là còn hạn chế và tiến trình phấn đấu gian khổ theo định hướng chiến lược quốc gia, khơi dậy nguồn lực sức mạnh tổng hợp Việt Nam con đường xanh

Hệ thống ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản Việt Nam đang đào tạo chính trong 9 nhóm ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản gồm: 1. Ngành Trồng trọt: 2. Ngành chăn nuôi:  3. Ngành Nông học: 4. Ngành Bảo vệ thực vật; 5. Ngành lâm nghiệp   6. Ngành Nông lâm kết hợp 7. Ngành Nuôi trồng thủy sản: 8. Ngành Cảnh quan và Kĩ thuật hoa viên: 9. Ngành Quản lí đất đai;

Việc chuyển đổi tầm nhìn và đầu tư sâu vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp sinh thái Việt Nam thích họp bền vững theo sự chuyển đổi tối ưu hóa theo ngành và vùng lành thổ là rất cấp thiết, quan trọng và cấp bách. Ngành Nông Lâm Ngư nghiệp nằm trong các nhóm ngành có thu nhập không cao, nhưng mỗi năm Việt Nam cả nước cần cung cấp ổn đinh trên 1 triệu lao động cho các nhóm ngành chính: Nông nghiệp 58.000 – 60.000 người/năm, Lâm nghiệp 8.000 – 10.000 người/năm, thủy lợi 7.000 – 9.000 người/năm; thủy sản 8.000 – 8.500 người/năm.

V. Nông nghiệp sinh thái Việt Nam và Du lịch.
Việt Nam có ba vùng du lịch nông nghiệp sinh thái trọng điểm: Vùng du lịch Bắc bộ, Vùng du lịch Trung bộ, Vùng du lịch Nam bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Vùng du lịch Bắc bộ lấy Hà Nội làm trung tâm với trục động lực là Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long. Vùng du lịch Trung bộ lấy  Huế và Đà Nẵng làm trung tâm  và trục động lực là Quảng Bình – Quảng Trị – Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam – Quảng Ngãi . Vùng du lịch Nam bộ Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung lấy trung tâm là thành phố Hồ Chí Minh, với các trục động lực là thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Hà Tiên – Phú Quốc với TP. Hồ Chí Minh – Vũng Tàu – Phan Thiết – Nha Trang và TP. Hồ Chí Minh – Đà Lạt –  Nha Trang- Buôn Me Thuột – Kon Tum.

VI Nông nghiệp sinh thái Việt Nam ngày nay
6.1 Nông nghiệp sinh thái Việt Nam ngày nay là lĩnh vực đặc biệt quan trọng
, tạo sự ổn định xã hội và nâng cao chất lượng sống cho người nông dân, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay, Việt Nam là nước có nhiều lợi thế, tiềm năng phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp sinh thái đặc thù nhiều tiềm năng và trở thành một nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.

Hàng nông sản chủ lực Việt Nam gồm  gạo, chè, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, rau quả, thủy sản (như cá tra, cá ba sa, cá ngừ, tôm, mực…)  là những mặt hàng có lợi thế, nhiều tiềm năng xuất khẩu sang thị trường các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Singapore, các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), thị trường châu Âu và châu Mỹ…

Năm 2017, thủy sản Việt Nam là ngành có giá trị xuất khẩu cao nhất, đạt 8,3 tỷ USD, tiếp đến là hạt điều với 3,516 tỷ USD, rau quả đạt 3,502 tỷ USD, cà phê với 3,24 tỷ USD, gạo đạt 2,6 tỷ USD, hạt tiêu đạt 1,1 tỷ USD, sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 1,03 tỷ USD…

6.2. Doanh nghiệp nông nghiệp có tỷ lệ rất thấp 8% chủ yếu nhỏ và siêu nhỏ  92,35%
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến quý II/ 2018,  các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp sinh thái Việt Nam ước tính cả nước có khoảng hơn 49.600 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chiếm khoảng 8% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, chủ yếu ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chiếm 92,35%, tiếp đến là doanh nghiệp có quy mô lớn với 5,59% và doanh nghiệp có quy mô vừa với 2,06%. Đầu tư vào nông nghiệp sinh thái đã tạo ra hơn 4,5 triệu việc làm, chiếm 32,5% lao động của toàn bộ doanh nghiệp.

Đặc thù của các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp có đặc thù là phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên như thiên tai, rủi ro dịch bệnh dẫn đến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chịu rất nhiều rủi ro so với các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn phản ánh gặp khó khăn ở một số vấn đề chính như: quỹ đất nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp; ngành công nghiệp cơ khí hỗ trợ cho nông nghiệp ở Việt Nam còn hạn chế. Nhiều thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong nông nghiệp còn bất hợp lý. Hiệu quả của hầu hết các loại hình tổ chức sản xuất, các ngành, các lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung chưa cao. Ứng dụng khoa học và công nghệ, liên kết chuỗi giá trị sản xuất trong nông nghiệp còn rất hạn chế, mới chỉ ở bước đầu phát triển…

6.3. Tầm nhìn đột phá đầu tư, cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ Việt Nam  thể chế hóa tầm nhìn chuyển đổi tái cơ cấu nông nghiệp sau 30 năm đổi mới , cụ thể hóa Nghị định 61/2010/NĐ-CP chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Những chủ trương lớn mới đây trong tầm nhìn của chính phủ Việt Nam theo Cổng thông tin Chính phủ VCP News

“Trục sản phẩm chủ lực

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, Bộ NNPTNT đề xuất một số định hướng giải pháp ưu tiên thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thời gian tới như sau:

Thứ nhất, thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới. trong đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT xác định các ưu tiên phát triển ngành theo ba trục sản phẩm chính, bao gồm:

Các sản phẩm chủ lực quốc gia (các sản phẩm có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD/ năm: lúa gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sắn, rau quả, tôm, cá tra, gỗ và sản phẩm từ gỗ; các ngành hàng có quy mô thị trường nội địa lớn như thịt lợn, thịt gia cầm).

Ưu tiên thu hút đầu tư của doanh nghiệp quy mô lớn, đóng vai trò hạt nhân, dẫn dắt, phát triển chuỗi giá trị đồng bộ. Tập trung thu hút đầu tư vào các cụm liên kết ngành cấp vùng, gắn với các vùng chuyên canh lớn của các doanh nghiệp, kết nối giữa khu hạt nhân của cụm (gồm trung tâm nghiên cứu khoa học công nghiệp, tài chính, thương mại, logistic) và các vệ tinh gồm các khu/cụm công nghiệp dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cấp tỉnh.

Các vùng ưu tiên thu hút đầu tư cho các sản phẩm chiến lược này là: lúa gạo ở vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đồng bằng sông Cửu Long; cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều ở vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ; chè ở vùng Trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên; cây ăn quả ở Trung du miền núi Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền trung, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long); cá da trơn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tôm và hải sản ở vùng Duyên hải Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long; gỗ ở miền núi phía Bắc, vùng Duyên hải Trung Bộ và Tây Nguyên.

Chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực cấp tỉnh (như các sản phẩm đủ lớn có tổng giá trị xuất khẩu từ 500 triệu USD/năm). Ưu tiên thu hút doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sản phẩm có lợi thế của địa phương, tập trung thu hút vào các cụm liên kết ngành cấp tỉnh, gắn với vùng nguyên liệu của doanh nghiệp, kết nối giữa khu hạt nhân của cụm (khu/vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các tỉnh) và các khu/cụm công nghiệp – dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cấp tỉnh.

Chuỗi giá trị đặc sản địa phương (chuỗi giá trị sản phẩm đặc thù vùng miền) có quy mô nhỏ, gắn với chỉ dẫn địa lý cụ thể, được xây dựng và phát triển cùng với xây dựng nông thôn mới theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”. Ưu tiên thu hút đầu tư của doanh nghiệp quy mô cực nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp, các hợp tác xã, hộ sản xuất kinh doanh đối với các mặt hàng đặc sản của địa phương theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm” (one commune one product – OCOP), gắn với các tiểu vùng có sản phẩm đặc sản vùng miền.

Vùng sản xuất tập trung

Thứ hai, ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng vào các nhóm lĩnh vực, ngành nghề sau:

Đầu tư, phát triển vùng sản xuất tập trung trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.

Sản xuất, phát triển giống cây trồng, vật nuôi, giống cây lâm nghiệp, giống thủy sản. Sản xuất đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi và thủy sản, chế phẩm sinh học, thuốc thú y chăn nuôi và thủy sản.

Ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa và các công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi, thủy sản.

Đầu tư vào lĩnh vực chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản, dược liệu, tinh chế muối; sản xuất máy, thiết bị, chất phụ gia, phụ trợ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, máy chế biến thực phẩm; công nghệ giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm, tập trung, công nghiệp; sản xuất hàng thủ công; sản phẩm văn hóa, dân tộc truyền thống.

Thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, nước thải sinh hoạt tại nông thôn; thu gom xử lý chất thải làng nghề; đầu tư hệ thống cấp nước sạch, thoát nước, công trình thủy lợi và hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.

Doanh nghiệp dẫn dắt các chuỗi giá trị

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách hành chính để thu hút mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Trong thời gian tới, doanh nghiệp nông nghiệp được coi là lực lượng dẫn dắt các chuỗi giá trị nông nghiệp và tạo hiệu ứng lan tỏa cho phát triển kinh tế – xã hội.

Để có thể thu hút và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm các điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh trong nông nghiệp, thực hiện tốt các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp theo các Nghị định: số 52/2018/NĐ-CP, số 57/2018/NĐ-CP, số 58/2018/NĐ-CP, số 98/2018/NĐ-CP.

Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận có thời hạn lâu dài với đất đai, phù hợp vớicác quyền sử dụng hợp pháp của nhà đầu tư; tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án; xây dựng cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn các nhà đầu tham gia xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn theo nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

Thực hiện Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp cũng sẽ khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân sản xuất trong ngành nông lâm thủy sản chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại về tài chính do các rủi ro xảy ra trong quá trình sản xuất. Các cá nhân, doanh nghiệp tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.

Bên cạnh đó, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện các chính sách nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật nông nghiệp, giúp giảm chi phí đào tạo ban đầu cho các nhà đầu tư, đặc biệt cho các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư./.”

7) Tết Việt khởi đầu 24 tiết khí lịch nhà nông

Sự nghiên cứu Tết Nguyên Đán Việt Trung tương đồng và khác biệt của tác giả Trần Vũ Đồng và Hoàng Tố Nguyên 2020 cho thấy:

(* Tác giả Trần Vũ Đồng 陈雨桐 là học viên chuyên ngành song ngữ Anh Việt và tiến sĩ Hoàng Tố Nguyên là giảng viên khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh).

Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất của Việt Nam và Trung Quốc. Việc so sánh nguồn gốc phong tục đặc điểm giống và khác nhau giữa Tết Nguyên Đán của hai nước và tìm hiểu tư tưởng, quan niệm tín ngưỡng giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về nền văn hóa, lịch sử của hai dân tộc, thúc đẩy mối quan hệ giao lưu thân thiện giữa hai quốc gia. Tết Nguyên Đán Việt Trung bất luận là tên gọi, thời gian, nguồn gốc hay phong tục đều có nhiều điểm giống nhau, nhưng không gian văn hóa và theo thời gian, mỗi nước đều tự tạo ra cho mình những nét đặc sắc riêng.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng trong cùng một không gian văn hóa Tết cổ truyền của Trung Quốc Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản Sự giao thoa Tết văn hóa và văn hóa Tết Việt Nam và Trung Hoa là gần gũi ‘đồng văn” tới mức trước đây và thậm chí gần đây, giới Đông phương học phương Tây thường xếp Việt Nam vào “Thế giới văn minh Trung Hoa” hay “Thế giới Hoa hóa” (như M.Gernet Le monde chinois, Paris, 1980, L. Vandermeersch Le monde Sinise PUF, Paris, 1986). Đối với Đông Nam Á, một khái niệm mới xuất hiện ở cuối thế chiến II, thì người ta xếp Việt Nam vào “các quốc gia Ấn hóa hay Hindou hóa” để đối sánh Việt Nam với các quốc gia Đông Nam Á khác. Người ta mệnh danh Việt Nam là bộ phận tiền đồn của văn minh Trung Hoa chọc xuống vùng Đông Nam Á.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc khác biệt năm điểm chính:

1) Lịch sử văn hóa Trung Quốc thuộc nền văn minh Trung Hoa Context Đông Á (Đàm Gia Kiện chủ biên 1993). Bản sắc lịch sử văn hóa Việt Nam thuộc nền văn minh lúa nước Hòa Bình Context Động Nam Á Nước Việt, Dân Việt trên diễn trình lịch sử lâu dài tuy nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa chính trị Trung Hoa Đông Á nhưng vẫn luôn luôn duy trì nền tảng văn hóa môi cảnh địa nhân văn Đông Nam Á của chính mình (Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và cảm nhận, Nhà Xuất bản Văn hóa Hà Nội, năm 2003);

2) Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của người Việt. Tết nguyên nghĩa là “tiết”. Văn hóa Việt thuộc văn minh Nông nghiệp lúa nước, do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau, và ứng với mỗi tiết khí này lại có một thời khắc “giao thời”. Tết Nguyên Đán nghĩa là “Tết đầu năm mới”. Chữ Tết là âm “đọc trạch” theo lối dân gian của chữ “Tiết” Hán Việt. Tiết âm Hán Việt có nghĩa là Đoạn, Khúc, Đốt. Trên dòng thời gian liên tục của một năm theo lịch cổ truyền thì Tết Nguyên Đán nương theo Tiết Lập Xuân. Tiết Nguyên Đán là Tiết Lập Xuân của người Việt trong lịch cổ Việt Thường la bàn (hướng chính Đông).

3) Nguồn của Tết Nguyên Đán thuộc không gian văn hóa Hòa Bình và nền văn hóa Đông Sơn Trống đồng.là chốn tổ nền văn minh lúa nước. Tết Nguyên Đán là một lễ hội mùa nông nghiệp. Các chuyên khảo của giáo sư Trần Quốc Vượng 2003 đã cũng cố luận điểm này “Lịch ta và nền văn hóa lúa nước cổ truyền (trang 324-331), Con trâu và nền văn hóa Việt Nam (trang 332-337) “Biểu tượng Ngưa và năm con ngựa 338-341) “Năm Giáp Tuất kể chuyện lịch ta và chú cẩu” (trang 342-347); Nhân xuân Ất Hợi 1995 chuyện vãn về con lợn trong văn hóa Việt Nam (trang 348-352).

4) Diễn trình lịch sử văn hóa Việt Nam thể hiện phong tục là khác nhau “Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc Nam cũng khác” , “trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ” đó là tác phẩm Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn thảo vào mùa xuân năm 1428. Theo Lịch sử Việt Nam diễn trình từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ năm 2879 TCN. Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa qua thông tin các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thời đại đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ. Vào thời kỳ đồ đá mới, nền văn hóa Hòa Bình Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước. Di chỉ khảo cổ tại Trống Đồng Ngọc Lũ Đông Sơn, và nhiều minh chứng khác.

5) “Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene ngưởi Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên” thông tin của Giáo sư Nông Văn Hải Viện Nghiên cứu hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) tại Nguồn: Báo Tin Sáng 27 5 2020 / với nhiều thư mục dẫn liệu kèm theo, có thể hé mở một phần câu trả lời cho sự tìm tòi và cảm nhận về Người Việt cổ và bản sắc văn hóa Việt Nam

Tết Việt khởi đầu 24 tiết khí lịch nhà nông là một bài học quý

8) Việt Nam con đường xanh Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp (Technological application enhances agriculture value chain).

Đó là chủ đề được Phó Giáo sư Tiến sĩ Đào Thế Anh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, giới thiệu tại diễn đàn MALICA (Markets and Agriculture Linkages for Cities in Asia Kết nối Thị trường và Nông nghiệp các thành phố châu Á) và VTV4 https://vtv.vn/video/bizline-15-3-2020-427424.htm.

Cách ứng dụng thông minh công nghệ thông tin trong nông nghiệp theo cách Việt Nam là giải pháp chìa khóa Ứng dụng công nghệ nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp. Một số hình ảnh và thí dụ tại Việt Nam con đường xanh về đầu tư hiệu quả Công nghệ trồng hoa tươi

Kỹ thuật trồng hoa cúc. Ông Bùi Văn Sỹ một nông dân ở phường 11, thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng với khoảng 10 tỷ đồng đã đầu tư lắp đặt nhà kính, hệ thống tưới nước, bón phân tiên tiến của Nhật, Israel cho 4 ha hoa.

Hệ thống hiện đại này giúp ông Sỹ giảm từ 10 xuống 1 nhân công .Chỉ với một nút bấm điều khiển hệ thống sẽ thực hiện mọi công đoạn từ tưới nước bón phân … Nhờ hệ thống này hoa của ông Sỹ không bị hỏng do mưa đá hay sâu bệnh, bông hoa tươi lâu hơn và được khách Hàn Quốc, Thái Lan ưa chuộng. Mỗi ha hoa cho doanh thu hơn 2 tỷ đồng trừ chi phí còn hơn 700 triệu đồng tiền lãi.

Kỹ thuật trồng hoa ly Ông Nguyễn Minh Trí xã Xuân Thọ thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng sáng tạo trồng hoa ly trong nhà lưới hai lớp. Lớp lưới đen phía trong di chuyển được kéo ra khi mưa, kéo che khi nắng gắt.

Ông Trí lắp đặt hệ thống ống tưới nước, tưới phân nhỏ giọt tự động sát từng gốc hoa … Đặc biệt, ông Trí không trồng hoa trên đất mà trồng trên giá thể xơ dừa xử lý bằng công nghệ nano.

Trang trại hoa ly giá thể của ông Trí được chọn là mô hình mẫu về nông nghiệp công nghệ cao, cho doanh thu gần 4 tỷ đồng một năm một ha, và đã có hàng chục chủ doanh trại học hỏi, ứng dụng cách canh tác thông minh này thành công.

* Một số Ghi chú (Notes) Việt Nam con đường xanh thông tin lúa nổi bật qua hình ảnh

9) Nông nghiệp sinh thái Việt Nam điểm đến yêu thích của bạn

Học tiếng Trung Việt https://hoangkimvn.wordpress.com/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter hoangkim vietnam

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

‘Thanh nhàn vô sự là tiên’ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết vậy trong dòng đầu của Sấm Ký. Norman Borlaug lời Thầy dặn thật thấm thía:“Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; Thầy bạn trong đời tôi là một điểm nhấn cần đọc lại và suy ngẫm. Hoàng Kim thật tâm đắc khi tự đáy lòng viết lên những lời: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân Hãy biết nhục biết hèn mà rèn chí Thắp đèn lên đi em ngọn đèn dầu bền bỉ Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”. Bạn tốt khó tìm, khó bỏ lại, và không thể quên lãng. (Good friends are hard to find, harder to leave, and impossible to forget.) Hoàng Kim cám ơn Mai Thành Phụng, Nguyễn Đức Thuận và các bạn … THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI là thông tin và một số hình ảnh chọn lọc lưu lại để dạy và học Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Congviecnaytraolaichoem

MỘT NIỀM TIN THẮP LỬA
Hoàng Kim

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này giao lại cho em.

Có một mùa xuân hạnh phúc
Ơn mẹ cha lam lũ sớm hôm
Thương con vạc gọi sao mai dậy sớm
Một niềm tin thắp lửa giữa tâm hồn.

Bước tiếp bước giữa trường đời gian khó
Học làm người lao động siêng năng
Rèn nhân cách vượt lên bao cám dỗ
Đức và Tài tử tế giữa Nhân Dân.

HuynhHuong Vo Minh Luan
Congviecnaytraolaichoem
Congviecnaytraolaichoem1
Congviecnaytraolaichoem4
GiadinhNN
IAS 20 11 2015aa
IAS 20 11 2015a
IAS 20 11 2015aaa

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

CHÀO NGÀY MỚI 27 THÁNG 5
Hoàng Kim


CNM365 Phan Huy Chú thầy bách khoa thư. Truyện Pie Đại đế; .Thầy bạn trong đời tôi;  Một niềm tin thắp lửa; Học không bao giờ muộn; Ngày 27 tháng 5 năm 1703, Sa hoàng Pie Đại Đế Pyotr I của Nga cho thành lập thành phố Sankt-Peterburg thủ đô phương Bắc cố đô của Đế quốc Nga là thành phố lớn thứ hai ở Nga trên lãnh thổ mới chiếm được từ Thụy Điển. Sankt-Peterburg nằm trên một loạt đảo nhỏ trong châu thổ sông Neva; con sông này thông với Vịnh Phần Lan, tạo vị thế hải cảng cho Sankt-Peterburg. Ngày 27 tháng 5 năm 1964 ngày mất của Jawaharlal Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ (sinh năm 1889).Jawaharlal Nehru là một trong những nhân vật trung tâm của chính trị Ấn Độ trong phần lớn thế kỷ 20, là lãnh đạo tối cao của phong trào độc lập Ấn Độ dưới sự giám hộ của Mahatma Gandhi. Ông đã điều hành Ấn Độ từ khi thành lập quốc gia độc lập vào năm 1947 cho đến khi ông qua đời năm 1964. Nehru là chính trị gia, kiến trúc sư của nhà nước hiện đại Ấn Độ, vừa là nhà văn, là sử gia không chuyên, tộc trưởng của gia tộc Nehru-Gandhi là dòng họ chính trị nổi tiếng nhất ở Ấn Độ. Con gái ông, Indira Gandhi cũng là một thủ tướng Ấn Độ. Ngày 27 tháng 5 năm 1994, bắt đầu vận hành Đường dây 500 kV Bắc – Nam tại Việt Nam, góp phần chấm dứt tình trạng thiếu điện trầm trọng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Bài chọn lọc ngày 27 tháng 5: Phan Huy Chú thầy bách khoa thư. Truyện Pie Đại đế; .Thầy bạn trong đời tôi;  Một niềm tin thắp lửa; Học không bao giờ muộn; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-27-thang-5/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

BẠN TUI GÓC KHUẤT ĐỨC LINH https://hoangkimlong.wordpress.com/category/gap-ban-o-que-nha/
Nguyên Hùng thơ tịt mất à?
Like mà không nói Chi là Lão Hâm?
Gặp bạn ở quê nhà https://hoangkimlong.wordpress.com/category/gap-ban-o-que-nha/
Chúc mừng anh Phạm Xuân Tùng sinh nhật 29 tháng 5 anh Vũ Đình Hòa, vợ chồng anh chị Peter vui khỏe hạnh phúc. Thầy bạn trong đời tôi. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày
 
Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Học không bao giờ muộn

HỌC KHÔNG BAO GIỜ MUỘN
Hoàng Kim

Tình yêu, giáo dục, văn hóa, khoa học cây trồng và du lịch Việt là sự nghiệp trồng người, cần tự nguyện lặng lẽ dấn thân dạy và học suốt đời. Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. Cảm ơn cậu Hoàng Gia Cương, chị Phương Thảo, anh Chiêm Lưu Huy với những bài viết hay, xin được chia sẻ cho chuyên mục “Học không bao giờ muộn” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoc-khong-bao-gio-muon/

CẬU TÔI
Hoàng Gia Cương

FB HGC 27 5 2020
Nhớ về người CẬU (em ruột mẹ tôi) thân yêu, tôi đưa lên bài tôi đã viết về cậu:

Tôi cũng không còn nhớ được là tôi biết mặt cậu tôi từ lúc nào. Khi mẹ tôi sinh tôi thì cậu còn “lang bạt kỳ hồ” tận đẩu tận đâu không ai biết được. Cách mạng Tháng 8, cậu tôi về tham gia lãnh đạo cướp chính quyền ở địa phương (Quảng Trạch, Quảng Bình) rồi lại đi đây đi đó tận đâu đâu trước khi định cư tại Kỳ Anh (Hà Tĩnh), tôi cũng không biết rõ. Tôi từng đi tản cư ra Nghệ An khi mới lên 5, về quê thì không có cậu, ngay sau hoà bình lập lại thì tôi ra Hà Nội cho tới tận bây giờ. Tôi chỉ đoán chừng là tôi gặp cậu lần đầu lúc tôi đã lên 3, vì khi cách mạng tháng 8 thành công tôi đã tròn 3 tuổi. Tính ra khoảng thời gian mà tôi có dịp gặp và gần cậu cho tới tận năm cậu 93 tuổi, lúc cậu đi vào cõi vĩnh hằng, cộng lại chỉ được độ một tháng là cùng. Vậy mà tôi lại rất thân thiết và yêu quí cậu, yêu quý cậu gần như yêu quý mẹ tôi.

Năm thì mười hoạ có dịp qua Kỳ Anh tôi mới gặp cậu trong chốc lát. Đôi khi cậu cũng có dịp ra Hà Nội nhưng do tôi đi học, đi bộ đội hay đi công tác liên miên nên cũng ít khi gặp. Thế nhưng tôi lại hay gặp cậu qua thư từ. Cậu có nhiều cháu nhưng được cái là tôi rất hợp với cậu ở chỗ thích thơ, biết làm thơ, đặc biệt là thơ Đường luật nên cậu rất quý tôi. Hồi cha tôi ở Quảng Bình và cả khi đã ra Hà Nội, cha tôi thường tham gia hội hè, giao lưu với các cụ nhà nho, suốt ngày ngồi xướng hoạ. Hễ có bài thơ hay của mình hoặc của các bạn thơ, cha tôi lại gửi ngay cho cậu để cậu hoạ. Ở Hà Tĩnh, cậu cũng có một hội xướng hoạ thơ như thế. Vậy là hai bên liên tục thư đi thư lại với hàng loạt bài thơ nóng hổi, từ thơ vịnh cảnh, vịnh tình, cho tới thơ cổ động, tuyên truyền và thơ châm biếm, thơ đả kích giặc Mỹ xâm lược. Nhiều bài thơ của các cụ sau khi xướng hoạ và phẩm bình đã được đăng tải trên nhiều tờ báo như Cứu Quốc, Độc Lập, Thống Nhất… Từ nhỏ cha tôi đã tập cho tôi làm thơ Đường luật và cha tôi đã không ngờ là tôi nhanh chóng trở thành một bạn thơ của các cụ. Tôi cũng cùng tham gia xướng họa với các cụ ngay từ thời còn ngồi ghế trường phổ thông. Vì thế tôi gần như là một “hội viên nhóc con” của cả mấy hội xướng hoạ gồm toàn bậc cao niên ấy. Hồi tôi mới vào bộ đội, đang đóng quân ở sân bay Cát Bi, cha tôi có gửi cho tôi một bài thơ nói về gia đình mình với 7 người con, toàn trai, trong đó có đầy đủ tên con cháu nhưng đều nói lên truyền thống gia đình và hàm ý khích lệ, động viên con cháu:

Tài ba lừng lẫy ngoài ba xứ
Danh tiếng vang truyền khắp bốn phương

Tôi đã có một bài thơ hoạ lại, được cha tôi chuyển cho tất cả các cụ xem. Chừng hơn tháng sau tôi nhận được thư cậu tôi gửi từ Kỳ Anh, trong đó có 2 câu mà tôi nhớ mãi:

Cương cháu làm thơ giỏi thế a
Lời tuy gần gũi, ý cao xa…

Xin bạn đọc lượng thứ cho, viết lại 2 câu thơ này không phải tôi có ý “mèo khen mèo dài đuôi” đâu mà chỉ là để chứng minh rằng cậu tôi rất quý tôi, vậy thôi. Chính vì sự yêu quý này mà có lần cậu tôi đã kể cho tôi nghe về một khúc ngoặt quyết định trong cuộc đời cậu, cũng nhờ một bài thơ! Trước hết, cũng xin được nói rõ một chút về cậu tôi: Cậu tôi là NGUYỄN ĐÌNH NGÔ, một cán bộ lão thành cách mạng, nay đã mất. Cậu là cha của liệt sĩ NGUYỄN HOÀNG LƯU, người đã từng phát minh ra chiếc thước tính Lô ga rít hình tròn, làm nên một cuộc cải tiến kỹ thuật lớn trong Binh chủng Pháo Binh, người được mệnh danh là “nhà khoa học không bằng cấp” từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước.

Chuyện cậu tôi kể là như thế này:

“… Đầu những năm 30 của thế kỷ trước, do vừa biết chữ quốc ngữ lại vừa biết chữ nho nên cậu được chọn làm thơ lại (thư ký) cho Tuần vũ tỉnh Quảng Bình là Tôn Thất Chữ. Thời gian này là lúc thực dân Pháp đang ra sức đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Chúng ráo riết truy lùng, bắt bớ, giam cầm và tra tấn dã man những người Cộng sản. Các nhà lao ở Vinh, Hà Tĩnh và ở Huế đều chật ních tù chính trị, vì vậy chúng đã chuyển một số tù nhân về giam ở nhà lao Đồng Hới.

Cậu còn nhớ, khoảng đầu năm 1933, cậu phải theo tuần vũ Tôn Thất Chữ đi thị sát nhà lao Đồng Hới. Khi đến khu biệt giam kín mít, Tôn Thất Chữ dừng lại trước hầm giam của một nữ tù Cộng sản. Đó là chị Võ Thị Ngọ, mới chưa tròn 20 tuổi. Chị Ngọ đã tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và bị bắt ngoài Hà Tĩnh rồi được chuyển vào đây. Trong một lần đấu tranh quyết liệt chống hành động dã man vô nhân đạo của bọn cai ngục, chị Võ Thị Ngọ đã dũng cảm dùng thanh củi đánh lại tên cai ngục Phô-cô-ni nên bị chúng tống vào khu hầm kín biệt giam này. Quen thói trăng hoa, thấy chị Ngọ trẻ trung xinh đẹp, Tôn Thất Chữ buông lời bỡn cợt, trêu ghẹo. Chị Ngọ khinh bỉ nhìn tên tuần vũ. Biết không tán tỉnh được, Tôn Thất Chữ nói:

-Con gái trẻ trung xinh đẹp thế mà sao không chịu ở nhà lấy chồng, sinh con cho sung sướng lại nghe theo lời xúi giục của bọn cộng sản, thích đi làm giặc để phải tù phải tội cho khổ thân?
Chị Ngọ không thèm trả lời tên tuần vũ. Trước cái nhìn khinh bỉ và căm hờn của chị Ngọ, viên tuần vũ đành lặng lẽ bỏ đi. Sự việc xẩy ra rất nhanh nhưng nó đã như một tia chớp loé lên trong đầu cậu. Trước đây cậu chưa biết thế nào là người cộng sản, nghĩ là họ cũng chỉ như các đoàn thảo khấu, mọi rợ và ngu đần. Không ngờ một người con gái cộng sản mà có khí phách kiên cường như thế. Viên tuần vũ đi rồi mà cậu còn nấn ná dừng lại để nhìn người tù cho rõ mặt. Bỗng nhiên chị Ngọ chìa ra cho cậu một mảnh giấy, nhờ chuyển tận tay cho viên tuần vũ. Cậu không ngần ngại, nhận lời. Tranh thủ lúc đi một mình cậu đã đọc vội tờ giấy với nét chữ tuy viết bằng bút chì nhưng rất rõ ràng sắc sảo. Đó là một bài thơ! Phải khẳng định ngay rằng đây là một bài thơ Đường luật làm rất chuẩn về niêm luật, và đặc biệt là về ý tứ. Có lẽ vì bài thơ quá hay mà cậu đã thuộc lòng ngay từ khi ấy và cho tới tận ngày nay. Bài thơ của chị Ngọ như sau:

Nước mất nhà tan nợ gánh chung
Có ta, ta phải gánh vai cùng.
Liễu bồ cùng đứng trong trời đất
Vàng đá xin thề với núi sông!
Tay yếu, chân mềm tuy phận gái
Gan bền, chí vững ấy đàn ông.
Chưa đền nợ nước, duyên gì nữa?
Gươm nọ là con, súng ấy chồng!

Về đến dinh tuần vũ, lựa lúc Tôn Thất Chữ vui vẻ cậu trao bài thơ cho ông ta. Viên tuần vũ chăm chú đọc, nét mặt đầy kinh ngạc và tỏ ra rất khâm phục. Từ hôm ấy cậu thấy ông ta có ít nhiều thay đổi trong cách cư xử với tù chính trị. Phải chăng ông ta tự thẹn với lương tâm? Điều đó cậu không chắc lắm. Còn cậu, từ hôm ấy trong đầu óc cậu bài thơ cứ được đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần. Cậu cũng thấy tự thẹn với bản thân mình. Người ta là phận gái mà như thế, đằng này mình sức dài vai rộng lại cũng có ít chữ nghĩa mà cam tâm làm tay sai cho bọn thực dân và lũ tay chân gian ác sao?

Sau vài đêm suy nghĩ, cậu quyết định xin “treo ấn từ quan”. Về nhà, cậu đã xé bỏ sắc phong “cửu phẩm” của chính phủ bù nhìn Nam triều và bắt đầu một cuộc đời “mai danh ẩn tích” đi làm cách mạng. Cho đến nay cậu vẫn chưa có dịp gặp lại người nữ tù cộng sản ấy, chỉ nghe người ta nói là chị Ngọ đã dũng cảm và kiên cường vượt qua tất cả, không chỉ thời gian ấy mà cả nhiều lúc sóng gió sau này”…

Bài thơ của người nữ tù Cộng sản Võ Thị Ngọ đã làm thay đổi cuộc đời cậu tôi, đã đánh dấu một khúc ngoặt vô cùng quan trọng và có tính quyết định trong cuộc đời cậu tôi! Kể từ ngày ấy, cậu tôi đã tìm cách bắt mối với cách mạng và bắt đầu cuộc đời hoạt động bí mật. Để có vỏ bọc, cậu đã học nghề làm thầy địa lý, chuyên đi xem mạch đất cho người ta làm nhà, an táng, cải táng… Bước chân của cậu đã đi khắp các vùng nông thôn, miền núi Quảng Bình, Hà Tĩnh. Khi cách mạng tháng tám bùng nổ, cậu là một trong những người lãnh đạo cướp chính quyền ở huyện.

8/2003
HGC

Ảnh: Con sông quê tôi. — cùng với Trương Minh Dục, Nicolas Hoàng, Hoàng Hữu Đức16 người khác.

NẾU SAU NÀY CÓ THÀNH MẸ CHỒNG
Phương Thảo FB 27 5 2020

1. Chị đừng nói xấu con dâu trước mặt con trai, bởi vì chị làm như vậy chỉ khiến chúng nó cãi nhau. Cãi nhau mãi cuối cùng không chịu đựng được thì li hôn. Đến lúc đó chị vừa có lỗi với con trai, vừa có lỗi với cháu nội, chị có nhẫn tâm không?

2.Việc chăm con(cháu nội mình) cứ để con dâu lo, là mẹ ai cũng lo cho con chị đừng bắt con dâu làm theo ý mình, chị có tâm thì chỉ hỗ trợ, san sẻ, còn đừng xen quá sâu vào việc chăm con của con dâu (ví dụ như phải uống cái này cái kia) tuyệt đối không nên.

3. Khi con dâu ở cữ , phải chăm con, chị có thể không giúp vì chị cho rằng đó không phải nghĩa vụ của chị, nhưng chị phải nhớ, đến khi chị bệnh tật, chị cũng đừng bảo con dâu phải chăm chị, nó không có nghĩa vụ đó đâu. Vậy nên chị ạ, hãy đối xử tốt với con dâu vì khi chị trăm tuổi người chăm sóc chị là con dâu chứ ai?

4. Chị đừng thấy bực dọc khi con trai giúp con dâu làm việc nhà, vì gia đình là tổ ấm của hai người, vợ chồng đều phải có trách nhiệm gánh vác trọng trách này.

5. Chị đừng bao giờ suốt ngày ca tụng con dâu nhà người khác giỏi giang,nào là thức khuya dậy sớm,chăm chỉ,thế này thế kia, ở trong chăn mới biết chăn có rận, chị làm sao biết được chuyện nhà người ta thế nào. Và quan trọng hơn, muốn có một người con dâu tốt cần phải trở thành người mẹ chồng tốt trước đã.

6. Chị đừng cho rằng chị sinh và nuôi lớn con trai chị thì con dâu nợ chị một đời. Chị ạ, chị muốn con dâu hiếu thuận, quan tâm yêu quý chị thì chị cũng phải đối xử tốt với con dâu. Chị phải dùng hành động để cảm hóa trái tim người khác chứ không thể yêu cầu và bắt buộc người khác phải đối tốt mới mình khi mà chị đối xử với người ta không ra gì.

7. Khi con dâu về nhà mẹ đẻ, mua quà biếu bố mẹ, chị đừng tức tối hay nóng giận bởi vì hai người đó dành cả đời để nuôi con dâu chị nên người, nhưng đến khi trưởng thành nó lại phải đi làm con gái người khác, chứ có được chăm sóc bố mẹ đẻ của nó đâu. Chị nên cảm ơn họ đã sinh ra và nuôi lớn con dâu chị .

8. Chị và con dâu cãi vã không nên đi ra nói xấu con dâu, không được chê bai này nọ, vì con trai mình quyết định cưới rồi thì ắt hẳn con dâu cũng có điểm tốt, nếu không người ta sẽ cười chị trước.

9. Hãy yêu quý con dâu như con gái thì nó cũng đối xử với chị như bố mẹ đẻ chị ạ.

Phụ nữ sau khi kết hôn chỉ có duy nhất 1 điểm tựa là người chồng, vì ở nhà ngoại họ chỉ là KHÁCH, ở nhà nội chỉ là người NGOÀI. Nếu người chồng không yêu thương vợ, không quan tâm và cảm thông với vợ thì phụ nữ trở thành ĐỨA TRẺ MỒ CÔI không nơi nương tựa. Thế nhưng người chồng – điểm tựa duy nhất của người phụ nữ chỉ thường xuyên nói với vợ “Em đối xử với MẸ anh tốt vào, bởi vì đó là người đã sinh ra anh, đã nuôi anh khôn lớn”. Nhưng không có người đàn ông nào nói với mẹ mình rằng, “MẸ, mẹ hãy đối xử tốt với vợ con đi ạ, vợ con phải rời khỏi vòng tay của bố mẹ, một mình đến nhà mình làm dâu không dễ dàng gì! Vậy nên gia đình chúng ta hãy đối xử thật tốt với cô ấy để cô ấy coi đây là nhà của mình ❤

NGƯỜI LÀM THƠ HAY NHÂN CÁCH THƠ
(Ảnh internet, bài Chiêm Lưu Huy FB 27 5 2020)

*
Tôi có may mắn biết tên tuổi ba nhà thơ “Dân gian đương đại”. Người còn, người mất, người quá già yếu. Người trẻ nhất thì lại chết “ở tuổi còn son”. Xin được kể tên ngẫu nhiên… Lê Kim Giao, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Hữu Mão và Nguyễn Bảo Sinh.

1 – Nguyễn Bảo Sinh được cha là Nguyễn Hữu Mão gắn cho chết danh “Sinh chó” giữa lòng Hà nội. Quả thật, sau bao năm tháng lăn lộn mưu sinh… về sau chính chó, mèo, hậu cần cho xới đá gà… là nghề giúp ông sống thanh thản với thơ dân gian.

2 – Đồng Đức Bốn tài thơ lục bát không thua mấy Nguyễn Bính, Bùi Giáng… Một thời “lạc đường” sang thơ tự do, may mà Nguyễn Huy Thiệp “ngộ” cho mà có được góc chiếu giữa đình văn chương, nghệ thuật. Lục bát của anh mới mẻ thần kỳ:
“Chiều nay hồ tây có giông.
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm”.
Hay:
“Tẽn tò con sáo sang sông,
Tưởng sang bên ấy mà không có gì.
Tẽn tò con sáo bay đi,
Tưởng sang bên ấy có gì lại không”.
Lại nữa:
“Đang trưa ăn mày vào chùa,
Sư ra cho một lá bùa rồi đi.
Ăn mày chẳng biết làm gì,
Nhét bùa vào túi lại đi ăn mày”.

3 – Lê Kim Giao “con ông cháu cha”, con nhà nòi… nhưng từ bỏ tất cả, về nông thôn làm ông giáo làng. Ông dậy lũ trẻ quê mùa, thò lò mũi:
“Đây là chữ o,
Đây là chữ a,
Đây là tay trái,
Đây là tay phải,
Còn mẹ thì không được bao giờ quên!”
Ông có những bài thơ về vật nuôi, tự trào như heo, gà trống… rất có giá… “Sống hiên ngang không sợ ó diều / Ăn chỉ mời gọi bạn / Ò… ó… o…! / Ngươi làm thơ”.

Người ta viết về “Tứ đại gia” không nhiều. Nay tôi xin đề thơ CHÂN DUNG họ theo phong cách của họ để tặng họ, gọi là có chút lòng thành! Không quên liên kết 5 khung hình mà người thơ:” vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”… ưa thích!?
CHÂN DUNG TỨ TỬ THƠ
*
Đây là Lê Kim Giao.
Đây là Đồng Đức Bốn.
Đây là Nguyễn Hữu Mão.
Đây là Nguyễn Bảo Sinh,
Mê mẩn thập tự chinh,
Trên trường văn, trận bút.

Về tới đích cũng chết.
Không về cũng lìa đời.
Sao không bỏ cuộc chơi,
Về với người yêu dấu …

Về với người yêu dấu,
Không phải đấu trường văn.
Không phải đòn trận bút.
Không phải đi đò đầy…

Ây à ê im ao.
Ây à ồng ức ốn.
Ây à uyễn ữu ão.
Ây à uyễn ảo inh.
Chiếm góc chiếu giữa đình,
Khóc cười người yêu dấu…
Tẽn tò sáo sang sông…
Kêu buồn đêm tối khổ…
Cho cái chưa của mình…

( 07.7.2011 – 27.5.2016)

Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene người Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên

Báo Tia Sáng 27/05/2020 07:25Thu Quỳnh

Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam có mối liên hệ với nhau như thế nào? Dù được các nhà dân tộc học và lịch sử bàn thảo suốt một thời gian dài nhưng vấn đề này vẫn chưa ngã ngũ. Và những nghiên cứu đầu tiên về đa dạng di truyền hệ gene ở người Việt Nam của Viện Nghiên cứu hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) có thể hé mở một phần câu trả lời.

Ở thời kỳ Đông Sơn và tiền Đông Sơn, tất cả khối Lạc Việt, Tây Âu, hay Tày Thái cổ… đều là ‘Yue’ (Bách Việt). Nghiên cứu hệ gene ty thể của nhóm GS Nông Văn Hải cũng đã cho thấy điều này. Trong ảnh: Trống đồng Ngọc Lũ và hoa văn trên trống đồng. Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam. 

Ký ức tộc người và “ký ức” hệ gene người

Cuộc thảo luận về nguồn gốc người Việt dường như chưa bao giờ dứt trên nhiều diễn đàn và luôn sẵn sàng được hâm nóng lên khi được xới lại. Thực ra đây không phải là chuyện “trà dư tửu hậu”, mà trong giới học thuật, tính đa dạng tộc người và nguồn gốc tộc người ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa đã được các nhà dân tộc học và tiền sử học đào bới cả trăm năm qua, như GS Peter Bellwood1 (ĐH Quốc gia Úc), nhà nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á từng cùng các nhà nghiên cứu Việt Nam công bố các nghiên cứu về văn hóa Đông Sơn nhận định. Vấn đề này không dễ dàng ngã ngũ để đi đến kết luận, rất dễ gây hiểu lầm và chia rẽ, do một tình trạng phổ biến trong nghiên cứu tiền sơ sử và nguồn gốc tộc người là thiếu dữ liệu – những gì các nhà khoa học đang có hiện nay mới chỉ là những mảnh ghép khác nhau của một “bức tranh” khổng lồ đã chìm vào quá khứ.


Theo dòng hồi ức của các dư dân thời hiện đại và giả thiết của các nhà dân tộc học thì tổ tiên của 54 dân tộc (và có thể nhiều nhóm địa phương trong đó), nay được sắp xếp thuộc 5 ngữ hệ đã có vô vàn hướng dịch chuyển, cộng cư trong quá khứ. Chẳng hạn, nhiều cư dân thuộc các tộc người ở khu vực miền núi phía Bắc hoặc Tây Nguyên vẫn kể về quá trình họ đi từ phương Bắc xuống hoặc từ vùng biển phía Nam đi lên. Các nhà khảo cổ học cũng đã giải thích về sự đa dạng các nhóm người ngay trong kỷ nguyên khởi đầu lịch sử Việt Nam, như TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á cho biết: những cư dân Đông Sơn và Tiền Đông Sơn từ thời khởi đầu dựng nước Việt Nam không tương ứng với một tộc người duy nhất là Kinh hay bất kỳ một tộc người khác trong thời hiện đại ngày nay, bởi trong nhận thức của các nhà khảo cổ học thế giới, “ở thời kỳ Đông Sơn và tiền Đông Sơn, tất cả khối Lạc Việt, Tây Âu (hay Tày-Thái cổ)… đều là ‘Yue’ (Bách Việt)”. Nhưng từ trước tới nay, các nhà dân tộc học và khảo cổ đang giữ những cứ liệu và các giả thiết đó mà chưa mang ra để đặt câu hỏi cho các nhà nghiên cứu hệ gene. Hầu như không ai hay biết gì về việc những quá trình giao lưu tiếp biến ấy đã được “ghi nhớ” như thế nào trên hệ gene của mỗi cá nhân ở các tộc người.


Trong khi đó, phân tích hệ gene người cổ sẽ chứng minh được điều đó, đem lại một trong những câu trả lời gần nhất cho những gì đã xảy ra trong quá khứ. Các kỹ thuật hiện đại giúp giải trình tự hệ gene từ di cốt người cổ có thể giúp bóc tách dần thông tin về nguồn gốc, lịch sử di truyền cũng như thấy được sự đa dạng, cộng cư của di cốt khai quật được theo mỗi mốc thời gian họ sinh sống. Tuy vậy, trước nay giới khảo cổ học và nghiên cứu hệ gene trong nước chưa có nhiều cơ hội trao đổi và thực hiện các nghiên cứu chung. Mãi tới gần đây, các  nhóm nghiên cứu quốc tế,  gồm các nhà di truyền ở ĐH Harvard, Hoa Kỳ, Bảo tàng thiên nhiên Copenhagen, Đan Mạch và ĐH Cambridge, Anh… đã cùng với các nhà nghiên cứu của Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) hợp tác phân tích được di cốt người cổ ở Đông Nam Á, trong đó có người Mán Bạc2 và người Hoà Bình3 và xu hướng di cư sớm từ thời cổ đại. Những nghiên cứu này đã đưa một số dữ liệu gene người cổ tại Việt Nam vào cơ sở dữ liệu gene của thế giới – đây là căn cứ để các nhóm nghiên cứu khác lấy làm cơ sở so sánh đối chiếu sau này.


Bên cạnh đó, phân tích hệ gene ở người hiện tại có thể giúp khẳng định tính đa dạng di truyền của các tộc người hiện nay, ví dụ có thể cho biết những đặc điểm chung giữa người Kinh, Tày, Thái… so với các tộc người cụ thể khác trong cùng một nhóm tộc người (phân loại theo ngữ hệ) của mình hoặc các dân tộc thuộc ngữ hệ khác. Nhưng chính vì thiếu chia sẻ thông tin và chưa có nghiên cứu nào chung giữa các nhà khoa học xã hội với nhà nghiên cứu hệ gene người Việt Nam nên dường như câu hỏi liệu rằng hệ gene có thể lưu lại dấu vết nào cho những lần các tộc người gặp gỡ, giao thoa trong lịch sử dường như vẫn đang còn bỏ lửng.

Cỡ mẫu đủ lớn và đa dạng

Trong bối cảnh vẫn còn nhiều tranh luận ngổn ngang đó, GS Nông Văn Hải, nguyên Viện trưởng sáng lập Viện Nghiên cứu hệ gene, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, một nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm về hệ gene người Việt Nam đã đi tìm câu trả lời trong quá trình thực hiện Đề tài độc lập cấp Nhà nước (2015-2019), do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ – “Giải trình tự và xây dựng hoàn chỉnh hệ gene người Việt Nam đầu tiên làm ‘trình tự tham chiếu’ và bước đầu phân tích nhân chủng học tiến hóa người Việt Nam”4.

Giữa các dân tộc có lịch sử di truyền, nguồn gốc chung nào đó và có sự giao thoa về mặt di truyền chứ không có một dân tộc ‘thuần chủng’

Trước khi đi sâu vào chẻ từng phát hiện của đề tài, ông giải thích về một số nguyên tắc khi nghiên cứu hệ gene để trả lời cho các câu hỏi về nhân chủng học tiến hóa ở trên. Tức là, để tìm ra tính đa dạng hệ gene, khu vực phân bố địa lý của các kiểu gene và ước lượng thời điểm chúng bắt đầu xuất hiện trong quá khứ, phải phân tích trình tự hệ gene ty thể (di truyền theo dòng mẹ), vùng đặc hiệu giới tính nam của nhiễm sắc thể Y (di truyền theo dòng bố) hoặc toàn bộ hệ gene (lai giữa dòng bố và dòng mẹ). Đây là cách làm đã thành chuẩn mực phổ biến của các nhóm trên thế giới – họ có thể sử dụng lần lượt hoặc kết hợp đồng thời cả ba trình tự hệ gene trên trong các nghiên cứu về nhân chủng học tiến hóa và lịch sử di truyền ở người hiện đại hoặc kết hợp, đối chiếu với các mẫu khảo cổ học.


Làm sao để biết đâu là đặc trưng của mỗi nhóm hoặc từng tộc người? Cũng theo thông lệ, sẽ cần phân tích trình tự và so sánh với hệ gene tham chiếu trên cơ sở dữ liệu gene quốc tế để từ đó xác định các kiểu gene đơn bội đặc trưng của người Việt Nam (haplotypes – một nhóm cụ thể của gene mà con cháu thừa hưởng từ cha mẹ. Haplotype có thể đặc trưng cho một nhóm, hay một quần thể và thậm chí là một loài).


Để thực hiện đề tài, GS Nông Văn Hải đã hợp tác với giáo sư người Mỹ Mark Stoneking, Viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa, CHLB Đức, người dày dạn kinh nghiệm hợp tác phân tích hệ gene của nhiều tộc người, từ Thái Lan, Philipines đến các dân tộc ở châu Phi. Nhóm nghiên cứu khảo sát lấy mẫu gene các tộc người trên quy mô lớn nhất từ trước tới nay ở Việt Nam – hơn 600 người thuộc 22 dân tộc ở năm ngữ hệ chính ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa (gồm các ngữ hệ: Nam Á, Thái – Kadai, Hmông-Miền, Nam Đảo và Hán-Tạng), đồng thời phân tích cùng với dữ liệu hệ gene của nhóm cư dân hiện đại lân cận và các tập dữ liệu gene của người ở Đông Nam Á cổ đại đã được công bố trước đây trong cơ sở dữ liệu hệ gene quốc tế.


Nhưng trong trình tự hệ gene với hơn 3 tỉ “ký tự”  của mỗi người, làm sao để xác định được sự giống và khác nhau giữa các tộc người theo cách hợp lý nhất? Nhóm phân tích dữ liệu đa hình nucleotide đơn  – SNP (single nucleotide polymorphisms), trong đó tập trung đi sâu phân tích hệ gene sử dụng công nghệ mới gene CHIP (gồm khoảng 600.000 điểm thể hiện sự khác biệt về mặt di truyền giữa các cá thể). Đây cũng là những công nghệ  mà các nhóm nghiên cứu đa dạng di truyền các tộc người trên thế giới đang sử dụng chủ yếu, bởi vì 99,9% trình tự hệ gene là hoàn toàn giống nhau giữa các cá thể, tộc người trong toàn bộ loài người, GS Nông Văn Hải cho biết.


Kết quả phân tích, được xuất bản trên tạp chí Molecular Biology and Evolution5 (Q1, IF~15, thứ 2 về sinh học  tiến hóa) cho thấy “tính đa dạng tộc người phân theo ngữ hệ đã phản ánh các nguồn gốc khác nhau về đa dạng di truyền ở Việt Nam”, nghĩa là trong 22 dân tộc được khảo sát, “dân tộc này cũng có chung các đặc điểm về gene của dân tộc khác trong cùng ngữ hệ hoặc khác ngữ hệ”, GS Nông Văn Hải giải thích. Chẳng hạn, nhìn các bảng số liệu phân tích mức độ lai hỗn hợp (Admixture) có thể thấy rõ: các dải màu sắc khác nhau quy ước cho các tộc người hay ngữ hệ khác nhau  cho thấy tình trạng “lai” giữa các dân tộc là phổ biến và hiển nhiên – “giữa các dân tộc có lịch sử di truyền, nguồn gốc chung nào đó và có sự giao thoa về mặt di truyền chứ không có một dân tộc ‘thuần chủng’”.

Bảng 1: Các dải màu sắc quy ước cho các tộc người trong biểu đồ này (màu giống nhau, chạy liên tục) cho thấy tình trạng “lai” giữa các dân tộc là hiển nhiên. Ảnh: Nhóm nghiên cứu cung cấp. 

Tạm lấy một số ví dụ cụ thể để hiểu rõ hơn cho các phát hiện trên là: các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á có nhiều đặc điểm gần về gene so với các ngữ hệ Thái – Kadai, và cũng có những điểm chung với ngữ hệ Hmong – Miền. Đơn cử về người Kinh – tộc người phổ biến ở Việt Nam và thuộc ngữ hệ Nam Á – không chỉ có nhiều đặc điểm giống với các dân tộc thuộc ngữ hệ Thái – Kadai (như Tày, Thái, Nùng…) mà cũng có cả điểm giống với dân tộc xa xôi và tương đối biệt lập khác ở miền núi phía Bắc như Lô Lô, Si La, Phù Lá (thuộc ngữ hệ Hán – Tạng) hay với các cư dân ở Nam Trung Quốc, đảo Đài Loan ngày nay và nhiều dân tộc khác nữa. Trong phần “thảo luận”, nhóm tác giả khẳng định nghiên cứu này, với dữ liệu nhiều hơn và chính xác hơn, đã đưa ra phát hiện ngược lại so với công bố về hệ gene người Kinh vào năm 2019.


Mặt khác, nghiên cứu cũng phát hiện ra, có những tộc người tuy gần gũi hơn với tộc người khác về mặt ngôn ngữ (cùng ngữ hệ), nhưng lại xa nhau hơn về mặt di truyền. Có thể trong lịch sử tổ tiên của họ là những nhóm lai, nhưng sau này do ảnh hưởng văn hóa, điều kiện sống, chiến tranh… các thế hệ sau đã chuyển sang dùng ngôn ngữ của nhóm khác, hoặc là đã có sự giao lưu tiếp xúc giữa các tộc người thuộc các ngữ hệ khác nhau.


Công bố này được đánh giá là đầy đủ nhất cho đến nay, sử dụng các phương pháp hiện đại trong phân tích dữ liệu hệ gene, nhằm làm rõ sự đa dạng về mặt di truyền của người Việt Nam, theo đánh giá trên trang của Hiệp hội Tiến bộ Khoa học Hoa Kỳ. Điều này thực sự có ý nghĩa bởi vì trước đây, sự đa dạng di truyền của Việt Nam vẫn là một địa hạt chưa được khai phá, đặc biệt là với dữ liệu hệ gene trên quy mô lớn, bởi vì đa phần các nghiên cứu về hệ gene trước đây đều tập trung vào nhóm người Kinh. Do đó, trong trong thông cáo báo chí của Viện Max Planck về Nhân chủng học tiến hóa, GS Mark Stoneking, đồng tác giả liên hệ của nghiên cứu cũng đã lưu ý rằng: “Nhìn chung, chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lấy mẫu của các nhóm dân tộc khác nhau nhằm xây dựng hoàn chỉnh dữ liệu hệ gene, từ đó cung cấp những hiểu biết mới về sự đa dạng di truyền và lịch sử của một khu vực đa sắc tộc, mà Việt Nam là ví dụ điển hình”.

“Những nghiên cứu này đã góp phần thêm một cái nhìn khách quan chân thực về tính đa dạng của người Việt Nam, bác bỏ những nhận định thiếu căn cứ khoa học, chủ quan về sự khác biệt của tộc người cụ thể đối với các tộc người khác trong một cộng đồng cùng tồn tại qua suốt chiều dài lịch sử”.

Giờ đây, các yếu tố đa dạng ngôn ngữ và đa dạng về ngoại hình (hình thái) của các cá thể thuộc các sắc tộc người Việt Nam mà “ai cũng có thể tự nhìn thấy” đã được khẳng định là có sự đa dạng về nguồn gốc di truyền. Điều này đã góp phần thêm một cái nhìn khách quan chân thực về tính đa dạng của người Việt Nam, bác bỏ những nhận định thiếu căn cứ khoa học, chủ quan về  sự khác biệt của tộc người cụ thể đối với các tộc người khác trong một cộng đồng cùng tồn tại qua suốt chiều dài lịch sử.

Truy ngược đồng hồ tiến hóa

Dữ liệu hệ gene không chỉ cho thấy chuyện của ngày hôm nay, mà các kỹ thuật phân tích có thể giúp “truy” dấu vết di truyền từ hàng ngàn đến hàng chục nghìn năm quá khứ. Trong đó, thông thường, các nhà khoa học trên thế giới sẽ phân tích gene đồng hồ tiến hóa và so sánh với các hệ gene tham chiếu của cư dân hiện đại thuộc các tộc người khác và của các mẫu người cổ trong cơ sở dữ liệu gene quốc tế để tìm ra các điểm bắt đầu phát sinh, rẽ nhánh. Từ đó xác định mốc thời gian giao thoa trong lịch sử của từng tộc người.

Vì thế, trước đó, vào năm 2018, cũng từ nguồn gene dùng trong nghiên cứu của Đề tài này, GS Nông Văn Hải và các đồng nghiệp đã phân tích các biến đổi trong trình tự hệ gene ty thể của người Việt Nam nhằm tìm ra dấu ấn của các lần xuất hiện và tập trung dân cư trong thời cổ đại và công bố trên tạp chí Scientific Reports, thuộc Tập đoàn xuất bản Nature6. Để phân tích tìm ra các điểm phát sinh, nhóm của ông đã giải trình tự hệ gene ty thể người Việt Nam ở trên và đối chiếu cùng với 2133 trình tự khác từ các dân tộc khác đang sinh sống ở lục địa Đông Nam Á (bao gồm: Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Tây Malaysia, Nam Trung Quốc) và Đài Loan, từ đó phát hiện được 111 dòng nhánh mới của DNA ty thể của người Việt Nam. Theo ước tính Bayesian về thời gian kết tụ (coalescence time) với 95% mật độ hậu nghiệm cao nhất (Highest Posterior Density, HPD), nhóm đã xác định được biểu hiện gene ghi dấu sự xuất hiện của người hiện đại trong hệ gene ty thể người Việt Nam vào khoảng 50 nghìn năm trước. Kết quả này đã khẳng định các giả thiết khảo cổ học về mốc xuất hiện của con người trên lục địa Đông Nam Á vào khoảng thời gian này.

GS Nông Văn Hải (trái) và GS Mark Stoneking trong Hội thảo quốc tế do Viện Nghiên cứu hệ gene tổ chức năm 2017. Ảnh: NVCC.


Đặc biệt, nhóm nghiên cứu đã phát hiện được đỉnh cao tập trung sự đa dạng DNA ty thể vào khoảng thời gian trùng với nền Văn hóa Đông Sơn, “có một sự tập trung gene cổ vào vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 2.500-3.000 năm về trước”. Như vậy, không phải chỉ tổ tiên của người Kinh tập trung ở đồng bằng sông Hồng mà tổ tiên của các tộc người thuộc 5 nhóm ngữ hệ ngày nay đều có dấu vết tập trung dân cư đông đúc ở đây vào thời Đông Sơn. Nghĩa là nền văn hóa Đông Sơn là chung của các dân tộc này trong quá khứ. Đây là bằng chứng khoa học mới, đầu tiên trên thế giới về di truyền phân tử người cho thấy sự đa dạng di truyền liên quan đến khoảng thời gian ra đời của văn hóa Đông Sơn. Và điều này có thể đem lại một phần lời giải cho khẳng định của các nhà nghiên cứu khảo cổ học tiền sơ sử như TS Nguyễn Việt về các cư dân thời Đông Sơn và tiền Đông Sơn là một khối Bách Việt.

Nhưng trên hết, GS Nông Văn Hải nhắc đi nhắc lại rằng những gì mà ông và các đồng nghiệp trong nước và quốc tế làm mới chỉ là các nghiên cứu bước đầu. Các câu trả lời cho các giả thiết về đa dạng di truyền, nguồn gốc các tộc người hay các vấn đề cụ thể về bệnh học tộc người sẽ ngày càng đầy đủ lên khi các nhà nghiên cứu bổ sung thêm các mẫu ở các tộc người khác nhau, với cỡ mẫu lớn hơn. Đây là lý do mà nhiều nước trên thế giới đã xây dựng những bộ dữ liệu hệ gene người rất đồ sộ, thậm chí đã xuất hiện các “câu lạc bộ” các nước mà chính phủ đã đầu tư nghiên cứu giải trình tự hàng trăm ngàn đến cả triệu hệ gene người.

Nguồn: Báo Tin Sáng 27 5 2020 https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Nghien-cuu-da-dang-di-truyen-he-gene-nguoi-Viet-Nam-Nhung-vien-gach-dau-tien/

Tài liệu tham khảo

1 The search for ancient DNA heads east, Science, 2018: Vol. 361, Issue 6397, pp. 31-32. DOI: 10.1126/science.aat8662

2 Mark Lipson et al, Ancient genomes document multiple waves of migration in Southeast Asian prehistory, Science  06 Jul 2018: Vol. 361, Issue 6397, pp. 92-95 DOI: 10.1126/science.aat3188 link online: https://science.sciencemag.org/content/361/6397/92

3 Hugh McColl et al, The prehistoric peopling of Southeast Asia. Science  06 Jul 2018: Vol. 361, Issue 6397, pp. 88-92 DOI: 10.1126/science.aat3628 link online: https://science.sciencemag.org/content/361/6397/88.full

4 Đề tài mã số ĐTĐL.CN-05/15, do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý.

5 Dang Liu, Nguyen Thuy Duong, Nguyen Dang Ton, Nguyen Van Phong, Brigitte Pakendorf, Nong Van Hai, Mark Stoneking, Extensive ethnolinguistic diversity in Vietnam reflects multiple sources of genetic diversity, Molecular Biology and Evolution, msaa099, https://doi.org/10.1093/molbev/msaa099  (Nong Van Hai, Mark Stoneking là tác giả liên hệ)

6 Duong, N.T., Macholdt, E., Ton, N.D. et al. Complete human mtDNA genome sequences from Vietnam and the phylogeography of Mainland Southeast Asia. Sci Rep 8, 11651 (2018). https://doi.org/10.1038/s41598-018-29989-0 (Nong Van Hai, Mark Stoneking là tác giả liên hệ).

TẾT NGUYÊN ĐÁN VIỆT TRUNG: TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
Trần Vũ Đồng và Hoàng Tố Nguyên

(* Tác giả Trần Vũ Đồng 陈雨桐 là học viên chuyên ngành song ngữ Anh Việt và tiến sĩ Hoàng Tố Nguyên là giảng viên khoa Ngữ văn Trung Quốc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh).

Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất của Việt Nam và Trung Quốc. Việc so sánh nguồn gốc phong tục đặc điểm giống và khác nhau giữa Tết Nguyên Đán của hai nước và tìm hiểu tư tưởng, quan niệm tín ngưỡng giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về nền văn hóa, lịch sử của hai dân tộc, thúc đẩy mối quan hệ giao lưu thân thiện giữa hai quốc gia. Tết Nguyên Đán Việt Trung bất luận là tên gọi, thời gian, nguồn gốc hay phong tục đều có nhiều điểm giống nhau, nhưng không gian văn hóa và theo thời gian, mỗi nước đều tự tạo ra cho mình những nét đặc sắc riêng.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng trong cùng một không gian văn hóa Tết cổ truyền của Trung Quốc Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản Sự giao thoa Tết văn hóa và văn hóa Tết Việt Nam và Trung Hoa là gần gũi ‘đồng văn” tới mức trước đây và thậm chí gần đây, giới Đông phương học phương Tây thường xếp Việt Nam vào “Thế giới văn minh Trung Hoa” hay “Thế giới Hoa hóa” (như M.Gernet Le monde chinois, Paris, 1980, L. Vandermeersch Le monde Sinise PUF, Paris, 1986). Đối với Đông Nam Á, một khái niệm mới xuất hiện ở cuối thế chiến II, thì người ta xếp Việt Nam vào “các quốc gia Ấn hóa hay Hindou hóa” để đối sánh Việt Nam với các quốc gia Đông Nam Á khác. Người ta mệnh danh Việt Nam là bộ phận tiền đồn của văn minh Trung Hoa chọc xuống vùng Đông Nam Á.

Tết Nguyên Đán Việt Nam và Trung Quốc khác biệt năm điểm chính: 1) Lịch sử văn hóa Trung Quốc thuộc nền văn minh Trung Hoa Context Đông Á (Đàm Gia Kiện chủ biên 1993). Bản sắc lịch sử văn hóa Việt Nam thuộc nền văn minh lúa nước Hòa Bình Context Động Nam Á Nước Việt, Dân Việt trên diễn trình lịch sử lâu dài tuy nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa chính trị Trung Hoa Đông Á nhưng vẫn luôn luôn duy trì nền tảng văn hóa môi cảnh địa nhân văn Đông Nam Á của chính mình (Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam tìm tòi và cảm nhận, Nhà Xuất bản Văn hóa Hà Nội, năm 2003); 2) Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của người Việt. Tết nguyên nghĩa là “tiết”. Văn hóa Việt thuộc văn minh Nông nghiệp lúa nước, do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau, và ứng với mỗi tiết khí này lại có một thời khắc “giao thời”. Tết Nguyên Đán nghĩa là “Tết đầu năm mới”. Chữ Tết là âm “đọc trạch” theo lối dân gian của chữ “Tiết” Hán Việt. Tiết âm Hán Việt có nghĩa là Đoạn, Khúc, Đốt. Trên dòng thời gian liên tục của một năm theo lịch cổ truyền thì Tết Nguyên Đán nương theo Tiết Lập Xuân. Tiết Nguyên Đán là Tiết Lập Xuân của người Việt trong lịch cổ Việt Thường la bàn (hướng chính Đông). 3) Nguồn của Tết Nguyên Đán thuộc không gian văn hóa Hòa Bình và nền văn hóa Đông Sơn Trống đồng.là chốn tổ nền văn minh lúa nước. Tết Nguyên Đán là một lễ hội mùa nông nghiệp. Các chuyên khảo của giáo sư Trần Quốc Vượng 2003 đã cũng cố luận điểm này “Lịch ta và nền văn hóa lúa nước cổ truyền (trang 324-331), Con trâu và nền văn hóa Việt Nam (trang 332-337) “Biểu tượng Ngưa và năm con ngựa 338-341) “Năm Giáp Tuất kể chuyện lịch ta và chú cẩu” (trang 342-347); Nhân xuân Ất Hợi 1995 chuyện vãn về con lợn trong văn hóa Việt Nam (trang 348-352). 4) Diễn trình lịch sử văn hóa Việt Nam thể hiện phong tục là khác nhau “Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc Nam cũng khác” , “trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ” đó là tác phẩm Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn thảo vào mùa xuân năm 1428. Theo Lịch sử Việt Nam diễn trình từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước Công nguyên, còn tính từ khi cơ cấu nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ năm 2879 TCN. Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa qua thông tin các di tích chứng minh loài người đã từng sống tại Việt Nam từ thời đại đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Tràng An, Ngườm, Sơn Vi và Soi Nhụ. Vào thời kỳ đồ đá mới, nền văn hóa Hòa Bình Bắc Sơn tại vùng này đã phát triển về chăn nuôi và nông nghiệp, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa nước. Di chỉ khảo cổ tại Trống Đồng Ngọc Lũ Đông Sơn, và nhiều minh chứng khác. 5) “Nghiên cứu đa dạng di truyền hệ gene ngưởi Việt Nam: Những viên gạch đầu tiên” thông tin của Giáo sư Nông Văn Hải Viện Nghiên cứu hệ gene (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) tại Nguồn: Báo Tin Sáng 27 5 2020 https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Nghien-cuu-da-dang-di-truyen-he-gene-nguoi-Viet-Nam-Nhung-vien-gach-dau-tien/ với nhiều thư mục dẫn liệu kèm theo, có thể hé mở một phần câu trả lời. “đỉnh cao tập trung sự đa dạng DNA ty thể vào khoảng thời gian trùng với nền Văn hóa Đông Sơn, “có một sự tập trung gene cổ vào vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 2.500-3.000 năm về trước”. Như vậy, không phải chỉ tổ tiên của người Kinh tập trung ở đồng bằng sông Hồng mà tổ tiên của các tộc người thuộc 5 nhóm ngữ hệ ngày nay đều có dấu vết tập trung dân cư đông đúc ở đây vào thời Đông Sơn. Nghĩa là nền văn hóa Đông Sơn là chung của các dân tộc này trong quá khứ. Đây là bằng chứng khoa học mới, đầu tiên trên thế giới về di truyền phân tử người cho thấy sự đa dạng di truyền liên quan đến khoảng thời gian ra đời của văn hóa Đông Sơn. Và điều này có thể đem lại một phần lời giải cho khẳng định của các nhà nghiên cứu khảo cổ học tiền sơ sử như TS Nguyễn Việt về các cư dân thời Đông Sơn và tiền Đông Sơn là một khối Bách Việt

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày
Bài viết mới

Video yêu thích
Quê Hương saxophone hay nhất của Trần Mạnh Tuấn
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter