Sông Mekong tin nổi bật

SÔNG MEKONG TIN NỔI BẬT
Hoàng Kim


Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào” tiến sĩ Lê Hồng Hiệp Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế ngày 7 tháng 1 năm 2020 nhận định: “Về lâu dài, Việt Nam cần tự giải quyết các vấn đề của mình để đảm bảo một nguồn cung điện bền vững, giá cả phải chăng và thân thiện hơn với môi trường để phục vụ sự phát triển của đất nước. Ngay cả khi Việt Nam tham gia vào một số dự án xây dựng đập thủy điện ở Lào, chúng  ta vẫn cần tiếp tục phản đối việc xây dựng các con đập mới trên sông Mê Kông. Trong trường hợp Lào quyết định tiến hành xây dựng các đập mới, chúng ta cần phải yêu cầu Lào lựa chọn các thiết kế đập và công nghệ thủy điện phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường. Xét cho cùng, đồng bằng sông Cửu Long rất quan trọng đối với an ninh lương thực của không chỉ Việt Nam mà còn của cả khu vực. Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên ISEAS Commentary” . Thông tin này được tiếp nối bởi bài viết Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới? góc nhìn của đại sứ Nguyễn Quang Khai tại http://www.soha.vn ngày 5 tháng 4 năm 2020 và thông tin trước đây Sông Mekong trong cuộc chiến tài nguyên nước của Lê Viết Thọ BBC News Tiếng Việt 24 tháng 10 2019. Ý kiến nói rằng, tương lai ảm đạm của Mekong vì các dự án thủy điện thượng nguồn, trong khi cơ chế tham vấn quốc tế không còn hiệu quả. Hôm 8/10/2019, Liên minh Cứu sông Mekong kêu gọi hủy bỏ đập Luang Prabang và các đập dòng chính được lên kế hoạch khác.

Thông tin đầy đủ:

Thế khó của Việt Nam trước các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào
Lê Hồng Hiệp

Vào ngày 4 tháng 1 năm 2020, trong kỳ họp lần thứ 42 của Ủy ban Liên Chính phủ Việt – Lào, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) đã ký năm hợp đồng mua từ tập đoàn Phongsubthavy và tập đoàn Chealun Sekong của Lào 1,5 tỷ kWh điện mỗi năm trong hai năm, bắt đầu từ năm 2021. Thỏa thuận này, trong khi minh họa cho tầm nhìn của chính phủ Lào về việc biến đất nước này thành “bình ắc quy của Đông Nam Á”, cũng đồng thời cho thấy những thách thức về an ninh năng lượng cũng như thế lưỡng nan của Việt Nam trong việc đối phó với kế hoạch xây dựng hàng loạt các đập thủy điện trên sông Mê Kông của Lào.

Việt Nam sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu điện ngày càng nghiêm trọng trong những năm tới, ước tính sẽ lên mức 3,7 tỷ kWh vào năm 2021 và gần 10 tỷ kWh vào năm 2022. Ngoài nguyên nhân nhu cầu tăng do tăng trưởng kinh tế, một số yếu tố khác cũng đã góp phần dẫn tới sự thiếu hụt này.

Thứ nhất, trong số 60 nhà máy điện lớn đang được xây dựng, 35 dự án với tổng công suất 39.000 MW đang phải đối mặt với tình trạng chậm tiến độ từ một đến năm năm. Việc Quốc hội Việt Nam hồi năm 2016 thông qua việc dừng kế hoạch xây dựng các nhà máy điện hạt nhân cũng dẫn đến những thay đổi bất ngờ trong quy hoạch phát triển nguồn điện của cả nước.

Thứ hai, các dự án mới đang gặp khó khăn vì chính phủ không còn cấp bảo lãnh tín dụng cho các nhà máy điện. Do đó, các nhà phát triển điện lớn của Việt Nam như EVN, PetroVietnam và Vinacomin hiện phải dựa vào các khoản vay thương mại tốn kém hơn để tài trợ cho các dự án của mình. Do đó, thu xếp tài chính cho các dự án mới mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành.

Thứ ba, do chất lượng không khí suy giảm ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng như việc chính phủ nhấn mạnh hơn vào năng lượng tái tạo đã khiến Việt Nam tìm cách giảm phụ thuộc vào các nhà máy nhiệt điện than tuy rẻ nhưng gây ô nhiễm, hiện chiếm khoảng 41% tổng sản lượng điện của Việt Nam. Các nguồn năng lượng sạch hơn, như các nhà máy điện khí hay các trang trại điện mặt trời và điện gió, hiện được ưu tiên trở thành các nguồn điện thay thế.

Tuy nhiên, các nhà máy điện khí rất tốn kém và Việt Nam chưa có các kho khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) để phục vụ cho các nhà máy như vậy. Trong khi đó, mặc dù các trang trại điện gió và điện mặt trời xây dựng nhanh hơn nhưng công suất của chúng khá hạn chế. Dù Việt Nam hiện là nước đi đầu về năng lượng tái tạo ở Đông Nam Á, tổng công suất của 82 trang trại điện mặt trời đang hoạt động tới cuối tháng 6 năm 2019 chỉ là 4.464MW, chiếm 8,28% tổng sản lượng điện của cả nước. Việc phát triển các dự án năng lượng tái tạo mới trong tương lai sẽ phải đối mặt với thách thức do mức giá mua điện mà chính phủ phê duyệt thấp hơn cũng như việc Việt Nam chậm nâng cấp hệ thống truyền tải điện nhằm hấp thụ lượng điện bổ sung từ các dự án này.

Để giải quyết tình trạng thiếu điện trong ngắn hạn và trung hạn, Việt Nam sẽ phải tăng nhập khẩu điện từ các nước láng giềng, đặc biệt là Lào. Tuy nhiên, lựa chọn này đặt ra cho Việt Nam một vấn đề nan giải trong cách đối phó với các kế hoạch của Lào nhằm xây dựng thêm các đập thủy điện trên sông Mê Kông và các phụ lưu. Do lo ngại về tác động môi trường đối với đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam từ lâu đã phản đối kế hoạch của Lào nhằm xây dựng ít nhất 9 đập thủy điện lớn dọc theo con sông này. Mặc dù hai nước có mối quan hệ thân thiết, cho đến nay Việt Nam vẫn không thể thuyết phục được Lào xem xét lại kế hoạch của mình.

Sự kiên định của Lào, nay cộng với tình trạng thiếu điện ngày càng tăng của Việt Nam, dường như đã khiến Hà Nội dần cân nhắc một cách tiếp cận mới. Ví dụ, vào tháng 6 năm 2019, PV Power, một công ty con của PetroVietnam, đã tổ chức một cuộc hội thảo để thảo luận việc tham gia vào dự án đập thủy điện Luang Prabang trên sông Mê Kông. PV Power được cho là đang nắm giữ 38% cổ phần của dự án. Một số chuyên gia cho rằng do Việt Nam không thể ngăn cản Lào xây dựng các con đập, sẽ là một điều khôn ngoan nếu Việt Nam tham gia vào các dự án này để kiểm soát việc thiết kế và vận hành các con đập nhằm giảm thiểu tác động môi trường lên đồng bằng sông Cửu Long. Cách tiếp cận này mang tính thực dụng và có lẽ là giải pháp tốt nhất đối với Việt Nam vào lúc này, nhưng nó cũng không hoàn hảo. Việt Nam không thể tham gia vào tất cả các dự án và việc tham gia vào bất kỳ dự án nào trong số đó cũng sẽ làm suy yếu lập luận của Việt Nam khi phản đối các dự án tương tự ở Lào và các nước khác.

Về lâu dài, Việt Nam cần tự giải quyết các vấn đề của mình để đảm bảo một nguồn cung điện bền vững, giá cả phải chăng và thân thiện hơn với môi trường để phục vụ sự phát triển của đất nước. Ngay cả khi Việt Nam tham gia vào một số dự án xây dựng đập thủy điện ở Lào, chúng  ta vẫn cần tiếp tục phản đối việc xây dựng các con đập mới trên sông Mê Kông. Trong trường hợp Lào quyết định tiến hành xây dựng các đập mới, chúng ta cần phải yêu cầu Lào lựa chọn các thiết kế đập và công nghệ thủy điện phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường. Xét cho cùng, đồng bằng sông Cửu Long rất quan trọng đối với an ninh lương thực của không chỉ Việt Nam mà còn của cả khu vực.

Sông Mekong trong cuộc chiến tài nguyên nước
Lê Viết Thọ BBC News Tiếng Việt
24 tháng 10 2019

Ý kiến nói rằng, tương lai ảm đạm của Mekong vì các dự án thủy điện thượng nguồn, trong khi cơ chế tham vấn quốc tế không còn hiệu quả.

Hôm 8/10, Liên minh Cứu sông Mekong kêu gọi hủy bỏ đập Luang Prabang và các đập dòng chính được lên kế hoạch khác.

Thông cáo được liên minh này đưa ra khi bắt đầu quá trình tham vấn với dự án đập Luang Prabang.

Nhưng không phải đến lúc này, số phận dòng sông này mới được quan tâm, mà tác động của các dự án đập thượng nguồn lâu nay đã được nhiều chuyên gia cảnh báo.

Đặc biệt, những ngày gần đây, báo chí quốc tế liên tục đề cập đến tác động của các dự án đập trên thượng nguồn sông Mekong đến vùng hạ lưu, cũng như vấn đề chính trị nguồn nước trong mối quan hệ giữa các quốc gia nằm ven dòng sông này.

Sông Mekong, sự trường tồn dân tộc và ICC

Thêm đập thủy điện, thêm mối lo cho sông Mekong và VN

Trong những quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng bởi các dự án xây dựng đập trên sông Mekong, Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.

Mối nguy hại từ thủy điện thượng nguồn

Trao đổi về những tác động cụ thể của các dự án thủy điện Trung Quốc và Lào trên sông Lan Thương ở thượng nguồn Mekong đến vùng hạ lưu, Kỹ sư Phạm Phan Long, Chủ tịch Quỹ Sinh thái Việt Nam (Viet Ecology Foundation), một tổ chức phi chính phủ (NGO) tại Hoa Kỳ, nêu lên vài dẫn chứng cụ thể.

Theo đó, trước khi hoạt động, ngay từ đầu các đập hiện hữu Trung Quốc cần 42 tỉ m3 và Lào 33 tỉ m3 nước phải tích lũy cho các hồ chứa. Lượng này đã chiếm tới 55% và 20% lượng nước hàng năm của lưu vực của hai nước này. Kế đến, khi vận hành các hồ thủy điện này, chúng đã làm biến đổi quy trình tự nhiên của dòng chảy.

Kỹ sư Long dẫn số liệu của Tiến sĩ Timo A. Rasanen và các cộng sự phân tích từ dữ liệu hàng chục năm từ các trạm quan trắc, và xác định rằng, chế độ thủy văn của lưu vực thực sự đã bị biến đổi chính là vì những dự án từ thượng nguồn Trung Quốc. Bản quyền hình ảnh Tom Fawthrop Image caption Các đập thủy điện thượng nguồn đang ảnh hưởng đến cuộc sống người dân hạ nguồn.

Bên cạnh đó, cũng theo Kỹ sư Long, nghiên cứu hình ảnh cụ thể từ vệ tinh nhiều năm của NASA, Giáo sư Yadu Pokhrel nhận định rằng, các đập thượng lưu đã biến đổi nhịp đập và diện tích mặt hồ Tonle Sap.

Nếu tiếp tục xây các công trình thủy điện, sông Tonle Sap sẽ không còn chảy ngược về Biển Hồ nữa và viễn ảnh ‘trái tim thoi thóp’ Tonle Sap có ngày phải ngừng đập sẽ không còn xa.

Khi chế độ thủy văn Mekong bị đảo lộn như thế thì môi sinh lưu vực rơi vào khủng hoảng khiến an ninh lương thực và sinh kế nông ngư dân bị chao đảo. Viện Di sản của Hoa Kỳ đã tường trình rằng, dự án Sambor sẽ gây thiệt hại ngư sản Campuchia 479 triệu USD/năm và thiệt hại về nông sản Việt Nam là 74 triệu USD/năm.

Từ năm 2011, 263 tổ chức NGO đã ký thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ các nước vùng sông Mekong hủy bỏ dự án Xayaburi, nhưng không được hồi đáp.

Năm 2015, Mạng lưới cộng đồng Mekong (United Mekong Communities Network) với 15 đại diện các tổ chức xã hội dân sự ba nước hạ lưu Việt Nam, Campuchia và Thái Lan cùng 10 tổ chức NGO đã viết thêm khuyến cáo lần nữa cho các chính phủ Mekong.

Trong khi các chính phủ Mekong vẫn không hủy bỏ một dự án thủy điện nào, thì Liên minh Cứu sông Mekong (Save the Mekong Coalition) vừa công bố lời kêu gọi Lào hủy dự án Luang Prabang.

Tổ chức Sông ngòi Quốc tế, OXFAM, Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên và các viện nghiên cứu phát triển ở Úc, Mỹ đều có khuyến cáo tương tự. Bản quyền hình ảnh Pham Phan Long Image caption Vị trí các dự án thủy điện ở Đông Nam Á. Phạm Phan Long soạn ra từ OpenDevelopmentMekong

Hồi tháng Bảy, Ủy hội sông Mekong quốc tế xác nhận mực nước đầu mùa lũ tháng 6, tháng 7 năm nay trên dòng Mekong đang ở mức thấp nhất trong lịch sử.

Nhưng liệu điều đó có phải do sự tồn tại của các đập thủy điện thượng nguồn như những gì Ủy hội này đưa ra hay chỉ do tác động của biến đổi khí hậu?

Bàn luận chuyện này, Kỹ sư Long cho rằng, mưa ít dần trên lưu vực do biến đổi khí hậu là có thật trên cả địa cầu, nhưng hạn hán đến sớm hơn và khắc nghiệt hơn vào những khi khí hậu thiếu mưa là do việc vận hành các hồ chứa thủy điện. Bởi các hồ này có thể giữ nước, gây nhân tai cho vùng hạ du ngay cả khi có mưa cũng là mối lo ngại an ninh không thể loại trừ nhất là khi có tranh chấp.

Bên cạnh đó, ông Long nhận định thêm: “Một nguy hại rất khó nhận ra là Trung Quốc và cả Lào nữa, hàng năm đã cùng sớm cắt giữ nước sông Mekong vào mùa mưa, không chờ mùa khô, khiến mực nước Biển Hồ Tonle Sap không còn dâng cao theo nhịp lũ có trước. Hệ quả là Tonle Sap mất dần mùa nước nổi. Sang đến mùa khô, Biển Hồ không có số nước thặng dư hàng chục triệu m3 để chảy về giúp cho đồng bằng sông Cửu Long chống mặn.

“Nếu chỉ nhìn mực nước sông Mekong vào mùa khô không thấy suy giảm, người ta sẽ biện hộ tránh trách nhiệm cho Trung Quốc và Lào, trong khi họ đã âm thầm chiếm đoạt nước từ trước rồi.

“Trung Quốc và cả Lào, trên thực tế, đã không hề bù đắp tăng lưu lượng nước cho Campuchia và Việt Nam vào mùa khô, dù lý thuyết và tuyên truyền, họ vẫn nguỵ biện cho thủy điện là phải xả nước để chạy tua-bin, điều mà người dân hạ lưu không thể tin, vì họ không hề thấy,” ông Long nói. Bản quyền hình ảnh Ly Ke Hien Image caption Mekong không chỉ là nguồn nước mà còn gắn với cuộc sống của cư dân ven bờ.

Trung Quốc tăng khả năng khống chế khu vực

Ba thách thức lớn cho Việt Nam về sông Mekong

Mekong, dòng sông của 60 triệu người

Miền Tây: Người dân mất nhà vì biến đổi khí hậu

Ông Brian Eyler, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á, Trung tâm nghiên cứu Stimson, Mỹ, trong một hội thảo mới đây tại Việt Nam có nói rằng, Trung Quốc trữ nước cho tương lai bằng các đập thủy điện.

Nhưng phải chăng việc Trung Quốc xây các đập thượng nguồn, bên cạnh mục tiêu kinh tế, còn nhằm biến các quốc gia hạ nguồn thành ‘con tin’ cho mục tiêu chính trị? Bản quyền hình ảnh NVCC

Trên thực tế, 65 triệu dân cư Mekong đã trở thành nạn nhân của ‘cơn say’ điên thủy điện và chiến tranh không tiếng súng do Trung Quốc khởi xướngKS. Phạm Phan Long, Chủ tịch Quỹ Sinh thái Việt Nam tại Hoa Kỳ

Trả lời câu hỏi này của BBC News Tiếng Việt, Kỹ sư Long nói rằng, trên thực tế, 65 triệu dân cư Mekong đã trở thành nạn nhân của ‘cơn say’ điên thủy điện và chiến tranh không tiếng súng do Trung Quốc khởi xướng và chỉ đạo. Một nửa số dự án trên Mekong là do Trung Quốc tài trợ tham gia và thực hiện.

Ông Long nói: “Là quốc gia láng giềng với 6,5 triệu dân, Lào không thể ngang nhiên bất chấp sinh kế 16 triệu dân Campuchia và 95 triệu dân Việt Nam, nếu không có Trung Quốc che chắn cho họ. Trung Quốc đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở Lào, Campuchia và cả Việt Nam dễ dãi, không quan tâm đến các tác động xã hội môi sinh, nhân quyền hay dân quyền lao động.

“Tôi đã từng phân tích trên Viet Ecology từ năm 2016 và nay có thể nói rằng, Trung Quốc đã thành công toàn diện trong chiến lược phát triển quyền lực mềm với tổ chức Hợp tác Lan Thương-Mekong, Ngân hàng đầu tư hạ tầng châu Á và chiến lược ‘Nhất đái nhất lộ’ đối với các quốc gia Mekong.

Nắm trong tay thủy điện, an ninh nước, an ninh lương thực và cả an ninh năng lương của khu vưc, Trung Quốc đã củng cố quyền lực mềm và tăng cường khả năng khống chế khu vực của họ,” Kỹ sư Long phân tích.

Trong một thông cáo báo chí phát đi đầu tháng 10, Tổ chức Mạng lưới sông ngòi Việt Nam từng cho rằng, việc phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông đe dọa nghiêm trọng đến môi trường và sinh kế của hàng triệu người dân đang sống dựa vào con sông này. Bản quyền hình ảnh JONATHAN ERNST/Getty Images Image caption Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo tại Hội nghị Bộ trưởng Sáng kiến Hạ nguồn Mekong từng cho rằng, sông Mekong hiện đang ở mực nước thấp nhất trong vòng một thập kỷ có liên quan đến quyết định chặn nước ở thượng nguồn của Trung Quốc.

David Hutt trong một bài báo trên Asiatimes cho biết là, Trung Quốc đã xây 11 đập và đang lên kế hoạch xây thêm 8 đập khác trên thượng nguồn.

Tại quốc gia láng giềng với Việt Nam là Lào, trên dòng chính sông Kekong, hiện đã có 2 đập thủy điện đã và đang xây dựng là Xayaburi và Don Sahong. Cuối tháng Bảy, Chính phủ Lào đã đệ trình bản mô tả chi tiết về dự án đập thủy điện Luang Prabang để chuẩn bị tham vấn.

Thủy điện Luang Prabang có công suất 1.410 MW nằm cách thị trấn Luang Prabang của Lào 30 km.

Thủy điện này sẽ làm trầm trọng hơn những tác động môi trường mà đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt.

Nhưng điều đáng ngạc nhiên là các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam cũng tham gia các dự án xây dựng các đập trên sông Mekong.

Bác sĩ Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn “Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng” từng nhận định, “Hà Nội cho phép công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation ký bản Biên bản Ghi nhớ MOU với chính phủ Lào đầu tư xây con đập Luang Prabang, con đập dòng chính lớn nhất của Lào, cũng có nghĩa là Việt Nam đã gửi đi một tín hiệu “bật đèn xanh” cho toàn 9 dự án đập dòng chính của Lào.”

Kỹ sư Phạm Phan Long cũng chung nhận định khi cho rằng, “chính phủ Việt Nam đã quy hàng chiến lược thủy điện Lào từ năm 2007, đúng như những gì bác sĩ Ngô Thế Vinh nhận định. Lúc đó, Việt Nam phải có nhượng bộ chiến lược, chấp nhận hy sinh đồng bằng sông Cửu Long đổi lấy Luang Prabang và cho phép công ty Petro Vietnam Power đầu tư vào.”

Kỳ 2: Giải pháp cho cuộc chiến tài nguyên nước xuyên biên giới?

Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới?

Covid-19 cho thấy trật tự thế giới như hiện nay có nhiều khiếm khuyết, nhưng điều đó không có nghĩa là xóa bỏ nó hoàn toàn để xây dựng một trật tự mới.

01. Thay đổi thế giới

Đại dịch Covid-19 đang làm thay đổi thế giới. Không thể nói rằng, sau khi bệnh dịch kết thúc mọi thứ sẽ trở lại như cũ. Trong lịch sử, ngoài thiệt hại to lớn về nhân mạng, các hậu quả về sinh học, môi trường, các đại dịch lớn mà nhân loại đã trải qua còn để lại những hậu quả vô cùng to lớn về kinh tế, chính trị và xã hội.

Đại dịch hạch đầu tiên hay còn gọi là “Bệnh dịch Justian” xảy ra vào cuối thế kỷ thứ V đầu thế kỷ thứ VI giết chết khoảng 50 triệu người ở Trung Á, Trung Đông và Bắc Phi, chiếm một nửa dân số thế giới lúc bấy giờ đã dẫn đến sự sụp đổ của đế chế Byzantine và xuất hiện một nền văn minh mới – Hồi giáo.

Đại dịch “Cái chết đen” còn được gọi là “Great Plague” xảy ra vào giữa thế kỷ XIV đã giết chết hơn 60% dân số châu Âu, nhưng những người sống sót được tự do hơn, nghi ngờ vào sức mạnh của nhà thờ, sau đó dẫn đến một cuộc cải cách, đưa ra một mô hình kinh tế, xã hội mới – Chủ nghĩa tư bản.

Trong thế kỷ XX, nhiều sự kiện đã làm thay đổi thế giới như chiến tranh thế giới Thứ nhất và Thứ hai, kết thúc chiến tranh lạnh, bức tường Berlin sụp đổ, sự kiện 11/9 đầu thế kỷ XXI và cuộc khủng hoảng Covid-19 kéo dài 4 tháng nay cũng rất có thể sẽ dẫn đến nhiều thay đổi, định hình lại trật tự thế giới.

Đại dịch Covid-19 cho thấy trật tự thế giới được hình thành sau chiến tranh lạnh đã bộc lộ nhiều yếu kém và cần thiết xem xét lại để thiết lập một trật tự thế giới mới có thể đáp ứng được những thách thức ngày càng tăng đang đe dọa loài người.

02. Những hậu quả nghiêm trọng

Có thể nói cuộc khủng hoảng Covid-19 là thách thức lớn nhất đối với thế giới kể từ Thế chiến thứ hai, và nghiêm trọng hơn rất nhiều so với cuộc khủng hoảng dịch bệnh SARS và cúm lợn gần đây.

Ngoài số người chết hàng ngày tăng lên một cách khủng khiếp, ngoài những tác động kinh tế to lớn của nó, thế giới đang rơi vào tình trạng tê liệt do sản xuất bị đình trệ, lưu lượng thương mại giảm, ngừng việc đi lại và hoạt động hàng không giữa các quốc gia, sự sụp đổ của ngành du lịch và giá dầu lao dốc xuống mức kỷ lục.

Đại dịch Covid-19 đang cảnh báo những hiểm họa kinh tế hết sức to lớn. Đó là hàng chục triệu người sẽ mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao và có khả năng sẽ xảy ra khủng hoảng lương thực, thực phẩm trên phạm vi toàn cầu. Mặc dù Hội nghị thượng đỉnh bất thường nhóm G-20 họp ngày 26/3 vừa qua đã cam kết dành 5 nghìn tỷ USD để khắc phục hậu quả đại dịch cho nền kinh tế thế giới, nhưng không dễ gì thực hiện.

Trật tự thế giới hiện nay đã phơi bày một thực tế rằng, các tổ chức kinh tế quốc tế lớn như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO),… đã không giải quyết được hậu quả kinh tế của đại dịch Covid-19.

Chính sách tự do và toàn cầu hóa đang làm tăng thêm khoảng cách giữa các quốc gia, đặc biệt là giữa các nước giàu và nghèo. Do đó, trật tự thế giới mới hậu Covid-19 sẽ mang nhiều đặc điểm khác trước.

Nhiều khả năng sẽ quay lại xu hướng tập trung kinh tế vào tay nhà nước sau thất bại của chính sách toàn cầu hoá. Các công ty đa quốc gia trong hệ thống kinh tế hiện nay và Liên minh châu Âu (EU) đã không phối hợp giúp đỡ các nước thành viên bị ảnh hưởng nhất như Italia và Tây Ban Nha. Các nước này đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của Nga, Trung Quốc, Israel và thậm chí cả Cuba.

Về chính trị, các cường quốc như Mỹ và các nước phát triển khác như Anh, Pháp, Đức, Italia. Tây Ban Nha, v.v., với các hệ thống y tế hiện đại của mình cũng đã không ngăn chặn được sự lây lan của dịch bệnh. Một trật tự thế giới mới sẽ nổi lên vai trò của Trung Quốc, Nga và các nền kinh tế mới nổi khác. Mỹ sẽ mất dần độc quyền lãnh đạo thế giới.

03.Trật tự thế giới mới

Chắc chắn sẽ có sự thay đổi trên bản đồ chính trị thế giới, nhưng hãy còn quá sớm để đưa ra được nhận định chính xác về hình hài của một trật tự thế giới hậu Covid-19.

Nhiều nhà nghiên cứu chiến lược nhất trí cho rằng, cán cân quyền lực toàn cầu sẽ thay đổi căn bản, Mỹ sẽ không còn là siêu cường duy nhất do phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức mới cả trong và ngoài nước. Vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ với tư cách là một nước có nền kinh tế và sức mạnh quân sự lớn nhất đang trên đường suy giảm, đồng USD ngày càng suy yếu.

Stephen Walt, giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Harvard cho rằng, đại dịch Covid-19 sẽ đẩy nhanh quá trình chuyển đổi quyền lực và ảnh hưởng từ phương Tây sang phương Đông. Ông nói, cơ sở để đưa ra nhận định này là các nước phương Đông đã phản ứng nhanh chóng và có các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh này hữu hiệu hơn nhiều so với châu Âu và Mỹ.

Kết quả các cuộc thăm dò ý kiến ​​do tạp chí Chính sách đối ngoại (Foreign Policy) của Mỹ chuyên về các vấn đề quốc tế cũng cho thấy quan điểm tương tự.

Điều này thể hiện rõ, mặc dù có tiềm lực lớn về tài chính, những tiến bộ về khoa học và công nghệ trong lĩnh vực y tế, nhưng Mỹ và châu Âu đã phản ứng và hành động hết sức chậm chạp trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng, dẫn đến sự lây lan dịch bệnh trên diện rộng, tử vong hàng loạt ở Mỹ và châu Âu.

Trong khi đó Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Singapore, Việt Nam và nhiều nước khác với nguồn lực hạn chế hơn đã xử lý cuộc khủng hoảng tốt hơn rất nhiều. Trung Quốc là nguồn gốc của đại dịch, đến nay về cơ bản đã ngăn chặn được sự lây lan của bệnh dịch và số người tử vong thấp hơn nhiều so với các nước châu Âu và Mỹ.

Mặc dù còn nhiều bất đồng với Trung Quốc và Nga, ông D. Trump đã phải liên hệ gấp với Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống V. Putin đề nghị hai nước này giúp Mỹ trong cuộc chiến chống dịch Covid-19. Italia và Tây Ban Nha cũng đề nghị Nga và Trung Quốc giúp đỡ chống lại đại dịch này. Điều này thể hiện rằng, dù mạnh đến đâu Mỹ và châu Âu vẫn cần sự hợp tác với các nước mới giải quyết được những vấn đề mang tính chất toàn cầu.

04. Cán cân Mỹ – Trung

Theo Kishore Mahbubani, nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu châu Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore và là tác giả của cuốn “Trung Quốc đã thắng” (Has China won?), đại dịch sẽ không ảnh hưởng nhiều đến xu hướng kinh tế toàn cầu, nhưng nó sẽ mở đầu cho một sự thay đổi. Đó là sự chuyển đổi từ toàn cầu hóa do Mỹ là trung tâm sang toàn cầu hóa xoay quanh trục Trung Quốc.

Bruno Guigue, một cựu quan chức cao cấp người Pháp, chuyên gia về các vấn đề chính trị mới đây cho ra mắt cuốn sách “The Fall of the Eagle is Near” (Con đại bàng sắp ngã gục), thu hút sự quan tâm lớn của dư luận.

Tác giả viết, Mỹ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc năm 1979. Kể từ đó đến nay, ngoài cuộc chiến chống Việt Nam, Trung Quốc đã không tiến hành bất cứ cuộc chiến tranh nào. Trong khi đó, Mỹ vẫn thường xuyên ở trong tình trạng chiến tranh.

Có thể nói, Mỹ là quốc gia có chiến tranh nhiều nhất trong lịch sử thế giới, vì họ muốn áp đặt các giá trị Mỹ lên các dân tộc khác. Ngược lại, Trung Quốc đã tập trung mọi nguồn lực vào xây dựng và phát triển kinh tế.

Mỹ đã bị suy yếu rất nhiều sau khi ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam. Theo các con số thống kê của Mỹ, chi phí quân sự của Mỹ trong 50 năm qua lên tới trên 3 nghìn tỷ USD, chưa kể 5 đến 7 nghìn tỷ USD chi phí cho các cuộc chiến tranh gần đây tại Iraq và Afghanistan. Chi phí quân sự của Mỹ bằng 45% chi phí quân sự toàn cầu với 725 căn cứ quân sự ở nước ngoài, chưa kể đầu tư vào nghiên cứu, chế tạo các loại vũ khí mới.

Donald Trump giành thắng lợi trong cuộc bầu cử năm 2016, trở thành ông chủ Nhà Trắng đã hứa “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Không ai phủ nhận một số kết quả tích cực, nhưng tất cả những gì làm được trong nhiệm kỳ của ông đã không làm thay đổi bộ mặt nước Mỹ được bao nhiêu.

Năm 2018, thâm hụt thương mại của Mỹ với phần còn lại của thế giới tăng lên tới 891 tỷ USD, phá mức kỷ lục 795 tỷ USD năm 2017. Hai năm đầu tiên trong nhiệm kỳ của Tổng thống D. Trump được coi là tồi tệ nhất trong lịch sử thương mại Mỹ.

Sự mất cân bằng trong cán cân thương mại với Trung Quốc đóng vai trò lớn nhất trong sự thâm hụt chung này. Donald Trump muốn sử dụng vũ khí thuế quan trong cuộc chiến thương mại để tái cân bằng cán cân thương mại của Mỹ, nhưng đã không đem lại kết quả mong muốn trong bối cảnh toàn cầu hoá, không thể áp đặt và can thiệp vào công việc của các công ty đa quốc gia.

Năm 2018, thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc lên tới 419 tỷ USD so với 375 tỷ USD năm 2017. Cuộc chiến thương mại mà D. Trump khởi xướng không những đã không cải thiện được tình hình mà còn làm trầm trọng thêm thâm hụt thương mại của Mỹ. Xuất khẩu các sản phẩm của Trung Quốc sang Mỹ tiếp tục tăng (hơn 7%) và nhập khẩu từ Mỹ vẫn tiếp tục giảm.

Thâm hụt thương mại của Mỹ với Châu Âu, Mexico, Canada và Nga cũng trở nên trầm trọng. Ngoài thâm hụt thương mại, thiếu hụt ngân sách liên bang cũng tăng mạnh (779 tỷ USD năm 2018 so với 666 tỷ USD năm 2017).

Chi phí quân sự tăng vọt. Ngân sách quốc phòng năm 2019 lên tới 686 tỷ USD, mức kỷ lục trong lịch sử nước Mỹ. Trong khi ngân sách quân sự của Trung Quốc cùng năm chỉ ở mức 175 tỷ USD, mặc dù dân số của họ gấp bốn lần của Mỹ.

Nợ liên bang cũng đạt mức kỷ lục 22.175 tỷ USD, lớn hơn tổng thu nhập quốc nội GDP của Mỹ. Các khoản nợ của các công ty và cá nhân tăng chóng mặt, lên tới 73.000 tỷ USD.

Tất nhiên, Mỹ đang được hưởng lợi do đồng USD vẫn là đồng tiền chính trong các giao dịch quốc tế và trong dự trữ của ngân hàng các nước. Tuy nhiên, đặc quyền này cũng đang dần dần mất đi.

Trung Quốc, Nga và nhiều nước khác, thậm chí liên minh châu Âu đang giảm bớt dự trữ của họ bằng đồng USD và chuyển sang dự trữ bằng vàng miếng và sử dụng đồng nội tệ trong việc thanh toán các hợp đồng thương mại.

Làm thay đổi cả hành tinh trong thời gian ngắn, đại dịch COVID-19 tạo tiền đề cho trật tự thế giới mới? - Ảnh 8.

Tài liệu nghiên cứu mới đây “Thế giới năm 2050: Nền kinh tế thế giới sẽ thay đổi như thế nào trong ba mươi năm tới” của PwC (PricewaterhouseCoopers), một trong bốn công ty kiểm toán hàng đầu thế giới hiện nay, nhận định các nước mới nổi gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Mexico, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ có thể chiếm tới 50% GDP toàn cầu vào năm 2050, trong khi tỷ lệ của bảy nền kinh tế lớn nhất là Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Ý và Nhật Bản có thể sẽ giảm xuống còn 20%.

Đại dịch Covid-19 chắc chắn sẽ làm thay đổi thế giới và tư duy chính trị của nhiều nước.

Các nước đang phải xem xét lại chính sách của mình để rút ra được những đánh giá về toàn cầu hoá. Covid-19 cho thấy trật tự thế giới như hiện nay có nhiều khiếm khuyết, nhưng điều đó không có nghĩa là xóa bỏ nó hoàn toàn để xây dựng một trật tự mới.

Trung Quốc có thể sẽ là nước đầu tiên ra khỏi cuộc khủng hoảng này và tiếp tục vươn lên mạnh mẽ, nhưng không thể bỏ qua được vai trò của Mỹ, Nga và các nước khác.

Các đại dịch và các cuộc chiến tranh lớn trước đây đều đã không chấm dứt được sự cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn, thì ngày nay cũng vậy. Ngay trong khi đại dịch Covid-19 còn chưa chấm dứt, các nước này vẫn đang tìm cách khẳng định vị trí của mình trên bàn cờ chính trị thế giới.

*Tiêu đề bài viết do tòa soạn đặt lại

Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/song-mekong-tin-noi-bat

Video nhạc tuyển
Bài ca thời gian

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

2 thoughts on “Sông Mekong tin nổi bật

  1. Pingback: Chào ngày mới 6 tháng 4 | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Chào ngày mới 6 tháng 4 | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s