Thầy bạn trong đời tôi

-toi-sang/

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân của đời tôi mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì tôi không thể có được ngày hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” (1).

Về lại mái trường ta đã lớn khôn

Ai cũng có ước nguyện về trường. Tôi thấu hiểu vì sao thầy Đặng Quan Điện người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn (tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) năm trước đã đề nghị cho Thầy được ghé thăm Trường trước khi Thầy đi vào chốn vĩnh hằng. Thầy Tôn Thất Trình, người hiệu trưởng thứ hai của Trường nay 80 tuổi đã viết blog The Gift (2) như một quà tặng trao lại cho lớp trẻ và viết hai bài hột lúa (3), con cá (4) cho ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy Lưu Trọng Hiếu với tình yêu thương gửi lại (5) đã hiến tặng toàn bộ tiền phúng viếng của Thầy cùng với số tiền gia đình góp thêm để làm quỷ học bổng cho Trường tặng những em sinh viên nghèo hiếu học. Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên Đại học Nông Lâm gặp khó khăn học giỏi (6) vì tuổi thơ của anh nhọc nhằn không có cơ hội đến trường, khi thành đạt anh muốn chia sẻ để chắp cánh cho những ước mơ.

Tôi cũng là người học trò nghèo năm xưa với ba lần ra vào trường đại học, cựu sinh viên của năm lớp, nay tỏ lòng biết ơn bằng cách trở lại Trường góp chút công sức đào tạo và vinh danh những người Thầy người Bạn đã cống hiến không mệt mỏi, thầm lặng và yêu thương góp công cho sự nghiệp trồng người. Chừng nào mỗi chúng ta chưa thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa đủ mang lại niềm vui cho bữa ăn người nghèo thì chừng đó chúng ta vẫn còn phải dạy và học. Cái gốc của sự học là học làm người. Bài học quý về tình thầy bạn mong rằng sẽ có ích cho các em sinh viên đang nổ lực khởi nghiệp.

Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang (7) sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng (8) vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” (9) Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, tôi học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá … cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm” (10) Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất. Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh” (11)

Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trồng trọt 2 thuở đó là một lớp chung mãi cuối khóa mới tách ra 2A,2B, 2C. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy Đại học Cần Thơ. Trồng trọt khóa hai chúng tôi thuở đó được học với các thầy cô: Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Nguyễn Tâm Đài, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Thượng, Ngô Kế Sương, Trần Thạnh, Lê Minh Triết, Phạm Kiến Nghiệp, Nguyễn Bá Khương, Nguyễn Tâm Thu, Nguyễn Bích Liễu, Trần Như Nguyện, Trần Nữ Thanh, Vũ Mỹ Liên, Từ Bích Thủy, Huỳnh Thị Lệ Nguyên, Trần Thị Kiếm, Vũ Thị Chỉnh, Ngô Thị Sáu, Huỳnh Trung Phu, Phan Gia Tân, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Kế, … Ngoài ra còn có nhiều thầy cô hướng dẫn thực hành, thực tập, kỹ thuật phòng thí nghiệm, chủ nhiệm lớp như Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Văn Kịp, Lê Quang Hưng, Trương Đình Khôi, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Gia Quốc, Nguyễn Văn Biền, Lê Huy Bá, Hoàng Quý Châu, Phạm Lệ Hòa, Đinh Ngọc Loan, Chung Anh Tú và cô Thảo làm thư ký văn phòng Khoa. Bác Năm Quỳnh là Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Trường sau đó là thầy Kiên và cô Bạch Trà. Thầy Nguyễn Phan là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Trại Thực nghiệm. Thầy Dương Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Tuân, Võ Thị Tuyết, Ngô Văn Mận, Bùi Xuân An … ở khoa Chăn nuôi Thú y, thầy Nguyển Yên Khâu, Nguyễn Quang Lộc … ở khoa Cơ khí, cô Nguyễn Thị Sâm ở Phòng Tổ chức, cô Văn Thị Bạch Mai dạy tiếng Anh, thầy Đặng, thầy Tuyển, thầy Châu ở Kinh tế -Mác Lê …Thầy Trần Thạnh, anh Quang, anh Đính, anh Đống ở trại Trường là những người đã gần gũi và giúp đỡ nhiều các lớp nông học.

Thuở đó đời sống thầy cô và sinh viên thật thiếu thốn. Các lớp Trồng trọt khóa 1, khóa 2, khóa 3 chúng tôi thường hoạt động chung như: thực hành sản xuất ở trại lúa Cát Lái, giúp dân phòng trừ rầy nâu, điều tra nông nghiệp, trồng cây dầu che mát sân trường, rèn nghề ở trại thực nghiệm, huấn luyện quốc phòng toàn dân, tập thể dục sáng, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tạo nên sự thân tình gắn bó. Những sinh viên các khóa đầu tiên được đào tạo ở Khoa Nông học sau ngày Việt Nam thống nhất hiện đang công tác tại trường có các thầy cô như Từ Thị Mỹ Thuận, Lê Văn Dũ, Huỳnh Hồng, Cao Xuân Tài, Phan Văn Tự, …

Tháng 5 năm 1981, nhóm sinh viên của khoa Nông học đã bảo vệ thành công đề tài thu thập và tuyển chọn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt được Bộ Nông nghiệp công nhận giống ở Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Toàn Quốc Lần thứ Nhất tổ chức tại Thành phố Hố Chí Minh. Đây là một trong những kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đầu tiên của Trường giới thiệu cho sản xuất. Thầy Cô Khoa Nông học và hai lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 cũng đã làm họ trai họ gái tác thành đám cưới cho vợ chồng tôi. Sau này, chúng tôi lấy tên khoai Hoàng Long để đặt cho con và thầm hứa việc tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học và giảng dạy, một nghề nghiệp cao quý và lương thiện. “Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền. Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó. Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ. Có bạn thầy càng bền chí vươn lên. Trước mỗi khó khăn tập thể luôn bên. Chia ngọt xẻ bùi động viên tiếp sức. Thân thiết yêu thương như là ruột thịt. Ta tự nhủ lòng cần cố gắng hơn (11).

Bạn học chúng tôi vẫn thỉnh thoảng họp mặt, có Danh sách các lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 số điện thoại và địa chỉ liên lạc. Một số hình ảnh của các lớp ngày ấy và bây giờ.

Những bài học quý từ những người Thầy

Nhiều Thầy Bạn đã hun đúc nên nhân cách, niềm tin, nghị lực và trang bị kiến thức vào đời cho tôi, xin ghi lại một số người Thầy ảnh hưởng lớn đối với tôi và những bài học:

Thầy Mai Văn Quyền nghề nông của chúng tôi sống phúc hậu, tận tâm sát thực tiễn và hướng dẫn khoa học. Công việc làm người hướng dẫn khoa học trong điều kiện Việt Nam phải dành nhiều thời gian, chu đáo và nhiệt tình. Thầy Quyền là chuyên gia về kỹ thuật thâm canh lúa và hệ thống canh tác đã hướng nghiệp vào đời cho tôi. Những dòng thơ tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ đã nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: “Ơn Thầy (12). Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”. Thầy Quyền hiện đã 76 tuổi (năm 2010), đang đào tạo trên đại học cho Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều Viện Trường khác. Tấm gương phúc hậu và tận tụy của Thầy luôn nhắc nhở tôi.

Thầy Norman Borlaug di sản niềm tin và nổ lực sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh và nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống. Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao (13). Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”. (14)

Thầy Tôn Thất Trình những người Việt lỗi lạc ở FAO, sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách. Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam. Thầy làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên, tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome). Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt, nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc, nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách. Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…

Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngày Việt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báoViệt Nam và blog The Gift.

Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO. Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, lắng đọng trong tôi một nhân cách, một người thầy lớn …

Thầy, Bạn là lộc xuân của cuộc đời

Bill Clinton trong tác phẩm ‘Đời tôi’ (15) đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy quý bạn hiền là lộc xuân của cuộc đời. Tôi biết ơn mái trường thân yêu mà từ đó tôi đã vào đời để có được những cơ hội học và làm những điều hay lẽ phải.

Anh Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam :

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Tay ôm đàn độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Từ Cà Mau Rạch Giá
Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mờ như sương
Thân chưa là lính thú
Sao không về cố hương ?

Anh Mai Thành Phụng vừa lo xong diễn đàn khuyến nông Sản xuất lúa theo GAP (17) tại Tiền Giang lại lặn lội đi Sóc Trăng ngay để kịp Hội thi và trình diễn máy thu hoạch lúa. Anh Lê Hùng Lân trăn trở cho giống lúa mới Nàng Hoa 9 và thương hiệu gạo Việt xuất khẩu. Anh Trần Văn Đạt vừa giúp ý kiến “Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam” lại hổ trợ ngay bài viết mới (18).

Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức 2005 Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển (19) đến năm 2010 đã tròn 55 năm kỹ niệm ngày thành lập. Dưới mái trường thân yêu này, có biết bao nhà khoa học xanh, nhà giáo nghề nông vô danh đã thầm lặng gắn bó đời mình với nhà nông, sinh viên, ruộng đồng, giảng đường và phòng thí nghiệm. Thật xúc động và tự hào được góp phần giới thiệu một góc nhìn về sự dấn thân và kinh nghiệm của họ.

Hoàng Kim, GVC Bộ môn Cây Lương thực Rau Hoa Quả, Khoa Nông học
cựu sinh viên TT4 DHNN2 Hà Bắc (HUAF)
cựu sinh viên TT10 ĐHNN2 Hà Bắc (HUAF)
cựu sinh viên TT2 ĐHNN4 (NLU)
(bài đăng trên kỷ yếu Nông Lâm 2010đời tôi

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Chaongaymoi

Video yêu thích 
Secret Garden – Poéme
Chopin – Spring Waltz  
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng  
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài) 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và học Cây Lương thực Dạy và Học Tình yêu cuộc sống Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Phục sinh giữa tối sáng

Lê Phụng Hiểu truyện thác đao
PHỤC SINH GIỮA TỐI SÁNG
Hoàng Kim

Ngày 31 tháng 3 năm 1028 nhằm ngày mùng 3 tháng 3 năm Mậu Thìn (1028),vua Lý Thái Tổ vừa mất, chưa làm lễ táng, Hoàng Thái tử Lý Phật Mã chưa kịp lên ngôi vua thì Võ Đức Vương cầm đầu cùng Dực Chính Vương và Đông Chính Vương làm loạn, dẫn quân lập tức ập vào cướp ngôi.Thế giặc mạnh. Việc xẩy ra rất nhanh. Nước Đại Việt rơi vào nguy hiểm phục sinh giữa tối sáng. Công lớn là do Lê Phụng Hiểu dẹp loạn Tam vương

Hoàng Thái tử Lý Phật Mã sau nay là Lý Thái Tông vướng tình anh em chưa kịp đối phó. Lê Phụng Hiểu lúc ấy đang giữ chức Võ vệ tướng quân xin vua cho ông ra xử lý. Vua chấp thuận, ông nhanh chóng dẫn quân túc vệ ra cửa Quảng Phúc thì gặp lúc đội quân hùng hậu đang ập vào. Ông thét lớn: “Bọn Võ Đức vương ngắp nghé ngôi báu, không coi vua nối vào đâu, trên quên ơn Tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vì thế thần là Phụng Hiểu xin đem thanh gươm này để dâng”.Nói đoạn, vụt lao tới chém rời chân ngựa và chém bay đầu kẻ nghịch tặc. Hành động thần tốc quyết liệt dứt khoát và lời lẽ rung động lòng người của ông khiến kẻ ác tuy đông nhưng không kịp trở tay phải vỡ trận. Lý Thái Tông lên ngôi đã phong Lê Phụng Hiểu làm Đô thống Thượng tướng quân. Ông một lòng vì nước phò tá vua giỏi nhà Lý lập được nhiều công trạng lớn, đánh đuổi Chiêm Thành (1044), giữ vững ổn định đất nước Đại Việt bên trong cũng như bên ngoài. Sau khi đánh Chiêm Thành, vua Lý Thái Tông muốn thưởng công cho Lê Phụng Hiểu. Ông không muốn nhận tước, mà chỉ xin vua cho ông đứng trên núi Băng Sơn ném đao, đao đi xa đến đâu lấy làm đất biệt nghiệp đến đấy. Sử kể lại rằng đao đi xa đến hơn mười dặm. Từ đó, người vùng Thanh Hóa gọi ruộng thưởng công là ruộng thác đao Gốc tích ruộng thác đao hay là truyện Lê Phụng Hiểu, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, của Nguyễn Đổng Chi xuất bản năm 1957. Người sau lưu truyền Phúc tướng là người đảm lược, trong lúc tình thế biến loan, gặp việc nguy cấp, biết xử lý trí tuệ quyết đoán chính xác hiệu quả. Việt Nam ngẫm việc COVID19 mới đây mà vui mừng. Phục sinh giữa tối sáng.

Tài liệu dẫn: Gốc tích ruộng thác đao hay là truyện Lê Phụng Hiểu, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, của Nguyễn Đổng Chi xuất bản năm 1957
xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-co-tich-nguoi-lon/

LÊ PHỤNG HIỂU TRUYỆN THÁC ĐAO

Hoàng Kim (sưu tầm tuyển chọn, giới thiệu)

CNM365.Lê Phụng Hiểu, truyện thác đao. Ngày 31 tháng 3 năm 1028, Lê Phụng Hiểu dẹp loạn Tam vương (Vũ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chính Vương) nhà Lý (Việt Nam), trong ngày mất của Lý Thái Tổ, Hoàng đế đầu triều Lý, Việt Nam (sinh năm 974). Gốc tích ruộng thác đao hay là truyện Lê Phụng Hiểu, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, của Nguyễn Đổng Chi xuất bản năm 1957.Truyện kể rằng:

GỐC TÍCH RUỘNG THÁC ĐAO HAY LÀ TRUYỆN LÊ PHỤNG HIỂU
(Trong sách: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
của Nguyển Đổng Chi, xuất bản năm 1957)

Đời Lý, ở vùng Thanh-hóa có Lê Phụng Hiểu. Nhà Hiểu ở gần một hòn núi nhỏ nhô lên ở giữa cánh đồng gọi là núi Bơng (Băng-sơn) nên người ta cũng gọi Hiểu là ông Bơng. Hiểu là người to lớn khỏe mạnh. Mẹ chàng lúc trước khi lên núi trông thấy dấu chân to lạ thường. Bà ướm chân mình vào thử, không ngờ tự nhiên cảm động mà có thai, về sau sinh ra Hiểu.

Thuở nhỏ, Hiểu không học chữ, chỉ thích tập ném đao, đánh gậy, cử tạ, múa quyền. Chàng thường dùng một hòn đá tròn ở trên núi làm quả tạ để luyện tập. Hòn đá đó nặng tám người khiêng mới nổi. Năm Hiểu hai mươi tuổi, những tay đô vật trong vùng hết dám tỷ thí với chàng. Hiểu có thể chỉ một nắm đấm vật ngã một con bò mộng.

Thuở ấy, ở vùng Đông-sơn có ông Tuấn tục gọi là ông Vồm, sức khỏe vô địch lại rất giỏi vật. Nghe tiếng Hiểu là tay đô vật mới nổi lên, Vồm tìm đến Băng-sơn đòi thử sức. Vồm đến gặp lúc Hiểu đang đi kiểm củi vắng. Mẹ Hiểu bảo:

– Ông cần hỏi gì cháu thì rán chờ một lát. Nó sắp gánh củi về rồi đấy!

Mới nhìn thấy Hiểu từ đằng xa do mẹ chàng chỉ cho thì Vồm đã giật mình kinh sợ. Bởi vì bóng Hiểu hiện ra giữa con đường núi là một gã to lớn quảy hai bó củi to như đụn rạ một, chạy vùn vụt như bay. Thấy thế Vồm không đợi nữa, thác kế cáo từ đi thẳng.

Hiểu vừa bước vào trong ngõ nghe mẹ nói có khách chờ mình lúc nãy, rồi vội quẳng ngay gánh củi bắn tung ra đầy sân rồi đuổi theo Vồm. Chả mấy chốc chàng đã theo kịp. Hai bên bắt đầu làm quen với nhau bằng một cuộc tỷ thí dữ dội trên hòn Băng-sơn. Đất bay rào rào, cây cối xiêu vẹo vì những cái quật kinh người. Trong keo vật lần thứ mười tám, không chịu được cái móc của Hiểu, Vồm bị chẹt giữa hai tảng đá lớn.

Gần miền lúc đó có hai thôn Đàm-xá và Cổ-bi tranh nhau một bãi đất. Dân Đàm-xá đông gấp hai Cổ-bi lại thêm lúc này có Tá Lực vốn là hào hùng mới ở kẻ Chợ về tự khoe là giỏi võ, nên họ quyết lấy thịt đè người để chiếm lâu dài bãi đất kia.

Không nói thì ai cũng biết bên Cổ-bi nắm chắc thất bại. Thất bại nhưng họ vẫn không chịu để mất đất. Hai bên đánh nhau tròn tháng. Bọn trai tráng Đàm-xá dưới sự điều khiển của Tá Lực ngày ngày cầm gậy tày tay thước tiến sang đất Cổ-bi che chở cho một bọn khác trồng tre đắp bờ ngăn hẳn bài bồi làm đất của mình, Hễ bên Cổ-bi thò ra người nào thì người đấy chúng xúm lại đuổi đánh. Không kể số sứt đầu mẻ tai, những người bị thương nặng nằm la liệt cả một đình làng. Tá Lực vẫn thỉnh thoảng đứng trên gò cao nói vọng vào những câu khiêu khích.

Bấy giờ Lê Phụng Hiểu có việc đi ngang qua đó. Nghe rõ câu chuyện, chàng bừng bừng nổi giận. Hiểu vung tay áo nói với mấy vị phu lão Cổ-bi:

– Nó cong, ta thẳng, không thể ỷ chúng hiếp cô như vậy được.

Rồi chỉ vào ngực mình:

– Chỉ một mình tôi có thể đánh tan được bọn nhãi.

Các cụ mừng lắm sau dọn mâm cỗ mời ăn. Một mình Hiểu tỳ tỳ chén hết một dãy hai mươi cỗ cơm.

Ăn xong Hiểu vỗ bụng đứng dậy, tay không xông thẳng vào trận trên mình chỉ còn mỗi chiếc khố.

Trước hết, Hiểu rẽ vào lùm tây nhổ những cây gỗ vừa tầm để thành từng đống. Rồi cầm lấy cả những cành cả rễ, Hiểu vụt túi bụi vào đám đông địch thủ đang sấn tới trước mặt mình. Cây này gãy chàng thay cây khác. Cứ thế Hiểu đã quật ngã không biết bao nhiêu người. Nghề võ của Tá Lực và ngọn côn của y không trụ nổi những đòn bằng trời giáng của Hiểu. Chưa xong một hiệp. Tá Lực đã ngã quay lơ xuống đất, các tay võ khác và dân đình Đàm-xá còn sót đều chạy thục mạng Hiểu quay lại giẫm chân lên ngực Tá Lực, bắt hắn phải nhận điều kiện trả lại ruộng đát cho dân Cổ-bi rồi mới chịu cho khiêng về.

Từ đấy tiếng tăm của Hiểu được truyền đi khắp nơi. Ngày đó, vua Lý kén người khỏe mạnh sung vào quân túc vệ. Chỉ một cuộc tỷ thí đầu tiên, Hiểu đã được vua triệu vào bệ kiến và cho chỉ huy một đội quân toàn những tay lực sĩ. Chẳng bao lâu Hiểu được vua cất lên làm tướng người ta gọi là Võ vệ tướng quân.

Chưa được mấy năm thì vua thăng hà. Triều thần theo di chiếu định tôn hoàng thái tử lên ngôi báu trước khi làm lễ phát tang. Nhưng lễ đăng quang của ông vua mới chưa được cử hành thì ngoài thành cấm đã thấy ồn ào tiếng người ngựa. Quân canh cho biết ba hoàng tử: Võ Đức Vương, Đông Chính Vương và Dực Thánh vương đem quân ba phủ vây thành đòi chia sẻ ngôi báu với hoàng thái tử.

Bấy giờ trong thành kinh động. Vệ binh được phái đi các nơi phòng thủ. Hoàng thái tử vướng tình máu mủ chưa giải quyết. Lê Phụng Hiểu nghe chuyện, không nhịn được nữa, bèn đi tìm hoàng thái tử đòi một hai sống mái với quân phản nghịch. Chàng vỗ gươm tâu:

– Trước tình thế này xin cho cây gươm này của hạ thần ra nói chuyện với chúng.

Rồi đó, Hiểu phi ngựa tiến đến cửa Quảng phúc, tuốt gươm xông vào chỉ mặt Võ Đức Vương quát:

– Chúng bay cả gan muốn cướp ngôi ư? Đồ bất hiếu bất mục. Tao cho chúng bay nếm lưỡi gươm này.

Võ Đức Vương kinh sợ không dám giao phong, quay ngựa toan chạy, nhưng nhát gươm thứ nhất của Hiểu đã làm cho ngựa ngã khuỵu xuống và nhát thứ hai xả đôi người Võ Đức Vương. Thế rồi lưỡi gươm của Hiểu múa tít giữa đám quân ba phủ bấy giờ đã chạy toán loạn. Vệ quân của Hiểu được thể mặc sức chém giết. Hai hoàng tử kia chạy trốn biệt tích.

Trận đó, ông vua mới cảm ơn Hiểu vô hạn. Hiểu được vua ban tước hầu với chức Đô thống đại tướng quân, coi như quản hết quân sĩ trong nước.

Lần đánh giặc thắng trận trở về triều, nhà vua định phong thưởng thêm nữa, nhưng Hiểu tâu vua:

– Hạ thần không muốn lĩnh tước. Nhà hạ thần ở dưới chân núi Bơng. Hạ thần chỉ muốn bệ hạ ban cho một số ruộng đất bằng cách đứng trên núi ném dao xuống, hể đao cắm đến đâu hạ thần xin lĩnh số đất ấy để lập nghiệp.

Vua đáp:

– Tưởng là khanh muốn thế nào, chứ đã muốn ruộng đất thì phải ném dao làm gì cho mệt!

Nhưng Lê Phụng Hiểu thì chỉ muốn ném dao. Vua không đợi nói nhiều, bằng lòng ngay. Ngày hôm sau lễ ném dao, mọi người đổ tới xem như đám hội. Trên hòn Băng-sơn chưa khi nào có chiêng trống cờ quạt và quan dân đi lại rộn rịp như vậy.

Dứt tiếng trống, Hiểu cởi trần đóng khố, cầm dao xoay mấy vòng lấy đà, rồi phóng đi. Chiếc dao bay bổng lên như một con chim được thả. Mọi người ngạc nhiên và say sưa nhìn nó bay mãi như một chiếc dấu chấm ở lưng chừng trời, xa đến mười dặm rồi mới chịu hạ xuống. Mũi dao chọc xuống địa phận của làng Đa-mỹ. Các quan hầu hết đi đo đạc đóng mốc, trở về cho biết từ chân núi cho tới chỗ ném dao xuống quy vuông lại được hơn mười ngàn mẫu. Vua nhà Lý y ước ban cho Hiểu làm hương hỏa truyền cho con cháu và tha không đóng thuế.

Từ đó, những ruộng thưởng cho công thần, người ta quen gọi là ruộng thác đao[1].

KHẢO DỊ

Về tình tiết đánh giúp cho làng Cổ-bi để giành địa giới, nhân dân ta còn có nhiều truyện giống với truyện trên. Ở đây chỉ kể hai truyện:

  1. Truyện Ông tổ họ Hoàng giúp làng Thượng-nguyên:

Làng Tĩnh-thạch và làng Thượng-nguyên (đều thuộc Hà-tĩnh) cách nhau một con sông, hai bên tranh nhau một bãi bồi, kiện tụng đã lâu đời. Quan nào cũng không xử được vì mỗi lần xử, dân làng Tĩnh-thạch ỷ thế mạnh kéo nhau lên làm ầm ỹ cả công đường, một hai quyết liều mạng. Sau cùng quan phán: “Thôi bên nào mạnh thì cho bên đó được!” Dân làng Thượng-nguyên sức yếu phải nhờ đến ông tổ họ Hoàng, một người ở làng Phan-xá bên cạnh đến đây đi làm thuê. Ông này chỉ xin làng Thượng-nguyên cho một vài người đàn bà đi theo, mỗi người mang một ít tro để tung vào kẻ địch. Đến ngày hẹn chờ ngọn gió nồm thổi lên, ông tay không tiến ra bãi, nhổ hết cây tre này sang cây tre khác dùng làm gậy quật tới tấp vào đối phương đông như kiến, nhưng bị bụi tro làm cho mù mắt. Cuối cùng bên Tĩnh-thạch đành chịu nhường bãi cho làng Thượng-nguyên. Ngày nay cánh đồng ấy còn gọi là đồng Ông-vụ (vụ: tung ra, vãi ra, tiếng Nghệ – Tĩnh)[2].

  1. Truyện Đô Hùng đại tướng quân còn có nhiều tình tiết liên quan xa gần tới những truyện cổ tích khác, ngoài truyện Lê Phụng Hiểu:

Ở làng Thiên-mỗ (Hà-đông) có một nhân vật sức khỏe tuyệt trần, người ta gọi là ông Đô Hùng. Nhà nghèo đi làm thuê, mỗi lần đi cày một tay ông cắp trâu, một tay cắp cày bừa, bừa xong bồng trâu xuống sông Nhuệ khỏa chân (xem truyện Ông Ồ số 70, tập II) rồi lại cắp trâu và cày bừa về nhà.

Làng có giếng khơi trên có vành đá làm bờ, phải mấy chục người khiêng mới nổi. Ông vác ra đặt cách đấy vài trượng để đùa chơi. Cả làng ra hè nhau khiêng về rất chật vật, sau phải nhờ ông vác hộ.

Làng Ỷ-la mở hội có giải vật, một gã lực sĩ giữ giải luôn mấy ngày. Ông tới, chỉ một keo bốc nổi gã ném ra ngoài vòng rồi cho gã giải vật để về nhà làm tiền thuốc.

Thi với Quản tượng dùng gậy bảy đánh vào một mô đất. Quản tượng chỉ đánh lở một ít. Ông đánh sạt dài vài trượng. Ngày nay mô đất vẫn còn gọi là Đống Mẻ.

Dân làng Phùng và làng Hiệp tranh nhau bãi bồi, kiện kéo đã lâu mà không phân thắng bại. Cuối cùng họ xin quan cho phép đánh nhau, ai thắng thì được. Dân làng Phùng biết thế yếu, vì vốn quen nghề nuôi tằm, bèn đến thuê Đô Hùng đánh giúp. Ông chỉ đòi công một gánh tơ nặng. Cũng như truyện Lê Phụng Hiểu, ông bảo dân làng sắp sẵn cho mình nhiều tre chắc, mỗi cây dài ước trượng, để thành từng đống ở bãi. Khi đánh, ông cầm tre vụt đối phương, gãy cây này lấy cây khác, cuối cùng giành phần thắng cho dân làng Phùng. Đến khi trả công, dân làng đưa ra một gánh tơ nặng, ông chỉ dùng một ngón tay nhấc lên như bỡn, rồi buộc dân làng phải đưa nhiều tơ nữa mới đủ sức gánh. Dân làng bóp bụng đem tơ ra mắc vào hai bên đòn tre trên vai Đô Hùng, nhưng mắc đến khi cả làng đã cạn tơ mà gánh vẫn chưa nặng. Sau cùng ông phải cho thôi, rồi gánh tơ về (xem Khảo dị, truyện số 63 tập II).

Tiếc của, dân làng kiện quan rằng ông lấy trộm tơ của họ. Quan sai lính về vây bọc, Đô Hùng sợ phép quan trốn vào bụi cây. Lính thọc giáo vào các bụi bờ, có mũi trúng phải Đô Hùng, Ông cắn răng chịu đau lấy áo lau mũi giáo trước khi bọn chúng rút giáo ra (xem truyện Lê Lợi số 99, tập III). Sau đó, căm giận dân làng Phùng ông chạy tới toan trị tội, nhưng máu ra nhiều quá nên đến thôn Trung-thắng thì té xỉu ở gò đất, gắng về tới làng thì chết. Dân làng lập đền thờ ở gò đất gọi là miếu Đức Ông[3].

[1] Theo Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập và báo Tràng-an.

[2] Theo lời kể của người Hà-tĩnh (trong Văn học dân gian sưu tầm ở xã Ích-hậu, chưa xuất bản).

[3] Theo Công Nông Thương (1939)

[4} Nguồn: sachhayonline.com

[5] Nguồn: DẠY VÀ HỌC
http://dayvahoc.blogtiengviet.net/2015/03/31/le_phung_hieu_truyen_hay_nho_mai
[6] TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/03/31/le-phung-hieu-truyen-hay-nho-mai/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Chaongaymoi

Video yêu thích 
Secret Garden – Poéme
Chopin – Spring Waltz  
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng  
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài) 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và học Cây Lương thực Dạy và Học Tình yêu cuộc sống Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

COVID19 NEWS

COVID19 NEWS TIN NỔI BẬT theo Chinhphu.vn,Thủ tướng chỉ thị số 16/ CT-TTg ngày 31 tháng 3 năm 2020, (CÔNG VĂN HỎA TỐC hình ảnh kèm) thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống dịch COVID19, cách li toàn xã hội trong vòng 15 ngày từ 0 giờ 1 tháng 4 năm 2020 đến 15 tháng 4 năm 2020 trên phạm vi toàn quốc

CHIA SẺ TINH HOA Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG QUỐC

THIÊN CỔ DANH PHƯƠNG – BÀI THUỐC CẠO SẠCH HÀN THẤP NGƯNG KẾT TRONG XƯƠNG TỦY

Dịch và tổng hợp: Thạc sĩ Bác sĩ Nguyễn Văn Trỗi

❄️❄️ Có một thứ lạnh, gọi là Chân Hàn,không phải lạnh ở bì mao, cũng không phải lạnh ở phần bắp thịt, cũng không phải lạnh ở tạng phủ, mà nó còn nhiễm vào xương nhập vào tủy, đó gọi là Hàn Băng Thấu Cốt.

❄️❄️ Có một loại đau, không phải đau ở ngoài da, không phải đau ở cơ nhục, không phải đau ở nội tạng, mà là một loại đau phát ra từ trong xương, vô cùng khó chịu.

Đông y gọi căn bệnh này là Tý chứng, nguyên nhân là do hàn thấp xâm nhập vào cốt tủy. Từ xưa đến nay, các danh y chữa bệnh nhập cốt tủy vô cùng gian nan. Thế nhưng có một vị danh y, không biết là do tổ truyền hay bản thân phát minh ra được một bài thuốc, có khả năng nạo vét tất cả hàn thấp ngưng kết ở trong xương tủy, cứu chữa cho biết bao người thoát khỏi cảnh dày vò vì đau đớn, từ đó mà danh lưu trăm năm, trở thành một bài thuốc thiên cổ danh phương có một vị trí quan trọng trong nền YHCT Trung Quốc.

👴🏼👴🏼 Vị danh y đó là Vương Hồng Tự (王洪绪 1669-1749), trong quyển “Ngoại Khoa Chính Trị Toàn Sinh Tập” của mình, ông có chép lại bài thuốc đó, bài thuốc đó tên là Dương Hòa Thang. Dương Hòa Thang, chính là dùng dương khí để điều hòa âm dương, khiến cho âm dương cân bằng, thân tâm bình ổn, bách bệnh từ đó mà tiêu tan. Âm dương cân bằng là nguyên tắc căn bản nhất trong phương pháp điều trị của Đông y. Vì thế Thánh Y Trương Trọng Cảnh đưa bài Quế Chi Thang lên đầu tiên, rất nhiều người chỉ cho rằng bài Quế Chi Thang chữa cảm mạo thông thường, nhưng như thế là quá coi thường bài thuốc này rồi, Quế Chi Thang là một bài thuốc mẫu mực trong cân bằng âm dương, điều hòa vinh vệ!

🌤🌤 Dương Hòa Thang:

Thục địa 30g, Ma hoàng 3g, Lộc Giác Giao 9g, Bạch Giới Tử (Sao lên, nghiền nhỏ) 6g, Nhục quế (Cạo vỏ, nghiền bột) 3g, Sinh Cam Thảo 3g, Bào khương 3g.

Bài thuốc nhìn qua thì rất đơn giản, không có kỳ hoa dược vật, thế mà sao lại có thể nạo vét hàn thấp từ trong xương tủy ra?!

Muốn đem hàn thấp trong cơ thể bức ra ngoài, thì đầu tiên cần phải cho hàn thấp một đường thoát, đây chính là tư duy chữa bệnh của Đông y. Trong bài có dùng Ma Hoàng, Ma hoàng là vị thuốc đầu bảng tân ôn giải biểu, có khả năng mở rộng lỗ chân lông. Tiếp đó dùng ba vị ôn dương trừ đờm Nhục quế, Bào khương và Bạch giới tử.

☀️☀️ Dùng Nhục quế, Bào Khương để ôn dương bên trong, thái dương một khi xuất hiện, băng tan tuyết chảy, vạn vật phục sinh, như mùa xuân ấm áp, trăm hoa đua nở. Sau đó là dùng vị Bạch Giới Tử một trong ba vị của Tam Tử Dưỡng Thân trừ đàm nổi tiếng, sở trường ôn hóa đàm ẩm. Người Trung Quốc có câu nói: “Tỏi thì cay đến tim, hành thì cay mắt, ớt thì thì cay lên đỉnh đầu, Bột cải thì khiến cho Quỷ phải co giật”, nói như vậy để biết rằng Bạch Giới Tử tính cực kỳ táo liệt, như mãnh tướng ngoài sa trường, long đao một khi đã chém thì không thể dừng lại, ngựa hoang ngoài biên ải, một khi đã tung vó thì vĩnh viễn không kẻ nào dừng được, nhờ tính táo liệt ấy mới có khả năng quét sạch hàn thấp từ xương tủy ra ngoài.

🔆🔆 Ý tứ của bài thuốc thì đã rõ ràng, nhưng nếu phối ngũ chỉ dừng ở đây thì chắc nó không bao giờ được xưng danh là Dương Hòa Thang. Hai vị cuối cùng của bài thuốc là Thục Địa và Lộc Giác Giao, một vật là thảo mộc vô tình, sau trải qua tinh luyện cửu chưng cửu sái, tính chuyển thành ôn mà đại bổ thận tinh. Một vị là huyết nhục hữu tình, đắc âm dương của thiên địa mà đại bổ thận dương. Nhị vị tương phối, khiến cho bài thuốc nhu nhuận hòa hoãn, như nắng sau mưa, dương quang phổ chiếu, mây mù dần tan đi, mát mẻ nhẹ nhàng. Bài thuốc ôn dương nhưng không táo, bổ âm nhưng không nê trệ, hàn thấp từ đó nhẹ nhàng được đưa ra khỏi cơ thể. Thế nên được đặt tên là Dương Hòa, ôn dương nhưng hòa hoãn! Hơn nữa bài thuốc này thần kỳ ở chỗ, các vị thuốc được phối ngũ rất khéo léo, Ma Hoàng gặp Thục Địa thì không thành phát hãn giải biểu, Thục Địa đi với Ma Hoàng thì bổ mà không nê trệ, cùng phát huy được ưu điểm và hạn chế nhược điểm trong bài thuốc.

Trong sách của mình Vương Hồng Tự nhấn mạnh bài thuốc chữa tất cả các chứng Âm Thư (Tương đương với những bệnh như viêm tắc tĩnh mạch chi, các biến chứng của tiểu đường như viêm loét). Âm Thư là chứng ung nhọt không có nhiệt chứng , do khí huyết suy, âm độc lâu ngày tích lại thành bệnh.

Các chứng ung nhọt mà không có ngòi, da không thay đổi màu sắc, miệng không khát, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm tế hoặc trì tế. Hoặc các chứng Cốt thư, thoát thư, lưu trú, đàm hạch, hạc tất phong có nguyên nhân từ âm hàn.

Ngoài ra nếu có triệu chứng đau buốt trong xương, hoặc gặp lạnh thì đau tăng, hoặc đau nhiều về đêm, hoặc chịu lạnh kém, hoặc đau nhưng không sưng nóng đỏ đau. Đều có thể nghĩ đến dùng bài thuốc này.

Xã hội phát triển, các nghiên cứu dược lý hiện đại đã xác nhận rằng Dương Hòa Thang có tác dụng tăng cường tuần hoàn tim, tăng lưu lượng mạch vành, làm giãn mạch máu, ức chế kết tập tiểu cầu và tăng bạch cầu…

Do có nhiều công dụng, ứng dụng lâm sàng của bài thuốc vượt xa phạm vi điều trị được mô tả trong “Ngoại Khoa Chính Trị Toàn Sinh Tập”. Theo nghiên cứu lâm sàng, có hơn 100 loại bệnh được điều trị bằng bài thuốc này. Như viêm tủy xương hàm, viêm khớp dạng thấp, viêm dây thần kinh ngoại biên, xơ cứng động mạch tắc, viêm mạch do tắc mạch, thoát vị đĩa đệm thắt lưng, đau thần kinh tọa, viêm phế quản mãn tính, viêm xoang mạn tính. Các bệnh phụ khoa, đau bụng kinh cũng đã đạt được hiệu quả mãn ý. Trong đó có nhiều nghiên cứu bài thuốc cũng hỗ trợ điều trị ung thư thu được những kết quả kinh ngạc.

Một vài dòng thực sự không thể viết hết được. Bài viết chỉ mang tính chất chia sẻ đến các đồng nghiệp thêm chút thông tin nhỏ, từ đó tìm tài liệu đọc thêm và ứng dụng trong lâm sàng.

Hồ Hữu Thọ5 tháng 4 ·  

HỎI XOÁY ĐÁP XOAY VỀ XÉT NGHIỆM COVID-19
Dịch giả Phan Phương Đạt
: https://phanphuongdat.com/about/
Dịch từ bài đăng ngày 3/4/2020 trên Radio Svoboda (tiếng Nga):
https://www.svoboda.org/a/30525376.html

Sonya Pekova là một nhà di truyền học phân tử và virus học người Séc, lãnh đạo phòng thí nghiệm tư nhân Tilia Laboratory, đã chẩn đoán một trong những trường hợp coronavirus đầu tiên ở Séc. Hơn thế, cô đã phát hiện ra bệnh ở những người không về từ những “quốc gia có nguy cơ” và không tiếp xúc với người trở về từ đó. Phát hiện này đã buộc chính phủ Séc thay đổi chính sách xét nghiệm và bắt đầu xét nghiệm tại các lab của nhà nước không chỉ những người đến từ các quốc gia có lượng lớn bệnh nhân và những người tiếp xúc gần. Có lẽ vì thế, dịch bệnh ở Cộng hòa Séc hiện đang phát triển chậm hơn so với hầu hết các quốc gia khác.

Vào giữa tháng 3, Sonya Pekova đã phát triển một phương pháp (protocol) xét nghiệm mới, theo cô là chính xác hơn và rẻ hơn, cho SARS-CoV-2 và cung cấp miễn phí cho tất cả các tổ chức y tế quan tâm. Nó đã được Viện Hàn lâm Khoa học Séc và nhiều lab trên thế giới sử dụng.

Chủ nhật vừa rồi (29/3), phóng viên Radio Svoboda đã phỏng vấn Sonya Pekova. Hôm thứ Hai, trong khi văn bản cuộc trò chuyện vẫn còn ở tòa soạn, trên một số trang web liên quan bộ máy tuyên truyền của Nga đã xuất hiện thông tin rằng Pekova, trong cuộc trò chuyện với kênh truyền hình Slovak TA3, đã tuyên bố SARS-CoV-2 được phát minh trong phòng thí nghiệm ở Hoa Kỳ và chính phủ Hoa Kỳ đang cố gắng che giấu điều này bằng cách buộc các nhà khoa học Mỹ nói dối về virus. Trong video cuộc trò chuyện mà các trang web này trỏ đến, Pekova không hề nói gì như vậy.

Chúng tôi đã phải hoãn việc đăng bài và liên lạc lại với Pekova để làm rõ tình hình. Đây là câu trả lời của cô:

“Tôi không bao giờ, trong mọi trường hợp và vì bất kỳ lý do gì, đã nói hay viết rằng nguồn gốc và sự lây lan của virus có liên hệ gì đó, dù là nhỏ nhất, đến Hoa Kỳ. Tôi cũng chưa hề nói ở bất cứ đâu rằng Hoa Kỳ đã cố gắng che giấu, kiểm duyệt hoặc thông tin sai lệch dữ liệu về loại virus này, bằng bất kỳ cách nào. Tôi không hề đề cập đến mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và virus SARS-CoV-2.”

Tuy nhiên, theo Pekova, không thể loại trừ virus này có nguồn gốc nhân tạo. Về lý do tại sao virus này không giống như các loại coronavirus khác, kỹ thuật xét nghiệm của nó khác với các loại khác như thế nào, chúng ta có thể sống như thế nào trong đại dịch, hãy đọc trong bài phỏng vấn của cô với phóng viên Radio Svoboda.

– Có những loại xét nghiệm coronavirus nào, và chúng khác nhau thế nào?

– Có hai loại xét nghiệm, khác nhau về bản chất. Thứ nhất là PCR (polymerase chain reaction), dựa trên sự phát hiện trực tiếp RNA của virus, và đây chính là loại cần được sử dụng trong việc xét nghiệm toàn dân để tìm ra người mang virus và ngăn chặn dịch. Loại xét nghiệm thứ hai dựa trên việc tìm kiếm kháng thể với virus, nó được sử dụng khi một người đã hồi phục hoặc ít nhất khi bệnh đã bắt đầu.

– Bây giờ thường xuyên có tin tức về các xét nghiệm mới cho thấy kết quả trong 5 phút, 20 phút, nửa giờ. Đó là những xét nghiệm kháng thể?

– Đấy là những xét nghiệm được gọi là express test, và chúng dựa trên việc tìm kiếm kháng thể. Thật không may, chúng không phù hợp để chẩn đoán bệnh nhân không có triệu chứng và những người mới nhiễm gần đây vì cơ thể chưa phát triển kháng thể đối với virus. Express test có thể âm tính giả cho đến khi kháng thể xuất hiện trong cơ thể. Hiệu quả của nó cũng phụ thuộc vào trạng thái của hệ thống miễn dịch của con người và cách nó đối phó với việc sản xuất kháng thể. Nếu bệnh nhân đã trải qua một số hình thức trị liệu miễn dịch hoặc đơn giản là suy yếu khả năng miễn dịch, thì xét nghiệm có thể không hiệu quả. Xét nghiệm nhanh có thể là một cách rẻ và tốt để phát hiện nhiễm bệnh, nhưng chúng đo lường phản ứng của cơ thể khi đã phát bệnh, nên không phù hợp cho chẩn đoán sớm và chẩn đoán những người không phát bệnh nhưng lại mang mầm bệnh.

– Có thể sử dụng xét nghiệm nhanh khoảng bao lâu từ lúc nhiễm?

– Cửa sổ huyết thanh học (thời gian từ khi nhiễm virus đến khi xuất hiện kháng thể) có thể kéo dài khác nhau, và đối với loại virus này ta vẫn chưa biết chắc chắn. Hơn nữa, nó phụ thuộc vào trạng thái miễn dịch của một người cụ thể. Vì vậy, khoảng thời gian mà các xét nghiệm nhanh không cho thấy bất cứ điều gì có thể kéo dài 2 hoặc thậm chí 3 tuần. Cũng có khi một tuần. Nhưng trong mọi trường hợp, đây không phải là giờ, mà là ngày hay tuần.

– Lab của chị sử dụng xét nghiệm kháng thể hay PCR?

– Chúng tôi sử dụng PCR, xét nghiệm dựa trên bằng chứng về sự hiện diện của RNA virus trong vật liệu sinh học.

– Chị cần bao lâu để cho ra kết quả?

– Khoảng 4-5 giờ cho một bệnh nhân. Bài xét nghiệm được chia thành vài giai đoạn. Nhưng khi phải xử lý 100 xét nghiệm cùng lúc thì sẽ mất nhiều thời gian hơn, và chúng tôi trả kết quả vào hôm sau.

– Phương pháp mà chị phát minh ra cho kết quả nhanh hơn so với PCR tiêu chuẩn?

– Không, vì nó dựa trên phương pháp chuẩn nên không khác biệt về thời gian. Nhưng nó chính xác hơn và đòi hỏi ít thuốc thử hơn cũng như tải ít thiết bị hơn. Theo phương pháp của CDC (Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ), để xác định virus, bạn cần tìm ba đoạn mã khác nhau. Chúng tôi đã thiết kế lại phương pháp, bây giờ nó nhắm vào một phần khác của mã virus, và chỉ cần tìm một phân đoạn để nhận dạng. Vì vậy, thay vì ba ống giờ chỉ cần một, thay vì ba vị trí trong máy phân tích, một là đủ và thay vì ba liều thuốc thử, chỉ cần một. Tôi tiết kiệm thuốc thử, các chỗ trong máy phân tích và do đó tôi có thể xử lý nhiều xét nghiệm hơn cùng một lúc. Tức là, tôi có thể nhét vào máy phân tích mẫu xét nghiệm của số bệnh nhân nhiều gấp ba lần so với trước đây.

– Chị nghĩ gì về pooling (gộp chung phân tích các xét nghiệm từ nhiều người cùng lúc), ví dụ cái được khuyến nghị bởi các bác sĩ Israel?

– Pooling là một phương pháp tuyệt vời được sử dụng rộng rãi trong y học. Nó được sử dụng, ví dụ, trong truyền máu, nơi máu dùng để truyền được xét nghiệm cho các loại virus khác nhau, vì vậy đây hoàn toàn không phải là một phương pháp mới. Chúng tôi sử dụng nó, chúng tôi đồng thời kiểm tra mẫu cho tối đa 10 bệnh nhân. Khi bắt đầu dịch, khi nhiều xét nghiệm âm tính, nó sẽ tiết kiệm rất nhiều thời gian và thuốc thử. Vì vậy, tôi nhiệt liệt khuyên tất cả các phòng thí nghiệm thực hiện pooling, bởi vì một phần của các nhóm này sẽ âm tính và có thể loại trừ ngay lập tức tất cả các bệnh nhân trong các pool này, và chỉ xét lại bệnh nhân của những pool có kết quả dương tính.

– Tại sao chị chọn xét nghiệm một đoạn mã gen khác với CDC? Đoạn mã này có gì lạ và tại sao nó quan trọng?

– Rõ ràng, virus SARS-CoV-2 có khả năng đột biến rất lớn. Điều này được thể hiện qua các trường hợp được xác nhận tái nhiễm của những người đã bị bệnh. Với một đột biến, các phần của bộ gen có thể thay đổi, chính ở đoạn mã mà xét nghiệm ban đầu nhằm vào. Xét nghiệm của chúng tôi là nhằm vào một phần không bị đột biến của bộ gen. Ít nhất, từ kinh nghiệm lâu năm mà chúng tôi có với các loại vi-rút khác, chúng tôi chưa từng thấy phần virus này có thể thay đổi nhiều. Do đó, xác suất kết quả âm tính giả do thay đổi mã di truyền là ít hơn nhiều. Hy vọng rằng xét nghiệm của chúng tôi sẽ ổn định cho dù virus biến đổi như thế nào.

– Việc virus này đột biến thường xuyên làm cho việc tạo ra một loại vắc-xin hiệu quả phức tạp hơn?

– Thật không may, liên quan đến vắc-xin, đây thực sự là một tin xấu. Nó phụ thuộc vào việc những người phát triển vắc xin chọn epitope nào, nghĩa là protein nào của loại virus này, làm mục tiêu. Nhưng do cách thức virus thay đổi, nên có thể nói, áo choàng, vỏ ngoài, protein này có thể thay đổi, và vắc-xin sẽ hết hiệu lực. Cũng như điều xảy ra với bệnh cúm, khi chủng xuất hiện năm nay hơi khác so với chủng năm ngoái. Có vẻ như coronavirus mới đột biến khá nhanh. Những gì hiện đang được phát triển có thể trở nên không hiệu quả sau một thời gian.

– Vậy thì sẽ không có “miễn dịch đàn”? Tôi có thể bị bệnh, hồi phục và bị bệnh trở lại?

– Vâng, đúng vậy. Virus biến đổi và thay đổi “áo choàng” của nó. Có thể nói, nếu tôi bị nhiễm vi-rút có áo khoác màu xanh và phục hồi vì tôi phát triển khả năng miễn dịch với nó, sau đó vi-rút này đến với tôi trong một chiếc áo khoác màu đỏ, thì cơ thể tôi sẽ coi đó là loại vi-rút khác và lại phải phát triển miễn dịch với nó. Rõ ràng, đây là một trong những đặc tính khó chịu nhất của virus này.

– Khả năng biến đổi của virus này như thế nào – giống như bệnh cúm, cao hơn hay thấp hơn?

– Chúng ta biết về nó còn quá ít, vì vậy tôi chưa thể trả lời câu hỏi này.

– Virus này khác với các coronavirus “thông thường” chỉ gây cảm lạnh như thế nào?

– Tôi nghĩ, trước hết, bởi vùng điều hòa (vùng điều hòa: nằm ở đầu gen, mang tín hiệu khởi động và kiểm soát quá trình phiên mã – ND) chưa được dịch mã. Nó chứa các chuỗi gen rất khác với các chuỗi trong vùng điều hòa của coronavirus sống trên dơi, trong khi “thân” của virus – các gen cấu trúc của nó – thì giống như ở virus của dơi. Trong loại virus mới này ở người, vùng điều hòa dường như bị thay đổi một chút, điều này có thể liên quan khả năng sinh sản rất cao của nó mà chúng ta quan sát được. Vì sinh sản rất nhanh, nó rất dễ lây lan. Điều này cũng có thể liên quan với khả năng đột biến cao của nó – những chủng mà chúng ta chưa từng thấy trước đây xuất hiện rất nhanh. Để phân chia và tạo ra virion (hạt virus), virus RNA cần một loại enzyme gọi là RNA polymerase phụ thuộc RNA, không có cơ chế kiểm tra lỗi: nó không chú ý đến việc tạo ra các bản sao không chính xác. Và virus nhân càng nhanh thì khả năng xảy ra lỗi trong các bản sao càng lớn. Vì thế, chúng ta thấy đột biến trong các gen cấu trúc. Tôi nghĩ rằng vùng điều hòa của coronavirus này làm cho nó nhân lên rất nhanh, điều mà chúng ta không thấy với các coronavirus thông thường. Có lẽ vì thế, virus này, không giống như các coronavirus thông thường, không chỉ gây ra sự bất tiện cho chúng ta mà còn gây ra tác hại nghiêm trọng.

– Vài tuần trước chị đã nói: không loại trừ khả năng virus này có nguồn gốc nhân tạo. Các nhà khoa học Ấn Độ ngay từ đầu dịch bệnh đã nói điều tương tự. Nhưng vài ngày trước, các nhà khoa học Mỹ công bố một bài báo, trong đó tuyên bố loại trừ hoàn toàn nguồn gốc nhân tạo của virus này. Chị đã đọc bài viết này? Chị có thay đổi quan điểm?

– Bài viết này đã được công bố trên tạp chí Nature Medicine rất uy tín. Chắc chắn là bài rất tốt và được viết cẩn thận. Tuy nhiên, nó chỉ nói về các gen cấu trúc của virus này và không đề cập một từ nào đến vùng điều hòa của nó. Nhân tiện, các nhà khoa học Ấn Độ đã tìm thấy các cấu trúc tương tự như cấu trúc của HIV, chính ở vùng cấu trúc của virus – thực tế có đúng vậy hay không thì tôi không dám nói. Nhưng, nói gì thì nói, bài báo trong Nature Medicine hoàn toàn không đề cập vùng điều hòa của coronavirus này. Mà theo tôi cảm nhận, sự thay đổi trong mã gen của virus này nằm ở vùng điều hòa.

– Vậy chị vẫn cho rằng virus này có thể có nguồn gốc nhân tạo?

– Tôi cho rằng không thể loại trừ điều này. Nó cư xử rất khác thường. Có một số lượng virus hữu hạn lây nhiễm cho con người trên thế giới. Chúng ta thường có thể đoán theo các triệu chứng của bệnh mà virus gây ra. Tất nhiên, không phải 100%, nhưng chúng ta có thể nói: nếu các triệu chứng trông như thế này, thì đây rất có thể là một loại vi-rút cúm, khi tiêu chảy là một loại vi-rút khác, khi phát ban là chúng ta đang tìm vi-rút herpes. Do đó, khi chúng ta biết rằng căn bệnh này do coronavirus gây ra, nó sẽ có một liệu trình nhất định. Nhưng coronavirus này có một hình ảnh hoàn toàn khác, nó giống như một loại bệnh mới.

Khi hình ảnh lâm sàng của một virus rất khác với các virus khác cùng loại, thì ít nhất là lạ. Về mã gen của nó – tôi đã dành nhiều năm cho sinh học phân tử và di truyền học, đã tham gia vào việc nhân bản và sử dụng các phần khác nhau của virus cho kỹ thuật di truyền – đây là một kỹ thuật rất phổ biến. Khi tôi nhìn thấy chuỗi này (trong vùng điều hòa), ngay lập tức tôi cảm thấy nó không giống với tự nhiên. Nếu chỉ nói về các gen cấu trúc, tôi sẽ không nghĩ rằng có điều gì đó không ổn với virus này. Nhưng bạn cần xem xét toàn bộ bộ gen, không loại trừ các phần khác khỏi nghiên cứu, và có lẽ ở đó ta sẽ tìm thấy câu trả lời. Nhưng đây chỉ là ý kiến ​​của tôi, điều cần thiết là càng nhiều người phân tích virus này càng tốt. Xét nghiệm mà chúng tôi đề xuất chính là nhắm vào vùng điều hòa này. Hãy để những người tham gia xét nghiệm virus quan sát nó và nói với những gì họ nghĩ về nó.

– Virus này hoạt động không giống như coronavirus thông thường, và không như SARS?

– Tất nhiên, nó giống SARS hơn là giống các coronavirus thông thường, bởi vì các coronavirus thông thường sẽ khiến bạn bị sổ mũi hoặc đau họng, và sau vài ngày bạn hồi phục. Virus này, SARS-CoV-2, hoàn toàn khác. SARS đã ở với chúng ta trong một năm và biến mất. Virus này, do tính đột biến lớn của nó, tôi sợ nó sẽ ở lại với chúng ta trong một thời gian dài.

– Chúng ta sẽ làm gì? Những cách tốt nhất để đối phó với nó là gì?

– Những người hiện đang phát triển vắc-xin có thể sẽ cố gắng làm cho vắc xin chống lại càng nhiều càng tốt những biến thể đã biết của virus này. Nếu chúng ta có thể tiêm chủng rộng rãi cho dân chúng và diệt hầu hết các biến thể của nó, có lẽ chúng ta sẽ thắng. Nhưng nếu, như tôi nghĩ, vấn đề nằm ở vùng điều hòa, thì virus có thể bị đánh bại bằng cách phá hủy vùng này. Nếu ta vô hiệu hóa nó, virus sẽ chết. Vì vậy, có lẽ cuối cùng chúng ta sẽ phải dùng đến liệu pháp gen, một số loại vắc-xin DNA, hoặc một cái gì đó tương tự – ở mức phân tử, không phải miễn dịch.

– Đã có loại vắc-xin đó?

– Cho đến nay, mới là thử nghiệm. Đây là một thứ hoàn toàn mới, nhưng có lẽ virus này sẽ thúc đẩy phát triển nhanh chóng của lĩnh vực y học này.

– Chị nghĩ gì về giả thuyết rằng theo thời gian, do hậu quả của đột biến, virus này sẽ trở nên ít nguy hiểm hơn và cuối cùng, thậm chí có thể biến thành loại virus vô hại giống như những loại coronavirus gây cảm lạnh và sổ mũi thông thường của chúng ta?

– Nếu vậy thì tuyệt, nhưng vì nó có tiềm năng đột biến cao, một số đột biến có thể ít nguy hiểm hơn, nhưng ngược lại, số khác lại mạnh hơn. Có thể phát triển theo bất kỳ hướng nào. Tất nhiên, điều tôi muốn nhất là nó chết và biến mất.

– Tôi thấy có giả thuyết rằng, vì chúng ta cách ly các trường hợp bệnh nặng, nên các virus gây ra chúng không thể lây lan thêm, chỉ còn những virus gây bệnh có triệu chứng nhẹ hoặc không có triệu chứng, là có thể lây lan.

– Đúng, với các đột biến ít nguy hiểm hơn, cơ thể có thể cùng tồn tại, chúng sẽ vào nhóm các coronavirus cúm thông thường và một số chủng sẽ ở lại với chúng ta mãi mãi. Nhưng thật tuyệt nếu chúng ta thậm chí có thể đánh bại các chủng đó và virus này hoàn toàn biến mất.

– Tại sao virus này hầu như không gây hại cho trẻ em?

– Tôi có một giả thuyết về điều này. Không biết đúng hay không, nhưng có vẻ hợp lý với tôi. Có một hiện tượng trong virus học được gọi là loại trừ bội nhiễm. Khi một tế bào bị nhiễm vi-rút của một nhóm nhất định và vi-rút này tương đối vô hại đối với cơ thể, thì các vi-rút nguy hiểm hơn từ cùng một nhóm không còn có thể xâm nhập vào tế bào này nữa. Virus đầu tiên đã xâm nhập vào đó “đóng cửa” tế bào và nói với những virus khác: “đã chiếm rồi, không được vào”. Do đó, nếu tế bào đã có bất kỳ loại coronavirus gây cảm lạnh vô hại nào xâm nhập, mà trẻ em luôn có đầy chúng trong đường thở – chính vì thế mà trẻ em luôn sổ mũi – SARS-CoV-2 thậm chí sẽ không làm trầy xước tế bào đó, vì đã bị chiếm. Tôi nghĩ điều này có thể đúng, bởi vì không có trường hợp bệnh nặng nào ở trẻ nhỏ và không có trường hợp tử vong nào được mô tả. Mà trẻ em thì liên tục bị ốm, vì vậy khó mà bảo là do khả năng miễn dịch đặc biệt nào đó của bọn nhỏ. Hiện tượng loại trừ bội nhiễm này được mô tả, ví dụ, trong các arenavirus gây bệnh thấp. Điều này rất hiếm, nhưng có lẽ chính là trong trường hợp này.

– Có tin về em bé đầu tiên, chưa đầy 1 tuổi, đã chết mà có nhiễm coronavirus. Ở Mỹ. Thật ra, vẫn chưa rõ liệu coronavirus có liên quan gì đến cái chết của đứa trẻ này hay không, hay vì một lý do hoàn toàn khác.

– Cần phải xem, nhưng ngay cả khi là do coronavirus, thì đó sẽ là trường hợp đầu tiên, mặc dù thực tế là có một số lượng lớn trẻ em trên thế giới. Rõ ràng là trẻ em có cơ chế bảo vệ siêu hiệu quả, và đây chắc chắn không phải là khả năng miễn dịch, bởi vì khả năng miễn dịch của bọn nhỏ chỉ đang hình thành và chúng liên tục ốm.

– Nhà dịch tễ học người Mỹ Ralph Beyrick đề xuất: có thể tất cả các coronavirus, bao gồm cả cảm lạnh thông thường, có thể gây tử vong cho người lớn nếu lần đầu tiên họ bị nhiễm bệnh. Nhưng vì tất cả chúng ta đều mắc phải chúng từ thời thơ ấu, chúng ta phát triển khả năng miễn dịch và ở tuổi trưởng thành, căn bệnh này đã rất nhẹ. Chị nghĩ gì về điều này?

– Có thể. Nhưng chúng ta biết rằng các virus sống trên màng nhầy và không xâm nhập vào máu, bao gồm các coronavirus thông thường, làm viêm đường hô hấp trên hoặc ruột, cả ở người và động vật. Kháng thể đối với các virus này được tạo ra trong máu: số lượng tế bào lympho B tạo ra kháng thể tăng lên. Khi chúng ta đối phó với một loại virus sống trên màng nhầy, đây là những kháng thể IgA và khả năng miễn dịch niêm mạc này rất yếu. Theo tôi, ít có khả năng rằng tế bào lympho B sẽ ghi nhớ cuộc gặp với coronavirus của màng nhầy trong nhiều năm. Các coronavirus thông thường không gây ra phản ứng miễn dịch thực sự mạnh mẽ, bởi vì, thứ nhất, chúng có khả năng miễn dịch kém, và thứ hai, chúng sống trên màng nhầy. Khi virus lây lan trong máu, các tế bào lympho B va chạm trực tiếp với nó. Còn trên màng nhầy, virus ở rất xa chúng. Do đó, chống lại các bệnh như vậy, chúng ta luôn cần tiêm phòng nhiều lần.

– Chính phủ nên làm gì trong tình hình hiện tại?

– Vì đây là một căn bệnh hoàn toàn mới mà thực tế chúng ta không biết gì, nên trước tiên chúng ta phải xét nghiệm để hiểu virus này xuất hiện ở đâu và lây lan như thế nào. Cần hiểu nó hoạt động thế nào. Tôi thấy có một tỷ lệ đáng kể những người có nồng độ virus rất cao ở đường hô hấp trên và không có bất kỳ triệu chứng nào. Đây là một tin tuyệt vời. Đối với nhiều người bây giờ, vì quá nhiều tin tiêu cực, coronavirus dường như là một căn bệnh chết người. Đừng nghĩ như vậy, cần cho mọi người biết rằng nhiều người xét nghiệm dương tính dễ dàng chịu được sự nhiễm virus, và họ chỉ có các triệu chứng nhẹ của bệnh, hoặc thậm chí không có gì cả. Cần phải thu thập càng nhiều dữ liệu càng tốt, mọi thứ thay đổi rất nhanh ngay trước mắt chúng ta. Ví dụ, lúc đầu chúng tôi không cho rằng virus này có thể biến đổi, nhưng bây giờ chúng tôi thấy rằng nó có thể. Chúng tôi luôn học được điều gì đó mới mẻ về nó. Đối với tôi, điều quan trọng là chính phủ Séc đã cho phép tối đa các lab xét nghiệm coronavirus. Lúc đầu, có rất ít phòng lab, và nếu cứ vậy, thì sẽ là một sai lầm lớn. Cảm ơn chính phủ đã cho phép chúng tôi kiểm tra và thu thập dữ liệu, bởi vì dữ liệu này cực kỳ quan trọng.

– Kiểm dịch (quarantine) là đúng hay thừa, như một số người nói?

– Kiểm dịch, tất nhiên, không phải là thừa. Nó giúp hạn chế sự lây lan của virus trong dân chúng. Nhưng nó cần song hành với khả năng xét nghiệm hiệu quả để chúng ta không bỏ sót những người không có triệu chứng, nhưng lại lan truyền virus. Lúc đầu, kiểm dịch chỉ bao gồm cách ly bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng: khó thở, đau ngực, sốt và những người mà họ giao tiếp. Nhưng hóa ra một số người không có triệu chứng nhiễm virut, vì vậy bạn phải cách ly cho tất cả. Kiểm dịch là một trong những biện pháp kiểm soát dịch bệnh hiệu quả nhất hiện có. Cô lập ổ lây lan virus là cơ hội tốt nhất để đánh bại nó. Thật tuyệt vời khi các biện pháp kiểm dịch được đưa ra, nhưng dần dần chúng cần được thay đổi và làm nhẹ bớt. Ví dụ, việc cách ly những người không bị nhiễm là vô nghĩa, nhưng họ chỉ có thể được phát hiện thông qua xét nghiệm. Như người đứng đầu WHO nói, xét nghiệm, xét nghiệm và xét nghiệm. Không có cách nào khác. Để có thể cho phép những người khỏe mạnh đi làm, bởi vì nhà nước không thể tồn tại lâu nếu mọi người ngồi nhà và không làm việc.

– Người bình thường nên cư xử thế nào? Họ có cần đeo khẩu trang? Đeo găng tay?

– Tất nhiên cần đeo khẩu trang, ít ra là ra vì quan tâm đến người khác. Khi ta nói, những giọt nhỏ bay ra khỏi miệng, và nếu ta bị nhiễm, thì mỗi giọt như vậy chứa nhiều virus. Khẩu trang giúp chặn ít nhất là những giọt lớn. Khi tiếp xúc cá nhân, một chiếc khẩu trang là hoàn toàn cần thiết để một người không vô tình lây nhiễm cho những người mà mình giao tiếp. Còn khẩu trang phòng độc (respirator) thì nên được trang bị cho những người rủi ro cao: bác sĩ, lính cứu hỏa, cảnh sát, những người làm việc trong siêu thị, quầy thanh toán – những người mà xã hội không thể hoạt động nếu thiếu họ. Họ nên có phương tiện bảo vệ tốt hơn. Nhưng người bình thường không nên ra ngoài mà không đeo khẩu trang, để không khiến người khác gặp nguy hiểm.

– Khăn tay, khăn quàng các loại có phù hợp thay cho khẩu trang?

– Cũng hơn so với không có gì. Bất cứ thứ gì giúp chặn ngay cả những giọt lớn nhất bay ra khỏi miệng chúng ta khi nói chuyện đều tốt.

– Nên làm gì khi ta cần chạm vào một cái gì đó ở nơi công cộng? Nút thang máy, tay nắm cửa, gì đó trong cửa hàng?

– Như bình thường thôi. Chỉ có điều đừng sờ tay vào những thứ như, ví dụ, bánh mì trần. Và khi về nhà, rửa tay kỹ bằng xà phòng hoặc chất khử trùng – và sẽ ổn. Không cần phải hoảng sợ và quá lo.

– Người ta bảo mọi người liên tục chạm vào mặt: mũi, môi … Có nguy hiểm không, nếu một người chạm vào gì đó trên đường, và sau đó xoa mũi bằng cùng một bàn tay?

– Chạm vào mặt là một thói quen xấu phổ biến. Bạn cần phải dùng ý chí để giữ tay gần thân thể và không chạm vào mặt, bởi vì miệng, mũi và mắt là cổng cho virus. Một số người, ví dụ, liên tục chạm tay vào mặt khi đọc. Đừng chạm!

– Có lời khuyên nên dùng một tay để chạm vào đồ vật trên đường phố hoặc cửa hàng, và tay kia để gãi nơi ngứa. Có nên không, hay quá đáng?

– (Cười.) Đừng chạm vào mặt. Nếu bạn thực sự muốn gãi, hãy gãi bằng tay áo. Bạn cần phải có ý thức và giảm thiểu việc sờ tay vào bản thân và người khác. Ít nhất là cho đến khi bạn rửa tay.

– Chị có ý kiến gì về cuộc tranh luận có nên uống các loại thuốc chống viêm không steroid kiểu ibuprofen hay aspirin mà dường như ức chế miễn dịch? Và ngược lại, về việc dùng thuốc kích thích miễn dịch?

– Tôi là “chuột trong phòng lab”, không phải bác sĩ lâm sàng, vì vậy tôi không phải là chuyên gia trong lĩnh vực này. Nhưng ta biết rằng những người chết vì căn bệnh này được phát hiện xơ phổi. Đây là hậu quả của phản ứng miễn dịch quá mức đối với mầm bệnh, khi cơ thể cố gắng sửa chữa phổi và kết quả là mô mỏng phục vụ trao đổi oxy với máu trở nên dày đặc và không thấm nước, sau đó phổi không thể làm việc nữa và do đó, tim bắt đầu có vấn đề. Do đó, một số điều hòa miễn dịch nhỏ, thận trọng có thể phù hợp. Nhưng chúng ta có rất ít kinh nghiệm với căn bệnh này. Chúng ta cần liên tục thu thập thông tin, ta vẫn chưa biết cái gì giúp chữa bệnh và cái gì không. Nhưng trong mọi trường hợp, tôi không phải là một chuyên gia trong chuyện này và không thể đưa ra khuyến nghị. Chuyên môn của tôi là phân tử, còn đây là một câu hỏi cho các nhà miễn dịch học.

– Và chị nghĩ gì về giả thuyết rằng quy mô và tốc độ của dịch bệnh ở các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào việc có tiêm đại trà vắc-xin BCG chống lại bệnh lao?

– Trực khuẩn Koch là một mầm bệnh nội bào, và do đó, miễn dịch tế bào là cần thiết để đánh bại nó. Vì vậy, điều này không nhất thiết là nói phét. Nhưng bây giờ có nhiều giả thuyết tương tự, tôi chưa nghiên cứu tất cả chúng, và tôi không có ý kiến ​​hợp lý nào về chủ đề này.

– Theo chị, hiện nay số người bị nhiễm ở Cộng hòa Séc cao hơn mấy lần so với số liệu thống kê chính thức?

– Lab của chúng tôi chủ yếu tham gia xét nghiệm những người không có chỉ định trực tiếp để xét nghiệm: sốt cao, ho, v.v., mặc dù chúng tôi cũng giúp bệnh viện xét nghiệm bệnh nhân có triệu chứng. Theo dữ liệu của chúng tôi, trong số những người tiếp xúc với chúng tôi mà không có bất kỳ triệu chứng nào, 5% bị nhiễm. Dữ liệu chính thức được công bố trước khi bắt đầu xét nghiệm hàng loạt có lẽ là thấp, vì chỉ những người có triệu chứng mới được xét nghiệm. Vì vậy, số thực sẽ cao hơn. Tôi sẽ thêm khoảng 5% vào con số chính thức.

– Nghĩa là, chỉ nhiều hơn một số phần trăm, chứ không phải 10 lần?

– Không, tôi không nghĩ 10 lần.

– Mức độ nghiêm trọng của bệnh có phụ thuộc vào cách người ta bị nhiễm không: do các giọt trong không khí, qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc?

– Virus này được truyền chủ yếu bởi các giọt trong không khí, vì vậy nó phụ thuộc chủ yếu vào mức độ lây nhiễm của người bị bệnh. Nếu đã có rất nhiều virus trong cơ thể anh ta, thì anh ta sẽ truyền nhiều hơn cho bạn thông qua các giọt. Nhưng nếu có người bệnh xỉ mũi vào khăn tay, họ vẫn có giọt bắn trên tay, anh ta cầm tay nắm cửa, sau đó bạn nắm lấy nó và gãi mũi bằng tay này – đây cũng là một cách rất hiệu quả để bị nhiễm.

– Có thể mong đợi dịch bệnh sẽ suy thoái vào mùa hè khi trời ấm hơn?

– Tôi không biết. Dịch đã ảnh hưởng đến các quốc gia có khí hậu nóng, bạn cần xem nó sẽ phát triển như thế nào ở đó. Về nguyên tắc, nhiễm trùng đường hô hấp thực sự chịu sự biến động theo mùa và sẽ rất tuyệt nếu dịch bệnh giảm vào mùa hè, nhưng đây là lần đầu tiên chúng ta gặp phải loại virus này và chúng ta chưa biết nó sẽ hành xử như thế nào.

– Theo chị, dịch có thể kéo dài bao lâu? Chúng ta nên chuẩn bị gì?

– Dịch của bệnh hô hấp không kéo dài nhiều tuần, mà là nhiều tháng. Thông thường là 2-3 tháng. Nếu virus này đột biến mạnh, nó sẽ tồn tại lâu hơn. Chúng ta sẽ thấy.

– Vậy là, đến tháng 5 này chắc chắn chưa kết thúc?

– Nếu tôi là một thầy bói với một quả cầu pha lê, tôi sẽ trả lời bạn chính xác. Có thể vào tháng Năm nó sẽ tiếp tục và kết thúc vào mùa hè. Hoặc có thể virus này sẽ luôn ở bên ta từ giờ.

– Chị có muốn nói điều gì với độc giả?

– Chắc chắn là muốn. Mặc dù virus biến đổi và đây không phải là tin tốt nhất cho chúng ta, tôi muốn nói với tất cả độc giả rằng coronavirus hoàn toàn không phải là bản án tử hình. Hầu hết những người bị nhiễm vi rút này chịu đựng khá bình thường. Nhiều người thậm chí sẽ không biết rằng họ có nó, nếu không xét nghiệm. Dường như với tôi, quan trọng hơn cả là mọi người bình tĩnh nhất có thể, không lo lắng và không tất bật. Làm theo các quy tắc kiểm dịch, đeo khẩu trang để không vô tình lây nhiễm cho người khác và cố gắng sống một cuộc sống bình thường nhất có thể bây giờ. Chúng ta cần phải chờ đợi, không có lựa chọn khác. Duy trì sự lạc quan, óc hài hước, và, tôi hy vọng, vào mùa hè, chúng ta sẽ thoát khỏi dịch này, và nó sẽ chỉ còn lại trong ký ức và sẽ không bao giờ xảy ra nữa. Tôi ước điều này cho tất cả mọi người – nhà virus học người Séc Sonya Pekova nói trong cuộc phỏng vấn với Radio Svoboda.

Dịch từ nguồn (bài đăng hôm qua 3/4) trên Radio Svoboda (tiếng Nga) — cùng với Lê Đình, Nam Sy Vo, Hồ Như Thoa, Bùi Trung Anh, Nông Văn Hải, Minh Duc Cao, Phung Dac Cam, Thai D. Nguyen, Lê Nam, Ho Son, Phùng Đắc Cam, Cẩm Phương PhạmHung Ta.

Nông Văn Hải với Chu Hoang Mau99 người khác. Hôm qua lúc 11:57 ·
CẬP NHẬT THÔNG TIN NGẮN VỀ DỊCH TỄ HỌC HỆ GEN (GENOMIC EPIDEMIOLOGY) CORONAVIRUS MỚI SARS-CoV-2 (hCOV-19) GÂY BỆNH COVID-19

* Đến 6/4/2020 có 3443 trình tự hệ gen SARS-CoV-2 (hCoV-19) được đăng ký trên Cơ sở dữ liệu GISAID
* Việt Nam đã đăng ký 08 trình tự, trong đó 06 từ Viện VSDTTƯ, 02 từ Viện Pasteur tpHCM
* Mọi trình tự đều được so sánh với trình tự chuẩn do Nhóm CDC Trung Quốc công bố đầu tiên để khẳng định có đột biến hay không?
* Hiện nay toàn bộ các trình tự (bao gồm các đột biến hay biến thể) tạm chia thành 3 nhánh (G, S và V clades) và chia nhỏ hơn thành các dòng nhánh (lineages), cho đến nay >10
* Tốc độ đột biến ngẫu nhiên bình thường cho Coronavirus nói chung là ~4-9×10*-4/ nucleotides/ năm, tức ~12- 28 nucleotides/ năm. Số liệu cho đến hôm nay cho thấy tốc độ ~27 nucleotides/ năm (~2 nucleotides/ tháng) là hoàn toàn bình thường!
* Do đột biến hoàn toàn ngẫu nhiên, nên có thể xảy ra về mọi hướng (tốt hơn hay xấu hơn cho virus, độc hơn hay giảm độc lực đối với vật chủ…). Tuy nhiên, theo lý thuyết, nếu độc lực mạnh hơn đối với chủ gây tử vong nhanh, virus giảm cơ hội phát tán và cuối cùng virus sẽ biến mất!
* Đáng chú ý: Các trình tự từ VN chỉ có từ 0 đến vài điểm đột biến là hoàn toàn bình thường!
Sau đây là một vài hình ảnh chụp màn hình trang GISAID:

P.S. Thử so sánh các con số này: Cho đến hôm nay, thế giới có 1.276.732 ca nhiễm Covid-19, trên GISAID (không kể các cơ sở dữ liệu khác nhỏ hơn nhiều) chỉ có 3443 trình tự hệ gen virus, chưa bằng con số lẻ (chiếm <0,03%)! VN ta có 241 ca nhiễm, có 08 trình tự trên GISAID (~3,3%)! Như vậy, để hình dung thấy thông tin về trình tự hệ gen còn thiếu như thế nào, do đó bài toán xu thế tiến hoá theo hướng độc hại hơn hay không khó có thể trả lời chính xác! 247

Nông Văn Hải với Do Quoc Hung36 người khác.8 giờ ·

Tạp chí NATURE 02/4/2020 Điểm báo về coronavirus:
DƠI MANG Ổ CHỨA CORONAVIRUS GÂY ĐẠI DỊCH

Pick of the coronavirus papers:
Bats harbour a pool of coronaviruses related to pandemic culprit

Tạm dịch nhanh từ tiếng Anh: Hai Nongv

5 tháng 4 – Dơi mang ổ chứa coronavirus liên quan đến thủ phạm gây đại dịch.
Các virus liên quan chặt chẽ với SARS-CoV-2, virus gây ra đại dịch COVID-19, đã lưu hành ở dơi móng ngựa, sẵn sàng nhảy sang người, trong nhiều thập kỷ và thậm chí lâu hơn nữa.

David Robertson tại Đại học Glasgow, Vương quốc Anh và các đồng nghiệp đã phân tích RNA của 68 coronavirus, bao gồm SARS-CoV-2 và virus gây ra hội chứng hô hấp cấp nghiêm trọng hay SARS (MF Boni et al. Preprint in bioRxiv https: / /doi.org/10.1101/2020.03.30.015008; 2020).
Phân tích này cho thấy dơi móng ngựa (Rhinolophus spp.) là vật chủ của một dòng nhánh virus đang bung ra, như SARS-CoV-2, có thể lây nhiễm sang người. Nhóm nghiên cứu ước tính rằng tổ tiên của SARS-CoV-2 đã tách ra từ virus dơi có liên quan chặt chẽ là RaTG13 từ 40 đến 70 năm trước. Mặc dù cả hai rất giống nhau về mặt di truyền, RaTG13 không lây nhiễm cho người.

Phân tích cũng cho thấy rằng virus của dòng nhánh này đã sẵn sàng nhảy trực tiếp từ dơi sang người. Nhưng có thể SARS-CoV-2 lần đầu tiên đã nhảy sang một loài khác mà con người tiếp xúc nhiều hơn, thay vì lây lan thẳng từ dơi sang người.

THƯ COVID 19 TỪ NƯỚC NGOÀI

HÃY XÔNG KHI BỊ NHIỄM VIRUS
(Tin thực tế từ người Việt tại Đức)

Đây là bài chia sẻ của chị Nguyễn Hồng Phương (bên Đức, không có FB). Chị vừa bị nhiễm Vi-rút Corona, bộc phát và tự chữa khỏi sau 4 ngày sau đó. Đây là bài đọc để tham khảo, theo kinh nghiệm cá nhân của chị. Nếu các bạn thấy hay, hãy chia sẻ và áp dụng cho mình và người thân khi vướng phải bệnh. Còn không, các bạn có thể lướt qua. Cho đến thời điểm này, bệnh cúm lạ này vẫn chưa có thuốc chữa rõ ràng. Vì nó là bệnh cúm, nên chúng ta có thể trị theo cách dân gian là XÔNG. Đây là câu chuyện tự chữa khỏi của chị Phương.

Khi bộc phát:

⭐️Ngày thứ nhất: Chị ấy cảm thấy đau họng, ho khan (không đờm, không sổ mũi) và người rất mệt.

⭐Ngày thứ hai: Đầu chị rất đau như là búa bổ và hai mắt cũng đau. Toàn thân mệt lả, và cảm thấy khó thở như người thai nghén.👉 Thế là chị ấy súc miệng bằng nước muối ấm suốt ngày và kèm thêm ăn tỏi sống, uống nhiều nước trà xanh ấm và nước Cam (mọi người có thể uống nước Chanh) để tăng lượng vitamin C. Bên cạnh đó, chị ấy cũng dùng thuốc nhỏ mắt để làm dịu cơn đau mắt. Chiều hôm đó, chị ấy đã gọi đường dây nóng và có người đến khám, thử bệnh cho chị tại nhà. Họ cho chị biết là chị đã bị nhiễm vi-rút Corona dạng nhẹ. Họ cho chị ấy thuốc uống giảm sốt Paracetamol (như là Tylenol ở Hoa Kỳ) và kêu chị cách ly tại nhà và hàng ngày họ sẽ cho người đến kiểm tra.

👉 Chiều tối hôm đó, chị ấy đã mở máy sưởi cho nhiệt độ trong phòng rất cao, nệm nóng của chị ấy cũng chỉnh lên 40 độ C (tức là 104 độ F bên Hoa Kỳ). Chị bắt đầu cảm thấy mình bị sốt, đầu nhức kinh khủng, mắt thì đau như muốn lồi ra. (Phải chăng lúc này có thể vi-rút đang xâm nhập rất nhiều và chuẩn bị vô phổi?). Chị uống thuốc giảm sốt và cố gắng chống cự. Chị quỳ gối, cầu nguyện xin ơn Trên chữa lành cho chị. Sau đó, chị gọi điện thoại cho mẹ chị ở Việt Nam. Mẹ chị khuyên chị thử trị theo cách dân gian. Đó là XÔNG.

Chị nghe lời mẹ, cố gắng đứng dậy đi nấu thuốc xông, ra vườn sau cắt lá tắc bỏ vào và cho thêm vài giọt dầu xanh. Thật kỳ diệu mọi người ạ, sau khi xông, toàn thân chị toát ra mồ hôi, và cơn sốt tự nhiên cũng giảm dần.

⭐Ngày thứ 3: Chị ấy tiếp tục xông người, chị cảm thấy người nhẹ đi và không còn đau đầu nữa. Bác sĩ đến khám hôm đó đã ngạc nhiên vì sự bình phục nhanh chóng của chị ấy. Họ hỏi chị ấy ngoài uống thuốc của họ, chị có làm gì thêm không. Chị đã kể lại những điều chị ấy đã làm. Thế là họ nói họ sẽ chia sẻ lại cho bệnh nhân của họ.

⭐️ Đến ngày thứ 4 sau khi bộc phát, chị ấy hoàn toàn bình phục như người bình thường. Chị gọi điện thoại nói bác sĩ không cần cho người đến kiểm tra nữa.

Bài chia sẻ hơi dài, mọi người làm ơn chịu khó đọc vì mình thấy những bài thuốc dân gian của người Việt Nam mình rất hay và hiệu quả, trong khi Tây Y chưa biết đến. Khi bị bệnh, mọi người nhớ là XÔNG HÀNG NGÀY cho đến khi khỏi hẳn nhé. À, chị ấy cũng chia sẻ là khi xông, hơi nước xông nóng sẽ vào tất cả các lổ miệng, mắt, mũi, nhất là cổ họng và chị cảm thấy nhẹ người hơn.

⭐️⭐️ Qua bài chia sẻ này, những gì chị ấy bị chúng ta cảm thấy cũng không có gì gọi gì ghê gớm lắm. Chúng ta chỉ cần làm đúng cách thì sẽ tiêu diệt được nó. 💪

(Lưu ý: Mọi người có thể xông bằng lá chanh, vỏ cam, quýt, cây sả, vỏ bưởi, lá bưởi,…Có lá gì trong nhà dùng lá đó (đừng dùng lá độc hại là được) và nhớ khi nhấc nồi nước xông xuống, hãy cho thêm vào vài giọt dầu xanh, và mọi người nhớ hãy uống thật nhiều nước ấm, càng nhiều càng tốt, và dùng thuốc hạ sốt Tylenol, (đừng dùng Ibuprofen, Advil, Aleve) rồi hãy xông, tránh trường hợp bị mất nước nhé).
Nguồn bài viết: Fb Vuong Thanh Long

(Cảm ơn anh Cuộc Đời và chị Trần Thường Nga gửi thông tin)

THƯ TỪ MỸ

Nhật ký thời Covid (27)
Nguyễn Thành Chung (Chung Le 10 giờ

“Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa…”

Sáng nay nhìn qua ô cửa sổ, cây đào phía sau nhà bắt đầu trổ bông. Bây giờ chẳng ai còn tâm trí ngắm hoa nữa. NYC đã ra quy định xử phạt $500 với những người cố tình vi phạm quy định “social distancing “. Giờ này ai còn ý định tập trung ăn uống, hội hè thì đúng là ngu hết phần thiên hạ. Mình thật!

TT Mỹ đã quyết định kéo dài thời gian cách ly đến 30 tháng tư. Ông coi thời điểm Lễ phục sinh trong các phát biểu trước đây chỉ là “aspiration” – “khát vọng”. Còn bây giờ ông lại bảo, lùi đến cuối tháng là hợp lý vì chúng ta không thể ăn mừng chiến thắng khi nó chưa tới. Thì thôi, sao cũng được. Miễn là ông đã biết nghe lời cố vấn. Doctor Fauci đã từng làm việc qua 6 đời Tổng thống, chắc đời TT hiện tại là nhiều thử thách nhất.

Cuộc tranh luận “khẩu trang hay không khẩu trang” bắt đầu nóng lên. Lãnh đạo Trung Quốc đã chỉ trích Mỹ và châu Âu vì đã không khuyến khích người dân sử dụng khẩu trang một cách đại trà. Các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật bản, Hàn quốc đã kiểm soát được dịch cũng một phần nhờ “khẩu trang toàn dân”. Một số nhà nghiên cứu cũng đã đặt câu hỏi nghi ngờ. Phải chăng khuyến cáo của WHO và CDC về việc khẩu trang chỉ nên dành cho nhân viên y tế, những người bị bệnh và những người chăm sóc bệnh nhân xuất phát từ mối lo ngại rằng mọi người sẽ đổ xô đi mua khẩu trang N95 thì thị trường sẽ không còn đủ nguồn cung cho ngành y tế. Không trả lời thẳng vào câu hỏi của phóng viên trong cuộc phỏng vấn trực tiếp trên truyền hình sáng nay, Doctor Fauci nói, nếu nguồn cung cấp đáp ứng được nhu cầu thì việc tất cả mọi người sử dụng khẩu trang cũng là hợp lý. Mấy chị em trong Hội “Phở bà Chung” cũng đã đặt mua khẩu trang để ủng hộ các nhân viên tuyến đầu chống dịch.

Ăn gì? Sau gần hai tuần không đi chợ, các ngăn tủ lạnh bắt đầu vơi dần. Bữa ăn bây giờ chỉ có một món mặn và một món rau. Lạc rang, mắm tép chưng thịt được bổ sung thêm trong trường hợp cần thiết. Nhân viên Amazon và Instant Card đang lên kế hoạch đình công, yêu cầu chủ doanh nghiệp phải đảm bảo vệ sinh an toàn cho họ trong mùa dịch. Đặt mua thực phẩm online, nhưng không “săn” được slot để giao hàng.

Tên Corona: Quận Queens có một khu phố tên là Corona. Cái tên này được các nhà đầu tư thảo luận vào năm 1870 khi dự án phát triển khu vực này thuộc công ty Crown Building Co., với biểu tượng hình vương miện. Trong khu vực này có nhiều cửa hàng cửa hiệu mang tên Corona như: Corona Farm, Corona Candy, Lemon Ice King of Corona… Người dân ở đây kháo nhau rằng địa danh của họ sẽ đi vào lịch sử vì em Covy-19 khi soi vào kính hiển vi trông giống như những trang trí trên vương miện.

NƯỚC Ý TRONG ĐẠI DỊCH
Bài viết của Trần Ngọc Huyền
Chuyển tiếp của Hoài Vân đang ở Milano.29 tháng 3 lúc 22:24 ·

Mọi ánh mắt lo lắng dồn vào Italia (Ý), khi số người số người chết cao nhất thế giới, gấp ba tổng số cũng như tỉ lệ chết chính thức của Trung Quốc, có ngày 600 tới 900 người!. Điều gì đang xảy ra ở Italia? Chính phủ và y tế yếu kém? Cả dân cả chính phủ quá chủ quan và chậm trễ? Cho miễn dịch cộng đồng, tiện thể trẻ hóa tháp tuổi, đỡ lương hưu và lợi tức xã hội?? Ưu tiên cứu trẻ, bỏ lại người già khi quá tải, nên người già chết nhiều ???

Ý là nước có dân số già nhất châu Âu và già thứ 2 thế giới. Cứ 3 người Ý thì có 1 người trên 65 tuổi. Khu căn hộ tôi ở toàn người cao tuổi, lúc nào cũng rôm rả chào hỏi. Bao lần các cụ ông cụ bà không quen chỉ đường, hay đang đi thì chặn tôi lại. Signora, túi táp đang mở banh ra kìa, đóng lại kẻo bị mất đồ…

1. Người già ở Ý được gia đình yêu thương, xã hội quan tâm – truyền thống văn hóa cốt lõi, chưa bao giờ thay đổi

Người già Ý không lặng lẽ như cái bóng phai màu thời gian, mà nồng nhiệt, nói nhiều, quan tâm nhân tình thế thái. Chưa biết người già có vị trí quan trọng thế nào, là chưa biết Italia. Người Ý trước hết trung thành gắn bó với gia đình, thứ hai mới đến cuồng nhiệt vì tổ quốc quê hương. Ít thấy nơi nào khác ở châu Âu có 3, thậm chí 4 thế hệ sống quần tụ như người Ý, và truyền thống chè chén sum họp trong gia đình lớn. Người Ý không sống chung con dâu mẹ chồng, nhưng khi chưa có gia đình hoặc khi đã ly dị, con cái thường sống chung với bố mẹ. Các chàng trai Ý nổi tiếng tới già vẫn là bé bỏng của mama.

Vai trò của ông bà trong đại gia đình rất lớn, khác hẳn các nước châu Âu khác. Hầu hết ông bà đều tham gia chăm sóc và trông cháu. Kể cả khi ở riêng, con cháu thường xuyên gọi điện và ít ra một lần một tuần quần tụ ăn uống.

Bạn tôi kể về chính gia đình đặc Ý của mình. Ở Milan tâm dịch, hai người con chưa lập gia đình sống cùng bố mẹ. Cô con ở Thụy Sĩ làm về sinh học gọi về khẩn khoản yêu cầu người chị ra sống riêng để bố mẹ đỡ bị phơi nhiễm. Vì chị vẫn đi làm ra ngoài hàng ngày theo giấy phép. Cả nhà trải qua cơn khủng hoảng tâm lý. Người chị đã 33 tuổi có lúc tức giận đập đồ, không ngủ được khi buổi tối không được qua phòng chào, thơm bố và đặt tay lên trán bố! Người em ở xa ngày nào cũng nhắn tin điện thoại cho bố mẹ.

Hiểu được giá trị văn hóa cốt lõi này của xã hội Ý, sẽ khó nghĩ việc người Ý không cố hết sức để bảo vệ, cứu chữa người già trong dịch bệnh. Dân không bao giờ bỏ mặc người trong gia đình, y bác sỹ không bỏ mặc những người giống cha chú họ, chính phủ không bao giờ bỏ mặc một phần ba của nước Ý!

2. Vậy vì sao nước Ý chết nhiều khủng khiếp như thế? Sao không bảo vệ người già hiệu quả hơn?

Không thể trả lời đúng nguyên nhân nếu bỏ qua bối cảnh bùng dịch.

Những người đầu tiên dương tính với Covid 19 có liên hệ trực tiếp với Vũ Hán, phát hiện ở Rome ngày 31.1, được cách ly ngay và không lây nhiễm tiếp. Ý là nước đầu tiên đóng cửa ngay đường bay với Trung Quốc, dù có giao thương nhiều nhất và là một trong những nước có cộng đồng Trung Quốc lớn nhất ở châu Âu.

Tuy nhiên, nhiều người vòng tránh lệnh cấm này bằng cách transit và đi tới nước châu Âu khác trước. Tháng 2 với lễ hội hóa trang ở Venice, hội chợ thời trang quốc tế ở Milan, các trận bóng đá tầm quốc gia và vùng, Bắc Ý là tâm điểm hoạt động và du lịch của châu Âu và thế giới. Virus lẳng lặng nhập cảnh vào nước Ý, thiếu mác Vũ Hán để dễ nhận diện. Cũng là mùa cúm hàng năm, thời tiết lý tưởng cho virus lan truyền.

Các chuyên gia không tìm ra bệnh nhân đầu tiên- patient 0, mà chỉ phỏng đoán đến từ Đức. Vì không có liên hệ gì với Vũ Hán nên bệnh nhân số 1, Mattia, trước đó được điều trị như cúm thường, và lây nhiễm cho nhiều người. Giới chuyên gia nhận định Covid 19 đã vào Ý từ trước đó vài tuần, thoải mái dạo chơi trong những lễ hội và sự kiện tưng bừng, kể cả trận bóng tập hợp gần 100 nghìn người ngày 19.02 ở Bergamo, nơi có nhiều người chết nhất hiện nay.

Khi phát hiện cũng là khi tất cả dường như quá muộn. Chỉ test, test, test và đếm bệnh nhân, không xuể. Ý trở thành nước test Covid 19 nhiều nhất châu Âu lúc đó.

Với một nước đa đảng, dân chủ, mọi quyết định đều phải qua qui trình dài để tìm kiếm đồng thuận, với các hậu quả kinh tế to lớn ở Bắc Ý và cụ thể là vùng Lombardy, trung tâm kinh tế và công nghiệp, Ý đã triển khai phong tỏa nhanh không ngờ:

– 20.02, khẳng định chính thức bệnh nhân đầu dương tính, Mattia

– 21.02, 79 ca nhiễm, ra lệnh hạn chế di chuyển ở 11 thành phố và thị trấn của Lombardy và Veneto tâm dịch, nội bất xuất, ngoại bất nhập.

– 23.02, đóng cửa các trường học của 3 vùng Lombardy, Emilia-Romana và Veneto. Mọi sự kiện lớn và lễ hội ở Bắc Ý được hoãn/hủy.

– 03.03, 2036 ca nhiễm, đóng cửa trường học trên toàn quốc,

– 08.03 hơn 5800 ca nhiễm, phong tỏa toàn miền Bắc Ý

– 10.03, mở rộng phong tỏa ra toàn quốc, hiệu lực ngay lập tức.

– Lệnh phong tỏa toàn quốc đang được liên tục xiết chặt với mức phạt tăng cao tới 3000 eur, tù giam tới 3 tháng, và cắt dần những hoạt động không coi là tối cần thiết.

Các biện pháp trên đặt ra khi tình thế nguy cấp nên được dân chúng đa số ủng hộ. Tuy vậy, không nên quên đó là những biện pháp khắc nghiệt nhất ngoài Trung Quốc và chỉ có thể thông qua khi tình hình trầm trọng, vì đi ngược tự do nhân quyền. Đó cũng được coi là qui định vi phạm quyền tự do cá nhân và dân chủ cao nhất từ khi thành lập nền dân chủ Ý.

Dưới góc nhìn và những thông tin này, có nên tiếp tục giả thuyết Ý vì lợi ích kinh tế tư bản, hay thiếu nhân văn, hi sinh tính mạng của công dân??. Các biện pháp luôn đi một bước quá chậm so với dịch, đúng. Dân vốn tự tin vào nền y tế tốt miễn phí, có quan điểm cá nhân mạnh, không sợ ốm và chủ quan hơn dân Việt Nam, đúng. Nhưng nhìn vào bối cảnh và dịch bệnh tăng mạnh trên tầm thế giới bất kể chính thể nào, có nên rút ra bài học là dịch lan truyền nhanh và nguy hiểm hơn mọi dự đoán? Có nên thấy dịch có thể lây chéo, tái nhiễm khi mọi nước đều dịch chuyển và thông thương, và bệnh nhân không thể hiện triệu chứng có thể lây nhiễm rất lâu trong cộng đồng? Khi không phát hiện sớm thì bùng quá mạnh, khó đỡ như Ý. Mọi chính thể đều có các qui trình xử lý ngắn dài, có nguyên tắc dân chủ, quyền tự do cá nhân, và sự ủng hộ của dân khác nhau. Phản ứng không thể nhanh như tự nói tự làm, hay dễ dàng như ngồi ngoài nhận xét.

Vì sao tỉ lệ chết rất cao, gấp đôi mức cao nhất của thế giới?

Nguyên nhân chính do dân số rất già, nhiều người già vốn có bệnh nền nhiễm và tử vong.

Tuổi trung bình của người nhiễm ở Ý là 63 tuổi, già so với Đức (55 tuổi) hay Hàn Quốc (47 tuổi). Tuổi trung bình của người chết dao động từ 78 tới 80.5 tuổi. 85% người tử vong là 70 tuổi trở lên. 99% người tử vong ở Ý có bệnh nền.

Đặc điểm trọng người già và hoạt động xã hội liên tục, cởi mở cũng làm hại Ý. Con cháu liên tục đi chơi, hôn má, bắt tay, chém gió nói to. Con cháu thường xuyên gặp gỡ nên nhiều cụ bị nhiễm. Covid-19 cũng tấn công các trại dưỡng lão nơi người già sống tập trung, hay lây nhiễm ở bệnh viện thời gian đầu, hủy diệt những bệnh nhân vốn đã ốm sẵn.

Người già có bệnh nền cũng có cửa sổ thời gian can thiệp ngắn hơn rất nhiều. Khi bệnh viện quá tải không can thiệp đủ nhanh là tử vong.

Cách tính người tử vong của Ý cũng rất “dễ dãi” qua phê phán của nhiều chuyên gia, vì tính mọi cái chết của người dương tính là vì Covid-19, khi thực chất có thể nguyên nhân chính của cái chết không là Covid. Ví dụ Đức không tính những người có bệnh nền nặng là chết vì Covid.

Nhiều cái chết vì dịch, rất nhiều, nước Ý xót xa đau đớn, mặc niệm toàn quốc. Lễ tang giảm thiểu người dự trong dịch, nhưng đủ quan tài, vòng hoa, linh mục, đến khi mồ yên mả đẹp trong nghĩa trang, được chính phủ tổ chức, huy động cả xe quân đội. Chu toàn cho từng người nằm xuống, trọn nghĩa trọn tình.

3. Người già đang được chăm sóc như thế nào trong đại dịch

Lệnh phong tỏa là cú sốc tinh thần mạnh nhất lên người già. Bị cắt hẳn ra khỏi tiếp xúc xã hội, đơn côi, yếu ớt. Nhưng gia đình và xã hội không để họ lẻ loi. Hàng loạt các nghĩa cử từ cá nhân tới tổ chức đều hướng tới người già.

Các bệnh nhân Covid-19 trong viện hầu hết là người cao tuổi. Bác sĩ kiệt sức làm việc ngày đêm nhưng vẫn tổ chức giúp họ gọi video cho con cháu, đáp ứng nguyện vọng thiêng liêng của tình gắn bó ruột thịt.

Một số hãng taxi tổ chức taxi miễn phí cho người già di chuyển. Các cô gái trẻ để lại giấy nhắn ở cửa chung cư, bác nào cần mua sắm cứ nhắn cháu. Những sĩ quan và nhân viên chính phủ tới thăm giúp đỡ người già ở các ngôi nhà đơn lẻ vùng núi xa, thay ga, sắp củi, làm giúp họ việc nhà.

Trong những phong trào lạc quan bừng bừng khắp nước Ý, những người khua trống chiêng hát hò vào mỗi chiều, tập thể dục trên ban công, hòa vào tràng vỗ tay vang dội toàn quốc, là rất rất nhiều người già. Họ là nước Ý, tinh thần mạnh mẽ và tươi trẻ. Một cụ bà 95 tuổi, một cụ ông 97 tuổi và hôm nay là một cụ ông 101 tuổi mới được chữa khỏi. Một bác sĩ gây mê về hưu đã 85 tuổi xung phong trở lại phòng giải phẫu bệnh viện để cùng đồng nghiệp chống dịch…

Đâu có ai nghĩ Ý là già nua đáng thương, mà ngược lại là tăng động, nóng bỏng, bay bổng, vô kỷ luật nhưng cũng vô cùng sáng tạo.

4. Nhìn nhận trường hợp Ý đúng mới rút ra được bài học đúng

Con số nhiễm và chết ở Ý rất trầm trọng. Nhìn nhận đúng đắn được chính phủ và người dân Ý nhân văn và đang cố gắng thế nào, nền y tế tốt ra sao, là giúp không lạc vào miệt thị, chủ quan hay thương vay cho sự hủy diệt nào đó các fake news yêu thích. Covid-19 lây lan khủng khiếp và nguy hiểm, chặn dịch sớm là phương cách tốt nhất, mà Việt Nam đang làm tốt. Nhưng một mình biện pháp chính phủ không bao giờ đủ, và thường đi sau. Toàn dân phải giữ khoảng cách, ở yên ở nhà, dù đã có phong tỏa hay chưa. Biện pháp cũng phải thay đổi liên tục tùy từng giai đoạn và gạn đục khơi trong từ các bài học xung quanh.

Trong cuộc chiến, người ngã ngựa đầu tiên và thương tích nặng, không hẳn là người kém nhất hay chủ quan nhất, mà đơn giản là người đầu gặp hố sâu. Hãy nhìn vào người ấy, rút ra bài học từ sự hi sinh, và tránh bớt thương vong về sau. Ý đang là nước có con số và thông tin đầy đủ và minh bạch hạng nhất để đánh giá đúng độ nguy hiểm của bệnh dịch. Ngã đau nhất, và cũng đang vượt ra với muôn ngàn kế sách và tinh thần đoàn kết, lạc quan, vững vàng.

Biện pháp chống dịch của Ý nhanh chóng được châu Âu noi theo. Tinh thần lạc quan Ý như phong trào hát trên ban công, vẽ tranh cầu vồng, vỗ tay cảm ơn các y bác sĩ, lan tỏa cả ra Pháp, Tây Ban Nha… Nhìn vào hiểm họa với người già của Ý mà Đức có các biện pháp cách ly sớm các viện dưỡng lão và người già nói chung…

Bài học ở cả đó, tìm đủ thông tin và chắt lọc ra, hay lớn tiếng chê bai mà ít học bài, là tùy mỗi nước, mỗi người. Tùy đánh giá tổng quan, hay thầy bói sờ voi. Tùy con mắt trong sáng, khách quan, nhân văn, hay bị định kiến và kỳ thị vướng tầm nhìn.

Tôi mong và tin Ý sẽ sớm vượt qua. Mọi nước chóng vượt qua thì thế giới mới có thể lành bệnh. Đại dịch chưa có tiền lệ từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 này là lúc đoàn kết, học hỏi, trợ giúp lẫn nhau. Là cơ hội để phát hiện chỗ yếu kém, không phù hợp, và thay đổi. Để một lần nữa chứng tỏ tình người và tình yêu cuộc sống sẽ chiến thắng tất cả.

Minh họa bằng một video đặc biệt, trong bối cảnh phong tỏa ở Ý. Trong bộ phim kinh điển Cinema Paradiso (Rạp chiếu bóng Thiên Đường), hai ông cháu chiếu phim ra ngoài cửa sổ để người nghèo được xem. Trong phong tỏa, người Ý chiếu phim lên các tòa nhà để cùng giải trí. Trong video, phim Cinema Paradiso đang chiếu bên ngoài, chiếu cả vào khung cửa sổ nơi đôi vợ chồng già chầm chậm quay theo nhạc. Vẻ đẹp quá khứ hòa lẫn hiện tại. Sức sống và tình yêu Italia tuôn chảy. Từ điệu nhảy của đôi trai gái trong phim và hai cụ già trong phong tỏa, với tâm hồn và trái tim dữ dội sức sống Italia ❤️

(BÀI VIẾT CỦA TRẦN NGỌC HUYỀN)
———-
Bài liên quan

Trong bài này tôi dùng rất nhiều tin, sự kiện (facts) và ảnh chính thống của Ý do nhóm dịch tình nguyện của chị em ở Ý hoạt động đêm ngày đưa đến cho mọi người. Đây là nhóm có nhiều thông tin cập nhật và đầy đủ nhất về Ý. Hãy đọc từ nhóm https://www.facebook.com/groups/235425410966793/

Diễn tiến phong tỏa ở Ý https://bit.ly/3am2hi5

Báo cáo phân tích tử vong của Ý, đã dịch https://www.facebook.com/thuyanhle/posts/10215867629500723
Tại sao số ca chết ở Ý nhiều hơn Trung Quốc https://www.facebook.com/dang.nga.5/posts/1021600270508348129

XÉT NGHIỆM KHÁNG THỂ COVID19

Xét nghiệm kháng thể covid-19 có thể cho một con đường mới để chống dịch
Vũ Duy Mẫn (Duy-Man Vu 28 tháng 3 lúc 21:33)

(https://apple.news/AEeKKHRVoT3qSexuMizDVQQ)

Mặc dù khó có thể tìm ra hết ai sẽ bị nhiễm covid-19, một số chuyên gia tin rằng câu hỏi quan trọng hơn có thể là ai đã bị phơi nhiễm.

Tuần trước, United Biomedical bắt đầu hợp tác với hạt San Miguel, Colorado để xét nghiệm tất cả 8 ngàn cư dân về kháng thể covid-19. Ý tưởng là tìm từ mẫu máu bằng chứng xem cá nhân đó đã bị phơi nhiễm hay chưa.

Nguyên lý khoa học của xét nghiệm là: người nhiễm covid-19 sẽ phát triển các kháng thể trong máu của họ, thường là trong vòng 10 ngày, ngay cả khi người đó bị nhẹ đến mức không có triệu chứng. Kháng thể là các protein giúp cơ thể chống lại một loại virus xâm nhập – chúng là bằng chứng về sự đã tồn tại của virus.

Khi đại dịch coronavirus hoành hành, một số nhà lãnh đạo chính trị và chăm sóc sức khỏe coi xét nghiệm kháng thể là một cách để có thể đưa ra những quyết định hợp lý về cách ly với các đối tượng và khu vực.

Kể từ khi FDA cho phép khẩn cấp sử dụng xét nghiệm kháng thể vào tuần trước, các phòng thí nghiệm trên khắp Hoa Kỳ đã gấp rút phát triển các xét nghiệm kháng thể.

United Biomedical ban đầu đã xác nhận tính chính xác của xét nghiệm chẩn đoán kháng thể covid-19 tại Trung Quốc. Mei Mei Hu, đồng giám đốc điều hành của United Biomedical, cho biết là kết quả rất chính xác, khi thấy covid-19, thì đó chính là covid-19, phân biệt rõ ràng với các chủng coronavirus khác đang lưu hành.

United Biomedical đã từng phát triển các công cụ chẩn đoán và vắc-xin cho SARS, cho biết họ đã sẵn sàng để làm việc trên covid-19 và đã triển khai khoảng 100 ngàn xét nghiệm trên toàn cầu.

Sau Telluride, United Biomedical có kế hoạch hợp tác với chính phủ để mở rộng xét nghiệm tới những nơi có điểm nóng về virus, như New York và California.

Các quan chức cho biết họ rất lạc quan, nhưng cảnh báo rằng xét nghiệm kháng thể chỉ là một phần trong chiến lược tổng thể đối phó với một dịch bệnh nguy hiểm như covid-19. Công cụ này sẽ chỉ hoạt động tốt khi kết hợp với mô hình ở nhà và giãn cách xã hội.

LƯU Ý QUAN TRỌNG

Bộ Y tế khuyến cáo ít nhất trong 2 tuần tới (28/3-14/4/2020), tạm dừng tất cả các hoạt động hội họp, các sự kiện tập trung trên 20 người (cùng một chỗ). Dừng triệt để các nghi lễ tôn giáo. Cấm tụ tập nhiều hơn 10 người ở bên ngoài các công sở và trường học, bệnh viện… Bản tin gốc tại http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/trangchu và Bộ Y Tế Thống kê dịch bệnh và văn bản điều hành

Thông tin COVID!9 cập nhật liên tục và thường xuyên ở đây https://moh.gov.vn/web/dich-benh/van-ban-chi-dao-dieu-hanh. Video trực tuyến Bản tin COVID19; Đại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ; COVID19 NEWS tích hợp và lưu trữ thông tin cập nhật https://hoangkimlong.wordpress.com/category/covid19-news/

Video yêu thích

TỰ ĐẢ THÔNG KINH MẠCH – Tăng sức đề kháng và ổn định hệ miễn dịch – Khí Công Sư Lê Thuận Nghĩa
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi| Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sốngFood CropsKim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Giống khoai lang Việt Nam

GIỐNG KHOAI LANG VIỆT NAM
Hoàng Kim

Việt Nam có những giống khoai lang tốt chất lượng ngon, năng suất cao, được nông dân thích trồng và thị trường ưa chuộng như giống khoai HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Hoàng Long, Kokey 14 (Nhật vàng), Bí Đà Lạt, … Giống tốt thích nghi rộng như khoai lang Hoàng Long từ lúc công nhận giống cho đến nay đã hơn 35 năm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao trong diện tích khoai lang trồng ở các tỉnh phía Bắc. Thương hiệu khoai lang Ba Hạo (Hạo Đỗ Quý ) vang bóng một thời. Anh Đỗ Quý Hạo đã được Nhà nước Việt Nam vinh danh trong Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc năm 2010 và anh đã thành “chuyên gia” giúp nhiều tỉnh “xây dựng mô hình khoai lang Nhật”. Thế nhưng, Giống khoai lang Việt Nam từ giống tốt đến thương hiệu vẫn còn là một câu chuyện dài… Giống khoai lang HL491 Nhật tím; Giống khoai lang HL518 Nhật Đỏ; Giống khoai lang Hoàng Long; Giống khoai lang Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giong-khoai-lang-viet-nam/

CHÀO NGÀY MỚI 29 THÁNG 3
Hoàng Kim

CNM365. Chào ngày mới 29 tháng 3.COVID19 NEWS Đại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ; Nhớ Cậu; Giống khoai lang Việt Nam; Có một ngày như thế; Phục sinh giữa tối sáng; Nam tiến của người Việt; Nhà tôi giấc mơ xanh; Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Chiến dịch Mùa Xuân 1975: Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Đà Nẵng, Chiến dịch Huế – Đà Nẵng kết thúc. Ngày 29 tháng 3 năm 1974, các nông dân tại Lâm Đồng, Tây An, Trung Quốc, phát hiện ra Đội quân đất nung (hình) được tùy táng cùng Tần Thủy Hoàng. Ngày 29 tháng 3 năm 1976 , Bay trên tổ chim cúc cu của đạo diễn Tomáš Forman trở thành phim thứ hai giành được cả năm giải Oscar chính trong một lễ trao giải Oscar. Bài chọn lọc ngày 29 tháng 3: Nhớ Cậu; Giống khoai lang Việt Nam;Có một ngày như thế; Phục sinh giữa tối sáng; Nam tiến của người Việt; Nhà tôi giấc mơ xanh; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-29-thang-3/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi| Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Có một ngày như thế

TS Lê Quý Kha (thứ hai phải qua) và nghiên cứu sinh với quý thầy cô Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam , Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ chí Minh

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim

thăm bạn Lê Quý Kha

Có một ngày như thế.
Vui em nay thành công.
Nụ cười tươi rạng rỡ.
Ngày mỗi ngày trưởng thành.

Phúc hậu và thực việc
Tận tụy với nghề nông
Thân thiết tình thầy bạn
Chăm chút từng trang văn.

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim
thăm anh Trần Duy Quý

Có một ngày như thế
Khuya muộn ghé thăm nhau.
Đầy niềm vui ngày mới
Tỉnh thức cùng ban mai

Có một ngày như thế
Giữa cuộc đời yêu thương
Em đi tìm điều hay
Tôi bày em việc tốt

Mừng anh thương hoa lúa
Nghề giống yêu trọn đời
Cụ rùa vàng cần mẫn
Qua cầu tới thảnh thơi.

LỐI XUÂN
Hoàng Kim nối thơ Trần Duy Quý

Gia đình Nông nghiệp người ơi
Tổ tiên trao lại truyền đời cháu con
Lúa Lan Lạc Lợn thì còn
Nước Phân Cần Giống tốt hơn nói nhiều.
Bạn tôi chọn Lúa để yêu
Nửa đời còn lại đến thời chăm Lan

Mình thì vui thú nước non
Ban mai tỉnh thức vẫn còn say mê
Sắn Khoai Ngô Lúa chọn nghề
Làm thơ viết sách lắng nghe chuyện đời
Thung dung bước tới thảnh thơi
Tình yêu cuộc sống về nơi thanh nhàn.

xem tiếp Có một ngày như thế https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-mot-ngay-nhu-the/

Cháo ngày mới 30 tháng 3 https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-30-thang-3/

Video yêu thích
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Nhớ Cậu

NHỚ CẬU
Kính thượng thọ Cậu
Hoàng Kim


Mai trắng tóc Người cũng trắng trong
Đường trần lên thấu đỉnh cao phong
Hoàng gia Mạc tộc ngời tâm đức
Lối hẹp đường cong chẳng thẹn lòng

Hoàng Thúc Tấn viết: Cậu xem bài viết về Cao Biền của cháu thật sự là điều mới lạ đối với cậu. Nếu thực sự Cao Biền như cháu đã khảo cứu thì lịch sử nước ta hoàn toàn khác. Có đoạn nói mộ Cao Biền ở Tuy Hoà thì thời nhà Đường nước ta mới chỉ vẻn vẹn một phần của Bắc bộ. Cậu xem một số bài khảo cứu của cháu qua Faebook và rất vui và lý thú khi đọc. Cậu Tấn”

NHỚ CẬU
Chúc mừng Cậu cùng đại gia đình vui khỏe hạnh phúc


Mai trắng tóc người cũng trắng trong
Đường trần lên thấu đỉnh cao phong
Hoàng gia Mạc tộc ngời tâm đức
Lối hẹp đường cong chẳng thẹn lòng

Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cau/ — cùng với Cương Hoàng Gia, Hoang Thuc TanHoàng Quý Thân.

Kim Hoàng trả lời: cháu nhớ cậu cùng các cậu mợ kính yêu và người thân của các cháu. Cháu thật xúc động khi hình dung người cậu trên 85 tuổi đã viết cho cháu những lời chân tình này. Cháu về quê thắp hương cho người thân ‘Hoàng gia Mạc tộc’ và thấu hiểu sâu sắc ‘Cao cát Mạc sơn’ nhưng cháu chưa thể viết rõ hơn. Cháu xin lưu tại đây đường dẫn bài ‘Cao Biền trong sử Việt” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cao-bien-trong-su-viet/

1, Cháu trích chép kính cậu một ghi chú trong bài trên (5) Vạn Kiếp tông bí truyền thư (萬劫宗秘傳書) của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương, tác phẩm này còn gọi là Vạn Kiếp binh thư đã thất truyền. Bài tựa của Trần Khánh Dư trong cuốn sách này giải thích bí truyền đại sư là người thế nào:

“Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì. Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái điều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy.”
Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư, còn như sách Binh thư yếu lược mà người đời ngờ rằng bản thật đã bị cướp và thất lạc. đời sau chỉ có chân truyền lời này.

2. Mạc triều trong sử Việt. Hoàng chi Mạc tộc và Cao Bằng . Tỉnh Cao Bằng có làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, từ thời Mạc đến nay hàng năm đều có Lễ hội chùa Đà Quận từ ngày 9 âm lịch đến rằm Nguyên tiêu tháng Giêng hàng năm để tảo mộ tổ tiên và dâng hương tưởng nhớ. Cao Bằng là đất sau cùng của nhà Mạc tiếp tục tồn tại hơn 100 năm sau khi nhà Mạc không còn triển vọng phục quốc mới nhập vào đất nhà Hậu Lê. Làng Đà Quận là làng dân Mạc theo hương linh Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn. Nhà Mạc tuân theo di nguyện của Mạc Ngọc Liễn danh tướng thái phó vua Mạc là không bao giờ vì dòng họ mình mà nồi da xáo thịt đưa ngoại viện vào giày xéo non sông. Mạc tộc lúc kế cùng lực kiệt đã đổi họ Mạc thành họ khác và lưu tán khắp mọi nơi trong cả nước, trong đó có Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ và cho đến nay có Hoàng chi Mạc tộc đất phương Nam cũng là những người con xa xứ. Những ngày đầu xuân nay (2020) sau 428 năm (tính từ năm 1592 Cao Bằng thất thủ vì sự công phá của nhà Lê Trịnh), Việt sử ghi nhớ di nguyện tổ tiên, ‘Lời dặn sau cùng của Mạc Ngọc Liễn’ tại quốc sử Việt đối chiếu qua các thời viết về Mạc triều trong sử Việt: “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có đoạn bình luận về lời trăng trối của ông: “Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”.

3. xem tiếp Nhớ cậu https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-cau/ Chào ngày mới 29 tháng 3 https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-29-thang-3/

CHÀO NGÀY MỚI 29 THÁNG 3
Hoàng Kim


CNM365. Chào ngày mới 29 tháng 3. Nhớ cậu; Giống khoai lang Việt Nam; Phục sinh giữa tối sáng; Nam Tiến của người Việt; Nếp nhà và nét đẹp văn hóa; Nhà tôi giấc mơ xanh; Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Chiến dịch Mùa Xuân 1975: Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Đà Nẵng, Chiến dịch Huế – Đà Nẵng kết thúc. Ngày 29 tháng 3 năm 1974, các nông dân tại Lâm Đồng, Tây An, Trung Quốc, phát hiện ra Đội quân đất nung (hình) được tùy táng cùng Tần Thủy Hoàng. Ngày 29 tháng 3 năm 1976 , Bay trên tổ chim cúc cu của đạo diễn Tomáš Forman trở thành phim thứ hai giành được cả năm giải Oscar chính trong một lễ trao giải Oscar. Bài chọn lọc ngày 29 tháng 3: Nhớ cậu. Nếp nhà và nét đẹp văn hóa; Nhà tôi ; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-29-thang-3/

NAM TIẾN CỦA NGƯỜI VIỆT
Hoàng Kim

Phục sinh giữa tối sáng; Nam tiến của người Việt; Đi như một dòng sông; những dòng sông hò hẹn; Đoàn tụ đất phương Nam là 5 phần liên kết trong bài Cuối dòng sông là biển. Dưới đây là phần 2 Nam tiến của người Việt

Nam tiến của người Việt là xu thế tự nhiên, tất yếu của lịch sử người Việt. Bản đồ đất nước Việt Nam qua các đời là dẫn liệu toàn cảnh, quan trọng cho tầm nhìn lịch sử Nam tiến của người Việt từ thời Lý cho đến nay. Một cách khái lược,hành trình Nam tiến kéo dài gần 700 năm từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18, nâng diện tích lãnh thổ từ ban đầu độc lập (năm 938) cho đến nay (năm 2019) lãnh thổ Việt Nam hình thành và tồn tại với tổng diện tích gấp 3 lần (Hình 1).

Việt Nam thời Đường đổi từ An Nam Đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân từ năm 866. Cương vực Việt Nam thời nhà Đường, như chúng tôi đã trình bày ở bản đồ trong bài “Cao Biền trong sử Việt “. Cao Biền đánh đuổi được quân Nam Chiếu được phong làm Cao Vương Tĩnh Hải Quân. Ở phía Bắc ông xây thành Đại La và thiết lập hệ thống giao thông thủy bộ kết nối Đại La – Hải Phòng Ka Long Bắc Luân – Quảng Châu thành hệ thống phòng thủ mạnh phản công nhanh. Ở phía Nam ông thiết lập tuyến phòng thủ duỗi dài từ núi Hoành Sơn sông Gianh đến núi Bì Sơn sông Kỳ Lộ bao gồm Tây Nguyên (Việt Nam ngày nay) và Nam Lào.hình thành thế phòng thủ liên hoàn vững chắc.dọc Trường Sơn và tuyến phòng thủ ngang ngã ba Đông Dương nối An Hải Phú Yên chẹn Nam Chiếu. Vua Đường Ý Tông triệu hồi Cao Biền về Bắc dẹp loạn và chuẩn tấu cho Cao Tầm làm tiết độ sứ Tĩnh Hải.

Vua Đường Ai Đế bị quyền thần Chu Ôn khống chế và cướp ngôi năm 907. Cao Tầm làm tiết độ sứ Tỉnh Hải quân (868 – 878) nhưng đã bị giết chết và lần lượt thay thế bằng Tăng Cổn (878 – 880) Cao Mậu Khanh (882 – 884) Tạ Triệu (884 – ?) An Hữu Quyền (897 – 900) Chu Toàn Dục (900 – 905). Chu Ôn quyền thần khống chế và đoạt ngôi vua Đường, đã cho anh ruột là Chu Toàn Dục sang làm Tiết độ sứ ở Việt Nam, nhưng Toàn Dục quá kém cỏi không đương nổi nên phải về. Độc Cô Tổn (905) thay thế. Năm 905, Chu Ôn đày Độc Cô Tổn ra đảo Hải Nam và giết chết. Nhà Đường trong lúc chưa kịp cử quan cai trị mới sang trấn nhậm thì một hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm lấy thủ phủ Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ. Chu Ôn đang mưu cướp ngôi nhà Đường đã nhân danh vua Đường thừa nhận Khúc Thừa Dụ.

Sau khi nhà Đường diệt vong, phiên trấn các nơi tự lập quốc.Thời kỳ Hậu Đường phân thành Ngũ Đại (907-960) Thập Quốc (907-979). kéo dài đến khi triều Tống thống nhất Trung Quốc bản thổ. Thời Ngũ Đại Thập Quốc tương đương thời loạn 12 sứ quân ở Việt Nam. Thời này chiến tranh liên miên, Liêu Quốc (Khiết Đan) được hình thành và Tĩnh Hải quân (miền Bắc Việt Nam) dần “ly tâm” và cuối cùng đã thoát Trung để trở thành một quốc gia độc lập. Cao Biền nản lòng phiền muộn vì vợ Lã Thị Nga và Cao Tầm chết thảm, các danh tướng hiền tài Trương Lân, Chu Bảo của ông đều bị giết, bản thân ông bị vua nghi ngờ tiếm quyền và bị gian thần mưu hai nên ông đã dùng kế “ve sầu thoát xác” giả cách bị giết chết, để trốn xa về vùng biên viễn, chịu tiếng nhục phản thần, ông về làm người dân Việt ở An Hải Phú Yên đất phương Nam.

NAM TIẾN CỦA NGƯỜI VIỆT từ thời tự chủ (905) đến ngày nay được chia làm ba giai đoạn chính: Giai đoạn 1 Nam Tiến đến sông Gianh Quảng Bình (1009-1558) cực nam của Đằng Ngoài; Giai đoạn 2 Nam tiến đến núi đá Bia sông Kỳ Lộ, Phú Yên (1558-1693) là cực nam của Đằng Trong; giai đoạn 3 (1693- 1839) Nam tiến tới sông Đồng Nai sông Tiền sông Hậu kết nối toàn Việt Nam.

Giai đoạn 1 NAM TIẾN ĐẾN SÔNG GIANH là cực nam của Đằng Ngoài (Hình 4); Thời Tự chủ (905-938) Họ Khúc truyền nối làm chức Tiết độ sứ gồm 3 đời: Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ, cai trị từ năm 905 tới năm 930 Khúc Thừa Mỹ bị bắt bởi Lý Khắc Chính là tướng của vua Nam Hán. Dương Đình Nghệ đánh bại tướng Nam Hán làm tiết độ sứ Tịnh Hải 8 năm, sau đó bị Kiều Công Tiển làm phản giết chết lên thay. Nhà Ngô (938- 967) Ngô Quyền là nha tướng và con rể của Dương Đình Nghệ, phát binh tiêu diệt Kiều Công Tiễn, đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đặng, Ngô Quyền mất, loạn 12 sứ quân. Nhà Đinh (968-980) Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước năm 968 và kết thúc năm 980 khi thái hậu Dương Vân Nga khoác hoàng bào cho Lê Hoàn và con của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Phế Đế (6 tuổi) nhường ngôi cho Lê Hoàn, Nhà Tiền Lê (980-1009) khởi đầu từ khi Lê Hoàn lên ngôi vua năm 980 trải ba đời vua và kết thúc khi vua Lê Long Đĩnh (24 tuổi) qua đời. Nhà Lý khởi đầu từ năm 1009 Nhà Trần (1226-1400), Nhà Hồ (1400- 1407), Bắc thuộc lần 4 (1407-1427) Nhà Lê sơ (1428-1527).Nhà Mạc (1527-1592) Nhà Lê Trung hưng (1533-1789) Trịnh Nguyễn phân tranh Đằng Ngoài Đằng Trong chúa Nguyễn (1558- 1777), Cương vực nước Đại Việt là bản đồ màu xanh đến ranh giới đèo Ngang hoặc sông Gianh ranh giới Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay. Giải đất các đồng bằng nhỏ ven biển Nam Trung Bộ suốt thời kỳ này là sự giành đi chiếm lại của Đại Việt và Chiêm Thành. Đây là giai đoạn đầu mới giành được độc lập tự chủ, lãnh thổ Đại Việt bao gồm khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, các đồng bằng nhỏ ven biển Bắc Trung Bộ. Đặc trưng của giai đoạn 1 là Sông Giang làm cực Nam của Đằng Ngoài khi chúa Nguyễn Hoàng sáng nghiệp đất Đằng Trong. Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng đã cùng với con em vùng đất Thanh Nghệ vào trấn nhậm ở đất Thuận Hóa Quảng Nam, lấy Hoành Sơn, Linh Giang và Luỹ Thầy sau này làm trường thành chắn Bắc.

Giai đoạn 2 NAM TIẾN ĐẾN SÔNG KỲ LỘ (1558-1693) nơi Núi Đá Bia Phú Yên (Hình 5) “Ngó ra thấy mả Cao Biền/ Nhìn vào thấp thoáng Ma Liên Chóp Chài” (ca dao cổ Phú Yên)Chúa Nguyễn Hoàng đã có những chính sách hiệu quả để phát triển vùng đất Đằng Trong mở rộng lãnh thổ về phương Nam. Các hậu duệ của Nguyễn Hoàng tiếp tục chính sách bắc cự nhà Trịnh, nam mở mang đất, đến năm 1693 thì sáp nhập toàn bộ đất đai Chiêm Thành vào Đại Việt. và đến năm 1816 sáp nhập hoàn toàn Chân Lạp, Tây Nguyên với các hải đảo vào lãnh thổ của nước Đại Nam thời Minh Mệnh nhà Nguyễn để có ranh giới cương vực như hiện nay. Giai đoạn 2 Nam tiến đến núi đá Bia trãi từ Nhà Mạc (1527- 1592), Nhà Lê trung hưng (1533-1789), Trịnh-Nguyễn phân tranh, nhà Tây Sơn (1778- 1802) Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn (1789-1802) Việt Nam thời Nhà Nguyễn (1804- 1839). Bản đồ cương vực màu xanh gồm khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, các đồng bằng nhỏ ven biển Bắc Trung Bộ thuộc Đằng Ngoài, cương vực màu vàng từ địa đầu Quảng Bình đến sông Kỳ Lộ tỉnh Phú Yên, bao gồm các đồng bằng nhỏ ven biển Nam Trung Bộ, Tây Nguyên thuộc Đàng Trong, Đặc trưng của giai đoạn 2 Nam tiến tới núi Đá Bia gần sông Kỳ Lộ núi Đại Lãnh tỉnh Phú Yên là chỉ dấu quan trọng Nam tiến của người Việt suốt từ thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ 17. Lê Hoàn năm 982 đem quân đánh Chiêm Thành mở đất phương Nam là lần xuất chinh sớm nhất của Đại Việt, và năm 1693 là năm cuối cùng toàn bộ phần đất Chiêm Thành ở Phú Yên sáp nhập hoàn toàn vào Đại Việt. Vua Lê Thánh Tông năm 1471 khi thân chinh cầm quân tấn công Chiêm Thành tương truyền đã dừng tại chân núi đá Bia và cho quân lính trèo lên khắc ghi rõ cương vực Đại Việt.Thời Nhà Nguyễn, đến năm 1816 thì sáp nhập toàn bộ đất đai Chân Lạp, Tây Nguyên và các hải đảo vào lãnh thổ Đại Nam. Kể từ lần xuất chinh đầu tiên của Lê Hoàn từ năm 982 đến năm 1693 trãi 711 năm qua nhiều triều đại, hai vùng đất Đại Việt Chiêm Thành mới quy về một mối. Người Việt đã đi như một dòng sông lớn xuôi về biển, có khi hiền hòa có khi hung dữ, với hai lần hôn phối thời Trần (Huyền Trân Công Chúa) và thời Nguyễn (Ngọc Khoa Công Chúa), chín lần chiến tranh lớn nhỏ. đã hòa máu huyết với người Chiêm để bước qua lời nguyền núi đá Bia ở núi Phú Yên “gian nan tiến thủ để mở rộng hy vọng cho tương lai”, cho đến năm 1834 thành nước Đại Nam như ngày nay.

Giai đoạn 3 NAM TIẾN ĐẾN SÔNG ĐỒNG NAI SÔNG TIỀN SÔNG HẬU 1639-1839). Hình 6 Sông Hậu đoạn chảy qua thành phố Long Xuyên. Cương vực lãnh thổ Việt Nam Từ năm 1693 cho đến năm 1839 lần lượt bao gồm Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long với các hải đảo. Từ năm 1839 cho đến 1945: Đại Nam thời Nhà Nguyễn (1839-1945); Thời Pháp thuộc Liên bang Đông Dương (nhập chung Lào, Campuchia, Quảng Châu Loan 1887 – 1945 ); Giai đoạn từ năm 1945 đến nay (Đế quốc Việt Nam: tháng 4 năm 1945 – tháng 8 năm 1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: từ 2 tháng 9 năm 1945 đến 2 tháng 7 năm 1976; Quốc gia Việt Nam: dựng lên từ 1949 đến 1955 với quốc trưởng Bảo Đại bởi chính quyền Pháp; Việt Nam Cộng hòa: tồn tại với danh nghĩa kế tục Quốc gia Việt Nam từ 1955 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại miền Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam sau là Cộng hoà Miền Nam Việt Nam: từ 8 tháng 6 năm 1960 đến 2 tháng 7 năm 1976; Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: từ ngày 2 tháng 7 năm 1976 đến nay). Đặc trưng giai đoạn 3 Nam tiến tới sông Đồng Nai sông Tiền sông Hậu là sự hình thành nước Việt Nam toàn vẹn. Chủ tịch Hồ Chí Minh người đặt nền móng cho nước Việt Nam mới đã kiên quyết khôn khéo nhanh tay giành được chính quyền và lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bởi Pháp bại Nhật hàng vua Bảo Đại thoái vị. Bác nói và làm những điều rất hợp lòng dân: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. “Nay, tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu (tôi) cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.

Nam tiến của người Việt thành công vì đó là xu thế tự nhiên, tất yếu của lịch sử người Việt.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi| Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Lê Quý Kha trang vàng ngô Việt

TS. Lê Quý Kha (bìa trái) với thầy bạn Đại học Nông Lâm Hồ Chí Minh

LÊ QUÝ KHA TRANG VÀNG NGÔ VIỆT
Hoàng Kim

Tiến sĩ Lê Quý Kha (Quy Kha Le) trang vàng ngô Việt là một trong những người dâng hiến lặng lẽ, say mê nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cây ngô và giảng dạy, đã cùng nhiều đồng đội tài năng làm được nhiều việc tốt cho nghề ngô Việt Nam. Anh say mê làm, lặng lẽ đào tạo và tích lũy trang viết để trao lại ngọc cho đời. Tôi chưa kịp viết chỉ lưu lại ít hình ảnh đồng đội và thông tin để nhớ

Ngô Việt Nam là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa, có diện tích canh tác hàng năm hiện đạt khoảng 1,15 triệu ha, năng suất bình quân 4,55 tấn/ha, sản lượng 5,24 triệu tấn (Tổng cục Thống kê 2017). Sản phẩm ngô Việt Nam chủ yếu dùng cho chăn nuôi, nay dùng làm thực phẩm cho người hơn 5%. Cuộc cách mạng về giống ngô lai Việt Nam đã góp phần tăng nhanh diện tích, năng suất và sản lượng ngô trong toàn quốc, đưa nước ta đứng vào hàng ngũ những nước trồng ngô lai tiên tiến của vùng châu Á. So với năm 1985 trước đổi mới, ngô Việt Nam lúc ấy có diện tích 397 ngàn ha, năng suất bình quân 1,47 tấn/ha, sản lượng 0,37 triệu tấn thì đến nay ngô Việt Nam đã đạt một bước tiến vượt bậc, gấp 3 lần về năng suất và 14 lần về sản lượng. Mặc dù vậy, sản lượng ngô hiện nay vẫn chưa đủ cung cấp cho ngành chăn nuôi của cả nước, Việt Nam mỗi năm vẫn phải nhập khoảng 1,60 – 2,00 triệu tấn ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi, nhưng Việt Nam đã cùng Thái Lan và Trung Quốc nằm tốp đầu trồng ngô tiên tiến của châu Á. Trong thành tựu ấy, có công đóng góp hiệu quả của giáo sư Trần Hồng Uy, giáo sư Ngô Hữu Tình, giáo sư Trần Văn Minh, tiến sĩ Phạm Đồng Quảng, phó giáo sư Trương Đích, tiến sĩ Mai Xuân Triệu, tiến sĩ Bùi Mạnh Cường, tiến sĩ Phan Xuân Hào,Tiến sĩ Lê Quý Kha (Quy Kha Le), Tiến sĩ Lê Quý Tường, thầy Luyện Hữu Chỉ, thầy Võ Đình Long, Đỗ Hữu Quốc, tiến sĩ Trần Kim Định, tiến sĩ Trần Thị Dạ Thảo, … là những chuyên gia chính nghề ngô của Việt Nam chuyên sâu khoa học thực tiển và đào tạo nguồn lực cây ngô ở chặng đường đầu trên 40 năm qua.

Trang vàng ngô Việt sách của tiến sĩ Lê Quý Kha là những cẩm nang nghề nghiệp, tiêu biểu gồm: 1) TS Lê Quý Kha, TS Lê Quý Tường 2019. NGÔ SINH KHỐI Kỹ thuật canh tác, thu hoạch và chế biến phục vụ chăn nuôi. Nhà Xuất bản Nông nghiệp ISBN 978-606-60- 2930-4 2) CIMMYT & IBPGR – Rome, 1991 Biên dịch Lê Quý Kha 2013. Hướng dẫn mô tả nguyên liệu ngô. Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. 3) Lê Quý Kha (Chủ biên) 2013. Hướng dẫn khảo sát, so sánh và khảo nghiệm giống ngô lai. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật . Sách cẩm nang nghề nghiệp cây Ngô. Tài liệu Học tập CÂY LƯƠNG THỰC Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Nhà sách Việt Nam, FoodCrops.vn, CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM, Hoàng Long , Hoàng Kim tuyển chọn và giới thiệu www.nhasachvietnam.blogspot.com

TS Lê Quý Kha (thứ hai phải qua) và nghiên cứu sinh với quý thầy cô Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam , Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ chí Minh

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim

thăm bạn Lê Quý Kha

Có một ngày như thế.
Vui em nay thành công.
Nụ cười tươi rạng rỡ.
Ngày mỗi ngày trưởng thành.

Phúc hậu và thực việc
Tận tụy với nghề nông
Thân thiết tình thầy bạn
Chăm chút từng trang văn.

Cháo ngày mới 30 tháng 3 https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-30-thang-3/

Lê Quý Kha sinh ngày 29 tháng 3. Ngày này trong lịch sử CNM365. Chào ngày mới 29 tháng 3. … Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-29-thang-3/

CNM365
29 tháng 3

COVID19 NEWS Đại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ

Ngày 29 tháng 3 năm 1974, các nông dân tại Lâm Đồng, Tây An, Trung Quốc, phát hiện ra Đội quân đất nung (hình) được tùy táng cùng Tần Thủy Hoàng.

Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Chiến dịch Mùa Xuân 1975: Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Đà Nẵng, Chiến dịch Huế – Đà Nẵng kết thúc. Ngày 29 tháng 3 năm 1976, Bay trên tổ chim cúc cu của đạo diễn Tomáš Forman trở thành phim thứ hai giành được cả năm giải Oscar chính trong một lễ trao giải Oscar.

Viết bài mới

Ngô Việt Nam và những người Thầy

Lê Quý Kha sinh ngày 29 tháng 3. Ngày này trong lịch sử CNM365. Chào ngày mới 29 tháng 3. … Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-29-thang-3/

CNM365
29 tháng 3

COVID19 NEWS Đại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ

Ngày 29 tháng 3 năm 1974, các nông dân tại Lâm Đồng, Tây An, Trung Quốc, phát hiện ra Đội quân đất nung (hình) được tùy táng cùng Tần Thủy Hoàng.

Nhớ Cậu; Giống khoai lang Việt Nam; Có một ngày như thế; Phục sinh giữa tối sáng; Nam tiến của người Việt; Nhà tôi giấc mơ xanh;.

Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Chiến dịch Mùa Xuân 1975: Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Đà Nẵng, Chiến dịch Huế – Đà Nẵng kết thúc. Ngày 29 tháng 3 năm 1976, Bay trên tổ chim cúc cu của đạo diễn Tomáš Forman trở thành phim thứ hai giành được cả năm giải Oscar chính trong một lễ trao giải Oscar.

Phục sinh giữa tối sáng

PHỤC SINH GIỮA TỐI SÁNG
Hoàng Kim

Cuối dòng sông là biển
Cuối cuộc tình yêu thương
Đức tin phục sinh thánh thiện
Yêu thương mở cửa thiên đường.

“Có nhiều đêm sông chảy về trong giấc mơ, tỉnh dậy không thấy đâu. Thảng thốt gọi thầm Nhật Lệ ơi” Tôi tâm đắc chép lại bài “Nhật Lệ ơi” của anh Nguyễn Quốc Toàn cho tản văn “Cuối dòng sông là biển” bài viết ngày 12.09.2016, với nhiều lần trở lại. Có những trang văn không là trang văn nữa mà là trang đời lắng đọng. Nhật Lệ ơi cuối đời tôi mới hiểu để lần tìm về các dòng sông lớn Việt Nam. Cuối dòng sông là biển. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cuoi-dong-song-la-bien/

Tôi đọc ‘Phục sinh’ và ‘Đường sống’ của Lev Tonstoy giữa vùng tối sáng. Đời người thật may mắn được trãi nghiệm qua những khoảnh khắc hiểm nghèo sinh tử, để thấu hiểu giá trị cuộc sống. Tôi đã đi trong vùng tối, lần tìm giữa vùng tối sáng và may mắn phục sinh tìm được đường sống ánh sáng minh triết. Ta chợt chứng ngộ thấu hiểu giá trị của những lời khuyên khôn ngoan, tác phẩm lớn trở nên dễ đọc dễ hiểu hơn. ‘Đường sống’ là sách nghị luận khó đọc nhưng nay đọc thật thích, ‘Phục sinh’ thì thật tuyệt vời.

PHỤC SINH
Tác giả: Lev Tolstoy Dịch giả: Vũ Đình Phòng, Phùng Uông
Số chương: 129 chương

Phục sinh là tiểu thuyết sau cùng của Lev Tonstoy, xuất bản năm 1899, thể hiện cô đọng đầy đủ và hệ thống nhất ước vọng và lòng nhiệt tâm, triết lý đạo đức của Tonstoy. Sách kể câu chuyện của một vị quý tộc tự thú những vô minh của mình và gửi gắm ước muốn, quan niệm minh triết về tình yêu cuộc sống. Maksim Gorky kể rằng Lev Tolstoy đã khóc trước mặt Gorky và Chekhov khi ông đọc phần kết của tác phẩm này. Lev Tonstoy sau khi viết Phục sinh, ông gần như đã dành toàn bộ phần cuối cuối đời mình cho chuyện cổ tích người lớn và ngụ ngôn cho trẻ em. Một số truyện ngụ ngôn được ông phỏng theo ngụ ngôn Ê dốp và truyện Hindu. Minh triết cho mỗi ngày (Wise Thoughts for Every Day) lắng đọng tinh hoa hơn. Lev Tonstoy coi sự yêu thích là tự mình tỉnh thức.

Lev Tonstoy những cột mốc lớn trong chặng đường tư tưởng khởi đầu từ bộ ba cuốn tiểu thuyết tự truyện xuất bản đầu tiên năm 1852 -1856 gồm Thời thơ ấu, Thời niên thiếu, và Thời tuổi trẻ  sau đó đến các kiệt tác Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina, Đường sống, Phục sinh, các sách cổ tích cho người lớn và và ngụ ngôn cho trẻ em. Không một ai nghi ngờ về tầm ảnh hưởng sâu rộng của văn chương và chính luận của Bá tước Lev Tolstoy. Người sinh ngày 9 tháng 9 năm 1828, mất ngày  20 tháng 11 năm 1910 và được yêu mến rộng rãi khắp mọi nơi trên thế giới. Lev Tolstoy với kiệt tác Chiến tranh và hoà bình và Anna Karenina là đỉnh cao của sử thi và tiểu thuyết hiện thực cuộc sống Nga, được mệnh danh là tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong tất cả các nhà viết tiểu thuyết, con sư tử chúa tể sơn lâm trên đại ngàn văn chương. Lev Tonstoy không chỉ là nhà văn kiệt xuất mà còn là một minh sư, một nhà tư tưởng vĩ đại và một bậc hiền minh, nhà đạo đức có tiếng với tư tưởng chống lại cái ác thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm “Vương quốc Chúa Trời trong bạn” (tiếng Anh: The Kingdom of God Is Within You), cái mà có ảnh hưởng bởi những hình tượng của thế kỷ 20 như Mahatma Gandhi và Martin Luther King. Lev Tonstoy là người theo chủ nghĩa hoà bình, nhà cải cách giáo dục, người ăn chay, người theo chủ nghĩa vô chính phủ tín đồ Cơ Đốc, nhà tư tưởng đạo đức, và là một thành viên có ảnh hưởng của gia đình Tolstoy. Đó là một kho tàng trí tuệ minh triết vĩ đại của một bậc Thầy.

Minh triết cho mỗi ngày là công trình trọng yếu cuối cùng của Lev Tonstoy và ông đã xem nó là đóng góp quan trọng nhất của ông cho nhân loại. Theo Peter Serikin tại lời giới thiệu của tác phẩm này “Tonstoy giữ cái ‘cẩm nang’ cho một cuộc sống tốt này trên bàn làm việc của ông trong suốt những năm cuối cùng đời mình cho đến phút cuối (thậm chí ông còn yêu cầu trợ lý cùa mình V. Chertkov, đưa cho ông xem bản in thử trên giường chết của ông) Chi tiết nhỏ này cho thấy Tonstoy yêu quý tác phẩm này xiết bao!”. Cũng theo Peter Serikin bộ ba tập sách ‘Minh triết của hiền nhân’ 1903 (The Thoughts of Wise Men) ; Một chu kỳ đọc (A Circle of Reading’ 1906; Minh triết cho mỗi ngày 1909 (Wise Thoughts for Every Day) dường như phát triển sau khi Lev Tonstoy bệnh nặng và phục sinh như một phép lạ cuối năm 1902. Bộ ba này của Tonstoy hết sức phổ biến từ lần xuất bản thứ nhất vào năm 1903 cho đến năm 1917. Rồi cả ba cuốn đều không được xuất bản trong suốt thời kỳ gần 80 năm vì nội dung tôn giáo của chúng, và nó được xuất hiện trở lại gần đây sau sự sup đổ của Liên bang Xô Viết. Sách ‘Suy niệm mỗi ngày’ nguyên tác tiếng Nga của Lev Tonstoy do Đỗ Tư Nghĩa dịch từ bản tiếng Anh ‘Wise Thoughts for Every Day’ của Peter Serikin xuất bản ở New York Mỹ từ năm 2005 và, Bản quyền bản tiếng Việt của Công ty THHH Văn Hóa Khai Tâm 2017. Hành trình cuốn sách này đến Việt Nam khá muộn nhưng may mắn thay những tư tưởng minh triết của nhà hiền triết Lev Tonstoy đã tới chúng ta gợi mở cho sự suy ngẫm ‘minh triết cho mỗi ngày’ cùng đồng hành với người thầy hiền triết vĩ đại.

Lev Tonstoy sau khi phục sinh đã đi vào một lĩnh vực nhiều ẩn dụ mênh môngnhư biển. Tôi lắng nghe một lời nói thăm thẳm từ nhận thức của đạo Bụt:  “Ngươi theo tay ta chỉ. Kia là mặt trăng. Nên nhớ: Ngón tay ta không là mặt trăng”.Trang đầu Phục sinh của Lev Tonstoy chép lời  Luca, VI, 40. “Học trò không hơn được Thầy; nhưng học trò nào tu hành trọn đạo thì tất sẽ được như Thầy”. Mathieu XVIII, 21. – Pi-e bèn đến gần Chúa và hỏi: “Thưa Chúa, khi anh em tôi có lỗi với tôi thì tôi sẽ tha thứ cho họ mấy lần? Có đến bảy lần không?” Mathieu XVIII, 22. – Jesus đáp: “Ta không nói là đến bảy lần, mà bảy mươi lần” Mathieu XII, 3. – “Cớ sao ngươi nhìn thấy sợi rơm nhỏ trong mắt anh em ngươi mà chẳng thấy cây gỗ lớn trong chính mắt ngươi?” Jeans XIII, 7 – “Trong các ngươi ai không có tội lỗi hãy ném đá trước nhất vào người đàn bà đó”.Kia là mặt trăng. Phục sinh giữa tối sáng. Tôi bừng tỉnh ngộ. Tôi trở về thường ngày với Tình yêu cuộc sống.

CUỐI DÒNG SÔNG LÀ BIỂN

Phục sinh. ‘Cuối dòng sông là biển Cuối cuộc tình yêu thương. Đức tin phục sinh thánh thiện Yêu thương mở cửa thiên đường’. (Hoàng Kim). Tôi đọc ‘Phục sinh’ và ‘Đường sống’ của Lev Tonstoy giữa vùng tối sáng. Đời người thật may mắn được trãi nghiệm qua những khoảnh khắc hiểm nghèo sinh tử, để thấu hiểu giá trị cuộc sống. Tôi đã đi trong vùng tối, lần tìm giữa vùng tối sáng và may mắn phục sinh tìm được đường sống ánh sáng minh triết. Ta chợt chứng ngộ thấu hiểu giá trị của những lời khuyên khôn ngoan, tác phẩm lớn trở nên dễ đọc dễ hiểu hơn. ‘Đường sống’ là sách nghị luận khó đọc nhưng nay đọc thật thích, ‘Phục sinh’ thì thật tuyệt vời. Nhật Lệ ơi cuối đời tôi mới hiểu để lần tìm về các dòng sông lớn Việt Nam. Cuối dòng sông là biển. https://hoangkimlong.wordpress.com/…/cuoi-dong-song-la-bien/

Câu chuyện “Cuối dòng sông là biển” tôi kể lần này dưới đây có ba phần chính: Phục sinh; Nam tiến, Ân tình. Nhà hiền triết Lev Tonstoy trò chuyện về phục sinh trong cuốn sách quý tôi nghiền ngẫm suốt mười ngày nhưng tôi chọn lại ba ý tâm đắc nhất của riêng mình: phục sinh đọc giữa vùng tối sáng; phục sinh Nam tiến lời Thầy dặn; phục sinh đi như một dòng sông; Nam tiến của người Việt từ thời tự chủ đến nay gồm giai đoạn 1 (1009- 1558) Nam Tiến đến sông Gianh Quảng Bình là cực nam của Đằng Ngoài; giai đoạn 2 Nam Tiến tới núi Đại Lãnh sông Kỳ Lộ Phú Yên là cực nam của Đằng Trong; giai đoạn 3 Nam tiến về sông Đồng Nai sông Tiền sông Hậu, kết nối toàn vẹn Việt Nam ngày nay; Đó là những chỉ dấu sinh tồn của dân tộc, mà nói theo cách nói tinh hoa giản lược của cụ Đào Duy Anh là lịch sử Việt Nam qua các đời suốt 4000 năm chỉ giản lược chia làm hai phần. Giữ vững miền Bắc và Nam tiến. Cụ Đào Duy Anh viết: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không mẩu đất nào là không có dấu vết thảm đảm kinh dinh của tổ tiên ta để giành quyền sống với vạn vật; suốt một dải Trung Việt vào đến trung châu Nam Việt, không một khúc đường nào là không nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hy vọng cho tương lai.”. Chúng ta có thấu hiểu điều đó mới nắm vững được nông nghiệp, du lịch sinh thái, lịch sử địa chính trị, văn hóa giáo dục kinh tế xã hội Việt Nam. Non nước Việt Nam ân tình thấm máu xương nhiều đời của dân tộc Việt và cộng đồng. Đời tôi xuôi phương Nam thuận theo tự nhiên lắng đọng ân tình đặc biệt của ba khóa bạn hữu khóa 4 trồng trọt và khóa 10 trồng trọt Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (đó là Trường Đại học Nông Lâm Huế và Đại học Nông Lâm Bắc Giang ngày nay), với khóa 2 Trồng trọt (ba lớp 2a, 2b, 2c) Trường Đại học Nông nghiệp 4 là Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện tại. Đi như một dòng sông, Nam tiến của Người Việt. Đoàn tụ đất phương Nam. Đó là sự trãi nghiệm hạnh phúc may mắn của đời người gắn liền phục sinh, đường sống của dân tộc. Cuối dòng sông là biển. Chúng ta đã đến lúc công tâm nhìn lại giá trị sống lắng đọng https://hoangkimlong.wordpress.com/…/cuoi-dong-song-la-bien/

Câu chuyện “Cuối dòng sông là biển” tôi kể lần này dưới đây có ba phần chính: Phục sinh; Nam tiến, Ân tình. Nhà hiền triết Lev Tonstoy trò chuyện về phục sinh trong cuốn sách quý tôi nghiền ngẫm suốt mười ngày nhưng tôi chọn lại ba ý tâm đắc nhất của riêng mình: phục sinh giữa tối sáng; Nam tiến lời Thầy dặn; đi như một dòng sông; Nam tiến của người Việt từ thời tự chủ đến nay gồm giai đoạn 1 (1009- 1558) Nam Tiến đến sông Gianh Quảng Bình là cực nam của Đằng Ngoài; giai đoạn 2 Nam Tiến tới núi Đại Lãnh sông Kỳ Lộ Phú Yên là cực nam của Đằng Trong; giai đoạn 3 Nam tiến về sông Đồng Nai sông Tiền sông Hậu, kết nối toàn vẹn Việt Nam ngày nay; Đó là những chỉ dấu sinh tồn của dân tộc, mà nói theo cách nói tinh hoa của cụ Đào Duy Anh là lịch sử Việt Nam qua các đời suốt 4000 năm giản lược chia làm hai phần. Giữ vững miền Bắc và Nam tiến. Cụ Đào Duy Anh viết: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không mẩu đất nào là không có dấu vết thảm đảm kinh dinh của tổ tiên ta để giành quyền sống với vạn vật; suốt một dải Trung Việt vào đến trung châu Nam Việt, không một khúc đường nào là không nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hy vọng cho tương lai.”. Chúng ta có thấu hiểu điều đó mới nắm vững được nông nghiệp, du lịch sinh thái, lịch sử địa chính trị, văn hóa giáo dục kinh tế xã hội Việt Nam. Non nước Việt Nam ân tình thấm máu xương nhiều đời của dân tộc Việt và cộng đồng. Đời tôi xuôi phương Nam thuận theo tự nhiên lắng đọng ân tình đặc biệt của ba khóa bạn hữu khóa 4 trồng trọt và khóa 10 trồng trọt Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (đó là Trường Đại học Nông Lâm Huế và Đại học Nông Lâm Bắc Giang ngày nay), với khóa 2 Trồng trọt (ba lớp 2a, 2b, 2c) Trường Đại học Nông nghiệp 4 là Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện tại. Đi như một dòng sông, Nam tiến của Người Việt. Đoàn tụ đất phương Nam. Đó là sự trãi nghiệm hạnh phúc may mắn của đời người gắn liền phục sinh, đường sống của dân tộc. Cuối dòng sông là biển. Chúng ta đã đến lúc công tâm nhìn lại giá trị sống lắng đọng https://hoangkimlong.wordpress.com/…/cuoi-dong-song-la-bien/

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN

Chuyện thầy Mai Văn Quyền. Bài học cuộc sống thấm thía nhất thường là bài học cuộc đời do chính mình trãi nghiệm. Giáo sư Mai Văn Quyền người thầy nghề nông nói với tôi; “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước đây đã nói và nay thiền sư Lý Hồng Chí (trong Chuyển pháp luân) đã nhắc lại: Bất thất giã bất đắc, đắc tựu đắc thất. Nghĩa là ở đời người ta nếu không mất gì cả thì cũng không thu được gì cả, hay có được thì phải có mất.  Nghĩ lại suốt cuộc đời Thầy đã mất nhiều công tu luyện nên cũng được bù đắp lại khá xứng đáng, đó là Thầy được học hành tử tế so với nhiều người bạn cùng tuổi do phải tham gia trực tiếp trong 2 cuộc kháng chiến mà nhiều bạn đã hy sinh xương máu, hy sinh gia đình vợ con, hay có bạn còn sống nhưng trên thân mình còn mang đầy thương tật, hoặc con cái bị nhiễm chất độc da cam đang sống như thân tàn ma dại. Như vậy họ mất lớn hơn là được. Còn Thầy cũng có những cái mất mà đáng lẽ không mất. Ví dụ nhường suất lương cho người khác để 14 năm sau mới được lên 1 bậc lương hay khi được chuẩn bị cho làm chức Viện trưởng, Thầy lại tự gạch tên mình khỏi danh sách (thầy Nguyễn Công Tạn hay thầy Ngô Thế Dân đã có ý định sẵn, chỉ cần Thầy im lặng là được). Nhưng những cái mất đấy là Thầy tự nguyện để mất, chứ không phải vì tranh đấu không được mà bị mất. Kể như vậy cũng phù hợp với câu nói của Phật ở trên, Thầy mất để sức khoẻ của Thầy được cải thiện tốt hơn Thầy có thể sống tốt hơn, vợ con Thầy cũng được sống yên lành hơn. Nếu Thầy muốn được vẹn tròn có khi lại bị mất cũng đau đớn. Nghĩ được như vậy là Thầy thấy lòng mình thanh thản. Ngoài ra cái được Thầy đang có còn to lớn hơn cái mất đó là tình thương, sự đồng cảm của rất nhiều người, từ bạn học, bạn công tác, đồng nghiệp hay học trò và ngay cả những người ngoài đơn vị, chỉ đôi lần quan hệ công tác cũng dành cho Thầy những tình cảm chân thành. Không ít người có nhiều tiền của hơn nhưng lại không có được tình cảm người khác dành cho như Thầy. Thiết nghĩ đó là cái được mà Thầy đã thu được nhiều hơn là cái mất. Vì ở đời,T rời không cho ai tất cả, và Trời cũng không lấy đi của ai tất cả. Đó cũng là triết lý của cuộc sống. Nghĩ như vậy nên khi còn có sức khỏe ( do dày công tự luyện tập) mà Công Ty Cổ phần phân bón Bình điền hay các đơn vị khác còn cần đến Thầy, nên Thầy vẫn tiếp tục cùng chung sức với các bạn trẻ để chuyển giao những tiến bộ khoa học mới nhằm góp phần nhỏ bè của mình giúp nông dân vượt qua điều kiện khí hậu đang ngày càng biến đổi phức tạp để hội nhập với nông dân các nước trong khu vực và thế giới”.

Minhtrietsongthungdungphuchau4MINH TRIẾT SỐNG PHÚC HẬU

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Bài giảng đầu tiên của đức Phật

Tứ Diệu đế – Sự khổ: Nguyên nhân, Kết quả và Giải pháp – là bài giảng đầu tiên của Phật (Thích ca Mầu ni -Siddhartha Gamtama), nhà hiền triết phương đông cổ đại. Người là hoàng tử Ấn Độ, đã có vợ con xinh đẹp nhưng trăn trở trước sự đau khổ, thiếu hoàn thiện và vô thường (Dukkha) của đời người mà Phật đã xuất gia vào năm hai mươi chín tuổi để đi tìm sự giác ngộ. Người đã dấn thân suốt sáu năm trời tự mình đi tìm kiếm những vị hiền triết nổi tiếng khắp mọi nơi trong vùng để học hỏi và thực hành những phương pháp khác nhau nhưng vẫn chưa đạt ngộ.  Cho đến một buổi chiều ngồi dưới gốc bồ đề, thốt nhiên Người giác ngộ chân lý  mầu nhiệm lúc ba mươi lăm tuổi. Sau đó, Người đã  có bài giảng đầu tiên cho năm người bạn tu hành. Mười năm sau, Phật thuyết pháp cho mọi hạng người và đến 80 tuổi thì mất ở Kusinara (Uttar Pradesh ngày nay). Học thuyết Phật giáo hiện có trên 500 triệu người noi theo.

Bài giảng đầu tiên của Phật là thấu hiểu sự khổ (dukkha), nguyên nhân (samudaya), kết quả  (nirodha) và giải pháp (magga). Tôn giáo được đức Phật đề xuất là vụ nổ Big Bang trong nhận thức, san bằng mọi định kiến và  khác hẵn với tất cả các tôn giáo khác trước đó hoặc cùng thời trong lịch sử Ấn Độ cũng như trong lịch sử nhân loại. Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, hết thảy các pháp là vô ngã. Mục đích là vô ngã là sự chấm dứt đau khổ và phiền muộn để đạt sự chứng ngộ bất tử, Niết bàn.

Kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn, chứ không phải là con người thần thánh hoặc chân lý tuyệt đối. Vị trí độc đáo của Phật giáo là một học thuyết mang đầy đủ tính cách mạng tư tưởng và cách mạng xã hội (1). Tiến sĩ triết học Walpola Rahula là giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Ceylan (Pháp) đã tìm tòi văn bản cổ và giới thiệu tài liệu nghiêm túc, đáng tin cậy này (Lời Phật dạy. Lê Diên biên dịch). (2)

Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông (Trần Khâm 1258- 1308) là vua Phật đời Trân (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Người là tổ sư Trúc Lâm Yên Tử, nhà chiến lược kỳ tài, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà thơ lớn và Con Người Hoàn Hảo của dân tộc Việt Nam. Người đã viết: Cư trần lạc đạo, triêt lý nhân sinh rất nổi tiếng “Ở đời vui đạo, mặc tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền/ Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.”

Trần Nhân Tông với 50 năm cuộc đời đã kịp làm được năm việc lớn không ai sánh kịp trong mọi thời đại của tất cả các dân tộc trên toàn thế giới : 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới của thời đó; 2) Vua Phật Việt Nam, tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử  và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306). 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với thắng tích Trúc Lâm Yên Tử và kiệt tác Trần Nhân Tông còn mãi với thời gian, hoàn thành sư mệnh của bậc chuyển pháp luân, mang sự sống trường tồn vươt qua cái chêt; 4) Người Thầy của chiến lược vĩ đại  yếu chống mạnh, ít địch nhiều bằng thế đánh tất thắng “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”tạo lập sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt, mở đất phương Nam bằng vương đạo, thuận thời, thuận người. 5) Con người  hoàn  hảo, đạo đức trí tuệ, kỳ tài trị loạn, đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt tại thời khắc đặc biêt hiểm nghèo, chuyển nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể. (3).

Giáo sư  sử học Trần Văn Giàu nhận định: “… chưa tìm thấy lịch sử nước nào có một người đặc biệt như Trần Nhân Tông ở Việt Nam. Tại nước Tàu lúc bấy giờ Triều đình nhà Tống rất hùng mạnh nhưng quân Nguyên Mông đã tràn xuống đánh thắng thần tốc, đến nỗi vua quan nhà Tống phải chạy ra biển và nhảy xuống biển tự vẫn. Tại Tây Á, Trung Á và một phần châu Âu cũng thua thảm hại, đến nỗi Giáo hoàng La Mã cũng lên tiếng sợ hãi. Trong lúc ấy Việt Nam so với phương Bắc thì quá nhỏ bé và quá nghèo yếu, thế mà Người dám không cho Nguyên Mông mượn đường xâm lược Chiêm Thành. Lại còn đánh bại ba lần Nguyên Mông xâm lược. Sau khi thắng giặc, Người lại lên núi sống. Người dám nghĩ, dám làm những việc không ai dám nghĩ chứ đừng nói đến làm !”  (4)

Phật giáo, khoa học và Việt Nam

Nhà bác học Anhstanh, cha đẻ của Thuyết tương đối, đã nhận định: “Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng” . Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” . “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó” . Cả ba câu này đều được trích từ Những câu nói nổi tiếng của Anhstanh (Collected famous quotes from Albert), và được trích dẫn trong bài Minh triết sống thung dung phúc hậu của Hoàng Kim

Khoa học và thực tiễn giúp ta tìm hiểu những phương pháp thực tế để thể hiện ước mơ, mục đích sống của mình nhằm sống yêu thương, hạnh phúc,vui khỏe và có ích. Đọc rất kỹ lại Ki tô giáoHồi giáo, Do Thái giáo, Phật giáoNho giáoĐạo giáo, … và chiêm nghiệm thực tiễn , tôi thấm thía câu kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn chứ không phải là con người thần thánh hay chân lý tuyệt đối.Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông có minh triết: Hãy quay về tự thân chứ không tìm ở đâu khác. Luật Hấp Dẫn, Thuyết Tương đối, Thành tựu Khoa học và Thực tiễn giúp ta khai mở nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân con người và thiên nhiên. Đó là ba ngọn núi cao vọi của trí tuệ, là túi khôn của nhân loại. Bí mật Tâm linh (The Meta Secret) giúp ta khám phá sâu sắc các quy luật của vũ trụ liên quan đến Luật Hấp Dẫn đầy quyền năng. Những lời tiên tri của các nhà thông thái ẩn chứa trong Kinh Vệ đà, Lời Phật dạy, Kinh Dịch, Kinh Thánh, Kinh Koran …, cũng như xuyên suốt cuộc đời của những con người vĩ đại trên thế giới đã được nghiên cứu, giải mã dưới ánh sáng khoa học; Bí mật Tâm linh là sự khai mở những nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân mỗi con người đối với đồng loại, các loài vật và thiên nhiên. Suối nguồn chân lý trong di sản văn hóa, lịch sử, giáo dục, kinh tế, chính trị, quân sự,  ngoại giao của mỗi dân tộc và nhân loại lưu giữ nhiều điều sâu sắc cần đọc lại và suy ngẫm. Qua đèo chợt gặp mai đầu suối. Gốc mai vàng trước ngõ. Nhớ cánh mai xưa. …

Việt Nam là chốn tâm thức thăm thẳm của đạo Bụt (Phật giáo) trãi suốt hàng nghìn năm. Lịch sử Phật giáo Việt Nam theo sách  Thiền Uyển tập anh xác nhận là đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Độ theo đường biển vào Việt Nam, gồm Giao Chỉ ở phía bắc và Chăm pa ở phía nam, khoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước Công nguyên, chứ không phải từ Trung Hoa như một số quan niệm trước đây. Phật giáo đồng hành chung thủy, lâu bền với dân tộc Việt, dẫu trãi nhiều biến cố nhưng được dẫn dắt bởi những nhà dẫn đạo sáng suốt và các đấng minh vương, lương tướng chuộng nhân ái của các thời nên biết thể hiện sự tốt đạo, đẹp đời. Việt Nam vì sao không bị đồng hóa “non sông muôn thuở vũng âu vàng suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm? Nguyên nhân chính bởi vì nước Việt Nam luôn biết quay về với tự thân tổng kết thực tiễn, chứ không tìm ở đâu khác. mặc dù rất chuộng sự học biết tiếp thu, chắt lọc tri thức tinh hoa của nhân loại, của ông cha để làm giàu cho kiến thức và kinh nghiệm của chính mình.

Phật giáo, Khoa học và Việt Nam là ba học hỏi và nhận thức căn bản của tôi.

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Hoàng Kim
(hiệu đính và hoàn thiện lần ba vào đêm rằm tháng Ba) Mời bạn đọc tiếp tại http://hoangkimvn.wordpress.comhttps://hoangkimlong.wordpress.com

Hoàng Kim

Những bài viết liên quan
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Minh triết sống thung dung phúc hậu
Chiến tranh và Hòa bình
Vua Solomon và sách khôn ngoan
Tagore đại thi hào Ấn Độ
Nguyễn Du 250 năm nhìn lại
Trí tuệ bậc Thầy

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook Kim on Twitter

COVID19 NEWS

COVID19 NEWS theo Chinhphu.vn – Bộ Y tế khuyến cáo ít nhất trong 2 tuần tới, tạm dừng tất cả các hoạt động hội họp, các sự kiện tập trung trên 20 người (cùng một chỗ). Dừng triệt để các nghi lễ tôn giáo. Cấm tụ tập nhiều hơn 10 người ở bên ngoài các công sở và trường học, bệnh viện… Bản tin gốc tại http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/trangchu và Bộ Y Tế Thống kê dịch bệnh và văn bản điều hành

Những việc cần làm ngay

Để phòng chống dịch bệnh COVID-19, Bộ Y tế khuyến cáo người dân, chính quyền các địa phương, các cơ quan, tổ chức thực hiện 7 việc sau:

Thứ nhất, hạn chế tụ tập đông người từ 00 giờ ngày 28 tháng 3 đến hết ngày 15 tháng 4 năm 2020

Thứ hai, ít nhất trong 2 tuần tới, tạm dừng tất cả các hoạt động hội họp, các sự kiện tập trung trên 20 người (cùng một chỗ). Dừng triệt để các nghi lễ tôn giáo. Cấm tụ tập nhiều hơn 10 người ở bên ngoài các công sở và trường học, bệnh viện.

Thứ ba, đóng cửa các dịch vụ không cần thiết như massage, vũ trường, các cơ sở du lịch, tham quan, các tụ điểm vui chơi, giải trí, các rạp chiếu phim, quán bia hơi, nhà hàng ăn uống… Trừ dịch vụ cung cấp thực phẩm, dược phẩm, các cơ sở khám chữa bệnh để bảo đảm nhu cầu cần thiết cho nhân dân.

Đóng cửa các dịch vụ không cần thiết để chống dịch.

Thứ tư, tạm dừng hoặc tổ chức lại rất ít chuyến giao thông công cộng.

Thứ năm, cần thay đổi phương thức làm việc, từ trực tiếp sang trực tuyến và các hình thức phù hợp khác để tránh lây nhiễm bệnh.

Thứ sáu, nhân dân bình tĩnh, yên tâm, tiếp tục tin tưởng, ủng hộ các biện pháp phòng, chống dịch. Mỗi người dân hãy là một chiến sĩ phòng, chống dịch; tiếp tục chung sức, đồng lòng đẩy lùi dịch bệnh.

Thứ bẩy, trước mắt thực hiện nghiêm các biện pháp không tụ tập đông người; chỉ ra khỏi nhà trong trường hợp thật cần thiết, rửa tay thường xuyên, đeo khẩu trang nơi công cộng, tăng cường tự bảo vệ sức khỏe; hạn chế đến các cơ sở khám chữa bệnh trừ trường hợp thật sự cần thiết và thực hiện tốt các khuyến cáo của cơ quan chức năng, nhất là đối với người cao tuổi, có bệnh nền.

54 bệnh nhân có kết quả âm tính

Bộ Y tế cho biết, tính đến 9h ngày 28/3, Việt Nam đã ghi nhận 169 người mắc COVID-19. Trong đó, 20 bệnh nhân đã khỏi bệnh và ra viện. 149 ca bệnh đang được điều trị.

Trong số 16 ca mắc mới (tính từ 9h ngày 27/3 – 9h ngày 28/3) có 8 trường hợp được cách ly ngay khi nhập cảnh; 8 trường hợp được phát hiện tại cộng đồng. Tính tới thời điểm hiện tại Việt Nam chưa có bệnh nhân tử vong vì COVID-19.

Ngày hôm qua đã có 3 ca bình phục. Hiện đã có 54 bệnh nhân có kết quả xét nghiệm âm tính. Trong số này có 24 bệnh nhân có kết quả âm tính lần 2; 9 bệnh nhân có kết quả âm tính lần 3; 6 bệnh nhân có kết quả âm tính lần 4.

Phát hiện sớm, cách ly kịp thời, khoanh vùng dịch COVID-19 và điều trị bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân là mục tiêu cấp bách hiện nay.

Đến 31/3, Việt Nam sẽ không có 1.000 ca mắc COVID-19

Bộ Y tế cho biết, hiện nhiều thành phố lớn và đô thị tập trung khác đã tiến hành đóng cửa các dịch vụ không cần thiết, dừng các hoạt động đông người hết sức quyết liệt, kịp thời để tránh lây nhiễm COVID-19.

Tạm thời đóng cửa các cơ sở làm đẹp, phẫu thuật thẩm mỹ, vật lý trị liệu trên toàn quốc. Ngành Y tế có biện pháp cách ly các bác sĩ, nhân viên y tế làm tại các cơ sở chăm sóc, điều trị bệnh nhân COVID-19.

So với ngày 26/3/2020, số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe (cách ly) tăng 17.981 người

Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch COVID-19 nhận định chắc chắn đến thời điểm ngày 31/3, Việt Nam sẽ không có 1.000 ca mắc COVID-19.

Thủ tướng chỉ thị quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch 

Như đã đưa, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Chỉ thị số 15/CT-TTg yêu cầu quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch COVID-19.

Để kiềm chế, kiểm soát có hiệu quả sự lây lan, chủ động ngăn chặn, ứng phó với dịch bệnh trên toàn quốc, bảo vệ tốt nhất cho sức khỏe, tính mạng của nhân dân, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương và toàn thể nhân dân tiếp tục quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, chấp nhận thiệt hại về kinh tế để phòng chống dịch; bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của nhân dân là mục tiêu tối thượng, quyết tâm cao hơn nữa, nỗ lực, cố gắng hơn nữa trong thực hiện các giải pháp, nhiệm vụ phòng, chống dịch theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tuyệt đối không lơ là, chủ quan, tăng tốc thực hiện các biện pháp phát hiện sớm nguồn lây, cách ly kịp thời, khoanh vùng nhanh gọn, dập dịch triệt để.

Tạm đình chỉ hoạt động cơ sở kinh doanh dịch vụ từ 28/3 đến hết 15/4

Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo áp dụng biện pháp hạn chế tụ tập đông người từ 00 giờ ngày 28 tháng 3 đến hết ngày 15 tháng 4 năm 2020:

Dừng các hoạt động hội họp, các sự kiện tập trung trên 20 người trong 1 phòng; không tụ tập từ 10 người trở lên ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện; yêu cầu thực hiện khoảng cách tối thiểu 2m giữa người với người tại các địa điểm công cộng.

Dừng triệt để các nghi lễ tôn giáo, hoạt động có tập trung từ 20 người trở lên tại các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, thờ tự; dừng tất cả các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí tại các địa điểm công cộng.

Tạm đình chỉ hoạt động các cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bàn, trừ các cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cơ sở kinh doanh, dịch vụ cần đóng cửa.

Hạn chế việc di chuyển của người dân, nhất là từ các tỉnh, thành phố có dịch đến các địa phương khác. Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo hạn chế các chuyến bay và các hoạt động vận chuyển hành khách từ Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến các nơi khác trên toàn quốc. Tạm dừng hoặc tổ chức lại hoạt động giao thông công cộng để hạn chế đi lại, tập trung đông người, trừ các phương tiện vận chuyển hàng hóa.

Thủ tướng Chính phủ, cấp có thẩm quyền sẽ xem xét, xử lý trách nhiệm, kỷ luật nghiêm đối với người đứng đầu chính quyền địa phương để xảy ra tụ tập đông người.

Xử lý trách nhiệm, kỷ luật nghiêm đối với người đứng đầu chính quyền địa phương để xảy ra tụ tập đông người

Tiếp tục kiểm soát chặt mọi trường hợp nhập cảnh

Thủ tướng giao các Bộ: Y tế, Quốc phòng, Công an, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương rà soát, yêu cầu thực hiện khai báo y tế, cập nhật tình hình sức khỏe, sàng lọc đối với các trường hợp đã nhập cảnh Việt Nam từ ngày 08 tháng 3 năm 2020 không thuộc diện cách ly tập trung để áp dụng các biện pháp cách ly, giám sát phù hợp.

Chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở, cảnh sát khu vực, công an xã, thanh niên xung kích trên địa bàn, tổ dân phố, thôn bản… tăng cường việc giám sát các trường hợp cách ly tại gia đình, hạn chế tối đa việc giao tiếp của các đối tượng bị đề nghị cách ly y tế; thực hiện cưỡng chế cách ly y tế  đối với các trường hợp chống đối cách ly theo quy định.

Tiếp tục kiểm soát chặt mọi trường hợp nhập cảnh trên các tuyến biên giới trên bộ (nhất là biên giới với Lào, Campuchia), đường thủy, đường biển, các cảng hàng không. Tăng cường năng lực cả về nhân lực, cơ sở vật chất bảo đảm cách ly tập trung đối với mọi trường hợp nhập cảnh; chú trọng việc bảo đảm an toàn cho các lực lượng quản lý nhập cảnh, làm việc tại các cửa khẩu, các khu cách ly tập trung và các cơ sở cách ly dân sự khác. Có phương án điều tiết hợp lý việc tiếp nhận, phân loại sàng lọc người nhập cảnh bảo đảm không quá tải các cơ sở cách ly tập trung trên tuyến biên giới đường bộ.

Bảo vệ tốt nhất an toàn cho lực lượng bác sĩ, cán bộ y tế

Bộ Y tế chỉ đạo phân luồng, phân tuyến khám chữa bệnh, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân; có phương án chăm sóc tốt hơn, bảo vệ tốt nhất an toàn cho lực lượng bác sĩ, cán bộ y tế, đặc biệt là tại các bệnh viện điều trị người mắc dịch COVID-19; hỗ trợ vật tư, trang thiết bị cho các tỉnh giáp Lào, Campuchia.

Ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương chuẩn bị đầy đủ nhân lực, trang thiết bị, thuốc men, vật tư y tế và các phương án phòng, chống dịch, kể cả việc huy động cơ sở vật chất của các tổ chức, doanh nghiệp, bảo đảm sẵn sàng ứng phó dịch bệnh trên diện rộng; xây dựng phương án về áp dụng tình trạng khẩn cấp về dịch, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 28 tháng 3 năm 2020.

Các tỉnh, thành phố tăng cường đầu tư mở rộng việc xét nghiệm. Các thành phố lớn tăng công suất xét nghiệm, thực hiện chiến lược xét nghiệm sớm để cách ly.

Xử lý nghiêm, kể cả xử lý hình sự trường hợp không chấp hành biện pháp cách ly

Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ: Công an, Y tế, Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xử lý nghiêm, kể cả xử lý theo pháp luật hình sự các trường hợp đưa tin không đúng sự thật, không khai báo y tế, khai báo y tế không trung thực; trốn tránh, chống đối, không chấp hành biện pháp cách ly y tế; găm hàng, tăng giá, gây bất ổn thị trường theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Thông tin – Truyền thông, Bộ Y tế tiếp tục thông tin kịp thời, đầy đủ, công khai, minh bạch về diễn biến dịch; tập trung thông tin về việc không tập trung đông người, khuyến khích và hướng dẫn khai báo y tế tự nguyện, phát hiện sớm và thông báo cho chính quyền về các trường hợp nghi mắc bệnh.

Các cấp, các ngành tích cực đổi mới, cải tiến cách làm việc nhằm thích ứng với bối cảnh phòng, chống dịch. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, các hoạt động trực tuyến trong chỉ đạo, điều hành, làm việc, học tập, thực hiện thủ tục hành chính; hướng dẫn, khuyến khích người dân tăng cường sử dụng các dịch vụ công trực tuyến, thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường mạng.

Mỗi người dân là một chiến sĩ phòng, chống dịch

Thủ tướng Chính phủ đề nghị nhân dân bình tĩnh, yên tâm, tiếp tục tin tưởng, ủng hộ các biện pháp phòng, chống dịch. Mỗi người dân hãy là một chiến sĩ phòng, chống dịch; tiếp tục chung sức, đồng lòng đẩy lùi dịch bệnh. Trước mắt thực hiện nghiêm các biện pháp không tụ tập đông người; chỉ ra khỏi nhà trong trường hợp thật cần thiết, rửa tay thường xuyên, đeo khẩu trang nơi công cộng, tăng cường tự bảo vệ sức khỏe; hạn chế đến các cơ sở khám chữa bệnh trừ trường hợp thật sự cần thiết và thực hiện tốt các khuyến cáo của cơ quan chức năng, nhất là đối với người cao tuổi, có bệnh nền.

Chính phủ đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức, đoàn thể tăng cường phối hợp với các cấp chính quyền vận động nhân dân tự giác tuân thủ các biện pháp phòng chống dịch bệnh; tiếp tục vận động các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân ủng hộ nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch.

Đề nghị Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chỉ đạo tiếp tục phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, tích cực hỗ trợ chính quyền các cấp và nhân dân trong thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch.

Cùng với việc quyết liệt phòng, chống dịch, các cấp, các ngành cần tập trung thực hiện quyết liệt các giải pháp cụ thể, hữu hiệu để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội.

Tình hình dịch bệnh trên thế giới

Cập nhật tình hình dịch bệnh COVID-19 tại các nước ASEAN đến 9h ngày 28/3/2020:

STTQuốc giaSố ca mắcSố ca tử vong
1Malaysia2.16126
2Thái Lan1.13605
3Indonesia1.04687
4Philippines80354
5Singapore68302
6Việt Nam1690
7Brunei1140
8Campuchia980
9Lào060
10Myanmar

050
11Timor-Leste010
Tổng6.222174

BT

Từ khóa: Chống dịch , COVID-19 , cách ly , tôn giáo , tụ tập , trường học , bệnh viện , hội họp , điều trị , bệnh nhân Share on Tumblr

Tin cập nhật ở đây https://moh.gov.vn/web/dich-benh/van-ban-chi-dao-dieu-hanh. Video Bản tin COVID19; Đại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ; COVID19 NEWS https://hoangkimlong.wordpress.com/category/covid19-news/ tích hợp và lưu trữ thông tin cập nhật

CHÀO NGÀY MỚI 28 THÁNG 3
Hoàng Kim
CNM365 Chào ngày mới 28 tháng 3.
COVID19 NEWSĐại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ; Rừng Lipa; Thổ Nhĩ Kỳ nông nghiệp sinh thái. Cuối dòng sông là biển. Thầy bạn trong đời tôi; Phục sinh Nam tiến Ân tình. Ngày 28 tháng 3 Ngày nhà giáo Slovakia, (nhằm ngày sinh của Jan Amos Komenský nhà giáo ngôn ngữ học, khoa học tự nhiên, nhà chính trị, triết học sinh ngày 28 tháng 3 năm 1592, mất ngày 15 tháng 11 năm 1670.. Ngày 28 tháng 3 năm 1868 ngày sinh Maxim Gorky, tác gia người Nga mất năm 1936.  Ngày 28 tháng 3 năm 1930, Hai thành phố lớn Istanbul và Ankara là Constantinopolis và Angora của Thổ Nhĩ Kỳ được đổi mới tên gọi trong quá trình cải cách của Mustafa Kemal Atatürk quốc phụ nước này. Bài chọn lọc ngày 28 tháng 3 COVID19 NEWSĐại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ; Rừng Lipa; Thổ Nhĩ Kỳ nông nghiệp sinh thái. Thầy bạn trong đời tôi; Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-28-thang-3/

COVID19 NEWS Đại dịch COVID-19 theo quốc gia và vùng lãnh thổ (thông tin cập nhật)

Chuyện cổ tích người lớn

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

Ông Alexandre de Rhodes là người phát minh ra chữ viết tiếng Việt, báu vật vô giá muôn đời của dân tộc Việt Nam, mặc dù những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học. Thế nhưng những uẩn khúc lịch sử đánh giá công tội vẫn chỉ dừng ở việc cụ Võ Văn Kiệt xé rào một đêm đặt tên đường Alexandre de Rhodes mà chưa đủ chứng lý để làm sáng tỏ sự đánh giá công minh về công tội, qua “Thư ngỏ của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân sau khi bị khủng bố tinh thần vì phản đối vinh danh Đờ Rốt:” xem thêm “Ông Alexandre de Rhodes chữ tiếng Việt” tài liệu dẫn 8: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ong-alexandre-de-rhodes/. Kết luận: Sự gạn đục khơi trong nên lưu danh ông Alexandre de Rhodes trên viên tảng đá tưởng nhớ đặt tại công viên Tao Đàn và bảo lưu tên đường Alexandre de Rhodes (là đường Paracels, sau là đường Colombert, sau đổi là Alexandre de Rhodes; đổi là đường Thái Văn Lung và đến năm 1993 ông Võ Văn Kiệt cho đổi lại tên Alexandre de Rhodes) để ghi nhớ công lao đối với người đã phát minh ra chữ Quốc ngữ.

ÔNG ALEXANDRE DE RHODES CHỮ TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Ông Alexandre de Rhodes là người phát minh ra chữ viết tiếng Việt, báu vật vô giá muôn đời của dân tộc Việt Nam, mặc dù những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học.Ông Alexandre de Rhodes là người gốc Do Thái, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1591 tại Avignon trong gia đình một nhà buôn tơ lụa, mất ngày 5 tháng 11 năm 1660 tại một nghĩa trang ngoại ô của thành phố Esfahan, Iran. Ông là nhà ngôn ngữ học thông thạo nhiều thứ tiếng nên đã “lần ra, nhận biết, phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa, trong tiếng Việt”. Ông cũng là một trong những linh mục dòng Tên đầu tiên đến Việt Nam truyền đạo công giáo từ năm 1626. Đến nay đã trên 391 năm khai sinh tiếng Việt và sau 72 năm ngày chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập năm 1945 và vận động toàn dân học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ, sau 42 năm sau ngày Việt Nam thống nhất 1975. Nay có lẽ đã hợp thời để chúng ta gạn đục khơi trong, lưu danh ông Alexandre de Rhodes trên viên đá tưởng nhớ đặt tại công viên Tao Đàn với bảo lưu tên đường Alexandre de Rhodes (trước là đường Paracels, sau là đường Colombert, sau là Alexandre de Rhodes; đổi lại Thái Văn Lung và đến năm 1993 ông Võ Văn Kiệt cho đổi lại tên đường Alexandre de Rhodes) để ghi nhớ công lao của người đã phát minh ra chữ Quốc ngữ.

Alexandre de Rhodes và chữ Quốc ngữ

Theo tiến sĩ Alain Guillemin, Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp, bản dịch của Ngô Tự Lập đăng tại Viet- Studies 2011 (1), Alexandre de Rhodes đến Hội An khoảng tháng 3 năm 1626. Sau đó đã cùng giáo sĩ dòng Tên Pedro Marques đến Thanh Hóa để giúp đỡ giáo sĩ dòng Tên người Ý Giuliano Baldinotti vốn gặp khó khăn trong việc học tiếng địa phương. Việc giảng đạo này chẳng bao lâu bị gián đoạn vì tin đồn rằng họ làm gián điệp. Alexandre de Rhodes bị chúa Trịnh Tráng quản thúc tại Hà Nội vào tháng Giêng 1630, sau đó bị trục xuất vào tháng 5 năm 1630. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes không thể quay lại Nam Kỳ, vì có thể bị nghi là gián điệp của Đàng Ngoài, nên đã trở lại Macao, nơi ông đã dạy thần học gần 10 năm trước. Trong khoảng thời gian 1640 -1645, ông đã dẫn đầu bốn chuyến đi đến Nam Kỳ, hầu hết các chuyến đi này đều trong sự bí mật vì sự thù ghét của chính quyền địa phương. Ông đã bị trục xuất khỏi Nam Kỳ ngày 3 tháng 7 năm 1645, sau đó đến Macao dạy tiếng Việt cho những người kế nhiệm là Carlo della Roca và Metello Sacano trước khi về lại nước Ý.

Khái quát bối cảnh Việt Nam thời đó: Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (2), ở Đằng Ngoài, năm đinh mão 1627, chúa Trịnh Tráng nhân khi nhà Minh đang chống nhau với nhà Thanh, họ Mạc ở Cao Bằng thì về hàng, nên đã kiếm cớ xuất quân đánh chúa Nguyễn ở phương Nam lần thứ nhất. Đến năm 1630 chúa Trịnh Tráng xuất quân đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên lần thứ hai, sau khi chúa Nguyễn theo kế Đào Duy Từ, trả lại sắc phong cho vua Lê, chiếm nam sông Giang, đắp lũy Trường Dục để chống quân Trịnh. Ở Đằng Trong, các chúa Nguyễn đã bình định xong Chiêm Thành, đang bảo hộ Chân Lạp. Vùng đất Nam bộ lúc đó nằm trong sự tranh chấp Xiêm – Nguyễn. Nước Xiêm La (Thái Lan ngày nay) vua Phra Naroi dòng dõi nhà Ayouthia đang chiếm cứ phần lớn đất Chân Lạp, đã dùng một người Hi Lạp làm tướng. Người này xin vua Thái giao thiệp với nước Pháp, do đó năm 1620 sứ thần của Xiêm La đã sang bái yết vua Pháp Louis XIV ở điện Versailes. Các giáo sĩ người Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cũng đang tranh giành ảnh hưởng theo ý đồ chính trị của mỗi nước thực dân tìm kiếm thuộc địa. Nhiều thế lực thực dân phương Tây và phong kiến phương Đông chăm chú nhiều đến vùng đất phương Nam ( Hoàng Kim chú dẫn).

Tại Roma, Alexandre de Rhodes báo cáo tinh hình cho Vatican, đề xuất hỗ trợ thành lập hội truyền giáo và vận động bổ nhiệm giám mục địa phương cho Đằng Ngoài và Đằng Trong. Ông rời Roma ngày 11 tháng 9 năm 1652 đến Thụy Sĩ và Pháp để tìm người và kinh phí cần thiết cho sự truyền giáo ở Việt Nam. Tại đây, ông đã gặp giáo sĩ dòng Tên Jean Bagot, vị cha cố có quan hệ rất rộng trong giới cầm quyền và là người đã từng làm lễ xưng tội cho vua Louis XIV. Ông tuyển mộ trong số các môn đệ của Cha Bagot một số tình nguyện viên đi Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Đặc biệt trong đó có François Pallu, người sẽ là một trong ba khâm mạng Tòa thánh được Giáo Hoàng bổ nhiệm năm 1658 cho các sứ mệnh ở châu Á. Đây cũng là hành động khởi đầu cho việc thành lập Hội truyền giáo hải ngoại Paris (MEP). Ông cũng xin được kinh phí cho Hội Ái hữu (SS), Do sự bất hòa giữa Giáo Hoàng, vua Bồ Đào Nha và các tổ chức truyền đạo nên ông bị thất sủng và được gửi đến Ba Tư vào tháng 11 năm 1654 và qua đời tại đây vào tháng 11 năm 1660.

Alexandre de Rhodes thông thạo nhiều thứ tiếng. Ông biết 12-13 thứ tiếng: ngoài tiếng Pháp và tiếng mẹ đẻ Provencal Ông thông thạo tiếng Latinh, Hy Lạp, Italia, Do Thái, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Canarin, Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Tư và tiếng Việt. Ông rất khiêm tốn và ham học hỏi. Ông nói “Thú thật là khi tôi đến Nam Kỳ và nghe tiếng nói của người bản địa, đặc biệt là phụ nữ, tôi cảm thấy như nghe tiếng chim hót líu lo và tôi mất hết hy vọng có ngày học được thứ tiếng ấy”. “Tôi ghi lòng tạc dạ việc này: Tôi học hàng ngày chăm chỉ hệt như trước đây học thần học ở Roma,…sau bốn tháng, tôi đã có thể nghe hiểu những lời xưng tội, sau sáu tháng, có thể giảng đạo bằng tiếng Nam Kỳ,…”. Chính vì thế ông đã ” lần ra, nhận biết, phân biệt và ghi lại bằng ký hiệu thích hợp những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi, vì thế dễ đánh lừa…” của ngôn ngữ người Việt.

Hai cuốn sách của ông xuất bản ở Roma năm 1651 (Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum” và “Catechismus Pro iis qui volunt suscipere Batismum) là hai tác phẩm nền tảng, không thể thay thế, đặt cơ sở cho việc ký âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh và ngoài ra còn cho chúng ta biết được hình trạng tiếng Việt thế kỷ XVII cùng sự tiến hóa của nó. Một cuốn sách khác của ông (cuốn “Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio”) có phần tóm tắt ngữ pháp 31 trang ở cuối, đã “đưa ra một tổng quan vắn tắt để bàn đến vấn đề từ loại trong tiếng Việt.” bao gồm: Chữ và âm tiết trong tiếng An Nam (Chương 1); Dấu thanh và các dấu của các nguyên âm (Chương 2); Danh từ, tính từ và phó từ (chương 3); Đại từ (Chương 4); Các đại từ khác (chương 5); Động từ (Chương 6); Các thành tố bất biến trong tiếng Việt (Chương 7); Một số thành tố của cú pháp (Chương 8). Đây là đóng góp đặc sắc của ông, không thể thay thế.

Giáo sĩ Lèopold Cadière, người rất am hiểu vấn đề đã viết về ông: “Mọi điều liên quan đến tiếng An Nam, phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Nam Kỳ đều không phải là bí mật đối với ông… Ông còn cho chúng ta biết về thực trạng của tiếng An Nam cổ, những phong tục, tập quán ngày nay không còn và những thông tin mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác… Thêm nữa, về nghĩa của các từ, cuốn sách là một sự đảm bảo tuyệt đối, những khái niệm ngữ pháp ông thêm vào cuốn từ điển cho thấy ông hiểu biết sâu sắc về cấu trúc đôi khi rất phức tạp và tinh tế của cú pháp An Nam” (Cadière, 1915, tr. 238-39 được trích dẫn bởi Alain Guillemin ). Alexandre de Rhodes bám rất sát thực tiễn ngôn ngữ của người Việt trong các tầng lớp xã hội khác nhau và đã phát triển hệ thống chữ Việt dùng chữ cái trên cơ sở kế thừa nhiều công trình trước đó, trong đó có cả di sản tiếng Nôm. Trên thực tế sự sáng tạo chữ Quốc ngữ là tinh hoa trí tuệ của rất nhiều người mà công đầu là Alexandre de Rhodes.

Hồ Chí Minh và sự truyền bá chữ Quốc ngữ

Sau Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ đã nêu ra “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“: “Môt là, nhân dân đang ĐÓI. Vấn đề thứ hai, nạn DỐT. Vấn đề thứ ba TỔNG TUYỂN CỬ. Vấn đề thứ tư giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH. Vấn đề thứ năm: bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, CẤM HÚT THUỐC PHIỆN. Vấn đề thứ sáu: tuyên bố TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết” (3). Trong nhiệm vụ cấp bách thứ hai, Bác chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch đế chống nạn mù chữ

Tiếng Việt và chữ quốc ngữ là lợi khí quốc gia giúp cho một dân tộc nhỏ yếu vùng lên làm chủ vận mệnh của mình, đào tạo nên hàng triệu người dân thường gánh vác việc nước. Điều này đã thể hiện rõ trong Võ Nguyên Giáp một cuộc đời khi ông trả lời Alanh-Rut xi ô :”Học thuyết quân sự cổ điển, khoa học quân sự truyền thống dạy rằng muốn giành thắng lợi, phải biết tập trung cùng một lúc ưu thế quân số và ưu thế kỹ thuật. Ông có thể thấy điều đó ở Na-pô-lê-ông. Thế nhưng chúng tôi lại ở vào tình thế phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Chúng tôi phải chấp nhận, nếu không Tổ quốc chúng tôi sẽ bị thôn tính. Vậy đương đầu như thế nào? Đó là chiến tranh toàn dân. Chiến tranh toàn dân là bí quyết của sự chiến thắng của chúng tôi…”

Trên thế giới có lẽ hiếm có nước nào xóa nạn mù chữ toàn dân nhanh đến như vậy, hiếm có một dân tộc nào vùng dậy mạnh mẽ như vậy, nên đã làm cho một danh tướng của đối phương đã phải thốt lên “một quân đội có thể đánh bại một quân đội. Một quân đội không thể đánh thắng một dân tộc.” 390 năm sau phát minh chữ quốc ngữ, trên 70 năm sau bài học lớn về bài học lớn chủ tịch Hồ Chí Minh và sự truyền bá chữ Quốc ngữ, đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự. Chữ Quốc ngữ đúng là lợi khí quốc gia “Sinh tử phù” mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, mất gốc. Trên ý nghĩa đó, chúng ta nên gạn đục khơi trong, trả lại sự công bằng cho người đã có công phát minh chữ viết tiếng Việt.

Ghi ơn người phát minh chữ Quốc ngữ ?

Tháng 5 năm 1941, chính quyền thực dân dựng một đài tưởng niệm tại một góc nhỏ phía Đông Bắc hồ Hoàn Kiếm.  Đó là một tấm bia đá cao 1,7m, rộng 1,1m, dày 0,2m, trên có khắc, bằng các thứ chữ Quốc ngữ, Hán và Pháp, công đức của linh mục dòng Tên Alexandre de Rhodes. Tin này được tờ «Tân Tri», số 13 tháng 6 năm 1941, thông báo như sau: “…Ông Alexandre de Rhodes đã sống lại với dân Hà Thành trong lễ khánh thành đài kỷ niệm ông. Buổi lễ được tổ chức trong bầu không khí trang nghiêm và cảm động…Ngày nay, chữ Quốc ngữ được coi là rường cột của tiếng ta, đó là lý do vì sao chúng ta không thể không cảm ơn chân thành người đã phát minh ra nó, ông Alexandre de Rhodes.

Những năm tháng chiến tranh, khi đất nước chưa có độc lập và thống nhất toàn vẹn, tấm bia đá đã bị gỡ bỏ như là việc chối bỏ sự lợi dụng khai hóa văn minh để áp đặt sự thống trị của dân tộc này đối với dân tộc khác. Đến những năm 1980, tại khoảng không gian tưởng niệm dành cho Alexandre de Rhodes mọc lên một tượng đài cách mạng trắng tinh khôi tuyệt đẹp, tôn vinh những người yêu nước: ba pho tượng người chiến sĩ cỡ lớn, một trong số đó là phụ nữ. Trên bệ, có dòng chữ: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.” . Đó đã là điều khẳng định lý tưởng: “Không có gí quý hơn độc lập, tự do”

Tổ Quốc Việt Nam hồi sinh bởi hàng triệu con dân Việt đã “xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”. Năm 1993, Giáo sư Nguyễn Lân đã nhắc đến đài tưởng niệm giáo sĩ người Pháp. Theo ông, đáng lẽ không nên gỡ bỏ đài kỷ niệm ấy. “Hành động này cho thấy một nhận thức thiển cận, sự thiếu hiểu biết về lịch sử và, dù sao đi chăng nữa, cũng không xứng đáng với truyền thống của dân tộc ta. Alexandre de Rhodes, chẳng phải là ông đã làm việc cho người Việt Nam hay sao? Chữ Quốc ngữ, thứ chữ dễ học hơn nhiều so với chữ tượng hình, đã giúp phần lớn dân chúng tiếp cận tri thức và thông tin… Và nhà truyền giáo cũng là một nhà nhân văn chủ nghĩa, gần gũi với dân chúng”.

Bia mo cu Alecxangde de Rhodes


Đã có những người con đất Việt kính cẩn nghiêng mình trước mộ Alecxandre de Rhode yên nghỉ lặng lẽ ở xứ người tại nơi yên nghỉ của ông trong một nghĩa trang nằm ở ngoại ô của thành phố Esfahan, Iran; ảnh  Trần Văn Trường VYC Travel; Antontruongthang

Đường vào nghĩa trang ông Alecxandre de Rhode ở Esfahan, Iran (Trần Văn Trường VYC Travel)

Còn đó tại Nhà thờ Mằng Lăng ở Tuy An, Phú Yên lưu dấu bản chữ viết tiếng Việt đầu tiên xác tín ghi công của Alecxandre de Rhode.

Gíao sư Nguyễn Tử Siêm ngày 12 tháng 11 năm. 2018 trên trang face book đã kể về Chuyện ‘xé rào’ một đêm: TRẢ LẠI TÊN PHỐ A. DE RHODES (trích dẫn dưới đây) Chuyện này có liên quan đến hai nhân vật đáng kính: cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn. Công lao của Alexandre de Rhodes, người góp công sáng lập chữ Quốc ngữ, sớm hay muộn cũng sẽ được tôn vinh xứng đáng; song sự nhạy bén, linh hoạt vượt qua các rào cản hành chính để làm một việc đáng làm của ông Võ Văn Kiệt thì thật thú vị và cảm động.

Câu chuyện tiếng Việt và sự truyền giáo của ông Alexandre de Rhodes thật ra còn có ẩn khúc lịch sử. Tiến sĩ Trần Thanh Ái tại bài viết “ Alexandre de Rhodes có nói như thế không?” (bài đã đăng trên tạp chí Xưa và Nay, số tháng 5 năm 2019) và công bố trên Nghiên cứu Lịch sử ngày 5 tháng 8 năm 2019, được trích dẫn dưới đây. Kết luận của tiến sĩ Trần Thanh Ái là: “Ông Alexandre de Rhodes không hề viết câu “Đây là một vị trí cần được chiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương gia Âu châu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên phong phú” trong các tác phẩm của ông. Sự nhầm lẫn tai hại này bắt đầu từ A. Thomazi khi ông đã biến một suy luận của người đời sau thành phát biểu của Alexandre de Rhodes. Nguy hiểm hơn nữa, từ sự nhầm lẫn này mà đã có người suy diễn đến việc Pháp chiếm Côn Đảo hai trăm năm sau”.

Công Viên Tao Đàn tại thành phố Hồ Chí Minh có những viên đá vô danh cạnh đền Hùng. Tôi mong ước UBND thành phố Hồ Chí Minh và ngành hữu quan chọn một cụm đá trong số này để ghi danh lưu dấu tỏ lòng biết ơn ông Alexandre de Rhodes người phát minh chữ viết tiếng Việt .

Viên đá thời gian là sự dâng hiến lặng lẽ của người phát minh chữ viết tiếng Việt

Hoàng Kim
Nguồn: Ông Alexander De Rhodes chữ tiếng Việt https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ong-alexandre-de-rhodes-chu-tieng-viet/ (bài đã đăng tại TÌNH YÊU CUỘC SỐNG CNM365, và lưu trữ tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim)

Tài liệu tham khảo chính

1) Alain Guillemin 2011. ALEXANDRE DE RHODES CÓ PHÁT MINH RA CHỮ QUỐC NGỮ? TS. Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp. Bản dịch của Ngô Tự Lập . Viet-Studies.info

2) Hồ Chí Minh 1945. Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 2. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, năm 2002 trang 1-3

3) Trần Trọng Kim 1921. Việt Nam sử lược. Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 1999, trang 318-320.

4) Trần Văn Trường VYC Travel Thăm mộ cụ Alexander De Rhodes, người tạo ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam.

5) Antontruongthang Linh mục Alexander De Rhodes (15.3.1593–5.11.1660)

6) GS. Nguyễn Tử Siêm 2018, Chuyện ‘xé rào’ một đêm: TRẢ LẠI TÊN PHỐ A. DE RHODES đăng tại https://www.facebook.com/siem.nguyentu/posts/2285553245054896 ngày 12.11. 2018

Nguyễn Đạt 28 tháng 11, 2019 28/11/2019:

TÊN MỘT CON ĐƯỜNG

Đường Alexandre de Rhodes là một trong các đường xưa nhất của Sài Gòn. Thời Pháp thuộc có tên là đường Paracels, sau là đường Colombert.

Từ ngày 22.3.1955 chính quyền Sài Gòn đổi là Alexandre de Rhodes.

Ngày 4.4.1985 chính quyền TP. Hồ Chí Minh đổi là đường Thái Văn Lung.

Đến năm 1993 ông Võ Văn Kiệt cho đổi lại tên Alexandre de Rhodes.

Luật sư Phúc Vĩnh Trịnh

Tra lai ten pho A DE RHODES

Chuyện ‘xé rào’ một đêm
TRẢ LẠI TÊN PHỐ A. DE RHODES
GS. Nguyễn Tử Siêm

Chuyện này có liên quan đến hai nhân vật đáng kính: cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn. Công lao của Alexandre de Rhodes – người góp công sáng lập chữ Quốc ngữ – sớm hay muộn cũng sẽ được tôn vinh xứng đáng; song sự nhạy bén, linh hoạt vượt qua các rào cản hành chính để làm một việc đáng làm của ông Võ Văn Kiệt thì thật thú vị và cảm động. Câu chuyện sưu tầm được như sau.

Hồi ông Võ Văn Kiệt còn đương chức, ông có chuyến thăm chính thức nước Pháp. Ngoài các chương trình làm việc với phía Pháp, ông có đến thăm và gặp gỡ với phái đoàn ngoại giao Việt Nam tại Đại sứ quán Việt Nam ở Paris. Tại đây, ông được thông báo là Đại sứ quán có sắp xếp một cuộc gặp mặt giữa ông với ông Hoàng Xuân Hãn – một học giả người Việt sinh sống ở Pháp đã mấy chục năm – tại trụ sở Đại sứ quán.

Ông Kiệt hỏi những người tổ chức cuộc gặp: “Hoàng Xuân Hãn là ai?”. Sau khi được giới thiệu về thân thế và sự nghiệp của học giả Hoàng Xuân Hãn, ông Kiệt nói: “Vậy thì tôi sẽ đến thăm học giả Hoàng Xuân Hãn tại tư gia của ông ấy, chứ không phải là chúng ta mời ông ấy đến đây gặp tôi”. Sau đó thì ông Kiệt hủy lịch hẹn gặp học giả Hoàng Xuân Hãn tại Đại sứ quán và kêu bố trí xe để ông đi thăm ông Hoàng Xuân Hãn.

Khi đến nơi, ông Kiệt nói với ông Hoàng Xuân Hãn là ông đến thăm gia đình học giả và sẽ im lặng và lắng nghe ông Hoàng Xuân Hãn nói bất kỳ chuyện gì. Chuyên gia Phạm Văn Hạng, cho biết khi kể đến đoạn này ông Kiệt cười và nói rằng: “Tôi biết nói với ông Hãn chuyện gì đây, nên tốt nhất là lắng nghe ông ấy nói”.

Và ông Hãn đã nói với ông Kiệt rất nhiều chuyện, với tư cách là một học giả Việt kiều góp ý với một vị lãnh đạo của Việt Nam về đất nước, học thuật và thời cuộc. Sau cùng, học giả Hoàng Xuân Hãn đề nghị Việt Nam nên đặt tên đường Alexandre de Rhodes để ghi nhận công lao của vị giáo sĩ người Pháp này trong việc phát triển và hoàn thiện chữ Quốc ngữ. Ông Võ Văn Kiệt nhận lời.

Khi về nước, ông Võ Văn Kiệt hỏi những người có trách nhiệm trong chính quyền TPHCM về việc đặt tên đường Alexandre de Rhodes. Họ trả lời là thời các chính quyền cũ đã có con đường mang tên Alexandre de Rhodes nằm gần dinh Độc Lập, nhưng sau được đổi tên.

Ông Kiệt hỏi: “Bây giờ muốn đổi tên đường này trở lại thành đường Alexandre de Rhodes có được không”?. Họ nói: “Việc đặt tên đường phải qua nhiều thủ tục: lập hồ sơ để Hội đồng đặt tên đường của thành phố xét duyệt, rồi phải trình HĐND TPHCM thông qua, rất mất thời gian. Alexandre de Rhodes là một giáo sĩ người Pháp hoạt động cách đây mấy trăm năm nên sẽ khó khăn hơn trong việc xét duyệt và thông qua.

Ông Kiệt hỏi tiếp: “Vậy làm một cái bảng tên đường ghi tên Alexandre de Rhodes giống như các bảng tên đường khác mất bao lâu?”. Họ nói: “Chỉ 1 buổi là xong”. Ông hỏi tiếp: “Vậy tháo cái bảng tên đường cũ ra, lắp bảng tên đường mới vào thì mất bao lâu?”. Họ nói: “Chừng mươi phút”.

Ông Kiệt bảo: “Vậy hãy cho làm bảng tên đường mang tên Alexandre de Rhodes và chuẩn bị ốc vít đầy đủ”. Sau đó, ông lệnh cho những người thừa hành đang đêm cho lắp bảng tên đường Alexandre de Rhodes vào con đường trước đây đã mang tên vị giáo sĩ này.

Đến sáng hôm sau, người dân đã thấy tên đường Alexandre de Rhodes được phục hồi lại rồi. Một công việc ‘xé rào’ thật có ý nghĩa nhiều mặt.

(NTS 12.11.2018)./.

PS: Sự ra đời và phổ biến của chữ quốc có công sức của nhiều người: Các giáo sỹ Bồ Đào Nha, Pháp, Ý, các cộng tác viên người Việt, các học giả người Việt: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục…, các chí sỹ của phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục: Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Lương văn Can, Nguyễn Quyền, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng… các thành viên chủ chốt của Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ: Nguyễn Văn Tố, Hoàng Xuân Hãn, Bùi Kỷ, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Hữu Đang…. Họ đã là những nhân tố tích cực cho việc mở mang dân trí, phổ biến các tư tưởng tiến bộ cho toàn dân dẫn đến độc lập dân tộc và thông nhất đất nước Việt Nam (theo GS Nguyễn Đăng Hưng).
(NTS 12.11.2018)./.

Ảnh 1: A. de Rhodes (1591-1660). 2. Từ điển Việt-Bồ-Latin, Rome, 1651. 3. Hoàng Xuân Hãn (1908-1996). 4. Tên phố ở TP HCM.

7) Tiến sĩ Trần Thanh Ái ngày 5 tháng 8 năm 2019 đã công bố kết quả “ Alexandre de Rhodes có nói như thế không?” trên Nghiên cứu Lịch sử (bài đã đăng trên tạp chí Xưa và Nay, số tháng 5 năm 2019) trích dẫn toàn văn dưới đây

Alexandre de Rhodes.jpg

Alexandre de Rhodes có nói như thế không?

TS Trần Thanh Ái

Từ một câu trích dẫn không rõ ràng…

Năm 1993, Vương Đình Chữ có bài viết “Một ngộ nhận về Alexandre de Rhodes”, đăng trên Công Giáo và Dân tộc số 901 ngày 4/4/1993, (trang 18-19) và năm 2006 Nguyễn Đình Đầu có bài báo “Dân ta phải biết sử ta”, đăng trên Công giáo và Dân tộc, số 1582 ngày 9/11/2006, (trang 35) đề cập đến một câu trích sau đây:

“Đây là một vị trí cần được chiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương gia Âu châu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên phong phú”

Câu trích này được tìm thấy ở trang 304 quyển Lịch sử Việt Nam, tập 1, do Ủy ban KHXH Việt Nam xuất bản tại Hà nội năm 1971, với ghi chú là trích từ quyển Divers voyages et missions en Chine et autres royaumes de l’Orient (Những cuộc hành trình và truyền giáo ở Trung Quốc và các vương quốc khác ở phương Đông) của Alexandre de Rhodes, Paris, 1653, tr. 109-110. Câu trích dẫn và nhất là thông tin trong ghi chú trên đây đã khiến nhiều nhà nghiên cứu sử học cho rằng Alexandre de Rhodes có ý đồ thực dân. Để làm sáng tỏ vấn đề, Nguyễn Đình Đầu đã tìm đọc hai trang 109-110 của tài liệu trên và cả bản tiếng Việt Hành trình và truyền đạo do Hồng Nhuệ dịch[1], và đi đến kết luận là “không hề thấy câu nói sặc mùi đế quốc thực dân ấy, ngoại trừ những lời lẽ và thái độ quý mến dân tộc và trọng kính chính quyền cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài của xứ ta đương thời”. Từ đó đến nay chưa thấy bài viết nào làm sáng tỏ nguồn gốc câu trích dẫn trên đây. Gần đây, khi có được các bản tiếng Pháp in lần đầu năm 1653, lần thứ hai năm 1666 và cả bản in năm 1854 của quyển sách nói trên, chúng tôi cũng đã bỏ công tìm tòi đối chiếu, nhưng tuyệt nhiên không tìm ra một dòng nào có ý tương tự như câu trích dẫn bên trên.

Vậy từ đâu mà có câu trích dẫn đó? Có phải câu đó là của Alexandre de Rhodes không? Nếu phải thì nó nằm ở tài liệu nào? Còn nếu không phải của Alexandre de Rhodes thì nó được trích dẫn từ đâu?

Đến những suy luận võ đoán

Roland J. cho rằng đoạn “được gọi là trích dẫn đó” chỉ là một sự sáng tạo (invention) của Thomazi mà thôi (1998, tr.42), hay nói khác hơn, đó là một sự bịa đặt! Nếu chấp nhận cách diễn giải của Roland J. thì vô hình trung cho rằng tác giả này đã cố tình vu khống Alexandre de Rhodes ! Đó là điều vô cùng tồi tệ đối với các nhà khoa học ! Vì không thể dễ dãi đồng tình với Roland J., chúng tôi nghĩ rằng cần phải làm sáng tỏ nguồn gốc của câu trích dẫn trên.

Năm 2012, trong một tham luận trình bày tại hội thảo khoa học Côn Đảo – 150 năm đấu tranh xây dựng và phát triển (1862-2012), có đoạn sau đây:

“Hơn 25 năm sống ở nước ta, lúc vào Nam, lúc ra Bắc, ông [A. de Rhodes] đã mang về Pháp một tấm bản đồ đầu tiên về xứ này và cho in tại Lyon cuốn Từ điển Việt – Bồ – La, Hành trình truyền đạo và lịch sử xứ Đàng Ngoài, trong đó ông đã nhận định: « Ở đây, có một chỗ cần chiếm lấy và đặt cơ sở tại đó, thương nhân châu Âu có thể tìm thấy một nguồn lợi phong phú tiền lời và của cải » [5]. « Chỗ cần chiếm lấy » ấy chính là Côn Đảo.” (Lục Minh Tuấn – Thái Vĩnh Trân, 2012, tr.125).

Chú thích [5] của hai tác giả trên đây cho ta biết là đoạn văn đứng trước được trích từ trang 7 của một tư liệu mang ký hiệu VT 306 ABC, do Khoa Lịch sử trường Đại học KHXH&NV biên dịch, có tên là Cuộc chinh phục xứ Đông Dương, của tác giả A. Thomazi. Đó là bản dịch của quyển La conquête de l’Indochine của A. Thomazi, do Payot xuất bản lần đầu tại Paris năm 1934. Nguyên văn của câu trên như sau: “Il y a là, écrivait-il, une place à prendre, et, en s’y établissant, des marchands d’Europe pourraient y trouver une source féconde de profits et de richesse.”

Để làm sáng tỏ ngữ cảnh của câu trên, chúng tôi chép lại cả đoạn văn gồm câu đứng trước và câu đứng sau :

En Annam comme au Siam, les premiers Français que l’on vit furent des missionnaires. Le Père Alexandre de Rhodes aborda en Cochinchine en 1624, passa vingt-cinq ans dans ce pays et au Tonkin ; il en rapporta la première carte du pays, un dictionnaire annamite – latin – portugais, une histoire du Tonkin, et signala les possibilités qui s’offraient au commerce. « Il y a là, écrivait-il, une place à prendre, et, en s’y établissant, des marchands d’Europe pourraient y trouver une source féconde de profits et de richesse. » De nombreux prêtres, puis des agents de la Compagnie des Indes, confirmèrent ses dires. (Thomazi A., 1934, tr.13)

Nghĩa của đoạn văn này như sau:

Ở An Nam cũng như ở Xiêm [ngày nay là Thái Lan], những người Pháp đầu tiên mà người ta gặp là các nhà truyền giáo. Cha Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong năm 1624, sống 25 năm ở đó và ở Đàng Ngoài; từ đây ông đã mang về [Pháp] tấm bản đồ đầu tiên của nước này, một từ điển Việt – La tinh – Bồ Đào Nha[2], một quyển lịch sử xứ Đàng Ngoài, và đã lưu ý đến những khả năng mở ra cho việc thương mãi. “Ở đó, ông viết, có một chỗ cần chiếm, và khi đặt cơ sở tại đó, thương nhân châu Âu có thể tìm thấy một nguồn lợi phong phú gồm lợi nhuận và tài nguyên.” Nhiều linh mục và kế đến là các đại diện của Công ty Đông Ấn đều khẳng định nhận xét của ông.

Trong ngữ cảnh trên, với cụm từ “écrivait-il” (“ông viết”) được đặt chen vào câu trích dẫn trong ngoặc kép “…”, và nhất là hai từ “ses dires” (“lời nói, câu nói của ông”) thì người đọc hiểu là Thomazi thông báo rằng lời nói trực tiếp này là của Alexandre de Rhodes. Tuy nhiên tác giả không hề ghi chú câu trên được trích dẫn từ tài liệu nào, trang nào[3]. Roland J. thì cho biết rằng Thomazi có ghi chú đoạn trên đây được trích từ quyển Divers voyages et missions du P. Alexandre de Rhodes en la Chine, & autres Royaumes de l’Orient kèm theo số trang (tr.42, ghi chú 77)

Đâu là sự thật ?

Truy tìm các tài liệu xuất bản trước năm 1934 (năm Thomazi xuất bản quyển La conquête de l’Indochine), chúng tôi bắt gặp đoạn văn sau đây trong quyển Les commencements de l’Indo-Chine française của A. Septans xuất bản năm 1887 (Nxb Challamel Ainé):

« En parlant du Tong-Kin, le P. Alexandre de Rhodes traite longuement du commerce. Pour lui, le Tong-Kin, par sa situation, son voisinage avec la Chine, se prête merveilleusement aux entreprises et peut devenir le siège de transactions importantes. Les Chinois y venaient en grand nombre, ils y apportaient des porcelaines, des toiles peintes et en tiraient des soieries et du bois d’aloès. Les Japonais s’y livraient autrefois à un trafic considérable, mais depuis vingt-cinq ans, ils avaient cessé de paraître dans le pays, il y avait ainsi une place à prendre et, en s’y établissant, des marchands d’Europe pouvaient y trouver une source féconde de profits et de richesses (2). » (tr.48)

(Khi nói về xứ Đàng Ngoài, cha Alexandre de Rhodes đề cập nhiều đến thương mãi. Đối với ông, xứ Đàng Ngoài vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh và có thể trở thành địa điểm giao dịch quan trọng. Đông đảo người Trung Hoa đến đó, họ mang đến đồ gốm sứ, vải hoa và mua tơ lụa và gỗ trầm hương. Trước kia, người Nhật đến đây buôn bán rất lớn, nhưng từ 25 năm, họ đã ngừng đến xứ này, vì thế có một chỗ cần chiếm lấy và, khi đã đặt chân đến đây, các thương nhân châu Âu có thể tìm thấy một nguồn phong phú gồm lợi nhuận và tài nguyên)

Đoạn văn này được Septans ghi ở phần chú thích số 2 (trang 48) là idem., bên dưới chú thích 1 là “Castonnet-Desfossés, déjà cité”, tức là muốn nói đến tài liệu “Les relations de la France avec le Tong-kin et la Cochinchine” (Quan hệ của Pháp với xứ Đàng Ngoài và Đàng Trong) của Castonnet-Desfossés đăng trong Bulletin de la société académique indochinoise de France, số 2, 1883.

Trong bài viết của Castonnet-Desfossés, đoạn văn trên đây nằm ở trang 81. Đó không phải là trích dẫn của Alexandre de Rhodes, mà là của chính tác giả. Sau khi đã tóm tắt ý chính của chương XVI có tựa là “Du Traffiq, & des Marchandises des Tunquìnois” (từ trang 56-58) của quyển Histoire du Royavme de Tvnqvin của Alexandre de Rhodes, là phần nói về việc thương mãi của xứ Đàng ngoài vào những năm 1627-1646, Castonnet-Desfossés đã đi đến suy luận đó là “một chỗ cần chiếm lấy”. Cũng theo chiều hướng suy luận ấy, độc giả còn đọc được một câu tương tự của Castonnet-Desfossés khi nói về các bản tường trình của linh mục Tissanier[4] sau khi đã lưu trú tại xứ Đàng Ngoài 3 năm, từ 1658 đến 1660 :

“Pour le P. Tissanier, le Tong-Kin est un pays d’avenir et doit, tôt ou tard, attirer l’attention des Européens. La fertilité de son sol, les cours d’eau qui l’arrosent et facilitent les communications, le voisinage de la Chine annonçaient que cette contrée serait un jour des plus florissantes et deviendrait dans la suite le siège d’un commerce actif. Si l’on s’en rapporte au P. Tissanier, l’établissement des Européens dans ce pays n’était qu’une affaire de temps” (tr.82).

“Đối với cha Tissanier, xứ Đàng Ngoài là một xứ sở của tương lai, và sớm hay muộn, sẽ thu hút sự chú ý của người châu Âu. Đất đai phì nhiêu, sông ngòi thuận tiện cho việc lưu thông, vị trí gần gũi với Trung Hoa báo trước rằng tương lai vùng này sẽ là một vùng trù phú và sẽ trở thành một trung tâm thương mại nhộn nhịp. Nếu ta tin lời cha Tissanier, việc người châu Âu đặt chân đến xứ này chỉ là vấn đề thời gian” (tr.82).

Như vậy “sự cố trích dẫn” này xuất phát từ Thomazi : ông đã nhầm lẫn khi đọc được trong quyển Les commencements de l’Indo-Chine française (Paris, Nxb Challamel Ainé) của A. Septans một trích dẫn từ bài viết của Castonnet-Desfossés, rồi vội gán cho Alexandre de Rhodes bằng cách thêm vào các chữ “écrivait-il” và “ses dires”. Sự nhầm lẫn này cũng còn bắt nguồn từ cách trình bày kém rõ ràng của Septans : sau khi viết câu “Son Histoire du Tonkin a été publiée en latin à Lyon en 1652” (Quyển Lịch sử xứ Đàng Ngoài

[của Alexandre de Rhodes]

đã được xuất bản bằng tiếng la tinh ở Lyon năm 1652), Septans liền ghi câu trích của Castonnet-Desfossés khiến người đọc dễ nhầm lẫn đó là của Alexandre de Rhodes !

Cũng cần nói thêm là quyển Lịch sử xứ Đàng Ngoài của Alexandre de Rhodes không hề đề cập đến Côn Đảo như hai tác giả Lục Minh Tuấn – Thái Vĩnh Trân đã suy luận .“Chỗ cần chiếm lấy ấy chính là Côn Đảo” như trong tham luận đã nói bên trên. Như đã giới thiệu bên trên, chẳng những đoạn trích dẫn đang bàn không phải do Alexandre De Rhodes viết, mà nó cũng không có liên quan đến Côn Đảo, tên Poulo Condore hay Pulo Condor không hề xuất hiện trong bất cứ quyển sách nào của de Rhodes, và quyển Histoire dv Royavme de Tvnqvin chỉ nói về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo của Đàng Ngoài mà thôi.

Tóm lại, Alexandre de Rhodes không hề viết câu “Đây là một vị trí cần được chiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương gia Âu châu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên phong phú” trong các tác phẩm của ông. Sự nhầm lẫn tai hại này bắt đầu từ A. Thomazi khi ông đã biến một suy luận của người đời sau thành phát biểu của Alexandre de Rhodes. Nguy hiểm hơn nữa, từ sự nhầm lẫn này mà đã có người suy diễn đến việc Pháp chiếm Côn Đảo hai trăm năm sau.

(bài đã đăng trên tạp chí Xưa và Nay, số tháng 5 năm 2019)


Tài liệu tham khảo

Castonnet-Desfossés H., 1883: Les relations de la France avec le Tong-kin et la Cochinchine, d’après les documents inédits des Archives du ministère de la Marine et des Colonies et des Archives du Dépôt des cartes et plans de la marine, trong Bulletin de la société académique indo-chinoise de France, số 2, 1882-1883.

Lục Minh Tuấn – Thái Vĩnh Trân, 2012. Về nhận thức của người Pháp đối với Côn Đảo trước năm 1862, trong Côn Đảo 150 năm đấu tranh xây dựng và phát triểm (1862 – 2012) (Kỷ yếu hội thảo khoa học. Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia – Sự Thật.

de Rhodes A. 1651. Histoire dv Royavme de Tvnqvin, bản dịch tiếng Pháp của Henry Albi. Lyon, Chez Iean Baptiste Devenet.

Roland J. 1998. Le Portugal et la romanisation de la langue vietnamienne. Faut-il réécrire l’histoire? đăng trong tạp chí Revue française d’histoire d’outre-mer, quyển 85, số 318, quý 1 năm 1998.

Septans A. 1887. Les commencements de l’Indo-Chine française. Paris, Nxb Challamel Ainé.

Thomazi A. 1934. La conquête de l’Indochine. Paris: Payot.

Chú thích:

[1] Bản tiếng Việt do Hồng Nhuệ dịch quyển Divers voyages et missions du P. Alexandre de Rhodes en la Chine, & autres Royaumes de l’Orient, Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Tp Hồ Chí Minh xuất bản, 1994.

[2] Thomazi viết sai: tên từ điển bằng tiếng la-tinh là Dictionarivm Annamiticvm Lvsitanvm, et Latinvm, xuất bản tại La Mã năm 1651. Tài liệu bằng tiếng Việt thường gọi là Từ điển Việt – Bồ – La.

[3] Quyển La conquête de l’Indochine của Thomazi mà chúng tôi tham khảo do Nhà xuất bản Payot (Paris) xuất bản năm 1934 không có ghi chú nào về tài liệu được trích dẫn.

[4] Relation du voyage du P. Joseph Tissanier, Edme Martin  xuất bản năm 1663.

8) Thư ngỏ của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân sau khi bị khủng bố tinh thần vì phản đối vinh danh Đờ Rốt (Trích dẫn bởi Ngô Mạnh HùngTheo dõi 26 tháng 12, 2019):

“NẾU NHẦM LẪN THÌ XIN LỖI VÀ IM LẶNG”

Thân gởi GS. Nguyễn Đăng Hưng,
Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân, Tp. Đà Nẵng

Anh Hưng thân,
Sau khi anh thấy tên tôi trong bản kiến nghị do một nhóm thầy giáo và các nhà nghiên cứu Văn hóa Lịch sử ở Huế, Hà Nội và TP HCM gởi cho lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng, đề nghị không nên lấy tên hai vị Linh mục Francisco de Pina (Pi-na) và Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đặt tên cho hai con đường mới ở Thành phố Đà Nẵng, anh đã gọi điện thoại cho tôi bảo tôi “sai” rồi và vào ngày 28-11-2019, anh và ông Nguyễn Huy Cường nào đó còn gởi thư cho tôi với nhan đề “Nếu nhầm lẫn thì xin lỗi và im lặng”.

Anh Nguyễn Đăng Hưng,
Với hơn nửa thế kỷ cầm bút, tham gia phản biện hàng chục đề tài với nhiều thể loại, nhiều cấp khác nhau nhưng chưa bao giờ tôi nhận được những lời cảnh báo “sốc” đến như vậy. Thông thường mỗi khi gặp một trường hợp phản biện tôi luôn phản biện lại ngay để bảo vệ ý tưởng của mình. Nhưng đối với lá thư của anh (và ông Nguyễn Huy Cường nào đó), một người bạn thân nhau từ hơn ¼ thế kỷ qua, tôi “im lặng” nhưng không xin lỗi. Xin lỗi ai? Và xin lỗi cái gì?

Với tư cách là một người cầm bút thân thiết với Thành phố Đà Nẵng, năm 1998, tôi đã từng phản biện giúp ông Nguyễn Bá Thanh, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng xóa bỏ tên ông Nguyễn Hiển Dĩnh đã đặt cho con đường song song với đường 2 Tháng 9 ở Đà Nẵng ngày nay, nên tôi đã không ngần ngại tham gia vào Bản kiến nghị nói trên. Và lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng đã có thư phản hồi cám ơn những người có tên trong “Bản Kiến nghị” và đồng ý (hứa) “chưa đặt tên đường hai vị linh mục lần nầy”. Như vậy, Bản Kiến Nghị của chúng tôi có kết quả. Việc kiến nghị như thế đã xong rồi. Nếu sau nầy, Thành phố Đà Nẵng bỏ qua lời hứa với chúng tôi, họ lại dùng tên hai vị linh mục ấy đặt tên đường thì chúng tôi mới cung cấp thêm thông tin và kiến nghị tiếp). Chúng tôi phải lo công việc khác của mình chứ! Vì thế, tôi không biết tôi nhầm chuyện gì và phải xin lỗi ai? Sở dĩ cho đến nay tôi im lặng không phải vì lời cảnh báo rất sốc của các anh mà chính vì những lý do sau đây:

– Con cháu trong gia đình anh Cả tôi, gia đình tôi, gia đình em trai tôi, gia đình em gái tôi đều có người làm dâu trong các gia đình Thiên Chúa giáo. Bây giờ lật lại nói chuyện hay, chuyện không hay của các linh mục Thiên Chúa giáo thật không nên chút nào;

– Những trang đen trong lịch sử dân tộc tưởng đã giao cho lịch sử để bây giờ sống trong hiện tại, tự nhiên các anh bươi chuyện Đắc Lộ ra, không khéo lại “tóa lọa lọa” gây mất đoàn kết dân tộc trong lúc giặc Tàu đang rập rình cướp đất, cướp đảo ngoài Biển Đông, giữ được im lặng chuyện Đắc Lộ là phải;

– Bỏ một đời nghiên cứu, học hỏi, trải nghiệm, được học, được gặp gỡ tiếp xúc trao đổi với các bậc thức giả hàng đầu về văn hóa lịch sử, trong đó có nhiều vị là tín đồ Thiên Chúa giáo, nói đâu có tài liệu kèm theo đó,… lẽ nào lại quên hết để đi đôi co với những người mới đầu hôm sáng mai điếc không sợ súng lên mặt dạy đời sao?

Nhưng rồi do hoàn cảnh thúc ép, tôi cũng chỉ có thể giữ im lặng cho đến đây thôi. Tôi viết lá thư nầy gởi đến anh không có ý đề cập đến 6 vấn đề chúng tôi đã nêu lên trong bản Kiến nghị gởi cho Thành phố Đà Nẵng mà chỉ trao đổi với người bạn vừa nhận chức Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, Đại học Duy Tân thôi.

Anh Hưng ơi!
Anh có mời tôi xem cuốn phim “Chuyến đi Iran thăm mộ Đắc Lộ” của anh trên Net. Tôi đã xem và giới thiệu với các bạn tôi cùng xem. Cảm tưởng đầu tiên của tôi là các anh đã làm rõ được nơi an nghỉ cuối cùng của một vị linh mục có tên trong lịch sử CQN, có công lớn trong việc truyền Đạo Thiên Chúa vào VN. Một người nổi tiếng như thế mà các Giáo hoàng Vatican bỏ rơi ông ở một nơi hiu quạnh như thế thật bất nhẫn. Và không hiểu có biết bao linh mục, giáo dân giàu có mà xưa nay đã có ai đến viếng mộ ông Đắc Lộ chưa (?). Bài diễn văn của anh trong buổi lễ có nhiều chuyện không đúng nhưng đó là chuyện của anh tôi không nhắc lại ở đây.

1. Nhưng tôi thật bất ngờ trong diễn văn anh cho biết các anh đã khắc một tấm bia ghi ơn đặt ở ngôi mộ linh mục Đắc Lộ với nội dung “CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN”. Như vậy ngày nay tiếng Việt còn, nước Việt Nam còn là nhờ CQN của linh mục Đắc Lộ. Một khám phá vô tiền khoáng hậu. Như vậy bảo vệ CQN của linh mục Đắc Lộ là bảo vệ Việt Nam. CQN của Đắc Lộ có một nhiệm vụ thiêng liêng như thế cho nên anh mới dành cả tuổi già của mình làm “Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ….”. Các nước Lào, Căm-pu-chia, Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc Nhật Bản, Hàn Quốc không dùng chữ nước họ được la tinh hóa như CQN VN, không rõ được thế lực nào đã bảo vệ mà các nước ấy đều sốn ngon lành như ngày nay. Có hai việc cần nhắc ông Viện trưởng sau đây:

1.1. Anh đã cóp và sửa ý tưởng khắc ở khu lăng mộ cụ Phạn Quỳnh ở ấp Bình An, phường Trường An, TP Huế – địa điểm có dấu tích Cung điện Đan Dương thân thiết của tôi trên 1/3 thế kỷ qua. Nguyên văn của cụ Phạm Quỳnh trên bia đá là: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”. Anh sửa lại “CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN” và khắc lên đá Non Nước đem qua dựng bên mộ linh mục Đắc Lộ ở Iran. Thực hiện việc làm nầy anh mắc hai lỗi trọng: 1. Lỗi ăn cắp ý tưởng của người khác sửa lại làm ý tưởng của anh; 2. Theo anh nước Việt Nam ngày nay còn là nhờ CQN của linh mục Đắc Lộ. Điều đó có nghĩa anh xóa hết công lao xương máu của bao thế hệ trường kỳ kháng chiến từ Ngày thất thủ Kinh đô vua Hàm Nghi xuất bôn với Phong trào cần vương (1885) cho đến ngày thông nhất đất nước (1975) – ròng rã suốt 90 năm. Người ngoại quốc đọc tấm bia làm ô nhục dân tộc VN đó họ sẽ nghĩ như thế nào? Với tư cách là môt công dân VN; tôi đề nghị anh nhờ người hủy tấm bia đá đó kẻo xấu hổ lắm;

1.2. Anh không phân biệt được “tiếng” và chữ viết. Có ai đó gọi tên anh, người học chữ Hán và chữ Nôm ghi ngay 登興, người học CQN ghi “Đăng Hưng”. Tiếng của một dân tộc không thay đổi, luôn tồn tại và phát triển, nó có âm điệu, có nhạc (nhất là tiếng VN), còn chữ chỉ là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản. Tiếng không thay đổi, chữ viết có thể thay đổi qua thời gian như chữ Hán, chữ Nôm, chữ CQN của ta vậy. Trong ngành bưu điện hay ngành truyền tin quân đội trước đây người ta còn dùng ký hiệu điện báo móoc (morse) nữa.

Tiếng nói mới là tâm hồn dân tộc. Cả một kho tàng ca dao tục ngữ, dân ca khắp ba miền truyền khẩu qua bao đời nay có chữ chiếc gì đâu. Tôi không ngờ anh không phân biệt được hai lãnh vực “tiếng” và “chữ” nên mới đem Tình Ca của Phạm Duy “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…” ra hát bên mộ giáo sĩ Đắc Lộ – tác giả Tự điển Việt Bồ La. Con nít mới ra đời được nghe lời ru của mẹ từ ca dao, dân ca chứ làm gì có chuyện trẻ con còn nằm trong nôi đã biết CQN của linh mục Đắc Lộ của anh? Nếu Phạm Duy biết chuyện nầy sớm có lẽ nhạc sĩ không cho phép tôi đưa anh đến thăm Phạm Duy năm ấy.

2. Trong buổi lễ nhớ ơn Đắc Lộ, các anh đã tôn vinh sách Phép Giảng Tám Ngày của linh mục Đắc Lộ. Nội dung ngày thứ tư, Đắc Lộ đã mạ lỵ, xúc phạm hết sức thô bạo:

– Ngày Thứ tư, Đạo bụt: “giáo ngoài và giáo trong” (tr.101 và 102). Gọi Phật bằng nó, thóa mạ, miệt thị Đạo Phật là đạo gian, đạo dối trá, đạo Phật dày đặc những truyện giả, xiêu dối thế gian nên phạm tội lỗi, đạo Phật là đạo “rợ mọi”, theo đạo Phật là quỷ quái, ai theo đạo Phật là ngu, thờ Phật là đứa gian, ai tin Phật, không tin chúa là phạm mọi tội.v.v.

– Ngày Thứ tư, mục “Những sự dối trá của Thích Ca về linh hồn ta”. (Tr.110-111). Phê phán tục cúng ông bà tổ tiên của Việt Nam.

– Ngày Thứ tư, mục “Những điều lầm lỗi trong việc thờ cúng cha mẹ” (Tr.112, 113). Cúng cha mẹ chết là có lỗi.

Anh tôn vinh Phép Giảng Tám Ngày, tức là anh tôn vinh cho quan điểm trịch thượng bất kính ngạo mạng của linh mục Đắc Lộ đối với giáo chủ của các tôn giáo khác. Trong Phép Giảng Tám Ngày có 9 lần Đắc Lộ nói đến “Thích Ca”, 3 lần dùng chữ “rợ mọi” đối với Đạo Bụt (Đạo Phật), 20 lần nói đến “đạo bụt” với tính cách miệt thị, dạy con chiên gọi những người thờ Bụt (Phật) là “giáo ngoài”, con chiên gọi người khác đạo là “ngoại giáo”.

Anh tôn vinh Phép Giảng Tám Ngày, xóa bỏ hoàn toàn đời sống văn hóa tâm linh Việt Nam của linh mục Đắc Lộ. Từ nay, anh có thể không vào bất cứ nơi nào thờ Phật Thích Ca trên thế giới nầy nữa, nhưng lẽ nào anh đập bàn thờ tổ tiên, không giỗ chạp cúng bái cha mẹ nữa được sao? Anh không biết Cộng đồng Vatican 2 (từ 1962 đến 1965) đã cho phục hồi việc thờ cúng ông bà cha mẹ của giáo dân ở VN rồi sao?

Trong HTKH Mừng 400 năm Dòng Tên, …có hai báo cáo, báo cáo thứ hai mang tựa đề “Cái nhìn về các tôn giáo theo sách giáo lý (Cathechismus Phép Giảng Tám Ngày) của cha Đắc Lộ” của linh mục. Anton Nguyễn Cao Siêu S.J. trình bày. Tác giả đã kết luận tham luận “Phép Giảng Tám Ngày” là một cuốn sách giáo lý nhằm dạy cho những ai muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời. Đối với Đắc Lộ, chỉ Kitô giáo mới là đạo thật, giúp con người được ơn tha tội và có sự sống vĩnh hằng. Chính từ xác tín này mà Đắc Lộ nhìn các tôn giáo trên đất An Nam: Đạo thờ ông bà của người Việt, cũng như đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật. Khi giảng cho người dự tòng, Đắc Lộ muốn đề cao cái hay của đạo mới, nên nhấn mạnh đến những điều mà Ông cho là không đúng, không hay nơi các tôn giáo khác. Hơn nữa, cái nhìn của Đắc Lộ, một thừa sai Tây phương ở thế kỷ 17, cũng chịu ảnh hưởng của nền thần học thời đó về ơn cứu độ. Đối với chúng ta hôm nay, cái nhìn này có những giới hạn và sai sót, cả trong nội dung lẫn cách trình bày. Chúng ta phải đợi Công Đồng Chung Vaticanô II mới có được cái nhìn tích cực hơn về các tôn giáo ngoài Kitô giáo”.

Như vậy, từ Công đồng Vatican 2 (từ 1962 đến 1965), cách đây trên nửa thế kỷ TCG đã chính thức nhận sai lầm của Đắc Lộ trong Phép Giảng Tám Ngày đối với Việt Nam, sao giờ nầy anh còn tôn vinh Phép Giảng Tám Ngày say sưa đến vậy? Anh có biết nhiều linh mục Thiên Chúa giáo học Phật Thiền Chánh Niệm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh vừa giảng ở các Nhà thờ, vừa làm Giáo thọ ở Trung tâm Phật giáo Làng Mai, Pháp quốc không?

3. Anh tôn vinh cuốn Tự điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của linh mục Đắc Lộ. Như anh đã biết phần Việt Bồ là sản phẩm của những người đi trước linh mục Đắc Lộ như Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Francisco de Pina – những bậc thầy của linh mục Đắc Lộ. Phần La tinh Đắc Lộ thêm vào theo lệnh của Vatican. Tự điển Việt Bồ La là công cụ trang bị cho các Thừa sai Thiên Chúa giáo người Bồ, người sử dụng tiếng La tinh đi truyền giáo ở VN, để cải đạo người VN theo Phép Giảng Tám Ngày.

Ngoài các Linh mục người Việt, những ai trong xã hội VN xưa nay đã biết, đã sử dụng cuốn Tự điển ấy? Sử dụng vào việc gì? Một công cụ giúp cho các Thừa sai Thiên Chúa giáo đánh vào văn hóa, vào đời sống tâm linh của người Việt Nam, tại sao ta phải cám ơn người làm ra công cụ ấy? Đời thuở nào một người có văn hóa đi cám ơn người đã chế tác ra “bom” rải thảm lên nền văn hóa của dân tộc mình như thế? Anh sẽ trả lời con cháu anh như thế nào? Phải chăng như anh đang rao giảng lâu nay vì linh mục Đắc Lộ đã có công “tạo tác chữ quốc ngữ” như lời anh khắc trên bia dựng ở mộ Giáo sĩ Đắc Lộ bên Iran?

3.1. Xét về mặt đạo đức của người biên soạn sách, người làm tự điển của linh mục Đắc Lộ), chúng tôi đã viết trong Kiến nghị gởi Thành phố Đà Nẵng đề ngày 23-10-2019. Nay tôi mách thêm cho ông Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ cái giá trị đích thực của cái công cụ truyền giáo bằng CQN của linh mục Đắc Lộ hồi ấy như sau:

* GS.TS. Nguyễn Văn Trung – một người tu xuất, nguyên Khoa trưởng ĐH Văn khoa đầu tiên của Viện Đại học Huế, tác giả cuốn sách Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam – Thực Chất Và Huyền Thoại (Nam Sơn, Sài Gòn, 1963), người rất nổi tiếng trước năm 1975 ở miền Nam, ông đã tham khảo hai cuốn sách của Toàn quyền Đông Dương (1891-1894) de Lanesan:

– L’Expansion coloniale de la France: étude économique, politique et géographique sur les établissements français d’outre-mer (1886) (Sự mở rộng thuộc địa của Pháp: Nghiên cứu kinh tế, chính trị và địa lý về định cư ở nước ngoài của Pháp (1886).

– L’Indo-Chine française, étude politique, économique et adminis -trative sur la Cochinchine, le Cambodge, l’Annam et le Tonkin (1889) (Đông Pháp, nghiên cứu chính trị, kinh tế và hành chính ở Nam Kỳ, Campuchia, Annam và Bắc Kỳ (1889); Trong mục Thái độ đối xử với người bản xứ, về phương diện tôn trọng người, của cải, tôn giáo, phong tục, tập quán xã hội (tr.114), tác giả Nguyễn Văn Trung viết:

“Theo Lanessan, các vị thừa-sai Công-giáo thường nhắm quần –chúng, dân quê, bần cùng nghèo khổ, hoặc kẻ trộm cướp để giảng đạo. Nói cách khác, người công-giáo thường thuộc thành phần những giai cấp thấp hèn nhất trong xã-hội. Những người này thường được tập-hợp lại thành làng xóm riêng, tách khỏi đoàn-thể dân-tộc. Lý do cô lập các làng theo đạo ở tại các thừa sai sợ người theo đạo giao-thiệp với người Lương có thể quay lại những phong-tục lễ-nghi ngoại đạo. Cũng vì lý-do sợ đó mà họ đã tạo ra chữ quốc-ngữ, chủ-đích là để giáo dân khi biết đọc chữ quốc-ngữ, thì chỉ biết đọc sách báo đạo mà thôi, trái lại để cho họ học chữ nho, sợ họ có thể thông cảm lại với tư tưởng ngoại-giáo. Thành ra việc sáng lập chữ Quốc-ngữ phải chăng nhằm một mục đích “ngu dân” ly- khai với văn-hóa dân tộc?”.

3.2. CQN của linh mục Đắc Lộ là một công cụ truyền giáo “nhằm quần – chúng, dân quê, bần cùng nghèo khổ, hoặc kẻ trộm cướp để giảng đạo”, ngoài ra không có ảnh hưởng, không có tác động gì đối với dân chúng ngoại đạo Thiên Chúa, đối với tầng lớp Nho sĩ, tầng lớp quan lại của hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài (dù hai xứ nầy đối nghịch nhau).

Cả hai Đàng đều trục xuất Đắc Lộ ra khỏi nước Nam. Nghiên cứu Lịch Sử Văn học Công Giáo Việt Nam của Võ Long Tê khẳng định: Từ khi có Phép Giảng Tám Ngày và Tự điển Việt Bồ La (1651) cho đến ngày Việt Nam hoàn toàn bị mất vào tay thực dân Pháp (1885 – Thất Thủ Kinh Đô), trên hơn 200 năm ấy không thấy có bất cứ một tác phẩm văn học nào bằng CQN của linh mục Đắc Lộ trong đời sống người dân Việt cả. (Nếu có cũng chỉ phổ biến trong các nhà thờ mà thôi). Các tác giả Việt Nam, trong thời gian hơn 200 năm ấy, không hề biết trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo lớn ở VN đang có Phép Giảng Tám Ngày và Tự điển Việt Bồ La bằng CQN của linh mục Đắc Lộ.

Các tác giả Việt Nam cứ tiếp tục sử dụng chữ Hán Nôm của cha ông mình đã sử dụng, sáng tác nên các tác phẩm bất hủ trong cổ Văn học sử Việt Nam như Truyện Hoa Tiên, Tụng Tây Hồ Phú, Sãi Vãi, Hoài Nam Khúc, Ai Tư Vãn, Nhị Độ Mai, Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm v.v.. Đặc biệt, Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nếu VN không mất nước, không bị thực dân Pháp và Thiên Chúa giáo bắt buộc phải bỏ chữ Hán, bỏ chữ Nôm, thay vào đó bằng CQN thì Đắc Lộ và các sách của ông ấy cũng cùng chung số phận bị lãng quên như các Tự điển La tinh hóa chữ Nhật, chữ Tàu không còn ai nhắc đến nữa.

3.3. Vì sao các nước Nhật Bản, Trung Quốc loại bỏ chữ la-tinh hóa mà VN thì vẫn giữ chữ Việt la-tinh hóa cho đến ngày nay? Để trả lời câu hỏi nầy, Giáo sư Cao Huy Thuần – Giáo sư Đại học ở Pháp, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Liên Hiệp Âu Châu tại Đại học Amiens. Năm 1990, với sự bảo trợ của Đại học Yale, ông đã xuất bản Luận án Tiến sĩ Quốc gia Pháp: Les missionnaires et la politique coloniale francaise au Viêt Nam (1857 1914). Tại Chương IX: Văn thư và tin tức tình báo của Giám mục Puginier (gởi cho thực dân Pháp) (tr. 276-303)…. Có chú thích “Notes sur la question du Tong-King,” Mars 1884. Archives du ministers de la F.O.M., AOO (30) ou N.F.54.

Tác giả Cao Huy Thuần chuyển ngữ văn bản của Giám mục Puginier qua CQN như sau:
“Điều thứ hai phải làm, chính là bãi bỏ chữ Nho và thay thế, lúc đầu, bằng tiếng Việt Nam viết theo kiểu người Âu, gọi là Quốc ngữ, rồi sau đó, bằng tiếng Pháp. Không có cách nào hữu hiệu hơn cách này để tiêu diệt tinh thần đạo Nho và uy thế to lớn của nhà Nho trong dân chúng. Thật vậy, nếu không còn dạy và dùng chữ Nho nữa trong các văn kiện chính thức, thì toàn bộ kiến thức của các nhà Nho nào có ích lợi gì? Và nếu người Việt Nam không còn biết đọc các sách cổ viết bằng chữ Nho hoặc chữ Nôm, họ đã chẳng dần dần bị dẫn đến chỗ không biết được chính văn hóa, văn minh dân tộc họ đó sao? Khi ấy triết học Nho giáo, nền tảng của tổ chức chính trị và xã hội trong nước, chẳng bị chết dần chết mòn sao?”

“Nhưng công việc này phải tiến hành từ từ, tiệm tiến, đừng nói gì cả vì ngại va chạm đến dân chúng đã quen dùng ngôn ngữ và chữ Nho, và vì lý do chính trị, để tránh làm mích lòng Trung Quốc”.

“Từ lâu, tôi chủ trương dạy tiếng Pháp và dùng mẫu tự Âu châu để viết tiếng An Nam, nhưng khốn thay, tôi không được ủng hộ trong việc thực hiện kế hoạch mà tôi đã đề nghị sáu lần. Tuy nhiên, tôi vui sướng thấy từ hai năm nay, chúng ta làm việc tích cực cho mục tiêu này; ngoài trường dạy tiếng Pháp của Phái bộ truyền giáo, là trường đầu tiên được thành lập ngày 8 tháng 12 năm 1884, chính phủ còn lập nhiều trường khác từ ngày 5 tháng 4 năm 1885”.

“Cần phải dạy càng sớm càng tốt cho người An Nam viết và đọc được tiếng họ bằng mẫu tự Âu châu, việc này dễ hơn tiện hơn nhiều so với việc dùng chữ Nho. Rồi vài năm sau, nên bắt buộc mọi giấy tờ chính thức, thay vì viết chữ Nho như trước, phải được viết bằng tiếng trong nước, và mọi viên chức phải được dạy ít nhất để biết đọc và viết tiếng An Nam bằng mẫu tự Âu châu. Trong thời gian đó việc dạy tiếng Pháp sẽ tiến triển hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ sẽ cung cấp các viên chức có học ngôn ngữ chúng ta. Thế là, có lẽ trong vòng 20 hoặc 25 năm, chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều phải được làm bằng tiếng Pháp và, do đó, chữ Nho sẽ dần dần bị bỏ rơi mà không cần phải cấm học”.

“Khi đạt được thành tựu to lớn đó, chúng ta lấy đi một phần lớn ảnh hưởng của Trung Quốc tại An Nam, và đảng nhà Nho An Nam, rất căn thù sự thiết lập thế lực Pháp, cũng dần dần bị tiêu diệt”.

“Vấn để này có tầm quan trọng rất lớn, và sau việc thiết lập Gia-tô giáo, tôi xem việc phế bỏ chữ Nho và việc thay thế nó dần bằng tiếng An Nam trước rồi kế đến bằng tiếng Pháp, là một phương cách rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập lên ở Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ của Viễn Đông”.

Như vậy CQN của linh mục Đắc Lộ không những là một công cụ xóa bỏ nền văn hóa Việt Nam mà còn thủ tiêu luôn cả tinh thần ý chí chống Pháp để bảo vệ đất nước của người Việt Nam. Người làm ra CQN và áp đặt buộc người Việt Nam phải học là kẻ thù của dân tộc VN, làm sao anh lại có thể làm ngược lại là tôn vinh Đắc Lộ và Tự điển Việt Bồ La của ông ta? Thực dân Pháp đã thực hiện đúng quy trình của Puginier đưa ra. Lúc đầu, bắt dân học CQN rồi sau đó bước qua học tiếng Pháp dứt hẵn với chữ Nho và chữ Nôm, dứt hẵn với lịch sử, văn hóa Việt Nam.

4. Thực dân Pháp thực hiện mưu đồ của Giám mục Puginier bắt dân ta học CQN của Đắc Lộ. Học CQN để quên đi quá khứ, quên đi lịch sử, để cải đạo, phục vụ cho thực dân Pháp rồi dần dần trở thành công bộc của thực dân Pháp. Nhà Nho Trần Tế Xương đã phản ảnh tình hình lúc đó qua bài thơ ngắn sau đây:

“Nào có nghĩa gì cái chữ Nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thầy phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”

Các chí sĩ yêu nước VN, các nhà văn hóa VN thấy rõ cái nhục đó, đứng vào cái thế bị cai trị, không còn cách chọn lựa nào khác họ đã vận dụng ngay cái công cụ phục vụ Thiên Chúa Giáo và thực dân Pháp biến thành công cụ dạy bảo cho dân VN biết được tội ác của giặc, biến cái công cụ thô sơ, hẹp hòi của địch thành một vũ khí sắc bén, vừa để đánh trả địch, vừa để xây dựng ngôi nhà văn hóa của mình. Xây dựng ngôi nhà văn hóa đó không những bằng gỗ giải hạ lấy được của giặc mà chủ yếu bằng gạch đá của cha ông để lại (chữ Nho) cộng với tri thức của thời đại không qua con đường CQN.

Thực dân Pháp nghe lời Giám mục Puginier loại bỏ chữ Hán, chữ Nôm, nhưng chính trong giai đoạn nầy xuất hiện nhiều người Việt giỏi Hán Nôm. Giỏi Hán Nôm không phải để trở thành khoa bảng như ngày xưa mà thực tế để xây dựng văn hóa Việt Nam. Người Pháp không ngờ các trí thức Hán Nôm (như cụ Đào Thái Hanh ở Sa-đéc, tác giả Ái Châu Danh Thắng, rất giỏi Hán Nôm và cũng là người giỏi tiếng Pháp) và ngược lại những trí thức rất giỏi tiếng Pháp và cũng rất sành Hán Nôm (như cụ Phạm Quỳnh, cụ Hoàng Xuân Hãn).

Tôi không nghiên cứu ngữ học Việt Nam, chỉ với tư cách là một người cầm bút tôi nghĩ trong tiếng nói và chữ viết tiếng Việt hiện nay có ít nhất từ 70% đến 80% là chữ Hán Việt (chữ Nho), còn lại 30% hay 20% chữ thuần , trong đó có CQN do Giáo sĩ Đắc Lộ chép của các vị Thừa sai người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và chữ thuần Việt xuất phát từ các địa phương khác mà thời các vị Thừa sai người Bồ, người Tây Ban Nha chưa biết. 70% đến 80% dùng chữ Hán Việt (chữ Nho) là gì? Là các chữ do người VN sử dụng (chữ Nho) theo nghĩa của người Việt, hoặc sử dụng những từ mới do các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc mới phát minh sau nầy. 70% đến 80% chữ Việt dùng Hán Việt trong các lãnh vực Khoa học (Toán học, Vật Lý, Hóa học, Sinh học, Y học, Địa chất học.v.v.), trong lĩnh vực Luật học, trong lĩnh vực Triết học, Kiến trúc, Xây dựng, Nghệ thuật, Thương mại .v.v.. Và ngay bây giờ trong lĩnh vực Công nghệ 4.0.

Ta nói “trí tuệ nhân tạo” có từ nào là thuần Việt đâu? Tôi không nghiên cứu ngữ học tôi không biết hết, nhưng qua quá trình học vấn hạn hẹp của tôi: Tôi đã học khoa học nhờ Danh Từ Khoa Học của Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu Luật học nhờ từ điển Luật của Vũ Văn Mẫu, học Triết học bằng Danh từ Triết học của Nguyễn Văn Trung. Gia tài CQN ngày nay của VN do biết bao người đóng góp xây dựng nên. Tại sao ông Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ chỉ vinh danh các Giáo sĩ Pi-na và Đắc Lộ không mà thôi?

Và, chắc anh cũng biết, sau ngày Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, cuộc diễu hành mừng Cách mạng ở Hà Nội, bộ đội Việt Minh mặc binh phục của Pháp, đeo súng Pháp. Đến ngày Toàn quốc kháng chiến, vũ khí chống Pháp hầu hết cũng đều của Pháp. Vậy có khi nào ta đặt vấn đề tôn vinh cám ơn những người đã làm ra những vũ khí và binh phục cho ta chống Pháp không? Chắc chắn là không.

Anh là nhà vật lý chắc anh biết Giáo sư Tiến sĩ Trần Chung Ngọc
(1931–2014) là một học giả người Mỹ gốc Việt. Ông tốt nghiệp bằng Tiến sĩ vật lý tại Đại học Wisconsin – Madison, Hoa Kỳ, ông từng giảng dạy tại trường ĐH Khoa học Sài Gòn và các cơ sở giáo dục của VNCH đồng thời có thời gian nhập ngũ làm sĩ quan trong quân đội VNCH, Trần Chung Ngọc sang định cư tại Hoa Kỳ, tiếp tục nghiên cứu vật lý, nghiên cứu các vấn đề lịch sử, văn hóa, tôn giáo Việt Nam. Năm 1994, ông kết luận bài viết Alexandre de Rhodes: Công hay Tội ? như sau:

“Một tên giặc tới nhà chúng ta, tạo ra một thứ vũ khí để dễ bề quyến rũ con em nhẹ dạ theo chúng phản lại tổ tiên, chúng ta dùng vũ khí đó để mở mang đầu óc của tất cả những người trong gia đình nhờ đó mà gia đình chúng ta bảo vệ được truyền thống luân lý đạo đức của gia đình, bảo toàn gia sản của tổ tiên khỏi bị cướp đi, vậy chúng ta nên nhớ ơn những người trong gia đình có sáng kiến dùng ngay vũ khí của địch để đánh địch hay là chúng ta nên nhớ ơn kẻ đã mang vũ khí đến nhà chúng ta để cướp đi của cải và gây bất hòa trong gia đình chúng ta?
Tôi hy vọng vấn đề công và tội của Alexandre de Rhodes nay đã sáng tỏ”.

Anh có thể không đồng ý với nhận định của TS Trần Chung Ngọc, nhưng ít ra anh cũng biết được rằng trong xã hội VN hiện nay, không phải ai cũng nghĩ về linh mục Đắc Lộ và CQN của ông như anh. Anh có quyền vinh danh lịnh mục Đắc Lộ, anh có quyền vinh danh Phép Giảng Tám Ngày nhưng anh không được nhân danh dân tộc VN vinh danh nhừng người anh đang phấn đấu vinh danh như anh đã khắc lên bia đá “ CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN”.

5. Vừa rồi anh nói trên Net: “Đà Nẵng không đặt thì ở Quảng Nam sẽ đặt tên đường hai vị”. Anh là Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân chứ đâu phải HĐND tỉnh Quảng Nam mà có thể khẳng định như vậy? Mà nếu là tỉnh Quảng Nam đi nữa thì tỉnh Quảng Nam đâu có thể vượt qua được chủ trương của nhà nước Việt Nam: “Điều 10, Khoản 5 về Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng như sau:

“Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì chưa xem xét đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng”.

Alexandre de Rhodes là một người có công với Vatican mà có tội với dân tộc Việt, rắc rối như thế làm sao HĐND tỉnh Quảng Nam có thể chọn ông để đặt tên đường được chứ! Nhà thơ, ca sĩ Nguyễn Đăng Hưng mới lãng mạn như thế chứ không phải ông Giáo sư Vật lý phá vỡ ở Bỉ!

6. Có lẽ anh đã cảm thấy bị hố nên anh lại viết lại trên FB rằng “Đặt tên đường hay không đâu quan trọng, bởi trong tâm tưởng người Việt, với nết nghĩ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” vẫn có Alexandre de Rhodes, bởi chữ quốc ngữ từ ông hiện hữu đang được dùng mỗi ngày”.

Anh lại sai nữa rồi. “Đặt tên đường hay không đâu quan trọng” thế thì anh – một trong những người cổ vũ cho TP. Đà Nẵng lấy tên hai linh mục Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes đặt tên đường phố làm gì để gây nên cuộc tranh luận gây mất đoàn kết đang diễn ra như hiện nay? Anh dẫn đoàn đi Iran vinh danh Đắc Lộ, vinh danh Phép Giảng Tám Ngày, việc Quảng Nam tổ chức Hội thảo CQN, chuyện Quảng Nam thiết kế xây dựng công viên Dinh trấn Thanh Chiêm CQN có ai chính thức phản đối gì đâu. Anh viết: “Bởi trong tâm tưởng người Việt, với nết nghĩ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” vẫn có Alexandre de Rhodes bởi chữ quốc ngữ từ ông hiện hữu đang được dùng mỗi ngày”. Nhận thức của anh trên đây có hai điều sai:

6.1. Giáo sĩ Đắc Lộ có làm ra CQN đâu, ông ta chỉ là người cóp của các Thừa sai Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Francisco de Pina. Cóp xong rồi hủy hết tất cả di cảo mà ông đã sử dụng của các tác giả từng là ân nhân, là thầy của ông để dành cái quyền làm chủ CQN độc nhất là Alexandre de Rhodes? Khối di cảo đó rất lớn mới giúp cho Alexandre de Rhodes khai thác làm nên công trình Tự điển Việt Bồ La, làm sao có thể mất được? Tại sao anh không lên án Alexandre de Rhodes về hành vi hủy di cảo CQN của những người đi trước như đã đề cập mà chỉ vinh danh Alexandre de Rhodes là sao?

Anh sống ở TP HCM lâu chắc anh biết học giả An Chi. An Chi đã giải thích công việc anh đang theo đuổi là:
“Cái tâm lý đòi dân ta phải mang ơn A.de Rhode chẳng qua là hậu quả của sự nhồi sọ mà bọn thực dân Pháp đã thực hiện trong thời kỳ chúng còn cai trị dân ta, nước ta. Ngoài ra, còn có thể có cả những nguyên nhân khác thuộc tâm thức riêng, và cả…tín ngưỡng riêng nữa”.
“Người ta thì làm cuốn tự điển để tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền đạo của người ta mà mình thì cứ nằng nặc đòi người Việt Nam phải ghi công ông cố đạo Alexandre de Rhode, thậm chí có người mà lòng biết ơn cụ cố còn làm tượng nặng đến 43 tấn”. (Theo antg.cand.com.vn)

6.2. Anh xem thử CQN trong đời sống với công nghệ 4.0 hiện nay có bao nhiêu phần trăm CQN có trong Tự điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của Đắc Lộ? Có ít nhất 70% đến 80% từ Hán Việt (chữ Nho). Ví dụ “Công trình nghiên cứu chữ quốc ngữ” (cụm từ 1) của anh gồm 7 từ, chỉ có 1 từ (chữ) Việt và có đến 6 từ do cha ông chúng ta đã sử dụng Hán Việt (chữ Nho), 6 từ nầy không thể có trong Tự điển Việt Bồ La của Đắc Lộ. “Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng tham gia Hội thảo Khoa học về Chữ Quốc Ngữ” (cụm từ 2) có 15 từ, chỉ có 2 từ Việt (về, chữ) còn có đến 13 từ Hán Việt (chữ Nho).

Chữ viết trong đời sống của chúng ta hiện nay như thế đấy. Tại sao anh không nhớ những người làm ra 6 từ trong cụm từ 1 và 13 từ trong cụm từ 2 ấy mà chỉ nhớ người chép mấy từ “chữ”, “về chữ” trong Tự điển của Đắc Lộ mà thôi? Anh có biết sách Danh Từ Khoa Học của cụ Hoàng Xuân Hãn ra đời năm 1942, đã được Hội Khuyến Học Nam Kỳ tặng thưởng từ năm 1943 không? Quyển sách “Danh từ khoa học” của cụ Hoàng Xuân Hãn viết năm 1942 bàn về việc “nhập khẩu” thuật ngữ khoa học, ở đó có các chỉ dẫn hữu ích để chọn cách tạo ra từ ngữ mới khi dịch.

Nếu trước đây không có Danh Từ Khoa Học của Hoàng Xuân Hãn anh có học Toán, học khoa học bằng tiếng Việt được không? Anh có biết Cái học ban đầu đưa anh lên lấy bằng Tiến sĩ vật lý sao anh không nhớ? Cái quả CQN ngày nay chúng ta đang sử dụng là một công trình góp công góp sức của biết bao người qua hàng trăm năm, các nhà Nho không tên tuổi, các ông Trương Vĩnh Ký với Gia Định Báo, Huỳnh Tịnh Của với Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đông Kinh Nghĩa Thục, Nhóm Đông Dương Tạp Chí, Nguyễn Văn Vĩnh, Nhóm Nam Phong Tạp Chí, Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Tường Tam với Tự Lực Văn Đoàn, Hồ Chí Minh, Phong trào Bình Dân Học Vụ, Phạm Văn Đồng, Nhóm Giáo sư trường Khải Định (sau năm 1956 lấy lại tên Quốc Học) và trí thức Huế (như Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn.v.v.), Nguyễn Bạt Tụy, Trương Văn Chình, Lê Ngọc Trụ, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Trung,.v.v. Anh chỉ vinh danh Đắc Lộ – người làm ra công cụ truyền giáo là vô ơn bội nghĩa với những người đã góp công xây dựng nên CQN cho dân tộc ngày nay.

7. Có lẽ đến hôm nay anh đã được đọc nhiều bài viết về linh mục Đắc Lộ và Lịch sử CQN của ông mà trước khi nhận chức Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân anh chưa đọc. Và chắc anh cũng không ngờ chuyện linh mục Đắc Lộ trước đây nó đã dữ dội đến như vậy và đang diễn ra trên mạng xã hội rầm rộ đến như vậy.

Có người gọi tôi: “Ông X. ơi, chuyện Đắc Lộ tôi tưởng đã giấu được rồi để lo chuyện thời sự, ai ngờ ông Giáo sư Việt kiều Bỉ Nguyễn Đăng Hưng xới lại, phát hiện thêm được nhiều thông tin thú vị quá: Chuyện ông Đắc Lộ xin nước Pháp cấp cho ông nhiều binh sĩ để ông lên đường chinh phục toàn cõi phương Đông, chuyện Lời thề của các giáo sĩ Dòng Tên trước Giáo Hoàng ghê quá. Nhiều giáo dân không thể tưởng tượng được các vị Thừa sai Thiên Chúa giáo truyền bá đạo Chúa vào VN bằng cuốn Phép Giảng Tám Ngày kinh khủng đến như thế!”.
Chắc cũng đã có người gọi điện thoại thông tin đó đến anh phải không?

Anh Hưng ơi! Thật tình tôi không muốn nói chuyện nầy: Đã và sẽ, không những người ta đưa ra nhiều thông tin mới (hoặc cũ nhưng ít người biết) về linh mục Đắc Lộ và CQN của ông mà còn lôi ra nhiều thứ nữa như những trường hợp Thực dân Pháp và Thiên Chúa giáo cấu kết với nhau chiếm đất, cướp chùa, phá tượng Phật Việt Nam, về Trần Lục (Cha Sáu) kéo 5.000 giáo dân triệt hạ căn cứ chống Pháp ở Ba Đình, lôi ra các tên tuổi làm gián điệp cho Pháp và đặc biệt là nhắc lại lịch sử Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914) v.v.. Và tôi tin chắc với phương tiện in ấn dễ dàng và mạng xã hội phổ cập hiện nay, trong tương lai sẽ còn nhiều tham luận, nhiều tranh luận, nhiều sách của những người ủng hộ việc vinh danh linh mục Đắc Lộ của anh và những người hạch tội linh mục Đắc Lộ.

Việc vinh danh linh mục Đắc Lộ hay lên án ông cho đến nay không có gì mới. Chỉ xuất hiện những người viết mới thôi. Điều mà những người tử tế trách anh là anh không nắm rõ vấn đề, anh vinh danh linh mục Đắc Lộ hay ho đâu chưa thấy mà lộ ra bao chuyện không hay về Đắc Lộ và những gì liên quan đến ông. Anh không để cho ông nằm yên bên Iran mà lôi ông về VN làm chi để cho thiên hạ nhắc lại những điều không hay dành cho ông đã diễn ra trước đây và đang được bổ sung hiện nay. Từ nay cho đến nhiều đời sau nữa, tên GS Nguyễn Đăng Hưng – Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân, Tp. Đà Nẵng luôn gắn với linh mục Đắc Lộ. Không biết nên buồn hay nên vui anh Hưng hè?

Chuyện linh mục Đắc Lộ và CQN của ông (chứ không phải CQN của VN ngày nay) còn có thể trao đổi tiếp nhưng dù sao cũng phải tạm dừng ở đây. Nếu anh thấy chưa thỏa đáng lại sẽ trao đổi tiếp.

Tôi gởi lại anh lá thư anh đã vội gởi cho tôi: “Nếu nhầm lẫn thì xin lỗi và im lặng”. Tôi gởi lại để anh thấy tôi hay anh nên thực hiện nội dung lá thư ấy. Tôi chờ quyết định của anh.

Chúc anh “Rày hằng ngày dùng đủ”.
Thân chào anh.
Huế, Mùa Noel 2019. Nguyễn Đắc Xuân.
===
Đọc đầy đủ ở đây: https://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=7421

Ảnh: Đại ân nhân nào? Dân tộc nào tạ ơn?
Một nhóm lưu vong và một nhúm vong nô trong nước không được tiếm danh dân tộc!

9) Kết luận: Sự gạn đục khơi trong nên lưu danh ông Alexandre de Rhodes trên viên tảng đá tưởng nhớ đặt tại công viên Tao Đàn và bảo lưu tên đường Alexandre de Rhodes (là đường Paracels, sau là đường Colombert, sau đổi là Alexandre de Rhodes; đổi là đường Thái Văn Lung và đến năm 1993 ông Võ Văn Kiệt cho đổi lại tên Alexandre de Rhodes) để ghi nhớ công lao đối với người đã phát minh ra chữ Quốc ngữ.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và học Cây Lương thực Dạy và HọcTình yêu cuộc sống Kim on LinkedIn Kim on Facebook KimTwitter  hoangkim vietnam