Lênh đênh cửa Thần Phù

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

LÊNH ĐÊNH QUA CỬA THẦN PHÙ
Khéó tu thì nổi vụng tu thì chìm
Nhớ ca dao người Việt cổ
Hoàng Kim nơi xưa cảm đề

Cao Sơn thăm chốn cũ
Tràng An bao đổi thay
Minh Không thầy hái thuốc
Lững lờ mây trắng bay.

Trước khi lên Yên Tử
Vua Trần vào ở đây
Động thiêng trong núi thắm
Hạ Long cạn nơi này.

Hoa Lư, Tứ giác nước
Kẽm Trống, Dục Thúy Sơn,
“Quá Thần Phù hải khẩu”
Nhớ Nguyễn Trãi Ức Trai.

Đinh, Lê vùng khởi nghiệp
Lý, Trần, Nguyễn …vươn dài
Kỳ Lân trời bảng lãng
Hoàng Long sông chảy hoài.

Sông Hoàng Long sông Hoàng Long
Nguồn nước yêu thương chảy giữa lòng
Bái Đính Tràng An nôi người Việt
Cao Sơn thăm thẳm đức Minh Không.

Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/song-hoang-long/ https://hoangkimlong.wordpress.com/2019/10/31/lenh-denh-qua-cua-than-phu/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook; Kim on Twitter

Nghiên cứu Kinh Dược Sư


Hoang Kim

YenTuKinhDuocSu

NGHIÊN CỨU KINH DƯỢC SƯ
Hoàng Kim

“Việc lớn đời người không gì lớn hơn Sống và Chết, mà vấn đề rất khó giải quyết cũng chỉ có sống chết mà thôi”. Đại lão hòa thượng Pháp chủ Thiền sư Thích Phổ Tuệ ấn chứng và căn dặn tôi nên dành thời gian nghiên cứu Kinh Dược Sư khi đã có một nền tảng sinh học căn bản và sự yêu thích trọn đời sống giữa thiên nhiên…

Bảy ngày đêm tỉnh lặng, tôi đã nhìn thấy sự bình tâm và an nhiên xuất hiện.  Nhìn đúng và nghe đúng là nền tảng của toàn bộ lối sống đúng. Tôi bắt đầu nghiên cứu Kinh Dược Sư lắng nghe bằng tim, lọc thanh âm bằng tai, nhìn bằng mắt, nghĩ bằng đầu. Có điều gì vui hơn khi tuệ học trị bệnh cứu người giúp đời lúc đã có một chút căn cơ học vấn nghề nghiệp về khoa học cây trồng và văn hóa giáo dục.

Đức Thánh Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm uy nghi, trầm tư, tỉnh lặng, khai mở trí huệ …

TranHungDao1
TranHungDao2
TranHungDao3

Kinh Dược Sư ở chùa Thắng Nghiêm

(…)

Hoàng Kim

Video yêu thích
Tuyển Tập Hòa Tấu Saxophone Trữ Tình Hay Nhất
The Best of Classical Music – Mozart, Beethoven, Bach, Chopin…
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter



Đùa vui cùng Thuận Nghĩa

Đùa vui cùng Thuận Nghĩa

ĐÙA VUI CÙNG THUẬN NGHĨA
Hoàng Kim

Ta về lại thăm rừng xưa Thuannghia
Chuyện cùng Lão Phu đàm đạo Thần Thông
Thập nhị nhân duyên mười hai tuyệt kỹ
Khả năng thích nghi năng lực siêu phàm

Tha tâm thông hiểu hành vi người khác
Thiên nhãn thông nhìn thấu suốt nơi xa
Thiên nhĩ thông nghe những lời kín tiếng
Khinh công thông nhanh gió dục mây vần

Thủy thượng phiêu lướt bay trên mặt nước
Tâm thức chuyển di thoắt ở thoắt về
Huyền nhiệt luyện ngọn lửa thiêng Tam muội
Lôi hỏa điện thân phát điện ngàn vôn

Thiết bố sam luyện mình đồng, thân sắt
Sư tử hống tiếng gầm chúa sơn lâm
Truyền âm nhập mật thâm sâu thấu tỏ
Năng lực thích nghi bí ẩn sinh tồn

Ta chợt thấu những chuyện đời khó giải
Tình thế Biển Đông tiến thoái lưỡng nan
Mèo vờn chuột thuận thiên và kế hiểm
Bức tranh nhân gian thiện ác khó bàn.

Ta về lại rừng xưa cùng Thuannghia
Gặp Lão Phu múa gậy dưới trăng rằm
Thuận thời Càn Khôn, Hàm Hằng chính đạo
Kí Tế xong rồi, Vị Tế chưa xong …

Thích Tiếu Ngạo Giang Hồ qua bể ái
Cưỡi hạc tung tăng chơi chốn Bồng Lai
Thung dung cuộc đời, thảnh thơi trời đất
Vô sự an nhàn sống giữa thiên nhiên.

Thích cùng lão
dạo chơi VÔ PHƯƠNG CÚ
Dấu chân hoang
Thong thả lạc non ngàn
Chẳng e ngại chông chênh hay tâm bão
Bởi tâm hồn tĩnh lặng thật an nhiên

Hoa của Đất
duyên may còn sức khỏe
Nẻo Âm Dương xin Bụt ước ba điều
Con và cháu
thêm ba nguồn trí huệ
Ngọc cho đời
Thành Phước Đức cho Dân

Tâm an định
nên lòng không vướng bận
trí an hòa xử thế thật thung dung
khi kho báu
trong lòng ta đã rõ
chẳng Ưu Tư mặc gió dục mây vần

dẫu như vậy
đôi khi bâng khuâng hỏi
cửa Thần Phù
khéo giữ trọn đường tu
lênh đênh nước
lênh đênh con thuyền nhỏ
chốn nhân gian ước được thế nhân phù.

những lúc ấy
mới hay duyên tiền định
trong thâm tâm
mới tỏ sự luân hồi
luật Nhân Quả
lật Sách Trời gạn hỏi
Mới hiểu đời học mãi vẫn chưa thôi

Vô Phương Cú
Câu thơ thần tĩnh lặng
Vòm trời xanh
thăm thẳm một thinh không
Ta chợt ngộ
Ban mai chào trước ngõ
Bình minh lên
Trời đất thật VÔ CÙNG…

Xem tiếp:https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dua-vui-cung-thuan-nghia/

https://hoangkimlong.wordpress.com/2013/11/07/dua-vui-voi-thuan-nghia/?fb_action_ids=10200851247345

Chớm Đông

CHỚM ĐÔNG
Hoàng Kim  
Phương Nam nắng ấm suốt ngày
Chớm đông mà ngỡ tiết này là xuân
Dẫu rằng xuân đến tự xuân
Biết chăm tưới mát để mầm nõn xanh

Ngày vui làm chuyện an lành
Đừng ham thế sự đành hanh việc người
Trạng Trình thỏa chí rong chơi
Vịnh mùa Đông lão mai cười gió Đông

Chớm Đông nhớ tiết Đông phong
Phương Nam trời ấm, lòng không gợn buồn.

xem tiếp
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/24-tiet-khi-lich-nha-nong/

Chớm Đông là tiết Lập Đông trong 24 tiết khí lịch nhà nông. thường bắt đầu khoảng ngày 7 hay 8 tháng 11 dương lịch tùy theo từng năm khi khi Mặt Trờixích kinh 225°. Tiết khí đứng ngay trước Lập đông là Sương giáng và tiết khí kế tiếp sau là Tiểu tuyết. Ý nghĩa của chớm Đông là bắt đầu mùa Đông.

Trong văn chương Việt có bài thơ hay ‘Cây thông’ và ‘Vịnh mùa Đông’ đặc sắc của Nguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống  và một số bài đối họa thú vị về chủ đề này.

CÂY THÔNG 

Nguyễn Công Trứ

Ngồi buồn mà trách ông xanh.
Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người.
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời vách đá cheo leo.
Ai mà chịu rét thì trèo với thông

VỊNH MÙA ĐÔNG

Nguyễn Công Trứ

Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng,
Chẳng vì rét mướt bỏ mùa đông.
Mây về ngàn Hống đen như mực,
Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng.
Cảo mực hơi may ngòi bút rít,
Phím loan cưỡi nhuộm sợi tơ chùng.
Bốn mùa ví những xuân đi cả,
Góc núi ai hay sức lão tùng.

Qua đèo chợt gặp mai đầu suối với những bài thơ về mùa xuân và hoa mai nói đến sự vượt qua tiết đông lạnh giá để đến với mùa xuân ấm dần… Bài thơ ‘Tảo Mai’ của Trần Nhân Tông lưu trong “Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông’ là một kiệt tác , tiếc là đến nay vẫn chưa có bản dịch thơ tiếng Việt hay tương xứng

Tảo mai của Trần Nhân Tông

五出圓芭金撚鬚,
珊瑚沉影海鱗浮。
箇三冬白枝前面,
些一辨香春上頭。
甘露流芳癡蝶醒,
夜光如水渴禽愁。
姮娥若識花佳處,
桂冷蟾寒只麼休。

Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,
San hô trầm ảnh hải lân phù.
Cá tam đông bạch chi tiền diện,
Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.
Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,
Dạ quang như thủy khát cầm sầu.
Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ
Quế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu!

Năm cánh hoa tròn nhị điểm vàng,
[Như] bóng san hô chìm, [như] vảy cá biển nổi.
Cành hoa trắng xóa suốt trong ba tháng đông,
Sang đầu xuân chỉ còn loáng thoáng một vài cánh thơm nhẹ.
Móc ngọt chảy mùi thơm làm chú bướm si ngây tỉnh giấc,
ánh sáng ban đêm như nước khiến con chim khát buồn rầu.
Nếu Hằng Nga biết được vẻ đẹp thanh nhã của hoa mai,
Thì có ưa gì cây quế với cung thiềm lạnh lẽo.

Thơ Việt mới có nhiều bài hay về Chớm Đông. Một số trích đoạn các bài thơ Chớm Đông đặc sắc mà tôi yêu thích hơn cả: Nguyên Đỗ viết những lời thơ Chớm Đông hay đằm thắm “Năm ngoái gặp nhau buổi chớm đông. Sáng nay lành lạnh mặt trời hồng. Chao ơi lại nhớ ơi là nhớ. Lúc cận kề nhau, phút mặn nồng…”.  Khánh Chân tứ thơ Chớm đông thật sang trọng: “Chiều nay gió lạnh chớm sang đông. Héo hắt bên hiên chút nắng hồng.  Mây xám chờ ai ôm chót núi. Sương mờ nhớ bạn trải ven sông…”.  Linda thơ Chớm đông là sự hoài niệm: “Thu đã tàn rồi trời chớm Đông. Từng cơn gió lạnh buốt qua hồn. Tâm tư ray rứt mùa Thu nhớ. Đâu phút êm đềm thóang ước mong”.

Video nhạc Việt về chớm Đông có nhiều bài hay . “Nỗi nhớ mùa Đông’ trong NS Phú Quang – Những ca khúc hay nhất tôi thường thích nghe lại. Mời bạn cùng thưởng thức dưới đây.

Hoàng Kim chớm đông thơ và bình, đôi lời cảm nhận.

(*) Xem thêm:
24 tiết khí lịch nhà nông
Hoàng Gia Cương blogNguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống

Việt Nam con đường xanh

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Hoàng Kim

điểm tin và bình luận
Sự đi tới hiệu quả
ThaiBinh Seed tiếp nhận bản quyền 4 giống lúa Báo Nông nghiệp Việt Nam đưa tin: Ngày 22/10, tại Thái Bình, dưới sự chứng kiến của Thứ trưởng NN-PTNT Lê Quốc Doanh, Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm đã ký hợp đồng ủy quyền độc quyền sản xuất, kinh doanh 4 giống lúa BC15 kháng đạo ôn, Bắc thơm 7 kháng bạc lá, Gia Lộc 97 và Gia Lộc 25 cho Tập đoàn ThaiBinh seed, Trong đó, Gia Lộc 97, Gia Lộc 25 là hai giống lúa thuần do Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm nghiên cứu chọn tạo; giống lúa BC15 kháng đạo ôn, Bắc thơm 7 kháng bạc lá là sản phẩm hợp tác giữa hai đơn vị sau 2 năm ký kết nghiên cứu khoa học Thông tin xem tiếp tại Báo NNVN.

anh Chin Duong đưa tin: [BDNG-231019] Ông Dmitrijus Gubanovas và Ông Kamil Adamek thuộc công ty CENOS ( Ba lan ) đến thăm Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Định Thành ( DTARC) và Công ty Thoại Sơn ( Công ty TNHH 1 TV lương thực Thoại Sơn ) vào chiều ngày 21/10/2019 . Đoàn đã tìm hiểu về hoạt động nghiên cứu khoa học , sản xuất lúa gạo theo chuỗi giá trị trên nền tảng bộ tiêu chuẩn quốc tế SRP , tham quan đồng ruộng nông dân và nhà máy chế biến lúa gạo hiện đại của Lộc Trời tại Thoại Sơn . Mục đích của đoàn là mong muốn tìm nguồn gạo tốt để nhập khẩu về thị trường châu Âu sau khi hiệp định thương mại Việt nam – EU có hiệu lực Công ty CENOS sẵn sàng đặt hàng trước nửa năm cho Lộc Trời để tổ chức sản xuất lúa gạo một cách chủ động; xem tiếp bài cùng chủ đề https://hoangkimlong.wordpress.com/…/viet-nam-con-duong-xa…/.

Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Khoa Nông học Thư mời (mời đọc chi tiết tại hình ảnh kèm theo) Hội dung: Họp mặt truyền thống các thế hệ Giảng viên, sinh viên, học viên Khoa Nông học, Chuẩn bị kỷ niệm 65 năm thành lập Khoa, Giao lưu với các thế hệ Cán bộ viên chức, Giảng viên, cựu Sinh viên/học viên/NCS và Sinh viên/học viên /NCS. Thời gian:8:00 -14:00 ngày 19 tháng 11 năm 2019. Địa điểm Trại Thực nghiệm Khoa Nông Học. Trưởng khoa (đã ký) TS Võ Thái Dân (Thư mời đăng tải trên website của Khoa là lời mời chính thức tới quý Thầy Cô và Anh/Chị).

Chúc mừng TS Nguyễn Phương, TS Võ Thái Dân, ThS. Hồ Tấn Quốc, ThS Nguyễn Thị Thanh Duyên, ThS. Nguyễn Tuyết Nhung Tường và đồng sự 2019 “Nghiên cứu tạo giống ngô đường lai đơn F1 phục vụ cho sản xuất khu vực Đông Nam Bộ”. Mã số B2017 NLS 11. Đề tài thật tốt. Quý Thầy bạn đang dần làm cho kết quả nghiên cứu bắp ngọt Nông Lâm sớm mang lại niềm vui cho nhiều người dân . — cùng với Phạm Văn HiềnToan Pham. Thông tin và video giới thiệu tại đây.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Đình Phùng trao giải nhất cho TS Nguyễn Thị Trúc Mai (thứ hai từ phải sang) và các tác giả khác tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật lần thứ 8 (2018-2019). Ảnh: H.H.THẾ , Tiến sĩ Trúc Mai nghiên cứu thành công giống sắn mới, Người tâm huyết với cây sắn và lúa, vừa đạt giải Nhất  Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Phú Yên lần thứ 8 (2018-2019) tổ chức tại Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật tỉnh,về giải pháp “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn năng suất tinh bột cao và kỹ thuật thâm canh tại tỉnh Phú Yên”. Sản phẩm của giải pháp này là giống sắn KM419 trở thành giống sắn chủ lực cho tỉnh Phú Yên từ năm 2016 đến nay với quy trình kỹ thuật có mật độ trồng và công thức bón phân thích hợp cho sự thâm canh giống sắn KM419 trong cơ cấu thời vụ thu hoạch rải vụ của vụ Xuân kết hợp vụ Hè tại tỉnh Phú Yên để nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà máy chế biến tinh bột sắn và thu nhập của nông dân. Giống sắn KM419 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận tại Quyết định số: 85/QĐ-BNN-TT, ngày 13/01/2016, các tác giả giải pháp là tác giả của KM419. Một số biện pháp kỹ thuật thâm canh rải vụ sắn tối ưu cho giống sắn KM419 tại tỉnh Phú Yên đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất; đã được Cục Trồng trọt công nhận tại Quyết định số 208/QĐ-TT- CLT, ngày 27/5/2016,  các tác giả giải pháp là tác giả của quy trình kỹ thuật.

Dưới đáy đại dương là ngọc
Việt Nam con đường xanh

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Ngẫm thơ ngoài ngàn năm

NGẪM THƠ NGOÀI NGÀN NĂM
Hoàng Kim

“Ngưòi trước chẳng thấy ai. Người sau thì chưa thấy. Gẫm trời đất thật vô cùng. Riêng lòng đau mà lệ chảy”. “Bài ca lên đài U Châu” thơ Trần Tử Ngang, người dịch Tương Như là tác phẩm văn chương thơ ngoài ngàn năm của bậc kỳ tài.  Trong văn chương Việt, khi đọc bài kệ “Cáo tật thị chúng” của thiền sư Mãn Giác, “Mài kiếm dưới trăng” của tráng sĩ Đặng Dung và đọc thơ Nguyễn Du, ta đều cảm nhận thấy sự ung dung, an nhiên tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử… và đều có nỗi buồn man mác.Một người tốt muốn dấn thân nhưng còn bao điều kiện cần phải cố gắng vượt lên hoàn cảnh và vận mệnh. Đấy có thể là điều để hiểu thơ Trần Tử Ngang chăng? xem tiếp bài viết, hình ảnh và thư pháp tại đây https://hoangkimlong.wordpress.com/2019/10/19/ngam-tho-ngoai-ngan-nam/

trantungang1

Trần Tử Ngang cuộc đời và sự nghiệp

Trần Tử Ngang( 661 – 702) là nhà thơ có địa vị trọng yếu trên thi đàn thời Sơ Đường. Ảnh hưởng của ông rất lớn đối với thi ca thời Thịnh Ðường cũng như phong trào vận động cổ văn thời Trung Ðường. Ông có tên tự là Bá Ngọc, người đất Xạ Hồng, phủ Từ Châu (hiện là tỉnh Tứ Xuyên ). Ông đậu tiến sĩ lúc 24 tuổi năm 684 (đời Đường Trung Tông) làm đại quan trong triều Võ Tắc Thiên với chức Lan đài chính tự sau đó đổi làm chức Tả thập di.

trantungang2

Phong cách thơ của ông xuất chúng, ngụ ý sâu xa. Trần Tử Ngang thời niên thiếu gia đình tương đối giàu có, coi nhẹ tiền bạc, khẳng khái. Sau khi trưởng thành, ông quyết tâm học, giỏi viết văn; đồng thời quan tâm quốc sự , quyết lập công tích về chính trị. Ông thường dâng sớ điều trần về đại kế quốc gia nhưng không được Vũ hậu nghe theo. Vũ hậu là người mưu lược, cương nghị, quyền biến, tâm cơ. Bà không từ một thủ đoạn nào để mua chuộc, lôi kéo hoặc thẳng tay triệt hạ những người tài giỏi thuộc vây cánh của đối phương nhằm thâu tóm quyền lực, Dưới thời của bà những người tài không thuộc bè phái thường bị nguy hiểm.

trantungang3

Giai thoại đập đàn của Trần Tử Ngang

Trần Tử Ngang có giai thoại nổi tiếng về việc đập đàn. Lần đầu tiên đến Trường An, ông không được một ai biết đến. Ông liền bỏ ra một ngàn quan tiền, mua một cây đàn hồ cầm rất quí, rồi mời mọi người đến dự tiệc, nghe nhạc.

Khi moi người tề tựu đông đủ và háo hức chờ nghe nhạc. Ông đứng lên nói: “Tôi là Trần Tử Ngang người đất Thục, có trăm quyển văn, rong ruổi kinh sư, mà địa vị vẫn tầm thường giữa nơi bụi bậm, không ai biết đến. Nhạc này là của kẻ thơ hèn đâu đáng lưu tâm?

trantungang4

Nói đoạn, ông đập tan cây đàn hồ cầm rất quý trước sự sững sờ, kinh ngạc của nhiều người. Kế đó, ông đem các cuốn văn ra tặng cho cử tọa. Trong một ngà,y danh tiếng của ông chấn động khắp kinh thành, mọi người ai ai cũng đều biết tiếng.

Năm 24 tuổi, Trần Tử Ngang với văn tài xuất chúng đã thi đậu tiến sĩ và được Võ hậu hết sức nể phục tài năng. Luận về thơ, ông nói: “Làm thơ là để gởi tấm lòng vào thiên cổ chứ đâu phải để lưu danh nhất thời”.

Quả nhiên, những tuyệt phẩm thơ của Trần Tủ Ngang mười ba thế kỷ sau, đến nay vẫn còn tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực của nhiều người. Trung Quốc hiện có nhiều địa chỉ web về Trần Tử Ngang , bạn có thể tìm trên Google tại từ khóa 陳子昂 (Trần Tử Ngang).

trantungang5

Trần Tử Ngang thơ ngoài ngàn năm

Bài ca lên đài U Châu
Trần Tử Ngang thơ ngoài ngàn năm “ Ngưòi trước chẳng thấy ai / Người sau thì chưa thấy / Gẫm trời đất thật vô cùng / Riêng lòng đau mà lệ chảy ”. Tương Như dịch

Đăng U Châu Đài Ca

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Ðộc sảng nhiên nhi thế hạ.

Trần Tử Ngang
* U châu : nay là Bắc Kinh

trantungang6

Dịch nghĩa :

Bài ca lên đài U Châu

Trông lại trước không thấy người xưa ;
nhìn về sau, không thấy kẽ mới đến.
Nghĩ nổi trời đất lâu dài man mác,
một mình bùi ngùi rơi lệ.

Bài ca lên đài U Châu

Ngoảnh lại trước, người xưa vắng vẻ
Trông về sau, quạnh quẽ người sau
Ngẫm hay trời đất dài lâu
Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.

Trần Trọng San dịch

trantungang7

Trước chẳng thấy người xưa,
Sau chẳng thấy ai cả.
Ngẫm trời đất thăm thẳm sao!
Riêng xót xa lệ lã chã.

Trần Trọng Kim dịch

trantungang8

Bài ca lên đài U Châu

Trước không gặp được người xưa
Sau không gặp được kẻ chưa ra đời
Mênh mang ngẫm lẽ đất trời
Một mình để giọt lệ rơi bùi ngùi

Cao Nguyên dịch

Suy ngẫm về thơ Trần Tử Ngang

Lên núi cao ngắm biển trời để thấu hiểu sự mênh mang vô cùng của trời đất, lẽ huyền vi của tạo hóa, sự thịnh suy được mất của các triều đại, sự biến dịch của nhân quả, sự ngắn ngủi hữu hạn của kiếp người. Điều đó đã được nhiều người trãi nghiệm…

Chúng ta đọc thêm hai bài thơ nữa của Trần Tử Ngang để hiểu rõ hơn về ông:

Kế khâu lãm cổ

Nam đăng Kệ Thạch quán,
Dao vọng Hoàng Kim đài.
Khâu lăng tận kiều mộc
Chiêu Vương an tại tai
Bá đồ trướng dĩ hĩ,
Khu mã phục quy lai.

Gò Kế xem cảnh năm xưa

Trèo lên Kệ Thạch quán nam,
Xa xa trông ngóng Hoàng Kim có đài.
Cây cao phủ hết quanh đồi.
Vua Chiêu ngày trước nay thời nơi nao?
Cơ đồ bá chủ còn đâu!
Nhớ ai đánh ngựa ta âu lại về.

Tản Đà dịch

Nhị cú tam niên đắc
Nhất ngâm song lệ lưu
Tri âm bất tương thức
Quy ngọa cố sơn thu
(Trần Tử Ngang)

Ba năm làm được hai câu
Ngâm lên một bận dòng châu tuôn trào
Tri âm chẳng hiểu lòng nhau
Xin về núi cũ nằm khào nhớ thu
(Vũ Đức Sao Biển dịch)

Hai câu thơ ba năm làm mới được
Ngâm lên rồi bất giác lệ tuôn rơi
Hỡi tri âm, lòng nhau sao không hiểu
Chốn non xưa về ngắm mây trời.
(gamai dịch lại)

trantungang9

Tôi duyên may năm 17 tuổi được Lên đỉnh đèo Ngang ngắm biển ; Thăm đèo Ngang gặp bác Xuân Thủy; Qua đèo chợt gặp mai đầu suối; sớm tiếp xúc với Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ. Nơi cổng Trời “Hoành sơn cổ lũy” đèo Ngang gánh hai đầu đất nước, tôi đã từng trầm tư cảm khái về “Bài ca lên đài U Châu” của Trần Tử Ngang và bài thơ thần của Hồ Chí Minh viết lúc 5 tuổi (mà sau này linh ứng với “vũng Chùa, biển Đông, đường lưỡi bò”):”Biển là ao lớn/ Thuyền là con bò/ Bò ăn gió no/ Lội trên mặt nước/ Em nhìn thấy trước/ Anh trông thấy sau/ Ta lớn mau mau/ Vượt qua ao lớn.” Chợt dưng, tôi thấu hiểu sự ứng xử thung dung, sâu sắc của Võ Đại tướng “Chốn non xưa về ngắm mây trời“, là trí tuệ bậc Thầy.

Chào ngày mới yêu thương
HK
Khoác thêm tấm áo trời se lạnh
Đông tàn xuân tới đó rồi em
Phúc hậu mỗi ngày chăm việc thiện
Yêu thương xa cách hóa gần thêm.

Minh triết sống thung dung phúc hậu, yêu thương,  an nhiên tự tại, thấu suốt lẽ sinh tử là cốt lõi tỉnh thức để hiểu sử thi, thơ ngoài ngàn năm và giác ngộ.

Ngẫm thơ ngoài ngàn năm Trần Tử Ngang đêm thiêng đọc lại.

Hoàng Kim
Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/2019/10/19/ngam-tho-ngoai-ngan-nam/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-19-thang-10/. Những hình Trần Tử Ngang và thư pháp trong bài này dẫn theo www.hudong.com

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

Kỉ yếu Nong Lam University

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Thầy bạn trong đời tôi

Thầy bạn trong đời tôi

Cà phê sáng với CNM365
THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim
cám ơn Huỳnh Hồng, Lâm Cúc, Tùy Ngộ Nhi An
https://hoangkimlong.wordpress.com/…/thay-ban-trong-doi-toi/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitte

Quang Dũng thơ gọi nắng

QUANG DŨNG THƠ GỌI NẮNG
Hoàng Kim

Quang Dũng hùng ca Tây Tiến
Tây Bắc chơi vơi nhớ núi nhớ người,
Chu Nhạc ‘chỉ lửa là rất thật‘
Anh và tôi đều thầm lặng nhớ ai.

Quang Dũng thơ gọi nắng
như khói như mây mờ ảo nhân tình,
Tây Tiến tiếng vọng thời gian,
Thăm thăm chim chiều tầng trời xa vắng.

‘Tây Tiến’, ‘Đôi mắt người Sơn Tây’,
‘Bố Hạ’,‘Đôi Bờ’, lưu dấu chân anh
như núi như sông bóng hình người lính
hùng vĩ trên nền trời Tây Bắc.

Quang Dũng thơ gọi nắng:
‘Tây Tiến’
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Đôi mắt người Sơn Tây’
‘u uẩn chiều lưu lạc
buồn viễn xứ khôn khuây
Bố Hạ
‘đường về quê hương về quê hương
Không thấy quê hương chỉ thấy đường …

‘Em đã xa rồi, chim gọi nắng
Em còn nghe thấy nữa bao giờ’,
‘Đôi Bờ’

‘Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến
Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai ‘…

Đọc thơ Quang Dũng
càng thấy yêu hơn
Việt Nam đất nước con người.
Thương ‘Con chim xanh’ Chu Nhạc

Con chim xanh trong tán lá xanh
Chỉ một màu xanh lay động
Tiếng hót nào trên trời xanh cao rộng
Con chim xanh bay rồi tán lá vẫn xanh‘.

Nhớ ‘Trăng rằm’ Hoàng Kim
Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm‘.

Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm (1921–1988) là tác giả của những bài thơ hay Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ… Ngoài ra ông còn là một họa sĩ, nhạc sĩ. Quang Dũng quê hương làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, Sơn Tây xưa Hà Nội nay. Trước cách mạng tháng Tám, ông học trung học trường Thăng Long, sau đó dạy học tư ở Sơn Tây và gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trở thành phóng viên tiền phương của báo Chiến đấu. Năm 1947, ông được đi học Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khoá học, ông làm đại đội trưởng ở tiểu đoàn 212, Trung đoàn Tây Tiến. Ông tham gia chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua đất Tây Bắc. Trong thời gian này, ông còn được cử làm Phó đoàn tuyên truyền Lào – Việt. Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, ông làm Trưởng tiểu ban tuyên huấn của Trung đoàn 52 Tây Tiến, rồi làm Trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III. Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các hoạ sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài Ba Vì của ông đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến. Ông làm bài thơ Tây Tiến năm 1948 khi dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III tại làng Phù Lưu Chanh (Hà Nam). Tháng 8 năm 1951, ông xuất ngũ. Sau 1954, ông làm Biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.  Ông bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, và lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Thơ của ông bị phê bình trên báo chí miền Bắc lúc đó là mang hơi hướng “tiểu tư sản”, thiếu tính chiến đấu, còn ở miền Nam thì được xuất bản và phổ biến rộng rãi và được nhiều người yêu thích. Về sau này, như những nhà thơ lớn khác, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh,… ông mai một và mất đi trong âm thầm.

Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 sau một thời gian dài đau ốm tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội. Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Hiện nay tại trường PTTH xã Đan Phượng (quê ông) có đặt một bức tượng bán thân Quang Dũng trong trang phục người lính Tây Tiến.

Quang Dũng là nhà thơ tài hoa, vẽ giỏi, hát hay. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc), Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờĐôi mắt người Sơn Tây), Kẻ ở (Cung Tiến phổ nhạc). Đặc biệt bài thơ Em mãi là 20 tuổi được 3 nhạc sĩ phổ nhạc khác nhau (Việt Dũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương). Những tác phẩm tiêu biểu gồm các tập thơ Bài Thơ Sông Hồng (1956), Rừng Biển Quê Hương (1957), Mây Đầu Ô (1986); truyện ngắn Mùa Hoa Gạo (1950); hồi ký Làng Đồi Đánh Giặc (1976)…

Tây Tiến
Quang Dũng

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi !
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Đôi mắt người Sơn Tây
Quang Dũng

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương

Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan.

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em còn bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây

Cho nhẹ lòng nhớ thương
Em mơ cùng ta nhé
Bóng ngày mai quê hương
Đường hoa khô ráo lệ

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh phủ quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
Còn có bao giờ em nhớ ta.

Bài thơ “Bố Hạ” qua Bút tích Quang Dũng đã neo tên quê hương ông và hình bóng em bảng lãng như thực như mơ:

QuangDungbuttichthoBoHa

Bố Hạ
Quang Dũng

Đường về quê hương về quê hương
Không thấy quê hương chỉ thấy đường
Em đã đi trên đường nhựa ấy
Hai mươi năm trước lúa thu vàng.

Đường về quê hương về quê hương
Em mặc áo vàng hay áo tím
Mắt em lơ đãng nhìn chấm mây
Anh vịn thành xe tay trong tay

Đường về quê hương về quê hương
Có một ngày sao mà bất tận…
Hai mươi cây số tưởng vô vàn
Dài đến bây giờ vẫn chứa chan.

Có con chim đậu nhành giây điện
Lại giống ngày xưa chuyện nắng thu
Em đã xa rồi – chim gọi nắng
Em còn nghe thấy nữa bao giờ.

Di sản thơ Quang Dũng ấn tượng nhất với tôi đối với là bài thơ “Tây Tiến”, tác phẩm học trong nhà trường, kế đến là bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây”,”Bố Hạ” và “Đôi Bờ”. Thời lính và tuổi trẻ đi qua, tôi tâm đắc với anh Hoàng Đại Nhân, giáo sư Lê Văn Tố, anh Lê Khánh Thắng và các bạn tôi về ‘Quang Dũng những bài thơ gọi nắng’.

Hoàng Kim
(Lược khảo và biên soạn)

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on Facebook  Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

Phạm Hồng Đức Phước ca cao

PHẠM HỒNG ĐỨC PHƯỚC CA CAO
Hương thời gian đọng mật
Thầy bạn trong đời tôi
Hoàng Kim

Pham HD Phuoc 8 tháng 10 lúc 21:18 ·

“Quy mô còn quá nhỏ nhưng mừng là người Việt đã nắm được kỹ thuật thuộc loại rất phức tạp để chế biến loại nông sản này với chất lượng không thua kém với thế giới: Sản xuất sô cô la từ hạt ca cao Việt Nam. Muốn biết chất lượng sô cô la sản xuất ở Việt Nam bằng nguyên liệu 100% trồng ở Việt Nam như thế nào có lẽ chỉ cần đến chỗ này là đủ. TBros, Bapula, Baria, Marou, Cacao Ken, Alluvia, Savie, Belvie, StoneHill đều có mặt ở cửa hàng này”.


xem tiếp Thầy bạn trong đời tôi
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Video yêu thích
Hãy đi về phía mặt trời
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook Kim on Twitter

Việt Nam con đường xanh

Thầy bạn trong đời tôi 1

VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
Hoàng Kim

Thầy bạn trong đời tôi
DẠY VÀ HỌC trên đồng
HỌC ĐỂ LÀM thành thạo
Việt Nam con đường xanh

Cám ơn Võ Văn Quang, Bích Chi, Thiên Phương và các bạn đã lưu trữ và gửi cho thầy những hình ảnh cảm động của giáo sư Kazuo Kawano với “vua mì nông dân Đồng Nai’ Hồ Sáu trên đồng ruộng của chúng ta, những dấu chân thời gian không thể nào quên.

Giáo sư Kazuo Kawano nói tại bài viết Sắn Việt Nam hôm nay và mai sau (Cassava and Vietnam: Now and Then) : “My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap. I might be a little too positively partial to those friends of mine. Nevertheless, I have a similar feeling toward some of my colleagues in Rayong, Thailand and Nanning, China to count a few. During the two decades of post-war Japan, we seem to have many Japanese of this category as well.” (Mười năm cộng tác chặt chẽ của tôi với các đồng nghiệp chọn giống sắn Việt Nam vào những năm 1987-1997 và cuộc hội ngộ với họ trong chuyến đi này đã thay đổi hoàn toàn đánh giá của tôi về người Việt Nam. Bằng chứng là một loạt các báo cáo của tôi ở đây, họ cần cù, sâu sắc, ân cần và năng động, như thể để thi đua Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi có thể là một phần quá tích cực với những người bạn của tôi. Tuy nhiên, tôi có một cảm giác tương tự đối với một số đồng nghiệp của tôi ở Rayong, Thái Lan và Nam Ninh, Trung Quốc. Trong hai thập kỷ của Nhật Bản sau chiến tranh, chúng ta dường như có nhiều người Nhật thuộc thể loại này)

xem tiếp Cách mạng sắn ở Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cach-mang-san-o-viet-nam/

Giáo sư Reinhardt Howeler nói: Cassava in Vietnam: a successful story

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook KimTwitter  hoangkim vietnam