Cuộc đối chiến Mỹ Trung

CUỘC ĐỐI CHIẾN MỸ TRUNG
Hoàng Kim


Trung Quốc trong thời của Chủ tịch Tập Cận Bình nổi bật là “liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi, một vành đai một con đường“. Trung Quốc ngày nay đang tạo thế lớn Tam Quốc mới trong lịch sử gồm Mỹ Trung Nga Á Âu Phi và quần hùng. Trường Giang sóng sau đè sóng trước, ngọn sóng sau đang cao hơn và dữ dội hơn sóng trước. Trung Quốc ngày nay đã rời bỏ vị thế “ẩn mình chờ thời”  bước ra vũ đài thế giới khẳng định Trung Quốc là một cường quốc của “thời đại mới”, đóng vai trò “trung tâm trên thế giới” nhờ “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” và cho thấy có sự “lựa chọn mới” cho các nước. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình năm 2012 đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”,khẳng định mục tiêu nhất quán, lâu dài, kiên định là theo đuổi cuộc Trường Chính phục hưng Trung Quốc, với chiến lược “Trung Quốc cần nổ lực để các nước láng giềng ngày càng thân thiện hơn về chính trị, có mối quan hệ gần gũi hơn về kinh tế, hợp tác sâu sắc hơn về an ninh, và mối quan hệ ở cấp độ nhân dân cũng gắn bó hơn“.

CUỘC THƯƠNG CHIẾN MỸ TRUNG

Toàn cảnh thương chiến khốc liệt Mỹ – Trung, theo VNN 4 6 19 mô tả cho thấy, cuộc chiến thương mại Mỹ Trung sau 18 tháng đã được đẩy lên đến mức cao nghẹt thở; Sách trắng thương mại Trung Quốc ‘đánh’ Mỹ nặng tay (VNN 4 6 19); Trung Quốc cảnh báo học sinh sang Mỹ du học cần cẩn thận vì mối quan hệ đang xấu đi nghiêm trọng (VNN 4 6 19); Trung Quốc nắm nền tảng sống còn, loạt khí tài tối tân Mỹ ‘lâm nguy’. Đất hiếm một yếu tố quan trọng đối với việc sản xuất các vũ khí tối tân và các sản phẩm công nghệ cao đã trờ một yếu tố át chủ bài trong thương chiến Mỹ Trung của cuộc đua công nghệ kỹ thuật làm chủ không gian. Dự án tiêm kích tối tân F-35 Lightning II thế hệ thứ năm do Mỹ sản xuất có thể trở thành nạn nhân cuộc chiến thương mại đang diễn ra giữa Washington và Bắc Kinh khi các phương tiện truyền thông Trung Quốc đã suy đoán về lệnh cấm bán đất hiếm  để trả đũa thuế quan từ Mỹ. Chính quyền Trung Quốc tuy chưa chính thức tuyên bố họ sẽ hạn chế việc bán đất hiếm cho Hoa Kỳ, nhưng các phương tiện truyền thông, như Nhật báo Nhân dân, đã đề cập đến sự phụ thuộc của Washington vào các khoáng sản quý như vậy từ Trung Quốc, nơi chiếm khoảng 95% sản lượng toàn cầu, theo Bloomberg; Đậu tương cũng đã trở thành thứ vũ khí lợi hại thứ hai của Trung Quốc và nước cờ ngưng nhập khẩu đậu tương Mỹ cũng đã được xuất chiêu sớm nhất để đáp trả ngay sau khi thương chiến tồi tệ Mỹ Trung chưa từng thấy bắt đầu xẩy ra. Trung Quốc là nước nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới, đã ngừng mua đậu tương của Mỹ để đáp trả lại những biện pháp tăng thuế của Chính quyền Tổng thống Donald Trump nhằm vào số hàng hóa trị giá 250 tỷ USD của Trung Quốc. Theo tạp chí National Interest, đây là thông tin rất xấu đối với người nông dân Mỹ. Kết quả, với chiến tranh thương mại Mỹ Trung lên đỉnh điểm thì người dân trồng đậu tương của Mỹ hiện nằm trong số những người thiệt hại nặng nề nhất. Năm 2017, hoạt động xuất khẩu đậu tương của Mỹ chiếm đến 21,4 tỷ USD giá trị xuất khẩu toàn cầu, xếp thứ hai sau Brazil đạt 25,7 tỷ USD. Trong khi đó, năm 2017 Trung Quốc nhập khẩu 39,6 tỷ USD đậu tương, hay 2/3 sản lượng toàn cầu. Đậu tương đã trở thành mặt hàng xuất khẩu giá trị lớn thứ hai của Mỹ sang Trung Quốc, sau máy bay Boeing. Trên thực tế, hàng hóa xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc đã giảm đáng kể từ khi Bắc Kinh áp mức thuế 25% lên đậu tương của Mỹ hồi cuối tháng 4, một phần trong màn đáp trả ban đầu đối với cuộc chiến thương mại với Tổng thống Trump. Trong vụ mùa năm nay bắt đầu từ ngày 1/9, nông dân Mỹ chỉ xuất khẩu 5,9 triệu tấn đậu tương sang Trung Quốc, so với trung bình 29 triệu tấn cùng kỳ suốt ba năm liền trước đó, tức sụt giảm 80%. Chính phủ Mỹ đã phải viện trợ 28 tỷ USD cho nông dân để xoa dịu cú đánh từ Trung Quốc. Điểm khốc liệt thứ ba là lĩnh vực khoa học công nghệ. Khoa học Trung Quốc chiếm ưu thế và nhiều lĩnh vực đến đầu năm 2018 đã sát nút khoa học công nghệ Mỹ. Báo Tia Sáng 4 10 18 tổng hợp thông tin kinh tế kỹ thuật khoa học công nghệ đã cho thấy Trung Quốc hiện chiếm hơn một nửa danh sách 100 viện nghiên cứu đang có bước tiến vượt bậc trong công bố trên các tạp chí có uy tín trên toàn thế giới. Khoa học công nghệ Trung Quốc ngày càng gia tăng tốc độ xuất bản những công bố chất lượng cao. Huawei mua công nghệ Nga trước sức ép nghẹt thở của Mỹ (VNN 4 6 19); Cáp quang biển là động mạch của mạng lưới Internet toàn cầu và Huawei đã dần giành thị phần vốn thống trị bởi các công ty Mỹ, Nhật Bản, châu Âu. Huawei Marine Systems được thành lập năm 2008 như một công ty liên doanh với Công ty Global Marine của Anh.Global Marine của Anh nắm giữ 49% cổ phần của công ty này. Trong năm 2018, Huawei Marine Systems đóng góp cho tập đoàn Huawei doanh thu 394 triệu Nhân dân tệ (khoảng 57 triệu USD) với lợi nhuận ròng 115 triệu Nhân dân tệ (16 triệu USD). Đứng trước nguy cơ bị “chặt tay chân” vì thương chiến Mỹ-Trung, Huawei đã xoay hướng hợp tác với hãng công nghệ Nga. Hãng tin RT của Nga mới đây đã tiết lộ về thương vụ mua quyền sở hữu trí tuệ của các hệ thống nhận dạng khuôn mặt được thiết kế và phát triển, sản xuất bảo mật công nghệ cao Vokord của Nga. Điểm khốc liệt thứ tư là lĩnh vực cán cân thương mại. Hoa Kỳ bị mất cân bằng thương mại cực kỳ nghiêm trọng với Trung Quốc và gia tăng nhanh chóng đến đêm trước của Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ – Trung Quốc 2018-2019. Điểm khốc liệt thứ năm là vị thế so sánh hải quân không quân và cuộc đua tổng lực về khoa học công nghệ làm chủ không gian của Trung Quốc và Mỹ trong tương quan động tổng hợp với nhiều tiêu chí so sánh là rất sát nút..

Chiến tranh thương mại Mỹ Trung khởi đầu vào ngày 22 tháng 3 năm 2018 khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố sẽ áp dụng mức thuế 50 tỷ đô la Mỹ cho hàng hóa Trung Quốc dựa theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, để ngăn chặn những gì họ cho là hành vi thương mại không công bằng và hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ. Danh sách thuế quan trọng tập trung vào các sản phẩm được đưa vào kế hoạch Made in China 2025, bao gồm các sản phẩm liên quan đến CNTT và robot. Nó cho phép tổng thống có thẩm quyền đơn phương áp dụng tiền phạt hoặc các hình phạt khác đối với một đối tác thương mại nếu nó được cho là không công bằng gây tổn hại đến lợi ích kinh doanh của Hoa Kỳ. Vào tháng Tư, Trump đã áp đặt thuế quan đối với hàng nhập khẩu thép và nhôm từ Trung Quốc, Canada và các nước trong Liên minh châu Âu.Ngày 6 tháng 7 năm 2018, Donald Trump cho áp đặt thuế quan đối với hàng hóa trị giá 34 tỷ USD của Trung Quốc, đưa đến việc Trung Quốc đáp lại với các mức thuế tương tự đối với các sản phẩm của Mỹ. Chính quyền Trump cho biết thuế quan là việc cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia và sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp Mỹ, và giúp giảm thâm hụt thương mại của Mỹ đối với Trung Quốc. Trước đó, trong tháng 8 năm 2017, Trump đã mở một cuộc điều tra chính thức về các vụ tấn công vào tài sản trí tuệ của Mỹ và các đồng minh của mình, việc trộm cắp ước tính gây tốn kém cho Mỹ khoảng 600 tỷ đô la một năm.

ĐỘNG THÁI THẾ VÀ LỰC

Cuộc chiến thương mại Mỹ Trung leo thang, chuyển sang đối đầu toàn diện ngày càng nhận diện rõ hơn ‘bóng ma chiến tranh lạnh 2.0’.  Tác giả Mai Nhật Dương trong bài Quan hệ Trung – Mỹ: Bóng ma Chiến tranh lạnh 2.0 (TVN 20 6 19) đã trích dẫn thông tin của Lý Khai Phục (Kai-Fu Lee), một người Mỹ gốc Đài Loan và là Tiến sĩ tốt nghiệp Trường Đại học Carnegie Mellon (Mỹ). Lý Khai Phục là người từng giữ các chức vụ quản lý cao cấp tai Microsoft, Facebook và Google và hiện đứng đầu một quỹ đầu tư chuyên đỡ đầu cho các dự án khởi nghiệp công nghệ cao ở Trung Quốc. Ông được coi là kỹ sư, nhà khoa học giỏi nhất Trung Quốc hiện nay trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI). Ông đưa ra lý thuyết “Bóng ma Chiến tranh lạnh 2.0 là cuộc đua tổng lực về khoa học công nghệ”. Theo ông Lý Khai Phục “Người làm chủ tốt nhất về khoa học công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) là người thắng“. Ông Lý Khai Phục đã  đưa ra các đặc trưng của Chiến tranh lạnh “kiểu cũ” 1.0 (từ năm 1945-1990), sự đối đầu  Xô – Mỹ có một số đặc điểm đáng chú ý sau: Một là, sự cạnh tranh quyết liệt về ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; Hai là, chạy đua vũ trang hạt nhân giữa Mỹ và Liên Xô cũ xoay quanh việc giành ưu thế bộ ba vũ khí chiến lược: tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, máy bay ném bom hạt nhân chiến lược và tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm; Ba là, sự ngăn cách gần như tuyệt đối giữa phương Đông và phương Tây bởi “bức màn sắt” (iron curtain). Trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh 1.0, có rất ít các hoạt động tương tác giữa hai bên như: viếng thăm cấp cao; quan hệ chính trị – ngoại giao; quan hệ kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục hoặc giao lưu nhân dân giữa người dân thuộc hai khối đối lập. Ông Lý Khai Phục đã  đưa ra các đặc trưng của Chiến tranh lạnh “kiểu mới” 2.0 với một số luận điểm đáng chú ý: 1) Trong khoảng thời gian 10 năm từ 2020-2030, lĩnh vực AI dự kiến sẽ tạo ra 16.000 tỷ USD giá trị, 70% trong số đó sẽ “rơi vào túi” nhóm G7 hàng đầu trong lĩnh vực AI, bao gồm 4 công ty của Mỹ (cụ thể là Microsoft, Facebook, Apple và Google Alphabet) và 3 công ty Trung Quốc là Baidu, Alibaba và Tencent (BAT). 2)  AI, chứ không phải sức mạnh cứng về quân sự, là yếu tố quyết định sự vượt trội và “ai thắng ai” trong cuộc Chiến tranh lạnh mới 2.0 giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như việc quyết định ai sẽ làm chủ cuộc chơi trong việc xác lập trật tự thế giới mới. 3) Mặc dù Mỹ đi đầu so với Trung Quốc trong lĩnh vực nghiên cứu AI, nhưng Trung Quốc hiện lại đi trước và vượt trội so với Mỹ trong việc triển khai và áp dụng thành tựu nghiên cứu AI và khoa học công nghệ. 4) Mỹ có thể gây khó khăn, cản trở hoặc trì hoãn tiến bộ công nghệ của Trung Quốc, nhưng không có cách nào ngăn cản Trung Quốc trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng AI.

Trung Quốc với giấc mộng châu Á’ ‘Liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi’ ‘một vành đai một con đường’ là một thế cờ vây hiệu quả, Ông Trump không thể thắng thương chiến với Trung Quốc (VNN 13 6 19) Trong một bài viết trên tạp chí National Interest ngày 10/6, hai tác giả  Brad Glosserman và Denny Roy chỉ ra rằng: chính quyền Trump sẽ phải từ bỏ các cuộc tấn công nhằm vào các đối tác lớn như Liên minh châu Âu, Nhật, Mexico và Canada. Họ cũng sẽ phải viện đến ngoại giao đa phương và có niềm tin vào các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nga – Trung liên minh, Donald Trump hé lộ vũ khí tiềm ẩn (VNN 21 6 19) . Cuộc chiến của Trung Quốc, Nga… nhằm hạ bệ sự thống trị của đồng USD đã lên một tầm cao mới dưới thời ông Donald Trump. Tuy nhiên, sự biến động tương quan lực lượng khá chậm, trong khi nước Mỹ có sức mạnh tiềm ẩn đáng nể. Luật sư Nguyễn Tiến Lập trong bài Mỹ – Trung: đối đầu quốc gia hay xung đột về hệ giá trị? đã đánh giá và bình luận thật chí  lý. “Bởi vì tiền và người,là hai thứ quan trọng nhất mà Trung Quốc lại có tiềm lực mạnh mẽ cho cả hai. Chính phủ Trung Quốc có thể dùng tiền để tạo lập các cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu  phát triển và sử dụng nhiều tiền để mua nhân lực nghiên cứu tinh hoa nhất, không chỉ ở Mỹ mà còn từ khắp nơi trên thế giới. Nước Mỹ có thể ban hành luật cấm xuất khẩu công nghệ nhưng làm sao cấm được sự dịch chuyển chất xám từ Mỹ qua Trung Quốc một khi nó gắn với quyền tự do di chú của cá nhân? Hơn nữa, Mỹ không thể mang điểm yếu của mình ra để “chọi” với điểm mạnh của đối thủ bởi Chính phủ Mỹ không thể huy động ngân sách để trả lương và hậu đãi các nhà khoa học, trong khi ở Trung Quốc điều đó là có thể và họ đã từng làm“.

Trung tâm nghiên cứu lúa lai Sino-Pakistan được mở cả Karachi (Pakistan) và Hàng Châu (Trung Quốc) trong sự hỗ trợ của Viện nghiên cứu lúa Trung Quốc. Nguồn: youlinmagazine.com (theo Tia Sáng 13 6 2019).

TƯƠNG QUAN VÀ DỰ BÁO 

Sáng kiến Vành đai và con đường: Trung Quốc đang vẽ lại bản đồ khoa học thế giới (Tia Sáng 13 6 19) . Trung Quốc hiện dành một khoản hơn 1 nghìn tỉ USD để đầu tư cho ít nhất 100 quốc gia thuộc nhóm Vành đai và Con đường  (The Belt and Road Initiative BRI) vay để làm đường bộ, đường sắt cao tốc, nhà máy điện, cảng biển và hàng không. Các công ty Trung Quốc thậm chí còn xây dựng cả các thành phố mới, như Port City Colombo, vốn được kỳ vọng là một trung tâm tài chính hàng hải ở Đông Á, sau thủ đô của Sri Lanka. Các quốc gia BRI được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng mới này và ngược lại. Trung Quốc tìm kiếm những thị trường mới cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho mình và cho các nước đối tác thông qua những con đường vận chuyển mới được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới tốt hơn. Ông Tập Cận Bình cùng với  các lãnh đạo Trung Quốc khác đã xác định “khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là yếu tố cốt lõi trung tâm của sự phát triển vành đai và con đường BRI”

Chiến lược hợp tác song phương của mỗi nước BRI trong Vành đai và Con đường hoàn toàn tùy theo điều kiện thực tiễn và yêu cầu hợp tác của mỗi nước với Trung Quốc cũng như cách đầu tư và  cách vay vốn  ở mỗi nước là hoàn toàn khác nhau. Hình ảnh trên đây và câu chuyên Pakistan hợp tác nghiên cứu lúa siêu xanh (GSR) với CAAS IRRI Trung Quốc, thực hiện tại cả hai nơi Karachi (Pakistan) và Hàng Châu (Trung Quốc) chịu ảnh hưởng khô hạn của Biến đổi khí hậu rất xứng đáng là bài học cho Việt Nam để cân nhắc lựa chọn chiến lược hợp tác phù hợp trong thế lớn Trung Việt vành đai và con đường  (Mời đọc: “Ba đặc khu liệu có đột phá ?“;ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu)

Việt Trung hợp tác gì trong BRI ?  Các trường đại học của Trung Quốc cùng với mạng lưới rộng lớn của các viện nghiên cứu thành viên CAAS  đang tỏa rộng khắp toàn cầu. Họ đang đề xuất hỗ trợ khoa học và ký các thỏa thuận hợp tác trên một mức độ chưa từng thấy, kể từ khi Mỹ và Liên Xô chạy đua cấp học bổng cho các nhà nghiên cứu trong các quốc gia liên minh trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Vào ngày 19/4/2019, Bai loan báo, CAAS đã đầu tư hơn 1,8 tỷ nhân dân tệ (khoảng 268 triệu USD) cho các dự án KH&CN, một phần của BRI. Tại Sri Lanka, Trung Quốc đồng tài trợ cho một trung tâm nghiên cứu nước ngọt an toàn và hỗ trợ điều tra khủng hoảng về bệnh thận ở các cộng đồng dân cư nông thôn của đất nước này. Tại Pakistan, họ đồng bảo trợ một loạt các trung tâm nghiên cứu với mục tiêu tìm hiểu về các chủ đề từ lúa gạo đến trí tuệ nhân tạo, kỹ thuật đường sắt. Tại trung tâm châu Âu, một công viên khoa học Trung Bỉ tạo điều kiện cho các công ty mở rộng quy mô thương mại về các thiết bị y tế, điện Mặt trời và nhiều loại công nghệ tiên tiến khác. Còn ở Nam Mỹ, Trung Quốc là đối tác của Chile và Argentina, tham gia vào các trung tâm nghiên cứu vật lý thiên văn và tăng cường khả năng truy cập vào một số khu bảo tồn quý giá bậc nhất thế giới. Về tổng thể, khía cạnh khoa học của BRI tác động đến hàng chục nghìn nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh, hàng trăm trường đại học. Sự đầu tư của Trung Quốc theo cam kết “Win Win” đem lại thay đổi sâu sắc trong những nước thu nhập trung bình và thấp, vốn mong muốn nhận được sự hỗ trợ về khoa học. Trung Quốc vì vậy vươn lên vị trí của một siêu cường khoa học, với cách làm này mang đến một tầm nhìn khác biệt so với những quốc gia đang dẫn đầu về khoa học khác.

Cuộc đối chiến lịch sử là đầy biến số. Cách mạng lần thứ ba và tương lai Trung Quốc theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Dy (viet-studies.net 20 6 19) thì hiện trạng Mỹ-Trung đang đối đầu toàn diện và nguy cơ xung đột công khai lớn hơn trước.

Cuộc chiến Trung Mỹ toàn diện kết quả phụ thuộc vào con người, nguồn vốn và công nghệ, tương quan ‘thiên thời địa lợi nhân hòa’ đặc điểm dân tộc nền văn minh địa chính trị lịch sử văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ, kinh tế xã hội đang ngày càng lộ rõ.

Việt Nam tự củng cố trầm tĩnh theo dõi, có lý có lợi đúng lúc, xử lý tốt những vấn đề thực tiễn, hướng tới tương lai. Chiến lược hợp tác nên chú trọng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo giáo dục văn hóa, (xem thêm: Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam; Có một Việt Nam hiện diện đáng tự hào ở vùng Châu Phi; “Ba đặc khu liệu có đột phá ?“ )

Hoàng Kim 

Tài liệu tham khảo:
Cách mạng lần thứ ba và tương lai Trung Quốc (Ng Quang Dy, viet-studies.net 20 6 19)
Quan hệ Trung – Mỹ: Bóng ma Chiến tranh lạnh 2.0 (TVN 20 6 19)
Nga – Trung liên minh, Donald Trump hé lộ vũ khí tiềm ẩn (VNN 21 6 19)
Hai ông Tập-Kim bắt tay đối mặt ‘những thay đổi quốc tế nghiêm trọng’ (VNN 21 6 19)
Nga cấp tập chuẩn bị cho ‘ngày tàn’ của đô la Mỹ (VNN 21 6 19)
Căng thẳng Mỹ-Iran leo thang, Ấn Độ điều hàng loạt tàu chiến đến Vùng Vịnh (VNN 21 6 19)
Mỹ bị vào top 5 nước ‘có ảnh hưởng xấu’ đến thế giới (VNN 21 6 19)
Các nguy cơ của cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung toàn diện (VNN 17 6 19)
Học viện Khổng Tử trong chiến lược mở rộng biên giới mềm của Trung Quốc (Tia Sáng 17 6 19)
Trung Quốc và tham vọng đưa điện hạt nhân ra Biển Đông (Tia Sáng 15 6 19)
‘Quân bài’ ông Trump cần dụng nếu muốn thắng thương chiến với TQ (VNN 14 6 19)
Vành đai – con đường: Sự trỗi dậy của quá khứ (Tia Sáng 13 6 19)
Sáng kiến Vành đai và con đường: Trung Quốc đang vẽ lại bản đồ khoa học thế giới (Tia Sáng 13 6 19)
Ông Trump không thể thắng thương chiến với Trung Quốc (VNN 13 6 19)
Hợp tác KH&CN, GD Việt Nam – Nga: Con đường còn ở phía trước (Tia Sáng 12 6 19)
Chiến tranh thương mại phơi bày tử huyệt của Trung Quốc như thế nào?(NCQT12619)
Vietnam Foreign Policy in the UN Security Council Spotlight (thediplomat.com 12 6 19)
Chúng ta hiểu gì về Trung Quốc? (Tia Sáng 7 6 19)
Lý do khiến Nga-Trung bắt tay chống sức ép từ Mỹ (VNN 6 6 19)
Đây mới là ‘vũ khí’ lợi hại nhất của TQ trong thương chiến với Mỹ (VNN 5 6 19)
Mỹ – Trung đối đầu, châu Á loay hoay đứng giữa (VNN 5 6 19)
Lý do nhiều nước châu Á không quan tâm tới lệnh cấm Huawei từ Mỹ (VNN 5 6 19)
Toàn cảnh thương chiến khốc liệt Mỹ – Trung (VNN 4 6 19)
Huawei mua công nghệ Nga trước sức ép nghẹt thở của Mỹ (VNN 4 6 19)
Sách trắng thương mại Trung Quốc ‘đánh’ Mỹ nặng tay††† (VNN 4 6 19)
Trung Quốc cảnh báo học sinh sang Mỹ du học (VNN 4 6 19)
Khoa học Trung Quốc chiếm ưu thế (Tia Sáng 4 10 18)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đâycp nht mi ngày

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on Facebook  Kim on Twitter

Trung Quốc một suy ngẫm

TRUNG QUỐC MỘT SUY NGẪM
Hoàng Kim
‘Trung Quốc với giấc mộng châu Á’ ‘Liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi’ ‘một vành đai một con đường’ là một chiến lược nhất quán dài hạn do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi xướng để thích ứng với thế giới chuyển biến. Việt Nam tự cũng cố trầm tĩnh theo dõi và xử thế có lý có lợi đúng lúc.

TRUNG MỸ CUỘC ĐỐI ĐẦU LỊCH SỬ
Mỹ – Trung: đối đầu quốc gia hay xung đột về hệ giá trị? (TVN 20 6 19)
Quan hệ Trung – Mỹ: Bóng ma Chiến tranh lạnh 2.0††† (TVN 20 6 19)
Nga – Trung liên minh, Donald Trump hé lộ vũ khí tiềm ẩn (VNN 21 6 19)
Hai ông Tập-Kim bắt tay đối mặt ‘những thay đổi quốc tế nghiêm trọng’ (VNN 21 6 19)
Nga cấp tập chuẩn bị cho ‘ngày tàn’ của đô la Mỹ (VNN 21 6 19)
Căng thẳng Mỹ-Iran leo thang, Ấn Độ điều hàng loạt tàu chiến đến Vùng Vịnh (VNN 21 6 19)
Mỹ bị vào top 5 nước ‘có ảnh hưởng xấu’ đến thế giới (VNN 21 6 19)
Quan hệ Trung – Mỹ: Từ tranh chấp thương mại sang đối đầu toàn diện (TVN 19 6 19; NCQT 21 6 19)
Mỹ – Trung: đối đầu quốc gia hay xung đột về hệ giá trị? (TVN 20 6 19)
Các nguy cơ của cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung toàn diện (VNN 17 6 19)
Học viện Khổng Tử trong chiến lược mở rộng biên giới mềm của Trung Quốc (Tia Sáng 17 6 19)
Trung Quốc và tham vọng đưa điện hạt nhân ra Biển Đông (Tia Sáng 15 6 19)
‘Quân bài’ ông Trump cần dụng nếu muốn thắng thương chiến với TQ (VNN 14 6 19)
Vành đai – con đường: Sự trỗi dậy của quá khứ (Tia Sáng 13 6 19)
Sáng kiến Vành đai và con đường: Trung Quốc đang vẽ lại bản đồ khoa học thế giới (Tia Sáng 13 6 19)
Ông Trump không thể thắng thương chiến với Trung Quốc (VNN 13 6 19)
Hợp tác KH&CN, GD Việt Nam – Nga: Con đường còn ở phía trước (Tia Sáng 12 6 19)
Chiến tranh thương mại phơi bày tử huyệt của Trung Quốc như thế nào?(NCQT12619)
Vietnam Foreign Policy in the UN Security Council Spotlight (thediplomat.com 12 6 19)
Chúng ta hiểu gì về Trung Quốc? (Tia Sáng 7 6 19)
Lý do khiến Nga-Trung bắt tay chống sức ép từ Mỹ (VNN 6 6 19)
Đây mới là ‘vũ khí’ lợi hại nhất của TQ trong thương chiến với Mỹ (VNN 5 6 19)
Mỹ – Trung đối đầu, châu Á loay hoay đứng giữa (VNN 5 6 19)
Lý do nhiều nước châu Á không quan tâm tới lệnh cấm Huawei từ Mỹ (VNN 5 6 19)
Toàn cảnh thương chiến khốc liệt Mỹ – Trung (VNN 4 6 19)
Huawei mua công nghệ Nga trước sức ép nghẹt thở của Mỹ (VNN 4 6 19)
Sách trắng thương mại Trung Quốc ‘đánh’ Mỹ nặng tay††† (VNN 4 6 19)
Trung Quốc cảnh báo học sinh sang Mỹ du học (VNN 4 6 19)
Khoa học Trung Quốc chiếm ưu thế (Tia Sáng 4 10 18)

TRUNG QUỐC ‘VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƯỜNG”

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình xếp hàng đấu Mỹ, Nga, Ấn trong ‘quan hệ ngoại giao với các nước lớn’ chiến lược ‘liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi’, xếp hàng thứ hai các nước láng giếng’ trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc gồm 40 quốc gia, trong đó 15 nước có chung đường biên giới với Trung Quốc bằng “Sáng kiến Vành đai và Con đường” (BRI) do Trung Quốc khởi xướng được đưa vào điều lệ Đảng, trọng điểm là châu Á có Việt Nam.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố sẽ huy động thêm 14,5 tỷ USD đầu tư cho sáng kiến này. Ông khẳng định rằng:”Trung Quốc cần nổ lực để các nước láng giềng ngày càng thân thiện hơn về chính trị, có mối quan hệ gần gũi hơn về kinh tế, hợp tác sâu sắc hơn về an ninh, và mối quan hệ ở cấp độ nhân dân cũng gắn bó hơn“.

Ngày 19 tháng 6 năm 1944 là trận hải chiến dữ dội nhất của chiến tranh thế giới thứ hai: Trận chiến biển Philippines giữa Hải quân Mỹ và Hải quân Nhật Bản từ ngày 19 đến 20 tháng 6 1944 tại quần đảo Mariana là trận hải chiến bằng hàng không mẫu hạm lớn nhất trong lịch sử khi cả hai bên đã sử dụng tổng cộng 24 hàng không mẫu hạm trong trận đánh này (15 của Mỹ và 9 của Nhật). Kết quả trận đánh là sự đại bại của hải quân Nhật khi họ mất đến 475 máy bay và 3 hàng không mẫu hạm. Từ đó nước Mỹ xác lập vị trí bá chủ đối với thế giới trên biển Đông.

Ngày 19 tháng 6 năm 1945, Mao Trạch Đông được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông liên tục giữ chức vụ này cho đến khi từ trần.††† †

Trung Quốc thời Tập Cận Bình nổi bật là “liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi, một vành đai một con đường“.Ông tạo dựng được thế Tam Quốc mới trong lịch sử. Trường Giang sóng sau đè sóng trước. ngọn sóng này cao hơn! Trung Việt vành đai và con đường là thế lớn ngày nay. (xem ảnh 1, 2, 3).

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình năm 2012 đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông vạch ra chiến lược “Trung Quốc với giấc mộng châu Á”. Ông khởi xướng và thực thi chiến lược ‘liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi’ “một vành đai, một con đường”, ráo riết thực hiện một loạt kế sách liên hoàn, xử lý vấn đề biển Hoa Đông, lưỡi bò biển Đông, đưa tầu chiến áp sát cuộc tập trận NATO, trỗi dậy thách thức Mỹ về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế. Trung Quốc trong nhiệm kỳ tiếp theo của Tập Cận Bình đang rời bỏ vị thế “ẩn mình chờ thời” mà đã bước ra vũ đài thế giới khẳng định Trung Quốc như một cường quốc hàng đầu thế giới, theo giới quan sát. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố Trung Quốc bước vào “thời đại mới” và cần đóng vai trò “trung tâm trên thế giới”, nhờ “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” và cho thấy có “lựa chọn mới” cho các nước. Ông phát biểu khai mạc Đại hội Đảng 19 với 14 điểm chính sách và ba trọng tâm. (Mời đọc: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình“)

TRUNG VIỆT VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƯỜNG

Tổng Bí Thư nói: “Không ai dại trao đất cho người nước ngoài để vào gây rối” là một câu nói thật cân nhắc và giàu thông tin. Câu này kín kẽ dường như câu của ông Trump là “Trump sẽ làm cho nước Mỹ hùng mạnh trở lại” trên Twitter và mọi biểu tượng tranh cử Tổng thống Mỹ của ông ấy và sự kín đáo của ông trong quyết sách Mỹ -Triều đến lúc chót là cân nhắc chứ không nói lộ ý. Cám ơn câu hỏi chất vấn của cụ Ngọc Hạp Nguyễn “Nếu có kẻ có quyền dại mà tham tiền thì sao?” đã gợi ý cho tôi đọc lại và suy ngẫm bài nghiên cứu lịch sử này.

†Ba đặc khu liệu có đột phá? theo tôi là KHÔNG. Ba đặc khu đang dự định thành lập chỉ thích hợp cho phát triển du lịch, cơ sở nghỉ dưỡng, dịch vụ vui chơi – giải trí… Và do đó, không cần đưa ra các ưu đãi vượt trội về thuế, về quyền thuê đất lâu dài. Những nơi ấy cần nên là CON NGƯỜI và NỘI LỰC VIỆT NAM phải ở vị trí hiểm yếu. Đó là một câu chuyện khác. Luật đầu tư và hợp tác bền vững thành thực phải là vùng đặc khu hợp tác nghiên cứu phát triển trọng điểm hướng tới chén cợm ngon của người dân, lao động, việc làm, an sinh xã hội và giáo dục đào tạo nguồn lực con người hiền tài để phát huy sự tương đồng văn hóa. Một dân tộc truyền kiếp bị đối xử không bình đẳng thì độc lập, tự do, hạnh phúc là điểm tương đồng sâu sắc nhất.

Lịch sử Việt Nam “Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa” là bài học xương máu gần nhất. Tổng Bí Thư nói: “Không ai dại trao đất cho người nước ngoài để vào gây rối”. Quyết sách cơ bản là KHÔNG, là CON NGƯỜI và NỘI LỰC VIỆT NAM phải ở vị trí hiểm yếu. Trung Việt vành đai và con đường là thế lớn ngày nay. Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ trong khi Nga và Mỹ đều tính toán “Chúng ta không cần lãnh đạo thế giới mà cần sắp xếp lại ngôi nhà mình”. Việt Nam vững tin vào tương lai của nhân loại và dân tộc nhưng cũng cần thấy trước một bức tranh tối tương lai thế giới đầy tranh chấp của thế cờ vây lo âu hơn. Nên mọi việc đều cần phải “có lý, có lợi, đúng lúc”. Các nước lớn đang phân chia tầm ảnh hưởng. Các nước láng giềng châu Á đang buộc phải tỏ rõ thái độ và bị ‘cuốn theo chiều gió’ vào ‘một vành đai, một con đường’.

Người dân Việt Nam khát khao độc lập, tự do, hạnh phúc, thấu hiểu rõ đạo lý ” cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác (Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân), trong thế lớn ngày nay hiển nhiên chọn tâm thế ứng xử ‘dĩ bất biến ứng vạn biến’ lựa chọn cách làm bạn tốt với tất cả các nước, thân Trung, hòa Mỹ, ‘liên Nga, bạn Ấn Lào Cămpuchia, ASEEN, mở rộng làm bạn Á Âu Phi và thế giới rộng lớn. Việt Nam Trung Quốc Ấn Độ tương đồng văn hóa trong lịch sử đều hiểu rõ sự đối xử không công bằng.

Người dân Việt Nam ngày nay lựa chọn xử thế có lý có lợi đúng lúc, tự cũng cố trầm tĩnh theo dõi. Sự hợp tác thân thiện với Trung Quốc người dân chưa thực sự đặt niềm tin chiến lược bởi các nguyên nhân: 1) Chính sách củ cải kinh tế đi đôi với cây gậy răn đe bất chấp lý lẽ, đạo lý khiến lòng dân bất an; 2) An sinh môi trường, an toàn thực phẩm và chất lượng công nghệ chưa tốt như yêu cầu khiến người dân lo lắng; 3) Cách hợp tác xây dựng đội ngũ hiền tài chính phủ kiến tạo chú trọng ăn học là nông nghiệp, văn hóa giáo dục chưa xứng tiềm năng và chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân; 4) Thực tiễn việc làm và sự cam kết của Đảng và Chính phủ hai nước đối với sự tôn trọng độc lập tự do hạnh phúc chống tham nhũng là những tư tưởng đồng văn hàng đầu, cấp bách, xuyên suốt nếu thực tiễn và sự cam kết tốt hơn thì quan hệ nhân dân cũng gắn bó hơn.

Việt Nam tự củng cố trầm tĩnh theo dõi, có lý, có lợi, đúng lúc, xử lý tốt những vấn đề thực tiễn hướng tới tương lai. (Mời đọc: “Ba đặc khu liệu có đột phá ?“)†††

Hoàng Kim

Những bài viết có liên quan
Từ Mao Trạch Đông đếnTập Cận Bình
Biển Đông vạn dặm
Qua Trường Giang nhớ Mekong
Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn
Trận Vũ Hán bài học lịch sử
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Minh triết sống thung dung phúc hậu
Trí tuệ bậc Thầy

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter

Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng

VỀ NGHĨA LĨNH ĐỀN HÙNG
Hoàng Kim
Đền thiêng trên Nghĩa Lĩnh.
Giếng ngọc dưới trời Nam.
Chén cơm truyền con cháu.
“Vạn cổ thử giang san” (*)

Video tuyển chọn về đền Hùng và chùm ảnh lưu niệm thăm nơi hội tụ khí thiêng sông núi, chốn tổ của người Việt.(*) “Vạn cổ thử giang san” trích dẫn thơ Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải

xem tiếp
https://thochocon.wordpress.com/2013/05/01/ve_nghia_linh_den_hung/

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional music
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI Hoàng Kim đã chia sẻ một kỷ niệm. 14 phút ·Cảm ơn Lệ Dung, phúc hậu minh triết tận tâm, năm tháng đi qua chỉ tình yêu thương ở lại. Thầy bạn trong đời tôi. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Lệ Dung cùng với Phuong Nguyen2 người khác.21 tháng 6, 2017 ·Ngày ấy đâu rồi…. Năm 2011 tại Trung Tâm Hưng lộc- Trảng Bom, Đồng Nai.

xem tiếp Thầy bạn trong đời tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional musi


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Hồ Ba Bể

HỒ BA BỂ
Hoàng Kim

Mình đến đây rồi Ba Bể ơi
Hồ xanh như ngọc nắng chơi vơi
Mai sau ước lại về thăm bạn
Du Ngoạn Bồng Lai cảnh tuyệt vời.

Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt thiên nhiên lớn nhất Việt Nam tại Bắc Kạn, là một trong một trăm hồ nước ngọt lớn nhất thế giới, nằm trong Vườn quốc gia Ba Bể, nơi đây được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam. Hồ được hình thành từ cách đây hơn 200 triệu năm. Cuộc kiến tạo lục địa Đông Nam Á cuối kỷ Camri, đã đưa một khối nước khổng lồ với diện tích bề mặt xấp xỉ 5 triệu m2 và chiều dày hơn 30m lên lưng chừng vùng núi đá vôi, tạo ra hồ Ba Bể. Ba nhánh của hồ thông nhau được gọi tên là Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng. Giá trị lớn nhất của Hồ Ba Bể là cảnh quan địa chất độc đáo, giá trị nổi bật về địa chất địa mạo và giá trị to lớn về đa dạng sinh học. Hồ Ba Bể năm 1995 đã được Hội nghị Hồ nước ngọt thế giới, tổ chức tại Mỹ, công nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ, cũng đúng dịp này Hội thảo Sắn Việt Nam đã được tổ chức ở Hồ Núi Cốc trong hệ thống du lịch được cấu trúc sau này. Vườn quốc gia Ba Bể được công nhận là Vườn di sản ASEAN cuối năm 2004. Xem thêm Vườn Quốc gia ở Việt Nam https://hoangkimlong.wordpress.com/category/vuon-quoc-gia-o-viet-nam/

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Bài viết mới

Video nhạc tuyển

Du lịch Nha Trang
Chuyện cổ Andersen
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Thơ tình Hồ Núi Cốc

HoNuiCoc01

THƠ TÌNH HỒ NÚI CỐC
Hoàng Kim
Anh đến tìm em ở Bến Mơ
Một trời thu đẹp lắng vào thơ
Mênh mang mường Mán mình mong mỏi
Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ
Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
Sông Công đảo Cái ước mong chờ
Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.

Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm. Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng … (xem tiếp…https://cnm365.wordpress.com/2015/08/16/tho-tinh-ho-nui-coc/


Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian Huyền thoại Hồ Núi Cốc, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Vũ Phong Vũ (bản khác NSƯT Thanh Hoà), Thanh Lam Tùng Dương ; Hồ trên núi, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Hồ Quỳnh Hương (bản khác NSƯT Anh Thơ); Thơ giao lưu Hồ Núi Cốc giữa những người bạn Mùa Thu Vàng, Hà Duy Tự, Trúc Nhã, LamCa07, Hoàng Kim… được giao hòa trong khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy, kỳ thú này.

Chương trình Sắn Việt Nam cùng Chương trình Sắn Châu Á nhiều lần họp tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng đi khảo sát các vùng sắn ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái,  … và đã có hai lần thăm Hồ Núi Cốc.

Lưu lại những ấn tượng khó quên về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.

HoNuiCoc02
HoNuiCoc03
HoNuiCoc04
HoNuiCoc05
HoNuiCoc06
HoNuiCoc07
HoNuiCoc08
HoNuiCoc09
HoNuiCoc10
HoNuiCoc11
HoNuiCoc12

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Bài liên quan
Con đường di sản Lewis và Clark
Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng
Đối thoại giữa các nền văn hóa
Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe
Minh triết Thomas Jefferson
Borlaug và Hemingway
Praha Goethe và lâu đài cổ
500 năm nông nghiệp Brazil
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nguyễn Du 250 năm nhìn lại

Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích
Trúc Lâm thăm thẳm một góc nhìn
Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim

Chúc mừng Khoa Nông Học Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh ( Nong Lam University in Ho Chi Minh city) PGS.TS Phạm Thị Minh Tâm (Tam Pham). Cám ơn cô PGS. TS. Chat Thi Nguyen đã lưu lại những tấm hình thật đẹp và cảm động, xin được chia sẻ. Chúc mừng và cám ơn THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI, niềm tin, nguồn vui, nghị lực và bài học lớn. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

xem tiếp Thầy bạn trong đời tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau MusicVietnam traditional musi


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Lúa sắn Việt châu Phi

LÚA SẮN VIỆT CHÂU PHI
Hoàng Kim


Có một Việt Nam hiện diện đáng tự hào ở vùng Châu Phi, tác giả Trần Quang trên Tin Việt đã tự hỏi và trả lời thật thấm thía. Việt Nam Châu Phi hợp tác là câu chuyện Việt Nam con đường xanh liên quan định hướng quan hệ quốc tế về chiến lược, tầm nhìn, mục tiêu, nội dung, hiện trang, tiềm năng, thách thức và cơ hội. Bài này trao đổi ba nôi dung 1) Việt Nam châu Phi cơ hội hợp tác. 2) Lúa sắn Việt châu Phi một số kết quả bước đầu; 3) Việt Nam châu Phi một số suy nghĩ về tầm nhìn và định hướng hợp tác phát triển. †

1. VIỆT NAM CHÂU PHI CƠ HỘI HỢP TÁC

Tôi thích cách tiếp cận của bạn Trần Quang nhìn thấu giấc mơ chí thiện và bài học thực tiễn của những người Thầy trên con đường xanh mà chúng ta tiếp nối: “Bạn có biết người Nhật, Hàn đem gì đến cho Châu Phi không? Họ mang đến xe hơi trong khi người dân ở đó thì cần cái để ăn. Bạn có biết người Mỹ, Pháp, Anh mang gì đến cho Châu Phi không? Là BOM! Cái loại vứt xuống mà không ăn được đấy! Lại còn tốn thêm máu thịt của người dân. Bạn có biết hàng vạn mảnh ruộng lúa nước ở Châu Phi và Trung Mỹ từ đâu mà ra không? Từ Việt Nam ra đấy! Chính Việt Nam thò tay gieo những hạt mầm nhỏ bé cứu đói cả Châu Lục đấy!” (Nói vậy thì hăng hái quá nhưng thật chân thành và thật đáng kết bạn !), ” Bạn nói “y tế Việt Nam thua Lào, thua Cam”. Nhưng sao tôi toàn thấy bác sĩ tình nguyện Việt Nam sang Lào – Cam khám chữa bệnh miễn phí cho dân mà không bao giờ thấy bác sĩ Lào – Cam qua khám chữa bệnh miễn phí cho người Việt bao giờ? Các bác sĩ Mỹ – Âu họ đến cùng hàng ngàn túp lều chữa bệnh và đi theo họ là hàng vạn tay súng khác, còn Việt Nam thì KHÔNG, họ đến với những túp lều chữa bệnh và hàng vạn câu chuyện về Việt Nam! Nếu có người hỏi bạn “Việt Nam đã làm được gì cho thế giới?” Hãy mạnh dạn trả lời: ” “Chúng tôi không hào phóng đem bom đạn đi ban phát cho các nước khác, như cái cách những quốc gia “văn minh” đã và đang làm. Chúng tôi đem đến miếng cơm cho người dân nghèo khi họ cần, chúng tôi đem tới mạng viễn thông. Hai thứ đảm bảo an ninh lương thực và thông tin liên lạc cho lục địa đen. Và chúng tôi đã tạo nên sức mạnh đánh sập hệ thống thuộc địa trên toàn thế giới của chủ nghĩa thực dân, đế quốc”.† Nhờ có đóng góp của người Việt, lần đầu tiên người nông dân Mozambique có thể trò chuyện được với người thân bằng điện thoại di động. Cũng ở miền đất châu Phi xa xôi ấy, giống lúa ngàn đời của người Việt đã trổ bông chín vàng.† Chắp cánh những ước muốn”

Năm 2003, Hội thảo Quốc tế Việt Nam Châu Phi lần 1 được tổ chức tại Hà Nội với chủ đề “Việt Nam – Châu Phi: Những cơ hội hợp tác và phát triển trong thế kỷ XXI” do Chính phủ Việt Nam khởi xướng là mốc son điển hình của Hợp tác Nam Nam. Các đại biểu đặc biệt ca ngợi thành công của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, coi đây là trọng tâm hợp tác giữa Việt Nam và Châu Phi trong thời gian tới. Bài viết này tổng quan thông tin và kết nối sự kiện để giúp bạn đọc dễ theo dõi.

Trước đó vào năm 2000, FAO/ UNDP đã dự báo, nhấn mạnh và kêu gọi khởi xướng những chương trình hợp tác liên châu lục, tạo đồng thuận chung tay cùng giải quyết những vấn đề quốc tế nóng hổi và cấp bách, mang tính toàn cầu như: an ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu toàn cầu, giải pháp ứng phó hạn mặn ngập úng, suy thoái ô nhiễm môi trường, thức ăn, điều kiện sinh hoạt.

Theo VOA, Hội thảo Quốc tế Việt Nam – Châu Phi lần 1 có sự tham dự của 84 đại biểu quốc tế đến từ 23 nước Châu Phi, 10 tổ chức quốc tế và khoảng 300 đại biểu từ các Bộ, ngành, cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam có hợp tác với Châu Phi. Sáng kiến tổ chức Hội thảo của Việt Nam nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các đại biểu quốc tế vì đã tạo ra cơ chế đối thoại hợp tác chặt chẽ, toàn diện giữa hai bên. Đây cũng là một trong năm sáng kiến được đánh giá cao trong Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao Á Phi lần 2, tổ chức tại Indonesia năm 2005.

Năm 2010, Hội thảo Quốc tế Việt Nam – Châu Phi lần 2 được tổ chức với chủ đề “Việt Nam – Châu Phi: Hợp tác cùng phát triển bền vững” tại Hà Nội ngày 17 – 19/ 8/ 2010 có sự tham dự của 41 đoàn khách quốc tế, trong đó có 22 nước châu Phi, 15 tổ chức quốc tế (có 12 Bộ trưởng, Phó Tổng Thư ký LHQ, Tổng Giám đốc Ban thư ký NEPAD) và đại diện các nước có dự án hợp tác 3 bên và 4 bên với Việt Nam và châu Phi (Pháp, JICA- Nhật Bản…) cùng một số doanh nghiệp châu Phi, các học giả, nhà nghiên cứu về châu Phi. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam với nhiều lãnh đạo Bộ, ngành và các địa phương cùng doanh nghiệp của Việt Nam tham dự. Chính phủ Việt Nam khẳng định chủ trương nhất quán mong muốn đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế với các nước châu Phi theo hướng thiết thực, hiệu quả và bền vững hơn, tương xứng với mối quan hệ hữu nghị truyền thống vốn có và với tiềm năng to lớn của hai bên, vì lợi ích chung của cả Việt Nam và châu Phi. Hội thảo tập trung thảo luận về quan hệ hợp tác đa ngành, đa lĩnh vực Việt Nam – châu Phi, trong đó có an ninh lương thực, hợp tác nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo. Các lĩnh vực trọng điểm là nông nghiệp, thương mại, năng lượng và lao động…; vấn đề hợp tác thương mại, đầu tư và phát triển nguồn nhân lực cho phục hồi và phát triển kinh tế là những nội dung chủ đạo.  Hội thảo dành nhiều thời gian thảo luận xác định mô hình hợp tác thiết thực, hiệu quả trong những năm tới. Một số văn kiện quan trọng được ký kết giữa Việt Nam và các nước châu Phi. Bên lề Hội thảo, những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu sang châu Phi như các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi, các cơ sở sản xuất máy kéo nông nghiệp, dây và cáp điện, thiết bị điện gia dụng, dệt may … đã được giới thiệu đến khách tham quan.

Những hợp tác song phương Việt Nam Châu Phi về nông nghiệp trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2010, giữa Hội thảo Việt Nam Châu Phi  lần 1 và Hội thảo Việt Nam Châu Phi  lần 2, chủ yếu là các đoàn vào của châu Phi và các châu lục sang Việt Nam tham quan trao đổi về kinh nghiệm thâm canh cây lương thực lúa ngô sắn khoai lang . Địa điểm tổ chức tại Việt Nam với nguồn tài chính song phương hoặc trợ giúp của bên thứ ba. Ví dụ như Trung tâm Giống Cây trồng Hà Nội đã tổ chức khóa đào tạo về kỹ thuật, quản lý trồng lúa nước cho cán bộ khuyến nông Mozambique và chuyên gia nông nghiệp của Hà Nội dự án JICA hợp tác 3 bên giữa Việt Nam – Nhật Bản – Mozambique về phát triển lúa gạo. Nội dung đào tạo gồm các chuyên đề chính như: Tình hình sản xuất lúa gạo Thế giới, Việt Nam và ở Hà Nội; Chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam; Cây lúa Việt Nam: giống và quy trình kỹ thuật thâm canh, thủy lợi, tưới tiêu và các biện pháp quản lý nước, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản chế biến lúa, … tham quan đồng ruộng và thăm các mô hình tiêu biểu.

Triển vọng hợp tác Việt Nam Châu Phi, theo Báo Nhân Dân, bài và ảnh Thanh Nghĩa, ngày 27/12/2018, Đại hội Hội hữu nghị hợp tác Việt Nam châu Phi nhiệm kỳ 2018- 2023 đã được tổ chức tại Hà Nội gồm đại diện các bộ, ngành Việt Nam và đại sứ các nước châu Phi cùng đại diện các doanh nghiệp thảo luận về tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam Châu Phi. Nhiều đại biểu kiến nghị Chính phủ Việt Nam xây dựng chiến lược riêng với từng quốc gia châu Phi, hai bên tăng cường hoạt động trao đổi đoàn, nhất là các đoàn ngoại giao – kinh tế. Ông Đỗ Đức Định, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị hợp tác Việt Nam – châu Phi nhiệm kỳ 2013-2018 trong Báo cáo tổng kết công tác, đã khẳng định, trong 5 năm qua, quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và các nước châu Phi tiếp tục được củng cố và phát triển. Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư có bước chuyển biến khả quan. Năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nước châu Phi tiếp tục tăng trưởng. Những mặt hàng chính Việt Nam xuất khẩu sang châu Phi là gạo, điện thoại, các loại linh kiện, thủy sản, cà-phê… Ở chiều ngược lại, Việt Nam nhập khẩu hạt điều, bông, gỗ… từ châu Phi. Châu Phi với khoảng 1,2 tỷ người (năm 2016) và dự báo sẽ tăng lên 2,5 tỷ người vào năm 2050, đang là môi trường đầu tư đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp nước ngoài. Song để phát triển hợp tác thương mại, đầu tư tại châu lục này, các doanh nghiệp Việt Nam gặp không ít khó khăn, trở ngại. Một số lý do chính là tình hình chính trị xã hội và chính sách kinh tế ở một số nước châu Phi chưa ổn định; hệ thống pháp luật, ngôn ngữ, văn hóa có nhiều khác biệt; mạng lưới cơ quan đại diện ngoại giao, thương mại của Việt Nam ở châu Phi còn mỏng; số lượng các doanh nghiệp hai bên có quy mô tài chính lớn sang kinh doanh và đầu tư tại thị trường của nhau chưa nhiều.

Trao đổi tại Đại hội Hữu nghị hợp tác Việt Nam châu Phi, PGS, TS Lê Phước Minh, Viện trưởng Nghiên cứu châu Phi và Trung Đông kiến nghị một số chính sách hợp tác châu Phi như đa dạng hóa nền kinh tế, chú trọng phát triển kinh tế tư nhân, giảm phụ thuộc dầu mỏ, chính sách kinh tế hướng đông, coi trọng quan hệ với khu vực châu Á sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh về du lịch, ngân hàng, chăm sóc sức khỏe, chế biến nông sản với các quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Một số quốc gia châu Phi đầu tư mạnh vào các dự án cơ sở hạ tầng cần nhiều lao động nước ngoài cũng sẽ gia tăng cơ hội hợp tác trong lĩnh vực việc làm và thương mại. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình, Phó Tổng Giám đốc T&T Group kiến nghị Chính phủ Việt Nam cần tăng cường trao đổi đoàn, nhất là các ngoại giao kinh tế với các quốc gia châu Phi, nhằm duy trì hợp tác và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng hướng tới việc xây dựng chiến lược phát triển quan hệ riêng với từng nước, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong quan hệ đầu tư, thương mại và hợp tác với từng quốc gia ở châu lục này. Đại sứ Mozambique tại Việt Nam ông Leonardo Pene chia sẻ với Thời Nay, cho biết, triển vọng hợp tác giữa Việt Nam và Mozambique là rất sáng, nhất là các lĩnh vực thương mại, nông nghiệp, giáo dục, y tế… Việc sinh viên Mozambique sang Việt Nam học tập, hay các chuyên gia Việt Nam sang Mozambique chia sẻ kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, giúp đào tạo cán bộ y tế… đóng góp vào những kết quả tích cực mà quốc gia châu Phi đạt được thời gian qua. Những thành tựu đó là cơ sở để hai nước tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trong thời gian tới.

Tân Chủ tịch Hội Hữu nghị hợp tác Việt Nam – châu Phi, nhiệm kỳ 2018-2023, Thứ trưởng Công thương Cao Quốc Hưng đề nghị Đại sứ quán các nước châu Phi tại Việt Nam cùng Hội đưa ra các sáng kiến, góp phần thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và các nước châu Phi. Về vấn đề này, Đại sứ Ai Cập tại Việt Nam Mahmoud Hassan Nayel khẳng định, trong thời gian tới Ai Cập sẽ cùng Hội hữu nghị hợp tác Việt Nam châu Phi tổ chức nhiều hoạt động nhằm củng cố hơn nữa mối quan hệ hợp tác với Việt Nam.

Nhìn lại gần hai thập kỷ Việt Nam Châu Phi hợp tác hữu nghị (2000-2019) tôi có câu chuyện nhỏ hợp tác nông nghiệp nay kể lại và suy ngẫm trong bức tranh tổng thể trên

2. LÚA SẮN VIỆT CHÂU PHI

2.1 Câu chuyện trồng lúa châu Phi

Lúa Việt Nam đến châu Phi chỉ thực sự được bắt đầu năm 2005 khi  Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone tiến sỹ Sama Monde đến Việt Nam. Ông đã về thẳng Đồng Bằng Sông Cửu Long thăm trường đại học An Giang và vùng sản xuất lúa An Giang. Ngưỡng mộ và ấn tượng trước các thành tích về phát triển lương thực của Việt Nam, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa năng suất cao của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), mà tỉnh An Giang lúc đó đã đạt sản lượng trên một triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu cao nhất nước. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone tiến sỹ Sama Monde đã trân trọng mời GSTS. Võ Tòng Xuân sang Sierra Leone giúp xây dựng chương trình an ninh lương thực.

VoTongXuan

Giáo sư Võ Tòng Xuân nhớ lại: “Kể từ năm 1984, là chuyên gia quốc tế, tôi tham gia vào các hội nghị và các đoàn chuyên gia được tạo ra bởi WB, FAO, IFAD, CIRAD, CGIAR để thực hiện các công trình tư vấn tại Senegal, Nigeria, Kenya, Ethiopia, Madagascar. Tôi nhận ra rằng cần phải có một cách tiếp cận tốt hơn để chấm dứt nạn đói và nghèo đói ở châu Phi. Ngày 16 tháng Ba năm 2006, ngài Sierra Leone Đại sứ Sierra Leone trên đường đến Bắc Kinh đã ký với tôi biên bản ghi nhớ hợp tác trong một quán cà phê tại Galaxy Hotel, Phan Đình Phùng, Hà Nội“.  Sau đó, trong năm 2006, GSTS. Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường đại học An Giang đã đến Sierra Leone làm việc với Phó Tổng thống Solomon Berawa, Bộ trưởng Sama Monde về chương trình nói trên. Sau khi đi khảo sát thực địa, Hai bên thống nhất lựa chọn vùng Mange Bureh thuộc huyện Port Loko làm khu thí điểm trồng lúa. Theo GS Võ Tòng Xuân, tại Sierra Leone chỉ cần cải tạo lại, bón phân hữu cơ, cải tạo hệ thống kênh dẫn nước từ sông vào là có thể trồng được mỗi năm 2 vụ lúa ngắn ngày.

Tiến sĩ Tô Văn Trường đã thuật lại chi tiết trong bài “Giúp châu Phi trồng lúa bài toán được và mất” đăng ở Bài học thực tiễn từ người Thầy: “Vấn đề đặt ra là làm sao có được nguồn kinh phí để có thể bắt tay vào việc xây dựng khu thí điểm này?  Sierra Leone là quốc gia nằm ở Tây Phi có diện tích 71.740 km2, dân số hơn 5 triệu người, có nhiều tiềm năng về tài nguyên (đất đai, nguồn nước, khoáng sản…) nhưng vì mới trải qua cuộc nội chiến, cơ sở vật chất rất nghèo nàn, lạc hậu, lương thực phải nhập khẩu hơn 90%, ngay Thủ đô là Freetown cũng thiếu điện nước trầm trọng, nhiều phố phải thắp đèn dầu và hình ảnh người dân từ già đến trẻ phải nhẫn nại đi đội nước mang về dùng trở thành khá phổ biến trên các đường phố”.

Bài toán đã có lời giải khi Công ty Long Dân, một doanh nghiệp chuyên xuất khẩu mặt hàng nông sản có trụ sở tại TP.HCM đã hợp tác với GS Võ Tòng Xuân bỏ ra 150.000 USD để trồng lúa tại đất nước này. “Việc lựa chọn khu thí điểm hơn 100 ha để trồng lúa ở Mange Bureh là hoàn toàn thích hợp về điều kiện thổ nhưỡng, đất đai, nguồn nước. Giống lúa của Việt Nam đưa sang có ưu điểm là giống lúa ngắn ngày, năng suất cao so với giống lúa địa phương. Các giống lúa trồng thí điểm ở Trại nông nghiệp Rokupr (gần 1 ha) mọc khá tốt vì có đủ nguồn nước. Riêng 4 ha lúa thí điểm ở Mange Bureh phát triển không được như mong muốn vì 3 nguyên nhân (1) Cỏ tranh cao ngút đầu người, làm đất chỉ bằng thủ công không có máy cày lật hết rễ cỏ tranh nên ảnh hưởng nhiều đến cây lúa (2) Làm đất, gieo trồng vào cuối tháng 8 nên khi mùa mưa chấm dứt, không có đủ nguồn nước cung cấp cho các giai đoạn phát triển của cây lúa (ra lá, đẻ nhánh, làm đòng, trổ chín) và (3) bón phân và thuốc trừ sâu đều thiếu so với yêu cầu phát triển của cây lúa.”

Slide22

Giáo sư tiến sĩ Lúa Võ Tòng Xuân đưa ra kinh nghiệm 5 bước kế hoạch phát triển lúa theo cách của Việt Nam gồm: 1) Khảo sát đồng ruộng, chọn điểm và mô tả điểm; . 2) Thiết lập các thí nghiệm hợp phần kỹ thuật về giống, thời vụ bón phân, mật độ, phòng trừ sâu bệnh hại,… thích hợp sinh thái; 3) Thiết kế hệ thống tưới tiêu cho các điểm đã tuyển chọn; 4) Trình duyệt dự án đầu tư được chấp thuận với khuyến nghị đồng thuận của Bộ/ Sở Nông nghiệp đến ngân hàng cho vay; 5) Tổ chức sản xuất lúa gạo cho nông dân địa phương châu Phi với sự hướng dẫn thực hành trồng lúa theo kinh nghiệm Việt Nam. Nhóm chuyên gia do giáo sư Võ Tòng Xuân dẫn đầu đã thu được kết quả khá tốt. Năng suất lúa với giống lúa ngắn ngày đem từ đồng bằng sông Cửu Long qua đã đạt được 4,8 – 5,2 tấn/ha trong vòng 105 ngày, so với giống lúa địa phương trên 140 ngày mà năng suất dưới 3 tấn/ha.

NongdanvaluaVietochauPhi

Nhiều nông dân Đồng Bằng Sông Cửu Long đã được đưa sang các nước châu Phi để chuyển giao kỹ thuật trồng lúa. Bài báo “Quảng bá hạt lúa Việt ở châu Phi” của Hải Cường, Cẩm Tú, B.T đăng trên Dân Việt ngày 25 tháng 1 năm 2012 đã kể chi tiết cho bạn nghe chuyện này: “…cách đây khoảng 5 năm  (2007) bà Từ Thanh Hương, một Việt kiều Đức thuê 110 ha đất nông nghiệp ở nước Cộng hoà Sierra Leone làm trang trại trồng lúa. Lý giải về lý do chọn đất nước này, bà Hương cho hay: “Thổ nhưỡng, khí hậu ở Sierra Leone giống như đồng bằng Nam Bộ Việt Nam, rất thuận lợi trồng lúa nước. Trong khi đấy là đất nước còn rất khó khăn về lương thực“. …“Chúng tôi dựa trên cơ sở hạ tầng thuỷ lợi sẵn có rồi đầu tư thêm một số hạng mục để sản xuất lúa giống bán lại cho người dân địa phương” – bà Hương cho biết. Một số công ty của nước láng giềng Nigeria nghe tin đã lập tức mời GS Võ Tòng Xuân sang khảo sát giúp. GS Xuân đã sang Nigeria thăm 7 tiểu bang, rồi cũng thiết kế chương trình tương tự như ở Sierra Leone. Cũng tương tự như thế, nhóm chuyên gia Việt Nam đã có mặt tại Sudan, Mozambique, Rwanda, Burundi và Liberia để khảo sát vùng thích nghi cây lúa của Ghana và Mauritania theo yêu cầu của Công ty Nissa Development Ltd và Societe Mauritanienne d’Armement Pelagique” .

“Tại Liberia, PGS. TS Dương Văn Chín, Phó Viện Trưởng Viện Lúa ĐBSCL, người đang cùng làm việc với những công nhân nông nghiệp ở một trại thực nghiệm trồng lúa tại vùng Madina cách thủ đô Monrovia 150km, cũng cho biết: “Liberia là một trong số 37 nước trên thế giới đang gặp khủng hoảng và mất an ninh lương thực. Hàng năm đất nước này cần khoảng 500.000 tấn gạo để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nội địa. Trong khi đó, diện tích lúa ở đất rất nhỏ, năng suất thấp. Vì vậy, việc các chuyên gia Việt Nam có mặt tại đây để giúp họ trồng lúa, quảng bá hạt ngọc Việt rất có nhiều ý nghĩa”.

Thực tế là sau một thời gian khảo sát, với kinh nghiệm của mình, Việt Nam có thể giúp Liberia phát triển trồng lúa cũng như quảng bá hạt lúa Việt Nam. Theo PGS TS Dương Văn Chín, chúng ta đã và đang chuyển giao cho bạn những kỹ thuật phù hợp. Thiết kế, xây dựng và vận hành hệ thống thoát thủy khoa học cho vùng đầm lầy. Du nhập và thử nghiệm các giống lúa chất lượng cao từ châu Á. Tập huấn và tổ chức nhân giống lúa cấp xác nhận. “Việc đưa kỹ thuật trồng lúa sang giúp đỡ bạn một mặt sẽ tăng cường quan hệ hai nước, mặt khác sẽ giúp người dân nơi đấy biết đến hạt lúa Việt Nam” – PGS – TS Chín nói.”

Theo những thông tin mới nhất, hiện nay nhiều quốc gia châu Phi đã chính thức đặt vấn đề mở rộng hợp tác đi vào chiều sâu bằng cách đưa nông dân Việt Nam sang châu Phi, triển khai các chương trình sản xuất lúa và chế biến tại chỗ. Hiện tại, ở một số quốc gia châu Phi như Benin, Mali, Mozambique,Guinea Conakry… cũng có khoảng hơn 30 chuyên gia nông nghiệp Việt Nam đang trực tiếp giúp các nước bạn về nhiều ứng dụng công nghệ – khoa học mà Việt Nam đã thành công trong thời gian qua …”

2.2 Sắn Việt đến châu Phi

Sắn là cây lương thực cứu đói, cây thức ăn gia súc, cây tinh bột và nhiên liệu sinh học được FAO quan tâm rất sớm trong các giải pháp an ninh lương thực, hợp tác nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo, nguồn nguyên liệu để mang lại nhiên liệu sạch giá cạnh tranh , mang đến nhiều cơ hội sinh kế và việc làm cho người nghèo của châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh. Bài Nhớ châu Phi tôi đã kể câu chuyện này “Nếu ngành Sắn được định vị lại đúng cách, nó có khả năng tiết kiệm cho lục địa châu Phi khoảng 1,2 tỷ đô la, có thể được chuyển hướng vào các nền kinh tế trong nước của châu lục này”. Sắn là một cây trồng chiến lược cho an ninh lương thực của châu Phi và tạo ra sự giàu có cho thanh thiếu niên, và phụ nữ. Với số lượng sắn lớn nhất đến từ châu Phi, sắn hỗ trợ hơn 350 triệu người ở châu Phi”.giáo sư tiến sĩ  Martin Fregene nói.

Martin Fregene trước đây là chuyên gia CIAT ở Colombia, tiến sĩ di truyền và chọn giống sắn. Ông đã từng tham gia đánh giá giống sắn ở Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp, Đồng Nai, và dự Hội thảo Sắn Quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2000. Trước năm 2000, năng suất sắn Việ Nam tương đương năng suất sắn châu Phi (8 tấn/ ha) Sau năm 2007, năng suất sắn Việt Nam vượt lên gấp đôi (17 tấn/ ha) vượt xa so với năng suất sắn châu Phi.(12 tấn/ha). Nhiều chuyên gia sắn châu Phi đã tới Việt Nam trao đổi học tập kinh nghiệm bảo tồn và phát triển sắn bền vững.

Martin Fregene với các bạn chọn giống sắn châu Phi, châu Mỹ Latinh và châu Á ở CIAT năm 2003. Hiện nay (2019) ông là Giám đốc Ngân hàng Phát triển Phi Châu (AfDB). Giảng dạy và hướng dẫn khởi nghiệp cho các đối tượng trẻ tuổi sinh viện và doanh nghiệp nông nghiệp, giám đốc Martin Fregene đã chia sẻ câu chuyện cá nhân ông và truyền cảm hứng về cách khai mở niềm tin vào tiềm năng của mình, như chính ông đã là tiến sĩ nhưng tự nguyện rời bỏ những điều kiện tốt hơn ở CIAT, Mỹ để trở về dấn thân cho Nigeria và Châu Phi của ông.  Nigeria tổ quốc ông là một quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất châu Phi dân phần lớn thuần nông và nay trồng trên 6 triệu ha sắn vì đất nghèo, dân nghèo, sắn dễ trồng và ít đầu tư. Nigeria  thuộc khu vực Tây Phi và cũng là nước đông dân nhất tại châu Phi với dân số trên 174,5 triệu người đông thứ 7 trên thế giới. Llịch sử Nigeria có nền văn hóa riêng biệt . Bước sang thế kỷ XIX, Nigeria trở thành thuộc địa của Đế quốc Anh và giành được độc lập vào ngày 1 tháng 10 năm 1960, sau Ghana. Tuy độc lập nhưng sau đó Nigeria lại nằm dưới sự cai trị của chính phủ quân sự độc tài cho đến mãi năm 1999, khi nền dân chủ được phục hồi thì lại bị rơi vào vòng xoáy khủng hoảng chính trị bạo lực sắc tộc và các ảnh hưởng nước liên quan đến việc Nigeria là nước có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất châu Phi và là thành viên của tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Kinh tế Nigeria đã bắt đầu phát triển trong các năm gần đây nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức quá to lớn. “Trên 170 triệu dân số, hơn 40 triệu tuổi trẻ thất nghiệp và hơn 70 % dân số sống dưới dòng nghèo đói là gợi ý của tảng băng tan chảy. Hơn 400 triệu dân số hình chiếu của thế kỷ 400 là một thức dậy gọi là ! Chúng ta phải trồng thêm thức ăn, tạo thêm công việc và đảm bảo an ninh thực phẩm ở Nigeria, cho người Nigeria và bởi người Nigeria. ! Nông nghiệp nông nghiệp có thể thay đổi cốt truyện nếu có chính trị chiến lược, thực tế, chính sách của nông dân, các quản trị viên cống hiến, khu vực tư nhân hiệu quả và các cầu thủ hạ thấp. Âm nhạc đã thay đổi. Chúng ta phải thay đổi các bước nhảy để cứu người Nigeria và Nigeria. Chúng ta không thể làm được hiệu quả nếu chúng ta bị trục trặc kỹ thuật.” Ông Ajenifuja Maruf Olalekan bạn của Martin Fregene đã viết vậy. Martin Fregene và các bạn anh nhiều người học thức cao và làm o83 các tổ chức quốc tế đã quay về Tổ Quốc và điều hành một khâu quan trọng để tái định hướng nông nghiệp và đào tạo nguồn lực của Nigeria và châu Phi. Nigeria và các nước châu Phi hiện đang thay đổi bởi những con người như vậy.

Kim_in_Africa

Tôi (tiến sĩ Hoàng Kim, tác giả bài viết này) năm 2003 may mắn được nằm trong nhóm chuyên gia quốc tế khảo sát đánh giá một số vùng sắn chính ở châu Phi và châu Mỹ La tinh  sau đó họp ở CIAT/ Colombia về chọn tạo giống và định hướng nghiên cứu bảo tồn phát triển sắn. Trước đó năm 2000, tôi đã có báo cáo tại FAO (Rome) “Tình trạng sắn tại Việt Nam các gợi ý cho tương tai nghiên cứu và phát triển” (Status cassava in Vietnam: implication for future research and development, by Hoang Kim, Pham Van Bien and R.H. Howeler) và bài được đăng trên tài liệu của FAO 2003. Sau này bài viết này đã được FAO coi như là một chỉ dấu minh chứng so sánh để thấy rõ tốc độ tăng năng suất và sản lượng sắn Việt Nam, đã góp phần tăng thêm sinh kế, thu nhập đời sống và cơ hội việc làm cho người dân nghèo Việt Nam.  Năng suất sắn bình quân của Việt Nam năm 2000 gần tương đương sắn châu Phi và thấp hơn so bình quân năng suất sắn châu Mỹ nhưng sau mười năm, năng suất sắn Việt Nam đã tăng lên gấp đôi và sản lượng sắn Việt Nam tăng lên gấp năm lần, vượt năng suất sắn châu Mỹ và vượt xa năng suất sắn châu Phi. Kinh nghiệm thực tiễn này đã mang cây sắn Việt Nam đến với các bạn châu Phi.

KiminCIATColombia2003

Nhóm chuyên gia sắn quốc tế người Uganda, Nigeria, Brazil, … làm việc ở CIAT năm 2003 để báo cáo kết quả khảo sát các vùng sắn chính ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh và lập kế hoạch phối hợp nghiên cứu phát triển sắn. Tất cả mọi người đều rất hào hứng chăm chú theo dõi và trao đổi về “hợp tác Nam Nam” tầm nhìn của Chính phủ Việt Nam tại Hội thảo Quốc tế Việt Nam – Châu Phi lần 1  chú trọng nông nghiệp.

CIATIndiaVietnam

Nhiều chuyên gia sắn Châu Phi Châu Mỹ Latinh CIAT Châu Á Ấn Độ Việt Nam đã cùng làm việc trên đồng ruộng Việt Nam. Nhiều thầy giáo nhà nghiên cứu sắn ở các Viện Trường và doanh nghiệp của châu Phi và thế giới đã đến cùng làm việc và chia sẻ kinh nghiệm sắn với Việt Nam . Đó là bài học cao quý của cây sắn, một cây trồng của người nghèo đã lan tỏa rộng khắp nơi làm rạng danh Tổ Quốc. Thành tựu công việc đồng ruộng sắn đã được trao đổi chia sẻ thân thiết, cùng bảo tồn và phát triển. Việt Nam có những thành tựu và bài học thành công nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và có những trả giá đau đớn trong sự quản lý chương trình sắn làm nhiên liệu sinh học. Lục địa đen đang vượt lên theo cách riêng của họ. Nigeria hiện đã đưa nhiên liệu xanh “cồn sinh học từ sắn” vào sử dụng trong bếp ga thường ngày của hàng triệu hộ gia đình, thay thế “xăng pha chì truyền thống” được ưu tiên dành cho xuất khẩu. Họ cũng sử dụng sắn đa dạng hơn trong lương thực, thực phẩm chế biến thức ăn gia súc.

SanVietNamketnoichauPhi2

Nhiều thầy giáo, chuyên gia nông học với nhà chế biến xăng dầu và quản lý từ châu Phi đã đến Việt Nam đúc kết thực tiễn đồng ruộng với các sản phẩm từ sắn. Cách mạng sắn ở Việt Nam; Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai; …đã trở thành bài học kinh nghiệm thực tiễn quý báu.

Nigeria and Vietnam far but close 2

Câu chuyện này tôi đã kể trên trang Face Book bài  Sắn Việt Nam kết nối châu Phi

Sắn Ghana bảo tồn và phát triển, thao thức một góc nhìn

†††††

3. VIỆT NAM CHÂU PHI HỢP TÁC

Việt Nam châu Phi cần mở rộng hợp tác thân thiện và gắn bó hơn về nông nghiệp chế biến nông sản du lịch sinh thái, truyền thông, thương mại, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, lao động việc làm, khai thác nhiều kênh hợp tác đầu tư đa phương hiệu quả, ngoài kênh hợp tác song phương chính thức giữa hai chính phủ. Cách làm cần hợp tác khai thông hiệu quả 6M. Con người (Man power), Vật liệu mới Công nghệ mới (Materials), Quản lý (Management) Cách làm (Method) Tiền (Money)

An sinh xã hội, Nông nghiệp sinh thái, Dân tộc Ngôn ngữ Văn hóa là các vấn đề lớn song hành. Châu Phi cần có cách tiếp cận tốt hơn để chấm dứt nạn nghèo đói. Hợp tác Nam Nam do FAO và Chính phủ Việt Nam khởi xướng đầu thế kỷ 21 có ý nghĩa chính trị kinh tế văn hóa xã hội to lớn. Thành tựu và bài học đạt được là tốt, có thể chia sẻ bảo tồn phát triển bền vững. Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp đã tái khẳng định tầm nhìn và ước muốn của bạn trong thay đổi phát triển. Sự cần thiết phải nắm lấy cơ hội, điều chỉnh mới và tăng tốc, đừng để cơ hội vuột đi.

Nông nghiệp sinh thái là giá đỡ kinh tế Việt Nam và châu Phi, cần khai mở tốt hơn về tiềm năng và cơ hội khác phục các vấn nạn và lực cản sản xuất để chấn hưng kinh tế văn hóa xã hội. Đánh giá một đất nước, một dân tộc, một chính sách kinh tế xã hội cần nhìn thấu chất lượng cuộc sống của những người nghèo khổ nhất xã hội là nông dân. Số phận nông dân nông nghiệp nông thôn nếu chưa có chính sách đầu tư đổi mới hiệu quả vững chắc thì chế độ đó chính sách đó vẫn chưa đạt được hiệu quả đích thực. “Định hướng quan trọng hơn tốc độ” (Direction is somuch more important than speed). Tôi đồng tình với đánh giá của các nhà lãnh đạo châu Phi tại diễn đàn kinh tế thế giới ở châu Phi tổ chức tại Kigali 11-13 tháng 5 năm 2016 “Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp” (Source: Africa’s future lies in agriculture – African leaders insist ).

Lúa sắn Việt châu Phi , bài học thực tiễn chưa bao giờ cũ.

Hoàng Kim

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnamese food paradiseKimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on FacebookKimTwitter  hoangkim vietnam 

Ngày của Cha

ConselamaunangcuaCha

Ngày của Cha
CON SẼ LÀ MÀU NẮNG CỦA CHA
Hoàng Kim

Ngày của Cha
Con làm ngựa
Mẹ chụp hình
Vui gia đình
Ngày Hoa Đất

Ngày của Cha
Nhớ ngày giỗ
Năm tháng Năm
Giỗ Tổ Ngoại
nhớ Quảng Bình.

Ngày của Cha
Mười tám sáu
Giữa tháng sáu
Thương Bà Đen
Nhớ Bà Trần
Nhớ thắp hương

Ngày của Cha
Ông thì vui
Bà thì cười
Cha Mẹ mừng
Cháu thì múa

Ngày của Cha
là ngày giỗ
Waterloo
Lưu sử thi
Nhớ Walter Scott

Ngày của Cha
Thấm kiếm bút
Học để làm
Đức làm gươm.

Ngày của Cha
Giữ Môi trường
Lời Olinor Ostrom
Chung Trái Đất

Ngày của Cha
Ngày của Mẹ
Ngày Gia Đình
Nôi hạnh phúc
 

Ngày của Cha
Cậu làm ngựa
Ngoại chụp hình
Vui gia đình
Ngày Hoa Đất

Ngày của Cha
Bình Minh An
Hát liên tục
Hát liên hoàn
Câu ba chữ

Ngày của Cha là ngày Chủ nhật tuần thứ ba của tháng Sáu khoảng 15-21 tháng 6 tùy năm, phổ biến là ngày 18 tháng 6 . Ngày của Cha trong gia đình tôi là ngày nhớ ơn Cha Mẹ, hát ca khúc tuyệt vời Em là hoa hồng nhỏ, ‘Con sẽ là màu nắng của Cha’ để biết ơn Người xem tiếp  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ngay-cua-cha/


Nôi hạnh phúc
 

Ngày của Cha
Cậu làm ngựa
Ngoại chụp hình
Vui gia đình
Ngày Hoa Đất

Ngày của Cha
Bình Minh An
Hát liên tục
Hát liên hoàn
Câu ba chữ

Ngày của Cha là Chủ nhật tuần thứ ba của tháng Sáu khoảng 15-21 tháng 6 tùy năm, phổ biến ngày 18 tháng 6 . Ngày của Cha trong gia đình tôi là ngày nhớ ơn Cha Mẹ, hát ca khúc tuyệt vời Em là hoa hồng nhỏ, ‘Con sẽ là màu nắng của Cha’ để biết ơn Người. Ngày này gia đình tôi ôn lại ký ức tuổi thơ về Mẹ Cha, lời Cha Mẹ yêu thương dặn con, ngày cưới Kim Thủy 20. 6. 1981, ngày sinh Hoàng Tố Nguyên 22.6.2983, ngày tiễn Bà Đen về trời 18.6.2014, ngày giỗ trận Waterloo 18.6.1915 và sử thi Walter Scott , thấu hiểu kiếm bút lấy đức làm gươm; ngày bảo vệ môi trường “Ngôi nhà chung Trái Đất” lời Olinor Ostrom; Ngày thấm thía Nhớ Mẹ Cha, Hoa Đất, Thơ cho con,  Giấc mơ hạnh phúc,

Ngày của Cha là ngày cùng nhớ về tuổi thơ. Tôi đã kể về tuổi thơ tôi trong bài “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” : “Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng”   Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Nhà tôi thuở ấy nghèo quá ! Đói đến mức gần tắt bữa. Mẹ tôi ốm và chết trẻ do hậu sản và suy gan sau khi em tôi mất. Mẹ chết sáng mồng ba Tết “Giáp Thìn bốn chín mẹ quy tiên”. Trước đó, cha đã bán hết tài sản để cứu mẹ nhưng không được. Tài sản đáng giá nhất tôi còn nhớ là: một con bò vàng, hiền nhưng không chịu để ai bắt nạt và có những thế đánh rất giỏi, nổi tiếng khắp cả hai làng Minh Lệ và Hòa Ninh; một căn nhà gỗ mái lợp tranh; một bộ phản cũ và một thùng gỗ vừa là thứ đựng lúa gạo vừa cũng là giường nằm. Mẹ đau nặng, cha bán hết bò, vật dụng và nhà, vừa nói với các con vừa khóc: “Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”. Suốt bao nhiêu năm  trôi qua, khuôn mặt khắc khổ mếu xệch và dòng nước mắt người cha trước sự lựa chọn sinh tử dữ dội luôn thấm mát đời con. Nhà minh con trai con gái ai cũng yêu thương vợ con có lẽ có từ bài học sâu sắc đầu đời này. Trước đó, tôi nghe kể, có lần khi cha bị bắt đi, cha xin chậm lại một chút để chẻ củi nhóm than cho vợ vừa sinh, ông đã tự bổ thẳng vào chân mình, tự thương nên đã tránh được một kiếp nạn.

Mẹ mất lúc tôi lên 9 và chị Huyền tuổi 12. Anh Dộ đi dạy cấp 1 ở xa, chị Huyên đã lấy chồng đều về chịu tang. Hôm mẹ chết, hầu như cả làng đi đưa. Đám tang rất đông vì sinh thời mẹ ăn ở đức độ, phúc hậu và mẹ đẹp người, đẹp nết, chết trẻ vì bệnh hiểm nghèo nên ai cũng thương. Gia đình tôi sau đó còn ba bố con ở chái lều tranh một mái gác xiên trên tường đất cũ. Nền nhà cao hơn một mét, kiềng đá hộc chắc chắn để tránh lụt vô nhà. Nền này, anh Trực tôi đã nhiều đêm cùng cha đào gánh đất đắp nền, trước khi anh tình nguyện đi bộ đội lúc 17 tuổi để cha được miễn dân công hỏa tuyến ở nhà nuôi vợ ốm và hai con nhỏ.

Trong ký ức tuổi thơ của tôi nhớ về mẹ là được dụi đầu vào ngực của người và được mẹ âu yếm. Tôi nhớ ngày còn rất nhỏ theo mẹ đi bán nước chè lá vằng cho bà con cô bác đi chợ, một đọi (chén sành) được hai xu, thỉnh thoảng có người uống đến năm xu, vừa uống vừa xoa đầu tôi: “cháu giỏi lắm, chừng này tuổi mà đã biết giúp mẹ”. Những lúc mệt, tôi lại chạy về ôm mẹ và được mẹ lau mồ hôi cho. Chiếc khăn mẹ thơm mùi trầu cau. Sau này khi đi học, tôi có được thưởng một chiếc khăn mùi xoa. Lúc đó, cha tôi một mình gà trống nuôi con đã nhiều năm. Tôi đưa tặng chiếc khăn cho cha và đó là lần thứ hai  tôi đã nhìn thấy cha khóc; đó cũng là lần đầu tôi làm thơ trong đời.

Chiếc khăn tay

Con cầm về chiếc khăn tay
Của trường, của lớp, của thầy tặng con
Cầm khăn Cụ vui vô cùng
Hai hòn nước mắt tưng bừng tuôn rơi

Gì từng ấy hỡi Cụ ơi
So bằng công Cụ như trời như non
Nuôi con biết mấy năm tròn
Gom từng hột sạu, bòn từng lá rau.

Công ơn của Cụ thẳm sâu
Món quà con đó so đâu công này.

Tôi nhớ về kỷ niệm tuổi thơ bên cha mẹ thật êm đềm. Mẹ cha thường nựng tôi là ‘cục vàng của cụ mạ”, điều này quan hệ đến tên khai sinh và ngày sinh của tôi mà tôi được nghe kể và chứng kiến câu chuyện tuôi thơ khi tôi lên sáu tuổi …

1948 GIAY CHUNG MINH 1
1948 GIAY CHUNG MINH 2



Lời Cha dặn

Cha tôi là lính Vệ quốc đoàn thuộc tiểu đoàn 174, Trung đoàn 18 “Chiến khu thư Tư” của đơn vị bác Lê Văn Tri (sau này là Trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Phó Tư Lệnh Quân chủng Phòng Không Không Quân Việt Nam).Cha bị bom Mỹ giết hại năm 1968. Tôi vắng Mẹ từ tuổi thơ, lớn một chút lại mất Cha vì bom Mỹ giết. Tôi nhớ anh Hai đã thay cha yêu quý và chị gái Hoàng Thị Huyền đã thay mẹ hiền dìu dắt, nâng giấc. Kỹ niệm tuổi thơ yêu thương như dòng sông quê hương thao thiết chảy.

Tôi nhớ tờ giấy ố vàng lời cha dặn:

“Con Kim. Cụ khi mô cũng nhớ ’em’ cả. Con học với thầy phải kính thầy để thầy thương. Con chơi với bạn phải nhường bạn để bạn mến. Con sống với người phải tử tế, phúc đức để họ trọng. Làm gì cũng phải tự ý cẩn thận, đừng nghe người ta xui”.”Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết bán hết tài sản ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”. “ Hoàng Thị Huyền (Thỉu con) sinh buổi sớm 13 tháng 3 năm Mẹo, mặt trời lên ngọn tre. Hoàng Minh Kim sinh gần nửa đêm rằm xuân Gíáp Ngọ, trăng qua ngọn cau hơn hai sào”.

Tôi cất tờ giấy này giữa hai tờ bọc vở của cuốn sổ và mang  tờ giấy này theo bên mình khi rời Nam Quảng Trạch sang bờ bắc rào Nậy (sông Gianh) đến Pháp Kệ, sau đó là Phù Lưu, Đồng Dương để đi học theo anh Dộ tôi đang dạy cấp một. Anh tôi xin thầy Trần Đình Côn, hiệu trưởng nhà trường cho tôi được học cấp ba Bắc Quảng Trạch.

Anh Hai Hoàng Ngọc Dộ của gia đình tôi mất vào lúc gần nửa đêm rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu) năm 1994. Lời anh dạy khắc trên bia mộ “dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm”. Tôi sinh lúc gần nửa đêm rằm xuân Giáp Ngọ 1954 trùng khớp thời khắc đêm anh mất. Kỷ niệm hai anh em lắng đọng trong ha bài thơ ‘Cuốc đất đêm’ và ‘Rằm Xuân’ : “Mười lăm trăng quả thật tròn / Anh hùng thời vận hãy còn gian nan / Đêm trăng nhát cuốc xới vàng / Trăng dòm, ta hẹn trăng càng dòm thêm / Đất vàng, vàng ánh trăng đêm / Đêm khuya ta với nàng quên nhọc nhằn” (Cuốc đất đêm, thơ Hoàng Ngọc Dộ); “Trăng sáng lung linh trăng sáng quá / Đất trời lồng lộng một màu trăng / Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm / Trăng vẫn là trăng trăng vẫn rằm” (Rằm Xuân, thơ Hoàng Kim). Gốc mai vàng trước ngõ. Ba bài học không quên. Đi như một dòng sông. Vầng trăng rằm cổ tích. Mười lăm trăng thật tròn


Em là hoa hồng nhỏ

Nhạc và lời Trịnh Công Sơn,
trình bày Nhóm bé Tuổi hoa

Em sẽ là mùa xuân của mẹ
em sẽ là màu nắng của cha
em đến trường học bao điều lạ
môi biết cười là những nụ hoa

trang sách hồng nằm mơ mà ngủ
em gối đầu trên những dòng thơ
em thấy mình là hoa hồng nhỏ
bay giữa trời làm mát ngày qua

Trời mênh mông đất hiền hòa
bàn chân em đi nhè nhẹ
đưa em vào tình người bao la

cây có rừng bầy chim làm tổ
sông có nguồn từ suối chảy ra
tim mỗi người là quê nhà nhỏ
tình nồng thắm như mặt trời xa.”

Video nhạc tuyển
Bài ca thời gian

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Qua Waterloo nhớ Walter Scott

Qua Waterloo nhớ Walter Scott
Hoàng Kim

Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’
‘The Field of Waterloo 1815’
Sử thi của Walter Scott (*)
Chạm thấu mọi tâm hồn.

“Cánh đồng Waterloo đầy máu
Nói dối chỉ chục ngàn người chết
Nhưng không phải thế đâu
bởi số người bị đâm hay bị bắn
Đã giảm hơn quá nửa
Mẹ góa con côi còn lớn hơn nhiều”

Qua Waterloo nhớ Walter Scott
Kiếm bút của hiền tài
Bền mạnh sắc hơn gươm
Lưu non sông muôn thuở.

Cánh đồng Waterloo hôm nay
Trời xanh đất màu xanh
Khuất phía xa xôi kia
Thiện Ác ẩn hiện hình

Dấu chấm hết ở đây
Vương triều Một trăm ngày
Napoléon danh tướng lẫy lừng
Waterloo trận đánh cuối cùng.

Ông José António Amorim Dias (phải) và Hoàng Kim đi qua cánh đồng Waterloo trên chuyến tàu tốc hành từ Brussels đến Paris

††††††José António Amorim Dias Hoàng Kim
Đại sứ UNESCO và tôi
từ Brussels (Bỉ) đến Paris (Pháp)
Qua Waterloo nhớ Walter Scott †

Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’
‘The Field of Waterloo 1815’
Sử thi của Walter Scott
Chạm thấu mọi tâm hồn.

Kiếm bút của hiền tài
Bền mạnh sắc hơn gươm

(*) Walter Scott
là nhà thơ lỗi lạc nhất Scotland, đại diện cho nền văn học cổ điển Anh. Ông sinh ngày 14 tháng 8 năm 1771 tại Edinburgh, mất ngày 21 tháng 9 năm 1832 tại  Abbotsford House, Di sản của Walter Scott  lưu dấu sâu đậm nhất ở Scotland tại Thư viện Trường Đại học Edinburgh (Edinburgh University Library), Abbotsford House,  Edinburgh. Walter Scott rất nổi tiếng ở châu Âu, Bắc Mỹ, châu Á và Úc nhưng ở Việt Nam chưa thấy chuyên khảo hoặc dịch thuật thơ ông. Tác phẩm The Field of Waterloo 1815 dưới đây là một trong những kiệt tác Sir Walter Scott Poems. Bài thơ này được viết và xuất bản vào năm 1815, ngay sau khi quân liên minh chiến thắng quân đội Napoléon Bonaparte tại trận Waterloo vào ngày 18 tháng 6 năm 1815, Scott đã đến Bỉ vào tháng Tám, và ông là một trong các thường dân nước Anh đầu tiên đến thăm chiến trường. 

Trận Waterloo diễn ra vào ngày chủ nhật 18 tháng 6 năm 1815 tại một địa điểm gần Waterloo, thuộc Bỉ ngày nay. Trận Waterloo đặc biệt nổi tiếng trên thế giới và toàn châu Âu, là một trong những trận đánh nổi tiểng nhất , cũng là dấu chấm hết cho cuộc chiến tranh Napoléon. Quân đội Đế chế Pháp dưới sự chỉ huy trực tiếp của Napoléon Bonaparte đã bị đánh bại bởi liên quân của Liên minh thứ bảy, bao gồm quân Anh và đồng minh do Arthur Wellesley, Công tước thứ nhất của Wellington chỉ huy và quân Phổ do Thống chế Gebhard von Blücher chỉ huy. Trận Waterloo là trận đánh cuối cùng của Napoléon. Thất bại ở trận đánh này đã đặt dấu chấm hết cho ngôi vị Hoàng đế Pháp của Napoléon và Vương triều Một trăm ngày của ông. Trận Waterloo thay đổi cục diện toàn châu Âu thời Napoléon Bonaparte tương tự như Trận Xích Bích  làm thay đổi hẵn cục diện Trung Quốc thời Tam Quốc (Trận Xích Bích diễn ra vào mùa Đông  năm 208 giữa liên  quân Tôn Quyền–Lưu Bị với quân đội của Tào Tháo lấy danh nghĩa triều đình. Trận Xích Bích kết thúc với chiến thắng quyết định của phe Tôn-Lưu, tạo cơ sở hình thành thế chân vạc Tam Quốc của ba nước Tào Ngụy – Thục Hán – Đông Ngô.

The Field of Waterloo 1815 Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’  của Walter Scott nổi tiếng khắp thế giới trong mọi thời đại, tương tự như bài Tiền Xích Bích phú và Hậu Xích Bích phú của đại thi hào Tô Đông Pha. Nó thể hiện tính nhân văn của kiếm bút tài tình có sức mạnh hơn cả lưỡi gươm chinh phạt của những danh tướng lừng danh nhất thế giới. Theo cách nói của Ban zắc, đại văn hào Pháp, tính nhân văn của kiếm bút chạm thấu những phần mà kiếm sắc của Napoleon không bao giờ và không thể với tới được. Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’(The Field of Waterloo) của Walter Scott hướng tới những người nghèo, những số phận kém may mắn trong chiến tranh. Lợi nhuận từ bài thơ của Walter Scott về cuộc chiến được đi vào quỹ cho góa phụ và trẻ mồ côi của người lính. Những câu thơ đặc biệt xúc động, đơn giản nhưng rất khó dịch: “On Waterloo’s ensanguined plain / Lie tens of thousands of the slain; / But none, by sabre or by shot, / Fell half so flat as Walter Scott.” (Trên cánh đồng của Waterloo vấy đầy máu / Nói dối là (chỉ) chục ngàn người bị giết;. /
Nhưng không (phải thế đâu), bởi (số người) bị đâm hay bị bắn, / Đã giảm bằng nửa mức như vậy theo Walter Scott” (Vì những người góa bụa và trẻ mồ côi còn lớn hơn nhiều!) Bài thơ ‘Cánh đồng Waterloo’ (The Field of Waterloo) truyền tải tình yêu cuộc sống và góc nhìn thánh thiện cho biết bao thế hệ người châu Âu, đã lan tỏa nhanh và rộng khắp toàn cầu bởi giá trị nhân văn, lời thơ giản dị xúc động ám ảnh đi thẳng vào lòng người.  Giá trị của bài thơ này tương tự như bài Tiền Xích Bích phú và Hậu Xích Bích phú của đại thi hào Tô Đông Pha, cũng tương tự như bài thơ ‘Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi đã làm lay động biết bao nhiêu khối óc, con tim của người Trung Quốc, Việt Nam và người dân các nước châu Á ở nhiều thế hệ. Đó là những dòng sông thi ca rộng lớn chảy không ngưng nghỉ giữa mạch chính của kiến thức văn hóa nhân loại.

José António Amorim Dias & Hoang Kim .Tôi may mắn được đồng hành cùng ông José António Amorim Dias, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Cộng hòa Dân chủ Timor-Leste tại UNESCO và Liên minh châu Âu đi qua cánh đồng Waterloo trên chuyến tàu tốc hành từ Brussels (Bỉ) đến Paris (Pháp). Chúng tôi chung khoang tàu và đã trò chuyện và chia sẻ rất nhiều điều về  “The Field of Waterloo” của Nam tước Walter Scott  cùng với những triết lý nhân sinh và văn hóa giáo dục. Tôi đã kể chuyện này trong bài “Đêm trắng và bình minh“.Tôi chép nguyên văn bài thơ tiếng Anh “The Field of Waterloo” dưới đây để ước mong các bậc thức giả yêu thích thi ca và thạo tiếng Anh giúp chuyển ngữ bài thơ nổi tiếng này thành tiếng Việt, ngõ hầu góp phần vào việc giao lưu thi ca và văn hóa, góp phần trong công cuộc dạy và học, chấn hưng giáo dục và nâng cao dân trí Việt bằng sự đóng góp  tận tụy, chuyển tải thông tin về danh nhân văn hóa Walter Scott đến bạn đọc Việt. Trân trọng cám ơn sự quan tâm của quý bạn.

Hoàng Kim

Nguyên tác bài thơ: Cánh đồng Waterloo

THE FIELD OF WATERLOO
Poem by Sir Walter Scott

I.

Fair Brussels, thou art far behind,
Though, lingering on the morning wind,
We yet may hear the hour
Pealed over orchard and canal,
With voice prolonged and measured fall,
From proud St. Michael’s tower;
Thy wood, dark Soignies, holds us now,
Where the tall beeches’ glossy bough
For many a league around,
With birch and darksome oak between,
Spreads deep and far a pathless screen,
Of tangled forest ground.
Stems planted close by stems defy
The adventurous foot-the curious eye
For access seeks in vain;
And the brown tapestry of leaves,
Strewed on the blighted ground, receives
Nor sun, nor air, nor rain.
No opening glade dawns on our way,
No streamlet, glancing to the ray,
Our woodland path has crossed;
And the straight causeway which we tread
Prolongs a line of dull arcade,
Unvarying through the unvaried shade
Until in distance lost.

II.
A brighter, livelier scene succeeds;
In groups the scattering wood recedes,
Hedge-rows, and huts, and sunny meads,
And corn-fields glance between;
The peasant, at his labour blithe,
Plies the hooked staff and shortened scythe:-
But when these ears were green,
Placed close within destruction’s scope,
Full little was that rustic’s hope
Their ripening to have seen!
And, lo, a hamlet and its fane:-
Let not the gazer with disdain
Their architecture view;
For yonder rude ungraceful shrine,
And disproportioned spire, are thine,
Immortal WATERLOO!

III.
Fear not the heat, though full and high
The sun has scorched the autumn sky,
And scarce a forest straggler now
To shade us spreads a greenwood bough;
These fields have seen a hotter day
Than e’er was fired by sunny ray,
Yet one mile on-yon shattered hedge
Crests the soft hill whose long smooth ridge
Looks on the field below,
And sinks so gently on the dale
That not the folds of Beauty’s veil
In easier curves can flow.
Brief space from thence, the ground again
Ascending slowly from the plain
Forms an opposing screen,
Which, with its crest of upland ground,
Shuts the horizon all around.
The softened vale between
Slopes smooth and fair for courser’s tread;
Not the most timid maid need dread
To give her snow-white palfrey head
On that wide stubble-ground;
Nor wood, nor tree, nor bush are there,
Her course to intercept or scare,
Nor fosse nor fence are found,
Save where, from out her shattered bowers,
Rise Hougomont’s dismantled towers.

IV.
Now, see’st thou aught in this lone scene
Can tell of that which late hath been? –
A stranger might reply,
‘The bare extent of stubble-plain
Seems lately lightened of its grain;
And yonder sable tracks remain
Marks of the peasant’s ponderous wain,
When harvest-home was nigh.
On these broad spots of trampled ground,
Perchance the rustics danced such round
As Teniers loved to draw;
And where the earth seems scorched by flame,
To dress the homely feast they came,
And toiled the kerchiefed village dame
Around her fire of straw.’

V.
So deem’st thou-so each mortal deems,
Of that which is from that which seems:-
But other harvest here
Than that which peasant’s scythe demands,
Was gathered in by sterner hands,
With bayonet, blade, and spear.
No vulgar crop was theirs to reap,
No stinted harvest thin and cheap!
Heroes before each fatal sweep
Fell thick as ripened grain;
And ere the darkening of the day,
Piled high as autumn shocks, there lay
The ghastly harvest of the fray,
The corpses of the slain.

VI.
Ay, look again-that line, so black
And trampled, marks the bivouac,
Yon deep-graved ruts the artillery’s track,
So often lost and won;
And close beside, the hardened mud
Still shows where, fetlock-deep in blood,
The fierce dragoon, through battle’s flood,
Dashed the hot war-horse on.
These spots of excavation tell
The ravage of the bursting shell –
And feel’st thou not the tainted steam,
That reeks against the sultry beam,
From yonder trenched mound?
The pestilential fumes declare
That Carnage has replenished there
Her garner-house profound.

VII.
Far other harvest-home and feast,
Than claims the boor from scythe released,
On these scorched fields were known!
Death hovered o’er the maddening rout,
And, in the thrilling battle-shout,
Sent for the bloody banquet out
A summons of his own.
Through rolling smoke the Demon’s eye
Could well each destined guest espy,
Well could his ear in ecstasy
Distinguish every tone
That filled the chorus of the fray –
From cannon-roar and trumpet-bray,
From charging squadrons’ wild hurra,
From the wild clang that marked their way, –
Down to the dying groan,
And the last sob of life’s decay,
When breath was all but flown.

VIII.
Feast on, stern foe of mortal life,
Feast on!-but think not that a strife,
With such promiscuous carnage rife,
Protracted space may last;
The deadly tug of war at length
Must limits find in human strength,
And cease when these are past.
Vain hope!-that morn’s o’erclouded sun
Heard the wild shout of fight begun
Ere he attained his height,
And through the war-smoke, volumed high,
Still peals that unremitted cry,
Though now he stoops to night.
For ten long hours of doubt and dread,
Fresh succours from the extended head
Of either hill the contest fed;
Still down the slope they drew,
The charge of columns paused not,
Nor ceased the storm of shell and shot;
For all that war could do
Of skill and force was proved that day,
And turned not yet the doubtful fray
On bloody Waterloo.

IX.
Pale Brussels! then what thoughts were thine,
When ceaseless from the distant line
Continued thunders came!
Each burgher held his breath, to hear
These forerunners of havoc near,
Of rapine and of flame.
What ghastly sights were thine to meet,
When rolling through thy stately street,
The wounded showed their mangled plight
In token of the unfinished fight,
And from each anguish-laden wain
The blood-drops laid thy dust like rain!
How often in the distant drum
Heard’st thou the fell Invader come,
While Ruin, shouting to his band,
Shook high her torch and gory brand! –
Cheer thee, fair City! From yon stand,
Impatient, still his outstretched hand
Points to his prey in vain,
While maddening in his eager mood,
And all unwont to be withstood,
He fires the fight again.

X.
‘On! On!’ was still his stern exclaim;
‘Confront the battery’s jaws of flame!
Rush on the levelled gun!
My steel-clad cuirassiers, advance!
Each Hulan forward with his lance,
My Guard-my Chosen-charge for France,
France and Napoleon!’
Loud answered their acclaiming shout,
Greeting the mandate which sent out
Their bravest and their best to dare
The fate their leader shunned to share.
But HE, his country’s sword and shield,
Still in the battle-front revealed,
Where danger fiercest swept the field,
Came like a beam of light,
In action prompt, in sentence brief –
‘Soldiers, stand firm!’ exclaimed the Chief,
‘England shall tell the fight!’

XI.
On came the whirlwind-like the last
But fiercest sweep of tempest-blast –
On came the whirlwind-steel-gleams broke
Like lightning through the rolling smoke;
The war was waked anew,
Three hundred cannon-mouths roared loud,
And from their throats, with flash and cloud,
Their showers of iron threw.
Beneath their fire, in full career,
Rushed on the ponderous cuirassier,
The lancer couched his ruthless spear,
And hurrying as to havoc near,
The cohorts’ eagles flew.
In one dark torrent, broad and strong,
The advancing onset rolled along,
Forth harbingered by fierce acclaim,
That, from the shroud of smoke and flame,
Pealed wildly the imperial name.

XII.
But on the British heart were lost
The terrors of the charging host;
For not an eye the storm that viewed
Changed its proud glance of fortitude,
Nor was one forward footstep stayed,
As dropped the dying and the dead.
Fast as their ranks the thunders tear,
Fast they renewed each serried square;
And on the wounded and the slain
Closed their diminished files again,
Till from their line scarce spears’-lengths three,
Emerging from the smoke they see
Helmet, and plume, and panoply, –
Then waked their fire at once!
Each musketeer’s revolving knell,
As fast, as regularly fell,
As when they practise to display
Their discipline on festal day.
Then down went helm and lance,
Down were the eagle banners sent,
Down reeling steeds and riders went,
Corslets were pierced, and pennons rent;
And, to augment the fray,
Wheeled full against their staggering flanks,
The English horsemen’s foaming ranks
Forced their resistless way.
Then to the musket-knell succeeds
The clash of swords-the neigh of steeds –
As plies the smith his clanging trade,
Against the cuirass rang the blade;
And while amid their close array
The well-served cannon rent their way,
And while amid their scattered band
Raged the fierce rider’s bloody brand,
Recoiled in common rout and fear,
Lancer and guard and cuirassier,
Horsemen and foot,-a mingled host
Their leaders fall’n, their standards lost.

XIII.
Then, WELLINGTON! thy piercing eye
This crisis caught of destiny –
The British host had stood
That morn ‘gainst charge of sword and lance
As their own ocean-rocks hold stance,
But when thy voice had said, ‘Advance!’
They were their ocean’s flood. –
O Thou, whose inauspicious aim
Hath wrought thy host this hour of shame,
Think’st thou thy broken bands will bide
The terrors of yon rushing tide?
Or will thy chosen brook to feel
The British shock of levelled steel,
Or dost thou turn thine eye
Where coming squadrons gleam afar,
And fresher thunders wake the war,
And other standards fly? –
Think not that in yon columns, file
Thy conquering troops from distant Dyle –
Is Blucher yet unknown?
Or dwells not in thy memory still
(Heard frequent in thine hour of ill),
What notes of hate and vengeance thrill
In Prussia’s trumpet-tone? –
What yet remains?-shall it be thine
To head the relics of thy line
In one dread effort more? –
The Roman lore thy leisure loved,
And than canst tell what fortune proved
That Chieftain, who, of yore,
Ambition’s dizzy paths essayed
And with the gladiators’ aid
For empire enterprised –
He stood the cast his rashness played,
Left not the victims he had made,
Dug his red grave with his own blade,
And on the field he lost was laid,
Abhorred-but not despised.

XIV.
But if revolves thy fainter thought
On safety-howsoever bought, –
Then turn thy fearful rein and ride,
Though twice ten thousand men have died
On this eventful day
To gild the military fame
Which thou, for life, in traffic tame
Wilt barter thus away.
Shall future ages tell this tale
Of inconsistence faint and frail?
And art thou He of Lodi’s bridge,
Marengo’s field, and Wagram’s ridge!
Or is thy soul like mountain-tide,
That, swelled by winter storm and shower,
Rolls down in turbulence of power,
A torrent fierce and wide;
Reft of these aids, a rill obscure,
Shrinking unnoticed, mean and poor,
Whose channel shows displayed
The wrecks of its impetuous course,
But not one symptom of the force
By which these wrecks were made!

XV.
Spur on thy way!-since now thine ear
Has brooked thy veterans’ wish to hear,
Who, as thy flight they eyed
Exclaimed,-while tears of anguish came,
Wrung forth by pride, and rage, and shame,
‘O that he had but died!’
But yet, to sum this hour of ill,
Look, ere thou leav’st the fatal hill,
Back on yon broken ranks –
Upon whose wild confusion gleams
The moon, as on the troubled streams
When rivers break their banks,
And, to the ruined peasant’s eye,
Objects half seen roll swiftly by,
Down the dread current hurled –
So mingle banner, wain, and gun,
Where the tumultuous flight rolls on
Of warriors, who, when morn begun,
Defied a banded world.

XVI.
List-frequent to the hurrying rout,
The stern pursuers’ vengeful shout
Tells, that upon their broken rear
Rages the Prussian’s bloody spear.
So fell a shriek was none,
When Beresina’s icy flood
Reddened and thawed with flame and blood,
And, pressing on thy desperate way,
Raised oft and long their wild hurra,
The children of the Don.
Thine ear no yell of horror cleft
So ominous, when, all bereft
Of aid, the valiant Polack left –
Ay, left by thee-found soldiers grave
In Leipsic’s corpse-encumbered wave.
Fate, in those various perils past,
Reserved thee still some future cast;
On the dread die thou now hast thrown
Hangs not a single field alone,
Nor one campaign-thy martial fame,
Thy empire, dynasty, and name
Have felt the final stroke;
And now, o’er thy devoted head
The last stern vial’s wrath is shed,
The last dread seal is broke.

XVII.
Since live thou wilt-refuse not now
Before these demagogues to bow,
Late objects of thy scorn and hate,
Who shall thy once imperial fate
Make wordy theme of vain debate. –
Or shall we say, thou stoop’st less low
In seeking refuge from the foe,
Against whose heart, in prosperous life,
Thine hand hath ever held the knife?
Such homage hath been paid
By Roman and by Grecian voice,
And there were honour in the choice,
If it were freely made.
Then safely come-in one so low, –
So lost,-we cannot own a foe;
Though dear experience bid us end,
In thee we ne’er can hail a friend. –
Come, howsoe’er-but do not hide
Close in thy heart that germ of pride,
Erewhile, by gifted bard espied,
That ‘yet imperial hope;’
Think not that for a fresh rebound,
To raise ambition from the ground,
We yield thee means or scope.
In safety come-but ne’er again
Hold type of independent reign;
No islet calls thee lord,
We leave thee no confederate band,
No symbol of thy lost command,
To be a dagger in the hand
From which we wrenched the sword.

XVIII.
Yet, even in yon sequestered spot,
May worthier conquest be thy lot
Than yet thy life has known;
Conquest, unbought by blood or harm,
That needs nor foreign aid nor arm,
A triumph all thine own.
Such waits thee when thou shalt control
Those passions wild, that stubborn soul,
That marred thy prosperous scene:-
Hear this-from no unmoved heart,
Which sighs, comparing what THOU ART
With what thou MIGHT’ST HAVE BEEN!

XIX.
Thou, too, whose deeds of fame renewed
Bankrupt a nation’s gratitude,
To thine own noble heart must owe
More than the meed she can bestow.
For not a people’s just acclaim,
Not the full hail of Europe’s fame,
Thy Prince’s smiles, the State’s decree,
The ducal rank, the gartered knee,
Not these such pure delight afford
As that, when hanging up thy sword,
Well may’st thou think, ‘This honest steel
Was ever drawn for public weal;
And, such was rightful Heaven’s decree,
Ne’er sheathed unless with victory!’

XX.
Look forth, once more, with softened heart,
Ere from the field of fame we part;
Triumph and Sorrow border near,
And joy oft melts into a tear.
Alas! what links of love that morn
Has War’s rude hand asunder torn!
For ne’er was field so sternly fought,
And ne’er was conquest dearer bought,
Here piled in common slaughter sleep
Those whom affection long shall weep
Here rests the sire, that ne’er shall strain
His orphans to his heart again;
The son, whom, on his native shore,
The parent’s voice shall bless no more;
The bridegroom, who has hardly pressed
His blushing consort to his breast;
The husband, whom through many a year
Long love and mutual faith endear.
Thou canst not name one tender tie,
But here dissolved its relics lie!
Oh! when thou see’st some mourner’s veil
Shroud her thin form and visage pale,
Or mark’st the Matron’s bursting tears
Stream when the stricken drum she hears;
Or see’st how manlier grief, suppressed,
Is labouring in a father’s breast, –
With no inquiry vain pursue
The cause, but think on Waterloo!

XXI.
Period of honour as of woes,
What bright careers ’twas thine to close! –
Marked on thy roll of blood what names
To Britain’s memory, and to Fame’s,
Laid there their last immortal claims!
Thou saw’st in seas of gore expire
Redoubted PICTON’S soul of fire –
Saw’st in the mingled carnage lie
All that of PONSONBY could die –
DE LANCEY change Love’s bridal-wreath
For laurels from the hand of Death –
Saw’st gallant MILLER’S failing eye
Still bent where Albion’s banners fly,
And CAMERON, in the shock of steel,
Die like the offspring of Lochiel;
And generous GORDON, ‘mid the strife,
Fall while he watched his leader’s life. –
Ah! though her guardian angel’s shield
Fenced Britain’s hero through the field.
Fate not the less her power made known,
Through his friends’ hearts to pierce his own!

XXII.
Forgive, brave Dead, the imperfect lay!
Who may your names, your numbers, say?
What high-strung harp, what lofty line,
To each the dear-earned praise assign,
From high-born chiefs of martial fame
To the poor soldier’s lowlier name?
Lightly ye rose that dawning day,
From your cold couch of swamp and clay,
To fill, before the sun was low,
The bed that morning cannot know. –
Oft may the tear the green sod steep,
And sacred be the heroes’ sleep,
Till time shall cease to run;
And ne’er beside their noble grave,
May Briton pass and fail to crave
A blessing on the fallen brave
Who fought with Wellington!

XXIII.
Farewell, sad Field! whose blighted face
Wears desolation’s withering trace;
Long shall my memory retain
Thy shattered huts and trampled grain,
With every mark of martial wrong,
That scathe thy towers, fair Hougomont!
Yet though thy garden’s green arcade
The marksman’s fatal post was made,
Though on thy shattered beeches fell
The blended rage of shot and shell,
Though from thy blackened portals torn,
Their fall thy blighted fruit-trees mourn,
Has not such havoc bought a name
Immortal in the rolls of fame?
Yes-Agincourt may be forgot,
And Cressy be an unknown spot,
And Blenheim’s name be new;
But still in story and in song,
For many an age remembered long,
Shall live the towers of Hougomont
And Field of Waterloo!

Conclusion

Stern tide of human Time! that know’st not rest,
But, sweeping from the cradle to the tomb,
Bear’st ever downward on thy dusky breast
Successive generations to their doom;
While thy capacious stream has equal room
For the gay bark where Pleasure’s steamers sport,
And for the prison-ship of guilt and gloom,
The fisher-skiff, and barge that bears a court,
Still wafting onward all to one dark silent port;-

Stern tide of Time! through what mysterious change
Of hope and fear have our frail barks been driven!
For ne’er, before, vicissitude so strange
Was to one race of Adam’s offspring given.
And sure such varied change of sea and heaven,
Such unexpected bursts of joy and woe,
Such fearful strife as that where we have striven,
Succeeding ages ne’er again shall know,
Until the awful term when Thou shalt cease to flow.

Well hast thou stood, my Country!-the brave fight
Hast well maintained through good report and ill;
In thy just cause and in thy native might,
And in Heaven’s grace and justice constant still;
Whether the banded prowess, strength, and skill
Of half the world against thee stood arrayed,
Or when, with better views and freer will,
Beside thee Europe’s noblest drew the blade,
Each emulous in arms the Ocean Queen to aid.

Well art thou now repaid-though slowly rose,
And struggled long with mists thy blaze of fame,
While like the dawn that in the orient glows
On the broad wave its earlier lustre came;
Then eastern Egypt saw the growing flame,
And Maida’s myrtles gleamed beneath its ray,
Where first the soldier, stung with generous shame,
Rivalled the heroes of the watery way,
And washed in foemen’s gore unjust reproach away.

Now, Island Empress, wave thy crest on high,
And bid the banner of thy Patron flow,
Gallant Saint George, the flower of Chivalry,
For thou halt faced, like him, a dragon foe,
And rescued innocence from overthrow,
And trampled down, like him, tyrannic might,
And to the gazing world may’st proudly show
The chosen emblem of thy sainted Knight,
Who quelled devouring pride and vindicated right.

Yet ‘mid the confidence of just renown,
Renown dear-bought, but dearest thus acquired,
Write, Britain, write the moral lesson down:
‘Tis not alone the heart with valour fired,
The discipline so dreaded and admired,
In many a field of bloody conquest known,
-Such may by fame be lured, by gold be hired:
‘Tis constancy in the good cause alone
Best justifies the meed thy valiant sons have won.Sir Walter Scott

       
Xem chi tiết tại:

Walter Scott (1771 - 1832)


Sir Walter Scott
Raeburn‘s portrait of Sir Walter Scott in 1822.

Welcome to the Walter Scott Digital Archive

Video nhạc tuyển
Bài ca thời gian

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter