Sự thật tốt hơn trăm lời nói

SỰ THẬT TỐT HƠN TRĂM LỜI NÓI
The truth is better than a hundred words
Hoàng Kim


Sự thật tốt hơn trăm lời nói
Bài thơ “Theo chân Bác” chớ quên
Lúa, sắn Việt Nam bài học lớn
Vui chào ngày mới, cố lên em !

The poem “Follow Uncle” should not forget
Vietnamese rice and cassava are great lessons
Glad to celebrate the new day, try to come up!

Bài liên quan
CNM365 Chào ngày mới 30 tháng 5
Tháp vàng hoa trắng nắng Mekong

CNM365 Chào ngày mới 30 tháng 5 đang xem 1613 người, ngày phát hành bài này. SỰ THẬT TỐT HƠN TRĂM LỜI NÓI The truth is better than a hundred words

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày


Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Tháp vàng hoa trắng nắng Mekong

THÁP VÀNG, HOA TRẮNG, NẮNG MEKONG
Hoàng Kim

Cám ơn Lao Thao‎ and Jonathan Newby kết nối đến ACIAR Cassava Value Chain and Livelihood Program 30 May 2019 .We have done on farm fertilizer demonstration and trials, and intercropping demonstration in ACIAR cassava value chain target districts for Laos — với บุนไท สีละพงLaothao Youabee. Lào đất nước con người xưa và nay ấn tượng trong tôi. Cảm ơn Nguyễn Thị Trúc Mai cùng với Hieu Nguyenminh7 người khác với thông tin sắn Việt Nam đã chia sẻ: Năm giống sắn mới tại Phú Yên, năng suất bột cao và sạch bệnh, tiếp tục chọn tạo và nhân giống, bảo tồn và phát triển bền vững.

Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong
Ấn tượng Viên Chăn thật lạ lùng
Nơi đâu hối hả, đây trầm lắng
Một vùng đất Phật ở ven sông.

Nhớ thuở Nguyễn công gây nghiệp lớn
Ai Lao thường mở lối đi về
Trung Hưng thành tựu nhờ chung sức
Núi thẳm, lòng dân đã chở che.

Dân Việt ngàn năm xuôi lấn biển
Tựa lưng vào núi hướng về Nam
Thoáng chốc nghìn năm nhìn trở lại
Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong.

Reinhardt Howeler, Hoàng Kim ở Lào (ảnh Hoàng Kim)
Lao Thao với บุนไท สีละพงLaothao Youabee (ảnh Lao Thao)
Jonathan Newby kết nối đến ACIAR Cassava Value Chain and Livelihood Program 30 May 2019
Lao Thao với บุนไท สีละพงLaothao Youabee (ảnh Lao Thao)
Lao Thao với บุนไท สีละพงLaothao Youabee (ảnh Lao Thao)
Nguyễn Thị Trúc Mai cùng với Jonathan Newby12 người khác đang ở Phú Yên
Nguyễn Thị Trúc Mai cùng với Jonathan Newby12 người khác đang ở Phú Yên
Nguyễn Thị Trúc MaiPhú Yên
Nguyễn Thị Trúc MaiPhú Yên

SỰ THẬT TỐT HƠN TRĂM LỜI NÓI
The truth is better than a hundred words
Hoàng Kim

Sự thật tốt hơn trăm lời nói
Bài thơ “Theo chân Bác” chớ quên
Lúa , sắn Việt Nam bài học lớn
Vui chào ngày mới, cố lên em !

The truth is better than a hundred words
The poem “Don’t follow Uncle” should not forget
Vietnamese rice and cassava are great lessons
Glad to celebrate the new day, try to come up!

LÚA SẮN CAMPUCHIA VÀ LÚA SẮN LÀO
Hoàng Kim

Lúa sắn Campuchia và lúa sắn Lào là điểm nhấn mà tôi thích quay lại và không quên. Campuchia và Lào tôi đã nhiều đến làm việc và du lịch sinh thái, tôi có nhiều bạn ở đó. Ba nước Việt Nam Lào Cămpuchia chung nôi bán đảo Đông Dương kết nối mật thiết về đất nước con người, Lúa sắn Campuchia và lúa sắn Lào, du lịch sinh thái, giáo dục kinh tế nông lâm ngư, lịch sử văn hóa, xã hội có nhiều điều thật thú vị đáng suy ngẫm .
So sánh bức tranh nông sản lúa sắn Việt Nam Cămpuchia Lào thì Việt Nam năm 2014 diện tích canh tác lúa là 7.816,476 ha, năng suất lúa 5,75 tấn/ ha, sản lượng 44,97 triệu tấn; diện tích sắn 552.760 ha, năng suất sắn 18,47 tấn/ha, sản lượng sắn 10,20 triệu tấn. Campuchia năm 2014 diện tích canh tác lúa là 2.856.703 ha, năng suất 3,26 tấn/ ha, sản lượng 9,32 triệu tấn; diện tích sắn 257.845 ha, năng suất 25,78 tấn/ha, sản lượng 8,58 triệu tấn. Lào năm 2014 diện tích canh tác lúa là 957.836 ha, năng suất 4,17 tấn/ ha, sản lượng 4,00 triệu tấn; diện tích sắn 60.475 ha, năng suất 26,95 tấn/ha, sản lượng 1,63 triệu tấn. Việt Nam năm 2016 diện tích canh tác lúa là 7.783.113 ha, năng suất lúa 5,58 tấn/ ha, sản lượng 43,43 triệu tấn; diện tích sắn 579.898 ha, năng suất sắn 19,04 tấn/ha, sản lượng sắn 11,04 triệu tấn. Campuchia năm 2016 diện tích canh tác lúa là 2.866.973 ha, năng suất 3,42 tấn/ ha, sản lượng 9,82 triệu tấn; diện tích sắn 387.636 ha, năng suất 26,33 tấn/ha, sản lượng 10,20 triệu tấn. Lào năm 2016 diện tích canh tác lúa là 973.327 ha, năng suất 4,26 tấn/ ha, sản lượng 4,14 triệu tấn; diện tích sắn 94.726 ha, năng suất 32,68 tấn/ ha, sản lượng 3,09 triệu tấn.
LÚA SẮN CĂMPUCHIA

Lúa, sắn Cămpuchia, chúng ta có thể dạy và học gì với nông dân? Tôi lưu lại đây một điểm nhấn hợp tác lúa sắn với nông nghiệp Căm pu chia để có dịp quay lại viết sâu hơn, kể câu chuyện tiếp nối các câu chuyện Hợp tác Bảo tồn và Phát triển. Đất nước Angkor nụ cười suy ngẫm .

Tiến sĩ Sango Mahanty, chuyên gia Tài nguyên Môi trường & Phát triển Nhóm, Crawford trường và phát triển Chính sách công, đại học Úc (ANU) và Hoàng Kim với hậu cảnh là ngô, sắn chế biến (ành Bảo Chinh)

Câu chuyện này tôi đã kể với Sango Mahanty giáo sư và chuyên gia kinh tế nổi tiếng của Trường Đại học Úc. Tôi kết luận về sự trãi nghiệm và suy ngẫm của tôi với đất nước này.“Tiềm năng hợp tác nghiên cứu phát triển lúa sắn Việt Nam Căm pu-chia là rất to lớn. Điều này không chỉ đối với cây lúa, cây sắn mà với tất cả các lĩnh vực hợp tác về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, nông lâm ngư nghiệp, điện, nước, du lịch và thương mại, đời sống dân sinh cũng đều như vậy. Nhưng chúng ta không được ăn vào tiềm năng. Hãy nghĩ đến một sự hợp tác thân thiện, bền vững, khai mở được tiềm năng to lớn của hai dân tộc để cùng có lợi, cùng phát triển”.

Sự thay đổi xã hội, môi trường dọc biên giới Campuchia Việt Nam là thật nhanh chóng. Một thí dụ nhỏ về cây sắn. Nhìn lại số liệu sắn Campuchia đầu năm 2011 khi tôi sang khảo sát bên đó thì năm 2010 Campuchia có tổng diện tích sắn là 20.230 ha, đạt sản lượng thu hoạch 4,24 triệu tấn, năng suất sắn củ tươi bình quân là 20,99 tấn/ ha. So với Việt Nam cùng kỳ (năm 2010) có tổng diện tích sắn là 498.000 ha, đạt sản lượng thu hoạch 8,59 triệu tấn, năng suất sắn củ tươi bình quân là 17,26 tấn/ ha. (FAOSTAT 2015). Tốc độ phát triển sắn Campuchia những năm gần đây nhanh hơn sắn Việt Nam. Lý do vì: doanh nghiệp Việt Nam và Cămpuchia tổ chức trồng sắn kinh doanh tại những vùng đất dọc biên giới, nơi trồng sắn hầu hết là rừng mới khai phá đất tốt; Sư tổ chức canh tác phần lớn theo kiểu sản xuất kinh doanh khép kín để bán củ tươi về Việt Nam hoặc chế biến tại chỗ. Giống sắn Campuchia do các thương lái Việt Nam chuyển sang buôn bán cây giống để thu mua củ tươi, nên theo rất sát nhưng tiến bộ giống sắn mới nhất của Việt Nam. Hiện tại tổng diện tích sắn trồng của Cămpuchia có trên 90% được trồng là ba giống sắn tốt nhất KM419 ( khoảng 60%), KM98-5 (khoảng 10%) và KM94 (khoảng 20%) . Mười biện pháp kỹ thuật canh tác sắn thích hợp bền vững theo kinh nghiệm đúc kết của Việt Nam và CIAT được bạn ứng dụng nhanh và tốt trong sản xuất.

Đến đất nước Cămpuchia nhiều lần trong các chuyến khảo sát sản xuất thị trường sắn, cũng như giúp các doanh nghiệp Việt Nam, Cămpuchia và các bạn quốc tế canh tác sắn tại Cămpuchia. tôi thường thích mang theo tài liệu “Du lịch Cămpuchia” và cuốn sách  “Hồi ký Sihanouk: Những lãnh tụ thế giới mà tôi từng biết”  (dịch từ Nguyên tác Sihanouk Reminisces World Leaders I Have Known). Qua cửa khẩu Hoa Lư và các cửa khẩu khác dọc biên giới Việt _Cămpuchia, tôi chứng kiến nhiều lần những hàng xe tải lớn chở sắn nối đuôi nhau mút tầm mặt, gợi mở bao điều muốn nói về một tiềm năng hợp tác to lớn. Tôi khuyên Sango nên tìm lại những người sản xuất và kinh doanh lúa sắn Angkor là bạn cũ của tôi ở bên ấy. Họ sẽ giúp Sango và Bảo Chinh khám phá những điều mới mẻ trong nghiên cứu phát triển lúa sắn, những biến đổi xã hội và môi trường nhanh chóng dọc theo biên giới Campuchia-Việt Nam. Luật nhân quả và những minh triết sâu sắc của cuộc sống sẽ khai mở cho chúng ta nhiều điều để dạy và học.

Cămpuchia đất rừng bạt ngàn, phần lớn là đất xám khá bằng phẳng, khó thoát nước. Dân cư thưa thớt. Trẻ em nghèo ít học khá phổ biến ở vùng sâu vùng xa.

Những giống sắn phổ biến ở Căm pu chia là KM94, KM98-5  nhập từ Việt Nam. Giống sắn mới triển vọng KM419 (BKA900 x KM 98-5 lai tạo tại Việt Nam), KM140, KM98-1, KM98-5 và KM325 (nguồn gốc SC5 x SC5 lai tạo tại Việt Nam) cũng đã được trồng nhiều nơi khá rộng rãi.

Chị Soc Chia thôn Tờ Rôn, nhà cách Snua 15 km, chồng trước đi lính nay chủ yếu đi xẻ cây, có tám con, năm đứa đi học , trường xa 4-5 km có đất mì 4 ha, đất lúa 1 ha , nuôi 5 bò và một số gà vịt. Nhà chở nước uống xa đến 5 km.

Hộ ông Seng San trồng 4 ha sắn KM98-5 và KM94 làm thuê cho ông Kim Ren ở Snua, đầu tư giống mới, xịt phân bón qua lá, chưa dùng phân chuống và NPK.

Sắn KM94 trồng luống từ cuối tháng 10 nay sinh trưởng khá tốt, nếu bón phân đúng cách và sạch cỏ có thể đạt trên 30 tấn củ tươi/ha do đất mới khai phá còn giàu dinh dưỡng.

Cây giống sắn KM94 bảo quản tự nhiên gần rẫy từ tháng 11 để trồng lại đầu tháng 5 năm sau. (Ở Kampong Cham, Karatie và Mondulkiri những vùng trồng sắn chính của Căm pu chia cũng có hai vụ chính trồng sắn tương tự như Tây Ninh và Bình Phước của Việt Nam).

Tiềm năng phát triển sắn thật lớn từ Kam Pong Cham đến Karatia đến Sen Monorom. Giống chủ lực nay là KM94, KM419, KM98-5, KM325 những giống sắn tốt từ Việt Nam. Lòng chúng tôi xúc động tự hào vì cống hiến của các nhà khoa học Việt Nam qua hệ thống doanh nhân của hai nước đã làm giàu cho nhiều người dân và góp phần mang lại thịnh vượng chung cho cộng đồng Việt Miên Lào.

Anh Phạm Anh Tuấn (Tổng Giám đốc Công ty TNHH Nhiên liệu Sinh học Phương Đông, cô Nguyễn Thị Mỵ, Tổng Giám đốc HAMICO đều tâm đắc với sự đánh giá và trao đổi của tôi: “Tiềm năng hợp tác nghiên cứu phát triển sắn Việt Nam – Căm pu-chia là rất to lớn, Điều này không chỉ đối với cây sắn mà với tất cả các lĩnh vực hợp tác về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, nông lâm ngư nghiệp, điện, du lịch và thương mại, đời sống dân sinh cũng đều như vậy. Nhưng không được ăn vào tiềm năng. Hãy nghĩ đến một sự hợp tác thân thiện, bền vững,  khai mở được tiềm năng to lớn của hai dân tộc để cùng có lợi, cùng phát triển …

Tôi đã có ít nhất tám lần đến Angkor, nhưng lần nào cũng chỉ kịp lưu lại một ít hình ảnh và ghi chép ngắn mà chưa kịp biên tập. Đất nước Angkor, nụ cười suy ngẫm Thăm quần thể kiến trúc Angkor, bơi thuyền trên Biển Hồ và đi dạo ban mai ở Phnôm Pênh, nơi hợp lưu của sông Mekong và sông Tonlé Sap là ba việc thú vị nếu bạn chỉ có thời gian ngắn du lịch Campuchia.

Bạn nếu sang làm việc dài ngày thì nên dành thì giờ tìm hiểu sự chuyển biến kinh tế, xã hội, môi trường dọc theo biên giới Việt Miên Lào hoặc xuôi dòng Mekong bạn sẽ có rất nhiều điều kỳ thú. Lúa Cămpuchia đoạt chất lượng gạo ngon cao giá nhất hiện nay.Cây sắn Cămpuchia chuyển đổi sản lượng từ bốn triệu tấn năm 2010 tăng gấp đôi lên tám triệu tấn năm 2013, và vượt sản lượng năng suất Việt Nam từ năm 2016  chỉ sau sáu năm. Tôi không ngạc nhiên vì biết rõ những gì đã xảy ra và vì sao như vậy, nhưng thật khó lý giải. Nhiều năm giúp bạn trồng lúa sắn, đi trên đất nước Angkor, tôi hiểu mình đang đối thoại với một nền văn hóa lớn. Angkor nụ cười suy ngẫm. Lúa sắn Angkor.

Đền Banteay Srei thờ thần Shiva được thánh hóa ngày 22 tháng 4 năm 967 tại khu vực Angkor thuộc Campuchia ngày nay. Ngày huyền thoại này gợi cho tôi trở về ký ức lúa sắn Angkor.

Đền Banteay Srei thờ nữ thần Thánh Mẫu Shiva tại tọa độ 13,59 độ vĩ bắc,103,96 độ kinh đông, nằm gần đồi Phnom Dei, cách 25 km về phía đông bắc của nhóm các đền  Angkor Thom của các kinh đô cổ đại .Đền Thành Mẫu Banteay Srei gợi sự đồng văn với Đạo Mẫu Việt Nam trong tư duy triết học Phương Đông của dịch lý truyền nhân mà người chồng nếu bị hủy diệt thì người vợ chính là nguồn gốc để truyền nhân, “còn da lông mọc, còn chồi nãy cây” vì người Mẹ là gốc sinh tồn của muôn loài, mà có dịp tôi sẽ bàn sâu hơn với bạn trong một chuyên khảo khác.


Shiva là là một vị thần quan trọng của Ấn Độ giáo một trong năm hình thức nguyên sơ của Thượng đế. Shiva là hiện thân của sáng tạo và sự khởi đầu cái mới, đại diện cho sự hủy diệt cái cũ để phát triển. Shiva hợp chung cùng Trimurti, Vishnu  thành ba vị thần sáng tạo, bảo quản và tiêu hủy. Shiva được xem như vô hạn, siêu việt, bất biến và vô tướng vô hình vừa nhân từ vừa kinh sợ,  được mô tả như là một vị thần toàn trí, bảo trợ của yoga và nghệ thuật. Shiva sống khổ hạnh trên núi Kailash với vợ và hai con nhưng ở khía cạnh kinh sợ, Shiva thường được mô tả như một ác thần hay chém giết.  Shiva có các biểu tượng chính là có con mắt thứ ba trên trán, con rắn Vasuki quanh cổ, trăng lưỡi liềm trang hoàng, sông thánh Ganga (Sông Hằng) chảy từ mái tóc rối bù của mình, với vũ khí là đinh ba (Trishula) và nhạc cụ là một loại trống lắc (damaru). Thần Shiva thường được thờ cúng dưới hình thức Shiva linga. Trong các ảnh tượng, thần được thể hiện trong trạng thái thiền định sâu hoặc đang múa điệu Tandava trên Maya.

Đền Banteay Srei là viên ngọc quý của nghệ thuật Khme được xây chủ yếu bằng đá sa thạch đỏ và chất pha màu đặc biệt được lưu dấu trên các bức điêu khắc trang trí tỉ mỉ trên tường đạt hình thức cực kỳ tinh xảo của tiêu chuẩn đặc biệt cao của các công trình Angkor cho ngôi đền đặc biệt nổi tiếng.Ngôi đền là là bức tranh tuyệt tác về nghệ thuật điêu khắc trên đá ong và sa thạch đỏ. Bản thân ngôi đền được xem là tuyệt đỉnh của nghệ thuật trên đá với những bức phù điêu hoa văn tinh tế và đặc biệt khéo léo đến từng chi tiết nhỏ. Ngôi đền ban đầu thờ thần Shiva, trong khi đó ngôi đền phía Bắc lại thờ thần Vishnu, với nhiều bí mật lâu đài cổ, và các câu chuyện cổ xưa cần được khám phá. Tôi đến đây đã mấy lần nhưng nhiều sâu sắc vẫn chưa thấu tỏ.

Lúa Angkor, sắn Angkor và Du lịch sinh thái là ba ấn tượng yêu thích nhất.

DatnuocLao2

LÚA SẮN LÀO

Lúa sắn ở Lào có một vị trí quan trọng.  Khái quát về lịch sử và điều kiện sinh thái. Lào là một đất nước miền núi ở trung tâm bán đảo Đông Nam Á. Nước Lào có nguồn gốc lịch sử văn hoá từ Vương quốc Lan Xang (Vạn Tượng, Triệu Voi) được vua Lào Phà Ngừm khai sáng năm 1354. Vương quốc Lan Xang sau thời kỳ thịnh vương đến năm 1695 đã rơi vào khủng hoảng bởi tranh giành nội bộ và năm 1707 bị chia ba thành Vương quốc Luang Phrabang ở phía bắc, Vương quốc Viêng Chăn ở trung tâm, Vương quốc Champasak ở phía nam. Năm 1893, Pháp bảo hộ Liên bang Đông Dương đã hợp nhất ba vương quốc này thành lãnh thổ Lào. Sau khi Nhật chiếm đóng, Lào giành độc lập song người Pháp đã áp đặt lại quyền cai trị cho đến khi Lào được tự trị vào năm 1949. Lào độc lập vào năm 1953 với chính thể quân chủ lập hiến. Lào xẩy ra nội chiến trường kỳ kết thúc vào năm 1975 với phong trào Pathet Lào do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo đã lập nên chính thể hiện nay. Lào có điều kiện sinh thái tương tự vùng miền Trung và Tay Nguyên Việt Nam với khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,mùa khô mát từ tháng 11 đến tháng 2, mùa khô nóng từ tháng 3 đến tháng 4. Lượng mưa hàng năm từ 1350mm đến 3700mm. Tổng diện tích đất đai Lào 23.080.000 ha trong đó đất nông nghiệp: 1.959.000 ha (8,5%), đất trồng trọt khoảng 1.000.000 ha (4.3%) đất dốc trên 30% chiếm 54%, đất dốc trên 89% chiếm 8%.  Lào là nước có mức sống người dân nghèo hơn so với Việt Nam và Cămpuchia.  Nông nghiệp Lào chiếm 40% GDP, ngành công nghiệp chiếm 35% (chủ yếu là khai thác mỏ gổ và thủy điện) Dịch vụ 25% (chủ yếu là kinh doanh du lịch). 80% người dân tham gia các hoạt động nông nghiệp với hầu hết là nông dân sản xuất nhỏ. Lúa là cây trồng chính trong mùa mưa, đặc biệt là ở các nơi đất thấp dọc lưu vực sông Mêkông. Lúa nương, sắn, khoai lang, rau, ngô, cà phê, cao su, mía, thuốc lá, bông, chè, đậu phộng, là những cây trồng quan trọng đối với nhiều nông hộ ở vùng cao. Chiến lược quốc gia là thu hút đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào sản xuất, tiếp thị và chế biến nhằm mục đích tối đa hóa sự tham gia của người nông dân và gia đình, ưu tiên cao su, mía đường, lâm nghiệp, cà phê, sắn, ngô, sử dụng cạnh tranh cho đất, khai thác mỏ, thủy điện, phát triển “chiến lược quốc gia về xoá đói và giảm nghèo” (gồm 47 huyện ưu tiên rất nghèo và 25 huyện nghèo .

Tôi lần đầu tham gia đào tạo và tập huấn ở Lào cùng với tiến sĩ Reinhardt Howeler về “phương pháp FPR chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác sắn” năm 2001, lần kế tiếp  họp lúa sắn ở thủ đô Viên Chăn với tiến sĩ Nguyễn Văn Ngãi, một lần khác tham gia hội thảo sắn châu Á năm 2008 với tiến sĩ Rod Lefroy, giám đốc vùng sắn châu Á của CIAT, giáo sư Trần Ngọc Ngoạn, thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Loan, tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa Lý, tiến sĩ Nguyễn Hữu Hỷ và tiến sĩ Nguyễn Phương. Sau đó tôi cũng có ba lần tham gia học tập trao đổi, đánh giá khảo sát hiệu quả đầu tư với các tổ chức Quốc tế và với nhóm chuyên gia  Hernan Ceballos CIAT, Keith Fahrney CIAT- Lào,  Vinayaka Hegde CTCRI, Ấn Độ, Bernardo Ospina,CLAYUCA, Colombia, Tin Maung Aye CIAT- Lào,  Tian Yinong GSCRI, Trung Quốc . Nhiều báo cáo power point, tài liệu làm việc và những câu chuyện lúa sắn chưa dịp kể. Tháp vàng hoa trăng nắng Mekong hóa ra lắng đọng nhất.

Tháp Vàng (That Luang), Hoa Trắng (Champa), nắng Mekong (golden light in Mekong River) là những ấn tượng khó quên về đất nước Lào. Tháp vàng là biểu tượng quốc gia. Hoa trắng là sắc hoa sứ thanh khiết mà người Lào rất mến chuộng. Nắng vàng rực rỡ trên sông Mekong tạo nên vẻ đẹp kỳ ảo của Viên Chăn. Uống bia Lào, ăn mực và nhâm nhi cà phê Việt, ngắm nắng chiều dát vàng trên sông xanh mà bờ sông bên kia là Thái Lan, để lắng nghe nhịp sống chậm rãi và yên bình.Tôi vui được tham dự Hội nghị Nghiên cứu Sắn Quốc tế lần thứ Tám (8th Asian Cassava Research Workshop) tổ chức tại Viên Chăn, đã cảm khái viết bài thơ “Tháp vàng hoa trắng nắng Mekong” và lưu lại một số hình ảnh đẹp về đất nước Lào.

THÁP VÀNG, HOA TRẮNG, NẮNG MEKONG
Hoàng Kim

Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong
Ấn tượng Viên Chăn thật lạ lùng
Nơi đâu hối hả, đây trầm lắng
Một vùng đất Phật ở ven sông.

Nhớ thuở Nguyễn công gây nghiệp lớn
Ai Lao thường mở lối đi về
Trung Hưng thành tựu nhờ chung sức
Núi thẳm, lòng dân đã chở che.

Dân Việt ngàn năm xuôi lấn biển
Tựa lưng vào núi hướng về Nam
Thoáng chốc nghìn năm nhìn trở lại
Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong.

DatnuocLao1
DatnuocLao5
DatnuocLao6

(còn nữa … https://hoangkimlong.wordpress.com/category/lua-san-campuchia-va-lua-san-lao/)

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook Kim on Twitter

Việt Nam Tổ Quốc tôi

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI
Việt Nam thông tin khái quát
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim
(thu thập, tổng hợp, biên soạn)

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI  là trang thông tin khái quát kết nối với các trang Nong Lam University in Ho Chi Minh TS. Hoàng Kim Học tiếng Trung Việt Dạy và học Cây Lương thực Việt Nam (www.foodcrops.vn) Tình yêu cuộc sống CNM365 nhằm tìm hiểu và giới thiệu về Việt Nam Đất nước Con người, Ngôn ngữ Nông nghiệp Du lịch Sinh thái, Lịch sử Địa lý Giáo dục Văn hóa, Kinh tế Xã hội Truyền Thông Ebook.

Việt Nam Đất nước Con người câu hỏi thường gặp đầu tiên là Việt Nam thông tin khái quát. Trả lời câu hỏi này, nguồn trích dẫn chính được sử dụng là tài liệu Việt Nam Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia Tiếng Việt, đối chiếu với ngôn ngữ khác đặc biệt là Việt Nam học tiếng Anh English và tiếng Trung 中文 làm định hướng, sau đó đi thẳng vào những trang liên kết trong và ngoài nước để liên tục bổ sung hoàn thiện thêm. Tài liệu do nhóm ngghiên cứu Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim đồng thực hiện liên kết với việc giảng dạy ngôn ngữ với nông nghiệp du lịch sinh thái ở Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn và tài liệu Ebook Việt đọc thêm, ‘lớp học trên đồng’ cho sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chi Minh. Mời các bạn cùng học cùng đọc và trao đổi, hiệu đính, bổ sung thông tin tại đây hoặc trên trang KimFacebook, Dạy và Học

Việt Nam là một quốc gia nằm ở phía đông, giáp với Lào và Campuchia, thuộc bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á thuộc châu Á. Thông tin VIỆT NAM trên Wikipedia tiếng Việt đến 28 tháng 5 năm 2019 được trích  dẫn đầy đủ như sau:

Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Buớc tưới chuyển hướngBước tới tìm kiếm

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Trang đang bị hạn chế sửa đổi

Đối với các định nghĩa khác, xem Việt Nam (định hướng) và các tên gọi của nước Việt Nam.

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí Việt Nam (đỏ) trên thế giới, bao gồm Quần đảo Hoàng SaQuần đảo Trường Sa (chấm đỏ) Vị trí của  Việt Nam  (xanh)ở Đông Nam Á  (xám đậm)  –  [Chú giải]
Tiêu ngữ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Quốc ca
Tiến quân ca” Trình đơn0:00
Hành chính
Chính phủNhất thể
xã hội chủ nghĩa đơn đảng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nướcNguyễn Phú Trọng
Phó Chủ tịch nướcĐặng Thị Ngọc Thịnh
Thủ tướngNguyễn Xuân Phúc
Chủ tịch Quốc hộiNguyễn Thị Kim Ngân
Lập phápQuốc hội Việt Nam
Thủ đôHà Nội
21°2′B 105°51′Đ
Thành phố lớn nhấtThành phố Hồ Chí Minh
10°46′B 106°40′Đ
Địa lý
Diện tích331.699 km² (phần đất liền)[1]
(128.565) mi² (hạng 66)
Diện tích nước6,4[2] %
Múi giờGiờ chuẩn Việt Nam (UTC+07:00)
Lịch sử
Thành lập
2 tháng 9 năm 1945Tuyên bố độc lập
30 tháng 4 năm 1975Thống nhất đất nước
2 tháng 7 năm 1976Quốc hiệu hiện tại
28 tháng 11 năm 2013Ban hành Hiến pháp hiện tại
Sắc tộc 85,7% Người Kinh[a] 53 dân tộc thiểu số[hiện]
Dân số ước lượng (2018)94.660.000[4] người (hạng 15)
Mật độ311 người/km²
806 người/mi²
Kinh tế
GDP (PPP) (2018)Tổng số: 707.620 tỷ USD[5] (hạng 35)
Bình quân đầu người: 7,482 USD[5] (hạng 128)
GDP (danh nghĩa) (2018)Tổng số: 241.434 tỷ USD[5] (hạng 47)
Bình quân đầu người: 2,553 USD[5] (hạng 129)
HDI (2018) 0,694[6]
trung bình (hạng 116)
Hệ số Gini (2016)35,3[7]
trung bình (hạng 54)
Đơn vị tiền tệĐồng (₫) (VND)
Thông tin khác
Mã ISO 3166-1VN
Tên miền Internet.vn
Mã điện thoại+84
Cách ghi ngày thángnn-tt-nnnn
Lái xe bênphải
Theo tên chính thức và Hiến pháp 2013

Việt Nam (tên chính thức: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là quốc gia ở phía đông bán đảo Đông Dương thuộc Đông Nam Á. Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp LàoCampuchia, phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía ĐôngNam giáp Biển Đông. Thủ đôHà Nội từ năm 1976, với Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất. Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia, là thành viên Liên Hợp Quốc, ASEAN, WTO, Phong trào không liên kết và các tổ chức quốc tế khác.[8]

Trước khi là thuộc địa Pháp từ khoảng nửa sau thế kỷ XIX, quốc gia này có các triều đại độc lập xen lẫn những thời kỳ lệ thuộc phong kiến Trung Quốc. Thất bại tại Điện Biên Phủ năm 1954 khiến Pháp thoái lui và Việt Nam chia cắt làm hai, tái thống nhất sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975. Năm 1986, Đảng Cộng sản cải cách hướng Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Từ năm 2000, Việt Nam là một trong những nước tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới[9], với tốc độ tăng chậm lại về sau.

Mục lục

Từ nguyên

Bài chi tiết: Các tên gọi của nước Việt Nam

Việt Nam đã có gần 40 tên gọi, khởi đầu từ các quốc hiệu Xích Quỷ, Văn Lang tới Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà Thanh công nhận “Việt Nam” (chữ Hán: 越南) là quốc hiệu Nhà Nguyễn.[10] Chữ “Việt” 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này. Chữ “Nam” 南 đặt ở cuối thể hiện đất An Nam, là cương vực sau này. Đặt quốc hiệu là “Việt Nam” 越南 không nhầm với nước Nam Việt và thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Năm 1804, vua Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm sang tuyên phong Gia Long làm “Việt Nam quốc vương” 越南國王 mặc dù các vua Nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong “Hoàng đế” 皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.[10][11]

Quốc hiệu “Việt Nam” được sử dụng lần đầu dưới thời vua Gia Long từ năm 1804.[12] Tên gọi này sau đó xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905, và sau đó được sử dụng bởi Việt Nam Quốc dân Đảng.[13] Thời Pháp thuộc, đất nước thường gọi là “An Nam” tới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt MinhHà Nội chính thức đặt quốc hiệu là “Việt Nam”.[14]

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Việt Nam

Thời tiền sử và cổ đại

Trống đồng Đông Sơn – một ví dụ về Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100).

Các nhà khảo cổ học tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng thời đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của người tiền sử được phát hiện tại các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh BìnhQuảng Bình.[15] Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng đánh cá.[15]

Đến thời đại đồ đá mới cách đây 5000–6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; loạt dấu vết trồng lúa được phát hiện từ cao nguyên tới đồng bằng.[15] Ngoài ra, con người bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo.[15] Đến khoảng năm 1000 TCN, khu vực lúa nước ở sông Hồng và sông Cả phát triển thành nền văn hóa Đông Sơn với những trống đồng đặc trưng.[16] Sau đó, những nhà nước đầu tiên, Văn LangÂu Lạc, lần lượt xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ I TCN.[17]

Thời trung đại

Hoàng thành Thăng Long – nơi đóng đô một số triều đại phong kiến.

Thay đổi lãnh thổ từ triều Lý năm 1009 đến hết triều Nguyễn năm 1945 cùng cuộc Nam tiến (1069-1757).

Từ thế kỷ II TCN, các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị người Việt hơn 1000 năm.[18] Sau các lần khởi nghĩa không thành của những tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan hoặc giành độc lập trong thời gian ngắn như Hai Bà Trưng, Lý Bí, đến năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, song chưa hẳn là độc lập vì Dụ tự nhận mình là quan triều đình phương Bắc.[19] Đến năm 938, sau khi chỉ huy trận chiến sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán,[20] Ngô Quyền lập triều xưng vương, đánh dấu độc lập khỏi các triều đình phương Bắc.

Sau nhà Ngô, lần lượt các triều Đinh, Tiền Lê, Trần tổ chức chính quyền tương tự các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá cả Nho giáoĐạo giáo. Nhà Tiền Lê, Lý và Trần đã chống trả các cuộc tấn công của nhà Tốngnhà Nguyên, đều thắng lợi và bảo vệ được Đại Việt. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, tiến hành cải cách. Năm 1407, Đại Ngu bị Nhà Minh thôn tính. Một số thành viên hoàng tộc nhà Trần khởi nghĩa, lập nhà Hậu Trần và bị quân Minh đánh bại sau 7 năm. Năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê, giành lại độc lập. Đây là triều đại mà phong kiến Việt Nam đạt đỉnh cao, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460–1497).[21]

Vào đầu thế kỷ XVI, Nhà Lê sơ suy yếu, bị Nhà Mạc cướp ngôi nên một bộ phận quan trung thành đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập Nhà Lê. Nhà Lê Trung Hưng sau 60 năm giao tranh đã chiến thắng, diệt Nhà Mạc. Vua Lê khi đó là bù nhìn, hai tập đoàn phong kiến Chúa TrịnhChúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây nội chiến kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoàiđàng Trong trong 200 năm. Cuối thế kỷ XVIII, tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ trong 15 năm đã đánh bại cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn cùng các cuộc xâm chiếm của Xiêm và Thanh để lập Nhà Tây Sơn, tái thống nhất Đại Việt. Nguyễn Huệ mất, với người kế vị Cảnh Thịnh, Tây Sơn bị Nguyễn Ánh, một thành viên dòng họ Chúa Nguyễn cùng với viện trợ từ Pháp lật đổ, lập Nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng ở Việt Nam.[22] Suốt thời phong kiến, các triều , Trần, Hậu Lêchúa Nguyễn thu phục Chiêm Thành, Chân LạpTây Nguyên ở phía Nam, mở mang bờ cõi.[23]

Nhà Đấu xảo Hà Nội năm 1902.

Thời cận, hiện đại

Lễ tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Việt Nam tiếp xúc với phương Tây từ thế kỷ 16. Vào thế kỷ 17, Đàng TrongĐàng Ngoài trao đổi thương mại trước hết với Bồ Đào NhaHà Lan,[24] sau thêm AnhPháp. Các tu sĩ Dòng Tên do Bồ Đào Nha bảo trợ[25] đến truyền bá Công giáo từ năm 1615, được Hội Thừa sai ParisDòng Đa Minh tiếp nối. Công giáo tại Việt Nam phát triển trong hai thế kỷ tiên khởi 17 và 18.[26] Từ thời Gia Long, Nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, cấm ngoại thương, không tiếp xúc công nghệ tiên tiến. Nửa sau thế kỷ 19, Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm nhà Nguyễn và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887. Thời Pháp thuộc, văn hóa, khoa học, kỹ thuật phương Tây được truyền bá song hành truyền thống.[27]

Thế chiến thứ hai, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, dựng nên Đế quốc Việt Nam, chính thể không thực quyền phải nộp thuế và cung ứng Nhật tài nguyên có lúa gạo, góp phần gây nạn đói Ất Dậu. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh giành chính quyền, đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945.[28] Pháp tính lấy lại Đông Dương, do vấp phải phản kháng của phía ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên đã hậu thuẫn lập Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại, cựu hoàng đế Nhà Nguyễn làm Quốc trưởng.[29]

Chiến tranh Đông Dương kết thúc, Pháp rút, Việt Nam chia thành hai vùng tập kết quân sự chờ cuộc bầu cử thống nhất[30] nhưng không thành do Việt Nam Cộng hòa kế thừa Quốc gia Việt Nam, được Hoa Kỳ hỗ trợ tài chính, quân sự từ chối bầu cử.[31] Nhà nước xã hội chủ nghĩa miền bắc hậu thuẫn các lực lượng miền nam chủ trương chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa để thống nhất Việt Nam, gây ra xung đột quân sự mà có sự tham chiến của Mỹ[32] và đồng minh và kết thúc vào tháng 4 năm 1975 khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng.[33]

Năm 1976, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tuyển cử gộp nhất. Do chiến tranh biên giới phía Bắcchiến tranh biên giới Tây Nam, giữ chính sách bao cấp và bị Hoa Kỳ cấm vận, Việt Nam hậu chiến rơi vào khủng hoảng kinh tếxã hội.[34] Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI chấp thuận Đổi mới, cải tổ nhà nước và chuyển nền kinh tế theo hướng mới.[35] Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1994,[34] và gia nhập ASEAN năm sau đó.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Việt Nam

Cánh đồng lúa ở Cái Mơn - Bến Tre
Tuyến độc đạo lên đỉnh Phan Xi Păng (độ cao 3.000m)

Trái: Cánh đồng lúa ở Cái Mơn
Phải: Tuyến độc đạo lên đỉnh Phan Xi Păng (độ cao 3.000m)

Địa hình khu vực bán đảo Đông Dương.

Khoảng cách giữa cực bắc nam Việt Nam theo đường chim bay là 1650 km. Vị trí chiều ngang hẹp nhất ở Quảng Bình chưa đầy 50 km. Đường biên giới đất liền dài 4.550 km.[36] Diện tích gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² vùng nước nội thủy, cùng hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm, gồm cả Trường SaHoàng Sa mà nhà nước tuyên bố chủ quyền.

Địa hình Việt Nam có núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có các dãy núi và cao nguyên như dãy Hoàng Liên Sơn, cao nguyên Sơn La ở phía bắc, dãy Bạch Mã và các cao nguyên theo dãy Trường Sơn ở phía nam. Mạng lưới sông, hồ ở vùng đồng bằng châu thổ hoặc miền núi phía bắc và Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm khoảng một phần tư diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển miền trung, là vùng tập trung dân cư. Đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.

Đất Việt Nam chủ yếu là đất ferralit giàu sắt ở vùng đồi núi và đất phù sa màu mỡ ở đồng bằng. Đất ferralitic hình thành trên đá bazanTây Nguyên tơi xốp và phì nhiêu. Ven biển đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long tập trung đất phèn. Rừng ở Việt Nam chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới trên vùng đồi núi. Ở vùng đất thấp ven biển có rừng ngập mặn. Việt Nam có rừng tự nhiên và các mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, vàngThan đá có nhiều nhất ở Quảng Ninh. Sắt ở Thái Nguyên, Hà Tĩnh. Về tài nguyên biển thì có , tôm, dầu mỏ, khí tự nhiên.

Khí hậu

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết biến động thường xuyên. Phía bắc dãy Bạch Mã có hai mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc lạnh và khô vào mùa đông tạo nên mùa đông lạnh; gió tây nam nóng khô và đông nam ẩm ướt vào mùa hè. Phía nam có gió đông bắc vào mùa khô và gió tây nam vào mùa mưa. Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5 độ Celsius trong vòng 50 năm (1964–2014).[37] Hàng năm, Việt Nam trải qua lụt lội và hứng bão xoáy ngược kim đồng hồ một năm.

Sinh thái

Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya. Theo Báo cáo tình trạng môi trường quốc gia năm 2005. Việt Nam là một trong 25 quốc gia được coi là có mức độ đa dạng sinh học cao duy nhất. Được xếp hạng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài thực vật đã được tìm thấy trong cả nước, trong đó 10% là loài đặc hữu, Việt Nam có 307 loài giun tròn, 200 loài oligochaeta, 145 loài acarina, 113 loài bọ đuôi bật, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài lưỡng cư, 840 loài chim và 310 loài động vật có vú, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là loài đặc hữu. Ngoài ra còn có 1.438 loài tảo nước ngọt, chiếm 9,6% tổng số loài tảo, cũng như 794 loài thủy sinh không xương sống và 2,458 loài cá biển. Vào cuối những năm 1980, một quần thể Tê giác Java nhỏ được tìm thấy ở Vườn Quốc gia Cát Tiên. Tuy nhiên, cá thể cuối cùng của loài này ở Việt Nam đã chết vào năm 2010.

Ngân hàng gen quốc gia Việt Nam bảo tồn 12.300 giống của 115 loài. Chính phủ Việt Nam đã chi 497 triệu đô la Mỹ để duy trì đa dạng sinh học trong năm 2004 và đã thiết lập 126 khu bảo tồn, trong đó có 28 vườn quốc gia. Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giớiVịnh Hạ LongVườn quốc gia Phong Nha ‒ Kẻ Bàng cùng 6 khu dự trữ sinh quyển, bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng và Tây Nghệ An.

Phân cấp hành chính

– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – -Thanh Hoá – – – – – Nam Định – – -Thái Bình ——-Hải Phòng – – – Quảng Ninh ———- – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – Điện Biên Sơn La Nghệ An – – – – – – – Hà Tĩnh – – – -Quảng Bình – – – – – – Quảng Trị Thừa Thiên – Huế – – – – – – – – Đà Nẵng Quảng Nam – – – – – – Quảng Ngãi – -Kon Tum – -Gia Lai- – – – – Bình Định – Đắc Lắc – – – – – Khánh Hòa – – – Ninh Thuận – -Lâm Đồng – – – -Bình Thuận – – – – – – – – – – – – – – – – —- – – – – – – – – Bà Rịa – Vũng Tàu – – – – – – – – – – – – – – – Trà Vinh – – – – – Sóc Trăng – – – – – Bạc Liêu Cà Mau – – – – Kiên Giang – – – – – – – – – – – Đảo Phú Quốc – – – – – – Côn Đảo Quần đảo Hoàng Sa Quần đảo Trường Sa – – – – – – – – – – – Phú Yên – – –

Bài chi tiết: Phân cấp hành chính Việt Nam, Tỉnh (Việt Nam), và Danh sách các đơn vị hành chính tại Việt Nam

Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.

Việt Nam được chia ra 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương (*) với thủ đô là Hà Nội. Tổng cộng có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương.

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xãthành phố trực thuộc tỉnh. Tính đến năm 2015, Việt Nam có 713 đơn vị cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh. Bài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam

Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh là các đơn vị hành chính phường, , thị trấn.

Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực với tên gọi khác nhau như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Việt NamXem thêm: Nhân quyền tại Việt Nam và Dân chủ tại Việt Nam

Nguyễn Phú Trọng

Nguyễn Phú Trọng
Tổng bí thư & Chủ tịch nước

Nguyễn Phú Trọng

Nguyễn Xuân Phúc
Thủ tướng

Nguyễn Thị Kim Ngân

Nguyễn Thị Kim Ngân
Chủ tịch Quốc hội

Việt Nam là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, với cơ chế có duy nhất một đảng chính trị lãnh đạo. Vào năm 2016, các đại biểuĐảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ là 95,8%[38], những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là Đảng viên và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ Chính trị đề cử.

Đảng Cộng sản đứng đầu bởi Tổng Bí thư,đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam, vẫn cam kết với các nguyên tắc của Lênin “tập trung dân chủ” mà không cho phép đa đảng.[39]

Quốc hội nhiệm kỳ 5 năm, đứng đầu là Chủ tịch Quốc hội, theo hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Duy nhất quốc hội có quyền lập hiến, lập pháp với nhiệm vụ giám sát, quyết định những chính sách cơ bản, những nguyên tắc của bộ máy Nhà nước và quan hệ xã hội công dân. Quốc hội không độc lập và tuân thủ gần tuyệt đối các quy định từ Đảng nhưng sau Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn.

Nhà Quốc hội (thay thế cho Hội trường Ba Đình).

Chủ tịch nước có các quyền trong đó: Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh; Tổng Tư lệnh vũ trang; đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Thủ tướng, Chánh án tối cao, Kiểm sát tưởng tối cao,…; thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất, gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Việc tổ chức nhân sự chính phủ đều thông qua Bộ Chính trị quản lý.

Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử còn Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan giữ quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cao nhất Việt Nam. Ngoài ra, Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề an ninh quốc gia.

Quân đội

Lính danh dự Việt Nam diễu binh trước Trung tâm Hội nghị Quốc gia trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 2010 tại Hà Nội.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt NamDân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam, được chia thành:

  • Quân chủng Lục quân: không tổ chức Bộ tư lệnh riêng như Hải quân và Phòng không – Không quân mà các quân đoàn chủ lực và binh chủng do Bộ Tổng tham mưu trực tiếp chỉ đạo.
  • Quân chủng Hải quân: thành lập năm 1955, được xây dựng trên cơ sở Cục Phòng thủ Bờ biển.
  • Quân chủng Phòng không – Không quân: hợp nhất từ hai quân chủng Phòng không và Không quân từ năm 2000.

VPA có số lượng khoảng 450.000 người, còn tổng lực lượng, bao gồm cả bán quân sự, có thể lên khoảng 5.000.000 người. Năm 2011, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 2,48 tỷ USD, tương đương khoảng 2,5% GDP năm 2010.

Quan hệ đối ngoại

Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước trên thế giới.
  Việt Nam  Quốc gia có quan hệ ngoại giao với Việt Nam  Thực thể có quan hệ ngoại giao không chính thức với Việt Nam  Quốc gia không có quan hệ ngoại giao với Việt Nam

Theo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chủ trương đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước phấn đấu vì hòa bình, độc lậpphát triển“.

Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, sau đổi mới, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995. Hiện đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia (gồm 43 nước châu Á, 47 nước châu Âu, 14 nước châu Đại Dương, 30 nước châu Mỹ, 55 nước châu Phi).[40] Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ.[41] Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU. Việt Nam từng tổ chức các hội nghị cấp cao ASEAN (1998), ASEM (2004), Thượng đỉnh APEC (2006, 2017), Cộng đồng Pháp ngữ (1997); làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008–2009, thành viên của ECOSOC nhiệm kỳ 2016–2018,[42] chủ tịch ASEAN năm 2010.

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Việt Nam

Gạo – một trong những mặt hàng xuất khẩu chính.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế lớn nhất.

Chính sách Đổi mới năm 1986 thiết lập mô hình “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa“. Thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Từ năm 1993 đến 1997, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm khoảng 9%. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 giảm xuống 4% năm 1998 do ảnh hưởng của một cuộc khủng hoảng, và tăng lên 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000–2002 khi kinh tế thế giới đang trì trệ. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập WTO sau khi kết thúc đàm phán song phương với các nước có yêu cầu và chính thức là thành viên thứ 150 ngày 11 tháng 1 năm 2007.[43] Sau cải cách kinh tế – xã hội, theo một số nghiên cứu, bất bình đẳng thu nhập đã gia tăng.[44][45][46]

Năm 2013, tại một hội thảo ở Hà Nội, các chuyên gia nhận định nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2007–2011, chỉ năm 2008 là Việt Nam tăng trưởng GDP trên 8% dù xuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60% mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông lâm sản, và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng, 18 tỷ USD vào năm 2008. Ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế 2007–2008 và đến năm 2013, nền kinh tế đối mặt với áp lực từ nợ xấu đến lạm phát, tín dụng tăng trưởng thấp.[47] Tình trạng tham nhũng luôn xếp ở mức cao trên trung bình của thế giới[48][49] và vấn đề vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng, hàng chục ngàn thủ tục kinh doanh từ 20 năm trước đang tồn tại được cho là không hợp với kinh tế thị trường. Theo thống kê năm 2015 của Ngân hàng Thế giới thì PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294,4 USD, bằng 55,4% so với Indonesia, 37% so với Thái Lan và bằng 6,7% so với Singapore.[50]

Về địa lý kinh tế, chính phủ Việt Nam phân chia quy hoạch các vùng kinh tế-xã hội và các vùng kinh tế trọng điểm mỗi miền. Các tỉnh có GDP bình quân đầu người cao nhất: Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh,… và có GDP bình quân đầu người thấp nhất: Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng, …

Giao thông

Bài chi tiết: Hệ thống giao thông Việt Nam

Quốc lộ 1A đoạn qua Quận 9, TP.HCM.

Các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắcnam. Hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ… Có tổng chiều dài khoảng 222.000 km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều được trải nhựa và bê tông hóa, số ít các tuyến đường huyện lộ đang còn là các con đường đất. Hệ thống đường sắt Việt Nam dài tổng 2652 km, trong đó tuyến Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km được gọi là Đường sắt Bắc Nam.

Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằm theo hướng đôngtây dựa theo các con sông như sông Đà, sông Hồng, sông Sài Gòn… Dự kiến quy hoạch tuyến đường bộ ven biển Việt Nam trong tương lai bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Quảng Ninh tới cửa khẩu Hà Tiên, Kiên Giang dài khoảng 3.041 km. Hệ thống đường biển xuất phát từ các cảng biển lớn ở 3 miền như cảng Hải Phòng, cảng Quy Nhơn, cảng Sài Gòn, …

Truyền thông

Bài chi tiết: Truyền thông Việt Nam, Internet tại Việt Nam, và Báo chí Việt NamXem thêm: Kiểm duyệt Internet ở Việt Nam

Logo Đài Truyền hình Việt Nam.

Truyền thông Việt Nam có bốn loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử. Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay, hàng loạt báo điện tử, trang tin điện tử đã ra đời. Thống kê đến tháng 7 năm 2010, tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó có 178 báo và 528 tạp chí. Có 65 đài phát thanh – truyền hình, gồm 2 đài phát thanh – truyền hình trung ương (VTV, VOV) và 63 đài phát thanh – truyền hình ở các địa phương. Có 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài và hàng ngàn trang thông tin điện tử.[51]

Tại Việt Nam, tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí hoạt động dưới sự quản lý và giám sát của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, và dưới sự định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Luật pháp chưa cấp phép cho báo chí tư nhân hoạt động.

Du lịch

Bài chi tiết: Du lịch Việt Nam

Một góc vịnh Hạ LongDi sản thiên nhiên thế giới.

Số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng nhanh nhất trong vòng 10 năm từ 2000–2010. Năm 2013, có gần 7,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam và năm 2017, có hơn 10 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, các thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa KỳĐài Loan.[52]

Việt Nam có các điểm du lịch từ bắc đến nam, từ miền núi tới đồng bằng, từ các thắng cảnh thiên nhiên tới các di tích văn hóa lịch sử. Các điểm du lịch miền núi như Sapa, Bà Nà, Đà Lạt. Các điểm du lịch ở các bãi biển như Hạ Long, Nha Trang, Vũng Tàu và các đảo như Cát Bà, Côn Đảo.

Khoa học

Năm 2010, tổng chi tiêu của Nhà nước vào khoa học và công nghệ chiếm khoảng 0,45% GDP. Theo UNESCO, Việt Nam đã dành 0,19% GDP để nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011. Chiến lược tìm cách thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế lớn hơn, với kế hoạch thiết lập mạng lưới các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và khởi xướng một mạng lưới kết nối các tổ chức khoa học quốc gia với các đối tác nước ngoài.

Một bộ chiến lược phát triển quốc gia cho các lĩnh vực trong kinh tế, chủ yếu liên quan đến khoa học công nghệ. Ví dụ là Chiến lược phát triển bền vững (2012) và Chiến lược phát triển ngành cơ khí (2006), cùng với Tầm nhìn 2020 (2006). Kêu gọi nhân lực có tay nghề, đầu tư nâng cấp công nghệ khu vực tư nhân. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2011–2020 năm 2012 lập kế hoạch ưu tiên nghiên cứu toán, vật lý; điều tra khí hậu, thiên tai; phát triển hệ điều hành điện tử; công nghệ sinh học áp dụng đặc biệt cho nông, lâm nghiệp, y học và môi trường.

Nhân khẩu

Dân số

Tỉ lệ tăng dân số Việt Nam giai đoạn 1980-2014.[cần dẫn nguồn]Bài chi tiết: Dân tộc Việt NamThông tin nhân khẩu học Việt Nam

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổđồng bằng ven biển. Các dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chămngười Khmer, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số này, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, … Người Ơ Đu có số dân ít nhất. Có các dân tộc mới di cư vào Việt Nam vài trăm năm trở lại đây như người Hoa. Người Hoangười Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm giai đoạn 1999–2009.

Theo điều tra của Tổng cục thống kê thì vùng đông dân nhất Việt Nam là đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là bắc Trung bộduyên hải nam Trung bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người. Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (IPS) 2014 thì 33,1% dân số Việt Nam đang sinh sống tại thành thị và 66,9% cư trú ở nông thôn.[53] Về tỷ số giới tính trung bình vào năm 2009 là 98 nam/100 nữ, trong đó vùng cao nhất là Tây Nguyên với 102 nam/100 nữ và thấp nhất là Đông Nam Bộ với 95 nam/100 nữ.[54]

xtsThành thị lớn nhất Việt Nam
Ước tính năm 2018 của các thành phố trực thuộc tỉnh, 2017 của thành phố trung ương
Hạng Tên Tỉnh Dân số

Thành phố Hồ Chí Minh

Hà Nội
1Thành phố Hồ Chí MinhThành phố TTTƯ13.000.000
Hải Phòng

Cần Thơ
2Hà NộiThành phố TTTƯ7.654.000
3Hải PhòngThành phố TTTƯ1.997.700
4Cần ThơThành phố TTTƯ1.520.000
5Đà NẵngThành phố TTTƯ1.064.000
6Biên HòaĐồng Nai1.250.800
7Mỹ ThoTiền Giang560.000
8VinhNghệ An545.180
9Nha TrangKhánh Hoà535.000
10HuếThừa Thiên – Huế333.715

Theo nhận xét của tờ The Economist, mức độ giảm dân số do sinh suất tụt giảm tạo ra viễn cảnh lão hóa ở Việt Nam với tỷ lệ người cao niên hơn 60 tuổi dự đoán sẽ tăng từ 12% (2018) lên 21% (2040). Đỉnh dân số lao động của Việt Nam là vào năm 2013, sau đó sẽ giảm dần. Tỷ lệ trẻ/già được cho là gây chao đảo về tài chánh để cung cấp dịch vụ y tế và cấp dưỡng khi 90% người cao niên không có khoản tiết kiệm nào cả khi ngân sách nhà nước chỉ phụ cấp cho người hơn 80 tuổi với bình quân vài USD/tuần.[55][56]

Giáo dục

Bài chi tiết: Giáo dục Việt Nam

Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục tăng từ 10,89% năm 2005 tăng lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.[57]

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM.

Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại họcsau đại học. Các trường đại học chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà NộiTP. Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công bố năm 2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới.[58] Có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ giáo dục đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước.[59][60]

Với bậc đại học, Việt Nam có tổng 376 trường cao đẳng, đại học trên cả nước, trong đó Bộ Giáo dục trực tiếp quản lý 54 trường. Ba cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long, trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam và đến năm 2017, toàn Việt Nam có 84 trường dân lập, tư thục.[61] Tổng số sinh viên bậc đại học đến năm học 2016–2017 là 1.767.879 người.[62]

Y tế

Bài chi tiết: Ngành dược Việt Nam

Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.

Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010, trên toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực;[63] với khoảng 246.300 giường bệnh.[64] Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần giảm quá tải ở các bệnh viện nhà nước.[65] Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam hiện nay đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia.[66]

Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩdược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Hiện nay số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người, trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại.[65]

Ngành Y tế hiện tại của Việt Nam đang được nhiều tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và vốn NGO, tính đến năm 2010, Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn 1 tỷ USD, các dự án được phân bố ở đều khắp các vùng miền.[67] Những năm gần đây, y tế Việt Nam được đánh giá là tham nhũng ở nhiều cấp độ, được tìm thấy trong cả ba lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế.[68]

Tội phạm và tệ nạn

Bài chi tiết: Tội phạm có tổ chức tại Việt Nam

Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức thấp so với các nước cùng trình độ phát triển và thấp hơn một số quốc gia phát triển.[69] Các băng nhóm tội phạm có tổ chức như Năm Cam, Khánh Trắng ít hơn và độ tinh vi không sánh được với Mafia quốc tế.

Việt Nam là địa điểm những tội phạm trong và ngoài nước lộng hành như các đầu dây mại dâm, ma túy.[70] Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy như Tam giác vàng và Trăng lưỡi liềm vàng. Theo một số quan chức nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp.[70] Việt Nam tham gia các hội nghị quốc tế bàn thảo vấn đề trên như “Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông” do mình chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lân cận. Năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy.[70] Các tệ nạn khác cờ bạc, cá độ, sử dụng và buôn bán ma túy, mại dâm… Theo sự phát triển của kinh tế – xã hội, tội phạm có xu hướng tăng. Các tệ nạn liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều ở bóng đá.[71] Một loại hình tội phạm khác đó là tham nhũng với một số vụ án như PMU 18, Vinashin. Việt Nam hiện vẫn duy trì án tử hình.

Văn hóa

Bài chi tiết: Văn hóa Việt Nam

Múa rối nước – một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian.

Những vùng có những nét văn hóa đặc trưng tại Việt Nam. Từ vùng đồng bằng sông Hồng với văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại tây bắcđông bắc. Từ vùng biên viễn các triều đại miền Bắc đến nền văn hóa Chăm Pa của người Chăm Nam Trung Bộ cùng vùng đất mới ở Nam Bộ kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer và các bộ tộc Tây Nguyên.

54 dân tộc có những phong tục, những lễ hội mang ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong ngôn ngữ từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật. Với lịch sử hàng nghìn năm hội tụ các dân tộc, từ văn hóa bản địa thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung QuốcĐông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp thế kỷ XIX, phương Tây trong thế kỷ XX và toàn cầu hóa từ thế kỷ XXI, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử.

Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của hơn 85% dân cư Việt Nam và ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số. Tiếng Việt ở Việt Nam trước đây chủ yếu dùng chữ Nôm để viết. Văn tự tiếng Việt ngày nay chủ yếu là chữ Quốc ngữ Latinh do các tu sĩ Dòng Tên sáng tạo. Bên cạnh đó, Việt Nam có các ngôn ngữ thiểu số thuộc các ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo, Hán-Tạng, Tai-Kadai, và H’Mông-Miền.

Tôn giáo

Bài chi tiết: Tôn giáo tại Việt NamTự do tôn giáo ở Việt Nam

Circle frame.svg

Tôn giáo tại Việt Nam (2014)[72] Tín ngưỡng dân gian hoặc không tôn giáo (73.1%)  Phật giáo (12.2%)  Công giáo (6.9%)  Cao Đài (4.8%)  Tin Lành (1.5%)  Hòa Hảo (1.4%)  khác (0.1%)

Chùa Bút Tháp, Bắc Ninh.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáotín ngưỡng. Cộng đồng các dân tộc có tín ngưỡng dân gian riêng. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Tây lịch cùng với Nho giáoĐạo giáo. Được gọi chung là tam giáo, ba tôn giáo ảnh hưởng nhiều nhất tới văn hóa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam đa số thuộc Đại thừa và từng là quốc giáo thời Nhà LýNhà Trần. Các tư tưởng Nho giáo tới nay vẫn có vai trò trong trật tự xã hội Việt Nam. Công giáo được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ 16 và Tin Lành từ đầu thế kỷ 20. Hồi giáo được truyền vào Chăm Pa, Nam Trung Bộ từ các vương triều Hồi giáo ở Ấn Độ và Quần đảo Mã Lai. Bên cạnh các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đàiđạo Hòa Hảo. Ngoài ra, có một lượng người tự nhận không tôn giáo.

Ẩm thực

Bánh cuốn. Bài chi tiết: Ẩm thực Việt Nam

Có sự kết hợp của năm yếu tố cơ bản: cay (kim loại), chua (gỗ), đắng (lửa), mặn (nước) và ngọt (đất). Nước mắm, nước tương,… là một trong những nguyên liệu tạo hương liệu chính trong món ăn. Nấu ăn truyền thống của Việt Nam được biết đến với các nguyên liệu tươi, ít dùng dầu, và phụ thuộc vào rau thơm, rau quả. Một đặc điểm phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon, đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ít có những món cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn (ví dụ chân cánh gà, phủ tạng động vật, trứng vịt lộn…). Phở là món ăn Việt Nam có thể kể đến.

Âm nhạc

Bài chi tiết: Âm nhạc Việt Nam

Mô hình Đơn ca tài tử.

Âm nhạc truyền thống khác nhau giữa các vùng phía Bắc và phía Nam của đất nước. Âm nhạc cổ điển ở miền Bắc là hình thức âm nhạc lâu đời nhất Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam ảnh hưởng nặng nhất bởi truyền thống âm nhạc Trung Quốc, cùng Hàn Quốc, Mông CổNhật Bản. Nhã nhạc là hình thức ca nhạc cung đình. Chèo là một hình thức sân khấu ca nhạc cổ. Xẩm là một loại nhạc dân gian Việt Nam. Quan họ có ở Bắc Ninh và Bắc Giang. Hát chầu văn là hình thức ca nhạc hầu đồng trong các nghi lễ. Nhạc dân tộc cải biên là một hình thức hiện đại của âm nhạc dân gian Việt Nam xuất hiện từ những năm 1950. Ca trù là một dạng nhạc dân gian. UNESCO công nhận Cồng Chiêng Tây Nguyênkiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005 và dòng nhạc dân tộc đờn ca tài tử Nam Bộdi sản phi vật thể. Các nhạc cụ truyền thống như đàn bầu, đàn gáo, đàn nguyệt… với đàn đánhạc cụ gõ cổ nhất Việt Nam.

Trang phục

Bài chi tiết: Trang phục Việt Nam

Áo dài – trang phục truyền thống.

Áo dài là trang phục truyền thống, được mặc trong những dịp đặc biệt như đám cướilễ hội. Áo dài trắng là đồng phục bắt buộc cho nữ sinh ở nhiều trường trung học phổ thông khắp Việt Nam. Áo dài đã từng được mặc bởi cả hai giới, nhưng ngày nay chủ yếu dành cho phụ nữ, đàn ông cũng mặc nó vào một số dịp như đám cưới truyền thống. Một số ví dụ khác về trang phục truyền thống của Việt Nam bao gồm áo tứ thân, áo ngũ cốc, yếm, áo bà ba, áo gấm, … Mũ nón truyền thống bao gồm nón lánón quai thao.

Một số ngày lễ

Bài chi tiết: Các ngày lễ ở Việt Nam

Ngày thángSố ngàyTên
Ghi chú

Thể thao

Xem thêm: Việt Nam tại Thế vận hội

Những môn thể thao mang tính cổ truyền ở Việt Nam có võ thuật, đá cầu, cầu mâycờ tướng. Những năm gần đây, quần vợt bắt đầu phổ biến ở các thành phố lớn. Một số môn thể thao khác có thể kể đến là cầu lông, bóng chuyền, bóng bàn, bóng đá, billiards snookercờ vua. Đoàn thể thao Việt Nam bắt đầu tham gia Olympic mùa hè từ năm 1952 cho tới nay[73] và đã có được huy chương vàng đầu tiên và duy nhất vào năm 2016 của Hoàng Xuân Vinh trong môn bắn súng. Ở Olympic người khuyết tật, Việt Nam tham gia từ năm 2000 và cũng có được huy chương vàng đầu tiên và duy nhất ở môn cử tạ do lực sĩ Lê Văn Công đạt được.[74]

Chú thích

  1. ^ Dân tộc Kinh còn gọi là Việt.[3]

Ghi chú

  1. ^ Bộ Ngoại giao. “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”. Chính phủ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 10 năm 2009. Truy cập 19 tháng 3 năm 2012.
  2. ^ “Vietnam Geography Profile 2018”. Index Mundi. 12 tháng 7 năm 2011.
  3. ^ “Dân tộc Kinh”. Đảng Cộng sản Việt Nam. 15 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 2 năm 2016. Truy cập 21 tháng 11 năm 2015.
  4. ^ “Thông cáo báo chí, Niên giám thống kê 2017, phần dân số và lao động tr 25”. Tổng cục Thống kê. 25 tháng 9 năm 2018.
  5. ^ a ă â b “Report for Selected Countries and Subjects: Vietnam”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  6. ^ “2018 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme p23. 2018. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2018.
  7. ^ “Gini Index (estimate)”. Ngân hàng Thế giới. Truy cập 21 tháng 11 năm 2015.
  8. ^ Một số thông tin cơ bản về Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam. tr. 25.
  9. ^ “Vietnam’s new-look economy”. BBC. 18 tháng 10 năm 2004.
  10. ^ a ă Xuanjun Xie. “日本”起源于中国考 A Research On Japan’s Origin with China. Google 图书. 第179页.
  11. ^ 郭振铎, 张笑梅. 越南通史. 北京: 中国人民大学出版社, năm 2001. ISBN 7-300-03402-0. Trang 536.
  12. ^ Woods 2002, tr. 38.
  13. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 117.
  14. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 126.
  15. ^ a ă â b “Origin of Vietnamese People”. American Technologies, Inc. (Business Collaboration Services). Lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010.
  16. ^ Cooke, Li & Anderson 2011, tr. 46
  17. ^ Ngô Văn Thạo, tr. 823-824
  18. ^ “History of Vietnam: Chinese Colonization”. Windows on Asia (Asian Studies). Lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2007.
  19. ^ Hà Anh Thư 2000, tr. 29
  20. ^ “Spears offer insight into early military strategy”. Thông tấn xã Việt Nam (tiếng Anh), 22 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009.
  21. ^ Việt Nam sử lược (越南史略), Trần Trọng Kim tr. 99.
  22. ^ Eugene Page & M. Sonnenburg, tr. 723
  23. ^ Đại Việt sử lược, tr. 52
  24. ^ Nguyễn Khắc Ngữ (1988). Tây-phương tiếp-xúc với Việt-nam, Cuốn 1: Bồ-đào-nha, Tây-ban-nha và Hòa-lan giao-tiếp với Đại-Việt (thế kỷ XVI, XVII, XVIII). Montréal, Canada: Nhóm Nghiên cứu Sử Địa Việt Nam.
  25. ^ Jacques, Roland (2002). Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics Prior to 1650 – Pionniers Portugais de la Linguistique Vietnamienne Jusqu’en 1650 (bằng tiếng Anh & tiếng Pháp). Bangkok, Thái Lan: Orchid Press. ISBN 974-8304-77-9.
  26. ^ Keith, Charles (2012). Catholic Vietnam: A Church from Empire to Nation. University of California Press. tr. 18–21. ISBN 9780520272477.
  27. ^ “French Counterrevolutionary Struggles: Algeria and Indochina” (PDF). Học viện Quân đội Hoa Kỳ (1968), lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011.
  28. ^ Hirschman, Charles; Preston, Samuel; Vũ Mạnh Lợi (1995). “Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate” (PDF). 21 (4): 783–812. JSTOR 2137774.
  29. ^ “Cựu hoàng Bảo Đại và những canh bạc đế vương”. Báo Diễn đàn Doanh nghiệp. 25 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  30. ^ Nash, Gary B., Julie Roy Jeffrey, John R. Howe, Peter J. Frederick, Allen F. Davis, Allan M. Winkler, Charlene Mires, and Carla Gardina Pestana. The American People, Concise Edition Creating a Nation and a Society, Combined Volume (ấn bản thứ 6). New York: Longman, 2007.
  31. ^ Robert C. Doyle (2010). The Enemy in Our Hands: America’s Treatment of Enemy Prisoners of War from the Revolution to the War on Terror. Đại học Kentucky. tr. 269. ISBN 978-0-8131-2589-3.
  32. ^ “Vietnam War”, Clark D. Neher, Đại học Bắc Illinois (Hoa Kỳ).
  33. ^ Malcolme W. Browne (13 tháng 10 năm 1999). “Saigon’s Finale”, đăng trên báo The New York Times.
  34. ^ a ă F. Martin, Michael (29 tháng 10 năm 2009). “U.S.-Vietnam Economic and Trade Relations: Issues for the 111th Congress” (PDF). CRS Report for Congress.
  35. ^ “Đổi mới bắt đầu từ đâu?”. Báo Cần Thơ đăng tải ngày 19 tháng 10 năm 2005. Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2005.
  36. ^ “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”. Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Bộ Ngoại giao). Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2015.
  37. ^ Biến đổi khí hậu trong quá khứ và tương lai ở Việt Nam Mỹ Xuân – Tổng cục Khí tượng Thủy văn (Dựa trên đề tài nghiên cứu của Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành, Khoa Khí tượng Thuỷ văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) 06/11/2014 lưu trữ
  38. ^ “Gần 96% đại biểu Quốc hội là đảng viên”. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018.
  39. ^ The Limits and Potential of Liberal Democratisation in Southeast Asia uni-hamburg, 10.12.2014
  40. ^ Theo trang web chính thức của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Quan hệ ngoại giao, truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015
  41. ^ “Các tổ chức quốc tế”, Bộ Ngoại giao Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015.
  42. ^ “iệt Nam đã trúng cử Hội đồng Kinh tế – xã hội LHQ”.
  43. ^ “Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO” (Thông cáo báo chí). Xuân Danh, Báo Thanh niên. 8 tháng 11 năm 2006. Truy cập 9 tháng 12 năm 2011.
  44. ^ “Distribution of Family Income – Gini Index”. Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Truy cập 27 tháng 11 năm 2011.
  45. ^ “ScienceDirect – Journal of Econometrics: On decomposing the causes of health sector inequalities with an application to malnutrition inequalities in Vietnam”. Science Direct. 12 tháng 9 năm 2002. doi:10.1016/S0304-4076(02)00161-6. Truy cập 6 tháng 8 năm 2011.
  46. ^ Gallup, John Luke (2002). “The wage labor market and inequality in Viet Nam in the 1990s”. REPEC. Truy cập 7 tháng 11 năm 2010.
  47. ^ “Kinh tế đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO” (Thông cáo báo chí). VnExpress. Ngày 3 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
  48. ^ “Tham nhũng trong mắt người dân đô thị VN” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 16 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  49. ^ “Việt Nam tham nhũng thứ ba châu Á?” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 8 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  50. ^ GDP per capita, PPP (current international $) cập nhật 14/4/2015, truy cập 20/4/2015
  51. ^ “Vì sao cần tăng cường quản lý báo điện tử?” (Thông cáo báo chí). Nguyễn Công Dũng, Tạp chí Cộng sản. Ngày 7 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011.
  52. ^ “Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2013”. Tổng cục Thống kê. 25 tháng 12 năm 2013. Truy cập 1 tháng 12 năm 2014.
  53. ^ “Dân số Việt Nam vượt mốc 90 triệu người”. Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập 16 tháng 8 năm 2015.
  54. ^ BÁO CÁO KẾT QUẢ CHÍNH THỨC Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 7/2010
  55. ^ “Xu hướng phát triển dân số Việt Nam: Chưa giầu đã già”. RFI. 14 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  56. ^ THIÊN THANH (26 tháng 11 năm 2017). “Đối diện nguy cơ về dân số”. Báo Nhân Dân. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  57. ^ Niên giám Thống kê 2013, Trung tâm Tư liệu Thống kê – Tổng cục Thống kê Việt Nam
  58. ^ Học sinh Việt Nam vượt Mỹ về Toán và Khoa học, Xuân Vũ, Báo điện tử Dân trí, 04/12/2013
  59. ^ Việt Nam vượt Mỹ, Úc nhờ… luyện ‘gà chọi’?, Vietnamnet, 18/05/2015
  60. ^ Bộ Giáo dục bất ngờ với kết quả xếp hạng học sinh, Vietnamnet, 04/12/2013
  61. ^ “Muốn thành lập trường đại học tư thục phải có 1.000 tỷ đồng”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
  62. ^ “Những con số “biết nói” về giáo dục đại học Việt Nam”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
  63. ^ “Số cơ sở khám, chữa bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  64. ^ “Số giường bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  65. ^ a ă Nỗ lực giảm tải và những tín hiệu vui Thái Bình, Báo SứcKhoẻ và Đời Sống cập nhật 1/9, 2014 | 06:00
  66. ^ VOVNEWS.VN | Ngành Y tế 55 năm làm theo lời Bác dạy – Nganh Y te 55 nam lam theo loi Bac day Văn Hải hứ 7, 16:30, 27/02/2010
  67. ^ Năm 2009, ngành y tế triển khai hiệu quả các nguồn vốn viện trợ ĐCSVN 21:04 | 04/02/2010
  68. ^ Tham nhũng trong ngành y tế nghiêm trọng – Tuổi Trẻ Online Minh Quang 26/11/2009 22:48 GMT+7
  69. ^ Vietnam was among 8 safest destinations: MSN Travel | Tuổi Trẻ news cập nhật 10/21/2012 14:08 GMT + 7
  70. ^ a ă â Khánh Hiền (5 tháng 12 năm 2012). “Việt Nam chịu ảnh hưởng của các điểm “nóng” tội phạm ma túy – Pháp luật – Dân trí”. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015.
  71. ^ “Tệ lô đề ở Việt Nam lên báo nước ngoài – VnExpress”. VnExpress. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  72. ^ Bielefeldt, Heiner (2014). “Press Statement on the visit to the Socialist Republic of Viet Nam by the Special Rapporteur on freedom of religion or belief”. United Nations Special Rapporteur on Freedom of Religion or Belief. Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2018.
  73. ^ “BBC Vietnamese – Thể thao – TQ hay Mỹ sẽ đứng đầu bảng Olympic?”. BBC Online. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  74. ^ “Việt Nam có thêm 2 huy chương ở Paralympics”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.

Nguồn tham khảo

  • Woods, L. Shelton (2002). Vietnam: a global studies handbook. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-416-1.
  • Yue-Hashimoto, Oi-kan (1972). Phonology of Cantonese. Đại học Cambridge (Anh Quốc). ISBN 978-0-521-08442-0.
  • Tonnesson, Stein; Antlov, Hans (1996). Asian Forms of the Nation. Routledge. ISBN 0700704426.

Tham khảo

  • Non nước Việt Nam, Tổng cục Du lịch, Nhà xuất bản Hà Nội 2007
  • Herring, George C. America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (4th ed 2001), most widely used short history. ISBN 978-0072536188
  • Jahn GC. 2006. The Dream is not yet over. In: P. Fredenburg P, Hill B, editors. Sharing rice for peace and prosperity in the Greater Mekong Subregion. Victoria, (Australia): Sid Harta Publishers. p 237-240
  • Karrnow, Stanley. Vietnam: A History. Penguin (Non-Classics); 2nd edition (ngày 1 tháng 6 năm 1997). ISBN 0-14-026547-3
  • McMahon, Robert J. Major Problems in the History of the Vietnam War: Documents and Essays (1995) textbook ISBN 9780618749379
  • Tucker, Spencer. ed. Encyclopedia of the Vietnam War (1998) 3 vol. reference set; also one-volume abridgment (2001) ISBN 1851099611
  • Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 9th edition, Oxford University Press.

Liên kết ngoài

Tìm hiểu thêm về
Việt Nam
tại các dự án liên quan
Từ điển từ Wiktionary
Tập tin phương tiện từ Commons
Tin tức từ Wikinews
Danh ngôn từ Wikiquote
Văn kiện từ Wikisource
Tủ sách giáo khoa từ Wikibooks
Cẩm nang du lịch guide từ Wikivoyage
Tài nguyên học tập từ Wikiversity
 Trung Quốc
 Lào
 Trung Quốc  Trung Quốc
Vịnh Bắc Bộ
 Lào
 Campuchia
B Biển Đông
T    Việt Nam    Đ
N
 Campuchia
Vịnh Thái Lan
Biển Đông Biển Đông
xtsTổng quan về Việt Nam
xts Đơn vị hành chính cấp tỉnh của Việt Nam
Khu vực địa lý
Thành viên tổ chức quốc tế
Tiêu đề chuẩn WorldCat Identities VIAF: 155871049 LCCN: n79032186 ISNI: 0000 0001 2243 3868 GND: 4063514-4 SELIBR: 162420 SUDOC: 02643878X BNF: cb118686235 (data) HDS: 3430 NLA: 35581821 NDL: 00560635 NKC: ge131295 BNE: XX450945

Thể loại:

Xem tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Công việc này giao lại cho em

Hoàng Kim Chúc mừng các em sinh viên! Chúc mừng Thầy Huỳnh Thanh Hùng và Thầy Trần Đình Lý trong buổi Lễ Tốt Nghiệp trang trọng. Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ. Chợt thấy lòng rưng rưng. Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc. Cố lên em nổ lực không ngừng ! Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo. Câu ca ông bà theo suốt tháng năm.Thêm bữa cơm ngon cho người lao động. Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cong-viec-nay-trao-lai-cho-em/

HuynhHuong Vo Minh Luan

CÔNG VIỆC NÀY GIAO LẠI CHO EM
Hoàng Kim

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ  lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo.
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm.
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động.
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi.
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng.
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này trao lại cho em.

Congviecnaytraolaichoem
Congviecnaytraolaichoem1
IAS 20 11 2015aa
IAS 20 11 2015a
IAS 20 11 2015aaa
Congviecnaytraolaichoem4
GiadinhNN
NhoThay1
NhoThay2

ƠN THẦY
Hoàng Kim

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

LỚP HỌC TRÊN ĐỒNG

Trò đứng trên bờ
Thầy cày dưới ruộng
Roi rói đất lật lên
Thẳng tắp từng hàng từng luống …

Buổi đầu chưa quen đường cày đâu vững
Thầy nắn tay cầm, thầy sửa dáng đi
Trán lấm tấm mồ hôi, trời thì lạnh giá
Nhưng mọi người đều học say mê

Thầy dạy con muốn đường cày đẹp
Phải vững tay cày và thẳng mắt trông
Bước đĩnh đạc, đường hoàng, ngay ngắn
Dóng trâu đi đúng lối, thẳng đường

Con hiểu thầy bày từng lời cặn kẽ
Đâu chỉ dạy cày, thầy dạy đức cho con
Nuôi mục đích trước sau như một
Việc tốt đưa ra, quyết vượt tới cùng …

– Các em học hiểu không?
– Hiểu lắm!
– Em nào ra cày?
Muôn cánh tay giơ lên …

Luống cày chạy băng băng
Đất lành sôi sự sống
Từng hàng, từng hàng lật lên
Áo mới thay dần mặt ruộng

Thầy trò say mê mãi
Dưới ruộng trò cày
Trên bờ thầy hớn hở
Đường cày càng vững vàng hơn…

1971

NỐI NGHIỆP

– Các em học hiểu không?
– Hiểu lắm!
– Em nào ra cày?
Muôn cánh tay giơ lên …

Luống cày chạy băng băng
Đất lành sôi sự sống
Từng hàng, từng hàng lật lên
Áo mới thay dần mặt ruộng

Thầy trò say mê mãi
Dưới ruộng trò cày
Trên bờ thầy hớn hở
Đường cày càng vững vàng hơn.

Đường cày nay nối đường cày trước
Chuỗi giá trị tăng đâu chỉ trên đồng
Dạy và học ngày nay em nối nghiệp
Học làm Người học mãi chưa xong…

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ

Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON
(1)  Hình ảnh liên quan từ năm 1991-2017

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Những câu thơ đời thường ám ảnh

NHỮNG CÂU THƠ ĐỜI THƯỜNG ÁM ẢNH
Hoàng Kim

Bài thơ về Hoa Níp (1)
Bây giờ em ở đâu?
Em lang thang
như cánh mây trời
lặn vào ký ức.
Có người bạn tốt
đã níu em lại
chơi cùng chúng tôi
để niềm tin tỉnh thức.
CON NGƯỜI.
Những câu thơ cuộc đời
thức tỉnh,
nhân văn,
ám ảnh:

“Ôi những câu thơ, Hoa Níp
Em từng viết sai chính tả
Em từng viết sai địa danh
Nhưng chưa bao giờ
Em viết sai SỰ THẬT”

(thơ và ảnh Nguyễn Quang Thiều)

(*) BÀI THƠ VỀ HOA NÍP
Nguyễn Quang Thiều

Bây giờ em ở đâu ? Hoa Níp
Cơn mưa xứ Bắc vẫn rền rĩ đêm nay
Anh thấy em về mỉm cười trong vắt
Gương mặt em – một chiếc lá ướt
Lấp lánh trong bóng tối khu vườn

Đã lâu chúng ta không gặp nhau
Chỉ những tin nhắn đứt quãng
Như tim em thở gấp, như ngực em trĩu nặng
Nhưng chứa đủ giấc mơ em
Giấc mơ khổ đau và như giông biển
Lúc nào cũng làm mắt em dội sóng

Bây giờ em ở đâu, Hoa Níp
Anh nhìn thấy một vầng mây Vũng Tàu
Băng qua những lớp sóng biển
Rực lên trong hừng đông chân trời
Một con hải âu khản giọng
Tiếng em gọi, Hoa Níp gọi
Vọng dài trong cơn mưa

Bây giờ em ở đâu, ở đâu, Hoa Níp
Những câu thơ em ngổn ngang như đá
Bên bờ biển hoàng hôn
Những câu thơ em bay như cát
Vừa cuồng loạn vừa kiêu hãnh
Và rên rỉ và không bao giờ cúi mặt

Ôi những câu thơ, Hoa Níp
Em từng viết sai chính tả
Em từng viết sai địa danh
Nhưng chưa bao giờ
Em viết sai SỰ THẬT

Hoa Níp…cơn mưa đêm
Hoa Níp…vầng mây biển
Hoa Níp…hải âu khản giọng
Dội vang trong im lặng ngày ngày

Thị xã Hà Đông, đêm 25/5/2016

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Lời thương

LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim
Ta đi về chốn trong ngần
Để thương sỏi đá cũng cần có nhau.


Tháng năm nhìn lại CNM365 Chào ngày mới 26 tháng 5 (2013- 2019). Lớp học trên đồng LỜI THƯƠNG https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-thuong/

Chùm ảnh Lớp học trên đồng ngày này bảy năm trước 26 tháng 5 năm 2013: https://hoangkimlong.wordpress.com/2013/05/26/loi-thuong-4/

Lời thương
Hoàng Kim

Khoác thêm tấm áo trời se lạnh
Đông tàn xuân đến đó rồi em
Phúc hậu mỗi ngày chăm việc thiện
Yêu thương xa cách hóa gần thêm

Lovingword

Wearing sweater when it’s rather cold.
Winter comes to an end, and early Spring is coming.
Everyday, we care good deeds kindly.
Distant love turn out to be close together.

LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim

Cánh cò bay trong mơ
ca dao em và tôi
bảng lãng cánh cò
bay giữa nhân gian.

Con cò đi đón cơn mưa
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về’
bâng khuâng Cánh cò
Thương lời ru của mẹ:

“Tháng giêng, tháng hai,
Tháng ba, tháng bốn,
Tháng khốn, tháng nạn
Đi vay đi dạm
Được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên
Mua con gà mái
Về nuôi hắn đẻ
Ra mười quả trứng
Một trứng: ung
Hai trứng: ung
Ba trứng: ung
Bốn trứng: ung
Năm trứng: ung
Sáu trứng: ung
Bảy trứng: ung
Còn ba trứng
Nở được ba con
Con: diều tha
Con: quạ bắt
Con: mặt cắt xơi

Đừng than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”.


Cánh cò quê hương
vầng trăng mẹ hiền
mang đến cho em
giấc mơ hạnh phúc

khi ban mai tỉnh thức
mọc sớm sao Thần Nông
thăm thẳm giữa tâm hồn
Cánh cò bay trong mơ …

Ai viết cho ai Những câu thơ lưu lạc.
Giữa trần gian thầm lặng tháng năm dài ?
“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm.
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”.

Mười năm lưu lạc tìm gươm báu
Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. (1)
“Nghêu ngao vui thú yên hà.
Mai là bạn cũ, hạc là người quen”. (2)

Cánh cò bay trong mơ
Gốc mai vàng trước ngõ
Nhà tôi có chim về làm tổ
Hoa đồng nội và em

Cánh cò bay trong mơHoa Lúa Hoa NgườiBài ca thời gianGiấc mơ hạnh phúc.

Ghi chú

(1) “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái hoa mai” (Mười năm lưu lạc tìm gươm báu / Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai)  là hai câu thơ của Nguyễn Du. Trước đó, người đời cho là của Chu Thần Cao Bá Quát nhưng thực tế trong đời Cao Bá Quát không có mười năm lưu lạc “thập tải luân giao”. Theo “Như Thanh nhật ký của Nguyễn Tử Giản thì năm Mậu Thìn (1868) phó chánh sứ Nguyễn Tử Giản được tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối trên. Hai câu thơ này không phải là do Ngãi Tuấn Mễ sáng tác mà có trên gốm sứ Hoa Bắc “Trăng” Mai Hạc do Nguyễn Du lưu lại khi ông đóng vai nhà sư lưu lạc mười năm ở Trung Quốc. Ông cùng Hà Mỗ Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến lên Yên Kinh (Bắc Kinh) và cung Nhiệt Hà gặp Càn Long để chuyển hóa thời vận.  Nguyễn Du tính tình khoan hòa, điềm tĩnh, trọng “quân đức, dân tâm, học pháp”, có những câu thơ “thập tải luân giao”, ông chỉ bái lạy bậc hiền minh như cúi lạy trước hoa mai, “mai cốt cách, tuyết tinh thần”.

(2) “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen” trên đĩa “Trăng” Mai Hạc, sản phẩm gốm sứ Quảng Tây, truyền là của Nguyễn Du khi ông ở Trung Quốc.


LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim

Sớm mai  trời lạnh giá
Ngắm cảnh nhớ Đào Công.
Chuyển mùa trời chưa ấm.
Tuyết xuân thương người hiền.

Đêm trắng và Bình Minh.
Thung dung chào ngày mới.
Phúc hậu sống an nhiên.
Đông qua rồi xuân tới.

“Ngược gió đi không nản.
Rừng thông tuyết phủ dày.
Ngọa Long cương đâu nhỉ.
Đầy trời hoa tuyết bay  (*)…

(*) Nhớ Đào Duy Từ, một tứ thơ của Hoàng Kim

LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim

Thái Sơn nhớ bạn thương lời nhắn
Thanh Lương Từ Hiếu bước thanh nhàn
‘Bất đáo Trường Thành phi hảo hán’
Linh Giang Kỳ Lộ đối Trường Giang.

BatdaoTruongThanhphihaohan

LỜI THƯƠNG
Lên đỉnh

Em cũng đi anh cũng đi
Đường trần thăm thẳm bước say mê
Núi Thái anh lên ban mai hửng
Cổng Trời em đến nắng lên hương.

Thăm thăm trời thăm thẳm mây
Ai xui ai đến hiểm sơn này
Tự do hai tiếng ngời tâm đức
Thung dung đời thanh thản vui.

Câu li biệt lẽ hợp tan
Thời thế muôn năm biếng luận bàn
Tình Yêu Cuộc Sống đi cùng Bụt
Cửa nhà mình lối nhỏ bình an.


LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim

Nhớ người thuở ấy thăm nhau.
Bút vàng ruộng rẫy và câu ân tình.
Thương chùm mận hậu rung rinh.
Thủy chung bạn quý để dành người thân

Xem tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter


Những câu thơ lưu lạc

NHỮNG CÂU THƠ LƯU LẠC
Hoàng Kim

Ai viết cho ai những câu thơ lưu lạc.
Giữa trần gian thầm lặng tháng năm dài ?
“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm.
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”.

Mười năm lưu lạc tìm gươm báu
Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. (1)
“Nghêu ngao vui thú yên hà.
Mai là bạn cũ, hạc là người quen”. (2)

Trống lủng” (3) nghe tục giảng thanh
Cận nhân tình, như không như có.
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (4)
Như khói mây, giọt sương buổi sớm.

Cao vọi “Thướng sơn”“Tầm hữu vị ngộ
Núi cõng đường mòn, cha cõng con”.
Thăm thẳm những câu thơ lưu lạc
Biển là ao lớn, thuyền là con bò”. (5)

Dưỡng sinh thi“, “Sấm Trạng Trình“,
Chí thiện“, “An nhàn vô sự là tiên“. (6)
Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu.
Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim“. (7)

Nuôi con ai chẳng muốn thông minh
Ai ngỡ thông minh mãi hại mình
Chỉ muốn con ta thành nghê Việt
An toàn mà hưởng lộc công khanh! ” (8)

Nước trong như mắt người thanh lịch
Cỏ mướt như lưng gái dậy thì...” (9)

——
Ghi chú

(1) “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái hoa mai” (Mười năm lưu lạc tìm gươm báu / Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai)  là hai câu thơ của Nguyễn Du. Trước đó, người đời cho là của Chu Thần Cao Bá Quát nhưng thực tế trong đời Cao Bá Quát không có mười năm lưu lạc “thập tải luân giao”. Theo “Như Thanh nhật ký của Nguyễn Tử Giản thì năm Mậu Thìn (1868) phó chánh sứ Nguyễn Tử Giản được tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối trên. Hai câu thơ này không phải là do Ngãi Tuấn Mễ sáng tác mà có trên gốm sứ Hoa Bắc “Trăng” Mai Hạc do Nguyễn Du lưu lại khi ông đóng vai nhà sư lưu lạc mười năm ở Trung Quốc. Ông cùng Hà Mỗ Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến lên Yên Kinh (Bắc Kinh) và cung Nhiệt Hà gặp Càn Long để chuyển hóa thời vận.  Nguyễn Du tính tình khoan hòa, điềm tĩnh, trọng “quân đức, dân tâm, học pháp”, có những câu thơ “thập tải luân giao”, ông chỉ bái lạy bậc hiền minh như cúi lạy trước hoa mai, “mai cốt cách, tuyết tinh thần”.

(2) “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen” trên đĩa “Trăng” Mai Hạc, sản phẩm gốm sứ Quảng Tây, truyền là của Nguyễn Du khi ông ở Trung Quốc.

(3) “Trống lủng“, “Vịnh Đồ Sơn“, “Núi Kẽm Trống” là những kiệt tác thơ Hồ Xuân Hương cận nhân tình, đa ngữ nghĩa, như có như không, như khói mây, sương sớm.

(4) “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” thơ Mãn Giác thiền sư (tài liệu đã dẫn)

(5) “Núi cõng con đường mòn. Cha thì cõng theo con” “Biển là ao lớn. Thuyền là con bò” là thơ đồng dao của Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành, tên thuở nhỏ của Hồ Chí Minh) lúc 5 tuổi, tại đèo Ngang, trong chuyện kể “Tất Đạt tự ngôn” được nhà văn Sơn Tùng ghi lại.  Ngày 19 tháng 5 thành lập mặt trận Việt Minh trùng ngày khai sinh đường Hồ Chí Minh và cũng trùng ngày sinh Hồ Chí Minh.  Lời đồng dao “Biển là ao lớn, Thuyền là con bò” “Em nhìn thấy trước, Anh trông thấy sau” của cậu bé Nguyễn Sinh Cung “nói” năm 1895 mà  Sơn Tùng đã ghi lại và in trên báo Cứu Quốc lần đầu năm 1950 trùng với “đường lưỡi bò” hiện nay. Câu chuyện trẻ con đan xen những ẩn khuất lịch sử chưa được giải mã đầy đủ về Quốc Cộng hợp tác, tầm nhìn Hoàng Sa, Trường Sa của Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1424-1427, lúc mà Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Lý Thụy làm phiên dịch cho Borodin trưởng đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô tới Quảng Châu giúp chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch.

(6) “Dưỡng sinh thi“, “Sấm Trạng Trình” ,”Chí thiện“. “An nhàn vô sự là tiên …” là kiệt tác thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, xem  Ngày xuân đọc Trạng Trình.

(7) “Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim“. Trích trong “Cư trần lạc đạo phú” thơ Trần Nhân Tông, xem Lên non thiêng Yên Tử.

(8) Thơ Tô Đông Pha, giáo sư Nguyễn Khắc Phê dịch, “Nuôi con ai chẳng muốn thông minh / Ai ngỡ thông minh mãi hại mình / Chỉ muốn con ta ngu lẫn ngốc/ An toàn mà hưởng lộc công khanh! ” Nguyên tác: Tẩy nhi hí tác/ Nhân giai dưỡng tử vọng thông minh./ Ngã bị thông minh ngộ nhất sinh. / Duy nguyện hài nhi ngu thả lỗ,/ Vô tai vô nạn đáo công khanh. Trích dẫn tại “Bulukhin với bác Phạm Vũ Chánh”.

Bác Bulukhin bình: “Bác Chánh à . Xin nói trước, bu tui rất dốt thơ, nếu “bình loạn” có chỗ trật trệu thì mong bác Vũ Phạm Chánh thông cảm cho nhé.
1- Không hiểu sao Gs Nguyễn Khắc Phi và ông Trương Việt Linh chỉ dịch thơ chớ không dịch tựa đề: “Tẩy nhi hí tác”, (洗兒戲作). Ông Hung Trandang thì dịch là “Thơ vui nhân con đầy tháng” bài bác gửi bu lại ghi “Quan tâm đến đứa con”. Thực ra tẩy nhi (洗兒) là tắm cho trẻ con, hí tác (戲作)là làm cho vui. Có thể dịch thoát là “thơ vui khi tắm cho con”. Trong bốn chữ của tựa đề không có chữ nào đề cập đến con đầy tháng cả.
2- Muốn thơ vui (hí tác) thì ý tứ phải khác lạ, đôi khi nói ngược lại sự bình thường. Dân ca Việt Nam có bài nói ngược độc đáo: “Bao giờ cho đến tháng ba, ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng, hùm nằm cho lơn liếm lông, một chục quả hồng nuốt lão tám mươi, nắm xôi nuốt bé lên mười, con gà be rượu nuốt người lao đao”. Nhà thơ Tô Đông Pha cũng nói ngược nhưng không chỉ để cười … “Ai ngỡ thông minh mãi hại mình” là câu tổng kết cuộc đời 64 năm của ông. Sách Bát đại gia Đường Tống (1) kể lại năm 21 tuổi ông lên Biện Kinh thi tiến sỹ. Âu Dương Tu quan chánh chủ khảo khi đọc bài “Hình thưởng trung hậu chi chí luận” (2) của ông phải lấy làm kinh ngạc về tài năng của cậu học trò. Đến “Ký điện thí”(3) Âu tiên sinh nói với mọi người “Đọc văn chương của Tô Thức (tức Tô Đông Pha) ta bất giác toát cả mồ hôi! Thật là sảng khoái! Ta phải tránh né ông ta để ông ta vượt lên trên người khác”.Thông minh đến thế là tột đỉnh siêu việt. Nhưng khi ra làm một viên quan làng nhàng ông bị giáng chức hết lần này đến lần khác. Tô Đông Pha biết chắc cuộc Tân pháp của tể tướng Vương An Thạch sẽ thất bại thảm hại (4) và lên tiếng phản đối. Bọn ngự sử Hà Chính Thần, Lý Định, Thư Đảm đưa bài thơ Hàng Châu kí sự của ông cho Vương An Thạch đọc và xuyên tạc thêm: Tô Đông Pha giễu cợt triều đình xem thường hoàng thượng. Vua Tống Thần tông nhốt Tô Đông Pha vào ngục, bọn sai nha đánh đập ông tàn tệ. Sau này nghĩ lại vua tha chết nhưng đày ông đi Hoàng Châu (huyện Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc) làm anh dân thường. Không cửa nhà, không lương bổng, ăn không đủ no mặc không đủ ấm, đành ở nhờ trong một ngôi miếu. May mà gặp bạn tốt xin cho mười mẫu ruộng hoang ông phải tự mình cày cấy, gặt hái. Có lúc đói quá nhà thơ phải ăn cả hoa cúc tươi. Hoàn cảnh Tô Đông Phá đúng như Nguyễn Du nói trong truyền Kiều “Chữ tài liền với chữ tai một vần”
3- “Chỉ muốn con ta ngu lẫn ngốc, an toàn mà hưởng lộc công khanh”. Đọc hai câu này ta thấy ông nói ngược nhưng lại là sự thực của xã hội Bắc Tống. Chưa nói đám quan quyền dưới vua mà ngay cả một loạt vua bắc Tống từ Chân tôn, Nhân tôn… trở đi là những ông vua bạc nhược và ngu ngốc. Có lẽ trên thế giới này không có quốc gia nào triều cống ngược như nhà Tống bên Tàu. Biên giới Tống ở phía Tây bị rợ Liêu quấy nhiễu. VuaTống nghĩ điều quân đến đánh thì tốn người hao của chi bằng cứ cho người Liêu mỗi năm 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa…nhưng rợ Liêu được đằng chân lân đằng đầu dần dà số bạc và số lụa gia tăng đến nỗi vua Tống chịu hết nỗi. Với rợ Tây Hạ tình trạng triều cống ngược cũng xẩy ra tương tự. Nền kinh tế nhà Tống bấy giờ suy sụp, Quốc khố rỗng không trong quyển sử Trung Quốc ( trang 316, 317) học giả Nguyễn Hiến Lê cho hay “bọn con buôn được dịp giàu thêm, chỉ có triều đình nghèo mạt. Nghèo tới nỗi vua Nhân Tôn (1023 – 1063), con vua Chân Tôn, phải cần kiệm từng chút . Một đêm đói, thèm món thịt dê mà phải nhịn “đỡ được một món tổn hao”. Có kẻ dâng ông 18 con hến bể tính cả phí tổn chuyên chở thì mỗi con giá một ngàn đồng (đồng tiền thời đó chắc đã phá giá) ông lắc đầu “Gắp một con mà hao một ngàn đồng ta chẳng kham nỗi” Hởi ôi, làm thiên tử (con trời) mà nghèo đến thế thì Tô Đông Pha có bảo ông là vua ngốc cũng đáng lắm. (1): Có hai quyển Bát đại gia Đường Tống. Quyển bu tui đang có, của Hà Minh Phương biên soạn nxb Đồng Nai 1996. Quyển khác của Nguyễn Hiến Lê; (2) Dịch nghĩa: Luận về sự trung hậu trong phép thưởng phạt. (3) Kỳ thi cuối cùng ở trong kinh do vua chủ trì (4) Tân Pháp của Vương An Thạch bị thất bại thảm hại như tiên đoán của Tô Đông Pha, Vương bị cách chức Tể tướng. .Bu tui (áo trắng Bulukhin Nguyễn Quốc Toàn) và anh bạn (Vũ Phạm Chánh. đã từng du học ở Tàu) bên tượng Tô Đông Pha ở Hàng Châu.(ảnh tư liệu của tác giả)
; “

Hoàng Kim có lời bình: Bản dịch thơ tiếng Việt của giáo sư Nguyễn Khắc Phi đối với kiệt tác thơ chữ Hán của Tô Đông Pha, tôi thật tâm đắc. Tôi chỉ muốn dùng chữ “thành Nghê Việt” có từ thời Trần có trong Đêm Yên Tử để sửa lại câu ba: “Nuôi con ai chẳng muốn thông minh / Ai ngỡ thông minh mãi hại mình / Chỉ muốn con ta thành nghê Việt / An toàn mà hưởng lộc công khanh! “.Nghê Việt là biểu tượng rồng ẩn, một trong những sáng tạo đỉnh cao của văn hóa Việt. “Sách Nhàn đọc dấu câu có câu không” ẩn hiện như tiềm long, một trong chín đứa con của rồng (long sinh cửu tử) theo thời mà biến hóa. Nghê (ngô nghê, ngây ngô) là linh vật rồng ẩn thuần Việt trong “chín đứa con của rồng” (Long sinh cửu tử) và được phổ biến rộng trong dân gian thời Trần và được đúc kết bởi tác phẩm ““Tiềm Xác Loại Thư” của Trần Nhân Tích. Toan Nghê là linh vật có sức mạnh phi thường giống như sư tử, như mèo thần, thích nghỉ ngơi, điềm tĩnh, chăm chú chọn cơ hội, nhưng khi ra tay thì cực kỳ mau lẹ, dũng mãnh và hiệu quả. Kim Nghê là linh vật giống như kỳ lân, trâu ngựa thần, có tài nuốt lửa nhả khói, nội lực thâm hậu, nhanh mạnh lạ lùng, dùng để cưỡi đưa chủ nhanh đến đích. Nghê Dân Gian là linh vật gác cổng giữ nhà hiền lành, tin cẩn như chó nhà và hung dữ, nguy hiểm, tinh khôn như chó sói. Nghê Thường là linh vật ngây dại như trẻ thơ, nhởn nhơ như nai rừng, tin yêu như thục nữ nhưng vô cùng quý hiếm.

(9) Cao Bá Quát vịnh Hồ Tây Hà Nội: “Nước trong như mắt người thanh lịch/ Cỏ mướt như lưng gái dậy thì...”… Trích dẫn tại “Bulukhin với bác Phạm Vũ Chánh”. (18.5.2019)

Bác Bulukhin bình: “Bác Phạm Vũ Chánh đề nghị Bu tui bình hai câu thơ của Cao Bá Quát vịnh Hồ Tây Hà Nội: “Nước trong như mắt người thanh lịch Cỏ mướt như lưng gái dậy thì…” Bác ơi 1- Thơ thất ngôn tứ tuyệt luật Đường gồm có 4 câu . Câu một: phá, câu hai: thực, câu ba: luận, câu bốn: kết. Nhưng bác chỉ đưa có hai câu : “nước trong như mắt người thanh lịch/ cỏ mướt như lưng gái dậy thì” làm bu không biết “bình loạn” thế nào cho bác ưng ý. Có thể nó là câu “luận” và câu “kết” của một bài tứ tuyệt nào đó mà bác chưa tìm được câu “phá” và câu “thực”chăng ?
2- Xem ra bác Chánh có vẻ tâm đắc với hai câu thơ này lắm? Bu tui cũng giống bác cho nên mới ngồi gõ STT này gửi bác và bạn bè đọc, biết đâu có người đồng cảm.
3- Nhà thơ thiên tài Cao Bá Quát có đến 8 bài “Du Tây Hồ bát tuyệt” kì 1 cho đến kì 8. Đáng chú ý nhất trong 8 bài ấy là bài kì 2. Bu tui nói thêm chút xíu về bài này để xem hai câu bác đưa ra có lọt vào đây không.
遊西湖八絕其二
顚倒春心不自持,
西湖真個似西施。
盈盈翠黛波平後,
曲曲群腰草綠時。
Phiên âm
Du Tây Hồ bát tuyệt kỳ nhị
Điên đảo xuân tâm bất tự trì,
Tây Hồ chân cá tự Tây Thi.
Doanh doanh thuý đại ba bình hậu,
Khúc khúc quần yêu thảo lục thì.
Dịch xuôi:
Lòng xuân nghiêng ngả, không tự cầm giữ nổi
Tây Hồ quả thực là một nàng Tây Thi
Vẻ mày nở nang là khi lớp sóng mới lặng
Dây lưng uốn éo là lúc ngọn cỏ đương xanh
Dịch thơ
Lòng xuân ghìm giữ khôn đang
Hồ Tây kia đúng một nàng Tây Thi
Sóng êm, đầy đặn nét mi
Giải là bay: cỏ đang thì mướt xanh
(Ngô linh Ngọc)
Nghiêng ngã lòng xuân khó giữ thay
Tây Hồ quả thật đáng Tây Thi
Sóng yên mơn mởn mày ai nở
Giải thắm lượn lờ cỏ biếc lay
(Trương Việt Linh)
Phơi phới lòng xuân khó chủ trì
Tây Hồ xinh đẹp tựa Tây Thi
Sóng êm cỏ biếc cùng chung vẻ
Má phấn lưng ong gái đến thì
(Ngô Lập Chi)
4- Trong ba bản dịch trên (và nhiều bản dịch khác mà bu đã đọc) không có hai câu bác gửi cho bu.
Người nào đó dựa vào hai câu cuối của bản dịch Ngô Lập Chi có các chữ “lưng”, “gái”, “thì”, mà phóng tác ra thành:
“Nước trong như mắt người thanh lịch
Cỏ mướt như lưng gái dậy thì…”
5- Lâu nay dân Việt ta cứ cho là người Tràng An thanh lịch. Hóa ra tiêu chuẩn người thanh lịch còn phải có đôi mắt trong, kể cũng có lý. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Tâm hồn có nhạy cảm, trong sáng, thùy mị, thanh tao, lịch thiệp, thì đôi mắt mới trong. Còn các người đẹp chân dài ngàn đô bán thân làm giàu, đôi mắt bốc lửa nhục dục sẽ không còn trong nữa. Lại các cô bán phở mắng, cháo chửi, mắt vằn lên tia lửa giận thì làm sao mà trong cho được.
6- “Cỏ mướt như lưng gái dậy thì” là một câu thơ lạ và độc đáo. Tự cổ chí kim anh con trai quan sát một cô gái bắt đầu từ khuôn mặt, thứ đến “cặp tuyết lê”, rồi vòng 1, vòng 2, vòng 3…chứ không ai quan sát tấm lưng trần. Bu tui không có trải nghiệm về vụ này. Nhưng “cỏ mướt như lưng gái dậy thì” làm cỏ như có linh hồn và sống động thêm lên. Lưng gái dậy thì giống cỏ Tây Hồ mà thành người Tràng An thanh lịch chăng ?? Hay thiệt bác ạ !!!


Hoàng Kim bàn thêm: Em nghe nói “Du Tây Hồ” của Cao Bá Quát sánh “Mưa Tây Hồ” của Tô Đông Pha, đều là kiệt tác. Nguyễn Hàm Ninh với hai câu khuyên đỏ Việt ngữ “Nước trong như mắt người thanh lịch/ Cỏ mướt như lưng gái dậy thì...” đã thâu tóm cái thần tinh hoa của bốn câu thơ chữ Hán tuyệt phẩm của Cao Bá Quát Điều này em đã chép lại trong truyện NGUYỄN HÀM NINH VÀ CAO BÁ QUÁT. gIai thoại cho rằng đó là thơ Nguyễn Hàm Ninh giản lược thơ Cao Bá Quát để đừa bạn. Cao Bá Quát kiệt tác thơ chữ Hán Du Tây Hồ nhu sau: Du Tây Hồ bát tuyệt kỳ nhị/ Điên đảo xuân tâm bất tự trì / Tây Hồ chân cá tự Tây Thi / Doanh doanh thuý đại ba bình hậu / Khúc khúc quần yêu thảo lục thì. (Dịch nghĩa: Lòng xuân nghiêng ngả, không tự cầm giữ nổi / Tây Hồ quả thực là một nàng Tây Thi / Vẻ mày nở nang là khi lớp sóng mới lặng /Dây lưng lã lơi là lúc ngọn cỏ xuân thì). Nguyễn Hàm Ninh người thầy của vua danh sĩ tinh hoa trầm tĩnh có khí phách cứng cỏi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-ham-ninh-nguoi-thay-cua-vua/ . Cao Bá Quát viết về ứng xử của Tô Đông Pha trong nghịch cảnh “Chàng Tô tả tơi rồi” ta cần đọc kỹ “Lên núi Hoành Sơn” và “Hoành Sơn Quan” tại “Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ” mới thấu hiểu

NGUYỄN HÀM NINH VÀ CAO BÁ QUÁT

Giai thoai kết bạn. Năm Tân Mão (1831) Cao Bá Quát đỗ Á nguyên trường thi Hà Nội. Năm sau (1832) ông vào kinh đô Huế thi Hội.

Một thầy một trò quảy níp vào Kinh. Đường về xứ Nghệ quanh quanh, đường về xứ Huế như tranh họa đồ… Khi đi gần đến sông Gianh (Linh Giang), ông Quát sực nhớ vùng này có danh sĩ Nguyễn Hàm Ninh ( người làng Trung Ái, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình) mới đỗ Giải nguyên trường Thừa Thiên khoa mới rồi. Ông có ý muốn gặp mặt nói chuyện cho biết sức học của nhà danh sĩ ấy đối với mình hơn kém thế nào. Trong lúc đó, chợt thấy một chàng thanh niên trạc độ 24, 25 tuổi cũng đang đi trên đường, ông bèn hỏi thăm:

– Xin hỏi nhờ bác, bác có biết làng ông thủ khoa Nguyễn Hàm Ninh cách đây bao xa không?

Người thanh niên nhìn ông Quát có vẻ dò xét rồi nói:

– Tôi biết, nhưng bác hỏi thăm làng ông ấy để làm gì?

– Vì tôi nghe ông ấy là danh sĩ – Ông Quát đáp – muốn được gặp mặt để xem có quả thật là danh sĩ không?

Người kia lại nhìn ông Quát hỏi:

– Bác hẳn là một vị tân khoa trên đường vào Kinh thi Hội?

– Chính thế – Ông Quát đáp một cách tự tin – tôi trông bác cũng có vẻ nho nhã, hẳn bác đã biết danh sĩ Bắc Hà là Cao Bá Quát, vừa đỗ Á nguyên trường Hà Nội mới rồi chứ?

– Mà danh sĩ ấy tức là người đang nói chuyện với tôi đây?

Ông Quát cười ha hả mà nói:

– Phải rồi đấy!

Người kia cũng cười mà nói:

– Rứa là hay quá. Ta cùng vào Kinh luôn thể. Bác muốn gặp ông Ninh không cần tìm đến nhà nữa mà cứ đi trên đường này, đi nhanh chân lên rồi sẽ gặp ông ta, vì ông ta cũng vào thi Kinh.

Ông Quát bèn đi nhanh chân, mong để gặp được người muốn gặp. Nhưng đi đã khá lâu, vẫn chẳng thấy ai là Nguyễn Hàm Ninh cả, ông Quát chợt hỏi người kia:

– À, tôi quên hỏi bác với Thủ khoa Ninh, có là chỗ quen biết gì không?

– Sao lại không! Ông Thủ khoa Ninh là thầy học của tôi!

– Thế à? Vậy chắc là bác có biết những thơ văn của ông Thủ khoa. Bác làm ơn thử đọc cho tôi nghe mấy bài!

– Thơ văn của thầy tôi nhiều lắm, nhưng xin thú thật, tôi chẳng nhớ được bài nào hết.

Ông Quát buồn bực:

– Lạ chưa! Học trò mà lại chẳng thuộc được một bài thơ nào của thầy!

– Thật đó mà! Vì tôi vô tâm. Bây giờ trên quảng đường xa, nếu chúng ta muốn lấy thơ văn làm vui bác nên ra đầu bài để cho tôi làm, rồi xin nhờ bác sửa chữa lại hộ.

Ông Quát liền ra đề thơ để người kia làm thì người kia làm rất nhanh và thơ rất xuất sắc khiến ônh Quát hết sức kinh ngạc. Ông thầm nghĩ: học trò đã giỏi nhu thế thì chắc chắn Nguyễn Hàm Ninh là người có thực tài. Từ đó hai người cùng làm thơ xướng họa quên cả những nhọc mệt qua truông nhà Hồ, qua đại trường sa của đường vô Kinh.

Vào đến Kinh cũng không thấy ông Ninh. Lúc cáo biệt ông Quát hỏi ông Ninh đâu, người kia bảo ông Quát chiều hôm sau đến phố ấy, nhà ấy sẽ gặp cả mình và cả tôn sư Nguyễn Hàm Ninh, vì nơi ấy là nơi mỗi lần vào Kinh ông Ninh đều đến ở trọ.

Đúng hẹn chiếu hôm sau tìm đến nơi hẹn thì mới vỡ lẽ rằng ông Thủ khoa Nguyễn Hàm Ninh chính là người bạn đồng hành của mình đã xướng họa với nhau suốt mấy hôm nay.

Hai ông ôm nhau cười rũ rượi và từ đó kết nên một đôi bạn thân.

Giai thoại xướng họa (Như đã nêu trên)

Giai thoại cắn phải lưỡi. Một hôm, vua Tự Đức mở tiệc chiêu đãi. Lúc nhà vua đang ăn thì bỗng kêu lên: “Trẫm cắn phải lưỡi đau quá! Các khanh hãy làm thơ vịnh về sự cố này nhưng cấm không được nhắc đến hai từ lưỡi và răng. Ai làm hay trẫm sẽ ban thưởng”. Nghe nhà vua nói vậy, các quan văn võ có mặt trong bữa tiệc đều vắt óc suy nghĩ… Nguyễn Hàm Ninh lát sau đã đứng dậy, xin phép  đọc bài thơ ông vừa viết xong:

Sinh ngã chi sơ, nhĩ vị sinh;
Nhĩ sinh vi hậu, ngã vi huynh.
Đồng thời cộng hưởng trân cam vị;
Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình.

Dịch thơ:

Ta ra đời trước, chú chưa sinh;
Chú phận làm em, ta làm anh.
Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng chung hưởng;
Cốt nhục mà sao nỡ dứt tình.

Vua Tự Đức sau khi nghe Nguyễn Hàm Ninh đọc xong đã tấm tắc khen hay và phán:   “Thơ rất hay, trẫm thưởng cho nhà ngươi mỗi câu một lạng vàng. Nhưng ý thơ rất ác nên nhà ngươi phải chịu phạt, mỗi câu một roi!”. Mẩu giai thoại này phần nào đã thể hiện tài năng, khí phách của Nguyễn Hàm Ninh. Ông đã ngầm ám chỉ việc vua Tự Đức ra lệnh giết chết thái tử Hồng Bảo là anh cùng cha khác mẹ, dám chạm đến chỗ “húy” của nhà vua trước mặt bá quan văn võ.

Miên Thẫm là Đỗ Phủ thơ Việt “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán; Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” Vua Tự Đức ông vua nổi tiếng hay chữ thời Nguyễn trong lịch sử Việt Nam đã viết như vậy. Vua Tự Đức  trước mộ Tùng Thiện Vương cũng cảm khái đề thơ: Nhất Đại Thi Ông thệ bất hoàn! (Sao Nhất Đại Thi Ông nỡ không trở lại !). Sổ xích tân phần tỳ mẫu mộ Kỷ thiên cựu vịnh bá nhân hoàn (Vài thước đất vun gần mộ mẹ Mấy bài thơ rãi khắp bầu trời.) Tôi theo chân Lê Ngọc Trác tìm về Tùng Thiện Vương, lần theo lời đánh giá này để tìm về cội nguồn hiểu rõ thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Có hiểu và thấu suốt Nguyễn Hàm Ninh, Cao Bá Quát, Thương Sơn Công Miên Thẩm, Mai An, Hồ Phi Mai (Hồ Xuân Hương), Nguyễn Du thí ta mới có thể hiểu sâu hơn những câu thơ lưu lạc thời ấy https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mien-tham-la-do-phu-tho-viet/

Xem tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Bài liên quan

Praha Goethe và lâu đài cổ
500 năm nông nghiệp Brazil
Ngày xuân đọc Trạng Trình

Nguyễn Du 250 năm nhìn lại
Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích
Trúc Lâm thăm thẳm một góc nhìn
Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter