Lời thương

LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim
Ta đi về chốn trong ngần
Để thương sỏi đá cũng cần có nhau.


Tháng năm nhìn lại CNM365 Chào ngày mới 26 tháng 5 (2013- 2019). Lớp học trên đồng LỜI THƯƠNG https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-thuong/

Chùm ảnh Lớp học trên đồng ngày này bảy năm trước 26 tháng 5 năm 2013: https://hoangkimlong.wordpress.com/2013/05/26/loi-thuong-4/

Lời thương
Hoàng Kim

Khoác thêm tấm áo trời se lạnh
Đông tàn xuân đến đó rồi em
Phúc hậu mỗi ngày chăm việc thiện
Yêu thương xa cách hóa gần thêm

Lovingword

Wearing sweater when it’s rather cold.
Winter comes to an end, and early Spring is coming.
Everyday, we care good deeds kindly.
Distant love turn out to be close together.

LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim

Cánh cò bay trong mơ
ca dao em và tôi
bảng lãng cánh cò
bay giữa nhân gian.

Con cò đi đón cơn mưa
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về’
bâng khuâng Cánh cò
Thương lời ru của mẹ:

“Tháng giêng, tháng hai,
Tháng ba, tháng bốn,
Tháng khốn, tháng nạn
Đi vay đi dạm
Được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên
Mua con gà mái
Về nuôi hắn đẻ
Ra mười quả trứng
Một trứng: ung
Hai trứng: ung
Ba trứng: ung
Bốn trứng: ung
Năm trứng: ung
Sáu trứng: ung
Bảy trứng: ung
Còn ba trứng
Nở được ba con
Con: diều tha
Con: quạ bắt
Con: mặt cắt xơi

Đừng than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”.


Cánh cò quê hương
vầng trăng mẹ hiền
mang đến cho em
giấc mơ hạnh phúc

khi ban mai tỉnh thức
mọc sớm sao Thần Nông
thăm thẳm giữa tâm hồn
Cánh cò bay trong mơ …

Ai viết cho ai Những câu thơ lưu lạc.
Giữa trần gian thầm lặng tháng năm dài ?
“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm.
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”.

Mười năm lưu lạc tìm gươm báu
Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. (1)
“Nghêu ngao vui thú yên hà.
Mai là bạn cũ, hạc là người quen”. (2)

Cánh cò bay trong mơ
Gốc mai vàng trước ngõ
Nhà tôi có chim về làm tổ
Hoa đồng nội và em

Cánh cò bay trong mơHoa Lúa Hoa NgườiBài ca thời gianGiấc mơ hạnh phúc.

Ghi chú

(1) “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái hoa mai” (Mười năm lưu lạc tìm gươm báu / Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai)  là hai câu thơ của Nguyễn Du. Trước đó, người đời cho là của Chu Thần Cao Bá Quát nhưng thực tế trong đời Cao Bá Quát không có mười năm lưu lạc “thập tải luân giao”. Theo “Như Thanh nhật ký của Nguyễn Tử Giản thì năm Mậu Thìn (1868) phó chánh sứ Nguyễn Tử Giản được tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối trên. Hai câu thơ này không phải là do Ngãi Tuấn Mễ sáng tác mà có trên gốm sứ Hoa Bắc “Trăng” Mai Hạc do Nguyễn Du lưu lại khi ông đóng vai nhà sư lưu lạc mười năm ở Trung Quốc. Ông cùng Hà Mỗ Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến lên Yên Kinh (Bắc Kinh) và cung Nhiệt Hà gặp Càn Long để chuyển hóa thời vận.  Nguyễn Du tính tình khoan hòa, điềm tĩnh, trọng “quân đức, dân tâm, học pháp”, có những câu thơ “thập tải luân giao”, ông chỉ bái lạy bậc hiền minh như cúi lạy trước hoa mai, “mai cốt cách, tuyết tinh thần”.

(2) “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen” trên đĩa “Trăng” Mai Hạc, sản phẩm gốm sứ Quảng Tây, truyền là của Nguyễn Du khi ông ở Trung Quốc.


LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim

Sớm mai  trời lạnh giá
Ngắm cảnh nhớ Đào Công.
Chuyển mùa trời chưa ấm.
Tuyết xuân thương người hiền.

Đêm trắng và Bình Minh.
Thung dung chào ngày mới.
Phúc hậu sống an nhiên.
Đông qua rồi xuân tới.

“Ngược gió đi không nản.
Rừng thông tuyết phủ dày.
Ngọa Long cương đâu nhỉ.
Đầy trời hoa tuyết bay  (*)…

(*) Nhớ Đào Duy Từ, một tứ thơ của Hoàng Kim

LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim

Thái Sơn nhớ bạn thương lời nhắn
Thanh Lương Từ Hiếu bước thanh nhàn
‘Bất đáo Trường Thành phi hảo hán’
Linh Giang Kỳ Lộ đối Trường Giang.

BatdaoTruongThanhphihaohan

LỜI THƯƠNG
Lên đỉnh

Em cũng đi anh cũng đi
Đường trần thăm thẳm bước say mê
Núi Thái anh lên ban mai hửng
Cổng Trời em đến nắng lên hương.

Thăm thăm trời thăm thẳm mây
Ai xui ai đến hiểm sơn này
Tự do hai tiếng ngời tâm đức
Thung dung đời thanh thản vui.

Câu li biệt lẽ hợp tan
Thời thế muôn năm biếng luận bàn
Tình Yêu Cuộc Sống đi cùng Bụt
Cửa nhà mình lối nhỏ bình an.


LỜI THƯƠNG
Hoàng Kim

Nhớ người thuở ấy thăm nhau.
Bút vàng ruộng rẫy và câu ân tình.
Thương chùm mận hậu rung rinh.
Thủy chung bạn quý để dành người thân

Xem tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter


Nguyễn Du trăng huyền thoại

HỒ XUÂN HƯƠNG KIỆT TÁC THƠ HÁN NÔM
Hoàng Kim

“Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là bài thơ ‘Tỏ ý’ của Hồ Xuân Hương đối với Nguyễn Du . Bài thơ tình xuân thiết tha, lời thơ là lời hát nói có nhạc bên trong nên câu thơ hay hiếm thấy. Bài thơ “Tỏ ý” này rút trong tập thơ “Lưu Hương Ký” thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương. Con người tác giả và tác phẩm này là nguyên mẫu người và thơ để Nguyễn Du đưa nhân vật, sự kiện và thời thế vào trong kiệt tác Truyện Kiều. https://hoangkimlong.wordpress.com/2019/05/17/ho-xuan-huong-kiet-tac-tho-han-nom/

Cái khó nhất trong văn chương là giá trị ngôn ngữ văn hóa sử thi dân ca hòa quyện thành lời hát tình tự dân tộc. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều với Lưu Hương Ký là cặp đôi hoàn hảo trong văn chương Việt. Nguyễn Du Truyện Kiều đã có nhiều nghiên cứu và tôn vinh, nhưng tiếc rằng, Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm, còn ít được thấu tỏ. Bài này góp phần tìm hiểu sự hiếm hoi ít biết đó. Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm không chỉ là thấu suốt và diễn đạt tuyệt đỉnh thơ chữ Hán mà còn là biểu cảm sâu sắc ngôn ngữ Hán Nôm, ca trù hát nói Việt, hồn Việt, văn hóa sử thi dân ca người Việt, nguồn cảm hứng tuyệt vời của thơ Nguyễn Du:”Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như nước suối vừa sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài. Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ. Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẫn sầu. Khi tựa gối, khi cúi đầu. Khi vò chín khúc khi chau đôi mày.”

Đĩa Trăng cổ thơ Mai Hạc của Nguyễn Du lưu lạc trong nhân gian “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen” gợi mở chủ đề Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm. ” Ai viết cho ai những câu thơ lưu lạc. Giữa trần gian thầm lặng tháng năm dài? “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm. Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”. Tập thơ LƯU HƯƠNG KÝ của Hồ Xuân Hương xuất hiện vào năm 1814, là văn bản cổ nhất và đáng tin nhất liên quan đến thơ Hồ Xuân Hương. Tập thơ này mới được phát hiện vào năm 1963 gồm Bài Tựa của Tốn Phong, người Nghệ An viết năm 1814 và 52 bài thơ của Hồ Xuân Hương với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm. Trong bài tựa, Tốn Phong tự nhận mình là bạn của Hồ Xuân Hương, tự Cổ Nguyệt Đường, con cháu họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chính Hồ Xuân Hương đã nhờ ông viết lời tựa ấy: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa.” (Chữ in đậm là Hoàng Kim nhấn mạnh).

Trang thơ Hồ Xuân Hương 154 bài trên Thi Viện có nhiều bài rất hay:“Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là kiệt tác thơ tình yêu của Hồ  Xuân Hương “Độ Hoa Phong” là cảm tác Hạ Long tuyệt bút. Bài thơ “Miếu Sầm thái thú” cao vọi tầm tư tưởng nhân hậu và khí phách đảm lược của một kỳ tài, thơ tôn vinh phụ nữ và giải phóng con người, “Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” tri âm tri kỹ nghĩa tình bền vững, “thơ Nôm truyền tụng” thanh tục đời thường, như có như không.

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ”  là bài thơ ‘Tỏ ý’ của Hồ Xuân Hương đối với Nguyễn Du . Bài thơ tình xuân thiết tha, lời thơ là lời hát nói có nhạc bên trong nên câu thơ hay hiếm thấy. Bài thơ “Tỏ ý” này rút trong tập thơ “Lưu Hương Ký” thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương. Con người tác giả và tác phẩm này là nguyên mẫu người và thơ để Nguyễn Du đưa nhân vật, sự kiện và thời thế vào trong kiệt tác Truyện Kiều. Hồ Xuân Hương với kiệt tác thơ chữ Hán “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” là cây hồ cầm tuyệt diệu hát nói ca trù Kiều gẩy đàn cho Kim Trọng nghe “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như nước suối vừa sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài. Tiếu mau sầm sập như trời đổ mưa. Ngọn đèn khi tỏ khi mờ. Khiến người ngồi đấy cũng ngơ ngẫn sầu. Khi tựa gối khi cúi đầu. Khi vò chín khúc , khi chau đôi mày” (Kiều).

Truyện Thúy Kiều soi thấu những góc khuất của Lưu Hương Ký và ngược lại. “Chút riêng chọn đá thử vàng. Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình? Từ rằng: Lời nói hữu tình. Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần. Phỏng tin được một vài phần hay không? Thưa rằng: Lượng cả bao dong. Tấn Dương được thấy mây rồng có phen …”.

Những câu thơ lưu lạccủa Mai Sơn Phủ Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc viết cho Hồ Phi Mai Hồ Xuân Hươn“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm. Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”. Mười năm lưu lạc tìm gươm báu  Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai. “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen”  giúp ta thấu hiểu.

Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương là tri âm tri kỷ, là tiếng nói yêu thương khát vọng của con người. Tôi tập dịch bài thơ của Hồ Xuân Hương gửi Mai Sơn Phủ mà thấm thía sâu sắc câu chuyện tình cảm động bền vững với thời gian.

TỎ Ý
Hồ Xuân Hương
tặng  Mai Sơn Phủ (Nguyễn Du)

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Hoa rung rinh,
Cây rung rinh,
Giấc mộng cô đơn nhớ hương tình,
Đêm xuân bao cảm khái.

Hươu nơi nao
Nhạn nơi nao
Mình ước trong nhau ban mai nào
Lòng em thương nhớ ai thấu sao!

Sông mênh mông
Nước dạt dào
Lòng hai chúng mình đều ao ước
Nước mắt thầm rơi mặn chát.

Thơ thương thương,
Lòng vương vương,
Ấm lạnh lòng ai thấu tỏ tường,
Bút người tả xiết chăng?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương ?
Mây vương vương
Nước sương sương
Mây nước chung nhau chỉ một đường
Dặm trường cách trở  thương càng thương.

Ngày thênh thênh,
Đêm thênh thênh,
Đêm ngày khắc khoải nhớ thương anh,
Người ơi đừng lỡ hẹn sai tình.

Gió bay bay
Mưa bay bay
Mưa gió giục em viết thơ này
Bút xuân gửi đến người thương nhớ

Anh đồng lòng
Em đồng lòng
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm (*)
Thơ cùng ngâm
Rượu và trăng
Thăm thẳm buồn ly biệt
Vầng trăng chia hai nữa
Cung đàn ly khúc oán tri âm (**),
Thôi đành bặt tiếng hồ cầm
Núi cao biển sâu đằng đẳng
Xin chớ tủi buồn mà than cổ kim.

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói năng chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Lời và chữ còn đó
Ai là kẻ tình si
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ.


Kiều – Nguyễn Du
Ca trù hát nói Việt Nam

Non xanh xanh

Nước xanh xanh
Sớm tình tình sớm, trưa tình tình trưa
Áy ai tháng đợi năm chờ
Mà người ngày ấy bây giờ là đây…

Hồng Hồng Tuyết Tuyết ca trù hát nói tinh hoa cổ văn chương Việt) NS Quách Thị Hồ

THƯƠNG KIỀU NGUYỄN DU

Ôi
tâm phúc tương tri
Bốn biển không nhà
Kiều Nguyễn biệt ly
Bởi Nguyễn thương Kiều
Sợ theo thêm bận.
Thương Kiều Nguyễn Du
Sao chẳng đi cùng
Để việc trăm năm
Nghìn năm di hận?
Truyện Kiều Nguyễn Du
Bài học muôn đời.

Hoàng Kim

Nguyên tác:




鹿








































Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch liêu,
Khả cảm thị xuân tiêu.

Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan thảo tương kỳ tại nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.

Giang bát bát,
Thủy hoạt hoạt,
Ngã tứ quân hoài tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.

Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng đạm thốn tình tu lưỡng đạt,
Dã bằng quân bút phát.

Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt linh không khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Đằng Vương?
Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.

Nhật kỳ kỳ,
Dạ trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai kỳ.

Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái bút huy,
Bút huy đô thị phó tình nhi.

Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm.
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm.
Nhất tự sầu phân ly,
Hà nhân noãn bán khâm.
Mạc đàn ly khúc oán tri âm,
Trực tu khí trí thử dao cầm.
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ câm.

Quân hà kì,
Ngã hà kì,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê trì.
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị tình nhi?
Hảo tư tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên đề,
Phương tâm thệ bất phụ giai kỳ.

Bài từ theo điệu Ức Giang Nam.

Kể ý mình và trình bạn là Mai Sơn Phủ

Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu xiêu
Giấc mộng tình quê thảy tịch liêu
Đêm xuân cảm khái nhiều.

Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một sớm nào
Tả hết được tình sao!

Sông bát ngát
Nước ào ạt
Ý thiếp lòng chàng cũng vu khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.

Thơ da diết
Lòng thê thiết
Đậm nhạt tấc lòng ai thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?

Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai luống đoạn tràng
Đâu là gác Đằng Vương?
Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ một đường
Một đường xa khuất rộn lòng thương

Ngày chậm rì
Đêm chậm rì
Sáng tối chạnh buồn lữ khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai kì.

Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió giục hoài cất bút thi (thơ)
Viết thi gửi tới khách “tình si”

Chàng có tâm
Thiếp có tâm
Mồng hồn lưu luyến bóng hoa râm
Thơ cùng ngâm
Rượu cùng trăng
Tự lúc buồn chia biệt
Ai người ấm nửa chăng?
Chớ đàn li khúc oán tri âm,
Đành xem như hết tiếng dao cầm
Hẹn nhau nơi non nước muộn mằn!
Chớ buồn mà than thở cổ câm (kim).

Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói mà chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Cũng là thiên lí cả
Ai là kẻ tình nhi
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng son ai nỡ phụ giai kì.

(Bản dịch của Đào Thái Tôn)

Tham khảo: Bản sao từ bản chép tay của Nguyễn Văn Hoàn, do Nguyễn Xuân Diện cung cấp Bài thơ Vịnh Hà Long của Hồ Xuân Hương là một tuyệt phẩm. Di sản văn hóa thế giới Hạ Long cho đến nay có lẽ chưa có tác phẩm văn chương nào viết về vịnh Hạ Long của Việt Nam và thế giới ngời sáng hơn bài thơ này:

VỊNH HẠ LONG

Hồ Xuân Hương

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duyềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?(Bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn)








Độ Hoa Phong

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thủy trung.
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thủy môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy Tinh cung.

Dịch nghĩa

Lá buồm không vội vượt qua vũng Hoa Phong,
Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chỏi dựng lên.
Thế nước tuỳ chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.
Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.
Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.
Âu cò cùng ban trong ánh đỏ mặt trời chiều.
Cõi Tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây,
Đây không biết chốn nào là cung Thủy Tinh.

Bài thơ Miếu Sầm Thái Thú  ở bản khắc 1922 chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau cũng là một câu chuyện sử thi thú vị.

MIẾU SẦM THÁI THÚ

Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

(Bản khắc 1922) chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau.

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là nghệ thuật thơ Hán Nôm đặc biệt điêu luyện, sánh ngang những kiệt tác thơ Trung Hoa thời Thịnh Đường. Thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương hàm súc sâu sắc hiếm thấy, trong thơ có nhạc, chuyển tải sử thi văn hóa giáo dục tài tình và khiêm nhu hiền lành rất mực.

Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ Hán Nôm, ba bài tuyển chọn yêu thích nhất, đọc lại và suy ngẫm.

Xem tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Bài liên quan
Con đường di sản Lewis và Clark
Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng
Praha Goethe và lâu đài cổ
500 năm nông nghiệp Brazil
Ngày xuân đọc Trạng Trình

Nguyễn Du 250 năm nhìn lại
Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích
Trúc Lâm thăm thẳm một góc nhìn
Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Thơ dâng theo dấu Tagore

THƠ DÂNG THEO DẤU TAGORE
Hoàng Kim​

cảm nhận chùm bài viết “Viện Lúa rạng danh Tổ Quốc“, họa thơ lương y Phan Đào Toàn và nhà văn Phan Chi Thắng. Ảnh Lúa siêu xanh Green Super Rice GSR ở Trung tâm Giống Long Phú Sóc Trăng

Ở đâu bàng hoàng Phố Thị
Ngẫn ngơ suốt cả buổi chiều
Đêm nhảy xe đò về ruộng
Mưa dầm bóng Mẹ liêu xiêu.

Con lên giảng đường học chữ
Lời nào Thầy dạy đầu tiên
Biết ơn nhọc nhằn Cha Mẹ
Lấm lem con chữ ưu phiền

Phố Thị ngày càng đông đúc
Đồng Xuân xa lại càng thưa
Vui với việc hiền ở phố
Bâng khuâng thương nhớ chiêm mùa…

Nhớ ai vừng đông vừa rạng
Ước dòng tin nhắn đầu tiên
Hương đất thơm mùa ruộng cấy
Phương xa vời vợi bạn hiền.

Ở đâu lung linh Kiếp Bạc
Sao Khuê mờ tỏ Côn Sơn
Ở đâu một trời thương nhớ
Cho ta khoảng lặng tâm hồn.

PHỐ THỊ
Phan Đào Toàn

Phố thị người xe mắc cửi
Vỉa hè sóng sánh bia hơi
Chân trần miên man diệu vợi
Chói đèn cao áp – Trăng ơi…

Biết không mãi nhờ được bạn
Toàn dân buôn mận bán mơ
Hết đời trả chưa xong nợ
Nắng mưa gội trắng chiêm mùa…

Thương con chiều ra Phố thị
Đáy bồ, mầm chữ lơ thơ
Đem tuổi xanh ra tỉ thí
Vốn khởi đầu là: Ước mơ…

Ở ĐÂU?
Phan Chí Thắng

Ở đâu có một ngôi nhà bé
Cửa sổ đèn khuya bóng em ngồi
Giai điệu dân ca ngân nhè nhẹ
Tự tình dạ khúc gửi xa xôi

Ở đâu có một khuôn vườn lặng
Em nở dùm tôi những nụ hồng
Chim hót chào reo bình minh nắng
Sương mòn xao xuyến như mắt mong

Ở đâu có một trời thương nhớ
Em thấu dùm tôi nỗi cháy lòng

Ở đâu có một con thuyền nhỏ
Chở những vần thơ tôi sang sông

Phan Chí Thắng
trích dẫn trong tập
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Ở đâu bàng hoàng Phố Thị… Xem thêm — với Hoang Long tại Tt Long Phu,long Phu, Soc Trang. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tho-dang-theo-dau-tagore

Con đường di sản Lewis và Clark

Dikhapquenguoidehieudatquehuong1

CON ĐƯỜNG DI SẢN LEWIS VÀ CLARK
Hoàng Kim
Thầy tôi Norman Borlaug  có kể cho tôi nghe về câu chuyện Thomas Jefferson (1743 – 1826) là Nhà tư tưởng sáng lập nước Mỹ, với Lewis & Clark cuộc thám hiểm miền Tây nước Mỹ. Đó là một ví dụ điển hình về tầm nhìn và dự án khoa học thành công. Con đường di sản Lewis và Clark lắng đọng trong tôi suốt ba mươi năm. Chuyện bây giờ mới kể …

Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark đã được khởi sự vào ngày 14 tháng 5 năm 1804 và kết thúc cuối năm 1806. Đây là cuộc thám hiểm trên bộ đầu tiên của người Mỹ đến những tiểu bang duyên hải cận tây nhất của nước Mỹ và ngược lại. Miền Tây nước Mỹ là vùng đất nhiều thổ dân da đỏ sinh sống khoảng 10 ngàn năm trước đó, và thuở ấy miền Tây nước Mỹ có sự hiện diện của những cư dân mới là người thám hiểm và định cư thuộc các nước Tây Ban Nha, Anh, México, Nga và Mỹ. Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson đã kiến nghị Quốc hội Mỹ phê chuẩn đầu tư cho chuyến khảo sát đường bộ của cuộc thám hiểm của Lewis và Clark cùng cộng sự. Trong một lá thư đề ngày 20 tháng 6 năm 1803, Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson đã viết cho Lewis. “Mục tiêu sứ mạng của anh là thám hiểm Sông Missouri và dòng suối chính của nó qua dòng chảy và sự liên thông của nó với các bộ phận nước khác của Thái Bình Dương để xem Sông Columbia, Xứ Oregon, Colorado hay bất cứ con sông nào có thể cung cấp một sự liên thông mặt nước thực tiễn và trực tiếp nhất ngang qua lục địa này để giúp cho những mục đích thương mại“.

Thầy tôi trong buổi trò chuyện của mình đã khoanh vào các chỉ dấu Thomas Jefferson Lewis & Clark thành những điểm chính nhấn mạnh cho các lời diễn đạt của mình


Trong chuyến khảo sát CIANO, OREGON của Miền Tây Mexico và nước Mỹ năm 1989 sau 186 năm từ chuyến thám hiểm miền Tây nước Mỹ của Lewis & Clark và cộng sự, tôi nhớ đinh ninh lời Thầy dặn, thật ấn tượng và thấm thía khi viết bài thơ cảm khái:

ĐI KHẮP QUÊ NGƯỜI ĐỂ HIỂU ĐẤT QUÊ HƯƠNG Tạm biệt Oregon !
Tạm biệt Obregon California !
Cánh bay đưa ta về CIMMYTBầu trời xanh bát ngát
Lững lờ mây trắng bay
Những ngọn núi cao nhấp nhô
Những dòng sông dài uốn khúc
Hồ lớn Ciudad Obregonba tỷ khối nước

Nở xòe như chùm pháo bông
Những cánh đồng mênh mông
Thành trăm hình thù dưới làn mây bạc
Con đường dài đưa ta đi
Suốt dọc từ Nam chí Bắc
Thành sợi chỉ màu chạy mút tầm xa…

Ơi vòm trời xanh bao la
Gọi lòng ta nhớ về Tổ Quốc
Ôi Việt Nam, Việt Nam
Một vùng nhớ trong lòng ta tỉnh thức
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương.

Hoàng Kim

Sáu tháng ở CIMMYT với tôi là một câu chuyện ám ảnh. Tôi như cậu bé chăn cừu mà Paulo Coelho kể trong kiệt tác của tâm hồn Nhà Giả Kim (O Alquimista) mà tôi đã viết ở Ngọc lục bảo Paulo Coelho, cũng giống như cô bé Quách Tương tại tiểu thuyết ‘Thần điêu đại hiệp’ của Kim Dung đi vào thế giới bí ẩn của riêng mình với khát khao tìm kiếm

Thầy Norman Borlaug là nhà khoa học xanh sống nhân đạo, và nêu gương tốt. Thầy là nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống.Câu chuyện về Người tôi đã kể vắn tắt tại Norman Borlaug di sản, niềm tin và nổ lực


Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy.

Người Thầy của tôi đã chọn chỉ cho tôi chỉ dấu Thomas Jefferson đã viết tự truyện của riêng mình để nói ít nhất trong lịch sử nước Mỹ nhưng để lại di sản lớn bằng cách chọn nhấn mạnh các mục từ khi bắt đầu và kết thúc sự nghiệp công cộng lâu dài của mình.

Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”.


Tôi nghĩ ngợi nhiều về miền Tây của Mexico và nước Mỹ xưa và nay. Ở đó cũng có những cây xương rồng và những vùng đất cằn cỗi.


Miền Tây của Mexico, CIANO và vùng OREGON của Miền Tây nước Mỹ cũng đồi núi trập trùng hệt Việt Nam và biên độ nóng bức và giá lạnh thật lớn, dân cư thưa thớt với nhiều người dân bản địa.

Chúng tôi đến CIANO và đi dọc miền Tây mà không đi ngang nước Mỹ như Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark. CIANO là địa chỉ xanh tuyệt vời để tôi hiểu thế nào là một trạm trại nông nghiệp thực sự.


Khu văn phòng của trại thực nghiệm CIANO không lớn nhưng thực sự tiện nghi và hiệu quả và đồng ruộng nghiên cứu thí nghiệm thì được đầu tư và quản lý thật tuyệt vời.

Cánh đồng lúa mì thí nghiệm thực nghiệm tại CIANO thực sự cuốn hút. Đoàn chúng tôi ngày đi tham quan học tập. Buổi chiều sau khi ăn tối tôi lại mê mãi ghi chép,đọc và viết. Bài học mà thầy Norman Borlaug chỉ dấu với tôi về Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark thật thú vị.

Chuyến khảo sát của Lewis và Clark trong hai năm rưỡi đã đạt được thành tựu:

  • Hoa Kỳ hiểu biết rộng thêm về địa lý của phía miền tây nước Mỹ trong hình thức các bản đồ về các con sông và dãy núi chính.
  • Quan sát và mô tả 178 loài thực vật và 122 loài động vật (qua Danh sách của loài thực động vật được mô tả qua chuyến thám hiểm Lewis và Clark)
  • Khuyến khích giao thương da thú Âu-Mỹ tại miền Tây
  • Mở rộng quan hệ ngoại giao Âu-Mỹ với người bản thổ Mỹ
  • Thiết lập một tiền lệ cho việc thám hiểm miền Tây của Quân đội Hoa Kỳ
  • Củng cố tuyên bố chủ quyền của Hoa Kỳ đối với Lãnh thổ Oregon
  • Tập trung sự chú ý của truyền thông và của Hoa Kỳ vào miền Tây
  • Nhật ký của Lewis và Clark với các trang viết về họ đã hình thành một bộ văn chương lớn nói về miền Tây.

Lời Thầy dặnCon đường di sản Lewis và Clark, với tôi là bài học tuyệt vời.

Đập Grand Coulee trên sông Columbia

Sông Columbia là sông lớn nhất vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Bắc Mỹ dài trên 2.000 km và lưu vực nhận nước là 668.217 km² với 85% là trong lãnh thổ Hoa Kỳ, là con sông lớn thứ tư tại Hoa Kỳ. So sánh với sông Mekong có chiều dài 4350 km, lưu vực 795.000 km2 . Sông Columbia kéo dài từ tỉnh bang British Columbia của Canada qua tiểu bang Washington của Hoa Kỳ; tạo nên đôi bờ ranh giới phần lớn giữa tiểu bang Washington và Oregon trước khi đổ ra Thái Bình Dương. Hồ Columbia nằm ở cao độ 808 mét hình thành thượng nguồn của sông Columbia trong dãy núi Rocky phía nam tỉnh British Columbia Canada. Sông Columbia từ độ cao rất lớn này đổ xuống đoạn sông ngắn nên việc sản xuất thủy điện là lớn nhất Bắc Mỹ với 11 đập thủy điện tại Mỹ và 3 đập tại Canada. Tại Hoa Kỳ thủy điện chỉ chiếm 6,5% năng lượng nhưng sông Columbia và các sông nhánh của nó đã cung cấp khoảng 60% năng lượng thủy điện của duyên hải miền tây. Đập Grand Coulee trên sông Columbia ở tiểu bang Washington của Hoa Kỳ được xây dựng từ năm 1933 đến năm 1942, ban đầu với hai nhà máy điện đến năm 1974 thì tăng thêm nhà máy thủy điện thứ ba Đây là cơ sở sản xuất thủy điện lớn nhất Hoa Kỳ [4] và kết cấu bê tông lớn nhất thế giới [46][47] ngang hàng cùng với đập Tam Hiệp sông Trường Giang Trung Quốc. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-khap-que-nguoi-de-hieu-dat-que-huong/?fbclid=IwAR0BBW_5bL2qmapHTulWAkmCRP5vhE0RQTxSCQYT-76CpdhoKcnZH4DHkyU

Sông Mississippi

Sông Mississippi (hình) ở Đông nước Mỹ và sông Columbia ở Tây nước Mỹ là hai biểu trưng của nước Mỹ, có nhiều đặc điểm rất khác nhau. Khoa học nông nghiệp cần phải hiểu rõ những đặc trưng đó để có hoạt động nông nghiệp thích ứng phù hợp”. Thầy tôi Norman Borlaug đã căn dặn chúng tôi như vậy. Thầy luôn nhấn mạnh điều này khi giới thiệu những nét lớn về đất nước mình, và điều đó làm tôi ghi nhớ sâu hơn. Hệ thống sông Mississippi-Missouri-Jefferson có chiều dài khoảng 6.275 km, tạo nên hệ thống sông dài thứ 4 trên thế giới sau sông Nin (6.650 km), sông Amazon (6.400 -6.992km), sông Trường Giang (6.300km) .Sông Mississippi có lưu vực rộng hơn 3,22 triệu km2, phủ gần 40% đất liền của Hoa Kỳ lục địa, bao gồm của 32 bang Hoa Kỳ và 2 tỉnh của Canada. Lưu vực sông này đổ vào vịnh Mexico, một phần của Đại Tây Dương. Sông Mississippi là một trong những dòng sông đẹp nhất nước Mỹ và nó cũng là một điểm đến du lịch. Sông Missouri trước khi đổ vào kết nối sông Mississippi tại St. Louis, Missouri là con sông dài nhất ở Bắc Mỹ với chiều dài 3.767 km chảy qua mười bang của Hoa Kỳ và hai tỉnh của Canada. “Châu Mỹ chuyện không quên” có một trong những biểu tượng đẹp nhất, ấn tượng nhất trong lòng tôi là Sông Mississippi;

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-khap-que-nguoi-de-hieu-dat-que-huong/?fbclid=IwAR0BBW_5bL2qmapHTulWAkmCRP5vhE0RQTxSCQYT-76CpdhoKcnZH4DHkyU — tại Sông Mississippi.

(*) Ghi thêm: Hoàng Tường vừa từ Oragon về. Anh chụp khá nhiều ảnh. Tôi ấn tượng nhất trong số ấy là chùm ảnh ‘thảm cỏ và hoa bụi chịu hạn’ rất đặc trưng cho “Châu Mỹ chuyện không quên”. Tôi sẽ nối dài câu chuyện này qua chùm ảnh “Vườn nhà Hernan Ceballos ở Colombia”.

Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/di-khap-que-nguoi-de-hieu-dat-que-huong/?fbclid=IwAR0BBW_5bL2qmapHTulWAkmCRP5vhE0RQTxSCQYT-76CpdhoKcnZH4DHkyU

Châu Mỹ chuyện không quên
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chau-my-chuyen-khong-quen/

Bài liên quan
Con đường di sản Lewis và Clark
Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng
Praha Goethe và lâu đài cổ
500 năm nông nghiệp Brazil
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nguyễn Du 250 năm nhìn lại

Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích
Trúc Lâm thăm thẳm tầm nhìn
Video yêu thích

KimYouTube

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Anh đi về tâm bão

ANH ĐI VỀ TÂM BÃO
Hoàng Kim

Anh đi về phía vùng tâm bão
Chân bước thung dung chẳng ngại ngần
Biển thẳm sóng im như giấy phẳng
Trời quang gió vắng chỉ còn trăng.

Dưới đáy đại dương kia là ngọc
Sóng bắt đầu từ gió sóng ơi
Ấm lạnh cuộn hai đầu thăm thẳm
Trãi bão dông mới hiểu cuộc đời

Gửi chút niềm riêng chưa ngõ hết
Mà thôi đón bão nói chi nhiều
An nhiên kiên định đi vào trận
Bão không quật ngã bởi trời theo …

Hoàng Kim 12 tháng 5, 2013 lúc 22:30
Anh đi về tâm bão

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT TRỜI SẮP CÓ BÃO?
Cách dự báo thời tiết của dân gian

Chớp xa xuất hiện liên tục, đều đặn, gây nhiễu âm, cản trở hoạt động của máy thu thanh. Hướng có chớp sáng nhất là hướng đang có bão hoạt động. Đối với vùng ven biển nước ta, trước khi bão tới thường xuất hiện chớp ở hướng Đông – Nam. Kinh nghiệm này đã được đúc kết thành ca dao nói trên.

Một kinh nghiệm khác của những người đi biển, hoặc trong cả thành phố: Bầu trời quang đãng, không khí oi bức, ngột ngạt, lặng gió kéo dài vài ba ngày, sau đó xuất hiện mây ti tích (một loại mây tầng cao ở độ cao khoảng 7km trở lên, gồm các đám, màn hoặc lớp mây mỏng không có bóng, cấu thành từ những phần tử rất nhỏ có hình dạng trông như những hạt hay nếp nhăn) hội tụ về một hướng chân trời. Đây là dấu hiệu cho thấy bão hoặc mưa lớn có thể đang di chuyển từ hướng đó tới.

Giải thích về mặt khoa học, mưa lớn thường xảy ra khi xuất hiện 2 điều kiện. Một là nhiệt độ mặt đất cao, hai là không khí phải có độ ẩm cao. Không khí đã nóng lại ẩm, khiến cho nước ở bề mặt trái đất không thể bốc hơi được. Mồ hôi trên cơ thể người cũng khó khô đi. Khi ấy ta cảm thấy oi bức ngột ngạt khó chịu. Tuy nhiên, không phải lúc nào ta thấy oi bức là chuẩn bị có mưa bão đâu nhé.

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” 

Đây là kinh nghiệm đúc kết của ông cha ta dựa vào quan sát từ năm này qua năm khác. Nhưng sau này chúng lại được giải thích hết sức khoa học. Về mặt vật lý, cánh chuồn chuồn được cấu tạo rất mỏng, còn khi trời sắp mưa độ ẩm trong không khí là rất cao. Chính vì vậy, hơi nước ngưng tụ thành những hạt li ti, đậu trên cánh của chuồn chuồn khiến chúng không thể bay cao được. Ngoài ra, tập tính sinh sản của chuồn chuồn cũng có thể dùng để giải thích hiện tượng này. Chuồn chuồn thường đẻ trứng vào mùa mưa và đẻ trên mặt nước. Chính vì vậy, ta thường thấy chúng lượn lờ trên mặt nước mỗi khi mưa sắp đến.

Quan sát chuồn chuồn cũng là cách rất tốt để biết trời có sắp mưa hay không Khi thấy dấu hiệu của mưa bão sắp đến, các teen cũng đừng lo vì dựa vào một vài đặc điểm, chúng ta cũng có thể biết được liệu khoảng bao giờ thì mưa bão đến.

“Cơn đằng Đông vừa trông vừa chạy, 
Cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi”.

Do Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới đồng thời nằm ở rìa phía Đông Nam của phần châu Á lục địa, giáp với biển Đông nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở các vùng vĩ độ thấp. Gió mậu dịch thường xuất hiện vào mùa hè (mùa mưa bão), thổi về hướng Đông ở tầng có độ cao trên 2 cây số phía trên xích đạo. Tuy nhiên, mây dông thường ở trên cao hơn nữa và đó là khu vực hoạt động của gió mậu dịch ngược, tức là thổi về hướng Tây (đây là hệ quả của sự tuân thủ theo định luật bảo toàn động lượng trong chuyển động quay). Chính vì vậy, khi xuất hiện mây đen từ phía Đông (mây sẽ bị thổi đến chỗ mình đứng) nên đương nhiên phải chạy thôi nếu không muốn ướt hết người.   

Ráng vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa. 
Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa. 
Ráng mỡ gà, ai có nhà thì chống.”   “Ráng” là đám mây phản chiếu ánh mặt trời về buổi sáng hay buổi chiều. Thông thường, trước khi bão, bầu trời quang đãng, trong xanh và nắng nóng, oi bức ngột ngạt, sau đó có xuất hiện mây “ti” (thường xuất hiện khi tâm bão còn cách xa 1.000km). Mây ti ở rìa bão thường xuất hiện từng chùm, sợi trắng như lông tơ hoặc như đuôi ngựa, hình chữ V, hoặc như một dải lụa mỏng, thường có mầu vàng mỡ gà.

Ngoài ra còn rất nhiều kinh nghiệm, hãy thử kiểm chứng trong mùa mưa bão này nhé.

“Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”
“Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang,
Mây kéo lên ngàn thì mưa như trút”
“Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão giật”
“Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”
“Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão”
“Én bay thấp mưa ngập cầu ao,
Én bay cao mưa rào lại tạnh”
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
“Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước”…

NHIỀU NGƯỜI ÔM GIẤC MƠ
Lê Cát Trọng Lý

Nhiều người ôm giấc mơ giàu sang
Vài người ôm giấc mơ bình yên
Em cần an trú.
Em cần yêu thương.

Thời thì ai cũng xem mình hay
Và thì em cũng xem mình hơn
Khi lòng tan nát, trăm lời vô nghĩa
Ừ xem chúng ta hơn thua được chi.

Chờ mùa xuân đến tô màu môi
Chờ tình yêu giống như còn thơ
Em lòng khao khát nơi về nương náu.

Chờ bàn tay đến đưa mình đi
Chờ bàn chân biết đi về đâu
Em chờ cây chin, em ngồi em hát
Lời ca biết vui như khi được yêu.

Xin miếng cơm luôn đong đầy
Tình yêu cũng dâng
Xin áo may đem cho người khắp nơi.
Xin tiếng ca đây không ngừng
Bụi sương cũng vui
Xin sống vô tư cho ngày tiếp theo.

NHIỀU NGƯỜI ÔM GIẤC MƠ

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Bài liên quan
Con đường di sản Lewis và Clark
Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng
Praha Goethe và lâu đài cổ
500 năm nông nghiệp Brazil
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nguyễn Du 250 năm nhìn lại

Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích
Trúc Lâm thăm thẳm một góc nhìn
Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Cầu trời nối mẹ cha xưa

NhoMeCha

CẦU TRỜI NỐI MẸ CHA XƯA
Hoàng Kim

Cầu trời nối mẹ cha xưa
Mưa dày thấm đất, nắng thưa thấu trời
Lời thương giao cảm lòng người
Ngày của Mẹ suốt trọn đời trong con.

Thang nam nho lai va suy ngam 7

NHỚ MẠ
Hoàng Ngọc Dộ

“Đã chẵn tháng rồi, ôi Mạ ôi!
Tuần trăng tròn khuyết đã hết rồi
Mà con không thấy đâu bóng Mạ
Thấy trăng vắng Mạ dạ bùi ngùi.

Năm mươi ngày chẵn thấm thoắt trôi
Mạ về cỏi hạc để con côi
Vầng trăng tròn trặn vừa hai lượt
Vắng Mạ, lòng con luống ngậm ngùi. (2)

Con đọc sách khuya không nghe tiếng Mạ
Nỗi tâm tư con nghĩ miên man
Lúc Mạ còn, con bận việc riêng con
Không đọc được để Mạ nghe cho thỏa dạ.

Nay con đọc, vắng nghe tiếng Mạ
Nỗi bùi ngùi lòng dạ con đau
Sách mua về đọc Mạ chẵng nghe đâu
Xót ruôt trẻ lòng sầu như cắt.

Mạ ơi Mạ, xin Mạ hãy nghe lời con đọc.

Buồn khi rảo bước đồng quê
Buồn khi chợp mắt Mạ về đâu đâu
Buồn khi vắng Mạ dạ sầu
Buồn khi mưa nắng giải dầu thân Cha
Buồn khi sớm tối vào ra
Ngó không thấy Mạ, xót xa lòng buồn.

viengmochame

LỜI NGUYỀN

Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân
.

VIẾNG MỘ CHA MẸ
Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát  đời con từ  bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là binh nghiệp cha một thuở đau đời.

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ 
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chải bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi hồi tưởng
Thuở thiếu thời trong lồng cánh mẹ cha

Ước hẹn anh em một “Lời nguyền”
Thù nhà  đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”

KHẮC SÂU LỜI NGUYỀN XƯA

Con năm năm mỗi ngày cơm một bữa
Thương về Cha ngực nát bởi bom thù
Tấm áo máu suốt đời con nhớ mãi
‘Lời Nguyền’ này khắc khoải giữa lòng con.

Con nhớ mãi Mẹ xưa khi sắp mất,
Cha nước mắt lưng tròng thương các con thơ
Mẹ quằn quại không thể nào nhắm mắt.
Cha vuốt mắt Người tiếng nấc quặn trong mơ.

Mồ của Mẹ hoa tươi nhiều năm tháng
Cha quấn quýt Người đến lúc giặc giết Cha
Dòng sông quê hương Rào Nan, Chợ Mới …
Mẹ Cha theo con thao thiết suốt đời.

Con nhớ cánh tay chị Năm thay mẹ
Thương nhớ anh Hai nâng giấc cho con.
Tình yêu thương như dòng sông chảy mãi.
Thầy bạn lộc xuân của cuộc đời con ! 

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi| Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên; Hoàng Long; Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter

Mưa tháng Năm nhớ bạn

MƯA THÁNG NẮM NHỚ BẠN
Hoàng Kim


Nắng say trời ngày hạ
Mưa chuyển mùa tháng năm
Bạn thăm thương ngày cũ
Người xa nhớ chuyện gần.

Bạn tắm mát đời tôi
Bằng những điều giản dị
Có một ngày như thế
Thầy bạn là lộc xuân.

Mưa vào mùa tháng năm
Nắng dịu trời ngày hạ
Thung dung đón an hòa
Lộc muộn nhớ người xa …

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mua-thang-nam-nho-ban/

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mua-thang-nam-nho-ban/

Chaongaymoi

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về đầu trang
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter

Đá hát

ĐÁ HÁT
Hoàng Kim

Về nơi cát đá Ô Lâu
Ngọc trong đá thức nhuốm màu thời gian
Anh mừng thắng tích phương Nam
Em vui đá hát phong quang gió trời
Thanh nhàn bước tới thảnh thơi
Thiên nhiên kỳ thú là nơi tìm về
Non xanh nước biếc thỏa thuê
Ngọc Quan Âm lắng say mê đường trần.

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ve-noi-cat-da/

Chúc mừng Loan Thanh ngày hạnh phúc. Có ngôi sao may mắn chân trời. Dòng họ Cao Xuân dày phước đức Đá hát ngày lành nhớ chảng nguôi

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ve-noi-cat-da/

Chaongaymoi

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về đầu trang
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter

Gạo Việt và thương hiệu

GẠO VIỆT VÀ THƯƠNG HIỆU
Hoàng Kim

PGS,TS Dương Văn Chín (Chin Duong) thông tin ngày 1 tháng 4 năm 2019: [BDNG-010419] Giống lúa cao sản ngắn ngày đặc sản Lộc trời 28 ở giai đoạn chín , thu hoạch tại DTARC .Còn nhớ, chất lượng gạo , chất lượng cơm của giống Lộc trời 28 đã đạt được giải nhất, vượt qua mặt giống lúa mùa địa phương nổi tiếng Hom Mali của Thái Lan và giống Sen Krop của Cambodia trong cuộc đấu xảo liên lục địa tổ chức vào cuối tháng 11/2018 tại Trung Quốc. ( Hình chụp ngày 19/3/2019 tại DTARC ) , Ở một thông tin khác ngày 27 tháng 3 năm 2019 [BDNG-270319] là phóng sự kinh tế : ” Chuỗi liên kết sản xuất lúa gạo” do Đài Truyền hình Vĩnh long 2 phát sóng .
https://www.facebook.com/duongvanchin2017/videos/341985263107754/

Kết nối thông tin trước đó:
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/gao-viet-chat-luong-va-thuong-hieu/

Sáng 21 tháng 4 năm 2018 tại thành phố Tuy Hòa, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Yên phối hợp với Trung tâm Giống và Kỹ thuật Cây trồng Phú Yên và các đơn vị tổ chức Hội nghị giới thiệu các giống lúa mới GSR65, GSR90, … mở rộng trong sản xuất .

Sáng 20 tháng 4 năm 2018, báo Kinh tế Nông thôn, tác giả Hải Yến đưa tin “Quảng Ngãi: Cánh đồng lúa lớn cho thu nhập trên 43 triệu đồng/ha“. Giống lúa TBR225 “nổi trội” trên đất Quảng Ngãi. Cánh đồng mẫu lớn, với qui mô 25ha, sử dụng giống lúa TBR225, năng suất bình quân đạt 75 tạ/ha, cao hơn giống đại trà 9 tạ/ha. Hiệu quả kinh tế trong mô hình cao hơn so với ruộng đại trà khoảng 8-10 triệu đồng/ha.

Sáng ngày 20 tháng 4 năm 2018, Viện Lúa Đồng bằng Sông Cửu Long ký kết hợp đồng Chuyển giao quyền sử dụng độc quyền đối với giống lúa thuần OM 429 và giống lúa nếp thuần OM 368 cho Công ty Cổ phần Giống cây trồng Nha Hố.
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu đang ngày được các cấp chính quyền, doanh nghiệp và địa phương chú trọng trong thời gian gần đây.

(đọc tiếp…. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/gao-viet-chat-luong-va-thuong-hieu/)

Ngày 19 tháng 4 năm 2018 tại Dak Lak, Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn đã tổ chức hội nghị Sơ kết sản xuất trồng trọt Đông Xuân 2017/ 2018 kế hoạch sản xuất vụ Hè Thu, vụ Mùa năm 2018 tại Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Vụ Đông Xuân 2017/ 2018 được đánh giá là vụ được mùa lớn về diện tích, năng suất, sản lượng. Đây là một vụ sản xuất được mùa được giá. Giống chất lượng vẫn là vấn đề còn hạn chế, lượng giống lúa sử dụng trên đơn vị diện tích còn nhiều, có nơi lên đến 150 kg/ha. Cơ cấu giống một số nơi chậm đổi mới. Kết quả sản xuất sẽ tốt hơn nếu công tác giống tốt hơn theo tin nhanh của anh Trần Mạnh Báo.

Sáng 20 tháng 4 năm 2018 tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với tỉnh Lâm Đồng và các tổ chức Quốc tế tổ chức Hội thảo “Đối thoại chính sách cải thiện năng suất lao động nông nghiệp và vai trò của khu vực tư nhân”. Các ý kiến nêu ra tại hội thảo đều hướng vào các chính sách tháo gỡ phát triển doanh nghiệp, đầu tư nông nghiệp, giống cây trồng, khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực, cơ sở hạ tầng.

ThaiBinh Seed thắng lớn

Hoàng Kim gửi anh Trần Mạnh Báo

Những trận đánh liên tục
Cánh én gọi mùa xuân
Đánh thức tiềm năng đất
Thắp lên niềm tin yêu.

Hội hè già trước tuổi
Lao động trẻ trung hoài
Say mê làm việc tốt
Dạy và học đi đôi

Doanh nghiệp và nông dân
Đầu ra cho nông sản
ThaiBinh Seed thắng lớn
Chúc mừng bạn thành công.

FB của anh Trần Mạnh Báo đưa tin nhanh về ‘Liên kết Doanh Nghiệp và HTX trong sản xuất nông nghiệp tìm đầu ra cho nông sản!”

Sáng nay 21 tháng 4 năm 2018, Sở Nông nghiệp&PTNT Quảng Ngãi tổ chức hội nghị đầu bở cánh đồng Mẫu tại xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa. Cánh đồng cấy một giống TBR225 của ThaiBinh Seed. Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp huyện Tư Nghĩa, đây là cánh đồng vừa thực hiện dồn điền đổi thửa theo chủ trương của tỉnh. Sau khi dồn điền đổi thửa địa phương chủ trương xây dựng cánh đồng mẫu để nhân rộng ra toàn huyện. Thực tế gieo cấy mấy vụ trước ở quy mô nhỏ, Hợp tác xã Nghĩa Phương thấy giống lúa TBR225 phù hợp với đồng đất của địa vừa cho năng suất cao vừa có hiệu quả cao. Vì vậy vụ Đông Xuân 2017-2018 đã quyết định đưa TBR225 vào cánh đồng mẫu rộng 25 ha.

Sau khi thăm thực tế trên đồng ruộng và nghe báo cáo của phòng nông nghiệp huyện các đại biểu đánh giá cao Giống lúa TBR225 trên đất Quảng Ngãi. Năng suất TBR225 tại mô hình này đạt 7,5-8,0 tấn/ha, cao nhất từ trước tới nay. Chất lượng gạo ngon và có mùi thơm nhẹ, rất phù hợp với thị hiếu tiêu dùng ở đây.

Phát biểu tại hội nghị các đại biểu đề nghị ThaiBinh Seed giúp đỡ phát triển giống TBR225 và các giống mới của Công ty tại địa phương trong thời gian tới. Ông Trần Ngọc Thương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ngãi chỉ đạo vụ Đông Xuân 2018-2019 phát triển TBR225 trong sản xuất của tỉnh và đề nghị ThaiBinh Seed hợp tác với địa phương xây dựng mô hình liên kết và giúp bao tiêu sản phẩm để tăng thu nhập cho Nông dân. Lãnh đạo ThaiBinh Seed đã đồng ý hợp tác phát triển các giống của mình tại Quãng Ngãi để tri ân địa phương, và sẽ bắt đầu triển khai từ vụ Hè Thu 2018.”

Thầy Hoan vào làm lúa Tây Nguyên

Hoàng Kim chép một chùm hình ảnh Lớp học trên đồng ở Tây Nguyên (Gia Lai 2013), Lúa lai ở Việt Nam, Việt Lai 24 (2007 ở Hà Nội), TBR225, Hương Cốm, GSR90 ở Gia Lai, Lúa lai và lúa siêu xanh ở Tây Nguyên. Những bức ảnh nhằm trao đổi thông tin.

Lớp học trên đồng ở Tây Nguyên (Gia Lai 2013). bạn có thể thấy TBR225, Hương Cốm, GSR90 ở Gia Lai,… chúng tôi đã đánh giá và tuyển chọn những giống lúa này tại nơi đây từ 5 năm qua.

Lúa lai, lúa thuần và lúa siêu xanh đang gặp gỡ tuyệt vời tại Tây Nguyên và miền Trung và bài học thực tiễn là những kinh nghiệm quý lắng đọng. Lúa lai, lúa thuần và lúa siêu xanh là các hướng nghiên cứu giống và khác nhau. Đó là một câu chuyện dài. Lúa lai ở Việt Nam có công trình nghiên cứu chuyên sâu của Nguyễn Công Tạn (chủ biên) Ngô Thế Dân, Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Trâm, Nguyễn Trí Hoàn, Quách Ngọc Ân, Nhà Xuất Bản Nông nghiệp 2002.

Thực tiễn Việt Nam lúa lai thành tựu mạnh mẽ là từ năm 2007 có công trình nổi bật của PGS.TS. Nguyễn Thị Trâm người thầy lúa lai với TH3-3 , TH3-4, TH3-5, TH5-1, TH7-2 và lúa thơm Hương cốm (ảnh Hương cốm 2 ở Tây Nguyên HK báo cho cô Trâm).

Công trình nổi bật của PGS.TS. Nguyễn Văn Hoan đặc sắc là Việt Lai 20 và Việt Lai 24.
Hội thảo Quốc tế về lúa lai Việt Nam tổ chức ở Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội. Năm 2007 Hoàng Kim là giảng viên chính cây lương thực tại Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh được thầy Hoan ưu ái mời dự Hội thảo Quốc tế Lúa lai ở Việt Nam với các chuyên gia Nhật và những đồng nghiệp Trung Quốc, Việt Nam tại Học Viên Nông Nghiệp Hà Nội (hồi ấy là Đại học Nông nghiệp 1). Tôi ấn tượng nhất là những công trình đột phá lúa lai của thầy Nguyễn Văn Hoan, cô Nguyễn Thị Trâm và anh Nguyễn Trí Hoàn. Trả lời câu hỏi “Nơi sản xuất lúa giống của lúa lai hai dòng nên chọn ở đâu để không sợ lạnh giá và lụt bão khi trỗ? “. DẠY VÀ HỌC thực tiễn sát thực tế đã cho chúng ta một điểm hẹn lý tưởng tuyệt vời mà chúng ta cùng gặp.


Anh Trần Mạnh Báo và 4 người khác vừa thăm thầy Hoan Nguyen nay đang tìm tòi kết quả mới ở Chưprông, Gia Lai (ảnh nguồn TMB). Chúng tôi mừng vì sự say mê đồng ruộng, yêu thích chọn giống lúa tốt của quý thầy bạn. Thật tâm đắc với sự lặng lẽ kiên nhẫn tìm nguồn gen, sự kết hợp và vùng sản xuất nhân giống lúa lai hai dòng trên cao nguyên đầy nắng và gió, không sợ lạnh giá và lụt bão. Chúc mừng thầy Hoan vào làm lúa ở Tây Nguyên và cây ăn quả quý. Chúc mừng bài viết xuất sắc của anh Trần Mạnh Báo chân tình, ngắn gọn, giàu thông tin.

DẠY VÀ HỌC thực tiễn sát thực tế đã cho chúng ta một điểm hẹn lý tưởng tuyệt vời mà chúng ta cùng gặp.

ThaiBinh Seed TBR225, TBR 288 là các giống lúa thật tốt, tuy vậy thời gian sinh trưởng cần sớm hơn khoảng một tuần và chất lượng gạo đang ngon vừa, cần phải rất ngon.

Lúa siêu xanh (Green Super Rice) là giải pháp tốt tiếp nối cho trước mắt và lâu dài của Gạo Việt để tích hợp được nhiều đặc tính quý về dạng hình cây lúa siêu xanh lý tưởng, với năng suất cao, chất lượng tốt, ngắn ngày, ít sâu bệnh, thích ứng biến đổi khí hậu ở Việt Nam và thích hợp với các vùng lúa hạn, mặn, thâm canh.

Chọn tạo giống lúa siêu xanh năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng biến đổi khí hậu và xây dựng quy trình thâm canh thích hợp cho từng vùng lúa chính đang là nổ lực của chúng ta.

Gạo Việt chất lượng và thương hiệu thao thức những khát vọng…

Bài viết của anh Trần Mạnh Báo về PGS.TS Nguyễn Văn Hoan với thông tin “Thầy Hoan vào làm lúa ở Tây Nguyên” thật lắng đọng và sâu sắc. Cám ơn thầy Hoan, anh Báo đã khơi dậy bài viết GẠO VIỆT CHẤT LƯỢNG VÀ THƯƠNG HIỆU.

(đọc tiếp…. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/gao-viet-chat-luong-va-thuong-hieu/)

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn

THẾ MỚI LÀ TÔI!

Trần Mạnh Báo
viết về PGS.TS. Nguyễn Văn Hoan

Ông là nhà khoa học, là người thầy yêu quý của nhiều thế hệ học sinh trường Đại học Nông nghiệp 1 (Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Năm nay Ông đã 69 tuổi, đã một lần bị tai biến và chân đi không còn thăng bằng nữa. Hiện nay Ông đang làm một việc mà nhiều người cho là không bình thường. Ông là PGS, TS Nguyễn Văn Hoan. Ông là tác giả của nhiều giống lúa, trong đó có giống lúa lai Việt Lai 20. Sau khi Ông nghỉ hưu và không làm việc tại Học viện Nông nghiệp nữa Ông vào Tây nguyên mua đất, dựng lều, làm ruộng để nghiên cứu giống cây trồng. Tôi và Ông có nhiều điều tâm đắc, cùng say mê với đồng ruộng và yêu cây lúa. Vì vậy chúng tôi đã hợp tác nghiên cứu. Kết quả còn chờ thời gian và sự may mắn. Nhưng những gì ông làm, những gì tôi chứng kiến trong nhiều năm qua đã thực sự thuyết phục tôi và thương yêu, quý trọng Ông hơn.

Để có thể cấy được lúa trên đất Tây Nguyên Ông phải đào sâu 40-50 cm, lót bạt chịu nước rồi đổ đất lên trồng lúa trong những nhà lưới tự thiết kế thi công. Để trồng cây ăn quả mà chịu được hạn mùa khô Ông phải đào hố sâu 40 cm, giữa hố khoan lỗ sâu 40-50 cm và cho vào đó một cái ống tre. Khi trồng cây chú ý cho cái rễ cái vào cái ống tre. Như vậy rễ cây sẽ ăn sâu vào đất hàng mét. Về mùa khô không phải tưới vẫn xanh tốt. Ruộng vườn của Ông được đắp bờ vùng, bờ thửa như ở đồng bằng Sông Hồng. Khi mùa mưa đến nước sẽ được giữ lại không trôi tuột xuống chân đồi. Người dân ở đây đến thấy lạ thì nói “Ông làm những việc không bình thường”. Ông liền trả lời “Thế mới là tôi, không phải là ông”. Còn tôi, tôi tin những gì Ông làm đều được nghiên cứu kĩ càng và dựa trên cơ sở khoa học.

Biết tôi đến thăm, Ông làm cơm với tất cả các món ăn được làm từ sản phẩm do Ông Bà tự sản xuất ra không thiếu những gì mà người Hà Nội cần cho một bữa cơm đãi khách.

Trong ngôi nhà nhỏ, vẫn có một bàn ăn và trên tường có một cái bảng viết đầy tiếng Anh. Thấy tôi đứng đọc bài viết trên bảng, Ông nói. Bà ấy đang học tiếng Anh đấy. “Bà ấy” là một ngươi phụ nữ đã nghỉ hưu theo Ông vào đây để cùng ông dệt cái giấc mơ mà Ông đang ngày đêm khát khao thực hiện. Đó là nghiên cứu tìm giống cho Tây Nguyên, đặc biệt là các giống chịu hạn. Để chờ hai con Ông học ở nước ngoài về kế nghiệp.

Chia tay Ông chúng tôi thật sự bùi ngùi, xúc động, cầu mong Ông Bà luôn mạnh khỏe, thành công trong công việc và hạnh phúc trong “một mái nhà tôn hai trái tim vàng”./.

Nguồn FB. Trần Mạnh Báo
Chưprông – Gia Lai 12:30 – 18/04/2018

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTubeTrở về trang chínhHoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on FacebookKim on Twitter



Chuyện cô Trâm lúa lai

CÔ NGUYỄN THỊ TRÂM NGƯỜI THẦY LÚA LAI
Hoàng Kim

Chúc mừng cô Tram Nguyen vui khỏe hạnh phúc. Cô Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai. Bội thu ở Diễn Châu; thực tiễn tốt hơn trăm ngàn lời nói.
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-nguyen-thi-tram-nguoi-thay-lua-lai/

CÔ NGUYỄN THỊ TRÂM NGƯỜI THẦY LÚA LAI
Hoàng Kim
Cô Trâm vẫn trên đường xa với những cống hiến không mệt mỏi cho hạt ngọc Việt cây lúa Việt Nam. Sinh ra và lớn lên ở thị xã Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, người con của mảnh đất này đã dùng sự kiên trì đáng khâm phục của mình để góp phần mang lại những thành công lớn trong giảng dạy đào tạo nguồn lực di truyền chọn giống và nghiên cứu khoa học chọn giống lúa lai Việt Nam. PGS. TS Nguyễn Thị Trâm là một trong những chuyên gia nông nghiệp Việt Nam hàng đầu về lĩnh vực này. Cô nguyên là giảng viên Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học Viện Nông nghiệp Việt Nam), nguyên Phó Viện trường Viện Sinh học Nông nghiệp, đã nghỉ hưu năm 2004 nhưng đến nay vẫn tỏa sáng.  Thông tin điểm trình diễn giống lúa lai hai dòng thơm TH6-6 tại Hòa Bình mới đây, lại thông tin mới ‘bội thu ở Diễn Châu’ là bí quyết thành công của cô: đó là đầu tư thời gian, và không bao giờ bỏ cuộc.

Cô Nguyễn Thị Trâm trên FB (Tram Nguyen) thông tin kết quả trình diễn mới đây nhất (28-5.2018) giống lúa thơm cốm TH6-6 thật kiệm lời nhưng đầy ắp thông tin: “Cảm ơn tất cả. Vì hạt lúa bao đêm thao thức, tôi đi theo trọn đời. Ôi những hạt lúa vàng. Muôn ngàn thế hệ”.

CÔ TRÂM NGƯỜI THẦY LÚA LAI

PGS.TS Nguyễn Thị Trâm là nhà giáo, nhà nông học chọn tạo giống lúa lai nổi tiếng của Việt Nam với thành tựu nổi bật là đã nghiên cứu tạo chọn và phát triển giống lúa lai hai dòng TH3-3 cùng với qui trình nhân hạt giống bố mẹ và qui trình sản xuất hạt lúa lai được công nhận năm 2005, được trình diễn trên 26 tỉnh và được nông dân chấp nhận. Sau TH3-3 là TH3-4, TH3-5, TH5-1, TH7-2 và lúa thơm Hương cốm. Những giống lúa mới này có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng rộng, tạo nên bước đột phá mới cho công nghệ sản xuất lúa lai ở Việt Nam. Sự kết nối sản xuất giống lúa lai từ Viện Trường tới các Công ty Giống Cây trồng Nông nghiệp địa phương đã mở ra những vùng sản xuất hạt giống lúa lai rộng lớn, từ miền núi phía Bắc đến đồng bằng, miền Trung và Tây Nguyên, tạo công việc làm và thu nhập tốt hơn cho hàng vạn lao động nông nghiệp. PGS.TS Nguyễn Thị Trâm đã nói những lời tâm huyết: “Nghề nông ở nước ta hiện nay vẫn đang chiếm tỷ lệ lớn và luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, rủi ro vì biến đổi khí hậu diễn ra nhanh và vô cùng khốc liệt… Để xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững ổn định cần có đội ngũ các nhà khoa học nông nghiêp yêu nghề, dám hy sinh suốt đời cho nghiên cứu khoa học …”.

Bài phát biểu của cô Nguyễn Thị Trâm tại Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ VIII đối với chúng tôi thật xúc động và ám ảnh:

BÀI PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI THI ĐUA YÊU NƯỚC LẦN THỨ VIII

PGS.TS. Nguyễn Thị Trâm, ĐHNN Hà Nội

“Kính thưa: Quí vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước,
Kính thưa Đoàn chủ tịch Đại hội và Quí vị Đại biểu Đại hội

Được sự đồng ý của Ban tổ chức tôi xin phép trình bầy trước Đại hội đôi điều về những chặng đường làm giảng dậy và nghiên cứu khoa học của tôi.

Gia đình tôi quê ở Hà Nam, vùng đồng chiêm nghèo nên cha mẹ “tha phương cầu thực” đến Thị xã Thái Nguyên kiếm sống. Khi 3 tuổi, cha tôi đi kháng chiến, tôi theo mẹ chạy giặc vào vùng núi Võ Nhai, hòa bình lập lại mới được đến trường, vào Đại học ở tuổi 20, được xếp học ngành Cây lương thực, khoa Trồng trọt, tôi nghĩ đây là ngành phù hợp với mình nên cố gắng học hành với mong ước góp phần làm cho người dân có bữa cơm no. Khi đó, dân ta còn đói lắm, cơm độn ngô khoai sắn mà vẫn đứt bữa thường xuyên, trong khi tỷ lệ dân làm nghề nông chiếm tới 90%. Tình yêu nghề nông của tôi bắt đầu từ những bài thực tập chọn giống, lai ngô, lai lúa, ghép cây… Ra trường, được làm việc tại Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm nên tôi có cơ hội thực hiện khát vọng của mình. Tập sự xong, làm nghiên cứu tại bộ môn “Chọn tạo giống lúa” dưới sự hướng dẫn của thầy Lương Định Của, nhà Di truyền – chọn giống nổi tiếng từ Nhật trở về, Thầy đã truyền đạt cho tôi kiến thức khoa học cơ bản, phương pháp thực hành xác thực giúp biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm phục vụ xã hội. Tấm gương làm nghiên cứu khoa học mẫu mực đầy sáng tạo của Thầy và các nhà khoa học Nông nghiệp thế hệ trước luôn thôi thúc tôi làm việc tận tụy vì nông dân.

Năm 1980, đi học nghiên cứu sinh tại Liên xô, tôi chọn đề tài nghiên cứu giống lúa để có cơ hội học lý thuyết cơ bản làm cơ sở cho chuyên môn sau này. Tốt nghiệp xong, tôi trở lại Trường Đại học Nông nghiệp làm giảng viên khi tuổi đã 40, tự rèn luyện ngay từ ngày đầu lên lớp, tích lũy kiến thức thông qua tài liệu trong, ngoài nước, cập nhật thông tin từ thực tế sản xuất, tìm phương pháp truyền đạt dễ tiếp thu để sinh viên hiểu bài. Sau giờ giảng, sinh viên tiếp thu được kiến thức, phương pháp mới, lôi cuốn họ say mê học bài đọc tài liệu, viết tiểu luận, nghiên cứu khoa học…Tôi luôn tìm những nội dung hay nhất mới nhất của môn học để truyền đạt, phân tích mở rộng giúp cho người học suy nghĩ tìm tòi cái mới. Trên lớp tôi dùng hình ảnh để diễn giải lý thuyết, dùng thí nghiệm cụ thể để minh họa và thực hành. Nhờ vậy, ngay từ năm đầu vào nghề giảng dậy tôi đã lôi cuốn nhiều học sinh tham gia nghiên cứu khoa học,và đã hướng dẫn họ rất tận tụy để họ có cơ hội sáng tạo từ khi còn rất trẻ.

Cuộc sống thời niên thiếu của tôi gắn liền với núi rừng, cây cối đã nuôi dưỡng trong tôi tình yêu thiên nhiên, ham muốn cải tạo sinh vật phục vụ con nguoi. Ngoài giờ giảng trên lớp, tôi đạp xe xuống nông thôn, giúp đội giống ở các HTX chọn lọc, bình tuyển giống, rút dòng, nhân hạt giống tốt cung cấp cho nông dân. Dẫn sinh viên xuống nông thôn làm đề tài, nêu câu hỏi, yêu cầu các em phân tích đánh giá, tìm giải pháp nâng cao năng suất.

Những năm 1990, tiến bộ kỹ thuật về lúa lai tràn vào nước ta, nhu cầu hạt giống lúa lai gia tăng ở mọi miền đất nước, hạt giống lai từ nước ngoài tràn vào thị trường ồ ạt tạo sức ép cho ngành giống cây trồng của Việt Nam. Năm 1993, được Bộ Nông nghiệp cho tham dự lớp huấn luyện kỹ thuật lúa lai tại Trung Quốc, quan sát thực tế tại Trung tâm, trao đổi trực tiếp với các nhà chọn giống giầu kinh nghiệm đã gợi mở trong tôi những ý tưởng mới vể chọn tạo giống lúa. Sau đợt học, tôi thu được nhiều kiến thức, tài liệu, phương pháp để bước vào hướng nghiên cứu mới: Tìm kiếm, xác định, chọn tạo cải tiến các vật liệu di truyền để tạo dòng bố mẹ và tạo giống lúa lai. Lúc này niềm đam mê chọn giống cuốn hút mọi thời gian và suy nghĩ của tôi. Tôi tự hỏi: Không có lẽ người Việt Nam lại không thể tạo được giống lúa lai cho chính mình ? Mặc dù chưa biết lấy phương tiện và kinh phí nghiên cứu từ đâu nhưng tôi nghĩ phải bắt đầu ngay. Tôi gieo trồng vật liệu, tổ chức sinh viên lai tạo, đánh giá, chọn lọc… Một số việc tỉ mỉ mất thời gian như tuốt dòng, phơi cá thể, sắp xếp, đo đếm bông hạt…tôi phải nhờ chính mẹ mình làm. Mẹ tôi rất tậm tâm làm thí nghiệm giúp con, bà cần cù, cẩn thận, minh mẫn và tận tụy. Có lẽ giờ đây ở đâu đó Bà vẫn dõi theo công việc của tôi.

Biết được khó khăn, thiếu thốn và quyết tâm của tôi, ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nguyễn Công Tạn đã mời hiệu trưởng trường tôi lên gặp để cấp cho 9.000 đô la (quĩ riêng của Bộ trưởng vì ông muốn ủng hộ ý tưởng mới của tôi nhưng tôi lại không thuộc Bộ Nông nghiệp theo phân công của Nhà nước). Nhờ số tiền này chúng tôi đã mua sắm một số trang bị tối thiểu cho nghiên cứu, đã xây được 360m2 nhà lưới, xây tường rào chống chuột bảo vệ 1 mẫu lúa giống, xây 1 buồng điều hòa nhiệt độ để đánh giá các dòng vật liệu mới. Sự quan tâm của Bộ trưởng thúc đẩy tôi làm việc miệt mài hơn. Tại một cuộc họp tổng kết sản xuất của Bộ, ông tuyên bố sẽ giành phần thưởng xứng đáng cho người chọn tạo được lúa lai cho Việt Nam. Việc này đã thôi thúc sự nôn nóng của tôi và nhiều nhà chọn giống khác. Năm 1996, tôi chọn ra 2 dòng bố, mẹ trong vườn vật liệu và sản xuất được 12 kg hạt lai F1 đưa lên Bộ để tham gia trình diễn tại Hà Tây cùng với giống của các tác giả khác. Lúa trình diễn sinh trưởng phát triển rất nhanh, cây khỏe, bông to trỗ đều. Bộ tổ chức Hội nghị đầu bờ mời nhiều tỉnh đến thăm và đánh giá. Mọi người khen ngợi lúa lai Việt Nam, ông Bộ trưởng phấn khởi lắm và rút tiền mặt thưởng tôi ngay trong hội thảo trước nhiều nhà lãnh đạo, đồng nghiệp, học sinh của tôi và nông dân. Tôi thực sự mừng vui xúc động. Thật không may, chỉ sau 1 tuần, lúa của tôi bị bệnh bạc lá làm “cháy” gần hết cả mẫu ruộng, lá không còn màu xanh để quang hợp, làm gì còn năng suất ! Tôi lo lắng, xấu hổ đến bẽ bàng vì sự nóng vội của mình. Tôi ngậm ngùi ân hận và lên xin Bộ trưởng để được trả lại tiền thưởng, ông không khiển trách mà động viên rằng: “Phần thưởng này ông giành cho người tạo ra giống lúa lai đầu tiên ở Việt Nam chứ chưa phải là thưởng cho giống lúa lai tốt”. Lời nhắc nhở rất khéo của ông khiến tôi ngượng ngùng xấu hổ, không còn cách nào từ chối mà âm thầm thúc đẩy tôi tìm cách nghiên cứu cải tiến mọi đặc tính của giống nhất là tính chống chịu sâu bệnh và thận trọng hơn khi đưa giống ra sản xuất đại trà.

Tuy nhiên để tạo giống lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốt lại vừa chống chịu sâu bệnh, và thích ứng cho nhiều vùng, nhiều vụ thì cần thời gian dài lắm mà tôi lại đã đến tuổi nghỉ hưu, quĩ thời gian làm việc đã hết, vậy làm thế nào để thực hiện? Tôi quyết định giành thời gian còn lại của cuộc đời để thực hiện ý tưởng chọn tạo thành công giống lúa lai cho Việt Nam. Tôi xin Nhà trường ở lại làm việc tiếp với điều kiện được sử dụng gần 1 ha ruộng trồng lúa, 1 phòng thí nghiệm nhỏ để nghiên cứu, chỉ hưởng lương hưu, dùng kết quả nghiên cứu của mình để tạo ra tiền chi trả mọi kinh phí nghiên cứu, trả lương cho cộng tác viên và mọi chi phí cần thiết khác phục vụ hoạt động nghiên cứu.

Đề nghị của tôi được Trường chấp nhận, tôi ở lại làm việc vô tư hết mình như thời còn trẻ, không kể thời gian, mưa nắng, khó khăn, tôi liên hệ với đồng nghiệp ở Bộ Nông nghiệp tham gia nghiên cứu cùng với họ. Đồng thời nhận hướng dẫn đề tài làm luận văn tốt nghiệp cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh của Trường để tận dụng nguồn nhân lực có kiến thức khoa học, có khả năng tư duy sáng tạo phục vụ cho nghiên cứu của mình và cũng là để truyền đạt sự hiểu biết, kinh nghiệm và “nghệ thuật” chọn giống cho họ. Các vấn đề nghiên cứu của tôi đã trở thành những đề tài hay để họ làm luận án tiến sĩ, thạc sĩ, giúp họ học thêm nhiều điều có ích cho sự nghiệp về sau. Ngoài ra, tôi giành thời gian đi Khuyến nông, đi giảng các lớp huấn luyện ngắn hạn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân, hướng dẫn sản xuất hạt giống… Các hoạt động này giúp mở rộng quan hệ và hiểu biết thực tiễn cho học trò của tôi, cho cán bộ trẻ trong Phòng, hơn nữa còn thu được tiền để nuôi đội ngũ kỹ sư mới tuyển, giúp họ học thêm và làm viêc tốt hơn.

Tôi giành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ cải tiến những nhược điểm của từng vật liệu, chọn lọc, đánh giá lặp lai nhiều lần và cuối cùng sự cố gắng không mệt mỏi đã đem lại thành công là tạo ra các dòng bất dục đực, các dòng cho phấn mới, các giống lúa lai, lúa thuần có giá trị sử dụng cao. Giống lúa lai hai dòng TH3-3 cùng với qui trình nhân hạt giống bố mẹ và qui trình sản xuất hạt lai được công nhận năm 2005, được trình diễn trên 26 tỉnh và được nông dân chấp nhận. Sau TH3-3 là TH3-4, TH3-5, TH5-1, TH7-2 và lúa thơm Hương cốm. Các giống mới có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng rộng nên nhu cầu về hạt giống tăng cao. Chúng tôi không còn đủ năng lực sản xuất và cung ứng kịp cho nông dân nên đã quyết định chuyển nhượng bản quyền cho Doanh nghiệp để tập trung thời gian cho nghiên cứu chọn tạo các giống mới tốt hơn. Doanh nghiệp có điều kiện tốt về tài chính, có kinh nghiệm kinh doanh, có thể mở rộng sản xuất đáp ứng yêu cầu của nông dân. Việc chuyển nhượng bản quyền đã tạo ra bước đột phá mới trong nghiên cứu khoa học. Kết quả nghiên cứu đưa được đến tận tay người sản xuất, diện tích sử dụng giống mở rộng nhanh rõ rệt, năm 2009 diện tích sản xuất hạt lai của 2 giống được chuyển nhượng chiếm trên 60% tổng diện tích sản xuất hạt lai trong nước, cung cấp trên 1000 tấn hạt giống lai/năm cho nông dân các tỉnh phía Bắc, tạo lợi thế canh tranh cho lúa lai Việt Nam. Các Công ty mở ra nhiều vùng sản xuất hạt giống lai rộng lớn, từ miền núi phía bắc đến đồng bằng, miền Trung và Tây Nguyên tạo công việc làm cho hàng vạn lao động nông nghiệp có tay nghề cao, thu nhập cao hơn. Nhờ chuyển nhượng bản quyền, Nhà trường thu hồi được kinh phí sự nghiệp khoa học, Nhà nước thu thuế bản quyền, Viện chúng tôi có tiền mua ô tô, xây thêm phòng làm việc, kho tàng và mở rộng nghiên cứu theo nhiều hướng mới. Cán bộ nghiên cứu có thêm lương, thưởng, được cấp học bổng học cao học, huấn luyện nâng cao trình độ ở trong nước và cả nước ngoài. Phòng nghiên cứu của chúng tôi trở thành đơn vị đi đầu thực hiện có hiệu quả chỉ thị 115 của chính phủ, chỉ thị về giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất của các cơ quan nghiên cứu khoa học.

Sau 10 năm làm việc ở tuổi nghỉ hưu, một nhóm nghiên cứu bé nhỏ từ 3 người, đã lớn mạnh thành một Phòng nghiên cứu vững vàng về lý luận, có tay nghề chọn tạo và sản xuất giống lúa giỏi với 2 tiến sĩ; 6 thạc sĩ; 4 kỹ sư; 1kỹ thuật viên. Trong thời gian đó nhóm chúng tôi vừa nghiên cứu, vừa học tập nâng cao trình độ vừa lai tạo, chọn lọc, mở rộng sản xuất các giống lúa mới, vừa phổ biến kiến thức trồng lúa, sản xuất hạt giống lúa lai cho nông dân. Đồng thời đã tham gia viết sách, viết bài giảng, công bố các công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo tốt cho ngành chọn giống và sản xuất giống nước nhà.

Kính thưa Đại Hội,

Nghề nông ở nước ta hiện nay vẫn đang chiếm tỷ lệ lớn và luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, rủi ro vì biến đổi khí hậu diễn ra nhanh và vô cùng khốc liệt… Để xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững ổn định cần có đội ngũ các nhà khoa học nông nghiêp yêu nghề, dám hy sinh suốt đời cho nghiên cứu khoa học. Thế nhưng khoa học nông nghiệp là khoa học ứng dụng, đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian thâm nhập thực tế, phải kiên trì thử nghiệm trên đồng ruộng ở nhiều vùng, nhiều vụ khác nhau nên khi thành đạt thì đa số tuổi đã quá cao. Những thách thức đó thật vô cùng khắc nghiệt, Nhà nước cần quan tâm nhiều hơn giúp nhà khoa học có điều kiện thử nghiệm, hiện thực hóa các ý tưởng mới táo bạo của mình.

Phụ nữ làm khoa học nông nghiệp phải chịu quá nhiều vất vả gian nan và cả sự đố kỵ… Trước những thách thức đó cần có một tình yêu nghề nồng cháy, một mục tiêu rõ ràng để theo đuổi, một phương pháp chính xác và luôn được bổ sung, phải bình tĩnh suy xét, lựa chọn biện pháp ứng xử hợp lý để vượt qua khó khăn thách thức và chắc chắn sẽ thành công.

Kính thưa Đại hội

– Để có được những đóng góp nêu trên, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều. Từ trái tim mình, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với Đảng, Nhà nước, đối với các thầy cô giáo, những người đã tận tụy dậy dỗ, cho tôi hưởng một nền giáo dục mới để làm một người công dân tốt, một nhà giáo, nhà khoa học có ích.

– Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới các cấp lãnh đạo Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Giáo dục & ĐT, các cục vụ chuyên môn của hai Bộ, những người đã tìm mọi cách nâng đỡ các ý tưởng mới, táo bạo khuyến khích tôi trong suốt thời gian làm nghiên cứu, triển khai, mở rộng và phát triển sản xuất ở các địa phương.

– Xin cảm tạ bà con nông dân trên mọi miền đất nước, những người đã sẵn sàng dùng đất đai, lao động của mình thử nghiệm sản xuất hạt giống, gieo trồng giống mới, ứng dụng các kỹ thuật mới trên đồng ruộng, không ngại rủi ro giúp chúng tôi thành công. Xin bày tỏ lòng biết ơn đối với bạn bè đồng nghiệp các thế hệ sinh viên, học viên cao học ,NCS đã đóng góp sức lực, trí tuệ cùng nghiên cứu giải quyết các vấn đề trong thực tế sản xuất nông nghiệp của nước nhà.

– Cuối cùng Xin kính chúc Quí vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, quí vị đại biểu sang năm mới sức khỏe dồi dào, hạnh phúc và thành công mới.

Xin trân trọng cảm ơn.

Nguyễn Thị Trâm”

NGUYỄN THỊ TRÂM MỘT GHI GHÉP NHỎ

Trở thành kỹ sư nông nghiệp năm 1968, PGS. TS Nguyễn Thị Trâm công tác tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm của Bộ Nông nghiệp cho đến năm 1980. Ở đây, với việc nghiên cứu chọn tạo giống lúa, cô đã cùng đồng nghiệp chọn tạo thành công các giống lúa như: NN8 -388, NN23, NN9, NN10, NN75-6. Tất cả các giống lúa này đều được đưa vào ứng dụng trong sản xuất, trong đó giống lúa NN75-6 đã đem lại cho cô bằng tác giả sáng chế năm 1984.

Trong thời gian đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài trong 4 năm từ năm 1980 đến 1984 cô Trâm đã mang về tấm bằng góp thêm vào học vị của mình với việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lúa lùn và sử dụng lúa lùn trong chọn tạo giống lúa thâm canh” tại Đại học Nông nghiệp Kuban và Viện Nghiên cứu Lúa toàn Liên Xô, Thành phố Kratsnodar (Liên Xô cũ).

Sau khi về nước, trở thành Tiến sĩ Nông nghiệp PGS. TS Nguyễn Thị Trâm công tác tại trường Đại học Nông nghiệp 1. Cô làm cán bộ giảng dạy các bộ môn Di truyền chọn giống Khoa Nông học của trường. Thời gian này cô Trâm đã cống hiến rất nhiều tâm lực của mình trong việc nghiên cứu, giảng dạy cũng như hướng dẫn các sinh viên làm đề tài tốt nghiệp. Trong số đó có rất nhiều tiến sĩ và thạc sĩ bảo vệ thành công luận án của mình và được tốt nghiệp với những tấm bằng loại ưu. Bên cạnh đó cô còn viết các giáo trình và sách tham khảo cùng giáo trình bài giảng cho cao học các chuyên ngành Trồng trọt, chọn giống. Cùng các đồng nghiệp, cô đã nghiên cứu chọn tạo thành công các giống lúa thuần như nếp thơm 44, tẻ 256, ĐH 104 và được đưa ra sản xuất.

Làm phó Viện trưởng Viện Sinh học Nông nghiệp và Trưởng phòng nghiên cứu ứng dụng ưu thế lai tại trường Đại học Nông Nghiệp 1 Hà Nội cho đến năm 2004 cô Trâm lĩnh sổ lương hưu trí. Sau khi nghỉ hưu cô vẫn muốn góp thêm sức lực và trí tuệ của mình để phục vụ cho ngành nghiên cứu khoa học nước nhà nên cô đã nhận lời mời tiếp tục làm Trưởng phòng Nghiên cứu ứng dụng ưu thế lai, và tiếp tục nghiên cứu để tạo ra các giống lúa mới. Viết thêm những tài liệu và giáo trình để phục vụ giảng dạy và hướng dẫn cho các học viên thực tập tốt nghiệp kiêm hướng dẫn nghiên cứu sinh…

Mười tỉ đồng, một giống lúa, và mười bảy năm nghiên cứu lúa lai. Nhìn cảnh cô Trâm đếm từng hạt lúa, bạn sẽ thấy 10 tỉ đồng chuyển giao công nghệ không hề nhiều. Trong chương trình Người đương thời, bạn sẽ được nghe cô Trâm tiết lộ bí quyết lúa lai của Việt Nam. Và quan trọng hơn, bạn sẽ biết bí quyết thành công của cô: đó là đầu tư thời gian, và không bao giờ bỏ cuộc.

(còn tiếp…)

Bài viết mới

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter