Những trang văn thắp lửa

NHỮNG TRANG VĂN THẮP LỬA
Hoàng Kim

“Bài ca Trường Quảng Trạch” là bài thơ đặc biệt ấn tượng của Thầy Trần Đình Côn người Hiệu trưởng đầu tiên Trường Quảng Trạch giới thiệu về Trường Quảng Trạch, một trường học nổi tiếng của tỉnh Quảng Bình, lá cờ đầu địa chỉ xanh toàn ngành giáo dục Việt Nam thời chống Mỹ “Trường Quảng Trạch trên miền Quảng Thọ/ Tên trường ta chữ đỏ vàng son/ Tên Tổ Quốc, tên yêu thương / Thơm dòng sữa mẹ quê hương xa gần …” Mái trường bên dòng Gianh, Trường PTTH số 1 và số 2 Quảng Trạch (thị xã Ba Đồn ngày nay) là Trường Bắc Quảng Trạch và Nam Quảng Trạch xưa. Đó là nơi tỏa sáng nét đẹp nhân văn của tình thầy trò và nôi đào tạo nhiều thế hệ các người con trung hiếu hiến dâng bầu máu nóng cho Tổ Quốc Quê Hương trường tồn và phát triển. Nhiều người trong số họ đã ngã xuống trên các chiến trường cho Việt Nam độc lập và thống nhất. Nhiều người trong số họ thầm lặng dấn thân cho đời sống của người dân tốt hơn, đất nước và quê hương vươn tới. Nhiều người thành danh hiếm thấy trong cả nước, nhưng sâu sắc hơn hết là nét bình dị, chân thành, tình nghĩa, thuỷ chung.

Ta gặp nhau từ lúc tóc còn xanh. Nay tìm lại thì đầu đã bạc. Để nhớ một thời cùng toàn dân đánh giặc. Gian khổ chất chồng, mất mát đau thương. Bốn mươi năm thầy bạn tỏa muôn phương. Nay ôn lại thầy trò thời chống Mỹ. Trăm khuôn mặt anh chị nào cũng quý. Bình dị, chân thành, tình nghĩa, thuỷ chung. Nét đẹp quê hương Quảng Trạch anh hùng”. Thầy Phạm Ngọc Căng người Thanh Hóa, phó Hiệu trưởng đầu tiên của Trường cấp Ba Quảng Trạch là tác giả của những câu thơ thắm tình thầy bạn trên đây; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-truong-quang-trach/

Nhà báo Lê Quang Vinh kể lại: “Tiểu mục đặc biệt không có trong chương trình Lễ kỷ niệm 40 năm Trường Cấp 3 Nam Quảng Trạch” Tại Lễ kỷ niệm 40 năm (thực tế là 41 năm) ngày Thành lập Trường THPT Số 2 Quảng Trạch (Trường Cấp 3 Nam Quảng
Trạch, tỉnh Quảng Bình), sau các phần “long trọng” thuộc nghi lễ “cơ bản”, thì đến
lượt một học sinh gái lớp 12, đại diện cho thế hệ hiện đang học tập tại trường, lên
đọc “Lời chào mừng”. Lời phát biểu của em gái này ngay ở mấy câu đầu khá lưu
loát, đầy súc tích; đã thực sự gây ấn tượng, tạo chú ý cho cả ngàn người nghe. Điều đó, khiến tôi phải dò hỏi nhanh lai lịch em học sinh này. Thật bất ngờ, một thầy giáo
trong ban tổ chức tên là Trần Thanh Hải , Bí thư Đoàn trường, cho biết: Cô học trò
nhỏ khá xinh xắn kia tên là Lê Thị Ngọc Cẩm, chính là con gái thứ 2 của Thầy giáo
Lê Đình Thám quê xã Quảng Trung, cựu học sinh lớp 10 đầu tiên (1966 – 1967) của trường ta, bạn “đồng môn” của tôi (tác giả LQV), là học sinh có hoàn cảnh nhà rất
ngặt nghèo, do cha mất sớm, nhưng em đã vượt khó để học giỏi nhiều năm liền.
Tôi quá xúc động và cũng thật sung sướng; thương anh Lê Đình Thám vô cùng. Trong ‘
vai trò’ của một Nhà báo đang tác nghiệp, tôi đã không chút ngần ngại lên ngay sân
khấu rồi đứng sát bục micro, chụp liên tục mấy tấm hình của em. Đợi khi em vừa dứt lời, tôi liền cầm chiếc micro từ tay Cẩm, đường đột thưa luôn mấy câu ngắn gọn:
“Thưa thầy cô giáo, quý vị đại biểu và tất cả anh chị em các thế hệ học sinh trường
ta! Trường cấp 3 Nam Quảng Trạch thật có phúc! 40 năm trước, có một học sinh giỏi đoạt đồng giải Nhất môn Văn lớp 10 toàn tỉnh Quảng Bình là anh Lê Đình Thám
(cùng một học sinh nữa là anh Nguyễn Hữu Trường đang có mặt tại đây). Anh Lê
Đình Thám, Thầy giáo Lê Đình Thám, thì đã qua đời nhiều năm nay rồi. Nhưng sau
40 năm, con gái của anh đây là một học sinh “xuất sắc”, vừa thay mặt các em thế hệ hiện tại, phát biểu chúc mừng Thầy cô và tất cả chúng ta. Xin tất cả mọi người một
tràng vỗ tay cổ vũ em…!”. Cả sân vận động kín đặc người bỗng chốc lặng im, nhiều
trong số đó đã không thể kìm nén được nước mắt. Rồi một tràng vỗ tay vang rền như pháo nổ kéo dài, kéo dài tưởng thật khó dứt… Em Cẩm thì khóc òa. Có lẽ đó là giây phút cảm động, hạnh phúc nhất, được ngưng kết rất tự nhiên trong ngày hạnh ngộ
(của Lễ kỷ niệm) này. Trên ghế Chủ tịch đoàn, Thầy Nguyễn Quang Đăng, Hiệu
trưởng đầu tiên của ngôi trường 41 tuổi này, bật đứng dậy rồi dang tay đón con gái
anh Lê Đình Thám, cháu Lê Thị Ngọc Cẩm, vào lòng khi tôi dắt em tới gần cho thầy. Cháu Cẩm xúc động đến ngẹn ngào, bởi lời giới thiệu quá “bất thình lình” của tôi. Đột nhiên và bất ngờ, thầy Nguyễn Quang Đăng, Thầy Phạm Quốc Thành (Hiệu trưởng đương nhiệm) cùng các vị khác… vô cùng xúc động, đã rơi nước mắt ngay khi đang “an tọa” trên ghế khán đài…Ngồi kề bên phải thầy cựu Hiệu trưởng Nguyễn Quang
Đăng, là anh Đinh Xuân Hướng, Cục phó Cục Hàng không dân dụng Việt Nam, bạn cùng lớp 10 với Lê Đình Thám và tôi, cũng ngây người ra, bần thần không kém
.”

“Khi cháu Lê Thị Ngọc Cẩm, con gái con anh Thám rời lễ đài, cô Nguyễn Thị Lâm (người Thị trấn Ba Đồn xưa, mặc áo sơ mi trắng) và cô Nguyễn Thị Di (quê Hòa Ninh, mặc áo dài xanh) là hai bạn gái cùng học lớp 10 với Lê Đình Thám, đẫm nước mắt từ bao giờ, đã ôm chầm lấy cháu Lê Thị Ngọc Cảm trong vòng tay yêu thương với bao xức động tuôn trào… Một “tiểu mục” đặc biệt (chỉ diễn ra trong giây phút “xuất thần”, hoàn toàn ngoài dự tính, không thể có trong “kịch bản” của Lễ kỷ niệm 40 năm (thực tế là 41 năm) Thành lập Trường THPT Số 2 Quảng Trạch (Trường Cấp 3 Nam Quảng Trạch) Ngày 29 tháng 4 năm 2007”.

Cám ơn anh Lê Quang Vinh giới thiệu “Bài thơ hay xuất sắc của một thương binh nặng viết về liệt sĩ đồng đội” đọc lại nhiều lần vẫn xúc động xin anh được lưu lại trong Những trang văn thắp lửa:

NHỚ ĐỒNG ĐỘI
(Nhân 30/4, nhớ những ngày chiến đấu và bị thương tại chiến trường Quảng Trị 1972). Thành Đồng

Tiểu đội ba người nay chỉ còn hai
Tao ”chân rưỡi”, còn thằng Hòa bệnh tật…
Thương nhất mày, thằng nằm trong lòng đất
Đến thăm mày, tao chỉ khóc, thắp nén nhang

Nhớ khi xưa luôn khắc cốt, tâm can
Cả Tiểu đội mình cùng đi trinh sát
Giữa lòng địch cùng vùi trong đất cát
Tao bị thương gẫy lủng lẳng một chân

Thằng Hòa về xin chi viện thêm quân
Chỉ còn tao, mày giữa vòng vây địch
Mày bò cõng tao trên lưng nặng chịch
Tha lôi nhau trong suốt đêm dài

Cố sức mình tao bám sát bờ vai
Nghiến răng nhịn vết thương đau quằn quại
Máu ra nhiều miệng đắng khô khắc khoải
Vuốt lá sương rơi liếm đỡ khát vẫn cười…

Tao như chết vì lực tàn sức đuối
Mày nghĩ tao “đi”, nên phủ lá giữa đồi
Mày đứng, ngồi, đi trăn trở không thôi
Định ra về mà lòng đau tê tái

Linh tính thần kỳ -,mày liền quay trở lại
Nhẹ mở cành cây, thấy tao thở lơ thơ
Mắt lim dim như một kẻ dại khờ
Mày khẽ reo: “Anh ơi, Anh vẫn sống…”!

Hơn 40 năm tao tìm mày khắp chốn
Nay thấy mày cùng đồng đội nằm đây
Nhớ ơn mày, tao thầm nhủ với mày:
“Tao sẽ cõng mày về như ngày xưa mày cõng tao ra khỏi chốt”

Năm, tháng qua nhớ lời thề khắc cốt
Tao đã cõng mày ra về với gia đình
Trả ơn gì cho bằng sự hy sinh
Vì nước, vì dân, vì hòa bình, thống nhất…

Hai thằng tao thương mày quá…; Bồng ơi!


———
Ghi chú của tác giả Thành Đồng:
Liệt sỹ tên là Nguyễn Khắc Bồng, quê xã Quảng Đại, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Anh là chiến sỹ Tiểu đội trinh sát của tôi. Sau lần cứu tôi trong một trận đánh ác liệt, anh Bồng đã anh dũng hy sinh trong một lần đi trinh sát khác.
Sau hơn 40 năm, tôi đã tự lái oto vào Quảng Trị, đưa anh ra và tổ chức nghi lễ đón di cốt liệt sỹ tại địa phương quê nhà. Hiện Liệt sĩ Bồng an nghỉ tại nghĩa trang liệt sỹ huyện Quảng Xương – Thanh Hoá.

Nhà báo Lê Quang Vinh giới thiệu:
Bài thơ rất hay. Thực sự hay!
Nghệ thuật xuất phát từ con tim, khối óc mình; tuôn trào ra thứ tinh tuý chỉ của riêng – duy nhất mình. Đó là thứ nghệ thuật thứ thiệt, nhân văn và cao cả nhất.

Cảm ơn Thành Đồng với bài thơ khiến trăm vạn người sẽ phải sững sờ bởi vẻ đẹp rất thánh thiện về tình đồng đội trên cùng chiến hào, giữa cái sống và cái chết này. Tình thiêng ấy, sau non nửa thế kỷ (45 năm), vẫn trinh nguyên như “thuở ban đầu”:

“Hơn 40 năm tao tìm mày khắp chốn
Nay thấy mày cùng đồng đội nằm đây
Nhớ ơn mày, tao thầm nhủ với mày:
“Tao sẽ cõng mày về như ngày xưa mày cõng tao ra khỏi chốt”

Năm, tháng qua nhớ lời thề khắc cốt
Tao đã cõng mày ra về với gia đình”

Một câu chuyện với bao tình tiết, lớp lanh; từ tự sự, tuôn trào cảm xúc, đến không gian và thời gian, đan xen giữa quá khứ và hiện tại… mà chỉ “gói gẹm” trong có 33 câu thơ thể “tự do” rất phóng khoáng (đa phần những câu thơ 8 chữ, có 6 câu 9 chữ, 1 câu dài nhất 14 chữ và 1 câu ngắn nhất 7 chữ). Nếu là “nhà tiểu thuyết”, có thể dựng được “một pho sách” hay, để quay thành phim ảnh để đời.

Chắc chắn không ít người muốn khám phá thêm vẻ đẹp của bài thơ, muốn ”tự lý giải” tại sao một người làm thơ hoàn toàn “không có nghề”, “100% nghiệp dư” này; lại có thể sáng tạo nên một tác phẩm tươi rói, sinh động được như vậy?

Johann Wolfgang von Goethe (28/8/1749 – 22/3/1832) – Thi hào vừa là một triết gia người Đức, từng viết trong “màn độc thoại” của vở kịch thơ “Faust”: “Mọi lý thuyết chỉ là màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”. Điều Goethe đúc kết, chắc chắn phải qua biết bao sự chiêm nghiệm, từng trải từ thực tiễn cuộc đời để trở thành chân lý gần 200 nay của nhân loại.

Danh ngôn nổi tiếng này, ta thử dùng nó để “soi” vào bài thơ “NHỚ ĐỒNG ĐỘI”; hiệu ứng lập tức khiến ta thấy rất rõ sự “trùng phùng” giữa “thi liệu” trong bài thơ “NHỚ ĐỒNG ĐỘI” với chính “hình ảnh ngoài đời” của hai người chiến sĩ – mà một trong hai chiến sĩ đó là tác giả Thành Đồng của bài thơ:

“Giữa lòng địch cùng vùi trong đất cát
Tao bị thương gẫy lủng lẳng một chân

Thằng Hòa về xin chi viện thêm quân
Chỉ còn tao, mày giữa vòng vây địch
Mày bò cõng tao trên lưng nặng chịch
Tha lôi nhau trong suốt đêm dài

Cố sức mình tao bám sát bờ vai
Nghiến răng nhịn vết thương đau quằn quại
Máu ra nhiều miệng đắng khô khắc khoải
Vuốt lá sương rơi liếm đỡ khát vẫn cười…”

Rõ ràng mọi thứ đã không còn nằm trong câu chữ (ngôn ngữ và các biện pháp nghệ thuật) nữa.

Chính bản thân cuộc đời “sống và chiến đấu” của các anh, “tình đồng đội” của các anh – cứ “nguyên mẫu” thế, đã là “Áng thơ rất đẹp”, “Bài ca mượt mà rất trữ tình” của văn chương, âm nhạc rồi.

Thế nên, tôi có cảm giác Thành Đồng chẳng phải “khổ luyện” gì mấy, khi anh “đẻ” ra “đứa con tinh thần” có một không hai trong cuộc đời của mình này?!

Điều này chẳng khác những nhà thơ “chính cống” (chuyên nghiệp) sáng tác các tác phẩm “để đời” (giá trị, lôi cuốn người đọc nhiều thế hệ) – như tôi từng viết về Thi sĩ Ngô Minh:

“Những nhà thơ, nhà văn tên tuổi; khi sáng tạo nghệ thuật, họ không “bó mình”, “khổ luyện”, tìm “trăm phương ngàn kế” để làm nên những điều ta thấy rất “cầu kỳ” như vừa phân tích ở phía trên. Văn thi – nhạc sĩ… làm thơ văn, làm nhạc…như “chơi”! Ở đó là sự thăng hoa kỳ diệu (của sự kết hợp) giữa cảm xúc và kỹ năng nghệ thuật. Như vậy, kỹ năng nghệ thuật đã trở thành phẩm chất trong lý trí, tình cảm của các nhà sáng tạo rồi. Họ sáng tạo mà như…”vô thức” trước các thủ pháp nghệ thuật mà vẫn rất…”Nghệ thuật” là vậy. Thi sĩ Ngô Mình thuộc VNS loại này”.

(Bài “VÀI CẢM NHẬN BƯỚC ĐẦU VỀ BÀI THƠ “ĐÊM BÁNH TÔM TÂY HỒ” CỦA NGÔ MINH”, đăng trên FB “Ngô Minh Khôi” cùng với FB “Lê Quang Vinh” và FB “Quoc Ca Pham” – ngày 13 tháng 8, 2016).

Nhưng ở “NHỚ ĐỒNG ĐỘI” có thứ… “rất khác” (đặc biệt “khác”), đó là Thành Đồng không còn (cần phải) “khổ luyện” nữa, bởi 45 năm trước, anh đã có cuộc vượt vũ môn “thập tử nhất sinh”, bỏ lại nơi chiến trường một phần cơ thể trai trẻ của mình, thân hình đau đớn găm đầy mảnh đạn (“Giữa lòng địch cùng vùi trong đất cát/ Tao bị thương gẫy lủng lẳng một chân”, “Cố sức mình tao bám sát bờ vai/ Nghiến răng nhịn vết thương đau quằn quại/ Máu ra nhiều miệng đắng khô khắc khoải/ Vuốt lá sương rơi liếm đỡ khát vẫn cười…”), khiến người đồng đội (chỉ sau đó một thời gian cực ngắn, lại hy sinh trong chiến đấu) cắn răng đau đớn cùng cực, thất vọng não nề: “Mày nghĩ tao “đi”, nên phủ lá giữa đồi” (tưởng Đồng đã chết, bạn bẻ lá rừng đắp lên mặt cho anh được… “ngủ yên”)...

Hoàn cảnh ra đời của bài thơ “NHỚ ĐỒNG ĐỘI”, thật đúng như những gì Thành Đồng chia sẻ với tôi, khi anh mới đọc được một phần bài viết này (bởi tôi vừa viết vừa pots lên trang cá nhân, khiến bạn đọc phải theo dõi dần theo):

“Cám ơn Lê Quang Vinh rất nhiều.

Ông bạn còn nhớ không, vào những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ trước, ông và Nguyễn Quốc Ân (công tác tại Vụ Ăn uống & Dịch cụ – Bộ Nội Thương) vào cơ quan tôi làm việc, tôi đã kể cho các ông nghe về cuộc chiến đấu của mình tại chiến trường Quảng Trị năm 1972. Nghe xong, các ông bảo: chuyện của tôi có thể viết thành “tiểu thuyết” được. Vì công việc, nên mọi thứ đó cứ qua đi. Nay nhân ngày 30/4 (44 năm đất nước thống nhất), tôi “tự sự” lại như để tri ân người đồng đội – liệt sỹ Nguyễn Khắc Bồng, anh đã cứu mạng tôi. Được ông bạn chia sẻ và bình luận bài thơ “NHỚ ĐỒNG ĐỘI”, tôi vô cùng cảm kích và xúc động. Cảm kích và xúc động vì còn có những người chính trực, tâm huyết như ông hiểu về cuộc chiến, hiểu về nghĩa tình đồng đội khi sống chết có nhau. Mấy lời tự sự của tôi chưa nói hết được tình cảnh của tôi và người liệt sỹ ấy khi còn trong vòng vây địch. Anh đã bò cõng tôi hơn 1 ngày đêm, trong khi một chân tôi bị gẫy nát vì đạn cối của địch. Tôi không làm được văn thơ, chỉ biết kể lại chuyện của chính mình và đồng đội. Chuyện kể của tôi được ông chia sẻ, tôi cám ơn ông nhiều lắm….”.

Hà Nội, 11 giờ 02’ ngày 2/5/2019
LQV.
.

Hoàng Kim gửi anh Lê Quang Vinh : “Anh Hoàng Trung Trực dấu chân người lính chỉ công bố 5 bài có Nhớ bạn và Mảnh đạn trong người nhưng có nhiều chuyện xúc động tương tự https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoang-trung-truc-dau-chan-nguoi-linh/ . Anh Trực chỉ kể lại trong người thân. Xe chiến trường của anh bị trúng mìn địch mà chỉ mình anh còn sống còn tất cả anh em đều hi sinh; anh Đức là sư trưởng bên phải và lái xe bên trái cùng hai tiểu đội bảo vệ ngồi sau thùng xe đều hi sinh, anh là người sống sót duy nhất và nhờ anh em đơn vị xông ra cứu kịp thời; lần khác anh chiến đấu trong rừng sâu ở Lào một mình cõng bạn đã hi sịnh suốt mấy ngày để ra được nơi an toàn, máu hòa cơm nắm và xác người đã có mùi. Anh Trực cũng cõng anh Tăng Văn Miêu trận Quảng Trị sau này anh ấy là Tư lệnh quân khu tả ngạn ra khỏi mấy tầng hàng rào và trong làn đạn địch. Anh Phụ (người Làng Minh Lệ) đã xã thân cứu bạn sau hòa bình được bạn tìm về trả ơn làm nhà tình nghĩa cho anh Phụ tại Đồng Nai giá trị trên 500 triệu vì bạn nhà nghèo. Biết bao câu chuyện đời thường cảm động như bài anh ghi lại. Đó là những trang văn thắp lửa.

HOÀNG TRUNG TRỰC DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH
Nhớ bạn

Ngỡ như bạn vẫn đâu đây
Khói hương bảng lãng đất này bình yên
Tình đời đâu dễ nguôi quên
Những dòng máu thắm viết nên sử vàng

Trời xanh mây trắng thu sang
Mình ta đứng giữa nghĩa trang ban chiều
Nhớ bao đồng đội thương yêu
Đã nằm lòng đất thấm nhiều máu xương

Xông pha trên các chiến trường
Chiều nay ta đến thắp hương bạn mình

Hoàng Trung Trực
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH
Mảnh đạn trong người

Bao nhiêu mảnh đạn gắp rồi
Vẫn còn một mảnh trong người lạ thay
Nắng mưa qua bấy nhiêu ngày
Nó nằm trong tuỹ xương này lặng câm…

Thời khói lửa đã lui dần
Tấm huân chương cũng đã dần nhạt phai
Chiến trường thay đổi sớm mai
Việt Nam nở rộ tượng đài vinh quang.

Thẳng hàng bia mộ nghĩa trang
Tên đồng đội với thời gian nhạt nhoà
Muốn nguôi quên lãng xót xa
Hát cùng dân tộc bài ca thanh bình

Thế nhưng trong tuỷ xương mình
Vẫn còn mảnh đạn cố tình vẹn nguyên
Nằm hoài nó chẳng nguôi quên
Những ngày trở tiết những đêm chuyển mùa

Đã qua điều trị ngày xưa
Nó chai lỳ với nắng mưa tháng ngày
Hoà bình đất nước đổi thay
Đêm dài thức trắng, đau này buồn ghê

Khi lên bàn tiệc hả hê
Người đời uống cả lời thề chiến tranh
Mới hay cuộc sống yên lành
Vẫn còn mảnh đạn hoành hành đời ta.

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Bài viết mới

Video yêu thích

https://youtu.be/RTWX-BB4aAA
Last Days in Vietnam

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Tình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKimYouTubeKim on FacebookKimTwitter

Advertisements

10 thoughts on “Những trang văn thắp lửa

  1. Pingback: Chào ngày mới 9 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Chào ngày mới 11 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Chào ngày mới 12 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Chào ngày mới 13 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Chào ngày mới 14 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Chào ngày mới 16 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Chào ngày mới 17 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Chào ngày mới 18 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

  10. Pingback: Chào ngày mới 19 tháng 5 | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s