Thương em

THƯƠNG EM
Hoàng Kim
viết bên Thác nước thiên nhiên tuyệt đẹp di sản thế giới Iguazu tại khu vực bảo tồn rừng lớn nhất Nam Mỹ giữa Brasil và Argentina.

Nước vùn vụt dội xuống
Sóng thình thịch cuộn lên
Thương tiến tửu’ Lý Bạch (*)
Ta thì thương nhớ em.

(*) “Thấy chăng ai
nước sông Hoàng trời tuôn 

Trút băng ra
chẳng quay về được nữa.

Lại chẳng thấy
lầu cao gương trong thương đầu bạc

Sớm tựa tơ xanh, chiều nhuốm tuyết
Đời người thoải mái cứ thung dung
Chớ để chén vàng trơ trước nguyệt

Ta với chim quấn quýt
Giữa đất trời bình yên
Nhớ quê nhà thác nước
Bản Giốc và Ka Long

Bài học lớn lòng ta
Thương emĐiểm hẹn
Kiệt tác của tâm hồn
500 năm nông nghiệp.

Thác nước Iguazu
Brazil Nam Mỹ
Di sản thiên nhiên đẹp
Thăm thẳm rừng nguyên sinh

Nước vùn vụt dội xuống
Sóng thình thịch cuộn lên
‘Thương tiến tửu’ Lý Bạch
Ta thì thương nhớ em.

ĐIỂM HẸN
Hoàng Kim

Anh như chim ưng quay về tổ ấm
Vẫn khát bầu trời ước vọng bay lên
Ơi Bồng Lai cồn cào nỗi nhớ
Anh về bên này lại nhớ bên em.

NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

‘Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (*)

hứng mật đời
thành thơ
việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình

đến trúc lâm
đạt năm việc lớn hoàng thành
đất trời xanh
Yên Tử …

(*) thơ Trịnh Tuyên
Hoàng Kim họa đối

EMBRAPA BRAZIL BẠN TÔI Ở NƠI ẤY

Science that transforms your life – Embrapa’s Institutional Video

Thác Iguazu

The World’s Most Beautiful Waterfalls



TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thíchKimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Ngày sinh của Thủy

NGÀY SINH CỦA THỦY
Hoàng Kim

Nguyễn Thị Thủy: “Khi xưa, lúc còn nhỏ, mẹ thường kể ngày này là ngày sinh”.

“Âm lịch giao hòa dương lịch đây.
Đêm ba mươi Tết ấm men say.
Sao Kim sao Thủy Hôm Mai mọc
Trăng mẹ hiền soi nước biển đầy”.

Hoàng Kim — với Nguyễn Thị Thủy.

SaoKimkythu

SAO KIM KỲ THÚ
Có ngôi sao may mắn phía chân trời. (*)
Hoàng Kim

ta gõ ban mai vào bàn phím
gõ vào khuya ngơ ngẫn kiếm tìm
biết em ngủ đợi chờ em tỉnh thức
như  ánh sao trời ở chốn xa xôi.

em em em giá mà em biết được
những yêu thương hóa đá chốn xa mờ
sợi tóc bạc vì em mà xanh lại
lời ru và nỗi nhớ ngấm vào thơ.

em thăm thẳm một vườn thiêng cổ tích
chốn ấy cõi riêng khép mở chân trời
ta như chim đại bàng trở về tổ ấm
lại khát Bồng Lai ước vọng mù khơi.

ta gõ ban mai vào bàn phím
dậy em ơi ngày mới đến rồi. (**)

ThaiDuonghe

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Video yêu thích

Trường ĐHNL TPHCM (Video)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCNM365Tình yêu cuộc sốngCây Lương thựcDạy và HọcKim on LinkedInKimYouTubeKim on Facebook

Minh triết cho mỗi ngày

LEV TONSTOY MINH TRIẾT CHO MỖI NGÀY
Hoàng Kim

Lev Tolstoy (1828 – 1910) là nhà hiền triết và đại văn hào Nga danh tiếng bậc nhất lịch sử nhân loại với những kiệt tác ‘Chiến tranh và Hòa bình’, ‘Ana Karenina’, ‘Đường sống’, ‘Phục sinh’, ‘Minh triết cho mỗi ngày’. Trong đó, ‘Chiến tranh và Hòa bình’ là đỉnh cao văn chương. ‘Đường sống’ là kiệt tác chính luận, ‘Minh triết cho mỗi ngày’ (Wise Thoughts for Every Day) là công trình trọng yếu cuối cùng của Lev Tonstoy và ông đã xem nó là đóng góp quan trọng nhất của ông cho nhân loại. Theo Peter Serikin tại lời giới thiệu của tác phẩm này “Tonstoy giữ cái ‘cẩm nang’ cho một cuộc sống tốt này trên bàn làm việc của ông trong suốt những năm cuối cùng đời mình cho đến phút cuối (thậm chí ông còn yêu cầu trợ lý cùa mình V. Chertkov, đưa cho ông xem bản in thử trên giường chết của ông) Chi tiết nhỏ này cho thấy Tonstoy yêu quý tác phẩm này xiết bao!”.

LEV TONSTOY CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH

Lev Tolstoy (1828 – 1910) là cha đẻ của kiệt tác “Chiến tranh và hòa bình”, đỉnh cao của trí tuệ con người. Tiểu thuyết sử thi vĩ đại này đưa Lev Tolstoy vào trái tim của nhân loại và được yêu mến ở khắp mọi nơi trên thế giới. Tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình được bình chọn là kiệt tác trong sách “Một trăm kiệt tác“ của hai nhà văn Nga nổi tiếng I.A.A-Bra- mốp và V.N. Đê-min do Nhà xuất bản Vê tre Liên bang Nga phát hành năm 1999, Nhà xuất bản Thế Giới Việt Nam phát hành sách này năm 2001 với tựa đề “Những kiệt tác của nhân loại“, dịch giả là Tôn Quang Tính, Tống Thị Việt Bắc và Trần Minh Tâm.

“Chiến tranh và hòa bình” cũng được xây dựng thành bộ phim cùng tên do đạo diễn là Sergey Fedorovich Bondarchuk, công chiếu lần đầu năm 1965 và được phát hành ngày 28 tháng 4 năm 1968 tại Hoa Kỳ. Phim đoại giải thưởng Oscar phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất năm 1968.

Những lời giới thiệu sách Chiến tranh và hòa bình

Hai nhà văn Nga nổi tiếng I.A.A-Bra-mốp và V.N.Đê-min đã giới thiệu và bình chọn tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” như sau: “Một lần nhân lúc nhàn rỗi vì chưa có kế hoạch mới, để đỡ buồn tẻ và sốt ruột, tôi nghĩ ra một câu hỏi cho mình tự trả lời: Nếu như ta bị đày ra hoang đảo, và chỉ được phép mang theo một cuốn sách thôi, ta sẽ chọn quyển nào?. Suy nghĩ chốc lát, tôi đưa ra đáp án: “Có lẽ chỉ mỗi “Chiến tranh và hòa bình!” Tại sao ư? Nhiều quyển đáng chọn lắm cơ mà ! Câu trả lời đơn giản là vậy mà hóa ra không dễ trả lời.”

”Chiến tranh và hòa bình” ẩn chứa điều bí mật sau đây: Nó là cuốn cẩm nang, là đáp án của tất cẩ mọi câu hỏi mà độc giả có thể gặp trong cuộc sống. Tiểu thuyết có một tầm bao quát sâu rộng lớn: Tính sử thi hùng tráng và tính trữ tình tinh tế, những suy ngẫm triết lý sâu xa về số phận con người, lịch sử và thế giới, những hình tượng bất tử, luôn sống động như đang hiện diện trước mắt ta nhờ bút pháp diệu kỳ của nhà văn. Sẽ là không đầy đủ, nếu chỉ gọi “Chiến tranh và hòa bình” là bộ “Bách khoa toàn thư”; muốn trọn vẹn hơn, ta phải coi nó là “pháp điển đạo đức”. Định nghĩa này là chính xác, bởi bao thế hệ đã từng không mệt mỏi noi theo, học tập suốt đời lý tưởng sống cao đẹp của An-đrây Bôn-côn-xki và Na-ta-sa Rô-xtôva, học tập chủ nghĩa yêu nước nồng nàn của lớp lớp nhân vật khác trong tác phẩm, và của chính nhà văn….”

Tóm tắt tác phẩm Chiến tranh và hòa bình

Tác phẩm mở đầu với khung cảnh một buổi tiếp tân, nơi có đủ mặt các nhân vật sang trọng trong giới quý tộc Nga của Sankt Peterburg. Bên cạnh những câu chuyện thường nhật của giới quý tộc, người ta bắt đầu nhắc đến tên của Napoléon và cuộc chiến tranh sắp tới mà Nga sắp tham gia. Trong số những tân khách hôm ấy có công tước Andrei Bolkonsky một người trẻ tuổi, đẹp trai, giàu có, có cô vợ Liza xinh đẹp mới cưới và đang chờ đón đứa con đầu lòng. Và một vị khách khác là Pierre người con rơi của lão bá tước Bezukhov, vừa từ nước ngoài trở về. Tuy khác nhau về tính cách, một người khắc khổ về lý trí, một người hồn nhiên sôi nổi song Andrei và Pierre rất quý mến nhau và đều là những chàng trai trung thực, luôn khát khao đi tìm lẽ sống. Andrei tuy giàu có và thành đạt nhưng chán ghét tất cả nên chàng chuẩn bị nhập ngũ với hy vọng tìm được chỗ đứng của một người đàn ông chân chính nơi chiến trường. Còn Pierre từ nước ngoài trở về nước Nga, tham gia vào các cuộc chơi bời và bị trục xuất khỏi Sankt Peterburg vì tội du đãng. Pierre trở về Moskva, nơi cha chàng đang sắp chết. Lão bá tước Bezukhov rất giàu có, không có con, chỉ có Pierre là đứa con rơi mà ông chưa công nhận. Mấy người bà con xa của ông xúm quanh giường bệnh với âm mưu chiếm đoạt gia tài. Pierre đứng ngoài các cuộc tranh chấp đó vì chàng vốn không có tình cảm với cha, nhưng khi chứng kiến cảnh hấp hối của người cha lúc lâm chung thì tình cảm cha con đã làm chàng rơi nước mắt. Lão bá tước mất đi để lại toàn bộ gia sản cho Pierre và công nhận chàng làm con chính thức. Công tước Kuragin không được lợi lộc gì trong cuộc tranh chấp ấy bèn tìm cách dụ dỗ Pierre. Vốn là người nhẹ dạ, cả tin nên Pierre rơi vào bẫy và phải cưới con gái của lão là Hélène, một cô gái có nhan sắc nhưng lẳng lơ và vô đạo đức. Về phần Andrei chàng quyết định gởi vợ cho cha và em chăm sóc sau đó gia nhập quân đội. Khi lên đường Andrei mang một niềm hi vọng có thể có thể tìm thấy ý nghĩa cuộc sống cũng như công danh trên chiến trường. Chàng tham gia trận đánh Austerlitz lừng danh, thương nặng, bị bỏ lại chiến trường. Khi tỉnh dậy chàng nhìn dậy chàng nhìn thấy bầu trời xanh rộng lớn và sự nhỏ nhoi của con người, kể cả những mơ ước, công danh và kể cả Napoléon người được chàng coi như thần tượng. Andrei được đưa vào trạm quân y và được cứu sống. Sau đó, chàng trở về nhà chứng kiến cái chết đau đớn của người vợ trẻ khi sinh đứa con đầu lòng. Cái chết của Lisa, cùng với vết thương và sự tiêu tan của giấc mơ Tulông đã làm cho Andrei tuyệt vọng. Chàng quyết định lui về sống ẩn dật. Có lần Pierre đến thăm Andrei và đã phê phán cách sống đó. Lúc này, Pierre đang tham gia vào hội Tam điểm với mong muốn làm việc có ích cho đời. Một lần, Andrei có việc đến gia đình bá tước Rostov. Tại đây, chàng gặp Natasha con gái gia đình của bá tước Rostov. Chính tâm hồn trong trắng hồn nhiên và lòng yêu đời của nàng đã làm hồi sinh Andrei. Chàng quyết định tham gia vào công cuộc cải cách ở triều đình và cầu hôn Natasha. Chàng đã được gia đình bá tước Rostov chấp nhận, nhưng cha chàng phản đối cuộc hôn nhân này. Bá tước Bolkonsky (cha của Andrei) buộc chàng phải đi trị thương ở nước ngoài trong khoảng thời gian là một năm. Cuối cùng, chàng chấp nhận và xem đó như là thời gian để thử thách Natasha. Chàng nhờ bạn mình là Pierre đến chăm sóc cho Natasha lúc chàng đi vắng. Natasha rất yêu Andrei, song do nhẹ dạ và cả tin nên nàng đã rơi vào bẫy của Anatole con trai của công tước Vasily, nên Natasha và Anatole đã định bỏ trốn nhưng âm mưu bị bại lộ, nàng vô cùng đau khổ và hối hận. Sau khi trở về Andrei biết rõ mọi chuyện nên đã nhờ Pierre đem trả tất cả những kỷ vật cho Natasha. Nàng lâm bệnh và người chăm sóc và người thông cảm cho nàng lúc này là Pierre. Vào lúc này, nguy cơ chiến tranh giữa Pháp và Nga ngày càng đến gần. Cuối năm 1811, quân Pháp tiến dần đến biên giới Nga, quân Nga rút lui. Đầu năm 1812, quân Pháp tiến vào lãnh thổ Nga. Chiến tranh bùng nổ. Vị tướng già Mikhail Kutuzov được cử làm tổng tư lệnh quân đội Nga. Trong khi đó, quý tộc và thương gia được lệnh phải nộp tiền và dân binh. Pierre cũng nộp tiền và hơn một ngàn dân binh cho quân đội. Andrei lại gia nhập quân đội, ban đầu vì muốn trả thù tình địch, nhưng sau đó chàng bị cuốn vào cuộc chiến, bị cuốn vào tinh thần yêu nước của nhân dân. Trong trận Borodino, dưới sự chỉ huy của vị tướng Kutuzov quân đội Nga đã chiến đấu dũng cảm tuyệt vời. Andrei cũng tham gia trận đánh này và bị thương nặng. Trong lán quân y, chàng gặp lại tình địch của mình cũng đang đau đớn vì vết thương. Mọi nỗi thù hận đều tan biến, chàng chỉ còn thấy một nỗi thương cảm đối với mọi người. Chàng được đưa về địa phương. Trên đường di tản, chàng gặp lại Natasha và tha thứ cho nàng. Và cũng chính Natasha đã chăm sóc cho chàng cho đến khi chàng mất. Sau trận Borodino, quân Nga rút khỏi Moskva. Quân Pháp chiếm được Moskva nhưng có tâm trạng vô cùng lo sợ. Pierre trở về Moskva giả dạng thành thường dân để ám sát Napoléon. Nhưng âm mưu chưa thực hiện được thì chàng bị bắt. Trong nhà giam, Pierre gặp lại Platon Karataev, một triết gia nông dân. Bằng những câu chuyện của mình, Platon đã giúp Pierre hiểu thế nào là cuộc sống có nghĩa. Quân Nga bắt đầu phản công và tái chiếm Moskva. Quân Pháp rút lui trong hỗn loạn. Nga thắng lợi bằng chính tinh thần của cả dân tộc Nga chứ không phải do một cá nhân nào, đó là điều Kutuzov hiểu còn Napoléon thì không. Trên đường rút lui của quân Pháp, Pierre đã trốn thoát và trở lại Moskva. Chàng hay tin Andrei đã mất và vợ mình cũng vừa mới qua đời vì bệnh. Chàng gặp lại Natasha, một tình cảm mới mẻ giữa hai người bùng nổ. Pierre quyết định cầu hôn Natasha. Năm 1813, hai người tổ chức đám cưới. Bảy năm sau, họ có bốn người con. Natasha lúc này không còn là một cô gái vô tư hồn nhiên mà đã trở thành một người vợ đúng mực. Pierre sống hạnh phúc nhưng không chấp nhận cuộc sống nhàn tản. Chàng tham gia vào những hội kín – đó là các tổ chức cách mạng của những người tháng Chạp.

“Chiến tranh và hòa bình” là bộ sử thi vĩ đại nhất của Lev Tolstoy, trước hết là vì tác phẩm đã làm sống lại thời kì toàn thể nhân dân và dân tộc gặp nhau trên chiến trường. Nhân dân là nhân vật trung tâm của toàn bộ cuốn tiểu thuyết anh hùng ca này. Qua đó, Tolstoy muốn làm nổi bật tính chất nhân dân anh hùng quyết định vận mệnh lịch sử của dân tộc. Về nghệ thuật, tác phẩm kết cấu dựa trên sự thống nhất hai mặt của chủ nghĩa anh hùng nhân dân và truyện kể lịch sử. Cốt truyện được xây dựng trên hai biến cố lịch sử chủ yếu đầu thế kỉ XIX : cuộc chiến tranh năm 1805 và 1812, đồng thời phản ánh cuộc sống hòa bình của nhân dân và giai cấp quý tộc Nga vào các giai đoạn 1805 – 1812, 1812 – 1820. Các tình tiết và cốt truyện nói trên lại kết cấu tập trung xung quanh hai biến cố lịch sử chủ yếu : chủ đề nhân dân gắn bó khăng khít với chủ đề lịch sử, và đề tài chiến tranh quán xuyến toàn bộ tác phẩm đan chéo với đề tài về hòa bình. Bởi vậy, truyện kể lịch sử cùng với chủ nghĩa anh hùng nhân dân là hai mặt cơ sở thống nhất tạo thành kết cấu hoàn chỉnh của sử thi, tạo nên mọi tình tiết trong tác phẩm và được hình tượng hóa theo quá trình xây dựng tác phẩm. Một trong những đặc điểm nổi bật khác của “Chiến tranh và hòa bình” là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật. Số phận nhân vật với những tâm trạng tinh tế đều gắn bó mật thiết với bước thăng trầm của lịch sử. Đây chính là điểm cách tân của Tolstoy về thể loại anh hùng ca, từ đó sáng tạo nên loại anh hùng ca hiện đại trong lịch sử Văn học Nga và Văn học thế giới.

Thời lượng : 484 phút (4 tập)
Tập 1 – Andrei Bolkonsky
Tập 2 – Natasha Rostova (225 phút – 1965)
Tập 3 – 1812 (104 phút – 1966)
Tập 4 – Pierre Bezukhov (125 phút – 1966)

GS Tôn Thất Trình trao đổi về ‘Chiến tranh và Hòa bình’

Giáo sư Tôn Thất Trình có những nhận xét khá thú vị về ‘Chiến tranh và Hòa bình’. Thầy viết ‘Chiến tranh và Hòa bình’ là truyện của năm gia đình : Bezukhows, Rostovs, Kuragins và Bolkonski không có gì mấy bi hài kịch tính như truyện tình của Tàu và truyện Việt. Chiến tranh và hòa bình là truyện tình thời Nga Hoàng nhưng vĩnh cữu trên Thế Giới . Nguyên văn lời bình đầy đủ của Giáo sư Tôn Thất Trình trên blog ‘The Gift’:

Thời trung học 1945 – 1950, chúng tôi chỉ đọc được các truyện Nga của Turgenev (1821- 1881), Maksim Gorky ( 1868-1936), Dostoiyevski (1821-1881) … và trong thập niên 1970 , xem được phim Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak (1890 – 1960). Lạ lùng thay không nghe nói tới truyện hay phim ‘Chiến tranh và Hòa bình’ (War and Peace) của văn hào Lev Tolstoy (1828- 1910), theo bản biên tập bình luận “Kiệt tác văn chương Thế Giới – Masterpieces of World Literature” kê khai .

Theo bản biên tập này, truyện Chiến tranh và Hòa bình rất có thể truyện kể hay nhất chưa ai viết ra được, ghi chép hàng ngày những thời kì chuyển tiếp nhau giữa Chiến tranh và Hòa bình ở nước Nga, trong hai thập niên đầu của thế kỷ thứ 19. Tolstoy có ý định viết về chuyện của một người Nga bị đày đi Siberia – Tây Bá Lợi Á , trở về năm 1856 . Hắn là một thành viên của Phong trào Tháng chạp – Decembrist , một phong trào cách mạng sáng tỏ, cố tìm cải cách hiến pháp ở Nga , trước khi chế độ Nga Hoàng đánh tan phong trào tháng chạp năm 1825 . Để hiểu rõ nhân vật anh hùng của mình hơn, Tolstoy quyết định là trước tiên ông phải viết về thời thanh niên hắn: cho nên truyện bắt đầu tháng 7 năm 1805. Độc giả lần đầu tiên gặp hắn không chắc là anh hùng là gã Pierre Bezukhov, ở một dạ tiệc thủ đô St. Peterburg . Hắn vừa trở về sinh sống ở Nga sau khi du học ngọai quốc. Vụng về nhưng hỗn láo táo tợn, lý tưởng ngờ nghệch của hắn dẫn hắn đến tranh luận chánh trị, trong đó hắn khẳng định tin rằng Nã Phá Luân – Napoleon I là “nhân vật cao cả lớn nhất Thế Giới”. Sau dạ tiệc, Pierre lui về nhà của bạn cũ là Hoàng thân – Prince Andrew Bolkonsky, và tiếp tục bàn luận về Nã Phá Luân .

Lúc đó nói chuyện về Chiến tranh cũng xảy ra ở gia thất Rostov kế cận. Nicholas, đứa con còn trẽ của Bá tước Rostov, đã quyết định gia nhập đoàn kỵ binh Âu Châu- hussards , làm tăng thêm tình yêu say mê Nicholas của cô bà con Sonia. Sau một cãi vặt về ve vãn vô hại của Nicholas với một cô gái khác, họ hôn nhau. Quan sát màn ôm hôn này là cô em Natasha của Nicholas, ranh ma, chỉ mới 13 tuổi ..

Những màn kịch sớm sủa của xã hội ăn chơi lãng phí và hạnh phúc gia đình giúp cho Tolstoy viết ra những giai đọan đầu của sách này. “Mọi chuyện chấm dứt tốt đẹp cũng đều tốt đẹp – All ‘s Well That End Well” . Tuy nhiên, khi ông viết tới những giai đọan liên can đến tàn phá của các cuộc chiến tranh Nã Phá Luân, ông trở thành triết gia nội tâm hơn . Tolstoi rút kinh nghiệm bản thân ở cuộc chiến tranh bán đảo Crimean Wars, trình bày cách nào chiến tranh bùng nổ đã quét sạch các nguyện vọng cá nhân, làm rối lọan các mối dây liên kết gia đình và thay đổi vĩnh viễn vận mệnh các quốc gia. Cho nên không lạ gì là một đề tài quan trọng cho cuốn truyện Chiến tranh và Hòa bình lại đề cập sự tìm kiếm nghĩa lý cuộc sống, mà trật tự đã bị lật ngược hoàn toàn vì chiến tranh.

Sách tụ điểm vào cuộc tìm kiếm của Pierre. Ông là một người tốtnhưng vẫn không am hiểu cuộc sống trên căn bản. Sự kiện Pierre là con bất hợp pháp nhấn mạnh đến một cảm giác bất ổn về nhận diện mình. Sức mạnh cá tính ông là ông tìm kiếm bản chất mình theo nhiều lối mòn khác nhau. Ở phần sách mở đầu, Pierre thám hiểm cuộc sống phóng đãng bằng cách tự dấn thân vào trụy lạc với các đồng bạn hoang dã. Sau đó, ông sống cuộc sống xác thịt lâu dài vớI cô Helene Kuragin xinh đẹp nhưng lạnh lùng. Khi cô Helene không thể làm khuây khỏa nổi trống trãi nội tâm ông thì ông may mắn gặp được một hội viên Tam điểm hút dẫn ông theo phong trào Tam điểm, một hội anh em hoang đường, căn cứ trên lễ nghi và cơ cấu những phường hội trung cổ lúc này rất phổ thông ở Nga và lôi cuốn các người thông minh …

Sách Chiến tranh và Hòa bình mở đầu ở Thành phố Nga St. Peterburg năm 1805, khi cuộc xâm chiếm Tây Âu của Nã Phá Luân mới khởi sự gây sợ hãi ở Nga. Rất nhiều nhân vật của sách được giới thiệu đến dự tiệc của bà chủ nhân xã hội đương thời. Trong số này là Pierre Bezukhov, như đã nói trên là một tay khờ khạo nhưng dễ thương, con bất hợp pháp của một bá tước giàu có và Andrew Bolkonski, con người thông mình đầy tham vọng của một cấp chỉ huy quân sự nghĩ hưu. Chúng ta cũng gặp gia đình Kuragin hèn hạ và nông cạn, gồm cả người cha nham hiểm Vasili, người con Anatole kẻ đào mỏ và con gái Helene, sắc đẹp mê hồn . Rồi chúng ta đươc giới thiệu với một gia đình Rostovs qúi phái MạcTư Khoa, có cô con gái sống động Natasha, cô bà con thầm lặng Sonya và con trai bốc đồng Nicholas vừa mới gia nhập quân đội do tướng Kutuzov chỉ huy .

Quân lính Nga được động viên, vì Nga liên minh với đế quốc Áo – Austrian Empire đang cố kháng cự lại cuộc tấn công của Nã Phá Luân. Cả hai Andrew và Nicholas đều đi ra tiền tuyến. Andrew bị thương ở trận chiến Austerlitz và dù sống sót, ở nhà vẫn tưởng ông chết trận từ lâu. Pierre được làm thừa kế duy nhất của gia tài cha ông và cưới cô Helene Kuragina trong một cơn mê mẫn. Helene lừa dối Pierre và Pierre thách thức kẻ cám dỗ Helene đấu súng tay đôi, trong đó Pierre gần như giết chết địch thủ. Vợ Andrew là Lisa sanh đứa con trai, khi Andrew vừa trở về nhà ở nông trang mình gây sốc cho gia đình Andrew. Lisa chết khi sanh con, để cho bà chị của Andrew là Mary nuôi con trai này. Trong khi đó Pierre thất vọng về cuộc sống vợ chồng , rời bỏ vợ và trở thành liên quan đến thủ tục tinh thần của hội Tam Điểm . Pierre cố gắng áp dụng các dạy bảo thủ tục khi xử lý nông trang và chia sẻ các dạy bảo này cùng bạn. An drew ngờ vực nhiều, vì Andrew đang giúp đỡ chánh phủ cải cách .

Trong khi tài sản gia đình Rostov đang mất dần, một phần do nợ đánh bạc của Nicholas . Rostovs dự trù bán trang trại gia đình đáng quí của họ là Otradno. Nicholas được khuyến khích thành hôn cùng một bà thừa kế giàu có, dù trước đó đã đính hôn cưới Sonya. Nicholas tiếp tục binh nghiệp và chứng kiến hòa bình to lớn giữa Nã Phá Luân và Nga Hoàng Tsar Alexander. Natasha khôn lớn lên dự cuộc khiêu vũ đầu tiên của cô và sa ngã yêu đương cùng nhiều đàn ông, trước khi dính chặt nặng nề với Andrew. Cha của Andrew chống đối hôn nhân này và đòi hỏi Andrew chờ đợi một năm trước khi cưới Natasha . Natasha miễn cưỡng đồng ý và Andrew đi du lịch xa .

Sau khi Andrew ra đi, cha ông trở nên dễ cáu kỉnh và độc ác với Mary; cô này chấp nhận mọi ác độc với lòng tha thứ củaThiên Chúa Giáo. Natasha bị Anatole Kuragin hút dẫn và anh ta thú nhận yêu cô. Rồi cô quyết định là cô yêu Anatole và dự tính bỏ trốn theo người yêu, nhưng dự tính thất bại . Andrew trở lại nhà và xua đuổi Natasha vì đã tằng tịu với Anatole . Pierre an ủi Natasha và cảm thấy bị cô ta hút dẫn. Natasha trở bịnh .

Năm 1812, Nã Phá Luân xâm chiếm Nga và Nga Hoàng Alexander I miễn cưỡng tuyên chiến. Andrew trở lại binh nghiệp tích cực. Pierre quan sát phản ứng Moscow đối với đe dọa Nã Phá Luân và phát huy một cảm giác điên cuồng là Pierre có nhiệm vụ phải ám sát Nã Phá Luân. Quân Pháp tiến tới nông trang Bolkonski và Hoàng thân Bolkonski già nua (cha của Andrew ) được khuyến cáo rời bỏ nông trang. Hòang thân chết ngay khi quân Pháp tới. Mary cuối cùng bị bắt buộc phải rời nông trang mình, nhận thức là nông dân địa phương phản đối. Nicholas bỗng nhiên cưỡi ngựa đến và cứu Mary. Mary và Nicholas cảm giác một mối tình lãng mạn khuấy động .

Quân Nga và quân Pháp đánh nhau một trận quyết định ở Borodino, nơi quân Nga dù nhỏ bé hơn, đánh bại không giải thích được các lực lượng Pháp, làm Nã Phá Luân chán nản vô cùng. Ở St. Peterburg đời sống khung cảnh xã hội cao cấp tiếp tục, hầu như không bị ảnh hưởng gì đến Pháp chiếm đóng Moscow. Helene tìm cách hủy bỏ hôn nhân của bà với Pierre, để kết hôn với một hoàng thân ngọai quốc. Đau khổ vì tin tức này, Pierre hóa điên và chạy trốn bè bạn, lang thang một mình ở Moscow. Cuối chuyện là hôn nhân giữa Pierre và Natasha năm 1813.

Tóm lại, Chiến tranh và Hòa bình là truyện năm gia đình Bezukhows, Rostovs, Kuragins và Bolkonskki, không nhiều bi hài kịch tính như truyện Tàu Lôi Vũ của Lỗ Tấn, như các truyên Việt Nam Công chúa Trần Huyền Trân với vua Chiêm Thành và tướng Trần Khắc Chung: “Đừng về Chiêm quốc nhé Huyền Trân !”, như bà Chúa Chè với Trịnh Sâm, như Công chúa Ngọc Hân nhà Lê với Nguyễn Huệ vua Quang Trung, vua Gia Long, như truyện Công Nương Ngọc Khoa với vua Miên, như Chuyện Tám Bính Bỉ Vỏ Nguyên Hồng, như Đoạn Tuyệt của Nhất Linh như “Anh Phải sống” của Khái Hưng …” Yếu tố bản tính Nga đất nước và con người, sử thi và văn hóa trong tác phẩm lớn trường cửu Chiến tranh và Hòa bình.

Hoàng Kim với đôi điều suy ngẫm

Con người và sự kiện năm tháng: George Washington, Lev Tolstoy, Mao Trạch Đông, Phan Châu Trinh với ngày 9 tháng 9 ngẫu nhiên có sự kiện trùng hợp: Ngày 9 tháng 9 năm 1791, tại nước Mỹ, thủ đô Washington, D.C. được đặt theo tên George Washington tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên; Ngày 9 tháng 9 năm 1828 là ngày sinh Lev Tolstoy, nhà văn Nga, tác giả của kiệt tác “Chiến tranh và hòa bình” đỉnh cao văn chương Nga và Thế giới; Ngày 9 tháng 9 năm 1872 là ngày sinh của Phan Châu Trinh, chí sĩ, nhà văn, nhà thơ Việt Nam; Ngày 9 tháng 9 năm 1976 là ngày mất của Mao Trạch Đông, lãnh tụ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bốn nhân vật lịch sử trên đây ảnh hưởng to lớn đến lịch sử văn hóa của bốn dân tộc và nhân loại. Họ nếu sinh ra đồng thời và sống chung cùng một chổ liệu họ có trở thành những người bạn chí thiết? George Washington, Lev Tolstoy, Phan Châu Trinh ba người đều có quan điểm triết học thiên về tiến hóa, bảo tồn và phát triển nhưng Mao Trạch Đông thi lại có quan điểm triết học thiên về cách mạng, cải tạo con người, cải tạo xã hội. Một bên năng về xây, một bên năng về chống. Mao Trạch Đông bình sinh kính trọng George Washington, Lev Tolstoy nhưng thích quan điểm cách mạng của Karl Marx và Vladimir Lenin hơn. Mao Trạch Đông nghiên cứu sâu sắc triết học phương Tây và phương Đông nhưng văn chương thì yêu thích nhất là kiệt tác Thủy Hử và Tam Quốc Diễn Nghĩa. Ông khi ở trên đỉnh cao quyền lực thì cuốn sách không rời tay là “Tư trị Thông giám” học về thuật cai trị của đế vương, nhằm tìm trong sự rối loạn của lịch sử những quy luật và mưu lược kinh bang tế thế. Mao chủ trương “cách mạng gia tộc, cách mạng sư sinh (thầy và trò)“. Ông chủ trương: “Cách mạng không thoát khỏi chiến tranh, mới có thể xóa cũ lập mới”. Tháng 8 năm 1917, Mao đã viết thư cho học giả Bắc Kinh nói lên sự cần thiết của triết học Trung Quốc. Ông nói: “Đây không phải là vấn đề lấy triết học của phương Tây để thay thế, bởi vì dân chủ của giai cấp tư sản phương Tây đã không đủ khả năng giải quyết vấn đề của nhân loại. Cho nên tư tưởng phương Tây, phương Đông phải biết cách lợi dụng. Ý của tôi là tư tưởng phương Tây vẫn chưa đầy đủ, trong đó có nhiều bộ phận phải được cải tạo đồng thời với tư tưởng phương Đông. Vấn đề mấu chốt ăn sâu vào tim óc và tiềm thức của Mao Trạch Đông là cách mạng, là nổ lực cải tạo Trung Quốc, cải tạo Thế Giới.

Thế giới đang đổi thay. Những người theo quan điểm thực dụng, hiện sinh đang chen lấn với những người cách mạng, bạo lực và các xu hướng vị kỷ, tôn thờ tự do cá nhân, xã hội dân sự, dân chủ …“Chiến tranh và hòa bình” kiệt tác của Lev Tolstoy, cần đọc lại và suy ngẫm.

LEV TONSTOY MINH TRIẾT CHO MỖI NGÀY

Peter Serikin nhận xét bộ ba tập sách ‘Minh triết của hiền nhân’ 1903  (The Thoughts of Wise Men) ; Một chu kỳ đọc (A Circle of Reading’ 1906; Minh triết cho mỗi ngày 1909 (Wise Thoughts for Every Day) dường như phát triển sau khi Lev Tonstoy bệnh nặng và phục sinh như một phép lạ cuối năm 1902. Bộ ba này của Tonstoy hết sức phổ biến từ lần xuất bản thừ nhất vào năm 1903 cho đến năm 1917. Rồi cả ba cuốn đều không được xuất bản trong suốt thời kỳ gần 80 năm vì nội dung tôn giáo của chúng, Và được xuất hiện trở lại gần đây sau sup đổ của Liên bang Xô Viết.

Sách ‘Suy niệm mỗi ngày’ nguyên tác tiếng Nga của Lev Tonstoy do Đỗ Tư Nghĩa  dịch từ bản tiếng Anh ‘Wise Thoughts for Every Day’ của Peter Serikin xuất bản ở New York Mỹ từ năm 2005 và, Bản quyền bản tiếng Việt của Công ty THHH  Văn Hóa Khai Tâm 2017. Hành trình cuốn sách này đến Việt Nam khá muộn  nhưng may mắn thay những tư tưởng minh triết của nhà hiền triết Lev Tonstoy đã tới chúng ta gợi mở cho sự suy ngẫm ‘minh triết cho mỗi ngày’ cùng đồng hành với người thầy hiền triết vĩ đại.

“Hãy luôn luôn hạnh phúc và sung sướng” Lev Tonstoy khuyên chúng ta phải có Đức tin, hãy  tuân theo quy luật của sự thiện và luôn nhớ câu cách ngôn cổ của người Do Thái: “Linh hồn của một người là ngọn đèn của Thượng đế“.  Minh triết cho mỗi ngày là một kho tàng minh triết tinh túy. Đọc lại thật kỹ Ki tô giáoHồi giáo,Do Thái giáo,Phật giáoNho giáoĐạo giáo, … và chiêm nghiệm thực tiễn , Hoàng Kim thấm thía câu kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn chứ không phải là con người thần thánh hay chân lý tuyệt đối. Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông có minh triết: Quay về tự thân không tìm đâu khác. Hoàng Kim noi theo cảm nhận của những người Thầy lớn minh triết để mình tự thắp lên ngọn đèn trí tuệ của chính mình.

CUỐI MỘT DÒNG SÔNG LÀ CỬA BIỂN
Hoàng Kim


Nhớ lời dặn của Đức Nhân Tông
“Quay về tự thân không tìm đâu khác”
Lev Tonstoy minh triết cho mỗi ngày 
“Hãy luôn hạnh phúc và sung sướng”

Cuối một dòng sông là cửa biển
Cuối một cuộc tình là yêu thương
Đức tin phục sinh thánh thiện
Yêu thương mở cửa thiên đường.

Xem tiếp: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-song-thung-dung-phuc-hau/

Hoàng Kim
NHẠC THIỀN – TĨNH TÂM – AN NHIÊN TỰ TẠI. – YouTube
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Thơ Tứ tuyệt Hoàng Kim

THƠ XUÂN NGÀY GIÁP TẾT
Hoàng Kim

Tôi chia em một ban mai
Vui bên cha mẹ một ngày nắng xuân
Tôi chia em một trong ngần
Yêu thương sống giữa người thân ân tình.

xem tiếp CNM365. Chào ngày mới 26 tháng 1 Thơ xuân ngày giáp Tết;




TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Ban Mai
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook  Kim on Twitter

Nhớ kỷ niệm một thời

ĐỒNG ĐỘI
Hoàng Kim


Bộ môn CLT RHQ đồng phục hôm nay
Gương mặt thời gian 40 năm hòa chung đồng đội.
Thầy Tôn Thất Trình là người Thầy thế hệ đầu tiên
Bạn Nguyễn Phu bận chụp hình tiếc không có ảnh.

Cảm ơn Tam Pham tặng áo ‘đồng đội’ .
Sắc áo thanh xuân sáng một tầm nhìn.
Chúc mừng mọi người hạnh phúc vui xuân.
Nôi yêu thương có một ngày như thế .

Thầy cô giáo già vui mà trẻ lại
Sức trẻ vươn lên ngày một vững vàng
Đồng đội nghĩa tình ấm áp mùa xuân
Hoa Đất Hoa Người Tình yêu cuộc sống


xem tiếp Thầy bạn trong đời tôi https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim

Sớm mai dọn vườn ngắm mai nở
Nhớ Lev Tonstoy ‘suy niệm mỗi ngày’
Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Thung dung Ngày xuân đọc Trạng Trình.

Vui ngây ngất thơ ‘Đêm luân lưu’
Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS
Thích sắn KM là ‘KIM không I
Hoa Lúa (HL) Hoa Người Hoa Đất

Nhớ OM OMCS thơ vui đời thường
‘Em giữ nồng nàn ở trong ngực ấm
Để tiết đại hàn trời lạnh cắt da
Thơ cho đời và nắng cho thơ’

Sớm mai dọn vườn ngắm mai nở
Đức Phật trong cây vườn cổ tích
Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe
Tỉnh thức con đường xanh Norman Borlaug.

Ngọc phương Nam hứng mật đời thành thơ
việc nghìn năm hữu lý Trạng Trình
đến Trúc Lâm đạt năm việc lớn hoàng thành
đất trời xanh Yên Tử

Nhớ kỷ niệm một thời

EM TÔI HOA VÀ ONG
Hoàng Kim
Chào ngày mới ong vàng say làm mật
Mai táo lê xòe nụ giữa đông tàn
Hoa khoe sắc lung linh ong cần mẫn
Trải giao mùa giá rét đón xuân sang.

TIẾT ĐẠI HÀN
Hoàng Kim
Sau đông chí là những ngày trời lạnh
Ngày 4 tháng Hai tới tiết Lập Xuân
Lặt lá mai cho hoa xòe đúng Tết
20 tháng Hai Thiên Địa Nhân hòa .…

NĂM THÁNG ĐÓ LÀ EM
Hoàng Kim
Đất cảm trời thương, lòng người gắn bó
Dẫu khó vạn lần khéo liệu cũng xong
Em đừng ngại mùa Xuân rồi lâu đến
Bởi biết rằng năm tháng đó là em.

ĐÊM LUÂN LƯU
Hoàng Kim
Đêm luân lưu phập phồng vui trở gió
Vào rồi em vui ngây ngất vỡ òa
Hóng toàn tập viết tiếp đi bình lựng
Kỳ tích rồi ta mãi là ta.

TRĂNG RẰM
Hoàng Kim
Trăng sáng lung linh trăng sáng quá
Đất trời lồng lộng một màu trăng
Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
Trăng vẫn là trăng trăng vẫn rằm

Cám ơn sự đồng cảm của Nguyễn Thị Trúc Mai, Huỳnh Nguyễn, Nga Lê, Phuong Lien Nguyen, Phan Kim, Nguyễn Thị Thoa, Hách Chu Văn , Quang Ngọc Nguyễn và các bạn, Hoàng Kim tới luôn THƠ TỨ TUYỆT HOÀNG KIM cho ngày 20 tháng 1 Tiết Đại Hàn, Trăng rằm (đêm nay là 15 tháng Chạp), Đêm luân lưu

Phạm Tiến Duật chim lửa Trường Sơn

PHẠM TIẾN DUẬT CHIM LỬA TRƯỜNG SƠN
Hoàng Kim

Phạm Tiến Duật sinh ngày 14 tháng 1 năm 1941 mất năm 2007, quê gốc ở thị xã Phú Thọ, là nhà thơ lớn thời chống Mỹ ‘con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại’, ‘cây săng lẻ của rừng già’. Thơ anh mãi mãi tuổi thanh xuân từng được đánh giá là ‘có sức mạnh của một sư đoàn’. Nhà thơ Vũ Quần Phương trên trang Thi Viện của chủ bút Đào Trung Kiên đã có lời bình thật lắng đọng ‘Phạm Tiến Duật…tốt nghiệp đại học sư phạm Văn, chưa đi dạy ngày nào, ông nhập ngũ (1965). Mười bốn năm trong quân đội thêm tám năm ở Trường Sơn, đoàn vận tải Quang Trung 559. Có thể nói: Trường Sơn đã tạo nên thơ Phạm Tiến Duật, và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ. Nói đến đề tài Trường Sơn đánh Mỹ, người ta không thể quên Phạm Tiến Duật và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất cũng ở chặng Trường Sơn. Chiến tranh đã qua một phần tư thế kỷ, tâm hồn thơ Phạm Tiến Duật vẫn chưa ra khỏi Trường Sơn. Những bài thơ anh viết hôm nay vẫn còn vang ngân lắm hình bóng của Trường Sơn. Phạm Tiến Duật có giọng thơ không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được“.

Trang thơ Phạm Tiến Duật trên Thi Viện Đào Trung Kiên có đường dẫn 31 bài:

Vầng trăng quầng lửa (1970)

Ở hai đầu núi (1981)

Tôi (Hoàng Kim) yêu thích nhất 5 bài thơ của Phạm Tiến Duật là “Nhớ”, “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Lửa đèn”; “Đèo Ngang”. Trong 5 bài này có hại bài thơ “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là đã được phổ nhạc, tôi không cần chép lại vì đã quá phổ biến và được nhiều người thích,. Tôi chỉ chép lại ba bài ấn tượng và một chút cảm nhận ghi chú của riêng mình.

“Nhớ” Phạm Tiến Duật là một tứ tuyệt hay ám ảnh.

NHỚ
Phạm Tiến Duật
Lời một chiến sỹ lái xe

Cái vết thương xoàng mà đi viện
Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.
1969

Hai bài thơ Hoàng Kim năm 1970 “Lên đỉnh đèo Ngang ngắm biển“, “Rừng lau quê hương” có sự liên tưởng và xúc động bởi bài thơ này.

LÊN ĐỈNH ĐÈO NGANG NGẮM BIỂN
Hoàng Kim

Đèo chạy vắt ngang ôm biển lớn
Hoành Sơn chân rảo nhẹ bồi hồi
Trên núi hoa rừng muôn cánh nở
Dưới sông chim biển vạn nhành thoi
Ầm ầm xe lướt âm vang đất
Lớp lớp mây bay cuốn rợp trời
Núi giăng biển uốn thành đồ trận
Lặng nhìn thêm thẹn chí làm trai
1970

RỪNG LAU QUÊ HƯƠNG
Hoàng Kim

Trập trùng núi cao cao
Bên dốc vực sâu sâu
Gió ngàn về hun hút
Thổi dậy ngàn bông lau

Ôi bông lau quê hương
Trắng lòa như tuyết xuống
Theo suối quân lên đường
Trẩy đi dài cuồn cuộn

Phải cha ông thức dậy
Cùng cháu con lên đường
Mà nghe rừng lau chuyển
Như muôn nghìn gươm khua.

Qua bao nhiêu đèo cao
Vẫn cờ lau bát ngát
Hay vua Đinh ngày xưa
Soi ta đi đánh giặc?

Giữa đỉnh trời cao ngất
Mới hiểu lòng ông cha
Bắc Nam liền một dãi
Non sông chung một nhà.

(*) Hoàng Kim rút trong chùm thơ Nhớ Hoa Lau

“Đèo Ngang” thơ Phạm Tiến Duật có thi tứ mới cũng là một bài thơ hay:
ĐÈO NGANG
Phạm Tiến Duật

Pháo tàu địch đêm đêm nhằm bắn
Đèo vẫn nguyên lành nằm với biển reo
Nhà như lá đa rơi lưng chừng dốc
Sông suối từ đâu đổ xuống lưng đèo.

Đường nhằm hướng Nam,
Người nhằm hướng Nam,
Xe đạn nhằm hướng Nam
vượt dốc.

Bao nhiêu người làm thơ Đèo Ngang
Mà quên mất con đèo chạy dọc.

Bài thơ Đèo Ngang này tôi cũng thích, nhưng “Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ” có nhiều bài hay hơn. Đặc biệt bài ‘Qua đèo Ngang’ bà huyện Thanh Quan là kiệt tác. Chùm thơ tuyển mới về đèo Ngang có chùm thơ xướng họa ‘bốn ông họa bốn bài thơ đều họa đèo Ngang cảnh hiểm’ mà tôi đã kể trong bài “Qua đèo chợt gặp mai đầu suối’ là chùm thơ hay ‘Qua Đèo Ngang’ Hoàng Ngọc Dộ cũng thật hay; Qua Đèo Ngang (bác Xuân Thủy đọc chưa rõ tác giả) và bài thơ họa ‘Đón khách anh hùng vào tuyến lửa’ của ông Nguyễn Tư Thoan bí thư tỉnh ủy Quảng Bình năm 1970 cũng thật tuyệt ! “Thăm đèo Ngang gặp bác Xuân Thủy” của Hoàng Kim mà thầy Nguyễn Khoa Tịnh trích dẫn trong bài “Em ơi em can đảm bước chân lên” với tôi là một sự lắng đọng.

‘Lửa đèn’ Phạm Tiến Duật là sử thi anh hùng dân tộc Việt với âm hưởng và tiếng dội của bài thơ này thật lớn.
LỬA ĐÈN
Phạm Tiến Duật

I – ĐÈN

Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
Quả cây chín đỏ hoe
Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
Trỏ lối sang mùa hè,
Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu
Thắp mùa đông ấm những đêm thâu,
Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu
Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng…
Mạch đất ta dồi dào sức sống
Nên nhành cây cũng thắp sáng quê hương
Chúng nó đến từ bên kia biển
Rủ nhau bay như lũ ma trơi
Từ trên trời bảy trăm mét
Thấy que diêm sáng mặt người
Một nghìn mét từ trên trời
Nhìn thấy ngọn đèn dầu nhỏ bé
Tám nghìn mét
Thấy ánh lửa đèn hàn chớp loé
Mà có cần đâu khoảng cách thấp cao
Chúng lao xuống nơi nao
Loé ánh lửa,
Gió thổi tắt đèn, bom rơi máu ứa.
Trên đất nước đêm đêm
Sáng những ngọn đèn
Mang lửa từ nghìn năm về trước,
Lấy từ thuở hoang sơ,
Giữ qua đời này đời khác
Vùi trong tro trấu nhà ta.
Ôi ngọn lửa đèn
Có nửa cuộc đời ta trong ấy!
Giặc muốn cướp đi
Giặc muốn cướp lửa tim ta đấy

II – TẮT LỬA

Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi tắt lửa đêm đêm khiến đất trời rộng quá
Không nhìn thấy gì đâu
Bóng tối che rồi
Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi
Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói
Bông hoa làm duyên phải luỵ hương bay…
Bóng tối phủ dày
Che mắt địch
Nơi tắt lửa là nơi vang rền xe xích
Kéo pháo lên trận địa đồng cao
Tiếng khẩu đội trưởng ở đâu
Đấy là đuôi khẩu pháo
Tiếng anh đo xa điểm đều
Vang ở đâu, đấy là giữa điểm đồ
Nơi tắt lửa là nơi in vết bánh ôtô,
Những đoàn xe đi như không bao giờ hết,
chiếc sau nối chiếc trước ì ầm
Như đàn con trẻ chơi u chơi âm
Đứa này nối hơi đứa khác.

Nơi tắt lửa là nơi dài tiêng hát
Đoàn thanh niên xung phong phá đá sửa đường;
Dẫu hố bom kề bên còn bay mùi khét
Tóc lá sả đâu đó vẫn bay hương
Đêm tắt lửa trên đường
Khi nghe gần xa tiếng bước chân rậm rịch
Là tiếng những đoàn quân xung kích
Đi qua.
Từ trong hốc mắt quầng đen bóng tối tràn ra
Từ dưới đáy hố bom sâu hun hút
Bóng tối dâng đầy toả ngợp bao la,
Thành những màn đen che những bào thai chiến dịch
Bóng đêm ở Việt Nam
Là khoảng tối giữa hai màn kịch
Chứa bao điều thay đổi lớn lao,

Bóng đêm che rồi không nhìn thấy gì đâu
Cứ đi, cứ đi nghe lắm âm thanh mới lạ.

III – THẮP ĐÈN

Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi đêm ngày giặc điên cuồng bắn phá
Những ngọn đèn vẫn cứ thắp lên
Chiếc đèn chui vào ống nứa
Cho em thơ đi học ban đêm,
chiếc đèn chui vao lòng trái núi
Cho xưởng máy thay ca vời vợi,
Chiếc đèn chui vào chiếu vào chăn
Cho những tốp trai làng đọc lá thư thăm

Ta Thắp đèn lên trên đỉnh núi
Gọi quân thù đem bom đến dội
Cho đá lở đá lăn
Lấy đá xây cầu, lấy đá sửa đường tàu
Ta bật đèn pha ôtô trong chớp loè ánh đạn
Rồi tắt đèn quay xe
Đánh lạc hướng giặc rồi ta lại lái xe đi…
Ngày mai, ngày mai hoàn toàn chiến thắng
Anh dắt tay em, trời chi chit sao giăng
“Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm”
Ta thắp đèn lồng, thắp cả đèn sao năm cánh
Ta dẫn nhau đến ngôi nhà đèn hoa lấp lánh
Nơi ấy là phòng cưới chúng mình

Ta sẽ làm cây đèn kéo quân thật đẹp
Mang hình những người những cảnh hôm nay
Cho những cuộc hành quân nào còn trong bóng tối
Sẽ hiện muôn đời trên mặt ngọn đèn xoay.
1967

Ghi chú của Phạm Tiến Duật : Hồi cuối năm 1966 tại Tây Bắc, tôi (PTD) đã có mấy tháng là pháo thủ pháo cao xạ (tiểu đoàn 24 trực thuộc Quân khu). Ấy thế mà còn viết nhầm. Do khi viết cứ mê đi, mụ đi mà nhầm. Ấy là dòng này “Tiếng anh đo xa điểm đều như đếm nhịp chày giã gạo”. Những dòng trên đã cho thấy pháo đây là pháo tầm thấp. Ban đêm làm sao dùng được máy đo xa bằng mắt thường. Nhưng thôi, không sửa. Đã là cuộc đời thì hẳn có tì vết.

Nguồn: Thơ Phạm Tiến Duật, NXB Hội nhà văn, 2007

Thắp đèn lên đi em” của Hoàng Kim là sự ảnh hưởng tiếp nối của sự thắp đèn này.

THẮP ĐÈN LÊN ĐI EM !
Hoàng Kim

Em đã học nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí
Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối, giữa đêm trường ta học
Vũ trụ bao la đèn em là hạt ngọc
Cùng sao khuya soi sáng mảnh đất này
Dù sớm chiều em đã học hăng say
Dù ngày mệt chưa một hồi thanh thản
Đèn hãy thắp sáng niềm tin chiến thắng
Em thắp đèn lên cho trang sách soi mình.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối giữa đêm trường ta học
Em đâu chỉ học bằng ánh mắt
Mà bằng cả lòng mình, cả khối óc hờn căm
Thù giặc giết cha, bom cày sập tung hầm
Nhà tan nát, sân trường đầy miệng hố
Hãy học em ơi, dù ngày có khổ
Lao động suốt ngày em cần giấc ngủ ngon
Nhưng đói nghèo đâu có để ta yên
Và nghị lực nhắc em đừng ngon giấc
Nợ nước thù nhà ngày đêm réo dục
Dậy đi em, Tổ quốc gọi anh hùng.

Thắp đèn lên đi em!
Xua tăm tối giữa đêm trường ta học
Mặc cho gió đêm nay lạnh về tê buốt
Tấm áo sờn không đủ ấm người em
Vùng dậy khỏi mền, em thắp ngọn đèn lên
Để ánh sáng xua đêm trường lạnh cóng
Qua khổ cực càng yêu người lao động
Trãi đói nghèo càng rèn đức kiên trung
Em đã đọc nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí
Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin.

Thắp đèn lên đi em!
1971

Nhớ ơn “Lời Thầy dặn” Tagore bậc hiền triết phương Đông: “Hãy cảm ơn ngọn đèn tỏa sáng, nhưng chớ quên người cầm đèn đang kiên nhẫn đứng trong đêm” Lời Thầy dặn của Norman Borlaug nhà khoa học xanh đối với Hoàng Kim ‘Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời” khích lệ ta dấn thân chuyển lửa cho thế hệ trẻ

Phạm Tiến Duật chim lửa Trường Sơn là thơ của một thời. Thơ Phạm Tiến Duật là thơ của thế hệ cầm súng chúng tôi. Chúng tôi biết ơn anh về điều ấy.

Phạm Tiến Duật chim lửa Trường Sơn, lời tri âm thầm lặng

Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam

BÙI HUY ĐÁP LÚA XUÂN VIỆT NAM
Hoàng Kim


Bùi Huy Đáp (1919- 2004) là giáo sư, nhà nghiên cứu nông học, Hiệu trưởng đầu tiên của Học Viện Nông nghiệp Việt Nam , Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Ông quê ở Nam Định, là người đi đầu xây dựng nền khoa học nông nghiệp Việt Nam theo đường lối quần chúng. Ông được Nhà nước Việt Nam trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996 với thành tích “Sáng tạo vụ lúa xuân ở miền Bắc”. “Lúa xuân, xuân mãi không già”. Lúa xuân Việt Nam gắn với GS. Bùi Huy Đáp và những người thầy Hai Lúa của thế hệ đầu tiên Nước Việt Nam Dân chủ Công hòa. Xin trân trọng giới thiệu bài viết “Giáo sư Bùi Huy Đáp” của Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Luật, Anh hùng Lao động, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (đã gửi email bài viết này cho trang Dạy và học). Và hai bài viết “Bùi Huy Đáp và Cây lúa Việt Nam” của Phạm Ngọc Khảnh, trên blog Trần Mỹ Giống; “Về thăm quê người sáng tạo lúa xuân miền Bắc” của Phạm Trọng Thanh, trên báo Tổ Quốc.

GIÁO SƯ BÙI HUY ĐÁP
GSTS. Nguyễn Văn Luật

1. TƯỞNG NHỚ VÀ TRI ÂN
1.1. Thầy Đáp là thủ trưởng đầu tiên của nhiều cơ quan giáo dục, khoa học ngành Nông nghiệp.

Nếu tính từ khi thành lập Học viện Nông Lâm, 1956, tiền thân của Đại học Nông nghiệp và Học viện Nông nghiệp Việt Nam ngày nay, thì thầy Đáp là một trong những thầy dạy sinh viên đại học nông nghiệp đầu tiên, đồng thời là Hiệu trưởng Đại học Nông Lâm đầu tiên. Cùng dạy khóa 1 với thầy Đáp có nhiều thầy khác, như các cố GSTS Lương Định Của, Lê Duy Thước, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Đinh Văn Hớn, Nguyễn Xiển, Lê Khả Kế, Phạm Gia Tu, Nghiêm xuân Tiếp, Hoàng Văn Đức, Trịnh Văn Thịnh.

Nếu kể đến người có công đặt nền móng cho hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp thì Thầy Đáp cũng là người đứng hàng đầu trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược ở Viện Trồng trọt từ 1952, thời kỳ sau hòa bình ở Viện Khảo cứu Nông Lâm từ 1960. Khi Học viên Nông Lâm tách ra thành Đại học Nông nghiệp đóng ở Trâu Qùy, Gia Lâm Hà Nội; Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam tiếp tục ở lại Văn Điển đến ngày nay, thì Thầy Đáp là Viện trưởng đầu tiên. Kế nhiệm thầy Đáp là GS Vũ Công Hậu, GSVS Đào Thế Tuấn, PGS.TS Nguyễn Văn Bộ và nay là PGS.TS Trịnh Khắc Quang.

Từ hai Viện và Trường về nông nghiệp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước ta thành lập hàng chục Viện và Trường, dựa vào nhân lực chủ chốt của hai cơ sở đào tạo và nghiên cứu trên. Việc đào tạo nhân lực quản lý và nghiên cứu viên khoa học và giảng dạy tất nhiên là có công đóng góp của thầy Đáp. Tôi mới được nghe nói Thầy đã được đúc tượng ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

1.2. Thầy Đáp với sự nghiệp giáo dục và khoa học bằng nghiên cứu thí nghiệm bài bản, xuất phát từ thực tế có ích cho sản xuất, lợi cho nông dân.

Về nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp

Thầy Đáp đã để lại cả ngàn bài báo, hàng mấy chục cuốn sách. Thầy đã thiết kế, chỉ đạo hướng dẫn thực hiện và trực tiếp tổng kết những kết quả nghiên cứu chu đáo, lập luận chặt chẽ, đã đúc rút ra những kết luận góp phần phát triển sản xuất và có ý nghĩa khoa học.

Trong số nhiều công trình KHCN về NN của Thầy Đáp, tôi xin lấy một ví dụ thuộc phạm vi vi mô: “Mật độ cấy”. Đọc những tư liệu, những bài viết của Thầy, thì thấy Thầy đã thiết kế và trực tiếp hướng dẫn thực hiện khá nhiều thí nghiệm yếu tố về cấy dầy cấy thưa với tuổi mạ khác nhau, trên nền phân bón khác nhau, về sự liên quan với đất đai và giống lúa khác nhau, và ở các vùng miền khí hậu khác nhau. Những ghi chép sự phát triển của từng bộ rễ, của mỗi lá lúa, các yếu tố năng suất hạt thóc mẫy, hạt thóc lép, và năng suất sinh học, năng suất kinh tế; cùng những kết quả phân tích đất, khí hậu ở các vùng nghiên cứu cùng thời tiết diễn biến hàng ngày… đều được Thầy nghiên cứu so sánh, hệ thống, tổng kết và rút ra nhiều điều bổ ích, mang tính khuyến nông hấp dẫn và bổ sung thực tế cho giáo trình giảng dạy, là tài liệu, tư liệu qúy cho nghiên cứu khoa học.

Từ những gì thu lượm được, Thầy Đáp rút ra được những điều chung nhất mang tính chỉ đạo thực thi kỹ thuật cụ thể không chỉ riêng cho mật độ gieo cấy: Về mặt mật độ cấy lúa, Thầy đã chỉ ra mối quan hệ giữa khóm lúa và ruộng lúa, trong ruộng lúa là mối quan hệ biện chứng giữa cá thể và quần thể, thể hiện: nếu gieo cấy dầy thì bông lúa ít hạt và ngược lại, nếu mật độ thưa thì bông dài nhiều hạt hơn. Cho nên, trong mỗi điều kiện cụ thể có một mật độ thích hợp. Sau giải phóng tôi vào Nam công tác thấy vùng U Minh Thượng và Hạ có nơi chỉ cấy có 4 khóm/ 1 m2, vẫn đạt 3 – 4 tấn ha và hơn; cấy dầy hơn bị lốp đổ, không được hạt thóc nào!.

Hồi đó, kể cả sau đó một số năm, nhiều chuyên gia cao cấp đi chỉ đạo sản xuất có tính toán với địa phương và nông dân, với cách tính khô cứng chẳng ai làm theo: cấy thêm bao nhiêu khóm lúa thì sẽ tăng thêm bấy nhiêu bông thóc, do đó tăng năng suất và sản lượng lương thực. Cách tính này tựa như cách tính diệt chim sẻ mổ thóc ăn thì giảm được thất thoát, tăng sản lượng! Cao điểm nhất của trào lưu mơ hồ này là “Cấy dồn” như cố nhà văn Tô Hoài viết trong truyện dài “Ba người khác” thời cải cách ruộng đất: nhổ nhiều ruộng mạ và cả lúa đang trỗ cấy dồn vào một ruộng, là theo thông tin từ một cán bộ cao cấp nào đó đi Trung Quốc mang về, không được nghĩ khác, nói khác và làm khác!.

Học viện Nông Lâm chúng tôi có làm một ruộng mẫu; có nhiều địa phương, đến cả nhiều xã cũng làm. Như tôi biết thì có một số trường hợp dám tỏ ra không tán thành. Ở tỉnh Vĩnh Phú có Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc; ở tỉnh Thái Bình có Bí thư Tỉnh ủy Ngô Duy Đông, Chủ tịch tỉnh Nguyễn Ngọc Trìu không tán thành và không làm theo, nên trong cuộc họp bị nêu là tỉnh “cứng đầu cứng cổ” (Thầy Đáp kể lại). Khá nhiều ô tô, cả ô tô Vôn ga đen từng đoàn về thăm. Đến vài ba ngày sau cấy, và rồi chỉ vài ngày sau nữa thì thưa dần và ngừng hẳn khi cả ruộng lúa chết gục thối nhũn, mặc dù Nhà trường mắc một hệ thống gồm rất nhiều quạt kéo bằng cót, sinh viên chúng tôi phải thay nhau kéo kẽo cà kẽo kẹt suốt ngày suốt đêm!. Bí thư Đảng ủy Quế (tôi quên họ) của Học viện là cán bộ chính trị rất duy lí trí trực tiếp chỉ đạo sinh viên chúng tôi làm một cách có tổ chức: có lí lịch tốt thì được cấy dồn (phần lớn sau này đi Trung Quốc học); có lí lịch trong sạch thì được nhổ lúa; còn chúng tôi, gồm cả nữ sinh viên chỉ được vận chuyển!

Thầy Đáp đứng ngoài cuộc! Tôi còn nhớ, có một đêm trăng Thầy đi ô tô đến, đứng ở đầu ruộng, ngó qua cảnh nhộn nhịp cấy dồn, rồi lên xe đi!.

Về hoạt động giảng dạy

Thầy Đáp cũng để lại nhiều ấn tượng. Giáo trình sinh lý thực vật do Thầy Đáp giảng cho sinh viên khóa Một chúng tôi không chỉ về khoa học kỹ thuật, mà cả chục tiết về triết học từ cổ đại đến hiện đại. Quan niệm của Socrate, của Platon, của Aristote… thời cổ đại, chủ trương hợp tác giai cấp, tựa như Chính phủ đa thành phần của Bác Hồ hồi sau cách mạng Tháng Tám. Khác với đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản của Marx- Lenin. Chúng tôi nhớ mãi bài kiểm tra mà hầu hết chúng tôi được điểm 1, điểm thấp nhất trong hệ thang điểm 10: Thầy cho biết phạm vi kiểm tra là về những học giả triết học từ thời cổ đại đến thời Marx Engel. Chúng tôi tập trung học tủ về chủ nghĩa Marx- Lenin- Stalin, nên chệch hướng thảm hại. Vì Thầy lại hỏi về Lamarck và các nhà triết học cổ đại. Điều này về mặt nào tương tự như giáo trình di truyền học của GS.TS. Anh hùng lao động Thầy Lương Định Của đã dậy cho chúng tôi: có phần học thuyết Menden, Morgan, không nói về Lưxencô ngụy tạo nhưng được Stalin lợi dụng.

Về kỹ năng giảng dạy, Thầy Đáp luôn kết hợp nhuần nhuyễn những lãnh vực mà Thầy đang theo đuổi: nghiên cứu – giảng dậy và khuyến nông, chuyển giao kỹ thuật vào sản xuất. Cộng với trí nhớ tuyệt vời của Thầy, giờ giảng dậy, buổi nói chuyện, và cả khi trò chuyện về nhiều lãnh vực đều có hiệu quả cao, tính hấp dẫn tốt. Thầy rất quan tâm thu thập những kinh nghiệm sản xuất, những ca dao, phương ngôn, tục ngữ chứa đưng, giữ gìn kinh nghiệm và chuyển tải tới những thế hệ sau. Một số ví dụ:

Tua rua thì mặc tua rua.
Nạ dòng mắn đẻ sao anh hững hờ!

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì dâm.

Sim ra hoa cày ngả
Sim có quả cày cấy
Sim được lấy cấy sâu.

Cơn mưa đằng Đông vừa trông vừa chạy;
Cơn mưa đằng Tây chẳng mưa giông cũng chớp giật;
Cơn mưa đằng Nam vừa làm vừa chơi;
Cơn mưa đằng Bắc vác thóc ra phơi.

Lúa Chiêm lấp ló đầu bờ;
Nghe thấy tiếng sấm mở cờ mà lên.

Người ta đi cấy lấy công;
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm..

“Hỡi em ơi, cha mẹ em đâu,
mà em cứ phải chổng phao câu lên trời!”

“Hỡi anh ơi, đông hạ nhị kỳ,
em mà không chổng thì lấy gì anh xơi!”

Ngày nay cũng xuất hiện những ca dao mới, như

Gió
Gió Đông là chồng lúa chiêm;
Còn như gió Bấc* là duyên lúa mùa.
Bâng quơ bóng gió em đùa,
Nhà anh phải gió sao chưa phải lòng.
Mãi mê gieo gặt gió đồng.
Rỗi hơi giăng gió nói dông nói dài.

(*)gió Bấc là ngôn ngữ ca dao có lẽ chỉ gió Bắc đầu đông.

Để góp phần động viên gieo sạ lúa theo hàng bằng máy của IRRI được Viện Lúa ĐBSCL cải tiến, hiện được sử dụng gần 20% diện tích lúa cả nước, có bài:

Sạ lan như tóc rối đêm
Sạ hàng chải chuốt đường duyên thắm tình.
Lúa thì con gái bình minh
Nụ hôn gió đến lung linh khắp đồng.

2. TẦM NHÌN LÚA VỤ XUÂN
2.1. Bối cảnh và Tầm nhìn

Từ những năm 50 của thế kỷ 20 trở về hàng ngàn năm trước, nông dân ta đã thực hiện thành công một nền nông nghiệp truyền thống với hàng ngàn giống lúa cổ truyền, không dùng trước hết vì không có phân hóa học, thuốc sát trùng, xăng dầu. Khi đó dân ta sống trong môi trường trong lành, có lúa gạo hữu cơ như cách nói ngày nay. Tuy nhiên, dân số tăng nhanh, nhu cầu về lương thực tăng nhanh và tất nhiên yêu cầu về thâm canh tăng năng suất và tăng vụ nhằm tăng sản lượng lúa gạo. Đến những năm 60 và 70 là thời kỳ các giống cổ truyền cao cây thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp (2 – 3 tấn/ha), được bà con nông dân thay thế dần bằng giống lúa thấp cây ngắn ngày có năng suất cao gấp hơn 2 lần.

Trong bối cảnh đó, GS Bùi Huy Đáp có “Tầm nhìn vụ lúa xuân”. Ở miền Bắc hồi đó là một tầm nhìn tái cơ cấu sản xuất mùa vụ lúa như cách nói hiện nay. Bởi vì, với những giống lúa ngắn ngày, thời vụ một vụ lúa rút ngắn thời gian chiếm ruộng hơn, tạo ra “Qũy thời gian và không gian” để tăng vào đó thêm một vụ mầu (ngô, khoai, rau đậu..) hoặc tăng thêm cả một vụ lúa nữa. Hiệu quả sử dụng ruộng đất sẽ tăng, trong điều kiện lương thực còn rất thiếu, mà lao động thì lại rất dư thừa.

2.2. Rào cản và giải pháp hóa giải

Có hai rào cản kỹ thuật làm cho tầm nhìn trên của Thầy Đáp thì rất hay, nhưng khó đưa vào thực tế sản xuất:

a. Rào cản về giống lúa. Hồi đó chỉ mới có giống ngắn ngày thuộc loại yếu cây: năng suất thấp, dễ đổ ngã, như giống Nông nghiệp 1, Sớm cu.. của Bác Của; giống Trà Trung Tử, Thượng Hải 2 nhập từ Trung Quốc, và các giống truyền thống như Nam Ninh, Ba giăng, lúa Lốc…

b. Rào cản kỹ thuật trồng trọt thích hợp, nhất là kỹ thuật làm mạ và cấy lúa vào lúc rét nhất, tháng vào 12 và tháng giêng năm sau. Cho nên, ngay từ ngâm ủ hạt giống, làm mạ, cấy lúa đã gặp khó khăn hơn vụ chiêm tập quán rất nhiều; lúc đầu áp dụng kỹ thuật như với lúa Chiêm thường thất bại. Một số nơi, như KS Lê Thanh Long ở Hải Dương, Bạch Trung Hưng ở làng Tó Hà Đông đã nỗ lực vượt hai rào cản trên, đã gặp nhiều khó khăn, nhưng cũng thu được một số kinh nghiệm.

Hai rào cản trên dần được dỡ bỏ làm cho ý tưởng hay của Thầy Đáp dần thành hiện thực. Về giống lúa, nhiều giống lúa khắc phục được nhược điểm yếu cây, năng suất thấp, lúc đầu nhập từ Viện Lúa Quốc tế, từ Trung Quốc, và ngày một nhiều giống tạo chọn bởi các nhà khoa học Việt Nam.

Về kỹ thuật sản xuất lúa xuân, ta không thể nhập được kỹ thuật thích hợp nào cho ta. Thầy Đáp đã lập Tổ công tác “Tân Hưng Hòa” (tên HTX) về nằm ở xã Tán Thuật, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, hồi đó ông Ngô Duy Đông là Bí thư, Nguyễn Ngọc Trìu là Chủ tịch. Tôi tự nguyên rời bục giảng dạy ở Trường Đại học Nông nghiệp về Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Hà Nội, được Thầy Đáp cử làm Tổ trưởng, cùng với một số cán bộ kỹ thuật, nay còn là những nhân chứng sống, như Bạch Trung Hưng, Nguyễn Đức Triều, Yến Mai, Lê An Ninh… Chúng tôi đã “ba cùng” với dân xã Tán Thuật 6 năm, góp phần xây dựng được mô hình 100 ha lúa xuân ở HTX Tân Hưng Hòa thành công đầu tiên ở các tỉnh phía Bắc.

Chủ nhiệm HTX Tân Hưng Hòa Trương An Điềm được phong tăng Anh hùng Lao động vì có thành tích về vụ lúa xuân. Tỉnh Thái Bình trở thành “ngọn cờ đầu ” đạt 5 tấn thóc/năm thì vụ lúa xuân đóng góp tích cực! Xuất hiện “Chị Hai 5 tấn quê ở Thái Bình”.Thầy Đáp được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh là xứng đáng. Trước đó, vào năm 1974, những người có công về vụ lúa xuân được thưởng tiền: Thầy Đáp được thưởng 1000 đồng; đơn vị Viện: 1000 đ; tôi: 500 đ, anh Đào Thế Tuấn và anh Đinh Văn Lữ mỗi người: 250 đ. Là món tiền to lúc đó.

Nguyễn Đức Triều được Thầy Đáp chuyển về Hải Hậu, Nam Định để xây dựng mô hình lúa xuân. Anh Triều sau chuyển công tác từ Viện về Hải Hậu, được đề bạt dần dần lên Bí thư huyện ủy, rồi vào Trung Ương Đảng, làm Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam. Thầy Đáp định điều tôi lên Hà Giang nghiên cứu cây thuốc phiện; Thầy Đăng về Thái Bình dụ tôi trở về Đại học Nông nghiệp. Tôi còn lưu luyến với lúa xuân, nên lên Vĩnh Phú xin gặp Bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc sau khi đi Thanh Ba và Vĩnh Tường khảo sát, có anh Huy ở Bình Đà là cán bộ phòng quản lý khoa học cùng đi. Bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc đã được anh Đông, anh Chất ở Thái Bình giới thiệu, rất hoan nghênh vụ xuân. Sau khi nghe tôi trình bày, bèn về Viện ngay gặp Thầy Đáp đề nghi giúp. Chỉ sau 1 vụ, tỷ lệ vụ lúa xuân tăng từ vài phần trăm vọt lên 40% diện tích lúa. Hạt giống mua từ Thái Bình và Nam Định. Nguyên Bộ trưởng Nông nghiệp Lê Huy Ngọ làm kế hoạch của tỉnh tham gia phong trào này. Một kỷ niệm khó quên: Tỉnh Vĩnh Phú đã tổ chức một cuộc giới thiệu vụ lúa xuân với tầm cỡ một cuộc mit tinh lớn. Cuộc mít tinh vào ban đêm trăng để phòng máy bay Mỹ đánh. Người phủ kín một quả đồi miền trung du Phú Thọ. Thầy Đáp nói về ý nghĩa vụ xuân, tôi trình bầy về kỹ thuật. Bí thư Kim Ngọc kết luận, nói: ai đéo làm lúa xuân là đéo tin tưởng Đảng. Mọi người cười ran ran..!

2.3. Giải pháp kỹ thuật và vụ xuân thành vụ chính
a. Giải pháp kỹ thuật ngâm ủ hạt giống

Dùng phương pháp do Tổ công tác đề xuất ủ đống. Sau khi hạt giống hút no nước, ủ thành đống thóc, tưới, đảo, nhiết độ của bản thân hạt giống tỏa ra trong quá trình nẩy mầm để tự thúc nẩy mầm, không giới hạn lượng hạt giống. Kỹ thuật ủ đống đã thay hẳn lò thúc mầm tốn kém và thường hỏng giống.và vụ xuấn thất bại, thất thu. Chỉ sau một thời gian ngắn phương pháp ủ đống thay toàn bộ lò thúc mầm nhập thiết kế Trung Quốc ở toàn miền Bắc, nên tiết kiệm rất nhiều lúa giống, nhất là đảm bảo thực hiện được vụ lúa.

b. Giải pháp kỹ thuật làm mạ, cấy lúa.

Tính tuổi mạ theo lá chứ không như tập quán theo ngày, như với lúa chiêm tới 60 – 90 ngày, lúa Mùa 45 ngày. Mật độ gieo mạ cho 1 sào Bắc bộ dầy gấp hai ba lần mạ chiêm; cấy dầy hơn lúa chiêm.

Kỹ thuật làm vụ lúa xuân mới được chuyển giao vào sản xuất rất nhanh sau khi 100 ha mô hình thành công ở Thái Bình do:
(i)Tổ chức hợp tác xã nông nghiệp và cách chỉ đạo sản xuất ở các địa phương;

(ii) Sự năng động giúp nông dân và địa phương làm vụ xuân của Thầy Đáp và cán bộ kỹ thuật của Viện và của các địa phương.

Nhiều hội nghị, hội thảo đầu bờ được tổ chức tại huyện Kiến Xương, nhiều đoàn đến tham quan rút kinh nghiệm, trong đó có đoàn Bí thư tỉnh Trần Xuân Bách từ Nam Định. Do có phong trào làm lúa xuân mà Thầy Đáp đã ra sức góp phần khởi động, tổ công tác chúng tôi được “thơm lây”: thường xuyên chia nhau đi báo cáo với các đoàn đến từ Nghệ An, Quảng Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phú… đến tham quan; báo cáo ở các nơi mời; và trước nhiều loại hội nghị về sản xuất lúa. Ngoài ra, tôi còn làm quen được với nhiều tòa soạn, nhà xuất bản, nhất là các phóng viên “gạo cội’ như Hữu Thọ, Phan Quang… Theo yêu cầu, tôi viết được cả trăm bài báo phổ thông cho báo Nhân dân và các báo ngành và địa phương; trên chục bài cho tạp chí khoa học; và vài cuốn sách về LÚA XUÂN

Một số ví dụ:

1. Nguyễn Văn Luật… 1967 Lúa xuân trong cơ cấu cây trồng vùng lúa Số 71 tr 18-21 Tạp chí KHKTNN Hà Nội

2. Nguyễn Văn Luật… 1967 Thâm canh mạ xuân. Số 72, Số 71 tr 22-26 Tạp chí KHKTNN Hà Nội

3. Nguyễn Văn Luật… 1967 Một số nhận xét về sinh lý lúa xuân. Số 77 tr 27-31 Tạp chí KHKTNN Hà Nội

4. Nguyễn Văn Luật… 1971 Hỏi đáp về Thâm canh lúa xuân 96 tr. NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.

GSTS. Nguyễn Văn Luật
Anh hùng lao động, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL
Bài đăng theo email nhận ngày 9/1/2015
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân tiếp khách Viện Lúa GS. Nguyễn Văn Luật và TS. Nguyễn Xuân Lai, ảnh Hoàng Kim lưu trữ tư liệu và giới thiệu.

BÙI HUY ĐÁP VÀ CÂY LÚA VIỆT NAM

Phạm Ngọc Khảnh

Bùi Huy Đáp (1919 – 2004), sinh ra từ làng Bách Cốc – Xã Thành Lợi – Huyện Vụ Bản – Tỉnh Nam Định. Bách Cốc mang đặc trưng của văn minh làng xã vùng Châu thổ sông Hồng, cái nôi của văn minh lúa nước từ thời tiền sử (Sakurai). Giáo sư Bùi Huy Đáp thuộc dòng họ có truyền thống học hành, nhiều người đỗ đạt. Sự gìn giữ “Nối nghiệp Nho sư” đã thấm vào dòng huyết thống của ông. Bùi Huy Đáp học giỏi có tiếng, 12 tuổi đã đậu sơ học, thi vào Thành chung trường Bưởi – Hà Nội ông đỗ đầu khoa thi có 900 thí sinh, 16 tuổi đỗ Đip-lôm được học bổng toàn phần của Phủ thống sứ Bắc kỳ suốt ba nặm học Tú tài qua phần I đến tú tài phần II – đề thi từ Pháp gửi sang, Bùi Huy Đáp lại đỗ đầu. Ông nộp đơn vào trường Nông lâm Đông Dương, có 500 tú tài dự thi nhà trường chỉ tuyển 15. Trường có nhiều Kỹ sư, Tiến sĩ người Pháp giảng dạy. Sau 3 năm học hành đỗ đạt “vinh quy” gia đình vui mừng khôn tả. Về quê, ông thấy vẫn còn là một thư sinh “chân trắng” kiến thức đã tu nghiệp một phần nhưng thực tiễn thao tác chưa có là bao. Ở lại quê nhà ông tìm đến ông Xướng, một lão nông lực điền thuần thục chuyên cày thuê, để học. Tôi còn nhớ có lần ông dặn: Làm khoa học Nông nghiệp là phải biết hỏi nông dân và cây cỏ -sắc lá là ngôn ngữ của cây. Thật sâu sắc!

Vào đời ông trải qua nhiều chức sắc. Sau CMT8 – 1945, Bùi Huy Đáp được cử làm Giám đốc Nha Nông mục thủy lâm ở Hà Nội; Tổng thư ký – trợ lý cho Bộ trưởng Cù Huy Cận; năm 1952 Viện Trồng Trọt được thành lập ông được cử làm Viện trưởng; đến năm 1956, Nhà nước ta mở 5 trường Đại học đầu tiên – Tổng hợp, Sư phạm, Y dược, Bách khoa và Nông lâm, các quyết định do Hồ Chủ Tịch ký. Bùi Huy Đáp được cử làm Hiệu trưởng trường Đại học Nông lâm (sau này là Đại học Nông nghiệp), khi ông mới 37 tuổi. Giữ chức vụ Hiệu trưởng suốt 5 năm (1956 – 1961). Ông là người đặt nền móng đào tạo hàng nghìn cán bộ, trí thức có chất lượng cho nền nông nghiệp Việt Nam. Từ năm 1963 giữ chức Viện trưởng – Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam đến năm 1978 ông được cử làm Phó chủ nhiệm – UBKH và KT nhà nước cho tới lúc nghỉ hưu, 1985.

Với nông dân và cây lúa ông luôn canh cánh bên lòng… Sinh ra và lớn lên từ mảnh đất đồng chiêm, sống giữa những người nông dân chân lấm tay bùn, hai sương một nắng. Với kỹ thuật trồng cấy còn thô sơ, thời tiết thì khắc nghiệt. Nông dân vùng này có câu: “Đi cấy cắn răng, đi gặt lè lưỡi” vì cái rét mùa đông và nắng lửa mùa hè, nhưng chẳng được là bao nhất là những năm 60 – 70 thế kỷ trước lao vào lúa xuân còn nghèo nàn kinh nghiệm nhiều năm lúa, mạ chết trắng đồng.

Từ những năm làm Viện trưởng – Viện trồng trọt ở chiến khu Việt Bắc ông thường nghiên cứu chỉ đạo đưa thử lúa xuân vào sản xuất ở miền núi bằng các giống ngắn ngày: Nam Ninh, Trà Trung Tử do Đào Văn Kính và Đinh Văn Lữ được phân công chỉ đạo ở Kim Thắng và Ỷ Lan huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang. Đến những năm 60 việc nghiên cứu thực nghiệm được mở rộng xuống nhiều tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ và cử những cán bộ có kinh nghiệm của Viện Khoa học nông nghiệp phụ trách ở các tỉnh như Tân Hưng Hòa (Thái bình) do Nguyễn Xuân Luật, ở Hải Quang (Hải Hậu, Nam Định) do Nguyễn Đức Triều chỉ đạo, cùng một số tỉnh khác như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Tây, Hà Nội… Việc cho ra đời vụ lúa xuân ở miền bắc Việt Nam các nhà khoa học bấy giờ như Lương Định Của, Bùi Huy Đáp… đều thống nhất quan điểm phải loại bỏ vụ lúa chiêm thay bằng vụ lúa xuân nhưng bằng các nào? Cái khó là làm sao có mạ non, đúng tuổi, trong điều kiện thời tiết mùa đông rất thất thường chi phối. Năm rét sớm, mạ chết; rét muộn, lúa chết; năm ấm mạ già, thất thu. Ông đã chọn phương pháp chờ cho bớt rét, ấm ổn định mới gieo mạ quanh tiết Lập xuân (5-2) không dùng cách gieo mạ thưa dưới dược nữa mà bằng cách gieo dày, gieo sân, gieo nền cứng bằng những giống ngắn ngày như: Trân châu lùn, Trà Trung tử, Ba giăng. Sau này có bổ sung bộ giống ngắn ngày năng suất cao kết hợp kỹ thuật che phủ. Vụ Lúa xuân đã thực sự ổn định trở thành vụ chính như ngày nay.

Có thể nói, với lúa xuân ông là người đầu tiên khai phá. Vừa nghiên cứu vừa thực nghiệm luôn. Người ta coi ông là tác giả lúa xuân.

Sau ngày miền Nam giải phóng, Bùi Huy Đáp dành nhiều thời gian tổng kết nông nghiệp cả nước, ông có công lớn đóng góp chuyển đổi cơ cấu chỉ một vụ mùa ở Đồng bằng sông Cửu Long bằng cách tuyên truyền đưa giống ngắn ngày của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRI) và của Ấn Độ làm thêm vụ xuân hè như hiện nay.

Ở tuổi 84 ông viết “Cuộc đời khoa học nông nghiệp của tôi” đã ghi lại những kỷ niệm này.

Vậy là: miền Nam từ 1 vụ lúa mùa nay thành 2 vụ, miền Bắc từ lúa vụ chiêm nay thành vụ lúa xuân cùng với lúa mùa và có thêm rau màu vụ đông hàng hóa nhiều nơi như “hái ra tiền”. Lúa xuân phơi phới vào nhạc vào thơ “Miền Bắc chuyển mùa phơi phới lúa xuân” (tố Hữu); “Em xinh là xinh như cây lúa” góp phần đưa nền nông nghiệp nước ta từ nghèo nàn lạc hậu nay dư thừa thóc gạo, xuất khẩu đúng đầu thế giới…

Trong qúa trình nghiên cứu, chỉ đạo, tổng kết Bùi Huy Đáp đã để lại cho đời một kho tàng lý luận đồ sộ với 62 trước tác lưu vào thư mục về sinh học, triết học và sinh vật học…, trong đó 3 cuốn sách dịch, trên 120 bài khoa học lý luận, trên các tạp chí trong nước, 15 bài tạp chí nước ngoài và gần 1000 bài khoa học lý luận trên các báo. Đặc biệt 2 cuốn sách kinh điển “Cây lúa miền bắc Việt Nam” (1964) và “Cây lúa Việt Nam” (1981) là sách gối đầu giường cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dậy và chỉ đạo nông nghiệp.

Ông xứng đáng được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về thành tích “Sáng tạo vụ lúa xuân ở miền Bắc”.

Giáo sư Bùi Huy Đáp mất ngày 4 tháng 7 năm 2004 (7 tháng 5 năm Giáp Thân).

Nghĩ và nhớ về người thầy năm xưa, thầy Bùi Huy Đáp đẹp lắm, đẹp một cách đạo mạo vừa mang dáng vẻ nền nã Á Đông vừa pha trộn phong cách phương Tây đĩnh đạc. Giọng nói không bóng bẩy mà rành rẽ, sang trọng, dư ba… nhớ sau có khi cả mấy ngày “hội thảo khoa học” về cây lúa toàn số liệu khô khốc, chỉ chăm chú nghe, không mấy khi thấy thầy ghi chép gì cuối cùng chỉ qua mấy dòng tổng kết mà khúc triết đâu ra đấy. Tôi nhớ mãi câu nói như thơ của thầy “Lúa xuân xuân mãi không già” thì ra thầy nói cái sức xuân, sức trẻ trường tồn của cây lúa xuân vậy.

Bây giờ ai đến thăm trường Đại học Nông nghiệp ở thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội còn được chiêm ngưỡng vẫn nguyên dáng vẻ trầm tư, phong độ năm nào, bức tượng đồng Giáo sư Bùi Huy Đáp sừng sững dưới bầu trời lồng lộng cao xanh. Cho thế hệ hôm nay và mai sau nhớ mãi về người Thầy, người cán bộ canh nông mẫu mực. Nghe đâu đây sóng lúa hát rì rầm…

Phạm Ngọc Khảnh
Điện thoại: 01655 324 769
Email: phamlinhnd@yahoo.com.vn
Địa chỉ: Thôn Vệ – Nam Hồng – Đông Anh – Hà Nội.
Nguồn: Blog Trần Mỹ Giống

VỀ THĂM QUÊ NGƯỜI SÁNG TẠO LÚA XUÂN MIỀN BẮC

Phạm Trọng Thanh

(Toquoc)- Qua những đoạn đường qui hoạch nông thôn trải nhựa, những hàng cây, xe chúng tôi bắt vào những uốn lượn “đường đi lối lại như hình con long” của làng cổ Bách Cốc. Kỹ sư Phạm Ngọc Khảnh dừng xe, hỏi đường đến nhà thầy. Ngõ vào có hàng giậu ruối thản nhiên xanh trước cánh cổng sắt ken thưa, ríu rít tiếng chim chuyền cành đây đó.

Làng Bách Cốc, quê giáo sư Bùi Huy Đáp, chỉ cách thành phố Nam Định khoảng 7 km về phía tây, cách huyện lỵ Vụ Bản chừng 4 km về phía đông. Làng xưa thuộc tổng Trình Xuyên, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng. Nay Bách Cốc thuộc xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.Theo thần phả, vào thời Hùng Vương, mười hai vị gia tiên của 12 dòng họ từ Bạch Hạc xuôi thuyền về cửa biển Côi Sơn, khai khẩn dải bãi bồi hoang sơ bên dòng sông Cốc, lập nên làng Bách Cốc, truyền đến ngày nay đã bao nhiêu đời. Nhiều danh thần tài kiêm văn võ, những trí thức yêu nước sinh ra ở đây. Tinh anh, thần thái của các vị tiên liệt làng Bách Cốc còn toả rạng trên những hàng bài vị nơi từ đường 12 dòng họ, nơi đền, chùa Bách Cốc, văn chỉ của làng; trên những hoành phi, câu đối và 28 bia đá soạn lập qua nhiều thế kỷ, tỏ mờ dấu vết thời gian.

Giáo sư Bùi Huy Đáp sinh năm 1919, tại Bách Cốc. Thân phụ ông, cụ Bùi Long Đống đậu tam trường Trường thi Nam Định. Nhà nghèo, cụ ngồi dạy học ở xã bên. Do học thêm Quốc ngữ, cụ được bổ dụng làm Tổng sư (thày giáo hàng tổng) tổng Trình Xuyên, huyện Vụ Bản. Mọi việc trong nhà trông vào bà vợ đảm đang lo liệu. Được mẹ hết lòng lo cho ăn học, hai anh em ông đều chăm học và học giỏi bởi vì “biết phận mình con nhà nghèo, phải cố học”. Ông anh năm mười tám tuổi đã đậu 3 bằng thành chung ở Nam Định: bằng thành chung ta (đíp-lôm), bằng thành chung tây (Brevet élémentaire) và bằng “có khả năng sư phạm”. Còn Bùi Huy Đáp năm mười hai tuổi đã đậu sơ học, có tiếng học giỏi. Thi vào học bậc thành chung trường Bưởi Hà Nội, ông đỗ đầu khoa thi có 900 thí sinh dự thi, được hưởng học bổng. Mười sáu tuổi đỗ đíp-lôm, được hưởng học bổng toàn phần của Phủ Thống sứ Bắc Kỳ trong ba năm học tú tài. Qua phần I, đến khoa thi tú tài phần II, đề thi từ Paris gửi sang, Bùi Huy Đáp lại đỗ đầu. Khi Nha thanh tra Nông Lâm mở trường Đại học Nông Lâm đào tạo kỹ sư Đông Dương (sau đổi tên là kỹ sư Nông nghiệp nhiệt đới), ông nộp đơn dự tuyển với hơn 500 tú tài dự thi. Nhà trường chỉ tuyển 15 học sinh, Bùi Huy Đáp trúng tuyển. Sau những học phần khoa học cơ bản, sinh viên học các chuyên môn với nhiều thầy là kỹ sư, tiến sĩ người Pháp phụ trách các bộ môn của Viện Khảo cứu Nông Lâm (IRAFI), sau đó là Viện Khảo cứu Nông học (IRAI). Bùi Huy Đáp được các thầy khen. Năm thứ ba, ông được gửi đi tập sự ở Phủ Liễn, ở Tây Nguyên rồi Sở Nông nghiệp Trung Kỳ ở Huế. Tổng kết ba năm học, ông được xếp thứ 5 trong 15 sinh viên tốt nghiệp. Trong cuốn sách hồi tưởng “Cuộc đời khoa học Nông nghiệp của tôi” (NXB Thanh Niên, 2003) Bùi Huy Đáp kể: Lần đầu tiên phát bằng kỹ sư ở Đông Dương, để tuyên truyền, chính quyền thuộc địa đã tổ chức lễ phát bằng tại giảng đường Đại học do Toàn quyền Đông Dương chủ trì và phát bằng. Buổi lễ được cử hành trọng thể, theo nghi thức của Nhà nước Bảo hộ, có nhiều quan chức cao cấp đến dự.Toàn quyền Đông Dương phát biểu ngắn, nhắc lại lời của Thống chế Pétain bên Pháp: “Đất đai không biết nói dối, nó trả lại hậu hĩnh những công sức đã bỏ vào nó”. Ngày “vinh quy”, kỹ sư Bùi Huy Đáp đáp tàu về Nam Định. Trong niềm vui của gia đình, ông bố mừng hơn cả con trai: “Con đã đỗ tú tài nay lại đỗ kỹ sư, hơn tú tài, cũng là cử nhân, mấy đời nhà ta mới được! Còn bố, mấy lần thi hương, chỉ qua được cái tam trường”. Bà mẹ chậm rãi nói với con: “Thế là cái nghề tầm thường của mẹ, con đã mất ba năm mới học được! Mà cày bừa, cấy hái con có biết gì đâu? Con phải năng đi nông thôn, gặp gỡ nông dân, chớ ngồi lì ở phòng giấy để trở thành anh kỹ sư canh nông đường nhựa”! Và anh kỹ sư tân khoa phải tìm đến nhà ông xã Xướng, một người cày thuê cho cả xóm để vật nài xin học cày học bừa, khiến ông thợ cày tròn mắt: “Cậu đã đỗ kỹ sư, sao còn đi học cày”. Kỹ sư Bùi Huy Đáp đã học những bài học nghề nông từ đồng ruộng quê nhà. Sau này, khi đã đứng trên bục giảng ở nhiều giảng đường, ông nói với sinh viên điều tâm đắc của mình: “Làm khoa học nông nghiệp là phải biết hỏi nông dân và cây cỏ. Hỏi nông dân thì phải biết cách hỏi và cách nghe những câu đơn giản về đời sống, công việc và kinh nghiệm sản xuất làm ăn của họ; chú ý nghe họ trả lời và nắm những điểm chính. Hỏi cây thì phải quan sát cẩn thận, phân tích những đặc điểm đặc thù, không chủ quan lắp vào những định kiến có sẵn”. Ông trân trọng những bậc “lão nông tri điền” ở làng quê, coi họ như những người thầy.

Bùi Huy Đáp lên đường vào Huế làm kỹ sư công nhật rồi phó kỹ sư nông nghiệp Sở Canh nông Trung Kỳ. Ông viết báo cáo chuyên đề “Nghề trồng cây ăn quả ở Trung Kỳ”, được Phủ Toàn quyền xuất bản bằng tiếng Pháp, khởi đầu cho hơn 100 cuốn sách khoa học và hơn 1000 bài báo về nông nghiệp vùng nhiệt đới Đông Dương -Việt Nam trong suốt cuộc đời làm khoa học nông nghiệp của ông. Cách mạng tháng 8-1945 thành công, kỹ sư Bùi Huy Đáp được cử làm Phó Giám đốc Nha Nông Mục Thuỷ Lâm ở Hà Nội. Khi Bộ Canh nông trong Chính phủ Kháng chiến được thành lập, nhà thơ – kỹ sư canh nông Cù Huy Cận được cử làm Bộ trưởng. Bùi Huy Đáp được Bộ trưởng Cù Huy Cận giữ lại làm Tổng thư ký (tương đương trợ lý Bộ trưởng hiện nay). Công tác đào tạo cán bộ được triển khai ngay trong thời chiến do ông đề xuất, các lớp trung cấp nông nghiệp mở ở Huế (1946), khu IV, khu V (1947) rồi Trường Trung học Canh nông Việt Bắc cũng mở vào đầu năm 1948, ngay sau Chiến dịch Thu Đông địch tấn công lên Việt Bắc. Năm 1952, Viện Trồng trọt được thành lập ở căn cứ địa Việt Bắc, ông được cử làm Viện trưởng. Đây cũng là Viện nghiên cứu khoa học đầu tiên ở nước ta, lúc đầu chỉ có ba kỹ sư, ba tham tá và phần đông là cán bộ trung cấp mới được đào tạo, những người “không thiếu nhiệt tình công tác nhưng có những lỗ hổng về kiến thức. Làm công tác khuyến nông, hướng dẫn nông dân cải tiến kỹ thuật, một số anh em có kinh nghiệm ít nhiều đã hoạt động có hiệu quả trong quần chúng, do chưa nghiên cứu khoa học nên anh em có không ít những lúng túng khi thực hiện” (Bùi Huy Đáp-Sđd tr.34). Viện trưởng Bùi Huy Đáp đã mở lớp học dài hạn cho tất cả cán bộ kỹ thuật, cung cấp những thông tin mới, những tài liệu mới từ Pháp, Liên Xô (cũ), từ Trung Quốc và một số nước XHCN. Học viên được ông giảng giải các vấn đề: Sinh vật và ngoại cảnh tiến hoá của sinh vật; Đồng hoá và dị hoá; Thay cũ đổi mới; Di truyền và biến dị; Đấu tranh sinh tồn; Loài sinh vật và sự hình thành loài; Đấu tranh và tương trợ trong loài và giữa loài; Chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo; Chủ nghĩa Đác-uyn Xô-viết… Đây là thời kỳ phát triển của Viện Trồng trọt, lớp học được duy trì trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đào tạo thật bài bản một đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đáp ứng được yêu cầu công tác của Viện.

Đến năm 1956, Nhà nước ta cho mở 5 Trường Đại học đầu tiên: Tổng hợp, Sư phạm, Y-Dược, Bách khoa, Nông Lâm, các quyết định đều do Hồ Chủ tịch ký. Bùi Huy Đáp được cử làm Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (sau là Đại học Nông nghiệp) khi ông 37 tuổi – Một Hiệu trưởng trẻ trung, giàu nhiệt tình cống hiến. Qua 15 năm phụ trách trường Đại học Nông nghiệp (5 năm là Hiệu trưởng) và nhiều năm trực tiếp giảng dạy, ông đã góp công đào tạo, bồi dưỡng nhiều kỹ sư giỏi, những chuyên gia khoa học nông nghiệp tận tuỵ, yêu nghề, được đồng nghiệp tin cậy, được nông dân quý trọng.

Năm 1996, Giáo sư Bùi Huy Đáp được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I) với công trình khoa học Lúa xuân, đánh dấu một thành công lớn trong sự nghiệp của ông. Cây lúa Việt Nam, trong con mắt các nhà khoa học, còn được gọi là Lúa châu Á (Dryza satival) vì nó được thuần hoá từ lúa dại thành lúa trồng ở 3 trung tâm đầu tiên: Assam (Ấn Độ), biên giới Thái Lan – Myanma và trung du Tây Bắc Việt Nam, vào thời đồ đá giữa, trong lòng văn hoá Hoà Bình, cách đây khoảng 12000-16000 năm. Với hình thái lúa cao cây và kỹ thuật trồng lúa thô sơ, năng suất lúa ở đồng bằng sông Hồng vào đầu Công nguyên chỉ là 4 tạ/ha (tính theo sách Cổ Kim Chí của nhà bác học Lê Quý Đôn). Đến giữa thế kỷ XX (theo Niên giám thống kê Đông Dương) năm 1942, năng suất lúa ở Bắc Kỳ là 13 tạ/ha với dân số 9,3 triệu người, tỉ lệ thóc/đầu người là 1,9 tạ. Ở Trung Kỳ năng suất lúa là 10 tạ/ha,với dân số 6,1 triệu người, tỉ lệ thóc/đầu người là 1,6 tạ. Còn ở Nam Kỳ, với năng suất lúa 14 tạ/ha, dân số 5,4 triệu người, đạt tỉ lệ thóc/đầu người là 5,9 tạ. Miền Bắc thường có đói, riêng trận đói khủng khiếp năm 1945 đã cướp đi 2 triệu người.

Trên thế giới, có những nền văn minh nông nghiệp nhiệt đới khác sớm lụi tàn ngay sau thời kỳ phát triển rực rỡ. Chứng minh sự trường tồn của cây lúa nước Việt Nam, giáo sư Bùi Huy Đáp viết: “Hai cơ sở chủ yếu của nền văn minh lúa nước Việt Nam là ruộng trồng lúa nước và quần cư của nông dân trồng lúa nước. Ruộng lúa nước có tính ổn định cao, được khai thác từ mấy nghìn năm trước để trồng lúa. Châu thổ sông Hồng nay vẫn là vựa lúa quan trọng của nước ta… Châu thổ sông Hồng thời kỳ đầu Công nguyên có năng suất 4 tạ/ha, nay đã cho năng suất gấp 15-25 lần và ở ngưỡng cửa 100 tạ/ha với những địa bàn từng tỉnh đã đạt 60-70 tạ/ha. Cây lúa không cần luân canh. Có những trà ruộng được trồng lúa liên tục từ hàng nghìn năm nay ở châu thổ sông Hồng, vẫn cho năng suất khá, và khi được bón đủ đã cho năng suất 120 tạ/ha/năm (Nam Định,Thái Bình)” (Sđd, tr.79,80,91).

Trong cuốn sách viết ở tuổi 84: “Cuộc đời Khoa học Nông nghiệp của tôi”, giáo sư Bùi Huy Đáp dành cho cây lúa xuân hơn một chương với rất nhiều kỷ niệm trong suốt hành trình khảo sát, nghiên cứu, thực nghiệm. Lúa xuân khởi đầu từ Hà Tây về Thái Bình, Nam Định, sang Hưng Yên, lên Vĩnh Phú… Lúa xuân bắt đầu được cấy thí điểm trên diện tích ruộng bị bỏ hoá 10% ở những vùng cấy lúa chiêm những năm thiếu sức kéo, thiếu lao động , những năm còn bom đạn chiến tranh. Từ những thất bại buổi đầu do làm chơi chơi, do chưa nắm chắc qui trình mùa vụ… đến những mùa đại trà thắng lợi, lúa xuân quần bông trĩu hạt sau ngày đất nước thống nhất, sau những chuyển đổi khoán quản từ chỉ thị 100 của Trung ương… Và “Người sáng tạo lúa xuân miền Bắc” có bao nhiêu cộng sự từ Viện nghiên cứu cây trồng đến Trại lúa giống, từ văn phòng Thủ tướng đến trụ sở UBND xã, từ những khay mạ, ô mạ trên nền sân xướng trải nilông đến “hội nghị đầu bờ” các hợp tác xã nông nghiệp.

Lúa xuân bước lên sân khấu dưới ánh đèn măng-xông. Lúa xuân xanh biếc các trang thơ và hát lên thành nhạc: “Em xinh là xinh như cây lúa” ! Vậy là cả họ hàng làng nước chân quê của ta sau bao nhiêu nhìn ngắm, đo đắn thiệt hơn đã rước lúa xuân vào nền nếp đồng ruộng nhà mình. Những câu ca vận vào cây lúa chiêm nghìn xưa như “Lúa trỗ cốc vũ, no đủ mọi bề”, “Lúa trỗ thanh minh thì vinh cả xã”, “Lúa trỗ lập hạ, buồn bã cả làng”… đối với cây lúa xuân xem ra không còn phù hợp!

Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, với công cuộc “chuyển mùa lúa ở miền Bắc thành lúa xuân và lúa xuân muộn”; “đổi vụ lúa miền Nam thành lúa đông xuân và lúa hè thu”, cả nước làm ba vụ lúa chính: lúa đông xuân, lúa hè thu và lúa mùa, năm 1989, Việt Nam đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo và liên tục tăng dần doanh số. Đến nay Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Thật là kỳ diệu!

Với giáo sư Bùi Huy Đáp, cuối thế kỷ vừa qua ông còn có thêm niềm vui từ quê nhà. Năm 1994, các nhà khoa học trong đoàn công tác khảo cổ học Việt – Nhật đã về Bách Cốc hạ trại. Trong mấy năm thám sát, nghiên cứu, họ tìm thấy ở Bách Cốc những hiện vật, dấu vết của những tầng văn hoá đặc trưng của nền văn minh lúa nước châu thổ sông Hồng. Giáo sư -Tiến sĩ Sakurai (Chủ tịch Hội Nghiên cứu làng xã Việt Nam của Nhật Bản) trước đây đã từng viết luận văn tốt nghiệp Đại học Quốc gia Tôkyô trên những dữ liệu khảo sát, nghiên cứu từ làng Bách Cốc và hợp tác xã nông nghiệp Cốc Thành, trong báo cáo khoa học”Mục đích và kết quả khảo sát xã hội nông thôn tại hợp tác xã Cốc Thành huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định”, xác định: “Bách Cốc có đủ điều kiện thuận lợi để thực hiện đề tài nghiên cứu nông thôn, nông nghiệp Việt Nam”.

Gia đình giáo sư Bùi Huy Đáp đã chuyển về Hà Nội*. Ông Bùi Trọng Đang, người cháu của giáo sư, thỉnh chuông hướng dẫn chúng tôi làm lễ dâng hương trước liệt vị gia tiên dòng họ Bùi Huy tại từ đường. Kỹ sư Phạm Ngọc Khảnh dừng lại lâu hơn bên ban thờ có chân dung nhà giáo quá cố, cụ thân sinh giáo sư Bùi Huy Đáp. Ông Đang cho biết, nền nếp gia phong, lệ khen thưởng con cháu học giỏi, việc khuyến học trong gia tộc vẫn được giữ gìn như xưa.

Về thăm quê “Người sáng tạo lúa xuân miền Bắc”, chúng tôi cảm nhận được điều dân làng ở đây tâm đắc.Tên làng Bách Cốc từ bao đời nay đã mang ước vọng mùa màng “phong đăng hoà cốc” thóc gạo đầy nhà. Cả bức hoành phi ở từ đường dòng họ Nguyễn Đình trong làng cũng một ý nguyện “Hữu Cốc Di” – lấy ý từ sách Mạnh Tử “Quân tử hữu cốc di tử tôn” (Người quân tử có lúa gạo (của cải) để lại cho con cháu).

Vinh quang thuộc về những người biết làm giàu cho quê hương đất nước. Người thầy – nhà khoa học Việt Nam, giáo sư Nông học Bùi Huy Đáp đã làm được điều kỳ diệu ấy. Tại thành phố Nam Định, trước ngày nâng cấp thành đô thị loại I, một đường phố mới mang tên ông. Ở Hà Nội, trong khuôn viên trường Đại học Nông nghiệp, năm 2013, tượng chân dung Giáo sư Bùi Huy Đáp đã khánh thành, tôn vinh người thầy mẫu mực, vị Hiệu trưởng đầu tiên đã góp công sức và tâm huyết vào việc sáng lập ngôi trường đại học của nền nông nghiệp Việt Nam vượt qua những khó khăn thử thách, trở thành điểm sáng tin yêu từ thuở ban đầu gây dựng chưa dễ gì quên.

——-

* Giáo sư Bùi Huy Đáp mất ngày 4-7-2004, tại Hà Nội.

Nguồn: Báo Tổ Quốc