Nhà Trần trong sử Việt

NHÀ TRẦN TRONG SỬ VIỆT
Hoàng Kim

Nhà Trần khởi đầu từ vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) lên ngôi Hoàng Đế vào ngày 31 tháng 12 năm 1225 nhằm ngày Mậu Dần  mồng 1 tháng 12 năm Ất Dậu, Lý Chiêu Hoàng là vị Nữ Hoàng cuối cùng của nhà Lý xuống chiếu nhường ngôi cho chồng, tiếp nối là Trần Thánh Tông (Trần Hoảng), Trần Nhân Tông (Trần Khâm. Ba vua là thời nhà Trần thịnh thế ngời sử Việt dựng nghiệp lớn, chống quân Nguyên Mông và đạt đến cực thịnh. Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông là thời kế nghiệp. Từ Trần Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Trần Minh Tông mất) cho tới kết thúc là thời suy tàn, Trần triều chấm dứt lúc Hồ Quý Ly phế truất Thiếu Đế và tự xưng làm vua, lập ra triều đại nhà Hồ năm 1400 thì. Nhà Trần trong xử Việt kéo dài 175 năm với 13 đời hoàng đế.

Thái Tông và Hưng Đạo
Ngày mới đầy yêu thương
Nhà Trần trong sử Việt
Lồng lộng như trăng rằm

Ba đỉnh cao Yên Tử
Danh thắng quê hương Trần
‘Thái bình tu nổ lực
Vạn cổ thử giang san’ (*)

Nhà Trần trong sử Việt
Trước đèn bảy trăm năm,
Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Thăm thẳm tầm nhìn lớn.

Từ một hai hai năm (1225),
Đến thế kỷ mười bốn (1400)
Chuyện cũ chưa hề cũ
Thoáng chốc tròn tháng năm.

Mừng ngày vui xuân mới
Vui bạn hiền người thân
Thung dung bài viết mới.
Thảnh thơi gieo đôi vần.

(*) Trích dẫn thơ Tụng giá hoàn kinh sư của
Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải

xem tiếp: Nhà Trần trong sử Việt https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-tran-trong-su-viet/

TRẦN THÁI TÔNG VÀ TRẦN HƯNG ĐẠO

Minh quân hiền tài vua tôi đồng lòng toàn dân gắng sức. Trần Thái Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Thánh Tông là ba đỉnh cao vọi của trí tuệ thời Trần. Vua Trần Nhân Tông khi lên đỉnh Yên Tử có hỏi về ba đỉnh cao của dãy núi kia là gì thì được trả lời đó là dãy Yên Phụ của vòng cung Đông Triều trấn Bắc. Đức vua Phật Trần Nhân Tông đã lạy Yên Phụ và chọn Yên Tử làm nơi Cư trần lạc đạo chốn an nghĩ của mình. Trần Thái Tông và Trần Quốc Tuấn là câu chuyện minh quân thiên tài thật lạ lùng và sâu sắc lưu dấu nơi đất Việt. Bài học lịch sử Trần Thánh Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư … là suối nguồn tươi trẻ của một câu chuyện tuyệt vời được nối tiếp sâu hơn trong các chuyên luận khác.

Vua Trần Thái Tông (1218-1277) người sáng nghiệp nhà Trần có câu nói nổi tiếng trong lịch sử: “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Vua Trần Thái Tông là bậc minh quân tài trí được so sánh với Đường Thái Tông Lý Thế Dân là vị vua giỏi Trung Hoa thời trước đó. “Sáng nghiệp Việt, Đường hai Thái Tông/ Đường xưng: Trinh Quán, Việt: Nguyên Phong/ Kiến Thành bị giết, An Sinh sống/ Miếu hiệu tuy đồng, đức chẳng đồng”.

Đường Thái Tông Lý Thế Dân ngày 4 tháng 9 năm 626 đã lên ngôi hoàng đế nhà Đường sau sự biến Huyền Vũ môn. Đường Thái Tông thiết lập nên sự cường thịnh của nhà Đường phát triển về kinh tế và hùng mạnh về quân sự nhất thế giới thời ấy, nhưng so đức độ với vua Việt Trần Thái Tông thì vua Việt được người đời ca ngợi hơn. 

An Sinh Vương Trần Liễu là người chống lại Thái Tông và hận thù giữa họ sâu đến nỗi Trần Liễu còn di nguyện cho Trần Quốc Tuấn sau này nhất thiết phải đoạt lại ngôi vua. Vua Trần Thái Tông không chỉ tha cho An Sinh Vương Trần Liễu mà còn tha cho Trần Quốc Tuấn là người đã gây ra chuyện tầy đình.

Tình yêu thương của Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành công chúa là một câu chuyện thật quái và phi thường ! Tình yêu đó thật lớn lao nhưng sự việc quá liều lĩnh, khí phách và đặc biệt nguy hiểm. Trần Quốc Tuấn ngay trong đêm tân hôn của Thiên Thành công chúa với Nhân Đạo Vương đã dám lẻn vào cung của Nhân Đạo Vương ngủ với người mình yêu mà không sợ cái chết trong lúc Trung Thành Vương con trai của Nhân Đạo Vương đang bận đãi khách chưa kịp động phòng. Công chúa Thiên Thành con gái của vua Trần Thái Tông thì đã dám chọn cái chết để trao thân cho Trần Quốc Tuấn là người mình yêu, bất chấp đám cưới với Trung Thành Vương là con trai của Nhân Đạo Vương vị quan đầu triều Trần.

Vua Trần Thái Tông đã không làm ngơ để Quốc Tuấn bị giết. Vua chủ động kết nối lương duyên ngay cho Thiên Thành Quốc Tuấn bất chấp lẽ thường. Câu chuyện vua Trần Thái Tông không những không giết Trần Quốc Tuấn, con của Trần Liễu kẻ tử thù đang rất hận mình và đang “cố tình phạm tội ngông cuồng” trái nhân tình mà còn chủ động tác thành cho Thiên Thành Quốc Tuấn nên vợ chồng, hóa giải mọi điều, thu phục được tấm lòng của bậc anh hùng và giữ lại được cho non sông Việt một bậc kỳ tài muôn thuở

Chuyện lạ và hay, thật hiếm có !

Tượng Trần Quốc Tuấn ở chùa cổ Thắng Nghiêm, ảnh Hoàng Kim

Chùa cổ Thắng Nghiêm là nơi Đức Thánh Trần thuở nhỏ đã theo công chúa Thụy Bà về đây để tìm minh sư học phép Chọn người, Đạo làm tướng, viết kiệt tác Binh thư Yếu lược. Mẹ tôi họ Trần. Tôi về dâng hương Đức Thánh Trần tại đền Tổ. Lắng đọng trong tôi Lời dặn lại của Đức Thánh Trần.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là nhà quân sự kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam nhà chính trị, ngoại giao, tư lệnh tối cao của Việt Nam thời nhà Trần, đã ba lần đánh thắng đội quân Nguyên Mông đế quốc hùng mạnh nhất thế giới thời đó. Người là một trong mười vị tướng tài của Thế Giới

Trần Hưng Đạo sinh năm 1232, mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm 1300, ông là con thứ ba của An Sinh Vương Trần Liễu, gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột, mẹ ông là Thiện Đạo quốc mẫu, một người trong tôn thất họ Trần. Ông sinh ra ở kinh đô Thăng Long, quê quán ở thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, TP Nam Định ngày nay. Ông khi lên 5 tuổi năm 1237 làm con nuôi cô ruột là Thụy Bà công chúa, vì cha ông là Trần Liễu chống lại triều đình (Trần Thủ Độ). Đại Việt sử ký toàn thư mô tả ông là người có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, nhờ được những người tài giỏi đến giảng dạy nên ông sớm trở thành kỳ tài xuất chúng văn võ song toàn, thông hiểu sâu sắc huyền cơ tạo hóa, phép biến dịch và cách dùng binh..

Vua Trần Thái Tông tên thật là Trần Cảnh, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1218 mất ngày 1 tháng 4 năm 1277, là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, lên ngôi ngày 5 tháng 5 năm 1225 mở đầu nhà Trần trong sử Việt. Ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 – 1258), làm Thái thượng hoàng trong 19 năm. Trần Cảnh sinh ra dưới thời kỳ nhà Lý còn tại vị, ông cùng tuổi với vị Nữ hoàng nhà Lý lúc bấy giờ là Lý Chiêu Hoàng. Ông được Chiêu Hoàng yêu mến, hay gọi vào vui đùa, Trần Cảnh khi ấy không nói năng gì nhưng khi về đều nói lại với chú họ là Trung Vũ Vương Trần Thủ Độ. Nhà Lý loạn cung đình thuở ấy đã tới đỉnh điểm. Vua Lý tuy có hai con gái thông minh, hiền hậu và rất giỏi nhưng không có con trai nối dõi, trong khi hoàng tộc nhà Lý lắm kẻ mưu mô kém đức dòm ngó ngôi báu. Nước Đại Việt thuở đó bên ngoài thì họa ngoại xâm từ đế quốc Nguyên Mông đang rình rập rất gần, bên trong thì biến loạn bùng nổ liên tục nhiều sự kiện rất nguy hiểm. Trần Thủ Độ nắm thực quyền chốn cung đình, nhận thấy Trần Cảnh cháu mình cực kỳ thông minh đỉnh ngộ, thiên tư tuyệt vời xứng là một minh quân, lại được Lý Chiêu Hoàng yêu mến nên đã sắp đặt hôn nhân giữa Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng đám đặt cược việc làm vua với họa diệt tộc Trần nếu chọn lầm người. Sự kiện đó xảy ra vào ngày 31 tháng 12 năm 1225, đã chấm dứt triều đại nhà Lý đã tồn tại hơn 200 năm và khai sáng nhà Trần.

Lý Chiêu Hoàng tức Lý hoàng hậu vợ Trần Thái Tông trớ trêu thay sinh con nhưng con bị chết yểu ngay sau khi sinh, cho nên Trần Thái Tông không có người kế vị chính danh phận, trong lúc sự chống đối và chỉ trích cay độc của tôn thất nhà Lý do Hoàng Thái hậu cầm đầu lại đẩy lên cao trào rất nặng nề. Nhiều kẻ tôn thất mượn tiếng có con trai nối dõi dòm ngó cướp ngôi. Thuận Thiên công chúa là vợ của Trần Liễu khi ấy đang mang thai được 3 tháng. Năm 1237, Thái sư Trần Thủ Độ nắm thực quyền phụ chính đã ép cha của Trần Quốc Tuấn là Trần Liễu phải nhường vợ là Thuận Thiên công chúa (chị của Lý Chiêu Hoàng) thay làm Chính cung Hoàng hậu cho Trần Thái Tông, đồng thời giáng Lý hoàng hậu xuống làm công chúa. Việc này khiến Trần Thái Tông bỏ lên tu ở núi Yên Tử.

Người sau này đã chứng ngộ vận nước lâm nguy cường địch bên ngoài câu kết nội gián bên trong không thể không xử thời biến đặt vận mệnh “non sông đất nước Việt trên hết”. Người đã chấp nhận quay trở về “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Trần Thái Tông đã chấp nhận sự sắp xếp của Triều đình.

Sau này, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Hoảng là con thứ, vào ngày 24 tháng 2 năm 1258 để lui về làm Thái thượng hoàng,(con trưởng Trần Quốc Khang vốn là con Trần Liễu, anh em cùng cha khác mẹ với Trần Quốc Tuấn). Trần Thái Tông được tôn làm Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông. Tước vị và thông lệ Thái thượng hoàng của nhà Trần từ đấy đã trở thành truyền thống, vừa rèn luyện cho vị Hoàng đế mới cai trị đất nước càng sớm càng tốt vừa tránh được việc tranh giành ngôi báu giữa các con do chính danh sớm được định đoạt.

Trần Liễu gửi con là Trần Quốc Tuấn cho Thụy Bà công chúa mai danh ẩn tích tại chùa Thắng Nghiêm tìm minh sư luyện rèn văn võ. Sau đó ông dấy binh làm loạn ở sông Cái, cuối cùng bị thất thế, phải xin đầu hàng. Trần Thủ Độ toan chém nhưng Trần Thái Tông liều chết đưa thân mình ra ngăn cản buộc lòng Thủ Độ phải tự mình ném bảo kiếm xuống sông. Trần Liễu được tha tội nhưng quân lính theo ông làm phản đều bị giết hết và vua Thái Tông đổi ông làm An Sinh vương ở vùng đất Yên Phụ, Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

Trần Quốc Tuấn từ 5 tuổi đã được minh sư rèn luyện tỏ ra và một vị nhân tướng lỗi lạc phi phàm lúc trở về sớm được Trần Thái Tông quý trọng đức độ tài năng trong số con cháu vương thất. Qua sự biến Trần Quốc Tuấn yêu thương công chúa Thiên Thành, là con gái của vua Trần Thái Tông, nhân lễ hội trăng rằm nửa đêm đã lẻn vào chỗ ở của công chúa và thông dâm với nàng. Thời nhà Trần đã có quy định, để tránh ngôi vua truyền ra ngoài, chỉ có người trong tộc mới được lấy nhau nên kết hôn cùng huyết thống là điều không lạ và chuyện “quái” ấy cũng ‘quái” như việc Trần Thái Tông lấy vợ Trần Liễu.

Lại oái oăm thay, người Trần Quốc Tuấn yêu say đắm là công chúa Thiên Thành, mà vua Trần Thái Tông năm 1251 đã đính ước gả cô cho Trung Thành Vương là con trai của Nhân Đạo Vương. Vua đã nhận sính lễ, thông báo với quần thần và đang tiệc cưới. Trần Quốc Tuấn nửa đêm trăng rằm đột nhập vào phòng riêng công chúa ở phủ Trung Thành Vương và đôi trai gái trẻ đồng lòng đến với nhau. Quốc Tuấn nói với công chúa Thiên Thành sai thị nữ đi gặp Công chúa Thụy Bà cấp báo với vua ngay trong đêm đó. Vua hỏi có việc gì, Thụy Bà trả lời:“Không ngờ Quốc Tuấn ngông cuồng càn rỡ, đang đêm lẻn vào chỗ Thiên Thành, Nhân Đạo đã bắt giữ hắn rồi, e sẽ bị hại, xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu”. Trần Thái Tông vội sai người đến dinh Nhân Đạo vương, vào chỗ Thiên Thành, thì thấy Trần Quốc Tuấn đã ở đấy. Hôm sau, Thụy Bà công chúa dâng 10 mâm vàng sống đến chỗ Trần Thái Tông xin làm lễ cưới Thiên Thành công chúa cho Trần Quốc Tuấn. Thái Tông bắt đắc dĩ phải gả công chúa cho ông và lấy 2000 khoảnh ruộng ở phủ Ứng Thiên để hoàn lại sính vật cho Trung Thành vương. Tháng 4 năm đó, Trần Liễu ốm nặng. Lúc sắp mất, Trần Liễu cầm tay Trần Quốc Tuấn, trăng trối rằng: “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Trần Quốc Tuấn ghi để trong lòng, nhưng không cho là phải.

Câu chuyện Trần Quốc Tuấn yêu thương công chúa Thiên Thành và đã làm liều dám lấy tính mạng của mình làm như thể “cố tình phạm tội ngông cuồng trái nhân tình”, nhưng mấy ai thấu hiểu đó là sự lưa chọn sinh tử, phép thử tối cao cuối cùng của vị nhân tướng trước khi trao sinh mệnh đời mình cho Người tin yêu mình trong thực tiễn. Đó là phép biến Dịch của “Đạo làm tướng” “Chọn người”.

Trần Thái Tông và Trần Quốc Tuấn câu chuyện đêm trăng rằm để hiểu sâu hơn chiến công nhà Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên. Trần Thái Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông với thực tiễn hiển hách ba lần đánh thắng quân Nguyên và “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”, “Binh thư yếu lược” là kiệt tác muôn đời, ba đỉnh cao vọi của trí tuệ Việt Nam và nhân loại.

xem tiếp: Nhà Trần trong sử Việt https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-tran-trong-su-viet/

Video nhạc tuyển
Bài ca thời gian
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Kim on Twitter

Hoàng Thành

HOÀNG THÀNH
Ngọc Phương Nam
Hoàng Kim

Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (*)

Hứng mật đời
thành thơ
Việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình

Đến Trúc Lâm
Đạt năm việc lớn Hoàng Thành (**)
Đất trời xanh
Yên Tử …

(**) Hoàng Thành 30 Hoàng Diệu Võ Miếu Việt Nam

VÙNG TRỜI NHÂN VĂN
Hoàng Kim

Gương trời lồng lộng ban mai
Thung dung ta đến vùng trời nhân văn
Thịnh suy thế nước ngàn năm
Anh hùng là kẻ vì dân vì đời.

Bên lề chính sử dạo chơi
Rùa ơi thương Cụ biết nơi chọn về.
Kỳ Lân mộ, Tháp Rùa bia
Bia đời, bia miệng khắc ghi lòng người.

Tìm nơi tỉnh lặng ta ngồi
Tình yêu cuộc sống là nơi thư nhàn
Câu thơ lưu lạc trần gian.
Hoàng Thành Cổ Kiếm Hồ Gươm gọi về.

Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận ngày 1/8/2010. Hoàng Thành Thăng Long là khu trung tâm của kinh đô Thăng Long do vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lý quyết định xây dựng. Đây quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long Đông Kinh và tỉnh thành Hà Nội, là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam.

Hoàng thành Thăng Long bắt đầu từ thời kì tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh – Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Kinh đô Thăng Long suốt các triều đại Lý Trần là trung tâm văn hóa, giáo dục và buôn bán của cả nước. Thời Lê Quý Ly cướp ngôi nhà Trần đã thiên đô về Thanh Hóa lấy tên là Tây Đô và đổi Thăng Long thành Đông Đô. Năm 1406, nhà Minh đưa quân xâm lược Đại Ngu, Thăng Long bị chiếm đóng và đổi tên thành Đông Quan. Thời kỳ Bắc thuộc thứ tư bắt đầu từ năm 1407 kéo dài tới năm 1428.

Sau chiến thắng của khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi thành lập nhà Lê và Đông Đô trở  lại vị thế kinh thành. Hoàng thành Thăng Long dưới thời nhà Lê tiếp tục được mở rộng. Năm 1430, Đông Đô được đổi tên thành Đông Kinh, đến năm 1466 được gọi là phủ Trung Đô. Bên cạnh, khu vực dân cư được chia thành hai huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức, mỗi huyện 18 phường. Phủ doãn là chức đứng đầu bộ máy hành chính thời ấy.

Hội thề Đông Quan là tên gọi của một sự kiện diễn ra ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (tức ngày 10 tháng 12 năm 1427), tại thành Đông Quan, giữa thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi và chủ tướng quân Minh là Vương Thông Hai bên lập lời thề rằng sau sự kiện này, bên quân Minh do Vương Thông làm chủ tướng lập tức dẫn quân trở về nước, còn nghĩa quân Lam Sơn không được hãm hại quân Minh. Sau sự kiện này, cả hai bên đều làm đúng theo lời thề, nước Đại Việt lập lại hòa bình sau 20 năm bị quân Minh đô hộ.

Trước hội thề Đông Quan, năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn đã chiếm được vùng đất đai rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào phía nam, bao vây, cô lập thành Nghệ An và thành Tây Đô (Thanh Hóa). Tháng 8, năm 1426, Lê Lợi sai ba cánh quân tiến ra bắc, thắng trận liên tiếp thế như chẻ tre. Trần Trí tướng giữ thành Đông Quan phải cầu viện binh, hai tướng Lý An, Phương Chính từ Nghệ An đem quân về cứu Đông Quan. Vua nhà Minh cũng sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang tiếp viện, hội quân ở Đông Quan hơn 10 vạn quân. Tháng 10 năm 1426 Vương Thông bị đánh bại ở trận Tốt Động, Chúc Động, Vương Thông rút vào Đông Quan cố thủ. Vương Thông thế cùng muốn hòa, sau đó lại thay đổi ý định, đào hào, đắp lũy, gọi thêm viện binh. Năm 1427, vua nhà Minh sai Liễu Thăng đem 10 vạn quân, Mộc Thạnh 5 vạn quân chia làm hai đường cứu viện. Cánh quân Liễu Thăng bị đánh bại, Mộc Thạnh sợ hãi bỏ chạy. Vương Thông thế cùng phải mang thư đến nghĩa quân Lam Sơn cầu hoà, xin mở cho đường về. Lê Lợi chấp nhận, lại gởi tặng thổ sản và hải sản. Vương Thông xin giảng hòa nhưng bất ngờ đem hết quân trong thành ra đánh. Nghĩa quân Lam Sơn đặt phục binh vờ thua chạy, quân Minh đuổi theo tới ổ phục binh thì bị đánh tan. Vương Thông ngã ngựa suýt bị bắt, phải rút vội về thành. Nghĩa quân Lam Sơn tiến quân đến cửa Nam thành đắp bờ lũy chống giữ. Lê Lợi thân đốc các tướng đem quân đắp lũy từ phường Yên Hoa thẳng tới cửa Bắc thành Đông Quan. Quân Minh chỉ dám ở trong thành không dám ra. Vương Thông và Sơn Thọ bị vây cùng quẫn, lại xin hòa. Quốc dân đã bị cực khổ về sự quân Minh cai trị tàn ngược, và giận về sự tráo trở, xin cho đánh gấp, giết cho bằng hết. Lê Lợi đáp: “Việc dùng binh lấy sự toàn quân là hơn cả. Nay hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua Minh, trả lại đất cho nước ta, không còn trở lại xâm lấn, thì ta còn cầu gì hơn nữa, hà tất phải giết hết, để kết mối thù với nước lớn.” (Đại Việt thông sử). Lê Lợi nói rồi cho hòa giải, lệnh cho lộ Bắc Giang và Lạng Giang tu sửa đường sá để quân Minh về nước, sai Nguyễn Trãi soạn tờ biểu, lấy lời Trần Cảo là dòng dõi vua Trần, xin được làm vua. Nghĩa quân đưa thư trả lời Vương Thông, dùng Lê Quốc Trinh và Lê Nhữ Trì làm con tin. Lê Lợi sai con trưởng Lê Tư Tề và Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan làm con tin. Nhà Minh sai Sơn Thọ và  Mã Kỳ đến dinh Bồ Đề làm con tin.

Sau hội thề Đông Quan, Lê Lợi ra lệnh cấp cho cánh quân thủy do Mã Kỳ và Phương Chính nhận lãnh 500 chiếc thuyền và lương thảo, cánh đường bộ do Sơn Thọ, Hoàng Phúc lãnh nhận cấp cho hai nghìn cổ ngựa và lương thảo. Hơn 2 vạn người bị bắt hoặc đầu hàng thì do Mã Anh lãnh nhận. Chinh man tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. Tất cả đều tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về. Ngày 12 tháng 12, Phương Chính, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề cáo biệt Lê Lợi, ở lại suốt một buổi chiều, Lê Lợi sai sắm trâu ngựa, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng. Ngày 17 tháng 12 Vương Thông nhà Minh dẫn quân bộ đi sau. Vương Thông cùng vua nói chuyện từ biệt suốt đêm rồi đi. Vua sai đưa trâu rượu, cờ thêu, trướng vẽ cùng các lễ vật tiễn chân rất hậu. Quân thủy, bộ của ba thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh cùng lục tục rút tiếp. Từ đây, việc binh đao dập tắt, khắp thiên hạ thái bình. Vương Thông về đến Long Châu, vua Minh đã liệu trước bọn Vương Thông cùng quẫn, việc đã đến thế, không làm thế nào được nữa, đành sai bọn La Nhữ Kính mang thư sang phong Trần Cảo là An Nam Quốc Vương, bãi bỏ quân nam chinh, ra lệnh cho Thông trở về Bắc, trả lại đất cho An Nam, việc triều cống theo lệ cũ năm Hồng Vũ, cho sứ thần đi lại. Tổng cộng 10 vạn quân Minh đã được hồi hương an toàn.

Tác phẩm Bình Ngô đại cáo viết rằng: “Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng /Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng / Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh / Mã Kỳ , Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,/ Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run./ Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng / Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức/ Chẳng những mưu kế kì diệu/ Cũng là chưa thấy xưa nay…”

(***) Ngọc Phương Nam Nguyễn Chu Nhạc Hoàng Kim đối họa ngày 17 5 2013; Trịnh Tuyên Hoàng Kim đối họa ngày 20 3 2014

NGỌC PHƯƠNG NAM NGÀY MỚI
Hoàng Kim


Ai đến
nơi nao
xa
thăm thẳm
chia nửa
vầng trăng
khuyết lại tròn,
mưa
níu ngày dài
thêm nỗi nhớ
ngóng cửa
chờ nhau
ai
nhớ ai …

Cứ đợi
cứ chờ
thương
mòn mỏi
gìn vàng
giữ ngọc
nắng mai
nay,
Chút thôi
mưa sớm
trời
quang lại,
sương đọng
mi ai
lặng lẽ
hoài …

(Ngọc Phương Nam, hè 2013)

TỰ SỰ
Chunhac Nguyen


Người về
phương ấy
xa
lăm lắm
để lại
mình tôi
với mùa hè,
nắng
tuy chưa gắt
nhưng dai dẳng
của nỗi chờ trông
nắng
sắt se…

Chẳng biết
bao giờ
người
trở lại
bồi hồi
ngõ nhỏ
tĩnh lặng
xưa,
hiu hắt
nắng chiều
xiên
quán lá,
điệu nhạc
ai
sầu
da diết
đưa…

(Bình Dương . hè 2011)

KÊNH ÔNG KIÊT GIỮA LÒNG DÂN
Hoàng Kim

Giống sắn KM94, KM98-1, giống lúa gạo thơm ngon KĐM 135 ngon cơm sinh trưởng phát triển tốt trên vùng đất hoang hóa được tưới ở Tri Tôn, Tịnh Biên đã mang lại niềm vui cho người nghèo tại vùng đất này; chính nhờ kênh ông Kiệt mới bảo tồn và phát triển tốt được. Bảy Nhị kênh ông Kiệt và tôi là ký ức lắng đọng mãi trong lòng tôi

Thơ cho em giữa tháng năm này
Là lời người dân nói vể kênh ông Kiệt
Là con kênh xanh mang dòng nước mát
Làm ngọt ruộng đồng Tứ giác Long Xuyên

Con kênh T5 thoát lũ xả phèn
Dẫn nước ngọt về vùng quê nghèo khó
Tri Tôn, Tịnh Biên trong mùa mưa lũ
Giữa hoang hóa, sình lầy, thấm hiểu lòng dân

Nguyễn Công Trứ xưa khẩn hoang đất dinh điền
Thoại Ngọc Hầu mở mang kênh Vĩnh Tế
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân bền bỉ
Ân nghĩa cuộc đời lưu dấu nghìn năm

Em ơi khi nuôi dạy con
Hãy dạy những điều vì dân, vì nước
Người ta sinh ra cho đến khi nhắm mắt
Đọng lại trong nhau vẫn chỉ những CON NGƯỜI.

Hệ thống thủy lợi nội đồng nối với “Kênh ông Kiệt” đã mang nguồn nước ngọt về ruộng

Giống lúa KĐM 135 ngon cơm sinh trưởng phát triển tốt trên vùng đất hoang hóa được tưới đã mang lại niềm vui cho người nghèo.

Các giống cây màu rau đậu trồng vụ khô sau khi thu hoạch lúa đã giúp nâng cao đời sống người dân.

Khoa học kỹ thuật bám dân bám ruộng âm thầm nhưng hiệu quả làm đổi thay vùng Tri Tôn Tịnh Biên.

Ông Nguyễn Minh Nhị (nguyên Chủ tịch tỉnh) cùng anh Ngô Vi Nghĩa với giống mì ngắn ngày trên ruộng tăng vụ.

“Kênh ông Kiệt” và vùng đất An Giang cũng là nôi nuôi dưỡng phát triển của các giống mì ngắn ngày KM98-1, KM140 đươc chọn tạo để đáp ứng nhu cầu né lũ nay đã phát triển rộng khắp toàn quốc (ảnh Thầy Lê Minh Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, Phó Chủ tịch tỉnh An Giang với giống mì KM98-1)

Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn năng suất tinh bột cao kháng được sâu bệnh hại chính (CMD, CWBD) phú hợp với điều kiện sản xuất tại tỉnh Phú Yên và vùng phụ cận được thực hiện ngày nay là sự bảo tồn và phát triển chuỗi kinh nghiệm quý Cách mạng sắn Việt Nam.

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  

Mái trường bên dòng Gianh

MÁI TRƯỜNG BÊN DÒNG GIANH
Hoàng Kim

tư liệu và hình ảnh quý về mái trường bên dòng Gianh, nơi tỏa sáng nét đẹp nhân văn của tình thầy trò và nôi đào tạo nhiều thế hệ những người con trung hiếu hiến dâng bầu máu nóng cho Tổ Quốc Quê Hương trường tồn và phát triển.

“Trường Quảng Trạch trên miền Quảng Thọ/ Tên trường ta chữ đỏ vàng son/ Tên Tổ Quốc, tên yêu thương / Thơm dòng sữa mẹ quê hương xa gần … Thầy Trần Đình Côn người Hiệu trưởng đầu tiên Trường Quảng Trạch đã viết bài thơ tuyệt hay “Bài ca Trường Quảng Trạch” giới thiệu về Trường Quảng Trạch, một trường học nổi tiếng của tỉnh Quảng Bình lá cờ đầu địa chỉ xanh toàn ngành giáo dục Việt Nam thời chống Mỹ. Trường đã đào tạo biết bao thế hệ học sinh. Nhiều người trong số họ đã ngã xuống trên các chiến trường cho Việt Nam độc lập và thống nhất. Nhiều người trong số họ đã thầm lặng dấn thân cho đời sống của người dân tốt hơn, đất nước và quê hương vươn tới. Nhiều người trong số họ thành danh hiếm thấy trong cả nước, nhưng sâu sắc hơn hết là nét bình dị, chân thành, tình nghĩa, thuỷ chung.

“Ta gặp nhau từ lúc tóc còn xanh. Nay tìm lại thì đầu đã bạc. Để nhớ một thời cùng toàn dân đánh giặc. Gian khổ chất chồng, mất mát đau thương. Bốn mươi năm thầy bạn tỏa muôn phương. Nay ôn lại thầy trò thời chống Mỹ. Trăm khuôn mặt anh chị nào cũng quý. Bình dị, chân thành, tình nghĩa, thuỷ chung. Nét đẹp quê hương Quảng Trạch anh hùng”. Thầy Phạm Ngọc Căng người Thanh Hóa, phó Hiệu trưởng đầu tiên của Trường cấp Ba Quảng Trạch là tác giả của những câu thơ thắm tình thầy bạn trên đây.

VỀ LẠI MÁI TRƯỜNG BÊN DÒNG GIANH
Thầy Phạm Ngọc Căng đã cùng với thầy Châu, thầy Thành đã dốc sức thiết lập Ban Liên Lạc cựu thầy cô và học sinh Trường Quảng Trạch mới và cũ để kết nối hình thành nền tảng tư liệu và thông tin cho Trường Quảng Trạch. Quý Thầy đã vào đất phương Nam gặp cựu học sinh Trường Quảng Trạch để chuẩn bị lễ kỷ niệm truyền thống… “Chúng tôi sà vào lòng Thầy mà trẻ lại”. Anh Đinh Đình Chiến hiệu trưởng Trường Phổ thông Trung học Đức Linh Bình Thuận là cựu học sinh của Trường Quảng Trạch đã xúc động thán phục gương tận tụy của quý Thầy mà nói vậy. Đó cũng là sự ngưỡng mộ và biết ơn sâu nặng của chúng tôi đối với quý Thầy …

Trường Quảng Trạch là nôi dạy giỏi học tốt mẫu mực lá cờ đầu của ngành giáo dục Việt Nam thời chống Mỹ.Trường Quảng Trạch là nơi tỏa sáng nét đẹp nhân văn của tình thầy trò và nôi đào tạo nhiều người thành danh hiếm thấy trong trong cả nước. Tính sơ trong lứa chúng tôi, Trường Quảng Trạch đã là nôi đào tao nên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam nhà giáo ưu tú Nguyễn Thị Nghĩa, nhiều tướng lĩnh, Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch tỉnh, giáo sư nhà giáo nhân dân Trần Văn Minh, giáo sư nhà giáo nhân dân Trần Nghi, giáo sư nhà giáo ưu tú Trần Ngọc Vương (Vuong Tran Ngoc), PGS.TS. Trương Minh Dục, nhà văn Nguyễn Quang Lập, PGS TS Nguyễn Vũ Tiến (Tiến Nguyễn Vũ), thầy giáo nhà văn Hoàng Minh Đức, nhiều doanh nhân thành đạt, nhiều tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà báo, thầy giáo, nhà nông, đủ mọi lĩnh vực mọi ngành nghề…Về lại mái trường bên dòng Gianh chúng tôi nghe tiếng vọng âm vang của quá khứ bài hát nức tiếng một thời “Mời ghé thăm trường em” của nhạc sĩ Quách Mộng Lân và bài thơ “Về Quảng Trạch” của thầy Võ Huy Cát (Vĩnh Phúc).

Mời ghé thăm trường em
Nhạc và lời: Quách Mộng Lân

Ai về Quảng Lưu mời ghé thăm trường em Lớn lên trong những ngày vui đánh Mỹ Trường của em theo tiếng gọi Bác Hồ Lớp học là chiến trường, học sinh là chiến sĩ Ôi mái trường đẹp xinhBao năm trường dạy ta khôn lớn Có thầy có bạn ngày đêm chan chứa bao tình
Ai về Quảng Lưu mời ghé thăm trường em Gió reo vui hát bài ca chiến thắng Ruộng phì nhiêu năm tấn hạt thóc vàng Sống vui với xóm làng Trường ta thêm gắn bó Đây mái trường của ta Bao năm trường day ta khôn lớn Muôn hạt giống đỏ rồi đây Đi khắp mọi miền dựng xây Tổ quốc.

Về Quảng Trạch
Võ Huy Cát (Vĩnh Phúc)

Sách giáo khoa anh chép mấy đêm thâuMà từng bản thấm mồ hôi trí tuệ Đồ dạy học biến từ không thành có Từ mảnh bom vỏ đạn quân thù Có thầy giáo lội băng đồng đến lớpNỗi cảm thông thầm kín trong lòngVừa hôm qua đi bới hầm chữa cháy Soạn xong bài vừa lúc hừng đông Có thầy giáo cùng các em tâm sự Cảnh nhà neo mẹ giặc giết hôm qua Một lon gạo thấm tình người đồng chí Một lời khuyên ấm tình bạn chan hoà Có em học điểm năm chen cọc sổ Chiều lại về làm cán bộ thông tin Chòi phát thanh tiếng em vang xóm ngõ Những chiến công lừng lẫy hai miền Quảng Trạch ơi kể làm sao hết đượcNhững chiến công của những người con Trên đất anh hùng hôm trước đạn bom Mà sáng dậy vẫn cười vui đến lớp Anh đứng đó mái trường tranh mới lợp Trái tim sôi máu nóng hờn căm Mười tám đôi mươi hay tuổi trăng rằm Mang sức trẻ cùng toàn dân cứu nước Quảng Trạch ơi đường vào đó bao xa Cầu phá mấy chuyến phà anh nhỉ Cho tôi gửi bài thơ tặng người đồng chí Dưới mái trường xanh đang ươm những mầm hoa Dưới mái trường tranh đang cứu nước cứu nhà.

TRƯỜNG QUẢNG TRẠCH TÌM TRONG DI SẢN
Sự lắng đọng sâu sắc hơn hết di sản Trường Quảng Trạch trong lòng tôi là những tấm gương tận tụy phúc hậu của các người thầy và những bạn học thân thiết một thời với nhân cách tâm hồn cao quý và trí tuệ mãi ấm áp trong lòng tôi tỏa sáng tình yêu thương và nâng đỡ nghị lực khát vọng. Thầy Trần Đình Côn người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường đã viết ‘Bài ca Trường Quảng Trạch’ di sản quý giá về Trường

Bài ca Trường Quảng Trạch
Trần Đình Côn, Hiệu trưởng

Hồi tưởng lại một mùa thu ấy
Mấy thu rồi biết mấy đổi thay
Khởi công ròng rã tháng ngày
Dốc lòng, dốc sức dựng xây trường mình

Vùng các trắng biến thành ao cá
Rừng dương xanh lộng gió vi vu
Giếng thơi trong suốt ngọt ngào
Cổng trường cao rộng đón chào anh em

Trường Quảng Trạch trên miền Quảng Thọ 1
Tên trường ta chữ đỏ vàng son
Tên Tổ Quốc, tên yêu thương
Thơm dòng sữa mẹ quê hương xa gần

Phòng học mới cửa xanh, ngói đỏ
Lá cờ sao trước gió tung bay
Tình em, tình bạn, tình thầy
Mỗi ngày thêm nặng, mỗi ngày thêm sâu.

Lòng những tưởng khởi đầu vất vả
Để năm sau tất cả tiến lên
Ai ngờ giặc Mỹ đê hèn
Tường vôi tan nát, khói hoen mặt người.

Cuộc sống đã sáng ngời lửa thép
Đạn bom nào uy hiếp được ta
Cổng trường, mái ngói, tường hoa
Đã thành gạch vụn xót xa hận thù

Đã đến lúc thầy trò sơ tán
Xa thị thành về tận xóm thôn
Bầu Mây, Phù Hợp, Đồng Dương 2
Trắng trong cồn cát mái trường thêm xinh

Phá trường ngói trường tranh ta dựng
Đắp luỹ dày, hầm vững, hào sâu
Khiêng bàn, vác gỗ đêm thâu
Lưng trời đạn xé, ngang đầu bom rơi.

Nơi Hầm Cối 3 xa vời em đến
Qua Khe Sâu 4 đá nghiến nát chân
Nhớ khi bụng đói lạc đường
Càng căm giặc Mỹ, càng thương chúng mình.

Chí đã quyết hi sinh chẳng quản
Lòng đã tin vào Đảng, vào dân
Kết liền lưc lượng Công Nông
Ghi sâu tình bạn Hải quân anh hùng

Sông Gianh đó vẫy vùng một cõi
Thép hạm tàu chói lọi chiến công
Đôi ta chiến đấu hợp đồng 5
Vít đầu giặc Mỹ xuôi dòng nước xanh.

Ngày thêm nặng mối tình kết nghĩa
Nơi “vườn đào” đất mẹ Phù Lưu 6
Cùng nhau chung một chiến hào
Trao quà chiến thắng vui nào vui hơn

Từ ấy đã nghìn đêm có lẽ
Có phút nào giặc Mỹ để yên
Chất chồng tội ác ngày đêm
Lửa thù rực cháy đốt tim muôn người

Ôi những cảnh rụng rời thê thảm
Mái nhà tranh giáo án thành tro
Mẹ già, anh chị, em thơ
Xương bay, thịt nát, cửa nhà tan hoang

Lớp học đó chiến trường em đó
Nín đi em hãy cố học chăm
Giành điểm bốn, giành điểm năm
Ấy là diệt Mỹ chiến công hàng ngày.

Đã có bạn có thầy giúp đỡ
Khó khăn nào lại khó vượt qua
Miếng khi đói gói khi no
Lưng cơm hạt muối giúp cho bạn nghèo

Thương em cảnh gieo neo mẹ mất
Lại cha già giặc giết hôm qua
Tình thầy tình bạn tình cha
Ấy là tình Đảng thiết tha mặn nồng.

Có những lúc đêm đông giá rét
Thầy bên em ai biết ai hay
Hầm luỹ thép, ngọn đèn khuya
Mùa đông sưởi ấm, mùa hè mát sao.

Nào Văn học lại nào Toán Lý
Giảng cho em nhớ kỹ từng lời
Cho em học một biết mười
Cho em học chóng nên người tài cao

Dắt em tận năm châu bốn biển
Mắt nhìn xa nghĩ đến mai sau
Đây Lạng Sơn đó Cà Mau
Giang sơn hùng vĩ, địa cầu lừng danh

Đưa em lên sao Kim sao Hoả
Để em nhìn cho rõ nước ta
Hiểu ngày nay ,hiểu ngày xưa
Hùng Vương, Nguyễn Trãi gần là Quang Trung

Em càng hiểu anh hùng thời đại
Có Bác Hồ chỉ lối ta đi
Dù địch phá, dù gian nguy
Trường ta vững lái cứ đi cứ về

Tuổi thanh niên sơ gì việc khó
Khó khăn nhiều tiến bộ càng nhanh
Đã nuôi chí lớn ắt thành
Có thầy, có bạn, có mình, có ta.

Thiếu phấn viết làm ra phấn viết
Sách giáo khoa ta chép thâu đêm
Sản xuất kết hợp học học hành
Như chim đủ cánh cất mình bay cao.

Ruộng tăng sản bèo dâu xanh biếc
Cấy thẳng hàng buốt thịt xương đau
Độ pH cách trừ sâu
Chiêm mùa sau trước trước sau khác gì.

Sổ tay đó em ghi phân bón
Ước mơ sao năm tấn thành công
Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông
Bức tranh tuyệt đẹp ruộng đồng bao la

Những đêm sáng trăng ngà trong suốt
Vút lên cao thánh thót lời ca
“Hoa Pơ lang” 7 ấy bông hoa
Tây Nguyên đẹp nhất thiết tha gửi lời
“Nổ trống lên rừng núi ơi” 8
“Bài ca may áo” 9 “Mặc người dèm pha” 10

Thân múa dẽo kết “Hoa Sen” 11 trắng
Giữa hội trường rực sáng đèn xanh
Tưởng chừng lạc đến cảnh tiên
Tưởng chừng thiếu nữ ở miền Thiên Thai.

Ai biết đó con người nghèo khổ
Con Công Nông bỗng hoá thành tiên
Rũ bùn em bước đi lên
Bùn tanh mà đã lọc nên hương trời.

Trường ta đó ấy nơi rèn luyện
Mấy năm qua bao chuyện anh hùng
Ngày xưa Phù Đổng Thiên Vương
Ta nay lớn mạnh phi thường lạ chưa?

Trong chiến đấu xông pha diệt Mỹ
Lập công đầu dũng sĩ tiền phương
Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan
Châu Âu châu Á từ trường mà ra

Dù ở tận Cu Ba châu Mỹ
Vẫn ngày đêm suy nghĩ về ta
Dú cho ở lại quê nhà
Xóm thôn xã vắng vẫn lo sớm chiều

Lo nước đủ phân nhiều lúa tốt
Cảnh ruộng đồng hợp tác vui thay
Mỗi khi bưng bát cơm đầy
Dẽo thơm một hạt nhớ thầy năm xưa

Ôi có những phút giờ sung sướng
Là những khi cờ Đảng trao tay 12
Anh em bè bạn sum vầy
Tiếng cười xen tiếng vỗ tay kéo dài

Có những lúc nghe đài Hà Nội
Vang truyền đi thế giới gần xa
Tin trường ta, tin chúng ta
Hả lòng, hả dạ ước mơ nào bằng

Có những lúc báo Đoàn báo Đảng
Đăng tin trường khai giảng thành công
Tin một năm, tin ba năm
Như luồng gió mới lửa hồng bùng lên

Trên màn bạc giữa nền ánh điện
Phim trường ta chiếu rạng khắp nơi 13
Châu Âu châu Mỹ xa xôi
Năm câu bốn biển rõ mười tin vui

Hay biết mấy xem người trong ảnh
Ta xem ta xem cảnh trường ta
Này hầm, này luỹ, này nhà
Kìa thầy kìa bạn kìa là xã viên

Phù Lưu đó ruộng liền thẳng cánh
Bầu Mây đây đúng cảnh trong phim
Sáng bừng như mặt trời lên
Chói ngời như một niềm tin tuyệt trần.

Chào 68 mùa xuân tuyệt đẹp
Cả trường đang vang nhịp tiến công
Đón xuân với cả tấm lòng
Đầy trời lửa đạn súng giòn chào ta

Duyên thiên lý một nhà sum họp
Người tuy đông mà một lòng son
Nào khách quý nào tri âm
Bốn phương quy tụ xa gần về đây

Thời gian hỡi dừng ngay cánh lại
Giờ vui ơi xin hãy khoan thai
Rượu nồng chưa uống mà say
Bữa ăn quên đói, chuyện dài thâu canh

Vui gặp chị gặp anh thân thiết
Chuyện xa gần khôn xiết nói sao
Yêu nhau xin nhớ lời nhau
Thù chung đã nặng càng sâu thù nhà

Con khôn lớn mẹ cha đẹp mặt
Trường vững vàng Đảng ắt mừng vui
Cờ hồng bạn lại trao tay 14
Phất cao cho đến tầng mây xa vời

Sức ta ước chọc trời khuấy nước
Khó khăn nào chặn bước ta đi
Mỗi năm xuân đến một thì
Xuân này hơn hẵn mấy kỳ xuân qua.

Có nghe chăng Bác Hồ ra lệnh
“Tiến lên toàn thắng ắt về ta”
Tiến lên giành lấy tự do
Tiến lên giành lấy thời cơ diệt thù

Hồi tưởng lại những mùa thu ấy
Bao ngày qua biết mấy buồn vui
“Đắng cay nay mới ngọt bùi
Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”

Lời Bác dạy ghi sâu trong dạ
Ngọn đèn pha chiếu toả muôn nơi
Trang sách rộng nghĩa đường đời
Học hành kết hợp nên người tài ba

Nay sum họp mai đà li biệt
Tiễn người đi lại tiếp người vào
Kể sao vui sướng dạt dào
Người sao vương vấn ra vào băn khoăn

Đã vì Đảng vì Dân vì Nước
Tiến lên đi nhanh bước tiến lên
Lòng thầy luôn ở bên em
Đường lên sao Hoả, sao Kim xa gì?

Đi đâu cũng hướng về Quảng Trạch
Cũng có ngày gặp mặt các em
Nhắc bao kỷ niệm êm đềm
Báo công nghi tiếp nên thiên sử vàng …

7.11.1968
TĐC
1) Xã trường đóng từ 9/1962- 6/1965 2) Những tên đất, tên làng trường sơ tán từ 1965 đến1968; 3) Tên rú nơi các em đi lấy gỗ; 4) Tên khe nơi các em đi qua; 5) Trận chiến đấu hợp đồng giữa Trường và đơn vị kết nghĩa Hải quân sông Gianh6) Nơi làm lễ kết nghĩa giữa ba đơn vị 11/19657; 8, 9, 10) Tên các ca khúc mà các em thường hát; 11) Điệu múa truyền thống của Trường; 12) Lễ tiếp nhận lần thứ nhất Cờ Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ trao tại Cao Mại ngày 30/8/1967; 13)Bộ phim Trường Quảng Trạch do nhà quay phim Ma Văn Cường dựng 5/12/1965; 14) Lễ treo tặng lần thứ nhất Cờ Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ và Bằng Khen của Tổng Công Đoàn tại Phù Lưu ngày 4/1/1968




Thầy Nguyễn Khoa Tịnh là người thầy dạy sử đã làm thay đổi đời tôi và thơ tôi. Cao hơn trang văn là cuộc đời. Bài thơ xúc động, ám ảnh và thấm thía nhất trong đời tôi là hai câu thơ “Không vì danh lợi đua chen Công cha nghĩa mẹ quyết rèn bản thân” của thầy Hoàng Ngọc Dộ anh Hai nuôi dạy tôi từ nhỏ và bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên” của thầy Nguyễn Khoa Tịnh




EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN
Nguyễn Khoa Tịnh
tặng em Kim, thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

“Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải! Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cảM
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”


Phải! Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng” hiên ngang khí phách:

“Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sáng mát thu không
Nằm ngửa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong”


Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

“Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa
Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời
Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.
Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.
Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!”

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với emMình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

“Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!”


Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

“Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!”


Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI
Hoàng Kim
trước tượng Phan Bội Châu, nhớ thầy cô Nguyễn Khoa Tịnh Trần Thị Diệu Vinh “Thầy truyền cho chúng em niềm tin Đạo làm người, lòng yêu nước. Em càng thấm thía vô cùng. Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa. Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, … Đều yêu nghề dạy học.”

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.
Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng.
Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nướcthương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
“Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay”

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí nối Ức Trai xưa.

Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có

Thầy giảng Đại cáo bình Ngô
Liên hệ chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
cũng như chuyện “Tam cố thảo lư”anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
đã tôn làm quân sư cùng lo việc nước…
Thầy kể chuyện Đào Duy Từ xưa
Bậc khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng
Đào Duy Từ còn mãi với non sông:
Người có công nghiệp lẫy lừng chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc thu Nam công đầu Nam tiến.
Người tổ chức phòng ngự chiều sâu
Hoành Sơn Linh Giang Lũy Thầy
minh chúa, quân giỏi, tướng tài, ba tầng thủ hiểm
Người xây dựng nên định chế đàng Trong
một chính quyền rất được lòng dân
nức tiếng một thời.
Người viết nên kiệt tác
Hổ trướng khu cơ, tuồng Sơn Hậu, nhã nhạc cung đình
là di sản muôn đời.
Trí tuệ bậc thầy, danh thơm vạn thuở

Thầy giảng về bài học lịch sử Việt Nam
những người con trung hiếu
tận tụy quên mình vì dân vì nước
hẳn lòng Thầy cháy bỏng khát khao
vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.
Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ

Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
Em ơi em, can đảm bước chân lên (*)
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời của Thầy theo mãi bước em đi.

Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON
(Hiệu đính hoàn thiện và lưu trữ tại
https://www.facebook.com/daihocnonglam/posts/10211269293349749
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mai-truong-ben-dong-gianh

Trăng rằm

TRĂNG RẰM
Hoàng Kim

Em đi chơi cùng Mẹ
Nay mai là trăng rằm
Thảo thơm vui đầy đặn
Ân tình cùng nước non.

Trăng khuyết rồi lại tròn
An nhiên cùng năm tháng
Ơi vầng trăng cổ tích
Soi sáng sân nhà em.

Đêm nay là đêm nao?
Ban mai vừa ló dạng
Trăng rằm soi bóng nắng
Bạch Ngọc trời phương em.

xem tiếp
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/trang-ram/

Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn,  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim

Lời Thầy luôn theo em

LỜI THẦY LUÔN THEO EM
Hoàng Kim

trước tượng Phan Bội Châu, nhớ thầy cô Nguyễn Khoa Tịnh Trần Diệu Vinh “Thầy truyền cho chúng em niềm tin Đạo làm người, lòng yêu nước. Em càng thấm thía vô cùng. Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa. Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, … Đều yêu nghề dạy học.”

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng.

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
“Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay”

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí nối Ức Trai xưa.

“Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có”

Thầy giảng Đại cáo bình Ngô
Liên hệ chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
cũng như chuyện “Tam cố thảo lư”
anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
đã tôn làm quân sư cùng lo việc nước…

Thầy kể chuyện Đào Duy Từ xưa
Bậc khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng…
Đào Duy Từ còn mãi với non sông:
Người có công nghiệp lẫy lừng chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc, thu Nam, công đầu Nam tiến.
Người tổ chức phòng ngự chiều sâu
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
minh chúa, quân giỏi, tướng tài, ba tầng thủ hiểm
Người xây dựng nên định chế đàng Trong
một chính quyền rất được lòng dân
nức tiếng một thời.
Người viết nên kiệt tác Hổ trướng khu cơ,
tuồng Sơn Hậu, nhã nhạc cung đình
là di sản muôn đời.
Trí tuệ bậc thầy, danh thơm vạn thuở …

Thầy giảng về bài học lịch sử Việt Nam
những người con trung hiếu
tận tụy quên mình vì dân vì nước
hẳn lòng Thầy cháy bỏng khát khao
vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Có nông phu ham học chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.
Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!” (1)
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời Thầy luôn theo em

Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON

(1) bài thơ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh
Em ơi em can đảm bước chân lên“.

NHỚ THẦY CÔ
Hoàng Kim

“Đúc gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Văn Sử là Người, Thầy Cô thắp lửa thiêng
Khoa Tịnh Diệu Vinh mãi mãi vững bền.

Thầy Cô đó thanh thản cùng con cháu
Nén hương thơm thành kính ơn Người
Thầy đón Cô về là ngày giỗ Bác (*)
Xa mà gần thương nhớ mãi Cô ơi !

Tài sản Thầy Cô gia đình hạnh phúc
Phúc hậu tận tâm minh triết an nhiên
Đời thanh thản sống vui sống khỏe
Trăng rằm xuân thế giới người hiền.

(*) Thầy Nguyễn Khoa Tịnh bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“ . Cô Diệu Vinh và người thân trước mộ cụ Phan. Ngày của Cô (21 tháng 7al) là ngày giỗ Bác Hồ, 31.8.2018 Lời của Thầy theo mãi bước em đi


EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN
Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
“Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

“Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang”

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

“Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong”

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

“Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời
Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.
Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!”

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

“Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!”

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

“Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến

Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!”|
Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI
Hoàng Kim
tưởng nhớ thầy Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng.

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
“Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay”

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí nối Ức Trai xưa.

“Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có”

Thầy giảng Đại cáo bình Ngô
Liên hệ chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
cũng như chuyện “Tam cố thảo lư”
anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
đã tôn làm quân sư cùng lo việc nước…

Thầy kể chuyện Đào Duy Từ xưa
Bậc khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng…
Đào Duy Từ còn mãi với non sông:
Người có công nghiệp lẫy lừng chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc, thu Nam, công đầu Nam tiến.
Người tổ chức phòng ngự chiều sâu
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
minh chúa, quân giỏi, tướng tài, ba tầng thủ hiểm
Người xây dựng nên định chế đàng Trong
một chính quyền rất được lòng dân
nức tiếng một thời.
Người viết nên kiệt tác Hổ trướng khu cơ,
tuồng Sơn Hậu, nhã nhạc cung đình
là di sản muôn đời.
Trí tuệ bậc thầy, danh thơm vạn thuở …

Thầy giảng về bài học lịch sử Việt Nam
những người con trung hiếu
tận tụy quên mình vì dân vì nước
hẳn lòng Thầy cháy bỏng khát khao
vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.

Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!”
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời của Thầy theo mãi bước em đi.

Lê Quang Vinh cùng với Ma Thi Len8 người khác.18 Tháng 11, 2017 ·

HAI BÀI THƠ – MỘT TẤM LÒNG
Lời dẫn của Lê Quang Vinh

Tôi là lứa học trò gần như “đầu đời’’ của cụ Nguyễn Khoa Tịnh. Ông dạy môn Lịch sử hai năm tôi học ở lớp 8C và lớp 9B (các năm 1964 – 1966, tại Trường Cấp 3 Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Tôi nhớ, hồi ấy Thầy giáo chưa… “làm thơ”; hoặc có làm nhưng không thấy đọc cho học trò nghe bao giờ.

Tôi hơn Hoàng Kim (FB “Hoàng Kim“) 6 tuổi. Em là lứa lớp sau tôi mấy khóa. Nhưng hai anh em may mắn, đều được thụ giáo (chịu sự dạy bảo) của thầy Nguyễn Khoa Tịnh.

Như đã “bật mí” tại lời dẫn của tôi trong bài “MỘT BÀI THƠ HAY CỦA NGƯỜI CON TRAI LÀNG MINH LỆ – TIẾN SĨ NÔNG HỌC HOÀNG KIM” (Lê Quang Vinh): “Chàng trai này từ nhỏ tên “Hoàng Minh Kim”, đã ham đọc sách và làm thơ; cứ tưởng sau này sẽ theo nghiệp… văn chương”.

Có lẽ thế, nên khi vừa vào học Cấp 3 Bắc Quảng Trạch, Hoàng Kim đã viết mấy bài thơ về thế giới quanh em; hoặc hoàn cảnh riêng của cá nhân mình… Em không thể ngờ được rằng, các bài thơ vô tư, hồn nhiên đó; lại có thể lọt ngay vào đôi “mắt xanh” của người thầy dạy Sử này. Đấy là “duyên thơ” của cả hai thầy trò.

Bài thơ “Em ơi em, can đảm bước chân lên” của cụ Nguyễn Khoa Tịnh chính là “họa lại” (tổng hợp, khuếch tán, nhân lên tình ý) từ cảm hứng đột nhiên khi đọc được thơ cậu học trò nhỏ của mình, gồm 6 bài thơ: “Bụng đói”, “Cái chảo rang”, “Ngủ đồng”, “Qua đèo Ngang”, “Tỏ chí”, “Tập làm thầy giáo”.

Điều thú vị là, trong bài thơ “Em ơi em, can đảm bước chân lên”, Ông giáo dùng nguyên văn nhiều câu thơ, đoạn thơ và cả bài thơ của Hoàng Kim – thủ pháp rất hiếm khi phải dùng tới hoặc khá “tối kỵ” trong sáng tạo nghệ thuật. Thế mà Thầy lại cố ý, dụng công vô cùng, để biến nó thành những câu thơ, đoạn thơ thống nhất, nhuần nhị trong cả bài thơ một cách hợp lý; khiến chất liệu thơ cùng giọng điệu, cấu tứ hòa quện nhau như… rút từ ruột gan của “chính mình’’ ra.

Cụ Nguyễn Khoa Tịnh làm điều này một cách khéo léo qua những câu thơ “bình luận” thơ trò, để “kết dính” chúng với nhau. Qua các câu thơ “bình luận” ấy, nâng tầm “thi liệu” đang được sử dụng trong bài thơ mình.

Đọc xong bài thơ, nếu không thật “chú ý”, khó lòng mà nhận ra đâu là… “thơ thầy”, đâu là… “thơ trò”. Đấy cũng là một “sự chơi” độc đáo của các bậc thi gia xưa…

(1/ “Bụng đói”: cả bài 4 câu “tứ tuyệt”.
2/ “Cái chảo rang”: cả bài 8 câu “thất ngôn”.
3/ “Ngủ đồng”: cả bài 8 câu “thất ngôn”.
4/ “Qua đèo Ngang”: cả bài 51 câu thể thơ “tự do”.
5/ “Tỏ chí”: Cả bài 8 câu thất ngôn.
6/ “Tập làm thầy giáo” cả bài 8 câu “bát ngôn”.).

Chắc chắn khi Hoàng Kim nhận lại được bài thơ đầy ân tình của Thầy – hẳn đã vô cùng sung sướng, cảm động. Đó chính là nguồn hứng khởi lay động tâm hồn, trái tim người học trò còn rất bé nhỏ này; để rồi sáng tạo nên bài thơ mới lắng đọng hơn, sâu sắc hơn, lý trí hơn: “LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI”.

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, LQV xin gửi đến bạn đọc hai bài thơ – thực chất là cùng một tấm lòng yêu thương (“Tất cả vì học trò thân yêu” của người thầy và đạo lý “Tôn sư trọng đạo” của cậu học trò); nó thực sự thấm đẫm tình thầy trò của cụ Nguyễn Khoa Tịnh và người học trò xưa của ông – nay đã là Nhà nông học, Tiến sĩ Hoàng Kim – đúng như kỳ vọng cùng tiên đoán của mình.

Hà Nội, 16 giờ 04′ – ngày 18/11/2017

LQV,

Ơn Thầy

ƠN THẦY
Hoàng Kim
kính tặng thầy Mai Văn Quyền và quý Thầy Cô


Cha ngày xưa nuôi con đi học.
Một nắng hai sương trên những luống cày,
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ, 
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất,
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con,
Mắt cha lắng bao niềm ao ước,
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng.

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy,
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm.
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ,
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con.

Trên luống cày này, đường cày con vững.
Bởi có dáng Thầy thay bóng cha xưa.
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ.
Thôi thúc tim con học tập phút giờ .

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video nhạc tuyển
Biết chăm sóc sức khỏe
Secret Garden – Bí mật vườn thiêng 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Ngày mới trên quê hương


NGÀY MỚI TRÊN QUÊ HƯƠNG
Hoàng Kim

Đêm Giáng Sinh an lành
Ông Già Noel mở cửa
Chuông ngân nga mười hai giờ đêm
Đông tàn xuân đã đến

Sáng mai
Em dậy đi làm sớm
Trời còn se lạnh
Đừng quên giữ ấm nghe em

Lời nhắn yêu thương
Tình yêu đầy đặn
Thung dung cuộc đời
Ngày mới trên quê hương.

NGÀY MỚI LỜI YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim

Khoác thêm tấm áo trời se lạnh
Đông tàn xuân đến đó rồi em
Phúc hậu mỗi ngày chăm việc thiện
Yêu thương xa cách hóa gần thêm

New day words of love

Wearing sweater when it’s rather cold.
Winter comes to an end ,and early Spring is coming.
Everyday, we care good deeds kindly.
Distant love turn out to be close together.

HK

xem tiếp
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/loi-yeuthuong/

Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn,  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim

Thơ cho con

Tho cho con 1

THƠ CHO CON
Hoàng Kim
thương yêu tặng Hoàng Tố Nguyên Hoàng Long

Con!
Thân thương một tiếng gọi
Hạnh phúc bật nên lời
Lòng Cha bồi hồi
Sung sướng gọi:
Con!

Cha đi công tác xa
Mong đợi Con, từng ngày chờ thư Mẹ
Thư đến!
Con ra đời!
Cha run lên vì mừng
Thao thức suốt đêm
Không ngủ

Bạn bè vây quanh Cha
Trân trọng niềm vui thiêng liêng
Nâng cốc chúc Cha
Hạnh phúc!

Tiếng Con ngọt ngào môi Cha
Dào dạt lòng Cha vỗ mãi
Có Con
Nối cuộc đời Cha
Gấp đôi
Có Con
Đan giữa cuộc đời
Hạnh phúc

Con là sợi dây máu thịt
Yêu thương gắn Mẹ và Cha
Có Con
Cha thấy cuộc đời ý nghĩa hơn
Cuộc sống – Tình yêu – Sự nghiệp
Hai Con là hai con mắt
Cửa sổ tâm hồn Cha
Dẫu đời Cha nhiều chông gai
Trái chín cuộc đời vẫn ngọt
Con là giấc mơ trong trẻo
Là ban mai tươi vui
Là viên ngọc trao đời
Là hương hoa hạnh phúc

Ước vọng cuộc đời Cha
Có Con đi nối con đường sự nghiệp
Con đứng trên vai Cha
Vươn tới những chân trời mơ ước

Hai Con
Hai viên ngọc
Chị con và Con
Mẹ con dịu hiền hơn
Mẹ con đảm đang hơn
Cha bớt vụng về mỗi việc làm nho nhỏ
Con trở thành ngọn lửa
Sưởi ấm lòng Mẹ Cha
Khi mỗi ngày khó khăn
Trong trẻo tiếng Con
Mẹ Cha hết mệt
Con là niềm vui lớn nhất
“Con hơn Cha nhà có phúc”
Cha mong dồn cho Con.

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên Con là Hoàng Long?
Con ơi!
Tên Con là khúc hát yêu thương
Của lòng Cha Mẹ
Cha Mẹ thương nhau
Vì qúy trọng những điều ân nghĩa
Sự nghiệp và tình yêu
Những ngày gian khổ
Cùng nghiên cứu củ sắn, củ khoai
Con là giống khoai Hoàng Long
Tỏa rộng nhiều vùng đất nước
Dẫu không là trái thơm qủa ngọt
Nhưng là niềm vui người nghèo
Để Cha nhớ về quê hương
Khoai sắn bốn mùa vất vả
Để Cha nhớ những ngày gian khổ
Năm năm
Cơm ngày một bữa
Khoai sắn không phụ lòng
Để Cha nhớ về
Lon khoai nghĩa tình
Nắm khoai bè bạn
Gom góp giúp Cha ăn học
Khi vào đời
Cha gặp Mẹ con
Cho nên:
Cha muốn Con
Trước khi làm những điều lớn lao
Hãy biết làm củ khoai, củ sắn
Hãy hướng tới những người lao động
Nhớ quê nghèo cắt rốn, chôn rau

Lớn lên
Con sẽ hỏi cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Con là đậu rồng
Là công trình thứ hai Mẹ Cha nghiên cứu
Mẹ con chọn hạt
Cha gieo nên con
Vất vả gian nan
Hứa hẹn một mùa gặt hái
Con là tháng ngày mong đợi
Là niềm vui đóng góp cho đời
Từ hạt đậu củ khoai
Cha Mẹ trao Con sự nghiệp
Cha nhớ câu đối trăm năm
Về một gia đình hạnh phúc
“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai
ngày khoai ba bữa
Cha đỗ, mẹ đỗ, con đỗ
đều đỗ cả nhà”
Chị con và Con
Là mong ước
Của Mẹ và Cha

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Nghĩa mẹ tạo nền
Công cha xây móng
Trước mắt con là sông dài, biển rộng
Ước mong con bay lên
Con hãy đi đến cùng
Mục đích của con
Làm được những điều cao cả
Hãy cố gắng không ngừng
Kiên gan
Bền chí
Ước mơ và hiện thực
Hôm nay và mai sau
Nghị lực là thước đo cuộc đời
Hai chữ đầu tiên Con học làm người
Phải học hai điều NHÂN NGHĨA

Cha mong Con lớn lên
Ít nếm trãi khó khăn, vất vả
Nhưng đừng bao giờ quên
Những ngày đói khổ
Thời thơ ấu của Cha
Mồng Ba tháng Giêng ngày mất của Bà
Hai mươi tháng Mười ngày ông Mỹ giết
Ngày mà cửa nhà tan nát
Đói nghèo Bác dắt dìu Cha
Tuổi thơ thì bắt ốc, mò cua
Lớn một chút trồng khoai, dạy học
Qua danh lợi hiểu vinh, hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa, biết ân
Phan Thiết là nơi Mẹ đã sinh Con
Ông Bà ngoại nuôi cho Con khôn lớn
Tuổi thơ của Con lớn trong yên ấm
Tao nôi êm ả, thanh bình
Ru cho Con “uống nước nhớ nguồn”
Khi con lớn đừng quên điều HIẾU THẢO

Cha say viết về Con
Kể về Con
Thơ cho Con
Cô bác vây quanh Cha
Gật gù
Thông cảm

Thơ chắp mối
Từng vần,
Từng mảng
Câu thơ chưa chỉnh lời
Nhưng tứ thơ
Dồn dập
Bối hồi
Hạnh phúc lớn
Trong lòng Cha
Ngân mãi

(*) Hoàng Long sinh đêm Noel

Tho cho con 2
Tho cho con 4

CON LÀ NGUỒN HẠNH PHÚC ĐẦU TIÊN
Hoàng Kim
Thương yêu tặng con Tố Nguyên

Mẹ đi về quê ngoại để sinh con
Trời tháng Sáu xanh một màu thương nhớ
Ba mong con mấy đêm liền không ngủ
Ngày hai mươi con khóc chào đời.

Con mang về Ba Mẹ một nguồn vui
Hạnh phúc trăm năm, niềm ao ước lớn
Mong mỏi chứa chan, tình yêu trọn vẹn
Bao yêu thương âu yếm rộn trong lòng.

Ba vui mừng chọn đặt tên con
Cặp tên đẹp giữa muôn ngàn từ ngữ
Cái tên vì con mà thành rực rỡ
Con hãy làm tên đẹp hóa bài ca.

Con Tố Nguyên của Mẹ và Ba
Hoàng Tố Nguyên ngân nga niềm hạnh phúc
Mẹ cùng con
Thủy Nguyên thành chữ kép
Con là nguồn hạnh phúc đầu tiên.

Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn,  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim

Đợi anh ngày trở lại

ĐỢI ANH
Hoàng Kim

Anh như cơn mưa ngọt đầu mùa
Mang đến niềm vui của ngày gieo hạt
Mai Việt nở bừng khoe sắc
Đằm thắm ”Lời thì thầm của dòng sông”

Anh và em như bức tranh tĩnh vật treo tường
Một đôi bình gốm qúy
Cặp bình giản dị
Sang trọng,
khiêm nhường
tỏa sáng cho nhau

Anh mang đến cho em giấc ngủ nhiệm màu
Xoá đi ưu tư phiền muộn
Anh vỗ về em
bằng lời ru ngọt ngào cảm động
Tìm những nét cao quý nhất trong em
mà trân trọng giãi bày

Anh thân yêu
Nay anh đã xa rồi
Em vẫn ước mong anh
Đợi anh ngày trở lại


ĐỢI ANH
(Bài thơ của sự khát khao chờ đợi)

Anh Vạn An là chủ bút của blog THƠ VÀ VẼ. Anh là người trãi nghiệm, giản dị và tinh tế. Anh đã thân ái chào cư dân blog để đi đâu không rõ. Việc anh vắng lâu đã làm nhiều người sững sờ, trong đó có Lâm Cúc, Huỳnh Mai, Bích Nga, Hoài Vân, Phương Phương SG, Juliete … và tôi là những người thường được anh dành ưu ái cảm nhận. Tội nghiệp cho Juliete, sau khi anh đi, cô cũng bặt tin luôn kể từ dạo đó. Thế mới thấy những người tri kỷ họ quý nhau đến dường nào!

Bất cứ ai đã từng tiếp xúc với trang weblog của anh Vạn An đều nhìn nhận rằng đây là một nhà họa sỹ bậc thầy và là một nhà thơ tài hoa. Tôi đã viết bài thơ “Đợi Anh” cho anh, cho tôi, cho con tôi và cho những người yêu đang khao khát chờ đợi. Tôi cũng viết bài thơ này cho những người thân thương đang ngóng đợi người thân hoặc ngóng trông điều lành và niềm vui. Cái giá của sự chờ đợi thật lớn. Hạnh Phúc thay cho ai biết mình đang được yêu thương và chờ đợi và thực sự hiểu hết cái giá của sự khắc khoải chờ đợi đó.

https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/nguyen-van-an

Video yêu thích  http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam Trở về trang chính  hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Tô Đông Pha Tây Hồ

ĐỌC TÔ ĐÔNG PHA NHỚ NAM TRÂN
Hoàng Kim

Uống rượu ở Tây Hồ lúc đầu trời tạnh, sau mưa. Hoàng Kim thăm Tây Hồ, cảm khái đọc thơ Tô Đông Pha nhớ Nam Trân.

Ngày 21 tháng 12 năm 1967 là ngày mất của Nam Trân, nhà thơ Việt Nam sinh năm 1907 là người ngọc đã dịch tuyệt phẩm thơ hay “Uống rượu ở Tây Hồ” tiếng Trung ra tiếng Việt. Ngày 21 tháng 12 năm 1992 là ngày mất của Quách Tấn, nhà thơ Việt Nam sinh năm 1910. Ngày 21 tháng 12 năm 2005 cũng là ngày mất của Viễn Phương, nhà thơ người Việt Nam sinh năm 1928. Ba nhà thơ danh tiếng này tuy không sinh và mất cùng năm nhưng lại mất cùng ngày. Họ là tài năng và nhân cách đáng kính.

Trong ba người này tôi thích nhất và thuộc nhất các bản dịch thơ tuyệt phẩm của cụ Nam Trân, đặc biệt là hai bài dưới đây

Dưới nắng long lanh màu nước biếc
Trong mưa huyền ảo vẻ non tươi
Tây hồ khá sánh cùng Tây tử
Nhạt phấn nồng son thảy tuyệt vời.


Người dịch: Nam Trân.
Trích từ nguồn: http://www.thivien.net

Tô Thức (1036-1101) tự là Tử Chiêm, hiệu là Đông Pha cư sĩ, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn. Tô Đông Pha là người có tài nhất, tư tưởng và tính tình khoáng đạt nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa. Trang thơ Tô Đông Pha) – Thi Viện  và Tô Đông Pha – Wikipedia tiếng Việt.. Ảnh Tây Hồ (hồ Hàng Châu) nơi Tô Đông Pha làm Thứ sử và có công lớn với dân trong việc chống hạn hán, nạo vét ao hồ và và đắp đê, làm cầu để nay Tây Hồ trở thành di sản văn hóa thế giới được  UNESCO công nhận  năm 2011.

Mây đen trút mực chưa nhoà núi,
Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền.
Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch,
Dưới lầu bát ngát nước in trời.

(Bản dịch của Nam Trân)

Mây đen nửa núi mực bôi lên,
Mưa trắng rơi châu trút xuống thuyền.
Cuốn đất gió đâu lùa thổi hết,
Dưới lầu, màu nước tựa thanh thiên.

(Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê )
Nguồn: Tô Đông Pha, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hoá-Thông tin, 2003

Che núi mây đen tựa mực trôi,
Như châu hạt trắng lựa thuyền rơi.
Ào ào gió cuốn mưa tan hết,
Dưới Vọng Hồ lâu lặng bóng trời.

* Làm vào ngày 27 tháng 6 ở lầu Vọng Hồ lúc đang say kỳ 1
(Bản dịch của Lê Xuân Khải )

六月二十七日望湖樓醉書其一

黑雲翻墨未遮山,
白雨跳珠亂入船。
捲地風來忽吹散,
望湖樓下水如天。

Hắc vân phiên mặc vị già sơn,
Bạch vũ khiêu châu loạn nhập thuyền.
Quyển địa phong lai hốt xuy tán,
Vọng Hồ lâu hạ thuỷ như thiên.

Dịch nghĩa

Mây kéo đen như mực chưa che kín núi,
Giọt mưa trong như giọt châu nhẩy lung tung vào thuyền.
Bỗng nổi gió ào ào thổi tan hết,
Mặt nước dưới lầu Vọng Hồ lại phẳng như trời.

NhoNamTran

Xem thêm:
Tô Đông Pha, thơ ngoài ngàn năm;
Tô Đông Pha uống rượu ở Tây Hồ; 
Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích.

Cây thông mùa Đông

CÂY THÔNG MÙA ĐÔNG
Hoàng Kim

Cây thông mùa đông là ảnh Avatar mà tôi yêu thích hơn cả, vì nó thể hiện sự mong muốn, nghị lực và quan niệm sống tích cực trung hậu vượt lên nghịch cảnh. ‘Vịnh mùa Đông’ và ‘Cây thông’ là hai bài thơ ngôn chí đặc sắc của Nguyễn Công Trứ. Một số người coi là thơ ngâm vịnh, thực ra không phải vậy. Xã hội thuở ấy thời trời và thời người khắc nghiệt lạnh như mùa đông đòi hỏi phải có những con người mạnh mẽ dấn thân vượt lên nghịch cảnh. Nguyễn Công Trứ ‘góc núi ai hay sức lão tùng’ chấp nhận sự dấn thân ấy. Thời nay khác nên sự tỏ ý cũng khác hơn. https://hoangkimlong.wordpress.com/…/…/cay-thong-mua-dong-2/

NHỚ CỤ TRỨ CÂY THÔNG MÙA ĐÔNG

Cụ Nguyễn Công Trứ có bài thơ “Vịnh mùa Đông” và “Cây thông” . Các bạn Quế Hằng, Nguyễn Vạn An, Phan Lan Hoa cũng vui đùa họa thơ ‘Vịnh Mùa Đông’. Hoàng Kim có bài thơ “Cây thông mùa đông”. Xin trân trọng chép tặng bạn đọc và mời nối vần.

VỊNH MÙA ĐÔNG
Nguyễn Công Trứ

Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng,
Chẳng vì rét mướt bỏ mùa đông.
Mây về ngàn Hống đen như mực,
Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng.
Cảo mực hơi may ngòi bút rít,
Phím loan cưỡi nhuộm sợi tơ chùng.
Bốn mùa ví những xuân đi cả,
Góc núi ai hay sức lão tùng.

CÂY THÔNG
Nguyễn Công Trứ

“Ngồi buồn mà trách ông xanh.
Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người.
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời vách đá cheo leo.
Ai mà chịu rét thì trèo với thông“

“CÃI” CỤ NGUYỄN CÔNG TRỨ
Quế Hằng
Lão trời thực chất cũng không sòng
Chốn ấm như hè chốn giá đông
Mạn bắc tê lòng cây trắng núi
Phương nam mát mặt cỏ xanh đồng
Kẻ cày khô họng còn quần lửng
Người ngủ ấm lưng lại áo chùng
Được cái om mầm nên nõn lá
Qua sương đâu chỉ có riêng tùng

CỤ VÀ CÔ !
Nguyễn Vạn An
Cô Hằng, cụ Trứ cũng một sòng,
Xướng họa rù rì giữa lạnh đông
Người xưa sang sảng ra thơ ngọc
Kẻ hậu chăm chiu rót chén đồng
Vung thơ Cụ nhúng ngòi mực cạn
Nâng đàn Cô vặn sợi giây chùng
Bốn mùa cứ tưởng là xuân cả
Sao dám trăng son họa lão tùng?

“CÃI” CỤ TRỨ VÀ CÔ HẰNG
Phan LanHoa
Vô – Hữu ở đời ai thấu chăng?
Mẹ hiền đau đẻ rõ ràng rang
Cớ sao lại bảo trời sinh phận
Người bảo công bằng, kẻ vãn than.
Vũ trụ bao la luôn dịch chuyển
Luân hồi mưa nắng đủ quanh năm
Sang hèn tính cách gieo nên cả
Muốn tới mùa xuân tự bước chân.

“Luận mãi làm chi cái Phẳng-Sòng”
Đạo trời nói mấy cũng không xong
Nhan Hồi tự giải oan trò Khổng
Vô sự, vô vi tự đáy lòng.

CÂY THÔNG MÙA ĐÔNG
Hoàng Kim

Xuân Hạ Thu Đông vốn phẳng sòng
Bốn mùa chẳng thể thiếu mùa đông
Tam Đảo non xanh hai cánh rộng
Cửu Long nước biếc một chữ đồng
Trẻ ham tâm đức nên cố gắng
Già mong phúc hậu phải biết chùng
Thung dung nếm trãi mùa đông lạnh
Sông núi trúc mai với lão tùng

NGUYỄN CÔNG TRỨ CUỘC ĐỜI HUYỀN THOẠI

Chính sử triều Nguyễn chép: Nguyễn Công Trứ (1778-1858) tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn là một nhà quân sự, nhà kinh tế và nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại. Năm 1841, Minh Mạng lâm bệnh nặng. Lúc lâm chung, ông gọi quan đại thần Trương Đăng Quế đến bên giường dụ rằng:” Hoàng tử Trường Khánh công lấy về ngôi thứ là hàng trưởng, lấy về đức, về tuổi nên nối ngôi lớn. Ngươi nên hết lòng giúp sức rập, hễ việc gì chưa hợp lẽ, ngươi nên lấy lời nói của ta mà can gián. Ngươi trông mặt ta, nên ghi nhớ lấy.“- Minh Mạng. Sau đó, ông cầm tay con trưởng là Trường Khánh Công Nguyễn Phúc Miên Tông trối trăng: “Trương Đăng Quế thờ ta đến 21 năm, trọn đạo làm tôi, một lòng công trung, bày mưu dưới trướng, ra sức giúp việc ngoài biên, thực là một người công thần kỳ cựu của triều đình. Ngươi nên đãi ngộ một cách ưu hậu, hễ nói thì phải nghe, bày mưu kế gì thì phải theo, ngày sau có thể được thờ vào nhà thế thất.” “Hà Tôn Quyền giỏi mưu kế, Hoàng Tế Mỹ giỏi văn chương, Nguyễn Công Trứ giỏi chiến trận, trong triều không nên để vắng ba người ấy”.

Triều Nguyễn thời đó đang như mùa đông lạnh giá, vua Gia Long mới lập quốc, lòng người chưa quy về một mối, triều chính chưa ổn định, lòng người ly tán, số quan lại mới trổi dậy ham vơ vét, còn người công chính như Nguyễn Du thì không muốn hợp tác vì không được triều Nguyễn thực lòng tin dùng. Vua Gia Long mất, vua Minh Mệnh nối ngôi, việc thiết lập nhà nước kỷ cương rất cần những mẫu người kiêu dũng, dấn thân như Nguyễn Công Trứ.

‘Vịnh mùa Đông’ và ‘Cây thông’ là hai bài ngôn chí đặc sắc nhất của cụ Hy Văn Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ “ra tướng võ, vào tướng văn” . Bài thơ là lời tỏ ý với vua Minh Mệnh và cũng là lời giải thích vì sao ông Nguyễn Công Trứ được vua Minh Mệnh tin dùng khi Nguyễn Công Trứ đối họa với Trương Đăng Quế, Hà Tôn Quyền, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Quý Tân,… là các vị quan cao cấp cùng thời

“Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng
Chẳng vì giá rét bỏ mùa đông”

Toàn cảnh đất nước trong buổi đầu gian nan được Nguyễn Công Trứ tóm tắt trong bốn câu: “Mây về ngàn Hống đen như mực,/ Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng./Cảo mực hơi may ngòi bút rít,/ Phím loan cửi nhuộm sợi tơ chùng.” Trong điều kiện ấy, Nguyễn Công Trứ đã đánh giá vua Minh Mệnh “Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng,… Bốn mùa ví những xuân đi cả,/Góc núi ai hay sức lão tùng.”. Ông đùa vui bỡn cợt với Hà Tôn Quyền một mưu sĩ giỏi quyền thuật khéo giúp vua khống chế các đối thử nhưng không có tài chiến trận như ông “Thánh nhân bất đắc dĩ dụng QUYỀN” .

“Vịnh mùa đông” “Cây thông” là những bài thơ ngôn chí đặc sắc nhất của ông. Tiểu thuyết “Thông reo ngàn hống” 600 trang của nhà giáo nhà văn Nguyễn Thế Quang cẩn trọng, tài hoa giúp chúng ta một góc nhìn để hiểu .

Nguyễn Công Trứ là con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, quê ở làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông Nguyễn Công Tấn, đậu cử nhân năm hai mươi bốn tuổi, làm giáo thụ phủ Anh Sơn, Nghệ An, sau thăng làm tri huyện Quỳnh Côi, rồi tri phủ Tiên Hưng, Thái Bình. Mẹ Nguyễn Công Trứ là con gái quan quản Nội thị Cảnh Nhạc bá, họ Nguyễn, người xã Phụng Dực, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn Nam (nay thuộc Hà Nội). Nguyễn Công Tấn năm khi quân đội Tây Sơn ra Bắc chiếm Thăng Long, ông đã cùng các cựu thần nhà Lê hưởng ứng chiếu cần vương chống lại, việc không thành, ông đưa gia đình về quê mở trường dạy học. Nguyễn Huệ mấy lần mời ra làm quan, ông đều từ chối. Gia đình Nguyễn Công Trứ có sáu anh em, ba trai, ba gái, có một bà rất thông minh, giỏi thơ văn, người đương thời gọi là Năng văn nữ sĩ. Năm mười chín tuổi, chồng chết, bà nhất định không chịu tái giá, mà đi tu, bà được vua Minh Mệnh ban danh hiệu “Trinh tiết khả phong”.Nguyễn Công Trứ do biến loạn thời cuộc nêu trên nên từ nhỏ đã sống trong cảnh nghèo khổ nhưng từ thuở còn hàn vi ông đã nuôi chí lớn lập công danh, sự nghiệp giúp đời cứu dân: Làm trai đứng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.

Giai thoại kể rằng thuở nhỏ Nguyễn Công Trứ tục gọi là Cũng học với thầy dạy là bạn thân của cha. Lúc Cũng 10 tuổi, một hôm thầy học sang thăm Đức Ngạn Hầu, Cũng đứng hầu hai người lớn đàm đạo. Hai cụ rít thuốc lào và hỏi về sự học, Cũng ứng khẩu: Nín hơn biển động ba tầng sóng Há miệng rồng bay chín khúc mây Ba tầng sóng dội vang trời bể Năm sắc mây bay thấp thoáng trời.

Một giai thoại khác về Nguyễn Công Trứ là trong một lần hành binh của vua Gia Long ra Bắc, Nguyễn Công Trứ đã ngủ ở tại một đụn rơm ven đường, quân lính đến, ông vẫn điềm nhiên ngủ mà không hề tỏ ra sợ hãi. Khi Lê Văn Duyệt hỏi vì sao không sợ quan thì Nguyễn Công Trứ đáp rằng: “Tiểu sinh là học trò, nghe rằng quân của Tả quân là đội quân nhân nghĩa, kỷ luật nghiêm minh nên không sợ. Tiểu sinh vì đi đường bị mệt nên ngủ quên”. Khi bắt ông vịnh ổ rơm thì ông ứng khẩu: Ba vạn anh hùng đè xuống dưới/ Chín lần thiên tử đội lên trên. Nhà Nguyễn sau khi diệt nhà Tây Sơn đã tổ chức thi cử để chọn quan lại. Nguyễn Công Trứ hăm hở đi học đi thi. Năm 1819, ông thi đậu Giải nguyên và được bổ đi làm quan, lúc đó ông đã bốn mươi mốt tuổi.

Năm 1820 Nguyễn Công Trứ giữ chức Hành tẩu ở Quốc sử quán. Sau đó ông liên tiếp giữ các chức Tri huyện Đường Hào, Hải Dương (1823), Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1824), Phủ thừa phủ Thừa Thiên (1825), Tham tán quân vụ, rồi thăng Thị lang Bộ hình (năm 1826). Năm 1828, ông được thăng Hữu tham tri Bộ hình, sung chức Dinh điền sứ, chuyên coi việc khai khẩn đất hoang. Năm 1832, ông được bổ chức Bố Chánh sứ Hải Dương, cùng năm thăng Tham tri Bộ binh, giữ chức Tổng đốc tỉnh Hải An… Sau nhiều thăng giáng, năm 1845 Nguyễn Công Trứ làm Chủ sự Bộ Hình, năm sau làm quyền Án sát Quảng Ngãi, rồi đổi ra làm Phủ thừa Phủ Thừa thiên. Năm 1847 ông thăng làm Phủ doãn Phủ Thừa thiên lúc tròn bảy mươi tuổi. Nguyễn Công Trứ xin về hưu, nhưng Thiệu Trị không cho. Năm 1848, Tự Đức nguyên niên, ông được nghỉ hưu.Nguyễn Công Trứ tự tổng kết đời mình qua bài thơ sau: “Cũng may thay công đăng hoả có là bao, theo đòi nhờ phận lại nhờ duyên, quan trong năm bảy thứ, quan ngoài tám chín phen, nào cờ nào quạt, nào mão nào đai, nào hèo hoa gươm bạc, nào võng tía dù xanh, mặt tài tình trong hội kiếm cung, khắp trời Nam bể Bắc cũng tung hoành, mùi thế trải qua ngần ấy đủ; Thôi quyết hẳn cuộc phong trần chi nữa tá, ngất ngưởng chẳng tiên mà chẳng tục, hầu gái một vài cô, hầu trai năm bảy cậu, này cờ này kiệu, này rượu này thơ, này đàn ngọt hát hay, này chè chuyên chén mẫu, tay thao lược ngoài vòng cương toả, lấy gió mát trăng trong làm tri thức, tuổi trời ít nữa ấy là hơn”.

Nguyễn Công Trứ mất năm 1858 tại quê hương ông lúc 82 tuổ. Ông là nhân vật Việt Nam kiệt xuất thời cận đại, là một vị quan văn võ song toàn đã đóng góp nhiều công lao cho đất nước, Vị quan lớn được dân lập đền “thờ sống”, đặc biệt nhiều giai thoại .Nguyễn Công Trứ thơ Vịnh mùa Đông, ‘Nguyễn Công Trứ và Vịnh Thúy Kiều’ ‘Nguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống’ là ba ghi chép nhỏ của tôi về ba chặng đường của Uy Viễn Tướng Công. Cụ tỏ chí ở bài Vịnh mùa Đông, Cụ vạch rõ thái độ trung thành của Cụ với nhà Nguyễn ‘tiên phát chế nhân’ sẵn sàng dập tắt các ý đồ hoài Lê tranh phản của các thế lực ngấp nghé ngai vàng ở bài “Vịnh Thúy Kiều” và Cụ tỏ tài năng kinh bang tế thế ở bài ‘Cây thông” và câu thơ nổi tiếng “Làm trai đứng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông ‘Bốn mùa ví những xuân đi cả, Góc núi ai hay sức lão tùng. “Ngồi buồn mà trách ông xanh. Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười. Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Giữa trời vách đá cheo leo. Ai mà chịu rét thì trèo với thông“.

Bài thơ “Cây thông” của Nguyễn Công Trứ là mẫu mực thơ lục bát Việt Nam, thể hiện ngôn chí của ông.

VUA MINH MỆNH VỚI NGUYỄN CÔNG TRỨ VÀ NGUYỄN DU

Lịch sử Việt Nam trãi bốn ngàn năm, thời vua Minh Mệnh đổi tên nước Đại Nam là có lãnh thổ rộng hơn cả. Ba nhân chứng lịch sử trọng yếu để soi thấu những uẩn khúc và giá trị nhân văn nổi bật nhất của thời kỳ nước Đại Nam là vua Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du. Minh Mệnh là vị vua năng động và quyết đoán lập nên thế cục của thời ấy. Bất luận khen hay chê, ông là vị vua thịnh trị nhất nhà Nguyễn. Nguyễn Công Trứ là danh sĩ kỳ tài thời Minh Mệnh. Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa vầng trăng cổ tích soi thấu thời ‘tam phân’ Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ, Lê Chiêu Thống đến thời kỳ đầu ‘nhất thống’ của vua Minh Mệnh. Tôi đồng tình với kết luận của Trịnh Văn Định trong bài nghiên cứu Cặp đôi trác dị Minh Mệnh Nguyễn Công Trứ, đăng trên trang Văn hóa Nghệ An “John Stuart Mill trong On Liberty có viết: “Giá trị của một quốc gia, về lâu dài, chính là giá trị của những cá nhân tạo nên quốc gia đó”. Nguyễn Công Trứ và cả Minh Mệnh đều xứng đáng là những giá trị của quốc gia vì họ tạo nên quốc gia đó về lâu dài.

Ngày nay, chúng ta cần nhiều hơn nữa những Nguyễn Công Trứ và cần thiết hơn là phải đi tiếp những khía cạnh mà Nguyễn Công Trứ chưa đi vì chưa có điều kiện đi hoặc vì những lý do chủ quan và khác quan khác và cần thiết hơn nữa là những vị đứng đầu với nhiều khía cạnh sáng suốt như Minh Mệnh: chuyển trọng tâm từ cái nhìn hệ thống sang trọng tâm cái nhìn về con người! Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ có vua ấy, có tôi ấy đã làm nên những điều kỳ tích trong lịch sử. Thời Minh Mệnh mới lên cầm quyền, đất nước chưa yên giặc giã nổi dậy ở nhiều nơi, nổi bật và nguy cấp là giặc Phan Bá Vành nổi lên ở Nam Định, giặc Quảng Yên ở các đảo ven biển và giặc Nông Văn Vân ở miền núi phía Bắc. Đây là những kẻ cầm đầu lợi hại, giỏi võ nghệ thế lực mạnh, hoành hành rộng lớn làm triều đình nhà Nguyễn khó đối phó. Vua Minh Mệnh đã khéo dùng Nguyễn Công Trứ một trí tướng đa mưu giảo hoạt linh lợi để chế thắng. Vua Minh Mệnh cũng trong dụng Nguyễn Công Trứ khai hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải, mở rộng lãnh thổ, thu thuế và ổn định lưu dân đang thất nghiệp ở khắp nơi về lập làng lập ấp. Nguyễn Công Trứ đã tạo ra mối lợi vĩnh viễn: “tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức Doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn”.Cặp đôi trác dị Minh Mệnh Nguyễn Công Trứ đúng là cá tính và phẩm chất cá nhân kỳ tài soi sáng và lưu dấu một chặng đường dân tộc Việt.

Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là hai danh nhân cùng thời. Nguyễn Du (1765 -1820) là nhà thơ lỗi lạc, nhà ngoại giao xuất chúng. Ông cũng là một võ quan có chí lớn, nhà lãnh đạo đặc biệt tài năng đã từng đương đầu với Nguyễn Huệ, đối thoại với Gia Long, hiểu rõ Nguyễn Văn Thành, thân thiết với Nguyễn Nễ, Vũ Trinh, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức. Ông hiểu sâu Lý số, thông tỏ Phong Thủy, rất vững Thiền học, thành thạo biến Dịch, đã đọc trên nghìn lần bộ kinh Kim Cương, với tâm sự gửi gắm Truyện Kiều và câu thơ kỳ bí: “Ba trăm năm nữa chốc mòng/ Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như”.Nguyễn Công Trứ (1778-1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi và cùng đồng hương Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông là một vị tướng văn võ song toàn, phong lưu đa tình, gian thần đời loạn, năng thần đời trị. Nguyễn Công Trứ có công với triều Nguyễn trong cai trị, dẹp loạn . Ông cùng chủ kiến với Gia Long, Minh Mệnh ra tay trước (tiên phát chế nhân) để chặn bước những người xuất chúng và các thế lực tiềm tàng ngấp nghé ngai vàng. Nguyễn Du 250 năm nhìn lại; Nguyễn Du cuộc đời và thời thế đã soi thấu nhiều điều trong câu chuyện Nguyễn Ánh – Nguyễn Huệ – Lê Chiêu Thống. Dẫu vậy đến thời Minh Mệnh phải thấu hiểu Nguyễn Công Trứ và Minh Mệnh mới hiểu được tư tương và hành trạng Nguyễn Du.

Sâu sắc thay Nguyễn Du với Truyện Kiều và các ứng xử tuyệt vời thông tuệ của ông để tránh những thăng giáng tám lần như Nguyễn Công Trứ và kết cục thảm khốc của Nguyễn Văn Thành, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Văn Duyệt ! Vua Minh Mệnh, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ là ba nhân chứng lịch sử trọng yếu của thời kỳ nước Đại Nam giai đoạn vàng son nhất của nhà Nguyễn. Sự cần thiết nên đọc lại và suy ngẫm một cách thật kỹ lưỡng bài học lịch sử để soi thấu những uẩn khúc và giá trị nhân văn nổi bật nhất của những con người ấy và thời ấy. Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa an nhiên, thung dung, tự tại, sáng như trăng rằm cổ tích. Minh Mệnh Nguyễn Công Trứ kỳ tích lừng lẫy một thời, có vua ấy có thần ấy đều là kỳ tài. Nguyễn Công Trứ thông reo ngàn Hống, kỳ vĩ danh thần con người miền Trung “đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông. Ngồi buồn mà trách ông xanh” …

NHỚ CỤ TRỨ CÂY THÔNG MÙA ĐÔNG

.Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Du là hai danh nhân lỗi lạc cùng thời của trời đất Hồng Lam có công lớn làm tỏa sáng di sản tinh hoa văn hóa Ví dặm và Ca trù. Cụ Nguyễn Công Trứ làm chúng ta vui theo cái vui, cái buồn, cái bợn cợt của Cụ, điều này làm cho sự tiếp nhận và đàm luận về tác phẩm” Thông reo ngàn Hống” của nhà giáo nhà văn Nguyễn Thế Quang viết về Cụ Nguyễn Công Trứ càng thú vị hơn. Thầy giáo Nguyễn Thế Quang viết: “Hoàng Kim thân quý. Những ngày kỷ niệm đầy ý nghĩ này, rất mừng khi gặp Hoàng Kim. Rất xúc động khi đọc được những vần thơ chân thành đầy tình yêu thương chung thủy của bạn với Miền Đông. Rất vui khi bạn đã nói được với con những tâm tình, truyền cho con những điều tốt đẹp qua những lời thơ và những tấm ảnh. Rất mừng khi cùng được gặp gỡ những người bạn của Hoàng Kim – những người mà nhìn qua ảnh, mình cảm nhận được đó là những con người trung hậu mà phóng khoáng với một đời sống tình cảm phong phú mà đẹp. Có được những người bạn tâm giao như vậy là quý ! Thông reo ngàn Hống có nhiều điều thú vị. Cảm ơn cụ Hy Văn có một cuộc đời quá phong phú, hào hoa mà lỗi lạc để cho mình có thể có những trang viết đẹp. Mong Hoàng Kim và bạn bè đọc và đồng cảm, cùng chia sẻ nhé. Email cho mình: thequangcuc.na@gmail.com Nguyễn Thế Quang

Ví dặm Ân tình nói thật như đùa: “Nếu Nguyễn Công Trứ mà còn sống, được làm lẽ ông ấy em cũng cam“. Tôi cũng viết lại: Gửi cô Quế Hằng và anh hai Thế Quang . Cám ơn thầy giáo, nhà văn Thế Quang đã cảm nhận rất nhanh bài viết này ngay sau khi “Nguyễn Công Trứ, thông reo ngàn Hống” vừa lên trang , riêng tên tác phẩm đã khơi đúng thần của cụ Hy Văn. Cô em Ví dặm ân tình, Quế Hằng và anh ba Nguyễn Vạn An đã trao đổi rất hay về “Vịnh mùa Đông của Nguyễn Công Trứ. Cô em Quế Hằng có cái thân thiết, ngang tàng, dám “cãi” cụ Nguyễn Công Trứ, anh ba Vạn An đã chỉ ra khí phách và nét đẹp tính cách của cụ Hy Văn và cô Quế Hằng (Riêng ý tưởng trăng soi từ thềm Quế cung Hằng đối với cụ Hy Văn thì thật là tuyệt diệu). Riêng cô Ví thì sâu sắc dịch lý bỡn cợt theo lối công chúa Liễu Hạnh ghẹo trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nếu có anh hai Thế Quang vào đây để cảm nhận “vịnh mùa Đông” của cụ Hy Văn mượn mùa đông để nói lão Tùng “thông reo ngàn Hống” thì mới tỏ được hết cái hay của ông.

Trong thời chuyển mùa cuối Đông đầu Xuân, tôi thấm thía lời khuyên minh triết của nhà thơ Hoàng Gia Cương “Văn muốn đạt tài hoa, tâm cần sáng, tứ cần sâu, năng gạn đục khơi trong văn mới tuyệt. Nghệ mong nên tuyệt tác, trí phải minh, công phải trọng, biết tầm sư học đạo nghệ càng tinh“. Nhớ ngày lịch sử bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương ‘Nguyễn Công Trứ thơ Vịnh mùa Đông’ Tôi tâm đắc nhận ra rằng con người ta làm việc gì muốn thành công đều phải dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, biết đặt việc chính yếu lên trên, đặt trái tim mình vào đó.

Xem thêm:

CẶP ĐÔI TRÁC DỊ MINH MỆNH NGUYỄN CÔNG TRỨ

Nguyễn Văn Định
VHNA 26 9 2016

Còn một câu hỏi treo lên trong giới nghiên cứu là tại sao trong điều kiện đại thiết chế chuyên chế đang đi vào giai đoạn phát triển đỉnh cao của nó, lại xuất hiện kiểu phong lưu danh sĩ, tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ nở rộ như vậy ở ngoài lăng miếu. Đương nhiên, khía cạnh tài hoa, tài tử của Nguyễn Công Trứ là điều kiện không thế thiếu, nhưng nếu chỉ có yếu tố tài tử của ông thì chưa đủ, phải chăng, nó còn cần đến một điều kiện khác mở từ phía khác nữa, đó là vai trò, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu thiết chế đối với sự ra đời tự do cá nhân, văn hóa cá tính[1]xuất hiện.Chúng tôi sẽ chứng minh rằng, sự xuất hiện của trường hợp đặc biệt Nguyễn Công Trứ không thể thiếu được sự “dung túng” của người đứng đầu nhà Nguyễn, người quan trọng nhất tạo ra trường hợp Nguyễn Công Trứ không ai khác chính là hoàng đế Minh Mệnh. Chính Minh Mệnh và cái nhìn độc đáo của ông đối với hạn chế của hệ thống khoa cử và từ đó thiết lập chế độ biệt nhưỡng người trác dị là tiền đề xuất hiện những kiểu ngườitrác dị, cá tính như Nguyễn Công Trứ. Và đương nhiên, phải có những cá nhân xuất chúng như Nguyễn Công Trứ có thể chia sẻ, tương tác và nắm bắt được thời cơ đặc biệt này để thể hiện tự do cá nhân và khẳng định cá tính trong lịch sử. Họ hình thành cặp đôi đặc biệt, chúng tôi định danh là cặp đôi trác dị[2].

1. Minh Mệnh và lịch sử đánh giá Minh Mênh trong ứng xử với Nguyễn Công Trứ

Theo Việt Nam sử lược Trần Trọng Kim, “Tháng giêng năm Canh thìn (1820) hoàng thái tử húy là Đảm lên ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mệnh. Vua Tháng tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn, có tính hiếu đọc và lại hay làm; phàm có việc gì, ngài cũng xem xét đến, và có châu phê rồi mới được thi hành”[3]

Trước nay, trong mối quan hệ giữa Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ, có xu hướng chung đánh giá Minh Mệnh là ông vua chuyên chế hà khắc, xuống tay nhiều tình huống khá nặng với Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên, cũng có cái nhìn mang tính trung dung hơn và khách quan hơn. Trong số nhiều đánh giá về mối quan hệ này, điển hình cho cái nhìn thứ nhất là Phạm Thế Ngũ và nhà Nghiên cứu Lê Thước. Điển hình cho cái nhìn thứ hai là tác giả Việt Nam sử lược,Trần Trọng Kim.

Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, phần về Nguyễn Công Trứ, Phạm Thế Ngũ nhật xét về quan hệ Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ như sau: “Tư cách của một ông vua biết thủ đoạn dùng người, đánh, vuốt, thăng, giáng, lung lạc tinh thần người ta bằng đủ phương cách. Đối với Nguyễn Công Trứ, khi tín cẩn trọng dụng, cho tiền, cho quà, săn sóc, rỉ tai, khi nghiêm khắc trừng phạt, truất giáng đáo để”.[4]

Nhà Nghiên cứu Lê Thước cũng có nhận xét tương tự: “Tuy nhiên ấy là một cái thủ đoạn điên đảo hào kiệt, chứ kì thực thì nhà vua thấy cụ có tài cao đức trọng, ai cũng kính phục, không muốn để cái thanh thế cụ lớn lên quá, sợ khó giá ngự về sau; vì thế cho nên đã lấy ân mà cất lên, lại phải dùng oai mà ức xuống. Nhưng ân thì thường chỉ là ân mọn, mà oai thì toàn là oai lớn”.[5]

Nhà nghiên cứu Lê Thước còn kể: “Tháng 10 năm Minh Mệnh 7, bổ tham hiệp Thanh Hóa. Đi đến Hải Lăng (Quảng Trị) thì bị bệnh. Vua được tin xuống chỉ rằng: “Nay nghe Nguyễn Công Trứ đi đường chẳng may bị bệnh, chẳng hay đã lành chưa, lòng trẫm luống những bất an. Đặc phái một tên thị vệ đem theo viên ngự y, lập tức bắt trảm đi tới nơi điều trị, vụ được lành. Còn Nguyễn Công Trứ thì cứ an tâm mà uống thuốc bất kỳ một hai tháng, khi nào trong mình được thập phần khang kiện mới được ra đi chớ nên kíp vội, giờ mùa đông lạnh lẽo, nếu đau yếu lại, ấy là phụ các lòng quyến cố của Trẫm. Khâm thử[6]. Theo Phạm Thế Ngũ, nó là thủ đoạn rỉ tai mà thôi.

Người có đánh giá tương đối khách quan hơn cả là Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược ông viết: “Vua Thánh Tổ là một ông vua chuyên chế, tất thế nào cũng có nhiều điều sai lầm và có nhiều điều tàn ác, nhưng xét cho kỹ, thì thật ngài cũng có lòng vì nước lắm. Trong lo sửa sang mọi việc, làm thành ra nền nếp chỉnh tề, ngoài , đánh Xiêm dẹp Lào, làm cho nước không đến nỗi kém hèn. Vậy cứ bình tĩnh mà xét, thì dẫu ngài không được là ông anh quân nữa thì cũng không phải là ông vua tầm thường; cứ xem công việc của ngài làm thì hiểu rõ”.[7]

Như vậy, cả ba nhà nghiên cứu đều nhận xét Minh Mệnh là ông vua chuyên chế hà khắc, đối xử với Nguyễn Công Trứ ân mọn oai lớn, sợ Nguyễn Công Trứ uy danh vang dội nên một mặt bổ dùng nhưng một mặt phải ra oai để kìm kẹp. Nói chung, tất cả những nhận xét trên đây đều không sai nhưng có lẽ nó chưa đủ. Tôi rất thích một nhận xét của Trần Trọng Kim, “dẫu ngài không được là ông anh quân nữa thì cũng không phải là ông vua tầm thường”. Chúng tôi cho rằng, vượt lên trên cả hà khắc và tầm vóc, Minh Mệnh là một ông vuatrác dị một từ mà ông rất thích dùng để nói về những người đặc biệt xuất chúng. Chúng tôi sẽ chứng minh tính chất trác dị của Minh Mệnh qua việc ứng xử với Nguyễn Công Trứ. Tức là chúng tôi sẽ không đọc Nguyễn Công Trứ và Minh Mệnh như các tiền bối đã làm, chúng tôi thử áp dụng những tiêu chí của ông vua trác dị (đặc biệt xuất sắc, lạ thường) để soi chiếu vào ứng xử của Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ và cũng nhìn ngược lại Nguyễn Công Trứ đã hô ứng với ông vua trác dị này như thế nào. Sự hô ứng của ông vua trác dị và một phong lưu danh sĩ trác dị, kết thành cặp đôi trác dị lừng danh trong lịch sử. Và chính tính chất trác dị của Minh Mệnh, đặc biệt là trác dị trong việc tìm kiếm, đào tạo và tưởng thưởng cho người trác dị, Minh Mệnh đã đóng vai trò là người mở đường chongườikiểu Trứxuất hiện và phát tiết thời Nguyễn, mà ở đó Nguyễn Công Trứ là trường hợp tiêu biểu nhất.

2. Tư tưởng của Minh Mệnh về khoa cử, về tìm kiếm người trác dị và chế độ tưởng thưởng người trác dị và đặc biệt là tư tưởng về việc tìm kiếm, đào tạo, phát hiện người tài bằng con đường phi khoa cử – cơ chế mở đường người trác dị, những cá tính xuất hiện, đăng đàn và phát tiết.

Chính cái nhìn khác biệt của Minh Mệnh là cơ sở để cho những nhóm người được tuyển chọn chính thống hoặc cả nhóm phi chính thống có cơ hội được xuất hiện và phát triển. Những người có cá tính, khát vọng tự do cá nhân kiểu Trứ có cơ hội phát triển và thăng hoa. Theo chúng tôi, nó là yếu tố quan trọng nhất giúp Minh Mệnh có thể tuyển chọn được nhiều cá tính độc đáo. Cùng với đó là một cơ chế tưởng thưởng, khuyến khích đặc biệt, cả những ứng xử đặc biệt và đầy ngẫu hứng xuất hiện. Trong đó, sử dụng, tưởng thưởng và cả giáng cách với Nguyễn Công Trứ là sự ảnh xạ rõ nét nhất của tư tưởng khác thường của Minh Mệnh.

Một cái nhìn sắc sảo vào hạn chế của hệ thống khoa cử

Là người mang trọng trách kiện toàn thiết chế trong nước và mở rộng bờ cõi, Minh Mệnh quan tâm đặc biệt đến khía cạnh làm sao và bằng cách nào tìm kiếm được người tài năng, đặc biệt là tìm kiếm được người trác dị. Từ cái nhìn như vậy, ông đã nhìn trúng hạn chế cốt tử của hệ thống khoa cử: không những không tìm kiếm được người tài mà còn làm cho nhân tài mỗi ngày kém đi: “Lâu nay khoa cử làm cho người ta sai lầm. Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử nghiệp chỉ câu nệ cái hủ sáo, khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối,  nhân phẩm cao hay thấp tự đó, khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài chẳng mỗi ngày mỗi kém đi. Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được, về sau nên dần dần đổi lại”.[8]

Có thể Minh Mệnh không thật thiện cảm với khoa cử và có thể hiểu ông cũng không có cái nhìn ưu ái với những người thành đạt từ khoa cử. Vậy, tập tục đã quen, sau dần đổi lại, Minh Mệnh đã hướng trọng tâm tìm kiếm người tài của mình theo một hướng phi chính thống, tìm kiếm người tài không thông qua con đường khoa cử và đây là trọng tâm trong tìm kiếm người tài của ông.Phải chăng như chính Mênh Mệnh nói: Quốc gia ta xây dựng nền tảng ở Phương Nam[9] là cội nguồn của một sự thoát ra khỏi văn chương khoa cử trong đào tạo người tài như vậy.

Tìm kiếm người tài phi khoa cử

Lật giở Minh Mệnh chính yếu thiên cầu hiềnkiến quan, chúng ta sẽ bắt gặp dày đặc những chỉ dụ của Minh Mệnh về cách thức tìm kiếm người không qua con đường khoa cử. Năm Minh Mệnh thứ mười sáu, quyển 4, Minh Mệnh chính yếu, “Vua xuống dụ rằng:“Cầu cho nước trị bình thì lấy nhân tài làm trước tiên. Nay trẫm ra lệnh phải đề cử người mình biết, là muốn mở rộng đường lối cử người hiền tài. Nếu biết đích người ấy quả thực có tiếng hiền tài, có chính trị giỏi, hoặc là nhân phẩm ngay thẳng đứng đắn, là có thể cho ra ứng cử, có phải trẫm bắt phải quen biết mật thiết mới am hiểu cái tài cái nết của con người đâu, sao mà trịnh trọng quá như vậy. Phương chi quan có kẻ cao người thấp, mà phận sự làm bầy tôi như nhau, hà tất phải chậm chạp đề cử sau người ta. Nay chuẩn cho phải lựa chọn mà cử cho nhanh, hoặc hai ba người cử một người cũng được.”[10]

Rõ ràng, thái độ ông rất quyết liệt và yêu cầu phải làm gấp. Không chỉ dừng lại ở đó, ông còn luôn đau đáu, lo lắng những người tài đi ở ẩn không chịu ra giúp triều đình. Minh Mệnh năm thứ mười sau, “vua xuống dụ cho thị thần rằng: “Trong nước có người hiền tại thì công trị bình được rực rỡ, cũng như núi sông có ngọc châu thì mới có ánh sáng, nhưng người hiền tài sinh ra chỉ muốn gặp được vua. Có kẻ dấu tên ẩn kín là tự vua không biết dùng thôi. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, hạ chiếu cầu hiền đến hai ba lần, tất là kẻ sĩ có tài đức không còn đi ẩn nữa, nếu được người hiền tài mà dùng thì đường lối trị bình trong nước mới có được[11].

Đặc biệt, Minh Mệnh còn nghĩ đến cả những người tài vì không quen với sự bó buộc của trường quy mà thi không đỗ, hoặc vì hạn ngạch mà không tuyển được bằng con đường khoa cử…Tức là Minh Mệnh đã nghĩ đến những trường hơp đặc biệt, những trường hợp này vì tự do, vì cá tính mà không theo quy củ nên không thi hoặc thi không đỗ. Ông đã xót xa và nghĩ đến họ: “Vua xuống dụ cho Nội các rằng: “hiện nay trong nước thái bình là đường chính của sĩ tử khoa mục, đã mở khoa tuyển chọn rồi, ngoài ra lại có cống hiến người hằng năm, bổ làm giám sinh và tú tài để sung vào giáo chức. Sự trừ súc lấy nhân tài làm trước nên lại nghĩ đến kẻ ở cửa sài nhà tranh, có người vốn theo nghề học muốn do khoa cử tiến thân, lại vì trường quy bó buộc, không khỏi lao đao nơi trường thi. Cũng có kẻ học tập biết viết, biết tính, muốn vào các nhà làm, thì lại bị lệ ngạch hạn chế, rồi đến phải chìm đắm nơi đồng ruộng, hạng người này không phải ít[12].

Ông nhìn ra những loại người tài mà không đi bằng hoặc không qua con đường khoa cử rất nhiều. Sự nhấn mạnh nhiều lần loại người này chứng tỏ ông có sự lưu tâm, đặc biệt chú trọng và coi trọng loại người này, nó như là một sự ám ảnh thường trực nơi ông.

Ông luôn đau đáu tìm cách có được người tài, nhưng ông cũng luôn băn khoăn suy nghĩ làm thế nào để có thể tìm kiếm được người tài thông qua tiến cử một cách thực chất, vì ông lo vàng thau lẫn lộn: “Trẫm muốn gấp dùng người tài, mà vẫn lo khó biết người, khoa đạo thường chầu ở hai bên, tiến cử cũng đã khả quan nhưng người hiền tài hay không chưa hay biết tường tận được. Muốn thử bằng lời nói, thì kẻ khéo biện luận thường nói quá sự thực, mà kẻ thành thực chất phác thường lại vụng lời nói, bằng vào đấy mà dùng hay bỏ, liệu không sai được chăng? Ngươi nên xét ai có thể dùng được thì đề cử lên”.[13]

“Người làm việc quan là do năng lực của anh ta”

Minh Mệnh nói rất rõ rằng, làm quan được xuất phát từ chính năng lực của anh ta. “Vua xuống dụ rằng:“Lập thành chính trị cần được người giỏi, mà sự cầu nhân tài không chỉ một cách nào. Kinh Thư nói: “Cử người làm được việc quan là do năng lực của anh”, đó là nói tiến người hiền lên vua dùng là chức vụ của kẻ đại thần vậy. Trẫm từ khi lên chấp chính đến nay, bên văn thì thi cử, bên võ thì tuyển chọn, lần lượt cử hành, đường lối cất nhắc nhân tài không phải là không mở rộng.Nhưng lại nghĩ đến người có tài năng hoặc còn chìm đắm ở những chức bên dưới, mà chưa xuất hiện được”. Bèn hạ lệnh ở kinh, bên văn thì thượng thư cử người khả kham làm hiệp trấn, tham tri cử người khả kham làm tham hiệp, thị lang cử người khả kham làm tri phủ, lang trung cử người khả kham làm tri huyện, huyện thừa. Bên võ thì chưởng doanh cử người khả kham làm vệ úy, đô thống thống chế cử người khả kham làm phó vệ úy quản cơ, thân binh, cấm binh, quản vệ cử người khả kham làm phó quản cơ, thành thủ úy, mỗi hạng một người. Người được cử không kể bị can phạt, giáng chức về việc công, cử khả kham làm được việc là chuẩn cho đề cử. Giám sinh (học trò nhà Giám) có học thức cũng cho phép giám thần (quan trong nhà Giám) xét cử lên”.[14]

Thưởng và phạt

Về việc thưởng phạt Minh Mệnh cũng rất rõ ràng và sòng phẳng: “Trẫm cũng muốn làm như thế, nhưng lại nghĩ giữ quyền quốc gia chỉ có thưởng với phạt; nay kẻ bị cách chức vừa mới có tội phải truất bỏ, mà lại đem ra dùng thi chúng lại lên mặt mà bảo nhau rằng: người có tư cách đời nay tuy bị bãi chức rồi lại được làm, rồi đến chỗ chúng bắt trước nhau, sợ không có cách nào dẹp được[15] 

Tìm kiếm và tưởng thưởng người trác dị

Minh Mệnh không chỉ khát khao ngày đêm tìm kiếm người có năng lực làm việc quan, ông còn khát khao tìm kiếm và tưởng thưởng người trác dị, từ này do chính ông dùng, được Quốc sử quán chép lại trongMinh Mệnh chính yếu. Trác dị, theo như giải thích của Quốc sử quán nhà Nguyễn là “đặc biệt hơn người”. Minh Mệnh năm thứ tám, quyển 4, “Định ra lệ trác dị cấp kỷ. Vua xuống dụ rằng: “Sự gia cấp kỷ lục (ghi chép) là để tưởng thưởng khuyến khích người có công, trước nay lệ gia cấp bậc và ghi công đặc biệt, chưa từng bàn đến. Khi giao cho đình thần bàn định thêm thì đều cho là người trác dị (đặc biệt hơn người) tất phải có công nghiệp hành chính đối với dân xuất sắc hơn, người ấy chưa dễ thường có. Duy có người làm chính công bằng, xử kiện đúng lý, giữ không có trộm cướp, dân được yên ổn, làm quan có tiếng tốt, thì nên thưởng để khuyên người có công, là việc không thể thiếu được[16].

Như vậy, Minh Mệnh song song với tìm kiếm người tài bằng hình thức khoa cử, ông đặc biệt chú trọng và dành một sự ứu ái đặc biệt đối với những người được tiến cứ, tức không qua khoa cử. Ông hiểu rất rõ những cái hạn chế của chế độ khoa cử, ông thấu hiểu những người ở ẩn và không tiến thân bằng con đường khoa cử, ở một ý nghĩa nào đó ông trân trọng và chia sẻ với những người ưu tích tự do, không thích bó buộc và cả những người cá tính. Trong đó, ông mong ngóng và khát vọng ghi công đặc biệt cho những người trác dị. Hẳn phải là ông vua trác dị mới khát vọng tìm kiếm những người đồng điệu trác dị. Nhưng như chính ông nói, người trác dị chưa dễ thường có.

Điểm đặc biệt đáng chú ý là, Minh Mệnh đã không đặt niềm tin vào hệ thống (tức hệ thống khoa cử) mà ông chuyển hướng đặt niềm tin vào con người. Một sự chuyển hướng trọng yếu, không chỉ tạo ra sự khác biệt giữa Minh Mệnh với các hoàng đế khác mà còn là cơ sở trọng yếu tạo ra những người trác dịkiểu Nguyễn Công Trứ xuất hiện.

3. Ứng xử của Minh Mệnh với Nguyễn Công Trứ nhìn từ tiêu chí của ông vua trác dị ứng xử với Nguyễn Công Trứ trác dị.

Người trác dị dùng người trác dị vào những việc đặc biệt, công việc hệ trọng, những việc mà người thường không làm được nhưng người trác dị làm được. Minh Mệnh đã đặc biệt thành công trong việc dùng Nguyễn Công Trứ vào những công việc kiểu như vậy.

Dùng người trác dị vào việc dẹp loạn.

Trong giai đoạn Minh Mệnh chấp chính, do đất nước mới thống nhất nên giặc giã nổi lên ở nhiều nơi trên khắp cả nước, trong đó nổi bật và nguy cấp là: Giặc Phan Bá Vành, giặc Quảng Yên và giặc Nông Văn Vân. Giặc Phan Bá Vành ở  Nam Định. Giặc Quảng Yên ở các đảo ven biển và giặc Nông Văn Vân ở miền núi phía Bắc. Đây cũng là những tên giặc đầu sỏ, hoành hành làm cho Minh Mệnh đau đầu, ăn ngủ không yên. Thú vị là, Minh Mệnh biết rõ Nguyễn Công Trứ là văn quan nhưng lại dùng ông với vai trò võ tướng dẫn đầu hoặc cùng dẫn đầu tiêu diệt nhưng giặc đảng nguy hiểm, khó đánh bắt được. Việc dùng văn quan cùng với vàdẫn đầu võ tướng là một cái nhìn đặc dị và cách dùng người đặc dị, có lẽ của những người trác dị, và vì thế Minh Mệnh cũng thành công đặc biệt và Nguyễn Công Trứ cũng tỏ ra là người trác dị, khi mà ông gạt bỏ được mối lo của Minh Mệnh, tạo ra môi trường ổn định, thống nhất trong  nước. Vì công lao trác dị này, Minh Mệnh đã triệu Nguyễn Công Trứ về triều và có những hành động ban thưởng cũng hết sức trác dị, chúng ta hãy theo dõi sử quan nhà Nguyễn chép: “Đạo Tuyên Quang dùng kế hỏa công, Vân bị chết cháy. Tin thắng trận tâu lên. Vua hạ lệnh cho quân ba đạo hát khúc thắng trận về kinh. Trứ vào trước thềm ra mắt vua. Vua thân rót rượu ban cho để tỏ lòng yêu quý đáp công. Lại thường cho các đồ chơi quý báu; ấm thự cho một người con Trứ làm Hiệu úy cẩm y[17].

Hành động rót rượu là một kiểu ứng xử đặc biệt dành cho Trứ, tưởng thưởng cho các đồ chơi quý báu (thuộc về chức năng chơi, biểu trưng hơn là giá trị vật chất) cũng là những kiểu đồ chơi không bình thường, đặc biệt. Và trác dị hơn nữa, là Minh Mệnh ấm thự cho người con Nguyễn Công Trứ. Một kiểu ứng xử tưởng thưởng cũng trác dị mà Minh Mệnh dành cho ông khi lập đại công.

Dùng người trác dị vào việc khẩn hoang

Minh Mệnh không chỉ thành công trong dùng Nguyễn Công Trứ với tư ách văn quan dẹp loạn ở vùng biên viễn, ông còn trác dị thể hiện ở việc dùng Nguyễn Công Trứ khai hoang, mở rộng lãnh thổ, thu thuế và ổn định lưu dân cho đế chế.Không chỉ thành công trong khai hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải, quan trọng hơn nữa Nguyễn Công Trứ còn quy tụ và thu phục được lưa dân, lưu tán đang thất nghiệp ở khắp nơi về lập làng lập ấp. Không chỉ ổn định, tránh bạo loạn từ đám lưu dân này, khi lưu dân ổn định, đế chế còn nguồn lợi khác là thu thuế cho đế chế. Đánh giá về công lao của Nguyễn Công Trứ, Quốc sử quán nhà Nguyễn ghi nhận công lao của Nguyễn CôngTrứ một cách xác đáng: tạo ra mối lợi vĩnh viễn: “tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức Doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn”.[18]

Như vậy, mối lợi vĩnh viễn mà Trứ tạo ra cho đế chế gồm rất nhiều việc ông đã làm nhưng nổi bật là hai việc dẹp loạn và khẩn hoang. Bởi dẹp loạn nó tạo ra sự ổn định, bảo vệ tính quyền uy duy nhất của nhà Nguyễn mà Minh Mệnh là Hoàng đế và khai hoang không những mở rộng đất cho đế chế, còn thu thuế và đặc biệt ổn định lưu dân, giúp chống nổi loạn. Tất cả những việc làm này, hoàn toàn phù hợp thậm chí vượt qua tiêu chí của người trác dị mà minh mệnh hằng tìm kiếm.

Trác dị trong thưởng phạt, thăng giáng, luân chuyển

Nhìn vào diễn biến quan nghiệp của Nguyễn Công Trứ, dễ dàng phát hiện vô số khía cạnh bất thường, khác thường. Qua đó, có thể thấy tính bất thường trong ứng xử của Minh Mệnh đối với Nguyễn Công Trứ. Trước hết, tính bất thường trong thăng giáng.Nếu sơ đồ hóa nó như là hình lướt sóng, tức kiểu hình sin cứ lên lại xuống, cứ xuống lại lên. Tính bất thường của nó là nó không lên thượng đỉnh hẳn, cũng không lên một chiều, nó cũng không xuống đến đáy, tất nhiên có lúc cũng xuống đến cấp bậc thấp như Tri huyện Kinh. Nhưng sau đó lại thăng.Tính chất hình sin là đặc điểm nổi bật trong ứng xử của Minh Mệnh dành cho Nguyễn Công Trứ. Đặc điểm của hình sin này là: giữ thăng bằng trong khuông khổ và nằm trong tầm kiểm soát và không ở vị trí nào quá lâu, không bị giáng chức ở lâu vị trí nào mà thường giáng là thăng ngay. Tính ý đồ trong thăng giáng là hết sức rõ ràng.Giữ cho Nguyễn Công Trứ không theo một đường thẳng, hoặc không lên quá cao, hoặc không xuống quá thấp, tức không cực đoan hóa theo một định hướng nào phải chăng là dụng ý sâu xa trong ứng xử của Nguyễn Công Trứ với Minh Mệnh. Làm như vậy, Nguyễn Công Trứ vẫn vừa cống hiến cho nhà Nguyễn, nhưng lại giúp Minh Mệnh an toàn khi Nguyễn Công Trứ không đủ thời gian và tầm ảnh hướng để có thể quy tụ được một lực lượng đủ lớn để tạo thế đối trọng (nếu có), đồng thời, làm cho tính chất ổn định của Nguyễn Công Trứ luôn thay đổi.

Tính chất bất thường còn thể hiện ở việc ông liên tục được Thự (kiêm nhiệm) và luân chuyển qua nhiều vị trí khác nhau với công việc không giống nhau và ở những vùng miền khác nhau. Mặt khác, trong thưởng phạt cũng chứa nhiều điều không bình thường, phạt cũng có lúc rất nặng, nhưng như sử quán nhà Nguyễn chép, giáng lại thăng ngay và nhiều lúc thăng sửquán không biết lý do Minh Mệnh thăng là gì? Nó như là một kiểu dạng thức ứng xử riêng với người trác dị, tức nó theo lô gic của những người trác dĩ, duy họ mới hiểu ứng xử của nhau, nó ra ngoài khuôn khổ và người thường không hiểu được căn nguyên sâu xa của nó. Những món quà, mang tính đồ chơi cũng là một sự lạ, cả việc cho tiền, rỉ tai, cho bác sĩ riêng….cũng là những điểm không bình thường của Minh Mệnh dành cho Nguyễn Công Trứ, có lẽ chỉ có họ, hai người trác dị mới hiểu ý nghĩa và mới cảm được chiều sâu và sự khế ước ngầm trong ứng xử của cặp đôi trác dị này.

4. Những ứng xử trác dị Nguyễn Công Trứ dành cho Minh Mệnh

Tạo ra “mối lợi vĩnh viễn” cho Minh Mệnh

Ứng xử khác thường tức là những ứng xử vượt trội, đặc biệt đột biến hoặc đặc biệt xuất sắc mà người khác không làm thế hoặc không ứng xử được, được hiểu là ứng xửtrác dị. Điều dễ nhận ra nhất mà chính Quốc sử quán nhà Nguyễn đã tổng kết, ứng xử trác dị lớn nhất, lừng danh nhất của Nguyễn Công Trức dành cho Minh Mệnh là đã tạo ra mối lợi vĩnh viễn cho Minh Mệnh và đế chế Nguyễn dựa trên hai nền tảng và thành tựu cơ bản của ông là dẹp giặc loạn: Phan Bá Vành, giặc Quảng Yên và đặc biệt là Nông Văn Vân và thứ hai là khẩn hoang và ổn định lưu dân, khẩn hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải. So với các tiêu chí về người trác dị Minh Mệnh nêu ra thì những thành tựu mà Nguyễn Công Trứ đã làm được vượt xa tiêu chí của người trác dị mà Minh Mệnh hằng mong mỏi.\

Không oán thán, không làm phản là ứng xử trác dị thứ hai Nguyễn Công Trứ dành cho Minh Mệnh

Mặc dù mang lại mối lợi vĩnh viễn cho đế chế nhưng Nguyễn Công Trứ nhận được ứng xử cũng hết sức “trác dị” mà Minh Mệnh dành cho ông. Liên tục thăng, lại giáng, giáng lại thăng, có lúc đang ở đỉnh cao quyền lực giáng Tri huyện Kinh. Hay nói như nhà nghiên cứu Lê Thước ân mọn oai lớn. Nhưng ứng xử của Nguyễn Công Trứ cũng hết sức khác thường. Ông vẫn một lòng cống hiến phục vụ Minh Mệnh và đế chế đúng nghĩa đến hơi thở cuối cùng, khi đã già còn xin Tự Đức cho đi đánh Pháp. Không những thế, bị giáng liên tục, thậm chí bị giáng nặng hơn so với những sai lầm, nhưng ít thấy ở ông một sự phẫn uất, bất mãn (ít nhiều có). Đặc biệt, nó không đẩy Nguyễn Công Trứ cực đoan theo hướng về ở ẩn hoặc theo hướng trở thành lực lượng đối lập.Hẳn đó cũng là ứng xử khác thường mà Nguyễn Công Trứ dành cho Minh Mệnh.

5. Tổng luận về sự tương tác giữa Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ với tư cách là một cặp đôi trác dị.

Minh Mệnh – người “mở đường” cho Nguyễn Công Trứ đến với tự do cá nhân và phát triển cá tính

Như phần trên chúng tôi đã chỉ ra và nhiều nhà nghiên cứu đã đồng thuận, đến Nguyễn công Trứ đã hình thành tự do cá nhânvà dần hình thành một kiểu văn hóa cá tính[19]. Văn chương và ứng cử của phong lưu danh sĩ Nguyễn Công Trứ là minh chứng sinh động của một kiểu tự do trong lòng thiết chế chuyên chế.

Cần thiết nhắc lại rằng, về lý thuyết và cả trong thực tế không có sự xuất hiện tự do cá nhân trong lòng thiết chế chuyên chế, bởi thiết chế chuyên chế về một khía cạnh bản chất là phi tự do John Stuart Mill viết: “Ngay cả chế độ chuyên chế cũng không gây ra những ảnh hưởng tồi tệ nhất của nó miễn là tính cá biệt vẫn tồn tại dưới chế độ đó; và bất cứ cái gì bóp chết tính cá biệt đều là chuyên chế, dù cho nó được gọi là tên gì[20]. Nếu có tự do và đứng bên trên mọi luật pháp, quy tắc ứng xử, một cách tương đối đó là một nhân vật duy nhất là Hoàng đế. Đồng thời, với tư cách là cái lõi của tự do cá nhân, cá tính một mặt là phẩm chất cá nhân, một mặt là kết tinh của tự do cá nhân. Cũng có nghĩa là không có cơ hội xuất hiện và phát triển trong lòng thiết chế chuyên chế. Vậy tại sao đến Nguyễn Công Trứ tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở ở thời đại đại chuyên chế nhà Nguyễn với ông vua hà khắc Minh Mệnh.

Câu trả lời cho sự bất thường này ngoài lý do chủ quan là tài năng, khát vọng và cá tính Nguyễn Công Trứ thì một điều kiện không thể thiếu đó là cơ chế, hay một cái ô bảo trợ cho sự xuất hiện đó là gì? Thời đại chuyên chế Nguyễn không hoặc chưa đủ điều kiện cho tự do cá nhân và văn hóa cá tính xuất hiện.Vì thế, Nguyễn Công Trứ là trường hợp đặc biệt, mang tính cá biệt, không mang tính đồng loạt. Như vậy, đế chế và người đứng đầu của nó, chỉ tạo điều kiện cho một trường hợp cá biệt trác dị Nguyễn Công Trứ có cơ hội phát triển cá tính và tự do cá nhân.

Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng đặc dị này, như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, chính là Minh Mệnh – người mở đường cho tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ xuất hiện và phát triển. Cụ thể hơn có nghĩa, chính định hướng quyết liệt tìm kiếm người ngoài khoa cử, tức không qua thi cử (đương nhiên Nguyễn Công Trú qua thi Hương đỗ thủ khoa), thông qua tiến cử và đặc biệt là chính sách tưởng thường và ưu đại đặc biệt dành cho người “trác dị” là đường hướng mở đường cho những kiểu người như Nguyễn Công Trứ có cơ hội phát triển tự do và cá tính phát triển. Theo chúng tôi, đó là cội nguồn về cơ chế, môi trường văn hóa và môi trường chính trị cho phép kiểu ứng xử và kiểu văn chương tự do đầy màu sắc cá tính, chơi cười, giễu, bỡn, say của Nguyễn Công Trứ được xuất hiện và phát triển.

Nguyễn Công Trứ – người “nhận đường” đến với tự do cá nhân và phát triển cá tính.

Thông qua những phân tích ở trên, có thể nhận thấy Nguyễn Công trứ đã đặc biệt hiểu, chia sẻ và tương tác với Minh Mệnh. Bằng chứng của sự tương tác này là ông đạt được thành tựu đặc biệt xuất sắc như mong muốn của Minh Mệnh về người trác dị, tạo mối lợi vĩnh viễn cho Minh Mệnh và đế chế. Hẳn Nguyễn Công Trứ cũng thấu hiểu những lần bị giáng cách nhưng ngay sau đó là thăng, và ông cũng rất hiểu nhiều lần một Minh Mệnh tuân theo phép tắc lại thăng ông không có lý do, và hình thức tưởng thưởng: thưởng tiền đột xuất, cho đồ chơi, ấm thự cho con của Nguyễn Công Trứ… Đặc biệt, tính chất hô ứng nhận đường, nhận tín hiệu từ Minh Mệnh của Nguyễn Công Trú thể hiện rất rõ quan hai mảng văn chương trong và ngoài lăng miếu[21]. Mảng văn chương trong lăng miếu mang thể dạng của đại thần mực thước, tuân thủ và chỉnh chu. Nhưng bộ phận văn chương ngoài lăng miếu lại đối lập hoàn toàn với bộ phân văn chương trong lăng miếu. Thông hiểu này rõ ràng được Nguyễn Công Trứ ý thức rõ ràng, phận sự đại thần và phục vụ đế chế Nguyễn Công Trứ vẫn luôn hoàn thành và hoàn thành đặc biệt xuất sắc, đương nhiên Minh Mệnh đặc biệt hài lòng. Khi đã hoàn thành phận sự đại thần, đóng góp đặc biệt cho đế chế, Minh Mệnh đã mở ra một con đường để Nguyễn Công Trứ đến với tự do cá nhân và phát triển cá tính. Nguyễn Công Trứ đã rất hô ứng với điều này, dấu hiệu giải thích cho sự hô ứng này rất hợp lý là ông đã rất chuyên biệt trong tư cách đại thần ở trong triều và đã rất phi đại thần trở thành hình ảnh phong lưu danh sĩ khi ngoài lăng miếu, đặc biệt thú vị là, văn chương trong lăng miếu hình ảnh Minh Mệnh mang đậm tính ngợi ca thì trong văn chương ngoài lăng miếu vắng bóng hình ảnh Minh Mệnh. Nhưng có lẽ đặc biệt nhất và thú vị nhất là, sở dĩ Minh Mệnh mở ra và không thổi còi đối với Nguyễn Công Trứ ở ngoài lăng miếu và Nguyễn Công Trứ ý thức triệt để việc đó là tự do cá nhân và cá tính Nguyễn Công Trứ không trực tiếp công phá và làm ảnh hưởng, tổn hại đến hình ảnh hoàng đế Minh Mệnh và đế chế. Nguyễn Công Trứ có giễu nhưng cao nhất là giễu quan đại thần, mà không dám trực tiếp giễu, bỡn Hoàng đế. Cả Minh Mệnh và Nguyễn Công Trứ đều khế ước với nhau và đó là bí mật của sự xuất hiện trường hợp tự do cá nhân và đặc thù cá tính với tư cách là trường hợp cá biệt xuất hiện, phát triển và thăng hoa ở thời Nguyễn Minh Mệnh.

KẾT LUẬN

Như vậy, tư tưởng về người trác dị, tìm kiếm người phi khoa cử và đánh giá thấp vai trò của khoa cử, và kiến tạo một cơ chế đặc dị cho người trác dị là đặc sắc, ghi dấu tầm vóc của Minh Mệnh. Vậy tại sao ông lại nghĩ khác các vị vua các triều đại trước, cội nguồn sâu xa của nó là gì? Có lẽ, để trả lời cần có một sự khảo luận kỹ càng nhưng có lẽ hợp lý nhất là, Minh Mệnh đặc biệt ý thức về tính chất địa chính trị và địa văn hóa của việc kiến tạo quốc gia mình, ông đã nói trước văn võ bá quan rằng: Quốc gia ta xây dựng nền tảng ở phương Nam[22], phải chăng, chính cái nền tảng Phương Nam đó khiến ông có cái nhìn mang tính Phương Nam, tức khai mở, khai phóng hơn về cách thức tìm kiếm và sử dụng người tài. Và thú vị hơn nữa là, một giai xứ Nghễ  ngồn ngộn phẩm chất lại được tung hoành ở một nền tảng quốc gia phương Nam Nguyễn Công Trứ, tức tính chất khai phong, khai mở của tinh thần Phương Nam không chỉ là cơ sở nền tảng giúp Nguyễn Công Trứ thể hiện và xúc tác cho cá tính của ông thăng hoa, mà nhiều dấn ấn của phương Nam khai mở kết tinh trong cả ứng xử và văn chương nơi ông.

Để kết luận cho bài viết này, tôi xin dẫn lại câu nói của John Stuart Mill trong On Liberty: “Giá trị của một quốc gia, về lâu dài, chính là giá trị của những cá nhân tạo nên quốc gia đó”. Nguyễn Công Trứ và cả Minh Mệnh đều xứng đáng là những giá trị của quốc gia vì họ tạo nên quốc gia đó về lâu dài. Ngày nay, chúng ta cần nhiều hơn nữa những Nguyễn Công Trứ và cần thiết hơn là phải đi tiếp những khía cạnh mà Nguyễn Công Trứ chưa đi vì chưa có điều kiện đi hoặc vì những lý do chủ quan và khác quan khác và cần thiết hơn nữa là những vị đứng đầu với nhiều khía cạnh sáng suốt như Minh Mệnh: chuyển trọng tâm từ cái nhìn hệ thống sang trọng tâm cái nhìn về con người!

[1] Chữ dùng của giáo sư Trần Đình Sử

[2]Trác dị là chữ của Minh Mệnh dùng chỉ những người đặc biệt xuất sắc.

[3]Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, Nxb Văn học, 2016, tr. 342.

[4] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Nxb Đồng Tháp, 1997, tr. 498-499

[5] Dẫn theo, Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nxb Nghệ An, 2008, tr. 472

[6] Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Nxb Đồng Tháp, 1997, tr. 498-499

[7]Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn học, 2016,, tr. 343.

[8]Dẫn theo Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn học, 2016, tr. 348-349

[9] Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, quyển 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, Tr. 183.

[10]  Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, tập 1, Nxb Thuận Hóa Huế 1994, tr. 161.

[11]Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, quyển 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, Tr 161.

[12]Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, quyển 4, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, Tr. 163

[13]Việt Nam sử lược,  Sđd, tr. 159-160

[14]Việt Nam sử lược , Sđd, tr. 157-158

[15]Việt Nam sử lược,Sđd, Tr. 157

[16]Việt Nam sử lược,  Sđd, Tr. 174

[17]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Nxb Thuận Hóa, 2014,tr. 290.

[18]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, Nxb Thuận Hóa, 2014, tr. 457

[19] Đã dẫn chữ dùng của giáo sư Trần Đình Sử

[20] On Liberty, Bàn về tự do, chương 3.

[21] Trong lăng miếu là văn chương trong triều đình, thuộc về triều đình. Văn chương ngoải lăng miếu là văn chương của Nguyễn Công Trứ ngoài triều đình, sáng tác tự do theo xúc cảm cá nhân.

[22] S đ d, Tr.

VỀ SỰ ĐÁNH GIÁ NGUYỄN DU CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ QUA NHÂN VẬT THÚY KIỀU

Yến Nhi

Dưới góc nhìn văn hóa , Nguyễn Du (1765-1820) là nhà thơ lớn của dân tộc, tuy nhiên qua cuộc đời và sự nghiệp, dưới góc nhìn lịch sử, ta còn thấy nhiều nét nổi bật nữa ở con người Nguyễn, một thiên tài có nhiều tâm trạng, một con người “ba mươi tuổi đầu đã bạc”, hơn nửa thế kỷ trong cõi đời rất hiếm khi vui, đến lúc về nơi chín suối vẫn mang một tâm sự cô hoài! Là một nhà thơ lỗi lạc, ông còn là một võ quan nhiều mưu đồ đại nghiệp, một vị văn quan rất biết cách “chăn dân”, cũng là một nhà ngoại giao xuất chúng. Nhận xét tổng thể về Nguyễn Du ,thấy rõ những tài năng đa dạng  và công lao của ông, các cụ đời sau  đã  thể hiện rất sâu sắc qua các bài văn truy điệu, văn bia trong các dịp tưởng  niệm.… Khi trưởng thành Ất bảng chen tên, tài thư  kiếm vang lừng hai vế

Những muốn hùng binh mấy vạn rắp phen Trương Tử phục Hàn gia . … Khi thủ hiến Tiên châu, khi Thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân… Lúc Bắc hành chánh sứ, lúc Nam khuyết á khanh tài thao lược vang lừng trong hai nước…(1)

Một nhân cách, một sự nghiệp như vậy, nhưng tại sao một người cùng thời cũng tài năng sự nghiệp không kém lại là đồng hương, hạ một lời phê từng làm băn khoăn bao thế hệ. Nguyễn Công Trứ nhận xét Kiều thực ra là nhận xét Nguyễn Du Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai (2) ( Vịnh Thuý Kiều). Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi (1765-1820), mất sau Nguyễn Du 40 năm, quê làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang đồng hương huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông làm quan dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đến chức phủ doãn Thừa Thiên thì nghỉ hưu.. Trong 28 năm quan trường, thăng tiến và giáng chức đến 8 lần. Ông nhiều lần cầm quân đi đánh giặc (dẹp một số cuộc khởi nghĩa của nông dân) lập nhiều công lớn với triều đình. Đặc biệt vào những năm cuối thập niên 1820, ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn, Tiền Hải (thuộc hai tỉnh Thái Bình, Ninh Bình ngày nay), kiếm công ăn việc làm cho nhiều người xóa bỏ nạn trộm cướp, lập nhà học, hội buôn (xã thương) ở nông thôn nâng cao dân trí, thông thương hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực khẩn hoang được nhân dân các vùng ghi nhớ, lập đền thờ ngay khi ông đang còn sống. Là một nhà quản trị giàu năng lực, một vị tướng tài, ông còn là một nhà thơ, một nghệ sĩ lớn. Ông để lại nhiều sáng tác thơ Nôm theo thể thơ đường luật và ca trù. Nội dung thơ phong phú, đa dạng, từ than cảnh nghèo, vạch trần nhân tình thế thái, đề cao chí nam nhi, đến ca ngợi thú cầm kì thi tửu. Trên phương diện tư tưởng và tâm lý Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn! Sinh thời ông vượt qua những lề thói bảo thủ, giả dối, tỏ một thái độ “phóng dật” bất cần trong lối sống, thách thức công nhiên dư luận, nhưng ông không vượt khỏi cái quỹ đạo tư tưởng Nho giáo mà đôi khi còn tỏ ra chịu chi phối nặng nề (đạo vua – tôi, nam trọng – nữ khi). Nguyễn Công Trứ có một nhân sinh quan tuy có nhiều khía cạnh tích cực đổi mới vượt ra khỏi những chuẩn tắc thời bấy giờ nhưng căn bản vẫn nằm trong phép xuất xử Nho gia. Hiểu được tính hai mặt này trong tính cách của Nguyễn Công Trư là một điều cần thiết để đánh giá con người cũng như ngôn thuật của ông.

Cho mãi đến nay có hai điều người ta vẫn băn khoăn khi giải thích về tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Công Trứ: 1.Tuy giúp ích cho nông dân trong công cuộc khai khẩn điền địa ở Thái Bình nhưng ông cũng lại tiến hành nhiều cuộc đàn áp khốc liệt nông dân khởi nghĩa . 2. Sống hành lạc phóng lãng rất gần gũi với giới ca nhi, nhưng đánh giá rất khe khắt với Thuý Kiều, một siêu kỳ nữ, nhân vật mang nhiều tâm sự Nguyễn Du. Vấn đề thứ nhất, mối quan hệ với nông dân, nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích. Chúng tôi, sau đây, thử  lý giải vấn đề thứ hai: quan hệ với nhân vật Thuý Kiều.

Bán mình trong bấy nhiêu năm, Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai . Nguyễn Công Trứ  đánh giá Thuý Kiều có lẽ là khe khắt nhất trong số các nhà nho thời bấy giờ. Ông cho Kiều bán mình đi làm “vợ” khắp người ta là tính cách “tà dâm” không đánh lừa được người đời dù biện bạch bằng các lý do này khác. Việc “đoạn trường” là “đáng kiếp”!  Tại sao lại có những nhận xét , đánh giá đó khi Nguyễn Công Trứ từng là một khách chơi phóng lãng, một quan gia thăng giáng thất thường? Con người từng bất chấp tất cả mà lại không thể vượt qua được thành kiến hẹp hòi với một ca nhi hay có gì ẩn khuất đằng sau?

Sự khác biệt về đối tượng và tình cảm thẩm mỹ

Phải chăng trong cách nhìn của Nguyễn Công Trứ:  Kiều chỉ là kỹ nữ, dẫu tài năng nhan sắc bao nhiêu cũng chỉ là một khách chơi , cái hồng nhan mà sinh thời ông rất coi thường, ông luôn là kẻ đứng trên là cha thằng xích tử. Đời ông trai kép lúc trẻ, lúc tham gia trận mạc, lúc về già, khi chùa chiền, khi vãn cảnh đều có dăm ba nàng áo đỏ, áo xanh theo hầu, bảy mươi tuổi còn đèo bòng thiếp trẻ, luôn luôn mải mê với cái cảnh “hoa lê áp hải đường”… Tất cả chỉ là thú chơi, “chơi hoa cho biết mùi hoa, cầm cân cho biết cân già hay non” thế thôi. Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết cho rằng Nguyễn Công Trứ ngoài “một bản lĩnh hành động” còn là “một tay chơi cuồng phóng”, gọi ông là “tay chơi” là có cái lý của nó vì chính Nguyễn cũng tự nhận “sống để mà chơi”(3). Tân nhân, mỹ nữ, ca nương, khách hồng quần… đều là đối tượng của cái thú “phong nguyệt tình hoài”, trong cái thú này thì “trăng hoa” là mục tiêu, xướng ca là phương tiện, không có chỗ cho những Hiếu, Trung cao đạo. Nguyễn Công Trứ hiểu sai và đánh giá thấp Kiều cũng nằm trong cái quỹ đạo suy nghĩ đó. Trong toàn bộ thi tập ca trù-hát nói của ông để lại, người phụ nữ không bao giờ xuất hiện như một đối tượng trữ tình mà cùng với ngón đàn điệu hát  chỉ xuất hiện như những “khách chơi”, biết múa hát đong đưa nhưng không có tâm trạng, như những hình nhân trong bộ sưu tập… Các nữ nhân trong thơ Nguyễn Công Trứ  đa phần là ca nhi nhưng ngón cầm ca của họ khác xa với Kiều hoặc các cô Hồ, cô Cầm ở đấtt Thăng long và cái cách thưởng thức của Tố Như và Uy Viễn cũng với những tâm trạng khác nhau. Với Nguyễn Du các nữ nhân mà ông  thường nhắc đến  như cô bạn hái sen, cô lái đò thời trẻ, cô Cầm người đẹp Long Thành, cô ca nữ ở nhà em trai, cô Hồ  bạn văn chương, hoặc như cô Tiểu Thanh, cô Thuý Kiều…trước hết đó là những con người cốt cách tao nhã, gần gũi, chịu nhiều oan khuất (phong vận kỳ oan), ông gửi gắm nơi họ những tình cảm tri âm, tri kỷ xem họ là những khách đồng điệu. Nguyễn Du thương cảm và đánh giá cao Kiều cũng như nhiều khách má hồng khác, họ không là “khách chơi” như Nguyễn Công Trứ quan niệm, mà là những kẻ “liên tài, liên tình”, những kẻ “tài thì đáng trọng, tình thì nên thương”.  Nói đến các đào nương ,“một hạng người thường bị rẻ rúng đương thời,  Ông không hạ mình xuống để thương vay mà thật sự tìm thấy mình trong họ”. Khóc cho những con người ấy là “khóc cho cuộc đời phong trần lận đận của chính mình và khóc cho cả những tài hoa Thăng Long bị vùi dập(4). Những con người đó không chỉ là những kẻ “phong vận kỳ oan”mà còn  là những “biểu tượng tài hoa của Thăng Long”, môi trường văn hoá đã ảnh hưởng  sâu sắc trong tâm hồn Nguyễn Du ngay từ thời niên thiếu . Ta biết trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái tính dịu dàng và hào hoa của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng đằng mẹ, đã hưởng được hào khí của đất Hồng Lam, hùng tâm của người xứ Nghệ, cùng là lòng tiết nghĩa, khiếu văn chương, do gia phong truyền lại trải bao nhiêu đời nhờ ảnh hưởng đằng nội. Thân sinh, quan đại tư đồ Nguyễn Nghiễm mất năm  Nguyễn Du mười tuổi,  mười ba tuổi mồ côi mẹ, suốt thời niên thiếu ở với anh tại Thăng Long.  Anh cả Nguyễn Du là Nguyễn Khản, một đại quan rất được chuá Trịnh Sâm sủng ái cũng là một người say mê và am tường nghệ thuật, văn chương. Nguyễn Du có một người em là Nguyễn Ức kém ông hai tuổi, thời Lê là một quan to, thời Nguyễn được phong tước hầu. Khi chưa loạn lạc, trong dinh quan Nguyễn Ức ở Thăng Long, thường có những ca kỹ, “ những người mặc áo hồng hát ca uyển chuyển” phục vụ mua vui cho các quan, có người tài sắc trở thành nàng hầu . Dấu vết đài các hoa lệ , không khí nghệ thuật cao nhã của kinh đô cùng với những tao nhân mặc khách, văn nhân, kỳ nữ thường lui tới để lại nhiều ấn tượng trong ký ức Nguyễn  không phải chỉ  là đề tài cho những thi phẩm sau này mà nó trở thành  một “nhân tố văn hóa Thăng Long” trong phong cách sống cũng như phong cách nghệ thuật của ông mà nhiều nhà nghiên cứu đã từng  nhắc đến. Nói kỹ những điều này chúng tôi muốn lưu ý rằng trong đời sống cũng như trong  nghệ thuật của Nguyễn Du, nhân tố “văn hoá Thăng Long” trầm tích trong nhiều tác phẩm đặc biệt là ở mối quan hệ với các nhân vật nữ tạo nên cái nét riêng mà Thuý Kiều “ tài hoa mà phận bạc, đài các mà truân chuyên” là một điểm nhấn quan trọng  bộc lộ rõ quan điểm và tình cảm  thẩm mỹ của Nguyễn Du khác xa Nguyễn Công Trứ.Nếu bỏ qua điều này thì những lý giải khác sẽ trở nên hời hợt. Bởi vậy mà sự phê phán của Nguyễn Công Trứđối với Kiều có phần vừa khe khắt lại vừa hời hợt, phê phán mà không thấu hiểu.

Sự khác biệt về quan điểm lập thân. Nguyễn Du và nỗi buồn thời đại. Như trên ta đã nói, nhận xét Kiều nhưng chính thực là nhằm vào Nguyễn Du,  không hiểu Kiều, Nguyễn Công Trứ cũng không hiểu tâm trạng Nguyễn Du, nếu không nói là xa lạ . Lời nhận xét thật nặng nề , ông cho việc làm quan dưới triều Nguyễn của Nguyễn Du là tầm thường, xu phụ thời cuộc, nỗi buồn của Nguyễn Du là  giả dối ! So với Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ  có nhiều cái khác về xuất thân cũng như hành trạng. Nguyễn Du con người hai triều đại , gia đình đại quí tộc của triều đại cũ, chịu nhiều áp lực của thời cuộc,  triều Lê suy vi, nông dân Tây Sơn khởi nghĩa không hợp tác , triều Nguyễn khôi phục cơ đồ, bất đắc dĩ ra làm quan “thờ” chúa mới. Nguyễn Công Trứ  là sản phẩm của triều đại mới không có cái băn khoăn “trung thần bất sự nhị quân” như Nguyễn Du. Gia tộc Nguyễn Du là đại quí tộc, Nguyễn Công Trứ hàn nho vào đời bằng tài năng là chính , thời trẻ trải nghiệm cuộc sống bình dân, về căn bản gắn với triều Nguyễn một cách lý tưởng , ông thuộc thế hệ hãnh tiến  hăng hái xốc tới không có cái mặc cảm đại quý tộc trước “một phen thay đổi sơn hà” của Nguyễn Du. Nguyễn Công Trứ về quê thì cười cợt “ thuyền quyên ứ hự, anh hùng biết chăng”,không có cái bâng khuâng khi nhớ  đến khúc sông ngày xưa “thuyền cha ta cờ xírợp trời” như Nguyễn Du. Ghé Thăng Long, Nguyễn Công Trứ ngoài công vụ, tìm cái thú giang hồ  “phong nguyệt kho vô tận” , còn Nguyễn Du thì day dứt , bẽ bàng “thành mới trăng xưa bóng lững lờ”. Nguyễn Công Trứ thấy khinh cái cảnh quan lại tham những đục khoét nhưng tôn sùng vua, nhận bổng lộc vua ban một cách ngưỡng vọng, ông không trải cái cảnh  anh em, bạn hữu bị lâm nạn, bị bức tử, bởi gian thần để nhận lộc vua ban mà thầm đau xót và lo lắng như Nguyễn Du. Việc ra làm quan của Nguyễn Du dưới triều Nguyễn là tình cảnh bất đắc dĩ, là bất khả kháng để bảo vệ mình và gia tộc chứ không phải vì mộng công hầu hoặc mưu tài lợi như thói thường. Hai nhân sinh quan, hai triết lý nghiệm sinh khác nhau nên không đồng cảm.

Nguyễn Du luôn mang một nỗi buồn lớn, cảm thấy bế tắc khó làm thay đổi cuộc đời  . Nguyễn Công Trứ thấy mình cải tạo được cuộc sống dân nghèo, còn Nguyễn Du đi khắp gầm trời kể cả sang Trung Hoa, nơi lýtưởng trong cách nhìn nho gia thời bấy giờ, cũng thấy đầy rẩy bất công, tàn bạo. 56 năm trong cuộc đời của Nguyễn Du, vui có, buồn có nhưng tổng thể là một cuộc đời thành đạt, làm quan đến bực á khanh, vua trọng vọng, triều thần vị nể, người đờii yêu mến. Dẫu vậy, việc sống buồn bã, tâm sự u uất luôn “rụt rè sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện thôi” là một điều có thật trong cuộc đời Nguyễn Du. Đối chiếu  hành trạng của Nguyễn, cần có cái nhìn toàn diện để hiểu và giải thích rõ cái tâm sự u hoài tại sao đeo đẳng ông mãi thế, dẫu có khi làm đến bậc Á khanh, được hoàng đế Gia Long trọng dụng. Khi mắc bệnh nặng ông nhất định không chịu uống thuốc, chỉ chờ chết cho xong.(5) Ông đã đem theo xuống mồ cái tâm sự u uất, khó hiểu,  người đời chỉ ức đoán qua câu thơ Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hà hà nhân khấp Tố Như ? Đây là cái điều mà xưa nay ai cũng quan tâm nhưng lý giải thì mỗi người một cách. Có người  cho là  Nguyễn Du  buồn vì tuy là quan nhưng  là người cựu triều nên không ít kẻ ghen ghét, kẻ thì nghĩ rằng Nguyễn  ở tân triều mà lòng khôn quên chúa cũ, như là đã ngược lại dòng tộc, chẳng là dòng họ này bao đời được người đời nể trọng vì truyền thống  trung nghĩa. Đi xa hơn, Nguyễn Công Trứ lại xem nỗi buồn của Nguyễn Du là giả dối, muốn che lấp sự đàm tiếu của thiên hạ về việc “phản bội” lại Nhà Lê đã từng mưa ân tưới phúc cho gia đình.

Theo chúng tôi nghĩ , nỗi buồn của Nguyễn Du không dừng lại ở cái nguyên nhân bé nhỏ là vì đồng sự ghen ghét hay mặc cảm về cái sự  “tôi trung không thờ hai chúa”như có người nhận xét , mà ở cái nỗi niềm lớn lao hơn. Đó là tấm lòng  yêu thương con người, là phẩm cách của  một tâm hồn  cao thượng , cảm thấy những nghịch lý, những nghịch cảnh tồn tại ở mọi thời , mọi nơi, như là một định mệnh không tài nào thay đổi được .Ở quê hương  cũng như ở xứ người đều đầy rẫy những bất công, đau khổ. Tấm lòng nhân mênh mông pha mùi thiền, mùi đạo ở ông luôn cảm thấy bất lực, đó mới chính là cái điều sâu kín tạo nên nỗi u hoài khôn nguôi trong đời sống và là hồn cốt trong các sáng tác của Nguyễn. Nỗi u hoài, nỗi đau đáu của Nguyễn chúng ta từng gặp trên con đường thi ca một thuở trong nỗi sầu không thể nào vơi của tâm sự Lý Bạch : Cầm dao chặt nước nước cứ trôi, cất chén tiêu sầu, sầu không vơi (Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu/Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu- Tiễn biệt quan Hiệu thư Thúc Vân), cũng như cái cô đơn vô tiền khoáng hậu của Trần Tử Ngang: Trước không thấy người đi, Sau không thấy kẻ đến, Nghĩ trời đất phiêu du, Chỉ mình ta lệ chảy  (Tiền bất kiến cố nhân/ Hậu bất kiến lai giả/ Niệm thiên địa chi du du/ Độc sảng nhiên nhi lệ hạ – Đăng U châu đài ca ).   Dãi dầu mười mấy năm quan trường ,Nguyễn Du trước hoàn cảnh thường có một “tâm trạng kép” vừa mừng  vừa sợ , sợ cho mình và cả họ tộc bị bức hại , mừng vì tai qua nạn khỏi, phủ định  nhưng vẫn phải làm tròn chức phận không thể thoái thác. Nguyễn chủ động trong tư duy nhưng có lúc thụ động trong hành động. Tâm trạng thể hiện trong câu thơ tự thán “hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên”. Phải chăng vì trạng thái nước đôi đó mà sau này Nguyễn Công Trứ đã “phê” Nguyễn thông qua lời nhận xét khắt khe về Thuý Kiều, nhân vật mà Nguyễn Du có nhiều kýthác .

Chúng ta với nhãn quan hiện đại thấy rõ sự khác biệt ở hai ông , suy cho cùng vẫn không ra ngoài cái ngưỡng triết lý dân gian “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”. Nguyễn Công Trứ tuy có tài kinh bang tế thế nhưng là một vị quan gia đánh giá Kiều cực đoan cũng như ông vua Tự Đức xét đoán Từ Hải . Cụ Thượng Trứ sẽ chẳng bao giờ thông cảm với tâm trạng Nguyễn Du qua Thúy Kiều cũng như hoàng đế Tự Đức chẳng thể nào hiểu được ước mơ của Nguyễn Du qua Từ Hải ! Chỉ có nhà thơ Tố Như người của những nỗi đau thân phận mới xem Kiều là tri âm, Từ Hải là giấc mộng . Và chính nỗi cộng cảm nhân sinh lớn lao đó đã khiến  Nguyễn Du hơn thế kỷ sau trở thành một điểm sáng trong bầu trời văn hoá nhân loại mặc dầu đương thời  không khoả lấp được nỗi nghi ngờ ở một số người, trong đó Nguyễn Công Trứ là một ./.

Tháng 4 – 2008/7-2010

(1)  Đào Tử Minh –Văn truy điệu Nguyễn Du  – Hội Tri Tân, ngày 10/8 Giáp thân 1944 (2) Cớ bản chếp : Đố đem chữ Hiếu mà lầm được ai? (3 )Hoàng Phủ Ngọc Tường- Tay chơi http://chutluulai.net/forums/showthread.php?p=32161 (4)  Nguyễn Huệ Chi – Biểu tượng đa nghĩa của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du– Bài tham gia Hội thảo Gia tộc Nguyễn Du & Thăng long – 2010.Bà Trần Thị Tần , thân mẫu Nguyễn Du xuất thân cũng là một ca nương. (5)  Theo Đại Nam liệt truyện: “đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói “được” rồi mất; không trối lại điều gì”.

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn,  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim