Dạy và học ngôn ngữ văn hóa

DẠY VÀ HỌC NGÔN NGỮ VĂN HÓA
Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Long, Hoàng Kim

Học tiếng Trung Việt, dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Ngôn ngữ văn hóa Việt là một kho tàng trí tuệ. Mời bạn đọc bài ‘Dưỡng sinh’ của thầy Nguyễn Lân Dũng, ‘Thơ Facebook’ của Thanh Vân, “Ướm thử giày xưa” thơ Duệ Mai và lời bình của Thanh Vân, cùng đọc bài thơ “May mà” của nhà thơ Lê Đình Cánh và lời bình của bác Bulukhin để hiểu thêm góc nhìn về du lịch văn hóa Việt (Hoàng Kim)

DƯỠNG SINH

Nguyễn Lân Dũng

Dưỡng sinh là một phương pháp tập luyện nhẹ nhàng, thường xuyên và rất có lợi cho sức khoẻ ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Đây là loại bài tập không cần được huấn luyện nhiều, xem qua hay đọc qua là hiểu được ngay. Có thể ngoài trời hay trong nhà, tập buổi sáng sớm hay buổi chiều tối, có thể tập trong suốt bốn mùa. Nữ giáo sư Trung Quốc Uông Đức Nhàn ở Bệnh viện số 1 thuộc Đại học Bắc Kinh đề xuất ra 16 bài tập dưỡng sinh khá phù hợp với mọi người và chúng ta nên tham khảo (xem cuốn Sách trắng về Sức khoẻ, NXB Phụ nữ, 2006).

Theo GS. Uông thì Càn Long là ông Vua sống thọ nhất trong giai đoạn suốt trên 2000 năm của xã hội phong kiến Trung Quốc với tuổi thọ là 88. Bí quyết của Vua Càn Long là… thường xuyên tập Dưỡng sinh ! Phương pháp của ông Vua này được tóm tắt trong 16 chữ, dịch ra tiếng Việt là “Thở ra hít vào; Hoạt động gân cốt; Mười nên, Bốn không; Tẩm bổ đúng lúc”

‘Mười nên’ được hiểu là: Thường xuyên đánh răng; Thường xuyên nuốt nước bọt; Tai thính; Mũi thính; Mắt tinh; Thường xuyên xoa mặt; Luôn xoa bóp chân; Luôn xoa bóp tay; Luôn gập bụng; Luôn duỗi thẳng tay chân. ‘Bốn không’ được hiểu là: Không nói chuyện khi ăn, Không nói mê khi ngủ, Không say khi uống, Không mê sắc dục.

Các sách kinh điển của Trung Quốc đã ghi lại 16 chữ của Vua Càn Long là cơ sở của phương pháp tập luyện của phái Côn Luân thời cổ đại. Người Nhật thời Cận đại đã phổ biến 16 chữ này trong dân chúng để thường xuyên luyện tập.

Khi vận động được khuyên là: Thường xuyên vuốt tóc; Xoa mặt; Mắt tinh; Tai thính; Lưỡi luôn ướt; Răng luôn sạch; Lưng luôn ấm; Chân tay luôn cử động; Da dẻ luôn sạch sẽ; Không nói khi đang đi tiểu, đi đại tiện.

Hàng ngày chải đầu bằng lược khoảng 100 lượt hay nhiều hơn khi thấy ngứa đầu, rụng tóc. Xoa mặt nhẹ nhàng 50 lần bằng hai lòng bàn tay. Xoa mũi bằng ngón tay giữa và ngón tay trỏ, miết mạnh hai bên sống mũi từ dưới lên đến huyệt Ấn Đường ở trán rồi từ trán miết xuống, lặp lại 50 lần. Sau đó dùng hai ngón trỏ ấn mạnh vào huyệt Nghinh Hương ở hai bên 50 lần. Xoa mép bằng hai ngón tay giữa, ấn vào huyệt Địa Thương ở hai bên mép 50 lần. Xoa mắt bằng hai ngón tay trỏ, ấn vào huyệt Thái Dương ở hai bên trán 50 lần, sau đó ấn vào huyệt Tứ Hạch ở dưới mắt 50 lần. Rồi ấn vào hai huyệt trên hai mi mắt 50 lần.

Vận động mắt, chuyển động nhãn cầu: ngước nhìn lên trời rồi nhìn xuống đất 100 lần, lại nhìn sang bên sau đó nhìn về phía trước, đổi bên và làm 100 lần. Thường xuyên xoa tai vì quanh vành tai có 300 huyệt, phía sau tai có 50 huyệt. Xoa tai giúp ngủ sâu hơn, tâm hồn thoải mái, có lợi cho sức khoẻ.

Thường xuyên đánh răng kết hợp với việc dùng ngón tay sạch day lợi cả trong lẫn ngoài từ 1 đến 2 phút. Cọ xát lưỡi nhẹ nhàng, miệng tiết ra nhiều nước bọt. Trước hết bình tâm, thở ra 3 lần, thè lưỡi ra đến môi, khẽ cọ xát cho nướt bọt ứ ra. Làm 5-7 lần rồi nhổ nước bọt đi, không nuốt. Mỗi lần làm 50 lượt vào buổi sáng hay buổi tối.

Xoa ngực lưng và bụng có thể phòng tránh bệnh tật. Dùng hai bàn tay xoa lưng 50 lần và xoa ngực 50 lần. Sau đó dùng từng tay vỗ nhẹ vào ngực và vào lưng. Dùng cả hai tay xoa cho da bụng nóng lên, xoa thành vòng tròn, một tay xoa xuống và một tay xoa lên. Đừng xoa sau lúc no quá hoặc đói quá. Cần uống nhiều nước, ăn nhiều rau xanh và hoa quả, tạo thói quen đại tiện đều đặn và đúng giờ.

Tập thở bằng bụng, thở mạnh ra để hậu môn giãn nở đẩy khí âm ra, khi hít vào hậu môn thả lỏng . Mỗi ngày tập 50-100 lần để phòng chữa bệnh trĩ, viêm tuyến tiền liệt. Khi đi tiểu tiện hay đại tiện không nói chuyện, càng không nên hút thuốc, nên mím môi và xiết chặt hai hàm răng, để máu lưu thông làm cho răng chắc khỏe.

Dùng tay xoa để tắm khô cho da, bắt đầu từ huyệt bách hội ở đỉnh đầu rồi xuống mặt, vai, cánh tay, ngực, bụng, lưng, eo, đùi, chân. Có thể tự mình làm lấy hoặc người trong nhà giúp làm lẫn cho nhau. Xoa âm bộ gồm háng (100 lần), cốt huyệt (100 lần), âm huyệt (100 lần), huyệt thận (100 lần), bụng (100 lần), ngọc hành (100 lần) Tập thở hít bằng bụng, mở rộng biên độ lên xuống của hoành cách mô và biên độ co giãn của bụng. Cách thở này giúp tuần hoàn máu tốt hơn, cải thiện chức năng của khí quả, tăng cường được sức đề kháng với bệnh tật.

|Thường xuyên xoa gan bàn chân. Sáng đi bách bộ 300 bước, tối ngâm chân bằng nước ấm 38-450C. Vừa ngâm chân vừa cọ xát vào nhau, ngâm trong 10-20 phút. Sau đó lau khô rồi xoa bằng tay cho hai gan bàn chân nóng lên.

Hoạt động chân tay bằng cách toàn thân thả lỏng, đứng tự nhiên, tập trung tư tưởng. Vận động đầu bằng cách ngẩng lên cúi xuống 30 lần, sau đó lần lượt nghiên đầu về hai bên, mỗi bên 15 lần. Vặn sườn bằng một tay chống nạnh sườn, một tay giơ cao, vặn sườn mỗi bên 15 lần. Vận động ngực bằng cách chân trái bước lên trước, chân phải duỗi thẳng ra sau, hai tay giơ thẳng về phía trước rồi vươn sang hai bên, ưỡn ngực ra, tập 15 lần rồi đổi bên tập 15 lần nữa. Vận động xoay người bằng cách dạng hai chân, hai tay chống nạnh, quay người sang trái rồi sang phải. Vận động tay bằng cách dạng chân, buông xuôi tay rồi đưa thẳng về phía trước, sau đó thu về tư thế cũ và tập 30 lần. Vận động vỗ đấm bằng cách dạng hai chân, nắm tay lại và đấm nhẹ các phần bụng, ngực, lưng, vai, khoảng 30 lần. Vận động vắt tréo bằng cách dạng hai chân, hai tay duỗi thẳng rồi vắt tréo hai tay trước ngực rồi xoay người sang hai bên, tập 15 lần.Vận động chèo thuyền bằng cách dạng hai chân, chân trái bước lên, chân phải duỗi thẳng ra sau, hai tay làm động tác chèo thuyền, tập 15 lần. Vận động lắc mông bằng cách dạng hai chân lắc mông sang hai bên 30 lần. Vận động xoay mông bằng cách dạng hai chân, xoay mông từ trái sang phải và ngược lại 30 lần.

Vận động lưng bằng cách dạng hai chân, hai tay vắt tréo sau lưng, từ từ gập người xuống rồi từ từ đứng thẳng lên, tập 30 lần. Vận động vặn lưng bằng cách dạng hai chân, gập người về phía trước, hai tay xoay theo hướng vặn lưng, tập 15 lần mỗi bên. Vận động cong lưng bằng cách chụm hai chân, sau đó chân trái bước lên nửa bước, hai tay giơ cao, gập bụng, tay với tới chân rồi trở về tư thế đứng thẳng, tập mỗi bên 15 lần.Vận động đá chân bằng cách đứng chụm chân hai tay đưa lên ngang vai, lần lượt đá mạnh từng chân về phía trước, mỗi chân 15 lần, sau đó lại đá về phía sau mỗi chân 15 lần.

Vận động đầu gối bằng cách dạng hai chân, gập người về phía trước, hai tay vịn vào đầu gối, xoay đầu gối theo hai chiều kim đồng hồ, mỗi chiều 15 lần. Vận động quỳ bằng cách chụm hai chân, từ từ quỳ xuống rồi lại đứng lên, tập khoảng 30 lần. Vận động xoay chân bằng cách dạng hai chân, giơ chân phải lên, xoay từ trong ra ngoài, rồi xoay lại làm 15 lần rồi đổi chân làm lại như vậy. Vận động nhảy đá chân bằng cách nhảy lên khỏi mặt đất và lần lượt đá về phía trước mỗi chân 15 lần.

Tuỳ theo sức khoẻ, thời gian luyện tập mà thay đổi cường độ tập luyện.

Nguồn: http://nguyenlandung.vn102.space/2017/11/30/d_ng_sinh

GIÀY VÀ THƠ
Thanh Vân

Tôi có một anh bạn làm phóng viên viết về mảng thời trang và văn hoá ở một tờ báo ăn khách nọ. Hắn biết tôi thích ngắm gái đẹp, lại có chút năng khiếu “hỏi xoáy đáp xoay “ nên mỗi lần đi phỏng vấn hoa hậu, người mẫu, hắn thường rủ tôi đi cùng. Năm trước, nhờ có tôi mà bài phỏng vấn hoa hậu X của hắn, báo bán chạy như tôm tươi, hắn được Tổng biên tập khen và thưởng cho một tháng du lịch đảo Phú Quốc để theo dõi và viết bài đưa tin về cuộc thi hoa hậu Việt Nam 2014. Tôi còn nhớ như in lần đó, khi nàng ô sin đẹp tuyệt trần ( tôi đã tưởng nhầm là hoa hậu ) ra mở cổng và dẫn chúng tôi vào phòng khách là lúc hoa hậu X đang thử giày để tối đi dự event từ thiện. Ở một góc phòng khách, một cái tủ to tướng cơ man là giày được trưng bày như ở một cửa hàng giày thời trang trong siêu thị Tràng Tiền Plaza. Như bạn bè người thân trong nhà, nàng vẫy hắn và tôi đến bên gian hàng, nàng chỉ từng đôi, từng đôi một, giới thiệu tên hãng và xuất xứ của nó. Tôi hỏi nàng đây là cửa hàng giày cũ hay giày mới. Giọng nàng ngọt ngào và tự hào : giày xưa đấy anh . Nó đã in dấu chân em trên đại lộ Paris, đại lộ thành Rome, đại lộ Holywood v.v…Buổi phỏng vấn nàng về từ thiện lại thành buổi phỏng vấn về thời trang giày và những bước đi trên sàn catwalk . Nàng hết thử đôi này đến đôi khác, dạo những bước chân uyển chuyển. Anh bạn tôi hết đứng, lại ngồi, lại khom lưng qùi gối chụp ảnh nàng lia lịa.

Còn tôi vừa ngắm nàng vừa hỏi nàng những câu hỏi bâng quơ về giày. Tôi còn nhớ một số câu hỏi đại loại như sau:
– Màu sắc giày em yêu thích là màu gì?.
– Em thích màu hồng, màu tím, màu của bình minh và màu của thủy chung.
– Vì sao em lại thích bộ sưu tập giày ?.
– Vì giày gắn liền với bước chân. Nhiều bước chân cộng lại là lịch sử của cuộc đời…
– Em có hay đi lại giày cũ không?
– Thường xuyên. Vì mỗi lần đi giày cũ em như trở về quá khứ.
– Bây giờ đi lại đôi giày lúc đăng quang hoa hậu em thấy chân mình còn vừa không? Một câu hỏi khó và một thoáng bối rối trên khuôn mặt nàng:
– Vẫn vừa. Bàn chân em vẫn không thay đổi, vẫn size 36 như lúc đăng quang.

Khi tôi nói chuyện với nàng, anh bạn phóng viên của tôi đã mở máy ghi âm ghi lại tất cả để làm tư liệu bài viết. Ngồi trên xe lúc ra về, hắn lại mở ra nghe và bình luận. Hắn khen nàng là hoa hậu Việt Nam thông minh nhất từ trước đến nay. Hắn khuyên tôi nên viết một bài thơ về nàng, về những đôi giày của nàng. Hắn hứa sẽ đăng trên báo của hắn và trả nhuận bút cao hơn mọi người.

Hắn cứ tưởng làm thơ là dễ lắm, dễ hơn viết những câu chuyện lá cải của hắn. Đã mấy tháng nay, đầu óc tôi mụ mị, chẳng viết nỗi một câu thơ nào. Nàng thơ bỏ tôi mà đi thật rồi. Để duy trì và tìm lại cảm xúc thơ, đêm nào tôi cũng miệt mài đọc thơ cho đến tận một giờ sáng rồi mới đi ngủ. Thơ trên báo Văn Nghệ Già, Văn Nghệ Trẻ, Văn Nghệ Quân Đội, Tác Phẩm Mới, thơ trên Facebook, thơ trên các trang Web, thơ tập bạn bè tặng v.v…Giữa núi thơ biển chữ tôi đâm hoang mang. Tập thơ Mùa thu gõ cửa – Lão Chiếu ( tên thật là Nguyễn Thanh Quang ) tặng tôi đã hơn tháng vẫn chưa đọc. Tôi nghĩ lão là anh vô danh tiểu tốt trong làng Văn, lão biên tập và xuất bản chắc có gì hay mà đọc. Ừ lão có nhã ý tặng thì đọc xem sao, biết đâu gặp được bài thơ hay?. Và khi đọc xong tập thơ này, tôi thấy mình đã hiểu sai lão. Với hơn một trăm bài thơ của 54 tác giả tôi đã như lạc vào một vườn hoa đầy hương sắc. Có rất nhiều câu thơ lấp lánh và nhiều bài thơ long lanh, thực sự là thơ. Ví dụ như Lời Thị Màu ( Hoàng Kim Hương ), Khúc em xa, Viết trước cổng chùa ( Đặng Khánh Cường ), Chị ngồi giặt áo ( Nguyễn Lâm Cẩn ), Hà Nội sang mùa ( Đỗ Minh Ngọc ), Gia điệu thu Hà Nội ( Nguyễn Thị Lan Anh ), Đi qua chiều Hà Nội (Dương Thu Hương) v.v…Trong đó tôi ấn tượng nhất là ba bài: Dắt mùa, Vết nứt và Ướm thử giày xưa của Duệ Mai. Trong ba bài tôi lại tâm đắc bài ‘Ướm thử giày xưa’. Vì đây là bài thơ viết về giày mà anh bạn tôi đặt hàng viết cho cô hoa hậu trong chuyến đi phỏng vấn mà tôi không sao viết nổi. Bạn thử đọc bài thơ này của Duệ Mai :

Dừng chân,
Ướm thử giày xưa
Gót qua dâu bể
Còn vừa nữa đâu!

Ngỡ như mới giập bã trầu
Mà thời gian đã nhuốm màu bạc vôi!
Dấu son trải dọc đường đời
Chỉ mình mình biết sạn rơi kẽ nào…

Tháo ra, dốc hết lao xao
Lót thêm lành lặn, trả vào khôi nguyên.
Giày xưa
Da hãy còn mềm
Chân nay
Chai đã cứng thêm mấy phần!

Thở dài, đóng lại tần ngần
Lạc giày, lạc cả bước chân…
Thôi đành!

Bài thơ thật gọn gàng xinh xắn , câu chữ giản dị , nhưng thật ám ảnh và ma mị. Bàn chân khi đã đến tuổi trưởng thành mấy khi thay đổi. Bao năm tôi vẫn đi cỡ giày 41. Nàng hoa hậu vẫn đi giày cỡ 36 đấy thôi. Thế mà Duệ Mai ướm lại giày xưa thì không vừa “ Gót qua dâu bể/ Còn vừa nữa đâu …” Chỉ thi nhân mới nói được câu này. Không vừa giày, vì trải qua dâu bể , bàn chân đã mòn đi. Cuộc đời con người là cõi tạm trần gian. Thời gian như làn mây bay qua đầu, như nước chảy qua cầu. Mỗi bàn chân gắn với một đôi giày và một số phận. Khổ đau, hạnh phúc mỗi mình ta biết. Đôi giày như người tri âm, tri kỷ biết sẻ chia , biết sạn rơi kẽ chân nào . Một khoảng thời gian, một chặng đường của một con người thường gắn bó một đôi giày. Cất giữ giày cũ là cất giữ quá khứ. Ướm thử giày cũ là để trở về với quá khứ. Và chẳng ai sống mãi với quá khứ. Rồi đành lòng gói lại quá khứ để bước tiếp với đôi giày mới và bước chân mới. Bài thơ đã chọn được một thi tứ độc đáo. Mượn giày để nói về nhân tình thế thái, nỗi buồn vui cuộc đời người.

Tôi đã hơi dông dài. Nhưng thật thiếu sót khi bỏ qua nghệ thuật con chữ của bài thơ này. Về hình thơ chẳng có gì mới , là thể lục bát ngắt câu mà nhiều nhà thơ hiện nay hay dùng . Nhưng sự gieo con chữ trong bài thơ Ướm thử giày xưa của Duệ Mai thì rất tài hoa . Ngôn từ rất gợi và rất ẩn dụ, nói ít hiểu nhiều: gót qua dâu bể, dấu son trải dọc đường đời, dốc hết lao xao, lót thêm lành lặn, trả vào khôi nguyên, đóng lại tần ngần, lạc giày, lạc cả bước chân.. Tôi đã làm nhiều phép thử thay từ vào các đoạn thơ này , nhưng thất bại hoàn toàn. Không thể thay bất kỳ một từ nào khác để câu thơ và bài thơ hay thêm. Nói về thời gian Duệ Mai cũng có cách nói rất mới , rất khác người. Chị ví thời gian đời người con gái như người nhai miếng trầu, mới đầu là đỏ thắm, là nồng say, cuối cùng là xác bã trắng, nhạt thếch : Ngỡ như mới giập bã trầu / Mà thời gian đã nhuốm màu bạc vôi!. Bài thơ là toàn bích. Nhưng chữ thôi đành kết thúc bài thơ sao an phận quá. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng chẳng biết dùng chữ nào khác. Nó cũng như câu chào tạm biệt hẹn gặp lại mà mọi cuộc chia tay đều có.

Đến bây giờ tôi vẫn chưa biết Duệ Mai là ai, là nhà thơ chuyên nghiệp hay là người viết để giải toả lòng mình. Nàng có đẹp như thơ của nàng không? Nếu nàng còn trẻ và đi thi hoa hậu, nếu phần thi vấn đáp là câu hỏi : Bạn nghĩ gì khi đi lại đôi giày cũ của mình? Với ý thơ này tôi chắc nàng sẽ được điểm cao nhất phần thi vấn đáp. Nhưng ngôi hoa hậu, á hậu 1, á hậu 2 chẳng thuộc về nàng…

THƠ FACEBOOK
Thanh Vân

Có phải là thời đại phồn thịnh chăng mà nhà nhà làm thơ, người người làm thơ ? Thơ in báo, tạp chí, in tập số lượng người đọc ít nên bây giờ thơ rủ nhau lên mạng, nhất là mạng xã hội Facebook. Nếu làm một phép so sánh thơ in so với thơ mạng thì lượng đọc giả một vực, một trời. Nắm bắt được ưu điểm đó, nhiều nhà thơ trẻ nhanh chân nhanh tay xây nhà trên mạng. Các nhà thơ lớn tuổi sau một thời gian chần chừ, bây giờ cũng đã góp mặt gần như đầy đủ, trừ những nhà thơ nghèo quá không có máy tính hoặc không biết về công nghệ thông tin. Vì thế không gian thơ mạng rất rộng mở, đông vui và náo nhiệt. Năm 2013 đã cuộc thi thơ trên Facebook với chủ đề Lời tỏ tình đầu tiên với những nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Trọng Tạo, Bùi Minh Quốc … làm giám khảo. Là một người say thơ từ thuở chăn trâu nên ngày nào tôi cũng lăn lộn trên cánh đồng thơ mạng để cày bừa, gặt hái. Vào một ngày đẹp trời, tôi đã gặt được bài thơ này của một tác giả có nickname Hương Hoàng :

Lời Thị Màu

Ừ thì đây chẳng cần ngoan
Xéo đuôi con mắt giựt toang nâu sồng
Vít tay cho trẹo cong cong
Tứ thân tơi tả, nảy ngồng lả lơi

Chiều em một chút tiểu ơi…
Ngoài kia nắng cũng sắp rời ngày đi
Mũ ni che được những gì
Ngàn năm con sóng ai bi vỗ hồn

Chiều em đi kẻo mưa cuồng
Nghiến đay táo rụng, buông tuồng thả rơi
Chiều em một chút tiểu ơi…
Thiên đàng, địa ngục …rã rời vì nhau.

Một bài thơ viết về Thị Màu trong truyện cổ Quan âm Thị Kính rất ngắn gọn súc tích, đủ khắc họa được tính cách của một Thị Màu mãnh liệt, sống thật với bản chất, bất cần đời. Khắc họa tính cánh một nhân vật trong truyện đã là khó, trong thơ càng khó hơn.Với Lời Thị Màu, Hương Hoàng dùng lối nói dân gian, trực tiếp hoá thân vào Thị Màu để tâm tình với bạn đọc. Nhờ vậy câu chữ được rút ngắn. Bài thơ chỉ vỏn vẹn 84 từ. Nếu người viết không tinh tế, không khéo léo sắp xếp sẽ kéo dài câu chữ. Quan sát kỹ hơn một chút, suy ngẫm sâu hơn một chút Lời Thị Màu có bàn tay sắp đặt của một họa sĩ làm thơ. Mỗi câu thơ như một nét vẽ. Ngay câu mở bài, tính cách Thị Màu đã hiện lên rất rõ : Ừ thì đây chẳng cần ngoan. Đúng là bất cần đời, thách thức thiên hạ. Con mắt Thị Màu đa tình, sắc lẹm như dao cau nhìn như lột áo Thị Kính với một nét vẽ táo bạo: Xéo đuôi con mắt giựt toang nâu sồng. Để khắc hoạ tính cách Thị Màu, tác giả liên tục đưa ra những động từ hành động mạnh : xéo, giựt, vít, nghiến, nảy nồng… và những trạng từ sắc thái gợi cảm: tơi tả, lã lơi, mưa cuồng… hay nói cách khác dùng những nét vẽ với gam màu nóng. Xen kẽ giữa gam màu nóng là gam màu dịu để thể hiện cái bên trong là nỗi khát khao, giục dã, đong đưa gọi mời của Thị Màu. Chiều em một chút tiểu ơi…/ Ngoài kia nắng cũng sắp rời ngày đi. Giục lần một thật nhẹ nhàng. Nhưng giục lần hai sắc thái đã mang tính lẳng lơ, dọa dẫm đúng bản chất của Thị Màu: Chiều em đi kẻo mưa cuồng / Nghiến đay táo rụng, buông tuồng thả rơi. Ngọt ngào, thúc giục, dọa dẫm vẫn không lay chuyển được Thị Kính, lời thúc giục lần ba là nỗi tuyệt vọng, than vãn của Thị Màu: Chiều em một chút tiểu ơi… Thiên đàng, địa ngục…rã rời vì nhau. Ba câu lục bát này miêu tả diễn biến tâm trạng của Thị Màu lên Chùa tán tỉnh chú tiểu Thị Kính. Ba câu thơ này thật đắc địa, vì nó giúp diễn tả sự biến chuyển tâm lý của nhân vật, vừa làm thay đổi nhịp điệu bài thơ, lúc lên bỗng, lúc xuống trầm. Nói theo ngôn ngữ hội hoạ, đó là những nét khuất không thể thiếu trong một bức vẽ chân dung. Có thể nói Lời Thị Màu là một bức vẽ chân dung bằng lời rất đẹp, rất sắc nét, lột tả đúng nhân vật Thị Màu trong câu truyện cổ.

Bất kỳ một bài thơ hay nào cũng có hai tầng nghĩa. Bài thơ này Hương Hoàng viết năm 2014, trong thời buổi cuộc sống xã hội đã có nhiều thay đổi. Nền kinh tế thị trường, những đòi hỏi cao về vật chất , sự hội nhập thế giới với sự pha tạp về văn hoá đã thay đổi cách nghĩ, cách sống của một bộ phận không nhỏ của người Việt. Tệ nạn tham nhũng, đút lót, chạy chức, chạy quyền, đạo đức giả ở thượng tầng kiến trúc đã trở thành vấn nạn. Con người sống trở nên ích kỷ, bàng quang, thờ ơ với đồng loại, luôn luôn phải đeo mặt nạ. Mũ ni che được những gì / Ngàn năm con sóng bi ai vỗ hồn. Trong tình yêu cũng rất khó tìm ra được Romeo và Juliet cũng như Thị Màu với Thị Kính. Những cuộc tình chớp nhoáng, nặng mùi tiền bạc, nhà lầu, xe hơi. Lúc mặn nồng thì lên báo, lên mạng ca tụng nhau. Khi chia tay lại chửi bới ầm ĩ. Cái tốt, cái xấu lẫn lộn. Cuộc sống tranh tối, tranh sáng. Con người luôn đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa chân thật và giả dối, giữa thiện và ác, hay nói ẩn dụ đi là giữa thiên đường và địa ngục. Ðấu tranh khốc liệt đến mức : Thiên đàng, địa ngục…rã rời vì nhau. Tầng nghĩa thứ hai của Lời Thị Màu thật sâu sắc và ý nghĩa. Bài thơ có câu đầu gây sự chú ý và câu kết thả vào lòng bạn đọc những suy tư, trăn trở khôn nguôi…

Có thể nói cánh đồng thơ Facebook thật bao la, rộng lớn, đang hứa hẹn có những mùa gặt bội thu. Bài thơ Lời Thị Màu của Hương Hoàng như một vạt lúa chín sớm, lóng ánh sắc vàng. Qua bạn bè tôi biết chị là một họa sĩ, một kiến trúc sư. Mong rằng trong thời gian tới sẽ được ngắm những bức tranh đa sắc màu rất đẹp bằng ngôn từ chị vẽ.

Hà Nội – Một ngày nắng lên.

MAY MÀ
Lê Đình Cánh

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành
Tháp xưa còn tiếng chuông lành
Tường rêu còn nhuộm sứ sành sắc lam.

May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo
Nhà vườn còn gác trăng treo
Còn diều khuê các bơi chèo gió xanh.

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát, Cổ thành gạch tan
Hán Nôm nghìn tuổi thành than
Nền xưa dấu cũ hoang tàn nắng mưa.

Lời bình của Bulukhin:

Lê Đình Cánh là một trong những nhà thơ mà tôi yêu thich. Trong khi lục bát Đồng Đức Bốn xuất thần, bạo liệt, có lúc bụi bặm… Lục bát Nguyễn Duy tài hoa, hóm hỉnh, thì lục bát Lê Đình Cánh cứ rỉ rả mà thâm trầm sâu cay. Xứ Thanh là quê ông,”May mà” là bài thơ ông nói về quê mình. Ở đó có Lam Kinh, một khu di tích rộng khoảng 30 ha ở xã Xuân Lam. Lam Kinh có đến 14 công trình di tích như Ngọ môn, Sân rồng, Chính điện Lam Kinh, Khu thái miếu triều Lê sơ, Lăng mộ các vua và hoàng hậu , Bia Vĩnh Lăng, Hựu Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng, Kinh Lăng, Khu đền thờ Lê Lợi, Khu đền thờ Lê Lai, Đền thờ Bố Vệ…

Nhà nước đã bỏ ra vô số công sức và tiền của để tôn tạo phục chế lại Lam Kinh nhưng rồi không hiểu sao vong linh các vua chúa cứ hỏi nhau nơi đây là đâu nhỉ? Có phải là Lam Kinh vàng son trên đất Thọ Xuân Thanh Hóa không? Lê Đình Cánh làm thơ chứ không làm vua nên ông không hỏi thế. Mà hỏi ai? và ai trả lời? ông thảng thốt kêu lên “may mà” nghe sao mà ai oán.

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành

Nhà thơ vẫn rỉ rả nói về Huế, thì Huế vẫn còn đó nguyên vẹn, cho nên Unesco mới phong tặng danh hiệu Di sản Văn hoá của nhân loại chứ sao.

May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo

Thế rồi đột ngột như cầu thủ nhà nghề phạt trực tiếp 11 mét. Tác giả cho bóng vào gôn đối phương

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát cổ thành gạch tan

Lê Đình Cánh tuyệt nhiên không nói đến Lam Kinh, vì sao vậy? Đấy là kiểu chơi trốn tìm, buộc người đọc phải tò mò tìm kiếm, sau đó mới “ngộ” ra. A, đúng rồi đấy là Lam Kinh, Thọ Xuân Thanh Hóa. Ai mà chẳng biết xứ Thanh là phát tích nhiều triều đại vua chúa từ Lê sơ, hậu Lê, cho đến nhà Nguyễn. Vong linh các vị không còn lăng tẩm xưa cũ mà về, vì hậu duệ thời a còng (@) đang làm cái việc được dán nhãn “duy tu và tôn tạo” các di tích lịch sử và văn hoá nước nhà !!

Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/03/17/den-voi-bai-tho-hay/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter



Thầy Hiếu quê choa nay thành nội

THẦY HIẾU QUÊ CHOA NAY THÀNH NỘI
Hoàng Kim

Chúc mừng thầy Nguyễn Minh Hiếu (Hieu Nguyenminh) 29 tháng 11 đã được làm ông nội, Hoàng Kim xin họa vần thơ mừng bạn, noi vần thơ cụ Phan Bội Châu mừng cụ Đào Duy Anh chúc phúc ngày sinh GS Đào Thế Tuấn (*) Thầy Đào Thế Tuấn là thân phụ PGS TS. Đào Thế Anh The Anh Dao Phó Viện Trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam)

Hơn chín mươi lăm triệu dân ta,
Nay lại vừa thêm một tiếng oa (*),
Chúc cháu an lành vui lòng mẹ,
Mừng nhà thịnh vượng thỏa chí cha.
Đất Huế thanh trà thơm ngọt trái
Trời Nam giống tốt lộc đầy hoa.
Minh Hiếu quê choa nay thành nội (**)
Phúc hậu đời thương phước đến nhà.

(*) Bài thơ cụ Phan Bội Châu chúc mừng cụ Đào Duy Anh và chúc phúc GS Đào Thế Tuấn (*) là thân phụ của TS. The Anh Dao . Cụ Phan tiên đoán tương lai của ‘con cháu dòng họ Đào Công’ không chỉ sẽ theo được mà còn làm rạng rỡ thêm truyền thống gia đình, (nay điều đó đã trở thành hiện thực); nguyên vận bài thơ cụ Phan:

Hai mươi lăm triệu giống dòng ta,
Hôm trước nghe thêm một tiếng oa,
Mừng chị em mình vừa đáng mẹ,
Mong thằng bé nọ khéo in cha.
Gió đưa nam tới sen đầy hột,
Trời khiến thu về quế nở hoa.
Sinh tụ mười năm mong thế mãi,
Ấy nhà là nước, nước là nhà.

(*) Dân số Việt Nam lúc 9g53 ngày 29 tháng 11 năm 2017 là 95929429 người theo thống kê vào đúng thời điểm 9g53 lúc thầy Hiếu đăng FB ngày 29 Tháng Mười Một, được cập nhật tại https://danso.org/viet-nam/

(**) ‘Thầy Hiếu quê choa nay thành nội’ ẩn ngữ hai nghĩa quê Quảng Bình nay ở thành Nội (Huế), Thầy Hiếu là ‘Thượng thư bộ Học’ đại học Huế nay thành ông nội, cả nhà làm Thầy.
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ngay-moi/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Cuối một dòng sông là cửa biển

CUỐI MỘT DÒNG SÔNG LÀ CỬA BIỂN.
Hoàng Kim
Dù chúng ta ở đâu chính tình bạn đã làm nên thế giới. Năm tháng đi qua chỉ tình yêu ở lại. Chúng tôi là những bạn học chung lớp của lứa sinh viên khóa 2 khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh đã kéo nhau về dâng hương tại Văn Miếu Trấn Biên ở Biên Hòa gần Cù Lao Phố sông Đồng Nai. Nơi đây lưu dấu nhiều huyền thoại đất và người phương Nam, dòng sông hò hẹn, cuối một dòng sông là cửa biển, và vùng đất thiêng bậc nhất của đất phương Nam, đầy ắp những câu chuyện lạ. https://hoangkimlong.wordpress.com/…/cuoi-mot-dong-song-la…/

SÔNG ĐỒNG NAI ĐẤT ĐỒNG NAI GIA ĐỊNH

Cuối một dòng sông là cửa biển. Chúng ta đã đến lúc công tâm nhìn lại những giá trị lịch sử lắng đọng Nam tiến của Người Việt đi như một dòng sông.

Sông Đồng Nai và cù lao Phố thuộc thành phố Biên Hòa là bức ảnh đẹp tôi chọn làm nền cho chùm ảnh và câu chuyện dài về Văn Miếu Trấn Biên, Đồng Nai đất và người, lớp tôi bên dòng sông lớn. Đó là lớp sinh viên khóa 2 Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh về thăm và dâng hương ghi ơn những người mở đất, tạo dựng đường sống cho dân tộc Việt và cộng đồng những cư dân thân thiết, chung lưng đấu cật gầy dựng nên nơi này. Dòng sông Đông Nai và Văn Miếu Trấn Biên là nơi khởi đầu cho chuyện kể …

“Con sông nào chảy trong nội địa dài nhất Việt Nam?” Giáo sư Tôn Thất Trình trong bài viết “Lạm bàn phát triển tỉnh Đồng Nai – Biên Hòa” đăng trên blog Quà tặng (The Gift) đã giới thiệu tổng quát: “Sông Đồng Nai tuy chỉ được xem là con sông đứng hàng thứ ba ở Việt Nam, sau sông Hồng và sông Mê Kông nhưng chiều dài chảy trong nước lại đứng hạng nhất 635 km, trước sông Hồng 566 km, còn sông Cửu Long đứng hạng 8, 230 km, chỉ trên sông Thu Bồn hạng 9, 205 km (Thái Công Tụng, Vietnamologica, 2005 ). Phần sông Đồng Nai chảy qua tỉnh Đồng Nai ngày nay chỉ dài 294 Km. Tên cũ của sông Đồng Nai là sông Phước Long, còn có tên là sông Hòa Quí. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí (bản dịch của Phạm Trọng Điềm 1997 và Hoàng Đỗ sưu tập 2003), có đôi chút địa lý không hoàn toàn đúng theo phân chia hành chánh hay gọi tên ngày nay. Theo tài liệu Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì sông Đồng Nai là con sông nội địa dài nhất Việt Nam nếu tính từ đầu nguồn sông Đa Đưng thì dài 586 km và lưu vực 38.600 km², chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh. Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ. Các phụ lưu chính của nó gồm sông Đa Nhim, sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ. Các chi lưu của nó có tên gọi là sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy), sông Đồng Tranh, sông Thị Vải, sông Soài Rạp (sông Soi). Hai nguồn thông tin trên đây đều xác nhận rằng sông Đồng Nai là sông nội địa dài nhất Việt Nam, tuy “có đôi chút địa lý không hoàn toàn đúng theo phân chia hành chánh hay gọi tên ngày nay” theo lối viết của giáo sư Tôn Thất Trình, người Thầy thế hệ đầu tiên của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh mà tôi đã có dịp kể lại trong bài “Chiếc bàn của thầy Tôn Thất Trình”.

Giáo sư Tôn Thất Trình cũng trong bài viết trên, đôi chút xuôi dòng lịch sử, đã kể tiếp: “Đồng Nai xứ sở lạ lùng. Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um (Ca Dao miền Nam). Trước khi hình thành và phát triễn Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất hoang vu này, từ đầu Công Nguyên đến thế kỷ thứ 7, thuộc về vương quốc Phù Nam, bao gồm một vùng đất bao la trải dài từ lưu vực sông Cửu Long đến sông Mê nam xuống tận các đảo Mã lai (Lâm Văn Bé, Dòng Việt số 17 năm 2005 ). Tháng 11 năm 1998, ở làng Phú Mỹ huyện Cát Tiên khám phá ra một ngôi làng cổ, tuổi đã 2500- 3000 năm. Đây là một phức tạp di tích gồm đền đài, tháp và rất nhiều di vật tiền sử, chứng tỏ có sự lẫn lộn của một văn hóa Phù Nam ở miền Nam và văn hóa Champa. Trong số di vật có nhiều tượng thờ như Linga – Yoni, những vật liệu linh thiêng thờ cúng, dùng các bộ phận sinh dục con người làm biểu tượng. Có một Linga cao 2.1 m là một di vật lọai này lớn nhất thế giới. Ngoài ra còn nhiều dấu tích khác chứng tỏ Cát Tiên cũng có thể là một thánh địa của Vương Quốc Phù Nam, xây dựng cách đây 2000 năm.Thật ra dưới thời Pháp thuộc, lưu vực sông Đồng Nai với các địa điểm như cù lao Rùa, Cù Lao Phố, bến Đò… đã được các nhà khảo cỗ ( Cartailahac 1888, Grossin 1902, Loesh 1909, Barthère và Ripelin 1911, Malleret và Jansé 1937) … khai quật nhiều lần, nhiều nơi, tìm được hàng ngàn cổ vật như búa rìu bằng đá, bằng đồng, sắt, xương sọ, dụng cụ đá mài nhẵn … chứng tỏ rằng lưu vực sông Đồng Nai đã có người cư ngụ 4000 – 2500 năm nay rồi, không có lịch sử, không chữ viết ghi chép, nên họ là người tiền sử. Trước thời vương quốc Phù Nam, họ là những con người tiền phong đến khai thác hạ lưu sông Đồng Nai, tạo ra một nền văn minh hái lượm, làm ruộng nước nữa ( Theo Hứa Hòanh, Tập san Đi Tới, số 69 và 70, năm 2003 ) .

Năm 1620, vua Chen Chetta II đến Thuận Hóa xin cầu hôn với công nương Ngọc Vạn, con chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên. Chúa Nguyễn lợi dụng việc gả con gái này đưa người Việt đi vào lập nghiệp ở vùng đất Phù Nam cũ ở hạ lưu sông Đồng Nai, trên danh nghĩa là đất Chân Lạp, nhưng trong thực tế là đất vô chủ, bởi lẽ từ nhiều thế kỷ, vì sự suy yếu nội bộ, vì chiến tranh liên tiếp với Xiêm La, vùng đất này hòan toàn hoang vu, không có guồng máy cai trị của Chân Lạp. Trước khi người Việt đến, vùng này chỉ có vài mươi nóc nhà người Miên- Môn, theo nhà văn quê quán Biên Hòa Bình Nguyên Lộc còn có thể cả người tộc dân Mạ, hay có thể cả tộc dân Cho Ro, tộc dân Stiêng, cả ba thuộc họ Nam Á , ngôn ngữ thuộc hệ Môn Miên (Khmer) vì ảnh hưởng xưa cũ của hai nước Phù Nam và Chân Lạp. Nguyễn Cư Trinh gọi chung là Côn Man (Côn Miên), ở trên các gò cao sâu trong rừng vùng Preikor ( Sài Gòn ), sống biệt lập với người Miên ở vương triều.

Năm 1623, Chúa Sải cho đặt hai trạm thu thuế ở Prei Nokor ( Sài Gòn, nay ở khoảng quận 5 và Kas Krobei ( Bến Nghé, nay ở khỏang quận 1). Trịnh Hoài Đức cũng xác nhận trong Gia Định Thành Thống Chí là dân các tỉnh phía Bắc xứ Đàng Trong đã vô Mô Xòai từ đời các Tiên hoàng đế Nguyễn Hoàng 1558- 1613, và chúa Sải Nguyễn Phước Nguyên ( 1613- 1635 ). Sử ghi là năm 1665, có độ 1000 người Việt vào lập nghiệp ở vùng đất mới này ( cũng theo Lâm Văn Bé, Dòng Việt 2005 ”

“Năm 1679, các tướng giỏi nhà Minh là Trần Thường Tuấn và Dương Ngạn Địch và thương nhân Mạc Cửu đã tới đất phương Nam. Nguyên là năm đó nhà Mãn Thanh thay thế nhà Minh, tướng trấn thủ Quảng Đông là Dương Ngạn Địch với Phó Tổng Binh Hoàng Tiến và Tổng binh châu Cao, châu Lôi, châu Liêm là Trần Thượng Xuyên, Phó Tổng Binh là Trần An Bình đem 3000 quân và 50 chiến thuyền chạy thẳng vào cửa Tư Hiền Đà Nẳng xin làm thần dân chúa Nguyễn. Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần dung nạp họ, cho Trần Thượng Xuyên vào cửa biển Cần Giờ, định cư ở Bàn Lân xứ Đồng Nai, Cù Lao Phố Biên Hòa, Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho cũng khai khẩn đất đai và lập phố phường buôn bán. Người Hoa hay Minh Hương tập trung ở cù lao Phố lập thành làng Thanh Hà, chuyên nghề thương mãi. Cù lao Phố là đô thị người Hoa đầu tiên ở Việt Nam phát triển liên tục trên nữa thế kỷ, đóng một vai trò quan trọng xuất nhập cảng cho xứ Đồng Nai. Địa danh Cát Lái, đáng lý phải gọi là “ Các Lái “ để chỉ danh một bến đò, một chỗ họp chợ của người buôn bán sĩ, các ghe lái thương hồ chở chén đĩa, lu hũ , đá tán kê nhà, cối xay bột… đưa về miền Tây, đồng bằng Sông Cửu Long và chuyên chở thóc lúa gạo trái cây nông sàn lên buôn bán ờ Nông Nại và Gia Định.

Năm 1689, Chúa Nguyễn Phước Chu sai Thống suất Nguyễn Hửu Cảnh làm Kinh Lược xứ Đồng Nai, lúc đó có tên là Đông Phố, chia đất Đông Phố đặt huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên; lấy xứ Sài Côn, đặt huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (tức là Gia Định ). Và đặt phủ Gia Định thống thuộc hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn. Lúc này, cả hai huyện Phước Long và Tân Bình, theo Nguyễn Hữu Cảnh thống kê, đã mở rộng đất ngàn dặm, dân số hơn 4 vạn hộ (theo Đại Nam Thực Lực Tiền Biên, quyễn IV). Chúa Nguyễn Phúc Chu sai chiêu mộ thêm lưu dân từ Bố Chính trở vào Bình Thuận đến ở đây, thiết lập xã, thôn, phường, ấp, chia ranh giới, khai khẩn ruộng đất, đánh thuế tô, thuế dung, làm bộ đinh, bộ điền (Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, xuất bản năm 1967).

Năm 1739, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh vua Cao Miên là Nặc Nguyên phải bỏ chạy và xin nộp đất miền Nam Gia Định là Tầm Bôn và Lôi Lạp để giảng hòa. Trước đó Nặc Nguyên đánh phá Hà Tiên. Thương nhân Mạc Cửu là di dân thời Minh đồng thời với tướng Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên, trước đó đã qui phục chúa Nguyễn và làm Tổng Binh Hà Tiên, cùng với con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, phát triển phồn thịnh Hà Tiên, chống lại vua Cao Miên và Xiêm La.

Năm 1747, Cù Lao Phố đánh dấu một biến cố lớn. Hơn 60 năm thành lập, Nông Nại đại phố sầm uất hơn bao giờ hết. Một tên cầm đầu bọn khách thương người Phúc Kiến là Lý Văn Quảng, dậy lòng tham cùng 300 đồng đảng tự xưng là “ Nông Nại đại phố vương” định chiếm Nông Nại, tổ chức như một triều đình, đã đánh úp dinh Trấn Biên, hạ sát trấn thủ dinh là Cẩn Thành Hầu Nguyễn Cao Cẩn. Phó tướng dinh Trấn Biên là Lưu thủ Cường, tước Cường Oai Hầu, rút ván cầu “Chợ Đồn” bắc ngang giữa cù lao Phố và đồn canh bờ sông, cố thủ. Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã sai Cai cơ Tống Phước Đại đem binh cứu viện. Tống Phước Đại bắt được Lý Văn Quảng cùng đồng bọn là 57 người. Lớp còn lại bỏ trốn vào rừng hay theo sông Đồng Nai xuống Tân Bình.

Năm 1782 ngày 7 tháng 7 tại Chợ Quán ở Nông Nai đại phố có khoảng 4000 người Hoa đã bị quân Tây Sơn giết. Chuyện là trong số tàn quân rã ngũ của Lý Văn Quảng mấy chục năm sau có hai tên là Lý Tài và Tập Đình giỏi vỏ nghệ, khôn ngoan, được dân du thủ du thực tôn làm anh chị, thuộc phe Thiên địa hội “ Phản Thanh Phục Minh”. Bọn Lý Tài, Tập Đình trước đó theo Tây Sơn nhưng sau khi được Chu Văn Tiếp ở Đồng Xuân Phú Yên chỉ điểm đã trở cờ đến xin theo phò Đông cung Dương từ Quảng Nam chạy vào Qui Nhơn. Đang lúc sa cơ, Đông cung đãi Tài và Đình như thượng khách và khi Đông Cung tới Gia Định hợp với quân của chúa Định, lấy hiệu là Tân Chính vương khi chúa Định nhường ngôi, Lý Tài được phong làm đại nguyên soái. Làm cho quân Đông Sơn do tướng Đỗ Thành Nhơn phò tá chúa Định vào Gia Định trước Đông cung, bất mãn. Hay tin ấy, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ kéo đại quân vào đánh, tới núi Châu Thới bắt được Lý Tài giết ngay. Huệ đuổi theo quân Nguyễn bắt được Tân Chính Vương ở Ba Vát, Thái Thượng Vương ở Cà Mau, đem về Sài Gòn hành hình. Nguyễn Nhạc vào Nam, khi hay tin viên hộ giá thân tín của mình là Phạm Ngạn bị giết, đã nổi trận lôi đình, ra lịnh tàn sát tất cả người Hoa ở cù lao Phố (vì Nhạc còn nghi thêm là người Hoa đã giúp lương thực cho các chúa Nguyễn, và Nhạc căm ghét sự phản trắc bỏ Nhạc mà theo chúa Nguyễn trước đó ). Vụ thảm sát này rất lớn. Linh mục Castueras, có mặt tại Chợ Quán ngày 7 tháng 7 năm 1782, cho biết có gần 4000 người bị quân Tây Sơn giết. Sử quan nhà Nguyễn, nhất là Trịnh Hoài Đức, có thể tăng cao số nạn nhân Hoa gấp ba lần ( theo Hứa Hoành ở tập san Đi Tới nói trên). Cù lao Phố bị quân Tây Sơn phá tan hoang, khi trung hưng lại, người ta trở về, dân số không còn bằng một phần trăm lúc trước (Theo Đại Nam Nhất Thống Chí). Những người Hoa còn sót lại chạy về Gia Định, gầy dựng lại cảnh Chợ Lớn, có mòi sung túc thịnh vượng hơn cù lao Phố trước (Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển).

Năm 1768, cuộc Nam Tiến của dân Việt Nam kể như gần hoàn thiện. Lãnh thổ Nam Kỳ lúc này được chia thành 3 tỉnh : tỉnh Đồng Nai bao gồm các vùng đất miền Đông Nam Bộ, tỉnh Sài Gòn bao gồm các vùng đất từ sông Sài Gòn đến cửa Cần Giờ và tỉnh Long Hồ bao gồm các vùng đất miền Tây Nam Bộ. Năm 1808, dưới thời Gia Long, Nam Kỳ được gọi là Gia Định Thành bao gồm 5 trấn: Hà Tiên, Vĩnh Thạnh, Định Tường, Phiên An, Biên Hòa. Năm 1834, dưới thời Minh Mạng 5 trấn được biến thành 6 tỉnh. Năm 1888 thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia ra làm 20 hạt, rồi 20 tỉnh, trong đó có tỉnh Biên Hòa. Năm 1954, Miền Nam, sau hiệp định Genève để chỉ vùng đất Việt Nam Cộng Hòa Nam vĩ tuyến 17, gồm 40 tỉnh trong đó vẫn còn tỉnh Biên Hòa…Sau 1975, tỉnh Đồng Nai được thiết lập và Biên Hòa trở thành thị xã tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai.”

VĂN MIẾU TRẤN BIÊN Ở ĐỒNG NAI

Văn miếu Trấn Biên là văn miếu đầu tiên được xây dựng năm 1715 tại xứ Đàng Trong, để tôn vinh Khổng Tử, các danh nhân văn hóa nước Việt và làm nơi đào tạo nhân tài phục vụ cho chế độ. Năm 1861, nơi thờ phụng trên đã bị thực dân Pháp phá bỏ. Mãi đến năm 1998, Văn miếu Trấn Biên mới được khởi công khôi phục lại nơi vị trí cũ, và hoàn thành vào năm 2002. Hiện nay toàn thể khu vực uy nghi, đẹp đẽ và quy mô này, tọa lạc tại khu đất rộng thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.

Năm 1698, khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào đến xứ Đồng Nai, thì vùng đất ấy đã khá trù phú với một thương cảng sầm uất, đó là Cù lao Phố. Để có nơi bảo tồn, phát huy và tôn vinh các giá trị văn hóa giáo dục xưa và nay của dân tộc Việt ở vùng đất mới, 17 năm sau, tức năm Ất Mùi (1715), chúa Nguyễn Phúc Chu sai trấn thủ Nguyễn Phan Long và ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn miếu Trấn Biên. Đây là văn miếu đầu tiên được xây dựng tại xứ Đàng Trong, có trước cả văn miếu ở Vĩnh Long, Gia Định và Huế. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, ghi: Văn miếu Trấn Biên được xây dựng tại thôn Tân Lại, tổng Phước Dinh, huyện Phước Chánh (nay thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa). Và theo mô tả của Đại Nam nhất thống chí, thì Văn miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp: Phía nam trông ra sông Phước Giang, phía bắc dựa vào núi Long Sơn, là một nơi cảnh đẹp thanh tú, cỏ cây tươi tốt…Bên trong rường cột chạm trổ, tinh xảo… Trong thành trăm hoa tươi tốt, có những cây tòng, cam quýt, bưởi, hoa sứ, mít, xoài, chuối và quả hồng xiêm đầy rẫy, sum sê, quả sai lại lớn…. Trước năm 1802, hằng năm, đích thân chúa Nguyễn Phúc Ánh đến Văn miếu Trấn Biên để hành lễ hai lần vào mùa xuân và mùa thu. Nhưng từ khi chúa Nguyễn lên ngôi ở Huế, thì quan tổng trấn thành Gia Định, thay mặt vua, cùng với trấn quan Biên Hòa và quan đốc học đến đây hành lễ…

Bên cạnh Văn miếu Trấn Biên ở Biên Hòa có TrườngTỉnh học (trường học tỉnh Biên Hòa) tương tự Văn miếu Huế bên cạnh có Quốc tử giám để giảng dạy học trò. Trường học lớn của cả tỉnh này mãi đến đời vua Minh Mạng mới dời về thôn Tân Lại (nay thuộc phường Hòa Bình, Biên Hòa). Như vậy, ngoài việc thờ phụng, Văn miếu Trấn Biên còn đóng vai trò như một trung tâm văn hóa, giáo dục của Biên Hòa xưa và Nam Bộ xưa trước khi Văn miếu Gia Định ra đời năm 1824.

GS. Trần Thanh Đạm Báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh trong bài “Góp phần nhận thức về vai trò lịch sử của nhà Nguyễn (1802 – 1945)”, số 41 ngày 30 tháng 10 năm 2008 đã nhận định : “Nhiều tư liệu đã có hoặc mới phá hiện đã chứng minh rằng trong nửa thế kỷ XIX, đối với đất nước Việt Nam, nhà Nguyễn đã làm được không ít việc, và nhiều việc có thể được gọi là những thành tựu. Ví dụ: đối với sự nghiệp thống nhất đất nước, dù rằng việc này được khởi đầu từ phong trào Tây Sơn song việc thống nhất đang còn dở dang, thậm chí cuối thời Tây Sơn cũng đang có nguy cơ phân liệt. Chính Nguyễn Ánh đã hoàn thành công việc dở dang này, hoàn thành sự nghiệp thống nhất, kết thúc tình trạng đất nước chia hai, quy giang sơn về một mối.”

NAM TIẾN ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG

Nam Tiến của người Việt có ba giai đoạn chính: Giai đoạn 1 từ năm 1009 khởi đầu nhà Lý cho đến năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng đã cùng với con em vùng đất Thanh Nghệ vào trấn nhậm ở đất Thuận Hóa lấy Hoành Sơn, Linh Giang và Luỹ Thầy sau này làm trường thành chắn Bắc. Sông Gianh là mốc đặc trưng của giai đoạn 1.

Linh Giang Quảng Bình là dòng sông huyền thoại nối liền đôi bờ “Đằng Ngoài và Đằng Trong”. Lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt đi như một dòng sông lớn, thuận chiều, xuôi dòng, hướng về biển lớn. Dòng sông về biển có khi hiền hòa có khi hung dữ tùy theo thế nước nhưng mãi mãi là nguồn sống, nguồn sinh lực của con người, cây xanh và vạn vật.

Đặc trưng của giai đoạn 2 là Núi Đại Lãnh và núi đá Bia tỉnh Phú Yên là chỉ dấu quan trọng Nam tiến của người Việt. Chúa Nguyễn Hoàng và các hậu duệ nhà Nguyễn với công thần khai quốc Đào Duy Từ đã có chính sách hiệu quả bắc cự nhà Trịnh, nam mở mang đất, để phát triển vùng đất Đằng Trong mở rộng lãnh thổ về phương Nam, đến năm 1693 thì sáp nhập toàn bộ đất đai Chiêm Thành vào Đại Việt. Lê Hoàn năm 982 đem quân đánh Chiêm Thành mở đất phương Nam là lần xuất chinh sớm nhất của Đại Việt, Vua Lê Thánh Tông năm 1471 khi thân chinh cầm quân tấn công Chiêm Thành tương truyền đã dừng tại chân núi đá Bia và cho quân lính trèo lên khắc ghi rõ cương vực Đại Việt.

Thời Nhà Nguyễn năm 1693 toàn bộ phần đất Chiêm Thành ở Phú Yên sáp nhập vào Đại Việt, đến năm 1816 là năm cuối cùng toàn bộ đất đai Chân Lạp, Tây Nguyên và các hải đảo sáp nhập hoàn toàn vào lãnh thổ Đại Nam. Trãi qua 711 năm kể từ lần xuất chinh đầu tiên của Lê Hoàn năm 982 qua nhiều triều đại đến thời nhà Nguyễn năm 1693 , hai vùng đất Đại Việt Chiêm Thành mới quy về một mối. Người Việt đã đi như một dòng sông lớn xuôi về biển, có khi hiền hòa có khi hung dữ, với hai lần hôn phối thời Trần (Huyền Trân Công Chúa) và thời Nguyễn (Ngọc Khoa Công Chúa), chín lần chiến tranh lớn nhỏ. đã hòa máu huyết với người Chiêm để bước qua lời nguyền núi đá Bia ở núi Phú Yên “gian nan tiến thủ để mở rộng hy vọng cho tương lai”, cho đến năm 1839 lãnh thổ Việt Nam lần lượt bao gồm Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long với các hải đảo thành nước Đại Nam .

(Giai đoạn 2 từ năm 1526 khởi đầu nhà Mạc của nước Đại Việt đến năm 1693 kết thúc việc sáp nhập Chiêm Thành vào Đại Việt và đến năm 1816 sáp nhập hoàn toàn Chân Lạp, Tây Nguyên với các hải đảo vào lãnh thổ của nước Đại Nam thời Minh Mệnh nhà Nguyễn để có ranh giới cương vực như hiện nay. Thời kỳ này trãi từ Nhà Mạc (1527- 1592), Nhà Lê trung hưng (1533-1789), Trịnh-Nguyễn phân tranh, nhà Tây Sơn (1778- 1802) Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn (1789-1802) Việt Nam thời Nhà Nguyễn (1804-1839). Bản đồ cương vực màu xanh gồm khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, các đồng bằng nhỏ ven biển Bắc Trung Bộ thuộc Đằng Ngoài, cương vực màu vàng từ địa đầu Quảng Bình đến đèo Cù Mông tỉnh Phú Yên, bao gồm các đồng bằng nhỏ ven biển Nam Trung Bộ, Tây Nguyên thuộc Đàng Trong, Từ năm 1693 cho đến năm 1839 lãnh thổ Việt Nam lần lượt bao gồm Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long với các hải đảo).

Giai đoạn 3 từ năm 1839 đến nay. Giai đoạn này bao gồm: Đại Nam thời Nhà Nguyễn (1839-1945); Thời Pháp thuộc Liên bang Đông Dương (nhập chung với Lào, Campuchia, Quảng Châu Loan 1887 -1945); Giai đoạn từ năm 1945 đến nay (Đế quốc Việt Nam: tháng 4 năm 1945 – tháng 8 năm 1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: từ 2 tháng 9 năm 1945 đến 2 tháng 7 năm 1976; Quốc gia Việt Nam: dựng lên từ 1949 đến 1955 với quốc trưởng Bảo Đại bởi chính quyền Pháp; Việt Nam Cộng hòa: tồn tại với danh nghĩa kế tục Quốc gia Việt Nam từ 1955 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại miền Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam sau là Cộng hoà Miền Nam Việt Nam: từ 8 tháng 6 năm 1960 đến 2 tháng 7 năm 1976; Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: từ ngày 2 tháng 7 năm 1976 đến nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh người đặt nền móng cho nước Việt Nam mới đã kiên quyết khôn khéo nhanh tay giành được chính quyền và lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bởi Pháp bại Nhật hàng vua Bảo Đại thoái vị. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. “Nay, tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu (tôi) cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài

Nam tiến của người Việt thành công vì đó xu thế tự nhiên, tất yếu của lịch sử người Việt. Nam Tiến đi như một dòng sông, nói thì dễ nhưng sự thật đời người là khó. Thật bùi ngùi khi liên tưởng “Con đường đau khổ” của A. Tonstoy, “Đường sống” của Lev Tonstoy và những điều trích dẫn trong “Con đường xanh của chúng ta“. Bạn học cùng tổ với tôi là Cao Văn Hàng, khác với tôi là lên đường nhập ngũ từ ngày 2 tháng 9 năm 1971, để sau này xa xứ và trở thành người Đồng Nai như câu chuyện tôi đã kể trong Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Cao Văn Hàng dân Thanh Hóa tốt nghiệp kỹ sư nông học ở Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc (tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm Huế và Đại học Nông – Lâm Bắc Giang ngày nay). Anh khác với bạn bè cùng trang lứa phần lớn đều ước mơ ra Bắc về Cục Vụ Viện Trường ở Hà Nội hoặc các tỉnh lân cận, anh viết đơn tình nguyện “Nam Tiến” lứa đầu tiên “đi bất cứ nơi nào khi Tổ Quốc cần” theo sự phân công của tổ chức. Và anh đã được toại nguyện Nam Tiến về nông trường Con Cuông, một nơi heo hút phía Tây Nghệ An. Anh Cao Văn Hàng Nam Tiến với ước mơ cháy bỏng “hành được những điều sở học” về một nông trường nghèo vùng núi sâu, ít cán bộ có bằng cấp chính quy đại học thực thụ, năm năm sau tạm ổn định và cố gắng lấy vợ sinh con, mười năm sau có được một vị trí công việc hợp với mình và nơi ấy, mười lăm năm sau có được chút thành quả, hai mươi năm sau có được một sản phẩm gì đó trở về “bái tổ” ở đất quê hương. Mấy chục năm sau, tôi về thăm anh thì anh đã về Thanh Hóa với cái gốc ban đầu và đang tính đường nuôi hươu. Nằm ngủ tại nhà bạn Cao Văn Hàng dưới túp tranh nghèo, tôi ám ảnh trước bài thơ của anh: ‘Tiếc một đời sống dở, ở không xong/ Ta đã sống một thời bay theo gió / Hương còn đó hồi sinh đang đó /Mà bơ vơ lạc lõng giữa quê nhà”. Đọc thơ anh Cao Văn Hàng liên tưởng tới bao điều của thế hệ chúng tôi

Sinh viên nông nghiệp miền Bắc lứa chúng tôi phần lớn đều Nam tiến theo con đường dân tộc đang đi. Tôi thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá … cho đến ngày 2 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”. Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất. Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh”. Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trồng trọt 2 thuở đó là một lớp chung mãi cuối khóa mới tách ra 2A,2B, 2C. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy ở Trường Đại học Cần Thơ.

Các bạn sinh viên lứa tôi ở trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đi bộ đội đợt 1971 khoảng 150 người, sau này khoảng bốn mươi phần trăm hi sinh ở chiến trường phương Nam, số bạn về trường học lại còn khoảng bốn mươi phần trăm, và hai mươi phần trăm nữa chuyển ngành sang học trường khác hoặc làm nghề khác. Khóa 4 thời đó, số bạn không đi bộ đội, lúc ra trường sau 1975, phần lớn đều vào nhận nhiệm sở ở Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ . Lứa bạn tôi ở khóa 10 trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc cũng vậy, có khoảng trên sáu mươi phần trăm tăng cường cho nông nghiệp miền Nam. Đối với lúa bạn ở ba lớp Trồng trọt 2A,2B, 2C của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tuyển sinh ở phía Nam thì hiển nhiên sau này ra nghề làm việc ở miền Nam. Có một số ít bạn theo gia đình sang Mỹ, Pháp, Đan Mạch … Sinh viên nghề nông chúng tôi căn bản đã đi theo đúng con đường Nam tiến của dân tộc. Hôm lớp chúng tôi về thăm Văn Miếu Trấn Biên, ngồi chơi trò chuyện với nhau bên sông Đồng Nai, chúng tôi chiêm nghiệm nhiều về điều ấy.

Cuối một dòng sông là cửa bể là một câu chuyện dài đầy ắp tư liệu đối với những ai thích tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa dân tộc.

CUỐI MỘT DÒNG SÔNG LÀ CỬA BIỂN
Hoàng Kim

Núi sông muôn đời vẫn vậy
Con người vạn kiếp đổi thay
Trời đất giang sơn bền vững
Nhân gian luân chuyển tháng ngày
Văn chương bảo tồn con người
Văn hóa trầm tích thời gian
Cuối dòng sông là cửa biển
Yêu thương mở cửa thiên đường

*
Cuối một dòng sông là cửa biển
Cuối một cuộc tình là yêu thương
Đức tin phục sinh thánh thiên
Yêu thương mở cửa thiên đường.

Con đường lúa gạo Việt Nam

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM
Chúc mừng 50 năm Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm.
Hoàng Kim
Nhất bác Của nhì chuyên gia thứ ba chỉ đạo‘. Nửa thế kỷ nóng hổi bài HỌC LÀM NGƯỜI LAO ĐỘNG TỐT. Thật xúc động trước bài viết của anh Phạm Xuân Liêm và nhận xét tâm đắc của anh Vinh Đào Quang … “Để chỉ độ vất vả của công việc của kỹ sư nông nghiệp người ta nói : Nhất ông Của, nhì chuyên gia, thứ ba chỉ đạo. Tức là cán bộ thuộc các đoàn chỉ đạo của bộ là nhàn nhất ( lúc đó còn HTX mà, xã viên còn nhàn nữa là.) Đoàn chuyên gia TQ thì vất vả hơn vì các chuyên gia đa phần là nông dân, giỏi thực hành nên cán bộ Việt Nam cũng phải thực hành theo . Còn Viên ông Của thì vất vả nhất, làm theo định mức, nếu việc không có định mức thì phải làm đủ 8 h, theo kẻng. Mình đã viết về việc này trên báo Nông nghiệp. “. LƯƠNG ĐỊNH CỦA, CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM bài học lớn trong câu chuyện nhỏ.

Lương Định Của con đường lúa gạo mời bạn xem hình một hình hai. “Người Viện Cây Lương Thực và Cây Thực phẩm mời bạn xem hình ba, hình bốn, hình năm nói về TS. Đổ Khắc Thịnh (Khacthinh Do), TS Phạm Xuân Tùng (Pham Xuan Tung), TS. Phạm Sĩ Tân (Pham Sy Tan) và TS. Phạm Xuân Liêm (Phạm Xuân Liêm) những con người “chân chất, quê quê và được việc” tỏa ra từ Viện Cây Lương Thực và Cây Thực phẩm .

TS. Đổ Khắc Thịnh chuyên gia chọn giống lúa hàng đầu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam là tác giả của nhiều giống lúa và kỹ thuật thâm canh lúa nổi bật nhất là giống lúa đột biến VNĐ95-20 danh tiếng một thời thuộc tốp 5 giống lúa xuất khẩu phổ biến nhất Việt Nam. TS Phạm Xuân Tùng chuyên gia chọn giống và thâm canh khoai tây rau hoa Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa Đà Lạt thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam với 9 công trình đúc kết trong kỷ yếu khoa học 1975- 2015 của Viện,

TS Phạm Sĩ Tân Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long chuyên gia khoa học đất và phân bón, tác giả hính của cụm công trình xây dựng và đúc kết các quy trình thâm canh lúa cao sản ngắn ngày vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh phía Nam, điểm sáng từ nghiên cứu đến thực hành thâm canh lúa ở Viện Lúa thao thức biết bao  trái tim tâm huyết của những con người tận tụy thầm lặng dấn thân cho hạt ngọc Việt.

TS, Phạm Xuân Liêm là trưởng đoàn chuyên gia nông nghiệp Việt Nam tại Venezuela. TS. Phạm Xuân Liêm và TS. Nguyễn Xuân Dũng, TS. Vũ Tiết Sơn và TS. Đoàn Văn Thành … đoàn chuyên gia lúa Việt Nam ở Venezuela đã phối hợp chặt chẽ với các Nhà khoa học Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia INIA và bà con nông dân Venezuela đạt thành công cao của “Mô hình sản xuất lúa tại Venezuela theo kinh nghiệm trồng lúa nước Việt Nam”. “Dự hội nghị có Thống đốc bang Guarico, Đại sứ Cuba và Đại sứ Việt Nam tại VE, Chủ tịch cơ quan đối tác dự án FONDAS, gần 100 nông dân, cán bộ kỹ thuật NN và quan chức địa phương. Thay cho lời kết là ý liến đánh giá của những người tham dự hội nghị “Cánh đồng lúa đẹp chưa từng thấy trong vùng”. Đây là bài học tuyệt vời bước đầu của sự hợp tác Nam Nam toả rộng Con đường Lúa Gạo Việt Nam đến với chén cơm ngon của người dân ở nhiều vùng đất trồng lúa của thế giới.
Chúc mừng lúa Việt tới Venezuela

Tôi thật tự hào được bảo tồn lan tỏa những bài học quý giá của những thầy bạn quý

Trang web của Viện CLT& CTP: http://fcri.com.vn/

Trích dẫn bài của TS Phạm Xuân Liêm

NGƯỜI VIỆN CÂY: THỬ LÝ GIẢI VỀ SỰ KHÁC BIỆT
(Nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Viện 1968-2018)

Chả cứ là Người Viện Cây dễ dàng nhận ra nhau (dù ít biết nhau hay không cùng thế hệ) mà người ngoài (ở các viện nghiên cứu nông nghiệp khác) cũng nhận thấy Người Viện Cây lương thực-Cây thực phẩm có cái gì đấy khác biệt. Có người đã mô tả cái “chất” khác biệt của người Viện Cây là ” CHÂN CHẤT, QUÊ QUÊ và ĐƯỢC ViỆC”. Những ngày này ở Viện, chắc đang tưng bừng chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập, được tổ chức vào 30/11. Ở xa, cứ lan man nghĩ về Viện, nơi tôi đã ở và làm việc 21 năm ( từ 10/1975-10/1996), tự hỏi vì sao Người Viện Cây lại có cái “chất” khác biệt ấy. Mấy dòng này, thử lý giải về cái “chất” của Người Viện Cây, như để ôn lại những kỷ niệm vui buồn với các bác, anh/ chị và các bạn đồng nghiệp già, cũng là tâm sự với các đồng nghiệp trẻ ở Viện Cây trong dịp lễ hội này.
***
Về di truyền, Người Viện Cây chắc “kiểu gen” không có gì đặc biệt so với các đồng nghiệp ở các Viện NN khác. Thế thì, sự khác biệt con người ở đây chỉ có thể là do điều kiện “môi trường” (hoàn cảnh sinh sống, chế độ làm việc) mà hình thành nên vậy (?).
1. Hoàn cảnh Sinh sống:
Người Viện Cây hầu hết nội trú tại viện, không ở nhà tập thể thì ở khu dành cho gia đình, trừ số ít người có quê trong phạm vi bán kính không quá 10 km thì làm buổi đi về (thời kỳ phương tiện đi lại chủ yếu bằng xe đạp). Nội trú ở một vùng đậm chất quê “quần cộc chân chì, không Tứ Kỳ thì Gia Lộc”, thành thử tứ thời mùa vụ, suốt 24/7 là sinh hoạt làm việc gần nhau, từ đó mà rất hiểu nhau, gần gũi, thân mật và đồng cảm. Có lẽ, cái “CHÂN CHẤT, QUÊ QUÊ” do vậy mà có. Đã không ở Viện hơn 20 năm, nhưng nghĩ đến những người cùng thời ở đó, tôi vẫn nhớ như in dáng dấp, tinh cách và thậm chí “trích ngang” của từng người. Nhớ về những người đã từng cùng sống và làm việc, có hẳn một seri chuyện kể ” Viện Cây: chuyện bây giờ mới kể”. Chuyện vui, chuyện đẹp có, mà chuyện buồn, chuyện “xấu xí” cũng có nên chỉ gặp nhau thì kể thôi, không viết ra được.
2. Chế độ Làm việc:
Còn nhớ ngày mới về Viện, được nghe các anh chị khoá trước truyền miệng “Thứ nhất Chỉ đạo, thứ nhì Chuyên gia, thứ ba Ông Của” để nói về sự gian khổ của nơi được phân công công tác lúc ra trường. Được giải thích là: “
– “Chỉ đạo”: là được phân công xuống “nằm điểm” chỉ đạo sản xuất, 3 cùng với nông dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm). Khỏi phải nói, vào thời kỳ “bao cấp”, xuống HTX cùng làm với dân thì không kể hết sự gian khổ, khó khăn. Dân luôn đùm bọc cán bộ, nhưng lúc đói kém, 15 kg gạo và dăm lạng đường tiêu chuẩn hàng tháng, vài bộ quần áo cũ, cái màn không lành lặn … phải chia sẻ cùng gia chủ là điều đương nhiên. Chỉ đạo, nhưng không phải ” chỉ tay năm ngón” mà phải “miệng nói, tay làm” dân mới làm theo. Không chịu được gian khổ, không thạo việc đồng áng chỉ có nước “đứt”!
– ” Chuyên gia” : ấy là sự phân công cùng làm việc với chuyên gia NN Trung Quốc. Cầm cái “cuốc con gà” (cuốc do TQ sản xuất) to và nặng quá cỡ sức người Việt, cuốc đủ “8 giờ vàng ngọc” với chuyên gia ( họ to con hơn và ăn tiêu chuẩn tốt hơn) thì thôi rồi là … cực. Tầm 10h sáng, khi mẩu bánh mì buổi sáng trong bụng đã “đốt” hết calo cuối cùng, chỉ nâng “con gà” lên ngang mặt đã thắt cả ruột gan, khỏi bàn! (Không biết có ai còn giữ được cái “cuốc con gà” ngày ấy ?).
– ” Ông Của”: là được phân công về Viện CLT-CTP do Bác sĩ nông học Lương Định Của (cách gọi lúc bấy giờ) làm viện trưởng. Nơi đây, bài học của kỹ sư tập sự, thực hành của học viên Trường công nhân kỹ thuật (bên cạnh viện) là “Bài ca lao động vinh quang” nhưng thấm đẫm mồ hôi (và cả nước mắt) không bao giờ quên ( Bài 1 là bài trên sân/ đóng bao rê thóc nổi gân mặt mày/ Bài 2 là bài đi cày/ Ruộng sâu, trâu chạy mặt mày nổi gân …). Chuyện kể rằng, Bác Của đã từng nói với cán bộ Viện, đại ý ” muốn nghiên cứu về cây nào, trước tiên phải học cách trồng cây đó như người nông dân thực thụ”. Bấy giờ, lao động vất vả quá nên không thấy được ý nghĩa của phương pháp tập sự này, thậm chí chúng tôi còn đề nghị gay gắt bãi bỏ thời gian tập sự đặc biệt đó với Ban Giám đốc viện ( lúc Ks tập sự khoá chúng tôi được triệu tập họp với bác Nguyễn Lộc-Phó Viện trưởng). Sau này trong quá trình làm việc, mới thấy hết sự cần thiết và quý báu của thời gian tập sự “nổi tiêng” một thời của Viện Cây (1 năm với khoá 1975 chúng tôi, các khoá anh/ chị trước không ngắn hơn 2 năm). Đã tập sự ở Viện, mọi công việc từ tỷ mẩn nghiên cứu trong phòng đến các việc đồng áng lao động trực tiếp đều làm được thành thạo, người nào sáng ý còn học được cách quản lý sản xuất, quản công lao động -là vốn liếng cần thiết cho những người sau này trở thành người lãnh đạo, người quản lý. Cái chất “ĐƯỢC VIỆC” của Người Viện Cây, có lẽ từ đó mà có.
***
Đã 50 năm- nửa thế kỷ, đủ để làm nên “những cuộc bể dâu”, hay có khi thấy “vật đổi sao dời”, Viện Cây ngày ấy đã thay đổi rất nhiều đến ngỡ ngàng với người lâu lâu mới trở lại Viện. Có thể thấy được sự thay đổi này qua những tấm ảnh còn lưu lại trong phòng truyền thống của Viện, hay trong ký ức của những người đã ở Viện. Nhưng cái “chất” Người Viện Cây có thay đổi hay không (?), thì chỉ những người của các thế hệ trước, trong đó có chúng tôi mới cảm nhận được.
(PXL, từ Venezuela, 28/11/2018)

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

40 năm Viện Lúa xây dựng phát triển
90 năm Viện KHKTNN miền Nam
Trường tôi thấm sâu bài học lịch sử
Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS
Nhà khoa học xanh người Thầy chiến sĩ
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Con đường lúa gạo Việt Nam
Chúc mừng lúa Việt tới Venezuela
Cô Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu trong tôi
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
OM lúa giống có Ngọc
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Đào Thế Tuấn chân dung người Thầy
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

CÂY LƯƠNG THỰC LÚA NGÔ SẮN KHOAI
Lúa Siêu Xanh Việt Nam kết nối CAAS IRRI
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương
Lúa Sắn Việt Nam đến châu Phi
Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A
Ngô Việt Nam và những người thầy
Giống khoai lang ở Việt Nam
Khoai lang HL518 khác biệt Beni Azuma ?
Lúa sắn Cămpuchia và lúa sắn Lào
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Gạo Việt từ giống tốt đến thương hiệu
Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Công việc này trao lại cho em
Sắn Việt Nam bảo tồn phát triển bền vững
Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai
Sắn Việt Nam kết nối châu Phi
Sắn Thế Giới và Việt Nam
Cách mạng sắn ở Việt Nam
Năm giống sắn mới tại Phú Yên
Quản lý bền vững sắn châu Á
Bệnh virus khảm lá sắn và cách phòng trừ
Angkor nụ cười suy ngẫm
Về miền Tây
Đường xuân
Hoa Lúa
Hoa Người
Hoa Đất

Con đường lúa gạo Việt Nam không chỉ có lúa mà còn có cây màu (ngô, sắn, khoai) cây đậu đỗ thực phẩm, rau quả cũng là nguồn thức ăn đồ uống Việt (Food & Drink) ngày càng đòi hỏi nâng cao giá trị chất lượng khoa học nghệ thuật ẩm thực văn hóa Việt, tỏa sáng ấm áp bếp Việt cho mọi nhà, lan tỏa thương hiệu Việt, món ăn Việt, đất nước con người Việt Nam ra thế giới. Giờ đây, mô hình liên kết nông dân khoa học khuyến nông doanh nghiệp quản lý cần được kết nối chắc chắn bài bản trong cánh đồng mẫu lớn từ  khâu chọn giống tốt năng suất chất lượng thời gian sinh trưởng và ít sâu bệnh đến việc chọn điểm xây dựng quy trình kỹ thuật và mô hình thâm canh thích hợp hiệu quả, tới việc tổ chức sản xuất chế biến cung ứng tiêu thụ thành chuỗi sản xuất thị trường hiệu quả tín nhiệm, gắn liền với việc đánh giá, xác nhận và quảng bá thương hiệu đúng đắn coi trọng chất lượng. Điều đó là đường xuân để không chỉ  gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình đúng cho sự liên kết phát triển nông nghiệp bền vững.

Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang  Con đường lúa gạo Việt Nam.


Ngày mới yêu thương

NGÀY MỚI YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim

Khoác thêm tấm áo trời se lạnh
Đông tàn xuân tới đó rồi em
Phúc hậu mỗi ngày chăm việc thiện
Yêu thương xa cách hóa gần thêm.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Phim vua Solomon
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter


Dưới đáy đại dương là Ngọc

DƯỚI ĐÁY ĐẠI DƯƠNG LÀ NGỌC
Hoàng Kim
cám ơn và xin phép chia sẻ bài viết của GS Nguyễn Tử Siêm  “Nhớ một trí thức chân chính GSTS, NGUYÊN BT NGUYỄN QUANG HÀ” với hình ảnh giáo sư giữa các đồng nghiệp Nguyễn Thị Lang, Nguyễn Ích Chương, Nguyễn Tử Siêm, … đang lắng nghe IRRI giới thiệu dùng biotech để lai xa, tạo giống ‘siêu lúa’ (supper rice) ngày 28.8.1996. Xin thắp một nén tâm hương nhân ngày giỗ 24 tháng 11 năm 2016 của cụ Nguyễn Quang Hà, một bậc đàn anh đáng kính trong nghề, hiền lành và đức độ bậc nhất theo lời đánh giá của GS Nguyễn Tử Siêm mà tôi tâm đắc. Câu chuyện cụ Hà dường như rất giống câu chuyện bác Năm Hoằng và chị Ba Sương Nông trường Sông Hậu mà cả hai đều “thế thời thế thế thời phải thế”. Tôi xin được lưu lại để suy ngẫm và có đôi lời cảm nhận để viết tiếp nối “Dưới đáy đại dương là Ngọc”, https://hoangkimlong.wordpress.com/…/duoi-day-dai-duong-la…/

Nguồn trích dẫn đọc lại và suy ngẫm:

Nhớ một trí thức chân chính
GSTS, NGUYÊN BT NGUYỄN QUANG HÀ

Những bức hình về GSTS, BT Nguyễn Quang Hà được đưa lên 2 năm về trước đúng ngày tôi nhận được tin ông từ trần. Song do chưa phát tang, nên không dám nói gì, chỉ âm thầm buồn. Sinh ly tử biệt đã buồn; trường hợp về hưu của ông còn rất đau lòng.

Sinh ra ở làng lụa Vạn Phúc, trong một gia đình có công với cách mạng, ông tu dưỡng, học hành bài bản, trở thành nhà khoa học lâm nghiệp đầu đàn, Viện trưởng Viện Điều tra Qui hoạch Rừng, rồi làm Bộ trưởng Bộ Lâm Nghiệp; khi sát nhập 2 bộ, ông giữ chức Thứ trưởng thường trực Bộ NN & PTNT.

Đúng cái lúc ông về hưu, nhẹ nhàng, thanh thản, những tưởng vui thú điền viên nơi mành vườn quê, thì vụ án động trời ở Bộ bùng phát sau nhiều năm âm ỉ, làm ông vướng vòng lao lý. Vụ án là chuyện của pháp luật. Tôi chỉ muốn biểu thị lòng tin rằng ông trong sạch, không toan tính tơ hào gì về lợi ích. Với tôi, vẫn nguyên vẹn hình ảnh một trí thức chân chính, dù rằng cấp trên trực tiếp của ông ngảnh mặt đi.

Xin thắp nén nhang nhân ngày giỗ thứ hai của ông – một bậc đàn anh đáng kính trong nghề, hiền lành và đức độ bậc nhất.
(NTS 25.11.2018
)./.

Tôi biết một bài thơ thật lạ “Âm thầm Nguyễn Quang Hà” chợt trùng tên ông và trùng sự đau nhói như chính sự việc của cụ Nguyễn Quang Hà nhưng hai câu chuyện là hoàn toàn khác nhau:

ÂM THẦM NGUYỄN QUANG HÀ

Nỗi trống trải như vết thương nhỏ máu
Từ bấy đến nay chưa kín miệng bao giờ
Anh cảm thấy thời gian như đứng lại
Và em vẫn là em của ngày xưa

Những gì tưởng đào sâu chôn chặt
Có ai ngờ vẫn sống mãi cùng ta
Anh ân hận vì dại khờ nhút nhát
Ðã có em rồi lại để em xa

Em ơi, mối tình dang dở
Cho anh biết thế nào là yêu em
Em ơi, đường đời sóng gió
Cho anh biết thế nào là thiếu em

Thời gian đủ cho anh hiểu
Hạnh phúc không đơn giản chút nào
Những gì âm thầm nén chịu
Thành tiếng thở dài lang thang tìm nhau

Cuộc đời này ai hiểu chúng ta đâu
Ai hiểu em từng theo anh suốt những thăng trầm nghiệt ngã
Ai hiểu em nói gì với anh trong ánh nhìn lặng lẽ
Và ai hiểu phút giây này anh nhớ em.

Tôi cũng biết một câu chuyện khác về hai cha con anh hùng đó là cụ Năm Hoằng và chị Ba Sương nhưng đó cũng là một câu chuyện hoàn toàn khác:

Tôi xúc động nhớ về thuở xưa của rốn phèn Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên nay đã biết bao đổi thay. Trò chuyện với các bạn  Trở lại nụ cười Ba Sương : “Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình, …” . Sự kiện ngày 15 tháng 8 năm 2009 đến nay trong lòng dân đâu đã quên và chuyện đâu đã khép lại…

Hôm bác Năm Hoằng mất, chúng tôi gần như đi suốt đêm từ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (Đồng Nai) về Nông trường sông Hậu (Hậu Giang) để kịp viếng bác. Tôi biết ơn bác Năm đã năm lần lội ruộng thăm đồng Trung tâm Hưng Lôc và đã gợi ý cho tôi nhiều điều. Trong đó có một lần bác tặng cho tôi chiếc máy điện thoại di động “Cháu giữ mà dùng, bác mua lại cái khác”, “Thông tin là cần thiết, đừng tiết kiệm quá con ạ !” “Chưa kỹ đâu con đừng vội làm sư” “Bác có chút kinh nghiệm thau chua, rửa phèn, lấn biến” “Hiểu cây và đất thì mới làm ra được giống mới con ạ !” “Phải sản xuất kinh doanh khép kín mới khá được” “Dưới đáy đại dương là ngọc !”. Những bài học của bác Năm và chị Ba đã giúp chúng tôi rất nhiều.

Lâu nay chúng ta đã xúc động nhiều với cuộc đời bất hạnh của chị Ba Sương nhưng hình như việc “tích tụ ruộng đất”, “xây dựng nông trại điển hình”, và “lập quỹ trái phép”, của Nông trường sông Hậu thời bác Năm Hoằng và chị Ba Sương cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo để rút ra những bài học sâu sắc về quan điểm, tầm nhìn, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp. Không chỉ vậy, những bài học tổng kết thực tiễn kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Thế giới và Việt Nam việc soát xét 10 năm, 40 năm, 90 năm, 500 năm để tính toán một tầm nhìn trung và dài hạn vẫn chưa có những công trình xứng tầm để đánh giá thấu đáo và đúc kết những bài học phát triển. Bác Năm đã yên nghĩ, chị Ba Sương kêu án tù 8 năm và được thả. Người đương thời chưa thể mổ xẻ và phân tích đúng sai về cách “tích tụ ruộng đất” và “lập quỷ trái phép” nhưng nếu khép lại điều này thì không thể nói rõ nhiều việc và cũng không đúng tâm nguyện của những bậc anh hùng trượng nghĩa Nam Bộ đã quyết liệt dấn thân trọn đời cho sự nghiệp và niềm tin ấy.



Ngàn năm Đại Lãnh nhạn quay về

NGÀN NĂM ĐẠI LÃNH NHẠN QUAY VỀ
Hoàng Kim

Núi Đá Bia thiên nhãn phương nam
Biển Vũng Rô mắt thần tịnh hải 
Tháp Nhạn người Nam lưu đất Phú
Mằng Lăng chữ Việt dấu trời Yên
Xuân Đài Thành cổ ghềnh Đá Đĩa
Sông Ba sông Cái núi Cù Mông
Vạn kiếp tình yêu anh gửi lại
Ngàn năm Đại Lãnh nhạn quay về

anh Phan Chi du lịch Phú Yên hỏi những địa danh Phú Yên nào là nổi tiếng nhất? Hoàng Kim trả lời bằng bài thơ trên. Ngàn năm Đại Lãnh nhạn quay về. Vạn Kiếp tình yêu anh gửi lại. Đại Lãnh Núi Đá Bia Vũng Rô là thiên nhãn phương Nam mắt thần tịnh hải, mốc Nam tiến của người Việt. Sông Ba sông Cái núi Đại Lãnh núi Cù Mông là sông núi lớn nhất ở Phú Yên. Vua Lê Thánh Tông ngày 28 tháng 11 năm 1470 nhằm ngày 6 tháng 11 âm lịch năm Canh Dần hạ chiếu lệnh xuất quân đánh Chiêm Thành tuyên đọc trước 26 vạn quân. Kết quả kinh đô Chà Bàn (Vijaya) của người Chăm thất thủ. Lãnh thổ Đại Việt sau lần Nam tiến năm ấy đã mở rộng từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên. Tháng 6 năm 1471, lãnh thổ  Chiêm Thành được lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa, có khắc bia trên núi Đá Bia vào năm 1471. Quần thể Tháp Nhạn, bãi biển “hoa vàng trên cỏ xanh”, vịnh Xuân Đài, Thành cổ, ghềnh đá Đĩa, nhà thờ Mằng Yang nơi lưu dấu chữ tiếng Việt đầu tiên của Alexande de Rhores (1593-1660) “người khai sinh chữ quốc ngữ” tiếng yêu thương muôn đời của dân tộc Việt. Bài ký này là sự tiếp nối Nam tiến của người ViệtBí mật Cao Biền trong sử Việt;  Thầy tôi và nắng tháng Ba

Tháp Nhạn


Vũng Rô Đại Lãnh

Alexande de Rhores (1593-1660) “người khai sinh chữ quốc ngữ” lưu dấu chữ tiếng Việt đầu tiên tại Phú Yên.

Biển Tuy Hòa

(xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/03/20/thay-toi-va-nang-thang-ba/)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Phim vua Solomon
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter