Giữ trong sáng tiếng Việt

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Tiếng Viết chữ Việt là di sản văn hóa Việt Nam cần nghiêm minh thực hiện Luật Di sản Văn hóa đã được Quốc Hội ban hành số 28/2001/QH10 Hà Nội ngày 29 tháng 6 năm 2001. Chữ Quốc ngữ cải cách không nên bàn nữa. Việc bác bỏ đề xuất cải cách chữ Quốc ngữ của PGS Bùi Hiền đã được Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp chính thức trả lời lãnh đạo cấp trên và toàn thể công luân. Sự đòi hỏi triệt để phải nên ban hành Luật Ngôn ngữ Việt Nam để thể chế hóa và đáp ứng sâu sắc hơn nhu cầu thực tiễn của việc kết nối thực hiện tốt Luật Di sản Văn hóa. Tinh thần của Luật Di sản Văn hóa và kết luận của GSTS. Nguyễn Văn Hiệp trong văn bản chính thức trả lời đã khẳng định: Chữ Quốc ngữ là một loại chữ ghi âm rất tốt của người Việt hình thành vào thế kỷ 17 năm 1651 gắn với việc xuất bản cuốn Từ điển Việt Bồ Đào Nha Latin của linh mục Alecxandre de Rhores tại Rome. Chữ Quốc ngữ là quá trình góp sức lâu dài trong đó có người Việt Nam, được cộng đồng người Việt chấp nhận một cách tự nhiên, thuần thục, phổ cập, là chữ viết thống nhất của nước Việt Nam, là di sản văn hóa. Chữ Quốc ngữ vấn đề cải cách từ khi hình thành cho đến nay đã được bàn rất nhiều lần. Nhiều đề xuất cải cách đều bị thất bại vì các lý do chính: Thứ nhất, chữ Quốc ngữ có đủ khả năng để ghi lại toàn bộ các âm có thể có trong tiếng Việt hiện đại. Không có một âm nào trong tiếng Việt lại không thể dùng chữ Quốc ngữ ghi lại. Thứ hai, chữ Quốc ngữ đã phát triển đến giai đoạn ổn định, được cả cộng đồng chấp nhận và sử dụng một cách tự nhiên, mang tính quy ước và phổ cập. Thứ ba, tiếng Việt chữ Việt ẩn chứa văn hóa lịch sử. Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước giữ nước của nhân dân ta, nên không nhất thiết phải vận dụng nguyên tắc “một âm vị ghi bằng một ký tự và ngược lại” chữ viết của một ngôn ngữ không đồng nhất với ký hiệu ngữ âm quốc tế. Toàn dân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Hoàng Kim cám ơn quý thầy cô và các bạn đã trao đổi, bàn luận và chia sẻ. Tôi đồng tình với trao đổi của nhiều bạn bức xúc phản đối cải cách Tiếng Việt chữ Việt. Đặc biệt, tôi hoàn toàn đồng tình với phản biện của giáo sư Nguyễn Lân Dũng : “Nếu cải cách tiếng Việt hàng triệu dân phải đi học từ đầu . Tôi có  ba câu hỏi:

THỨ NHẤT, việc dạy theo cách cũ vẫn không gây ra khó khăn hay lạc hậu gì, tại sao phải cải cách thay bằng cách khác tốn kém rất nhiều, với việc bán sách thực nghiệm ‘chia tiền’ (theo lời của GS Hồ Ngọc Đại) để làm cho 800.000 học sinh nhí bị thành chuột bạch của sự thử nghiệm? THỨ HAI, Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, vì sao lại phải ‘lách luật’ mà không có thông báo chính thức từ Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với tất cả các tỉnh thành trên cả nước đều thực hiện mà lại ‘thử nghiệm’ theo một quy trình nơi này nơi khác vi phạm nghiêm trọng luật di sản văn hóa?; THỨ BA, trong cuốn sách công nghệ giáo dục có tách từ quy về hình vẽ, xây dựng cải cách mới “mà chỉ có giảng viên đã tập huấn mới dạy được, còn xã hội và gia đình thì không thể dạy được” sự quá nôn nóng chuyển thực nghiệm sang phổ cập để bán sách, tách rời nhà trường gia đình xã hội trong giáo dục trẻ dựa vào đâu? cũng chưa hề có một văn bản chính thức giải thích rõ ràng cho dân, chưa hỏi ý kiến người dân, các trường các thầy cô cứ áp cứ dạy, hỏi rằng dân chủ ở đâu. cách làm đã hợp lý chưa?

“Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ”. (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough). Lời vàng Albert Einstein đã nói như vậy. Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa Việt Nam.

Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cấp hữu quan sớm kết luận và trả lời chính thức. Nguồn:https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/09/06/giu-trong-sang-tieng-viet/

Tài liệu dẫn:

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Ôi Tiếng Việt (*) như bùn và như lụa …
Tiếng yêu thương sinh tử của dân mình
Đừng ngớ ngẫn chúi đầu ngửi vết
Quên sinh tử phù,”giản thể” bới lung tung.

Non sông Việt trường tồn bền vững mãi
Tiếng Việt ngàn đời lợi khí quốc gia (**)
Người Việt dân mình xin đừng quên gốc
Trãi hiểm nghèo ta vẫn là ta.

Đất Tổ Quốc suốt ngàn năm văn hiến
Năm mươi tư dân tộc thuận hòa
Giữ trong sáng Tiếng Việt là vô giá
Chớ nên lầm ‘giản thể’ bán ông cha.

NẾU CẢI TIẾN TIẾNG VIỆT HÀNG TRIỆU NGƯỜI DÂN PHẢI ĐI HỌC TỪ ĐẦU

GS Nguyễn Lân Dũng

“Thử tưởng tượng nếu việc cải cách chữ viết tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền được thực thi, hàng triệu người dân sẽ phải học lại từ đầu các cấu trúc ngữ pháp. Nghĩ đến điều đó thôi cũng thấy rõ là đề án này không thể áp dụng”, GS Nguyễn Lân Dũng cho biết.

Liên quan đến đề án cải tiến chữ viết tiếng Việt của tác giả Bùi Hiền, GS Lân Dũng thẳng thắn cho rằng, khó có thể thực hiện một đề án có quá nhiều hệ lụy như đề án cải cách tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền.

“Đây là một công trình khoa học nên phải có căn cứ cơ sở thì người thực hiện mới có thể nghiên cứu. Chúng ta không nên ném đá nhưng cũng phải thẳng thắn khẳng định là không thể áp dụng được. Ngôn ngữ nào cũng có những điều chưa hợp lý. Nhưng trong quá trình gìn giữ, người ta phải bảo toàn cả những mặt trái và mặt phải.

Giả sử việc cải tiến chữ viết tiếng Việt của ông Bùi Hiền thành hiện thực thì cả một hệ thống Hiến pháp, sách giáo khoa, tài liệu công dân ở các cơ quan chức năng đều phải được tiến hành in lại. Kể cả đồng tiền quốc gia cũng phải được in và phát hành lại. Bản thân mỗi công dân Việt Nam cũng phải học lại từ đầu để nắm cấu trúc của chữ quốc ngữ mới. Chỉ phân tích đơn giản thế thôi đã thấy đề án này phi thực tế”, GS Lân Dũng phân tích.

Theo ông, tiếng Anh, tiếng Nga cũng tồn tại những điều bất hợp lý nhưng không ai thay đổi. Với tiếng Việt, ngày xưa Bác Hồ chỉ đổi một từ duy nhất, đó là từ z nhằm mục đích phân biệt ngôn ngữ ở một số vùng miền địa phương. Nhưng chỉ đổi đến mức thế thôi, còn cải cách cả một tổng thể hệ văn tự như thế là việc không thể. Hệ lụy của việc thay đổi đó là vô cùng lớn.

GS Lân Dũng cho hay, tiếng Việt đã vượt lên trên cả sứ mệnh của ngôn ngữ, trở thành phương tiện truyền tải về pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo. Vì thế thay đổi ngôn ngữ sẽ gây nên những xáo trộn vô nghĩa về các hoạt động, thậm chí làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của đất nước.

Dưới góc độ của một nhà nghiên cứu văn học, GS Hà Minh Đức cho biết, tiếng Việt hiện nay đã phát triển đến tầm cao, trở thành một phần tinh hoa văn hóa Việt Nam. Vì thế không cần đến bất kỳ một sự cải tiến nào.

Ông nói thêm: “Xưa nay, việc cải cách đã được áp dụng khá nhiều trong lĩnh vực giáo dục, trong đó có ngôn ngữ nhưng chưa có công cuộc cải cách ngôn ngữ nào thành công. Có một nghịch lý của nền giáo dục Việt Nam là các chuyên gia thì không phải nhà quản lý, mà nhà quản lý lại không phải là chuyên gia. Vì thế công tác cải cách giáo dục ít khi đi vào thực tế”.

“Kể cả khi các cơ quan hành chính chấp nhận đề án cải tiến của tác giả Bùi Hiền thì phương pháp này cũng sẽ bị vô hiệu hóa vì không thể đi vào đời sống, không hợp ý lòng dân”, GS Hà Minh Đức cho biết.

 

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Tách thầy Đại khỏi phe nhóm chia tiền
Xử lưu manh “mượn đầu heo nấu cháo”
Đạo lý làm Thầy học trò không chuột bạch
Luân lý dạy Người nghề giáo có lương tâm
Phan LanHoa phản biện luật lưu manh
mời xem thông tin đầy đủ cập nhật tại đây

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Nhà văn Dạ Ngân ngày 10 tháng 9 năm 2018 có bài viết “Sách Công nghệ Giáo dục mấy lời gan ruột” . GS Nguyễn Đăng Hưng ngày 10 tháng 9 năm 2018 cũng có bài viết ” Công nghệ Giáo dục, nên hay không, làm sao xử lý?”. Mời đọc nguyên văn hai bài viết này tại đây để rộng đường dư luận. GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT Hoàng Kim phần 1 ngày 6 tháng 9 , phần 2 ngày 9 tháng 9 và phần 3 ngày 11 tháng 9 cập nhật tại trang Tình yêu cuộc sống  https://hoangkimlong.wordpress.com//category/giu-trong-sang-tieng-viet/

SÁCH CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC – MẤY LỜI GAN RUỘT

Nhà văn Dạ Ngân

10-9-2018

Thời điểm 1978, năm mà Công nghệ giáo dục (CNGD) có mảnh đất thực nghiệm ở Giảng Võ, đất nước mình như thế nào? Thê thảm. Cả nước ăn bo bo, nỗi nhục mà dân miền Nam không quên là miền Tây Nam bộ mà cũng phải ăn bo bo. Cả nước bị dựng ngược với “thay trời đổi đất sắp xếp lại giang sơn”, với “trăm phần trăm phải hợp tác hóa tập đoàn hóa”, với “phát huy quyền làm chủ tập thể” ra rả trên loa phường loa xã và hệ thống truyền thông độc quyền.

Rồi cuộc chiến ở hai đầu đất nước, phía Bắc và Tây Nam, cuộc chiến 10 năm trời, ngài TBT ngùn ngụt khát vọng thay trời đổi đất đã bộc lộ một sai lầm chết người (trong chuỗi sai lầm của ông và ê kíp) là ghi Trung Quốc – kẻ thù vĩnh viễn vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ơi trời, có là thù truyền kiếp đi nữa thì cũng không được ghi vào như vậy, bởi đây là Hiến pháp của nước VN, kế thừa Hiến pháp 1946 kia mà.

Nhắc lại tí chút để thấy, không có chống lưng của TBT Lê Duẩn và cố vấn Trưởng Ban tổ chức Lê Đức Thọ thì có nằm mơ mà Công nghệ với thực nghiệm nhé. Chúng tôi hay đi lại với tiến sĩ Hồ Ngọc Đại từ không khí đổi mới sau khi CNGD vượt phạm vi thực nghiệm. Do anh Thân và anh Phạm Toàn là nhóm chí cốt với nhau hồi ở Hải Phòng mà anh Toàn giúp anh Đại rất nhiều ở thực nghiệm.

Nhiều lần chúng tôi hỏi vui “Ơi phò mã, học vị ấy, tư chất ấy, trình độ ấy sao không làm bộ trưởng bộ giáo dục cho dân nhờ?” (vì trong tình cảm của chúng tôi, chỉ có mấy vị không thể ai hơn: Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên), lứa anh Đại anh Toàn, chúng tôi ngưỡng mộ Hoàng Tụy và Phan Đình Diệu, riêng Kiến Giang thì không dám nghĩ đến vì anh ấy là nhân vật sốc với Đảng).

Hỏi cho vui chứ biết thừa, ông Duẩn cũng không để con rể mình làm chi cho chướng, bản thân anh Đại cũng thấy chướng và dĩ nhiên, dư luận sẽ thấy cực kỳ chướng. Anh Đại còn hay hỏi han chia sẻ với văn nghệ sĩ, trong văn giới tôi thấy anh quý thực lòng Dương Thu Hương, Nguyên Ngọc, Bùi Ngọc Tấn… (Khều chi tiết trên đây vào để nói, bảo anh Đại là phò mã mà không thèm chức bộ trưởng là không đúng, kiểu bênh ấy rất Việt Nam, rất châu Á, rất phương đông, kiếm mà dễ à, bố vợ thấy chướng mà được à? Và tội gì làm bộ trưởng chi cho vừa mang tiếng, vừa cực cái thân). Và bản thân anh Đại dễ gần, hay hay.

Nhân thân mình do mình chọn, sự phức tạp này liên quan tới vòng xoáy phán xét của lịch sử cũng không có gì lạ, kiểu lớn thuyền thì lớn sóng. Vì sao CNGD ra đời? Khát vọng cá nhân của người học tâm lý trẻ ở nước Nga Xô viết (nếu không chính xác, xin được thứ lỗi), cộng với bật đèn xanh của hai lãnh tụ họ Lê và bộ trưởng lúc đó, rằng phải thống nhất, phải có cái gì đó thống nhất cho cả hai miền, nền tảng cách mạng này bắt đầu từ lớp Một. Chủ trương thống nhất không sai nhưng như mọi thứ ngày càng hay bị phán xét là do bất cập từ hoặc duy ý chí, hoặc coi nhẹ đối tượng “được giải phóng”.

Hà Nội không tham chiếu những thành quả của miền Nam mà giáo dục là một đơn cử. Xóa hết vì con đường xã hội chủ nghĩa, xóa hết mô hình kinh tế, sách vở, nghệ thuật, giáo khoa, hệ thống tư thục từ cấp tiểu học đến đại học… để làm mới rập khuôn kiểu Bắc. Môt sự tổn thương tinh thần và tổn thương vật chất mà chừng như không nhiều người cảm nhận được hết, như những người trong cuộc. Nói tóm lại, hậu chiến bời bời, tan hoang, lòng người ly tán, có kết thúc chiến tranh nhưng chưa có hòa bình, vì hòa bình trong lòng người mới là mục đích tối thượng.

Người dân nào hay biết cái CNGD sau 2006, tức gần 30 năm thí điểm, đã nhân rộng ra bắt đầu ở Lào Cai, với học sinh dân tộc thiểu số. Bộ trưởng ưa cái gì mà chẳng suôn sẻ, nhất là chuyện bán sách và chia. Bây giờ, nhờ thông tin như vũ bão của Internet và mạng xã hội mà dân mới biết cách dạy lạ của CNGD. Dưới thời Bộ trưởng Nhạ, CNGD vừa được thẩm định 2 vòng và chính thức có 50% học sinh lớp 1 học kiểu nhìn các ô mà đọc thơ lục bát!

Vì sao có bão mạng? Sao bão mạng với BOT, bão mạng với Luật Đặc khu thì đồng thuận mà bão mạng về CNGD thì chia tuyến, trong đó trí thức, văn nghệ sĩ hai bên đều phừng phừng nổi nóng? Nguyên do khá nhiều, có những nguyên do nhạy cảm, tế nhị.

Nhưng xin đừng mạt sát dân đen, hàng chục triệu gia đình có con liên quan đến cách học lạ, hàng triệu dân thường có smartphone và fb, họ phản ứng tức thì, đồng loạt không phải từ những clip tình cờ hay bị ai xỏ mũi mà họ là những người ấm ức, thậm chí đã phẫn nộ triền miên với giáo dục mấy chục năm qua. Hàng triệu gia đình ấy không có tiền để cho con du học, tức là né nền giáo dục trầm ê này, tức là người ta không có điều kiện để tỵ nạn giáo dục!

Đã mấy lần cải cách kiểu chuột bạch, Nxb Giáo dục đã mang tiếng là Nxb ăn đủ, lần này, phát hiện về CNGD là giọt nước tràn ly. Tiếng Việt vẫn ổn, học đánh vần ráp chữ vài tháng xong, còn chính tả ư, hãy thay đổi cách học bằng thầy cô đọc và trò viết như cũ đi, vui và hiệu quả chứ, và bắt học sinh đọc nhiều sách đi, còn tái mù ư, phổ cập tiểu học mà trẻ tái mù thì nhất định không phải do hồi lớp Một chúng không học CNGD!

Những bài học không chuẩn của giáo khoa CNGD khiến người dân phát khùng thêm. Đọc thơ nhìn ô mới là học vẹt. Nhưng sao không là câu này, đại loại “Bầu ơi thương lấy bì cùng/Tuy là khác giống nhưng chung một giàn”. Vì sao phải là hai câu về Bác Hồ mà thực sự, như chúng ta từng than thở với nhau, đó là hai câu vè. Bác Hồ là danh xưng, là thương hiệu chứ tên bác là Hồ Chí Minh kia mà.

Thưa các anh, riêng hai câu này các anh biết không hay mà vẫn đưa vào sách, vậy thì hoặc các anh bộc lộ cái không chuẩn (nên mới có nhiều bài khác ít sức thuyết phục), và các anh làm cho giáo khoa thư của nền giáo dục VNCH có cơ sống lại với những lời được tôn vinh.

Từng giọt nước, dân thấy họ luôn bị hết vố này và vố khác, mất rừng, mất biển đảo, mất nhà mất đất, mất mạng do môi trường (ung thư cao nhất thế giới), và trên hết, hàng chục triệu gia đình đã ngậm đắng nuốt cay vì nạn thay sách giao khoa và cải cách liên miên của của các vị. Đang có 5 đầu mối làm sách giáo khoa mà Nxb độc quyền giấy phép vẫn chưa biết thương dân, vẫn ăn đủ. Dân phẩn uất vì người ta ngửi thấy cái mùi “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”.

Là sản phẩm gọi trắng là hàng hóa, (tư nhân hóa thì SGK cũng sẽ là hàng hóa), hãy nên chấp nhận sự phán xét. Riêng tôi, tiếng Việt và người Việt cho dù i tờ trước hay a bờ cờ trước, hay e bờ be trước, khá ổn. Không việc gì bỏ cả đời ra làm phức tạp một chuyện đơn giản là chỉ cần một kỳ đánh vần và ráp vần là có thể đọc vanh vách thơ Quê Hương của Đỗ Trung Quân (sách Tiếng Việt truyền thống tôi vừa mua). Vì vậy, khi đã bị soi, đừng nóng, như chúng tôi, viết tiểu thuyết là phải bị khen và chê tơi bời, có người viết bài mạt sát hẳn hoi vốn là bạn thiết của mình.

Dĩ nhiên sách cho lớp 1 và giáo khoa thư quan trọng hơn tiểu thuyết của chúng tôi, quan trọng nhất ấy. Như đã nói, lớp 1 là thời trăng mật của đứa trẻ với học đường, lật đổ phương pháp truyền thống để cha mẹ chúng ra rìa (không giúp được), để mà chi? Những bài học trong SGK lớp 1 nhất định phải chuẩn, tuyệt đối, trong và tinh.

Bỗng thèm những kích cỡ như Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim và bỗng nhớ GS TS Phan Đình Diệu dù như là lạc đề. Ông, PĐD ấy đã nói thẳng nhiều lần khi ông đương chức, rằng cần thay đổi thể chế chứ đừng cải đổi lòng vòng, nhưng ông vẫn kiên nhẫn lặng thầm đặt nền móng ngành Tin học cho đất nước VN. Và khi đã thấy không hợp tác với người đương quyền được nữa, ông “đi chỗ khác chơi”.

Giáo dục cần tư tưởng tổng thể trong triết lý. Sao cho không chỉ lớp 1 vui học mà sinh viên cũng vui học vì chúng không bị đại cương nắm đầu mãi với một thứ triết học hàng nửa thế kỷ qua vẫn thế? Nước Mỹ trên hết, Putin cũng bảo nước Nga trên hết, ông Tập của Trung Hoa cũng bảo nước Tàu trên hết. VN nhỏ xíu, người Việt thì quốc gia, đất đai, tổ quốc này đâu có là trên hết. Cái gì đang trên hết ở đây, dân dù có đen và có ngu, họ cũng thừa biết, lâu rồi.

Vì sao stt này dài thấy ghê? Vì tôi đứng về phe nước mắt.

Stt dài, một lần, và sẽ chấp nhận ném đá, mời các bạn.

CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC ”, NÊN HAY KHÔNG LÀM SAO XỬ LÝ?

GS Nguyễn Đăng Hưng
10-9-2018

Phần I: Vài phản biện cụ thể

Tôi rất đắn đo khi đưa lên mạng những dòng này. Bao lần định viết rồi lại xóa! Định tổ chức tọa đàm tại Đà Nẵng, lại tạm đình chỉ… Tuy ý thức được là vấn đề này liên quan đến mọi tầng lớp nhân dân, rất nhạy cảm, nhưng tôi quyết định tỏ rõ lập trường của mình và chấp nhận phản biện của mọi người.

VÀI LỜI MỞ TRƯỚC

1.- Tôi xin nói trước là tôi không đồng ý về các thái độ cực đoan, không có chút lịch sự tối thiểu khi tranh luận, để cho cảm tính chi phối rồi dùng những lời lẽ quá đáng, thậm chí mạt sát chửi rủa những người lớn tuổi có học vị cao như các ông Bùi Hiền, Hồ Ngọc Đại… Tôi xin báo trước là những còm thuộc loại này sẽ không thể tồn tại trên tường của tôi…

2.- Cũng xin nói rõ là cái gọi là “Công nghệ giáo dục, CNGD” không liên quan gì đến mưu toan cải tiến chữ viết tiếng Việt của ông Bùi Hiền! Việc ông này sau một thời gian im lặng vì đã phải đón nhận sự phản đối kịch liệt của toàn dân, đứng ra bênh vực GS Hồ Ngọc Đại, cho mình đồng thuyền đồng hội, là hành động vớ vẩn, bất minh, đáng trách như kẻ nhảy lên xe tuần hành của các cầu thủ U23 phất cờ chia phần chiến công của một ông tiến sỹ hám danh nọ!

Sự xâm phạm chữ quốc ngữ, một báu vật cùng với tiếng Việt đã quyện vào hồn dân tộc, đã bị phát giác và bị loại bỏ. Viện ngôn ngữ học qua khẳng định mới đây của GS Viện Trưởng Nguyễn Văn Hiệp: Trả lời chính thức của Viện Ngôn ngữ học về đề xuất cải cách chữ viết của ông Bùi Hiền, đã ký giấy khai tử cho công trình này. Chúng ta không nên bàn đến nữa, không nên nhắc đến nữa, một thây ma vừa được chôn!

3.- Ngoài Bắc đã duy trì cách đọc ký tự chữ quốc ngữ (A BỜ CỜ) từ Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ của các cụ Nguyễn Văn Tố, Hoàng Xuân Hãn. Trong Nam lại dùng cách đọc có ảnh hưởng của tiếng Pháp (A, BÊ, XÊ.). Hai cách đọc này có thể tồn tại song song vì ngoài Bắc vẫn đọc VTV là vê tê vê chứ không đọc vờ tờ vờ…

Không nên lấy khác biệt nhỏ này làm quan trọng để dẫn đến chia rẽ Bắc-Nam, đả kích lung tung, không có lợi cho tinh thần đoàn kết, thống nhất dân tộc!

VÀI ĐỀ NGHỊ CỤ THỂ

Tôi đã nghe tiếng từ lâu, về trường phái Hồ Ngọc Đại cho giáo dục. Tôi đã đánh giá GS là người tâm huyết lo cho giáo dục bền bỉ liên tục trong giai đoạn có bao điều bất cập tràn lan như dạy thêm học thêm…!

Tôi cũng biết có nhiều trí thức mà tôi kính trọng ủng hộ CNGD, nhất là nhóm Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn, một sĩ phu Bắc Hà mà tôi quen thân, nể trọng, một trí thức dấn thân đã có những phản biện xã hội sắc bén hợp thời cho đất nước.

1.- Xin nói rõ là cái nhìn của tôi đối với CNGD là cái nhìn phản biện, của một cá nhân với tất cả những giới hạn của nó. Nếu có điều khó chấp nhận, tôi mong nó sẽ được điều chỉnh, thẩm định, cải tiến để hiện diện song hành với các phương phảp giảng dạy truyền thống mà không có áp đặt bắt buộc. Tôi nghĩ cần phải có thời gian, có nghiên cứu thống kê khoa học (mẫu thử có giá trị là 1000 học sinh, so sánh thì phải kể đến trình độ giáo viên, điền kiện lớp học…).

Điều tôi cương quyết không đồng ý là thái độ khinh miệt phò mới nới cũ, thái độ giáo điều cao ngạo chỉ cái tôi đề xuất mới đúng mà thôi!

2.- Thành ra tôi đã đi từ lòng ngưỡng mộ, từ thiện cảm tiên thiên, tôi tự mình tìm hiểu mới ngộ ta nhiều điều. Té ra CNGD có nhiều bất cập. Tôi sẽ chân thực tỏ bày ở đây và sẽ không thoả hiệp với cái mà tôi nhận thức rõ là sai trái.

Tôi cám ơn cộng đồng mạng đã gợi cho tôi sự hoàn nghi, cái bắt đầu của mọi khám phá, và tôi thấy được nhiều điều của CNGD cần phải thẩm định!

CÁI GỌI LÀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC (CNGD)?

Trước tiên, tôi thấy khó chịu với từ “Công Nghệ Giáo dục” dùng cho việc đánh vần tiếng Việt! Nó chỉ là một thứ thủ thuật, một phương pháp cụ thể! Nâng quan điểm đến mức công nghệ nghe không ổn, Thật vậy, hễ công nghệ (technology) là phải phổ quát, có hệ thống, có thâm sâu khoa học! CNGD này phát xuất từ “Học thuyết phát triển phương pháp giáo dục” của V.V Davydov và D.B Elkonin thịnh hành tại Liên Xô những năm 70. GS Hồ Ngọc Đại đã mang mô hình GD của nước Nga về áp dụng tại Việt Nam. Thời ấy tin học chưa phát triển. Ngày nay các phương tiện thính thị của công nghệ điện tử, các phương tiện trao đổi của công nghệ thông tin có thể hỗ trợ cho việc giảng dạy mà dùng từ CNGD cho một phương pháp giản đơn của việc đánh vần, thật lòng tôi nghe không ổn! Ngay các giáo sư người Nga cũng dùng từ: phương pháp giáo dục thôi, họ đâu có rao cao giá quá đáng là “công nghệ giáo dục”!

CÓ NÊN ÁP DỤNG CNGD CHO CÁCH DẠY TOÁN KHÔNG?

Ta biết GS Hồ Ngọc Đại rất tự hào về việc dạy “toán hiện đại, cao cấp” cho học sinh cấp 1 ở trường thực nghiệm. Ông từng tuyên bố: Trẻ con lớp 1 ở trường Thực nghiệm được học tiếng Việt, toán hiện đại, cao cấp.

Đây là mặt trái của CNGD mà tôi rõ nhất, là nhà khoa học thâm niên về cơ học tính toán tại Bỉ trong 40 năm.

GS Nguyễn Tiến Dũng (Đại Học Toulouse, Pháp) đã viết một bài phản biện khá đầy đủ về việc này. Ông có nhận xét tóm lược: “Tôi e là khi học sinh lớp 1 mất quá nhiều thời gian vào việc tiêu hóa ngôn ngữ toán học hình thức, thì thời gian dành cho việc học những khái niệm cơ bản nhất của toán học lại bị giảm đi, dẫn đến hổng kiến thức cơ bản”.

Tôi xin thêm là, tại Bỉ cũng đã có một thời áp dụng cách dạy toán cách tân này dựa theo lý thuyết tập hợp (1965-1975). Sau mười năm thí nghiệm đại trà, kết quả là một đại họa của nền giáo dục Bỉ. Trẻ em không biết tính toán cụ thể, các ngành kỹ thuật cần cụ thể tính toán không thể tuyển sinh được. Một đợt phản đối mạnh mẽ phát xuất từ các phụ huynh, có đồng tình của các giáo sư đại học, các doanh nhân, chủ nhân các xí nghiệp công nghệ…! Kết quả là Bộ Giáo dục Bỉ đã phải cho ngưng cách dạy toán cách tân, cho thu hồi sách mới, trở lại với cách dạy truyền thống cho đến ngày nay.

Nước Bỉ không phải là trường hợp duy nhất tại Âu Châu. Có lẽ GS Hồ Ngọc Đại đã bị ảnh hưởng trường phái cách tân này rất thịnh hành tại Châu Âu một thời, có lan tràn sang Nga! Nhà toán học Nga Kolmogorov cũng đã mắc sai lầm khi đưa lý thuyết hình thức về tập hợp vào dạy đại trà cho trẻ nhỏ ở Nga nhưng rồi phải bỏ sau khi bị la ó phản đối!

Tóm lại, đây là một sai lầm căn bản. Tôi đề nghị phải dứt khoát loại bỏ các chương trong sách CNGD về cách dạy toán, ngỏ hầu tránh cho Việt Nam rơi vào sai lầm ê chề của châu Âu trong những năm 70!

TÁCH RỜI TRẺ EM RA KHỎI SỰ HỖ TRỢ CHĂM SÓC CỦA PHỤ HUYNH CÓ QUÁ CỰC ĐOAN KHÔNG?!

Một trong những phát biểu ấn tượng nhất của GS Hồ Ngọc Đại thường được công dân mạng trích dẫn là (xem hình bên dưới): “Ở phương pháp cũ ai cũng dạy được… nhưng với phương pháp mới của tôi thì ngoài cô giáo không ai làm được. Bố mẹ không làm được. Trẻ con chỉ học ở trường là đủ…”

Tôi thấy có gì rất hãi khi ở lứa mẫu giáo và tiểu học lại cố tình tách trẻ em ra khỏi sự chăm sóc, hỗ trợ của phụ huynh! Có thể lúc đầu phụ huynh chưa nắm bắt, nhưng dần dà sẽ biết thôi (và sau 20 năm thì học sinh sẽ thành phụ huynh thôi!)! Chủ trương này được khẳng định cho CNGD là quá chủ quan!

Tôi tự hỏi trong thử nghiệm, có thật như thế không? Phải nói phát biểu của GS Đại nếu có thì thật đáng tiếc! Ngay quan điểm này không thôi, đã đặt phương pháp của GS Đại bên bờ sai trái! Không thể quan niệm chuyện giáo dục trẻ em mà tách rời ra khỏi gia đình tổ ấm! Đấy chính là sai lầm của nhà nước cực đoan thời Stalin!

CÓ ĐÚNG CNGD THẬT SỰ ĐI TỪ ĐƠN GIẢN ĐẾN PHỨC TẠP KHÔNG?

Trong một lần khác, GS Đại khẳng định: “Nguyên tắc phát triển. Môn học thiết kế theo lôgích nội tại của Hệ thống khái niệm khoa học, tôn trọng sự phát triển tự nhiên của Đối tượng, không có sự cưỡng bức từ ngoài. Sự phát triển này sẽ là tối ưu”, nếu quá trình đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ chung đến riêng, từ đơn giản đến phức tạp…”

Giáo dục đi tư đơn giản đến phức tạp là đúng, nhưng tại sao lại tạo thêm rối rắm cho một việc đơn giản là học đánh vần. Tôn trọng sự phát triển tự nhiên là biến học sinh 5, 6 tuổi thành nhà ngữ âm học đi tìm chân lý ư? Việc này mâu thuẫn với mệnh đề cuối của phát biểu vừa trích dẫn! Ông nói đi từ đơn giản đến phức tạp, nhưng té ra trong CNGD, Hồ Ngọc Đại chính trong hành động, đã phức tạp hóa một công việc đơn giản, trừu tượng hóa một động tác cụ thể…

Ở đây, ta thấy GS Đại đang nói một đàng làm một nẻo vậy!!!

Còn mệnh đề của ông “đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ chung đến riêng” làm tôi ngao ngán! Có phải GS Đại đang cổ súy cho thói nói lý thuyết thì thao thao mà cụ thể trong việc làm thì ngược lại, nói chung chung thì hay mà đi đến riêng từng sự việc là rỗng tuếch, chả có gì!

Những tuyên bố của GS Đại dùng cho việc quảng bá CNGD thường mâu thuẫn như thế. Điều này cho ta thấy GS Đại không nhất quán trong hành trình khoa học giáo dục của mình, chưa có cộng tác viên bỏ công phản biện nghiêm túc về nội dung CNGD và kết quả là sự quả quyết thiếu cân nhắc, gây phản cảm cho người nghe khi GS Đại xuất hiện trên báo đài…

(Còn tiếp)

Được đăng bởi Xuân Nguyên vào lúc 09:42

xem tiếp…
GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT Hoàng Kim phần 1 ngày 6 tháng 9 , phần 2 ngày 9 tháng 9 và phần 3 ngày 11 tháng 9  tại đây  https://hoangkimlong.wordpress.com//category/giu-trong-sang-tieng-viet/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s