Giấc mơ thiêng cùng Goethe

GIẤC MƠ THIÊNG CÙNG GOETHE
Người già kể chuyện sử thi
Kalovi Vary, Roma, Oregon
Thắp lên trong tôi ngọn lửa
Hoàng Kim

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Goethe trao tặng cho tôi
Ngọc minh triết của Người.

Tôi giấc mơ gặp Goethe
Kalovi Vary, Czechoslovakia
trong rừng thiêng cổ tích.
Người kể chuyện sử thi

Tiệp Khắc kỷ niệm một thời
Praha Goethe và lâu đài cổ
Những khát khao của Faust,
Nỗi đau của chàng Werther

Người nhắc tôi đừng quên
kể chuyện sử thi dân mình
Cho dù học gì làm gì
Cũng đừng quên chuyện đó !

Người hỏi tôi trong mơ
Con có dám học Faust?
Chọn minh triết làm Thầy
Suốt đời theo Trí Tuệ ?

Tôi trả lời.trong mơ
Có con xin theo Người !
Con xin theo học Goethe
Người kể chuyện sử thi

Ta bàng hoàng gặp Goethe
Trên cầu đi bộ Charles
Trong 30 tượng thánh trầm tư
Tôi ngắm hình tượng Faust

Quảng trường Old Town Square
Đế Quốc La Mã Thần Thánh
Goethe lắng đọng tại Praha
Trong huyền thoại muôn đời

Tôi nhớ Người ở Frankfurt,
Di sản Người Leipzig, Strasbourg
Ông già hiền triết châu Âu
Tại bao nhiêu điểm đến …

Goethe

Tôi học Goethe qua thơ Xuân Diệu
Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Thơ Người đi cùng tôi bao tháng năm.

Tôi gặp Goethe ở châu Âu
Trong hình bóng người hiền
Cũng gặp Người tại Oregon
Nơi Miền Tây Nước Mỹ.

Tôi gặp Goethe ở châu Mỹ
Tại Ciudad Obregon
Hồ lớn ba tỷ khối nước
Cây xanh đất nước giao hòa

Tôi  gặp Người ở CIMMYT Mexico
phía cuối trời Tây
GoetheNorman Borlaug dạy cho tôi
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương

Người hóa thân
trong thanh thản
bóng cây xanh
Người đàm đạo
với Norman Borlaug
và cậu học trò nghèo
Về ý tưởng xanh
Con đường xanh
Hành trình xanh
Sự nghiệp xanh
Nhà khoa học xanh
giấc mơ hạnh phúc

Goethe là vòm cây xanh
Goethe cũng là lão nông
ngồi cùng chúng ta
chuyện trò
trên cánh đồng xanh
hạnh phúc.

Goethe Norman Borlaug
là những trí tuệ bậc Thầy.
Họ không màng hư vình
mà hướng tới đỉnh cao hòa bình
sự an lành tiến bộ.

Anh và em cùng Goethe
Ở FAO, Rome, Italy
Người hóa thân
thành nữ thần Tình Yêu (*)

Trời xanh tuyệt vời !
Trời nhân loại mênh mông !

(*) Hình ảnh Hoàng Kim ở Roma, Italia.

Giấc mơ về điểm hẹn

(*) Hình tượng Johann Wolfgang von Goethe (1749–1832) ở Roma, Italia.

Praha Goethe và lâu đài cổ. Lâu đài Praha là lâu đài cổ lớn nhất thế giới theo sách Kỷ lục Guinness. Ở đó có quảng trường Old Town Square là trung tâm trục lịch sử suốt nghìn năm với những tòa nhà cổ đầy màu sắc, các nhà thờ Gothic đồng hồ thiên văn thời trung cổ. Lâu đài cổ Praha là nơi lưu dấu sử thi muôn đời của Gớt (Johann Wolfgang von Goethe 1749–1832), vĩ nhân khoa học nhân văn, nhà thông thái, đỉnh cao văn chương thế giới. Ngày 29 tháng 9 năm 1774 là ngày Johann Wolfgang von Goethe đã phát hành kiệt tác ‘Nỗi đau của chàng Werther’ mang lại cho Goethe danh tiếng quốc tế. Xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-29-thang-9

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Có một ngày như thế

Co mot ngay nhu the 3.jpg

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim

Có một ngày như thế
Về với Trường thân yêu
Thầy bạn chung tiếp sức
Cùng nối dây cho diều.

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-mot-ngay-nhu-the/
Co mot ngay nhu the 1

Co mot ngay nhu the 5

Hội đồng tư vấn thanh lý đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ của Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh họp ngày 27 tháng 9 năm 2018

Có một ngày như thế
Ngày “Niềm vui” đó em
Niềm tin và nghị lực
Em vượt lên chính mình.

Cám ơn Thanh Giang, Bùi Xuân Mạnh  và các em. Cám ơn Phuong Lien Nguyen lời chúc: ‘Thầy Hoàng Kim của chúng em vẫn phong độ như ngày nào. Sống thật khỏe và thật vui nha thầy” . Chúc vui các bạn ngày mới vui khỏe.
Co mot ngay nhu the 7

Cám ơn Huỳnh HươngMai Trúc Nguyễn Thị đã chia sẻ và gửi ảnh tặng:  “Thanks nàng Nguyễn Thị Trúc Mai nhoaaaa! Kưng dễ sợ, tặng sách mà còn kèm theo bịch kẹo nữa chớ! Hí hí…. P/s: Dịp nào gặp thầy Hoàng Kim và nàng Mai xin chữ ký mới được! “Thương tặng” “Mến tặng” các kiểu. 😁😁

CÔNG VIỆC NÀY GIAO LẠI CHO EM
Hoàng Kim
Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo.
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm.
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động.
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi.
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng.
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này trao lại cho em.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-mot-ngay-nhu-the/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Yên Tử Trần Nhân Tông

NHÂN TÔNG ĐÊM YÊN TỬ
Hoàng Kim

“Tỉnh thức giữa đêm thiêng Yên Tử/ để thấm hiểu đức Nhân Tông/ Ta thành tâm đi bộ/ lên tận đỉnh chùa Đồng/ Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc…”. Nhân Tông Đêm Yên Tử là một trãi nghiệm sâu lắng nhất đời tôi. Đêm nay, nửa đêm tôi đọc kỹ lại Yên Tử Trần Nhân Tông/  Ngọc Phương Nam/; Lên non thiêng Yên Tử /Trúc Lâm Trần Nhân Tông/ Lời dặn của Thánh Trần/ Thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ / Hiểu ‘sách nhàn đọc giấuBiết ‘câu có câu không‘/ Ân tình đất phương Nam /  Minh quân và đạo sĩ /. Sự tiếp cận minh triết, rõ nét nguồn thông tin càng chứng ngộ sâu sắc hơn sự dấn thân của Người. Ân tình đất phương Nam, Minh quân và Đạo sĩ thật xức động và ngưỡng mộ. Có Người Cha ấy và có Người Con ấy cùng tâm đức của nhiều trí tuệ lớn mới tạo dựng nên được non sông Việt Nam đất nước con người.

Yên Tử Trần Nhân Tông

Đêm Yên Tử, vào lúc nửa đêm, ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Thân (1308) sao sáng đầy trời, Trúc Lâm hỏi: “Bây giờ là mấy giờ?”. Bảo Sát thưa: “Giờ Tý”. Trúc Lâm đưa tay ra hiệu mở cửa sổ nhìn ra ngoài và nói: “Đến giờ ta đi rồi vậy”. Bảo Sát hỏi: “Tôn sư đi đâu bây giờ?”. Trúc Lâm nói: “Mọi pháp đều không sinh. Mọi pháp đều không diệt. Nếu hiểu được như thế. Chư Phật thường hiện tiền. Chẳng đi cũng chẳng lại”.

( trước đó) sách “Tam tổ thực lục”, bản dịch, Tư liệu Viện Khảo cổ học, ký hiệu D 687, trang 12 ghi: “Ngày 18 ngài lại đi bộ đến chùa Tú Lâm ở ngọn núi Kỳ Đặc, Ngài thấy rức đầu. Ngài gọi hai vị tì kheo là Tử Danh và Hoàn Trung lại bảo: ta muốn lên núi Ngoạ Vân mà chân không thể đi được thì phải làm thế nào? Hai vị tỳ kheo bạch rằng hai đệ tử chúng tôi có thể đỡ đại đức lên được. Khi lên đến núi, ngài cảm ơn hai vị tỷ kheo và bảo các ngươi xuống núi tu hành, đừng lấy sự sinh tử làm nhàm sự.

Ngày 19 ngài sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu ở núi Yên Tử giục Bảo Sát đến ngay núi Ngoạ Vân….. Ngày 21, Bảo Sát đến núi Ngoạ Vân, Ngài thấy Bảo Sát đến mỉm cười nói rằng ta sắp đi đây, sao ngươi đến muộn thế?” “Mùa đông tháng 11, … ngày mồng 3, thượng hoàng (Trần Nhân Tông) băng ở Am Ngoạ Vân Núi Yên Tử”. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Nhà Xuất Bản Văn hoá Thông tin, 2004, trang 570 chép.

Nhân Tông đêm Yên Tử

Hành trình di sản để chứng ngộ Nhân Tông đêm Yên Tử, tôi ra đi từ lúc nửa đêm bắt đầu từ nơi khởi đầu tại khu lăng mộ đức Nhân Tông theo đường xưa mây trắng lên chùa Đồng, Tôi đi một mình trong đêm lạnh không trăng sao và thật tỉnh lặng với một đèn pin nhỏ trong tay, gậy trúc, khăn quàng cổ và ba lô. Tôi đã tới vòm đá hang cọp phía sau chùa Bảo Sái gần đỉnh chùa Đồng lúc ba giờ khuya và ngồi dưới chân Bụt Trần Nhân Tông với cảm giác thành tâm, an nhiên thật lạ, không lo âu và không phiền muộn. Nơi đây giờ này là lúc Trần Nhân Tông mất. Người từ chùa Hoa Yên lúc nữa đêm đã nhờ Bảo Sái, một danh tướng cận vệ và đại đệ tử thân tín, cõng Người lên đây. Bảy trăm năm sau, giữa đêm thiêng Yên Tử, đúng chính nơi và  khoảng giờ lúc đức Nhân Tông mất, tôi lắng nghe tiếng lá cây gạo trên 700 tuổi rơi rất mỏng lúc canh khuya. Bóng của Phật Nhân Tông mờ mờ bình thản lưng đền. Lúc đó vụt hiện trong đầu tôi bài kệ “Cư trần lạc đạo” của đức Nhân Tông và bài thơ “đề Yên Tử sơn, Hoa Yên Tự” của Nguyễn Trãi văng vẳng thinh không thăm thẳm vô cùng

Cuộc đời Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông (1258-1308)  là một trong những vị vua anh minh nhất của lịch sử Việt Nam. Người tên thật là Trần Khâm, vua Trần thứ ba (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Với 50 năm cuộc đời, Trần Nhân Tông đã kịp làm được ít nhất năm việc lớn hiếm thấy và khó ai bì kịp ở mọi dân tộc và mọi thời đại: 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thời đó; 2) Tổ sư thiền phái Trúc Lâm và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306), là vua Phật Việt Nam. 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với  thắng tích Trúc Lâm Yên Tử và kiệt tác Trần Nhân Tông; 4) Người thầy chiến lược của sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”, mở đất phương Nam bằng vương đạo, thuận thời, thuận người . 5) Nhà trị loạn kỳ tài đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt ở thời khắc quyết định, biến nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể.

Thơ Thiền Trần Nhân Tông

Cư trần lạc đạo phú
Đại Lãm Thần Quang tự
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
Đăng Bảo Đài sơn
Đề Cổ Châu hương thôn tự
Đề Phổ Minh tự thủy tạ
Động Thiên hồ thượng
Họa Kiều Nguyên Lãng vận
Hữu cú vô cú
Khuê oán
Lạng Châu vãn cảnh
Mai
Nguyệt
Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ
Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính
Sơn phòng mạn hứng
I
II
Sư đệ vấn đáp
Tán Tuệ Trung thượng sĩ
Tảo mai
I
II
Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn
Tây chinh đạo trung (tái chinh Ai Lao)
Thiên Trường phủ
Thiên Trường vãn vọng
Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai
Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng
Trúc nô minh
Tức sự
I
II
Vũ Lâm thu vãn
Xuân cảnh
Xuân hiểu
Xuân nhật yết Chiêu Lăng
Xuân vãn

Trúc Lâm Trần Nhân Tông
Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu.
Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim…
(Trần Nhân Tông)
Hoàng Kim kính cẩn cảm nhận

Người ơi con đến đây tìm
Non thiêng Yên Tử như tranh họa đồ
Núi cao trùng điệp nhấp nhô
Trời xuân bảng lãng chuông chùa Hoa Yên

Thầy còn dạo bước cõi tiên
Con ươm mầm sống xanh thêm ruộng vườn
Mang cây lộc trúc về Nam
Ken dày phên giậu ở miền xa xôi

Cư trần lạc đạo (*) Người ơi
Tùy duyên vui đạo sống đời thung dung
Hành trang Thượng sĩ Tuệ Trung
Kỳ Lân thiền viện cành vươn ra ngoài

An Kỳ Sinh trấn giữa trời
Thơ Thiền lưu dấu muôn đời nước non …

Lên non thiêng Yên Tử
Hoàng Kim


Tỉnh thức giữa đêm thiêng Yên Tử
Để thấm hiểu đức Nhân Tông
Ta thành tâm đi bộ
Lên tận đỉnh chùa Đồng
Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc

“Yên sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải ngọc châu lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng” (1)

Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong
Trời mới ban mai đã rạng hồng
Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả
Nói cười lồng lộng giữa không trung
Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh
Cỏ cây chen đá rũ tầng không
Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu
Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng. (2)

Non thiêng Yên Tử
Nghìn năm Thăng Long, Đông Đô, Hà Nôi
Bảy trăm năm đức Nhân Tông
Non sông bao cảnh đổi
Kế sách một chữ Đồng
Lồng lộng gương trời buổi sớm
Trong ngần, thăm thẳm, mênh mông …

* (1) Thơ Nguyễn Trải (2) Bản dịch thơ của Hoàng Kim
Nguồn: THUNG DUNG thơ văn Hoàng Kim Lên non thiêng Yên Tử (2011) https://thungdung.wordpress.com/yentu/

ÂN TÌNH ĐẤT PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Thương nước biết ơn bao người ngọc (1)
Vì dân qua bến nhẹ tênh lòng
Nhớ bao tài đức đời phiêu dạt
Ân tình lưu mãi những dòng sông.

“Mây núi nào không bay cạnh núi,
Sóng nào chẳng ở chốn xa khơi.” (2)
Ban mai nắng hửng Tiên Sơn đẹp
Vàng sáng trời quang Biển Hồ ơi.

(1) An Tư, Huyền Trân, Ngọc Hoa, Ngọc Vạn, …
(2) Bạch Ngọc tiếp dẫn thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ (1)

Trần Nhân Tông (1247-1308): Minh quân và đạo sĩ biên khảo của Nguyễn Đức Hiệp (Nguồn: https://nghiencuulichsu.com/2012/10/02/tran-nhan-tong-1247-1308-minh-quan-va-dao-si/) là một chứng ngộ sâu sắc. Xin phép tác giả được trích dẫn toàn văn ở tài liệu kèm theo.


Tài liệu trích dẫn:

Trần Nhân Tông (1247-1308): Minh quân và đạo sĩ
biên khảo của Nguyễn Đức Hiệp(Nguồn: https://nghiencuulichsu.com/2012/10/02/tran-nhan-tong-1247-1308-minh-quan-va-dao-si/)

“Nhà ta vốn là dân hạ bạn
đời đời ưa chuộng việc hùng dũng”
Trần Nhân Tông

Trong lịch sử Việt Nam, có những vị vua giỏi giang cáng đáng và lãnh đạo nước trong những tình huống khó khăn. Trần Nhân Tông là một trong những vị vua đầu khai triều và xây dựng nhà Trần. Triều ông là giai đoạn cực thịnh nhất của nhà Trần. Ông lãnh đạo nước trong những thời kỳ gay cấn nhất của lịch sử Việt Nam: chiến tranh xâm lược của đạo quân Mông Cổ reo rắc kinh hoàng ở khắp lục địa Á-Âu.

Trong hai cuộc xâm lăng của Mông Cổ lần hai và lần ba, ông đã cùng tướng sĩ và nhân dân đối phó và đánh bại giặc. Ông là người mở ra Hội nghị Diên Hồng hỏi ý kiến toàn dân và cùng nhân dân đối kháng địch. Trần Nhân Tông không những là vị vua cương chính và gần dân mà còn là một đạo sĩ Phật giáo hiền tài, một trong ba sư tổ sáng lập ra trường phái Trúc Lâm duy nhất ở Việt Nam.

1- Con người và sự nghiệp

(a) Bản chất con người

Thái tử Trần Khâm tức Trần Nhân Tông lên ngôi vua thay thế Thượng Hoàng Thanh Tông năm 1279. Ông là một vị vua có cốt ở dân và có một târn hồn Việt cội rễ. Ẩn tàng trong ông là ý thức về nguồn, gợi nhớ gốc tổ Rồng Tiên, như lời ông từng nói với con Trần Anh Tông và Quốc Công Trần Quốc Tuấn: “Nhà ta vốn là dân hạ bạn, đời đời ưa chuộng việc hùng dũng… thích hình rồng vào đùi để tỏ ra không quên gốc.” Tục xâm hình rất phổ biến trong dân gian Việt Nam từ thời Hùng Vương, đến đời Trần Nhân Tông thì phát triển mạnh mẽ. Từ vua quan đến quân dân đều vẽ xâm hình rồng trước bụng, sau lưng và hai vế đùi. Lúc này người ta chẵng những quan niệm xâm hình rồng để khi xuống nước không bị giao long làm hại mà còn ngầm nhắc nhở nhau về một nguồn gốc như lời vua nhắn nhủ.

Tục này thịnh hành đến nổi người Trung Hoa trông thấy gọi là “thái long” tức rồng vẽ. Theo sứ nhà Nguyên Trần Phụ, thì mỗi người dân Đại Việt còn thích chữ “Nghĩa di quyền phụ, hình vu báo quốc” (Vì việc nghĩa mà liều thân, vì ơn nước mà báo đền). Điều này cho thấy dưới đời vua Trần Nhân Tông, quân dân đều một lòng và tụ tập quanh một ông vua có căn cơ là gốc dân.

(b) Tư cách lãnh đao

Nhân Tông là một vị vua anh minh, biết dùng và trọng dụng nhân tài. Đời ông, nhân tài, anh hùng, tuấn kiệt lũ luợt kéo ra giúp nước, lòng người như một. Bên ông, về quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật .., về văn học có các văn thi sĩ uyên bác như Nguyễn Thuyên, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Riêng Nguyễn Thuyên là người khởi đầu dùng chữ Nôm làm thơ phú, văn hay như Hàn Dũ bên Trung Quốc ngày xưa nên Nhân Tông cho đổi tên là họ Hàn.

Sự hiểu người và dùng người của ông được thể hiện qua một câu chuyện tiêu biểu sau. Trong không khí khẩn trương, khi con trai của Hốt Tất Liệt là Thái tử Thoát Hoan đang sôi sục căm hờn điều động binh mã ở biên thùy để sửa soạn tràn vào Đại Việt. Vào một ngày cuối năm Nhâm Ngọ (1282), tại bến Bình Than có một cuộc họp lịch sử giữa vua Trần Nhân Tông và các tướng sĩ. Giữa lúc vua Nhân Tông và mọi người đang bàn bạc sôi nổi, vua chợt nhìn ra ngoài sông và thoáng thấy một chiếc thuyền lớn chở đầy than theo dòng đổ về xuôi. Nhác thấy trên thuyền có một người đội nón lá, mặc áo ngắn, ngộ ngộ trông như người quen, vua bèn chỉ và hỏi quan thi thần:

– Người kia có phải là Nhân Huệ Vương không?

Rồi lập tức sai quân cheo thuyền nhỏ đuổi theo. Nhưng lát sau chỉ thấy quân trở về không, tâu với vua là ông lái ngang bướng ấy không chiu đến mà chỉ trả lời rằng:

– Lão già này là người bán than, có việc gì mà vua gọi đến!

Nghe thấy thế, các quan rất đổi ngac nhiên và lo cho người bán than, cái tội khi quân mạn thượng này dù xử nhẹ cũng phải dăm chục trượng là ít. Nhưng Nhân Tông vẫn tươi cười mà rằng:

– Thế thì đúng là Nhân Huệ Vương rồi, người thường không dám trả lời ta như thế!

Rồi sai nội thị đi gọi: lần này “lão ta” chịu đến. Vua quan nhìn ra thì đích thị không sai. Người lái thuyền bán than đó chính là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Đội chiếc nón lá và bận tấrn áo nâu ngắn bạc phếch, quần sắn tới đầu gối, trông ông ta thật phong trần. Nhưng lạ thay, cuộc sống lam lũ vẫn không làm mất được cái vẽ tinh anh quắc thước và dáng dấp hiên ngang ở người tướng vũ dũng của cuộc kháng chiến chống Mông Cổ năm xưa, vì nóng tính và trót phạm lỗi với triều đình nên bị cách chức và tịch thu gia sản. Chuyến đi hôrn nay của ông tình cờ lại hóa hay

– Thế nào, liệu khanh còn đủ sức đánh giặc hay không? – Nhân Tông ướm hỏi.

Nghe thấy hai chữ “đánh giặc”, mắt Trần Khánh Dư vụt sáng:

– Dạ, thần còn đủ sức. Mấy năm nay vung rìu đẵn gỗ, cánh tay thần xern ra còn rắng rỏi hơn xưa.

Nhân Tông cười vui vẽ và ngợi khen:

– Quả là gan Trần Khánh Dư còn bền hơn sắt đá. Được rồi còn phải xem khanh lập công chuộc tội ra sao?

Đoạn xuống chiếu tha tội cho Trần Khánh Dư, ban mũ áo, phong làm phó tướng quân rồi cho ngồi ở ghế cuối hàng vương để bàn việc nước. Thế là triều đình lại có thêm được một người tài giỏi đứng ra phò vua giúp nước.

Sự dùng người của Nhân Tông như thế xứng đáng phong cách của một người lãnh đạo: hiểu và dùng người đúng chỗ.

(c) Cách cư xử người

Trần Nhân Tông là một vị vua khí khái và nhân đức. Đối diện với bao phong ba bão táp, ông lãnh đạo tướng sĩ và nhân dân chống đỡ những cơn hiểrn nguy. Nhưng không lúc nào là ông không để ý đến tình trạng của quân dân.

Khi quân Mông Cổ với khí thế hung tàn tràn vào Đại Việt, Hưng Đạo Vương Trần Quoc Tuấn vì kém thế thua chạy rút về Vạn Kiếp. Nhân Tông nghe Hưng Đạo Vương thua, liền ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Dương rồi cho vời Hưng Đạo Vương đến bàn việc, nhân thấy quân mình thua, trong bụng không yên, mới bảo Hưng Đạo Vương rằng:

– Thế giặc to như vậy, mà chống nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân?

Hưng Đạo Vương tâu rằng:

– Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã ­tắc thi sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng.

Nhân Tông nghe lời nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên.

Cũng vậy, đối với quân thù, trong trận chiến thắng lịch sử của quân ta ở Tây Kết (Khoái Châu, Hải Hưng), tướng giặc là Toa Đô bị trúng tên chết và Ô Mã Nhi phải chốn chui xuống thuyền vượt biển chạy về Trung Quốc. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp, Nhân Tông thấy người dũng kiện mà lại hết lòng với chúa, nên xúc động mới than rằng: “Làm bầy tôi nên như người này” rồi cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô, sai quân dùng lễ mai táng cho tử tế.

Khi bóng quân Mông Cổ không còn trên đất Nam, triều đình bắt được một tráp chứa các biểu hàng của một số quan. Số là khi quân giặc đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai lòng, có giấy má đi lại với chúng. Đình thần muốn lục tráp ra để trị tội, nhưng Nhân Tông và Thánh Tông Thượng Hoàng nghĩ xa đến sự hoà giãi dân tộc nên sai đem đốt cả tráp đi cho yên lòng mọi người và cùng nhau xây dựng lại cố đô. Duy chỉ những người thực sự hàng và hợp tác với giặc mới bị trị tội.

(d) Trị nước

Trách nhiệm giữ nước đã xong, Nhân Tông còn phải lo việc ngoại giao với giặc và xây dựng lại đất nước và con người. Với nhà Nguyên, Mông Cổ, vua không kiêu căng khi thắng, mà hoà khí, khiêm nhượng nhưng nhân chính. Sự tàn phá của quân Mông Cổ thật nặng nề đến nổi, lúc chiến thắng trở về Thăng Long, vua không còn cung điện để ở mà phải tạm trú ở Lăng thị vệ. Trong tờ biểu gởi Hốt Tất Liêt, Nhân Tông đã phải viết: “đốt phá hết chùa miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên, cướp bóc dân gian, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào trừ …”.

Hậu quả của chiến tranh tan khốc như vậy cho nên phải có chính sách an dân và ủy lạo dân. Sau cuộc chiến,

Nhân Tông xuống chiếu đại xá cho thiên hạ. Nơi nào bị địch đốt phá thì tha tô ruộng và tạp dịch toàn phần, các chổ khác thì xét miễn giảm theo thứ bậc khác nhau. Chinh sách khéo léo và có tầm nhìn xa này, thể hiện một tinh thần thương dân và ở một đầu óc có tư tưởng đầu tư xây dựng lâu dài, đã được kể lại trong quyển “Long thành dật sự” như sau:

Sau chiến tranh, thành Thăng Long nhiều đoạn bị san bằng, vua Nhân Tông định hạ chỉ gấp rút xây lại thành

trì. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn can rằng: “Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp của triều đình phải làm ngay không thể chậm trễ được là việcc ủy lạo nhân dân. Hơn 4 năm, quân giặc hai lần tràn sang quấy rối, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng, đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuết lộc, đi lính và đóng thuế, làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua được trở về yên ổn. Việc làm trước hết là chú ý ngay đến dân, những nơi nào bị tàn phá, tuỳ tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế; nơi nào bị tàn phá quá nặng, có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “chúng chí thành thành” nghĩa là ý chí của dân là một bức thành kiên cố. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay, xin nhà vua xử lý.”

Vua Nhân Tông vui vẽ nghe theo lời khuyên của Trần Quốc Tuấn. Đây cũng là một bài học quan trọng mà gần đây chúng ta đã không nắm mà nguy hơn nữa là đã làm ngược lại.

Cũng vậy để cải tổ bộ máy hành chánh, và thúc đẩy nền kinh tế giúp dân giàu mạnh. Trần Nhân Tông quyết định giảm thủ tục, các quan lộc và quan liêu trong nước. Trước một bộ máy quá lớn và quá nặng nề từ Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện, đến các quan, cac lục bộ, các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục..), các đài (Ngự sử đài), các viện (Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm hình viện, Quốc sử viện, Thái y viện,..), các ty .. khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên :

” Sao một nước bé bằng bàn tay mà phong nhiều quan thế! “

Lại một lần nữa, vấn đề này cũng là vấn đề mà hiện nay chúng ta đang trực tiếp đối diện

(e) Trung hiếu và gia huấn

Trần Nhân Tông coi việc trung hiếu là quan trọng hàng đầu. Đối với thượng hoàng và các bề trên ông đều hết lòng đáp nghĩa. Ông thường lễ long trọng hàng năm trước các lăng tiền bối. Bài thơ của ông làm lúc về bái yết lăng ông nội Trần Thái Tông vẫn còn để lại trong sử sách.

Trượng vệ thiên môn túc

Y quan thất phẩm thông ..

(Qua nghìn cửa chào nghiêm túc,

Đủ áo mũ các quan của bảy chức ..)

Khi ông là Thượng hoàng, đối với con ông là Trần Anh Tông, ông để tự do nhưng đều khuyên bảo những điều nhân đức về phép trị dân. Sử sách chép rằng, Anh Tông là người có hiếu nhưng thường uống rượu và lẽn đi chơi đêm khắp kinh thành, đến gà gáy mới về. Vì thế có lúc Nhân Tông phải có thái độ cứng rắn.

Thang năm năm Kỷ Hợi (1299), vua Anh Tông uống rượu xương bồ say quá. Thượng hoàng Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định), nơi các Thượng hoàng thường ở an dưỡng, về kinh sư, quan trong triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem khắp các cung điện, từ sáng đến trưa. Người trong cung dâng cơm, Nhân Tông ngoãnh trông, không thấy vua, ngạc nhiên hỏi ở đâu?

Cung nhân vào đánh thức nhưng vua say quá không tỉnh. Ông giận lắm, trở về Thiên Trường ngay, xuống chiếu cho các quan ngày mai đến họp ở phủ Thiên Trường. Đến chiều, vua Anh Tông mới tỉnh, biết Thượng Hoàng về kinh, sợ hải quá, vội vàng chạy ra ngoài cung gặp một người học trò tên Đoàn Nhữ Hài, mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủ Thiên Trường. Nhân Tông xem biểu rồi quở mắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Từ đó vua Anh Tông không uống rượu nữa.

2- Xuất thế và thơ văn

Sau khi quân xâm lăng Nguyên Mông Cổ không còn dám có tham vọng chiếm Đại Việt, năm năm sau (1293) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con ở Thăng Long rồi rút về Thiên Trường đi ngao du và bắt đầu xuất thế. Trước lúc đó, ông đã là một nhà đạo sĩ và thi văn nổi tiếng đời Trần. Đời của ông lúc này chuyển qua một giai đoạn khác, việc nước và gia đình đã xong giờ đến việc mình và đời sống tinh thần của bản thân.

Ông cùng các đệ tử của mình lên núi Yên Tử (Quảng Ninh) xây dựng các chùa. Một trong những chùa nổi tiếng nhất là chùa Hoa Yên. Ông là vị “tổ” đã có công lớn trong việc xây dựng nên phái Phật giáo ở vùng Yên Tử Sơn này. Trần Nhân Tông, cùng sư Pháp Hoa và sư Huyền Quang là tam tổ của trường phái Trúc Lâm và thường được goi là phái Trúc Lâm Tam Tổ vì chỉ riêng ở Việt Nam mới có.

Sự nhập thiền của Trần Nhân Tông không phải là một tiêu cực yếm thế. Thiền Trúc Lâm mang một hinh thái nữa có nữa không, nữa thực nữa hư và có một tinh thần biện chứng tích cực. Một thiền Phật giáo nhập thế mà tất cả mọi người dân đều có thể áp dụng theo đuổi ở mọi nơi, mọi lúc trong đời sống không phải chỉ ở cửa chùa. Bắt nguồn từ thiền Vô Ngôn thông, quan điểm cơ bản của thiền Trúc lâm là “tức tâm tức Phật”, Phật ở tâm, ở trong ta, khi đốn ngộ thì ta là Phật và Phật là ta. Từ Yên Tử Sơn, lâu lâu Nhân Tông đi ngao du các nơi, thăm thắng cảnh thanh bình của quê hương mình. Lúc qua Thiên Trường vào một buổi chiều, trong cảnh tranh tối tranh sáng của đồng quê Việt Nam, dưới con mắt Thiền của mình, ông đã xúc cảm làm một bài thơ tựa đề “Thiên Trường vãn vọng”

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên

Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận

Bạch lộ song song phi hạ điền

(Xóm trước thôn sau tựa khói lồng

Bóng chiều dường có lại dường không

Mục đồng sáo vẵng trâu về hết

Cò trắng từng đôi hạ xuống đồng)

Những buổi chiều của đồng quê Việt Nam đẹp đẽ và yên tỉnh như kia là một hiện thực, đã có từ nghin năm nay trong đời sống nhân dân, và đã tác động mạnh mẽ vào một tam hồn Việt cội rễ của đạo sĩ Trần Nhân Tông.

Danh tiếng của đạo sĩ Trần Nhân Tông vang lừng khắp Đại Việt đến tận đất Chiêm Thành. Trong cuộc thăm viếng lịch sử chưa từng có của một Thượng hoàng nước Đại Việt, cả Chiêm Thành từ vua quan đến nhân dân một lòng tôn kính một hiền sĩ từ phương xa ghé vào. Nhân Tông cũng xúc động và học hỏi nhiều từ một nền văn minh khác. Đối với ông, con người đâu đâu cũng vậy. Biên giới chỉ là một hàng rào giã tạo đặt ra bởi sự không thông hiểu giữa con người. Ông đã nhin xa và muốn thắt chặt tình thân hữu anh em của hai dân tộc Việt-Chiêm. Ông đề nghị với vua Trần Anh Tông kết hợp con gái Nhân Tông (tức em gái Trần Anh Tông) là công chúa Huyền Trân với vua Chiêm Thành. Cả Chiêm Thành, từ sự kính trọng đối với một đạo sĩ hiền tài này, đã hoan hỷ chấp nhận. Vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III mà trước đây là thái tử Harijit đã cùng đồng minh Đại Việt chống quân Nguyên đổ bộ ở Chiêm Thành) đã tặng Đại Việt hai châu Ô và châu Rí trong cuộc hôn nhân lịch sử này. Nhưng tiếc thay sau khi Chế Mân và Trần Nhân Tông mất, chiến tranh lại tái diễn giữa hai dân tộc.

Năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Sư Pháp Hoa thiêu xác ông, nhặt hỏa cốt và hơn ba ngàn hạt xá lị để vào hộp, mang về chùa Từ Phúc ở kinh sư.

Mùa thu năm 1310, linh cửu chứa hỏa cốt Thượng hoàng được rước về chôn ở làng Quý Đức, Phủ Long Hưng (Thái Bình). Khi nghe tin ấy, cả nước đều muốn tiễn linh cửu người Việt hiền tài này lần cuối cùng. Trước hết, tạm quàn Nhân Tông ở điện Diên Hiền, khi sắp phát dãn, đã đến giờ rồi mà quan liêu dân chúng đứng xem đầy khắp cung điện, ngay cả tể tướng cầm roi xua đuổi mà cũng không thể giản ra được. Vua cho gọi Trịnh Trọng Tử đến bảo rằng: “Linh cửu sắp phát dẫn mà dân chúng đầy nghẽn như thế này thì làm thế nào ?”. Trọng Tử là người có tiếng là nhiều tài năng trí xảo nhất Thăng Long và cũng rất giỏi về âm nhạc. Trọng Tử lập tức đến thềm Thiên Trì gọi quan Hải khấu và quan Hổ dực do Trọng Tử trông coi đến ngồi la liệt ở thềm, sai hát mấy câu hát Long Ngâm. Mọi người đều ngạc nhiên, kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người, linh cửu mới rước đi được. Long Ngâm khúc là một lối hát vãn, giọng bi ai, nghe rất cảm động … Suốt mấy ngày ấy từ Thăng Long đến Thái Bình, LonNgâm khúc của cả nước theo linh cửu của ngài đến nơi an nghĩ cuối cùng.

Một ngôi sao sáng đã vụt tắt trên bầu trời nước Đại Việt. Mặc dầu thể xác ông không còn và đã tan thành tro bụi như ông muốn, nhưng hồn ông vẫn còn trong lòng dân tộc Việt.

Lời bạt:

Trong lịch sử trên thế giới rất hiếm người tài vừa là vua trị vì vừa là một hiền triết. Văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị an độ nhân dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations”. Ở phương đông hơn mười hai thế kỷ sau có Trần Nhân Tông, cũng một minh quân, sáng lập trường phái thiền Trúc Lâm Việt Nam với các tác phẩm thiền “Khoá Hư lục”(1), “Thiền lâm thiết chủy ngữ lục”, “Tăng già toái sự” (5) không kém sâu sa.

Thiền Trúc Lâm Yên tử tuy không còn, nhưng dư âm vẫn còn vọng: cuối thế kỷ 18, Ngô Thì Nhậm mong tái lập lại dòng thiền này với tác phẩm “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, gần đây chùa Trúc Lâm ở Đà Lạt là một cố gắng mong muốn khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hoàng thành cổ Thăng Long nay đã được khám phá, một ngày nào đó tôi hy vọng là điện Diên Hiền sẽ được hồi phục. Nguời người sẽ được đến tận nơi vua làm việc, đãi yến, nơi linh cửu vua tạm quàn, hình dung cảnh quan và tưởng nhớ mùi hương thiền toả ngát sáu trăm năm mươi năm trước và tưởng tượng trở lại thời vàng son của thiền Việt Nam với minh quân Trần Nhân Tông. Núi Yên Tử giờ đã có cáp treo, nhưng đi hành hương đường dốc bộ vẫn là tốt nhất theo dấu chân của Thượng hoàng Nhân Tông.

(1) Theo Thiều Chửu và một số nhà nghiên cứu cho là Trần Nhân Tông là tác giả “Khóa hư lục” chứ không phải Trần Thái Tông

Tham khảo

(1)     Đại Việt Sử Ký toàn thư, Quyển 5 và 6, Kỷ Nhà Trần, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, 1993

(2)     Khuyết danh, Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990

(3)     Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận,http://www.quangduc.com/lichsu/17vnpgsuluan.html

(4)     Tạ Ngọc Liễn, Vài nhận xét về Thiền Tông và phái Trúc Lâm – Yên Tử đời Trần, Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (175), tháng 7,8/1977, p. 51-62

(5)     Nguyễn Duy Hinh, Yên Tử – Vua Trần – Trúc Lâm, Nghiên cứu Lịch sử, số 2 (173), tháng 3,4/1977, p. 10-21.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter




 

 

 



 


 

 

 

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim
Cao hơn trang văn là cuộc đời. Đó là những người bạn sống đẹp trong lòng tôi. Tôi chưa vội viết về họ mà chỉ neo lại ít hình ảnh tư liệu để nhớ … Ngắm những người bạn cũ, lòng tôi bồi hồi xúc động và nhớ lại. Mỗi người đều có câu chuyện của riêng mình. Tình bạn đã ảnh hưởng và lưu lại dấu ấn trong đời ta. “Dù chúng ta đang ở đâu, chính bạn hữu đã tạo nên thế giới.  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Tháng trước, các bạn lớp tôi hẹn nhau về Nha Trang họp mặt. Nơi đó có vợ chồng anh chị Хай Шам Хо Hue DO Thi Minh ở và cũng công tác nhiều năm ở đấy. Ai cũng vui thích và có một tuần hội ngộ thật vui. Anh Trần Văn Minh và tôi bận vi65c em BM Nguyễn ở Tây Nguyên không về được. Trung Trung, Hinh Lâm Quang và các bạn gợi lại nhiều chuyện cũ thuở xưa thật hay. Hoàng Kim lưu lại ở đây để quý thầy bạn rỗi rãi ghé đọc.

Trung Trung viết: Nhân 45 năm mới có dịp về lại Na Hoa Hữu Lũng,Lạng Sơn, nơi thời sinh viên chúng tôi đã từng lao động và học tập ở đó thời gian ngắn. Nhìn lại chốn cũ lòng bồi hồi xúc động nhớ lại một thời thanh niên tuổi trẻ. Một vài mẩu chuyện vui nho nhỏ kể lại để những ai đã cùng trải qua những tháng ngày sinh viên ấy nhớ đến nhau bởi những kỷ niệm xưa.

– Câu chuyện thứ nhất : CÂY BƯỞI ( con trai đôi lúc cũng có giá).

Năm ấy lớp chúng tôi đi lao động rèn nghề tại nông trường Hữu Lũng Lạng Sơn. Tuổi trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn, lao động khỏe ăn uống thì kham khổ, cơm ngô nhưng chả mấy bữa được no lúc nào cũng thấy đói và đói triền miên. Buổi trưa nọ sau khi xới cỏ dứa xong thì một toán chúng tôi gồm tám đứa trong đó có ba đứa con gái trên đường đi về vừa đi vừa bàn tán rất vui vẻ. Bỗng một chị lớn trong toán phát hiện trong vườn nhà dân có một gốc bưỏi xum xuê và rất nhiều quả. Lũ con gái vào mua và sau một hồi trả giá thì gia chủ đồng ý bán cho mấy quả bưỏi với giá hai hào một quả( hai hào lúc đó cũng có giá trị vì học bổng nhà nước cấp cho sinh viên nữ là hai mưoi hai đồng một tháng). Trưa thì nắng cả lũ trai gái ngồi dưói bóng cây mát rưọi ấy ăn những múi bưỏi ngọt lim, thật là sung sướng.Cả trai cả gái hồ hởi xơi hết bốn quả bưỏi đã mua với tám hào bạc.Ừ thì rằng đã biết chỗ rồi nhé, rằng thì hẹn nhau những ngày sau đó có cơ hội sẽ đi mua nữa. Lũ con gái sau đó có đến mua nữa nhưng ông chủ cây bưỏi nói nhà có việc phải để dành không bán . Nhưng điều kỳ lạ là lũ con trai đến đó và vẫn có bưỏi mang về cả lũ cùng ăn. Mãi đến bây giờ 45 năm sau lũ con gái mới biết rằng, số là khi đó ông chủ của cây bưỏi có cô con gái kém lứa chúng tôi chừng hai hay ba tuổi gì đó nên ông cũng muốn một đứa trai trong đám sinh viên làm rể nhà ông và rồi ..lời mời các con cứ ra chơi, con gái của bố cũng mến các con lắm đó…rằng thì là …ước gì có đứa ở lại đây làm con của bố mẹ …rằng thì là ..cái nghề của các con ở cái đất này mà phát triển vườn cây áo cá thì thật là tuyệt vời, đất nương nhà bố rộng vài quả đồi sẽ là của vợ chồng các con.vv….ha ha các chú sinh viên ta cứ đi ăn bưỏi, vẫn cứ đi thăm thầy bu khi cây bưỏi vẫn còn quả… Sau hai tháng ở Hữu Lũng cây bưỏi thì hết quả, con gái ông chủ chả kén được chồng và cũng chả có đứa trai nào của lớp đó ở lại Hữu Lũng làm rể cả. Thế mới ngộ ra rằng con trai đôi lúc cũng có giá…haha..

– Câu chuyện thứ hai: CHUYỆN CÁI GÁC ĐỜ BU

Chuyện là khi lớp sinh viên chúng tôi vẫn còn đang lao động rèn tay nghề tại nông trường Hữu Lũng vì thời gian những gần hai tháng chưa kết thúc. Một buổi sáng chủ nhật thằng bạn thân gọi tôi rôi thầm thì: ” Này đằng ấy có đi về thị xã Bắc Giang với tớ không?” Tôi liền bảo với hắn ta : ” Ừ thì đi, mình cũng muốn về đó để xem cái thị xã đó nó to nhỏ, lớn bé, xấu đẹp ra làm sao vì mang tiếng là trường ở Hà Bắc mà mình đã đến bao giờ đâu với lại mình cũng muốn mua một ít quả bồ kết khô để gội đầu”.

Suốt cả buổi sáng chúng tôi lượn lờ ở cái thị xã nhỏ bên bờ con sông Thương thơ mộng ấy để thăm thú và dạo chợ. Thị xã thời chiến nên dân cư thưa thớt và cũng chả có công trình vui chơi giải trí gì nhiều nên chuyến thăm thú cũng nhanh chóng kết thúc, tôi cũng đã kịp mua cho mình một túi quả bồ kết nhỏ.

Lạng Sơn và Bắc Giang là hai tỉnh giáp nhau nhưng cách nhau một con sông nhỏ có cái ngầm qua sông nối giữa hai nơi. Bây giờ nơi đây đã là một cây cầu vững trãi có tên Cầu Lường. Tiết trời thu tháng chín, nước sông lên to đến đầu gối do vậy khách bộ hành và cả xe cộ đi qua phải lội bộ rất vất vả. Thằng bạn dắt xe đi trước, trên ghi đông xe treo tòn teng túi bồ kết nhỏ tôi vừa mua ở chợ Bắc Giang, còn tôi hai tay xách hai ống quần quá gối lẽo đẽo lội nước theo sau cái xe của hắn. Đoạn ngầm này bình thường khi không có nước tràn qua thì không sao nhưng hôm đó vì nước lớn tràn ngầm nên có chừng mươi lăm thanh niên đứng hai bên ngầm làm tiêu và đảm bảo giao thông, hỗ trợ cho khách qua lại. Khi hai đứa tôi đã qua chừng hai phần khúc ngầm về phía Lạng sơn thì một anh chàng trong đám thanh niên đảm bảo giao thông đó bất ngờ một tay túm ghi đông xe, một tay vỗ vào vai hắn rồi nói: ” Này tôi ghen tỵ với ông bạn đấy, ông có đôi gạc đờ bu xe trắng quá!” Thấy anh ta nói vậy tôi bước nhanh lên một bước đi sát vào hắn và ngu ngơ hỏi: ” Này cái xe của đằng ấy là xe đạp Thống Nhất màu xanh thẫm cùng với đôi gạc đờ bu sắt mạ sơn cũng xanh mà sao thằng chả lại khen xe có cái gạc đờ bu trắng quá là can cớ sao vây?”. ( Chả là khi đó chiến tranh phá hoại tất cả các vật dụng đều sơn hay che tủ ngụy trang màu xanh cây cỏ để tránh bị máy bay Mỹ phát hiện)Thằng bạn khi ấy cưòi tủm tỉm rồi bảo nhỏ:” Bà cứ nhìn xuống đôi chân của bà xem sao, thằng chả nói vậy vì nó tưởng bà là ngưòi ui của tui trời ạ”. Trời đất ơi lúc đó tôi mới thủng ra và vừa cưòi vừa nói lớn ” Tụi con trai các ông cũng khéo lắm chuyện quá đi ha..ha…và này đừng có vào rừng mơ mà bắt con tưởng bở nhé!”.

Rồi ông trời cũng khéo sắp đặt để hắn nhìn xuôi chứ không nhòm ngang và vợ hắn sau này là một em học sau chúng tôi hẳn hai khóa.

Và rồi đôi gạc đờ bu năm nào đã thuộc về ngưòi khác chứ không phải là sở hữu của hắn…

– Câu chuyện thứ ba CHUYỆN CŨ Ở NA HOA

Hữu Lũng tháng 11 năm 2017(45 năm sau ) anh Lâm Quang Hinh (Hinh Lâm Quang) viết:

Chuyện trai gái lớp 4a hay ra phết chẳng bù cho 4b con trai con gái lúc nào cũng như kẻ thù làm mình mất hứng phải sang lớp khác chơi để tìm cảm hứng và niềm vui . Kỹ niệm về nông trường Na hoa thì có nhiều lắm nhưng kỹ niệm nhớ mãi là hội thi trồng dứa toàn miền bắc năm 1973 . Đại diện đội tuyển của trường đại học nông nghiệp 2 là 3 chàng trai của lớp 4b gồm Đỗ Đình Ka , Trần Văn Khánh và Hinh Lâm . Trong đó Ka và Khánh chỉ gánh chồi dứa phục vụ cho Hinh Lâm trồng . Kết quả sau 2h 30 ‘ thành tích trồng 4300 cây bình quân 1700 cây /h trong lúc chỉ tiêu đạt kiện tướng của các nông trường 3500 cây / ngày .Điều đặc biệt toàn bộ tuyển thủ dự thi của các nông trường dứa miền bắc là nữ duy nhất trường ta chỉ có 3 tuyển thủ nam . Kết quả cuộc thị đội tuyển của trường ĐHNN2 giành giải nhất . Sau khi công bố kết quả tất cả các cô gái dự thi khóc nức nở không ngờ lại thua các chàng trai lớp 4b đẹp trai và lao động giỏi . Trở về trường loa phóng thanh thông báo kết quả thi trồng dứa toàn miền bắc suốt cả tháng trời . Tên tuổi 3 đứa tôi cứ thế mà nổi tiếng, vừa tự hào vừa xấu hổ vì đến đâu các em khoá sau cứ nhìn như người ngoài hành tinh vậy .Gần 45 năm trôi qua mà kỹ niệm ấy vẫn còn nhớ mãi . Ai cho tôi một vé trở về tuổi thơ .?

– Câu chuyện thứ tư  XUÂN DIÊU BÌNH THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA

Hoàng Kim kể lại một chuyện cũ ở Trường mình khoảng giữa năm 1971 (vì ngày 2.9.1971 là lứa sinh viên nhập ngũ). Chuyện này mình kể trong bài “Mình ở xóm lá với Lão Khoa

Tôi nhớ năm 1971 nhà thơ Xuân Diệu đến đọc thơ ở Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc. Mấy ngày hôm trước, trên bảng thông tin của Trường viết hàng chữ bằng phấn trắng. Lúc 7g tối thứ Bảy này có phim TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CÓ THỂ HOÃN ! Thuở đó liên hệ phim rạp thật khó. Người viết có lẽ vì không chắc chắn nên đã viết câu trước rất khiêm tốn, nhỏ nhắn , còn câu sau thì viết rất to , ý muốn nói có thể có phim mà cũng có thể không, trường hợp đặc biệt có thể hoãn (để mọi người đừng phiền). Buồn cười là không hiểu sau, có lẽ là vì quá mong mỏi nên các lớp sinh viên chúng tôi lại kháo nhau, rũ nhau đi xem vì tên phim hay lắm, ngộ lắm. Trời mới chập tối, sân trường đã có nhiều người đến xí chỗ tốt gần rạp chiếu. Mặc dù thứ bảy là ngày cuối tuần, nhiều bạn thường về Hà Nội hoặc đi Bích Động. Cuối cùng, thì việc sẽ đến phải đến. Tối đó không có phim thật nhưng thay vào đó Đoàn trường đã rước được nhà thơ Xuân Diệu về nói chuyện.

Tôi thích thơ nên ngồi gần và nhớ như in cái chuyện thay kính của nhà thơ Xuân Diệu khi ông trò chuyện đến chỗ hứng nhất (Sau này trong Chân dung và đối thoại, tôi đặc biệt ấn tượng cái chi tiết tả thực này của Trần Đăng Khoa là Xuân Diệu không có thói quen lau kính mà ông có hai kính để luôn thay đổi., khi kính bị mờ là ông thay kính khác và nói chuyện thật say mê). Ông nói rất hào hứng và tôi thì nhìn ông như bị thôi miên. Đột nhiên ông chỉ vào mặt tôi : “Đố em biết Trần Đăng Khoa mấy tuổi?”. Tôi sững người hơi lúng túng vì bất ngờ nhưng sau đó kịp đáp ngay là Trần Đăng Khoa cỡ tuổi Hoàng Hiếu Nhân nên tôi nghĩ rằng có lẽ Khoa nhỏ hơn tôi ba tuổi. Hình như chú Xuân Diệu quên béng mất câu hỏi và cũng chẳng quan tâm đến tôi đang chờ đợi ông giải đáp cho mọi người là đúng hay sai. Mắt Xuân Diệu tự dưng như mơ màng, như thảnh thốt nhìn vào một chốn xa xăm … Giọng ông hạ chùng hẵn xuống như nói thủ thỉ với riêng tôi trước mặt mà quên mất cả một cử toạ đông đảo: “Tôi học bà má Năm Căn gọi anh giải phóng quân bằng thằng giải phóng quân cho nó thân mật. Tôi gọi Trần Đăng Khoa là thằng cháu Khoa vì sự thân mật, chứ thực tình Trần Đăng Khoa lớn lắm…. lớn lắm… lớn lắm (ông lắc lắc đầu và lặp lại ba lần). Mai sau, muốn biết thời gian lao của nước mình, người đọc chắc chắn phải tìm đến Khoa. Xuân Diệu đây này (Ông gập người xuống, tay nắm mũi làm điệu bộ )Tôi phải cúi..úi ..i xuống như thế này (Xuân Diệu gập người thấp, rất thấp, tay lay mũi, tay đỡ kính) đến lấm mũi và gọi là …. ông Khoa. Ông đột ngột nói to : ÔNG KHOA ! (mọi người cười ồ lên). Tôi – Xuân Diệu nói tiếp- đang chuyển thể và giới thiệu thơ Khoa ra thế giới. Hay lắm ! Thú lắm ! Tôi đọc cho các anh chị nghe nhé. EM KỂ CHUYỆN NÀY … Ông đọc chậm rãi – Chưa khi nào và chưa bao giờ tôi nghe thơ hay vậy. Và tôi thuộc , thuộc năm lòng suốt 40 năm! Các bạn biết không, tôi rất dỡ việc nhớ số điện thoại, thế mà lại thuộc một bài thơ dài. Số điện thoại của tôi đây, Hoàng Kim 0903613024. Bạn hãy kiểm tra bất chợt bất cứ lúc nào để biết chắc rằng tôi không có thủ một cuốn thơ của Khoa trong tay. Và rằng thật may mắn trên đời , chúng tôi có Khoa cùng xóm lá và Khoa thì may mắn có người thầy không lồ như Xuân Diệu để đứng lên vai, để lắng nghe những lời khen chê và tự soi lại mình, để Khoa mãi là Khoa trong lòng người cùng thời và Khoa không thể viết nhạt, không phụ lòng người đọc.

Để minh chúng , tôi xin chép lại bài thơ tôi nghe từ dịp đó. Bản này so với các bản in sau này, hình như Khoa có sửa một ít chữ hoặc cũng có thể nhà thơ Xuân Diệu hoặc tôi nhớ sai …

* Phản hồi từ: Trần Đăng Khoa ·http://Blogtiengviet.net/Lao Khoa 26.09.11@15:40 @Hoang Kim Cám ơn bác đã cho tôi những tư liệu rất hay về nhà thơ XD. Động tác và tính cách là rất chuẩn. XD đúng như vậy. Hy vọng dịp nào chúng ta gặp nhau. Chúc bác thành công trong sự nghiệp Dạy và Học.

https://hoangkimlong.wordpress.com/…/thay-ban-trong-doi-toi/

Thay ban trong doi toi 20 9 2018

Thầy bạn trong đời tôi
xem tiếp …. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

Video yêu thích
KimYouTube 

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Kim on Twitter

Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn

NGUYỄN TRÃI KIỆT TÁC THƠ VĂN
Hoàng Kim

Yên Tử, thơ Nguyễn Trãi đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự, ảnh Hoàng Kim. Nguyễn Trãi đã có nhiều tôn vinh nhưng như giáo sư Phan Huy Lê nhận xét trong bài “Nguyễn Trãi – 560 năm sau vụ án Lệ chi viên“: ”Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá hoạ dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên luỵ đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá…, lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc”. Dẫu vậy, trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất để minh oan cho Người lại chính là Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, “Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm” “Số khó lọt vành âu bởi mệnh.Văn chưa tàn lụi cũng do trời “. Bài thơ thần “Yên Tử “của Nguyễn Trãi “Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong. Trời mới ban mai đã rạng hồng. Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả. Nói cười lồng lộng giữa không trung…” (thơ Nguyễn Trãi trên Yên Tử, hình ảnh và cẩn dịch Hoàng Kim). Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi lưu bài “Yên Tử” “Ngôn chí,” “Quan hải”, “Oan than” của Người kèm cảm nhận “Trời ban tối biết về đâu?” của Vũ Bình Lục.

Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa lỗi lạc của dân tộc Việt, Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội, sinh năm 1380 , mất năm 1442,. cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán làng Chi Ngại , huyện Phương So8n (Chí Linh, Hải Dương) mẹ là Trần Thị Thái, con gái của Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400, cha con đều từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ bày tính mưu kế về mọi mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, được ban quốc tính, năm 1428 viết Bình Ngô đại cáo thiên cổ hùng văn, năm 1433 ông đã viết văn bia Vĩnh Lăng nổi tiếng khi Lê Lợi mất,.Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê).

Dưới đây là năm bài thơ trong Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi và cảm nhận “Trời ban tối biết về đâu?” của Vũ Bình Lục

YÊN TỬ

Nguyên văn chữ Hán

題 安子山花煙寺

安山山上最高峰,
纔五更初日正紅。
宇宙眼窮滄海外,
笑談人在碧雲中。
擁門玉槊森千畝,
掛石珠流落半空。
仁廟當年遺跡在,
白毫光裏睹重瞳。

Ðề Yên Tử sơn Hoa Yên tự

Yên Sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải thạch châu lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng.

YÊN TỬ

Đề chùa Hoa Yên, núi Yên Tử
Nguyễn Trãi

Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong
Trời mới ban mai đã rạng hồng
Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả
Nói cười lồng lộng giữa không trung
Giáo trúc quanh chùa giăng nghìn mẫu
Cỏ cây chen đá rũ tầng không
Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu
Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng

(Bản dịch của Hoàng Kim)

Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời
Đầu canh năm đã sáng trưng rồi
Mắt ngoài biển cả ôm trời đất
Người giữa mây xanh vẳng nói cười
Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh
Dãi châu treo đá rũ lưng trời
Nhân Tông còn miếu thời nao đó
Thấy rõ đôi ngươi giữa ánh ngời (1)

(1) Tương truyền vua Trần Nhân Tông mắt có hai con ngươi
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Trên núi Yên Tử chòm cao nhất
Vừa mới canh năm đã sáng trời
Tầm mắt bao trùm nơi biển tận
Từng mây nghe thoảng tiếng ai cười
Rừng vươn giáo dựng tre nghìn mẫu
Đá rũ rèm buông nhũ nửa vời
Miếu cổ Nhân Tông hằng để dấu
Mắt còn trắng tỏa ánh đôi ngươi.

(Bản dịch của Lê Cao Phan)

Trên non Yên Tử chòm cao nhất,
Trời mới canh năm đã sáng tinh.
Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả,
Nói cười người ở giữa mây xanh.
Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa,
Bao dãi tua châu đá rủ mành.
Dấu cũ Nhân tôn còn vẫn đấy,
Trùng đồng thấy giữa áng quang minh.

(Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh)
Nguồn: Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh,
NXB Khoa học xã hội, 1976

Trên non Yên Tử ngọn cao nhất
Chỉ mới canh năm sáng đỏ trời!
Ngoài vũ trụ xanh màu biển thẳm
Giữa mây biếc rộn tiếng người cười.
Cửa cài ngọc dựng, ken nghìn mẫu
Đá rũ châu rơi, rớt nửa vời!
Miếu cổ Nhân Tông di tích đó
Đôi mày sáng trắng rực hai ngươi!

(Bản dịch của Lâm Trung Phú)

NGÔN CHÍ

Am trúc, hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến chốn yên hà
Cơm ăn dù có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống ương hoa
Trong khi hứng động bề đêm tuyết
Ngâm được câu thần dững dưng ca

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

QUAN HẢI

Nguyên văn chữ Hán

樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非一日
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹烟

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên
Phúc chu thủy tín dân do thủy
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng[3] di hận kỷ thiên niên.
Càn khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

Dịch nghĩa : NGẮM BIỂN

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.
Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước
Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.
Họa phúc có manh mối không phải một ngày
Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.
Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng
Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời

CỬA BIỂN

Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi
Thêm ngầm dây sắt – uổng công thôi !
Lật thuyền, thấm thía dân như nước
Cậy hiểm, mong manh : mệnh ở trời
Hoạ phúc có nguồn, đâu bỗng chốc ?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi ?
Xưa nay trời đất vô cùng ý
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời

(Bản dịch của HƯỞNG TRIỀU)

OAN THÁN

Nguyên văn chữ Hán

浮俗升沉五十年
故山泉石負情緣
虛名實禍殊堪笑
眾謗孤忠絕可憐
數有難逃知有命
大如未喪也關天
獄中牘背空遭辱
金闕何由達寸箋

Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu ;
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh ;
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối[1] không tao nhục ;
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?

Dịch nghĩa THAN NỔI OAN

Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,
Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.
Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;
Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.
Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;
Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.
Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;
Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?

Dịch Thơ: THAN NỔI OAN:

Biển tục thăng trầm nữa cuộc đời
Non xưa suối đá phụ duyên rồi
Trung côi , ghét lắm, bao đau xót
Họa thực, danh hư , khéo tức cười
Số khó lọt vành âu bởi mệnh
Văn chưa tàn lụi cũng do trời
Trong lao độc bối cam mang nhục
Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

Bản dịch của Thạch Cam

Năm mươi năm thế tục bình bồng
Khe núi lòng cam bội ước chung
Cười nạn hư danh, trò thực họa
Thương phường báng bổ kẻ cô trung
Mạng đà định số, làm sao thoát
Trời chửa mất văn, vẫn được dùng
Lao ngục đau nhìn lưng mảnh giấy
Oan tình khó đạt tới hoàng cung.

Bản dịch của Lê Cao Phan

NGUYỄN TRÃI KIỆT TÁC THƠ VĂN
Hoàng Kim


Nguyễn Trãi đạị cáo Bình Ngô
Văn bia Vĩnh Lăng ghi rõ:

“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường,Tống, Nguyên
mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có”

Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
linh thiêng đã lặng thầm phù trợ“

Ngày 9 tháng 3 năm 141 TCN
Hán Vũ Đế Lưu Triệt lên ngôi.
Nam Việt bị nhập vào nhà Hán
Ngàn năm vết nhục sạch làu.

Nhật nguyệt hối rồi minh’
Trăng che trời đêm rồi sáng
Nguyễn Trãi ngàn năm linh cảm
Ngày 9 tháng 3 thật lạ lùng !

Triệu Đà tích xưa còn đó
Nam Việt nhập vào nhà Hán
Sử xưa Triệu Đinh Lý Trần
Đối Hàn Đường Tống Nguyên

Sách nay Đinh Lê Lý Trần
thay cho Triệu Đinh Lý Trần
Ngàn năm vết nhục sạch làu.
Chính sử còn, sự thật đâu ?

Soi gương kim cổ
Tích truyện xưa
Ghi lại đôi lời
Trăng che mặt trời
Nhật thực hôm nay.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp
Ngày 9 tháng 3 năm 2016 Nhật thực Việt Nam
Ngày 9 tháng 3 lúc 10: 45 trăng che mặt trời
CNM365 ta chọn lại vài hình hay để ngắm …
Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn
Ức Trai ngàn năm linh cảm

xem tiếp: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-trai-kiet-tac-tho-van/

TRỜI BAN TỐI, BIẾT VỀ ĐÂU?

Vũ Bình Lục

(Về bài thơ NGÔN CHÍ – SỐ13 của Nguyễn Trãi)

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

Nguyễn Trãi sống cách chúng ta khoảng sáu trăm năm. Riêng nói về thơ Nôm, dẫu thất lạc sau thảm hoạ tru di năm 1442, cũng còn được hơn 250 bài. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã dựng lên một tượng đài sừng sững bằng thơ, mà trước hết là thơ viết bằng ngôn ngữ dân tộc-Thơ Nôm. Chùm thơ “Ngôn chí” có rất nhiều bài hay, đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ mới thấy cái hay, bởi chữ Nôm cách nay sáu trăm năm, rất nhiều từ nay không còn dùng nữa, hoặc rất ít dùng. Phải tra cứu một số từ, một số điển tích, mới dần sáng tỏ một hồn thơ lớn, lớn nhất, trong lịch sử thơ ca Việt Nam!

Đây là bài Ngôn chí số 13, do những người biên soạn sách Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi sắp xếp.

Hai câu đầu: Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu

Hai câu thơ đơn thuần chỉ là tả cảnh, đặc tả một buổi chiều, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm rất quen mà huyễn hoặc. Bóng chiều tà đã ngả, đang quấn lấy một ngôi lầu ở bên sông, hay đang trùm lên ngôi lầu bên sông một màu vàng thẫm. Nhưng có điều cần lưu ý, đây là ngôi lầu giành cho đàn bà con gái thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, trong một không gian rộng lớn và yên tĩnh, rất yên tĩnh. Câu tiếp theo mới thật diễm lệ: Thế giới đông nên ngọc một bầu. Vậy thế giới đông là gì? Theo điển dẫn, đông chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Thế đấy! Còn như Bầu, cũng theo điển sách Đạo gia, kể rằng Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, gọi là trời bầu, hay bầu trời cũng vậy…Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ, rất xưa, tinh khiết và tráng lệ, dường như đã đạt đến mức cổ điển!

Đấy là hai câu thất ngôn. Hai câu tiếp theo, lại là lục ngôn, vẫn tiếp tục tả cảnh:
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giải nguyệt in câu.

Tuyết sóc, nghĩa là tuyết ở phương bắc (sóc) chả biết gieo xuống từ bao giờ, mà còn giăng mắc trên những cành cây như những bông hoa trắng muốt, như điểm phấn cho cây, trang trí làm đẹp cho cây. Có người bảo nước ta làm gì có tuyết, chỉ là ước lệ cho đẹp văn chương mà thôi. Nhưng họ nhầm đấy! Các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang và chắc là còn một số nơi khác nữa ngày nay vẫn có tuyết, nhiều nữa kia. Vậy thì sao thơ văn ngày xưa các cụ ta nói đến tuyết, con cháu lại hàm hồ bác bỏ? Cách đây mấy trăm năm, sao lại không thể không có tuyết mà các cụ phải đi mượn của người? Phía bắc là tuyết, là hoa tuyết điểm phấn cho cây, thì Cõi đông giải nguyệt in câu. Phương đông in một giải lụa trăng vàng óng. Thế là cả một không gian rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh cùng màu vàng của ánh nguyệt in bóng nước, của chiều tà vàng thẫm, tạo một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng.

Hai câu tiếp theo, vẫn cấu trúc bằng lục ngôn:
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu

Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn dòng nước, thấy khói chiều in xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do đó quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong phẳng lặng, như thể nhìn rõ khói chiều đang chìm dưới đáy nước. Rõ là nước lộn trời, vàng gieo đáy nước, “Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Có lẽ Nguyễn Du mấy trăm năm sau đã tiếp thu tinh thần của câu thơ Nguyễn Trãi mà sáng tạo lại trong Truyện Kiều câu thơ trên, khi mà tiếng Việt đã đạt đến độ nhuần nhuyễn và trang nhã chăng? Còn trên trời thì đàn chim nhạn đang xếp hình chữ triện mà mỏi mệt bay về rừng tìm chốn ngủ. Và gió nhẹ, thổi rỗng cả trời…

Cảnh chỉ là điểm xuyết, mà gợi nên bức tranh đủ sắc màu, rất sống động, và tiếp đó, nó như thể đang chuyển động dần về phía đêm tối, về phía lụi tàn.

Hai câu cuối, tác giả viết:
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối ước về đâu?

Con thuyền nhỏ nhoi (Thuyền mọn) của Tiên sinh, hay con thuyền của một vị khách nào đó, vẫn còn đang mải miết chèo trên sông, như chẳng muốn dừng lại. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, chưa muốn, hay chưa tìm được nơi đỗ lại mà nghỉ ngơi, hay bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu? Câu bảy thất ngôn, dàn trải thêm, biểu hiện sự buông thả, lửng lơ, phân vân… Câu tám bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.

Có bao nhiêu phần trăm sự thực trong bức tranh chiều tà bên sông lộng lẫy mà buồn? Có lẽ cũng chẳng nên đặt vấn đề cân đong cụ thể, bởi thơ nhìn chung là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng, thực và ảo hoà trộn đan xen. Hai câu kết của bài thơ xem ra mới thật sự là tâm điểm của bài thơ. Phải chăng, con thuyền mọn kia, chính là hình ảnh Ức Trai Tiên sinh, như con thuyền nhỏ bé ấy, đang một mình đi tìm bến đỗ, mà chưa tìm thấy nơi đâu là bến là bờ? Từ cái ngôn chí này, có thể ước đoán Ức Trai viết bài thơ này vào thời điểm quân Minh đang đô hộ nước ta, Ức Trai đang bị giam lỏng ở thành Đông Quan, chưa tìm được minh chủ mà đem tài giúp nước? Cũng có thể đây là thời điểm Nguyễn Trãi bị thất sủng, về ở ẩn tại Côn Sơn, trong hoàn cảnh chính sự trong nước đang rất đen tối, nhất là ở nơi triều chính. Nguyễn Trãi từ tin tưởng, đến nghi ngờ và thất vọng trước thực tại đau lòng: Biết bao trung thần bị hãm hại, còn lũ gian thần hiểm ác nổi lên như ong, nhũng lọan cả triều đình. Làm sao mà không bi quan cho được khi mà Trời ban tối, biết về đâu?

Video nhạc tuyển
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Hoàng Kim

Kính Thầy Suối Trí Tuệ
Thừa Ân Giác Linh Ôn
Buu Minh Giác Tâm sáng
Hoa Lúa soi tâm hồn

Lời dẫn:
1) Chùa Bửu Minh Gia Lai http://chuabuuminh.vn/ là ngôi chùa cổ gần Biển Hồ- Pleyku, Thầy Thích Giác Tâm tác giả ‘Con về còn trọn niềm tin‘ là sư trụ trì của chùa Bửu Minh.

2) Hòa thượng Thích Viên Quán, viện chủ chùa Thừa Ân, phường Yên Đỗ, Tp.Pleiku, tỉnh Gia Lai viên tịch vào lúc 13h30 ngày 16.9.2018.

3) ‘Ba trước của tôi’ bài của thầy Thích Giác Tâm

BA TRƯỚC CỦA TÔI
Thích Giác Tâm
(Hồi ức trong mùa Vu Lan Báo Hiếu).

Chuyện của một gia đình không danh gia vọng tộc, chỉ là một gia đình thường thượng bậc trung, thì có gì đáng nói để nói. Nhưng nếu không nói ra con cháu trong tộc họ không biết nguồn gốc của mình, người mà không biết đến nguồn gốc cội rễ của gia tộc là một thiếu sót lớn.

Mẹ tôi người huyện An Nhơn tỉnh Bình Định, có chồng cùng quê, là “ba trước” của tôi, (từ đây được gọi là “ba trước”, còn người sinh ra tôi được gọi là ba tôi, để dễ phân biệt và theo dõi câu chuyện không lẫn lộn) ông làm nghề thợ may, sinh ra được ba người con gái. Đặt tên May, Vá, Bảy. Cặm cụi ngồi may suốt ngày, nhiều năm nhiều tháng ông mắc bệnh phổi và mất khi tuổi chưa tới 40. Quê nhà làm ăn khó khăn, mẹ bồng bế ba con lên đồn điền chè Biển Hồ, tỉnh Pleiku lập nghiệp, thời gian đó vào năm 1945-1946. Mười hai năm sau mẹ gặp ba tôi họ Nguyễn tên Trợ và sinh ra hai anh em tôi.

Khi lên ở xã Biển Hồ, làm lại Tờ khai gia đình (hộ khẩu bây giờ), ba tôi hỏi mẹ tôi:” Mấy nhỏ họ gì ?” Mẹ tôi trả lời cục ngủn:”Họ Ma”. Ba tôi nói:” Họ gì họ Ma, họ ma quỷ thì còn làm ăn thế nào được. Đổi lại họ Mai đi, ở Bình Định có anh hùng Mai Xuân Thưởng chống Pháp, nên lấy theo họ Mai”. Ông quyết định đổi họ, và thế là các chị tôi từ họ Ma đổi thành họ Mai, cắt đứt gốc rễ tổ tiên ông bà họ Ma của mình.

Người Việt không có họ Ma, họ Ma là người Chăm. Trong gia phả của một số người Việt gốc Chăm tôi tìm hiểu được, thì người Chăm có 4 họ chính: “Ôn, Ma, Trà, Chế”. Bởi vậy tôi tin chắc chắn rằng “ba trước” tôi là gốc người Chăm (Chiêm Thành). Lịch sử để lại chúng ta biết rằng thành Đồ Bàn là thủ phủ của vương quốc Chiêm Thành) khu vực chùa Thập Tháp, tháp Cánh Tiên, thuộc xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định bây giờ là Kinh Đô Đồ Bàn xưa, của người Chiêm Thành (khoảng thế kỷ thứ 11-12).

Có lần trò chuyện với một người phụ nữ Chăm ở Phan Rang, bán hàng thổ cẩm ở hội chợ thành phố Pleiku, tôi hỏi:” Chị có biết về lịch sử tổ tiên ông bà chị không ?”. Chị trả lời:” Con có học có biết, nhưng câu chuyện lịch sử đã qua đi lâu quá rồi, hơn tám, chín trăm năm , bây giờ tụi con đã thành người Việt, nhắc, nhớ lại lịch sử vong quốc của mình chỉ thêm buồn”. Một câu trả lời vô cùng dễ thương, không khơi gợi, hoài niệm quá khứ để phát sinh thù hận, gây chết chóc điêu linh.

Trong Kinh tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân Đức Phật dạy:

“Điều thứ nhất là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, cõi nước nào cũng mong manh dễ đổ vỡ, những cấu tạo của bốn đại đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, con người do tập hợp của năm ấm mà có, lại không có thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không có chủ quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là một nguồn suối phát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được cõi sinh tử”.

Thông điệp của Đức Phật luôn vang vọng trên khắp hành tinh này, từ 2600 năm qua: “Ngài dạy yêu thương, không hận thù, tất cả con người là quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp với nhau, là máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau. Hãy nương vào nhau mà sống, đừng bao giờ hủy diệt nhau. Rằng cuộc đời là vô thường, cõi nước nào cũng mong manh dễ đổ vỡ”. Vậy mà nhân loại con người, không ai nhớ đến làm chi, chúng ta nhân danh gia đình, xã hội, tôn giáo, tổ quốc mình đi rao truyền, cưỡng chiếm, và chân lý luôn thuộc về kẻ mạnh.

Ngày giỗ của “ba trước” tôi, là ngày 17 tháng 2 âm lịch. Con cháu có kẻ nhớ người quên, ông không còn một tấm ảnh nào để thờ.
Cứ mỗi lần có dịp đi du lịch các tỉnh thành, tôi đều tìm đến các tháp Chăm (có nơi gọi tháp Chàm) để thăm viếng, để học hỏi về lịch sử nam tiến, lịch sử ngoại giao của tổ tiên mình, về bài học nhân danh….để hủy diệt nhau, cho sự tồn sinh của dân tộc mình, tôn giáo mình.

Gia Lai, ngày 16.9.2016

Thích Giác Tâm

xem tiếp
HOA LÚA,
Hoàng Kim
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/hoa-lua/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Thanh trà Thủy Biều Huế

THANH TRA THỦY BIỀU CỐ ĐÔ HUẾ
Hoàng Kim
Thăm vùng thanh trà Thủy Biều nôi trái cây nữ hoàng đặc sản cố đô Huế. Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Minh hướng dẫn chúng tôi ghé thăm vợ chồng thầy giáo nông dân Thân Trọng Lập, Nguyễn Thị Phượng một gia đình trồng thanh trà ngon nức tiếng của vùng bưởi huyền thoại. Thầy Minh là nhà giáo nhân dân, nguyên Hiệu trưởng Đại học Nông Lâm Huế, người thầy nghề nông của bao thế hệ sinh viên miền Trung cũng là bạn nhà nông thân thiết của bà con nơi đây. Chúng tôi là bạn thân thuở nhỏ. Tôi ra Huế họp, thầy Minh nói “Mình tranh thủ thăm ngay vừa dịp”

Năm nay, lễ hội Thanh Trà Huế lần thứ năm được tổ chức từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 9 tại phường Thủy Biều để tôn vinh loại trái cây ngon đặc sản cố đô Huế. Bưởi Thanh Trà Huế được lưu truyền trong văn hóa dân gian sâu đậm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), vị Chúa Nguyễn đời thứ 6 đã  ăn hết trái bưởi Thanh Trà ngay giữa làng Lương Quán và tấm tắc khen ngon. Thanh trà Thủy Biều sau đó trở thành đặc sản.

Chuyện kể rằng, chúa Nguyễn Phúc Chu là một vị chúa giỏi nhà Nguyễn có nhiều công đức với dân và đất phương Nam. Chúa trong một lần du thuyền trên sông Hương chợt nhìn thấy có một vùng cây trái bưởi thanh trà xanh mướt ven sông, xum xuê, hữu tình, chúa truyền ghé thăm nơi đó là làng Nguyệt Biều, Lương Quán. Dân làng hái bưởi Thanh Trà dâng chúa thưởng thức, chúa ăn tấm tắc khen ngon và lệnh cho dân làng mở rộng trồng thêm. Từ đó, cứ vào giữa tháng 7 âm lịch hàng năm, trái bưởi Thanh Trà chín rộ, dân làng Lương Quán lại chọn ra những quả ngon nhất mang vào kinh thành tiến vua chúa để được ban thưởng. Đình làng Nguyệt Biều, đình làng Lương Quán thuộc phường Thủy Biều ngày nay làm nơi lưu dấu công đức những bậc thành hoàng bản thổ của vùng đất thanh trà mà hậu thế ghi ơn. Bưởi Thanh Trà Thủy Biều nổi danh từ đó …

Ngày nay Bưởi Thanh Trà Thủy Biều thuộc top 50 đặc sản trái cây nổi tiếng nhất Việt Nam, là một trong năm đặc sản Thừa Thiên Huế xác lập kỷ lục châu Á, trang thông tin điện tử phường Thủy Biều thành phố Huế giới thiệu. Lễ hội thanh trà Huế không có “cửa” cho thanh trà kém chất lượng. Chú trọng chất lượng là tiêu chí của Ban Tổ Chức lễ hội thanh trà Thủy Biều, trang thông tin Thừa Thiên Huế Online (http://tintuc.hues.vn) nhấn mạnh.

Giáo sư Trần Văn Minh với một số thành viên Ban Tổ chức lễ hội Thanh Trà Huế và chúng tôi chụp ảnh lưu niệm tại trường tiểu học Thủy Biều, tâm điểm của các gian hàng lễ hội. Tại lễ hội năm nay, bên cạnh các hoạt động trưng bày, giới thiệu mua bán thanh trà và các mặt hàng truyền thống tại địa phương, Ban tổ chức đã đưa thêm các hoạt động cung tiến thanh trà tại hai đình làng Nguyệt Biều và Lương Quán; triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật liên quan đến thanh trà và các hoạt động lao động sản xuất tại địa phương; xây dựng dịch vụ lựa chọn thanh trà tại vườn bằng “con đường thanh trà”; tổ chức Hội thi “Trái ngon thanh trà Huế”; Hội thi bữa cơm gia đình với nguồn thực phẩm tại địa phương; Hội thi ẩm thực được chế biến từ quả thanh trà… Anh Trần Quang Phước cho hay diện tích trồng bưởi Thanh Trà tại hai làng Lương Quán và Nguyệt Biều ở phường Thủy Biều  khoảng trên  140 ha với 750 hộ gia đình.

Cụ Nguyễn Thị Phượng chỉ dẫn cho chúng tôi cách lựa trái thanh trà ngon trên vườn. Cụ cho hay gia đình thầy Minh nhiều năm nay đã là bạn thân thiết của gia đình cụ. Những cây bưởi đầu dòng quý được những lão nông tri điền các hộ nông dân trồng thanh trà giỏi, các nhà khoa học và khuyến nông, các nhà quản lý và hệ thống tổ chức con đường di sản địa phương cùng đồng hành khơi dậy tiềm năng con người, cây và đất. Con đường di sản là con đường gắn bó khoa học với nông dân, du lịch sinh thái, ẩm thực Việt với mạch thiêng lịch sử văn hóa giáo dục Việt.

Căn nhà nhỏ tĩnh lặng, bình dị của một cặp vợ chồng già tại vùng bưởi thanh trà Thủy Biều cố đô Huế ẩn chứa một minh triết và lời khuyên thầm lặng. Gian giữa cửa chính, nơi hướng về bàn thờ tưởng nhớ tổ tiên ngời ngời một bức đại tự xưa “Phong Vân đắc lộ”. Gian bên, bạn nhìn thấy trên tường nhà “Lễ phát thưởng khuyến học của ông bà Thân Trọng Lập” đối với con cháu .

bannhanong

Ông bà Thân Trọng Lập Nguyễn Thị Phương chụp ảnh lưu niệm với giáo sư Trần Văn Minh, vợ chồng thầy giáo Quang đại học Nông Lâm Huế là ấn tượng về truyền thống hiếu học của người Việt. “Nên thợ nên thầy nhờ có học. No ăn no mặc bởi hay làm”. Chúng ta ngộ ra được truyền thống hiếu học của vùng đất kinh kỳ xưa. Cụ Lập thu thập các giấy khen thành tích học tập của con cháu chắt để khuyến khích sự học, tuyên dương tại những dịp giỗ chạp hiếu hỉ gia đình, ngợi khen những cháu ngoan giỏi học và hành được những việc tốt lành.

Ngắm bức tranh cổ, tôi bâng khuâng nghĩ về con đường di sản Thanh trà Huế. Tôi nhớ về câu chuyện năm 1613, chúa Nguyễn Hoàng, vị chân chúa, người khai sáng gia tộc họ Nguyễn ở Đằng Trong, mà hậu duệ là vương triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.  Chúa Tiên Nguyễn Hoàng lúc lâm bệnh nặng, đã gọi người con thứ 6 là Thụy quận công Nguyễn Phúc Nguyên từ Quảng Nam về kế vị và căn dặn: “Đất Thuận Quảng này phía bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Bi Sơn, thật là đất của người anh hùng dụng võ. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời“. Thương yêu dân, giáo hóa dân, tạo nên nết tốt bản sắc văn hóa lịch sử của một vùng đất. Giáo dục gia đình xã hội thấm thía trong từng nếp nhà. Đó là con đường di sản.

Kinh thành Huế thu nhỏ tại bún bò Ngọc Dung, Thủ Đức  là một cách yêu quê hương và lan tỏa tình yêu này đến người khác của một người bạn Huế khác tại thành phố Hồ Chí Minh. Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên bạn tôi đã chia sẻ câu chuyện này. Việt Nam tổ quốc tôi, có sự tương đồng trong cách thể hiện lòng biết ơn của mình đối với quê hương yêu dấu của những người con xa xứ hoặc gắn bó với quê hương thăm thẳm nhớ ơn cội nguồn. Con đường xanh Việt Nam, con đường xanh của chúng ta là con đường di sản kết nối sức mạnh Việt, khai mở tiềm năng mạnh mẽ của những sản phẩm chất lượng cao Việt Nam vươn ra thế giới.

Thanh trà Huế tại nôi di sản Thủy Biều là bài học thời sự nóng hổi về nông dân ngày nay và nông sản Việt, là câu trả lời về sự tỉnh thức tâm linh và tầm nhìn của những người biết ơn và nặng lòng với quê hương đất nước, biết trở về tìm kiếm kho báu chính mình phúc hậu an nhiên. Người dân vùng thanh trà Thủy Biều Huế biết cách bảo tồn và quảng bá loài quả quý địa phương, một nông sản Việt có giá trị đích thực, biết thức dậy tiềm năng của một vùng đất lành, một nghề lành, kết nối nông nghiệp du lịch sinh thái ẩm thực lịch sử văn hóa, gắn hiện tại với quá khứ và tương lai Việt.

Thanh trà Thủy Biều cố đô Huế là sản phẩm đầy đặn tự hào Việt Nam.

Hoàng Kim

Ghi chú: Tôi (HK) nói với anh Trần Quang Phước (thứ hai bên phải): Ngày này năm xưa, anh nhớ chứ? Ảnh này thật đẹp !

Video yêu thích
KimYouTube

Giữ trong sáng tiếng Việt

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Về cải cách tiếng Việt chữ Việt, có một số ý kiến phàn biện gần đây là rất đáng lưu ý được trích dẫn cuối bài này tại nguồn https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/09/06/giu-trong-sang-tieng-viet/.  Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cấp hữu quan sớm kết luận và trả lời chính thức.

Tiếng Viết chữ Việt là di sản văn hóa Việt Nam cần nghiêm minh thực hiện Luật Di sản Văn hóa đã được Quốc Hội ban hành số 28/2001/QH10 Hà Nội ngày 29 tháng 6 năm 2001. Chữ Quốc ngữ cải cách không nên bàn nữa. Việc bác bỏ đề xuất cải cách chữ Quốc ngữ của PGS Bùi Hiền đã được Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp chính thức trả lời lãnh đạo cấp trên và toàn thể công luân. Sự đòi hỏi triệt để phải nên ban hành Luật Ngôn ngữ Việt Nam để thể chế hóa và đáp ứng sâu sắc hơn nhu cầu thực tiễn của việc kết nối thực hiện tốt Luật Di sản Văn hóa. Tinh thần của Luật Di sản Văn hóa và kết luận của GSTS. Nguyễn Văn Hiệp trong văn bản chính thức trả lời đã khẳng định: Chữ Quốc ngữ là một loại chữ ghi âm rất tốt của người Việt hình thành vào thế kỷ 17 năm 1651 gắn với việc xuất bản cuốn Từ điển Việt Bồ Đào Nha Latin của linh mục Alecxandre de Rhores tại Rome. Chữ Quốc ngữ là quá trình góp sức lâu dài trong đó có người Việt Nam, được cộng đồng người Việt chấp nhận một cách tự nhiên, thuần thục, phổ cập, là chữ viết thống nhất của nước Việt Nam, là di sản văn hóa. Chữ Quốc ngữ vấn đề cải cách từ khi hình thành cho đến nay đã được bàn rất nhiều lần. Nhiều đề xuất cải cách đều bị thất bại vì các lý do chính: Thứ nhất, chữ Quốc ngữ có đủ khả năng để ghi lại toàn bộ các âm có thể có trong tiếng Việt hiện đại. Không có một âm nào trong tiếng Việt lại không thể dùng chữ Quốc ngữ ghi lại. Thứ hai, chữ Quốc ngữ đã phát triển đến giai đoạn ổn định, được cả cộng đồng chấp nhận và sử dụng một cách tự nhiên, mang tính quy ước và phổ cập. Thứ ba, tiếng Việt chữ Việt ẩn chứa văn hóa lịch sử. Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước giữ nước của nhân dân ta, nên không nhất thiết phải vận dụng nguyên tắc “một âm vị ghi bằng một ký tự và ngược lại” chữ viết của một ngôn ngữ không đồng nhất với ký hiệu ngữ âm quốc tế. Toàn dân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Hoàng Kim cám ơn quý thầy cô và các bạn đã trao đổi, bàn luận và chia sẻ. Tôi đồng tình với trao đổi của nhiều bạn bức xúc phản đối cải cách Tiếng Việt chữ Việt. Đặc biệt, tôi hoàn toàn đồng tình với phản biện của giáo sư Nguyễn Lân Dũng : “Nếu cải cách tiếng Việt hàng triệu dân phải đi học từ đầu  (1) và phản biện đắng của cụ Trinh Trang (2) kèm theo bài này với chính kiến của tôi ở lời bình cuối mỗi bài.Tôi có  ba câu hỏi:

THỨ NHẤT, việc dạy theo cách cũ vẫn không gây ra khó khăn hay lạc hậu gì, tại sao phải cải cách thay bằng cách khác tốn kém rất nhiều, với việc bán sách thực nghiệm ‘chia tiền’ (theo lời của GS Hồ Ngọc Đại) để làm cho 800.000 học sinh nhí bị thành chuột bạch của sự thử nghiệm? THỨ HAI, Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, vì sao lại phải ‘lách luật’ mà không có thông báo chính thức từ Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với tất cả các tỉnh thành trên cả nước đều thực hiện mà lại ‘thử nghiệm’ theo một quy trình nơi này nơi khác vi phạm nghiêm trọng luật di sản văn hóa?; THỨ BA, trong cuốn sách công nghệ giáo dục có tách từ quy về hình vẽ, xây dựng cải cách mới “mà chỉ có giảng viên đã tập huấn mới dạy được, còn xã hội và gia đình thì không thể dạy được” sự quá nôn nóng chuyển thực nghiệm sang phổ cập để bán sách, tách rời nhà trường gia đình xã hội trong giáo dục trẻ dựa vào đâu? cũng chưa hề có một văn bản chính thức giải thích rõ ràng cho dân, chưa hỏi ý kiến người dân, các trường các thầy cô cứ áp cứ dạy, hỏi rằng dân chủ ở đâu. cách làm đã hợp lý chưa?

“Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ”. (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough). Lời vàng Albert Einstein đã nói như vậy. Tiếng Việt chữ Việt là di sản văn hóa Việt Nam.

Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cấp hữu quan sớm kết luận và trả lời chính thức. Nguồn:https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/09/06/giu-trong-sang-tieng-viet/

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Ôi Tiếng Việt như bùn và như lụa
Tiếng Việt yêu thương sinh tử dân mình
Đừng ngớ ngẫn háo danh cải cách
Quên sinh tử phù,”giản thể” bới lung tung

Non sông Việt trường tồn bền vững mãi
Tiếng Việt ngàn đời lợi khí quốc gia
Người Việt dân mình xin đừng quên gốc
Trãi hiểm nghèo ta vẫn là ta.

Đất Tổ Quốc suốt ngàn năm văn hiến
Năm mươi tư dân tộc thuận hòa
Giữ trong sáng Tiếng Việt là vô giá
Chớ nên lầm ‘giản thể’ bán ông cha

Quan điểm của chính phủ về chủ trương cải cách Tiếng Việt(tại video kèm theo là câu trả lời: https://www.facebook.com/daihocnonglamHCM/posts/1992656134106492?__tn__=K-R)

Tài liệu dẫn:

(1)
NẾU CẢI TIẾN TIẾNG VIỆT HÀNG TRIỆU NGƯỜI DÂN PHẢI ĐI HỌC TỪ ĐẦU

GS Nguyễn Lân Dũng

“Thử tưởng tượng nếu việc cải cách chữ viết tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền được thực thi, hàng triệu người dân sẽ phải học lại từ đầu các cấu trúc ngữ pháp. Nghĩ đến điều đó thôi cũng thấy rõ là đề án này không thể áp dụng”, GS Nguyễn Lân Dũng cho biết.

Liên quan đến đề án cải tiến chữ viết tiếng Việt của tác giả Bùi Hiền, GS Lân Dũng thẳng thắn cho rằng, khó có thể thực hiện một đề án có quá nhiều hệ lụy như đề án cải cách tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền.

“Đây là một công trình khoa học nên phải có căn cứ cơ sở thì người thực hiện mới có thể nghiên cứu. Chúng ta không nên ném đá nhưng cũng phải thẳng thắn khẳng định là không thể áp dụng được. Ngôn ngữ nào cũng có những điều chưa hợp lý. Nhưng trong quá trình gìn giữ, người ta phải bảo toàn cả những mặt trái và mặt phải.

Giả sử việc cải tiến chữ viết tiếng Việt của ông Bùi Hiền thành hiện thực thì cả một hệ thống Hiến pháp, sách giáo khoa, tài liệu công dân ở các cơ quan chức năng đều phải được tiến hành in lại. Kể cả đồng tiền quốc gia cũng phải được in và phát hành lại. Bản thân mỗi công dân Việt Nam cũng phải học lại từ đầu để nắm cấu trúc của chữ quốc ngữ mới. Chỉ phân tích đơn giản thế thôi đã thấy đề án này phi thực tế”, GS Lân Dũng phân tích.

Theo ông, tiếng Anh, tiếng Nga cũng tồn tại những điều bất hợp lý nhưng không ai thay đổi. Với tiếng Việt, ngày xưa Bác Hồ chỉ đổi một từ duy nhất, đó là từ z nhằm mục đích phân biệt ngôn ngữ ở một số vùng miền địa phương. Nhưng chỉ đổi đến mức thế thôi, còn cải cách cả một tổng thể hệ văn tự như thế là việc không thể. Hệ lụy của việc thay đổi đó là vô cùng lớn.

GS Lân Dũng cho hay, tiếng Việt đã vượt lên trên cả sứ mệnh của ngôn ngữ, trở thành phương tiện truyền tải về pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo. Vì thế thay đổi ngôn ngữ sẽ gây nên những xáo trộn vô nghĩa về các hoạt động, thậm chí làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của đất nước.

Dưới góc độ của một nhà nghiên cứu văn học, GS Hà Minh Đức cho biết, tiếng Việt hiện nay đã phát triển đến tầm cao, trở thành một phần tinh hoa văn hóa Việt Nam. Vì thế không cần đến bất kỳ một sự cải tiến nào.

Ông nói thêm: “Xưa nay, việc cải cách đã được áp dụng khá nhiều trong lĩnh vực giáo dục, trong đó có ngôn ngữ nhưng chưa có công cuộc cải cách ngôn ngữ nào thành công. Có một nghịch lý của nền giáo dục Việt Nam là các chuyên gia thì không phải nhà quản lý, mà nhà quản lý lại không phải là chuyên gia. Vì thế công tác cải cách giáo dục ít khi đi vào thực tế”.

“Kể cả khi các cơ quan hành chính chấp nhận đề án cải tiến của tác giả Bùi Hiền thì phương pháp này cũng sẽ bị vô hiệu hóa vì không thể đi vào đời sống, không hợp ý lòng dân”, GS Hà Minh Đức cho biết.

Tôi đã không có ý định viết về những lộn xộn trong ngành giáo dục và những vấn đề liên quan đến GS TS Hồ Ngọc Đại. Thế nhưng có 4 yếu tố nó cứ rậm rịch trong đầu, thúc dục tôi phải viết, phải tham chiến trên cái chiến trường thối hoắc như hũ mắm và nát nét như tương đâm này:Đó là:

1- Lời Tổng Bí Thư : “Đặc biệt quan tâm đến tác động của mạng xã hội”. Điều đó cho thấy Tổng Bí Thư hoặc những trợ lý vẫn thường xuyên theo sát những stt trên mạng Facebook. Có thể đó là câu nói để đánh lừa, để xoa dịu người ta sau khi bộ luật về “an ninh mạng” vừa thông qua.
2- Ông Hồ Ngọc Đại có thổ lộ với VTV và một số phóng viên rằng; ông không nhận chức Bộ trưởng GD để nghiên cứu cống hiến cho Gíao Dục.
3- Gần đây VTV cho lên sóng nhiều chương trình đánh bóng cho ông Hồ Ngọc Đại và bảo vệ cho những hành vi phạm pháp của ông ta là cho lưu hành giảng dạy những tài liệu chưa được Quốc hội thông qua. Việc làm vô trách nhiệm này của VTV không có gì là lạ, cũng giống như phóng sự chiến trường Syria bom nổ tung trời, những đoàn người chạy tị nạn nháo nhác … của phóng viên gạo cội Lê Bình ngồi trong Sứ quán lấy tin từ TV để “dựng” bài. Do vậy cần phải làm rõ và đính chính những thông tin sai lệch.
4 – Những dự án tiền tấn của bộ GD-ĐT đều là những dự án vô bổ, tiền của đổ xuống sông xuống biển cả mà không đem lại một chút, một chút lợi ích nào; làm cho nền giáo dục rối tung rối mù, cha mẹ học sinh thì nháo nhác đi chạy trường, tìm trường, chạy đôn đáo về kết quả tuyển sinh đại học …

Trước hết nói về ông Hồ Ngọc Đại. Các bạn chắc hẳn thắc mắc sao tôi không gọi GS TS HNĐ như trước đây? Các bạn hãy đọc rồi sẽ hiểu. Cha ông HNĐ vốn là cấp dưới của TBT Lê Duẩn , quê Hải Phòng, đã hy sinh thân mình bảo vệ ông Duấn. Nợ người đồng đội một mạng sống, khi ra Bắc, làm TBT ông Duẩn cho tìm và đón con ân nhân từ Hải Phòng lên Hà Nội nuôi dạy ăn học, cùng ở chung ở nhà TBT 6-Hoàng Diệu. Sau khi ông HNĐ tốt nghiệp ĐH ở Nga về ông Duẩn gả con gái và cho ra ở riêng ở 2B Nguyễn Biểu, nơi bà cả Lê Thì Sương đang ở. Lúc này tình hình gia đình ông Duẩn hơi phức tạp, một số cán bộ đưa ra ý kiến cho bà 2 tạm lánh sang Trung Quốc để tránh dư luận và căng thẳng trong gia đình. Bà Bảy Vân, tên thật là Nguyễn Thụy Nga, đang bụng mang dạ chửa (mang thai Lê Kiên Thành) chia tay chồng sang TQ trong sự nhớ thương đã diết của TBT. Và cũng vào dịp này Hồ Ngọc Đại cũng qua Nga học Phó Tiến sĩ (Kandidat) rồi Tiến sĩ. Có chút học hàm, học vị HNĐ xem trời bằng vung, chê cha vợ vô học, duy lý chí. Từ đó hai cha con không bao giờ nói chuyện với nhau. Với đồng nghiệp, HNĐ được cho là “nguyên nhân của sự mất đoàn kết” hoặc “đi đến đâu là ở đó thành hai phe: ủng hộ và phản đối”. Với tính cách như vậy làm sao TBT Lê Duẩn cất nhắc vào ghế bộ trưởng Giáo dục được, mà HND làm sao làm lãnh đạo được? Những lời ông nói với VTV và một số phóng viên rằng ông “được cử làm bộ trưởng nhưng không nhận mà để nghiên cứu cống hiến cho giáo dục” là những lời nói sạo. Phương Tây có ngạn ngữ rất hay: “Những kẻ thất bại trong cuộc sống luôn tưởng tượng ra những ánh hào quang không có thực từ quá khứ”.

Cái mà ông Đại cho là nghiên cứu rồi đặt cho cái tên công nghệ giáo dục (CNGD) thực ra là công trình nghiên cứu của người thầy ông Đại, một GS viện sĩ Nga để dạy cho các học sinh nhỏ tuổi thiểu năng trí tuê, bắt đầu nhận biết bằng các hình vuông tròn tam giác, rồi từ đó cải thiện, nâng cao trí tuệ nhận, hiểu biết như những HS bình thường. Ông Đại hoàn toàn hiểu điều này, cho nên sau khi dạy thực nghiệm ở trung tâm Giảng Võ xong, ống chọn địa điểm thực nghiệm thứ 2 là vùng sâu vùng xa ở Lào Cai, nơi có các em người dân tộc H’Mông, Dao, Lô Lô ….Trong lúc mọi người không chú ý, ông đã cho lập các dự án nhân rộng ra 50 tình thành với sự ủng hộ nhiệt thành của các bộ, thứ trưởng như Nguyễn Minh Hiển, Phạm Vũ Luận, Nguyễn Vinh Hiển, Phùng Xuân Nhạ… bởi vì họ chỉ có tư duy quản lý dự án: tức là bao nhiêu tiền, chia nhau thế nào chứ không ai nghĩ đến quản lý chất lượng và thành quả dự án ra sao.

Không dừng lại ở đó, ông Đại còn lên sóng thoá mạ những người phản đối CNGD của ông là những người ngu học… Với tôi là một nhà khoa học chân chính, tôi không chấp nhận những xảo ngôn của ông Đại, và về trình độ học vấn tôi chỉ đánh giá ông ngang bằng với giáo viên cấp 2 – một công việc ông đã làm trước khi rời Hải Phòng. Mặc dù ông có bằng Tiến sĩ do Liên xô cấp, có học hàm Giáo sư do Nhà nước cấp nhưng cả về học thuật lẫn nhân cách ông không xứng đáng được tôi gọi là GS TS, nếu gọi thế làm ô uế giới trí thức chân chính chúng tôi. Ông có những suy nghĩ hết sức khác thường rằng “cha mẹ không được can thiệp vào việc dạy dỗ trẻ em” hoặc “cha mẹ không được lấy khuôn mẫu của mình để dạy cho trẻ”. Có người đặt câu hỏi: nếu trẻ hỏi: “bố ơi, vì sao sau khi đi nhà cầu phải chùi đít?” Chả lẽ bố trả lời : “ con hãy đến hỏi GS TS HNĐ!”. Hoặc không được dạy con: “chăm ngoan học giỏi, lớn lên thông minh giống bố” mà phải dạy: “lớn lên giống ông hàng xóm hoặc ông Đại?”.

GHI CHÚ: Chính vì tính khí của HNĐ dị thường nên đã có cuộc chia ly hoàng hôn màu đỏ gắt với con gái TBT. HIện nay ông không tham gia các ngày kỷ niệm lớn của gia đình họ Lê. Ông sống gần như biệt lập. Có lẽ những việc làm của ông là để giải stress hơn là mục đích kiếm tiền. Hiện ông đáng thương hơn đáng giận. Mọi người đừng chửi rủa ông ấy nữa nghe. Cuối đời rồi, để ông ấy bình thản.

Về các dự án cải cách giáo dục

Bây giờ thì nói về các dự án cải cách giáo dục (CCGD) của Bộ Giáo dục và Đào tạo ( B GD ĐT).Chương trình CCGD không phải là chuyện mới lạ mà nó có ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). Khi Chính phủ Lâm thời VNDCCH vừa thành lập, cụ GS Vũ Khắc Hoè đã được cử làm Bộ trưởng GD. Ông đã phát dộng CCGD, thay đổi các chương trình giảng dạy của Mẫu quốc Pháp bằng chương trình giảng dạy phù hợp với Nhà nước VNDCCH độc lập, ví như học Lịch sử Việt Nam thay cho Lịch sử nước Pháp, thay những bài ngữ văn ca ngợi nước VNDCCH thay cho ca ngợi nước Pháp… còn các chương trình giảng dạy các môn tự nhiên và cách dạy tất cả các môn học vẫn giữ nguyên: khen thưởng kỷ luật nghiêm minh, thầy luôn gương mẫu từ lời nói đến hành động, thầy yêu thương trò như con đẻ, dạy dỗ nghiêm khắc…Quá trình cải tiến đó diễn ra đều đặn qua các thời Bộ trưởng Đặng Thai Mai, Nguyễn Văn Huyên rất suôn sẻ, rất ổn định và rất tốt đẹp.

+ Sau khi thống nhất đất nước, năm 1978 bắt đầu nhen nhóm ý tưởng CCGD, nhưng phải đến 1981 Bộ GDDT mới bắt đầu đề án thay sách giáo khoa (SGK) kéo dài cho đến 1992.

Từ đây bắt đầu các cơn khát, cơn sốt dự án.

+ Chiến dịch thay sách lần thứ nhất (1981-1992) vừa xong thì đã triển khai dự án làm SGK lần thứ 2 bằng vốn vay ODA 2 tỷ Đô la ($). Tiền chi cho các chuyên gia dự án (là cán bộ của BGD cử sang) từ 12.000 – 15.000$/ tháng. BGD thấy làm dự án ngon ăn, cán bộ lãnh đạo tha hồ vơ vét đầy túi nên lại bày về ra đề án “Đổi mới chương trình SGK với dự toán kinh phí 70 ngàn tỷ đồng. Trước sự phản ứng gay gắt của Quốc hội, nên BGDDT phải rút lại đề án này.

+ Ba năm sau, Bộ GDĐT lại trình lên UB TV QH dự án chương trình thay SGH, sau khi bóc tách phần cơ sở vật chất thì dự toán kinh phí còn lại 34.275 tỷ đồng. Cả hội trường QH nhào nhào phản đối, bộ trưởng GDĐT Phạm Vũ Luận phân bua: sai sót đó là do đ/c vụ trưởng ngồi sau đưa cho Thứ trưởng tờ giấy. Bộ vẫn chưa có ý kiến gì về con số đó !?

+ Tháng 10/2014 QH thông qua nghi quyết NQ 88/214 phê chuẩn đề án “Chương trình thay đổi SGK” với dự toán kinh phí biên soạn chương trình chỉ có 462 tỷ đồng. Một dự án quan trong như vậy mà dự toán với những con số nhảy múa từ 70 ngàn tỷ, rồi xuống 34 ngàn tỷ, cuối cùng gút lại ở 462 tỷ. Thế mới biết Bộ GDĐT khát dự án mức nào và điều Bộ này quan tâm là quản lý dự án tức là dự án bao nhiêu tiền và chia chác như thế nào; còn chất lượng của dự án giáo dục không ai đến xỉa đến.

+ Năm 2008 Bộ GDĐT triển khai dự án “Nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” với tổng kinh phí là 9.378 tỷ từ ngân sách nhà nước. Sau 10 năm thực hiện, tiền thì tiêu gần hết mà chất lượng dạy và học vẫn không có biến chuyển gì đáng kể.

+ Tháng 1/2012 bộ GDĐT triển khai chương trình EVEN với tổng vốn phê duyệt là 17,6 triệu $ (=350 tỷ đồng), sau một thời gian thử nghiệm nhiều trường kêu cứu, và nói không với EVEN. Thất bại của dự án này là tất yếu và thấy trước vì dập khuôn chương trình cải cách của Columbia dành cho HS khó khăn.

Điều này nói lên rằng: Bộ GDĐT khát dự án đến mức nào. Có dự án là có tiền chia nhau!?

PHẦN KẾT: dự án giáo dục không chềnh ềnh ra như dự án BOT giao thông: cầu vênh, đường tróc lở là biết ngay, không giống các dự án công nghiệp: sừng sững như những trái núi phả khói bụi mù trời, xả nguồn nước ô nhiễm độc hại, cá tôm và các loài thủy sinh chết hàng loạt cũng biết ngay để ngăn chặn, để phản đối. Đàng này dự án giáo dục êm đềm triển khai trong các phòng máy lạnh, trên những bàn phím mà sản phẩm của nó là những tập sách giáo khoa, những tài liệu hướng dẫn, những đĩa dạy mẫu… nên không mấy người biết và quan tâm. NHƯNG NÓ NGỐN ĐI HÀNG TRĂN NGÀN TỶ ĐỒNG TỪ NGÂN SÁCH MỖI NĂM, VÉT ĐI NHỮNG ĐỒNG TIỀN CÒM CÕI CUỐI CÙNG CỦA CHA MẸ HỌC SINH. Chả nhẽ có con không cho con đi học, cho con đi học chả nhẽ không mua sách? Hàng vạn bộ sách cứ in ra mỗi năm rồi bỏ đi. Mỗi năm lãng phí hàng trăm ngàn tỷ đồng.

Chuyện tưởng nhỏ nhưng lại rất lớn lao và vô cùng hệ trọng bởi sẽ nó liên quan đến vóc dáng Quốc gia. Mong rằng BCT, Quốc hội, Chính phủ nhanh chóng vào cuộc chấn chỉnh nền giáo dục đang tàn tạ, ốm yếu và nát bét như hiện nay. Xin nêu một ví du về in ấn và sử dụng SGK của phương Tây: SGK được thống nhất và giảng dạy trong toàn quốc và cấp miễn phí cho học sinh. Trên bìa có in chữ: HÃY GIỮ GÌN SÁCH CẨN THẬN ĐỂ DÙNG CHO BẬC ĐÀN EM CỦA CÁC EM! Hết năm học, HS nộp lại cho thầy/ cô giáo cất đi để cấp phát cho HS năm sau. Có chuyện HS học đúng trường của bố học trước dây và được phát đúng bộ sách trước đây bố đã dùng. Thật phấn khích!

Dưới đây là ảnh của một số bộ trưởng giáo dục đầu tiên: 1-Vũ Đình Hoè GS, Nhà Sử học 2-Đặng Thai Mai GS, Nhà BL văn học. 3-Nguyễn Văn Huyên, GS TS, Nhà GD học, nhà Dân tộc học. 4-Tạ Quang Bửu, đa tài, uyên bác nhiều ngành khoa học, Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

Lời bình (2)

GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT
Hoàng Kim

Tách thầy Đại khỏi phe nhóm chia tiền ?
Xử lưu manh “mượn đầu heo nấu cháo”
Đạo lý làm Thầy học trò không chuột bạch
Luân lý dạy Người nghề giáo có lương tâm.

Phan LanHoa phản biện luật lưu manh mời xem thông tin đầy đủ cập nhật tại đâyhttps://hoangkimlong.wordpress.com//category/giu-trong-sang-tieng-viet/

Lời ngoài chính sử (3)

“GIÁO DỤC LÀ QUỐC SÁCH” NÓI VÀ LÀM

“Giáo dục là quốc sách”. Tại Việt Nam, mặc dù tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục luôn ở mức rất lớn, thậm chí không hề thua kém các nước phát triển, nhưng tại sao nền giáo dục vẫn lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng như ngày hôm nay? Đó là bởi vì tiền đã không được giành cho đúng mục đích để giải quyết những vấn đề nổi cộm nhất của ngành, mà lại bị đổ vào những dự án “khủng”, núp danh “cải cách, đổi mới”, nhưng thực chất chỉ nhằm tạo cơ hội kiếm chác, ăn chia.

Trách nhiệm, nếu có, không chỉ thuộc về những người làm công tác quản lý giáo dục, mà còn là lỗi ở sự dễ dãi của hệ thống chính trị lẫn sự thờ ơ của cả xã hội, thứ có thể giết chết “tiền đồ” của cả một dân tộc.

Sách giáo khoa thực nghiệm gây tranh cãi của GS Hồ Ngọc Đại

Công bằng mà nói, mặc dù thời bao cấp nghèo khổ, thiếu thốn đủ đường, nhưng nền giáo dục khi ấy xem ra vẫn còn tử tế hơn rất nhiều so với bây giờ. Sau khi kinh tế được cởi trói, đi theo định hướng thị trường, nền giáo dục Việt Nam cũng bắt đầu bị cuốn vào vòng xoáy kim tiền, với những cơn sốt dự án, song bằng tư duy “tiểu nông” của những người thực hiện, gây tốn kém không biết bao nhiêu tiền bạc của đất nước.

Sau hai lần thay sách giáo khoa trong thập niên 1990 – 2000 (bằng vốn vay ODA lên tới 2 tỷ USD), sang tới năm 2011, Bộ Giáo dục lại trình Quốc hội đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông mới với kinh phí ước đạt 70 ngàn tỷ VNĐ, khiến dư luận không khỏi bức xúc; Rồi sau nhiều lần điều chỉnh và trả lời chất vấn tại Quốc hội, các vị quan chức giáo dục lại điều chỉnh con số, rút từ 34.275 tỷ xuống còn 462 tỷ để được thông qua. Có lẽ những người này chỉ đang tìm cách giải ngân tiền, chứ chẳng phải vì mục đích “nâng cao chất lượng” hay xa hơn là “trồng người”, dù cho ngân sách rót ít hay nhiều thì cuối cùng họ vẫn có phương án để tiêu. Vì thế, có người còn nói vui, rằng Bộ Giáo dục bây giờ đi làm dự án, quản lý dự án là chủ yếu chứ không còn là quản lý giáo dục nữa. Phải chăng, cũng vì vậy mà tồn tại một xu hướng, khi những vị có bằng cấp về kinh tế, kinh doanh, thương mại, … lại hay được giao trọng trách lèo lái con thuyền giáo dục, hơn là những triết gia, nhà tư tưởng hay sư phạm thuần túy.

Hiện nay, không ít cá nhân gắn mác giáo sư tiến sĩ hay chuyên gia giáo dục đang phải sống dựa vào công việc viết sách, bởi vậy họ thường mong có dự án để khỏi thất nghiệp. Nói về sách giáo khoa, đây thực ra không phải là vấn đề quá phức tạp.
Nếu không hoặc chưa có giáo trình tử tế, chúng ta hoàn toàn có thể nhập khẩu từ những nền giáo dục tiên tiến, về dịch và cải biên lại cho phù hợp để dạy cho học sinh; duy chỉ những môn đặc thù như ngữ văn, lịch sử, công dân giáo dục, … là cần biên soạn thật tử tế để phù hợp với văn hóa, bản sắc, lẫn ý chí của dân tộc. Ngay đến Hàn Quốc cũng lựa chọn phương án này khi lấy sách giáo khoa của Nhật Bản để dạy cho học sinh. Cách làm như trên, chắc chắn cũng không thể tốn kém như những đề án “tỷ USD” của Bộ Giáo dục.

Ngoài ra, việc viết sách giáo khoa cũng không đến mức quá khó, nếu biết huy động và kêu gọi các trí thức “thật sự” tham gia, không vì mục tiêu lợi nhuận. Chẳng hạn, Nhóm giáo dục Cánh Buồm của nhà giáo Phạm Toàn, từ nhiều năm qua đã chia sẻ miễn phí trên mạng bộ sách giáo khoa (được đánh giá là rất tốt và nhân văn) đối với bậc học đến lớp 9. Hay Tiến sĩ Giáp Văn Dương có lần từng thẳng thắn phát biểu, rằng “Nếu để các trí thức viết sách giáo trình, không cần đến hàng ngàn tỷ, mà chỉ cần một phần kinh phí rất nhỏ, hay thậm chí cả khi Bộ Giáo dục không hỗ trợ, thì chúng tôi vẫn có thể làm được.” Ngoài ra, nhà nước cũng nên chấm dứt độc quyền, hãy để nhà trường, giáo viên, phụ huynh và người học được tự do lựa chọn sách giáo trình, trên tinh thần đáp ứng được yêu cầu về chất lượng.

xem tiếp…
GIỮ TRONG SÁNG TIẾNG VIỆT Hoàng Kim phần 1 ngày 6 tháng 9 , phần 2 ngày 9 tháng 9, phần 3 ngày 11 tháng 9, phần 4 ngày 17 tháng 9 năm 2018 tài liệu bài tại đây  https://hoangkimlong.wordpress.com//category/giu-trong-sang-tieng-viet/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Chỉ tình yêu ở lại

Ở đâu một trời thương nhớ

Hoàng Kim Ở đâu lung linh Kiếp Bạc Sao Khuê mờ tỏ Côn Sơn Ở đâu một trời thương nhớ Cho ta khoảng lặng tâm hồn. Nhớ ai vừng đông vừa rạng Ước dòng tin nhắn đầu tiên Hương đất thơm mùa ruộng cấy Phương xa vời vợi bạn hiền. Ở đâu bàng hoàng Phố chợ Tháng năm ngơ ngẫn sớm chiều Con nhảy xe đò về ruộng Mưa dầm bóng Mẹ liêu xiêu. Tìm tới Phố đông để sống Lời nào em học đầu tiên? Biết ơn nhọc nhằn Cha Mẹ Lấm lem con chữ ưu phiền. Phố chợ người càng đông đúc Đồng Xuân xa lại càng thưa Vui với việc hiền ở phố Bâng khuâng thương nhớ chiêm mùa… Tình yêu thì không có tuổi Yêu thương đầy đặn tháng năm Nhớ mãi ‘Nụ cười sơn cước’ Thương hoài tình thấm trang văn. Tôi  tìm thấy sự liên hệ và thức tỉnh của lớp người trong thời đại mình. Đó là một thế hệ cầm súng trãi qua nội chiến chống ngoại xâm, lại dấn thân vào việc diệt giặc đói, diệt giặc dốt nâng cao dân trí. Họ sống minh triết, phúc hậu, yêu thương, an nhiên và phát triển, dù bị vây bủa giữa các xu hướng thực dụng, bon chen, các thói ích kỷ tham nhũng, cố làm giàu bằng mọi giá. ‘Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sỹ tài năng Tô Hải vẫn làm ta xao xuyến bồi hồi, ca khúc không già theo năm tháng vì nó là tình yêu, mà tình yêu thì không có tuổi’. Cám ơn anh Bu Lu Khin về bài viết ” VÀ TRONG LÒNG MƯA HƠN Ở NGOÀI TRỜI”thật chân thành xúc động tưởng nhớ nhạc sĩ Tô Hải, Em Hoàng Kim xin chép bài viết của anh về chung trang thơ văn ‘Chỉ tình yêu ở lại’ VÀ TRONG LÒNG MƯA HƠN Ở NGOÀI TRỜI Bu Lu Khin  (13.9.2018) Nhạc sĩ Tô Hải đã qua đời ngày 11.8.2018 tại quận Phú Nhuận Thành phố Hồ Chí Minh. Bạn bè, thân hữu tiễn đưa nhạc sĩ theo nghi lễ công giáo tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thuộc dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Để tưởng nhớ nhạc sĩ tài hoa, bu tui đăng lại bài “Và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời” thay một nén nhang thương tiếc một tài năng âm nhạc nước nhà… Tựa đề là một câu trong ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sĩ Tô Hải sáng tác khi ông mới 20 tuổi (1947).  Chàng trai Tô Hải vào Vệ Quốc Đoàn trong những ngày đầu cách mạng tháng 8 năm 1945, đã từng qua hai trường huấn luyện quân chính có văn bằng hẳn hoi nhưng ông không thành tá tướng như các bạn mà trở thành…nhạc sỹ!. Năm 1947 Tô Hải được điều về bộ tư lệnh mới thành lập làm thư ký riêng cho một nhân vật mà theo ông “Thật hấp dẫn và “quái dị” có tên là Thế Hùng, biệt hiệu Hùng hét”. Ông Hùng đã từng tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố (Tàu) với Hoàng Văn Thái và Hoàng Minh Thảo, nhưng do tiền sử phục vụ trong quân đội Pháp nên không được vào đảng, chỉ giữ chức trưởng Ban Quản trị Liên khu bộ. Ông Hùng bất mãn với vai trò này, giận cá chém thớt, hét hò quát tháo đám dưới quyền, trừ anh lính biết làm nhạc Tô Hải. Ông tạo điều kiện cho Tô Hải sáng tác vì bản thân ông cũng có máu văn nghệ, bài hát Tây bài hát Tàu, cải lương, vọng cổ, ông làm được tuốt. Hùng hét và Tô Hải cùng ở nhà bọ Phến vùng Thung Gio, một địa phương miền núi Hòa Bình. Bọ Phến có cô con gái cực xinh tên là Phẩm kém Tô Hải vài tuổi. Tiếng đàn tiếng hát của anh lính Tô Hải làm xao xuyến người đẹp miền sơn cước, và làn da khóe mắt cô Phẩm như làm anh lính đẹp trai, lắm chữ, đàn hay hơn hát hay hơn. Là người từng trải yêu đương, ông Hùng thấy giữa cặp trai tài gái sắc này đã lập lòe ngọn lửa tình có cơ bùng cháy. Một hôm ông nói với Tô Hải “Mày chớ dại mà hứa hẹn gì! Không được đâu! Đã hứa mà không giữ lời với họ là có khi tiêu đời đấy con ạ”. Đột nhiên có lệnh điều động trung đội phó Tô Đình Hải đi học trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Tô Hải nhớ lại: “Những ngày tôi chuẩn bị lên đường Phẩm không đi làm nương. Nàng cứ loanh quanh bên tôi như chờ tôi nói một lời hứa hẹn, một lời tỏ tình gì đó. Nghe lời ông Hùng tôi miễn cưỡng im lặng về mối tình mà tôi ấp ủ bấy lâu với Phẩm, người con gái có đôi mắt mà đến khi từ giả cuộc đời có lẽ vẫn in hằn trong tâm khảm. Nó sáng, nó đen, nó long lanh, nó nói hơn cả những điều cần phải nói bằng lời. Lúc chào mọi người lên đường, tôi cố tìm đôi mắt ấy lần cuối nhưng không thấy. Cô vô tình đến thế sao? Hay cô đang nằm khóc vùi trên nhà sàn? Tôi bận rộn tìm lại đôi mắt huyền của Phẩm đến mức chẳng còn nghe thấy lời chúc mừng của anh em cơ quan và đồng bào trong bản. ..Lòng buồn nặng trĩu vì cuộc chia tay không hoàn chỉnh, tôi bước đi về hướng Chồng Mâm, Chợ Giời”… Sắp xắn quần để chuẩn bị lội qua con suối đầu tiên của chín con suối độc thì nghe tiếng gọi anh Hải. Thì ra Phẩm đón đường tôi ở chân dốc này. Cô nói “Bọ Hùng bảo em ra đón anh ở đây”. Cuộc gặp gỡ có sắp xếp này té ra chính là sáng kiến của ông Hùng hét! Hai đứa gặp nhau cứ như đã thổ lộ tình yêu, đã hẹn hò thề ước gì rồi. Phẩm trao cho tôi một gói xôi gạo cẩm, một chiếc vòng bạc, và nói trong tiếng nức nở “Anh Hải đi học thành tài, đánh Tây xong, nhớ về Thung Gio…lâu mấy em cũng đợi!”. Trời Hòa Bình hôm ấy quá mù ra mưa, chàng trai Tô Hải quay lưng giả từ người yêu về trường võ bị. Chân bước ra đi mà trái tim ở lại, anh hát thầm cho chính mình nghe: “Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi, mây mờ buông xuống núi đồi, và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời”. Trong người lính 20 tuổi Tô Hải, hai bên đường anh đi, sau cả dãy núi Kim Bôi kia nữa là hình ảnh: “Một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trắng, một chiếc vòng sáng lóng lánh, với nụ cười nàng quá xinh”. Ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC theo bước chân người lính – nhạc sỹ Tô Hải – hình thành và hoàn thiện ngay trên đường đi. Đêm liên hoan đầu tiên của tiểu đoàn chiêu sinh “ Tôi đã thả hồn trong tiếng đàn và hát lên sự thật của trái tim mình cho anh em khóa sinh nghe. Họ im lặng đến kỳ lạ rồi xuýt xoa khi nghe tôi buông xuống câu “Đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi”, họ vỗ tay kéo dài và hét lên bis! bis…” Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ca khúc NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC của nhạc sỹ tài năng Tô Hải vẫn làm ta xao xuyến bồi hồi, ca khúc không già theo năm tháng vì nó là tình yêu, mà tình yêu thì không có tuổi. NỤ CƯỜI SƠN CƯỚC Sáng tác: NHẠC SĨ TÔ HẢI Tôi nhớ mãi một chiều xuân.. chia phôi, mây mờ buông xuống núi đồi và trong lòng mưa hơn cả ngoài trời. Cỏ cây hoa lá, thương nhớ mãi người đi và dâng sầu lên mi mắt người về. Thơ thẩn đàn chim ngừng tiếng hót, và mưa Xuân đang tưới luống u sầu, buồn cho dòng nước mờ xóa bóng chim uyên và gió chiều còn khóc thương mãi mối tình còn vấn vương. Ai về sau dãy núi Kim – Bôi, nhắn giùm tim tôi chưa phai mờ, hình dung một chiếc thắt lưng xanh, một chiếc khăn màu trắng trăng, một chiếc vòng sáng lóng lánh, với nụ cười nàng quá xinh. Nàng ơi, tôi đã rút tơ lòng, dệt mấy cung yêu thương gởi lòng trong trắng, của mấy bông hoa rừng đời đời không tàn với khúc nhạc lòng tôi. Nụ cười sơn cước cũng như Thơ tình cuối mùa thuThuyền và Biển, Những tình khúc vượt thời gian, … biết bao dãy núi cao vọi và lấp lánh kia như những vì sao trên bầu trời. Chỉ tình yêu ở lại    

https://hoangkimlong.wordpress.com


HoangKim999
HÃY HƯỚNG VỀ MẶT TRỜI Hoàng Kim. Lên đường đi em Ban mai vừa rạng Hãy hướng về mặt trời ! Ta hãy chăm như con ong làm mật Cuộc đời này đầy hương hoa Ngày mới thung dung vẫy gọi Mật cho đời, vui khỏe cho ta! (xem tiếp) Video yêu thích Hãy đi về phía mặt trờiKimYouTube Trở về trang chính Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook; Kim on Twitter

👋

Giấc mơ lành yêu thương

GIẤC MƠ LÀNH YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim

nhắm mắt lại đi em
để thấy rõ giấc mơ hạnh phúc
trời thanh thản xanh
đêm nồng nàn thở
ta có nhau trong cuộc đời này
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương

nhắm mắt lại đi em
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh

nhắm mắt lại đi em,
tận hưởng thú an lành.


Nhắm mắt lại đi em
Giấc ngủ ngoan
giấc mơ hạnh phúc
Em mãi bên anh,
Đồng hành với anh
Bài ca yêu thương
Bài ca thời gian
Suốt đời tỉnh thức
Ta có nhau trong cuộc đời này.
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương

nhắm mắt lại đi em
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh

nhắm mắt lại đi em,
tận hưởng thú an lành

Nhắm mắt lại đi em
Giấc mơ cuộc đời
giấc mơ hạnh phúc
ngôi nhà tâm thức
Có cánh cửa khép hờ
và bãi cỏ xanh non.
Có đá nước cây và hoa
Một khu vườn tĩnh lặng.
Chim sóc chó mèo gà
luôn quấn quýt sớm hôm.
Ban mai ửng
nghe chim trời gọi cửa.
Hoàng hôn buông
trăng gió nhẹ lay màn.

Ta về với ruộng đồng
vui giấc mơ hạnh phúc
Hoa Người Hoa Đất 
Một giấc mơ con.

xem tiếp
Giấc mơ lành yêu thương
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giac-mo-lanh-yeu-thuong/

Video yêu thích
Giấc mơ trưa – Thùy Chi
I will be right here waiting for you
Run away with me
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam