Quốc Khánh nhớ thơ Trăng của Bác


QUỐC KHÁNH NHỚ THƠ TRĂNG CỦA BÁC
Hoàng Kim

Quốc Khánh nhớ thơ Trăng của Bác
Bốn lăm tuổi Đảng học theo Người
Tâm sáng đức cao chăm việc tốt
Chí bền trung hiếu được tin yêu.
Ngoạn Minh Loan Hieu Mai Ky Nguyễn
Kawano Reinhardt Manabu
Thầy quý bạn hiền tận tâm cố gắng
Chúc mừng ngày mới khỏe và vui.
 


Phan Chi đã chia sẻ một bài viết
Giỗ cụ Trần Quý Kiên ngày 13 tháng Bảy ÂL.
Giỗ cụ Hồ ngày 21 tháng Bảy ÂL (nhằm ngày 31.8.2018)

 

Phan Chi cùng với Tran Thi TamHoàng Kim.

Gửi Hoàng Kim,

Vì Hoàng Kim quan tâm đến tư liệu cụ Hồ với ngành Nông nghiệp Việt Nam, tôi xin gửi tấm hình chụp Cụ đang đạp nước tại công trình Bắc Hưng Hải 1958.

Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là một hệ thống kênh, đập, trạm bơm, đê điều nhằm phục vụ việc tưới tiêu và thoát úng cho một vùng tứ giác nước được giới hạn bởi sông Hồng ở phía Tây, sông Đuống ở phía Bắc, sông Thái Bình ở phía Đông, và sông Luộc ở phía Nam. Mỗi tỉnh thành Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương đều có một phần địa bàn của mình trong tứ giác này. Vì thế hệ thống thủy lợi này được đặt tên là Bắc Hưng Hải.

Hệ thống được xây dựng bắt đầu từ cuối năm 1958. Tổng chiều dài của hệ thống kênh chính là 200 km. Trong quá trình chuẩn bị và xây dựng hệ thống này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã một vài lần tới công trường thăm, động viên và kiểm tra. Việc đào kênh, đắp đê chủ yếu được thực hiện bởi sức người.

Trong ảnh là Cụ Hồ đang đạp nước.
Người đạp ở giữa là cụ Trần Quý Kiên – nhạc phụ của Phan Chi.

CHƠI GIĂNG
Hồ Chí Minh
Gặp tuần trăng sáng, dạo chơi giăng,
Sẵn nhắn vài câu hỏi chị Hằng:
“Non nước tơi bời sao vậy nhỉ?
Nhân dân cực khổ biết hay chăng?
Khi nào kéo được quân anh dũng,
Để dẹp cho tàn bọn nhố nhăng?
Nam Việt bao giờ thì giải phóng
Nói cho nghe thử, hỡi cô Hằng?”.

*

Nguyệt rằng: “Tôi kính trả lời ông:
Tôi đã từng soi khắp núi sông,
Muốn biết tự do chầy hay chóng,
Thì xem tổ chức khắp hay không.
Nước nhà giành lại nhờ tài sắt,
Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng.
Tổ chức, tuyên truyền càng rộng rãi,
Tức là cách mệnh chóng thành công”.

Báo Việt Nam độc lập, số 135, ngày 21-8-1942.
Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

CÔ ƠI

Thầy Cô đó thanh thản cùng con cháu
Nén hương thơm thành kính tiễn Người
Ngày giỗ Bác cũng là ngày Cô mất (21 tháng 7al)
Xa mà gần thương nhớ mãi Cô ơi !
Đúc gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ” (*)
Văn Sử là Người, Thầy Cô thắp lửa thiêng
Khoa Tịnh Diệu Vinh mãi mãi vững bền.
Gia đình Trần Văn Minh, Hoàng Kim kính viếng.
(*) Cô Diệu Vinh và người thân trước mộ cụ Phan.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích

Beethoven – Für Elise (60 Minutes Version)

KimYouTube

 
Advertisements

Bài ca yêu thương

BÀI CA YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim

Thương nước biết ơn bao người ngọc
Vì dân qua bến nhẹ tênh lòng
Nhớ bao tài đức đời thanh thản
Ân tình lưu dấu những dòng sông.

Linh Giang Kỳ Lộ tới Đồng Nai
Mỗi chốn đều ghi chuyện cảm hoài
Đá Bia núi Nhạn vùng huyền thoại
Nam Tiến ân tình thương nhớ ai.

Vì nước đâu nề cảnh biệt ly
Nghìn trùng thăm thẳm buổi ra đi
Thanh Lương an tĩnh hiền thoát tục
Lương Chánh thanh nhàn đức từ bi

Chí thiện cha nêu gương trung hiếu
Yêu thương người chấp mọi thị phi
Chuông chùa vang vọng niềm an lạc
Sông núi trời Nam mãi mãi ghi.

Trúc Lâm thăm thẳm đức Hoàng Thành
A Na bà chúa Ngọc Phương Nam
Đất phú trời yên người hạnh phúc
Hồn Việt đường vui tới cõi hiền.

Huyền Trân công chúa Đại Việt kết duyên với vua Chế Mân Chiêm Thành nhiều người cho rằng đó là mưu lược chính trị nhờ vậy mà Đại Việt thêm được hai châu Ô Lý. Sự thật đó là một liên minh của dân tộc Việt mà nếu không thành thì hai nước khó có thể  tồn tại. Chế Mân là vị vua Chiêm Thành trong hoàn cảnh đất nước bị đế quốc Angkor sát nách luôn muốn thôn tính và vó ngựa quân Nguyên Mông đang thần tốc tràn xuống phương Nam. Ông đã bỏ qua vinh nhục bản thân nhiều lần tỏ lòng thành liên kết với Đại Việt bằng cách dâng lễ vật là hai châu Ô Lý để xin cầu hôn với Huyền Trân công chúa con vua Trần Nhân Tông. Hai châu Ô Lý thực chất là chiến phí cho công cuộc liên kết kháng chiến chống kẻ địch mạnh đến cướp đất cướp dân, trả ơn cho Đại Việt đã hai lần gánh chịu tổn thất nặng nề làm tiền phương chống trả quân Nguyên Mông, cản đường của kẻ đã lấy cớ mượn đường Đại Việt để đánh Chiêm Thành.
Chế Mân là vị vua anh minh ưu tú xứng đáng và thực lòng yêu thương Huyền Trân. Các vị vương mưu lược tài năng và các danh thần triều Trần hiểu rõ vận nước và sự chân thành đó của ông nên mới tán đồng cuộc hôn nhân, khi công chúa Huyền Trân đã bén duyên Trần Khắc Chung  và mang ơn cứu mạng của chàng đối với cả cha và con trong trận chiến đẫm máu mà hai vua Trần và Huyền Trân xuýt bị giết. Thiết tưởng việc dành sự trong trắng của một cô gái đang độ xuân thì phải lìa bỏ người yêu để dấn thân cứu nạn nước và thực tâm yêu người khác làm chồng đó là một sự hi sinh lớn lao. Hậu thế cần một đánh giá công bằng đối với Chế Mân và Huyền Trân để thấu hiểu trọn vẹn những uẩn khúc sau này lúc Huyền Trân đi tu, thực thấu hiểu cuộc tình duyên nổi tiếng này trong lịch sử.
Tác giả Sao Khuê trong bài “Cảm nhận Huyền Trân” đã cho rằng: “Công chúa Huyền Trân là người đoan chính, chuyện bà tư thông với danh tướng Trần Khắc Chung là vô lý. Có năm lý do để Sao Khuê tin như thế, vì:
 
1) Trần Nhân Tông là một vị vua lỗi lạc từng lập kỳ tích chiến thắng quân Nguyên 2 lần. Sau đó khi còn rất trẻ đã từ bỏ danh lợi, thoái vị trao ngai vàng lại cho con mà xuất gia quy y Phật pháp, trở thành tôn sư sáng lập một Thiền phái Phật giáo. “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” – Có người cha anh hùng xuất chúng như thế thì Công chúa Huyền Trân khó thể là đứa con hư hỏng làm ô danh hoàng tộc.
 
2) Trần Khắc Chung là công thần qua mấy đời vua. Làm quan đến chức Nhập Nội Hành Khiển, Thượng Thư Tả Bộc Xạ (tương đương Tể Tướng). Công lao to tát đến độ được vua cho đổi sang quốc tính (họ Trần) – Xét về tuổi tác, luận về danh tiếng, đức độ…thì không lý gì ông lại làm ra chuyện xấu xa cùng Công chúa Huyền Trân để thân bại danh liệt.
 
3) Trên chuyến vượt thoát về Đại Việt ngoài Trần Khắc Chung còn có nhiều người khác (như An phủ sứ Đặng Vân và quân lính tùy tùng…) chứ không chỉ có Trần Khắc Chung và Công chúa Huyền Trân hai người…
 
4) Nếu là chuyện xấu xa thì tại sao những vị Vương Tướng cương trực cùng thời với Trần Khắc Chung (như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, …) không ai có thái độ gì?
 
5) Ngoài ra, còn bởi một lẽ riêng tư (mà Sao Khuê cho là rất quan trọng): Khi trốn khỏi Chiêm Thành thì hoàng tử Chế Đa Đa do Công chúa Huyền Trân hạ sinh mới vừa được mấy tháng tuổi không thể mang theo cùng! Lúc đó bà chẳng những là một người vợ vừa mất chồng mà còn là một người mẹ phải đoạn lìa núm ruột của mình. Sao Khuê cùng phận nữ, vô cùng cảm thương cho Công chúa Huyền Trân nên có thơ
 
CẢM PHẬN HUYỀN TRÂN
 
Ô, Rí năm nào đổi biệt ly
Huyền Trân Công Chúa bước vu qui
Ba sinh chưa vẹn đà tan tác
Hương lửa đang nồng vội thảm bi!
Đại Việt cướp người thuyền vượt lướt
Chiêm Thành ôm hận ngựa cuồng phi
Kiên trinh há thẹn dòng Long Phụng
Trung Đẳng (*) lòng son sử sách ghi!
 
(*) Sau này Công chúa Huyền Trân chẳng những được dân chúng lập miếu thờ phượng vì linh ứng, mà còn được nhiều đời vua xưng tụng là Thần hộ quốc. Vào năm Khải Định thứ chín đã chính thức sắc phong bà là “Trai Tĩnh Trung Đẳng thần”.

Hoàng Kim có “bài thơ yêu thương” họa vần”Cảm phận Huyền Trân”. Huyền Trân mang ơn cứu mạng của Lê Phụ Trần xả thân cứu cha và con trong cuộc chiến đẫm máu nhưng vẫn chấp nhận gác tình riêng vì NƯỚC NON NGÀN DẶM RA ĐI. Có Cha ấy và có Con ấy, dân tộc Việt thật là hồng phúc ! Tôi tâm đắc với câu trả lời của GS Trần Văn Giàu trước câu hỏi “Chúng ta có nên đề cập đến vấn đề châu Ô châu Rí không? GS. Trần Văn Giàu đã trả lời: “Có lúc nói, có lúc không. Chúng ta dựa vào lịch sử để nói, nhưng chúng ta không nên đi quá nhiều về lịch sử, bây giờ thì không cần nói vấn đề đó. Qua lịch sử, chúng ta nói về những vấn đề vượt lên trên lịch sử. Qua lịch sử ta nói đến con người, nhân cách của Người. Từ nhân cách ấy, cho ta thấy nhân cách của một dân tộc. Một đất nước sản sinh ra được một con người có một không hai trên thế giới, thử hỏi đất nước ấy và dân tộc ấy có đặc biệt hay không?”

Giáo sư Tôn Thất Trình đã nhận xét thật sâu sắc và chí lý, đại ý: Văn học Việt Nam hội nhập toàn cầu thiếu những tác phẩm lớn đích thực như “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tonstoy để xây dựng nên hình tượng Natasa bản tính Nga, chứ huyền sử Việt không thiếu những biểu tượng cảm động như Huyền Trân công chúa và đất phương Nam. Chúng ta chưa đủ tầm để thấu hiểu lịch sử văn hóa Việt đó thôi”.

Thu Bồn có bài thơ “Tạm biệt Huế” dữ dội và cảm động in trong “Một trăm bài thơ tình chưa kịp đặt tên” phảng phất huyền sử mối tình say đắm và quyết liệt của Chế Mân – Huyền Trân với sự hi sinh thầm lặng cao cả của bốn nhân vật huyền thoại Trần Nhân Tông – Chế Mân- Huyền Trân- Lê Phụ Trần, bừng sáng bình minh Yên Tử.

TẠM BIỆT HUẾ
Thu Bồn

bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
nên chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng
mặt trời vàng và mắt em nâu

xin chào Huế một lần anh đến
để ngàn lần anh nhớ hư vô
em rất thực nắng thì mờ ảo
xin đừng lầm em với cố đô

áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
nón rất Huế mà đời không phải thế
mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

nhịp cầu cong và con đường thẳng
một đời anh đi mãi chẳng về đâu
con sông dùng dằng con sông không chảy
sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
anh trở về hoá đá phía bên kia.

Huế 1980

Huế xưa và nay là nơi lưu dấu đức hi sinh cao cả vì nước của cha con vua Phật Trần Nhân Tông và công chúa Huyền Trân. Đền thờ công chúa Huyền Trân trong không gian Trung tâm Văn hóa Huyền Trân có không gian rộng 28 ha tọa lạc tại 151 đường Thiên Thai, phường An Tây,  chân núi Ngũ Phong, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7 km. núi không cần cao, có tiên ắt thiêng. Sông không cần sâu, rồng chầu thành nổi tiếng”… Đến cố đô Huế, tôi dạo chơi cùng Trần Văn Minh người bạn thân thuở nhỏ nay là giáo sư tiến sĩ nhà giáo nhân dân nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Huế. Chúng tôi cùng thành kính ngưỡng mộ đức Nhân Tông và Huyền Trân Công Chúa, cùng lắng nghe thông xanh đàn Nam Giao trò chuyện và lắng nghe tiếng chuông hòa bình mờ tỏ trong mây trên đỉnh tháp núi Ngũ Phong của vùng Trung tâm Văn hóa Huyền Trân. Đây là nơi giao hòa Trời Đất và hương linh các bậc Thầy, những người con trung hiếu tận tụy hi sinh hết lòng vì Nước vì Dân. Tôi đã cảm khái viết bài thơ nhớ Thầy Nguyễn Khoa Tịnh:

TRƯỚC SÔNG HƯƠNG NÚI NGỰ NHỚ THẦY

Hoàng Kim

Thầy ơi, em nặng lòng với Huế
Mừng duyên lành con em xe về miền Trung
Nơi LỘC Khê Hầu NGUYÊN vẹn công nghìn năm mở cõi
Với dòng sông Hương soi bóng núi Ngự Bình.

Huế là cố đô Nhà Nguyễn trãi mười đời chúa mười ba đời vua, từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hóa năm 1558, cai quản xứ Đàng Trong sáng lập và tạo dựng mười đời chúa Nguyễn trong hơn 2 thế kỷ và chỉ chấm dứt sau khi nhà Tây Sơn nổi dậy và đánh đổ cả hai tập đoàn Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn vào cuối thế kỷ 18. Nhà Nguyễn được tiếp nối khi nhà Tây Sơn sụp đổ, vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và chấm dứt triều Nguyễn khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945, với 143 năm.

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh thông xanh núi Huế là người thầy dạy nhân cách và lịch sử, khai sáng thế hệ chúng tôi. Tôi đã viết bài ‘Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời‘ để tỏ lòng tri ân sâu nặng đối với người Thầy lớn và những thầy bạn mà tôi không thể có được ngày hôm nay nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”.

Dân Việt đi như dòng sông về biển. Gia đình tôi cũng đi theo con đường Nam Tiến của dân tộc, từ Linh Giang dòng sông quê hương đến bao dòng sông thao thiết chảy. Chúng tôi đã đi từ Sông Thương, Sông Hồng, Sông Lam, Sông Nhật Lệ, Sông Thu Bồn, đến Sông Tiền, Sông Hậu, … từ Mekong nhớ Neva, Từ Sông Hương, Kỳ Lộ tới Đồng Nai… Những con sông tắm mát đời người.

Huyền Trân, Ngọc Khoa, Ngọc Vạn là ba người Mẹ Việt đã chịu điều tiếng thị phi để tạo dựng cơ nghiệp muôn đời cho dân tộc Việt. Huyền Trân công chúa là con gái của vua Trần Nhân Tông đã vì “nước non ngàn dặm ra đi” kết duyên vợ chồng với vua Chế Mân đất phương Nam.  Hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa là con gái của chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã được chúa Nguyễn gả cho vua Chiêm Thành và vua Cao Miên dùng chính sách hoà bình, thân thiện để kết hòa hiếu”. Năm 1620, Chúa Sãi gả Công Nữ Ngọc Vạn cho vua Cao Miên là Chư Chetta II (1618-1686) nên dân Việt đã vào làm ăn sinh sống thuận lợi tại vùng sông Đồng Nai Cù Lao Phố Biên Hòa ngày nay, thuộc đất Thủy Chân Lạp của Cao Miên. Năm 1631, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng lại gả Công Nữ Ngọc Khoa cho Vua Chiêm Thành Pô Romê. Dân Việt đã vào sinh cơ lập nghiệp ở kinh đô Chiêm Thành thời ấy tại ven sông Kỳ Lộ thuộc huyện Đồng Xuân, Tuy An ngày nay. Sông Kỳ Lộ dài 120 km, bắt nguồn từ vùng núi La Hiên cao trên 1000 m, vùng giáp ranh giữa Bình ĐịnhGia Lai, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đổ ra cửa biển Tiên Châu ở Tuy An (Phú Yên), với một phân lưu đổ vào Đầm Ô Loan, nhờ vậy mà hai dân tộc Chiêm-Việt có được sự hoà hiếu” (Theo Nguyễn Phúc tộc Thế phả xuất bản ở Huế 1995).

Tôi lưu một ghi chép nhỏ “Bài ca yêu thương” “Linh Giang, Kỳ Lộ tới Đồng Nai” để thỉnh thoảng quay lại.

Cuối một dòng sông là cửa biển.

Video yêu thích
Tình Thiên thu
Phim hay đang chiếu trên VTV3 http://bilutv.com/phim/tinh-thien-thu-vtv3-5560.html
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai

SẮN VIỆT NAM HÔM NAY VÀ NGÀY MAI
Hoàng Kim

Tiến sĩ Claude M. Fauquest là một trong các người bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á. Ý kiến tư vấn đặc biệt quan trọng của ông đối với Sắn Việt Nam tại đây Hình ảnh ghi nhận chuyến đi của tiến sĩ Claude M. Fauquest, Giám đốc Quan hệ đối tác Sắn toàn cầu Thế kỷ 21 (Director of the Global Cassava Partnership for the 21st Century – GCP21), CIAT, Apdo. Aereo 6713, Cali, Colombia, thăm nhà máy chế biến sắn Đăk Lăk, đánh giá hiện trạng canh tác sắn tại Đăk Lăk và Phú Yên tháng 8/2017.

“Cassava and Vietnam: Now and Then” (Sắn và Việt Nam: bây giờ và sau đó) là phóng sự ảnh của giáo sư Kazuo Kawano kể về ký ức hai mươi năm gắn bó với cây sắn và Việt Nam (1987-2007). Kazuo Kawano là người bạn lớn của nông dân trồng sắn Thế giới, châu Á và sắn Việt Nam, người đã đóng góp nhiều công sức với thực tiễn sản xuất sắn Việt Nam, biên soạn 11 sách, 157 bài báo khoa học và đoạt nhiều giải thưởng lớn quốc tế, trong đó có huy chương hữu nghị năm 1997 của chính phủ Việt Nam.

Câu chuyện sắn của tiến sĩ Claude M. Fauquest và giáo sư Kazuo Kawano được tiếp nối bởi  ý kiến của tiến sĩ Reinhardt Howeler trao đổi về bệnh virus khảm lá sắn CMD và cách phòng trừ, những đánh giá về  hiện trạng và tiềm năng sắn Việt Nam. Tiến sĩ  Reinhardt Howeler là chuyên gia sắn nổi tiếng thế giới, người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á có 23 năm kinh nghiệm làm việc vời nông dân châu Á và Việt Nam.  Ông đã được chính phủ Việt Nam trao tăng huy chương hữu nghị vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp Việt Nam năm 1997 đồng thời với tiến sĩ Kazuo Kawano.

Tiến sĩ Reinhardt Howeler là người biên soạn rất nhiều sách sắn chuyên khảo với tác phẩm mới “Quản lý bền vững sắn châu Á từ nghiên cứu đến thực hành” Howeler R.H. and T. M. Aye 2015 (Nguyên tác: Sustainable Management of Cassava in Asia – From Research to Practice, CIAT, Cali,  Colombia, 147 p. Người dịch: Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai 2015; Quản lý bền vững sắn châu Á : Từ nghiên cứu đến thực hành. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Nhà Xuất bản Thông tấn, Hà Nội, Việt Nam, 148 trang. Tác phẩm này được đánh giá cao “Thay cho những lời khuyên tốt nhất hiện có về kỹ thuật canh tác sắn sau hơn 50 năm kinh nghiệm thực tiễn kết hợp nghiên cứu và làm việc với nông dân để thấu hiểu những thách thức thực tế cuộc sống và cơ hội mà họ phải đối mặt” (The work summarized in this manual represents the best available advice from more than 50 years of combined research experience and work with farmers to understand their real-life challenges and opportunities. – Clair Hershey, CIAT Cassava program).

Bệnh virus khảm lá sắn CMD đang lan rộng trên nhiều tỉnh Việt Nam qua hom giống sắn lấy từ cây bị bệnh và qua môi giới bọ phấn trắng. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn đã có chỉ thị số 5957 BNN PTNT ngày 6/8/2018, trước đó Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn cũng đã có công văn số 4142 BNN PTNT ngày 31/5/2018, công văn số 1465 Cục Bảo vệ Thực vật ngày 6/6/2018 hướng dẫn chi tiết giải pháp ứng phó dịch hại và cách phòng trừ. Sách cẩm nang thực hành và những ý kiến tư vấn của tiến sĩ Reinhardt Howeler đối với ‘Bệnh vi rus khảm lá sắn CMD và cách phòng trừ” để kiểm soát tốt dịch hại nghiêm trọng này và tư vấn thực hành canh tác sắn thích hợp bền vững. Ý kiến tư vấn của  tiến sĩ Claude M. Fauquest đối với sắn Việt Nam tại đây *

Hoàng Kim trong bài viết “Nhớ châu Phi” có trích dẫn ý kiến của giáo sư tiến sĩ Martin Fregene: ” Kim thân. Mình hiểu rằng CMD, bệnh virus khảm lá sắn, đã vô tình được du nhập vào Việt Nam. Mình khuyến khích bạn nhập các cây giống sắn nuôi cấy mô MNG-19, MNG-2 và 8-9 C-series từ CIAT để đánh giá chúng về hàm lượng tinh bột và năng suất bột. Nếu chúng đủ cao, hãy nhân lên và phân phối giống sắn mới này đến các khu vực bị ảnh hưởng. Hãy cho mình biết nếu mình có thể trợ giúp thêm”. (Dear Kim, I understand that CMD has been accidentally introduced into Vietnam. I encourage you to import tissue culture plants of MNG-19, MNG-2, and the 8-9 C-series from CIAT and evaluate them for starch content. If they are high enough, multiply and distribute to affected areas. Let me know if I can be if more help). “Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai” tiếp nối “Sắn Việt Nam kết nối châu Phi” và chùm bài viết về sắn trước đó. Mời bạn xem lại để sự theo dõi được liên tục https://www.facebook.com/daihocnonglam/posts/10210202442519145?notif_t=like&notif_id=1503744495037088

Giáo sư tiến sĩ Kazuo Kawano thật sâu sắc khi đặt tựa đề phóng sự ảnh của mình là “Cassava and Vietnam: Now and Then” (Sắn và Việt Nam: bây giờ và sau đó). Đây là một chủ đề mở, rất gợi, thật ẩn ý của thiền đạo và gợi những dự báo trầm lặng. Chủ đề này hãng phim NHK nổi tiếng của Nhật đã xây dựng nên thành một bộ phim tài liệu khoa học hoành tráng về một nhà bác học lớn ngành sắn của Nhật Bản và công chiếu năm 2009. Thông điệp của giáo sư Kazuo Kawanothật rõ: Các nước lớn không thể thắng trong chiến tranh với Việt Nam, mà chỉ tìm được sự cùng thắng khi biết sống chân thành, minh triết, tận tâm và thấu hiểu khát khao sâu lắng của người dân Việt. Câu chuyện ‘Sắn và Việt Nam: bây giờ và sau đó’  thật sự lắng đọng nhân cách và tài năng lớn của một người thầy, người bạn lớn của nông dân và đồng nghiệp Việt Nam trong suốt trên hai mươi năm tận tụy trên đồng ruộng đưa năng suất sắn Việt Nam từ 8 tấn lên gấp đôi trên 16 tấn/ ha và sản lượng sắn Việt Nam tăng lên gấp năm lần. Sắn Việt Nam là bài học thành công. Câu chuyện cuộc đời của giáo sư Kazuo Kawano đã được ông ẩn ý nói lãng sang chuyện “Người Mỹ trầm lặng” (tựa tiếng Anh: The Quiet American) là một bộ phim chiến tranh tình cảm tâm lý xã hội của Mỹ do đạo diễn Phillip Noyce thực hiện, đã được trao giải Oscar tháng 11 năm 2002. Phim công chiếu vào năm 2002, chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của tác giả người Anh Graham Greene. Bộ phim có sự tham gia của các ngôi sao như Michael Caine, Brendan Fraser và Đỗ Thị Hải Yến.

Giáo sư tiến sĩ Kazuo Kawano đã viết “Thật vui khi được đi qua Việt Nam với “Người Mỹ trầm lặng” trong tay. Đây là lần thứ ba tôi đọc cuốn sách này. Đến cuối cuộc hành trình, cuốn sách của tôi đã gần như cũ nát. Trong khi tôi không thể tìm thấy cuốn tiểu thuyết này được bán trong các cửa hàng sách ở Hồ Chí Minh và Hà Nội, những người bán hàng rong đã có một phiên bản lậu của cuốn sách. Tôn vinh tính thông minh của người bán hàng rong khi tìm kiếm giá trị của “Người Mỹ trầm lặng” làm quà lưu niệm, tôi đã trả 80.000 đồng mua cuốn sách này cho một người bán hàng rong tại thành phố Hồ Chí Minh. Ở Hà Nội, một người bán hàng rong khác đã chạy theo sau tôi khoảng 50m để cung cấp cho tôi cuốn sách với giá chỉ 50.000 đồng“.

Giáo sư Kazuo Kawano đã tổng kết đời mình (xem lý lịch khoa học của ông tại Châu Mỹ chuyện không quên tại https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/08/24/chau-my-chuyen-khong-quen-3/). Giáo sư suy ngẫm về “Sắn và Việt Nam: bây giờ và sau đó” thật lắng đọng: Trong suốt nhiều năm gắn bó với Việt Nam, tôi đã biết nhiều người, những người mà tôi dường như có thể phân loại trong hồi tưởng. Tôi có ấn tượng đầu tiên về người Việt Nam từ một số học viên Việt Nam ở Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) ở Los Baños, Philippines năm 1963 và ‘nó’ không phải là điều đặc biệt thuận lợi. Kiểu hình người Việt Nam lúc ấy trong mắt tôi, (Họ) xuất hiện khá cởi mở, hoài nghi và thờ ơ, nếu không nói là ích kỷ, tự cao và tham nhũng. Tôi có thể quá khắc nghiệt khi phán xét về họ; nhưng như lời của Halberstam đã viết về loại người này trong “Sự tạo ra một vũng lầy”. Đó là loại người thuộc tầng lớp thượng lưu của xã hội miền Nam Việt Nam trong cùng thời kỳ, thể hiện một cách sinh động và nghiêm túc  mà sự phán xét của tôi có thể không quá xa thực tế.

Mười năm hợp tác chặt chẽ của tôi với các đồng nghiệp Việt Nam chọn tạo và nhân giống sắn  trong những năm 1990 và cuộc hội ngộ với họ trong chuyến đi này hoàn toàn thay đổi đánh giá của tôi về người Việt Nam. Bằng chứng là một loạt các báo cáo của tôi ở đây, họ là siêng năng, sâu sắc, chu đáo và cố gắng không mệt mỏi, như thể thi đua với tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi có thể là một phần tích cực đối với những người bạn của tôi. Tuy nhiên, tôi có một cảm giác tương tự đối với một số đồng nghiệp của tôi ở Rayong, Thái Lan và Nam Ninh, Trung Quốc để đếm được một vài người. Trong suốt hai thập kỷ sau chiến tranh Nhật Bản, chúng tôi dường như cũng có nhiều người Nhật trong hạng mục này.

Sau đó, khi nói đến khối lượng dân số chỉ muốn ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay, thì trong chuyến đi này, tôi đã rất ấn tượng và xúc động khi gặp nhiều người dường như không bao giờ nghi ngờ ngày mai tốt hơn hôm nay. Điều này làm tôi nhớ đến người Nhật trong hai thập kỷ sau chiến tranh, nơi phần lớn dân số nhìn thấy một tương lai tươi sáng hơn. Bây giờ ở Nhật Bản, hơn 30.000 người tự sát hàng năm và lý do chính của hành động này được cho là họ vô vọng đối với hiện tại và tương lai. Không cần phải nói rằng, Việt Nam không phải là không có vấn đề như sự thiếu hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật hoặc tham nhũng tràn lan, … Tuy nhiên, tỷ lệ người cảm thấy hạnh phúc ở Việt Nam dường như cao hơn rất nhiều so với ở Nhật Bản hiện nay. Thật thú vị khi tưởng tượng những đồng nghiệp cũ của tôi sẽ dẫn dắt xã hội này đến đâu.”

Câu chuyện sắn Việt Nam bài học lắng đọng.

Hoàng Kim

(*) Ý kiến tư vấn tiến sĩ Claude M. Fauquest đối với Sắn Việt Nam tại đây https://hoangkimlong.wordpress.com/2018/06/26/nho-chau-phi/

KẾT LUẬN CỦA HỘI NGHỊ SẮN QUỐC TẾ VỀ VIỆC KIỂM SOÁT DỊCH BỆNH
VI RUS KHẢM LÁ SẮN CMD Ở ĐÔNG NAM Á

Hoàng Kim
lược dịch từ tài liệu tại đây nguồn của GS Lê Huy Hàm và TS. Claude M. Fauquest

Hội nghị sắn quốc tế lần thứ IV, Benin, ngày 11-15 tháng 6 năm 2018 đã tổ chức một phiên họp đặc biệt để báo cáo tình trạng dịch bệnh virus khảm lá sắn gần đây (CMD) ở Đông Nam Á. Mục tiêu của bốn báo cáo này là làm cho cộng đồng sắn quốc tế nhận thức được vấn đề nghiêm trọng và phát triển các đề xuất thực tế cho một kế hoạch hành động nhanh chóng với tất cả các bên liên quan trong khu vực để kiểm soát dịch bệnh CMD ở vùng Đông Nam Á của Thế giới.

Bốn bản báo cáo trình bày tại hội nghị quốc tế gồm: 1) Báo cáo về sự bùng nổ dịch bệnh CMD của Giáo sư Lê Huy Hàm từ AGI, Việt Nam; 2) Báo cáo kinh tế của Tiến sĩ Jonathan Newby từ CIAT – Việt Nam; 3) Báo cáo giám sát của nhà virus học Wilmer Cuellar từ CIAT-Colombia; 4) Báo cáo về các chiến lược được phát triển với các bên liên quan trong khu vực Đông Nam Á của Tiến sĩ C.M. Fauquet, Giám đốc GCP21.

Mục đích của phiên họp này là chứng minh tầm quan trọng của sắn ở khu vực này trên thế giới, sản xuất 55 triệu tấn sắn mỗi năm, cho thấy mức độ lây lan của bệnh CMD và thông báo cho cộng đồng về những nỗ lực phát triển cho đến nay một kế hoạch hành động khu vực. Khảo sát thực địa mở rộng và sự tương tác của các bên liên quan trong khu vực được thực hiện bởi CIAT và các đối tác quốc gia cho thấy CMD chính thức có mặt tại 6 tỉnh của Campuchia và 2 tỉnh miền Nam Việt Nam. Lây lan hiện nay của bệnh được ước tính là ít hơn 10% tổng diện tích trồng sắn. Dựa trên kiến ​​thức hiện tại về dịch bệnh CMD, các chuyên gia đều đồng ý rằng khu vực này đang ở giai đoạn sớm của dịch bệnh khi vẫn có thể hạn chế tác động của căn bệnh này. Các chuyên gia cũng đồng ý rằng CMD chủ yếu lây lan bằng cách vận chuyển nguyên liệu trồng sắn nhiễm bệnh được sử dụng để trồng các cánh đồng mới. Các vectơ bọ phấn trắng (whitefly) tự nhiên của bệnh có mặt trên sắn trong vùng và đóng vai trò môi giới truyền bệnh trong các lĩnh vực nhưng chúng đóng một vai trò nhỏ cho đến nay trong sự lây lan của bệnh sang các lĩnh vực mới. Quan trọng nhất, các chuyên gia chỉ ra rằng việc vận chuyển và xuất khẩu tinh bột, sắn lát, bột sắn hoặc củ sắn tươi không đe dọa nhập khẩu bệnh thông qua bất kỳ sản phẩm nào làm giảm lo ngại về thương mại trong nước và xuất khẩu. Các nước trong khu vực được khuyến khích chủ động truyền đạt tình trạng của bệnh và tham gia cùng nhau để gắn kết một hành động phối hợp chống lại mối đe dọa virus mới khảm lá sắn trong khu vực.

Kinh nghiệm kiểm soát dịch bệnh virus khảm lá sắn CMD ở châu Phi và châu Á đã chỉ ra rằng nguồn rủi ro lớn nhất để lây lan bệnh này từ sang vùng khác là do sự trao đổi của hom giống sắn từ cây bị nhiễm bệnh. Các cây sắn bị nhiễm bệnh có thể được vận chuyển hàng trăm cây số trong một ngày. Các vectơ bọ phấn trắng ((whitefly) cũng có thể góp phần lan truyền bệnh lên đến 100 km mỗi năm. Biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt trong nước là đặc biệt quan trọng để giám sát vùng bệnh hại và hạn chế sự di chuyển của hom giống bị nhiễm bệnh lan truyền từ nơi này sang nơi khác. Cần chú ý xác định các khu vực không có bệnh để giữ cho chúng không bị bệnh. Việc thương mại hóa ngành công nghiệp sắn ở Đông Nam Á tạo cơ hội cho việc cải thiện dòng chảy thông tin để ngăn chặn sự di chuyển của các vật liệu trồng giống sắn bị nhiễm bệnh.

Kế hoạch hành động theo vùng có thể bao gồm các bước sau:

Hành động ngắn hạn

+ Tích hợp dữ liệu giám sát liên tục được thu thập bởi các nhóm nghiên cứu khác nhau làm việc trong khu vực để xác định các khu vực bị ảnh hưởng và bị đe dọa ngay lập tức
+
Lập bản đồ phân bố giống ở các khu vực có tỷ lệ mắc CMD cao bằng cách sử dụng các marker phân tử.
+
Phổ biến thông tin cho các dịch vụ khuyến nông và nông dân để nâng cao nhận thức và quản lý bệnh.
+
Nhân nhanh và phân phối hom giống không có virus (hoặc những giống sắn năng suất bột cao ít bị nhiễm virus khảm lá CMD) cho nông dân ở các vùng bị ảnh hưởng.
+
Tiêu chuẩn hóa các giao thức chẩn đoán và giám sát được sử dụng bởi các nhóm nghiên cứu khác nhau làm việc trong khu vực

Hành động trung hạn

+ Nhập khẩu, thử nghiệm và nhân của vật liệu giống sắn kháng CMD hiện tại ở một số địa điểm trong khu vực.
+
Giới thiệu cách ly các quần thể này được phát triển bằng cách nhập nội nguồn gen giống sắn kháng CMD từ các giống sắn châu Phi, châu Mỹ Latinh và Đông Nam Á .

Hành động dài hạn

+ Sự tích hợp của các gen kháng virus vào giống sắn KU50 (đối với Việt Nam sử dụng hai giống để tích hợp gen kháng virus là KM419 và KM94 có quy mô trồng 42% và 37% diện tích sắn Việt Nam hiện nay) dựa trên lợi ích từ tất cả những đặc tính tốt mà giống được trồng rộng rãi này trong khu vực có thể cung cấp.

+ Cộng đồng sắn quốc tế có mặt tại hội nghị bày tỏ sự sẵn sàng mạnh mẽ của họ để cộng tác với bất kỳ kế hoạch khu vực nào nhằm quản lý sự lây lan của CMD. Đặc biệt, các đồng nghiệp sắn từ lục địa châu Phi có thể cung cấp kiến ​​thức tích lũy rộng rãi về CMD, sự lan truyền và kiểm soát chúng, bao gồm các công cụ chẩn đoán và các giống kháng CMD có năng suất cao.

+ GCP21 đã tập hợp một loạt các bên liên quan trong khu vực Đông Nam Á và đang lập kế hoạch một hội thảo khu vực để xây dựng kế hoạch hành động chi tiết phối hợp với các bên liên quan trong khu vực để nhanh chóng thực hiện các biện pháp can thiệp khẩn cấp ngăn chặn dịch bệnh CMD gây ảnh hưởng tiêu cực đến công nghiệp sắn vùng này.

 

Cassava and Vietnam: Now and Then

(キャッサバとベトナム-今昔物語)

Kazuo Kawano

I visited Vietnam for a week this last December,  where a team of NHK video-taped for a documentary of the changes caused by the new cassava varieties I introduced 20 years ago in the lives of small framers, the enhanced activities of industrial and business communities and the development of research organizations. It was a most interesting, amusing and rewarding visit where I reunited with a multitude of former small farmers who are more than willing to show me how their living had been improved because of KM-60 and KM-94 (both CIAT-induced varieties) , many “entrepreneurs” who started from a village starch factory, and several former colleagues who became Professor, Vice Rector of Universities, Directors of research centers and so on. Vietnam can be regarded as a country who accomplished the most visible and visual progress most rapidly and efficiently utilizing CIAT-induced technology.

For my own record as well as for responding to the requests from my Vietnamese colleagues, I decided to record the changes and progress that had taken place in Vietnam in general and in cassava varietal development in particular in a series of picture stories. This is the first of long stories that would follow.

昨年の12月に、NHKの国際ドキュメンタリー番組の収録でベトナムを10年ぶりに再訪する機会があった。それは私が中心となって開発したキャッサバの多収性・高澱粉性の新品種群を20年 前に導入した事が引き起こした人々の生活向上の様子を、南から北へと訪ね歩く旅であった。今回の旅では、小農から出発して家を建て中農、富農となった多数 の人々、村の澱粉加工所の親父だったのが大工場のオーナーや実業家となっている幾人もの成功者、そして殆んど名前だけの研究員であったのが今や試験場長、 大学教授、副学長になっている昔の仲間達を訪ね歩いたが、その殆んどの人が私との再会を喜んでくれて、口々に新しいキャッサバ品種のおかげで自分達の生活 と境遇が革命的に良くなったと話してくれた。

私自身の記録のため、それにベトナムの昔の仲間からのリクエストに答える目的もあって、この20年間のベトナムの発展とキャッサバ生産の進展を絵物語風に書き留めることにした。これはその長い物語の始まりの章である。


The basis of Vietnamese agriculture is rice. Cassava is planted on the upper parts.

In flat, dry area, they plant cassava predominantly

Meeting old friends at Hung Loc Agricultural Research Center:Now, Hoang Kim is Senior Lecturer at Nong Lam University in Ho Chi Minh city and Nguyen Huu Hy is Director of Hung Loc Agricultural Research Center

Reunion with advanced farmer Mr. Ho Sau with Hoang Kim and students in Trang Bom, Dong Nai

Reunion with advanced farmer Mr. Tong Quoc Thanh with Hoang Kim in Tay Ninh

Meeting Former Director Truong Van Ho, old colleague Trinh Thi Phuong Loan (Retired as Deputy Director) and other friends at Root Crop Research Center, Vietnam Agricultural Science Institute in Hanoi

Meeting Tran Ngoc Ngoan (Now, Vice-Rector of Thai Nguyen University), Mrs. Loan and Mr. Ngo Trung Kien (an advanced farmer) in Mr. Kien’s house, Pho Yen, Bac Thai

Meeting Mrs. Sau and Mrs. Quyen, successful former cassava farmers, in Hatay, near Hanoi

Giving concluding remarks in the end of Vietnam Journey in Lake Hoan Kiem, Hanoi,
5 Dec 2009

A BRIEF HISTORY OF A SUCCESSFUL BREEDING PROGRAM

As is widely known, Vietnam has accomplished a rapid economic development in  recent 20 years. During the same period, , cassava, starting from a low status crop grown by small farmers and consumed as human food by poor people, has grown into a major crop providing raw materials for animal feeding, industrial starch processing and most recently bio-ethanol production (though I have some reservations for using cassava for this purpose), thus bringing precious cash income to millions of small farm families. When I first visited Vietnam in 1988, cassava’s acreage all over the country was 0.28 million ha with mean yield of 8.4 t/ha. It now occupies 0.56 million ha (official figure: the actual figure is said to be around 0.65 million ha; the emphasis of research is gradually shifting from varietal improvement to soil conservation) with 15.9t/ha mean yield. Vietnam has now advanced to World No. 2 exporter of cassava products next only to Thailand.

It is extremely gratifying to witness this progress toward the end of my career; then, what made this experience possible? The breeding work that has brought this result started when I joined CIAT as cassava breeder in 1973, where CIAT was inaugurating an integrated cassava research program with global mandate by recruiting a half dozen of young PhD from world reputable universities. As such, I initiated a comprehensive cassava breeding program using a population which contained a vast genetic variation coming from more than 2000 native varieties collected from the centers of origin and diversification of cassava all over Latin America.

Especially noteworthy in this process is the fact that those countries such as Colombia, Brazil and Mexico where abundant cassava germplasm existed donated  to or allowed CIAT to collect native cassava varieties on the condition that the newly established international research center CIAT uses all these germplasm for the welfare of people in the world without pursuing any monetary profit. It goes without saying that those rural small farmers who grew native cassava varieties inherited from their ancestors were very cooperative with the CIAT collection. The researchers as well the early CIAT administration clearly shared the immeasurable importance of basic germplasm in pursuing large scale breeding.

I accomplished much of the basic breeding during the first 10 years at CIAT/Colombia and moved to Thailand in 1983 by opening a CIAT/Asia office on the understanding that the effect of cassava varietal improvement would be more eminent in Asia. Thus, I started a more practical breeding in close collaboration with Thai workers. Here again, we were very thankful that the Colombian government allowed us to transfer cassava breeding materials to Asia without condition. As a result, I had transferred more than 1 million genotypes of cassava, mainly in the form of F1 hybrid seeds, from Latin America to Asia during the 15 years that followed.

This breeding work, based on the hybridizations between Latin American and Thai materials, resulted in a great success and produced many superior varieties. Now, some 97% of the total 1.15million ha of cassava in Thailand is planted with these new varieties we developed. I transferred many advanced breeding materials from Thailand to other Asian countries such as Indonesia, Philippines, China and Vietnam. In this process as well, the Thai government authorization of transferring our breeding materials to other Asian countries, which could well be potential (in fact, actual) competitors to Thailand, was to be highly appreciated.

In 1989, I brought planting stakes of Rayong 60 and Kasetsart 50 among others as a check-in baggage of the Bangkok-Ho Chi Minh flight (The import and plant quarantine permit had been very willingly arranged by the Vietnamese institution). Upon harvesting the first cycle evaluation /multiplication at Hung Loc Center in 1990, I carried the planting stakes of these varieties from HCM to Hanoi to be evaluated and multiplied by the research institutions in the North. In retrospect, my action was rather unorthodox power play. Nevertheless, considering that this was the beginning of a long story which would develop to generating an annual additional economic effect in the order of 200 million US dollars to be shared by the millions of small farmers, power play may be justified on certain critical occasions.

F1 selection at CIAT/Colombia in1976

One of the early selections, CIAT/Colombia circa 1980

F1 selection at Rayong Center, Thailand, circa 1987

Rayong 60 in Feb 1988 at Rayong Center, one of the major early successes at CIAT/Thai collaborative breeding program

A typical cassava field in North Vietnam in 1989

Cassava harvest being carried to market in Ho Chi Minh city in 1988

Processing cassava for noodle near Bien Hoa in 1988

Cassava starch processing as a cottage industry in Tay Ninh early 1990s

By 1996, farmers can harvest more cassava for feeding pigs by planting new varieties (Here is KM-60 or Rayong 60  in Hung Loc Agricultural Research Center, Dong Nai Province (1990)

and Ha Tay Province (1996)

Large scale cassava starch factories began to appear in Tay Ninh circa 1996

Cassava starch production became a big business following the step of Thailand (Tay Ninh 2009)

Now, the Bio-ethanol processing using cassava (A new Bio-Ethanol Plant is being built in Phu Tho)

Ho Chi Minh city (Saigon)
I began my first trip report to Vietnam 22 years ago with the following phrase “As the Air France flight 174 landed eventlessly at the airport of Ho Chi Minh City, only the vastness of the airport reminded me of its once familiar name of Tan Son Nhut, which was now more a symbol; of disrepair and abandonment.” Now, two decades later, Ho Chi Minh city is an entirely different place. See the town before and now.


The tallest building I could see in 1988. It had an eerie feeling of a ghost house.

Street filled with bicycles in 1988.

Now in 2009, many new buildings were constructed and being constructed.

Traffic is now like Bangkok 20 years ago.

Now, serious efforts are being paid to keep the town presentable.

As a result, the city looks very charming these days.

Hanoi

A similar transmutation took place in Hanoi, but the extent of metamorphosis is actually greater in Hanoi because Hanoi in the 1980s was somewhat dismal place.


A typical Hanoi building in 1989


A Hanoi street in 1989

Hanoi outlook in 2009, it is quite an attractive town.

Hanoi street is less noisy and probably more cultured than HCM (2009)

Relaxing at Hoan Kiem Lake in Hanoi (2009)

People (South)

Children and housing in Bien Hoa near Ho Chi Minh city in 1988

Moon cake factory in Ho Chi Minh city in 1988

Busy street in Ho Ch Minh city in 2009

Barbecue shop in Ho Chi Minh city in 2009

Children and mothers attending an art class in Ho Chi Minh city in 2009

People (North)

“Curiosos”; When we visited Hanoi in 1989, just the presence of Reinhardt Howeler caused quite a sensation.

Farm people near Hanoi in 1989

Children in cassava field near Hanoi in 1989

People in front of Mrs. Sau’s house in Hatay, near Hanoi in 2009; Successful lives change many things.

People relaxing on the bridge at Hoan Kiem Lake in Hanoi in 2009

Hanoi street shop in 2009; Westerners are no longer a curiosity

Shops in Ho Chi Minh city (more pictures including)

  • Ben Thanh Market in the center of Ho Chi Minh city in 1988
  • Inside the Market
  • Cassava sold in open market in Ho Chi Minh city in 1988
  • Market in 2009
  • Bread shop in HCM street in 2009; the cheapest one is \15 and the most expensive one is \50 (US$0.55)
  • A super market
  • Yet, outside HCM, this type of a small, traditional operation is still common; A movable shop near Bien Hoa in 2009
  • Shops in Hanoi
  • Hanoi market with children in 1989
  • Money changers in Hanoi street in 1989
  • Hanoi street shops in 2009
  • A toy shop in Hanoi in 2009
  • A department store in Hanoi in 2009

Book store in Ho Chi Minh city

  • As was expected, there was hardly any book store worthy of mention in my first visit in 1988. What I observed in this visit in 2009 follows:
  • The main section of a big book store
  • Children book section
  • Stationary section
  • I was most impressed with the good quality maps printed in Vietnam being sold at very reasonable prices

Noodle shops
When I first visited Vietnam in 1988, there was hardly any restaurant, in many places not even an eating place for pay, outside Saigon. All our itinerary was managed by the “Liaison officer” of the Government office in charge of foreign visitors and all the eating outside the big cities was officially arranged. The choice and the quality was predictably unimpressive at that time.

  • I was to witness a tremendous change in eating in this visit in 2009.
  • For shop in Hanoi
  • The renowned “Fo”
  • Market noodle shop in Ben Thanh Market in Ho Chi Minh city
  • A super deluxe version of cassava noodle “ラーメン” at \250(US$2.75)
  • Vietnam has caught up with Thailand in this type of ordinary eating; “Fo” is quite comparable with “Bamie Nam” of Thailand
  • Vietnam is the No.2 exporter of coffee next only to Brazil overtaking Colombia. As such, the Vietnamese coffee is good as ever, together with the Vietnamese bread,

Hotel
I described about the state of a government-run “hotel”  where we stayed in May 1989 as follows; “Yet, we had worst experiences when we traveled outside big cities. When we decided to stay in the city of Phan Rang about 350km to the northeast of Ho Chi Minh city, the new privately run hotel was all full so that we had to stay at the government run hotel. The government hotel occupied a large lot in which the sleeping quarters were 100m away from the eating place. Not a single soul was staying at this vast place on that night. I suspected no one had stayed for the past three months at least. The room was full of spider webs and dung of wall lizards and inevitably very dirty. There was no air conditioning or private toilet. A naked bulb was the only illumination and the door knob must have given out some 15 years ago and a huge pad lock had replaced it. The towel was provided but its original color was indiscernible. Many cockroaches were running in the communal bath room in which the toilet was full of rubbish and never flushed. An about 5cm rubber hose connected to the water faucet was the only shower facility (actually it worked very well; the only thing I liked of this ghost house. I was rather refreshed after suffering from all these pandemonium). The whole atmosphere suggested how a prison cell would look like. The whole setting was in good contrast with the private run hotel which was smaller but filled with guests and maintained a cheerful atmosphere. This was in the South. Things were worse in the North.

Yet, the most appalling part was the payment. The attendants, all elderly women, charged each of the Vietnamese colleagues an equivalent of US$1.75 in local currency, which was not particularly high for our understanding but paying an equivalent of 1.5 day wage for this accommodation was disputable. By regulation, they charged each of us US$27.50 in hard currency. In China, foreigners usually have to pay twice as much as native Chinese for air tickets, train tickets or hotel accommodation. For the domestic air tickets of Air Vietnam, foreigners have to pay four times as much in hard currency. Yet, this time it was 15 times as much. The attendants were showing the faces of incredulity. Anyone paying money for staying in this place was surprising enough. It must take foreign idiots to pay two month salary of local people for staying in this miserable place. Something is grossly wrong with the economic system. It is a tragedy that more than ten years was necessary to realize that.”Everything changed during the past 20 years, of course. Yet, it is in the hotel situation where the change can be seen most dramatically.

  • Hotel buildings in Ho Chi Minh city in 2009
  • Breakfast at Saigon Oscar Hotel where I stayed for three days in Dec 2009

Yet, the most impressive is the change in people’s attitude toward service and responsibility. I carelessly left a bag containing some memory cards and a recharger in my room at this Saigon Oscar Hotel. I realized this when I arrived in Hanoi but it was too late. Only half expectedly, I called the hotel from Yamatedai, Japan informing about what had happened. The hotel attendant answered that they were keeping the item in their Lost-and Found section. I immediately sent a Fax asking them to send the bag to my address in Japan. To my delight, the bag arrived in Yamatedai in good order a week later. I found it fair to inform this rather pleasant experience in some travelers’ Blog (口コミ旅行情報) as follows;

HUNG LOC AGRICULTURAL RESEARCH CENTER

In addition to the recognition, promotion and social success of my former colleagues such as Hoang Kim, Nguyen Huu Hy, Trinh Thi Phuong Loan and Tran Ngoc Ngoan, the upgrading of the institutions where we used to conduct the varietal improvement work together is another very pleasant side product of our collaboration.

We (Reinhardt Howeler and myself) started with this type of formal, if not stressful, negotiation on how we would conduct our collaboration at Hung Loc Center in 1988.

Even as late as in 1992, the meeting was not without some tenseness.

Hung Loc Center was a rather sleepy, smallish place typical of underdeveloped countries (1990)

Harvested cassava roots from the experimental plots were carried by this type of “Truck” to the nearby processing place, circa 1992.

To my delightful surprise, Hung Loc Center in 2009 is a quite different place.

New building at Hung Loc Center in 2009

Meeting old friends in front of the meeting hall at Hung Loc Center in Dec 2009.

AGRICULTURAL COLLEGE No. 3 TO THAI NGUYEN UNIVERSITY

When we first visited North Vietnam in 1989, Thai Nguyen was a rather uninspiring rural town where the only higher education institution was a small college called Agricultural College No.3. Several students hanging their laundry at their dormitory was about the only memory I got in my first visit to AC3.

AC3 campus in 1994. Children beside the cassava experiment field inside the AC3 campus in 1994

Thai Nguyen University campus in Dec 2009 (The former AC3 was upgraded to a university housing more than 10,000 students)


My dear friend Ngoan is now Vice Rector of Thai Nguyen University


Receiving a gift from the University in Dec 2009

VARIETAL IMPROVEMENT

Varietal Improvement in the South

This is, of course, the core of the story. Since much has been reported in formal papers, I am herein just showing some photos for remembrance.


The first bulk harvest of KM-60 (right) compared with the local variety, probably HL-23 (left) at Hung Loc Center in 1991.

KM-60 (left) and the local variety HL23 (right) with KK and Kim at Hung Loc Center circa 1993.

Director Hoang Kim standing contentedly with KM-94 (right) and the local variety HL23 (left) at Hung Loc Center circa 1993.

KK with colleagues at KM-60 field in Dong Nai in 1996

Harvest of new varieties from Thailand at Hung Loc Center in 1997.

Multiplication of a new variety from Thailand at Hung Loc Center in 1997.


New variety KM98-1 at Hung Loc Center in 2000.

Good planting of KM 98-5 in Tay Ninh in 2009.

KK and Kim in Tay Ninh at KM 419 field in Dec 2009.

Varietal Improvement in the North

Ngoan and KK in a varietal trial field in Bac Thai circa 1995.

KK and farmers near Pho Yen in 1997.

Local variety Vinh Phu (left) and KM-94 (right) with Ngoan and KK at AC3 experiment field in 1997.

Local variety (left) and KM-60 (right) in Hatay in 1996 with Loan at the center with a TV crew.

A new selection KM-95-1 (left) and the local variety Vinh Phu (right) in Hatay in 1997 with Director Ho on the left.

A group photo taken at the experiment field in Hatay in 1997. Faces of Ho, Loan, Mr. Tat, Mrs. Sau, Mrs Quyen among others.

Cassava field near Pho Yen in Dec 2009.

Ngoan (Professor and Vice Chancellor), Mr. Kien (a dedicated farmer), KK, and Loan (Retired Deputy director) at Mr. Kien’s cassava field near Pho Yen in Dec 2009.

READINESS FOR WORKING WITH FARMERS 

One thing outstanding in our collaboration with the Vietnamese colleagues is their acute readiness for working closely with farmers. This is in good contrast to my Latin American experience.

Cassava field near Hanoi, circa 1995. Loan, a farm wife, KK and Ho.

Hearing from farmers in Hatay in 1996. KK and Mr. Chien, Deputy Director of Root Crop Research Center, VASI.

Loan leading a town meeting in Hatay in 1996.

Ngoan presiding a village meeting in Pho Yen in 1996.

Harvest of a field trial in Bac Thai in 1996; a curious mixture of Ngoan (Professor to be), students, farmers, an old woman and a baby.

Reunion at Mr. Kien’s house in Pho Yen 13 years later.

Strangely absent from my photo collection is Hoang Kim. Kim is the undisputed champion of associating with fellow researchers from other institutions, farmers from many provinces. Kim initiated the invitation of advanced farmers to the selection field at Hung Loc Center so as to evaluate and select their own favorites; a harbinger to the later much celebrated “farmer participatory research.

Cassava and Vietnam Now and Then 81Here in 2009 in Dong Nai and Tay Ninh cassava field, Kim is mixing with advanced farmers, students, extension staff and officials.

SUCCESSFUL FARMER 

I: Mrs. Tran Thi Quyen, Hatay

Here are the portraits of some successful farmers who had improved their lots remarkably utilizing the new cassava varieties.

Cassava and Vietnam Now and Then 82Typical cassava farmers’ houses seen in our 1989 visit in North Vietnam.

Cassava and Vietnam Now and Then 83Mrs. Tran Thi Quyen was one of those cassava/pig farmers in Hatay Province who had first adopted KM-60, With the better harvest of the new variety, she could increase the number of pigs she could sell to the market. This was the new house she was building using the money she earned and saved, which she was proudly showing me in my 1997 visit. The house was complete with a kitchen, toilet and bathroom under the single roof and cost some \80,000 (US$700) at that time.

Cassava and Vietnam Now and Then 84Mrs. Quyen (left) with her grandchild in our reunion in Dec 2009.

Cassava and Vietnam Now and Then 85Mrs. Quyen is still growing cassava and pigs. She is now building a new much bigger house.

II: Mr. Ngo Trung Kien, Pho Yen

Cassava was a small farmers’ crop used for family pig feeding or sold to small noodle factories.

Cassava and Vietnam Now and Then 86Cassava chips drying on the road circa 1994.

Cassava and Vietnam Now and Then 87Cassava and pig in North Vietnam before the introduction of new varieties.

Cassava and Vietnam Now and Then 88Cassava noodle drying near Hanoi in 1989.

Cassava and Vietnam Now and Then 89Mr. Ngo Trung Kien of Pho Yen, Bac Tay Province a dedicated farmer and one of the earliest adopters of KM-60. He has been successful in expanding his cassava/pig farming. Here in his plot in 2009, he was planting KM-98.

Cassava and Vietnam Now and Then 90Mr. Kien is a innovative farmer as well. He introduced feeding chickens with cassava.

Cassava and Vietnam Now and Then 91Pig feeding continues as ever. Mr. Kien told us he could now sell more than 50 mature pigs to the market annually.

Cassava and Vietnam Now and Then 92

Meeting village people at Mr. Kien’s house, Dec 2009. He has taught all his techniques to other farmers in the same village. Many farmers have built new houses and virtually all families own a motorcycle these days.

III: Mr. Tong Quoc Thanh, Tay Ninh

Mr. Tong Quoc Thanh of Tay Ninh Province was one of the earliest adopters of KM-60 promoted by the erstwhile Director Hoang Kim of Hung Loc Center. He was reputed to have made a lot of money by the multiplication and the sales of planting stakes of KM-60 and later KM-94. Either because he is a shay man by character or he is afraid of the Tax Office, Mr. Thanh does not elaborate too much about his success especially on the money making. Nevertheless, by any standard Mr. Thanh is a vastly successful man and the extensive cassava planting of his own cannot defy the reputation.

Cassava and Vietnam Now and Then 93Mr. Thanh uses KM98-5 (tai xanh) and KM419 (tai do, cut lun) for intercropping with rubber tree, Tay Ninh in 2009.

Cassava and Vietnam Now and Then 94KM-94 is still the best for mono-culture cassava in Tay Ninh, Mr. Thanh agrees. But he is planting KM98-5 (tai xanh) and KM419 (tai do) extensively in his field, probably because being a new variety, KM98-5 and KM419 still offers good opportunities for planting stake sale.

V: Mrs. Nguyen Thi Sau, Hatay
Cassava and Vietnam Now and Then 95… When we visited Mrs. Sau in 1996, she showed us her new pig pen; KK, Mrs. Sau, Mrs. Quyen, children and Mr. Tat (Extension office at Root Crop Research Center, VASI).

In 1997, Mrs. Sau was very proud of posing in front of her new house and motor cycles. I heard the house cost some equivalent of 250,000 (US$2,000) at that time.

Cassava and Vietnam Now and Then 96

Loan, Chien, Mrs. Sau’s husband (working in the Municipal office), Mrs. Sau and Tat.

Cassava and Vietnam Now and Then 97
Mrs. Sau’s new mansion in 2009.

Cassava and Vietnam Now and Then 98Front view of Mrs. Sau’s mansion.
Cassava and Vietnam Now and Then 99Sala of Mrs. Sau’s mansion.

Cassava and Vietnam Now and Then 100With the expansion of Hanoi city area, Mrs. Sau’s place is now much urbanized. Being a small but smart “entrepreneur”, Mrs. Sau is now President of a mineral water production and distribution company.

V: Mr. Ho Sau, Trang Bom

At the time of our first visit in 1988, Trang Bom, one of the fiercest battle fields of Vietnam War, was not much more than a sleepy little town.

Cassava and Vietnam Now and Then 101Mr. Ho Sau, who lived next door to Hung Loc Center near Trang Bom and Bien Hoa, was the first farmer to be invited to Hung Loc Center to observe the harvest of a cassava varietal trial which included KM-60. He quickly decided to multiply the small sample stakes of KM-60 for his own planting and later for sales to other farmers. Mr. Sau, 2nd from left, was a celebrated participant to the Workshop held at Hung Loc Center in 1997.
Mr. Sau’s cassava Palace in 2009. Mr. Sau is now an enormously successful business man owning large cassava plantings, a couple of cassava processing plants and a trading company.

His garden is decorated with many wonderful objects. A sculpture carved from the root of a single tree.

Yet, the most imposing is the crocodile pool with a dozen or so crocodiles for display.

Cassava and Vietnam Now and Then 102Mr. Sau is not a type to hide his success to the extent of being flamboyant. Yet, he is intent in giving opportunities to many kinds of people. He is building houses for less fortunate families in the same village. Here in this photo below, he provides land and facility for Prof. Kim and his students to conduct field experiments. As such, I was reminded of the Colombian Pablo Escobar. While Escobar was a bad guy drug king, Mr. Sau may be a good guy cassava king.

Cassava and Vietnam Now and Then 103From right to left: Students of Nong Lam University, Prof. Kim. KK and Mr. Sau.

GRAHAM GEEENE [ THE QUIET AMERICAN ]

It was a delight to travel through Vietnam with 「The Quiet American」in hand. It was my third time to read this book. By the end of the journey, my paper back was nearly disintegrated. While I could not find this novel being sold in book stores in Ho Chi Minh and Hanoi, the street hawkers had a pirated version of the book. Honoring the hawkers’ smartness of finding the value of 「The Quiet American」as souvenir, I paid 80,000Don (some \400) to a hawker in Ho Chi Minh. In Hanoi, a hawker ran after me for some 50m offering the book for 50,000Dong.

Joy of reading 「The Quiet American」at The Continental Hotel.

Excerpts from 「The Quiet American」Graham Greene

P. 60, “I never knew a man who had better motives for all the trouble he caused.”

P. 74, “I was to see many times that look of pain and disappointment touch his eyes and mouth when reality didn’t match the romantic ideas he cherished, or when someone he loved or admired dropped below the impossible standard he had set.”

P. 94, “I laugh at anyone who spends so much time writing about what doesn’t exist – mental concepts.”

P. 103, “If somebody asked you what your deepest sexual experience had been, What would you say?” I knew the answer to that. “Lying in bed early one morning and watching a woman in a red dressing-gown brush her hair.” “Joe said it was being in bed with a Chink and a negress at the same time.”

P. 167, “He gets hold of an idea and then alters every situation to fit the idea.”

Plain as it is, this novel describes about the dark side of innocence. It is now profoundly touching that Greene had clearly manifested the impossibility of America winning a war against Vietnam as far back as in 1955.

In this vein, it is unsettling to find that this novel is regarded as a simple love story, if not a melodrama, in Japan, as can be seen in the following cut out from the major newspaper Asahi. It is somehow a part of our Japanese culture to reduce things to a minimum context, resigning to not seeing the whole.

DAVID HALBERSTAM [THE MAKING OF A QUAGMIRE]

David Halberstam is best known for his 「The Best and the Brightest」which was published in 1972 and became a world best-seller. His earlier book「The Making of a Quagmire], published in 1965, is less known but highly appreciated by some critics for much of the Halberstam’s perspectives on the Vietnam War originated from his experiences described in this book. I have been wanting to read this book ever after I read 「The Best and the Brightest」but the book was out of print for a long time. In one of many Internet notices from “Amazon” , of which I seldom pay serious attention, I found 「The Making of a Quagmire」was republished in 2008.

While 「The Best and the Brightest」is an in-depth analysis of Washington politics during the Johnson/ Nixon era, 「The Making of a Quagmire」is a ground level description of the local battles and politics in Vietnam during the Kennedy time. If 「The Quiet American」is a romantic narrative of innocence and complacency, 「The Making of a Quagmire」is a poignant account of ignorance and arrogance.

While「The Making of a Quagmire」contains all the reasons why America could not win the War in Vietnam, Chapter Six “Disaster: The Battle of Ap Bac” of this book describes, factor by factor, why the South Vietnamese/American forces could not win local battles in Vietnam. It is not that the Battle of Ap Bac was the turning point of the Vietnam War. It is remarkable because the Battle of Ap Bac contained all the elements why the Viet Cong/National Liberation Front could not be defeated.

If one reads 「The Making of a Quagmire」seriously, it should be transparent under the bright sun that this war could not be won by outside forces. Yet, Kennedy/Johnson Administration did not learn from the Pulitzer Prize (1964) of Halberstam in general and from the Battle of Ap Bac (Jan 1963) in particular. The North bombing by the US Air Force started in Feb 1965 and US Marines Corps were massively stationed at Da Nang in Mar 1965. History continues. As if nothing had not been learnt from Vietnam, and from 「The Best and the Brightest」in particular, the father/son Bush Administration went ahead with the Iraq and Afghan War on the same ignorance and arrogance. To human history, what is not learnt often outweighs what is learnt.

EPILOGUE
Throughout my many years of association with Vietnam, I have gotten to know many people, whom I seem to be able to categorize in retrospect. I got my first impression of the Vietnamese from the several Vietnamese trainees staying at the International Rice Research Institute, Los Baños, Philippines in 1963 and it was not particularly a favorable one. They appeared rather uncaring, cynical and apathetic, if not selfish, contemptuous, and corrupt. I may be too harsh and judgmental on them; nevertheless, Halberstam wrote about this type of people belonging to the upper strata of the South Vietnamese society during the same period so vividly and critically in 「The Making of a Quagmire」that my judgment might not have been too far away from the reality.

My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap. I might be a little too positively partial to those friends of mine. Nevertheless, I have a similar feeling toward some of my colleagues in Rayong, Thailand and Nanning, China to count a few. During the two decades of post-war Japan, we seem to have many Japanese of this category as well.

Then comes the mass of the population who just want tomorrow to be better than today. In this trip, I was deeply impressed and touched in meeting many people who seemed never to doubt tomorrow is better than today. This reminds me of the Japanese during the next two decades of post-war where the majority of the population was seeing a rosy future. Now in Japan, more than 30,000 people commit suicide annually and the main reason for this act is believed to be hopelessness to the present and future. Needless to say, Vietnam is not without problems such as the incompleteness of juridical system or rampant corruption to name some. Yet, the proportion of people feeling happy seems to be far higher in Vietnam than in Japan now. It is fascinating to imagine where these former colleagues of mine would further lead this society to.

People at a cassava open market near Hanoi in 1989.
People on a boat in Saigon river in 1988.
People on a ferry near Hanoi in 1989.
Boys on a Hanoi street in 1991.
Girls on a Hanoi street in 1991.
Two daughters at a village starch plant in Tay Ninh in1992.

People harvesting rice in Tay Ninh in 2009.
Hyper-energetic people in Ho Chi Minh city in 2009.
People relaxing at Hoan Kiem Lake, Hanoi in 2009.Chi tiết hình ảnh mời xem tại Source: https://foodcrops.blogspot.com/2012/09/cassava-and-vietnam-now-and-then.html

See more:

Cassava in Vietnam: a successful story  

Sắn Việt Nam CIAT câu chuyện thành công

CIAT is 50: Building a sustainable food future since 1967

Trăng rằm tháng Bảy Vu Lan

TRĂNG RẰM THÁNG BẢY VU LAN
Hoàng Kim

Trăng rằm tháng Bảy Vu Lan
An nhiên vui giữa thiên nhiên yên bình
Mẹ Cha đức độ phước lành
Thảo hiền con cháu, tinh anh giống nòi.

Thung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi an lành
Sớm thu tảo mộ người thân
Bánh ngon hiếu kính ân cần thảnh thơi.

Giấc thu tỉnh thức bình minh
Mai vàng trước ngõ, trúc xanh bên hồ
Trang đời đầy đặn trang thơ
Gió xao đồng rộng, nắng chờ vườn thơm.

Trăng rằm tháng Bảy Vu Lan …

 

TRĂNG RẰM ĐÊM VU LAN
Hoàng Kim
Trăng rằm đêm Vu Lan
thăm thẳm miền thương nhớ
Mẹ sinh con trăng rằm
người hiền đêm trăng tỏ
Ôi vầng trăng cổ tích
theo Người bao tháng năm
Lên Thái Sơn hướng Phật
thao thức vầng trăng rằm
Lời nguyện cầu Linh Ứng
câu thương yêu trọn đời
Cha Mẹ là nguồn sống

Hạnh Phúc đời an vui …

NHẠC THIỀN – TĨNH TÂM – AN NHIÊN TỰ TẠI

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Châu Mỹ chuyện không quên

CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN
Hoàng Kim

Reinhardt Howeler là người bạn tuyệt vời của Hoàng Kim
Chúc mừng bạn Reinhardt Howeler ngày sinh hạnh phúc
Reinhardt gieo hạt giống yêu thương trên cánh đồng Việt
Howeler là người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á

Reinhardt Howeler is Hoang Kim’s great friend.
Congratulations to Reinhardt Howeler happy birthday
Reinhardt sow seeds of love in Vietnamese fields
Howeler is a great friend of Asian cassava farmers.

Kazuo Kawano, Reinhardt Howeler, Hernan Ceballos, … là những người bạn tuyệt vời của tôi ở CIAT. Mời bạn cùng tôi du lịch nông nghiệp sinh thái Colombia, Trung tâm Nông nghiệp Quốc tế CIAT và gặp một số chuyên gia sắn hàng đầu thế giới của CIAT, những người đã góp công hiệu quả cho thành công sắn Việt Nam. “Châu Mỹ chuyện không quên” là bài đăng tại wordpress.com/category/chau-my-chuyen-khong-quen.

Châu Mỹ chuyện không quên. Lời Thầy dặn; Con đường di sản Lewis và Clark500 năm nông nghiệp BrazilĐối thoại giữa các nền văn hóaCIMMYT tươi rói một kỷ niệmHoa xương rồng; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe; Mark Twain là Lincoln văn học Mỹ; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng; Rio thành phố giữa núi và biển; Borlaug và HemingwayBill Gates học để làm Truyện George Washington; Minh triết Thomas Jefferson; Kiệt tác của tâm hồn; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Mark Zuckerberg thật tuyệt vời; Mark Zuckerberg và Facebook; Mark Zuckerberg bài học cuộc sốngSóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng

Châu Mỹ chuyện không quên, tôi đã và đang lưu lại bao điều tâm đắc, gương  George Washington, Thomas Jefferson; Norman Borlaug, Mark Zuckerberg, Bill Gates học để làm, đối với tôi thật sự thấm thía. Tôi thích học để làm, học vừa làm trí tuệ của họ. Câu châm ngôn hay về “sự đọc” đưa vào trang viết này thật đúng: “ Trong một thế giới có đủ bình tâm, người viết nhỏ hơn người đọc, người đọc nhỏ hơn quyển truyện họ đang đọc, và quyển truyện nhỏ hơn sự đọc. Người viết và người đọc rồi chết, truyện rồi quên. Sự đọc ở lại và làm nên một phần mênh mông trong định nghĩa của việc làm người “.

Châu Mỹ là nôi nông nghiệp sắn đậu ngô khoai của Trái Đất, là một trong những trung tâm phát sinh chính của nguồn tài nguyên di truyền thực vật toàn thế giới. Sắn đậu tại CIAT Colombia.  Ngô tại CIMMYT Mexico. Khoai lang, khoai tây tại CIP Peru. Tôi may mắn đã trãi nghiệm tại những nơi này và một số địa danh châu Mỹ.

Colombia nhiều bạn tôi ở nơi ấy

Colombia khái lược bốn yếu tố chính: Đất nước (đất đai và thức ăn); Con người (tộc người, ngôn ngữ, văn hóa); Môi trường sống (khí hậu, danh thắng, vấn đề chung); Chế độ và  Kinh tế hiện trạng.

Colombia đât nước và con người. Colombia là một quốc gia ở Nam Mỹ. Đó là nơi có trụ sở chính CIAT gần Cali. Tên gọi “Colombia” lấy theo tên của Christopher Columbus là người đã tìm ra Tân Thế Giới. Colombia  phía đông giáp Venezuela và Brasil; phía nam giáp Ecuador và Peru; phía bắc giáp Đại Tây Dương và biển Caribe; phía tây giáp Panama và Thái Bình Dương. Colombia cùng với Chile là hai quốc gia ở Nam Mỹ giáp cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Colombia là nước lớn thứ 4 tại Nam Mỹ (sau Brasil, Argentina và Peru), diện tích đất tự nhiên  1.141.748 km², gấp 3,44 lần Việt Nam,  nhưng dân số năm 2017 khoảng 49, 21 triệu người, khoảng 51,57% so với dân số Việt Nam.  Đồng tiền sử dụng là peso Colombia, Ngôn ngữ chính thức ở nước Colombia là tiếng Tây Ban Nha, cùng ngôn ngữ với các nước Venezuela, Argentina, Uruguay, Peru, Chi lê, Bolivia,  Paraguay, Panama, Costa Rica. Colombia có thu nhập bình quân đầu người khoảng 6.216 USD[2] (hạng 32) so bình quân đầu người tại Việt Nam khoảng  2.343 USD[6] (hạng 134). Colombia là nước có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng vùng nhiệt đới tương tự Việt Nam, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhất là cà phê (chiếm 16% xuất khẩu thế giới), hoa quả, thuốc lá, thịt bò, ngũ cốc, … Colombia cũng là nước giàu khoáng sản và năng lượng: đứng đầu khu vực về trữ lượng than (chiếm 40% tổng trữ lượng của Mỹ Latinh), thứ hai khu vực về tiềm năng thuỷ điện  (sau Brasil), dầu lửa có trữ lượng khoảng 3,1 tỷ thùng, ngoài ra còn có vàng, bạc, platin… Xuất khẩu chủ yếu gồm dầu lửa, than, cà phê, hoa tươi, chuối, dược phẩm, xi măng… sang các thị trường chính: Mỹ, Venezuela, Hà Lan. Nhập khẩu chủ yếu gồm máy công nghiệp, phương tiện vận tải, hàng hóa tiêu dùng, lương thực, hoá chất, quặng kim loại … từ các thị trường chính: Mỹ, Trung Quốc, México, Brasil, Pháp, Đức.

Lịch sử Colombia tương tự như các nước châu Mỹ nói chung, khái lược được chia làm hai giai đoạn chính: 1) giai đoạn tiền Colombo (trước năm 1493 Colombo tìm ra châu Mỹ, Châu Mỹ đã có một nền văn minh của người da đỏ Inca khoảng trên 10.000 năm) 2) hậu Colombo (sau năm 1493 Colombo tìm ra châu Mỹ, mở đường chinh phục cho người da trắng châu Âu và người nô lệ da đen châu Phi, người châu Á da vàng, tìm sang vùng đất mới, co hẹp tiêu diệt đồng hóa người da đỏ Inca). Trên toàn châu Mỹ thì các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Nga, Đức là những nước và cộng đồng dân cư đến “vùng đất mới” là có tỷ trọng  dân số, đất đai và quyền lợi nhiều nhất. Sắc tộc và ngôn ngữ Nam Mỹ nhiều nhất là người ‘lai’ Tây Ban Nha, nói tiếng Tây Ban Nha (những nước nêu trên) và người ‘lai’ Bồ Đào Nha, nói tiếng Bồ Đào Nha (Brazil). Ở Bắc Mỹ, cộng đồng người Anh, Mỹ ‘lai’ nói tiếng Anh tập trung nhiều ở Hoa Kỳ, cộng đồng người Pháp ‘lai’ nói tiếng Pháp tập trung nhiều ở Canada. Con người ngôn ngữ văn hóa Colombia khái lược tính trội thuộc về người ‘lai’ Tây Ban Nha và tiếng nói hệ ngôn ngữ Tây Ban Nha.

Colombia là một trong ba quốc gia nổi lên sau khi giải thể Gran Colombia năm 1830 (những nước khác là Ecuador và Venezuela). Một cuộc xung đột kéo dài hàng thập kỷ giữa các lực lượng chính phủ, các nhóm quân sự, và các nhóm nổi loạn chống chính phủ được tài trợ mạnh bởi buôn bán ma túy, chủ yếu là Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia (FARC), leo thang trong thập niên 1990. Hơn 31.000 cựu lực lượng quân sự Hoa Kỳ của Lực lượng Phòng vệ Colombia (AUC) đã bị giải thể vào cuối năm 2006, và AUC là một tổ chức chính thức đã ngừng hoạt động. Trong sự trỗi dậy của việc giải ngũ bán quân sự, các nhóm vũ trang bất hợp pháp phát sinh, những thành viên của nó bao gồm một số phi vụ quân sự cũ. Sau bốn năm đàm phán chính thức hòa bình, Chính phủ Colombia đã ký một thỏa thuận hòa bình cuối cùng với FARC vào tháng 11 năm 2016, sau đó đã được Quốc hội Colombia phê chuẩn. Hiệp ước kêu gọi các thành viên của FARC phải giải ngũ, giải giáp vũ khí và tái hợp vào xã hội và chính trị. Hiệp định cũng cam kết với Chính phủ Colombia để tạo ra ba tổ chức mới để tạo thành một “hệ thống toàn diện cho sự thật, công lý, sửa chữa và không lặp lại”, bao gồm một ủy ban sự thật, một đơn vị đặc biệt để phối hợp tìm kiếm những người biến mất trong xung đột, và “Quyền tài phán đặc biệt cho hòa bình” để quản lý công lý cho các tội phạm liên quan đến xung đột. Chính phủ Colombia đã đẩy mạnh nỗ lực mở rộng sự hiện diện của mình vào tất cả các bộ phận hành chính của mình. Mặc dù có nhiều thập kỷ xung đột nội bộ và những thách thức về an ninh liên quan đến ma túy, Colombia vẫn duy trì các thể chế dân chủ tương đối mạnh mẽ với các cuộc bầu cử hòa bình, minh bạch và bảo vệ quyền tự do dân sự.

CIAT nôi nông nghiệp sắn đậu

Ở Colombia, tôi ấn tượng nhất ba nơi, đó là 1) CIAT nôi nông nghiệp sắn đậu tại Cali, 2) sông Magdalena, đền thờ thần Mặt trời với nhiều đồn điền cà phêdãy núi Andes; 3) thủ đô Bogota tại Zona Rosa nổi tiếng với các nhà hàng và cửa hiệu, có Cartagena là một khu phố cổ trên bờ biển Caribê gợi nhớ biển về Nha Trang của Việt Nam.

Trung tâm quốc tế về nông nghiệp nhiệt đới CIAT https://ciat.cgiar.org là một tổ chức nghiên cứu và phát triển phi lợi nhuận nhằm giảm đói nghèo trong khi bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở các nước đang phát triển. CIAT có trụ sở tại Palmira, Colombia. Rockefeller Foundation là tổ chức thành lập; CIAT ra đời năm 1967, đến nay đã có trên 50 năm kinh nghiệm, trong hệ thống ACIAR https://www.cgiar.org/research/center/ciat/. CIAT làm nông nghiệp là chìa khóa cho hòa bình lâu dài ở Colombia: Thiết lập chế độ ăn cơ bản cho chế độ ăn lành mạnh ở Cali, Colombia; Nghiên cứu bảo tồn và phát triển bền vững sắn cung cấp các cơ hội kinh tế mới ở Trung Mỹ; Nghiên cứu bảo tồn và phát triển bền vững nông nghiệp thích ứng với khí hậu: trường hợp sản xuất cà phê ở Việt Nam và ca cao ở Ghana và Indonesia; Nghiên cứu bảo tồn và phát triển bền vững các loại đậu ăn hạt có hàm lượng sắt cao cải thiện trí nhớ và sự chú ý trong sinh viên đại học nữ ở Rwanda; Siêu đậu giúp giảm bớt nạn đói của người tị nạn Nam Sudan ở Uganda; Làm thực phẩm giá cả phải chăng và bổ dưỡng dành cho người nghèo ở Kenya và Uganda. Đó là những nội dung hoạt động chủ yếu của CIAT ngày nay.

Giáo sư Kazuo Kawano và sắn Việt Nam.
Giáo sư Kazuo Kawano người Nhật là một trong những nhà bác học hàng đầu quốc tế về chọn tạo giống sắn, người có công lớn trong  thành tựu nghiên cứu và phát triển sắn ở Việt Nam được Bộ Nông nghiệp và PTNT trao tăng huy chương hữu nghị năm 1997. Giáo sư đã từng làm việc tại Viện Lúa  Quốc tế IRRI 1965-1969, giảng dạy về lúa ở Mỹ và Peru 1970-1972, trưởng chương trình sắn quốc tế của CIAT Colombia (1973-1984), trưởng chương trình nghiên cứu và phát triển sắn châu Á (1984-1998), giáo sư kiêm giám đốc trung tâm giảng dạy và nghiên cứu cây lương thực trường đại học Kobe , Nhật Bản 1998-2004. Giáo sư biên soạn 11 sách, 157 bài báo khoa học và đoạt nhiều giải thưởng lớn quốc tế . Giáo sư đã sang thăm Việt Nam và viết loạt 25 bài phóng sự ảnh Cây sắn Việt Nam: Hiện tại và sắp tới  (Cassava in Vietnam: Now and Then) đăng trên trang CASAVAVIET. Trân trọng tóm tắt tiểu sử giáo sư Kazuo Kawano và giới thiệu lần lượt loạt phóng sự ảnh này (xem tiếp)

Biographical Information of Kazuo Kawano

Date of birth:                               16 March, 1941
Place of birth:                              Osaka, Japan
Citizenship:                                 Japan
Permanent resident:                  Japan
Education:
March 1963: Graduated from Faculty of Agriculture, Hokkaido, University, Japan
March 1966: M. S. degree from Faculty of Agriculture, Hokkaido, University, Japan
March 1969: PhD from Faculty of Agriculture,Hokkaido University, Japan

Work Experience:
+ June 1963-March 1965: Research fellow at International Rice Research Institute, Philippines
+ Sep. -Dec.  1969  Post doctoral fellow at International Rice Research Institute, Philippines
+ January 1970-December 1972 Visiting Assistant Professor at North Caroline State University and Rice; Breeding specialist at Rice Research Program, Peru
+ January 1973-March 1984      Plant Breeder and head of Cassava Breeding Program at the Centro Internacional de Agricultura Tropical (CIAT), Colombia
+ April 1984-March 1998: Plant Breeder and Coordinator at CIAT Asian Cassava Program
+ April 1998-March 2004:  Professor and Director at  Food Resources Education and Research Center, Kobe University, Japan

Publications:
Author of over 157 scientific papers, of which 35 in refereed journals (All but three as senior or corresponding author), 5 books and at least 6 book chapters.  Author of numerous Symposium and Workshop articles

Awards received:
February 1993    Best Academic Award of 50th Anniversary of Kasetsart University, Thailand (Group award: Development of a new high yielding, high starch variety Kasetsart 50)
February 1995  Second Prize at the Technology Development Fair of Thailand (Group award: Development  and dissemination of new cassava varieties)
March 1997 Medal for Contribution to Vietnamese Agriculture, from the Ministry of
Agriculture and Rural Development of Vietnam (Individual award)
March 1997 Iso Award at the Japanese Society of Tropical Agriculture (Individual award: Contribution to Asian Agriculture through cassava breeding)
July 1997 Commendation at the Ministry of Foreign Affairs of Japan (Individual award:
Contribution to tropical agriculture through activities in an international organization)
December 1998 Royal decoration in the third class of the “Most Exalted Order of the White Elephant” by the Thai government (Individual award: Establishment of cassava breeding research system and contribution to Thai agriculture research and production through development of new cassava varieties)
September 1999 “Friendship Award of Coconut Island” from Hainan Province of China (Individual Award: Contribution to agriculture research of Hainan Province through cooperative cassava breeding research)
September 1999   “Friendship Award” for Foreign Experts, from the Ministry of Foreign  Affairs of China (Individual award: Contribution to Chinese agriculture research and production through cassava breeding research)
April 2001 Japan Agriculture Research Prize (Individual award: Establishment of cassava research system and development of new cassava varieties)
 April 2001 Yomiuri Agriculture Science Prize (Individual award: Establishment of cassava research system and development of new cassava varieties)
April 2002 Special Award from the Philippines Root Crop Research and Training Center (Individual award: Contribution to Philippines root crop research and varietal development)
November 2003   Science Award from Hyogo Prefactural Government, Japan (Individual award: International contribution through cassava breeding
November  2009   Nippon Foundation Award for Social Contribution (Shared award with Dr. Reinhardt Howeler)
Current Address:       Yamateday 3, 3-13, Ibaraki-shi, Osaka, Japan 567-0009
Phone/Fax: 81 72 649 1480 ; E-mail: ke.kawano@mist.ocn.ne.j

Research and Varietal Development Conducted by Kazuo Kawano
Research
Physiological and ecological study on the productivity of rice
Genetic study on productivity related traits of rice
Evaluation of cassava genetic resources for productivity and disease resistance
Analysis of environmental adaptability of cassava
Genetic analysis of yield and quality traits of cassava
Establishment of breeding method for cassava productivity
Genetic analyses of cassava disease resistances and establishment of breeding method for disease resistances
Study on the evolution of fighting apparatus in Coleoptera
Study on the evolutionary history of higher taxa in Coleoptera and discussion on Neo-Darwinism
Varietal Development
・    Selection of high yielding varieties of rice in Peru (4 released varieties of which 2 exceeded more than 10,000ha of planted area)
・    Generation of cassava breeding materials for higher productivity
・    Introduction of disease resistances, adaptability to highly acid soils and draught tolerance to cassava breeding population
・    Introduction of higher starch content to cassava breeding population
・    Enhancement of broad environmental adaptability in cassava breeding population
・    Distribution of breeding materials from the above mentioned populations to the breeding programs in more than 25 tropical and sub-tropical countries (Total number of genotypes exceeds 1.2 million of which more than 0.6 million were for Asia)
・    Development and dissemination of recommendable varieties in collaboration with national breeding programs in Thailand, Indonesia, Vietnam, China, Philippines, and other countries in Asia and Latin American (As of the 1999 cropping year, 38 varieties were officially released in six countries in Asia of which 8 varieties exceeded more than 10,000ha and 5 more than 100,000ha of planted area; 15 varieties in Latin America of which one variety exceeded 10,000ha)
Socio-Economic effects
Near 100 CIAT-related varieties are estimated to have been released in Asia up to the 2007 cropping year and their planted area exceeds 1.5 million ha.
Additional economic effects caused by the adoption of these new cassava varieties were estimated to have accumulated to be 1 billon US$ in 2000.
Combined additional economic effects caused by new varieties and improved cultural practices are estimated to be near 1 billion US$ in the single cropping year of 2007.
 A greater part of these economic effects has been and is entering the household incomes of small farmers.
Adoption of improved varieties has caused and is causing increased adoption of better agronomic practices which lead to better environmental conservation.
Publications (See the list of major publications)
Many papers on cassava breeding and rice physiology/ecology in scientific journals mainly in USA
Several chapters of graduate school level text books on tropical agriculture and cassava breeding in Japan and USA
Several commentary papers on the accountability of agricultural research in journals in Japan
Several commentary papers and books on the use and abuse of plant genetic resources from the standpoint of a plant breeder who has produced real results in Japan
Commentary papers on the limitation of reductionistic approach in tropical crop breeding and of Neo-Darwinistic stand in macro-evolution in international and Japanese journals
Many papers on the evolution of Coleoptera in leading journals in USA and Japan

Education and Training
Training of national program researchers in cassava breeding through institutionalized training courses and on-the-spot practices
Helping the establishment and strengthening of cassava breeding programs in several tropical countries
Strengthening of national cassava breeding network mainly through exchange of advanced breeding materials
Organization of international workshops and symposiums
Lecturing and advising in graduate school thesis in several countries
List of Major Scientific PapersRelated to Crop Breeding(March 2008)
Kazuo Kawano (Published as senior author or corresponding author in  major refereed journals in English language)
Crop Science
K. Kawano, P. Daza, A. Amaya and M. Rios. 1978. Evaluation of cassava germplasm for productivity. Crop Science 18:377-380.
K. Kawano, A. Amaya, P. Daza and M. Rios. 1978. Factors affecting efficiency of selection in cassava. Crop Science 18:373-376.
 K. Kawano and M. D. Thung. 1982. Intergenotypic competition and competition with associated crops in cassava. Crop Science 22:59-63.
K. Kawano, C. Tiraporn, S. Tongsri and Y. Kano. 1982. Efficiency of yield selection in cassava populations under different plant spacings. Crop Science 22:560-564.
K. Kawano, Y. Umemura and Y. Kano. 1983. Field assessment and inheritance of cassava resistance to superelongation disease. Crop Science 23:201-205.
Y. Umemura and K. Kawano. 1983. Field assessment and inheritance of resistance to cassava bacterial blight. Crop Science 23:1127-1132.
K. Kawano, W. M. Goncalves Fukuda and U. Cenpukdee. 1987. Genetic and environmental effects on dry matter content of cassava root. Crop Science 27:69-74.
K. Kawano, K. Narintaraporn, P. Narintaraporn, S. Sarakarn, A. Limsila, J. Limsila, D. Suparhan, V. Sarawat and W. Watananonta. 1998. Yield improvement in a multistage breeding program for cassava. Crop Science 38:325-332.
K. Kawano. 2003. Thirty years of cassava breeding for productivity – Biological and social factors for success. Crop Science 43:1325-1335.
Euphytica
K. Kawano. 1990. Harvest index and evolution of major food crop cultivars in the tropics. Euphytica 46:195-202.
Journal of Crop Improvement

K. Kawano and J. H. Cook 2005. Breeding cassava for underprivileged: Institutional, Socio-economic and biological factors for success. J. Crop Improvement 14: 197-219.

Kazuo Kawano và Reinhardt Howeler

Reinhardt Howeler sinh tại Indonesia nhưng lớn lên ở Hà Lan. Sau khi tốt nghiệp ở Học viện Nông nghiệp Nhiệt đới, ông di cư sang Mỹ tiếp tục nghiên cứu của mình và lấy bằng tiến sĩ về hóa học đất tại Trường Đại học Cornell. Ông tham gia tổ chức CIAT ở Cali, Colombia năm 1970, khi chương trình sắn mới được thành lập năm 1972. Ông tiến hành các thí nghiệm trong nhà kính để xác định nhu cầu dinh dưỡng của cây sắn và làm thế nào để quản lý sắn không bị xói mòn nghiêm trọng. Năm 1986, ông chuyển đến văn phòng CIAT châu Á tại Bangkok, Thái Lan và ở lại đây suốt thời gian 23 năm. Ông đã làm việc chặt chẽ với các nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và nông dân trong điều kiện thực tế với tất cả các nước trồng sắn trong khu vực, phát triển các hoạt động quản lý đất và cây trồng tốt hơn, và tăng cường ứng dụng  chúng bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của nông dân (FPR). Kết quả là sản lượng sắn ở châu Á tăng lên đáng kể, cho phép sự gia tăng nhanh chóng của công nghiệp chế biến và sử dụng sắn, tăng cung cầu sử dụng sắn, cải thiện thu nhập và đời sống của nhiều nông hộ trồng sắn. Reinhardt Howeler là chuyên gia sắn nổi tiếng, biên soạn nhiều sách và đã được vinh danh tại Việt Nam đồng thời với Kazuo Kawano (HK).

còn nữa…

CIAT VIETNAM hợp lực phòng trừ bệnh khảm virus sắn CMD. Tổng giám đốc CIAT Ruben Echeverria và Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Trần Kim Long, tại lễ ký kết một thỏa thuận hợp tác mở rộng tại Hà Nội ngày 13 tháng 7 năm 2018, Bài và ảnh  của Madelline Romero / CIAT xem tiếp tại https://blog.ciat.cgiar.org/threat-of-cassava-mosaic-disease-strengthening-resilience-to-climate-disasters-dominate-conversations-between-ciat-and-vietnam-agricultural-institutions/

Sắn Việt Nam CIAT câu chuyện thành công

CIAT is 50: Building a sustainable food future since 1967

Cha Mẹ tháng Vu Lan thương nhớ

CHA MẸ THÁNG VU LAN THƯƠNG NHỚ
Hoàng Kim
Vu Lan Cha Mẹ nhớ muôn năm
Núi Thái nguồn Ân nối ruột tằm
Chốn khổ Mẹ lo đau nhớ mãi
Nơi nguy Cha chịu xòt thương thầm
Nếp nhà hiếu thảo dày nhân nghĩa
Nền văn đức độ đón phước ân
Phúc hậu an nhiên minh triết vẹn
Gia đình hạnh phúc đức lưu tâm.

(*) CHA MẸ THÁNG VU LAN THƯƠNG NHỚ  thơ Hoàng Kim kính kết nối thơ hay của cụ Đỗ Hoàng Phong 93 tuổi lão thành cách mạng 72 tuổi Đảng đã nhân ngày Kỵ Nhật nhất niên Vu Lan nhớ cụ Nguyễn Đức Hà. Gia đình ngưỡng mộ và trân trọng cám ơn …

VU LAN NHỚ CỤ NGUYỄN ĐỨC HÀ
thơ cụ Đỗ Hoàng Phong

Cụ về tiên cảnh đã tròn năm
Đứt đoạn dây tơ rối ruột tằm
Nỗi nhớ bâng khuâng còn đọng mãi
Niềm đau vương vấn vẫn thương thầm
Tâm hồn trong sáng Dân vì nể
Đạo đức kiên trung Nước tri ân
Di ảnh còn đây người vắng bóng
Lưu Đời dấu ấn trí nhân tâm.
Tháng 8 /2018

(Nguồn : https://www.facebook.com/daihocnonglam/posts/10213062958790264)

BA HÀ NGƯỜI LÍNH GIÀ THỜI BÁC

Một giải non sông trọn vẹn rồi
Bạn già còn ít cụ Phong ơi !
Ba Hà người lính về an nghỉ
Bác Cả danh thần đón dạo chơi
Thầm lặng hi sinh thân chịu nặng
Thung dung phúc hậu lệ nhoà rơi
Ba Hà người lính già thời Bác
Viếng Bác cha con khóc nghẹn lời.

Hoàng Kim kính họa thơ
cụ Đỗ Hoàng Phong 92 tuổi,
71 năm tuổi Đảng, cán bộ tiền khởi nghĩa,
Con kính cám ơn cụ đã tặng thơ viếng cụ Ba Hà.

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC CỤ NGUYỄN ĐỨC HÀ

Quân báo lừng danh vắng bóng rồi
Từ nay vĩnh biệt cụ Hà ơi !
Non bồng sao vội về an nghỉ
Tiên cảnh ham chi đến dạo chơi
Đồng chí bâng khuâng sầu chất nặng
Thân nhân thương tiếc lệ nhoà rơi
Hương hồn phảng phất mờ nhang khói
Viếng cụ từng câu đọc nghẹn lời
Kính viếng

Đỗ Hoàng Phong 92 tuổi
71 năm tuổi đảng, cán bộ tiền khởi nghĩa

ĐƯA TIỄN CHA NGUYỄN ĐỨC HÀ.

Kính thưa tang quyến và toàn thể bà con,

Tôi là Nguyễn Đức Phúc, con trai út, xin kính đọc điếu văn đưa tiễn cha Nguyễn Đức Hà.

Cha Nguyễn Đức Hà của chúng con, là người ông yêu quý của các cháu, người cố kính yêu của các chắt, người thân thiết của gia đình, quê hương và dòng họ. Cha sinh ngày 9 tháng 9 năm 1923, từ trần lúc rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm 2017 (nhằm ngày 29 tháng 6 Đinh Dậu) thọ 95 tuổi. Cha là Người Cao tuổi Việt Nam xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, nguyên cán bộ quân báo đơn vị 415 trung đoàn 812 anh hùng. Cha nghỉ hưu năm 1984, huân chương kháng chiến hạng 3 số 438 CT. HĐNN cấp ngày 25 tháng 9 năm 1990. Cha sống vui khỏe, chết an nhàn không bệnh tật như câu ca xưa “Mẹ già như chuối chín cây. Gió lay mẹ rụng con phải mồ côi” Cha đã về với thiên nhiên và chốn vĩnh hằng trong sự tiếc thương vô hạn của gia đình và quê hương.

Nhớ Cha xưa sinh quán tại làng Thanh Lương, Chợ Kệ, Hương Trà, Thừa Thiên Huế, dòng tộc quan đại thần nhà Nguyễn. Ông nội và bà nội mất sớm, cha chịu nhiều cơ cực lưu tán vào Bình Thuận, học trường Dục Thanh nơi Bác Hồ dạy và sớm giác ngộ cách mạng. Cha đã kết duyên với mẹ là Nguyễn Thị Bây sinh quán tại tỉnh Phú Yên, trú quán tại xã Tân Hải huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận sinh thành bảy người con, ba trai, bốn gái, đó là: Thủy, Trung, Hiếu, Nghĩa, Hạnh, Phúc, Hòa.

Nhớ Cha xưa đi làm cách mạng và hai lần bị tù. Cha là người lính già thời Bác Giáp được vinh dự có hình trên nhiều trang báo Đảng chụp ở Dinh Thống Nhất ngày tiễn đưa Bác Giáp trước đây. Cha là người năm 1954 được tổ chức cài lại hoạt động trong lòng địch, đã bị tù thời Diệm, ra tù lại được tổ chức Đảng móc nối để hoạt động quân báo trở lại, thuộc đơn vị 415 anh hùng tỉnh đội Bình Thuận, sau đó lại bị chính quyền Thiệu bắt cầm tù cho đến năm 1975 khi quân giải phóng vào giải phóng lao xá thì mới được trả lại tự do. Cha vừa ra khỏi lao ngục lại lập tức tham gia lái xe chuyển quân vào giải phóng Sài Gòn. Năm 1984, Cha về làm nông và hưởng chế độ nhà nước, và được tặng thơ:

MỪNG THỌ CỤ NGUYỄN ĐỨC HÀ

Chín lăm mùa xuân ai bảo nhầm
Đối nhân xử thế đúng phương châm
Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức
Xẻ dọc biên niên dệt chữ tâm
Dũng sĩ so tài không kém đức
Anh hùng đọ trí cũng ngang tầm
Huân chương nước tặng hồng trên ngực
Bách tuế ghi tên vẫn nhớ thầm.
(Đỗ Hoàng Phong, cán bộ Tiền khởi nghĩa, 70 năm tuổi đảng, mến tặng).

Nhớ Cha xưa tính tình phúc hậu, con cháu trong nhà và gia đình lối xóm ai cũng mến thương. Cha đã thuận theo ý nguyện của các con an táng Cha tại Nghĩa trang Hưng Long Hưng Thịnh Thống Nhất Đồng Nai là để thuận lợi, phù hợp cho con cháu sau này. Chúng con lâu dài sẽ tính hợp táng Cha Mẹ.

Kính thưa tang quyến và toàn thể bà con,

Cha Nguyễn Đức Hà người hiền ra đi, tiếng thơm còn mãi. Cha của chúng con sống lại trong hình hài của “Thủy, Trung, Hiếu, Nghĩa, Hạnh, Phúc, Hòa” của bao cháu chắt và người thân được thừa hưởng di sản phúc hậu, sức khỏe trường thọ và trí huệ của Người. Con cháu và bà con lối xóm không quên một tinh anh ngời sáng: “Vắt ngang thế kỷ trồng cây đức. Xẻ dọc biên niên dệt chữ tâm”.

Gia đình chúng tôi trân trọng cám ơn cán bộ và nhân dân các xã Hưng Thịnh, Đông Hòa với đông đảo bà con thân quen gần gũi đã đến viếng, Đảng Ủy, Ban Lãnh Đạo Công An huyện Trảng Bom, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây Điều, hầu hết các tổ chức trong Viện, Đảng Ủy Ban Giám Đốc Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Giáo sư tiến sĩ Mai Văn Quyền (Van Quyen Mai) và tiến sĩ Claude Fauquet Tổng Giám đốc Mạng lưới Sắn Toàn Cầu, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Phú Yên, nhân dân tổ 18, 19 khu Trung tâm, thân tộc nội ngoại, gia đình sui gia 7 con và các cháu, Trường Phổ thông Cơ sở Phan Chu Trinh, chùa Vu Lan, … Đặc biệt là cán bộ và nhân dân sở tại các xã Hưng Thịnh, Đông Hòa, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc, sư cô Thích nữ Trang Thuận, trụ trì chùa Hưng Lâm, quý sư cô nhà đạo tràng phật tử và đội mai táng đã tận tình chu đáo hậu sự cho cụ Nguyễn Đức Hà.

Gia đình chúng tôi xin trân trọng biết ơn và cảm tạ.

(Nguồn: Hoàng Kim cùng với Hoang Long4 người khác. 23 Tháng 8, 2017)

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Có một ngày như thế

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim
Có một ngày như thế Ngày maithuyantam@ Đội bóng vàng chung sức Niềm vui đang đến dần. Mỗi hiền tài đất nước Là nhân cách tài năng Với dày công đội ngũ Phước đức mùa Vu Lan…  Chúc mừng BM Nguyễn Bạch Mai thành công bước đầu. Phúc hậu, Tận tâm, Hiệu quả.  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-mot-ngay-nhu-the/ 

Bài viết mới