Minh triết Hồ Chí Minh

MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH
Hoàng Kim

Minh triết Hồ Chí Minh là nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim nhằm hiểu đúng thực chất Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương: Vì sao không có được giải pháp hợp tác giữa Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đình Diêm, Nguyễn Trường Tam, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hải Thần, Phạm Quỳnh, Hoàng Xuân Hãn, Phan Văn Giáo … Đánh giá về bình sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu sắc nhất có lẽ đó là bài thơ: “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành. Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH”. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời có nói : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.  Suốt đời Bác làm hai việc chính là kiến tạo Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thành một mặt trận rộng rãi “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công thành công, đại thành công” thực hiện “kế sách một chữ đồng” giành độc lập dân tộc và mở đường Hồ Chí Minh thống nhất đất nước Việt Nam. xem tiếp Minh triết Hồ Chí Minh
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-ho-chi-minh/

MINH TRIẾT HỒ CHÍ MINH TƯ LIỆU
Hoàng Kim

Thanh nhàn ta đọc chuyện trăm năm.
Người hiểu thường khi nói ít lầm.
Sự đọc thung dung còn đọng lại.
Trãi mình trong cõi thấu nhân văn”

Minh triết Hồ Chí Minh là tài liệu nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim nhằm hiểu đúng thực chất Bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương: Vì sao không có được giải pháp hợp tác giữa Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đình Diêm, Nguyễn Trường Tam, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hải Thần, Phạm Quỳnh, Hoàng Xuân Hãn, Phan Văn Giáo. Tài liệu “Cuộc phỏng vấn trực tiếp Cựu hoàng Bảo Đại trước khi ông qua đời”  Cuộc phỏng vấn trực tiếp Cựu hoàng Bảo Đại trước khi ông qua đời đăng trên Tạp chí Xưa và Nay số 456 tháng 2 năm 2015, được trích thuật trong nghiên cứu lịch sử, sẽ giúp chúng ta một góc nhìn đối thoại giữa Cựu hoàng Bảo Đại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm này là quan trọng, cần thiết và đáng tin cậy. Đề cương câu hỏi của nhà sử học  Fédéric Mitterand, cháu của Tổng thống Mitterand bố cục thật tuyệt vời và Cựu hoàng Bảo Đại cũng đã trả lời “hay và rõ ràng”. Dư âm buổi phỏng vấn lắng đọng.

“Minh triết Hồ Chí Minh tư liệu” lưu trữ thông tin này vào “Danh mục một số tư liệu lịch sử tuyển chọn” để đọc lại và suy ngẫm. Tài liệu chính gồm: 1) Ngọn nến Hoàng cung bộ phim lịch sử của đạo diễn Nguyễn Quốc Hưng, đoạt Giải thưởng: Cánh Diều Vàng Việt Nam cho Phim truyền hình dài tập xuất sắc nhất; 2) Chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim; 3) Tài liệu cho sử gia; 4) Trần Chung Ngọc và sachhiem.net ;5)  Đế quốc Việt Nam; 6) Một cơ hội bị bỏ lỡ ở Việt Nam năm 1945?; 7) Học giả Trần Trọng Kim; 8) Hoàng Xuân Hãn con người và chính trị;  9) Nhà văn hóa Phạm Quỳnh; 10) Bảo Long – Hoàng thái tử cuối cùng thời quân chủ VN; 11) Vài suy nghĩ về cựu hoàng Bảo Đại; 12) Phan Văn Giáo người đứng đầu miền Trung thời Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng; 13) Tư liệu quý ngày 2 tháng 9; 14) Cuộc phỏng vấn trực tiếp Cựu hoàng Bảo Đại trước khi ông qua đời; 15) Minh triết Hồ Chí Minh; … Trân trọng cám ơn sự bổ khuyết và thẩm định của bạn đọc

 

CUỘC PHỎNG VẤN TRỰC TIẾP CỰU HOÀNG BẢO ĐẠI
TRƯỚC KHI ÔNG QUA ĐỜI

Trước khi Bảo Đại qua đời (1997), nhà sử học trẻ Fédéric Mitterand, cháu của Tổng thống Mitterand, đã có cuộc phỏng vấn trực tiếp cựu hoàng tại nhà riêng (tầng trệt cao ốc 29 Presnel, quận 16, Paris). Lần đầu tiên cựu hoàng nói về những kỷ niệm và thổ lộ ước vọng của ông về đất nước Việt Nam, trong đó có việc ông thành lập chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật và trong trường hợp nào ông đã thoái vị làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cuộc phỏng vấn này đã được phát trên truyền hình Pháp nhiều lần, hoàng nữ Phương Thảo (con của bà Bùi Mộng Điệp và cựu hoàng Bảo Đại) đã thu được và cung cấp cho tôi, kỹ sư Bùi Hữu Lân (cựu sinh viên Đại học Bách khoa Pháp) và ông Nguyễn Đắc Xuân chuyển qua Việt ngữ. Xin trích một đoạn sau đây để bạn đọc tham khảo về những sự kiện cách nay 70 năm.

Frédéric Mitterand: Đây là một thời kỳ (1944-1946) lạ lùng: có một chủ quyền của nước Pháp Vichy, có đông đảo người Nhật, có vua Bảo Đại im lặng đứng nhìn tình thế, bên cạnh nhân dân Việt Nam. Nước Pháp được giải phóng, thay đổi chế độ chính trị, với tướng De Gaulle lên cầm quyền. Lúc ấy ở Việt Nam tình hình ra thế nào?

Bảo Đại: Người Việt chúng tôi mù tịt. Chúng tôi hoàn toàn không biết việc gì đã xảy ra. Chúng tôi có biết nước Pháp được giải phóng, chấm hết.

Frédéric Mitterand: Và người Nhật? Lúc ấy một thời gian sau họ làm đảo chánh?

Bảo Đại: Người Nhật làm đảo chánh vì người Pháp cho rằng, sau khi quân Nhật đã thua nhiều trận ở mặt trận Thái Bình Dương, nước Nhật đã đến thời tận số. Cho nên người Pháp mới bắt đầu tổ chức một loạt kháng chiến. Người Nhật, thấy đã hết thời, không muốn như vậy và đó cũng là một vấn đề thể diện. Họ đã làm đảo chánh và gạt bỏ chủ quyền của Pháp.

Frédéric Mitterand: Lúc ấy, ngài bất đắc dĩ cũng bị lôi cuốn phần nào trong cuộc ẩu đả đó?

Bảo Đại: Đó là một câu chuyện khá đầy kịch tính. Hôm người Nhật làm đảo chánh tôi không có mặt trong cung. Tôi đi săn. Đến khi trở về cung các cửa cung đều mở. Có tiếng súng nổ. Một sĩ quan Nhật đến trình diện với tôi, xin tôi chịu khó chờ một chút: “Chúng tôi đang giải quyết vài vấn đề”, và sau đó ông sĩ quan này dẫn tôi vào cung. Một thời gian sau, tôi vào trong cung, cũng ông sĩ quan ấy nói với tôi: “Ngày mai, có một nhân vật quan trọng, một đại sứ, đến trình diện với ngài”. Ngày hôm sau tôi tiếp đại sứ Yokoyama. Đại sứ trình uỷ nhiệm thư và nói với tôi rằng: “Thiên Hoàng cho tôi đến bên cạnh Ngài”. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với người Nhật.

Frédéric Mitterand: Trước đó ngài đã có suy nghĩ về hoàng đế Nhật Bản?

Bảo Đại: Chúng tôi biết hoàng đế Nhật, nhất là Minh Trị Thiên Hoàng, đã mở cửa nước Nhật cho thế giới hiện đại.

Frédéric Mitterand: Và ngài có quan tâm đến kinh nghiệm này?

Bảo Đại: Có, tôi có theo dõi khá sát lịch sử nước Nhật.

Frédéric Mitterand: Người Nhật tỏ ra rất kính trọng ngài, và ngay sau đó, đề nghị ngài tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Một tình trạng gay cấn vì thực sự không còn chủ quyền của Pháp lúc đó nữa. Chính tướng De Gaulle cũng đã nó: “Tôi thấy Đông Dương đã rời xa như một con tàu lớn”. Không có vấn đề duy trì chính quyền Vichy, còn người Nhật thì yêu cầu ngài tuyên bố độc lập. Và ngài lưỡng lự?

Bảo Đại: Trước hết, tôi nghi ngờ vì không biết nền độc lập này có giá trị đến mức nào.

Frédéric Mitterand: Đó là một cái bẫy?

Bảo Đại: Không phải là cái bẫy nhưng hai chữ ấy vô cùng kỳ diệu, đó là hai chữ thiêng liêng, hai chữ Độc Lập. Đối với thần dân tôi, tôi không thể từ chối Độc Lập, nếu tôi từ chối, thần dân tôi sẽ trách tôi. Đó là cơ hội ngàn năm một thuở để chứng tỏ rằng chúng tôi độc lập, dù cái độc lập ấy có hình thức thế nào. Điều kỳ lạ là khi tôi ký tuyên ngôn độc lập, tôi hỏi Đại sứ Nhật: “Có vấn đề trao đổi gì không?”. Ông trả lời: “Không, chúng tôi không đòi hỏi ngài bất cứ một điều gì; chúng tôi giải phóng quý quốc; có thế thôi”.

Frédéric Mitterand: Nhưng dầu sao, ngài không ngại trở nên một con bài trong tay người Nhật, và ngài không ngại làm cho người Pháp nghĩ rằng ngài đã bỏ rơi họ?

Bảo Đại: Không, hoàn toàn không. Tôi không muốn tôi là con bài trong tay người Nhật. Một hôm ông tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Nhật ở Đông Dương xin tôi tham gia vào chiến cuộc để giúp nước Nhật, vì lúc đó Nhật đang ở trong một giai đoạn khó khăn, tôi trả lời: “Nay chúng tôi độc lập, không thể sai khiến chúng tôi điều gì nếu chúng tôi đã độc lập. Chúng tôi tự do làm điều gì chúng tôi muốn, các Ngài không có quyền can thiệp vào nội bộ chúng tôi”. Và người Nhật đã hiểu.

Frédéric Mitterand: Có cái ngại kia, ngại làm cho người Pháp nghĩ rằng ngài đã bỏ rơi họ?

Bảo Đại: Không những tôi đã nghĩ đến việc này, mà nhiều người Pháp đã cho rằng tôi đã phản bội họ. Khi tôi trở qua Pháp năm 1948, có một chiến dịch báo chí chống tôi, nói rằng: “Đó là một con người phản bội, ông ấy đã bỏ rơi chúng ta, ông ấy đi với bọn Nhật”. Tôi phải đưa Hiệp ước Bảo hộ ra. Nó đây, theo điều 11 hay 13, nước Pháp có trách nhiệm giữ an ninh cho nhà vua, chống lại kẻ địch bên ngoài cũng như nội loạn bên trong. Ai đã phá bỏ hiệp ước này? Không phải tôi. Ngày 9-3-1945, chủ quyền Pháp đã không còn nữa.

Frédéric Mitterand: Người Nhật có ngược đãi người Pháp không?

Bảo Đại: Không, quân đội của Thiên Hoàng không làm cái việc tàn ác. Thủ phạm là đội Kempetai, là một loại Lê Dương của Nhật. Đội Kempetai này đã làm các việc tàn ác đối với người Pháp.

Frédéric Mitterand: Bỗng nhiên ta lâm vào cái thế phức tạp. Vì ngài có nhiều quyến luyến với người Pháp. Ngài không thể bình thản mãi?

Bảo Đại: Đó là tình cảm cá nhân, nhưng tôi phải nghĩ trước hết đến quốc gia dân tộc. Người Nhật đã đem độc lập đến cho chúng tôi, tôi phải cụ thể hoá nền độc lập đó. Cho nên tôi đã lập một chính phủ. Các quan đại thần lúc ấy đã xin rút lui để chúng tôi có một chính phủ tân tiến.

Frédéric Mitterand: Lúc đầu tiên ngài thực hiện quyền lực của một ông vua lập hiến, của một ông vua thời hiện đại. Vậy chính phủ ấy có những ai.

Bảo Đại: Đó là những trí thức trẻ, nhiều người ở Pháp, những kỹ sư trường bách khoa, những tiến sĩ luật, những bác sĩ y khoa, họ thông hiểu cả Đông và Tây. Về chức Thủ tướng, tôi đã chọn một học giả thông hiểu cả Đông và Tây.

Frédéric Mitterand: Trước tình hình mới ấy, tâm trạng của dân chúng thế nào?

Bảo Đại: Có thể nói rằng dân chúng cảm thấy nhẹ nhõm.

Frédéric Mitterand: Nước Nhật sụp đổ. Bom nguyên tử nổ. Đế quốc Nhật Bản không còn. Vào khoảng đó, những người Cộng sản gây nên một áp lực ngày càng lớn?

Bảo Đại: Thật ra, lúc đầu không phải là những người Cộng sản, mà là những người quốc gia. Đồng bào tôi, nhất là giới trí thức, nghĩ rằng cần có một cuộc cách mạng. Đối với họ, nếu không có cách mạng thì không có tiến hoá. Tôi sợ họ làm một cuộc cách mạng. Nếu ông nhớ lại cái hiệp ước Yalta và Postdam, mặc dầu Nhật thua trận, nhưng Nhật có trách nhiệm phải giữ trật tự, tức là quân đội Nhật không bị giải giáp. Tôi sợ quân Nhật bắn vào dân. Tôi mới nói rằng: “Thần dân đã muốn một cuộc cách mạng, thì chính tôi đã làm một cuộc cách mạng đó rồi. Tôi sẽ ra đi như thế”.

Frédéric Mitterand: Và ngài thoái vị. Việc này đối với chúng tôi, quả là hơi khó hiểu?

Bảo Đại: Không, có thể khó hiểu đối với ông, nhưng không khó hiểu đối với người dân Việt Nam. Người dân Việt Nam đã hiểu. Chỉ có điều người dân Việt Nam không thấy một việc, đó chính là những người trong chính phủ mới là những người Cộng sản. Nhưng họ có biết một việc, là trong chính phủ ấy, nghĩa là người đứng ra lập chính phủ ấy, tức ông Hồ Chí Minh đã được người Mỹ vũ trang. Dân Việt Nam nghĩ rằng đã có người Mỹ đứng sau lưng họ, họ sẽ có nhiều thế lực hơn để giành độc lập từ tay người Pháp. Đến giờ, người Mỹ tự xem là những người chống Cộng.

Frédéric Mitterand: Tâm trạng của ngài lúc ấy thế nào?

Bảo Đại: Tôi hoàn toàn không bị bối rối với những vấn đề ấy. Tôi cảm thấy sự trỗi dậy ấy, trước hết là các người quốc gia muốn có thể cụ thể hoá nền độc lập, họ không muốn tôi ở vị trí lãnh đạo vì tôi không có đủ phương tiện để tranh thủ độc lập từ người Pháp; nhưng vì có một chính phủ được người Mỹ ủng hộ, nên dân Việt Nam cho rằng chính phủ ấy có nhiều phương tiện hơn tôi để tranh thủ từ người Pháp một nền độc lập thực sự.

Frédéric Mitterand: Và ngài đã thoái vị. Từ đây bắt đầu một giai đoạn thật ly kỳ trong cuộc đời ngài. Đó là giai đoạn quan hệ với Cụ Hồ Chí Minh và người cấp dưới của ông ấy. Ngài đã tiếp xúc với Cụ Hồ Chí Minh hay ai tiếp xúc?

Bảo Đại: Trước tiên các bộ trưởng của Cụ Hồ tiếp xúc với tôi, để tiếp nhận sự chuyển giao quyền lực.

Frédéric Mitterand: Luôn luôn đi theo nguyên tắc một sự kế tục hợp pháp. Nền Cộng hoà là cô gái do nhà vua sinh ra?

Bảo Đại: Có thể là như vậy.

Frédéric Mitterand: Và ngài đã chuyển giao quyền lực?

Bảo Đại: Chính tôi đã khai sinh ra cái nền Cộng hoà đó. Lúc đó đại diện Cụ Hồ Chí Minh nói với tôi: “Mời ngài đi Hà Nội, Cụ Hồ có thể quen biết ngài”. Rồi tôi đi Hà Nội.

Frédéric Mitterand: Ngài trở thành Vĩnh Thuỵ?

Bảo Đại: Vâng, tôi trở thành một công dân thường.

Frédéric Mitterand: Ngài không quá hối tiếc nền quân chủ đã chấm dứt, nền quân chủ ấy dầu sao cũng là một thể chế đã được tổ tiên ngài lập nên?

Bảo Đại: Có chứ, dĩ nhiên tôi còn cảm thấy nhiều hơn. Và hối tiếc nữa, nhưng nó là một trang sử đã được lật qua. Đó là định luật của nước tôi.

Frédéric Mitterand: Và ngài đã muốn để mình lật trang sử đó?

Bảo Đại: Tôi muốn để chính tôi lật, thay vì để cho một vũng máu lật trang sử.

Frédéric Mitterand : Và ngài đã đi Hà Nội để gặp cụ Hồ Chí Minh. Điều kỳ lạ là cụ Hồ Chí Minh đối xử với ngài với một sự cung kính đặc biệt?

Bảo Đại : Vâng, xin đừng quên rằng cụ Hồ xuất thân từ một gia đình quan lại. Và cụ đã đối xử với tôi như tôi còn làm vua. Cụ cấm những người xung quanh cụ gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, và luôn luôn gọi tôi là Hoàng thượng.

Frédéric Mitterand : Cụ Hồ Chí Minh mời ngài làm cố vấn tối cao của Chính phủ?

Bảo Đại: Vâng, lúc đó không một lý do gì để mà từ chối bởi vì mọi người Việt Nam đều theo Cụ. Điều chúng tôi muốn, là nước nhà phải được độc lập. Tôi muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Mọi người Việt Nam đều muốn ủng hộ chính phủ ấy để tranh thủ một nền độc lập thật sự.


Frédéric Mitterand
: Ngài đã ở gần cụ Hồ Chí Minh, cụ ấy đã cho ngài cảm tưởng thế nào của cụ ấy? Nay đã qua một thời gian dài, cảm tưởng ấy có thay đổi nhiều không?

Bảo Đại: Không, không thay đổi. Tôi luôn luôn xét cụ Hồ Chí Minh ngoài cái tư tưởng cộng sản của ông ấy. Ông hãy nhớ đại hội Tours, cụ Hồ ở Pháp lúc ấy. Rồi cụ đi Moscou để lập đảng Cộng sản Việt Nam.

Frédéric Mitterand : Nhưng đối với ngài, cụ Hồ cũng là một nhà ái quốc?

Bảo Đại : Đối với tôi, còn hơn thế nữa, đó là một người có tinh thần quốc gia. Cụ là một người yêu nước. Tiếc thay sau lưng cụ có một ủy ban, là Xô viết tối cao, gồm có vài người Ba Lan, người Nga, bắt buộc cụ phải tiến tới.

Frédéric Mitterand : Trong cuốn sách của ngài, không thấy có một lời buộc tội khắt khe nào đối với cụ Hồ. Ngài quý trọng cụ Hồ? Và cũng thế, quả là rất ngạc nhiên khi thấy cụ Hồ không bao giờ công kích ngài?

Bảo Đại : Không, không có lý do gì để tôi công kích Cụ ấy. Ban đầu, tôi còn ủng hộ Cụ ấy nữa. Cố gắng đưa nước nhà thoát khỏi chiến tranh, vì chúng tôi đã khổ vì chiến tranh.

Frédéric Mitterand : Một sự kiện lạ lùng. Có lúc cụ Hồ đã nghỉ đến việc trao lại quyền hành cho ngài?

Bảo Đại : Nhưng việc này chính tự tay cụ Hồ. Một hôm cụ Hồ đến gặp tôi. Trước đó, cụ đã gọi điện thoại, Cụ nói sẽ đến gặp tôi. Tôi tưởng Cụ ấy ốm. Cụ nói với tôi: “Không có, tôi muốn ngài nắm lại chính quyền”. Tôi hỏi : “Tại sao?”. Cụ nói : “Tôi bị để ý quá, tôi quá đỏ, tôi cảm thấy không được Đồng minh tín nhiệm”. Tôi tưởng Cụ đùa. Cụ nói : ‘Không có, ngài hãy trình diện một chính phủ vào cuối ngày hôm nay”. Trong ngày tôi đã có nhiều cuộc tiếp xúc, cho đến chiều thì cụ Hồ gọi lại cho tôi. Cụ nói : “sau khi đã suy nghỉ kỷ lại, xin ngài bỏ qua cho tôi chuyện vừa qua. Trước cái khó khăn của hoàn cảnh này, tôi không có quyền đào nhiệm”. Tôi nói : “Vậy thì xin Cụ hãy tiếp tục”.

Frédéric Mitterand : Quả là quá ngạc nhiên., rất xúc động khi thấy có sự đoàn kết cao như vậy. Tại sao cuộc thương thuyết với nước Pháp bị bế tắc? Phải chăng lỗi hoàn toàn về phía Pháp?

Bảo Đại : Hãy bắt đầu với Hiệp ước ngày 6-3. Ký giữa Sainteny và cụ Hồ. tôi biết rõ hiệp ước ấy vì tôi đã soạn thảo với cụ Hồ. Hiệp ước ký xong thì tôi đi Trung Quốc. Sau đó là Hội nghị Fontainebleau. Khi cụ Hồ sang Pháp. Hội nghị không đạt kết quả gì, vì mỗi bên đều giữ vững lập trường của mình. Không ai muốn thương lượng thật sự, phía Pháp cũng như phía Việt Nam.

Frédéric Mitterand : Tôi tưởng tượng có những trang “tít” trên các báo. Ngài đã trở nên một ông vua “đỏ”?

Bảo Đại : Hoàn toàn không như vậy. Mọi người gọi tôi là công dân Vĩnh Thụy. Chỉ có thế.

Frédéric Mitterand : Lúc ấy ngài biết gì về chủ nghĩa cộng sản? Ngài đã nắm hết chủ nghĩa cộng sản?

Bảo Đại : Không, tôi biết rất ít.

Frédéric Mitterand : Trong khoảng thời gian hai năm ấy, ngài đã ở bên cụ Hồ, và ngài đã giúp cho cụ Hồ nhiều việc quan trọng. Nếu phải lặp lại việc này hôm nay, ngài cũng sẽ lặp lại chăng? Ngày nay ngài đánh giá việc này thế nào?

Bảo Đại : Còn tùy. Nếu là vì hạnh phúc của thần dân tôi, tôi cũng sẽ làm.

Frédéric Mitterand : Nhưng việc này có phục vụ dân không?

Bảo Đại : Tôi không nghỉ như vậy.

Frédéric Mitterand : Chiến tranh thực sự bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh, một cuộc chiến ác liệt, gian khổ. Ngài là một người lưu vong. Ngài không còn gì trong tay cả. Tuy vậy, lần hồi, ngài lại được công luận chú ý, nhất là các người Pháp đã biết ngài, và đông đảo người Việt Nam muốn độc lập, nhưng không muốn cộng sản?

Bảo Đại : Để nói cho rõ hơn, sau khi đô đốc d’Argenlieu mãn nhiệm kỳ. Ông Bollaert sang Đông Dương với chỉ thị của Paris là gắng khôi phục hòa bình. Dưới hình thức nào? Kêu gọi tất cả những người đang chiến đấu chống Pháp, và những người quốc gia đang đứng ngoài cuộc chiến lúc ấy, có nhiều người Việt Nam đã nghỉ đến tôi. Ông Bollaert đã đứng ra kêu gọi qua bài diễn văn nổi tiếng đọc ở Hà Đông, trong bài diễn văn này ông đã nói đến hai chữ Độc lập, nhưng không nói bằng tiếng Pháp, mà bằng tiếng Việt. Lúc đó, tôi có tiếp một ông sứ giả của ông Bollaert, người này nói với tôi như sau : “Ngài phải đáp lại lời kêu gọi của ông Bollaert. Nếu ngài không trả lời, cụ Hồ Chí Minh sẽ trả lời và sẽ qua mặt ngài”. Tôi đáp :” Tôi rất muốn thế, tôi chờ cụ Hồ trả lời vì quý ông đã nhắm vào cụ Hồ mà kêu gọi”. Sau một thời gian, vì không ai đáp lại lời kêu gọi của ông Bollaert và vì đã có nhiều người quốc gia muốn tập hợp lại và khẩn khoản xin tôi tiếp xúc với đại diện nước Pháp, trong bối cảnh đó, tôi đã chấp thuận gặp ông Bollaert ở vịnh Hạ Long. Đó là lần tiếp xúc đầu tiên.

Frédéric Mitterand : Thời gian tiếp xúc có lâu không?

Bảo Đại : Thời gian tiếp xúc là một ngày. Ông Bollaert muốn tuyên bố Thống nhất – Độc lập. Nhưng ngược lại, ông đưa ra nhiều tu chính án hoàn toàn không phù hợp với tôi.

Frédéric Mitterand : Và ngài đã bác bỏ?

Bảo Đại : Do đó tôi đã từ giã ông ta. Tôi nói với ông ta rằng, tôi chỉ gặp ông với tư cách cá nhân. Nước tôi và nhân dân tôi không cho tôi một ủy nhiệm gì, để ký bất cứ điều gì cả. Ông Bollaert đáp : “Đây là lần tiếp xúc đầu tiên”.

Frédéric Mitterand : Điều gì đã khiến cho ngài trở về nước?

Bảo Đại : Đối với tôi, đây là một cơ hội mà tôi có thể nói là lịch sử. Bởi vì có một điều mà ít người Việt Nam biết đến, đó là tôi phải chuộc lại lỗi lầm của tổ tiên tôi: để mất sáu tỉnh Nam Kỳ.

Frédéric Mitterand : Đất Nam Kỳ, đó là các vùng Alsace-Lorraine của nước Việt Nam?

Bảo Đại : Đúng vậy.

Frédéric Mitterand : Sau cùng, ngài đã chấp thuận trở về nước. Kỳ này đã tranh thủ được Độc lập và Thống Nhất?

Bảo Đại : Không, không phải ở vịnh Hạ Long mà tôi tranh thủ được Độc lập, mà chính là sau khi ông Bollaert ra đi, kể từ năm 1949, tôi đạt được các thỏa hiệp đầu tiên với Tổng thống Pháp Auriol. Không phải giống như các thỏa hiệp ngày nay, mà là trao đổi văn thư.

Frédéric Mitterand : Một tình trạng thật lạ lùng. Ngài đã là vua, ngài đã là ông Vĩnh Thụy, đại biểu quốc hội thời Hồ Chí Minh, và ngài đã trở về với tư cách đứng đầu một nhà nước. Nhà nước đó có hình thức thế nào? Ngài là Đức Bảo Đại – Tổng thống nước cộng hòa?

Bảo Đại : Không, không phải tổng thống vì lúc ấy chưa xác định được thể chế. Tôi tự phong tôi là Quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam. Tôi nói với nhân dân Việt Nam rằng : Khi tôi đã làm xong nhiệm vụ của tôi, tức là cụ thể hóa nền độc lập, xây dựng lại đất nước, đến lúc đó, chính nhân dân sẽ chọn lấy chế độ mình muốn. Tôi không chủ trương một chế độ nào cả. Tôi chỉ tự phong một cách đơn giản là Quốc trưởng thôi.

Frédéric Mitterand : Nền độc lập đầu tiên, có người đã trách ngài rằng đó là nền độc lập của Nhật; còn lần này ngài sẽ không bị mang tiếng rằng đó là độc lập của Pháp?

Bảo Đại : Hoàn toàn không. Người Pháp đã thương lượng thực sự với tôi. Độc lập. Thành lập quân đội Quốc gia. Tôi đã có đại diện ngoại giao ở nhiều nước khác. Rất nhiều nước đã thừa nhận chúng tôi.

Frédéric Mitterand : Ngài có nhiều bạn trong chính phủ Pháp. Ngài có những bạn trung thành với ngài không?

Bảo Đại : Tổng thống Auriol là một người rất thông cảm với tôi và đã giúp tôi rất nhiều. Bộ trưởng ngoại giao, ông Bidault.

Frédéric Mitterand : Tổng thống Auriol, một đảng viên Đảng Xã hội, cựu Bộ trưởng trong mặt trận bình dân. Ngài có mâu thuẫn với những ai đã nắm được lịch sử?

Bảo Đại : Ông ấy là đảng viên đảng Xã hội, việc này không có gì quan trọng với tôi cả, miễn là qua ông ấy, tôi đạt được các nguyện vọng của nhân dân tôi. Đó là điểm chính yếu.

Frédéric Mitterand : Ngài trở về Việt Nam, và trong vai trò của ngài, ngài đã được dân chúng đón tiếp nồng nhiệt. Ngài rất được lòng dân vào thời đó. Việc này diễn tiến ra sao?

Bảo Đại : Tôi chưa bao giờ cần mưu sự đắc nhân tâm. Tôi trở về nước để làm một nhiệm vụ với đất nước và nhân dân Việt Nam.

Frédéric Mitterand : Thành lập Quân đội Quốc gia, đây là một việc rất quan trọng đối với ngài?

Bảo Đại : Đáng tiếc là đã có một sự chậm trễ. Phải chờ cho đến lúc có tướng De Lattre mới thành lập được quân đội của tôi. Tướng De Lattre đã hiểu là phải có một quân đội Quốc gia.

Frédéric Mitterand : Giữa De Lattre với ngài, có một quan hệ đặc biệt?

Bảo Đại : Ban đầu có một vài va chạm giữa De Lattre với tôi, nhưng sau một thời gian, khi tôi đã thuyết phục được De Lattre rằng ngoài quân đội viễn chinh Pháp, cần phải có một yểm trợ, tức là quân đội Quốc gia. Ông ta đã hiểu ngay, ông ta đã lập nên các thành phần đầu tiên của quân đội tôi. Ông đã cho con trai ông phục vụ ở một tiểu đoàn và anh này đã chết trận.

Frédéric Mitterand : Nhưng người Pháp trong quân đội viễn chinh đã không phải vì ngài mà chết trận?

Bảo Đại : Những quân nhân đầu tiên, đến Việt Nam thời tướng Leclerc, nghỉ rằng họ đã chiến đấu cho nước Pháp. Dần dần, đầu óc của quân nhân Pháp cũng thay đổi. Họ đã hiểu rằng, không phải họ chiến đấu cho nước Pháp, mà họ chiến đấu cho một dân tộc, dân tộc Việt Nam, để dân tộc khốn khổ này không bị rơi vào tay cộng sản. Họ chiến đấu cho nhân loại.

Frédéric Mitterand : Nhưng ngài cũng xót xa vì cuộc chiến tranh này, vì người cộng sản Việt Nam cũng là đồng bào của ngài?

Bảo Đại : Đương nhiên tôi cũng hiểu rằng đây là cuộc nội chiến khốc liệt.

Frédéric Mitterand : Cũng vào lúc ấy, phải chăng ta đã thua trên một mặt trận khác? Giới truyền thông đã hiểu rõ những gì ngài muốn làm không? Giới báo chí đã hiểu rõ những gì ngài muốn làm không? Cái thời mà người ta kể mọi thứ về vua Bảo Đại? (Biện minh)

Bảo Đại : Tất cả điều đó đều không quan trọng. Điều quan trọng, theo tôi là giới truyển thông đã chỉ trích quân đội Pháp đang chiến đấu ở Đông Dương. Họ không hiểu vì sao các thanh niên lại đi đánh như thế. Tôi có cắt nghĩa rằng các thanh niên ấy chiến đấu vì chúng tôi. Báo chí Pháp hoàn toàn không hiểu. Thậm chí chính phủ Pháp thời đó cũng không hiểu.

Frédéric Mitterand : Lúc ấy, ngài hay trở về Pháp. Ngài có nhiều tiếp xúc với người Pháp. Ngài có cảm thấy rằng chính sách ấy đang suy sụp? Ngài có cảm tưởng thế nào khi thấy cuộc chiến không thể kết thúc?

Bảo Đại : Chiến tranh thời đó không có lính “nghĩa vụ” Pháp. Chỉ có lính tình nguyện. Dư luận Pháp đã rất hiểu lầm về cuộc chiến này.

Frédéric Mitterand : Có thể thắng được cuộc chiến này không?

Bảo Đại : Với điều kiện không phải tung ra tất cả mọi phương tiện. Tình hình khả quan cho đến lúc nước Pháp ở trong thế phải cầu hòa, từ đó mới có vụ Điện Biên Phủ. Vì sao lúc đó, đối với nước Pháp, người ta muốn chấm dứt chiến tranh. Xin ông nhớ lại chiến tranh Triều Tiên. Cần phải chấm dứt hai cuộc chiến. Từ đó, cần có cuộc họp thượng đỉnh, là Hội nghị Geneve.

Frédéric Mitterand : Trong cuốn hồi ký của ngài, ngài có nói : “bỗng nhiên có cảm giác một sự trống rỗng”.

Bảo Đại : Lúc ấy, quân đội của tôi chưa có khả năng hoàn toàn tác chiến. Cần phải vài năm nữa, quân đội của tôi mới có thể thay thế quân đội Pháp. Vì vậy, tôi đã nói với tướng Salan là Tổng tư lệnh thời ấy : Không nên có những cuộc hành quân lớn; không nên hy sinh nhân lực; hãy tạo một loại bình phong để tôi có thể củng cố quân đội Quốc gia, tạo cho nó khả năng tác chiến. Khổ thay, nước Pháp muốn chấm dứt cuộc chiến; tiếp theo Hội nghị Berlin là Hội nghị Geneve; người ta muốn mở rộng các cuộc hành quân, trái với những gì tôi đã yêu cầu Salan; từ đó đưa đến Điện Biên Phủ; Điện Biên Phủ là một kế hoạch đã kết thúc trong sự thảm bại (của Pháp).

Frédéric Mitterand : Đã có quyết định đẩy nhanh trận Điện Biên Phủ. Trận Điện Biên Phủ thảm bại, khủng khiếp, nhưng có thể khắc phục được. Trên thực tế thì đã có quyết định bỏ rơi Việt Nam cho cộng sản?

Bảo Đại : Không phải bỏ toàn thể nước Việt Nam, nhưng Geneve nước Việt Nam bị chia đôi, một phần cho cộng sản, một phần cho quốc gia. Ngoài ra, phe cộng sản được chia nhiều hơn là họ mong đợi.

Frédéric Mitterand : Chính vì lúc đó thì ông Diệm trở lại chính trường?

Bảo Đại : Vì Việt Nam bị cắt làm đôi, tôi không còn một vai trò nào nữa. Tôi mời ông Diệm ra cầm quyền. Vì sao ông Diệm? Vì ông Diệm đại diện cho một ý thức hệ : đó là một người công giáo có thể ngăn chặn được ý thức hệ cộng sản.

Frédéric Mitterand : Ông Diệm trước đó đã luôn luôn bày tỏ lòng trung thành đối với ngài? Nay đã có một bước ngoặt, điều gì đã xảy ra?

Bảo Đại : Ông ta bị giật giây bởi toàn bộ gia đình ông ta, và cũng bởi các quan thầy Mỹ. Khi tôi yêu cầu ông Diệm cầm quyền, tôi có nói việc này cho Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Foster Dulles. Lúc ấy ông ta không muốn ông Diệm. Một thời gian sau, tôi mới hiểu vì sao. Bởi vì người Mỹ chưa sẵn sàng nắm nước Việt Nam, họ muốn giữ lại vai trò ông Diệm làm dự phòng, để tung ra khi thuận tiện.

Frédéric Mitterand :Mục đích của ông Diệm? Một chế độ gia đình trị?

Bảo Đại : Ông không có mục đích chính xác. Dẫu sao ông ta cũng không có tham vọng dựng lên một triều đại. Ông ta muốn cai trị theo một loại độc tài con, nói đúng hơn, đó là một chế độ độc tài gia đình trị.

Frédéric Mitterand : Ở Triều Tiên thời đó có Lý Thừa Vãn?

Bảo Đại : Và có Magsaysay ở Phi Luật Tân.

Frédéric Mitterand : Ngài có thấy người Mỹ chú ý đến Việt Nam? Ngài có thấy bóng dáng người Mỹ sau các sự kiện này?

Bảo Đại : Tôi thấy rất rõ là người Mỹ muốn có mặt ở Thái Bình Dương. Chiến tranh Algerie đã bắt đầu. Người Mỹ đã làm một loại trao đổi : để cho nước Pháp giải quyết vấn đề Algerie, và nước Pháp rút chân ra khỏi Việt Nam, nhường chỗ cho nước Mỹ.

Frédéric Mitterand : Khi Hiệp ước Geneve được ký kết, và ông Diệm lần lần cũng có quyền lực ở Việt Nam, thì ngài ở Pháp. Ngài có nghỉ chuyện trở về Việt Nam?

Bảo Đại : Không, hoàn toàn không. Đối với tôi, thế là hết. Tôi đã nói với các đồng minh của tôi và các nước ủng hộ tôi: Vai trò của tôi đã chấm dứt, hoặc tôi là chủ từ bắc chí nam, hoặc tôi là không gì hết. Vì quý vị đã cắt đất nước của tôi làm hai, tôi sẽ cử một người đứng ra, coi phần còn lại, do đó có ông Diệm.

Frédéric Mitterand : Ngài thấy thế nào khi ông Diệm tuyên bố nền cộng hòa sau một cuộc trưng cầu dân ý? Cảm tưởng của ngài thế nào?

Bảo Đại : Tôi biết trước chuyện này sẽ xảy ra. Tôi hoàn toàn không bị bất ngờ, bởi vì mọi thứ đã được xếp đặt trước. Tôi không muốn nhảy xuống vũ đài để bảo vệ cái thế của tôi.

Frédéric Mitterand : Năm 1955, ngài có nghỉ rằng chắc chắn chiến tranh sẽ tái tục, hay có thể giữ nguyên trạng trong một thời gian dài?

Bảo Đại : Tôi đã hy vọng giữ nguyên trạng như nước Đức : Tây Đức và Đông Đức. Tôi đã nghỉ rằng miền Nam giàu hơn miền Bắc, sẽ thu hút người miền Bắc. Xui thay, sự việc xảy ra đã không phải như thế. Tôi cũng biết người Mỹ có mặt trong vụ này.

Frédéric Mitterand : Người con bình thản trong cung điện Huế ngày xưa, bây giờ chịu đựng các phán xét tiêu cực hay sự im lặng, hay ngài đã đau khổ?

Bảo Đại : Không, hoàn toàn không. Tôi đã trở lại thời thơ ấu, đây là một thái độ đúng. Chính nhờ cái giáo dục ấy mà tôi đã giữ được mọi sự thanh thản trong lòng.

Frédéric Mitterand : Bây giờ, ngài đã sống tại Pháp hơn 35 năm nay, một cuộc sống giản dị, rất đứng đắn nhưng không có nhiều phương tiện. Dẫu sao cũng có nhiều người biết ngài, và rõ ràng rất thích quan hệ với ngài. Ngài đã thích nghi với đời sống ở đây như thế nào?

Bảo Đại : Tôi đã thích nghi rất tốt với đời sống ở Pháp. Tôi đã đến đất nước này khi còn rất trẻ. Tôi cũng có thể trở về nước tôi nhưng tôi thích ở Pháp hơn bởi vì tôi biết rõ tính tình người Pháp. Tôi cảm thấy ở đây, ở Pháp, hoàn toàn như ở quê tôi.

Frédéric Mitterand : Nhưng đồng thời hình ảnh nước Việt Nam luôn luôn hiện ra trong đời sống của ngài?

Bảo Đại : Tôi luôn luôn nhớ đến thần dân khốn khổ của tôi.

Frédéric Mitterand : “Tôi xa quê cha đất tổ thế là 25 năm” – Ngài đã viết như thế cách đây 10 năm- “25 năm trên đất Pháp, trên mảnh đất đã đón nhận tôi, với bao nhiêu kỷ niệm thời niên thiếu- Từ khi hoàng hậu Nam Phương qua đời, tình thương đã bị cướp mất quá sớm, và từ khi các con tôi bay xa, tôi thường là một người đơn chiếc. Tôi đã nếm qua và tôi đã sống qua những gì mà nhân dân tôi đang nếm qua và đang sống trong lúc này – nơi thì lòng bao dung, tình bằng hữu, nơi thì hiểu lầm, ác ý; sự đầm ấm khi gặp lại bạn cũ, sự lạnh lẽo của cảnh cô đơn. Trong thời gian đó, tôi luôn luôn sống theo nhịp tim của những người sống trong lo âu, bối rối. Tự đặt mình vào hoàn cảnh của họ, lòng tôi luôn luôn ôm ấp cùng một nguồn hy vọng”. Rồi một ngày kia, khi vua Bảo Đại không còn nữa, ông Vĩnh Thụy không còn nữa, ở Việt Nam còn có những người tưởng nhớ đến công đức của ngài không?

Bảo Đại : Không phải tôi là người nói đến việc này. Xin để cho nhân dân tôi phán xét, xin để cho lịch sử phán xét tôi.

xem tiếp

Minh triết Hồ Chí Minh
Minh triết Hồ Chí Minh tư liệu

Video yêu thích

Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam “Đó là lãnh tụ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công nhất mà chúng ta thấy trong thế kỉ này”.
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Châu Mỹ chuyện không quên

CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN
Hoàng Kim

Peaingpen, Sheela, Alfredo, Yona, Kim enjoy fufu. Chúng tôi đã ăn tối thật ngon tại nhà Martin Fregene ở CIAT. Chiều nay, trong đền thờ “Vị thần Mặt trời bị lãng quên của người Inca“, gia đình sắn chúng tôi đã cam kết cùng nhau làm “những người bạn của nông dân trồng sắn châu Á , châu Phi và châu Mỹ”. Hoàng Kim bế con của Martin và giao hẹn: Nhờ trời, bác sẽ trở lại châu Phi”. Tôi vừa đọc sách “O Alquimista” của Paulo Coelho tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ và thích thú hứa với cháu bé. Hóa ra, ‘Nhớ châu Phi’ và “Vị thần Mặt trời bị lãng quên của người Inca“ là có thật ! Chào ngày mới 26 tháng 7 https://cnm365.wordpress.com/…/…/chao-ngay-moi-26-thang-7-2/

Vị thần mặt trời Inca bị quên lãng

CIMMYT, CIAT, CIP là những ấn tượng sâu sắc, đậm nét trong lòng tôi. Châu Mỹ là nôi ngô sắn khoai của Trái Đất. Ngô tại CIMMYT ở Mexico. Khoai lang, khoai tây tại CIP ở Peru. Sắn tại CIAT ở Colombia. Tôi may mắn được trãi nghiệm qua những nơi này và lưu lại Châu Mỹ chuyện không quên. Tôi đùa với các bạn là “Hoàng Kim có nhiều bạn ở nơi đó”. “Châu Mỹ có vị thần Mặt trời Inca bị quên lãng”. Phổ hệ chọn giống sắn ở Việt Nam có quan hệ nhiều trong chuyện này.. Ngày nay giống sắn Việt Nam trồng nhiều nhất là KM419 chiếm 42% và  KM94 chiếm 38% tổng diện tích trồng sắn của Việt Nam.
Chuyện lai tạo giống sắn bây giờ mới kể.

Chareinsak Rojanaridpiched là giáo sư tại  Kasetsart University (Bangkhen, Băng Cốc, Thái Lan). Ông nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Kasetsart. Ông và nhóm đồng nghiệp sắn Thái Lan đã chọn tạo ra ” Kasetsart 50: giống sắn quan trọng nhất trên thế giới”. KU 50 với hơn 20 năm kinh nghiệm ở Thái Lan và Việt Nam, tăng từ 60 đến 75 phần trăm của tất cả nông dân trồng sắn, trên tổng số diện tích khoảng 1,0 – 1,5 triệu ha mỗi năm, là một cây trồng an ninh lương thực quan trọng và nguồn thu nhập cho nông dân nghèo ở Đông Nam Á. Chareinsak Rojanaridpiched  từng học ở Cornell University,  một trường đại học nổi tiếng nhất của nước Mỹ nơi mà  Ezra Cornell, người sáng lập trường năm1865 từng nói: “Tôi sẽ thành lập một trường mà bất cứ người nào cũng có thể tìm thấy hướng dẫn về bất cứ ngành nào”.

Kim nói với Chareinsak: “Chúng tôi biết ơn các bạn CIAT Thai Lan. Sắn Việt Nam học để làm (Learning by Doing) theo lý thuyết và thực hành của Sắn CIAT sắn Thái Lan và cố gắng vươn lên theo cách riêng, điều kiện riêng của mình. Phổ hệ các giống sắn phổ biến tại Việt Nam đã nói lên điều đó. “Châu Mỹ chuyện không quên” là sự ghi lại của tôi về những ngày cùng học tập và làm việc ở CIAT, CIMMYT, CIP  và các nước châu Mỹ.

Bạn hỏi tôi: Bạn ấn tượng nhất điều gì ở Nam Mỹ?. Tôi đến nay ấn tượng nhất vẫn là Machu Picchu, di sản thế giới UNESCO ở Peru, nơi được Tổ chức New7Wonders chọn là một trong 7 kỳ quan thế giới mới. Đó là di sản nền văn minh Inca, người da đỏ Inca  và thần Mặt trời, thực sự là một kho báu vĩ đại tâm linh khoa học kỳ bí chưa thể giải thích được đầy đủ. Đền thờ thần Mặt trời tựa lưng vào cột chống trời  “Cổ Sơn”, theo tiếng quechua của người Inca; thỉnh thoảng được gọi là “Thành phố đã mất của người Inca” [1] là một khu tàn tích Inca thời tiền Columbo trong tình trạng bảo tồn tốt ở độ cao 2.430 m [2] trên một quả núi có chóp nhọn tại thung lũng Urubamba ở Peru, khoảng 70 km phía tây bắc Cusco. Tất cả các chuyến đi tới Machu Picchu đều xuất phát từ Cusco. Tại thủ đô Lima có một đường bay nội địa dẫn tới Cusco. CIP gần trung tâm Lima và sân bay nên rỗi hai ngày là có thể đi thăm được. Ở Colombia, tôi ấn tượng nhất ba nơi: Đó là 1) CIAT tại Cali, 2) sông Magdalena và đền thần Mặt trời, với dãy núi Andes và nhiều đồn điền cà phê; 3) thủ đô Bogota tại Zona Rosa nổi tiếng với các nhà hàng và cửa hiệu, có Cartagena một khu phố cổ trên bờ biển Caribê gợi nhớ biển Nha Trang của Việt Nam.

“CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN” lắng đọng trong tôi nhiều ký ức sâu sắc về  đất nước, con người, bạn hữu, nền văn hóa. Tác phẩm bao gồm những bài: Lời Thầy dặn; Con đường di sản Lewis và Clark500 năm nông nghiệp BrazilĐối thoại giữa các nền văn hóaCIMMYT tươi rói một kỷ niệmHoa xương rồng; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng GoetheMark Twain là Lincoln văn học Mỹ; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng; Rio thành phố giữa núi và biển; Borlaug và HemingwayBill Gates học để làm Truyện George Washington; Minh triết Thomas Jefferson; Kiệt tác của tâm hồn; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Mark Zuckerberg thật tuyệt vời; Mark Zuckerberg và Facebook; Mark Zuckerberg bài học cuộc sốngSóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng . Biên khảo này có mục đích nhằm cung cấp thông tin,  bài học kinh nghiệm tình yêu cuộc sống cho bạn đọc, đặc biệt là các bạn trẻ nghèo hiếu học có thể chọn được một số tri thức bổ ích và bài học quý cho riêng mình.

xem tiếp: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chau-my-chuyen-khong-quen/

Hernán Ceballos, chuyên gia chọn giống sắn CIAT, đã nhận được giải thưởng sắn vàng tại cuộc họp liên minh đối tác sắn toàn cầu GCP21 được tổ chúc tại Berin từ 11 đến 15 tháng 6 năm 2018: http://ow.ly/QKPL30jI9Bd

CIAT VIETNAM hợp lực phòng trừ bệnh khảm virus sắn CMD. Tổng giám đốc CIAT Ruben Echeverria và Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Trần Kim Long, tại lễ ký kết một thỏa thuận hợp tác mở rộng tại Hà Nội ngày 13 tháng 7 năm 2018, Bài và ảnh  của Madelline Romero / CIAT xem tiếp tại https://blog.ciat.cgiar.org/threat-of-cassava-mosaic-disease-strengthening-resilience-to-climate-disasters-dominate-conversations-between-ciat-and-vietnam-agricultural-institutions/

Nhà Trần trong sử Việt

NHÀ TRẦN TRONG SỬ VIỆT
Hoàng Kim

Nhà Trần hoặc Trần triều là triều đại quân chủ phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Trần Cảnh (Trần Thái Tông) lên ngôi vào năm 1225, sau khi được Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi, tiếp nối bởi Trần Hoảng (Trần Thánh Tông) Trần Khâm (Trần Nhân Tông). Đây là thời thứ nhất dựng nghiệp lớn, chống quân Nguyên Mông và đạt đến nhà Trần thịnh thế ngời sử Việt. Thời nhà Trần thứ hai từ Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông là thời kế tục. Thời nhà Trần thứ ba từ Trần Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Trần Minh Tông mất) cho tới kết thúc là thời suy tàn, lúc Hồ Quý Ly phế truất Thiếu Đế, tự xưng làm vua, lập ra triều đại nhà Hồ năm 1400 thì Trần triều chấm dứt, kéo dài 175 năm với 13 đời hoàng đế. Mẹ tôi họ Trần. Tôi về dâng hương Đức Thánh Trần tại đền Tổ Chùa cổ Thắng Nghiêm là nơi Đức Thánh Trần thuở nhỏ đã theo công chúa Thụy Bà về đây để tìm minh sư học phép Đạo làm tướng, chọn tướng, và viết kiệt tác Binh thư Yếu lược Tôi sắp xếp hệ thống lại các ghi chép nhỏ của mình  ‘Nhà Trần trong sử Việt’ để tự học: Đêm Yên Tử; Lời dặn lại của Đức Thánh TrầnTrần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm; Đức Thánh Trần và Chùa Thắng NghiêmTrần Nhân TôngLên non thiêng Yên Tử; Trần Nhân Tông lời Thầy dặnTrần Thái Tông và Trần Quốc TuấnTrần Thánh Tông; Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông; Tảo mai nhớ đức Nhân TôngSách Nhàn đọc dấu câu có câu không; Nhà Trần trong sử Việt 

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Châu Mỹ chuyện không quên

Hoàng Kim và bạn hữu thăm nhà riêng Martin Fregene ở CIAT Colombia năm 2003

CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN
Hoàng Kim

Chúng tôi ghé thăm Martin Fregene tại nhà riêng ở CIAT Colombia năm 2003. Martin Fregene nay làm giám đốc điều hành hoạt động nông nghiệp và nông công nghiệp của Tập đoàn Ngân hàng Phát triển Châu Phi (ADBG). Ông là giáo sư thực thụ  trường đại học Nigeria, và từng làm cố vấn kỹ thuật cao cấp cho bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nigeria. Chúng tôi đến từ Ấn Độ, Brazil, Thái Lan, Peru, Colombia và Việt Nam. Martin Fregene là  một tiến sĩ di truyền chọn giống sắn rất nổi tiếng của Nigeria. Ông đã rời ‘miền đất hứa’ Donald Danforth Plant Science Center ở Mỹ, CIAT (Centro Internacional de Agricultura Tropical), ở Colombia để tự nguyện trở về Tổ quốc mình làm việc cho nông dân nghèo ở Nigeria mà tôi đã giới thiệu ở bài “Nhớ châu Phi” “Nigeria xa và gần”.

CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN
Hoàng Kim

Peaingpen, Sheela, Alfredo, Yona, Kim enjoy fufu. Chúng tôi đã ăn tối thật ngon tại nhà Martin Fregene ở CIAT. Chiều nay, trong đền thờ “Vị thần Mặt trời bị lãng quên của người Inca“, gia đình sắn chúng tôi đã cam kết cùng nhau làm “những người bạn của nông dân trồng sắn châu Á , châu Phi và châu Mỹ”. Hoàng Kim bế con của Martin và giao hẹn: Nhờ trời, bác sẽ trở lại châu Phi”. Tôi vừa đọc sách “O Alquimista” của Paulo Coelho tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ và thích thú hứa với cháu bé. Hóa ra, ‘Nhớ châu Phi’ và “Vị thần Mặt trời bị lãng quên của người Inca“ là có thật ! Chào ngày mới 26 tháng 7 https://cnm365.wordpress.com/…/…/chao-ngay-moi-26-thang-7-2/

Vị thần mặt trời Inca bị quên lãng

CIMMYT, CIAT, CIP là những ấn tượng sâu sắc, đậm nét trong lòng tôi. Châu Mỹ là nôi ngô sắn khoai của Trái Đất. Ngô tại CIMMYT ở Mexico. Khoai lang, khoai tây tại CIP ở Peru. Sắn tại CIAT ở Colombia. Tôi may mắn được trãi nghiệm qua những nơi này và lưu lại Châu Mỹ chuyện không quên. Tôi đùa với các bạn là “Hoàng Kim có nhiều bạn ở nơi đó”. “Châu Mỹ có vị thần Mặt trời Inca bị quên lãng”. Phổ hệ chọn giống sắn ở Việt Nam có quan hệ nhiều trong chuyện này.. Ngày nay giống sắn Việt Nam trồng nhiều nhất là KM419 chiếm 42% và  KM94 chiếm 38% tổng diện tích trồng sắn của Việt Nam.
Chuyện lai tạo giống sắn bây giờ mới kể.

Chareinsak Rojanaridpiched là giáo sư tại  Kasetsart University (Bangkhen, Băng Cốc, Thái Lan). Ông nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Kasetsart. Ông và nhóm đồng nghiệp sắn Thái Lan đã chọn tạo ra ” Kasetsart 50: giống sắn quan trọng nhất trên thế giới”. KU 50 với hơn 20 năm kinh nghiệm ở Thái Lan và Việt Nam, tăng từ 60 đến 75 phần trăm của tất cả nông dân trồng sắn, trên tổng số diện tích khoảng 1,0 – 1,5 triệu ha mỗi năm, là một cây trồng an ninh lương thực quan trọng và nguồn thu nhập cho nông dân nghèo ở Đông Nam Á. Chareinsak Rojanaridpiched  từng học ở Cornell University,  một trường đại học nổi tiếng nhất của nước Mỹ nơi mà  Ezra Cornell, người sáng lập trường năm1865 từng nói: “Tôi sẽ thành lập một trường mà bất cứ người nào cũng có thể tìm thấy hướng dẫn về bất cứ ngành nào”.

Kim nói với Chareinsak: “Chúng tôi biết ơn các bạn CIAT Thai Lan. Sắn Việt Nam học để làm (Learning by Doing) theo lý thuyết và thực hành của Sắn CIAT sắn Thái Lan và cố gắng vươn lên theo cách riêng, điều kiện riêng của mình. Phổ hệ các giống sắn phổ biến tại Việt Nam đã nói lên điều đó. “Châu Mỹ chuyện không quên” là sự ghi lại của tôi về những ngày cùng học tập và làm việc ở CIAT, CIMMYT, CIP  và các nước châu Mỹ.

Bạn hỏi tôi: Bạn ấn tượng nhất điều gì ở Nam Mỹ?. Tôi đến nay ấn tượng nhất vẫn là Machu Picchu, di sản thế giới UNESCO ở Peru, nơi được Tổ chức New7Wonders chọn là một trong 7 kỳ quan thế giới mới. Đó là di sản nền văn minh Inca, người da đỏ Inca  và thần Mặt trời. Đấy thực sự là một kho báu kỳ bí vĩ đại tâm linh khoa học kỳ bí chưa thể giải thích được đầy đủ. Đền thờ thần Mặt trời tựa lưng vào tựa lưng vào cột chống trời  “Cổ Sơn”, theo tiếng quechua của người Inca; thỉnh thoảng được gọi là “Thành phố đã mất của người Inca” [1] là một khu tàn tích Inca thời tiền Columbo trong tình trạng bảo tồn tốt ở độ cao 2.430 m [2] trên một quả núichóp nhọn tại thung lũng UrubambaPeru, khoảng 70 km phía tây bắc Cusco. Tất cả các chuyến đi tới Machu Picchu đều xuất phát từ Cusco. Tại thủ đô Lima có một đường bay nội địa dẫn tới Cusco. CIP gần trung tâm Lima và sân bay nên rỗi hai ngày là có thể đi thăm được. Ở Colombia, tôi ấn tượng nhất ba nơi: Đó là 1) CIAT tại Cali, 2) sông Magdalena và đền thần Mặt trời, với dãy núi Andes và nhiều đồn điền cà phê; 3) thủ đô Bogota tại Zona Rosa nổi tiếng với các nhà hàng và cửa hiệu, có Cartagena một khu phố cổ trên bờ biển Caribê gợi nhớ biển Nha Trang của Việt Nam.

“CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN” lắng đọng trong tôi nhiều ký ức sâu sắc về  đất nước, con người, bạn hữu, nền văn hóa. Tác phẩm bao gồm những bài: Lời Thầy dặn; Con đường di sản Lewis và Clark500 năm nông nghiệp BrazilĐối thoại giữa các nền văn hóaCIMMYT tươi rói một kỷ niệmHoa xương rồng; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng GoetheMark Twain là Lincoln văn học Mỹ; Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng; Rio thành phố giữa núi và biển; Borlaug và HemingwayBill Gates học để làm Truyện George Washington; Minh triết Thomas Jefferson; Kiệt tác của tâm hồn; Ngọc lục bảo Paulo Coelho; Mark Zuckerberg thật tuyệt vời; Mark Zuckerberg và Facebook; Mark Zuckerberg bài học cuộc sốngSóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng . Biên khảo này có mục đích nhằm cung cấp thông tin,  bài học kinh nghiệm tình yêu cuộc sống cho bạn đọc, đặc biệt là các bạn trẻ nghèo hiếu học có thể chọn được một số tri thức bổ ích và bài học quý cho riêng mình.

xem tiếp: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chau-my-chuyen-khong-quen/

CIAT (Centro Internacional de Agricultura Tropical) ở Colombia, nơi Hoàng Kim gặp nhiều bạn tốt

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

https://www.youtube.com/user/ciatweb

International Center for Tropical Agriculture CIAT

Nhớ kỷ niệm một thời

NHỚ NGƯỜI
Hoàng Kim

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ?
Đầy trời hoa tuyết bay!

(*) Nhớ Người https://www.facebook.com/daihocnonglam/posts/10210120977362567
(**) Đào Duy Từ còn mãi với non sông
https://cnm365.wordpress.com/2015/12/17/dao-duy-tu-con-mai-voi-non-song/

 

Hoàng Kim : “Ngày xưa có một người thợ đá thử 999.999 viên đá, đến viên đá cuối cùng đã tìm được một viên ngọc lục bảo quý giá vô ngần. Paulo Coelho là một nhà thơ trữ tình và tiểu thuyết gia người Brazil, là ngọc lục bảo của đất nước Brazil. Ông được biết đến với cuốn tiểu thuyết của ông “O Alquimista” tiếng Bồ Đào Nha kể về bí mật ngôi mộ cổ gần kim tự tháp Ai Cập mà một cậu bé chăn cừu Brazil đã đi tìm kho báu chính mình tại đó và đã thành công. “O Alquimista” là kiệt tác của tâm hồn. Cuốn sách này tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ, và bản tiếng Việt có tựa đề là “Nhà giả kim” do Lê Chu Cầu dịch, Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam và Nhà Xuất bản Văn hóa in và phát hành.Tiểu thuyết này đã được dịch ra 56 thứ tiếng, bán chạy chỉ sau kinh Thánh, đến năm 2008 đã bán được hơn 65 triệu bản trên toàn thế giới. … Hãy tìm Ngọc lục bảo Paulo Coelho của chính mình” https://hoangkimlong.wordpress.com/…/07/24/nho-chau-phi-6/

xem tiếp: Nhớ Châu Phi (chùm bài viết từ bài 1 đến bài 12)  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-chau-phi/

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Nhớ châu Phi


NHỚ CHÂU PHI

Hoàng Kim
Ở Ai Cập, tôi có hai người bạn tại Viện Nghiên cứu Cây trồng (Field Crops Research Institute FCRI) là Mahfouz Nenr Abd- Nour  và Yousef El Sayed Ahmed Ars  làm giám đốc của hai trạm nghiên cứu là  Sids Agricultural Research Station,  Beba Beni – SUEF EGYPT và Sakha Agricultural Research Station, Sakha, KAFR, EL SHEAKLI  EGYPT. Câu chuyện tôi kể sẽ tóm tắt Ai Cập một thoáng nhìn, Cairo thủ đô Ai Cập thánh địa Hồi giáo, Nông nghiệp Ai Cập và bạn tôi, Ngọc lục bảo Paulo Coelho. Chuyện này tiếp nối trong chùm bài NHỚ CHÂU PHI  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-chau-phi/


Ai Cập một thoáng nhìn

Ai Cập có tên chính thức là nước Cộng hòa Ả Rập Ai Cập, là một quốc gia liên lục địa có phần lớn lãnh thổ nằm tại Bắc Phi, cùng với bán đảo Sinai thuộc Tây Á. Ai Cập phía đông bắc giáp Địa Trung Hải, có biên giới với Dải Gaza và Israel, phía đông giáp vịnh Aqaba, phía đông nam giáp biển Đỏ, phía nam giáp Sudan, phía tây giáp Libya. Ai Cập có biên giới hàng hải với Jordan và Ả Rập Xê Út qua vịnh Aqaba và biển Đỏ. Ai Cập là một trong số ít nước trên thế giới có lịch sử  lâu đời nhất vào khoảng thế kỷ 10 trước công nguyên.  Ai Cập cổ đại được nhận định là một trong những nôi văn minh đầu tiên của nhân loại phát triển sớm nhất về chữ viết, nông nghiệp, đô thị hoá, tôn giáo có tổ chức và chính phủ trung ương. Ai Cập có một di sản văn hoá đặc biệt phong phú, giao thoa nhiều nền văn hóa cổ Hy Lạp, Ba Tư, La Mã, Ả Rập, Ottoman,  châu Âu. Ai Cập từng là . một trong các trung tâm ban đầu của Cơ Đốc giáo, trải qua Hồi giáo hoá trong thế kỷ thứ 7 và ngày nay là nước trung tâm Hồi giáo với gần 90% dân số. Ai Cập có diện tích 1.010.407,87 km² (gấp trên ba lần diện tích Việt Nam) dân số 95, 73 triệu dân (năm 2017, tương đương dân số Việt Nam), là quốc gia đông dân nhất Bắc Phi, đông dân thứ ba tại châu Phi và thứ 15 trên thế giới. Đại đa số cư dân sống gần bờ sông Nin, tại các trung tâm dân cư đông đúc là Đại Cairo, Alexandria và các thành phố lớn khác của  đồng bằng châu thổ sông Nin, là nơi duy nhất có đất canh tác. Ai Cập, phần lớn diện tích đất của khu vực rộng lớn thuộc sa mạc Sahara có cư dân thưa thớt. Ai Cập có nền kinh tế, văn hoá, chính trị và quân sự vào hạng lớn nhất, đa dạng nhất,  có thực lực và ảnh hưởng đáng kể tại  Bắc Phi, Trung Đông và Thế giới Hồi giáo. Ai Cập là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, Liên đoàn Ả Rập, Liên minh châu Phi, và Tổ chức Hợp tác Hồi giáo.

Cairo thủ đô Ai Cập thánh địa Hồi giáo.
Cairo là vùng đô thị đông dân nhất châu Phi, ở bên sông Nile, với dân số trên 15,2 triệu người. Quảng trường Tahrir và Bảo tàng Ai Cập rộng lớn, tọa lạc tại trung tâm thành phố Cairo, nơi có các bộ sưu tập cổ xác ướp hoàng gia và đồ tạo tác mạ vàng của vua Tutankhamun. Điểm nổi bật của khu vực trung tâm Cairo là Pháo đài Babylon thời kỳ La Mã, Nhà thờ Treo và Bảo tàng Coptic, trưng bày các cổ vật của Ai Cập Cơ đốc giáo. Trên đỉnh đồi giữa thành phố là pháo đài Citadel thời trung cổ, nơi có nhà thờ Hồi giáo Muhammad Ali, một địa danh mang phong cách Ottoman. Tháp Cairo cao 187m tại quận Zamalek đảo Gezira,cung cấp tầm nhìn toàn cảnh thành phố. Bảo tàng Cổ vật Ai Cập, thường được biết đến như Bảo tàng Ai Cập hay bảo tàng Cairo, tại Cairo, Ai Cập, là quê hương của một bộ sưu tập rộng của cổ vật Ai Cập cổ đại.

Cao nguyên Giza gần Cairo là địa điểm của các kim tự tháp mang tính biểu tượng đất nước Ai Cập và châu Phi từ thời cổ xưa thuở bình minh nhân loại. Khu lăng mộ Giza là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại có niên đại sớm nhất và kỳ quan duy nhất còn tồn tại, ở cao nguyên Giza gần sông Nin, cách trung tâm thành phố Cairo thủ đô Ai Cập khoảng 20 km về phía tây nam. Ngày 23 tháng 7 là ngày Quốc khánh Ai Cập ngày cách mạng năm 1952, thường có nhiều người hành hương về nơi này. Khu phức hợp kim tự tháp Giza là nơi có ba kim tự tháp vĩ đại (Khufu, Khafre and Menkaure), và ít nhất sáu kim tự tháp khác với một số cấu trúc nổi bật khác như Nhân sư vĩ đại và Đền Valley chứa đựng bao điều bí ẩn kho báu lạ lùng của lịch sử chưa thể thấu hiểu đầy đủ. ancient-wisdom.com

Nông nghiệp Ai Cập và bạn tôi

Theo tiến sĩ Dr. Amr Shams, trưởng phòng thông tin và hợp tác quốc tế Viện Nghiên cứu Cây trồng (FCRI). Ai Cập được công nhận là một đất nước nông nghiệp lớn. Các cây trồng chính gồm ngũ cốc (lúa mì, lúa mạch, lúa miến và ngô), các loại đậu (đậu faba, cỏ cà ri, đậu lupin, đậu chickpea và đậu cowpea), cây có dầu (cây rum và mè), lanh, cỏ ba lá và hành tây đã được trồng từ hàng ngàn năm. Vào đầu thế kỷ 20, sự gia tăng dân số theo cấp số nhân và nhu cầu lương thực leo thang đã thu hút sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách, nơi những nỗ lực đã được thực hiện để cải thiện hệ thống sản xuất và canh tác cây trồng.

Hoạt động nghiên cứu nông học ban đầu từ Giống cây trồng (1903- 1910),  Bộ Nông nghiệp (1910-1958), đến Viện nghiên cứu các cây trồng  (1958-1972) Viện Nghiên cứu Cây trồng (FCRI) và sau đó là Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp (ARC) từ năm 1973 cho đến ngày nay. Trong thập niên 1980, Viện Nghiên cứu Cây trồng (FCRI) nỗ lực hướng về tăng cường nghiên cứu khuyến nông, dần  chuyển dịch theo hướng tư nhân hóa, hợp tác chặt chẽ với các cộng đồng nông nghiệp quốc tế, và một số cơ quan phát triển nói riêng. USAID (Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ United States Agency for International Development) đồng tài trợ hai dự án lớn là EMCIP NARP.

Trong lịch sử của Viện, hơn năm trăm giống cây trồng khác nhau đã được giới thiệu đưa vào nông nghiệp Ai Cập. Các mục tiêu chính của Viện là: Tăng năng suất các loại cây trồng lĩnh vực chủ yếu thông qua phát triển giống cây trồng cho năng suất cao; Sản xuất giống gốc của các loại giống đã được cải thiện; Khắc phục những hạn chế của các yếu tố kỹ thuật canh tác trong sản xuất lớn; Cung cấp khuyến nghị sản xuất phù hợp, thực hiện các hoạt động khuyến nông kết nối trong nước và tăng cường hợp tác với các trung tâm nghiên cứu, phát triển quốc gia và quốc tế khác nhau.

Hiện nay, FCRI có 15 phòng nghiên cứu. Viện tuyển dụng hơn 1.500 nhân viên trong các hoạt động nghiên cứu, khuyến nông, quản lý và đào tạo. Trụ sở của FCRI được đặt tại Giza, cùng với một số cơ sở thí nghiệm hiện trường, các hoạt động chọn giống liên hợp và nông học. Các cơ sở bổ sung được cung cấp tại hơn 23 trạm nghiên cứu nông nghiệp quốc gia. Các thí nghiệm đồng ruộng và sản xuất thử nghiệm được tiến hành trên các cánh đồng của nông dân trên toàn quốc.

Ngọc lục bảo Paulo Coelho 

Ngày xưa có một người thợ đá thử 999.999 viên đá, đến viên đá cuối cùng đã tìm được một viên ngọc lục bảo quý giá vô ngần. Paulo Coelho là một nhà thơ trữ tình và tiểu thuyết gia người Brazil, là ngọc lục bảo của đất nước Brazil. Ông được biết đến với cuốn tiểu thuyết của ông “O Alquimista” tiếng Bồ Đào Nha kể về bí mật ngôi mộ cổ gần kim tự tháp Ai Cập mà một chàng trai Brazil đã đi tìm kho báu chính mình tại đó và đã thành công. “O Alquimista” là kiệt tác của tâm hồn. Cuốn sách này tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ, và bản tiếng Việt  có tựa đề là “Nhà giả kim” do Lê Chu Cầu dịch, Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam và Nhà Xuất bản Văn hóa in và phát hành.Tiểu thuyết này đã được dịch ra 56 thứ tiếng, bán chạy chỉ sau kinh Thánh, đến năm 2008 đã bán được hơn 65 triệu bản trên toàn thế giới.  Ông Paulo Coelho sinh ngày gày 24 tháng 8 năm 1947 (70 tuổi), tại Rio de Janeiro, Braxin là một người sử dụng phương tiện truyền thông điện tử, vào năm 2014, ông đã tải lên các giấy tờ cá nhân của mình trực tuyến để tạo một Quỹ Paulo Coelho ảo. Paulo Coelho nhà văn Brazil này đã tìm thấy ngọc trong đá của chính mình.

Paulo Coelho thật khéo kể chuyện. Lối dẫn truyện của ông hay ám ảnh. Paulo Coelho thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa. Đề từ“Nhà giả kim”, Paulo Coelho viết: Kính tặng J, người đã thấu hiểu và hoạt dụng những bí nhiệm của cuộc Đại Hóa. “Chúa Jesu và các môn đệ tiếp tục đi, đến một làng nọ. Một cô gái tên Marta rước người vào nhà. Em gái cô là Maria ngồi dưới chân Người nghe giảng dạy, còn Marta thì bận rộn lo tiếp đãi Người. Rồi cô phàn nàn rằng: “Chúa không thấy em con để một mình con làm hết mọi việc sao? Xin Chúa hãy bảo nó phụ con với!”. Chúa mới bảo cô: “Marta ơi, Marta. Con bận rộn, lo lắng nhiều việc quá. Nhưng chỉ có một việc thật cần thiết thôi và Maria đã chọn phần việc ấy thì không ai truất phần của em con được. Thánh Kinh Tân Ước, Lukas 10:38-42

Vào truyện Sự tích hoa Thủy tiên ở đầu sách và Chuyện Thánh nữ và Chúa Hài Đồng ở cuối sách cũng là sự huyền diệu của kiệt tác. Các bạn sinh viên đừng bao giờ coi thường PHẦN ĐẦU và  PHỤ LỤC cuối luận văn. Những phần này dễ lơ đểnh bỏ qua nhưng thường là phần tinh tế của một kiệt tác. Một số nhà khoa học và nhà văn không thành công là khi sản phẩm khoa học và tác phẩm chưa đến được tận tay đông đảo người tiêu dùng.

Tôi đang tìm về kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.

(*) PS. Hoàng Kim đồng cảm với Phan Kiếm “Tất cả kẻ hở đều do việc thi 2 trong 1 của Bộ GDĐT sinh ra. Chừng nào còn thi 2 trong 1 thì “còn chuyện” vì Bộ ko thể kiểm soát được địa phương mà mắc gì phải mất công xuống kè kè kiếm soát nhỉ. Cứ xét tốt nghiệp THPT và chỉ thi ĐH thật nghiêm túc thôi. Cho dù địa phương cho 100% tốt nghiệp thì có sao đâu. Ai học yếu kém thì ko thể vào ĐH mà tự đi học nghề. Việc quá đơn giản mà cứ rối bời.Thật khó hiểu”. Đúng là thật khó hiểu !!!  Khó hiểu như “Ba đặc khu liệu có đột phá?” tại sao không chọn  Hồ Chí Minh, Hà Nội kiểu như Trung Quốc chọn Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc đất nước Trung Hoa động loạn”…so tầm nhìn “Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình“?  Sao không bàn sâu chuyện mà mấy tuần nay Thành phố Hồ Chí Minh đang tích cực triển khai quán triệt  “Nghị quyết 54/2017/QH14 của Quốc hội về việc thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh” mà lại đâm đầu vào những nơi hiểm địa an ninh quốc gia ở Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, để làm dậy sóng lương tri bởi ‘trót đâm lao theo lao’ nhiều tiền của trước đó đã trút vào đầu tư kinh doanh đất ở đấy chứ không phải là vùng và lĩnh vực đột phá phát triển kinh tế đất nước?.)

Hoàng Kim

xem tiếp: Nhớ Châu Phi (chùm bài viết từ bài 1 đến bài 12)  https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-chau-phi/

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

 

Nhớ Cậu

NHỚ CẬU
Kính thượng thọ Cậu
Hoàng Kim

Giống lạc HL25 Việt Ấn

Dia chi xanh An Do 2

Giống lạc HL25 Việt Ấn

Giống lạc HL 25, có tên gốc là ICGSE 56, nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu Quốc tế Cây trồng vùng Nhiệt đới Bán khô hạn (ICRISAT), được nhập nội theo Chương trình Hệ thống canh tác lúa châu Á.từ IRRI vào Việt Nam năm 1988 Giống thích hợp canh tác cho vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long suốt một thời gian dài. Giống lạc HL25 cho đến nay vẫn là một giống lạc tốt được nông dân nhiều địa phương các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung ưa chuộng.

Giống lạc HL25 được chọn taọ, khảo nghiêm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất, nhân giống, xây dựng mô hình canh tác trồng thuần và trồng xen ngô đậu hiệu quả (Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc, Mai Văn Quyền, Đỗ Thị Dung 1999, 2004). Giống lạc HL25 được công nhận giống tạm thời tại Quyết định số 3493/ QĐ/BNN/KHCN ngày 09/9/1999, công nhận giống chính thức tại Quyết định số 2182/QĐ/ BNN/ KHCN ngày 29/7/2004.

DSCN5768

Những đặc điểm chính: TGST: 90 – 95 ngày. Cao cây: 50 – 60 cm, thuộc nhóm Spanish. Số cành cấp 1: 4 – 5 cành Tổng số quả/cây: 25 – 35 quả.Tỷ lệ trái 3 hạt: 60 – 65%. P 100 hạt: 40 – 45 g. Vỏ trái có gân, mỏ quả thẳng cong, màu hạt trắng hồng. Tỷ lệ nhân 70 – 72 %. Kháng bệnh rỉ sắt, đốm lá trung bình (cấp 4-6). Năng suất đạt 2,0 – 2,5 tấn/ha trong vụ Hè Thu và Thu Đông, đạt 2,5 – 3,5 tấn/ha trong vụ Đông Xuân và Xuân Hè.

Giống lạc HL25 tên gốc là ICGV86015 của nhà chọn giống lạc Shyam Narayan Nigam (chuyên gia hàng đầu của ICRISAT và thế giới về lạc và đậu thực phẩm) có từ rất sớm ở Ấn Độ (1986) nôi của môi trường thân thiện nơi mà người dân (nhổ lạc) và chim muông (con cò) thân thiện bên người . Quá trình dục thành giống lạc ICGV86025 đã được nhập nội theo Chương trình Hệ thống canh tác lúa châu Á.từ IRRI vào Việt Nam năm 1988, thực hiện nghiên cứu và phát triển sản xuất tại mô hình trồng xen ngô đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ (Hoàng Kim, Trần Ngọc Quyền và đồng sự 1988-1991), Mô hình trồng xen đậu xanh, lạc, đậu rồng với sắn ở vùng Đông Nam Bộ và vùng duyên hải Nam Trung Bộ (Hoàng Kim, 1991), Hệ thống cây trồng thích hợp trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản ở Đông Nam Bộ.(Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc, Võ Văn Tuấn, Đinh Văn Cự, Mai Văn Quyền 1996).Mô hình trồng lạc xen với cao su non.(Hoàng Kim và đồng sự,1997) Chọn tạo và phát triển giống lạc HL25 (Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc, Mai Văn Quyền, Đỗ Thị Dung 1999, 2004). Giống lạc HL25 trong suốt 15 năm (1988-2004) chọn tạo và phát triển sản xuất đã được Việt hóa, tích hợp, tuyển chọn, kế thừa và phát triển so với giống lạc gốc Ấn Độ là ICGV86015

Tiến sĩ Shyam Narayan Nigam rất được tín nhiệm ở ICRISAT Ấn Độ. Ông đóng góp nhiều và rất hiệu quả cho chương trình chọn giống lạc của Ấn Độ, Châu Á, châu Phi và Quốc tế. Ông là bạn nhà nông, đã nhiều lần tới làm việc ở Việt Nam.

Giống lạc HL25 là một giống cây trồng tốt của thời kỳ 1999-2004 nhưng tồn tại khá lâu trong sản xuất mãi đến nay. Niềm vui gặp lại những người bạn tốt khi đã luống tuổi, luôn yêu thương quý trọng nhau, gợi nhớ lại một thời. Nhớ lại và suy ngẫm những bài học lịch sử thấm thía. Khoa học nông nghiệp là khoa học thực tiễn. Những bài học kinh nghiệm cần thành hoa đất, thành phù sa cho cây và bài học cho lớp trẻ. Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu thăm mô hình trồng xen ngô đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ. Thầy Đào Thế Tuấn đánh giá cao mô hình trồng xen giống lạc HL25 và đậu rồng với sắn, ngô . mời xem tại Đào Thế Tuấn chân dung người thầy https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dao-the-tuan-chan-dung-nguoi-thay/

Những ký ức không quên

GIỐNG LẠC HL25 MỘT THỜI ĐỂ NHỚ
Hoàng Kim, Phạm Văn Ngọc, Mai Văn Quyền, Đỗ Thị Dung.

Giống lạc HL 25, có tên gốc là ICGSE 56, nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu Quốc tế Cây trồng vùng Nhiệt đới Bán khô hạn (ICRISAT), được nhập nội từ IRRI vào Việt Nam năm 1988 theo Chương trình Hệ thống canh tác lúa châu Á. Giống được công nhận tạm thời theo Quyết định số 3493/ QĐ/BNN/KHCN ngày 09/9/1999, công nhận chính thức theo Quyết định số 2182/QĐ/ BNN/ KHCN ngày 29/7/2004. Những đặc điểm chính: TGST: 90 – 95 ngày. Cao cây: 50 – 60 cm, thuộc nhóm Spanish. Số cành cấp 1: 4 – 5 cành Tổng số quả/cây: 25 – 35 quả.Tỷ lệ trái 3 hạt: 60 – 65%. P 100 hạt: 40 – 45 g. Vỏ trái có gân, mỏ quả thẳng cong, màu hạt trắng hồng. Tỷ lệ nhân 70 – 72 %. Kháng bệnh rỉ sắt, đốm lá trung bình (cấp 4-6). Năng suất đạt 2,0 – 2,5 tấn/ha trong vụ Hè Thu và Thu Đông, đạt 2,5 – 3,5 tấn/ha trong vụ Đông Xuân và Xuân Hè. Giống thích hợp canh tác cho vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Sau nhiều năm canh tác, giống lạc HL25 cho đến nay vẫn là một giống lạc tốt được nông dân nhiều địa phương các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung ưa chuộng.

DSCN5768

Giống lạc HL25 là một giống cây trồng tốt tuy đã cũ nhưng còn bền vững với thời gian. Niềm vui gặp lại những người bạn tốt khi đã luống tuổi, luôn yêu thương quý trọng nhau, gợi nhớ lại một thời. Nhớ lại và suy ngẫm những bài học lịch sử thấm thía. Khoa học nông nghiệp là khoa học thực tiễn. Những bài học kinh nghiệm cần thành hoa đất, thành phù sa cho cây và bài học cho lớp trẻ. Thầy Đào Thế Tuấn (thân phụ của nhà khoa học Đào Thế Anh (The Anh Dao), người nối tiếp cha, vừa nhận huân chương tôn vinh của Chính phủ Pháp) đã dặn dò chúng tôi những lời châu ngọc thật quý khi giống lạc HL25 lần đầu tiên được đánh giá,  mà chuyện này tôi sẽ kể tiếp trong bài viết Thầy bạn trong đời tôi, https://hoangkimlong.wordpress.com/…/thay-ban-trong-doi-toi/ Giống lạc HL25 một thời để nhớ, Địa chỉ xanh Ấn Độ, https://hoangkimlong.wordpress.com/cate…/dia-chi-xanh-an-do/

HoiKhoahocDatVietNam

NHỚ LỜI DẶN THẦY ĐÀO THẾ TUẤN
Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn là chuyên gia khoa học nông nghiệp hàng đầu Việt Nam  trong lĩnh vực kinh tế hộ nông dân, kinh tế phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thầy là người thầy người bạn thân thiết của nhà nông, của đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên nông học, kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn Việt Nam. Di sản của Thầy là con người và trí tuệ minh triết phát triển nông nghiệp bền vững, sinh thái nông nghiệp, sinh lý cây lúa, chuyển đổi mùa vụ, lời tâm huyết còn mãi với thời gian. Lời của Thầy nhắc chúng ta nhớ lại những quyết sách cực kỳ quan trọng của cụ Đào Duy Từ, và những nhận định tuyệt vời của nhà sử học bách khoa toàn thư Đào Duy Anh. Trong ký ức của tôi lắng đọng lời dặn tâm huyết sâu sắc nhất của thầy đã thành tên sách ‘Kinh tế hộ nông dân’ . Tôi đã viết Đào Thế Tuấn chân dung người thầy  và tôi sẽ còn trở lại cày xới nhiều lần trên mảnh đất này ‘học để làm’, ‘học bởi làm’ (Learning to Doing, Learning by Doing) để chiêm nghiệm về tư duy,  tầm nhìn hệ thống, kinh tế hộ nông dân để tìm cách khai mở những  tiềm năng thực tế và khả thi của nông hộ. Tôi bảo vệ luận án tiến sĩ đúng dịp Đại hội thành lập Hội Khoa học Đất Việt Nam 30 tháng 8 năm 1991.  Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng, Nguyễn Đăng Nghĩa và tôi đều là nghiên cứu sinh cùng học khóa đào tạo chính quy 1988- 1991 ở VAAS (lúc đó tên gọi là VASI). Đặng Kim Sơn và tôi bảo vệ có sớm hơn một chút so với các bạn cùng trang lứa. Thầy Nguyễn Văn Luật trực tiếp giúp cho Đặng Kim Sơn, thầy Mai Văn Quyền hướng dẫn cho tôi. Hôm tôi bảo vệ thầy Đỗ Ánh là Chủ tịch Hội đồng, thầy Đào Thế Tuấn là Viện trưởng Viện VASI, GS Trần Thế Thông là Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam có tới dự.

Thầy Đào Thế Tuấn đã chúc mừng tôi bảo vệ luận án thành công, chúc mừng thầy Quyền và tôi đã có cách làm hay, sáng tạo theo giải pháp tiếp cận hệ thống, xây dựng được phương pháp nghiên cứu trên ruộng nông dân và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thật tốt . Thầy khen ngợi về ba bài báo tiếng Anh, về lạc giống mới HL25 , đậu xanh HL89-E3 giống mới, đậu rồng Bình Minh, Chim Bu, Long Khánh giống mới xen sắn giống mới KM60 và kỹ thuật canh tác trồng xen lạc, đậu xanh, đậu rồng với sắn, sử dụng ngô sắn làm cây choái tự nhiên cho đậu rồng leo trong sự hợp tác hiệu quả Việt Tiệp. Thầy nói rất hay rất cảm động về cây lương thực trong hệ thống cây trồng cạn.

Theo thầy Tuấn, “Nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp Việt Nam thích hợp bền vững, Nghiên cứu chọn tạo giống và những giải pháp tiến bộ kỹ thuật chính để tăng năng suất, chất lượng nông sản, thu nhập đời sống, sinh kế người lao động, phát triển kinh tế hộ nông dân. Tôi thích cách làm kiểu làm này và kết quả thực tiễn tốt đẹp này. Cách nghiên cứu hệ thống nông nghiệp ‘kiểu Mai Văn Quyền Hoàng Kim’ là “hứa hẹn mở ra một tương lai tốt đẹp cho các kết quả nghiên cứu chọn giống và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác thành công tiếp nối”, giáo sư Đào Thế Tuấn nói.

Thầy truyền cho chúng tôi nhiệt huyết để dấn thân suốt đời. Tôi lặng người xúc động.

Kieu Nghien cuu He thong Nong nghiep

Thấy Tuấn khen hình 1 (thầy tiếp cận thông tin gốc sớm hơn đăng báo) và khuyến khích việc ba bài báo nước ngoài của tôi đã đăng trước khi bảo vệ. Thầy nêu nhiều ý hay cho các nghiên cúu sinh tham dự (Hình 1 đó là (hình trên): Hoang Kim, Tran Ngoc Quyen, Nguyen Dang Mai and Co Van Tuan 1996. On farm research and transfer of technology for cassava production in South Vietnam. In Centro Internacional de Agricultura Tropical (CIAT) A Benchmark Study on Cassava Production , Processing and Marketing in Vietnam. Proceedings of a Workshop held in Hanoi, Vietnam, Oct 29-31, 1992 R.H.Howeler (Ed.). Bangkok, Thailand) . Ba bài báo “đăng ở nước ngoài’ là (1) Kim H.; Buresova, M, 1986. Growing winged bean on natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 19; p. 225 – 236 En. Sum. En. 14 Ref. In CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416 ;  2)  Buresova, M.; Kim, H.; Quyen, T.N.,1987. The economics og winged bean on manioc as natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 20; p. 101 – 114 En. Sum. En.; Sk., Ru.,8 Ref. In: CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416; 3) Hoang Kim, M. Buresova, Tran Ngoc Quyen and Nguyen Van Chuong, 1988 Economic of Winged bean on Maize as natural support in South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 21; p. 45 – 59 En. Sum. En.; Sk., Ru.,9 Ref.)

ThayDaoTheTuan taiHARCThầy Đào Thế Tuấn bình dị giữa đời thường, thầy ngồi thoải mái giữa anh em trẻ. Khoảng năm 1993, thầy Đào Thế Tuấn đến thăm và làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc đã hóm hỉnh hỏi đùa  khi tôi đang làm giám đốc Trung tâm ở đấy: Cậu Hoàng Kim định học và làm gì với mình khi cậu là lính của Giáo sư Trần Thế Thông và cậu đang phối hợp với CIAT, CIP, CIMMYT, Tiệp, Nga với Giáo sư Mai Văn Quyền làm đề tài về cây lương thực và hệ thống canh tác đã rất thành công? Sự nghiên cứu trên ruộng nông dân và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất sắn ở phía Nam đã đạt được những tiến bộ mới nào nổi bật trong thực tiễn? Sắn Việt Nam trong hệ thống canh tác hiện nay như thế nào? Thầy Đào Thế Tuấn trong mắt tôi là người Thầy của tư duy hệ thống, có tính thực tiễn rất cao độ, các câu hỏi của Thầy hầu hết đều xoáy vào chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thành công và kinh tế hộ nông dân. Tôi thưa với Thầy đó là điều tôi thích nhất, dẫu tôi không được trực tiếp học và làm với Thầy nhưng đó là điều ai cũng nhận thấy và học được. Nói theo cách nói của giáo sư Trần Thế Thông là “thầy Đào Thế Tuấn là người mà mỗi lần trao đổi phát biểu, đều có những ý mới, những đóng góp mới”.

Tôi cũng lém lĩnh chất vấn thầy:  Vì sao thầy ít làm đề tài hệ thống canh tác hoặc đề tài kinh tế hộ cho các tỉnh phía Nam. Thầy Đào Thế Tuấn đã trả lời thật dí dỏm là nguồn lực thầy có hạn và thầy cần tập trung nhiều hơn cho vùng đồng bằng sông Hồng và vùng núi trung du phía Bắc là vùng nghiên cứu chìa khóa của thầy. Với nữa, thầy nói vui:  Ở trong Nam thì anh Thông, anh Quyền, anh Luật, anh Xuân và các cậu làm hay hơn tôi. Phải tự lượng sức mình, cậu ạ.  Đó là minh triết và câu trả lời khéo. Thật phúc hậu những lời Thầy nói.

Tôi thưa với thầy Đào Thế Tuấn là truyền nhân lãnh đạo của Thầy thì đã có anh Nguyễn Văn Bộ nhưng truyền nhân nghề nghiệp của Thầy thì có Đặng Kim Sơn và Đào Thế Anh. Em học và làm theo thầy là học tư duy hệ thống, học tính thực tiễn cao độ, dạy và học chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thành công,  dạy và học giáo dục văn hóa du lịch sinh thái tiếp cận kinh tế cây lương thực và kinh tế vùng . Riêng kinh tế hộ nông dân và kinh tế học đô thị thì em chỉ biết và học vận dụng thôi. Thầy cười hồn hậu.

Thời gia trôi qua, nhớ về thầy Đào Thế Tuấn , tôi vẫn thích nhất lời tiễn thầy của Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, người bạn thân thiết của tôi: “Không còn nữa nhà trí thức tài hoa Đào Thế Tuấn; người yêu nước từ thủa ấu thơ, khi có giặc thì cầm súng bảo vệ tổ quốc, khi hoà bình thì nghiên cứu hạt lúa, củ khoai; người lãnh đạo mà tài sản quí nhất trong nhà chỉ là sách vở. Nhưng còn mãi với chúng ta giọng nói miền Trung sang sảng của giáo sư khẳng khái tranh cãi học thuật; mãi còn đó nụ cười hóm hỉnh, dí dỏm của Giáo sư khi bàn bạc về lẽ đời; nhớ mãi dáng vẻ ngơ ngác, cặm cụi tìm tòi của con người mà trí tuệ và lòng bao dung vượt qua những trăn trở đời thường. Chỉ có tương lai mới cho chúng ta biết đã mất gì khi mất đi Đào Thế Tuấn và cũng chỉ có thời gian mới cho chúng ta biết mình được gì do ông để lại. Vĩnh biệt Giáo sư Đào Thế Tuấn – Con Người tuyệt đẹp của một Gia Đình tuyệt đẹp”.

xem tiếp …

Đào Thế Tuấn chân dung người thầy

Video nhạc tuyển

Ban Mai
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook Kim on Twitter

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI
Hoàng Kim
với Trần Ngọc Ngoạn, Van Quyen Mai, Hieu Nguyenminh, Mai Trúc Nguyễn Thị trong đêm thiêng tháng Bảy mưa ngâu giấc mơ hạnh phúc tại Vĩ Dạ Xưa.

Tháng Bảy năm 2017 Lịch Vạn Niên có 5 ngày thứ Bảy, 5 ngày Chủ nhật, 5 ngày Thứ Hai mà 823 năm mới lặp lại một lần. Theo thiên thư cổ văn đây là “điều kỳ diệu” “nhóm ngày may mắn” hành thiện những việc đặc biệt tốt đẹp đầy đặn yêu thương. Thầy bạn trong đời tôi là chùm bài viết chuyện đời tự kể, nối tiếp chuỗi thông tin các bài viết trước https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

THẦY QUYỀN NGHỀ NÔNG CỦA CHÚNG TÔI

Giáo sư tiến sĩ Mai Văn Quyền là nhà khoa học xanh, chuyên gia hàng đầu Việt Nam về lĩnh vực thâm canh lúa, hệ thống nông nghiệp, sinh lý thực vật và quản lý bền vững đất nước cây trồng. Giáo sư là thầy hướng dẫn đã bảo vệ thành công của 12 tiến sĩ khoa học nông nghiệp, nhiều thạc sỹ, kỹ sư nông học, tác giả của sáu sách chuyên khảo và nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí, sách ở trong và ngoài nước. Giáo sư Mai Văn Quyền từ năm 2007 đến nay là cộng tác viên thường xuyên của đài VOV 2 phát thanh mỗi tuần 2 lần các nội dung về phân bón trong khuôn khổ hợp tác giữa Đài VOV2 với công ty Cổ phần phân bón Binh Điền. Giáo sư là chuyên gia của chương trình VTV “Đồng hành và chia sẻ” hàng tuần trả lời các câu hỏi của nông dân cả nước qua thư bạn nghe đài, là cộng tác viên của báo Nông nghiệp Việt Nam và các báo nông nghiệp, viết bài phổ biến khoa học trong lĩnh vực phân bón và cây trồng. Với cương vị là chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty Cổ phần phân bón Bình Điền, hàng năm tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật sử dụng phân bón cho nông dân Việt Nam, Campuchia, và Myanmar, qua đó tạo thêm điều kiện tăng thêm sự hiểu biết và thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân và chính phủ các nước với nhân dân và chính phủ Việt Nam. Thầy là tấm gương phúc hậu, minh triết, tận tâm trong nghiên cứu, giảng dạy nông học, đồng hành cùng nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam. Bước vào năm 2016, giáo sư Mai Văn Quyền sang tuổi 80 và Thầy vẫn đang sung sức đi tới trong tốp đầu của các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam thời hiện đại.

Thầy Mai Văn Quyền là thầy hướng dẫn khoa học của tôi làm nghiên cứu sinh ở Viện Khoa học Nông nghiệt Việt Nam khóa 1988-1991. Đó là người thầy minh triết, phúc hậu, tận tâm mà suốt đời tôi tôn kính và tự hào. Các bạn Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng, Nguyễn Đăng Nghĩa, Nguyễn Thị Sinh với tôi là bạn học cùng khóa. Thuở ấy thầy Quyền khuyên tôi nên sớm đúc kết đề tài nghiên cứu trồng xen đậu rồng, đậu xanh, lạc với sắn ở Đông Nam Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ, xác định giống sắn, đậu xanh, đậu nành, lạc tốt và xác định phương thức trồng xen thích hợp điều kiện sinh thái của vùng. Tôi được thầy minh triết chỉ dẫn sâu sát thực tiễn nên đã thành công. Câu chuyện về thầy tôi đã kể ở bài viết ‘Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi‘:  Ơn Thầy. Hoàng Kim, kính tặng thầy Mai Văn Quyền và những người Thầy quý mến. Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày, Trán tư lự, cha thường suy nghĩ,  Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất, Cái chết giằng cha ra khỏi tay con, Mắt cha lắng bao niềm ao ước, Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy, Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ, Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng Thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

Giáo sư Mai Văn Quyền năm 1987 là trưởng chương trình thâm canh lúa Việt Nam trưởng đề tài hệ thống canh tác và Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Thầy đã cùng tiến sĩ Carangal là Trưởng dự án Hệ thống Canh tác Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI, tiến sĩ Phạm Sĩ Tân là Phó Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long và Hoàng Kim, đi thăm mô hình “trồng ngô xen đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ”.

Mô hình này cùng với mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam” và “giống khoai lang mới Hưng Lộc 4” năm 1987 là ba tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp của Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống mới và tiến bộ kỹ thuật mới, được ứng dụng rộng ở nhiều tỉnh phía Nam. Khoai lang Hưng Lộc 4 có năng suất cao, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, phẩm chất ngon, bộ lá xanh đậm, phủ luống nhanh, gọn, ít sâu bệnh, được dân ưa thích vì củ nấu cà ri hoặc luộc khá ngon, khoai là thực phẩm sạch dễ ăn, được tiêu thụ rộng rãi và dây lang dùng cho chăn nuôi.  Đặc biệt là hai công trình ‘đậu rồng giống mới năng suất cao, quy trình kỹ thuật trồng xen đậu rồng với sắn và ngô, sử dựng quả đậu rồng làm rau xanh và hạt làm bánh dinh dưỡng’ cùng với công trình ‘ngô xen đậu xanh đậu nành lạc và gối thuốc lá’  thời bấy giờ tại tỉnh Đồng Nai với nhiều tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là rất phổ biến và hiệu quả. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Nguyễn Ngọc Trìu đã cùng giáo sư Trần Thế Thông xuống đồng ruộng trực tiếp đánh giá và thật khen ngợi.

GIÁO SƯ PAVEL VALICEK THẦY CÂY TRỒNG

Tôi có duyên may suýt được cả thầy Pavel Valicek giúp hướng dẫn luận án hổ trợ thầy Mai Văn Quyền là hướng dẫn chính. Sau này do không có điều kiện hợp tác tiếp với Tiệp Khắc nên tôi không còn được đi học tiếp ở Tiệp mà làm đề tài trong nước chỉ một mình thầy Quyền hướng dẫn thôi . Trước đó, tôi được du học năm tháng ở Tiệp Khắc nhờ thực hiện tốt đề tài đậu rồng và chị Magdalena Buresova thầy Pavel Valicek là người giúp đỡ thực tập sinh từ cuối năm 1985 đến giữa năm 1986 với sự tận tâm hổ trợ của giáo sư Viện trưởng Trần Thế Thông. Dịp học ở Praha, thầy Pavel Valicek có mời chị Magdalena Buresova và tôi đến thăm nhà thầy ở tại Nymburk và cùng ăn cơm. Trong bữa cơm thầy lắng nghe rất kỹ câu chuyện tôi kể về hai tuần khảo sát các nơi ở Tiệp Khắc, tâm tư của tôi và những điều mà sau này tôi đã ghi nhận tại Tiệp Khắc kỹ niệm một thời;  Praha Goethe và lâu đài cổ; Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe; … Thầy khen ngợi tôi đã có buổi seminar ‘đậu rồng ở Việt Nam’ thật tốt trước một đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm của Viện Nhiệt đới và Á Nhiệt đới. Thầy tin tưởng rằng nếu tôi được thầy Quyền hướng dẫn chính chung với thầy Pavel Valicek là đồng hướng dẫn  thực hiện tốt đề tài tiến sĩ ở Việt Nam và sang học nâng cao ở Viện của thầy thì tôi sẽ rất sớm bảo vệ luận án tiến sĩ ở Tiệp Khắc.


Giáo sư tiến sĩ Pavel Valicek (giữa), giáo sư tiến sĩ Trần Thế Tục (phải) và giáo sư tiến sĩ NGUT Nguyễn Viết Tùng (trái) Hiệu trưởng Học Viện Nông nghiệp Việt Nam nhiệm kỳ 1996- 2001 là một tấm ảnh quý.  Tôi muốn kể thêm với phó giáo sư Nguyễn Văn Hoan về câu chuyện này

Thầy Pavel Valíček sinh ngày 13 tháng 5 năm 1939, năm nay 79 tuổi. Thầy ở Nymburk, còn gọi là Neuenburg an der Elbe, một thành phố cổ, một thị trấn ở khu vực miền Trung của sông Elbe, cách Praha khoảng 45 km về phía đông. Thành phố này có diện tích trên 20 km² với khoảng một vạn rưỡi dân. Đó là nơi thật đẹp. Giáo sư Pavel Valíček là nhà thực vật học người Czech, cũng là nhà nông học và nông dân. Thầy tập trung tinh lực trọn đời nghiên cứu cây nhiệt đới cây cận nhiệt đới và cây thuốc châu Á. Thầy là Viện trưởng Viện Nhiệt đới và Á Nhiệt đới, thuộc Trường Đại học Nông nghiệp Praha ở Prague 6 Suchdol, là tác giả của nhiều bài báo rất nổi tiếng trong đó có bài ‘Đậu rồng hôm qua, hôm nay và ngày mai’ công bố năm 1989 (The Winged Bean Psophocarpus tetragonolobus: Past, Present, and Future’) thầy khuyến khích trồng cây đậu rồng rau sạch, dễ trồng, giàu đạm và đặc biệt giàu dinh dưỡng này. Thầy đã làm việc tại Viện Nhiệt đới và Á Nhiệt đới, Trường Đại học Nông nghiệp Praha trên ba mươi năm, và nghĩ hưu từ năm 2000. Thầy nay vẫn tiếp tục cống hiến cho những khu vườn cây chữa bệnh ở Třebíč và Sádka, các bài giảng và xuất bản. Thầy Pavel Valíček là tác giả của hàng chục ấn phẩm, chuyên luận và sách phổ biến rộng rãi ở Tiệp, cũng là tác giả chính của nhiều ấn phẩm phong phú về cây nhiệt đới, cây cận nhiệt đới, cây thực vật cổ thụ và cây làm thuốc, đặc biệt là những cây thuốc Trung Quốc và Việt Nam.


“Hoàng Kim có kết quả đồng ruộng rất tốt và cậu sẽ hoàn thành luận án thật nhanh. Ba bài báo cậu đã đăng là thật tốt”. Thầy khen tôi như vậy và chị Buresova cũng xác nhận điều đó.  (1) Kim H.; Buresova, M, 1986. Growing winged bean on natural supports under the conditions of South Vietnam. In Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 19; p. 225 – 236 En. Sum. En. 14 Ref. In CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416 ;  2)  Buresova, M.; Kim, H.; Quyen, T.N.,1987. The economics og winged bean on manioc as natural supports under the conditions of South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 20; p. 101 – 114 En. Sum. En.; Sk., Ru.,8 Ref. In: CIAT 1990 National Bibliographies Cassava in Asia East and Southeast Asia, p. 416; 3) Hoang Kim, M. Buresova, Tran Ngoc Quyen and Nguyen Van Chuong, 1988 Economic of Winged bean on Maize as natural support in South Vietnam. In: Agricultura Tropica et Subtropica, Universitas Agriculturae Praga, No. 21; p. 45 – 59 En. Sum. En.; Sk., Ru.,9 Ref. Thầy truyền cho tôi cảm hứng và thật lạ lùng, cho đến sau này khi tôi hướng dẫn luận án tiến sĩ cho các em Nguyễn Việt Hưng, Trần Công Khanh, Nguyễn Xuân Kỳ, Nguyễn Thị Trúc Mai,  Nguyễn Bạch Mai, … với 18 thạc sĩ và 98 kỹ sư nông học tôi cũng bị ‘lây’ cảm hứng hợp tác quốc tế say mê đó.

Tiến sĩ Kazuo Kawano và Reinhardt Howeler là những chuyên gia CIAT sau này khi tới Việt Nam cũng có những đánh giá thật tốt đối với những thí nghiệm của đề tài nghiên cứu trồng xen đậu rồng, đậu xanh, lạc với sắn của tôi thực hiện ở trên đồng ruộng và các bài báo nông học công bố tốt tại Việt Nam về vấn đề này giống như giáo sư Pavel Valicek. Sau này khi nhìn lại những hình ảnh đồng ruộng và trang viết cũ, tôi thấy thật là có phúc lành, duyên lành khi được sớm đồng hành với những người thầy, người bạn quý như thế. Khoa học nông nghiệp là khoa học thực tiễn, kỹ năng thực hành và đánh giá kết quả trên đồng ruộng, biết tổng kết số liệu và bài học thực tiễn là quan trọng biết bao.

còn tiếp ….

Video yêu thích
KimYouTube 

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Kim on Twitter

 

Thầy bạn trong đời tôi

THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI.
Hoàng Kim
“Thung dung cùng với cỏ hoa. Thỏa thuê đèn sách, nhẫn nha dọn vườn”. Đó là triết lý nhân sinh “Ta về sống giữa thiên nhiên” của một đội ngũ các nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ đã chấp nhận trọn đời sống với ruộng đồng và chén cơm ngon của người dân. Cám ơn Trung Trung đã góp ý sắp xếp lại câu thơ trên thay cho câu thơ cũ “Thỏa thuê cùng với cỏ hoa.Thung dung đèn sách nhẫn nha dọn vườn”. Mình đã sửa lại. Tình yêu cuộc sống thể hiện trong tứ thơ ‘thung dung’ đứng đầu, chọn cỏ hoa, thiên nhiên, chân quê làm khởi nghiệp. Sự nghiệp ấy gắn đời và nghề, để sau này nhìn lại. “Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười” ẩn chứa triết lý sâu sắc hơn là “Xuân đến trăm hoa cười, xuân đi trăm hoa rụng”. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) “Thanh nhàn vô sự là tiên” trong bài thơ nôm “Chín mươi” có câu: “Chín mươi thì kể xuân đà muộn Xuân ấy qua thì xuân khác còn”. Tăng Quốc Phiên chống quân Thái Bình Thiên Quốc “càng đánh càng thua” nhưng trong bản tấu chương gửi vua thì ông đã quyết ý đổi lại là “càng thua càng đánh”. Việc “đánh thua” thì vẫn vậy nhưng ý tứ của câu sau mạnh hơn hẵn câu trước. Cám ơn bạn, mình lưu trang và ảnh để quay lại. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-trong-doi-toi/

TA VỀ SỐNG GIỮA THIÊN NHIÊN
Hoàng Kim

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui ở lại ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thỏa thuê cùng với cỏ hoa
Thung dung đèn sách, nhẫn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi

Ung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta về sống giữa thiên nhiên
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU TRONG TÔI

Hoàng Kim chùm ảnh và bài viết của  về Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và  mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”(*)

(*) THẦY BẠN TRONG ĐỜI TÔI. Tấm ảnh quý không nỡ quên. (Hoàng Kim). Nhân vào thăm ‘nhà ảo’ anh Pham Sy Tan anh bất ngờ vì ảnh này và viết: ” Hoàng Kim lôi đâu ra ảnh này vậy. Đẹp quá! Có phải GS. Van Quyen Mai và Dr. Carangal phải không?” Tôi nói: Đúng rồi, anh Tân ! đoàn có GS. Van Quyen Mai (IAS), Dr. Carangal (IRRI) TS Pham Sy Tan (Viện Phó Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long) cùng Hoàng Kim thăm mô hình trồng xen ngô đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ. Sau đó mô hình này là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp ứng dụng trên diện rộng ở Đồng Nai và nhiều tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, được bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu cùng GS Trần Thế Thông xuống trực tiếp đánh giá và khen ngợi. Những câu chuyện và tấm ảnh lưu lạc giữa đời thường, mấy chục năm sau gặp lại để nhớ …

Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất.

Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông – Lâm – Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ .

Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm” .

Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu là một danh nhân lỗi lạc, một nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.

Xin dâng nén tâm hương tưởng nhớ Người.

CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU MỘT NHÂN CÁCH LỚN

Cuộc đời của cụ Nguyễn Ngọc Trìu thật hợp với bài thơ “thân phận làm người” và “Nợ quê” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Trìu tác giả tập thơ “Ký ức mưa bay” (NXB Hội nhà văn, 2015) mà Trần Văn Hạc giới thiệu ở Văn học quê nhà. Bậc lão thành Nguyễn Ngọc Trìu chắc không phải là nhà thơ Nguyễn Ngọc Trìu mà đời có một Nguyễn Ngọc Trìu khác. Sách Khôn ngoan vua Solomong không hẳn là của vua Solomong, “Hiểu đời” của Chu Dung Cơ không hẳn là của Chu Dung Cơ. nhưng văn thơ ấy thật hợp và vận vào với con người ấy.

Một thiên lục bát tài hoa.
Lọc trăm thân phận chắt ra… phận đời. …
(Chắt ra phận người)

Đồng ta lúa vẫn xanh rì
Cái nghèo sao cứ trị vì mãi thôi
Về quê chả thấy ai đòi
Ở lâu thêm nữa… nợ dôi ra nhiều
Phận nghèo khó xót càng sâu
Con về trắng nửa mái đầu chưa nguôi.
Gió đồng an ủi xa xôi
Quê cha, đất mẹ một trời bao dung. …
(Nợ quê)

Bậc lão thành Nguyễn Ngọc Trìu thật hợp với vần thơ ấy. Ông sinh ra và lớn lên ở Tiền Hải Thái Bình, danh phận có được là nhờ thân phận và cuộc đời của chính những con người nơi ấy. Thái Bình là đất ‘quê hương năm tấn’ cũng là nơi xẩy ra sự kiện Thái Bình khơi nguồn cho nhiều vấn đề trong Nông nghiệp Việt Nam. Một vị tư lệnh nông nghiệp đi lên từ cây lúa, từ nghề làm vườn và đón nhận danh hiệu 70 năm tuổi Đảng trước đó ít tuần rồi trở về với đất thanh thản nhẹ nhàng.

Con người ấy thật đáng quý.

NGUYỄN NGỌC TRÌU MỘT NHÂN CÁCH LỚN

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu có nhiều câu chuyện đời thường cảm động. Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm chuyên gia khoa học Đất Việt Nam, Cố vấn trưởng Kỹ thuật Quốc tế, Bộ Ngoại giao & Phát triển Canada, nguyên Cục trưởng Cục Khuyến nông & Khuyến lâm, có nhiều năm công tác ở Viện Nông Hóa Thổ Nhưỡng bày tỏ sự kính trọng đối với Cụ qua lời kể: Tôi vừa ở Nha Tang lễ số 5 Trần Thánh Tông về, đông lắm, đặc biệt là những người làm Nông nghiệp là nông dân Thái Bình. Đời biết ơn ông, Dân rất công bằng. Không phải “quan” nào cũng được nhiều người luyên tiếc thế đâu”. “ Những năm 1980s tôi may mắn được tháp tùng Cụ làm việc ở một số nơi. Nhớ một lần đến nông lâm trường ở Hà Tĩnh, vùng biên giới Việt – Lào, bọn phỉ Lào nã pháo sang cả đêm không ngủ được. Ở miệng hầm, Cụ hỏi: “Rừng ở đây thế nào ?”. Tôi đáp: “Phía Tây các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình rừng còn khá nhất Miền Bắc ạ”. “Đất thì sao ?”. “Dạ, có loại tốt nhất Thế giới như bazan Phủ Quì, có loại dễ thoái hóa nhất như đất trên sa thạch ở đây. Đất rừng còn khá, đất nông nghiệp thì thoái hóa nghiêm trọng”. Cụ tiếp: “Các cậu làm khoa học về Đất phải phối hợp với bên Lâm nghiệp giữ rừng. Mất rừng là mất đất. Thử hình dung chỗ này mà đất trống đồi trọc thì dân ăn gì, bộ đội nấp vào đâu !”. Lần khác thăm các nông trường Phủ Quì, ở Đông Hiếu là nông trường dẫn đầu do anh hùng Nguyễn Văn Lang làm giám đốc. Chiều, cụ bảo đi dạo. Quả đồi giáp với xã Nghĩa Thuận mênh mông đất đỏ bazan, leo heo ít cây cà phê…. Cụ hỏi: “Cậu thấy sao ?”. “Thưa anh, đan xen thế này thì trâu bò phá hết, phải hào ngăn, rào chắn rồi mới thâm canh phục hồi cà phê, cao su được”, tôi trả lời kiểu phản ứng của một anh kỹ thuật. Cụ vỗ vai: “Rào gì nổi, dân đói, công nhân đói, tự túc lương thực,… phải sắp xếp lại đất đai”. Hôm sau Cụ chỉ thị nông trường phải bàn bạc với HTX cho dân mượn tạm đất. Ý tưởng ấy sau này trở thành chủ trương rà soát lại quản lý đất đai ở nông lâm trường quốc doanh, mới giảm được lãng phí đất đai và hài hòa mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước và cư dân địa phương”

CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU TRONG MẮT TÔI

Trong mắt tôi. Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là hình ảnh của một người Chú, người Anh lớn nghề nông hiền lành phúc hậu. Trung tâm Hưng Lộc chúng tôi thời ấy làm được hai công trình có ý nghĩa tốt đối với sản xuất nông nghiệp của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam. Đó là tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”. Cụ đã củng Giáo sư Viện trưởng xuống thăm ngay và động viên mà không hề báo trước. Giáo sư Thông nói: “Lịch của Bộ trưởng đi miền Tây nhưng khi nghe Viện báo cáo, Bộ trưởng đã đề nghị lên thăm ngay. Hoàng Kim tranh thủ đưa Bộ trưởng đi thăm đồng cho kịp”.

Sau này, nhiều năm nhìn lại, tôi tâm sự với giáo sư Mai Văn Quyền và phó giáo sư Lê Văn Tố những người có nhiều tâm đắc về Cụ: “Thế hệ của các em thấm thoắt vậy mà đã trãi qua bảy đời Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Em vào đại học, đi bộ đội và trở về học tiếp đại học dưới thời của các cụ Hoàng Anh 1971- 1974, Võ Thúc Đồng 1974-1977, Võ Chí Công 1977-1979. Em bắt đầu vào Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam năm 1980 và liên tục ở Viện 27 năm và trở về giảng dạy và nghiên cứu ở Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh 8 năm cho tới lúc nghỉ hưu. Sự cống hiến cho khoa học nông nghiệp của thế hệ các em là dưới thời của các cụ Nguyễn Ngọc Trìu 1979- 1987, Nguyễn Công Tạn 1987-1997, Lê Huy Ngọ 1997-2004, Cao Đức Phát 2004- nay. Mỗi Bộ trưởng đều lưu lại dấu ấn riêng của mình tại mỗi thời kỳ, nhưng dấu ấn Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu thật ấn tượng. Báo Nông nghiệp Việt Nam nhận xét Cụ là “Người nhạy cảm với cái mới, một nhân cách lớn“. Em thích tập hợp tư liệu cho tác phẩm “Con đường lúa gạo Việt Nam” nói về con người đất đai và lương thực như sách “500 năm nông nghiệp Brazil” để nhìn nhận và đánh giá sâu sắc hơn dấu ấn nông nghiệp Việt trong lịch sử văn hóa. Trong chuỗi tiến hóa đó, rõ nhất là con người thời của mình đang sống”.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu một nhân cách lớn.

Hoàng Kim

còn tiếp ….

Video yêu thích
KimYouTube 

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn; Kim on Twitter