Đồng dao cho em


ĐỒNG DAO CHO EM
ĐỪNG TƯỞNG
Hoàng Kim sưu tầm thơ dân gian và chỉnh lý biên soạn
bài post trên mạng đăng lần 1 (2013), lần 2, lần 3 ở đây
Ở đời nhân nghĩa làm đầu

Đừng tham tưởng bở quên câu ân tình.
Gặp trăng chớ vội quên đèn
Hám tiền quên nghĩa đỏ đen lạc đường.
Đừng tưởng cứ lớn là khôn
Cứ bé là dại, lẫn ông với thằng … (HK)
‘Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ’ (NĐC).

Đừng tưởng cứ núi là cao
Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Cứ trên là sáng, cứ tu là hiền
Đừng tưởng cứ đẹp là tiên
Cứ nhiều là được, cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe là điếc, không trông là mù

Đừng tưởng cứ trọc là sư
Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của là sang
Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây.
Đừng tưởng cứ uống là say
Cứ chân là bước, cứ tay là sờ
Đừng tưởng cứ đợi là chờ
Cứ âm là nhạc, cứ thơ là vần
Đừng tưởng cứ mới là tân
Cứ hứa là chắc, cứ ân là tình.

Đừng tưởng cứ thấp là khinh
Cứ chùa là tĩnh, cứ đình là to
Đừng tưởng già hết hồ đồ
Cứ trẻ là chẳng âu lo buồn phiền
Đừng tưởng cứ quyết là nên
Cứ mạnh là thắng, cứ mềm là thua.
Đừng tưởng đã dấm là chua
Sấm rền là sẽ có mưa ngập trời
Đừng tưởng vui chỉ có cười
Buồn thì ủ rũ, chỉ ngồi khóc than

Đừng tưởng cứ lớn là khôn
Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng
Đừng tưởng bịa có thành không
Nhìn gà hóa cuốc, lẫn ông với thằng
Lúc vui tham bát bỏ mâm
Đến khi hoạn nạn tần mần bỏ đi
Đừng tưởng không nhất thì nhì
Phò thịnh sung sướng, giúp suy nghèo hèn
Gặp trăng chớ vội quên đèn
Hám tiền quên nghĩa đỏ đen lạc đường
Đừng tưởng giàu hết cô đơn
Cao sang hết ốm, gian tham hết nghèo.

Đừng tưởng cứ thấp là hèn
Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.
Đừng tưởng quan chức là rồng,
Dân thường thấp cổ, là không biết gì.
Đời người lúc thịnh, lúc suy
Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.
Bên nhau chua ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!

“Hai chữ đầu tiên HỌC LÀM NGƯỜI
Hãy học hai điều NHÂN NGHĨA” (*)

(*) Hoàng Kim (THƠ CHO CON)

Video yêu thích:

Chào ngày mới niềm vui đang đến …

11.656.705 lượt xem

Chó mèo hoạn nạn cứu nhau
Dốc lòng chung sức yêu thương lẽ thường
Cơ trời thế nước lòng dân
Thuận thời chí thiện chính trung ghi lòng
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam 
Mời bạn comment trên bài “đồng dao cho em” tại trang Facebook của tôi.

Trở về trang chính

Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, Kim on Twitter, Kim on Facebook, Food Crops News, CassavaViet,
foodcrops.vn

Ngày của Cha

Ngày của Cha
CON SẼ LÀ MÀU NẮNG CỦA CHA
Hoàng Kim

Ngày của Cha
Con làm ngựa
Mẹ chụp hình
Vui gia đình
Ngày Hoa Đất

Ngày của Cha
Nhớ ngày giỗ
Năm tháng Năm
Giỗ Tổ Ngoại
nhớ Quảng Bình.

Ngày của Cha
Mười tám sáu
Giữa tháng sáu
Thương Bà Đen
Nhớ Bà Trần
Nhớ thắp hương

Ngày của Cha
Ông thì vui
Bà thì cười
Cha Mẹ mừng
Cháu thì múa

Ngày của Cha
là ngày giỗ
Waterloo
Lưu sử thi
Nhớ Walter Scott

Ngày của Cha
Thấm kiếm bút
Học để làm
Đức làm gươm.

Ngày của Cha
Giữ Môi trường
Lời Olinor Ostrom
Chung Trái Đất

Ngày của Cha
Ngày của Mẹ
Ngày Gia Đình
Nôi hạnh phúc

Ngày của Cha
Cậu làm ngựa
Ngoại chụp hình
Vui gia đình
Ngày Hoa Đất

Ngày của Cha
Bình Minh An
Hát liên tục
Hát liên hoàn
Câu ba chữ

Ngày của Cha

Ngày của Cha là ngày cùng nhớ về tuổi thơ. Tôi đã kể về tuổi thơ tôi trong bài “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” : “Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng”   Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Nhà tôi thuở ấy nghèo quá ! Đói đến mức gần tắt bữa. Mẹ tôi ốm và chết trẻ do hậu sản và suy gan sau khi em tôi mất. Mẹ chết sáng mồng ba Tết “Giáp Thìn bốn chín mẹ quy tiên”. Trước đó, cha đã bán hết tài sản để cứu mẹ nhưng không được. Tài sản đáng giá nhất tôi còn nhớ là: một con bò vàng, hiền nhưng không chịu để ai bắt nạt và có những thế đánh rất giỏi, nổi tiếng khắp cả hai làng Minh Lệ và Hòa Ninh; một căn nhà gỗ mái lợp tranh; một bộ phản cũ và một thùng gỗ vừa là thứ đựng lúa gạo vừa cũng là giường nằm. Mẹ đau nặng, cha bán hết bò, vật dụng và nhà, vừa nói với các con vừa khóc: “Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”. Suốt bao nhiêu năm  trôi qua, khuôn mặt khắc khổ mếu xệch và dòng nước mắt người cha trước sự lựa chọn sinh tử dữ dội luôn thấm mát đời con. Nhà minh con trai con gái ai cũng yêu thương vợ con có lẽ có từ bài học sâu sắc đầu đời này. Trước đó, tôi nghe kể, có lần khi cha bị bắt đi, cha xin chậm lại một chút để chẻ củi nhóm than cho vợ vừa sinh, ông đã tự bổ thẳng vào chân mình, tự thương nên đã tránh được một kiếp nạn.

Mẹ mất lúc tôi lên 9 và chị Huyền tuổi 12. Anh Dộ đi dạy cấp 1 ở xa, chị Huyên đã lấy chồng đều về chịu tang. Hôm mẹ chết, hầu như cả làng đi đưa. Đám tang rất đông vì sinh thời mẹ ăn ở đức độ, phúc hậu và mẹ đẹp người, đẹp nết, chết trẻ vì bệnh hiểm nghèo nên ai cũng thương. Gia đình tôi sau đó còn ba bố con ở chái lều tranh một mái gác xiên trên tường đất cũ. Nền nhà cao hơn một mét, kiềng đá hộc chắc chắn để tránh lụt vô nhà. Nền này, anh Trực tôi đã nhiều đêm cùng cha đào gánh đất đắp nền, trước khi anh tình nguyện đi bộ đội lúc 17 tuổi để cha được miễn dân công hỏa tuyến ở nhà nuôi vợ ốm và hai con nhỏ.

Trong ký ức tuổi thơ của tôi nhớ về mẹ là được dụi đầu vào ngực của người và được mẹ âu yếm. Tôi nhớ ngày còn rất nhỏ theo mẹ đi bán nước chè lá vằng cho bà con cô bác đi chợ, một đọi (chén sành) được hai xu, thỉnh thoảng có người uống đến năm xu, vừa uống vừa xoa đầu tôi: “cháu giỏi lắm, chừng này tuổi mà đã biết giúp mẹ”. Những lúc mệt, tôi lại chạy về ôm mẹ và được mẹ lau mồ hôi cho. Chiếc khăn mẹ thơm mùi trầu cau. Sau này khi đi học, tôi có được thưởng một chiếc khăn mùi xoa. Lúc đó, cha tôi một mình gà trống nuôi con đã nhiều năm. Tôi đưa tặng chiếc khăn cho cha và đó là lần thứ hai  tôi đã nhìn thấy cha khóc; đó cũng là lần đầu tôi làm thơ trong đời.

Chiếc khăn tay

Con cầm về chiếc khăn tay
Của trường, của lớp, của thầy tặng con
Cầm khăn Cụ vui vô cùng
Hai hòn nước mắt tưng bừng tuôn rơi

Gì từng ấy hỡi Cụ ơi
So bằng công Cụ như trời như non
Nuôi con biết mấy năm tròn
Gom từng hột sạu, bòn từng lá rau.

Công ơn của Cụ thẳm sâu
Món quà con đó so đâu công này.

Tôi nhớ về kỷ niệm tuổi thơ bên cha mẹ thật êm đềm. Mẹ cha thường nựng tôi là ‘cục vàng của cụ mạ”, điều này quan hệ đến tên khai sinh và ngày sinh của tôi mà tôi được nghe kể và chứng kiến câu chuyện tuôi thơ khi tôi lên sáu tuổi …

Lời Cha dặn

1948 GIAY CHUNG MINH 1
1948 GIAY CHUNG MINH 2

Cha tôi là lính Vệ quốc đoàn thuộc tiểu đoàn 174, Trung đoàn 18 “Chiến khu thư Tư” của đơn vị bác Lê Văn Tri (sau này là Trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Phó Tư Lệnh Quân chủng Phòng Không Không Quân Việt Nam).Cha bị bom Mỹ giết hại năm 1968. Tôi vắng Mẹ từ tuổi thơ, lớn một chút lại mất Cha vì bom Mỹ giết. Tôi nhớ anh Hai đã thay cha yêu quý và chị gái Hoàng Thị Huyền đã thay mẹ hiền dìu dắt, nâng giấc. Kỹ niệm tuổi thơ yêu thương như dòng sông quê hương thao thiết chảy.

Tôi nhớ tờ giấy ố vàng lời cha dặn:

“Con Kim. Cụ khi mô cũng nhớ ’em’ cả. Con học với thầy phải kính thầy để thầy thương. Con chơi với bạn phải nhường bạn để bạn mến. Con sống với người phải tử tế, phúc đức để họ trọng. Làm gì cũng phải tự ý cẩn thận, đừng nghe người ta xui”.”Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết bán hết tài sản ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”. “ Hoàng Thị Huyền (Thỉu con) sinh buổi sớm 13 tháng 3 năm Mẹo, mặt trời lên ngọn tre. Hoàng Minh Kim sinh gần nửa đêm rằm xuân Gíáp Ngọ, trăng qua ngọn cau hơn hai sào”.

Tôi cất tờ giấy này giữa hai tờ bọc vở của cuốn sổ và mang  tờ giấy này theo bên mình khi rời Nam Quảng Trạch sang bờ bắc rào Nậy (sông Gianh) đến Pháp Kệ, sau đó là Phù Lưu, Đồng Dương để đi học theo anh Dộ tôi đang dạy cấp một. Anh tôi xin thầy Trần Đình Côn, hiệu trưởng nhà trường cho tôi được học cấp ba Bắc Quảng Trạch.

Anh Hai Hoàng Ngọc Dộ của gia đình tôi mất vào lúc gần nửa đêm rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu) năm 1994. Lời anh dạy khắc trên bia mộ “dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm”. Tôi sinh lúc gần nửa đêm rằm xuân Giáp Ngọ 1954 trùng khớp thời khắc đêm anh mất. Kỷ niệm hai anh em lắng đọng trong ha bài thơ ‘Cuốc đất đêm’ và ‘Rằm Xuân’ : “Mười lăm trăng quả thật tròn / Anh hùng thời vận hãy còn gian nan / Đêm trăng nhát cuốc xới vàng / Trăng dòm, ta hẹn trăng càng dòm thêm / Đất vàng, vàng ánh trăng đêm / Đêm khuya ta với nàng quên nhọc nhằn” (Cuốc đất đêm, thơ Hoàng Ngọc Dộ); ” Trăng sáng lung linh trăng sáng quá / Đất trời lồng lộng một màu trăng / Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm / Trăng vẫn là trăng trăng vẫn rằm” (Rằm Xuân, thơ Hoàng Kim). Gốc mai vàng trước ngõ. Ba bài học không quên. Đi như dòng sông. Vầng trăng cổ tích. Mười lăm trăng quả thật tròn là những bài viết về Anh.

Ngày của Cha trong gia đình tôi là ngày nhớ ơn Cha Mẹ, hát ca khúc tuyệt vời Em là hoa hồng nhỏ, ‘Con sẽ là màu nắng của Cha’ để biết ơn Người. Ngày này gia đình tôi ôn lại ký ức tuổi thơ về Mẹ Cha, lời Cha Mẹ yêu thương dặn con, ngày cưới Kim Thủy 20. 6. 1981, ngày sinh Hoàng Tố Nguyên 22.6.2983, ngày tiễn Bà Đen về trời 18.6.2014, ngày giỗ trận Waterloo 18.6.1815 và sử thi Di sản Walter Scott , thấu hiểu nhân văn kiếm bút Cha Anh lấy đức làm gươm; ngày bảo vệ môi trường nhớ lời Olinor Ostrom “Ngôi nhà chung Trái Đất”; Đó là ngày thấm thía Nhớ Mẹ Cha, Hoa của Đất,  Thơ cho con,  Giấc mơ hạnh phúc,



Em là hoa hồng nhỏ

Nhạc và lời Trịnh Công Sơn,
trình bày Nhóm bé Tuổi hoa

Em sẽ là mùa xuân của mẹ
em sẽ là màu nắng của cha
em đến trường học bao điều lạ
môi biết cười là những nụ hoa

trang sách hồng nằm mơ mà ngủ
em gối đầu trên những dòng thơ
em thấy mình là hoa hồng nhỏ
bay giữa trời làm mát ngày qua

Trời mênh mông đất hiền hòa
bàn chân em đi nhè nhẹ
đưa em vào tình người bao la

cây có rừng bầy chim làm tổ
sông có nguồn từ suối chảy ra
tim mỗi người là quê nhà nhỏ
tình nồng thắm như mặt trời xa.”

NGÀY CỦA CHA. “Con sẽ là màu nắng của Cha”.Tôi lưu bài hát này của Trịnh Công Sơn cho chính mình, cho vợ con, cho các cháu và cho người thân. Các cháu lúc nhỏ nghe thơ đồng dao và nhạc Trịnh lớn lên sẽ nghe chuyện ngày xưa: “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,…

Video nhạc tuyển
Bài ca thời gian

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Lên đỉnh Thiên Môn Sơn

LÊN ĐỈNH THIÊN MÔN SƠN
Hoàng Kim

Em cũng đi, anh cũng đi
Đường trần thăm thẳm bước say mê
Núi Thái anh lên ban mai hửng
Cổng Trời em đến nắng lên hương.

Thăm thăm trời, thăm thẳm mây
Ai xui ai chọn hiểm sơn này?
Tự do hai tiếng ngời tâm đức
Thung dung đời, thanh thản vui.

Sông núi thuận, đất phương Nam
Thời thế muôn năm biếng luận bàn
Tình Yêu Cuộc Sống đi cùng Bụt
Cửa nhà mình lối nhỏ bình an.

Em chợp mắt dưới trời Tam Đảo

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày
Video yêu thích

KimYouTube
Sao và Biển

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và học Cây Lương thực Dạy và Học Tình yêu cuộc sống Kim on LinkedIn Kim on Facebook  Kim on Twitter

Ba đặc khu liệu có đột phá?

BA ĐẶC KHU LIỆU CÓ ĐỘT PHÁ?
Bình minh Yên Tử, bài và ảnh Hoàng Kim.

‘Ba đặc khu liệu có đột phá? theo tôi là không. Ba đặc khu đang dự định thành lập chỉ thích hợp cho phát triển du lịch, cơ sở nghỉ dưỡng, dịch vụ vui chơi – giải trí… Và do đó, không cần đưa ra các ưu đãi vượt trội về thuế, về quyền thuê đất lâu dài. Đó là một câu chuyện khác. Luật đầu tư và hợp tác bền vững thành thực phải là vùng đặc khu hợp tác nghiên cứu phát triển trọng điểm hướng tới chén cợm ngon của người dân, lao động, việc làm, an sinh xã hội và giáo dục đào tạo nguồn lực con người hiền tài để phát huy sự tương đồng văn hóa. Một dân tộc truyền kiếp bị đối xử không bình đẳng thì độc lập, tự do, hạnh phúc là điểm tương đồng sâu sắc nhất ‘ (Hoàng Kim)

Chính phủ Việt Nam chính thức lùi thời gian trình dự án Luật Đặc khu. Theo Thông báo của Văn phòng Chính phủ (Chinhphu.vn) thứ bảy 09/06/2018 02:44 về Dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt: ” Chính phủ đã thống nhất với Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ trình Quốc hội xem xét, cho lùi việc thông qua Dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt từ Kỳ họp thứ 5 sang Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV để có thêm thời gian nghiên cứu, hoàn thiện. Dự án Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc đã được xây dựng công phu, kỹ lưỡng, nhằm thể chế hóa các Nghị quyết của Đảng và cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng 3 đặc khu kinh tế, tạo cực tăng trưởng và thử nghiệm thể chế phát triển vùng có tính đột phá, có sức lan tỏa lớn. Dự án Luật đã được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV. Tại kỳ họp này, sau khi tiếp thu các ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các vị đại biểu Quốc hội, các nhà khoa học, nhà kinh tế, chuyên gia, cử tri và nhân dân cả nước, Chính phủ đã thống nhất với Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ trình Quốc hội xem xét, cho lùi việc thông qua Dự án Luật này từ Kỳ họp thứ 5 sang Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV để có thêm thời gian nghiên cứu, hoàn thiện nhằm bảo đảm dự án Luật khi trình Quốc hội thông qua đáp ứng được các yêu cầu, nguyện vọng của các vị đại biểu Quốc hội, cử tri và nhân dân, xây dựng thành công 3 đặc khu, giữ vững an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia. Riêng về vấn đề thời hạn cho thuê đất, sẽ xem xét, trình Quốc hội cho áp dụng như các quy định của Luật đất đai, không quy định trường hợp đặc biệt kéo dài đến 99 năm.”

Thông báo của Văn phòng Chính phủ đã cho thấy thế nước lòng dân ý Đảng và thể chế dân chủ đã đạt được một bước phát triển mới. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quyết định lùi thời gian trình dự án Luật Đặc khu sáng suốt để nghiên cứu hoàn thiện nhằm không rơi vào những nguy cơ tiềm ẩn và thảm họa khi quyết sách sai lầm.

BÀN VỀ LUẬT ĐẦU TƯ ĐẶC KHU

“Con người nào làm ra văn hóa ấy…” cụ Nguyên Ngọc đã cảnh báo sớm những khác biệt và biến thái trong định hướng đầu tư phụ thuộc vào con người và tầm văn hóa.

Trung Quốc nhiều năm nay tập trung đầu tư vùng đặc khu kinh tế trực thuộc trung ương: Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc đất nước Trung Hoa động loạn”

Bàn về việc lựa chọn địa điểm và nhóm ngành nghề ưu đãi đầu tư của Việt Nam vào Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, giáo sư tiến sĩ Trần Văn Thọ thẳng thắn: “Ba đặc khu đang dự định thành lập chỉ thích hợp cho phát triển du lịch, cơ sở nghỉ dưỡng, dịch vụ vui chơi – giải trí… Và do đó, không cần đưa ra các ưu đãi vượt trội về thuế, về quyền thuê đất lâu dài”. ” Ba câu hỏi cần trả lời. Cho đến nay nhiều chuyên gia kinh tế, luật sư và một số đại biểu Quốc hội đã nêu nghi vấn về tác động kinh tế của ba đặc khu dự kiến và sự lo ngại về an ninh quốc gia khi cho phép người nước ngoài thuê đất lâu dài. Tôi chia sẻ với nhiều nghi vấn và lo ngại này và muốn phân tích thêm từ vài khía cạnh khác. Để đánh giá khách quan, trước hết cần đặt ra 3 câu hỏi. (1) Nhu cầu phát triển sắp tới của đất nước là gì? Các đặc khu có đáp ứng được các nhu cầu đó không? (2) Nền kinh tế đã phụ thuộc vào tư bản nước ngoài rất nhiều rồi, giai đoạn tới phải vừa nuôi dưỡng, khuyến khích tư bản dân tộc phát triển vừa chọn lựa những nhà đầu tư nước ngoài thật sự cần thiết ở những lãnh vực trong nước chưa đủ năng lực. Ngoại lực đó phải có sức lan tỏa giúp cho nội lực ngày càng mạnh. Các đặc khu đã được thiết kế để đáp ứng yêu cầu này chưa? (3) Những tập đoàn, công ty nước ngoài nổi tiếng có công nghệ cao, có nguồn lực và văn hóa kinh doanh tiên tiến mà chúng ta cần họ đến đầu tư đang đánh giá Việt Nam như thế nào? Họ mong Việt Nam tạo môi trường như thế nào để họ mang các dự án chất lượng cao đến và các đặc khu kinh tế có hy vọng đáp ứng các yêu cầu đó không?”.

Rõ ràng câu hỏi đã được đặt ra là xác định vùng đặc khu kinh tế “VÙNG CÓ TÍNH ĐỘT PHÁ , CÓ SỨC LAN TỎA LỚN?” và luật đầu tư, giải pháp phát triển thích hợp bền vững cho vùng đó. Xiết chặt luật đầu tư đặc khu là thiết thực, quan trọng và rất cần thiết. Không thể và không nên sai lầm trong quyết sách sinh tử này. Một số thông tin phản biện do các chuyên gia trao đổi , chúng tôi đã ghi lại ở cuối bài “Các thầy không phải tranh cãi nhau”. Đọc lại và suy ngẫm Thông báo kết luận của Bộ Chính trị xây dựng đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh) Bắc Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) và Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang) số 21 TB/TW ngày 22.3. 2017, và Luật đơn vị Hành chính Đặc biệt 2017 Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc https://thuvienphapluat.vn/…/luat-don-vi-hanh-chinh-kinh-te…. với kết luận mới nhất của Thủ tướng Chính phủ qua thông báo của Văn phòng Chính phủ hôm nay (9.6.2018) : “Chính phủ đã thống nhất với Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ trình Quốc hội xem xét, cho lùi việc thông qua Dự án Luật này từ Kỳ họp thứ 5 sang Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV để có thêm thời gian nghiên cứu, hoàn thiện nhằm bảo đảm dự án Luật khi trình Quốc hội thông qua đáp ứng được các yêu cầu, nguyện vọng của các vị đại biểu Quốc hội, cử tri và nhân dân, xây dựng thành công 3 đặc khu, giữ vững an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia. Riêng về vấn đề thời hạn cho thuê đất, sẽ xem xét, trình Quốc hội cho áp dụng như các quy định của Luật đất đai, không quy định trường hợp đặc biệt kéo dài đến 99 năm.”

Việt Nam may mắn lần này đã chưa lặp lại bài học lịch sử “Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa” của triều đình Đại Nam nhà Nguyễn ký kết với Pháp hòa ước Nhâm Tuất cắt nhường 3 tỉnh Đông Nam Kỳ cho Pháp để trả chiến phí và “giữ để hòa”. Ngày 5 tháng 6 năm 1862 là ngày hòa ước Nhâm Tuất ‘cắt đất’ để sau đó triều Nguyễn buộc sửa sai bằng cách xin chuộc lại 3 tỉnh Đông Nam Kỳ để tránh trọng tội trước nhân dân và lịch sử muôn đời. Thế nhưng sau đó triều Nguyễn đã buộc phải mất luôn ‘Lục tỉnh Nam kỳ’ nhượng địa và sau đó là mất toàn bộ nước Đại Nam bị Pháp “bảo hộ”, trước tham vọng tìm kiếm thuộc địa của tư bản phương Tây và tham vọng mở rộng tầm ảnh hưởng, tìm kiếm nguồn lợi từ Việt Nam của nước Pháp thực dân. Dân tộc Việt Nam suốt ba mươi năm 1945 -1975 đã phải đổ bao xương máu mới giành lại được độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ.

Đó là bài học lịch sử rất gần và thật thấm thía.

Người dân lần này tuy chưa thể nhân diện rõ hơn những khuôn mặt thời cuộc vì chưa “bấm nút’ và toàn dân chưa có cơ hội được biết công khai theo luật định ‘ai là ai” : những đại biểu nào tán thành thông qua, những đại biểu nào bỏ phiếu trắng, những đại biểu nào không đồng ý thông qua. Dẫu vậy thật may mắn là sự cảnh báo công khai hiểm họa tiềm ẩn và sự nhận diện con người ‘ai là ai’ đã được rõ hơn. Đó là bước tiến mới cũng cố thế Nước và lòng tin của Dân tốt hơn.

VÙNG KINH TẾ CÓ TÍNH ĐỘT PHÁ?

Nhân thức về “vùng đặc khu kinh tế có tính đột phá có sức lan tỏa lớn” quan hệ rất mật thiết với thế nước và lòng dân, minh quân và hiền tài, tâm đức và tầm nhìn, tài năng và quy tụ, sự đánh giá hiện trang, phân tích SWOT của từng địa điểm cụ thể

Thật thấm thía với phản biện của Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Thọ là “Ba đặc khu đang dự định thành lập chỉ thích hợp cho phát triển du lịch, cơ sở nghỉ dưỡng, dịch vụ vui chơi giải trí… và do đó, không cần đưa ra các ưu đãi vượt trội về thuế, về quyền thuê đất lâu dài” .

Vùng kinh tế có tính đột phá cần ưu tiên đầu tư cho nơi hội tụ lao động, việc làm, hiệu quả kinh tế và an sinh xã hội. Tôi thao thức với ba câu hỏi:

(1) Chiến lược tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam khẩn thiết nên đầu tư ưu tiên PHÁT TRIỂN NỘI LỰC cho vùng miền và nhóm ngành thích hợp nào? Định hướng đầu tư của Chính phủ và luật đầu tư cho vùng kinh tế trọng điểm?

Hiện nay hơn 40% lao động còn làm việc trong nông nghiệp với năng suất thấp. Mặt khác, khu vực cá thể, hộ gia đình (cũng năng suất thấp) còn chiếm hơn 30% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Do đó chiến lược sắp tới phải thúc đẩy phát triển kết nối nông lâm thủy sản và công nghiệp, dịch vụ theo hướng hiện đại (chú trọng giống tốt năng suất và chất lượng, thương hiệu vượt trội, kỹ thuật thâm canh, quy trình sản xuất tiên tiến VIETGAP, công nghệ mới và tăng quy mô nhà máy, cơ sở sản xuất) để thu hút lao động dư thừa và lao động cá thể, thực hiện phát triển vừa bao trùm vừa với tốc độ cao.

Sáu vùng công nghiệp tại Việt Nam đã được quy hoạch, tầm nhìn đến năm 2020: Vùng 1 gồm 14 tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hòa Bình, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái tập trung phát triển thủy điện, chế biến nông, lâm sản, khai thác và chế biến khoáng sản, hóa chất, phân bón, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và công nghiệp chế biến; Vùng 2 gồm 14 tỉnh, thành Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, được định hướng tập trung phát triển ngành cơ khí, nhiệt điện, phát triển ngành điện tử và công nghệ thông tin, hóa chất, luyện kim, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, tiếp tục phát triển nhanh công nghiệp dệt may, da giày phục vụ xuất khẩu, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; Vùng 3 gồm 10 tỉnh, thành Bình Định, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản, lọc và hóa dầu, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu xây dựng và dệt may, da giày, ngành điện tử và công nghệ thông tin; Vùng 4 gồm 4 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum tập trung phát triển thủy điện, công nghiệp chế biến nông, lâm sản và khai thác, chế biến khoáng sản; Vùng 5 gồm 8 tỉnh, thành Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh) tập trung phát triển công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí, điện, chế biến nông, lâm, hải sản và đặc biệt là công nghiệp cơ khí, điện tử, công nghiệp phần mềm, hóa chất, hóa dược, phát triển công nghiệp dệt may, da giày chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, phát triển công nghiệp trên cơ sở áp dụng công nghệ cao, phát triển các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao; Vùng 6 gồm 13 tỉnh, thành An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Cà Mau, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản hướng vào xuất khẩu, các ngành công nghiệp sử dụng khí thiên nhiên, ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sau thu hoạch và bảo quản, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, cơ khí đóng tàu.

(2) Quy hoạch phát triển nông công nghiệp thực phẩm, cụm đô thị liên hợp, giao thông du lịch văn hóa ẩm thực Việt Nam làm đòn bẩy phát triển kinh tế như thế nào?.

Lao động Nông nghiệp Việt Nam hiện có trên 22 triệu người chủ yếu tập trung ở nông thôn khoảng 69 %, khu vực thành thị khoảng 31 %. Việt Nam là nước nông nghiệp với nhiều lợi thế từ các sản phẩm nhiệt đới nhưng sự biến tiềm năng đó thành hiện thực, làm động lực cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn và sản phẩm có thương hiệu và khả năng cạnh tranh còn rất hạn chế. Hệ thống ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản Việt Nam đang đào tạo chính trong 9 nhóm ngành nghề nông lâm ngư nghiệp thủy sản gồm: 1. Ngành Trồng trọt: 2. Ngành chăn nuôi: 3. Ngành Nông học: 4. Ngành Bảo vệ thực vật; 5. Ngành lâm nghiệp 6. Ngành Nông lâm kết hợp 7. Ngành Nuôi trồng thủy sản: 8. Ngành Cảnh quan và Kĩ thuật hoa viên: 9. Ngành Quản lí đất đai; Việc chuyển đổi tầm nhìn và đầu tư sâu vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp sinh thái và những ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như công nghệ phần mềm, tài chánh,…để tận dụng tốt hơn các lợi thế thiên nhiên và di sản văn hóa phát triển dịch vụ du lịch.là rất cần thiết. Ngành Nông Lâm Ngư nghiệp nằm trong các nhóm ngành có thu nhập không cao, nhưng mỗi năm Việt Nam cả nước cần cung cấp ổn đinh trên 1 triệu lao động cho các nhóm ngành chính: Nông nghiệp 58.000 – 60.000 người/năm, Lâm nghiệp 8.000 – 10.000 người/năm, thủy lợi 7.000 – 9.000 người/năm; thủy sản 8.000 – 8.500 người/năm. Nông nghiệp Việt Nam cần kết nối mạnh mẽ hơn với Du lịch sinh thái giáo dục lịch sử văn hóa. Việt Nam có ba vùng du lịch sinh thái trọng điểm: Vùng du lịch Bắc bộ, Vùng du lịch Trung bộ, Vùng du lịch Nam bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Vùng du lịch Bắc bộ lấy Hà Nội làm trung tâm với trục động lực là Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long. Vùng du lịch Trung bộ lấy Huế và Đà Nẵng làm trung tâm và trục động lực là Quảng Bình – Quảng Trị – Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam – Quảng Ngãi . Vùng du lịch Nam bộ Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung lấy trung tâm là thành phố Hồ Chí Minh, với các trục động lực là thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Hà Tiên – Phú Quốc với TP. Hồ Chí Minh – Vũng Tàu – Phan Thiết – Nha Trang và TP. Hồ Chí Minh – Đà Lạt – Nha Trang- Buôn Me Thuột – Kon Tum.

(3) Đầu tư phát triển công nghiệp Việt Nam cần làm gì để vượt qua giai đoạn lắp ráp, gia công. Nhóm giải pháp chính để đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia cao hơn vào mạng lưới cung ứng toàn cầu hoặc khu vực?

Cơ cấu thành phần của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Tổng tỷ trọng đầu tư nước ngoài ở hai khu vực này chiếm khoảng 77% và 67% tổng số vốn đăng ký. Vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp mặc dù nhà nước Việt Nam rất khuyến khích nhưng chỉ chiếm hầu như không đáng kể. Ngành chế biến chế tạo dù đạt mức cao nhất về số dự án nhưng không chiếm giá trị cao nhất về giá trị vốn đăng ký trên một dự án. Lĩnh vực xây dựng và bất động sản hiện xếp thứ nhất về giá trị vốn đầu tư nước ngoài đăng ký dự án vào ngành du lịch.

SUY NGẪM TỪ NÚI XANH THÁI SƠN

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có hai cuốn sách lớn “Làm việc với những thứ thật, bước đi ở vị trí hàng đầu” và “Những Suy tư từ sông Dương Tử“ góp phần giúp ông giành thắng lợi trong cuộc bầu cử khó khăn chọn ra người đứng đầu chính phủ cùa một quốc gia hơn 1, 34 tỷ người, dẫn đến việc chuyển giao quyền lực năm 2012. Tư tưởng và đường lối chính trị của vị lãnh tụ này hiện còn là điều bí ẩn. Thế giới chỉ có thể suy đoán và hiểu người qua việc làm và dư luận. Năm năm qua (2012-2017) Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được đánh giá là đang trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết và đang tiếp tục nhiệm kỳ thứ 2 trên cương vị Tổng bí thư trong 5 năm, từ 2017-2022.

Peter Martin và David Cohen có bài viết : “ Mao and Forever: Xi Jinping’s Authoritarian Reforms” (Những cải cách độc đoán của Tập Cận Bình: theo Mao và mãi mãi theo Mao), người dịch Huỳnh Phan. Bài nghiên cứu giúp chúng ta một góc nhìn đối thoại. Mao Trạch Đông là một nhân vật hiếm có trong lịch sử, nghìn năm công tội. Thời gian và sự khen chê không thể xóa nhòa những dấu ấn nổi bật của Mao. Chọn theo Mao là chọn theo đường lối thực tiễn “có lý, có lợi, đúng lúc”.

Tôi đã đến Trung quốc nhiều lần, có mấy lần ăn cơm chung với nông dân trên núi cao và ngoài ruộng. Năm 1996, có dịp khảo sát vùng khoai lang ở Sơn Đồng và Giang Tô. Năm 2014, tôi dạo chơi Thiên An Môn, Cố Cung, Di Hòa Viên, Thiên Đàn trong ngày Quốc tế Lao động, ngắm những nơi lưu dấu các di sản của những triều đại hiển hách nhất Trung Hoa, lắng nghe đất trời và các cổ vật kể chuyện. Tôi ngắm nhìn người nghệ sĩ nhân gian, vui cùng ông và đùa cùng trẻ thơ. Ngày trước đó, tôi vinh hạnh được làm việc với giáo sư Zhikang Li, trưởng dự án Siêu Lúa Xanh (Green Super Rice) chương trình nghiên cứu lúa nổi tiếng của CAAS & IRRI và có cơ hội tiếp cận với các nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc. Năm 2018 này, tôi lại có cơ hội tự mình đi du lịch bằng tàu cao tốc từ Bắc Kinh qua Thiên Tân đến Sơn Đông khảo sát nhanh nông nghiệp Trung Quốc, chuyến đi hơn 600 km chỉ hai tiếng. Những điều tôi được trực tiếp chứng kiến là tích cực và ấn tượng. Suốt dọc đường tới Thiên Tân và ba thành phố khác đến thành phố Thái An Sơn Đông, tôi đã lưu được 5 video hình ảnh nông nghiệp Trung Quốc ngày nay để so sánh thấy được sự đổi thay cực kỳ ấn tượng của sản xuất nông nghiệp nước bạn.

Suy ngẫm từ núi Xanh (景山, Jǐngshān, Cảnh Sơn, Green Mount), ngọn núi địa linh của đế đô Bắc Kinh, suy ngẫm từ đỉnh núi Thái Sơn ở Sơn Đông, tôi tâm đắc lời nhắn gửi sâu xa của bậc hiền minh lỗi lạc Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Muốn bình sao chẳng lấy nhân / Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình” “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình) (Vạn lý Đông minh quy bá ác/ Ức niên Nam cực điện long bình). Suy ngẫm về cuộc cách mạng Xanh và đỉnh cao Hòa Bình. Chủ tịch Tập Cận Bình đang tiếp nối Tổng thống Tôn Trung Sơn để phát triển chủ thuyết liên Nga thân Việt trừ tà tứ toàn, một vành đai một con đường, ông cam kết những điều tốt đẹp với Việt Nam. Thế nhưng tại sao động thái tình hình thực tế của hai nước nhiều việc chưa tạo đủ niềm tin bạn hữu. Việt Nam tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi. Tôi sẽ còn viết tiếp chuyện này. https://hoangkimlong.wordpress.com/…/tu-mao-trach-dong-toi…/

Lời giáo sư Norman Borlaug văng vẳng bên tai tôi: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó.” Sự hiền minh lỗi lạc của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, và di sản vô giá của giáo sư Norman Borlaug cùng với các bậc Thầy về cách mạng xanh mãi mãi là niềm tin và nổ lực của chúng ta !

Ba đặc khu liệu có đột phá? theo tôi là không. Ba đặc khu đang dự định thành lập chỉ thích hợp cho phát triển du lịch, cơ sở nghỉ dưỡng, dịch vụ vui chơi – giải trí… Và do đó, không cần đưa ra các ưu đãi vượt trội về thuế, về quyền thuê đất lâu dài. Đó là một câu chuyện khác. Luật đầu tư và hợp tác bền vững thành thực phải là vùng đặc khu hợp tác nghiên cứu phát triển trọng điểm hướng tới chén cợm ngon của người dân, lao động, việc làm, an sinh xã hội và giáo dục đào tạo nguồn lực con người hiền tài để phát huy sự tương đồng văn hóa.

Một dân tộc truyền kiếp bị đối xử không bình đẳng thì độc lập, tự do, hạnh phúc là điểm tương đồng sâu sắc nhất.

Hoàng Kim

Bài liên quan cùng chủ đề:

MÙA HÈ: THỜI SỰ & PHÂY-BÚC

Nguyễn Tử Siêm

Thời tiết nóng, nhận mấy việc làm thuê ở Duyên hải miền Trung, nhân tiện tắm biển, hóng tý gió. Nghỉ mát lại có đồng ra đồng vào cũng thích. Vào mạng không ngờ chẳng được mát lại thấy nóng vì mấy cái Dự luật.

+ Dự luật Đặc khu: Không được đọc, chỉ nghe trích, không biết trúng trật thế nào. Ai có bản công bố chính thức cho xin thì cảm ơn quá. Qua lời trích và bình, thấy dân lo mất đất, một nỗi lo chính đáng.

+ Là người làm về đất, tôi nghĩ: “Cho thuê đất: Không được !”. Nghĩ thế, chứ mình là 1/96 triệu nhằm nhò gì, lỡ cứ bỏ phiếu thì sẽ rơi vào luật xác suất, chỉ 1 nút ấn đỏ là gay. Tuyệt đại bộ phận dân ngán ngại Tầu vào.

+ Cấp trên cứ bảo dân hiểu lầm, nếu hiểu lầm cũng không lỗi tại dân, mà tại các ông/bà chuẩn bị luât, chưa đủ minh bạch, thông tin không kịp thời.

+ Đọc lõm bõm cũng thấy nhiều chuyên gia thượng thặng phân tích thiệt hơn, rất thuyết phục rằng “Không”. CP đề nghị, QH hoãn biểu quyết là phải, nghe dân chỉ có tốt hơn. Còn hồi sau quyết thế nào dân với CP lại cùng bàn, cứ theo lời khuyên của cụ Hồ là trúng. Cụ bảo: “Dân có quyền đuổi Chính phủ”. ” CP không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa”. Dân tất nhiên là công dân đàng hoàng.

+ Dự luật về Mạng: đã thông qua, có hiệu lực từ 1/1/2019. Nước ta thứ hạng IT không thấp, người dùng mạng đáng nể, chuyên gia mạng không xoàng sẽ nghe họ bàn 1 năm rưỡi nữa xem liệu nó có cản trở phát triển và quan hệ quốc tế không.

Chú Elon Musk vừa rao bán gói cước internet toàn cầu, giá cực mềm $ 9.99. Cứ cho là 200 ngàn VND đi, bớt lương hiu mua 1 gói dung lượng 1.000 GB mỗi tháng thì có mà nhắn nhòe đi toàn cầu với tốc độ 10.000 Mbps. Cái này khó quản, nếu “Không quản được thì cấm”, là khối anh sẽ xài vụng. Riêng mình đang hóng xem binh tình thế nào rồi mới quyết.

Viết mấy dòng tự sự này mà cũng mất cả tiếng; lẽ ra viết một bài giảng về Khuyến nông trong bối cảnh NN 4.0 thì xong rồi. Nghĩ tiếc thời gian; những ý nghĩ nông cạn này rồi cũng xóa đi cho fb mát mẻ.
(NTS 12.6.2018)./.

PS. Bạo lực: Không !. Trẻ đánh nhau còn phải can nữa là đốt phá, đánh, đấm …ở cái nước yên bình này không ai chấp nhận và không thể biện bạch được. Pháp luật các nước nào cũng vậy. Ra nước ngoài, không dại gì mà dính; vì hành động này, dù trong hay ngoài biểu tình, cũng bị còng tay liền.

Tôi không hiểu nổi “vụ việc kinh hoàng, không ai tưởng tượng được” ở Bình Thuận. Thánh M. Gandhi, cả đời theo đuổi tư tưởng đấu tranh bất bạo động, cũng nói: rằng “Tôi phản đối bạo lực ngay cả khi nó làm điều thiện, điều thiện chỉ là tạm thời; cái ác nó gây ra là vĩnh viễn”.
(NTS 13.6.2018)./.

Nguyễn Tử Siêm Tôi sắp đi Phan Thiết mà chưa hiểu cái vụ ‘kinh hoàng không thể tưởng’ như vài báo đưa. May đọc fb chị Nguyễn Phạm Thu Uyên mới hiểu bản chất sự kiện, không phải như ‘tưởng tượng bao la’ của một số người. Chị đi cá nhân, ko gặp lãnh đạo, chỉ hỏi dân.

Nguyên Ngọc về Tây Nguyên

NGUYÊN NGỌC VỀ TÂY NGUYÊN
Hoàng Kim

Nguyên Ngọc về Tây Nguyên
‘Bạn bè tôi ở đó’
‘Tản mạn nhớ và quên’
‘Rừng Xà Nu’, ‘Đất Quảng’.

Chí bền chân không mỏi
‘Đường chúng ta đi’ hoài
‘Lắng nghe cuộc sống’ gọi
Nguyên Ngọc ngọc cho đời.

Thung dung ngày nắng hạ
Chuyển mùa ngắm mưa rơi
Cuối dòng sông là biển
Cây đời mãi xanh tươi

Nguyên Ngọc những trang văn ám ảnh: Nước mội, rừng xanh và sự sống; Phát triển bền vững ở Tây Nguyên; Nguyễn Khải nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi (trong Ngọc cho đời). Văn là Người. Cụ là nhà văn chiến sĩ dấn thân suốt đời không mệt mỏi, có những trang văn thắp lửa, dữ dội và minh triết. Bất luận khen chê, Cụ là người thật đáng tôn kính.

NGUYÊN NGỌC VỚI TÂY NGUYÊN

Nguyên Ngọc có nhiều tác phẩm viết về Tây Nguyên nhưng ấn tượng và sâu sắc nhất trong tôi là Phát triển bền vững ở Tây Nguyên. Kết luận cho bài này, Nguyên Ngọc viết: “††Vấn đề Tây Nguyên về nhiều phương diện là một vấn đề lớn lại có những đặc trưng riêng trong sự phát triển chung của cả nước. Vấn đề này vốn đã không hề đơn giản, nay đã càng trở nên hết sức phức tạp, khó khăn, có thể còn khó khăn lâu dài, với những diễn biến cũng có thể còn chưa lường được hết và còn bất ngờ. Song vấn đề cũng có thể trở nên đơn giản hơn, vẫn có thể có lối ra, nếu ta dám thật sự nhìn lại tình hình một cách khách quan, nhận ra sai lầm lớn lẽ ra hoàn toàn có thể không mắc phải nếu biết tôn trọng thực tế và biết lắng nghe, từ đó nghiêm túc xác định lại quan điểm đúng, để có cách nhìn và cách hành xử thích hợp, đặc biệt biết thật sự tôn trọng các dân tộc bản địa Tây Nguyên, một bộ phận tuy có đến chậm hơn nhưng từng gắn bó rất sâu sắc, có đóng góp hết sức to lớn trong tiến trình lịch sử gian nan mấy thế kỷ qua của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ở Tây Nguyên nếu không thật sự đặt quyền lợi của các dân tộc bản địa lên trên hết, là mục tiêu hàng đầu của mọi kế hoạch phát triển, thì chắc chắn không việc gị có thể thành công, sẽ thất bại tất yếu, thậm chí có thể đi đến thảm họa”. “††††††††††† Nhà Tây Nguyên học xuất sắc Jacques Dournes có một câu bất hủ khi nói về Tây Nguyên, ông viết: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu”. Đối với Tây Nguyên, cần một sự hiểu biết và một tình yêu đầy sự tôn trọng thật sự, một sự tôn kính chân thành và đấy ưu tư đối với một vùng đất và một vùng văn hoá vào loại độc đáo nhất còn lại trên đất nước ta và trên thế giới ngày nay.“.”Cần có một tình yêu đầy tôn trọng như vậy, để ra sức tìm hiểu sâu sắc vùng đất và người hết sức quan trọng và vô cùng đặc sắc này, từ đó mà có chủ trương và hành động đúng, mới mong có thể thoát ra khỏi bế tắc hiện tại, đưa Tây Nguyên vững chắc vào tiến trình phát triển chung của đất nước, vì Tây Nguyên, và vì cả nước“. Phát triển bền vững ở Tây Nguyên đọc lại và suy ngẫm từng luận điểm mới thấm thía và hiểu Nguyên Ngọc nói và viết tâm huyết biết bao. ††††

Nguyên Ngọc trong bài Nước mội, rừng xanh và sự sống đã viết: “Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn… Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này. Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước” HỌC MỖI NGÀY 20 2 2010 Nguyên Ngọc: Nước mội, rừng xanh và sự sống,  trích dẫn Kinh tế Sài Gòn Online (Cát Tiên – ảnh Hoàng Kim). Kết luận bài viết Nguyên Ngọc: Nước mội, rừng xanh và sự sống thật nhức nhối cấp thiết thoáng chốc đã trên 9 năm: “Cần ngay bây giờ chấm dứt mọi khai phá ở Tây Nguyên. Cần nghĩ đến một con đường sống khác, một kiểu sống khác, một kiểu phát triển khác. Trên cả nước. Trước hết trên mái nhà sinh tử Tây Nguyên. Bắt đầu lại một công cuộc cứu lấy Tây Nguyên. Bắt đầu một sự nghiệp to lớn trồng lại rừng Tây Nguyên, trong một trăm năm, quyết liệt, kiên định, thông minh, với những kế hoạch cụ thể, cho 50 năm, 20 năm, 10 năm, 5 năm, toàn Tây Nguyên, từng tỉnh, từng huyện, từng xã, từng làng. Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên. Bắt đầu ngay từ hôm nay, mùa xuân, mùa của màu xanh, của sự tỉnh táo, khôn ngoan. Cho đến một ngày, có thể một trăm năm nữa, con cháu chúng ta sẽ có thể bụm vào lòng bàn tay một ngụm nước mội trong veo mát lạnh rỉ ra từ đất cát và ngửa cổ uống ngon lành. Và biết rằng cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt, lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn“.

NGUYÊN NGỌC NGỌC CHO ĐỜI

Nguyên Ngọc ngọc cho đời, cuộc đời và tác phẩm có thật nhiều điều đáng đọc lại và suy ngẫm: Nguyên Ngọc có một khối lượng đồ sộ tác phẩm mà bài viết nào cũng chắc tay, dường như không có non lép. Người đương thời và bạn hữu nói và viết về ông, rất nhiều khen, nhưng cũng có người chê. Tôi ấn tượng nhất và thường đọc lại  hơn cả là hai bài trên Phát triển bền vững ở Tây Nguyên; Nước mội rừng xanh và sự sống và đã có trích dẫn dưới đây để thỉnh thoảng tự chính mình đọc lại. Nguyên Ngọc kể cả những bài mới đây nhất và cũng thuộc loại nhậy cảm nhất là “Con người nào thì làm ra văn hóa ấy …” (bài viết trên VHNA). Những phản biện của Cụ Nguyên Ngọc như quan gián nghị đại phu cương trực xưa, thuốc rất đắng khó uống, rất chối tai khó nghe, nhưng thật sự uyên thâm, mạch lạc và sâu sắc. Chúng ta không phải điều nào cũng đồng tình với Cụ nhưng xã hội và minh quân rất cần những lời khó nghe và minh triết ấy, đó là chính kiến trí tuệ.  “Con người nào làm ra văn hóa ấy…” cụ Nguyên Ngọc đã cảnh báo sớm những khác biệt và biến thái trong định hướng đầu tư phụ thuộc vào con người và tầm văn hóa.  Vụ Sơn Trà và điểm nóng Đà Nẳng bùng phát mới đây (2017) thì  trước đó (năm 2006) ông đã từng cảnh báo  “Phát triển bền vững là phát triển một cách có văn hóa” … Các làng ven đô đang bị các khu công nghiệp (và biệt thự biển) mọc lên với tốc độ ngày càng nhanh nuốt chững hết đất, và cùng với đất là văn hóa lâu đời của các xứ đất ấy. họ đổ ra thành phố với một cục tiền đền bù chưa bao giờ cầm được to tướng đến vậy nhưng không còn đất, và đương nhiên cả cái văn hóa nghìn đời của đất ấy. Họ đổ ra thành phố, bơ vơ, vô nghề nghiệp, và điều này có thể nguy hơn nữa : bổng trở thành ‘vô văn hóa’ luôn. Văn hóa không phải theo nghĩa dăm ba chữ học hành , mà theo nghĩa những gì hàng nghìn năm con người đã tạo nên được cho tâm hồn mình do vật lộn và gắn bó sinh tử với đất mẹ quê hương. (Nguyên Ngọc lắng nghe cuộc sống NXB Văn Nghệ trang 163-175)

Cụ Nguyên Ngọc viết về Cụ Nguyễn Khải khi Cụ Nguyễn Khải từ biệt “Cõi nhân gian bé tí” để đi về cõi vĩnh hằng. Cụ Nguyên Ngọc viết “Nguyễn Khải nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi” (Hoàng Kim trích dẫn đầy đủ trong Ngọc cho đời): “Trước hết, tôi muốn nói điều này: đấy là người tài năng nhất trong thế hệ của chúng tôi, thế hệ những người cầm bút vậy mà hóa ra vắt qua cả mấy thời kỳ lịch sử quan trọng: một chút thời Pháp thuộc, đầy đủ Cách mạng Tháng Tám, đẫm mình trong hai cuộc chiến tranh lớn, và cả hòa bình nữa… Cái quan định luận, bây giờ thì có thể nói như thế này rồi: Nguyễn Khải đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp đồ sộ, một bức tranh toàn cảnh sẽ vô cùng cần thiết để hiểu một thời vào loại quan trọng nhất của đất nước. Và có hiểu được như vậy thì mới đi tới được, ít đau khổ hơn và ít vấp váp hơn. Nguyễn Khải có viết một câu hết sức ưu ái đối với tôi, anh bảo tôi “là nhà tư tưởng của thế hệ chúng tôi”. Anh thương tôi quá mà nói vậy. Anh mới chính là nhà tư tưởng ấy, bởi nhà văn mà là nhà tư tưởng thì phải thể hiện các tư tưởng ấy ra trong tác phẩm của mình. Và anh mới là người làm được xuất sắc điều đó…“.

ĐẾN VỚI TÂY NGUYÊN MỚI

Cụ Nguyên Ngọc về Tây Nguyên ngày nay lúc cụ đã luống tuổi. Cụ ăn lẫu phố Núi và lưu ảnh kỷ niệm với nhà văn Tây Nguyên Văn Công Hùng, vơi đôi mắt nhìn thẳng trực diện tinh tường. Cụ bút lực trên 88 tuổi vẫn chưa suy giảm và vẫn trên đường xa. .

Đến với Tây Nguyên mới, trao đổi với nhiều thầy bạn quý ở Tây Nguyên, chúng tôi đồng cảm với thái độ và trách nhiệm dấn thân, biết tôn trọng và lắng nghe sự thật. Hiểu là một cách cảm ơn chân thành nhất. Lắng nghe cuộc sống để thấu hiểu

Tôi noi gương những thầy bạn ưu tú dấn thân nghề nông và noi gương nhà văn lão thành để lưu lại những trang đời lắng đọng. Nguyên Ngọc những trang văn ám ảnh. Tôi biết ơn nhà văn Nguyên Ngọc đã nói hộ lòng mình. Tôi noi gương nhà văn lão thành để viết Nguyễn Khải ngọc cho đời, lắng nghe cuộc sống,Tôi noi gương nhà văn lão thành để viết Nguyễn Khải ngọc cho đời, đọc lại và suy ngẫm Đến với Tây Nguyên mới láng nghe cuộc sống , xem tiếp bài học mới https://hoangkimlong.wordpress.com/category/den-voi-tay-nguyen-oi-2/

(còn nữa…)

Hoàng Kim

Nhớ kỷ niệm một thời

NHỚ NGƯỜI THÂN

Congoisaomaymanphiachantroi
TA GÕ BAN MAI VÀO BÀN PHÍM

Có ngôi sao may mắn phía chân trời. (*)

Hoàng Kim

ta gõ ban mai vào bàn phím
gõ vào khuya ngơ ngẫn kiếm tìm
biết em ngủ đợi chờ em tỉnh thức
như  ánh sao trời ở chốn xa xôi.

em em em giá mà em biết được
những yêu thương hóa đá chốn xa mờ
sợi tóc bạc vì em mà xanh lại
lời ru và nỗi nhớ ngấm vào thơ.

em thăm thẳm một vườn thiêng cổ tích
chốn ấy cõi riêng khép mở chân trời
ta như chim đại bàng trở về tổ ấm
lại khát Bồng Lai ước vọng mù khơi.

ta gõ ban mai vào bàn phím
dậy em ơi ngày mới đến rồi. (**)

ThaiDuonghe

(*) Sao Kim kỳ thú trong Thái Dương hệ  (Hoàng Kim)

(**) họa đối thơ Văn Công Hùng

“GÕ CHIỀU VÀO BÀN PHÍM

Văn Công Hùng

tôi gõ buổi chiều vào bàn phím
hiện lên em ngơ ngác xa xăm
tôi tìm tôi trong mật khẩu
những chấm tròn đen lạnh lùng

tôi tôi tôi giá mà em biết được
nỗi cô đơn lớn biết chừng nào
muốn ho khẽ nhưng mà không ho nổi
chiếc lá khô lảo đảo ở sau hè

em ở phía không thể nào tới được
một con sông đã khoá những nhịp cầu
giá có thể lấp sông bằng nỗi nhớ
một phía bờ sẽ lại hoá dòng sông

tôi gõ buổi chiều vào bàn phím
một đôi mắt buồn hiện ở chốn xa xăm…”

VanCongHung

Nhà thơ Văn Công Hùng

HOÀNG KIM BÀI VIẾT MỚI
trên Tình yêu cuộc sống

Video yêu thích
The Best of Classical Music – Mozart, Beethoven, Bach, Chopin…

Bài viết mới

Yên Tử Trần Nhân Tông

THẦY TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
Hoàng Kim

Vua Trần Nhân Tông hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ về tôn chỉ, Thượng sĩ đáp: “Hãy quay về tự thân chứ không tìm ở đâu khác”. Trần Nhân Tông bừng tỉnh ngộ, bèn xốc áo, thờ làm Thầy. Thơ Thiền Tuệ Trung Thượng Sĩ sâu sắc, thông tuệ. Đó là những viên ngọc di sản văn hóa đặc biệt quý giá.

TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ LÀ AI?

Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士; 1230- 1291) là Hưng Ninh Vương Trần Tung, danh tướng và thiền sư nổi tiếng đời Trần. Ông là con trưởng của An Sinh Vương Trần Liễu, anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm húy Thiều, vợ vua Trần Thánh Tông. Ông có công lớn trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông năm 1258, 1285 và 1288. Sau kháng chiến thành công, ông được phong chức Tiết độ sứ cai quản phủ Thái Bình. Nhưng không lâu sau ông lại lui về ấp Tịnh Bang (nay ở huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng) lập Dưỡng Chân trang để theo đuổi nghiệp Thiền. Vua Trần Nhân Tông hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ về tôn chỉ, Thượng sĩ đáp: “Hãy quay về tự thân chứ không tìm ở đâu khác”. Trần Nhân Tông bừng tỉnh ngộ, bèn xốc áo, thờ làm Thầy. Đức Nhân Tông có bài tán về Tuệ Trung: “Vọng chí di cao, Toàn chi di kiên. Hốt nhiên tại hậu, Chiêm chi tại tiền. Phu thị chi vị, Thượng sĩ chi Thiền. Nghĩa là: Nhìn lên càng thấy cao,/ Khoan vào càng thấy cứng./ Bỗng nhiên ở phía sau,/ Nhìn lại thấy phía trước./ Cái đó gọi là:/ Đạo Thiền của Thượng sĩ.” Quyển Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục nằm trong bộ “Trần Triều Dật Tồn Phật Điển Lục”, là bộ Phật điển còn sót của đời nhà Trần. Tập sách này rất quan yếu trong nhà Thiền, nhất là Thiền tông Việt Nam.“ Sách này do Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông khảo đính, thiền sư Pháp Loa biên tập, thiền sư Huệ Nguyên khắc in lại năm 1763. Chứng tích ở Kỳ Lân thiền viện (Hoàng Kim trích dẫn theo Thích Thanh Từ DL 1996 – PL 2540, Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục giảng giải)

Hành trạng Thượng Sĩ (Trần Tung: 1230 – 1291)

Thượng Sĩ là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương (Trần Liễu), là anh cả của Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Khi Đại vương mất, Hoàng đế Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng Sĩ tước Hưng Ninh Vương.

Lúc nhỏ, Thượng Sĩ nổi tiếng bẩm chất cao sáng thuần hậu. Được cử trấn giữ quân dân đất Hồng Lộ, hai phen giặc Bắc xâm lăng, Ngài chống ngăn có công với nước, lần lượt thăng chức Tiết độ sứ giữ cửa biển Thái Bình. Thượng Sĩ là người khí lượng uyên thâm, phong thần nhàn nhã. Tuổi còn để chỏm, Ngài đã mến mộ cửa Không. Sau Ngài đến tham vấn Thiền sư Tiêu Dao ở Tinh xá Phước Đường. Ngài lãnh hội được yếu chỉ, dốc lòng thờ làm thầy. Hằng ngày, Ngài lấy Thiền duyệt làm vui, không lấy công danh làm sở thích. Ngài lui về ở phong ấp Tịnh Bang, đổi tên là làng Vạn Niên. Hòa ánh sáng lẫn với thế tục (hòa quang đồng trần), Ngài cùng mọi người chưa từng chống trái, nên hay làm hưng thạnh hạt giống chánh pháp, dạy dỗ được hàng sơ cơ, người đến hỏi han, Ngài đều chỉ dạy cương yếu, khiến họ trụ tâm, tánh Ngài tùy phương tiện khi hiện khi ẩn, trọn không có danh thật.

Vua Thánh Tông nghe danh Ngài đã lâu, bèn sai sứ mời vào cửa khuyết. Ngài đối đáp với Vua đều là những lời siêu thoát thế tục. Nhân đó, vua Thánh Tông tôn Ngài làm Sư huynh, tặng hiệu là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngài vào cung thăm, Thái hậu mở tiệc thịnh soạn tiếp đãi. Dự tiệc, Ngài gặp thịt cứ ăn. Thái hậu lấy làm lạ hỏi: “Anh tu thiền mà ăn thịt, đâu được thành Phật?”

Thượng Sĩ cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật chẳng cần làm anh, không nghe Cổ đức nói: ‘Văn-thù là Văn-thù, Giải Thoát là Giải Thoát’ đó sao?”

Thái hậu qua đời, nhà Vua làm lễ trai tăng ở cung cấm. Nhân lễ khai đường, Vua thỉnh những vị danh đức các nơi, theo thứ lớp mỗi vị thuật bài kệ ngắn để trình kiến giải. Kết quả thảy đều quến sình ủng nước, chưa có chỗ tỏ ngộ. Nhà Vua lấy quyển tập đưa Thượng Sĩ. Thượng Sĩ cầm viết xóa một mạch, rồi làm bài tụng tự thuật rằng:

(1)

Kiến giải trình kiến giải
Tợ ấn mắt làm quái
Ấn mắt làm quái rồi
Rõ ràng thường tự tại.

Nhà Vua đọc xong, liền phê tiếp theo sau:

Rõ ràng thường tự tại
Cũng ấn mắt làm quái
Thấy quái chẳng thấy quái
Quái ấy ắt tự hoại.

Thượng Sĩ đọc, thầm nhận đó.

Sau Vua kém vui, Thượng Sĩ viết thơ hỏi thăm bệnh. Vua đọc thơ, trả lời bằng bài kệ:

Hơi nóng hừng hực toát mồ hôi
Chiếc khố mẹ sanh chưa thấm ướt.

Thượng Sĩ đọc kệ than thở giây lâu. Đến khi Vua bệnh nặng, Thượng Sĩ khập khễnh về kinh thăm, nhưng đến nơi Vua đã qui tiên rồi.

Riêng tôi (Sơ tổ Trúc Lâm) nay cũng nhờ ơn Thượng Sĩ dạy dỗ. Lúc tôi chưa xuất gia, gặp tuần tang của Nguyên Thánh mẫu hậu, nhân thỉnh Thượng Sĩ. Thượng Sĩ trao cho tôi hai quyển lục Tuyết Đậu và Dã Hiên. Tôi thấy Ngài thế tục quá sanh nghi ngờ, bèn khởi tâm trẻ con trộm hỏi rằng:

– Chúng sanh do nghiệp uống rượu ăn thịt, làm sao thoát khỏi tội báo?

Thượng Sĩ bảo cho biết rõ ràng:

– Giả sử có người đứng xây lưng lại, chợt có Vua đi qua sau lưng, người kia thình lình hoặc cầm vật gì ném trúng Vua, người ấy có sợ không? Vua có giận chăng? Như thế nên biết, hai việc này không liên hệ gì nhau.

Thượng Sĩ liền đọc hai bài kệ để dạy:

(13)

Vô thường các pháp hạnh
Tâm nghi tội liền sanh
Xưa nay không một vật
Chẳng giống cũng chẳng mầm.

(14)

Ngày ngày khi đối cảnh
Cảnh cảnh từ tâm sanh.
Tâm cảnh xưa nay không
Chốn chốn ba-la-mật.

Tôi lãnh hội ý chỉ hai bài tụng, giây lâu hỏi: “Tuy nhiên như thế, vấn đề tội phước đâu dè đã rõ ràng.”

Thượng Sĩ lại dùng kệ để giải rõ:

(15)

Ăn rau cùng ăn thịt
Chúng sanh mỗi sở thuộc.
Xuân về trăm cỏ sanh
Chỗ nào thấy tội phước?

Tôi thưa: “Chỉ như gìn giữ giới hạnh trong sạch, không chút xao lãng lại thế nào?”

Thượng Sĩ cười không đáp. Tôi lại thỉnh cầu. Ngài lại nói hai bài kệ (16 và 17)để ấn định đó:

(16)
Giữ giới cùng nhẫn nhục
Chuốc tội chẳng chuốc phước.
Muốn biết không tội phước
Chẳng giữ giới nhẫn nhục.

(17)

Như khi người leo cây
Trong an tự cầu nguy.
Như người không leo cây
Trăng gió có làm gì?

Ngài lại dặn nhỏ tôi: “Chớ bảo cho người không ra gì biết.” Tôi biết môn phong của Thượng Sĩ cao vót. Một hôm tôi xin hỏi Ngài về “bổn phận tông chỉ”, Thượng Sĩ đáp: “Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được.” (Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.) Nghe xong, tôi thông suốt được đường vào, bèn vén áo thờ Ngài làm thầy.

Ôi! Tinh thần sắc vận của Thượng Sĩ thật trang nghiêm, cử chỉ thẳng thắn uy đức, lời bàn huyền nói diệu, dường gió mát trăng thanh, những hàng thạc đức đương thời đều bảo Thượng Sĩ tin sâu hiểu rõ, thuận hạnh nghịch hạnh thật khó lường được.

Sau Ngài bệnh ở Dưỡng Chân Trang, chẳng ở trong phòng thất. Kê một chiếc giường gỗ ở giữa nhà trống, Ngài nằm theo thế kiết tường, nhắm mắt mà tịch. Các người hầu và thê thiếp trong nhà khóc rống lên. Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy, đòi nước súc miệng rửa tay, rồi quở nhẹ rằng: “Sống chết là lẽ thường, đâu nên buồn thảm luyến tiếc, làm nhiễu động Chân tánh ta.” Nói xong, Ngài an nhiên thị tịch, thọ sáu mươi hai tuổi. Bấy giờ là ngày mùng một tháng tư năm Tân Mẹo, nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ 7 (1291) đời vua Trần Nhân Tông.

Tôi đích thân đến dinh của Ngài, có làm bài tụng “Thắp Hương Đền Ơn”, không chép lại đây.

Sau khi tôi được truyền nối pháp, mỗi khi khai đường thuyết pháp, tự nhớ đến tứ trọng ân, nhất là ân pháp nhũ khó đền. Tôi sai họa sĩ vẽ chân dung của Ngài, để được cúng dường, tự thuật bài tụng để tán thán. Đề rằng:

Lão cổ chùy này
Người khó diễn tả
Thủ xích Lương Hoàng
Cây dùi Tần Đế.
Hay vuông hay tròn
Hay dày hay mỏng
Biển pháp một mắt
Rừng thiền ba góc.

Các hàng môn đệ tán tụng:

– Đệ tử nối pháp Trúc Lâm Đại Đầu-đà tán:

Trông đó càng cao
Dùi đó càng cứng.
Bỗng dưng ở sau
Nhìn đó ở trước.
Đây mới gọi là
Thiền của Thượng Sĩ.

– Trúc Lâm đàn cháu nối pháp đệ tử Pháp Loa cúi đầu kính cẩn tán:

Á!
Gang ròng nhồi lại
Sắt sống đúc thành.
Thước trời tấc đất
Gió mát trăng thanh.
Chao!

– Trúc Lâm đàn cháu nối pháp đệ tử Bảo Phác cúi đầu kính cẩn tán:

Linh Sơn chính tai nghe
Nhai tủy lão Hồ trọc
No rồi mớm cháu con
Chồn cáo hóa sư tử.
Gặp trường nói nín nhàn
Trăng tẩm nước sông thu
Muốn biết toàn vị mặn
Trả con chuột kia đi.

– Đệ tử Tông Cảnh cúi đầu kính cẩn tán:

Thiền thầy ta con quì một chân
Bờ dốc buông tay tâm như như.
Trên đầu cột phướn nấu quả chùy
Bỗng nhiên cỡi ngược lừa ba cẳng.
Năm trước tặng ta trâu đất rống
Ngày nay ngựa gỗ hí trả Ngài.
Trâu sắt đầu nhỏ sừng co quắp
Đêm về húc vỡ núi Tu-di.
Thảnh thơi nhảy thẳng hang rồng dữ
Cướp được san-hô quí một cành
Thần biển nâng lên sáng trời đất
Na-tra nổi giận uy đức mờ.
Ha! Ha! Ha! Cũng rất kỳ
Dương Xuân Bạch Tuyết hòa rất ít
Một mức sau cùng hội thế nào?
Án tố rô, tố rô, tất rị, tất rị.

– Đệ tử cư sĩ hiệu Thiên Nhiên, Vương Như Pháp cúi đầu kính cẩn tán:

Thật kỳ đặc! Thật kỳ đặc!
Trâu đất rống trăng không kẹt mắc
Viết ra sáu bảy trí tuệ môn
Chớ nói núi bút cùng rừng mực.

– Trúc Lâm Thị giả đệ tử Pháp Cổ cúi đầu kính cẩn tán:

Xưa Quốc sư, nay Thượng Sĩ
Cùng một trượng phu chia đây kia.
Tác giả Tỳ-da đứng dưới gió
Lão ngốc Bàng công một trái cà.
Giáo giáp ba huyền phá lao quan
Trên chớp lông mày thôi nghĩ suy.
Màn mắt che mất núi Tu-di
Trong miệng nuốt ngang nước biển cả.
Dưới hàm rồng dữ đục ly châu
Phóng sợi tơ sen cột cọp lớn.
Pháp vương vương pháp mặc tung hoành
Nắm tay chung đường quên mi tớ.
Rảnh rang đùa gẩy đàn không dây
Làng múa thôn ca câu: La lý!
Lý la la! La lý lý!
Chẳng thuộc cung thương giác vũ rành
Thầy tôi nối tiếng ông Như Điệu
Phong thái khác thường lại đẹp thêm.
Tử Kỳ mất rồi tri âm ít
Bao điều cao rộng ở nơi nao?
Người sau tiếp vang nối lời rỗng
Nhận được như xưa lại chẳng phải
Ôi!

– Trúc Lâm Thị giả Tuệ Nghiêm kính cẩn tán:

Lò hồng điểm tuyết
Tháng chạp hoa sen.
Chẳng bút khá viết
Chẳng lời khá phô.
Chọi đá nháng lửa
Điện xẹt chớp sáng.
Chẳng tìm khá tìm
Chẳng chốn khá chốn.
Đó là Thượng Sĩ
Khó lường cơ Ngài
Hòa cùng ánh sáng
Đồng với tục tăng.
Tỳ-da nắm tay
Hoành Dương kết mày
Vòng vàng lùm gai
Nuốt đó thấu đó.
Con trâu con khỉ
Đánh vào rừng Thiền
Vo tròn cọp dữ
Quỉ thần vườn pháp
Miệng trống rao truyền
Xuân vào cành vàng
Cổ chùy! Cổ chùy!

HAI BÀI THƠ CỦA THƯỢNG SĨ

Cây tùng ở đáy khe (2)

Thương cội tùng xanh tuổi bấy niên,
Đừng than thế mọc lệch cùng xiên;
Cột rường chưa dụng người thôi lạ,
Cỏ dại hoa hèn trước mắt chen.

澗底松
最 愛 青 松 種 幾 年
休 嗟 地 勢 所 居 偏
棟 樑 未 用 人 休 怪
野 草 閑 花 滿 目 前

Giản để tùng

Tối ái thanh tùng chủng kỉ niên,
Hưu ta địa thế sở cư thiên;
Đống lương vị dụng nhân hưu quái,
Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền.

Nuôi dưỡng chân tính (3)

Thân xác hao gầy há đáng than,
Phải đâu hạc cả lánh gà đàn;
Nghìn xanh muôn thuý mờ non nước,
Góc biển lưng trời: nơi dưỡng chân.

養真養真
衰 颯 形 骸 豈 足 云
非 關 老 鶴 避 雞 群
千 青 萬 翠 迷 鄉 國
海 角 天 頭 是 養 真

Dưỡng chân

Suy táp hình hài khởi túc vân,
Phi quan lão hạc tị kê quần;
Thiên thanh vạn thuý mê hương quốc,
Hải giác thiên đầu thị dưỡng chân.

THƠ THIỀN TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
Trên đây là hành trạng Thượng Sĩ Trần Tung 1230 – 1291 cùng lời khai ngộ Nhân Tông đặc biệt nổi tiếng của Thượng Sĩ đã bền vững với thời gian do chính đức Nhân Tông xác nhận, khảo đính, thiền sư Pháp Loa biên tập, thiền sư Huệ Nguyên khắc in lại năm 1763 và tám bài thơ thiền của Thượng Sĩ (với số thứ tự 1, 2, 3, 13, 14, 15, 16, 17 mà tôi gượng chép thêm để bạn tiện đọc). Phía dưới là chín bài Thơ Thiền Thượng Sĩ (số thứ tự 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 trong tài liệu tôi đọc được không thấy số mà chỉ do Thượng Sĩ đối cảnh ngẫu hứng viết ra). Tôi xin chép lại để mọi người cùng thưởng lãm. Đây là những áng thơ thiền cực kỳ sâu sắc và thông tuệ. Kính mong thức giả gần xa bổ túc nguyên bản, dị bản, bình giảng, góp ý để giúp hiệu đính và hoàn thiện.

(4)

Tử sinh đừng hỏi, kẻo phí lời.
Thời tiết “nhân duyên” vốn tại trời.
Mây núi nào không bay cạnh núi,
Sóng nào chẳng ở chốn xa khơi.
Hoa nở tháng Ba, luôn vẫn vậy.
Gà gáy canh năm đánh thức người.
Cái đạo, cái tâm ai thấu hiểu,
Mới biết phù du sống ở đời.

(5)

Chẳng kém Tứ Minh về cái ngông,
Không cầu Trời Phật thưởng khen công.
Giác ngộ nhiều khi chưa mà đã,
Sự đời lắm lúc có mà không.
Tiểu nhân tìm thuốc mong bất tử,
Người giỏi ung dung chẳng bận lòng.
Đi câu mà chẳng mang câu, lưới,
Thậm chí chẳng thèm ngó xuống sông.

(6)

Thế gian ưa dối, không ưa thật.
Nhưng thật dối gì, đều bụi đất.
Muốn sang tới được bờ bên kia,
Hãy hỏi trẻ con chơi trước mặt.

(7)

Xuân hết đến hè, năm tháng qua.
Rất nhanh, người trẻ hoá thành già.
Sầu muộn luôn theo cùng tuổi tác.
Sang giàu rút cục chỉ phù hoa.
Bể “khổ” là đời, thường vẫn vậy,
Sông “yêu” mang lại lắm phiền hà.
Cứ mãi buông mình theo dục vọng,
Có ngày tai hoạ đến tìm ta.

(8)

Phật ở trong lòng mỗi chúng ta.
Bốn phương thân pháp chỉ bao la.
Trong veo bể Phật, đêm thu lắng.
Trời đêm đơn độc mảnh trăng tà.

(9)

Ở đời, phúc họa đến song song.
Nơi này thanh tịch sống thong dong.
Sáng ngắm chim bay trên sóng biển.
Chiều xem mây khói phủ kín đồng.
Thẹn đời điên loạn, thân nhơ bẩn.
Mừng nước chưa suy, sạch tấm lòng.
Đêm đêm mơ thấy quan âm Phật.
Sóng thu vừa cạn lại vừa trong.

(10)

Cái tâm không tướng, chẳng hình hài.
Thấy nó mắt thường dễ mấy ai?
Muốn biết cái tâm cho thật rõ,
Từ chiều cứ ngủ đến canh hai.

(11)

Thanh thản ngồi yên chính giữa nhà,
Nhìn Côn Luân khói gợn xa xa.
Lúc mệt, thảnh thơi, tâm tự tắt,
Không thiền, không Phật, chỉ mình ta.

(12)

Giữa không và có chẳng bao xa.
Xưa nay sống chết – một thôi mà.
Hoa nở năm nay – hoa năm ngoái.
Trăng sáng bây giờ – trăng tối qua.
Thấm thoắt Ba Sinh như gió thoảng.
Tuần hoàn Chín Cõi kiếp phù hoa.
Vậy sống thế nào là tốt nhất?
Ma ha bát nhã, tát – bà – ha?

Tài liệu tham khảo chính:
(*) Số thứ tự bài (1)-(17)Tuệ Trung Thượng Sĩ là do Hoàng Kim tự thêm vào để giúp sự tra cứu.
Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục
Những dòng thơ đời của Tuệ Trung Thượng sĩ
Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, chương XI: Tuệ Trung Thượng Sĩ (Nguyễn Lang)
Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông (Hoàng Kim)
Thơ Thiền góp nhặt (by truonghatsts)
Thơ Thiền Tuệ Trung Thượng Sĩ (Hoàng Kim)

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook  Kim on Twitter  hoangkim vietnam 

Gạo Việt và thương hiệu

dongxuanlua-sieuxanh
GẠO VIỆT VÀ THƯƠNG HIỆU
Hoàng Kim


Giống lúa siêu xanh GSR65 ở Phú Yên. Cánh đồng lúa thật tuyệt vời.Tuyển chọn và xác định những giống lúa siêu xanh chủ lực, thích ứng biến đổi khí hậu, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh lúa, xây dựng cánh đồng mẫu lúa siêu xanh năng suất chất lượng cao, ngắn ngày, ít sâu bệnh, tạo thương hiệu lúa gạo hàng hóa là giải pháp khoa học công nghệ nghề lúa Báo Phú Yên: Triển vọng 2 giống siêu lúa xanh.

“Phương thức công nghệ xanh” theo xu thế mới Quốc tế, Việt Nam đã và đang làm. Ngành lúa gạo tiếp tục phát huy những lợi thế chiến lược mà Việt Nam đã có. Các Viện Trường, Công ty lúa gạo Việt Nam hiện đã có nhiều thành quả. Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh Lúa siêu xanh Việt Nam  là có triển vọng. “Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân”

Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 trong Ngày Nông dân Việt Nam hi vọng sẽ kết nối sức mạnh Việt với một loạt các giải pháp thực tiễn khơi dậy sức dân, động lực cách mạng của đông đảo người dân nông thôn, khai mở được tiềm lực chưa được đầu tư đúng mức và sức mạnh vốn có của nông nghiêp nông dân nông thôn. 7000 tỷ tìm lại ‘thời vang bóng’ của gạo Việt. Giáo sư Võ Tòng Xuân nói những lời thật tâm đắc: “Ngành lúa gạo hiện được chia ra các giai đoạn phát triển như: giai đoạn thiếu ăn, giai đoạn đủ ăn và dư thừa, giai đoạn tìm hiểu công nghệ sản xuất mới, giai đoạn sản xuất công nghệ xanh. Các nước đang ở giai đoạn sản xuất theo phương thức công nghệ xanh, còn Việt Nam sau bao nhiêu năm vẫn chỉ ở giai đoạn sản xuất dư thừa, loay hoay không phát triển lên, vẫn chỉ chú trọng về lượng chứ không về chất nên rất khó cạnh tranh“. TS Hoàng Kim nói thêm: “Chúng ta rất cần thấu hiểu vòng tròn nhân quả: ‘hột lúa – cây lúa – hạt gạo – bát cơm’, nắm vững hai khâu then chốt ‘hoa lúa – bùn ngấu’ của chuỗi thức ăn quan trọng nhất đời người, học và hành kỹ từng khâu và khâu nào cũng phải chắc tay. Việt Nam con đường xanh là Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân, động lực cách mạng của đông đảo người nông dân. Chừng nào người dân nông thôn chưa thay đổi được số phận của mình thì chừng đó bài toán kinh tế chưa khai mở được tiềm lực nông nghiêp nông dân nông thôn.”

THẦY NGHỀ NÔNG CHIẾN SĨ
Hoàng Kim
thân tặng anh Trần Mạnh Báo
 

Bao nhiêu bạn cũ đã đi rồi
Nhớ để mà thương cố gắng thôi
Nhà khoa học xanh gương trung hiếu
Người thầy chiến sĩ đức hi sinh
Dưới đáy đại dương là ngọc quý
Trên đồng chữ nghĩa ấy tinh anh
Doanh nghiệp Thái Bình chăm việc thiện
Giống tốt bội thu vẹn nghĩa tình.