Chuyện thầy Nguyễn Tử Siêm

gsnguyentusiem
CHUYỆN THẦY NGUYỄN TỬ SIÊM
Hoàng Kim

Đến với Tây Nguyên mới, về vùng cát đá, đi suốt miền Trung giữa miền nắng gió, tôi cùng các em sinh viên của hai lớp Nông học 14 Gia Lai và Nông học 14 Ninh Thuận thuộc phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ở tỉnh Gia Lai và tỉnh Ninh Thuận tìm về những tác phẩm của Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm hậu duệ đất lành và tìm về lời cảnh báo thấm thía sâu sắc của nhà văn Nguyên Ngọc: Nước mội, rừng xanh và sự sống”. Chúng tôi soi trong Hệ thống giải pháp tổng hợp ‘Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam” để tìm những giải pháp thực tiễn cho vùng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Hai trích đoạn dưới đây gợi ý cho chúng ta những suy nghĩ và giải pháp:

NGUYỄN TỬ SIÊM HẬU DUỆ ĐẤT LÀNH

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm sinh ra ở làng Thư Điền thuộc xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, nổi danh là ‘đất học’. “Thư Điền ” được lấy ý từ câu thơ “Thư điền vô thuế tử tôn canh” nghĩa là  ‘sách là ruộng không phải đóng thuế, con cháu cần nên ngày cày ruộng đêm đọc sách’. Dòng họ Nguyễn Tử “vốn dòng thi lễ đời đời văn học”. Giáo sư Nguyễn Tử Siêm sinh nơi ấy và nhờ nơi ấy nên may mắn đã tiếp nhận được những di sản của quê hương và dòng họ để thành chuyên gia đầu ngành về đất. Giáo sư đã biên soạn 9 tác phẩm, dày dặn nhất là Đất Việt Nam năm 2000, Nhà Xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 600 trang. Nguyễn Tử Siêm hậu duệ đất lành.

Ninh Bình là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, lui có thế thủ, tiến có thể công” chót cạnh đáy của Tam Giác Châu Bắc Bộ . Dãy núi Đông Bắc là 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Đông Triều tạo thế Trường thành chắn Bắc. Dãy núi Tây Nam là dãi Tản Viên với 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù Nga Sơn tạo thành địa danh nổi tiếng Thần Phù  trong thơ “Quá Thần Phù cảm tác’ của Nguyễn Trãi và câu ca dao cổ:

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Cụ Nguyễn Tử Mẫn, người Thư Điền , Ninh Nhất trong tác phẩm “Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo luận” năm 1862 là chuyên khảo tường tận tỷ mỷ về vùng đất và con người Ninh Bình đã viết: “Ninh Bình là nơi chứa những vật báu của trời, nơi nổi tiếng có nhiều danh thắng, đó lại là điều khiến địa lý tỉnh Ninh ta càng không thể không được nghiên cứu tường tận“.  Trong ‘Lời tựa’  của giáo sư Trần Quốc Vượng tại tác phẩm” Địa chí Văn hóa Dân gian Ninh Bình” do Trương Đình Tưởng chủ biên, Nhà Xuất Bản Thế Giới năm 2004 đã viết: “Tại Nhà thờ đá Phát Diệm do Cố Lục xây dựng năm 1891 ở ngay sát bờ biển nay đã lùi sâu vào đất liền khoảng 20 km. Từ đó tôi tin theo tài liệu địa lý học (xem Lê Bá Thảo, Hoàng Thiếu Sơn, Vũ Tự Lập) là ở miền tây nam châu thổ Bắc bộ- chủ yếu ở Ninh Bình- mỗi năm trung bình phù sa lấn biển khoảng 100m“.

Ninh Bình là nôi khai sinh của người Việt cổ và chốn tổ của nghề lúa, có sông Hoàng Long huyền thoại chạy giữa lòng, điểm nhấn di sản Tràng An, ẩn chứa nhiều bí ẩn văn hóa lịch sử. Ninh Bình là một vùng đất cổ và cũng là một vùng đất mới. Mạch tâm linh dân tộc ký thác cho người, vật, cây cỏ của đất ấy bảo tồn và phát triển đường sống. Có người may mắn được làm thư đồng của quê hương và dòng họ để lưu giữ và trao lại cho đời sau những chỉ dấu.

Riêng Tài nguyên đất Ninh Bình thôi, các nhà nông học và thổ nhưỡng đã phân chia đất đai Ninh Bình thành 19 loại gộp thành 5 nhóm đất cơ bản. Nhóm đất phù sa có diện tích 74,53 nghìn ha chiếm 53% diện tích gồm 9 loại; nhóm đất đỏ vàng có 25,00 nghìn ha chiếm 17,8% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh; nhóm đất mặn có diện tích khoảng 14,19 nghìn ha chiếm 10,1%; nhóm đất xám bạc màu 3,48 nghìn ha chiếm 2,5% ; Nhóm đất thung lũng dốc tụ  có diện tich 1,60 nghìn ha chiếm 1,1% tổng diện tích đất tự nhiên. Nhìn chung tài nguyên đất của Ninh Bình có độ phì trung bình với ba loại địa hình là đồi núi đồng bằng và ven biển vì thế tỉnh có thế mạnh để phát triển nông lâm nghiệp kết hợp theo hướng đa dạng hóa. Vùng đồi núi có nhiều tiềm năng để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp vật liệu xây dựng.

Tôi nói với các em sinh viên: “Chúng ta rất cần nắm vững và xử lý tốt thông tin đất Việt Nam đất và cây trồng vật nuôi của từng tiểu vùng và địa phương cụ thể để ứng dụng thực tiễn cuộc sống. biết học thầy, học bạn, suy xét, đánh giá chất lượng thông tin và biết đọc. Các em cần nắm những thông tin cơ bản khái quát trên đây nhưng để thấu hiểu thì nên đọc sâu vào chi tiết và tốt nhất là nên đọc thẳng vào những tài liệu khảo cứu sâu viết cho từng tiểu vùng sinh thái cụ thể. Nguyễn Tử Siêm đất Việt Nam là sách hay đáng đọc .

NGUYỄN TỬ SIÊM CUỘC ĐỜI NGHỀ ĐẤT

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm sinh ngày 10 tháng 5 năm 1942, tại làng Thư Điền, thuộc huyện Gia Khánh, phủ Trường An (nay thuộc xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình). là một trong những chuyên gia đầu ngành về đất đồi núi Việt Nam, chủ yếu trong các lĩnh vực bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi, phục hồi độ phì nhiêu đất, canh tác vùng cao. Đất đai là tài nguyên nuôi sống con người. GS. Nguyễn Tử Siêm đã khéo chọn đất làm nghề nghiệp. Thổ quyển quan trọng như sinh quyển, khí quyển. Đất lành và việc sử dụng đất hiệu quả bền vững để không thoái hóa là cực kỳ cấp thiết. Đất và thức ăn là tầm nhìn và kinh nghiệm đáng suy ngẫm trong đúc kết 500 năm nông nghiệp Brazil  thật đáng suy ngẫm. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm cũng là một trong số những nhà khoa học Việt Nam quan tâm nhiều đến xã hội thông qua các comment trên nhiều website.

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội năm 1964, làm nghiên cứu viên tại Bộ Nông trường Quốc doanh, Trạm Nghiên cứu Cây Nhiệt đới Tây Hiếu, từ năm 1964-1969. Bài báo khoa học đầu tiên là ‘Biện pháp sản xuất nhanh phân hữu cơ ở nông trường quốc doanh’ năm 1968. Cuối năm 1969, ông được cử làm nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Lômônôsôp Liên Xô và bảo vệ thành công Luận văn Tiến sĩ năm 1974.Ông về Việt Nam làm trưởng Bộ môn rồi Phó Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng và Nông hóa (NISF) từ năm 1974-1993 . Ông được phong Phó Giáo sư Nông nghiệp năm 1991. Từ năm 1994- 2000, ông lần lượt giữ các chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Cục trưởng Cục Khuyến nông Khuyến lâm, Trưởng ban Quản lý các dự án Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.  Ông làm chuyên gia tư vấn tự do từ 2001 đến nay. Ông được phong học hàm Giáo sư Nông nghiệp năm 2002.

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm là một trong các chuyên gia đầu ngành của Hội Khoa học Đất Việt Nam. Ông là giáo sư có uy tín, sử dụng thành thạo 4 ngoại ngữ Nga, Trung, Anh, Pháp; được mời tham gia giảng dạy ở nhiều trường Đại học trong và ngoài nước. Từ năm 2016 đến nay là Trưởng ban, Ban Soạn thảo Bách khoa Toàn thư Nông nghiệp và Thủy lợi, thuộc đề án Bách khoa Toàn thư Việt Nam. Làm việc kiêm nhiệm. Tác phẩm chính của GS. Nguyễn Tử Siêm là 9 cuốn sách đã in và 121 bài báo khoa học Hội Khoa học Đất Việt Nam  (Land Science Association Of VietNam) là đội ngũ khoa học đất Việt Nam thật to lớn và mạnh mẽ. Hội được thành lập ngày 30 tháng 8 năm 1991 có Trụ sở ở 61 Hàng Chuối, Hà Nội. Mục đích của Hội nhằm tập hợp và đoàn kết những nhà khoa học làm công tác về đất của Việt Nam. Hội Khoa học Đất Việt Nam tính đến năm 2014 đã tập hợp được 750 hội viên bao gồm 100 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, 170 thạc sĩ và 480 kỹ sư làm công tác khoa học kỹ thuật về đất bao gồm các mặt điều tra, nghiên cứu, sử dụng, bảo vệ, cải tạo, giảng dạy, quy hoạch quản lý đất để nâng cao trình độ, phổ biến kiến thức, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao độ phì đất, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.

Nhiều chuyên gia đất phân và thầy bạn quý của tôi (Hoàng Kim) có trong Hội Khoa học Đất Việt Nam.,Tôi nhớ nhất những người trong số đó có Thầy GS. Đỗ Ánh, Thầy GS. Lê Văn Căn, PGS.Giám đốc VAAS Nguyễn Văn Bộ,  GS Võ Tòng Xuân, GS. Phan Liêu,  GS. Trương Công Tín, GS Vũ Cao Thái, GS Thái Phiên,  GS. Nguyễn An Phong,  GS. Võ Minh Kha, GS. Nguyễn Vi, PGS. Lê Văn Thượng,  GS.Vũ Năng Dũng chủ tịch Hội Khoa học ĐấtViệt Nam, GS. Nguyễn Tử Siêm, PGS. Lê Xuân Đính, PGS. Huỳnh Thanh Hùng, PGS Phạm Quang Khánh, PGS. Mai Thành Phụng,   PGS. Nguyễn Thi Hòa, PGS. Công Doãn Sắt, PGS. Trịnh Đình Tư, TS. Phạm Sĩ Tân, TS Nguyễn Đăng Nghĩa, TS. Đỗ Trung Bình, TS. Phạm Thị Công,  TS. Phạm Quang Chơn, TS. Trần Văn Thịnh, TS. Nguyễn Thanh Bình, ThS Lê Văn Dũ, ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương…

datvietnam

Hoàng Kim, Phạm Văn Biên, Reinhardt Howeler năm 2003 đúc kết thông tin “Bản đồ đất Việt Nam” công bố ở FAO, có các số liệu cơ bản trực tiếp phục vụ cho quản lý và sử dụng đất: Nhóm đất đỏ vàng gần 20,0 triệu ha; Nhóm đất phù sa khoảng 3,5 triệu ha (phù sa sông Cửu Long 850 nghìn ha, phù sa sông Hồng 600 nghìn ha và đất phù sa các con sông khác) Nhóm đất xám bạc màu khoảng 3,0 triệu ha; Nhóm đất phèn khoảng 2,0 triệu ha; Nhóm đất mặn khoảng 1,0 triệu ha; Nhóm đất cát khoảng 550 nghìn ha. Sự phân bố và tính chất đất cơ bản’ trong tài liệu trên của chúng tôi là dựa trên thông tin gốc sách ‘Đất Việt Nam’ năm 2000 của Giáo sư Nguyễn Tử Siêm và những cập nhật mới của PGS. Nguyễn Văn Bộ 2000 (Sau này được đúc kết trong sách Nguyễn Văn Bộ chủ biên, Bùi Huy Hiền, Hồ Quang Đức, Nguyễn Công Vinh, Nguyễn Văn Vân, Roland J. Buresh, 2009. Hướng dẫn quản lý dinh dưỡng cho cây lúa theo vùng đặc thù của Việt Nam. Nhà Xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 204 trang. http://nhasachvietnam.blogspot.com/2016/10/vaas-huong-dan-quan-ly-dinh-duong-cho.html)

NGUYỄN TỬ SIÊM TRANG ĐỜI LẮNG ĐỌNG

Nhà khoa học đất Nguyễn Tử Siêm biên soạn 9 bộ sách cẩm nang nghề nghiệp ‘Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam’ và 121 bài báo khoa học, hiện nay làm Trưởng ban biên soạn tập 9 Nông nghiệp và Thủy lợi, Từ điển Bách khoa thư Việt Nam. 9 bộ sách cẩm nang nghề nghiệp bao gồm:  Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên 1999. ‘Đất đồi núi Việt Nam thoái hóa và phục hồi’; Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006; Đất và sử dụng đất vùng cao Việt Nam, 2002; Cây phủ đất ở Việt Nam, 2002; Từ điển Thổ nhưỡng Anh-Việt, 2001;Từ điển thuật ngữ Anh – Việt về quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao, 2001; Đất Việt Nam, 2000; Giáo trình Chọn giống cây trồng, 2000; Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam, 1998; Nghiên cứu Đất và Phân bón, 1976 . Những sách chuyên khảo này giúp chúng ta kinh nghiệm và hiểu biết về đất đồi núi từ  lý thuyết đến thực hành, quan hệ đất nước với cây trồng và thức ăn.

Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam, nội dung cơ bản gồm: 1. Các yếu tố xói mòn & Khả năng dự báo xói mòn. 2. Nguy cơ xói mòn rửa trôi & Biện pháp khắc phục. 3. Thoái hóa & Phục hồi đất dốc. 4. Chất hữu cơ & Độ phì nhiêu đất 5. Tuần hoàn chất hữu cơ & Biện pháp phục hồi đất nghèo. 6. Quản lý dinh dưỡng tổng hợp, nâng cao hiệu lực phân bón. Biện pháp tổng hợp quản lý bền vững đất dốc. 

Chúng ta đang hướng đến những tài liệu học trực tuyến, tìm đến những người Thầy và các trang sách mở để được tư vấn trao đổi về bài học thực tiễn và tình yêu cuộc sống. Hoàng Kim chưa có điều kiện đúc kết tài liệu , chỉ trích dẫn ít thông tin thú vị và bài viết mới cập nhật

Nhà khoa học đất Nguyễn Tử Siêm biên soạn bộ sách cẩm nang nghề nghiệp ‘Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam’, bao gồm:  Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên 1999. ‘Đất đồi núi Việt Nam thoái hóa và phục hồi’; Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006; Đất và sử dụng đất vùng cao Việt Nam, 2002; Cây phủ đất ở Việt Nam, 2002; Từ điển Thổ nhưỡng Anh-Việt, 2001;Từ điển thuật ngữ Anh – Việt về quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao, 2001; Đất Việt Nam, 2000; Giáo trình Chọn giống cây trồng, 2000; Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam, 1998; Nghiên cứu Đất và Phân bón, 1976 . Những sách chuyên khảo này giúp chúng ta kinh nghiệm và hiểu biết về đất đồi núi từ  lý thuyết đến thực hành, quan hệ đất nước với cây trồng và thức ăn.

denvoitaynguyen

Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn… Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này. Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước.” Nguyên Ngọc,  Kinh tế Sài Gòn Online  (xem  Nguyên Ngọc: Nước mội, rừng xanh và sự sống). GSTS. Nguyễn Tử Siêm thông tin về 9 cuốn sách đã in và 121 bài báo của ông liên quan tới  Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam, nội dung: 1. Các yếu tố xói mòn & Khả năng dự báo xói mòn. 2. Nguy cơ xói mòn rửa trôi & Biện pháp khắc phục. 3. Thoái hóa & Phục hồi đất dốc. 4. Chất hữu cơ & Độ phì nhiêu đất 5. Tuần hoàn chất hữu cơ & Biện pháp phục hồi đất nghèo. 6. Quản lý dinh dưỡng tổng hợp, nâng cao hiệu lực phân bón. Biện pháp tổng hợp quản lý bền vững đất dốc. Chúng ta đang hướng đến những tài liệu học trực tuyến, tìm đến những người Thầy và các trang sách mở để được tư vấn trao đổi về bài học thực tiễn và tình yêu cuộc sống.

*

(*) Nguyễn Tử Siêm đọc lại và suy ngẫm
Đầu Xuân nghĩ về
CÁCH MẠNG 4.0 TRONG NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM (Phần I)
Nguyễn Tử Siêm

Trên thế giới, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đã giúp nền nông nghiệp của nhiều nước phát triển đạt những thành tựu quan trọng. CMCN 4.0 trong nông nghiệp gọi là “Nông nghiệp 4.0” (viết tắt NN 4.0). Tại Mỹ, Brazil, Argentina, NN 4.0 đã giúp các nước này giảm giá thành sản xuất ngô và đỗ tương tới 50%. Ở Nhật Bản, dân làm nông nghiệp chỉ còn 1,5% (2 triệu trong tổng số 127 triệu dân), canh tác trên 1,5 triệu ha đất nông nghiệp vẫn tự túc được gạo và xuất khẩu thịt bò, rau, quả một cách bền vững.

Nông nghiệp thông minh đã giúp một số nước tiên tiến sản xuất đủ hoặc dư thừa một số nông sản. Tại Israel, tỷ lệ dân nông nghiệp chỉ chiếm 2,5% tổng dân số. Năm 1995, trung bình 1 nông dân của họ sản xuất chỉ nuôi 15 người, năm 2014, mỗi nông dân nuôi được 100 người và còn xuất khẩu được hơn 3 tỷ USD nông sản mỗi năm. Tại Nhật Bản, chỉ với 2 triệu dân nông nghiệp (1,5%) trong tổng số 127 triệu dân, canh tác trên 1,5 triệu ha đất nông nghiệp nhưng họ không phải nhập gạo, thậm chí dư thừa thịt bò và một số rau quả. Tại Hàn Quốc, với 2,56 triệu dân nông nghiệp, chiếm 5% trong tổng số 51,6 triệu dân, cũng không phải nhập khẩu gạo. Giá thành sản xuất ở Mỹ, Brazil hay Argentina là 138-144 USD/tấn ngô, hay 314-323 USD/tấn đậu tương (FAOSTAT, 2016), trong khi đó giá thành sản xuất ở Việt Nam là 323 USD/tấn ngô, hay 825 USD/tấn đậu tương.

Trong khối ASEAN, Malaysia ứng dụng NN 4.0 đã giúp nông dân trồng ớt tăng thu nhập hơn gấp đôi. Philippines, chỉ mới 5-10 năm trước phải nhập khẩu hơn 2 triệu tấn ngô mỗi năm thì năm 2017 đã đạt hơn 8 triệu tấn ngô, trong khi nhu cầu chỉ cần 5,6 triệu tấn, chủ yếu nhờ tăng sử dụng giống ngô lai và công nghệ tưới bằng năng lượng mặt trời.
Việt Nam không đứng ngoài làn sóng này, nghiên cứu và ứng dụng thành quả của cuộc CMCN 4.0 vào nước ta để có nền sản xuất nông nghiệp thông minh là bước phải đi tới.

1. Tiến trình phát triển nông nghiệp thế giới

Theo khái niệm của Hiệp hội Máy Nông nghiệp châu Âu , Nông nghiệp thế giới từ thế kỷ 20 đã trải qua các giai đoạn sau:

i) Nông nghiệp 1.0 tiến hành ở thế kỷ 20, tiêu tốn sức lao động, năng suất thấp; dựa vào số lượng lớn các nông hộ nhỏ, có tới 1/3 dân số tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu thô.

ii) Nông nghiệp 2.0, đó là cách mạng xanh, xuất hiện những năm 1950, gieo trồng các giống lúa thấp cây, sử dụng nhiều phân bón khoáng, thuốc trừ sâu, máy móc chuyên dùng, hạ giá thành, tăng năng suất, đem lại lợi nhuận cho tất các các bên tham gia.

iii) Nông nghiệp 3.0, được biết từ những năm 1990 khi định vị toàn cầu (GPS) được ứng dụng để định vị và định hướng; bộ cảm biến (sensor) giúp điều khiển tự động (điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, dinh dưỡng); và ra đời các thiết bị không dây (Telematics), tạo ra bước đột phá về chất lượng, chủng loại nông sản, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả.
iv) Nông nghiệp 4.0: Đến nay, cuộc cách mạng Nông nghiệp lần 4 đang nảy nở nhờ sự kết hợp các công nghệ lại với nhau với yếu tố cốt lõi là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, kết nối thông tin mạng internet; mở ra cơ hội rất to lớn cho phát triển nông nghiệp. Một cuộc chạy tiếp sức chưa từng có đang diễn ra, nhằm tới sản xuất, kinh doanh thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano.

iv) Nông nghiệp 4.0: là thuật ngữ được sử dụng đầu tiên tại Đức (2011) và Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos (2015), hiện nay được sử dụng phổ biến hơn cả do chỗ nó hàm ý hệ thống các hoạt động nông nghiệp trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. NN 4.0 còn được coi là hàm số của Nông nghiệp thông minh x Công nghệ thông minh x Thiết kế thông minh x Doanh nghiệp thông minh. Các khái niệm Nông nghiệp chính xác, Nông nghiệp sinh thái… là hệ quả của cuộc CMCN lần thứ 4 này.

Nông nghiệp 4.0 được hiểu là các hoạt động nuôi, trồng, thu hoạch, vận chuyển, chế biến,… được kết nối mạng bên trong và bên ngoài đơn vị sản xuất kinh doanh. Mọi thông tin ở dạng số hóa được lưu chuyển cho tất cả các đối tác và các quá trình sản xuất, giao dịch với các đối tác bên ngoài đơn vị (từ các nhà cung cấp đầu vào đến khách hàng tiêu thụ); việc truyền dữ liệu, xử lý, phân tích dữ liệu phần lớn tự động qua mạng internet. Sử dụng các thiết bị internet có thể tạo điều kiện quản lý lượng lớn dữ liệu và kết nối nội bộ với các đối tác bên ngoài.

Khác với nông nghiệp công nghệ cao, NN 4.0 làm thay đổi phương thức quản lý nông nghiệp, tập trung chuyển dịch từ phương thức truyền thống sang hiện đại; mở đường cho những hoạt động sản xuất chính xác, chặt chẽ mà con người không cần có mặt trực tiếp.

(NTS 3.3.2018)

Chuyện thầy Nguyễn Tử Siêm
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chuyen-thay-nguyen-tu-siem/

Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi| Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên; Hoàng Long; Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter

9 thoughts on “Chuyện thầy Nguyễn Tử Siêm

  1. Pingback: Chào ngày mới 23 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Thương chị | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Niềm vui cho em | Khát khao xanh

  4. Pingback: Quê hương | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Cuối một dòng sông là cửa biển | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Chào ngày mới 23 tháng 2 | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Chào ngày mới 6 tháng 4 | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Quê hương | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Cuối dòng sông là biển | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s