Mạc triều trong sử Việt

BẢN TUYÊN BỐ VỀ LỊCH SỬ VƯƠNG TRIỀU MẠC

Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Lung thay lời Ban Liên lạc Mạc tộc tuyên bố: “Vào năm 2017 (1697 – 2017) này, tác phẩm lịch sử “Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên” con đẻ của chế độ quân chủ (cung vua – phủ chúa) Lê Trịnh tròn 300 tuổi. Lịch sử nhà Mạc ra đời từ những trang sử ấy, những trang viết này là sản phẩm tư tưởng, quan điểm chính trị do một thể chế quân chủ mới (bình mới rượu cũ) “thắng cuộc” biên chép về bên “thua cuộc” là nhà Mạc. Suốt 300 năm qua chưa từng xuất hiện một nghiên cứu nào phân tích kĩ lưỡng nội dung mang tính cảnh báo: Coi chừng sẽ xuất hiện “lịch sử nhận thức” nhằm vào lịch sử nhà Mạc từ phía giới chuyên môn. Trừ một bài viết ngắn của giáo sư sử học Hà Văn Tấn có nhắc tới tính thực dụng soạn sử của Phạm Công Trứ. Xin hãy trả lại sự thật lịch sử chân chính của nhà Mạc đó là đòi hỏi từ thực tiễn, lẽ công bằng tự nhiên và là mệnh lệnh của cuộc sống, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập toàn diện của đất nước chúng ta.

Tác giả Nguyễn Xuân Lung thay lời Ban Liên lạc Mạc tộc kiến nghị:

“1) Viết lại lịch sử nhà Mạc: Bằng việc tổ chức một hội đồng các nhà sử học có “tâm” có “tài” khai thác hết các tài liệu sử học có thể có trong nước, nước ngoài để định hướng cách viết mới khách quan và trung thực về lịch sử nhà Mạc.

2) Xin chấm dứt sử dụng những giáo trình giảng dạy tại các trường đại học trong nước như cách viết của các ông Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh, Nguyễn Phan Khoa hay nội dung giảng dạy của một số tác giả nữ: Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Thị Bích, Nguyễn Thị Thế Bình. Trong sách “Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập lịch sử lớp 10”, trong các cấp học phổ thông.

3) Xin chấm dứt những trang viết không đủ độ “chín” như bài viết của PGS – TS. Trần Thị Băng Thanh trên công luận về nhà Mạc.

4) Xin dừng phổ cập các bài viết thể hiện sự xuống cấp về mặt đạo đức, tư cách con người như trường hợp: Hoàng Thiếu Phủ vv.

5) Xin chấm dứt những bài báo giấy, báo điện tử khai thác những tư liệu dập khuôn sử cũ để viết về lịch sử nhà Mạc, vẽ tranh châm biếm, dựng truyện, dựng tuồng, chèo, khai thác những tình tiết phản cảm về vị vua thứ 5 nhà Mạc: Mạc Mậu Hợp”.

Bản tuyên bố là có căn cứ khoa học với sự kiện lịch sử trung thực, Kiến nghị sự công tâm khách quan giải mã”.

Chi tiết thông tin mời xem tại http://hoangkimlong.blogspot.com/2017/03/nha-mac-oc-lai-va-suy-ngam.html

MẠC TRIỀU TRONG SỬ VIỆT
Hoàng Kim

Ngày 12 tháng 7 năm 1527, Lê Cung Hoàng ra chiếu nhường ngôi hoàng đế cho Mạc Đăng Dung, kết thúc triều Lê sơ và mở đầu triều Mạc trong lịch sử Việt Nam. Mạc Triều mở đầu từ đó trãi ba thời kỳ, tổng cộng là 156 năm, trong đó ở Thăng Long 1527-1592 và ở Cao Bằng 1593 -1683. Mạc triều thay thế triều Lê sơ là một tất yếu lịch sử và đã để lại những dấu ấn nổi bật về tiến bộ xã hội.

Hình thế đất Việt khoảng năm 1590: Lãnh thổ nằm trong tầm kiểm soát của nhà Mạc xanh lục và nhà Lê trung hưng xanh lam. Mạc Triều ngoài các vị vua danh tiếng như Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh còn có những danh thần tài đức lỗi lạc như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn,… Mạc triều là một vương triều chính thống trong sử Việt nhưng lâu nay việc đánh giá còn thiên lệch, thiếu khách quan do nhận thức, ý thức hệ và sự thừa kế sử liệu chưa công bằng. Bài này đúc kết các thông tin nghiên cứu và trao đổi về Mạc triều trong sử Việt, nhằm góp phần phục thủy sự thật lịch sử để hậu thế đánh giá công bằng hơn và rút ra những được những bài học thấm thía hơn đối với những nhân vật lịch sử. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu sấm truyền về dòng tộc Mạc “Tứ bách niên tiền chung phục thủy/Thập tam thế hậu dĩ nhi đồng.”

HOÀNG CHI MẠC TỘC VÀ CAO BẰNG

Tỉnh Cao Bằng có làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, từ thời Mạc đến nay hàng năm đều có Lễ hội chùa Đà Quận từ ngày 9 âm lịch đến rằm Nguyên tiêu tháng Giêng hàng năm để tảo mộ tổ tiên và dâng hương tưởng nhớ. Cao Bằng là đất sau cùng của nhà Mạc tiếp tục tồn tại hơn 100 năm sau khi nhà Mạc không còn triển vọng phục quốc mới nhập vào đất nhà Hậu Lê. Làng Đà Quận là làng dân Mạc theo hương linh Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn. Nhà Mạc tuân theo di nguyện của Mạc Ngọc Liễn danh tướng thái phó vua Mạc là không bao giờ vì dòng họ mình mà nồi da xáo thịt đưa ngoại viện vào giày xéo non sông. Mạc tộc lúc kế cùng lực kiệt đã đổi họ Mạc thành họ khác và lưu tán khắp mọi nơi trong cả nước, trong đó có Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ và cho đến nay có Hoàng chi Mạc tộc đất phương Nam cũng là những người con xa xứ.

Những ngày đầu xuân nay (2018) sau 426 năm (tính từ năm 1592 Cao Bằng thất thủ vì sự công phá của nhà Lê Trịnh), chúng ta ghi nhớ di nguyện tổ tiên, ‘Lời dặn sau cùng của Mạc Ngọc Liễn’ tại quốc sử Việt đối chiếu qua các thời viết về Mạc triều trong sử Việt: “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có đoạn bình luận về lời trăng trối của ông: “Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”.

Chùm ảnh trong bài: Linh Giang dòng sông quê hương nơi ven sông có mộ tổ tiên Hoàng chi Mạc tộc (ảnh Hoàng Kim); Thái Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung tiếp sứ Minh (ảnh trong sách cổ nguồn Wikipedia); Nguồn Son tới Phong Nha (ảnh Hoàng Kim ban mai trên sông Son vào Phong Nha) Linh Giang dòng sông quê hương (ảnh Hoàng Kim ngã ba sông Son và Rào Nậy) ; Ban Mai trên sông Nhật Lệ ảnh Bu Lu Khin).

Nhà thơ Hoàng Gia Cương, hậu duệ dòng đích nhà Mạc giới thiêu khái quát về nguồn gốc Mạc tộc

TÌM VỀ NGUỒN CỘI

Hoàng Gia Cương

Tìm về Lũng Động, Cổ Trai (1)
Thắp hương bái lạy bao đời Tổ Tông
Biển gom nước vạn dòng sông
Thập tam thế hậu… nhi đồng” là đây! (2)

Qua bao giông bão, tháng ngày
Thay tên đổi họ chẳng thay đổi lòng
Vẫn là cha, vẫn là ông
Vẫn dòng máu ấy cuộn trong tim này!

Hoàng, Phan, Lều, Thạch … về đây
Trăm phương như nước như mây tụ nguồn
Gốc còn trên đất Hải Dương
Lá cành hoa trái đã vươn khắp miền.

Ta về tìm lại Tổ tiên
Tìm về nguồn cội khí thiêng sinh thành
Hương dâng là nghĩa là tình
Thoảng thơm như thể tinh anh giống dòng.

Cúi mình trước đấng Tổ Tông
Râm ran như được tiếp dòng máu thiêng !

1) Lũng Động thuộc huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương là quê của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi; Cổ Trai thuộc huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng là quê của Hoàng đế Mạc Đăng Dung.
2) Sau khi vương triều Mạc bị diệt, con cháu li tán phải đổi thành nhiều họ khác nhau. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu sấm truyền về dòng tộc Mạc “Tứ bách niên tiền chung phục thủy/Thập tam thế hậu dĩ nhi đồng

Ông Phạm Đức Hải với bài thơ “Phục thủy” tựa đề lấy từ ý của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, với các dẫn liệu lịch sử minh chứng vận Trời thế nước để hậu thế thấu hiểu Mạc triều và cắt nghĩa vì sao Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ứng xử như vậy.

PHỤC THỦY

Phạm Đức Hải

Ai đã nghe sấm trạng Trình
Xin mời đến đất Dương kinh thăm đền
cho dù khác họ ,chưa quen
“thập tam thế hậu…”anh em một nhà

cùng từ họ Mạc mà ra
ngày xưa Quốc sử ngợi ca hết lời:
“Ra đường không nhặt của rơi”
“cửa không cần đóng…”,”trộm thời bặt tăm…”

đắm chìm suốt bốn trăm năm
đao xưa thái tổ vẫn cầm còn đây
Phò ba vua ,dạ thẳng ngay
để rồi phải chịu tội này: cướp ngôi

chiếu nhường vị vẫn đấy thôi
sử gia đã chép : lòng người hướng theo…
xuất thân từ cảnh đói nghèo
quý từng tấc đất ,thương yêu đồng bào

trọng hiền tài, giỏi ngoại giao
suốt thời Nhà Mạc, giặc nào sang đâu
nhiều đời Trịnh ,Nguyễn đánh sau
chỉ vì tham lợi , quên câu “vận Trời”

mấy trăm năm, bấy nhiêu đời…
Gương trong “phục thủy” để rồi thêm trong
thắp hương khấn với tổ tông
cũng xin một nén vái ông: Trạng Trình (*)

Phạm Đức Hải ĐT :  0986668160
Lỗi Sơn, Gia Phong, Gia Viễn, Ninh Bình

MẠC TRIỀU TRONG SỬ VIỆT đọc lại và suy ngẫm. xem toàn văn tại đây https://hoangkimlong.wordpress.com/…/mac-trieu-trong-su-vi…/

ChucmungNammoiEM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN
Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
“Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

“Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang”

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng”
Hiên ngang khí phách:

“Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong”

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

“Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!”

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

“Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!”

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

“Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!”

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

Nguyễn Khoa Tịnh, 1970

Video yêu thích
KimYouTube

Bài viết mới
Khen cho con mắt tinh đời
Chào ngày mới 24 tháng 5


CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video nhạc tuyển

Chào ngày mới
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Kim on Twitter

Ngày của Mẹ

Ngày của Mẹ trong con

MẸ ĐI THANH THẢN CHÚNG CON NHỚ NGƯỜI
Hoàng Trung Trực

Mẹ đi về chốn vĩnh hằng
Quên đi bao nỗi nhọc nhằn Mẹ ơi
Thế là Mẹ đã xa rồi
Vành khăn tang thấm nghĩa đời chúng con

Tháng ngày lời Mẹ chẳng còn
Mẹ đi thanh thản, chúng con nhớ người
Gần trăm năm sống với đời
Biết bao gian khổ cuộc đời Mẹ lo

Có ngày cơm chẳng đủ no
Vầng trăng trí tuệ Mẹ lo chu toàn
Cho con khôn lớn bình an
Vượt lên số mệnh, hiên ngang với đời

Kiến thức khoa học sáng ngời
Hiền tài giúp nước, giúp đời Mẹ ơi!

VIẾNG MỘ CHA MẸ
Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao cha một thuở đau đời

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.

NhoMeCha


CẦU TRỜI NỐI MẸ CHA XƯA
Hoàng Kim

Cầu trời nối mẹ cha xưa
Mưa dày thấm đất nắng thưa thấu trời
Lời thương giao cảm lòng người
Ngày của Mẹ suốt trọn đời trong con.


CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video nhạc tuyển

Chào ngày mới
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Kim on Twitter

Nhà Trần trong sử Việt

NHÀ TRẦN TRONG SỬ VIỆT
Hoàng Kim

Nhà Trần hoặc Trần triều là triều đại quân chủ phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Trần Cảnh (Trần Thái Tông) lên ngôi vào năm 1225, sau khi được Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi, tiếp nối bởi Trần Hoảng (Trần Thánh Tông) Trần Khâm (Trần Nhân Tông). Đây là thời thứ nhất dựng nghiệp lớn, chống quân Nguyên Mông và đạt đến nhà Trần thịnh thế ngời sử Việt. Thời nhà Trần thứ hai từ Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông là thời kế tục. Thời nhà Trần thứ ba từ Trần Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Trần Minh Tông mất)  cho tới kết thúc là thời suy tàn, lúc Hồ Quý Ly phế truất Thiếu Đế, tự xưng làm vua, lập ra triều đại nhà Hồ năm 1400 thì Trần triều chấm dứt, kéo dài 175 năm với 13 đời hoàng đế.

Ngày họ Trần

Ngày này năm xưa. Ngày 17 tháng 2 năm 1234, ngày Trần Thừa, Thái thượng hoàng đầu tiên của nhà Trần, Việt Nam qua đời (ông sinh năm 1184). Trần Thừa là cha của Trần Thái Tông. Ông tại vị Thái Thượng hoàng khi con ông, Trần Thái Tông trở thành Hoàng đế và lập ra nhà Trần. Khi ấy, Thái Tông còn nhỏ, ông cùng Thái sư Trần Thủ Độ làm nhiếp chính, nắm quyền từ khi lên ngôi 1225 đến khi qua đời, tổng cộng là 9 năm. Ông là một trong hai Thái thượng hoàng chưa từng làm Hoàng đế trong lịch sử Việt Nam, người kia là Sùng Hiền hầu, cha của Lý Thần Tông. Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nha-tran-trong-su-viet/

Ngày họ Trần đời sau có hai sự kiện lớn liên quan. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, Quân đội Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng và xây dựng quân đội dọc theo biên giới. Ngày 17 tháng 2 năm 1859, Chiến tranh Pháp – Đại Nam: Quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định và sau đó một thời gian đã phá hủy thành. Xem tiếp https://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-17-thang-2/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Sớm Xuân

SỚM XUÂN
Hoàng Kim

Sớm Xuân mưa mai nở
Trời đất lắng yêu thương.
Hoa Bình Minh ghé cửa.
Vườn xuân đẹp lạ thường.

An nhiên và tỉnh thức
Minh triết với tận tâm
Thung dung cùng tháng năm
Hạnh phúc đang nhú mầm

Thơ cũ thương xuân hiểu
Ngày mới yêu lộc xuân.

NGÀY MỚI

Mạnh Hạo Nhiên
(bản dịch Hoàng Kim)

Ban mai chợt tỉnh giấc,
Nghe đầy tiếng chim kêu.
Đêm qua mây mưa thế,
Hoa xuân rụng ít nhiều?

Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) là nhà thơ người Tương Dương, Tương Châu, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc ,Trung Quốc thời nhà Đường, thuộc thế hệ đàn anh của Lí Bạch. Ông là người nhân cách lỗi lạc, yêu thiên nhiên, phúc hậu đức độ, học vấn tài năng trác tuyệt, giỏi thơ văn, nhưng chán ghét cảnh quan trường nên ẩn cư vui với thiên nhiên, sông núi quê hương , đặc biệt là Long Môn, Nam San và Lumen Sơn. Sự nghiệp văn chương của ông sừng sững như núi cao với hai trăm sáu mươi bài thơ, phần lớn là những bài thơ sơn thuỷ tuyệt bút . Thơ năm chữ của Mạnh Hạo Nhiên luật lệ nghiêm cách, phóng khoáng, hùng tráng, rất nổi tiếng. Bài Xuân hiểu và Lâm Động Đình được nhiều người truyền tụng. Lí Bạch rất hâm mộ Mạnh Hạo Nhiên và có thơ tặng ông:

Tặng Mạnh Hạo Nhiên

Lý Bạch

Ta mến chàng họ Mạnh,
Phong lưu dậy tiếng đồn
Tuổi xanh khinh mũ miện
Đầu bạc ngủ mây cồn
Dưới trăng nghiêng ngửa chén
Bên hoa mê mẩn hồn
Hương bay thầm đón nhận
Không với tới đầu non

Trang thơ Hoàng Nguyên ChươngThi Viện hiện lưu dấu thơ ông.

春 曉
XUÂN  HIỂU

春   眠   不   覺   曉,
Xuân miên bất giác hiểu.
處   處   聞   啼   鳥。
Xứ xứ văn đề điểu
夜  來   風   雨   聲,
Dạ lai phong vũ thinh.
花  落   知   多   少?
Hoa lạc tri đa thiểu

Dịch nghĩa:
SỚM XUÂN
(Đang nằm trong) giấc ngủ mùa xuân, không biết trời đã sáng.
Khắp nơi nơi nghe tiếng chim kêu (rộn rã).
Đêm qua có tiếng gió mưa.
Không biết hoa rụng nhiều hay ít ?.
Hoàng Nguyên Chương dịch

Dịch thơ

Giấc xuân trời sáng không hay,
Chim kêu ríu rít từng bầy khắp nơi.
Đêm qua mưa gió tơi bời
Biết rằng hoa cũng có rơi ít nhiều.

(Bản dịch Trần Trọng Kim)

SỚM XUÂN
Giấc ngủ mùa xuân, không biết sáng.
Khắp nơi rộn rã tiếng chim kêu.
Đêm qua sầm sập trời mưa gió
Không biết hoa bay rụng ít nhiều

(bản dịch Hoàng Nguyên Chương).

BUỔI SÁNG MÙA XUÂN
Giấc xuân, sáng chẳng biết;
Khắp nơi chim ríu rít;
Đêm nghe tiếng gió mưa;
Hoa rụng nhiều hay ít ?

(Bản dịch Tương Như)

SỚM XUÂN
Giấc xuân nào biết hừng đông.
Tỉnh ra chim đã véo von khắp trời,
Đêm qua mưa gió bời bời,
Ngoài kia nào rõ hoa rơi ít nhiều!

(Bản dịch của Ngô Văn Phú)

BUỔI SÁNG MÙA XUÂN
Đêm xuân ngủ sáng chẳng hay,
Bên ngoài chim đã hót đầy nơi nơi.
Đêm nghe mưa gió tơi bời,
Chẳng hay hoa rụng hoa rơi ít nhiều?

(Bản dịch của Hoàng Giáp Tôn)

“Xuân hiểu” (Sớm xuân) của Mạnh Hạo Nhiên nói về giấc ngủ mùa xuân (xuân miên) thung dung, an nhiên, tự tai cho đến khi trời chợt sáng (bất giác hiểu?). “Xuân hiểu” không đơn thuần chỉ là mùa xuân mà còn chỉ ngày mới,  quy luật vĩnh cữu của trời đất, khoảnh khắc huyền diệu của vũ trụ, thời điểm chuyển tiếp từ đêm sang ngày, từ âm sang dương, từ tĩnh sang động, từ tối đến sáng. Đó là thời khắc ban mai tuyệt diệu của tạo hóa, đất trời và con người hòa chung làm một, là thời khắc giao hoà tuyệt vời được thể hiện thanh thoát lạ lùng.

Điều đặc sắc của tác phẩm “Xuân hiểu” là đã dùng chữ xuân và chữ hiểu. Chữ xuân thì dễ thấy để chỉ sự tươi trẻ, khởi đầu, triết lý sống lạc quan. Chữ  hiểu “giác” (覺) có nghĩa là hiểu mà không dùng chữ “tri” (知) có nghĩa là biết để chỉ sự hiểu biết tận cùng chân tính của sự vật. Tác giả đã dùng chữ “hiểu” (曉) để chỉ về ban mai mà không dùng các chữ khác như: đán (旦) , tảo (早) hạo (暭), thịnh (晟), thần (晨), thự (曙), hi (晞) v.v.. Bởi chữ hiểu vừa có nghĩa là hiểu biết , lại vừa có nghĩa chỉ về buổi sớm,  ban mai, ngày mới, cái khoảnh khắc huyền diệu của vũ trụ.

Nhà Phật đã dùng chữ “giác” (覺) này trong “giác ngộ”, “chính giác” để chỉ  những điều thấu hiểu đã đạt ngộ đến đích của thiền tính. Khoa học giúp ta tri thức, sự biết , Phật học là minh sư chỉ ra sự đạt ngộ, giác ngộ này . Nhà bác học Anhstanh, cha đẻ của Thuyết tương đối, nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” chính là nói trên ý nghĩa đó.

Tôi thích lời bình của Hoàng Nguyên Chương về thơ Mạnh Hạo Nhiên: “Sau cái tĩnh lặng của giấc ngủ là cái động, thức giấc của con người, mặt trời và sự sống. Ta thấy sự sống tưng bừng của vũ trụ “xứ xứ” (khắp nơi) rộn tiếng chim. Chữ “văn” ở đây cho ta xác định được cái tiểu vũ trụ của tác giả và chính tác giả là chủ thể của con người trung tâm đang nhìn ra khắp chốn (xứ xứ) của đại vũ trụ để bắt nguồn giao cảm từ ý nghĩa vạn vật đều có đủ trong ta (vạn vật giai bị ư ngã) hoặc vạn vật với ta là một (vạn vật dữ ngã vi nhất) hay nói khác hơn đó là vạn vật đã đồng nhất với cái ngã. Hình tượng chim (điểu) cũng chỉ là một thực thể bé nhỏ và âm thanh kêu, hót (đề) cũng chỉ là “dữ cộng tương sinh” nhưng lại là đại biểu cho tất cả mọi sinh vật làm biểu tượng cho cả sự sống muôn loài vừa trổi dậy. Như thế mỗi thực thể bé nhỏ ở đây không chỉ là mỗi tiểu vũ trụ mà đã hình thành biểu trưng cho cả một đại vũ trụ.”  …Con người  hiện tại tiếp tục suy tư chiêm nghiệm để tự hỏi: Dạ lai phong vũ thinh (Đêm qua có tiếng gió mưa). Hình ảnh gió mưa chính là nguyên nhân đưa đến hiện trạng của ngày mới. Đóa hoa  là biểu tượng của sự sống, của nguồn sinh mệnh trong cõi đời. Đó là những thực thể bé nhỏ nhưng lại là những tiểu vũ trụ như lời Đỗ Phủ: “Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân” (một cánh hoa rơi làm giảm đi vẻ đẹp của xuân) nhưng ý tưởng lại còn đi xa hơn thế nữa. Bởi vì hình thức mỗi cánh hoa còn lại trên cành hay rụng đi là một nỗi băn khoăn về lẽ tồn tại hay không tồn tại. Đó là sự thao thức về đời người và thân phận con người. Câu thơ “Hoa lạc tri đa thiểu” (không biết hoa rụng nhiều hay ít?)  là câu thơ tuyệt bút đã làm bài thơ bừng tỏa. … Đây cũng là phong cách tiêu biểu của Đường thi, phong cách đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật và mỗi chữ mỗi lời là một viên ngọc...” .

Ngày mới là ngày xuân

Noi theo tứ thơ khoáng đạt “Chim lượn trăm vòng” của Chế Lan Viên:  “Tôi yêu quá! cuộc đời như con đẻ/ Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng…/ Cánh thơ tôi thoát khỏi phòng nhỏ bé? Lượn trăm vòng trên Tổ quốc mênh mông”: Tôi đọc và tâm đắc thơ “Xuân hiểu” của Mạnh Hạo Nhiên, nay thử tìm lối diễn đạt mới cho tuyệt phẩm này. “Xuân hiểu” là “Ngày mới”; “Ban mai chợt tỉnh giấc / Nghe đầy tiếng chim kêu/ Đêm qua mây mưa thế/ Hoa xuân rụng ít nhiều?”.

Ngày mới là ngày xuân. Mây mưa vừa tục vừa thanh như cuộc đời này. Hoa xuân rụng nhiều hay ít là sự thao thức về “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”, đời người và thân phận con người.

Hoàng Kim

NGÀY MỚI

NGÀY NÀY NĂM NGOÁI


CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thich

https://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Ngày của An

Ngày của An
Hoàng Kim

Hôm nay Hoàng Gia An
Vừa đủ tròn một tuổi
Ngày hai bảy tháng Giêng
Cũng là ngày ông Nộị.
Năm mươi năm trước đây
Cũng là năm cố Ngoại
Mậu Thân năm 68
Bom Mỹ cướp mất Người
Ngày của An tuyệt vời
Nắng ban mai đầy cửa.
Sớm xuân cuối đêm lạnh.
Tỉnh thức Hoa Bình Minh.

Video yêu thích

 


Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Pushkin 9 kiệt tác thơ tình


Thơ Pushkin bình minh Nga

Hoàng Kim

Pushkin là đại thi hào, mặt trời thi ca Nga.
Thơ Pushkin kiệt tác văn chương đích thực.
Thơ Pushkin bình minh Nga.

Pushkin là hậu duệ gia đình Boyar
con người tinh thần đất nước Nga.
Mẹ là dòng dõi Abram Gannibal
một nô lệ da đen tuyệt đỉnh thông minh.
Ông làm con nuôi của Pie Đại Đế
là vị vua lừng lẫy nhất nước Nga.
Pushkin mất ngày 10 tháng 2 năm 1837
do đấu súng trong danh dự và trọng thương
38 tuổi xuân với di sản văn chương kiệt tác

Chín bài thơ tình tuyệt hay đã đưa tiếng Nga đến bao người học
Gorki tôn vinh thơ Pushkin là “khởi đầu của mọi khởi đầu”
Bielinxki ngợi ca “nhà cải cách vĩ đại của văn học Nga”
Gôgôn khen tặng  “con người của tinh thần Nga”
Chúng ta học để đi trên con đường di sản

Tôi yêu em
Con đường mùa đông
Biển
Ta nhớ biển trước khi cơn bão đến
Em bảo anh đi đi
Vô tình
Tỉnh thức
Sương và Nắng
Nhớ …

Thơ Puskin như biển cả
Lồng lộng trời biển và em
Thơ Puskin là bình minh Nga
Trước biển trời xuân tỉnh thức


(*) ‘Puskin 9 kiệt tác thơ tình
và các bản dịch tiếng Việt

Я вас любил

Я вас любил: любовь еще, быть может,
В душе моей угасла не совсем;
Но пусть она вас больше не тревожит;
Я не хочу печалить вас ничем.

Я вас любил безмолвно, безнадежно,
То робостью, то ревностью томим;
Я вас любил так искренно, так нежно,
Как дай вам бог любимой быть другим.

Dịch nghĩa

Tôi đã yêu em: tình yêu hãy còn, có lẽ là
Trong lòng tôi (nó) đã không tắt hẳn;
Nhưng thôi, hãy để nó chẳng quấy rầy em thêm nữa.
Tôi không muốn làm phiền muộn em bởi bất cứ điều gì.

Tôi đã yêu em lặng thầm, không hy vọng,
Bị giày vò khi thì bởi sự rụt rè, khi thì bởi nỗi hờn ghen.
Tôi đã yêu em chân thành đến thế, dịu dàng đến thế,
Cầu Chúa cho em vẫn là người được yêu dấu như thế bởi người khác.

1829

Tôi yêu em
Pushkin
bản dịch thơ của Thúy Toàn

Tôi yêu em: đến nay chừng có thể.
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;
Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

Tôi yêu em âm thầm không hy vọng,
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,
Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm,
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

Nguồn: Thơ Pushkin, Thi Viện
1. Puskin, Thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội, 1986
2. Tuyển tập Alexandr Puskin (thơ, trường ca), NXB Văn học, 1999

Зимняя дорога

Сквозь волнистые туманы
Пробирается луна,
На печальные поляны
Льет печально свет она.

По дороге зимней, скучной
Тройка борзая бежит,
Колокольчик однозвучный
Утомительно гремит.

Что-то слышится родное
В долгих песнях ямщика:
То разгулье удалое,
То сердечная тоска…

Ни огня, ни черной хаты…
Глушь и снег… Навстречу мне
Только версты полосаты
Попадаются одне.

Скучно, грустно… Завтра, Нина,
Завтра, к милой возвратясь,
Я забудусь у камина,
Загляжусь не наглядясь.

Звучно стрелка часовая
Мерный круг свой совершит,
И, докучных удаляя,
Полночь нас не разлучит.

Грустно, Нина: путь мой скучен,
Дремля смолкнул мой ямщик,
Колокольчик однозвучен,
Отуманен лунный лик.

Dịch nghĩa

Xuyên qua sương mù gợn sóng
Mặt trăng nhô ra,
Trăng buồn bã dội ánh sáng
Lên cánh đồng u buồn.

Trên đường mùa đông buồn tẻ
Xe tam mã vun vút lao đi,
Lục lạc đơn điệu
Mệt mỏi rung lên.

Có gì vang lên thân thiết
Trong các khúc hát ngân nga của xà ích:
Khi thì niềm vui rộn rã
Khi thì nỗi buồn tâm tình…

Không một ánh lửa, mái lều.
Rừng sâu và tuyết… Ngược chiều tôi
Chỉ có cột sọc chỉ đường
Chạy tới…

Chán ngán, buồn quá… Ngày mai, Nhina
Ngày mai, quay về với em yêu
Tôi sẽ lặng người bên lò sưởi,
Ngắm em không chán mắt

Kim đồng hồ tích tắc
Quay hết vòng đều đều của nó,
Và xua đám người tẻ ngắt,
Nửa đêm, không rẽ chia ta.

Buồn quá, Nhina: đường tôi đi tẻ ngắt,
Bác xà ích lặng lẽ thiu thiu,
Tiếng lục lạc đơn điệu,
Mặt trăng mờ sương.

1826

Con đường mùa đông
Pushkin
bản dịch thơ của Thúy Toàn

Xuyên những làn sương gợn sóng
Mảnh trăng mờ ảo chiếu qua
Buồn dải ánh vang lai láng
Trên cánh đồng buồn giăng xa

Trên con đường mùa đông vắng vẻ
Cỗ xe tam mã băng đi
Nhạc ngựa đều đều buồn tẻ
Đều đều khắc khoải lòng quê

Bài ca của người xà ích
Có gì phảng phất thân yêu:
Như niềm vui mừng khôn xiết
Như nỗi buồn nặng đìu hiu

Không một mái lều, ánh lửa…
Tuyết trắng và rừng bao la…
Chỉ những cột dài cây số
Bên đường sừng sững chào ta

Ôi, buồn đau, ôi cô lẻ…
Trở về với em ngày mai
Nhina, bên lò lửa đỏ
Ngắm em, ngắm mãi không thôi

Kim đồng hồ kêu tích tắc
Xoay đủ những vòng nhịp nhàng
Và xua lũ người tẻ ngắt
Để ta bên nhau trong đêm

Sầu lắm. Nhina, đường xa vắng
Ngủ quên, bác xà ích lặng im
Nhạc ngựa đều đều buông xa thẳm
Sương mờ che lấp ánh trăng nghiêng.

Nguồn: Thơ Pushkin, Thi Viện
1. Puskin, Thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội, 1986
2. Tuyển tập Alexandr Puskin (thơ, trường ca), NXB Văn học, 1999

Biển
Pushkin

Tôi chưa ra biển bao giờ
Ngỡ biển xanh, xanh màu im lặng
Tôi chưa yêu bao giờ
Ngỡ tình yêu là ảo mộng

Ngày nay tôi đã ra biển rồi
Biển nhiều sóng to, gió lớn
Ngày nay tôi đã yêu rồi
Tình yêu nhiều khổ đau – cay đắng

Không gió lớn, sóng to không là biển
Chẳng nhiều cay đắng, chắng là yêu…

Nguồn: Thơ hay về biển (Hoàng Kim tuyển chọn)
1. Puskin, Thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội, 1986
2. Tuyển tập Alexandr Puskin (thơ, trường ca), NXB Văn học, 1999

“Я помню море пред грозою”

Я помню море пред грозою:
Как я завидовал волнам,
Бегущим бурной чередою
С любовью лечь к ее ногам!
Как я желал тогда с волнами
Коснуться милых ног устами!
Нет, никогда средь пылких дней
Кипящей младости моей
Я не желал с таким мученьем
Лобзать уста младых Армид,
Иль розы пламенных ланит,
Иль перси, полные томленьем;
Нет, никогда порыв страстей
Так не терзал души моей!

Ta nhớ biển trước khi cơn bão đến
Pushkin
bản dịch thơ của Cẩm Hà

Ta nhớ biển trước khi cơn bão đến:
Ta ghen với từng con sóng trào dâng
Sóng trập trùng lớp lớp mênh mông
Mang tình yêu dưới chân nàng phủ phục!
Ta ước ao cùng từng ngọn sóng
Hôn ngón chân yêu kiều bằng dịu nhẹ bờ môi!
Không, chẳng bao giờ giữa năm tháng sục sôi
Cuồng nhiệt nấu nung thời ta trai trẻ
Ta từng mong, xót xa đến thế,
Hôn đôi môi nàng Armide tuổi xuân
Hay đôi má hồng rực bỏng thanh tân
Hay bầu ngực, tràn đầy náo nức;
Không, chưa bao giờ tâm hồn ta day dứt
Đến dường này vì khao khát đam mê!

Em bảo anh đi đi…
Pushkin

Em bảo: “Anh đi đi”
Sao anh không đứng lại ?
Em bảo: “Anh đừng đợi”
Sao anh vội về ngay ?

Lời nói thoảng gió bay
Đôi mắt huyền đẫm lệ
Mà sao anh dại thế
Không nhìn vào mắt em

Mà sao anh dại thế
Không nhìn vào mắt em
Không nhìn vào mắt sầu
Không nhìn vào mắt sâu ?

Những chuyện buồn qua đi
Xin anh không nhắc lại
Em ngu khờ vụng dại
Anh mơ mộng viễn vông

Đời sống nghiệt ngã không
cho chúng mình ấm mộng
Thì thôi xin gửi sóng
Đưa tình về cuối sông

Thì thôi xin gửi sóng
Đưa tình về cuối sông
Đưa tình về với mộng
Đưa tình vào cõi không.

Vô tình
Pushkin

Vô tình anh gặp em
Rồi vô tình thương nhớ
Đời vô tình nghiệt ngã
Nên chúng mình yêu nhau

Vô tình nói một câu
Thế là em hờn dỗi
Vô tình anh không nói
Nên đôi mình xa nhau

Chẳng ai hiểu vì đâu
Đường đời chia hai ngả
Chẳng ai có lỗi cả
Chỉ vô tình mà thôi

Vô tình suốt cuộc đời
Anh buồn đau mải miết
Vô tình em không biết,
Hay vô tình em quên?
Anh buồn đau mải miết,
Cả cuộc đời không quên!

Chỉ vô tình mà thôi,
Chẳng ai có lỗi cả;
Đường đời chia hai ngả,
Chẳng ai hiểu vì đâu

Vô tình anh không nói,
Vô tình nói một câu,
Thế là em hờn rỗi,
Thế là mình xa nhau.

Giá như mình yêu nhau,
Đời chắc không nghiệt ngã,
Trời cũng thương, cũng nhớ,
Cho mình gặp lại nhau.

Tỉnh thức
Pushkin

Ước mơ, ước mơ
Ngọt ngào em đâủ
Em đâu, em đâu
Niềm vui đêm tốỉ
Sao em đi vội
Ôi, giấc mơ tiên?
Để anh ở lại
Bốn bề màn đêm.
Quạnh hiu tỉnh giấc
Chăn gối xung quanh
Và đêm lặng ngắt
Thoắt thôi lạnh mình
Thoắt thôi bay mất
Bao giấc mơ tình!
Nhưng hồn đầy ắp
Ước muốn còn xanh

Sương và Nắng
Pushkin

Em cần anh như biển xanh cần sóng.
Có mặt biển nào yên lặng được đâu anh.
Em yêu anh bởi vì anh là nắng.
Có hạt sương nào thiếu nắng lại long lanh.

Em là sương, sương chỉ tan trong nắng.
Dẫu chẳng hình hài nắng vẫn đọng lại trong sương.
Anh là nắng khi bình minh trở dậy.
Mang lửa trời trong ánh sáng ban mai.
Em là sương đọng muôn vàn nỗi nhớ.
Để tan đi trong những giấc mơ dài.
Nhưng vẫn nguyện làm giọt sương mãi mãi.
Soi nắng mặt trời mãi mãi chẳng tàn phai.
Dẫu bão tố chẳng ra ngoài lòng nắng.
Nắng lên rồi xin lại được làm sương.
Vũ trụ không gian biến đổi khôn lường.
Những buổi sáng có bao giờ bất biến.
Những tia nắng không ngừng hiển hiện.
Như đêm ngày luân chuyển chẳng chia ly.
Mặt trời ơi! Sức nắng diệu kỳ.
Đầy sương sớm với tâm hồn nguyên thuỷ.
Với năm tháng vẫn quay về bền bỉ.
Soi nắng mặt trời như từ kỷ sơ sinh.

Em là sương, sương chỉ tan trong nắng.
Nắng vô cùng nhưng đọng lại trong sương.
Từ mênh mông tia nắng nhỏ bình thường.
Gặp sương sớm bỗng ngời lên lóng lánh.
Nếu vì nắng mà lòng sương bớt lạnh.
Thì nhờ sương tia nắng mới long lanh.
Đáng yêu sao hạt sương nhỏ hiền lành.
Từ trong suốt mà làm nên tha thiết.
Anh là nắng với sắc tình bất diệt.
Mang lửa trời từ những kỷ xa xôi.
Về đọng lại trong hạt sương nhỏ em ơi!

Nhớ
Pushkin

Lạ quá ! Không hiểu vì sao
Ðứng trước em anh lạnh lùng đến thế ?
Nhưng anh đi rồi mình anh với bóng lẻ
Mới thấy mình khẽ nói : Nhớ làm sao ?!

Chúng nó cứ bảo nhớ là yêu
Còn anh thì không biết nữa
Tình yêu với anh sao kỳ lạ thế
Lúc xa rồi mới thấy mình yêu !

Tình yêu đến nào ai có biết
Tình yêu đi nào ai có hay ?
Theo thời gian, trái đất nó cũng quay
Tình yêu đến, tình yêu đi …
nào ai có biết

Video yêu thích
Quê Hương saxophone hay nhất của Trần Mạnh Tuấn
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Video yêu thích

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Nắng sớm

Nắng sớm
ảnh Đặng Hồng Kỳ, thơ Hoàng Kim

Chào ngày mới thật tươi vui
Nắng sớm an nhiên phúc hậu
Thanh thản tình yêu cuộc sống.
Ta tìm đến chốn thung dung.

Đến chốn thung dung
Hoàng Kim

Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt (*)
Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm, ta về còn trọn niềm tin.

Phúc hậu an nhiên
Hoàng Kim

Thăm người ngọc nơi xa vùng tỉnh lặng,
Chốn ấy đồng xanh, người đã chào đời.
Nơi sỏi đá, giữa miền thiêng hoa cỏ,
Thiên nhiên an lành  bước tới thảnh thơi.

Sống giữa đời vui giấc mơ hạnh phúc,
Cổ tích đời thường đằm thắm yêu thương.
Con cái quây quần thung dung tự tại
Minh triết cuộc đời phúc hậu an nhiên.

Xuân Hạ Thu Đông bốn mùa luân chuyển
Say chân quê ngày xuân đọc Trạng Trình
Ngày ra ruộng đêm thì đọc sách.
Ngọc cho đời giữ trọn niềm tin.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Về với ruộng đồng
Hoàng Kim

Người khôn về chốn đông người
Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông
Ta vui về với ruộng đồng
Để gieo tục ngữ để trồng dân ca.

Thỏa thuê cùng với cỏ hoa
Thung dung đèn sách, nhẫn nha dọn vườn
Mặc ai tính thiệt so hơn
Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng

Thiên nhiên là thú thần tiên
Chân quê là chốn bình yên đời mình
Bạn hiền bia miệng anh linh
Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian

Nước trong ngập ánh trăng vàng
Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo
Lợi danh một thực mười hư
Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi

Thung dung thanh thản cuộc đời
Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm
Ta vui hạnh phúc trăm năm
Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Minh triết cho mỗi ngày

CON MẮT THỨ BA.
Hoàng Kim.

Cuộc đời như mắt trong. Con mắt thứ nhất soi mình. Tâm nguyện lòng mình yêu thích. Con mắt thứ hai soi vào thành quả. Có thật tốt hơn cho người hưởng không? Con mắt thứ ba soi từ tuệ nhãn. Ánh sáng tỉnh thức tâm hồn. Thói quen lao động bình dị cần cho sức khỏe và tình yêu. Chúng ta trọng người lao động bởi việc làm mỗi ngày tận tâm và lương thiên của họ. 30 năm nhìn lại thật thấm thía minh triết cho mỗi ngày

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-cho-moi-ngay/ Hoang Kim với Võ Văn Tuấn và — với Phạm Văn Ngọc tại Đồng Nai Province.

xem tiếp

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-cho-moi-ngay/ Hoang Kim với Võ Văn Tuấn và — với Phạm Văn Ngọc tại Đồng Nai Province.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Địa chỉ xanh Ấn Độ

Địa chỉ xanh Ấn Độ
Hoàng Kim

“Địa chỉ xanh Ấn Độ” “Học để làm ở Ấn Độ“, là chùm ảnh đẹp tôn vinh tình bạn quý của chúng ta. Cám ơn Mark Zuckerberg và Facebook đã lưu kỷ niệm và nhắc tôi viết về ngày tình bạn với câu chuyện tuyệt vời này. https://hoangkimlong.wordpress.com/cate…/dia-chi-xanh-an-do/.

Bernardo Ospina hôm nay là ngày sinh. Chúc mừng sinh nhật Bernardo Ospina. Lời chào từ Việt Nam đến Bernardo Ospina, người bạn tốt của nông dân trồng sắn châu Á. Lời chào từ Nguyễn Văn Bộ và Hoàng Kim tới C L Laxmipathi Gowda và các bạn. Chúng tôi có nhiều người bạn quý trọng ở Ấn Độ.

Bernardo Ospina là một chuyên gia sắn lỗi lạc hàng đầu ở châu Mỹ La tinh. Anh đã nhiều lần đếncùng nghiên cứu phát triển sắn bền vững ở Việt Nam. Anh cũng có mặt ở Hội thảo Cây có Củ toàn cầu ở Kuala Lumpur (Malaysia), Hội thảo Cây có Củ toàn cầu ở Ghent (Bỉ) và đã cùng các chuyên gia IFAD, FAO, ICRISAT, CIAT, VAAS, NLU  trao đổi tổng kết một dự án khoa học nông nghiệp tại Việt Nam. Chúng tôi đồng hành và cùng suy niệm về bài học Ấn Độ.

Tôi đã nhiều lần đến Ấn Độ, có nhiều người bạn quý ở bên đó, trong số đó có S. Edison là Viện Trưởng của Viện Cây Có Củ Toàn Ấn (CTCRI) ông đã nhiều lần sang thăm Sắn Việt Nam và đã từng cùng vợ chồng thầy Mai Văn Quyền và vợ chồng anh Bùi Bá Bổng dự tiệc cưới các con tôi là Hoàng Bá Lộc và Hoàng Tố Nguyên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Những năm trước đây, tôi đã được trãi nghiệm đi khảo sát các vùng trồng sắn, đậu đỗ và cây nông nghiệp chủ yếu tại các bang Kerala, Tamil Nadu, Andhra Pradesh, Karnataka, Maharashtra. Sắn Ấn Độ năng suất cao nhất thế giới chủ yếu bởi vùng sắn có tưới ở Tamil Nadu và Andhra Pradesh còn tại Kerala, Karnataka, Maharashtra và các bang khác thì chủ yếu nhờ nước trời như Sắn Việt Nam. Anh Bổng học tiến sĩ ở Ấn Độ và đã từng đoạt giải sinh viên xuất sắc nhất Toàn Ấn. Nhiều chuyên gia khoa học nông nghiệp Việt Nam được đào tạo ở Ấn Độ.

Những năm gần đây tôi có ba lần sang dự hội thảo và báo cáo kết quả thực hiện đề tài nhánh tại ICRISAT là cơ qua chủ trì điều phối sự phối hợp liên lục địa Á Âu Mỹ (ảnh trên). Cách mạng sắn ở Việt Nam đã được thế giới biết đến, tiếp sức và đánh giá cao. Việt Nam là điểm sáng toàn cầu về thành tựu chọn giống sắn, kỹ thuật thâm canh, liên kết sản xuất với chế biến và tiêu thụ sắn cho xuất khẩu và thị trường trong nước. Sắn Việt Nam đã nâng cao sinh kế và thu nhập cho hàng triệu hộ nông dân nghèo trồng và chế biến sắn. Thành công này của nông dân và các nhà khoa học nông nghiệp, nhà khuyến nông, quản lý và doanh nghiệp Việt Nam là có sự đồng hành mạnh mẽ của các chuyên gia quốc tế.

Viện nghiên cứu cây trồng quốc tế cho vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) là một tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu nông nghiệp cho phát triển nông thôn có trụ sở tại Patancheru (Hyderabad, Telangana, Ấn Độ) với nhiều trung tâm khu vực (Bamako (Mali), Nairobi (Kenya) ) và các trạm nghiên cứu (Niamey (Niger), Kano (Nigeria), Lilongwe (Malawi), Addis Ababa (Ethiopia), Bulawayo (Zimbabwe)). ICRISAT được thành lập năm 1972 bởi một tập đoàn các tổ chức do Ford và Rockefeller triệu tập. Điều lệ của FAO đã được ký bởi FAO và UNDP. Kể từ khi thành lập, nước chủ nhà Ấn Độ đã dành cho ICRISAT một vị trí đặc biệt với tư cách là một Tổ chức Liên hợp quốc hoạt động trên lãnh thổ Ấn Độ, làm cho nó hội đủ điều kiện cho các đặc quyền miễn trừ đặc biệt và đặc quyền thuế. ICRISAT được quản lý bởi một Tổng giám đốc hoạt động toàn thời gian dưới sự chỉ dẫn chung của Ban Quản trị Quốc tế. Tổng giám đốc thuở tôi sang làm việc (trước năm 2016)  là tiến sĩ Wiliam Dar người Philippines, Phó Tổng Giám đốc là C L Laxmipathi Gowda.  Tổng giám đốc hiện nay là Tiến sĩ David Bergvinson. Chủ tịch hiện tại của Hội đồng là Giáo sư Chandra Madramootoo.

ICRISAT – Science of discovery to science of delivery Ấn Độ, ICRISAT thực sự là một điểm nhấn khám phá khoa học chuyển đổi nhân sinh hướng tới con người

Bài học quý giá nhất của tôi học được từ đất nước Ấn Độ là triết lý vô ngã HÃY LÀ CHÍNH MÌNH và HỌC ĐỂ LÀM, HỌC BỞI LÀM (Learning by Doing/ Learning to Doing). Tôi chưa viết được nhiều nhặn gì về Ấn Độ, đất nước và con người, chưa kể được nhiều nhặn gì về những người bạn quý. Đó là một món nợ tình cảm yêu thích.

“Địa chỉ xanh Ấn Độ” “Học để làm ở Ấn Độ“ là phóng sự ảnh, “kinh không lời” chân dung phác thảo của những người bạn lớn.

Họ là những bạn tốt, hợp tác thân thiện. Đó là bài học thành công.

xem tiếp...https://hoangkimlong.wordpress.com/category/dia-chi-xanh-an-do/.

Yên Tử Trần Nhân Tông

Tảo mai nhớ đức Nhân Tông
Hoàng Kim

Tảo mai là lặt lá mai,
trước năm ngày Táo Quân bay về Trời.

Sau năm hôm tiết Lập xuân
Mai khi gặp lại thấy xuân lạ thường.
Thơ Thiền của đức Nhân Tông,
thẳm sâu kiệt tác mênh mông đất trời.

Sớm xuân nay đến với Người,
cành hoa xuân giấc mộng đời hiền nhân.

(*) Hôm nay là ngày 4 tháng 2 năm 2018 nhằm ngày 19 tháng 12 Đinh Dậu âm lịch, là ngày đầu tiết Lập xuân trong 24 tiết khí lịch nhà nông, cũng là ngày tảo mai (hái lá mai trước 5 ngày của Táo quân về Trời trong Tết Nguyên Đán của người Việt). Theo phong tục người Việt việc lặt lá mai phải chậm rãi, cẩn thận, chăm chút, để tâm thành vào lộc hoa và nhớ về người thân. Khi lặt lá mai xong nên tưới đủ nước. Sau năm ngày nụ hoa sẽ ươm đều trên cành xuân. Cây được tưới nước và chăm sóc đúng sẽ trổ hoa đúng đẹp và đều trong dịp Tết. Xin chép lại Kiệt tác thơ thiền đức Nhân Tông bài thơ Tảo mai

Tảo Mai
Trần Nhân Tông

Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,
Đông phong tiên dĩ đáo cô côn (căn).
Ảnh hoành thuỷ diện băng sơ bạn,
Hoa áp chi đầu noãn vị phân.
Thuý vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,
Hoạ long xuy thấp Ngọc Quan vân.
Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,
Giác hậu bất kham trì tặng quân.

Nguyên văn








Dịch nghĩa

Chỉ năm ngày sợ rét lười ra khỏi cửa,
Mà gió xuân đã sớm đến với gốc cây cô đơn.
Bóng ngả trên mặt nước, băng giá bắt đầu tan,
Hoa trĩu nặng đầu cành, hơi ấm chưa định rõ.
Giọng ca Thuý vũ lắng chìm mặt trăng xóm núi.
Tiếng sáo Hoạ long ẩm ướt đám mây Ngọc Quan.
Một cành hoa lạc vào giấc mộng cố nhân,
Tỉnh dậy, không thể đem tặng anh được.

Nguồn: Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học xã hội, 1977

Tảo mai
Trần Nhân Tông dịch thơ Lê Mạnh Thát

Ngại rét năm ngày cửa biếng ra
Gió xuân trước đã đến cây già
Bóng giăng mặt nước băng vừa vỡ
Hoa trĩu đầu cành ấm chửa pha
Xóm núi trăng chìm lời hát Việt
Ải quan mây đẫm tiếng tiêu Hồ
Một cành lạc tới giấc mơ bạn
Tỉnh dậy tặng người chẳng nỡ đưa

Tảo mai
Trần Nhân Tông dịch thơ Trần Lê Văn

Năm ngày ngại rét, lười ra cửa.
Gốc lẻ nào ngờ đã gió xuân.
Mặt nước băng tan, cây bóng ngả,
Đầu cành hoa trĩu, ấm chưa phân.
Trăng chìm xóm núi, lời ca bổng,
Mây ướt quan hà, tiếng sáo ngân.
Lạc tới chiêm bao, hoa một nhánh,
Muốn đem tặng bạn, khó vô ngần!

Tảo mai
Trần Nhân Tông dịch thơ Nhất Nguyên

Trốn rét năm ngày biếng bước ra
Gió xuân về sớm gốc cây già
Bóng ngang mặt nước băng dần vỡ
Hoa tụ đầu cành khí ấm qua
Khúc Thuý Vũ lắng chìm trăng quán núi
Điệu Hoạ Long thấm ướt Ngọc Quan mây
Một nhành hoa lạc giấc mộng chầy
Sau khi tỉnh, tặng bạn hiền…nào đâu có được !

Tảo mai
Trần Nhân Tông dịch thơ Nguyễn Văn Dũng

Năm ngày sợ lạnh lười ra cửa
Gió xuân đã đến trước cây côi
Bóng ngang mặt nước băng vừa vỡ
Hoa nhú đầu cành,rét chưa rời
Thuý vũ ca chìm trăng quán núi
Rồng vẽ thổi mù Ngọc Quan mây
Một cành vào mộng cho bạn cũ
Thức dậy làm sao tặng bạn đây.

Tảo mai
Trần Nhân Tông dịch thơ Trương Việt Linh

Năm ngày trốn rét biếng dời chân
Mà gốc cây già hẩy gió xuân
Hoa trĩu đầu cành hơi ấm thoảng
Bóng ngang mặt nước mảnh băng tan
Trăng chìm xóm núi lời ca vẳng
Mây đẫm biên thuỳ tiếng sáo vang
Một nhánh hoa trôi vào mộng cũ
Tỉnh ra tặng bạn khó muôn vàn.


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter