Trung Nga ‘vành đai và con đường’


Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” (OBOR) của Trung Quốc nhằm định hình lại kinh tế toàn cầu trong thế kỷ 21 bằng việc kết nối các
các nền kinh tế Á – Âu – Phi thông qua một mạng lưới giao thông và cơ sở hạ tầng mạnh mẽ chưa từng có, theo Hugh White, “China’s One Belt, One Road to challenge US-led order“, The Straits Time, 25/ 04/ 2017. Trung Nga ‘vành đai và con đường’ trích dẫn, đúc kết các nguồn thông tin chuyên đề cập nhật để điểm tin, trao đổi, bình luận, nhìn lại và suy ngẫm.


Trung Quốc đang trỗi dậy trong thời đại mới ‘một vành đai một con đường’ khi Nga Mỹ tính toán “Chúng ta không cần lãnh đạo thế giới mà cần sắp xếp lại ngôi nhà mình” … Mùa thu 2017, nhà xuất bản “Alpina” phát hành quyến sách mới của nhà kinh tế và chính luận Nga nổi tiếng Vladislav Inozemtsev “Một đất nước lạc hậu: Nước Nga trong thế kỷ 21”đề cập đến câu chuyện được dịch bởi TamHMong và đăng tải nhiều kỳ của Hiệu Minh blog ‘Nếu Liên Xô còn thì hòa nhập dễ hơn nước Nga hiện nay‘, ‘Dân chủ Nga và Ukraine‘… Theo đó thì thể chế dân chủ Nga hiện an toàn chưa từng có, là một thời điểm tuyệt vời cho việc gia tăng mức độ liên bang và dân chủ hóa, thế nhưng vị thế kinh tế của Trung Quốc hiện đang trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết và đang dần vượt Nga. Theo Từ điển bách khoa mở Wikipedia trích dẫn Danh sách quốc gia trên thế giới được xếp hạng theo Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của họ quy đổi theo sức mua tương đương (PPP) bình quân đầu người (giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bên trong một quốc gia trong một năm cho trước được chia theo dân số trung bình của cùng năm đó) được Hoàng Kim dẫn lại trong bài viết ‘Turkmenistan với ‘Vành đai và Con đường’ thì nước Nga hiện tại GDP danh nghĩa năm 2017 tổng số là   1 561 tỷ USD (hạng 11) bình quân đầu người 10.885 USD, so Hoa Kỳ GDP danh nghĩa năm 2017 tổng số 18.558,00 tỉ USD (hạng 1) bình quân đầu người: 57.220 USD (hạng 6), so Trung Quốc GDP danh nghĩa năm 2016 tổng số: 11.800,00 tỉ USD (hạng 2) bình quân đầu người 8.481 USD.


Liên Nga, bạn Ấn, kết nối Á Âu Phi’, sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” (OBOR) của Trung Quốc đang thách thức trật tự do Mỹ lãnh đạo. Theo blog Hiệu Minh có những cân nhắc toan tính của các nước trong kết nối toàn cầu.  Theo chỉ số tin cậy chính phủ (Government Trust Index) do Forbes đưa ra năm 2016 (số liệu của OECD) thì dân Ấn Độ tin chính phủ nhất thế giới (73%), tiếp theo là Canada (62%), Turkey và Nga (58%) trong khi người Nhật (36%) và Mỹ (30%). Dân Hàn Quốc (24%) và Hy Lạp (13%) coi chính phủ không ra gì.

Các câu chuyện dưới đây giúp chúng ta những góc nhìn và các đánh giá.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn

‘Một vành đai, một con đường’ thách thức trật tự do Mỹ lãnh đạo

Nguồn: Hugh White, “China’s One Belt, One Road to challenge US-led order“, The Straits Time, 25/04/2017.
Biên dịch: Mỹ Anh

Vào tháng 5/2017, một hội nghị thượng đỉnh quốc tế có thể lớn nhất năm nay sẽ được nhóm họp tại Bắc Kinh để thảo luận dự án tham vọng nhất thế giới. Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” (OBOR) của Trung Quốc nhằm định hình lại kinh tế toàn cầu trong thế kỷ 21 bằng việc kết nối các nền kinh tế Á – Âu – Phi thông qua một mạng lưới giao thông và cơ sở hạ tầng mạnh mẽ chưa từng có.

Theo ước tính của một số nhà phân tích, với chi phí khoảng 1.000 tỷ USD, OBOR đã trở thành một trong những chương trình phát triển kinh tế lớn nhất trong lịch sử của Trung Quốc, vượt xa Kế hoạch Marshall (nhằm tái thiết châu Âu sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai) của Mỹ. Dự kiến, Trung Quốc sẽ tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh quốc tế lớn nhất trong năm 2017 tại thủ đô Bắc Kinh vào ngày 14-15/5 tới để thảo luận về OBOR với sự tham gia của rất nhiều lãnh đạo các nước trên thế giới.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho biết có 110 nước cử đại diện trong đó có 28 nguyên thủ quốc gia gồm các nước như Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Kazakhstan, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Phillippines và Việt Nam cùng nhiều quốc gia châu Âu và châu Phi. Tuy nhiên, cũng có nhiều nước không cử lãnh đạo cấp cao tham dự như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Singapore và phần lớn các nước Tây Âu còn lại. Không phải ngẫu nhiên khi các quốc gia này đều có mối quan hệ gần gũi với Mỹ và được cho là “không thoải mái” với sự trỗi dậy hiện nay của Trung Quốc.

Đa số lãnh đạo các nước tham dự hội nghị về OBOR không đơn thuần là vì các vấn đề kinh tế. Nhiều quốc gia cho rằng, OBOR không thực sự mang ý nghĩa kinh tế mà nhằm mục đích mở rộng ảnh hưởng chiến lược và chính trị của Trung Quốc đồng thời đe dọa vai trò của Mỹ. Tuy nhiên, rõ ràng điều này chỉ đúng một nửa bởi không thể bỏ qua lô-gíc rằng một quyền lực kinh tế mạnh sẽ giúp củng cố những toan tính địa chính trị của chính quốc gia đó.

Trên thực tế, do một số động lực về kinh tế đã khiến Trung Quốc đưa ra sáng kiến OBOR. Các động lực này bao gồm việc cần thiết phải thúc đẩy sự phát triển ở các vùng sâu, vùng kém phát triển của nước này và hy vọng việc tìm được cơ hội giảm bớt sự dư thừa của một số ngành công nghiệp chủ chốt như ngành sản xuất sắt, thép. Nhưng động lực chính lớn hơn và tham vọng hơn nhiều lại chính là việc Bắc Kinh muốn củng cố vị trí trung tâm trong chuỗi cung ứng toàn cầu và mạng lưới sản xuất sẽ là chìa khóa của kinh tế toàn cầu trong các thập kỷ tới. Trung Quốc hiểu rằng khi nền kinh tế của họ trưởng thành và thu nhập người dân tăng, các ngành công nghiệp có mức thu nhập thấp hơn (vốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước) sẽ di chuyển sang các nước kém phát triển hơn nơi có giá nhân công rẻ hơn.

Các nhà lập kế hoạch kinh tế của Trung Quốc không muốn chống xu hướng này nhưng lại muốn biến nó thành lợi thế bằng việc tạo cho mình một chỗ đứng ở vị trí trung tâm của mạng lưới cung ứng toàn cầu mở rộng. Bằng cách này, Trung Quốc có thể nắm giữ được những thị phần trong các cơ hội kinh tế có mức thu nhập cao hơn. Sáng kiến OBOR chính là “trung tâm” của tầm nhìn này và sẽ giúp Trung Quốc thực hiện tham vọng trở thành quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới. Không những thế, trong vài thập kỷ tới, OBOR sẽ củng cố các tham vọng của Bắc Kinh: trở thành quốc gia lãnh đạo trong việc phát triển các công nghệ then chốt và tạo ra các tiêu chuẩn toàn cầu (bao gồm cả các yếu tố quan trọng trong cơ sở hạ tầng như đường sắt tốc độ cao và mạng lưới dữ liệu…). Tất nhiên tất cả những mong muốn, tham vọng này của Bắc Kinh mới chỉ là “tầm nhìn táo bạo” bởi để trở thành hiện thực đòi hỏi phải có sự liên kết phi thường của các nguồn lực tài chính, kỹ năng kỹ thuật, cam kết chính trị và hợp tác quốc tế.

Tuy nhiên, sẽ là không khôn ngoan nếu coi OBOR chỉ là một giấc mơ thoáng qua. Thực tế cho thấy OBOR chính là quyền lực và uy tín của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. OBOR giữ vị trí trung tâm trong tầm nhìn của nhà lãnh đạo này đối với Trung Quốc và là tham vọng (của ông) nhằm hoán đổi vị trí của Trung Quốc trên thế giới trong thời gian cầm quyền. Ông Tập Cận Bình đã cho thấy sự quyết tâm đối với OBOR và ở Trung Quốc điều này là rất quan trọng.

Rõ ràng nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cho rằng sáng kiến OBOR cần phải được xem xét một cách nghiêm túc nên đã quyết định đến Bắc Kinh vào ngày 14-15/5 tới. Trong khi ông Tập Cận Bình chuẩn bị chào đón các nhà lãnh đạo thế giới tới Bắc Kinh để thúc đẩy một kế hoạch “xuất khẩu” các công việc thu nhập thấp trong các ngành công nghiệp (như chế tạo sắt thép) sang các nước khác và chuyển đổi các công nhân Trung Quốc sang các công việc có thu nhập cao thì Tổng thống Mỹ Donald Trump lại đang khởi động một kế hoạch “đóng cửa” đối với mặt hàng thép nhập khẩu để bảo vệ ngành công nghiệp trong nước. Theo đó, ông Trump muốn đưa công nhân Mỹ trở lại những công việc mà Trung Quốc muốn công nhân nước mình từ bỏ. Tuy nhiên sự tương phản này vẫn không thể nói trước được điều gì. Trong khi Mỹ muốn giảm vai trò của mình trong nền kinh tế toàn cầu và dựa vào các ngành công nghiệp cũ thì Trung Quốc lại muốn mở rộng vai trò toàn cầu và chuyển đổi nền kinh tế sang các ngành công nghiệp mới. Do vậy, khó có thể đoán trước được tầm nhìn nào sẽ thành công hơn.

Rõ ràng những nhà lãnh đạo thế giới chọn giải pháp không tới Bắc Kinh lần này có quyền lo sợ rằng OBOR mang một ý nghĩa địa chính trị to lớn. Ngay cả khi Trung Quốc chỉ đưa ra một số ít tham vọng (thông qua OBOR) thì sáng kiến này cũng sẽ trở thành một công cụ mạnh mẽ đối với ảnh hưởng của nước này tại châu Á cũng như các khu vực khác đồng thời thách thức vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ. Lãnh đạo các nước đã sai khi tưởng rằng có thể ngăn cản tham vọng của Trung Quốc bằng cách “đứng ngoài cuộc”. Nếu Washington và đồng minh thực sự quyết tâm chống lại thách thức từ Trung Quốc đối với trật tự toàn cầu cũ do Mỹ tạo lập thì họ cần phải tính đến một viễn cảnh là trong tương lai kinh tế toàn cầu sẽ tập trung vào Trung Quốc. Và để ngăn chặn được Trung Quốc, Mỹ và đồng minh cần phải có một tầm nhìn kinh tế toàn cầu đầy mạnh mẽ và nhiều tham vọng.

Hugh White là Giáo sư về Nghiên cứu chiến lược tại Đại học Quốc gia Australia.

Có thể bạn quan tâm:

Nguồn: Nghiên cứu Biển Đông

Nếu Liên Xô còn thì hòa nhập dễ hơn nước Nga hiện nay

Nhân dịp 100 năm sự kiện Cách mạng tháng 10 Nga (07/11/1917), anh TamHMong có dịch một bài viết liên quan đến sự kiện trên. Do bài dài nên chia làm 3 phần đăng lần lược kể từ entry này. Cảm ơn anh TamHMong.

Lời giới thiệu. Mùa thu 2017, nhà xuất bản “Alpina” phát hành quyến sách mới của nhà kinh tế và chính luận Nga nổi tiếng  Vladislav Inozemtsev “Một đất nước lạc hậu: Nước Nga trong thế kỷ 21”.

Sau khi đọc một vài chương đầu của quyển sách này, ban biên tập tạp chí Znak.com đã có cuộc trao đổi với tác giả. Một cuộc trao đổi về vấn đề có hay không nguy cơ tan rã nước Nga, sau khi thắng cử 2018 liệu tổng thống Putin có đổi mới gì không, và tư tưởng quốc gia nào khả dĩ vực được nước Nga dậy.

Cuộc phỏng vấn do các phóng viên Alexandr Zadorojny và Evgeni Senshin tiến hành với tựa đề: “Chúng ta không cần lãnh đạo thế giới mà cần sắp xếp lại ngôi nhà mình – «Нам не нужно лидерство. Нам нужно обустройство собственного дома»”.

TS Inozemtsev (sinh 1968) tốt nghiệp Moscow State University, đã từng làm việc ở các vị trí lãnh đạo cao cấp trong ngành tài chính, ngân hàng tư nhân và trong bộ máy nhà nước Nga. TS Inozemtsev hiện sống ở Moscow, ông là Giám đốc Viện các vấn đề xã hội hậu công nghiệp, GS Trường Kinh tế Cao cấp, GS thỉnh giảng một số đại học Phương Tây.

Là một nhà kinh tế uyên bác có ảnh hưởng lớn ở Nga và được sự kính trọng của đồng nghiệp Phương Tây, TS Inozemtsev có một cách nhìn đa chiều về các vấn đề kinh tế, chính trị, lịch sử và văn hóa Nga. Ông luôn trăn trở về tình trạng lạc hậu, trước hết là về thể chế, công nghệ, giáo dục và quản trị của Nga, và lo rằng sự lạc hậu này có thể dẫn đến việc nước Nga đứng bên rìa cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Một lần và vĩnh viễn.

Ông cũng cho rằng để hiện đại hóa, phát triển bền vững và theo kịp xã hội công nghệ nhân loại thế kỷ 21, nước Nga cần một cuộc cải tổ mạnh mẽ và sâu rộng. Nhưng chỉ có thể tiến hành từng bước xét trên bình diện lịch sử và hiện tại nước Nga.

Liên Xô nếu còn thì hòa nhập dễ hơn nước Nga hiện nay

PV: Các suy tưởng của ông trong cuốn sách bắt đầu bằng tổng quan ba làn sóng tiếp nhận và vay mượn văn hóa trong lịch sử nước Nga bao gồm các làn sóng Byzatine, Mông Cổ và Tây Âu. Làn sóng cuối cùng, theo đánh giá của ông đã kết thúc trong thế kỷ 20. Phải chăng điều này có nghĩa là Liên Xô là biểu hiện tập trung của “con đường đặc biệt” cho nước Nga? Nghĩa là Liên Xô là Đế quốc Nga ở điểm cực thịnh của mình?

Inozemtsev: Làn sóng tiếp nhận văn hóa Tây Âu bắt đầu từ thời đại Piotr I, đặc trưng bởi sự vay mượn công nghệ các loại từ Châu Âu, bao phủ cả thời đại Xô Viết cho đến tận những năm 1960. Kể cả bản thân hệ tư tường Mác xít cũng là vay mượn từ Tây Âu. Ngoài ra, việc công nghiệp hóa của nước Nga ở một mức độ đáng kể cũng được khích lệ bởi kinh nghiệm thực tiễn Châu Âu. Ngay từ những năm 1960, nhiều nhà nghiên cứu Phương Tây bao gồm cả nhà triết học chính trị Pháp Raymond Aron, đều  cho rằng ở Liên Xô đã hình thành một nền văn minh công nghiệp điển hình.

Ngay cả ở thời thịnh vượng trong lịch sử Liên Xô, cho đến tận những năm giữa 1960-1970, sự tiếp nhận này dĩ nhiên vẫn tiếp tục. Vì vậy, tôi không thể nói rằng Liên Xô là một hiện tượng khác thường và đặc biệt. Liên Xô chính là hóa thân của những tìm kiếm một con đường phát triển Châu Âu theo kiểu khác. Nhưng dù sao sự giống nhau của Liên Xô với Châu Âu vẫn là chính.

PV: Vậy thì phải giải thích thế nào việc nước Nga hậu Xô Viết đã bỗng nhiên chuyển hướng đột ngột và định hướng vào chủ nghĩa hoài cổ và truyền thống?

Inozemtsev: Ở đây có hai vòng tròn các vấn đề, một lớn và một nhỏ khác nhau. Hai vòng tròn này có thể chồng chất lên nhau. Về vòng tròn lớn, sau mỗi làn sóng vay mượn mạnh mẽ và bước nhảy vọt thường nảy sinh ý muốn được là chính mình, tìm về những điều gì đó của riêng mình, những điều thân thuộc. Ở đây, chúng ta có thể nhớ lại thời kỳ sau khi ách thống trị của người Mông Cổ kết thúc, nước Nga lúc đó đã liên tục tiến hành những cuộc chinh phục bành trướng mạnh mẽ sang Phương Đông và xây dựng một Đế quốc Lục địa khổng lồ. Nhưng sau đó, vào thế kỷ 17 lại bộc phát một khát vọng mạnh mẽ tự cô lập.

Ở nước Nga hiện nay chúng ta cũng thấy có những điều tương tự. Trong vài ba thế kỷ vừa qua nước Nga đã vay mượn rất nhiều từ văn hóa Tây Âu. Có lẽ là qui mô của sự vay mượn này làm giới tinh hoa Nga cảm thấy lo ngại. Từ đó nảy sinh ra ý muốn tìm những điểm tựa và những giá trị nào đó của riêng mình. Xét theo quan điểm này, có lẽ không phải là Liên Xô, một quốc gia tìm cách diễn giải xu hướng chung của thế giới và  tiến theo những xu hướng này theo cách của mình, mà chính là nước Nga hiện nay, một quốc gia đang tìm cách lẩn tránh những qui luật phát triển chung của cả thế giới, cố gắng tìm ra “con đường đi riêng đặc biệt”. Liên Xô về các phương diện giáo dục, khoa học, khai sáng, nếp sống thực tế là một nước Châu Âu điển hình. Tất nhiên, về phương thức quản lý Liên Xô thua xa Châu Âu.  Tuy thế, nếu còn tồn tại được đến ngày nay, Liên Xô ắt hẳn có thể hòa nhập vào văn minh Phương Tây dễ hơn rất nhiều so với nước Nga hiện nay.

Ngoài ra, còn có vòng tròn nhỏ. Vấn đề là ở chỗ trong lịch sử mỗi quốc gia đều có những giai đoạn thịnh vượng và suy thoái ngắn hạn. Vì vậy, ở một quốc gia đang suy thoái, lại bị những sỉ nhục từ phía bên ngoài chồng chất lên, trong xã hội ở quốc gia này dễ nảy sinh một phản ứng dữ dội, mà không phải lúc nào cũng tương xứng. Có thể so sánh những gì xảy ra ở nước Đức trong những năm 1920 với tình trạng này. Tất cả chúng ta đều còn nhớ những gì đã xảy ra những năm đầu thập niên 1990. Liên Xô chịu thất bại chiến lược trong “chiến tranh lạnh”, quốc gia sụp đổ, nước Nga bị mất một không gian ảnh hưởng văn hóa to lớn. Trong khi đó về phía mình, Phương Tây chẳng đề nghị được Nga bất cứ thứ gì tương xứng. Điều này chính là cú huých khởi đầu “chiến tranh lạnh” mới, mà hôm nay chúng ta đang thấy. Vòng tròn lịch sử nhỏ này có lẽ chỉ là cục bộ, tương đối ngắn hạn. Nhưng việc vòng tròn nhỏ này chồng chất lên vòng tròn lịch sử lớn của làn sóng tiếp nhận văn hóa Tây Âu, đã dẫn đến tình trạng một nước Nga như chúng ta đang có hiện nay. Dù nói cách này, hay cách khác thì chúng ta cũng đang đi “ngược lại về quá khứ”.

PV: Nghĩa là thấy rõ sự thất vọng và xa lánh lẫn nhau giữa Nga và Phương Tây. Chúng ta cũng sẽ không đào sâu “ai bắt đầu trước”. Quan trong hơn là điều này có phải định mệnh không? Nhìn chung, điều đó có bức thiêt không? Có thật sự là Nga không thể sống thiếu Phương Tây không? Hay là nước Nga cần dựa vào Trung Quốc, chẳng hạn? Hay là nước Nga có thể tự mình là đủ?

Inozemtsev: Dù cho quá trình toàn cầu hóa có nhiều thành công, thế giới không trở thành thống nhất. Không ai có thể bắt ép được ai “sống chung”. Thậm chí một nước như nước Nga, cũng có thể trở thành một Bắc Triều Tiên mới, chuyên cung ứng dầu khí cho các nước khác và mua về những thứ cần thiết cho mình. Mỗi dân tộc đều có quyền sống theo cách họ cho là đúng. Nước Nga hoàn toàn có thể sống không cần Phương Tây và thậm chí không cần cả Trung Quốc. Vấn đề là ở chỗ đó sẽ là một nước Nga thế nào.

Liệu đa số dân chúng có hài lòng với một đường lối như vậy không? Bao nhiêu triệu người sẽ thấy tốt nhất là di cư? Đó là vẫn đề cảm nhận bên trong của dân tộc. Xét về quan điểm kinh tế ở đây chẳng có gì là không thể. Chỉ có điều về chính trị cũng cần  phải tự mình là đủ, nghĩa là phải giành lấy chính danh bằng những thành tựu nào đó “trong nhà”, chứ không phải bằng những cuộc tấn công các nước nước lân cận hay là những cuộc “Thập tự chinh” sang Trung Cận Đông. Và nếu chính quyền nước Nga thực sự  có thể đi theo con đường “tự hạn chế” như vậy, thì có gì là không tốt nhỉ?


Dân chủ Nga và Ukraine

Phần 2 cuộc phỏng vấn “Chúng ta không cần lãnh đạo thế giới mà cần sắp xếp lại ngôi nhà mình – «Нам не нужно лидерство. Нам нужно обустройство собственного дома»”.

Chưa bao giờ chế độ dân chủ an toàn cho nước Nga như hiện nay

PV: Như ông viết, ở nước Nga từ thủa xa xưa nhà nước luôn lấn át tư nhân, truyền thống lấn át pháp quyền, chức năng cao quí nhất của xã hội và cá nhân là phục vụ nhà nước, còn những biểu hiện bất tuân phục đối với nhà nước được diễn giải như một hoạt động “chống nhà nước”, hay còn nặng nề hơn là một hoạt động “chống nước Nga”. Theo ý kiến của ông, trong vòng 100 năm qua đã có hai cố gắng xây dựng một nền cộng hòa ở Nga (các năm 1917, 1991) với mong muốn thiết lập một chế độ với sự ưu tiên của các quyền công dân so với nhà nước. Cả hai cố gắng này đều kết thúc thất bại, và bằng sự trở lại của chế độ toàn trị và độc tài? Có điều gì chung trong nguyên nhân của những thất bại này không?

Inozemtsev: Trong toàn bộ lịch sử nước Nga, có một xu hướng (não trạng) đặc biệt đáng chú ý. Đó là sự sùng bái nhà nước, dù nhà nước có phạm bao nhiêu sai lầm và gây ra bao nhiêu tội ác, thì chúng ta vẫn luôn cho rằng, bản thân sự tồn tại của nhà nước đã là một giá trị cao quí. Thất bại của những cố gắng thiết lập chế độ cộng hòa năm 1917 vả 1991 đều có nguyên nhân từ bối cảnh nhận thức như vậy. Khi trong xã hội Nga diễn ra những biến đổi thực sự, ngay lập tức trở nên rõ ràng, rằng trong hoàn cảnh biến đổi đó, nhà nước “đế quốc” kiểu Nga như chúng ta đang có không tồn tại được. Bản chất vấn đề là ở chỗ, khi chuyển sang thể chế cộng hòa, ở nước Nga bắt buộc phải phá hủy nhà nước trong dạng thức, mà quốc gia Nga đã tồn tại nhiều thế kỷ. Điều này gây ra sự lo ngại cho giới tinh hoa và dẫn đến ý muốn chối bỏ thể chế cộng hòa.

Trong nước Nga năm 1917, thực tế đã xảy ra sự phân liệt: ở Kiev đã có Rada (nghị viện – ND) riêng, những phong trào đòi độc lập dân tộc ở các nước Trung Á đã khởi động. Vì vậy, sau cách mạng năm 1917 đã nảy sinh một phản ứng dễ hiểu, một mong muốn củng cố Đế quốc Nga, xuất phát từ nỗi khiếp sợ quốc gia sụp đổ.  Và không còn tâm trí dành cho thể chế cộng hòa. Ở giai đoạn cuối của thời kỳ Liên Xô chúng ta cũng thấy một hiện tượng tương tự. Ngay trong sâu thẳm của những phát biểu chính trị hùng hồn ngày nay, mà chúng ta thường nghe, cũng luôn có chỗ cho sự mong đợi “đế quốc” được phục hồi. Khó khăn của việc tiếp nhận thể chế cộng hòa là ở chỗ, thể chế cộng hòa trù định xây dựng một thực thể gọn gàng, dễ điều khiển và quản lý hơn là thực thể từng có trong các Đế quốc Nga và Xô Viết. Trong khi hiện nay phần lớn xã hội Nga vẫn tỏ ra thù đich với bất cứ mưu toan nào co hẹp biên giới và tước đi một phần lãnh thổ ngoại vi của nước Nga.

PV: Thực là một vòng tròn tâm lý luẩn quẩn: chẳng buông bỏ và cũng chẳng hiện đại hóa?

Inozemtsev: Toàn bộ sự độc đáo của tình hình hiện nay là ở chổ xét tống thể, ở Nga hiện nay không có bất cứ tiền đề nào cho sự tan rã đất nước. Ngày hôm nay nước Nga là một quốc gia với sự thống trị tuyệt đối của dân tộc Nga, ngoại trừ một vài nước cộng hòa Bắc Caucasus và nước cộng hòa Tuva. Những phát biểu về khả năng ly khai của các vùng Viễn Đông và Siberia theo cảm nhận của tôi là điên rồ. Tôi hoàn toàn không nhìn thấy sự ủng hộ của dân chúng với những sáng kiến và ý tưởng loại này. Người dân hiểu rõ là nếu bây giờ tách Viễn Đông ra khỏi nước Nga, thì thay vì là một tỉnh của Maxcova, Viễn Đông sẽ trở thành một tỉnh của Trung Quốc. Vì vậy, tôi hoàn toàn không có cảm nhận là chúng ta đang đối diện với sự tan rã và cần phải lựa chọn: hoặc là quốc gia, hoặc là dân chủ.

Thể chế dân chủ hiện nay an toàn chưa từng có đối với nước Nga. Chúng ta chỉ cần giải thoát khỏi những cơn đau ảo, hãy buông bỏ Ukraina, Georgia, Abkhazia, Ossetia và Trung Á, để mặc họ với Chúa. Cần phải tập trung vào việc kiến thiết nước Nga vì lợi ích của đa số dân chúng. Và trong khuôn khổ của lãnh thổ Nga hiện nay, tôi không nhận thấy bất cứ mâu thuẫn nào giữa thể chế dân chủ và sự toàn vẹn lãnh thổ. Tôi không hiểu tại sao nếu ở Ural và Siberia nhiều quyền tự chủ hơn và nhiều tự chủ về tài chính và thuế khóa hơn, sẽ phát sinh những tiền đề cho việc ly khai.

Những năm 2000 nước Nga phát triển khá thành công, kinh tế tăng trưởng, trong bối cảnh đó bản thân ý tưởng ly khai ra khỏi nước Nga là phi lý. Một thời điểm tuyệt vời cho việc gia tăng mức độ liên bang (sự tự chủ của các khu vực – ND) và dân chủ hóa. Cần phải hiểu rằng khi có một trung tâm kinh tế thực sự bảo đảm phúc lợi cho cả đất nước, thì bất kỳ lãnh thổ nào cũng sẽ hướng đến trung tâm này, và không tìm cách ly khai, vì không ai cần họ cả. Chúng ta đã để lỡ cơ hội ở giai đoạn này và hiện nay đang tự doạ nạt mình bằng những câu chuyện bịa đặt về sự sụp đổ của nước Nga. Giới tinh hoa và dân chúng nói chung đều là con tin của sự huyễn hoặc này. Điều đó kìm hãm sự phát triển tinh thần cộng hòa và dân chủ.

Tất nhiên, sự sụp đổ của quốc gia không xuất phát từ việc phân phát “những chiếc bánh qui ngân sách”, mà có những nguyên nhân khách quan của nó. Liên Xô sụp đổ trước hết là do mâu thuẫn không thể điều hòa giữa trung tâm và các nước cộng hòa dân tộc. Hiên nay trong thành phần nước Nga, không có các nước cộng hòa có quyền hiến định được phép tách khỏi liên bang. Vì vậy, theo tôi, hiện tại là thời kỳ thích hợp để bắt đầu cải tổ nước Nga theo hướng gia tăng mức độ liên bang (sự tự chủ của các khu vực – ND) và dân chủ hóa. Tuy thế, đương nhiên dễ hiểu điều đó là không có lợi cho giới tinh hoa cầm quyền, họ không muốn mất đi miếng ăn và những nguồn thu nhập tham nhũng to lớn.

PV: Vậy phải làm gì với giới tinh hoa? Đấu tranh? Thỏa thuận về việc phân chia sở hữu?

Inozemtsev: Tôi không thể đưa ra được giải pháp cụ thể. Những mối lợi ích kiếm chác của giới tinh hoa rất lớn, đến mức họ còn chưa buông bỏ chính quyền, chừng nào còn có cái để kiếm chác. Họ cũng không có ý định chia chác với ai. Vì vậy, cuộc khủng hoảng kinh tế Nga hiện nay, chỉ có thể trở thành có ý nghĩa “loại bỏ” trong trường hợp nó đưa nước Nga đến điểm tới hạn. Khi mà bộ máy quan liêu do Putin tạo ra, nhận thức được là gần như chẳng có gì để kiếm chác nữa. Lúc đó, bộ máy này bắt dầu cuộc đấu tranh nội bộ, tự hủy diệt, và đó cũng là sự kết thúc của nó. Tuy nhiên, tôi không hề nghĩ rằng điều này sớm xảy ra.

“Tư thế cường quốc” và vấn đề Ukraine

PV: Theo suy nghĩ của ông, việc mất Ucraine và Belorussia đưa nước Nga quay về trạng thái tinh thần thời kỳ Đại Công quốc Moskovia, trước khi các cuộc chinh phạt giành thuộc địa được khởi động. Chúng ta đã mất ngoại Caucasus và Ucraine, các nước Trung Á đang hướng về Trung Quốc, còn Belorussia trước sau rồi cũng sẽ đi “du lịch Châu Âu” dài hạn. Phải chăng điều đó có nghĩa là để không đánh mất “tư thế cường quốc”, Moskova sẽ lại bắt đầu những hành động bành trướng lãnh thổ? Liệu có những Pridnestrovie, Osetia, Abkhazia, Crimea, Donbass mới không? Hay là dự trữ hỗ trợ “tư thế cường quốc” đã cạn?

Inozemtsev: Dự trữ “tư thế cường quốc” còn rất lớn, và có lẽ là dân chúng sẽ cảm thấy hài lòng nếu chúng ta sát nhập thêm những vùng lãnh thổ phía Bắc Kazakhstan và Cộng hòa Belorussia, biến chúng thành sáu vùng lãnh thổ nước Nga. Tôi nghĩ rằng ý tưởng này khá dễ dàng tung hứng cho cử tri. Thế nhưng, vấn đề là ở chỗ tuy nguồn dự trữ “tư thế cường quốc”  dùng cho chính sách đối nội là tuyệt vời, nhưng lại rất đắt giá vì bị hạn chế bới những yếu tố đối ngoại. Putin vốn là người cực kỳ tham vọng. Ông luôn cảm nhận mình là một nhà lãnh đạo thế giới, tình cảnh không thể nói chuyện bằng vai với các nhà lãnh đạo thế giới khác, khiến ông vô cùng khó chịu.

Đương nhiên, nếu cố gắng có thể chiếm đoạt Donbass dứt điểm. Nhưng lúc đó, mọi cánh cửa vào câu lạc bộ các nhà lãnh đạo thế giới sẽ đóng đối với Putin, đẩy ông vào vị thế kẻ bị tẩy chay. Đó không phải là điều Putin muốn. Còn thêm nữa là việc không muốn mất tiền của riêng gửi ở nước ngoài. Vì thế, tuy tiềm năng dân túy của “tinh thần đế quốc” là rất lớn, nhưng trong chính sách đối ngoại nó đã đạt đỉnh điểm của mình. Sau việc can thiệp vào Ucraina, Putin không thể bành trướng hơn được nữa. Dù rằng có lẽ, Donbass trước hay sau cũng sẽ bị sát nhập.

TamHMong dịch từ nguyên bản tiếng Nga

Phần 3: Khi nào thì nước Nga sụp đổ?

Tôi (Inozemtsev) nghĩ là không bao giờ.

PV: Có một ấn tượng là Putin không khát máu, trong khả năng có thể ông luôn cố gắng giữ cân bằng mong manh giữa thói phàm ăn của “Leviathan” (quái vật huyền thoại trong Kinh Cựu Ước – ND) và những người được gọi là “dân thường” ở nước Nga. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế suy thoái “chạm đáy” và sự bất mãn chống đối tăng lên ở khắp nơi, Putin có nguy cơ rơi vào tình cảnh của Gorbachev. Một người đã phải chao đảo giữa các thế lực bảo thủ và các nhà dân chủ, và vì vậy, đã vô tình làm lung lay khối thống nhất của Đảng Cộng sản, nhà nước, uy tín cá nhân của ông và đất nước Liên Xô lúc đó. Ông có cảm nhận như vậy không?

Inozemtsev: Tôi không nhận thấy bất kỳ “những điều tương tự” nào giữa Putin và Gorbachov. Gorbachov từng là một nhà cải cách, còn Putin lại làm tất cả để không có cải cách. Vì vậy, Gorbachov phải chao đảo giữa các phe nhóm, xét trên quan điểm: tiến lên phía trước hay không? Ông đã phải cố gắng tìm những người ủng hội cải cách và tìm cách bắt các đối thủ phải im lặng. Trong khi đó, Putin không tiến về phía nào cả, chỉ đứng tại chỗ và làm bộ là “đoàn tầu sắp chuyến bánh”. Với ý nghĩa như vậy thì chẳng có sự chao đảo nào cả trong hành xử của Putin. Có lẽ phải có khiếu khôi hài đặc biệt thì mới nhận thấy được, rằng Putin chao đảo giữa Kudrin và Sechin. Ông Kudrin và các cộng sự được trả thù lao rất hậu hĩnh để soạn thảo các chương trình cải tổ. Nhưng khi các cuộc bầu cử lắng xuống, may mắn nhất là những văn bản này được xếp ngăn kéo, còn tệ hơn thì có lẽ chúng được dọn đi rất xa.

Tôi tuyệt nhiên không thể nhìn nhận một cách nghiêm túc những câu chuyện tầm phào  của một số quí vị không rõ danh tính khẳng định, rằng Putin sẽ nghĩ lại, và sau khi thắng cử ông sẽ bỗng nhiên trở thành một người Châu Âu thực thụ, sẽ bắt đầu tự do hóa kinh tế và nhiều vẫn đề khác. Một người không hề thay đổi quan điểm của mình trong suốt 18 năm, sẽ không thay đổi trong sáu năm tiếp theo. Nhất là khi ông ta không còn là trẻ con, để mỗi tuổi một khôn lớn. Đồng thời, tôi nhất trí là Putin không khát máu, ông chỉ khát tiền, như tất cả bạn bè ông. Putin hiểu rất rõ là hiện thời có thể và cần phải “vắt sữa” nước Nga, nơi dân chúng hoàn toàn  không cưỡng lại việc đó, và ông cũng không đời nào dai dột siết ốc quá mức, đến nỗi xảy ra cách mạng. Putin không hề muốn bắn giết như ở Maidan (quảng trường trung tâm ở Kiev, thủ đô Ucraina – ND), để rồi sau đó ông và các bạn ông phải chạy trốn. Tôi không nhận thấy bất kỳ sự chao đảo nào của Putin, như Gorbachev trước đây. Ngược lại, ở ông có một sự đánh giá tình hình rất tỉnh táo và thực tế.

PV: Vào giữa những năm 1980, việc dầu hỏa trên thị trường quốc tế sập giá là một “trái bom” gây bất ổn nặng nề cho Liên Xô. Hiên nay, những tác nhân nào và vào lúc nào chúng có thể làm suy yếu trầm trọng Liên Bang Nga?

Inozemtsev: Có hai tác nhân bên ngoài, có khả năng làm suy yếu trầm trọng nước Nga. Tuy nhiên, cả hai tác nhân này đều ít khả năng có hiệu lực thực sự. Thứ nhất, đó vẫn chính là giá dầu lửa, tác nhân đã dẫn đến sự sụp đổ Liên Xô. Tuy nhiên, ở nước Nga  hiên nay tình hình đã khác nhiều, chúng ta đã có kinh thế thị trường đủ trưởng thành,  có khả năng điều chỉnh để thích ứng với thj trường bên ngoài. Trường hợp thu nhập dầu lửa giảm mạnh do giá dầu sập, có thể phá giá đồng rúp rất đáng kể, mà vẫn tiếp tục cân đối được thu chi trong ngân sách và chính sách tài khóa. Mặt khác, bản thân cấu trúc của nền kinh tế Nga hiện nay cũng hoàn thiện hơn nhiều nhiều lần so với cấu trúc kinh tế thời Xô Viết. Một gánh nặng oằn lưng cho nền kinh tế là công nghiệp nặng Xô Viết thua lỗ triền miên, đã được vứt bỏ.

Vấn đề là ở chỗ nền tảng kinh tế Nga chỉ bị hủy hoại thực sự nghiêm trọng, khi giá dầu tụt xuống mức $20-25/thùng trong thời gian từ hai đến ba năm. Mặt khác, trong trường hợp này, không chỉ kinh tế Nga mà kinh tế nhiều nước khác cũng bị hủy hoại trầm trọng. Do đó, các tay chơi chủ chốt trong nghành dầu lửa có thể không cho phép xảy ra tình trạng mất giá kéo dài như vậy. Tôi có thể giả định “mức giá thấp kéo dài” là ở khoảng $40/thùng, chứ không thể là $20/thùng. Vì vậy, tôi đoan chắc rằng trong 5-10 năm sắp tới, kich bản nói trên sẽ không diễn ra. Còn để các nền kinh tế hàng đầu thể giới không còn quan tâm đến dầu lửa nữa, cần thêm ít nhất 40-50 năm.

Thứ hai, nước Nga có thể bắt đầu thay đổi nếu xuất hiện một hình mẫu hấp dẫn, một thí dụ cho thấy những thay đổi có thể dẫn đến những kết quả tích cực như thế nào. Tôi chủ động không nói đến Ba Lan, Đông Âu, thậm chí các nước Baltic. Người ta sẽ nói là chúng tôi, những người Nga hơi đặc biệt, hơi khác thường một chút, chả đến lượt bọn Ba Lan, Phần Lan chỉ bảo chúng tôi. “Đánh thức” nước Nga chỉ có thể là Ucraina ruột thịt, giả sử nếu như Ucraina có thể nhanh chóng trở thành một nước Châu Âu phát triển và gia nhập EU vào năm 2025, trở thành một “Jerusalem mới”, miền đất hứa nào đó. Phải nói trong trường hợp Ucraina, Điện Kremlin rất may mắn: trong chính quyển Kiev các quí ông đạo tặc lần lượt thay thế nhau, ông sau còn tham lam hơn ông trước. Thanh niên tài năng bỏ đi hết, cải cách hoàn toàn chững lại. Điều này lại cộng hưởng với làn sóng căm ghét đễ hiểu của người Ucraina đối với người Nga. Tóm lại, về mọi phương diên, tình hình rất có lợi cho Putin. Có thể nói, Ucraina trở thành một thí dụ điển hình cho một cách thức hành xử không nên có. Và đó chính là tác nhân bên ngoài mạnh mẽ nhất hiện nay đang củng cố chế độ chính trị Nga. Tôi cũng nghĩ là toàn bộ Hội đồng Bộ trưởng Kiev cần phải được đề cử nhận huân chương “Vì những công lao với Tổ quốc” các hạng khác nhau của Nga, một việc lẽ ra phải làm từ lâu.

PV: Hậu quả của những chao đảo thời Gorbachev là “cuộc diễu hành chủ quyền” của các nước cộng hòa dân tộc, sự phân liệt Liên Xô xảy ra trước khi Liên Xô chính thức kết thúc sự tồn tại của mình. Tuy nhiên, liệu một kịch bản tương tự có thể diễn ra ở Liên Bang Nga không? Những khu vực lãnh thổ nào, theo nhìn nhận của ông, có thể lãnh đạo phong trào này?

Inozemtsev: Định kỳ ở các tạp chí khác nhau, các tác giả khác nhau, phần lớn là ở Phương Tây cố gắng bảo vệ luận điểm nước Nga sắp sửa tan vỡ. Đương nhiên, thích nói nhất về vẫn đề này là các đồng chí Ucraina, nhưng không chỉ có họ. Chẳng hạn, trong số tạp chí The Economist xuất bản gần đây, đề tài chủ yếu là vấn đề: “Bao giờ nước Nga tan vỡ?”. Tôi nghĩ rằng không bao giờ.

Trong vấn đề này, điểm duy nhất có thể tranh cãi là khu vực Bắc Caucasus. Khu vực này có gắn kết dân tộc và quốc gia với nước Nga, ở mức thấp hơn nhiều, so với mức gắn kết này của Tadjikistan và Uzbekistan với Moskova tại thời điểm Liên Xô sụp đổ. Hiên nay, ở Ingushetia toàn bộ người Nga, Ucraina và Belorussia chỉ chiểm ít hơn 1% dân số. Và khu vực đó, về bản chất là một lãnh thổ thuộc địa, kiểm soát theo kiểu bán quân sự, và thậm chí không phải là khu thuộc địa định cư. Chúng ta đã cho phép chính quyền địa phương đuổi hết người Nga đi và chẳng nghĩ được cách nào giải quyết sự bất cân xứng này cả.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng, nguy cơ ngóc đầu dậy của chủ nghĩa dân tộc, khởi đầu cho một cuộc đấu tranh mới giành độc lập ở Bắc Caucasus là có thực. Một cuộc nổi dậy rất có thể sẽ không phải là dưới những khẩu hiệu tương đối thế tục như thời Dudaev (tổng thống nước cộng hòa Chechnya ly khai – ND), mà dưới những khẩu hiệu Hồi giáo. Người ta có thể nói rằng, làm gì có chuyện nổi dậy, vì ai sau đó sẽ “nuôi” Caucasus? Xin thưa là logic đơn giản này có thể không có hiệu lực. Khi người ta cuồng tín, chẳng có luận cứ kinh tế nào thuyết phục được họ cả.

Chúng ta nên nhớ rằng, Liên Xô tan vỡ trước hết ở những khu vưc có ít người Nga. Những nước như Azerbaijan và Armenia tách khỏi nước Nga tương đối nhanh chóng và dễ dàng, bởi vì ở những nơi đó không có sự hòa nhập sâu sắc của văn hóa và người Nga. Thực ra, đó là vấn đề chung của các đế quốc thực dân. Cũng như vậy, một lần người Anh đã đi khỏi Ấn Độ, người Nga đi khỏi Trung Á. Và tôi xin lưu ý rằng, hôm nay rất ít người tiếc nuối về điều này. Cũng như chắc chắn rằng, sẽ chẳng ai vui mừng về việc chinh phục Tadjikistan và sáp nhập Tadjikistan vào Nga dưới dạng một tỉnh mới.

Nhưng đồng thời, bằng tất cả sự tôn trọng của mình đối với sự toàn ven lãnh thổ Nga, tôi muốn nói rằng Bắc Caucasus không phải là khu vực có ý nghĩa sống còn với nước Nga. Dù thế nào, cũng không phải vì nó mà nước Nga sụp đổ. Và nhìn chung, tôi cho rằng vào lúc Liên Xô sụp đổ, việc Chechnya tách khỏi nước Nga, như các nước Cộng hòa Caucasus và Trung Á khác, có lẽ là một phương án tốt hơn rất nhiều cho nước Nga. Hơn hẳn việc nước Nga hiện nay thường xuyên phải cống nạp cho các “vương hầu” địa phương. Khu vực Bắc Caucasus vốn là một phần trong chính sách thuộc địa và cạnh tranh chiến lược toàn diện của Đế chế Nga, một di sản không còn mang lại bất cứ lợi ích cho nước Nga hiện đại.

Phần 4: Nước Nga không cần lãnh đạo thế giới….

Nguồn: Hiệu Minh blog

Nước Nga không cần lãnh đạo thế giới mà cần sắp xếp lại ngôi nhà mình

PV: Trường hợp các nước như Bắc Triều Tiên cho thấy, đến tận ngày nay, một nhà nước và xã hội vẫn có thể tồn tại trong một trạng thái gần như hoàn toàn biệt lập. Nhưng liệu có cơ hội nào không cho Nga, một quốc gia rộng lớn, trải dài từ Tây sang Đông, tạo dựng cho mình một sự sống còn lâu dài trong điều kiện tự cung cấp, tách biệt khỏi thương mại toàn cầu, công nghệ toàn cầu, và trước hết mạng lưới thông tin toàn cầu? Liệu “Bức màn sắt”, gây nhiễu “tiếng nói của kẻ thù” “và chúng ta sẽ tự nuôi bản thân mình”, “chủ nghĩa xã hội ở một quốc gia riêng  biệt”, tất cả những điều này khách quan còn có thể thực hiện được không?

Inozemtsev: Nếu dân chúng Bắc Triều Tiên được nhìn thấy đông bào Miền Nam của họ thực sự sống thế nào, đơn giản là họ sẽ bỏ trốn sạch. Thậm chí ngay hiên nay cũng đang  thường xuyên có các vụ đào thoát. Trong khi đó, ở Nga đã hình thành một tình thế hoàn toàn khác. Dân chúng được tự do đi lại khắp thế giới, nhìn thấy mọi điều. Thông tin được tự do lan truyền, biên giới hoàn toàn mở. Nhưng không mấy ai cố gắng bỏ trốn và buộc tội bạo quyền cho Putin, cũng không ai coi nước Nga là hiện thân của địa ngục. Tôi nghĩ rằng ý tưởng về sự cần thiết biệt lập là một sự cường điệu thái quá. Chủ nghĩa biệt lập cần ở nơi nhà độc tài sợ sự mở cửa. Như chúng ta biết, Putin không sợ mở cửa. Đất nước mở cửa và chẳng có gì đe dọa đối với chế độ. Ngược lại, chế độ khá là ổn định. Dù có nhìn nhận thế nào về Putin, cần phải thừa nhận rằng, việc ông giữ được chế độ độc tài ổn định trong một đất nước mở cửa, thể hiện khả năng của ông, như một trong những nhà chính trị vĩ đại nhất trên thế giới.

PV: Trong quyến sách của mình, ông chỉ ra truyền thống ức chế những sáng kiến của tư nhân từ phía nhà nước Nga đã và đang có những hậu quả có tính qui luật. Đó là sự tập trung chú ý vào tài nguyên và trước hết vào lãnh thổ, chạy đua mở rộng lãnh thổ lục địa, chủ nghĩa biệt lập hoặc là những liên minh không bình đẳng và ổn định với các đối tác yếu hơn. Trong khi các nền kinh tế toàn cầu hóa được xây dựng dọc theo các đại dương và trao đổi buôn bán thông qua đại dương.

Thế nhưng sự phát triến toàn cầu hóa liệu có bền vững để nước Nga từ bỏ sự lựa chọn lục địa chủ quyền của mình, tính đến những rủi ro từ những ngõ cụt nợ nần tiềm năng, sự sụp đổ tài chính, những xung đột quân sự, khủng hoảng môi trường và nhập cư, tính đến mực nước biển thế giới tăng lên?

Inozemtsev: Toàn cầu hóa chẳng mang đến thiệt hại chết người cho ai cả. Có điều những lợi ích mà toàn cầu hóa mang lại, vượt trội hơn nhiều lần những mối nguy hiểm mà ông đã nhắc đến. Xin hãy nhìn vào Trung Quốc. Ở Trung Quốc, từ lâu người ta đã thấu hiểu, rằng nếu chính quyền muốn phần nào đó hạn chế cạnh tranh trong thị trường nội địa, họ nhất thiết phải bằng mọi cách khuyến khích những tập đoàn hàng đầu Trung Quốc tiến ra thị trường toàn cầu, để sau khi va chạm với các tập đoàn toàn cầu lớn nhất, các tập đoàn này sẽ “nội địa hóa” tác động cạnh tranh vào thị trường nội địa Trung Quốc. Một cách trực tiếp, nhanh và hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng thị trường nội địa.

Theo tôi, đó là nguyên nhân chính sự thành công của Trung Quốc. Trong khi đó, mong muốn khép kín trong biên giới của mình của người Nga, để tạo một một bầu không khí thuận lợi giả tạo cho “nhà sản xuất trong nước”, ngược lại đã trở thành một đảm bảo chắc chắn cho sự suy thoái tất yếu của mô hình kinh tế Nga.

Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh rằng, những câu chuyện ồn ào về khủng hoảng toàn cầu hóa  có nguồn gốc từ sự sợ hãi. Cần phải hiểu rằng, toàn cầu hóa là một quá trình dựa trên các công nghệ, trong sự phát triển của toàn cầu hóa, chúng ta chưa quan sát thấy bất cứ một thoái bộ (thụt lùi) nào. Chẳng ai có ý nghĩ vứt bỏ MacBook, cũng như vứt bỏ iPhone, để soạn thảo văn bản trên máy chữ và nói chuyện bằng điện thoại với cái ống nghe to tướng. Toàn cầu hóa là một quá trình, khi mà mỗi một sự kiện xảy ra ở bất cứ điểm nào trên thế giới ngay lập tức, ở chế độ thời gian thực, tác động lên toàn bộ thể giới còn lại. Ngày nay, rất nhiều qúa trình diễn ra không hề bị điều khiển từ bất kỳ trung tâm nào, đó là toàn cầu hóa. Có những quốc gia muốn lẩn tránh quá trình này. Liệu Nga có cần phải là một trong số những quốc gia này không? Tôi nghi ngờ điều này.

PV: Giả thiết là xã hội Nga, cùng với nó là nhà nước chuyển sang tiến trình dân chủ hóa, tự do hóa, hiện đại hóa kinh tế và nhiều việc khác. Liệu bây giờ ở Nga có một bí quyết, một ưu thế  kỹ thuật nào đó, nếu không phải là hàng hóa và công nghệ có sẵn, thì ít nhất cũng ở dạng ý tưởng hoặc những thiết kế, để sau một thời gian nhất định “đuổi kịp và vượt nước Mỹ”, không tụt lại cuối hàng, một lần nữa lại bật ra bên lề dòng chủ lưu của nhân loại, và ít nhất theo cách nào là một trong những nhà lãnh đạo thế giới?

Inozemtsev: Tôi cho rằng nên cấm nhắc đến từ “lãnh đạo” trong văn cảnh đó, cũng  như hiện nay người ta cấm nhắc đến cái gọi là “chủ nghĩa cực đoan” và một vài từ khác theo tinh thần này. Tôi xin nhắc lại, rằng nước Nga hiện nay không cần bất cứ một vai trò lãnh đạo nào. Nước Nga bây giờ cũng chẳng có một thứ gì hấp dẫn để chuyển giao cho thế giới và cho phép đất nước chúng ta chiếm được vị trí số một trên trường quốc tế. Tôi xin nhắc lại một lần nữa: chúng ta cần một ý thức hệ sắp xếp lại ngôi nhà của mình.

PV: Điều này có khả thi thiếu sự chiếm lĩnh những phân khúc nhất định trong hệ thống sản xuất và thương mại thế giới không? Xin hỏi thêm lần nữa: chúng ta có đủ điểu kiện để chiếm lĩnh một vài phân khúc nào đó không? Hay là hoàn toàn không nhất thiết phải sắp xếp lại ngôi nhà của mình?

Inozemtsev: Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta cần phải xem lại những quốc gia khác đã hiện đại hóa thế nào, những dân tộc không kém cỏi hơn chúng ta. Nhìn chung, có một ông người Nga tên là Lev Tolstoy đã nhận xét rất đúng: “Tất cả các gia đình hạnh phúc đều giống nhau, mỗi gia đình không hạnh phúc, đều không hạnh phúc theo kiểu của riêng mình”.  Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc và nhiều nước khác, đều đã đi qua con đường trở thành những quốc gia bình thường hiện đại. Gồm những bước đi cơ bản đều dễ hiểu: điều kiện phát triến kinh tế dự báo được, chống tham nhũng tương đối mạnh, thu hút công nghệ và đầu tư nước ngoài, tạo lợi thế cạnh tranh nhất định (trong trường hợp nước Nga, điểm mạnh có thể là nguyên liệu giá rẻ tại thị trường nội địa), “lôi kéo” các tập đoàn toàn cầu hàng đầu vào trong nước, để họ sẽ quảng bá sản phẩm của chúng ta dưới thương hiệu của họ. Đào tạo đội ngũ kỹ sư và công nhân lành nghề “dưới mũi” những Tập đoàn Siêu Quốc gia này. Tiếp theo, là khởi nghiệp những công ty của riêng mình, và tăng cường xuất khẩu sản phẩm công nghiệp.

Chỉ sau những bước phát triển hiển nhiên đó, mới có thể bắt đầu những cố gắng làm chủ công nghệ cao. Đồng thời, tạo ra những điều kiện hợp lý, để đưa trở lại về nước Nga những doanh nhân tài giỏi và những nhà sáng tạo, những người đã rời bỏ nước Nga và hòa nhập được vào môi trường kinh doanh của các nước tiên tiến trong một thời gian dài, một loại “hoa kiều” của Nga. Nói chung, ở đây không có điều gì đặc biệt phải phát minh, mọi công thức đã có sẵn và được kiểm chứng kỹ lưỡng ở các quốc gia khác nhau. Những quốc gia mà cách đây vài chuc năm, từng bị chúng ta coi là “mọi rợ”, nhưng hiện nay, về phát triển kinh tế đã vượt qua chúng ta từ lâu. Hôm nay tôi đặc biệt xin lưu ý, Trung Quốc hiện đang bán ra nước ngoài điện thoại di động nhiều hơn nước Nga bán dầu khí, còn bán đồ chơi cơ khí và trò chơi điện tử cho trẻ em nhiều hơn nước Nga bán vũ khí.

PV: Phương Tây dẫn đầu thế giới không chỉ nhờ những công nghệ có tính cách mạng, mà trước hết là về ý thức hệ tư tưởng. Lần cuối cùng, khi nước Nga là thủ lĩnh tư tưởng nhân loại, cách đây đã hàng trăm năm. Tuy nhiên, nước Nga đã không gánh vác nổi vai trò này, và do đó về nhiều phương diện, đã làm mất uy tín khái niệm chủ nghĩa xã hội. Ông Inozemtsev có đề xuất nào với tư cách một tư tưởng lãnh đạo, thay cho tư tưởng “tư cách cường quốc” và chủ nghĩa dân tộc không?

Inozemtsev: Tôi cho rằng, hiện nay chúng ta chẳng có bất kỳ điều gì tương tự như vậy để góp mặt với thế giới. Sách vở và công trình của các nhà khoa học xã hội Nga hầu như chẳng được thế giới quan tâm, mức độ trích dẫn gần như bằng không. Chúng ta có thể mang lại cho thế giới ý thức hệ nào ư? Ngày nay thế giới đang phát triển nhờ nền kinh tế tri thức. Nhưng ở Nga nó đơn giản là không tồn tại, bản thân nước Nga đang phát triển bằng cách đi vay mượn công nghệ từ các nước khác.

Vậy thì còn thứ gì có thể đề xuất nhỉ? Giành sự áp đảo trên thế giới, cố gắng bành trướng, “thế giới Nga”? Những phiên bản tầm thường này của chủ nghĩa dân tộc chẳng thể khiến ai xúc động. Còn nếu hoài niệm về chủ nghĩa cộng sản, thì đó là một hệ tư tưởng thuần túy Châu Âu. Chúng ta chỉ là những người truyền bá, nhưng không phải là những người sáng tạo ra nó. Tự mình, người Nga chưa bao giờ phát minh được bất cứ hệ tư tưởng tầm nhân loại nào cả. Ỏ thời điểm hiện tại, để phát minh ra nó, chúng ta lại càng chẳng có bất kỳ điểm mạnh và khả năng nào.

PV: Xét trên bình diện lịch sử và hiện tại nước Nga, con đường dẫn tới dân chủ sẽ chậm và không dễ dàng đối với người Nga. Theo quan điểm của ông, con đường này nên bắt đầu bằng sự lĩnh hội giá trị cơ bản nào, nguyên tắc cơ bản nào?

Inozemtsev: Bắt đầu từ nguyên tắc chăm lo đến chính nơi chúng ta đang sinh sống. Theo  một nghĩa nhất định, đó cũng là lòng yêu nước, nhưng không đi kèm với sự mị dân và chủ nghĩa dân túy. Chẳng hạn, chúng ta có thể khôi phục lại bất kỳ cây cầu, lâu đài, nhà thờ, nói chung là bất kỳ phế tích nào có giá trị văn hoá và kiến trúc. Đây không phải là tinh thần hoài cổ, mà là sự tôn trọng quá khứ. Điều này góp phần tạo điều kiện cho cuộc sống bình thường và thoải mái hơn. Tôi có thể hiểu và chấp nhận loại ý tưởng như vậy. Tôi sẽ gọi nó, xin nhấn mạnh một lần nữa, là  ý tưởng về việc sắp xếp lại ngôi nhà Nga của mình. Nhưng với một sự ngoái nhìn lại những cội nguồn và những thành tựu, cũng như cả những sai lầm trước đây.

Như vậy, “hệ tư tưởng” này vẫn là một ý thức hướng tới tương lai. Tôi cho rằng, đây có thể sẽ là một kinh nghiệm tích cực đối với nước Nga. Trên thực tế, đó cũng chính là cách tiếp cận mà châu Âu hiện đại về nhiều phương diên đang dựa vào. Chẳng có gì ngăn cản chúng ta sử dụng kinh nghiệm này cho lợi ích của mình.

Turkmenistan với ‘vành đai và con đường’ 
Hoàng Kim
.
Nền văn hóa Nga và châu Âu dần du nhập vào Turkmenistan để lại dấu vết trong kiến trúc và thành phố Ashgabat được xây dựng theo kiểu mới, sau này trở thành thủ đô Turkmenistan. Con đường tơ lụa là hệ thống những con đường thương mại huyết mạch lớn nhất thế giới của những “thương nhân lạc đà” từ thời cổ đại nối các nền văn minh Á , Âu, Phi. Con đường tơ lụa là hành trình văn hóa, tôn giáo đa dạng được hòa trộn mà Turkmenistan là một trong những điểm đến quan trọng. 27 tháng 10 là ngày độc lập của Turkmenistan (1991). Turkmenistan vùng sa mạc Cát Đen. Turkmenistan với ‘Vành đai và Con đường” sáng kiến mới của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Turkmenistan đất nước ấy có điểm gì tương đồng và không tương đồng với Việt Nam trong vị thế địa chính trị. APEC 2017 Mỹ – Nga- Trung Tổng thống Trump, Tổng thống Putin và Chủ tích Tập Cận Bình sẽ đến dự APEC tại Việt Nam tháng 11. Chủ tịch Tập Cận Bình đưa ra sáng kiến “Vành đai và Con đường” vào năm 2013, khi nền kinh tế Trung Quốc đã trỗi dậy kinh tế đứng hàng thứ hai sau Mỹ. Nội dung gồm hai kế hoạch thành phần, “Vành đai Kinh tế Con đường tơ lụa và Đường hàng hải”. Các nước ở Trung Á và Tây Á, hầu như đều đồng thuận sáng kiến này, có Turkmenistan…Đây là cách Trung Quốc thể hiện sức mạnh kinh tế kết nối các nước tạo lưu thông hàng hóa, dịch vụ, thương mại. Nghiên cứu Turkmenistan bài học gì cho Việt Nam?

Turkmenistan vùng sa mạc cát đen.

Turkmenistan (tên chính thức Cộng hòa Turkmenistan) là một quốc gia tại Trung Á giáp với Afghanistan về phía đông nam, Iran về phía tây nam, Uzbekistan về phía đông bắc, Kazakhstan về phía tây bắc, và biển Caspi về phía tây. “Turkmenistan” bắt nguồn từ tiếng Ba Tư, có nghĩa “nước của người Turkmen”. Nước Cộng hòa Turkmenistan thay thế tên gọi Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Turkmen trước đây của Liên Xô cũ đã tuyên bố độc lập ngày 27 tháng 10 năm 1991. Ảnh trên là một người Turkmen bản xứ trong trang phục truyền thống cùng con lạc đà của mình khoảng năm 1915.

Turkmenistan được khái lược trong bốn yếu tố chính: Đất nước (đất đai và thức ăn); Con người (tộc người, ngôn ngữ, văn hóa); Môi trường sống (khí hậu, lịch sử, danh thắng, vấn đề chung); Chế độ và Kinh tế hiện trạng.


Đất nước (đất đai và thức ăn): Turkmenistan có diện tích 488.100 km² (xếp hạng 52, so Việt Nam 331.699 km² hạng 66); Tài nguyên đất đai của đất nước này hơn 80% diện tích là sa mạc Karakum (Cát Đen). Turkmenistan có một thành phố độc lập (thủ đô Ashgabat) và năm tỉnh (Tỉnh Akhal; Tỉnh Balkan; Tỉnh Daşoguz; Tỉnh Lebap; Tỉnh Mary). Ba thành phố lớn gồm Ashgabat, Türkmenbaşy và Daşoguz. Vùng trung tâm đất nước là Sa mạc Karakum và Vùng lún Turan. Dãy Kopet Dag dọc biên giới tây nam cao 2.912 mét, Núi Balkan Turkmen ở cực tây và Dãy Kugitang ở cực đông là ba núi cao đáng chú ý nhất. Ba sông chính là Amu Darya, Murghab, và Hari Rud. Bờ Biển Caspian của Turkmenistan dài 1768 km. Biển Caspian hoàn toàn nằm kín trong lục địa, không thông với đại dương.

Con người (tộc người, ngôn ngữ, văn hóa): Turkmenistan có 5.662.544 người (hạng 117) 87% dân số là tín đồ Hồi giáo, 85% tộc người là người Turkmen, 5% người Uzbek, 4% người Nga, 6% là sắc tộc khác (năm 2003), mật độ dân số 10,5 người/km² (hạng 221). Ngôn ngữ chính thức là tiếng Turkme (theo Hiến pháp năm 1992), tiếng Nga được sử dụng rộng rãi ở các thành phố như một “ngôn ngữ giao tiếp giữa các dân tộc”. Tiếng Turkmen được nói bởi 72% dân số, tiếng Nga 12%, tiếng Uzbek 9%, và các ngôn ngữ khác 7% (tiếng Kazakh (88.000 người), tiếng Azerbaijan (33.000), tiếng Bashkir (2607), tiếng Belarus (5289), tiếng Brahui, tiếng Dargwa (1599), tiếng Dungan, tiếng Erzya (3488), tiếng Georgia (1047), tiếng Qaraqalpaq (2542), tiếng Armenia (3200), tiếng Triều Tiên (3493), tiếng Lak (1590), tiếng Lezgian (10.400), tiếng Litva (224), tiếng bắc Uzbekistan (317.000), tiếng Ossetic (1887), tiếng România (1561), tiếng Nga (349.000), tiếng Tabasaran (177), tiếng Tajik (1277), tiếng Tatar (40.434), tiếng Ukraina (37.118), tiếng Ba Tư (8000). Con đường tơ lụa là hệ thống những con đường thương mại huyết mạch lớn nhất thế giới của những “thương nhân lạc đà” từ thời cổ đại nối các nền văn minh Á , Âu, Phi. Con đường tơ lụa là hành trình văn hóa, tôn giáo đa dạng được hòa trộn, trong đó Turkmenistan là một điểm đến.

Môi trường sống (khí hậu, danh thắng, lịch sử, vấn đề chung) Turkmenistan có khí hậu cận xích đạo sa mạc, ít mưa, lượng mưa hàng năm hầu hết xảy ra trong giai đoạn tháng 1 và tháng 5. Vùng có lượng mưa lớn nhất nước là dãy Kopet Dag. Mùa đông khô và không khắc nghiệt. Danh thắng lịch sử và điểm đến nổi bật là thủ đô Ashgabat lưu dấu một trong những điểm nối con đường tơ lụa thương mại huyết mạch “thương nhân lạc đà” từ thời cổ đại. Con đường tơ lụa được hình thành từ thế kỷ 2 TCN người Trung Hoa mang vải lụa, gấm vóc, sa, nhiễu… đến Ba Tư và La Mã đồng thời những doanh nhân các vùng khác cũng tìm đường đến với Trung Hoa.


Lãnh thổ Turkmenistan có một lịch sử lâu dài và sóng gió của những cuộc chinh phục thời Đế chế Achaemenid thuộc Ba Tư cổ đại, . Alexander Đại Đế đã chinh phục lãnh thổ này vào thế kỷ IV trước công nguyên trên con đường tới Nam Á, khoảng cùng thời gian Con đường tơ lụa hình thành và trở thành con đường thương mại chính giữa Châu Á và Vùng Địa Trung Hải. Một trăm năm mươi năm sau Vương quốc Parthia của người Ba Tư đã lập thủ đô của họ tại Nisa, hiện là ngoại ô thủ đô Ashgabat. Thế kỷ VII sau Công Nguyên, người Ả Rập đã chinh phục vùng này, đem theo Đạo Hồi và tích hợp Turkmen vào văn hoá Trung Đông. Turkmenistan là thủ đô của Đại Khorasan, khi vua Hồi giáo Al-Ma’mun dời thủ đô tới Merv Giữa thế kỷ XI, người Turk thuộc Đế chế Seljuk đã tập trung sức mạnh của họ tại lãnh thổ Turkmenistan trong nỗ lực nhằm bành trướng tới Afghanistan. Đế chế tan vỡ trong nửa sau thế kỷ XII, và người Turkmen mất nền độc lập khi Thành Cát Tư Hãn chiếm quyền kiểm soát phía đông vùng Biển Caspian trong cuộc hành quân về hướng tây. Trong bảy thế kỷ sau đó, người Turkmen sống dưới nhiều đế chế và liên tục xảy ra các cuộc chiến giữa các bộ tộc. Trong suốt cuộc chinh phục Trung Á của mình, người Nga luôn gặp phải sự kháng cự mạnh liệt của người Turkmen. Tuy nhiên, tới năm 1894 Nga Hoàng đã giành được quyền kiểm soát Turkmenistan và sáp nhập nó vào lãnh thổ Nga. Thỏa ước Anh-Nga năm 1907 chấm dứt sự đối đầu. Nền văn hóa Nga và châu Âu dần du nhập vào vùng này, để lại dấu vết trong kiến trúc và thành phố Ashgabat được xây dựng theo kiểu mới, sau này sẽ trở thành thủ đô Turkmenistan. Cách mạng tháng 10 năm 1917 tại Nga và sự bất ổn chính trị sau đó đã dẫn tới việc tuyên bố vùng này thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Turkmen, một trong sáu nước cộng hoà của Liên bang Xô viết năm 1924, hình thành nên biên giới nước Turkmenistan hiện đại. Hồi giáo chiếm 89% dân số trong khi 9% dân số là tín đồ của Chính Thống giáo Đông phương và tôn giáo còn lại 2% theo CIA World Factbook, Tuy nhiên, theo một báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Pew năm 2009, thì có đến 93,1% dân số của Turkmenistan là Hồi giáo. Trong thời kỳ Xô Viết, tất cả các tôn giáo đều bị tấn công bởi chính quyền cộng sản với tội danh như mê tín dị đoan và “dấu tích của quá khứ”. Học tôn giáo và tham gia nghi lễ tôn giáo bị cấm, và đại đa số các nhà thờ Hồi giáo đã bị đóng cửa. Tuy nhiên, kể từ năm 1990, những nỗ lực đã được thực hiện để khôi phục lại một số di sản văn hóa tôn giáo bị mất dưới sự cai trị của Liên Xô. Cựu Tổng thống Saparmurat Atayevich Niyazov đã ra lệnh rằng các nguyên tắc Hồi giáo cơ bản được giảng dạy trong các trường công lập. Nhiều tổ chức tôn giáo, bao gồm cả các trường tôn giáo và nhà thờ Hồi giáo, đã xuất hiện trở lại với sự hỗ trợ của Ả Rập Xê Út, Kuwait, và Thổ Nhĩ Kỳ. Các lớp học tôn giáo được tổ chức trong cả hai trường học và nhà thờ Hồi giáo, với sự hướng dẫn về ngôn ngữ tiếng Ả Rập, kinh Qur’an và lịch sử đạo Hồi.

Chế độ và Kinh tế hiện trạng. Turkmenistan là cộng hoà tổng thống một đảng, Tổng thống là Gurbanguly Berdimuhamedow. Năm 1991, Turkmenistan tuyên bố độc lập, ông Saparmurat Niyazov, cựu lãnh đạo thời Xô viết, vẫn tiếp tục nắm quyền nhưng các quan hệ Nga-Turkmenistan bị ảnh hưởng nặng nề. Ông tạo dựng cho mình hình ảnh một người ủng hộ Hồi giáo truyền thống và văn hoá Turkmen nhưng ông nhanh chóng mang tiếng xấu ở phương Tây vì cách cầm quyền độc tài và sự sùng bái cá nhân. Quyền lực của ông được tăng cường mạnh từ năm 1990 đến năm 1999, ông đã trở thành Tổng thống suốt đời. Niyazov bất ngờ qua đời ngày 21 tháng 12 năm 2006, chưa kịp chỉ định người kế vị. Cựu phó thủ tướng Gurbanguly Berdimuhammedow, được cho là con ngoài giá thú của Niyazov, trở thành tổng thống tạm quyền, và năm 2007 được bầu làm tổng thống với 89% số phiếu 95% cử tri tham gia bầu cử, dù cuộc bầu cử bị các quan sát viên nước ngoài lên án. Turkmenistan sở hữu trữ lượng khí tự nhiên và dầu mỏ hàng thứ năm thế giới. Một nửa vùng đất được tưới tiêu của quốc gia này được dùng trồng bông, khiến nước này trở thành nhà sản xuất bông đứng thứ 10 thế giới. Theo nghị định của Hội đồng Nhân dân ngày 14 tháng 8 năm 2003, điện, khí tự nhiên, nước và muối ăn sẽ được cung cấp miễn phí từ năm 2030; Turkmenistan đang hướng đến thành “Cô-oét thứ hai” về xuất khẩu khí đốt. GDP danh nghĩa năm 2017 của Turkmenistan hiện đạt tổng số: 42,35 tỉ USD bình quân đầu người: 7.645 USD so Việt Nam GDP danh nghĩa năm 2016 tổng số: 200,49 tỷ USD (hạng 48) bình quân đầu người: 2.164 USD (hạng 134), so Hoa Kỳ GDP danh nghĩa năm 2017 tổng số 18.558,00 tỉ USD (hạng 1) bình quân đầu người: 57.220 USD (hạng 6) so Trung Quốc GDP danh nghĩa năm 2016 tổng số: 11.800,00 tỉ USD (hạng 2) bình quân đầu người: 8.481 (hạng 72) so Nga GDP danh nghĩa năm 2017 tổng số: 1 561 tỷ USD (hạng 11) bình quân đầu người: 10.885 USD (hạng 72)

Turkmenistan trong vành đai và con đường

Chủ tịch Tập Cận Bình đưa ra sáng kiến “Vành đai và Con đường” vào năm 2013, khi nền kinh tế Trung Quốc đã trỗi dậy kinh tế đứng hàng thứ hai sau Mỹ. Nội dung gồm hai kế hoạch thành phần, “Vành đai Kinh tế Con đường tơ lụa và Đường hàng hải”. Các nước ở Trung Á và Tây Á, hầu như đều đồng thuận sáng kiến này, trong đó có Turkmenistan. Trung Quốc đã thành lập Ngân hàng Đầu tư Phát triển Hạ tầng Cơ sở châu Á, với sự tham gia của hơn 20 quốc gia để cùng muốn đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng trên tuyến đường ‘Giấc mộng Trung Hoa’. Đây là cách Trung Quốc thể hiện sức mạnh kinh tế kết nối các nước tạo lưu thông hàng hóa, dịch vụ, thương mại,

Vị trí địa lý của Turkmenistan trong Danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á thuộc tầm ngắm ‘Vành đai và Con đường’ liên kết kinh tế của Trung Quốc.

Bài viết này nhân ngày độc lập 27 tháng 10 của Turkmenistan.

Nghiên cứu Turkmenistan bài học cho Việt Nam

Hoàng Kim

Nguồn:https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/10/27/chao-ngay-moi-27-thang-10-2/

Video yêu thích

Tình khúc Nga vang bóng một thời
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Advertisements

One thought on “Trung Nga ‘vành đai và con đường’

  1. Pingback: Chào ngày mới 2 tháng 11 | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s