Dạy và học ngôn ngữ văn hóa

Ngôn ngữ văn hóa Việt là kho tàng trí tuệ. Mời bạn đọc bài ‘Dưỡng sinh’ của thầy Nguyễn Lân Dũng, ‘Thơ Facebook’ của Thanh Vân, “Ướm thử giày xưa” thơ Duệ Mai và lời bình của Thanh Vân, cùng đọc bài thơ “May mà” của nhà thơ Lê Đình Cánh và lời bình của bác Bulukhin để hiểu thêm góc nhìn về du lịch văn hóa Việt (Hoàng Kim)

DƯỠNG SINH

Nguyễn Lân Dũng

Dưỡng sinh là một phương pháp tập luyện nhẹ nhàng, thường xuyên và rất có lợi cho sức khoẻ ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Đây là loại bài tập không cần được huấn luyện nhiều, xem qua hay đọc qua là hiểu được ngay. Có thể ngoài trời hay trong nhà, tập buổi sáng sớm hay buổi chiều tối, có thể tập trong suốt bốn mùa. Nữ giáo sư Trung Quốc Uông Đức Nhàn ở Bệnh viện số 1 thuộc Đại học Bắc Kinh đề xuất ra 16 bài tập dưỡng sinh khá phù hợp với mọi người và chúng ta nên tham khảo (xem cuốn Sách trắng về Sức khoẻ, NXB Phụ nữ, 2006).

Theo GS. Uông thì Càn Long là ông Vua sống thọ nhất trong giai đoạn suốt trên 2000 năm của xã hội phong kiến Trung Quốc với tuổi thọ là 88. Bí quyết của Vua Càn Long là… thường xuyên tập Dưỡng sinh ! Phương pháp của ông Vua này được tóm tắt trong 16 chữ, dịch ra tiếng Việt là “Thở ra hít vào; Hoạt động gân cốt; Mười nên, Bốn không; Tẩm bổ đúng lúc”

‘Mười nên’ được hiểu là: Thường xuyên đánh răng; Thường xuyên nuốt nước bọt; Tai thính; Mũi thính; Mắt tinh; Thường xuyên xoa mặt; Luôn xoa bóp chân; Luôn xoa bóp tay; Luôn gập bụng; Luôn duỗi thẳng tay chân. ‘Bốn không’ được hiểu là: Không nói chuyện khi ăn, Không nói mê khi ngủ, Không say khi uống, Không mê sắc dục.

Các sách kinh điển của Trung Quốc đã ghi lại 16 chữ của Vua Càn Long là cơ sở của phương pháp tập luyện của phái Côn Luân thời cổ đại. Người Nhật thời Cận đại đã phổ biến 16 chữ này trong dân chúng để thường xuyên luyện tập.

Khi vận động được khuyên là: Thường xuyên vuốt tóc; Xoa mặt; Mắt tinh; Tai thính; Lưỡi luôn ướt; Răng luôn sạch; Lưng luôn ấm; Chân tay luôn cử động; Da dẻ luôn sạch sẽ; Không nói khi đang đi tiểu, đi đại tiện.

Hàng ngày chải đầu bằng lược khoảng 100 lượt hay nhiều hơn khi thấy ngứa đầu, rụng tóc. Xoa mặt nhẹ nhàng 50 lần bằng hai lòng bàn tay. Xoa mũi bằng ngón tay giữa và ngón tay trỏ, miết mạnh hai bên sống mũi từ dưới lên đến huyệt Ấn Đường ở trán rồi từ trán miết xuống, lặp lại 50 lần. Sau đó dùng hai ngón trỏ ấn mạnh vào huyệt Nghinh Hương ở hai bên 50 lần. Xoa mép bằng hai ngón tay giữa, ấn vào huyệt Địa Thương ở hai bên mép 50 lần. Xoa mắt bằng hai ngón tay trỏ, ấn vào huyệt Thái Dương ở hai bên trán 50 lần, sau đó ấn vào huyệt Tứ Hạch ở dưới mắt 50 lần. Rồi ấn vào hai huyệt trên hai mi mắt 50 lần.

Vận động mắt, chuyển động nhãn cầu: ngước nhìn lên trời rồi nhìn xuống đất 100 lần, lại nhìn sang bên sau đó nhìn về phía trước, đổi bên và làm 100 lần. Thường xuyên xoa tai vì quanh vành tai có 300 huyệt, phía sau tai có 50 huyệt. Xoa tai giúp ngủ sâu hơn, tâm hồn thoải mái, có lợi cho sức khoẻ.

Thường xuyên đánh răng kết hợp với việc dùng ngón tay sạch day lợi cả trong lẫn ngoài từ 1 đến 2 phút. Cọ xát lưỡi nhẹ nhàng, miệng tiết ra nhiều nước bọt. Trước hết bình tâm, thở ra 3 lần, thè lưỡi ra đến môi, khẽ cọ xát cho nướt bọt ứ ra. Làm 5-7 lần rồi nhổ nước bọt đi, không nuốt. Mỗi lần làm 50 lượt vào buổi sáng hay buổi tối.

Xoa ngực lưng và bụng có thể phòng tránh bệnh tật. Dùng hai bàn tay xoa lưng 50 lần và xoa ngực 50 lần. Sau đó dùng từng tay vỗ nhẹ vào ngực và vào lưng. Dùng cả hai tay xoa cho da bụng nóng lên, xoa thành vòng tròn, một tay xoa xuống và một tay xoa lên. Đừng xoa sau lúc no quá hoặc đói quá. Cần uống nhiều nước, ăn nhiều rau xanh và hoa quả, tạo thói quen đại tiện đều đặn và đúng giờ.

Tập thở bằng bụng, thở mạnh ra để hậu môn giãn nở đẩy khí âm ra, khi hít vào hậu môn thả lỏng . Mỗi ngày tập 50-100 lần để phòng chữa bệnh trĩ, viêm tuyến tiền liệt. Khi đi tiểu tiện hay đại tiện không nói chuyện, càng không nên hút thuốc, nên mím môi và xiết chặt hai hàm răng, để máu lưu thông làm cho răng chắc khỏe.

Dùng tay xoa để tắm khô cho da, bắt đầu từ huyệt bách hội ở đỉnh đầu rồi xuống mặt, vai, cánh tay, ngực, bụng, lưng, eo, đùi, chân. Có thể tự mình làm lấy hoặc người trong nhà giúp làm lẫn cho nhau. Xoa âm bộ gồm háng (100 lần), cốt huyệt (100 lần), âm huyệt (100 lần), huyệt thận (100 lần), bụng (100 lần), ngọc hành (100 lần) Tập thở hít bằng bụng, mở rộng biên độ lên xuống của hoành cách mô và biên độ co giãn của bụng. Cách thở này giúp tuần hoàn máu tốt hơn, cải thiện chức năng của khí quả, tăng cường được sức đề kháng với bệnh tật.

|Thường xuyên xoa gan bàn chân. Sáng đi bách bộ 300 bước, tối ngâm chân bằng nước ấm 38-450C. Vừa ngâm chân vừa cọ xát vào nhau, ngâm trong 10-20 phút. Sau đó lau khô rồi xoa bằng tay cho hai gan bàn chân nóng lên.

Hoạt động chân tay bằng cách toàn thân thả lỏng, đứng tự nhiên, tập trung tư tưởng. Vận động đầu bằng cách ngẩng lên cúi xuống 30 lần, sau đó lần lượt nghiên đầu về hai bên, mỗi bên 15 lần. Vặn sườn bằng một tay chống nạnh sườn, một tay giơ cao, vặn sườn mỗi bên 15 lần. Vận động ngực bằng cách chân trái bước lên trước, chân phải duỗi thẳng ra sau, hai tay giơ thẳng về phía trước rồi vươn sang hai bên, ưỡn ngực ra, tập 15 lần rồi đổi bên tập 15 lần nữa. Vận động xoay người bằng cách dạng hai chân, hai tay chống nạnh, quay người sang trái rồi sang phải. Vận động tay bằng cách dạng chân, buông xuôi tay rồi đưa thẳng về phía trước, sau đó thu về tư thế cũ và tập 30 lần. Vận động vỗ đấm bằng cách dạng hai chân, nắm tay lại và đấm nhẹ các phần bụng, ngực, lưng, vai, khoảng 30 lần. Vận động vắt tréo bằng cách dạng hai chân, hai tay duỗi thẳng rồi vắt tréo hai tay trước ngực rồi xoay người sang hai bên, tập 15 lần.Vận động chèo thuyền bằng cách dạng hai chân, chân trái bước lên, chân phải duỗi thẳng ra sau, hai tay làm động tác chèo thuyền, tập 15 lần. Vận động lắc mông bằng cách dạng hai chân lắc mông sang hai bên 30 lần. Vận động xoay mông bằng cách dạng hai chân, xoay mông từ trái sang phải và ngược lại 30 lần.

Vận động lưng bằng cách dạng hai chân, hai tay vắt tréo sau lưng, từ từ gập người xuống rồi từ từ đứng thẳng lên, tập 30 lần. Vận động vặn lưng bằng cách dạng hai chân, gập người về phía trước, hai tay xoay theo hướng vặn lưng, tập 15 lần mỗi bên. Vận động cong lưng bằng cách chụm hai chân, sau đó chân trái bước lên nửa bước, hai tay giơ cao, gập bụng, tay với tới chân rồi trở về tư thế đứng thẳng, tập mỗi bên 15 lần.Vận động đá chân bằng cách đứng chụm chân hai tay đưa lên ngang vai, lần lượt đá mạnh từng chân về phía trước, mỗi chân 15 lần, sau đó lại đá về phía sau mỗi chân 15 lần.

Vận động đầu gối bằng cách dạng hai chân, gập người về phía trước, hai tay vịn vào đầu gối, xoay đầu gối theo hai chiều kim đồng hồ, mỗi chiều 15 lần. Vận động quỳ bằng cách chụm hai chân, từ từ quỳ xuống rồi lại đứng lên, tập khoảng 30 lần. Vận động xoay chân bằng cách dạng hai chân, giơ chân phải lên, xoay từ trong ra ngoài, rồi xoay lại làm 15 lần rồi đổi chân làm lại như vậy. Vận động nhảy đá chân bằng cách nhảy lên khỏi mặt đất và lần lượt đá về phía trước mỗi chân 15 lần.

Tuỳ theo sức khoẻ, thời gian luyện tập mà thay đổi cường độ tập luyện.

Nguồn: http://nguyenlandung.vn102.space/2017/11/30/d_ng_sinh

……..
GIÀY VÀ THƠ
Thanh Vân

Tôi có một anh bạn làm phóng viên viết về mảng thời trang và văn hoá ở một tờ báo ăn khách nọ. Hắn biết tôi thích ngắm gái đẹp, lại có chút năng khiếu “hỏi xoáy đáp xoay “ nên mỗi lần đi phỏng vấn hoa hậu, người mẫu, hắn thường rủ tôi đi cùng. Năm trước, nhờ có tôi mà bài phỏng vấn hoa hậu X của hắn, báo bán chạy như tôm tươi, hắn được Tổng biên tập khen và thưởng cho một tháng du lịch đảo Phú Quốc để theo dõi và viết bài đưa tin về cuộc thi hoa hậu Việt Nam 2014. Tôi còn nhớ như in lần đó, khi nàng ô sin đẹp tuyệt trần ( tôi đã tưởng nhầm là hoa hậu ) ra mở cổng và dẫn chúng tôi vào phòng khách là lúc hoa hậu X đang thử giày để tối đi dự event từ thiện. Ở một góc phòng khách, một cái tủ to tướng cơ man là giày được trưng bày như ở một cửa hàng giày thời trang trong siêu thị Tràng Tiền Plaza. Như bạn bè người thân trong nhà, nàng vẫy hắn và tôi đến bên gian hàng, nàng chỉ từng đôi, từng đôi một, giới thiệu tên hãng và xuất xứ của nó. Tôi hỏi nàng đây là cửa hàng giày cũ hay giày mới. Giọng nàng ngọt ngào và tự hào : giày xưa đấy anh . Nó đã in dấu chân em trên đại lộ Paris, đại lộ thành Rome, đại lộ Holywood v.v…Buổi phỏng vấn nàng về từ thiện lại thành buổi phỏng vấn về thời trang giày và những bước đi trên sàn catwalk . Nàng hết thử đôi này đến đôi khác, dạo những bước chân uyển chuyển. Anh bạn tôi hết đứng, lại ngồi, lại khom lưng qùi gối chụp ảnh nàng lia lịa.

Còn tôi vừa ngắm nàng vừa hỏi nàng những câu hỏi bâng quơ về giày. Tôi còn nhớ một số câu hỏi đại loại như sau:
– Màu sắc giày em yêu thích là màu gì?.
– Em thích màu hồng, màu tím, màu của bình minh và màu của thủy chung.
– Vì sao em lại thích bộ sưu tập giày ?.
– Vì giày gắn liền với bước chân. Nhiều bước chân cộng lại là lịch sử của cuộc đời…
– Em có hay đi lại giày cũ không?
– Thường xuyên. Vì mỗi lần đi giày cũ em như trở về quá khứ.
– Bây giờ đi lại đôi giày lúc đăng quang hoa hậu em thấy chân mình còn vừa không? Một câu hỏi khó và một thoáng bối rối trên khuôn mặt nàng:
– Vẫn vừa. Bàn chân em vẫn không thay đổi, vẫn size 36 như lúc đăng quang.

Khi tôi nói chuyện với nàng, anh bạn phóng viên của tôi đã mở máy ghi âm ghi lại tất cả để làm tư liệu bài viết. Ngồi trên xe lúc ra về, hắn lại mở ra nghe và bình luận. Hắn khen nàng là hoa hậu Việt Nam thông minh nhất từ trước đến nay. Hắn khuyên tôi nên viết một bài thơ về nàng, về những đôi giày của nàng. Hắn hứa sẽ đăng trên báo của hắn và trả nhuận bút cao hơn mọi người.

Hắn cứ tưởng làm thơ là dễ lắm, dễ hơn viết những câu chuyện lá cải của hắn. Đã mấy tháng nay, đầu óc tôi mụ mị, chẳng viết nỗi một câu thơ nào. Nàng thơ bỏ tôi mà đi thật rồi. Để duy trì và tìm lại cảm xúc thơ, đêm nào tôi cũng miệt mài đọc thơ cho đến tận một giờ sáng rồi mới đi ngủ. Thơ trên báo Văn Nghệ Già, Văn Nghệ Trẻ, Văn Nghệ Quân Đội, Tác Phẩm Mới, thơ trên Facebook, thơ trên các trang Web, thơ tập bạn bè tặng v.v…Giữa núi thơ biển chữ tôi đâm hoang mang. Tập thơ Mùa thu gõ cửa – Lão Chiếu ( tên thật là Nguyễn Thanh Quang ) tặng tôi đã hơn tháng vẫn chưa đọc. Tôi nghĩ lão là anh vô danh tiểu tốt trong làng Văn, lão biên tập và xuất bản chắc có gì hay mà đọc. Ừ lão có nhã ý tặng thì đọc xem sao, biết đâu gặp được bài thơ hay?. Và khi đọc xong tập thơ này, tôi thấy mình đã hiểu sai lão. Với hơn một trăm bài thơ của 54 tác giả tôi đã như lạc vào một vườn hoa đầy hương sắc. Có rất nhiều câu thơ lấp lánh và nhiều bài thơ long lanh, thực sự là thơ. Ví dụ như Lời Thị Màu ( Hoàng Kim Hương ), Khúc em xa, Viết trước cổng chùa ( Đặng Khánh Cường ), Chị ngồi giặt áo ( Nguyễn Lâm Cẩn ), Hà Nội sang mùa ( Đỗ Minh Ngọc ), Gia điệu thu Hà Nội ( Nguyễn Thị Lan Anh ), Đi qua chiều Hà Nội (Dương Thu Hương) v.v…Trong đó tôi ấn tượng nhất là ba bài: Dắt mùa, Vết nứt và Ướm thử giày xưa của Duệ Mai. Trong ba bài tôi lại tâm đắc bài ‘Ướm thử giày xưa’. Vì đây là bài thơ viết về giày mà anh bạn tôi đặt hàng viết cho cô hoa hậu trong chuyến đi phỏng vấn mà tôi không sao viết nổi. Bạn thử đọc bài thơ này của Duệ Mai :

Dừng chân,
Ướm thử giày xưa
Gót qua dâu bể
Còn vừa nữa đâu!

Ngỡ như mới giập bã trầu
Mà thời gian đã nhuốm màu bạc vôi!
Dấu son trải dọc đường đời
Chỉ mình mình biết sạn rơi kẽ nào…

Tháo ra, dốc hết lao xao
Lót thêm lành lặn, trả vào khôi nguyên.
Giày xưa
Da hãy còn mềm
Chân nay
Chai đã cứng thêm mấy phần!

Thở dài, đóng lại tần ngần
Lạc giày, lạc cả bước chân…
Thôi đành!

Bài thơ thật gọn gàng xinh xắn , câu chữ giản dị , nhưng thật ám ảnh và ma mị. Bàn chân khi đã đến tuổi trưởng thành mấy khi thay đổi. Bao năm tôi vẫn đi cỡ giày 41. Nàng hoa hậu vẫn đi giày cỡ 36 đấy thôi. Thế mà Duệ Mai ướm lại giày xưa thì không vừa “ Gót qua dâu bể/ Còn vừa nữa đâu …” Chỉ thi nhân mới nói được câu này. Không vừa giày, vì trải qua dâu bể , bàn chân đã mòn đi. Cuộc đời con người là cõi tạm trần gian. Thời gian như làn mây bay qua đầu, như nước chảy qua cầu. Mỗi bàn chân gắn với một đôi giày và một số phận. Khổ đau, hạnh phúc mỗi mình ta biết. Đôi giày như người tri âm, tri kỷ biết sẻ chia , biết sạn rơi kẽ chân nào . Một khoảng thời gian, một chặng đường của một con người thường gắn bó một đôi giày. Cất giữ giày cũ là cất giữ quá khứ. Ướm thử giày cũ là để trở về với quá khứ. Và chẳng ai sống mãi với quá khứ. Rồi đành lòng gói lại quá khứ để bước tiếp với đôi giày mới và bước chân mới. Bài thơ đã chọn được một thi tứ độc đáo. Mượn giày để nói về nhân tình thế thái, nỗi buồn vui cuộc đời người.

Tôi đã hơi dông dài. Nhưng thật thiếu sót khi bỏ qua nghệ thuật con chữ của bài thơ này. Về hình thơ chẳng có gì mới , là thể lục bát ngắt câu mà nhiều nhà thơ hiện nay hay dùng . Nhưng sự gieo con chữ trong bài thơ Ướm thử giày xưa của Duệ Mai thì rất tài hoa . Ngôn từ rất gợi và rất ẩn dụ, nói ít hiểu nhiều: gót qua dâu bể, dấu son trải dọc đường đời, dốc hết lao xao, lót thêm lành lặn, trả vào khôi nguyên, đóng lại tần ngần, lạc giày, lạc cả bước chân.. Tôi đã làm nhiều phép thử thay từ vào các đoạn thơ này , nhưng thất bại hoàn toàn. Không thể thay bất kỳ một từ nào khác để câu thơ và bài thơ hay thêm. Nói về thời gian Duệ Mai cũng có cách nói rất mới , rất khác người. Chị ví thời gian đời người con gái như người nhai miếng trầu, mới đầu là đỏ thắm, là nồng say, cuối cùng là xác bã trắng, nhạt thếch : Ngỡ như mới giập bã trầu / Mà thời gian đã nhuốm màu bạc vôi!. Bài thơ là toàn bích. Nhưng chữ thôi đành kết thúc bài thơ sao an phận quá. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng chẳng biết dùng chữ nào khác. Nó cũng như câu chào tạm biệt hẹn gặp lại mà mọi cuộc chia tay đều có.

Đến bây giờ tôi vẫn chưa biết Duệ Mai là ai, là nhà thơ chuyên nghiệp hay là người viết để giải toả lòng mình. Nàng có đẹp như thơ của nàng không? Nếu nàng còn trẻ và đi thi hoa hậu, nếu phần thi vấn đáp là câu hỏi : Bạn nghĩ gì khi đi lại đôi giày cũ của mình? Với ý thơ này tôi chắc nàng sẽ được điểm cao nhất phần thi vấn đáp. Nhưng ngôi hoa hậu, á hậu 1, á hậu 2 chẳng thuộc về nàng…

THƠ FACEBOOK
Thanh Vân

Có phải là thời đại phồn thịnh chăng mà nhà nhà làm thơ, người người làm thơ ? Thơ in báo, tạp chí, in tập số lượng người đọc ít nên bây giờ thơ rủ nhau lên mạng, nhất là mạng xã hội Facebook. Nếu làm một phép so sánh thơ in so với thơ mạng thì lượng đọc giả một vực, một trời. Nắm bắt được ưu điểm đó, nhiều nhà thơ trẻ nhanh chân nhanh tay xây nhà trên mạng. Các nhà thơ lớn tuổi sau một thời gian chần chừ, bây giờ cũng đã góp mặt gần như đầy đủ, trừ những nhà thơ nghèo quá không có máy tính hoặc không biết về công nghệ thông tin. Vì thế không gian thơ mạng rất rộng mở, đông vui và náo nhiệt. Năm 2013 đã cuộc thi thơ trên Facebook với chủ đề Lời tỏ tình đầu tiên với những nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Trọng Tạo, Bùi Minh Quốc … làm giám khảo. Là một người say thơ từ thuở chăn trâu nên ngày nào tôi cũng lăn lộn trên cánh đồng thơ mạng để cày bừa, gặt hái. Vào một ngày đẹp trời, tôi đã gặt được bài thơ này của một tác giả có nickname Hương Hoàng :

Lời Thị Màu

Ừ thì đây chẳng cần ngoan
Xéo đuôi con mắt giựt toang nâu sồng
Vít tay cho trẹo cong cong
Tứ thân tơi tả, nảy ngồng lả lơi

Chiều em một chút tiểu ơi…
Ngoài kia nắng cũng sắp rời ngày đi
Mũ ni che được những gì
Ngàn năm con sóng ai bi vỗ hồn

Chiều em đi kẻo mưa cuồng
Nghiến đay táo rụng, buông tuồng thả rơi
Chiều em một chút tiểu ơi…
Thiên đàng, địa ngục …rã rời vì nhau.

Một bài thơ viết về Thị Màu trong truyện cổ Quan âm Thị Kính rất ngắn gọn súc tích, đủ khắc họa được tính cách của một Thị Màu mãnh liệt, sống thật với bản chất, bất cần đời. Khắc họa tính cánh một nhân vật trong truyện đã là khó, trong thơ càng khó hơn.Với Lời Thị Màu, Hương Hoàng dùng lối nói dân gian, trực tiếp hoá thân vào Thị Màu để tâm tình với bạn đọc. Nhờ vậy câu chữ được rút ngắn. Bài thơ chỉ vỏn vẹn 84 từ. Nếu người viết không tinh tế, không khéo léo sắp xếp sẽ kéo dài câu chữ. Quan sát kỹ hơn một chút, suy ngẫm sâu hơn một chút Lời Thị Màu có bàn tay sắp đặt của một họa sĩ làm thơ. Mỗi câu thơ như một nét vẽ. Ngay câu mở bài, tính cách Thị Màu đã hiện lên rất rõ : Ừ thì đây chẳng cần ngoan. Đúng là bất cần đời, thách thức thiên hạ. Con mắt Thị Màu đa tình, sắc lẹm như dao cau nhìn như lột áo Thị Kính với một nét vẽ táo bạo: Xéo đuôi con mắt giựt toang nâu sồng. Để khắc hoạ tính cách Thị Màu, tác giả liên tục đưa ra những động từ hành động mạnh : xéo, giựt, vít, nghiến, nảy nồng… và những trạng từ sắc thái gợi cảm: tơi tả, lã lơi, mưa cuồng… hay nói cách khác dùng những nét vẽ với gam màu nóng. Xen kẽ giữa gam màu nóng là gam màu dịu để thể hiện cái bên trong là nỗi khát khao, giục dã, đong đưa gọi mời của Thị Màu. Chiều em một chút tiểu ơi…/ Ngoài kia nắng cũng sắp rời ngày đi. Giục lần một thật nhẹ nhàng. Nhưng giục lần hai sắc thái đã mang tính lẳng lơ, dọa dẫm đúng bản chất của Thị Màu: Chiều em đi kẻo mưa cuồng / Nghiến đay táo rụng, buông tuồng thả rơi. Ngọt ngào, thúc giục, dọa dẫm vẫn không lay chuyển được Thị Kính, lời thúc giục lần ba là nỗi tuyệt vọng, than vãn của Thị Màu: Chiều em một chút tiểu ơi… Thiên đàng, địa ngục…rã rời vì nhau. Ba câu lục bát này miêu tả diễn biến tâm trạng của Thị Màu lên Chùa tán tỉnh chú tiểu Thị Kính. Ba câu thơ này thật đắc địa, vì nó giúp diễn tả sự biến chuyển tâm lý của nhân vật, vừa làm thay đổi nhịp điệu bài thơ, lúc lên bỗng, lúc xuống trầm. Nói theo ngôn ngữ hội hoạ, đó là những nét khuất không thể thiếu trong một bức vẽ chân dung. Có thể nói Lời Thị Màu là một bức vẽ chân dung bằng lời rất đẹp, rất sắc nét, lột tả đúng nhân vật Thị Màu trong câu truyện cổ.

Bất kỳ một bài thơ hay nào cũng có hai tầng nghĩa. Bài thơ này Hương Hoàng viết năm 2014, trong thời buổi cuộc sống xã hội đã có nhiều thay đổi. Nền kinh tế thị trường, những đòi hỏi cao về vật chất , sự hội nhập thế giới với sự pha tạp về văn hoá đã thay đổi cách nghĩ, cách sống của một bộ phận không nhỏ của người Việt. Tệ nạn tham nhũng, đút lót, chạy chức, chạy quyền, đạo đức giả ở thượng tầng kiến trúc đã trở thành vấn nạn. Con người sống trở nên ích kỷ, bàng quang, thờ ơ với đồng loại, luôn luôn phải đeo mặt nạ. Mũ ni che được những gì / Ngàn năm con sóng bi ai vỗ hồn. Trong tình yêu cũng rất khó tìm ra được Romeo và Juliet cũng như Thị Màu với Thị Kính. Những cuộc tình chớp nhoáng, nặng mùi tiền bạc, nhà lầu, xe hơi. Lúc mặn nồng thì lên báo, lên mạng ca tụng nhau. Khi chia tay lại chửi bới ầm ĩ. Cái tốt, cái xấu lẫn lộn. Cuộc sống tranh tối, tranh sáng. Con người luôn đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa chân thật và giả dối, giữa thiện và ác, hay nói ẩn dụ đi là giữa thiên đường và địa ngục. Ðấu tranh khốc liệt đến mức : Thiên đàng, địa ngục…rã rời vì nhau. Tầng nghĩa thứ hai của Lời Thị Màu thật sâu sắc và ý nghĩa. Bài thơ có câu đầu gây sự chú ý và câu kết thả vào lòng bạn đọc những suy tư, trăn trở khôn nguôi…

Có thể nói cánh đồng thơ Facebook thật bao la, rộng lớn, đang hứa hẹn có những mùa gặt bội thu. Bài thơ Lời Thị Màu của Hương Hoàng như một vạt lúa chín sớm, lóng ánh sắc vàng. Qua bạn bè tôi biết chị là một họa sĩ, một kiến trúc sư. Mong rằng trong thời gian tới sẽ được ngắm những bức tranh đa sắc màu rất đẹp bằng ngôn từ chị vẽ.

Hà Nội – Một ngày nắng lên.

DẠY VÀ HỌC NGÔN NGỮ VĂN HÓA

Hoàng Kim

Mời bạn lắng nghe bài “May mà” của Lê Đình Cánh và lời bình của Bulukhin để có thêm một góc nhìn về du lịch Việt Nam ở xứ Huế và  xứ Thanh.

MAY MÀ

Lê Đình Cánh

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành
Tháp xưa còn tiếng chuông lành
Tường rêu còn nhuộm sứ sành sắc lam.

May mà Huế ở trời Nam
Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo
Nhà vườn còn gác trăng treo
Còn diều khuê các bơi chèo gió xanh.

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát, Cổ thành gạch tan
Hán Nôm nghìn tuổi thành than
Nền xưa dấu cũ hoang tàn nắng mưa.

Lời bình của Bulukhin:

Lê Đình Cánh là một trong những nhà thơ mà tôi yêu thich. Trong khi lục bát Đồng Đức Bốn xuất thần, bạo liệt, có lúc bụi bặm… Lục bát Nguyễn Duy tài hoa, hóm hỉnh, thì lục bát Lê Đình Cánh cứ rỉ rả mà thâm trầm sâu cay. Xứ Thanh là quê ông,”May mà” là bài thơ ông nói về quê mình. Ở đó có Lam Kinh, một khu di tích rộng khoảng 30 ha ở xã Xuân Lam. Lam Kinh có đến 14 công trình di tích như Ngọ môn, Sân rồng, Chính điện Lam Kinh, Khu thái miếu triều Lê sơ, Lăng mộ các vua và hoàng hậu , Bia Vĩnh Lăng, Hựu Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng, Kinh Lăng, Khu đền thờ Lê Lợi, Khu đền thờ Lê Lai, Đền thờ Bố Vệ…

Nhà nước đã bỏ ra vô số công sức và tiền của để tôn tạo phục chế lại Lam Kinh nhưng rồi không hiểu sao vong linh các vua chúa cứ hỏi nhau nơi đây là đâu nhỉ? Có phải là Lam Kinh vàng son trên đất Thọ Xuân Thanh Hóa không? Lê Đình Cánh làm thơ chứ không làm vua nên ông không hỏi thế. Mà hỏi ai? và ai trả lời? ông thảng thốt kêu lên “may mà” nghe sao mà ai oán.

May mà Huế ở Thừa Thiên
Kinh kỳ thuở trước còn nguyên cổ thành

Nhà thơ vẫn rỉ rả nói về Huế, thì Huế vẫn còn đó nguyên vẹn, cho nên Unesco mới phong tặng danh hiệu Di sản Văn hoá của nhân loại chứ sao.

May mà Huế ở trời Nam

Còn câu đối cũ dựng am sách nghèo

Thế rồi đột ngột như cầu thủ nhà nghề phạt trực tiếp 11 mét. Tác giả cho bóng vào gôn đối phương

Nếu mà Huế ở xứ Thanh
Lầu son ngói nát cổ thành gạch tan

Lê Đình Cánh tuyệt nhiên không nói đến Lam Kinh, vì sao vậy? Đấy là kiểu chơi trốn tìm, buộc người đọc phải tò mò tìm kiếm, sau đó mới “ngộ” ra. A, đúng rồi đấy là Lam Kinh, Thọ Xuân Thanh Hóa. Ai mà chẳng biết xứ Thanh là phát tích nhiều triều đại vua chúa từ Lê sơ, hậu Lê, cho đến nhà Nguyễn. Vong linh các vị không còn lăng tẩm xưa cũ mà về, vì hậu duệ thời a còng (@) đang làm cái việc được dán nhãn “duy tu và tôn tạo” các di tích lịch sử và văn hoá nước nhà !!

https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/03/17/den-voi-bai-tho-hay/

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Advertisements

Thác Bản Giốc và sông Ka Long


THÁC BẢN GIỐC VÀ SÔNG KA LONG

Hoàng Tố Nguyên và Hoàng Kim

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI. Nghiên cứu dịch thuật Việt Trung. Du lịch Việt Nam. Thác Bản Giốc và sông KaLong là hai địa danh lịch sử văn hóa đặc biệt nổi tiếng Việt Trung. Thác Bản Giốc là thác nước hùng vĩ đẹp nhất Việt Nam tại xã Ðàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Sông Ka Long (tên gọi Việt) hoặc Sông Bắc Luân (tên gọi Trung) là sông chảy ở vùng biên giới giữa thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam và thành phố Đông Hưng thuộc địa cấp thị Phòng Thành Cảng, Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tuy nhiên theo các bản đồ của Việt Nam thì quan niệm về dòng chảy của sông Ka Long và sông Bắc Luân không hoàn toàn trùng khớp với quan niệm về sông Bắc Luân của Trung Quốc. Thác Bản Giốc và sông KaLong là nơi lưu dấu các câu chuyên lịch sử và huyền thoại mà tư liệu này là điểm nhấn để quay lại đọc và suy ngẫm. Theo VOV 27.11. 2015 “Một thác nước tự nhiên, đẹp hùng vĩ bậc nhất thế giới nằm ở giữa ranh giới hai quốc gia, chứa đựng trong đó nhiều tiềm năng tài nguyên về thủy điện, du lịch. Một khu vực cửa sông tàu thuyền hai bên đi lại dễ dàng, giao thương thuận lợi. Tất cả những tiềm năng này đang chờ đợi sự đầu tư, hợp tác cùng khai thác”


Sông Ka Long và sông Bắc Luân

Sông Ka Long theo bản đồ của Việt Nam xuất bản, bắt nguồn từ rìa bắc xã Quảng Đức, Hải Hà 21°36′36″B 107°41′2″Đ, phía tây cửa khẩu Bắc Phong Sinh cỡ 5 km, chảy uốn lượn về hướng đông đông bắc. Đoạn sông này dài cỡ 16 km. Sông KaLong đến “bãi Chắn Coóng Pha” ở bản Thán Phún xã Hải Sơn, Móng Cái 21°39′34″B 107°48′24″Đ, thì hợp lưu với Sông Bắc Luân bên Trung Quốc và đổi hướng chảy về đông, sau đó đông nam đến nội thị của thành phố Móng Cái. Toàn bộ đoạn sông nói trên là ranh giới tự nhiên cho đường biên giới Việt – Trung. Sông Kalong đến ranh giới phường Ka Long và Trần Phú ở thành phố Móng Cái thì sông chia thành hai nhánh 21°32′13″B 107°57′58″Đ: 1) Dòng Ka Long chảy trong đất Việt theo hướng Nam xuyên qua thành phố Móng Cái ra biển ở nơi giáp ranh giữa xã Hải Xuân và xã Vạn Ninh. 2) Chi lưu là dòng sông Bắc Luân chảy theo hướng đông, tiếp tục là đường biên giới Việt – Trung, đi qua rìa phía đông bắc phường Hải Hòa, dọc theo rạch Tục Lãm và đổ ra biển Đông ở cửa Bắc Luân. Sông Bắc Luân (Bei Lun He, Bắc Luân hà) phía Trung Quốc thì bắt nguồn từ núi Thập Vạn Đại Sơn 21°45′3″B 107°45′31″Đ ở Phòng Thành, Trung Quốc, chảy theo hướng đông nam tới vùng “bãi Chắn Coóng Pha”. Từ đây sông là ranh giới tự nhiên cho đường biên giới Việt – Trung đến cửa Bắc Luân. Sông có tổng chiều dài 109 km, trong đó đoạn tạo thành biên giới Việt Nam-Trung Quốc là 60 km.

Sông Ka Long là sông Bắc Luân Việt Nam phần chảy trong lãnh thổ Việt Nam và  biên giới Việt Trung. Dòng sông này cũng có chốn hợp lưu và có một phần chảy ở nước ngoài là sông Bắc Luân. Câu chuyện này cũng giống như dòng sông Sesan với dòng sông Mekong, đều có chốn hợp lưu, có một phần ở nước ngoài, và có nơi tự do chảy toàn trong lãnh thổ Việt Nam. Từ Mekong nhớ Neva,  năm trước khi thăm lại Srepok, điểm hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong ở ngã ba Đông Dương, trong lần chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác sắn Tây Nguyên,  tôi liên tưởng và suy ngẫm về các dòng sông đất nước. Nay sông Kalong và sông Bắc Luân cũng là một câu chuyên tương tự.

Wikipedia tiếng Việt trích dẫn tư liệu Đại Nam nhất thống chí chépː “Sông Ninh Dương ở cách châu Vạn Ninh 1 dặm về phía tây. Nguồn (của sông này) từ các xã Thượng Lai và Mông Sơn tổng Bát Trang chảy về đông 37 dặm ven theo địa giới nước Thanh (đến ngã ba). Rồi chuyển (dòng) chảy sang phía đông 7 dặm, đổ ra cửa Lạch. Một nhánh chảy về phía nam 5 dặm đến xã Ninh Dương, lại chia làm 2 chiː một chi chảy về phía đông làm sông Trà Cổ, một chi chảy về tây nam 1 dặm đến đông nam núi Hữu Hàn chảy 10 dặm đổ ra cửa Đại… Ải Thác Mang ở xã Vạn Xuân, cách châu Vạn Ninh 2 dặm về phía bắc, giáp đồn phủ Đông Hưng của nước Thanh. Phàm hai nước có công văn đều do ải này giao đệ. (Đường bộ) đi đến tỉnh thành mất 8 ngày“.


Khu vực cửa sông Bắc Luân năm 1888. Công ước năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh lấy cửa sông này làm đường biên giới. Sông Palong nay b
ắc qua nhánh Ka Long chảy trong thành phố Móng Cái có 2 cầu là cầu Ka Long và cầu Hòa Bình, bắc qua nhánh Bắc Luân chảy dọc biên giới hiện có cầu Bắc Luân nối hai cửa khẩu quốc tế Móng Cái của Việt Nam và cửa khẩu Bắc Luân của Trung Quốc.


Ngày 13/09/2017 hai nước đã cùng khánh thành cầu Bắc Luân 2 Việt – Trung, là cây cầu thứ 2 nối giữa 2 thành phố cũng như 2 quốc gia, cũng là cây cầu dạng vòm lớn nhất Việt Nam. Đi qua cầu Bắc Luân 2 về đêm nhớ về Hoành Mô, Tiên Yên,  Móng Cái kỷ niệm một thời của thuở xưa ‘Qua sông Thương gửi về bến nhớ‘ với bao kỷ niệm.

Thác Bản Giốc

Thác Bản Giốc là thác nước đẹp hiếm thấy tại xã Ðàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, trên các trang mạng Trung Quốc gọi là cặp thác Đức Thiên – Bản Ước là một nhóm thác nước nằm trên sông Quây Sơn tại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu nhìn từ phía dưới chân thác, phần thác bên trái và nửa phía tây của thác bên phải thuộc chủ quyền của Việt Nam tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; nửa phía đông của thác bên phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc tại thôn Đức Thiên, trấn Thạc Long, huyện Đại Tân, thành phố Sùng Tả của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Thác nước này cách huyện lỵ Trùng Khánh khoảng 20 km về phía đông bắc, cách thủ phủ Nam Ninh của Quảng Tây khoảng 208 km.

Sông Quy Xuân theo cách gọi của phần dòng sông tại Việt Nam, còn tên chung của cả dòng sông theo tiếng Trung gọi là Quây Sơn,  Quy Xuân hà,  归春河, Guīchūn Hé, là một dòng sông quốc tế. Sông Quây Sơn có chiều dài 89 km với diện tích lưu vực là 1.160 km², độ cao trung bình của sông là 556 m. Sông chảy phần lớn trên địa bàn tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc và có chiều dài khoảng trên 20 km tại tỉnh Cao Bằng của Việt Nam. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam sông Quy Xuân tại Việt Nam có một chi lưu là suối Cạn và sông có tổng chiều dài 38 km với diện tích lưu vực là 370 km2  hoặc theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam thì sông Quy Xuân phần chảy trong nội địa Việt Nam có tổng chiều dài 49 km với diện tích lưu vực 475 km² .

Sông Quy Xuân  bắt nguồn từ các khe suối tại huyện Tĩnh Tây, thành phố Bách Sắc của Quảng Tây, Trung Quốc sau đó chảy xuôi về phía nam hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam tại xã Ngọc Côn của huyện Trùng Khánh thuộc tỉnh Cao Bằng, tiếp tục chảy theo hướng đông nam cho đến cực nam của xã Đình Phong rồi  chuyển hướng đông-đông bắc đến xã Đàm Thủy sông chuyển hướng đông nam và chảy đến khu vực thác Bản Giốc  tại xã Đàm Thủy (Việt Nam) với đối ngạn là  thôn Đức Thiên, trấn Thạc Long, huyện Đại Tân của thành phố Sùng Tả (Trung Quốc). Đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc đi từ mốc 53 (cũ) lên cồn Pò Thoong giữa sông rồi đến điểm giữa của mặt thác chính của thác Bản Giốc. Sau đó sông Quy Xuân trở thành đường biên giới tự nhiên giữa Việt Nam (huyện Hạ Lang) và Trung Quốc (huyện Đại Tân). Đến xã Minh Long, Hạ Lang thì sông Quây Sơn chuyển sang hướng tây và chảy đến xã Lý Quốc, Hạ Lang  và đến trấn Thạc Long, thì sông chảy hoàn toàn trong lãnh thổ Trung Quốc. Sông Quy Xuân sau khi chảy vào lãnh thổ Trung Quốc, vẫn có hướng chính là hướng tây rồi nhập vào sông Hắc Thủy ở Thạc Long và sau đó lại nhập vào Tả Giang rồi đổ ra biển Đông tại vùng Châu Giang. Vì tính chất dòng chảy như vậy nên ở Trung Quốc sông được ca ngợi là “sông yêu nước” vì sự quấn quýt trở về. Sông Quy Xuân có thác Bản Giốc Việt Nam và cặp thác Đức Thiên-Bản Ước Trung Quốc được bình chọn và đánh giá là một trong các thác đẹp nhất Trung Quốc và Việt Nam.

Quảng Ninh và Cao Bằng là một phần đời tôi ở đó. Về Việt Bắc đêm lạnh nhớ Bác tôi đã kể một chút chuyện này. Nay neo thêm một ký ức về Thác Bản Giốc và sông Ka Long. Trong bài viết này tôi dùng chữ Việt Ka Long và Quy Xuân để chỉ phân sông chảy hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam “Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông’ đây là một thí dụ điển hình. Mời bạn đọc thêm các bài chọn lọc: Quảng Tây nay và xưaTừ Mekong nhớ Neva; Dạo chơi cùng Goethe

Hoàng Tố Nguyên (bản tiếng Việt Trung)
Hoàng Kim (bản tiếng Việt)

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter

Sao Kim kỳ thú

SaoKimkythu

Có ngôi sao may mắn phía chân trời. (*)

Hoàng Kim

ta gõ ban mai vào bàn phím
gõ vào khuya ngơ ngẫn kiếm tìm
biết em ngủ đợi chờ em tỉnh thức
như  ánh sao trời ở chốn xa xôi.

em em em giá mà em biết được
những yêu thương hóa đá chốn xa mờ
sợi tóc bạc vì em mà xanh lại
lời ru và nỗi nhớ ngấm vào thơ.

em thăm thẳm một vườn thiêng cổ tích
chốn ấy cõi riêng khép mở chân trời
ta như chim đại bàng trở về tổ ấm
lại khát Bồng Lai ước vọng mù khơi.

ta gõ ban mai vào bàn phím
dậy em ơi ngày mới đến rồi. (**)

ThaiDuonghe

Kênh ông Kiệt giữa lòng dân

KenhVoVanKiet

KÊNH ÔNG KIỆT GIỮA LÒNG DÂN. Hoàng Kim bổ sung bài viết này nhân tưởng nhớ ngày sinh ông Sáu Dân Võ Văn Kiệt. Tôi đã có bài thơ và phóng sự ảnh kỷ niệm một thời và nén hương tưởng nhớ ông. ‘Con đường lúa gạo Việt Nam’ là sư trăn trở tầm nhìn nông nghiệp và nghề nông người Việt, trong đó có các bài Lương Định Của bác học nghề nông,  Đào Thế Tuấn chân dung người Thầy, Mai Văn Quyền người thầy nghề nông, Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam, Nguyễn Thị Trâm người thầy lúa lai,  Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng,  Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh… Tôi suy tư nhiều về dòng sông phương Nam thao thiết chảy và suy ngẫm khi đọc Tin mới Cây Lương thực (Food Crops News 295). Sắn Cam pu chia nay đã vượt qua Việt Nam về sản lượng  và xuất khẩu. Gạo Campuchia đã được bình chọn ngon thứ ba của thế giới với ba thương hiệu mạnh quốc gia. Nhớ ông Kiệt và giấc mơ xanh …

KÊNH ÔNG KIỆT GIỮA LÒNG DÂN
Hoàng Kim

Thơ cho em giữa tháng năm này
Là lời người dân nói vể kênh ông Kiệt
Là con kênh xanh mang dòng nước mát
Làm ngọt ruộng đồng Tứ giác Long Xuyên

Con kênh T5 thoát lũ xả phèn
Dẫn nước ngọt về vùng quê nghèo khó
Tri Tôn, Tịnh Biên trong mùa mưa lũ
Giữa hoang hóa, sình lầy, thấm hiểu lòng dân

Nguyễn Công Trứ xưa khẩn hoang đất dinh điền
Thoại Ngọc Hầu mở mang kênh Vĩnh Tế
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân bền bỉ
Ân nghĩa cuộc đời lưu dấu nghìn năm

Em ơi khi nuôi dạy con
Hãy dạy những điều vì dân, vì nước
Người ta sinh ra cho đến khi nhắm mắt
Đọng lại trong nhau vẫn chỉ những CON NGƯỜI.

KÊNH ÔNG KIỆT

“Vẫn là Thủ tướng của nhân dân / Vẫn là anh Sáu mọi gia đình/ Lồng lộng bóng soi miền sông nước/ Đời nặng ân tình, đất nặng chân”. Đó là những câu thơ cảm khái khóc tiễn cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt của ông Bảy Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang (kênh Võ Văn Kiệt, ảnh Thanh Dũng).

Một năm sau khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từ trần, Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang khóa VII đã Quyết nghị đặt tên công trình kênh T5 là kênh Võ Văn Kiệt và đặt bia lưu niệm tại đầu kênh để ghi nhớ công lao của cố Thủ tướng với hệ thống kênh huyết mạch, tháo chua, rửa phèn, mở mang vùng đất hoang hóa của khu vực Tứ giác Long Xuyên.

Báo An Giang, Trường Đại học An Giang đã đăng bài Kênh “ông Kiệt” tắm mát đồng bằng của tác giả Bảo Trị – Thành Chinh. Báo Đất Việt đăng bài Kênh ông Kiệt của tác giả Võ Ngọc- Bảo Châu. Báo Tuổi Trẻ đăng loạt bài Từ kênh Vĩnh Tế đến kênh Võ Văn Kiệt của tác giả Quốc Việt. Kỳ 1: Hào lũy đất phương Nam ; Kỳ 2: Trấn giữ biên giới ; Kỳ 3: Thương hồ Vĩnh Tế ; Kỳ 4: Dấu chân lấm bùn của ông Sáu Dân; Kỳ 5: Đào kênh T5 . Tôi đã viết bài thơ Kênh ông Kiệt giữa lòng dân với lòng biết ơn sâu sắc.

Kênh Vĩnh Tế và Kênh Võ Văn Kiệt là hai công trình sống mãi trong lòng dân.

Kênh Vĩnh Tế dài gần 100km chạy dọc biên giới hai tỉnh An Giang, Kiên Giang với vương quốc Campuchia. Kênh do Thượng đạo Khâm sai, trấn thủ Vĩnh Thanh Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại chỉ huy hơn 80.000 dân binh đào ròng rã 5 năm liền (1819-1824). Sau khi hoàn thành, vua Minh Mạng đã lấy tên vợ của Thoại Ngọc Hầu , bà Châu Thị Vĩnh Tế, đặt tên cho con kênh này là kênh Vĩnh Tế. Thượng nguồn con kênh tiếp dòng sông Hậu ở thị xã Châu Đốc, hạ nguồn nhập sông Giang Thành ở Hà Tiên để ra biển Tây. Kênh Vĩnh Tế hiện rộng khoảng 40-70m, sâu 3-4m so với mực nước biển tùy từng đoạn. Kênh Vĩnh Tế là tuyến thủy lộ, tuyến kênh biên giới đặc biệt quan trọng mở mang vùng đất Tây Nam Bộ mang tầm vóc của một công trình chiến lược nhất thế kỷ 19 hào lũy đất phương Nam, khẳng định chủ quyền lãnh thổ, mở mang vùng đất mới.

Kênh Võ Văn Kiệt (kênh T5) dài 48km, rộng 30-36m và sâu 3m, thông kênh Vĩnh Tế ở Tri Tôn, An Giang, chảy qua Hòn Đất, Kiên Giang rồi đổ ra vịnh Thái Lan. Đây là một cụm “công trình thủy lợi cấp bách” mang dấn ấn Thủ tướng Võ Văn Kiệt, “bác Sáu Dân” nhằm “thoát lũ biển Tây” ngọt hóa vùng đất năng lác hoang hóa sình lầy của hai tỉnh An Giang, Kiên Giang biến thành đất sản xuất nông nghiệp…. Ông Bảy Nhị đã chia sẻ: “Thời điểm trước năm 1997 (trước khi tuyến kênh T5 hoàn thành) cứ dạo lũ về là các cấp, các ngành lo ngai ngái. Lũ về là những vùng trũng, đầu nguồn lại phải lo cảnh sơ tán dân, cứu đói, cắt lúa chạy lũ. Từ khi hệ thống kênh mương cấp 2, 3 hoàn thành theo Quyết định 99/TTg như: Nạo vét kênh Tám Ngàn, H7, các kênh 5, 13, 16… , phần nào lũ đã khống chế. Tuy vậy, những vùng như Tứ giác Long Xuyên, cảnh lũ trắng đồng vẫn là nỗi lo lớn, buộc những người lãnh đạo phải bàn quyết sách tháo gỡ vấn đề”. “Tứ giác Long Xuyên, vùng đất trũng phèn có diện tích gần 500.000 ha đất nông nghiệp vẫn còn hoang hóa nhiễm phèn, trong đó An Giang chiếm diện tích khá lớn chính là vùng đất chúng ta bỏ quên bấy lâu nay chưa khai phá. Đất không phụ người, chỉ sợ người phụ đất mà thôi”.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong chuyến về thăm và làm việc tại An Giang trong hai ngày 21, 22-7-1996, đã đi thị sát cánh đồng Lạc Quới, kênh mương nội đồng vùng Tứ giác Long Xuyên. Thủ tướng đã chỉ thị: “Đề án quy hoạch thủy lợi vùng Tứ giác Long Xuyên cần nhanh chóng thực hiện vì nó sẽ giúp khu vực sử dụng được nguồn phù sa vô giá của lũ sông Cửu Long, chính nó sẽ đảm đương việc thoát lũ, rửa phèn khai phá đất nông nghiệp cho vùng Tứ giác Long Xuyên. Các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thủy lợi, Bộ Khoa học-Công nghệ và Môi trường cần nhanh chóng phối hợp lập kế hoạch xây dựng tuyến kênh thoát lũ ra Vịnh Thái Lan“.

Sau việc đào xong kênh T6, đưa nước từ Vĩnh Tế qua kênh Mới về biển Hà Tiên vào năm 1996. Đầu năm 1997, công trình chống lũ cấp bách kênh T5 – Tuần Thống, Luỳnh Quỳnh, Tân Thành – Lò Gạch, tuyến đê bờ nam Vĩnh Tế; hệ thống cống ngăn, xả lũ và 2 đập điều chỉnh lũ Tha La, Trà Sư; các cống ngăn mặn giữ ngọt thoát lũ ven biển… đã được cấp bách xây dựng theo Quyết định 159/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hàng loạt công trình thủy lợi phục vụ dẫn ngọt, tiêu chua, tiêu úng, xổ phèn, ngăn mặn và hàng vạn cây số bờ bao bảo vệ lúa hè thu được xây dựng đã góp phần quyết định vào việc phát triển nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trong vùng. Trong đó, kênh T5 có ý nghĩa chiến lược, được khởi công giữa quý I đến cuối tháng 8-1997 là hoàn thành. Đây là công trình thủy lợi hoàn thành nhanh nhất trong lịch sử đào kênh ở Việt Nam. Ngày mùng 8 Tết Mậu Dần 1998 (nhằm ngày 4-2-1998), 50.000 ha đất hai tỉnh An Giang, Kiên Giang được ngọt hóa. Ngày mùng 9 Tết Mậu Dần khởi công nạo vét kênh Vĩnh Tế, điều tiết lũ cùng dòng Võ Văn Kiệt thoát lũ ra biển Tây. Chọn bờ Nam song song tuyến kênh hình thành những tuyến dân cư vượt lũ trên toàn tuyến. Đây là đại công trình thủy lợi gồm hệ thống các kênh T4, T5, T6 thoát lũ, dẫn ngọt, tháo chua, rửa phèn, khai hoang, phục hóa hàng trăm ngàn ha đất .

Những năm sau, cụm từ “lũ đẹp” bắt đầu xuất hiện và định nghĩa “sống chung với lũ “cũng từ đó hình thành, Từ một công trình thủy lợi đã mở mang diện tích sản xuất, giảm thiểu ngập lũ. Ổn định vững chắc hai vụ sản xuất đông xuân và hè thu; giảm thấp mức lũ chính vụ, tạo điều kiện phát triển sản xuất, giảm chi phí xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở, giảm thiệt hại về người và của mùa lũ về. Từ đó, tạo thế đưa nước ngọt giàu phù sa từ sông Hậu vào kết hợp ngăn mặn, giữ ngọt, tháo chua rửa phèn, cải tạo đất sản xuất nông nghiệp, cải tạo môi trường nước, vệ sinh đồng ruộng phục vụ phát triển sản xuất, sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Tất cả đã được kênh T5 đảm trách hiệu quả.

Tri Tôn, Tịnh Biên là những huyện khó khăn của tỉnh An Giang. Hệ thống thủy lợi nội đồng nối với “Kênh ông Kiệt” đã mang nguồn nước ngọt về ruộng. Bạn xem chùm ảnh cũ trong blog của tôi để rõ hơn cách làm. Giống lúa KĐM105 ngon cơm sinh trưởng phát triển tốt trên vùng đất hoang hóa được tưới đã mang lại niềm vui cho người nghèo. Các giống cây màu rau đậu trồng vụ khô sau khi thu hoạch lúa đã giúp nâng cao đời sống người dân. Khoa học kỹ thuật bám dân bám ruộng âm thầm nhưng hiệu quả làm đổi thay vùng Tri Tôn Tịnh Biên. Tôi đã có tám năm gắn bó với mảnh đất này. Đi đâu người dân cũng khen ông sáu Kiệt và ông bảy Nhị. Kênh ông Kiệt giữa lòng dân. Vùng đất hoang hóa sình lầy nay đã thành vựa lúa. Tỉnh An Giang nay đã thành vùng lúa sản lượng cao nhất nước.

BayNhi

ÔNG BẢY NHỊ

Ông Bảy Nhị tên thật là Nguyễn Minh Nhị, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang (hình: Ông Nguyễn Minh Nhị – bên phải – cùng anh Ngô Vi Nghĩa với giống mì ngắn ngày trên ruộng tăng vụ). Ông có nhiều bài viết được dân ưa nghe và dư luận quan tâm vì hay, thiết thực và thật, như các bài viết “Gửi anh Nguyễn Bá Thanh: Phút 89…”  “Giá lúa nằm ngoài hạt gạo” …

Bạn xuống An Giang hỏi ông Bảy Nhị chủ tịch tỉnh ai cũng biết. Tôi gọi trõng tên ông biết là không phải nhưng với tôi thì ông tuy còn khỏe và đang sống sờ sờ mà ông đã là người lịch sử, tựa như Mạc Cữu, Mạc Thiên Tích xưa, oai chấn Hà Tiên, góp sức mộ dân mở cõi, làm phên dậu đất phương Nam của dân tộc Việt. Ông Bảy là nhân vật lịch sử trong lòng tôi.

Tôi có một kỷ niệm quí rất khó quên. Ông Bảy Nhị ba lần lên Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tìm tôi khi đó làm Giám đốc Trung tâm. Ông tham khảo ý kiếm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khai hoang phục hóa hiệu quả cho vùng đất phèn mặn ngập năn lác của hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Ông đồng tình với tôi việc ứng dụng canh tác giống lúa thơm Khao Dawk Mali 105 (KDM 105) nhưng trồng cây gì luân canh lúa hiệu quả trong các tháng mùa khô thì đó vẫn là bài toán khó?

Mờ sớm một ngày đầu tháng mười một. Trời se lạnh. Nhà tôi có chim về làm tổ. Buổi khuya, tôi mơ hồ nghe chim khách líu ríu lạ trên cây me góc vườn nên thức dậy. Tôi bước ra sân thì thấy một chiếc xe ô tô đậu và cậu lái xe đang ngủ nướng. Khi tôi ra, cậu lái xe thức dậy nói: “Chú Bảy Nhị, chủ tịch tỉnh An Giang lên thăm anh nhờ tuyển chọn giống mì ngắn ngày để giúp An Giang né lũ. Đợt trước chú đã đi cùng chú Tùng (là ông Lê Minh Tùng sau này làm Phó Chủ Tịch Tỉnh, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang) lên làm việc với anh rồi. Nay mì đã được năm tháng tuổi, chú muốn lên coi kỹ ở trên ruộng xem củ to bằng ngần nào. Chú Bảy giờ hành chính bận họp nên thăm sớm. Đến nhà anh, thấy sớm quá chú ngại nên ra thẳng ngoài đồng rồi, nhờ tui đón anh ra sau”.

Tôi giật mình nghĩ: “Cái ông này không thể xạo được. Mình nói là có giống mì bảy tháng. Năm tháng ông lên kiểm tra đồng ruộng nhổ thử, thiệt chu đáo. Ông thật biết cách kiểm tra sâu sát”. Chợt dưng tôi nhớ đến MỘT LỐI ĐI RIÊNG của Bác Hồ trong thơ Hải Như: “ Chúng ta thích đón đưa/ Bác Hồ không thích/ Đến thăm chúng ta Bác Hồ thường “đột kích”/ Chữ “đột kích” vui này Người nói lại cùng ta/ Và đường quen thuộc/ Bác chẳng đi đâu/ Đường quen thuộc thường xa/ Bác hiện đến bằng lối tự tìm ra:/ Ngắn nhất/ Bác không muốn giẫm lên mọi đường mòn có sẵn/ Khi đích đã nhắm rồi/ Người luôn luôn tạo cho mình:/ Một lối đi riêng”. Sau này hiếm có đồng chí lãnh đạo nào học được cách làm như Bác. Họ đi đâu đều thường xếp lịch hành chính và đưa đón đàng hoàng, chẳng cần một lối đi riêng. Tôi thầm chợt cảm phục ông Bảy.

Ông Nguyễn Minh Nhị có mấy bài viết hay gửi ông Nguyễn Bá Thanh, tình cảm của họ thật chân thành và cảm động. Sự chân thành thân thiết  theo tôi chẳng cần lời bình luận nào thêm mà chỉ cần ghi lại. Tôi trầm tư trước câu hỏi: Làm thế nào để tháo gỡ “những vật cản không dễ vượt qua”. Tôi tâm đắc với lời Bác Giáp suốt đời học Bác Hồ “dĩ công vi thượng” việc công trên hết. Câu trả lời thật rõ ràng là: Khi Nhân Dân, Tổ Quốc trên hết, thì bất cứ giải pháp nào có lợi cho Dân cho Nước cũng đều nghiên cứu vận dụng được cả, không từ một giải pháp nào. Thực chất đó là phép quyền biến “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

KÊNH ÔNG KIỆT TRONG LÒNG TÔI

“Kênh ông Kiệt” và vùng đất Nam Bộ là nôi nuôi dưỡng phát triển của các giống mì ngắn ngày KM98-1, KM140 đươc chọn tạo để đáp ứng nhu cầu né lũ nay đã phát triển rộng khắp toàn quốc. An Giang cũng là nôi ứng dụng đầu tiên của Việt Nam và thế giới đối với những dòng khoai mì đột biến theo hướng ngắn ngày. Chúng tôi những người tạo chọn giống củ mì thật biết ơn kênh ông Kiệt và ông Bảy Nhị. Không có kênh ông Kiệt Bảy Nhị thì củ mì ngắn ngày năng suất cao của tôi chưa thể ra đời nhanh như vậy.

Đề tài chọn tạo giống sắn ngắn ngày “né lũ” giúp tôi tiếp cận vùng đất hoang hóa, thấu hiểu những khổ cực của người dân nghèo vùng lũ và ấn tượng sâu sắc trong lòng tôi. Sau này, khi giới thiệu với các chuyên gia Nhật Bản, như giáo sư tiến sĩ Motoaki Seki – RIKEN PSC và tiến sĩ Hirano – RIKEN Nishina về đề tài “Ứng dụng đột biến lý học và nuôi cấy mô để tạo giống khoai mì có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao phù hợp với việc né lũ của tỉnh An Giang” thực hiện năm 2002-2004 tại vùng đất hoang hóa Tri Tôn Tịnh Biên. Họ đều ngạc nhiên thích thú vì Việt Nam đã triển khai hướng nghiên cứu ứng dụng đột biến lý học để tạo giống sắn ngắn ngày để luân canh lúa sắn trên vùng đất hoang hóa Tri Tôn Tịnh Biên An Giang từ rất sớm.

Câu chuyện cây sắn “né lũ” mà tôi vừa kể trên cũng tương tự như câu chuyện Giống khoai lang Việt Nam HL518 và HL491. Những kết nối nghiên cứu và sản xuất đã giúp cơ hội cho các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) chất lượng cao, vỏ đỏ, ruột cam; giống khoai lang HL491 (Nhật tím) vỏ đỏ ruột tím, giống khoai lang Kokey 14 (Nhật vàng) … phổ biến rộng rãi trong sản xuất mang lại bội thu cho nông dân như Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất Kiên Giang với doanh nghiệp của ông Đỗ Quý Hạo trồng khoai lang rất thành công. Đất và Người phương Nam là nôi nuôi dưỡng hột lúa, củ khoai, giống mì mới bén rễ và sinh sôi.

Tôi là người con xa xứ của vùng đất nghèo miền Trung. Gia đình chúng tôi đi như dòng sông tụ về phương Nam và nay đã gắn bó nhiều năm với đất lành Nam Bộ. Tôi cùng đồng nghiệp đã chọn tạo được nhiều giống tốt cho mảnh đất này. Đó là các giống sắn cao sản KM419, KM94, KM140, KM98-5, KM98-1, KM937-26, KM60, KM23, KM24, KM20; các giống lúa KĐM 105, GSR, KĐM, giống ngô VN25-99, giống đậu nành HL92, HL203, giống lạc HL25, giống đậu xanh HL89-E3, HL115, giống đậu rồng Bình Minh Chim Bu Long Khánh, giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Hoàng Long, Chiêm Dâu. Biết ơn người mở đất và những con kênh, lòng tôi thật cảm phục, yêu thương.

Ngày mất của ông Sáu, tôi chép lại bài thơ và phóng sự ảnh như là nén hương tưởng nhớ. Bài viết này tiếp bài Lương Định Của bác học nghề nông, Đào Thế Tuấn chân dung người Thầy, Mai Văn Quyền người thầy nghề nông, Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam; Nguyễn Thị Trâm người thầy lúa lai ; Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng ; Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh trong loạt bài CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM. Ngày sinh của ông Sáu, tôi bồi hồi bổ sung thêm và hoàn chỉnh dần.

Kênh ông Kiệt giữa lòng dân.

Hoàng Kim

(Phóng sự ảnh)

KenhongKiet2

Tri Tôn Tịnh Biên là những huyện khó khăn cuả tỉnh An Giang

KenhongKiet3
Hệ thống thủy lợi nội đồng nối với “Kênh ông Kiệt”
đã mang nguồn nước ngọt về ruộng

KenhongKiet4
Giống lúa KĐM 105 ngon cơm sinh trưởng phát triển tốt trên vùng đất hoang hóa
được tưới đã mang lại niềm vui cho nhiều người dân nghèo.

KenhongKiet5
Các giống mì, bắp, rau, đậu trồng vụ khô sau khi thu hoạch lúa KĐM105<a

KenhongKiet6
Khoa học kỹ thuật bám dân bám ruộng âm thầm nhưng hiệu quả
làm đổi thay vùng Tri Tôn Tịnh Biên

KenhongKiet9
“Kênh ông Kiệt” và vùng đất An Giang cũng là nôi nuôi dưỡng phát triển
của các giống mì ngắn ngày KM98-1, KM140 đươc chọn tạo để đáp ứng nhu cầu
né lũ nay đã phát triển rộng khắp toàn quốc (ảnh Thầy Lê Minh Tùng,
Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, Phó Chủ tịch tỉnh An Giang
với giống mì KM98-1)

KenhongKiet10
Kênh ông Kiệt Bảy Nhị trong lòng tôi!
(ảnh tác giả chọn giống mì mới năng suất cao ngắn ngày ở vùng đất Tri Tôn,Tịnh Biên).

Food Crops News 295

Food Crops News 295
Food Crops News 295. Thông tin Cây Lương thực tháng 11 năm 2017. Hoàng Kim tổng hợp.

db45e-foodcropsnews295Tin nổi bật. ‘Nông dân trồng sắn Campuchia sẵn sàng cho vụ mùa đầy hứa hẹn’
.
Sok Chan trên trang Khmer Times ngày 22 tháng 11 năm 2017 đã chia sẻ: Với mùa vụ bắt đầu tháng này, người nông dân trồng sắn trên cả nước Campuchia đang lạc quan. Theo các hiệp hội sắn địa phương, giá sắn hàng hoá cao hơn đáng kể so với những năm trước do nhu cầu tăng cao ở các thị trường nước ngoài. Long Heang, chủ tịch Hiệp hội sắn Taranak Mondul của Battambang, cho biết họ sẽ bắt đầu trồng vụ này trong tháng này và sẽ tiếp tục cho đến tháng Giêng hoặc tháng Hai. Ông nói thêm rằng nông dân hài lòng với mức giá mà cây trồng đã đạt được trong năm nay, đặc biệt là sau khi giá trị hàng hoá giảm vào cuối năm 2016 kéo dài cho đến đầu năm. Sắn tươi bán khoảng 220 riel / kg, tăng hơn 50% so với năm ngoái. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp, trồng sắn ở Campuchia đã tăng từ 30.000 ha năm 2005 lên 684.070 vào năm 2016, với tổng sản lượng lên tới 14.8 triệu tấn năm 2016. Các tỉnh trồng nhiều sắn là Battambang, Banteay Meanchey, Pailin, Kratie, Kampong Thom, Tboung Khmom và Oddar Meanchey. Phát biểu tại một diễn đàn đầu tư sắn vào đầu tháng này tại Siem Reap, Bộ trưởng Nông nghiệp Veng Sakhon cho biết sản xuất sắn đóng vai trò trung tâm trong kế hoạch đa dạng hóa sản lượng nông nghiệp của chính phủ. Ông Sakhon cho biết xuất khẩu sắn Campuchia đã mở rộng ra ngoài bốn thị trường truyền thống là Trung Quốc, Pháp, Việt Nam và Thái Lan để tiếp cận các nước khác như Canada, Anh, Phần Lan, Ấn Độ và Ý. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp, trong chín tháng đầu năm 2017, Campuchia đã xuất khẩu 2,3 ​​triệu tấn sắn lát, tương đương với  khoảng 5,5 triệu tấn củ. So với xuất khẩu sắn Campuchia năm 2016 lên tới 2,9 triệu tấn, chủ yếu là sang Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam.

Nguồn: Cassava farmers ready for promising season Sok Chan / Khmer Times November 22, 2017

Gạo Campuchia trong số ba loại gạo tốt nhất thế giới. Chea Vannak trên trang Khmer Times ngày 9 tháng 11 đã chia sẻ: Gạo Campuchia luôn được bình chọn là một trong những sản phẩm tốt nhất thế giới. KT / Chor Sokunthea. Gạo thơm ngon của Campuchia đã được bình chọn là một trong ba loại gạo ngon nhất trên thế giới trong cuộc cạnh tranh toàn cầu gần đây nhất. Gạo Horm Malis của Thái Lan đã lên ngôi, mang về danh tiếng là loại gạo tốt nhất thế giới. Phiên họp thứ 9 của Hội nghị Gạo Thế giới đã diễn ra tại Ma Cao hôm qua, với bảy nước tham gia Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Mỹ, Pakistan, Sri Lanka và Myanmar với 21 giống lúa khác nhau. Campuchia đã tham gia ba thương hiệu gồm hai giống gạo thơm cao cấp và một loại gạo thơm, được lựa chọn trong một cuộc thi quốc gia được tổ chức tuần trước. Moul Sarith, Tổng thư ký Liên đoàn Lúa gạo Campuchia (CRF), đã chúc mừng nông dân Campuchia về những kết quả to lớn, nhưng than thở rằng nước này không giành được danh hiệu hàng đầu. Ông Sareth nói: “… cuối cùng là giống lúa gạo Thái Lan, rất giống với giống lúa gạo của chúng ta, đã thắng. Ông tin rằng kết quả tích cựcnày  sẽ giúp thúc đẩy doanh số bán hàng của Campuchia. Một giống Campuchia gọi là Phka Rumduol, nhưng thường được gọi là phka malis hay gạo thơm của Campuchia bởi các nhà máy xay xát và các thương lái, đã giành được sự cạnh tranh từ năm 2012 đến năm 2014, nhưng đã mất vương miện vào năm 2015 sang một giống lúa gạo từ California. Năm ngoái, một thương hiệu Thái Lan khác từ Chiang Mai giành giải Nhất tại phiên họp thứ tám. Ông Chan Sokheng, Chủ tịch Hiệp hội xuất khẩu gạo Châu Á cho biết, sau khi gạo Campuchia được công nhận là sản phẩm tốt nhất thế giới năm 2012, doanh thu của ông đã tăng mạnh. Phou Puy, chủ tịch của ‘Green Rice Miller’ ở tỉnh Battambang, cho biết sự tham gia vào cuộc thi quốc tế sẽ nâng cao danh tiếng của hạt gạo Campuchia.“Cho dù chúng ta có thắng hay thua, chúng ta có thể mong đợi nhiều đơn đặt hàng từ các khách hàng quốc tế, vì cuộc cạnh tranh sẽ là cửa sổ giới thiệu sản phẩm của chúng ta”, ông nói.
Nguồn: Cambodian rice among the world’s best three. Chea Vannak / Khmer Times, Nov. 9, 2017
Video yêu thích
Nong Lam University
KimYouTube
Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời

1 Truongtoi

Hoàng Kim

Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân của đời tôi mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì tôi không thể có được ngày hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” (1).

Về lại mái trường ta đã lớn khôn   

Ai cũng có ước nguyện về trường. Tôi thấu hiểu vì sao thầy Đặng Quan Điện người Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn (tiền thân của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay) năm trước đã đề nghị cho Thầy được ghé thăm Trường trước khi Thầy đi vào chốn vĩnh hằng. Thầy Tôn Thất Trình, người hiệu trưởng thứ hai của Trường nay 80 tuổi đã viết blog The Gift (2) như một quà tặng trao lại cho lớp trẻ và viết hai  bài hột lúa (3), con cá (4) cho ngày Nhà giáo Việt Nam.  Thầy Lưu Trọng Hiếu với tình yêu thương gửi lại (5) đã hiến tặng toàn bộ tiền phúng viếng của Thầy cùng với số tiền gia đình góp thêm để làm quỷ học bổng cho Trường tặng những em sinh viên nghèo hiếu học. Ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tặng học bổng cho sinh viên Đại học Nông Lâm gặp khó khăn học giỏi (6) vì tuổi thơ của anh nhọc nhằn không có cơ hội đến trường, khi thành đạt anh muốn chia sẻ để chắp cánh cho những ước mơ.

Tôi cũng là người học trò nghèo năm xưa với ba lần ra vào trường đại học, cựu sinh viên của năm lớp, nay tỏ lòng biết ơn bằng cách trở lại Trường góp chút công sức đào tạo và vinh danh những người Thầy người Bạn đã cống hiến không mệt mỏi, thầm lặng và yêu thương góp công cho sự nghiệp trồng người. Chừng nào mỗi chúng ta chưa thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa đủ mang lại niềm vui cho bữa ăn người nghèo thì chừng đó chúng ta vẫn còn phải dạy và học. Cái gốc của sự học là học làm người. Bài học quý về tình thầy bạn mong rằng sẽ có ích cho các em sinh viên đang nổ lực khởi nghiệp.

Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang (7) sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng (8) vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng” (9)  Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Thi đậu vào Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc năm 1970, tôi học Trồng trọt 4 cùng khóa với các bạn Trần Văn Minh, Đỗ Thị Minh Huệ, Phan Thanh Kiếm, Đỗ Khắc Thịnh, Vũ Mạnh Hải, Phạm Sĩ Tân, Phạm Huy Trung, Lê Xuân Đính, Nguyễn Hữu Bình, Lê Huy Bá … cho đến ngày 02 tháng 9 năm 1971 thì tôi gia nhập quân đội cùng lứa với Nguyễn Văn Thạc. Đợt tuyển quân sinh viên trong ngày độc lập đã nói lên sự quyết liệt sinh tử và ý nghĩa thiêng liêng của ngày cầm súng. Chiến trường đánh lớn. Đơn vị chúng tôi chỉ huấn luyện rất ngắn rồi vào trận ngay với 81 đại đội vượt sông Thạch Hãn. Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 sau này đã đi vào huyền thoại: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm” (10) Tổ chúng tôi bốn người thì Xuân và Chương hi sinh, chỉ Trung và tôi trở về trường sau ngày đất nước thống nhất.  Những vần thơ viết dưới đây là xúc động sâu xa của tôi khi nghĩ về bạn học đồng đội đã khuất: “Trận chiến hôm qua bạn góp máu hồng. Lớp học hôm nay bạn không trở lại. Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội. Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh” (11)

Tôi về học tiếp năm thứ hai tại Trồng trọt 10 của Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc đến cuối năm 1977 thì chuyển trường vào Đại học Nông nghiệp 4, tiền thân Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trồng trọt 2 thuở đó là một lớp chung mãi cuối khóa mới tách ra 2A,2B, 2C. Tôi làm Chủ tịch Hội Sinh viên thay cho anh Nguyễn Anh Tuấn khoa thủy sản ra trường về dạy Đại học Cần Thơ. Trồng trọt khóa hai chúng tôi thuở đó được học với các thầy cô: Nguyễn Đăng Long, Tô Phúc Tường, Nguyễn Tâm Đài, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Thượng, Ngô Kế Sương, Trần Thạnh, Lê Minh Triết, Phạm Kiến Nghiệp, Nguyễn Bá Khương, Nguyễn Tâm Thu, Nguyễn Bích Liễu, Trần Như Nguyện, Trần Nữ Thanh, Vũ Mỹ Liên, Từ Bích Thủy, Huỳnh Thị Lệ Nguyên, Trần Thị Kiếm, Vũ Thị Chỉnh, Ngô Thị Sáu, Huỳnh Trung Phu, Phan Gia Tân, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Kế, … Ngoài ra còn có nhiều thầy cô hướng dẫn thực hành, thực tập, kỹ thuật phòng thí nghiệm, chủ nhiệm lớp như Bùi Cách Tuyến, Nguyễn Văn Kịp, Lê Quang Hưng, Trương Đình Khôi, Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Gia Quốc, Nguyễn Văn Biền, Lê Huy Bá, Hoàng Quý Châu, Phạm Lệ Hòa, Đinh Ngọc Loan, Chung Anh Tú và cô Thảo làm thư ký văn phòng Khoa. Bác Năm Quỳnh là Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Trường sau đó là thầy Kiên và cô Bạch Trà. Thầy Nguyễn Phan là Hiệu trưởng kiêm Trưởng Trại Thực nghiệm. Thầy Dương Thanh Liêm, Nguyễn Ngọc Tuân, Võ Thị Tuyết, Ngô Văn Mận, Bùi Xuân An … ở khoa Chăn nuôi Thú y, thầy Nguyển Yên Khâu, Nguyễn Quang Lộc … ở khoa Cơ khí, cô Nguyễn Thị Sâm ở Phòng Tổ chức, cô Văn Thị Bạch Mai dạy tiếng Anh, thầy Đặng, thầy Tuyển, thầy Châu ở Kinh tế -Mác Lê …Thầy Trần Thạnh, anh Quang, anh Đính, anh Đống ở trại Trường là những người đã gần gũi và giúp đỡ nhiều các lớp nông học.

Thuở đó đời sống thầy cô và sinh viên thật thiếu thốn. Các lớp Trồng trọt khóa 1, khóa 2, khóa 3 chúng tôi thường hoạt động chung như: thực hành sản xuất ở trại lúa Cát Lái, giúp dân phòng trừ rầy nâu, điều tra nông nghiệp, trồng cây dầu che mát sân trường, rèn nghề ở trại thực nghiệm, huấn luyện quốc phòng toàn dân, tập thể dục sáng, hội diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tạo nên sự thân tình gắn bó. Những sinh viên các khóa đầu tiên được đào tạo ở Khoa Nông học sau ngày Việt Nam thống nhất hiện đang công tác tại trường có các thầy cô như  Từ Thị Mỹ Thuận, Lê Văn Dũ, Huỳnh Hồng, Cao Xuân Tài, Phan Văn Tự, …

Tháng 5 năm 1981, nhóm sinh viên của khoa Nông học đã bảo vệ thành công đề tài thu thập và tuyển chọn giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt được Bộ Nông nghiệp công nhận giống ở Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Toàn Quốc Lần thứ Nhất tổ chức tại Thành phố Hố Chí Minh. Đây là một trong những kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đầu tiên của Trường giới thiệu cho sản xuất. Thầy Cô Khoa Nông học và hai lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 cũng đã làm họ trai họ gái tác thành đám cưới cho vợ chồng tôi. Sau này, chúng tôi lấy tên khoai Hoàng Long để đặt cho con và thầm hứa việc tiếp nối sự nghiệp nghiên cứu khoa học và giảng dạy, một nghề nghiệp cao quý và lương thiện. “Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền. Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó. Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ. Có bạn thầy càng bền chí vươn lên. Trước mỗi khó khăn tập thể luôn bên. Chia ngọt xẻ bùi động viên tiếp sức. Thân thiết yêu thương như là ruột thịt. Ta tự nhủ lòng cần cố gắng hơn (11).

Bạn học chúng tôi vẫn thỉnh thoảng họp mặt, có Danh sách các lớp Trồng trọt 2, Trồng trọt 3 số điện thoại và địa chỉ liên lạc. Một số hình ảnh của các lớp ngày ấy và bây giờ.

Những bài học quý từ những người Thầy

Nhiều Thầy Bạn đã hun đúc nên nhân cách, niềm tin, nghị lực và trang bị kiến thức vào đời cho tôi, xin ghi lại một số người Thầy ảnh hưởng lớn đối với tôi và những bài học:

MaiVanQuyenThầy Mai Văn Quyền nghề nông của chúng tôi sống phúc hậu, tận tâm sát thực tiễn và hướng dẫn khoa học. Công việc làm người hướng dẫn khoa học trong điều kiện Việt Nam phải dành nhiều thời gian, chu đáo và nhiệt tình. Thầy Quyền là chuyên gia về kỹ thuật thâm canh lúa và hệ thống canh tác đã hướng nghiệp vào đời cho tôi. Những dòng thơ tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ đã nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: “Ơn Thầy (12). Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”. Thầy Quyền hiện đã 76 tuổi, đang đào tạo trên đại học cho Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều Viện Trường khác. Tấm gương phúc hậu và tận tụy của Thầy luôn nhắc nhở tôi.

Thầy Norman Borlaug di sản niềm tin và nổ lực sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh và nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống. Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy. Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao (13). Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”.  (14)

Thầy Tôn Thất Trình những người Việt lỗi lạc ở FAO, sống nhân cách, dạy từ xa và chăm viết sách. Giáo sư Tôn Thất Trình sinh ngày 27 tháng 9 năm 1931 ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Huế), thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn Phước, hiện hưu trí tại Irvine, California, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp thiết thưc, hiệu quả cho nông nghiệp, giáo dục, kinh tế Việt Nam. Thầy làm giám đốc Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn theo bổ nhiệm của GS. Phạm Hoàng Hộ, tổng trưởng giáo dục đương thời chỉ sau bác sỹ Đặng Quan Điện vài tháng. Giáo sư Tôn Thất Trình đã hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Cải Cách Điền Địa năm 1967 và 1973, nguyên chánh chuyên viên,  tổng thư ký Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế của FAO (Rome). Thành tựu nổi bật của giáo sư trên lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc chỉ đạo phát triển đại trà năm 1967-1973 lúa Thần Nông (IR8…) nguồn gốc IRRI mang lại chuyển biến mới cho nghề lúa Việt Nam; Giáo sư trong những năm làm việc ở FAO đã giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Việt Nam phát triển các giống lúa thuần thấp cây, ngắn ngày nguồn gốc IRRI cho các tỉnh phìa Bắc; giúp phát triển  lúa lai, đẩy mạnh các chưong trình cao su tiểu điền, mía, bông vải, đay, đậu phộng , dừa, chuối, nuôi cá bè ở Châu Đốc An Giang, nuôi tôm ở Bạc Liêu, Sóc Trăng, nuôi cá măng ở Bình Định, nuôi tôm càng xanh ở ruộng nước ngọt, trồng phi lao chống cát bay, trồng bạch đàn xen cây họ đậu phủ xanh đất trống đồi trọc, trồng lại thông hai lá, ba lá ở Huế và ở Đà Lạt,  nuôi heo lai ba dòng nhiều nạc,  nuôi dê sữa , bò sữa, trồng rau, hoa, cây cảnh. Trong lĩnh vực giáo dục, giáo sư đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo nhiều khóa học viên cao đẳng, đại học, biên soạn nhiều sách.  Giáo sư có nhiều kinh nghiệm và  đóng góp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ quốc tế với Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp…

Tôi học gián tiếp Thầy qua sách báo và internet. Giáo trình nông học sau ngày Việt Nam thống nhất thật thiếu thốn. Những sách Sinh lý Thực vật, Nông học Đại cương, Di truyền học, Khoa học Bệnh cây , Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam … do tập thể hoặc chuyên gia đầu ngành phía Bắc biên soạn thời đó hiếm và quý như vàng. Cái khó khác cho thầy trò chúng tôi là thiếu kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng phương Nam. Những bộ sách của thầy Trình như Cải Thiện Trồng Lúa 1965-66 (hai lần tái bản), Nông Học Đại Cương 1967 (ba lần tái bản), Mía Đường 1972 (hai lần tái bản), Cây Ăn Trái Có Triển Vọng 1995 (ba lần tái bản), Cây Ăn Trái Cho Vùng Cao 2004, … cùng với sách của các thầy Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Giàu, Phạm Hoàng Hộ, Lương Định Của, Lê Văn Căn, Vũ Công Hậu, Vũ Tuyên Hoàng, Đường Hồng Dật, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Mai Văn Quyền, Thái Công Tụng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Thành Hổ … đã bổ khuyết rất nhiều cho sự học hỏi và thực tế đồng ruộng của chúng tôi. Sau này khi đã ra nước ngoài, thầy Trình cũng viết rất nhiều những bài báo khoa học kỹ thuật, khuyến học trên các báo nước ngoài, báoViệt Nam và blog The Gift.

Điều tôi thầm phục Thầy là nhân cách kẻ sĩ vượt lên cái khó của hoàn cảnh để phụng sự đất nước. Lúa Thần Nông áp dụng ở miền Nam sớm hơn miền Bắc gần một thập kỷ. Sự giúp đỡ liên tục và hiệu quả của FAO sau ngày Việt Nam thống nhất có công lớn của thầy Trình và anh Nguyễn Văn Đạt làm chánh chuyên gia của FAO.  Blog The Gift là nơi lưu trữ những “tâm tình” của gíáo sư dành cho Việt Nam, đăng các bài chọn lọc của Thầy từ năm 2005 sau khi về hưu. Đa số các bài viết trên blog của giáo sư về Phát triển Nông nghiệp, Kinh Tế Việt Nam, Khoa học và Đời sống  trong chiều hướng khuyến khích sự hiếu học của lớp trẻ. Nhân cách và tầm nhìn của Thầy đối với tương lai và vận mệnh của đất nước  đã đưa đến những đóng góp hiệu quả của Thầy kết nối giữa quá khứ và hiện tại, tạo niềm tin tương lai, hòa giải và hòa hợp dân tộc.


Thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, lắng đọng trong tôi một nhân cách, một người thầy lớn …


Thầy, Bạn  là lộc xuân của cuộc
đời
Bill Clinton trong tác phẩm ‘Đời tôi’ (15) đã xác định năm việc chính quan trọng nhất của đời mình là muốn làm người tốt, có gia đình êm ấm, có bạn tốt, thành đạt trong cuộc sống và viết được một cuốn sách để đời. Ông đã giữ trên 30 năm cuốn sách mỏng “Làm thế nào để kiểm soát thời gian và cuộc sống của bạn” và nhớ rõ năm việc chính mà ông ước mơ từ lúc còn trẻ. Thầy quý bạn hiền là lộc xuân của cuộc đời. Tôi biết ơn mái trường thân yêu mà từ đó tôi đã vào đời để có được những cơ hội học và làm những điều hay lẽ phải.

Anh Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam :

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Tay ôm đàn độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Từ Cà Mau Rạch Giá
Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mờ như sương
Thân chưa là lính thú
Sao không về cố hương  ?

Anh Mai Thành Phụng vừa lo xong diễn đàn khuyến nông Sản xuất lúa theo GAP (17) tại Tiền Giang lại lặn lội đi Sóc Trăng ngay để kịp Hội thi và trình diễn máy thu hoạch lúa. Anh Lê Hùng Lân trăn trở cho giống lúa mới Nàng Hoa 9 và thương hiệu gạo Việt xuất khẩu. Anh Trần Văn Đạt  vừa giúp ý kiến “Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam” lại hổ trợ ngay bài viết mới (18).

Trường Đại Học Nông Lâm Thủ Đức 2005 Nửa Thế kỷ Xây dựng và Phát triển (19) đến nay 2010 đã tròn 55 năm kỹ niệm ngày thành lập. Dưới mái trường thân yêu này, có biết bao nhà khoa học xanh, nhà giáo nghề nông vô danh đã thầm lặng gắn bó đời mình với nhà nông, sinh viên, ruộng đồng, giảng đường và phòng thí nghiệm. Thật xúc động và tự hào được góp phần giới thiệu một góc nhìn về sự dấn thân và kinh nghiệm của họ.


Hoàng Kim,
cựu sinh viên TT2-NLU

GVC Bộ môn Cây Lương thực, Rau Hoa Quả
http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkim
https://sites.google.com/site/hoangkimsite/
https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/

Bài đã đăng trong Kỹ yếu Khoa Nông học Kỹ niệm 55 năm ngày thành lập Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh trang 97-105.


THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN CUỘC ĐỜI Hoàng Kim giữa thầy quý bạn hiền, trãi nghiệm sâu sắc với thời gian, hôm nay bồi hồi vui nhớ lại. Cuộc đời yêu thương bài học quý …

NGHỊ LỰC BÀI CA THỜI GIAN

Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà, nợ nước quyết rèn bản thân !


Hoàng Kim về lại mái trường xưa

Đâu phải bây giờ ta mới quý thời gian
Mỗi ngày đi qua
Mỗi tháng đi qua
Mỗi năm đi qua
Thấm thoắt thời gian
Nhìn sự vật đổi thay ta biết rõ

Mái tóc Thầy ta đã bạc đi già nữa
Hàng trăm bạn bè thuở ấy đã đi xa
Ta lại về đây với mái trường xưa
Thân thiết quá nhưng sao hồi hộp thế
Trăm khuôn mặt trông vừa quen vừa lạ
Ánh mắt chào đọng sáng những niềm vui

Ta chỉ là hạt cát nhỏ nhoi
Trong trùng điệp triệu người lên tuyến lửa
Giá độc lập giờ đây thêm hiểu rõ
Thắng giặc rồi càng biết quý thời gian

Đất nước ba mươi năm chiến đấu gian nan
Mỗi tấc đất đều đậm đà nghĩa lớn
Bao xương máu cho tự do toàn vẹn
Bao đồng bào, đồng chí đã hi sinh.

Ta dâng cho Tổ Quốc tuổi thanh xuân
Không tiếc sức cho cuối cùng trận thắng
Xếp bút nghiên để đi cầm khẩu súng
Càng tự hào làm người lính tiên phong

Nay trở về khi giặc đã quét xong
Trách nhiệm trao tay tiếp cầm ngọn bút
Nâng cuốn sách lòng bồi hồi cảm xúc
Ta hiểu những gì ta phải gắng công

Trận thắng hôm qua bạn góp máu hồng
Lớp học hôm nay bạn không trở lại
Trách nhiệm trong mình nhân lên gấp bội
Đồng chí ơi, tôi học cả phần anh.

Biết ơn thầy cô giáo dịu hiền
Bằng khích lệ động viên lòng vượt khó
Trăm gian nan buổi ban đầu bở ngỡ
Có bạn thầy càng bền chí vươn lên

Trước mỗi khó khăn có bạn luôn bên
Như đồng đội trong chiến hào chia lửa
Ôi thân thiết những bàn tay tập thể
Ta nhủ lòng cần xứng đáng hơn

Đâu phải bây giờ ta mới quý thời gian
Hiểu mất mát, biết tự hào phải cố
Trận tuyến mới nguyện xứng là chiến sĩ
Thiêng liêng lời thề, vững một niềm tin.

Năm tháng giữa trời Âu

Đi giữa Praha rực rỡ nắng vàng
Gió bớt thổi nên lòng người bớt lạnh
Phố xá nguy nga, nhịp đời hối hả
Gợi lòng ta uẩn khúc những suy tư

Ôi quê hương thân thiết tự bao giờ
Mỗi bước đi xa càng thêm yêu Tổ Quốc
Nhớ quê nhà nửa đêm ta tỉnh thức
Ngóng phương trời vợi vợi nhớ mênh mông

Biết ơn quê nghèo cắt rốn chôn rau
Nơi mẹ cha xưa suốt đời lam lũ
Cha giặc giết luống cày còn bỏ dỡ
Sự nghiệp này trao lại tay con

Biết ơn anh tần tảo sớm hôm
Năm năm học mỗi ngày cơm một bữa
Bắt ốc, mò cua, bền gan, vững chí
Nhắc nhở thù nhà nợ nước cho em.

Biết ơn mái trường ta đã lớn khôn
Hũ gạo nghĩa tình bạn thầy san sẽ
Những lớp đàn em bi bô tuổi nhỏ
Mang mớ rau, củ sắn giúp thầy

Sống giữa lòng dân những tháng những ngày
Anh chị góp công, bạn thầy giúp sức
Đêm trăn trở ngọn đèn khuya tỉnh thức
Nhớ một thời thơ ấu gian nan …

Biết ơn em người bạn gái thủy chung
Thương cha mẹ quý rể nghèo vẫn gả
Em gánh vác mọi việc nhà vất vả
Dành cho anh nghiên cứu được nhiều hơn

Hưng Lộc trại nhà mảnh đất yêu thương
Nơi suốt đời ta nghĩa tình gắn bó
Mảnh đất thiêng chim phượng hoàng làm tổ
Lúa, ngô, sắn, khoai, hoa, qủa dâng đời.

Đến Tây Bán Cầu bay qua giấc mơ
Nấc thang học càng vươn cao càng muốn
Dạy và học có bao giờ là muộn
Bao cuộc đời dạy và học thành công

Nhớ cuộc đời năm tháng không quên
Năm năm học mỗi ngày cơm một bữa
Đêm tỉnh thức đói cồn cào trong dạ
Vẫn gan vàng, dạ sắt, lòng son.

Nhớ ngày cha ngã xuống vì bom
Tấm áo máu suốt đời ta nhớ mãi
Trong thương đau càng quyết tâm gấp bội
Học để làm trả được nghĩa tình sâu.

Nhớ ngọn đèn chong giữa canh thâu
Những đêm lạnh của trời Hà Bắc
“Thắp đèn lên đi em!” thơ của thời đi học
Xốn xang lòng đã mấy chục năm qua

Ôi vầng trăng thăm thẳm quê ta
Và ngôi sao Mai đã thành đốm lửa
Giọt máu tim ta treo giữa trời nhắc nhở
Em bên Người năm tháng lớn dần lên

Nhớ những mùa chiến dịch thức bao đêm
Thèm một bữa cơm rau và giấc ngủ
Sau trận đánh lại miệt mài cuốn vở
Tin có ngày trở lại mái trường yêu

Bao bạn bè của năm tháng không quên
Nay vĩnh viễn nằm sâu trong lòng đất
Về thăm quê cũng người còn, người mất
Bài học trường đời chắp nối bấy năm qua

Nay cánh chim trời bay cao, bay xa
Điều kiện học khác xưa, phòng riêng ngọai quốc
Năm tháng trời Tây là niềm mơ ước
Cần phải miệt mài nghị lực gắng công

Dẫu mỗi ngày hơn tám tiếng học căng
Ngôn ngữ mới buổi đầu chưa hiểu kịp
Nổ lực học dẫu đêm về có mệt
Mỗi ngày này là vốn quý thời gian.

Chốn phồn hoa bao cám dỗ thấp hèn
Bao thèm muốn làm người ta lùn xuống
Những dễ dãi khiến lòng người dao động
Hãy cố cầm lòng bền chí học chăm.


Khoa học cây trồng là đất nước và cây
Nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ
Minh triết, phúc hậu, tận tâm suốt đời ghi nhớ
Tự thắng mình là bài học đầu tiên !

Dù mất điện hay có điện lung linh suốt đêm
Không bao giờ quên vầng trăng ngọn lửa
Ngày dẫu miệt mài
Đêm về phải cố

Khắc sâu lời nguyền xưa !

Hoàng Kim
(Rút trong tập: THƠ CHO CON)
xem tiếp

 

THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN CUỘC ĐỜI
Hoàng Kim
Bao năm Trường Viện là nhà Lúa Ngô Khoai Sắn đều là thịt xương. Một đời người một rừng cây Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng. Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Thầy, bạn là lộc xuân cuộc đời.  “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin” (1).

Về lại mái trường ta đã lớn khôn   xem tiếp tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-la-loc-xuan-cuoc-doi/

 

Xem lại bài viết cùng chủ đề lưu trong tư liệu cũ năm 2010

NIỀM TIN VÀ NGHỊ LỰC SỐ 1 – 2010

FOOD CROPS
Norman Borlaug di sản, niềm tin và nghị lực  Hoàng Kim
Hiện trạng sắn Việt Nam và sự cải thiện giống sắn  Hoàng Kim
Current situation of cassava in Vietnam and the breeding of improved cultivars  Hoang Kim et al.
Giống khoai lang ở Việt Nam  Hoàng Kim
Cây sắn Việt Nam hiện tại và tiếp nối   Kazuo Kawano, Hoàng Kim
Cassava and Vietnam – Now and Then  GS.TS Kazu Kawano
Cassava in Vietnam: a successful story  Hoang Kim
Cây nhiên liệu sinh học Việt Nam điểm tin chọn lọc  Hoảng Kim
Giống sắn KM140 Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Toàn Quốc 2009
Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Nguyễn Hữu Hỹ
Xây dựng nông thôn mới    GSTS Nguyễn Văn Luật
Xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam TS Trần Văn Đạt

DẠY VÀ HỌC
Goodreads for Me  Hoang Kim
Google câu chuyện thần kỳ HK điểm sách của David Vise và Mark Malseed
Thông dịch là chìa khóa mở cửa nhìn ra thế giới HK giới thiệu ba bài Văn Bảy
Rèn nhân cách để lập nghiệp HK giới thiệu bài của GS Nguyễn Đình Chú
Thích Thanh Từ   biên khảo của Hoàng Kim
Nhớ Nguyễn Khải  biên khảo của Hoàng Kim
Hoàng Đình Quang  biên khảo của Hoàng Kim
Đến với những bài thơ hay   HK giới thiệu thơ Nguyễn Duy
Đến với những bài thơ hay 2  HK giới thiệu thơ Phím chiến

THUNG DUNG
Dạo chơi non nước Việt   thơ Hoàng Kim
Trúc Lâm Yên Tử  thơ Hoàng Kim
Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông  thơ Hoàng Kim
Lời của Thầy theo mãi bước em đi Hoàng Kim
Niềm vui lớn  Hoàng Kim
Học đi con  thơ Hoàng Kim
Những bài thơ em và tôi  thơ Hoàng Kim
Hoa đồng nội   thơ Hoàng Kim
Tháng bảy mưa ngâu thơ Hoàng Kim
Thư cho con giữa mùa thi thơ Hoàng Kim

Cavalier: Poems of hope, faith and courage
Thung dung: thơ của hi vọng niềm tin và nghị lực
http://hubpages.com/hub/Cavalier-Poems-of-hope-faith-and-courage


Kỉ yếu Nong Lam University

Nong Lam University
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Thầy ơi


THẦY ƠI. Tưởng nhớ Thầy Nguyễn Khoa Tịnh  Hoàng Kim Thầy ơi, em nặng lòng với Huế Mừng duyên lành con em xe về miền Trung Nơi Lộc Khê Hầu nguyên vẹn công nghìn năm mở cõi  Với dòng sông Hương soi bóng núi Ngự Bình. Bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh và bài thơ “Lời của Thầy theo mãi bước em đi” lâu nay tôi vẫn giữ riêng mình. Con gái đầu lòng của gia đình tôi khi yêu thương gả về xứ Huế thăm thẳm trong tôi là lời “Thầy ơi”. Hôm nay nhà giáo nhà báo Lê Quang Vinh và nhà giáo nhà thơ Ma Thi Len đã thức tỉnh tôi viết tiếp về Thầy. 

Tôi chưa hề gặp chị Ma Thi Len ngoài đời mà chỉ biết tiếng và hiểu chị qua mạch văn. Chị chép bài thơ thầy Tịnh và bài thơ của tôi về trang nhà. Tôi đọc lời cảm nhận và lặng lẽ ghé sang đọc trang chị rồi bất chợt bắt gặp một bài viết mới đây của chị về câu chuyện thơ nghe thật thấm thía. Tôi bần thần tự hỏi: “Có khi nào một người làm thơ gặp một người bình thơ mà bài bình thơ đã ám ảnh người làm thơ suốt đời, nâng bước và thay đổi chính số phận của người đó như câu chuyện này hay chưa?. Thầy Tịnh đã làm được chuyện đó. Thơ của thầy là thể loại ‘thơ truyền thống’ thật đặc biệt và lối bình thơ đặc biệt. Xin đối chiếu với câu chuyện chị kể. Chị viết:

Sáng nay , 15/11/2017 , các thành viên ” Hoa giữa Đại ngàn ” nghe nhà thơ gạo cội Vũ Quần Phương nói về thơ ” Cách tân ” và thơ ” Truyền thống ” . Ông cũng đã phân tích thơ Tố Hữu và thơ Hồ Chí Minh. Đây là hai nhà thơ không chuyên . Vì yêu thơ nên trong khi hoạt động Cách mạng đã “xuất khẩu” thành thơ. Tố Hữu tự nhận mình là nhà thơ nghiệp dư nhưng là nhà Cách mạng chuyên nghiệp . Thơ là để hỗ trợ, phục vụ tuyên truyền cho Cách mạng dễ thấm, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Còn Bác Hồ, thơ đã giúp cho Bác lạc quan, yêu đời trong đấu tranh Cách mạng. Vũ Quần Phương phân tích về bốn câu thơ của Bác khi Bác bị bắt tại Trung Quốc giam chung cùng các phạm nhân hình sự rằng: khi dẫn Nguyễn Ái Quốc vào phòng giam thì đã chật ních người không còn chỗ ngồi. Chỉ còn một chỗ, đó là cái hố vệ sinh có đậy nắp. Người buộc phải ngồi lên đó và làm thơ, nghĩ về những gì sẽ diễn ra sắp tới . Đó là ngày mai và cũng là tương lai của cuộc Cách mạng nước nhà sắp tới sẽ thế nào . Người viết :

Đi bộ
Năm mươi ba cây số một ngày
Mũ áo dầm mưa rách hết giày
Lại khổ thâu đêm không chỗ ngủ
Ngồi trên hố xí đợi ngày mai!
Đó. Chúng ta hãy học tư tưởng, tác phong, đạo đức, cách sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Vũ Quần Phương còn nói về tình bạn giữa Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi . Khi nói về tình bạn thì dù có vướng mắc gì, một trong hai người hãy xuống nước, chủ động bắt chuyện ,bày tỏ với người kia. Tình bạn giống như cái cây bị héo, nếu ta chăm tưới tắm cho nó thì nó sẽ tốt tươi, phát triển .

Thơ “Cách tân ” hay thơ mới hiện nay có tạp thơ của Hoàng Xuân Tuyền ra mắt dịp kỹ niệm 1005 năm Thăng Long – Hà Nội ( 2015 ) , viết phản ảnh đời sống thực tại hiện thời .

Ngày nay, người người làm thơ, nhà nhà làm thơ, cả nước làm thơ . Việt Nam ta là một đất nước của thơ ca. Đó cũng là truyền thống của Ông Bà, Cha Mẹ chúng ta nên mới có nhiều Ca dao, Dân ca như thế . Nhưng thơ là tiếng lòng, thơ là cuộc sống. Phải viết sao cho sống động và thật nhằm phục vụ cuộc sống con người .

Ông cũng nói về vấn đề Tự do. Tự do là quyền lợi, quyền sống của con người . Nhưng Tự do để làm gì? Mục đích của Tự do là gì? Và phải làm gì để Tự do có mục đích và ý nghĩa Chứ không phải đòi Tự do rồi chẳng làm gì cả, chẳng giúp ích gì cho ai cả . Thì cái Tự do đí chẳng có ý nghĩa gì !

Bài nói chuyện khá bổ ích cho những người làm thơ nghiệp dư chúng tôi! Xin cảm ơn !”

Tôi chép lại đoạn văn trên và muốn trò chuyện với chị: “Thưa chị Ma Thị Len và anh Lê Quang Vinh. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh dạy sử không dạy văn. Thuở đó thầy Phạm Ngọc Căng và thầy Hồ Ngọc Diệp dạy văn. Nhưng đôi khi thầy Tịnh dạy văn khi thầy văn ốm. Anh Lê Quang Vinh đã nhớ đúng”.

Tôi cũng chưa nghe cô Vinh và các con thầy nói về thơ của thầy nhưng bài thơ “Bài ca Trường Quảng Trạch” của thầy Trần Đình Côn và bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên” cùng những lon gạo nghĩa tình mà thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng, đọc và vận động thầy bạn chia sẻ cho người học trò nghèo mồ côi, mãi mãi là bài thơ ấn tượng và sâu sắc nhất cuộc đời tôi.

Cám ơn anh Lê Quang Vinh và chị Ma Thị Len về sự đồng cảm này.
Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/11/25/thay-oi/

Lời của Thầy theo mãi bước em đi

NHỚ THẦY. Hoàng Kim trước tượng Phan Bội Châu, nhớ thầy Nguyễn Khoa Tịnh và bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“. …”Thầy truyền cho chúng em niềm tin Đạo làm người, lòng yêu nước Em càng thấm thía vô cùng Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …Đều yêu nghề dạy học.”

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng.

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
“Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay”

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí nối Ức Trai xưa.

“Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có”

Thầy giảng Đại cáo bình Ngô
Liên hệ chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
cũng như chuyện “Tam cố thảo lư”
anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
đã tôn làm quân sư cùng lo việc nước…

Thầy kể chuyện Đào Duy Từ xưa
Bậc khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng…
Đào Duy Từ còn mãi với non sông:
Người có công nghiệp lẫy lừng chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc, thu Nam, công đầu Nam tiến.
Người tổ chức phòng ngự chiều sâu
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
minh chúa, quân giỏi, tướng tài, ba tầng thủ hiểm
Người xây dựng nên định chế đàng Trong
một chính quyền rất được lòng dân
nức tiếng một thời.
Người viết nên kiệt tác Hổ trướng khu cơ,
tuồng Sơn Hậu, nhã nhạc cung đình
là di sản muôn đời.
Trí tuệ bậc thầy, danh thơm vạn thuở …

Thầy giảng về bài học lịch sử Việt Nam
những người con trung hiếu
tận tụy quên mình vì dân vì nước
hẳn lòng Thầy cháy bỏng khát khao
vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.

Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!” (1)
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời của Thầy theo mãi bước em đi.

Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON

(1) bài thơ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh
Em ơi em can đảm bước chân lên“. (ở đây)
http://webcache.googleusercontent.com/search…


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Trở về đầu trang
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam   Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.