Dưới đáy đại dương là Ngọc

oitiengvietnhubunvanhulua

DƯỚI ĐÁY ĐẠI DƯƠNG LÀ NGỌC

Hoàng Kim

Sao anh chưa về miền Tây.
Nơi một góc đời anh ở đó.
Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu,…
Tên đất tên người chín nhớ mười thương.

Anh có về Bảy Núi Cửu Long,
Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ.
Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ….
Anh có về nơi ấy với em không?

*

Mình về với đất phương Nam.
Ninh Kiều thắm nước, Sóc Trăng xanh đồng.
Về nơi ấy với em không ?
Bình minh Yên Tử mênh mông đất trời.

Ta đi cuối đất cùng đời
Ngộ ra hạnh phúc thảnh thơi làm Người.

Tôi mắc nợ câu chuyện “Hai cha con đều là anh hùng” của bác Năm Hoằng và chị Ba Sương đã nhiều năm. Hôm nay, tôi may mắn ngồi trọn buổi nhóm bạn quý của Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Đồng Tháp Mười gồm vợ chồng anh Mai Thành Phụng, Nguyễn Thị Kim Hoàng, vợ chồng của nhà báo Quang Ngọc, và các bạn Thạc, Thuận, Cường, Thắm, là các thế hệ lãnh đạo của trung tâm xuyên suốt chặng đường lịch sử gần suốt 40 năm (chỉ còn thiếu anh Hường và một số anh chị em thân thương xưa cũ của thế hệ đầu nữa) , … Tôi xúc động nhớ về thuở xưa của rốn phèn Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên nay đã biết bao đổi thay. Trò chuyện với các bạn trong bàn Trở lại nụ cười Ba Sương : “Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình, …” . Sự kiện ngày 15 tháng 8 năm 2009 đến nay trong lòng dân đâu đã quên và chuyện đâu đã khép lại…

Hôm bác Năm Hoằng mất, chúng tôi gần như đi suốt đêm từ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (Đồng Nai) về Nông trường sông Hậu (Hậu Giang) để kịp viếng bác. Tôi biết ơn bác Năm đã năm lần lội ruộng thăm đồng Trung tâm Hưng Lôc và đã gợi ý cho tôi nhiều điều. Trong đó có một lần bác tặng cho tôi chiếc máy điện thoại di động “Cháu giữ mà dùng, bác mua lại cái khác”, “Thông tin là cần thiết, đừng tiết kiệm quá con ạ !” “Chưa kỹ đâu con đừng vội làm sư” “Bác có chút kinh nghiệm thau chua, rửa phèn, lấn biến” “Hiểu cây và đất thì mới làm ra được giống mới con ạ !” “Phải sản xuất kinh doanh khép kín mới khá được” “Dưới đáy đại dương là ngọc !”. Những bài học của bác Năm và chị Ba đã giúp chúng tôi rất nhiều.

Lâu nay chúng ta đã xúc động nhiều với cuộc đời bất hạnh của chị Ba Sương nhưng hình như việc “tích tụ ruộng đất”, “xây dựng nông trại điển hình”, và “lập quỹ trái phép”, của Nông trường sông Hậu thời bác Năm Hoằng và chị Ba Sương cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo để rút ra những bài học sâu sắc về quan điểm, tầm nhìn, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp. Không chỉ vậy, những bài học tổng kết thực tiễn kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Thế giới và Việt Nam việc soát xét 10 năm, 40 năm, 90 năm, 500 năm để tính toán một tầm nhìn trung và dài hạn vẫn chưa có những công trình xứng tầm để đánh giá thấu đáo và đúc kết những bài học phát triển. Bác Năm đã yên nghĩ, chị Ba Sương kêu án tù 8 năm và được thả. Người đương thời chưa thể mổ xẻ và phân tích đúng sai về cách “tích tụ ruộng đất”“lập quỷ trái phép” nhưng nếu khép lại điều này thì không thể nói rõ nhiều việc và cũng không đúng tâm nguyện của những bậc anh hùng trượng nghĩa Nam Bộ đã quyết liệt dấn thân trọn đời cho sự nghiệp và niềm tin ấy.

PhungHoangngaycuoi

Hôm nay vui với vợ chồng Mai Thành Phụng và Nguyễn Thị Kim Hoàng tôi nói đùa rằng: “Hóa ra, mình định kể câu chuyện mà vẫn chưa kể được gì cả, chỉ mới viết được mấy câu thơ tặng bạn hiền mà thôi. Neo lại một chút để nhớ, để thỉnh thoảng quay lại.”

PhuongHoang38namBài ca yêu thương là thơ về Bạn Hiền
Phụng Hoàng chúc mừng ngày hạnh phúc
Ngày 20 tháng 10 năm 1979 hai bạn cưới
38 năm sau mới có bữa cơm đầy đặn hơn đãi khách
38 năm gian nan nay mới vuông tròn
Con đường xanh gian nan
Giữa bùn ngấu, đất phèn,
cây lúa, ruộng đồng
Làm bạn nhà nông …
“Cuốn sách mỏng
Sức khỏe và hạnh phúc!”
Bạn hiền ơi, người tử tế giữa đời thường …
Biết bao gương thầy bạn nhà nông
Lặng lẽ dấn thân, lặng lẽ hiến dâng
Bà mẹ thiên nhiên
Bài ca hạnh phúc.
Phung CuongGiangKimThuanThacNgoc

Bài ca yêu thương là thơ hoa hồng
Đỏ của máu và xanh hi vọng.
Bài ca yêu thương

anh Phuoc Nguyen Thanh nói: Chỉ có những người cùng cam khổ mới hiểu hết nỗi cực khổ… Tôi xúc động nói với anh: Tôi theo chân anh Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh Viện Lúa để về quê hương người anh hùng lao động Lương Định Của con đường lúa gạo, Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng, để cùng Hoang Long con tôi, chung sức với vợ chồng anh và học trò và bạn hữu, gắng gỏi tuyển chọn giống lúa siêu xanh thích ứng với biến đổi khí hậu có phẩm chất tốt, năng suất cao, ngắn ngày, ít sâu bệnh. Năm năm qua, từ nguồn vật liệu quý hiếm nhập nội và bảo tồn tại Trại giống lúa Sóc Trăng đã lan tỏa ra nhiều tỉnh, và nay Phú Yên và nơi anh đã tuyển được các giống tốt GSR90, GSR65, GSR38. Nhìn lại con đường xanh gian khổ vươn tới của gạo Việt chất lượng và thương hiệu, càng thấm thía ‘Dưới đáy đại dương là Ngọc”. Tôi xin viết tiếp về anh và đồng đội của anh ‘Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa…

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/duoi-day-dai-duong-la-ngoc/

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích


Phung Hoang chuc mung ngay hanh phuc


I Love – Sergey Grischuk
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Bài ca yêu thương

BÀI CA YÊU THƯƠNG
Hoàng Kim


Bài ca yêu thương
Tình yêu cuộc sống
365 chuyện kể mỗi ngày
365 mục từ tuyển chọn

Bài ca yêu thương
là thơ hoa hồng
Đỏ của máu
và xanh hi vọng.

Ngày ghi nhớ trong trái tim tôi
Ngày mới nhớ về mạch sống
Ngày Mẹ Cha chính ngày này
29 tháng 8 âm lịch hôm nay …

Linh Giang dòng sông quê hương
Rào Nan Nguồn Son thao thiết chảy

“Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con.

“Chèo thuyền qua bến sông Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn”
Câu thơ quặn thắt đời con
Mẹ Cha mất sớm con còn trẻ thơ.

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam”.

Bài ca yêu thương là khát khao xanh
Nói với bạn hiền bài thơ Điểm hẹn

Anh như chim ưng quay về tổ ấm
Vẫn khát bầu trời ước vọng bay lên
Ơi Bồng Lai cồn cào nỗi nhớ
Anh về bên này lại nhớ bên em”


Chim Phượng về làm tổ
Về với Hoa Đất, Hoa Lúa
Ơi con chim yêu tự do
Hoa Bình Minh Gia An Phước Đức
Trúc Lâm vời vợi Hoàng Thành.

Bài ca yêu thương
giấc mơ xanh
giấc mơ hạnh phúc

nhắm mắt lại đi em
để thấy rõ giấc mơ hạnh phúc
trời thanh thản xanh
đêm nồng nàn thở
ta có nhau trong cuộc đời này
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương

nhắm mắt lại đi em
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh.

nhắm mắt lại đi em,
tận hưởng thú an lành

Bài ca yêu thương
là thơ viết về Anh
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Ngày 19 tháng 10 năm 2012
anh nằm xuống

Ruộng lúa xanh sau lưng
Hai bờ vai người bạn
Tiếng nấc nghẹn lòng
Tiễn bạn đi xa …
“Hãy cúi xuống học tốt.
Khi kết quả thành rồi, người đời sẽ dắt bạn lên !”
Phạm Trung Nghĩa ơi, lời dặn dò còn mãi.

Trần Tử Ngang đêm thiêng đọc lại
Đêm nay là đêm nao?

“Người trước chẳng thấy ai.
Người sau thì chưa thấy.
Gẫm trời đất thật vô cùng.
Riêng lòng đau mà lệ chảy”

“Bài ca lên đài U Châu”
thơ kỳ tài Trần Tử Ngang
với lời dịch Tương Như
khiến người hiền nhỏ lệ.

PhuongHoang38nam
Phung CuongGiangKimThuanThacNgoc

Bài ca yêu thương
là thơ về Bạn Hiền
Phụng Hoàng chúc mừng ngày hạnh phúc
Ngày 20 tháng 10 năm 1979
ngày hai bạn cưới
38 năm sau
mới có bữa cơm
đầy đặn hơn đãi khách
38 năm gian nan
mới được vuông tròn

Con đường xanh gian nan
Giữa bùn ngấu, đất phèn,
cây lúa, ruộng đồng
Làm bạn nhà nông …
“Cuốn sách mỏng
Sức khỏe và hạnh phúc!”
Bạn hiền ơi,
người tử tế giữa đời thường …
Biết bao gương thầy bạn nhà nông
Lặng lẽ dấn thân,
lặng lẽ hiến dâng
Bà mẹ thiên nhiên
Bài ca hạnh phúc.

Bài ca yêu thương
là thơ hoa hồng
Đỏ của máu
và xanh hi vọng.

Bài ca yêu thương
Hoàng Kim

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Bài ca yêu thương

Bài ca yêu thương là thơ hoa hồng
Đỏ của máu và xanh hi vọng.
Hoàng Kim

Con nhớ về mạch mạch sống
Ngày Mẹ Cha cũng chính ngày này
29 tháng 8 âm lịch thuở xưa
Tấm áo máu còn đây…

Linh Giang dòng sông quê hương thao thiết chảy

Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con.

“Chèo thuyền qua bến sông Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn”
Câu thơ quặn thắt đời con
Mẹ Cha mất sớm con còn trẻ thơ.

Ra đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.

Bài ca yêu thương là khát khao xanh
Nói với bạn hiền bài thơ Điểm hẹn

Anh như chim ưng quay về tổ ấm
Vẫn khát bầu trời ước vọng bay lên
Ơi Bồng Lai cồn cào nỗi nhớ
Anh về bên này lại nhớ bên em

Chim Phượng về làm tổ
Về với Hoa Đất, Hoa Lúa
Ơi con chim yêu tự do
Hoa Bình Minh Gia An Phước Đức
Trúc Lâm vời vợi Hoàng Thành.

 

nhắm mắt lại đi em
để thấy rõ giấc mơ hạnh phúc
trời thanh thản xanh
đêm nồng nàn thở
ta có nhau trong cuộc đời này
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương

nhắm mắt lại đi em
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh.

nhắm mắt lại đi em, tận hưởng thú an lành

Bài ca yêu thương là thơ viết về Anh
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Ngày 19 tháng 10 năm 2012 anh nằm xuống
Ruộng lúa xanh sau lưng
Hai bờ vai người bạn
Tiếng nấc nghẹn lòng
Tiễn bạn đi xa …
“Hãy cúi xuống học tốt.
Khi kết quả thành rồi, người đời sẽ dắt bạn lên !”
Phạm Trung Nghĩa ơi, lời dặn dò còn mãi.


Trần Tử Ngang đêm thiêng đọc lại
Đêm nay là đêm nao?

“Người trước chẳng thấy ai.
Người sau thì chưa thấy.
Gẫm trời đất thật vô cùng.
Riêng lòng đau mà lệ chảy”

“Bài ca lên đài U Châu”
thơ kỳ tài Trần Tử Ngang
với lời dịch Tương Như
khiến người hiền nhỏ lệ.

Bài ca yêu thương là thơ hoa hồng
Đỏ của máu và xanh hi vọng.
Bài ca yêu thương
Hoàng Kim

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/bai-ca-yeu-thuong/

Video yêu thích

http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu

 

Hoa Người

dauchanthoigian

HOA NGƯỜI
Hoàng Kim

Đầu xuân gặp bạn thật mừng vui
Rượu ngọt trà thơm sóng sánh mời
NƯỚC suối ban mai trong tựa ngọc
OANH vàng CÚC tím nắng xuân tươi.

MÂY TRẮNG quyện lưng trời lãng đãng
Thiên NGA từng cặp nhởn nhơ bay
Nhớ xưa CHIẾN SỰ vùng đất lửa
HÒA bình về lại Chứa Chan nay.

Sóng nhạc yêu thương lời cảm mến
KIM Kiều tái ngộ rộn ràng vui
Anh HÙNG thanh thản mừng “Xuân cảm”
“Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi”.

Tui chỉ mới là thuộc sách (TS) thôi.
Giảng sách (GS) xem ra chửa tới nơi.
Vui việc cứ LÀM chưa vội DẠY
Nói nhiều làm ít sợ chê cười.

Cổ điển  honda không biết chạy
Canh tân blog viết đôi bài
Quanh quẩn chỉ là ngô khoai sắn
Vô bờ biển HỌC dám đơn sai.

Ước noi cụ Trạng ưa duyên thắm
Nịnh vợ  không quên việc trả bài
An nhàn vô sự là tiên đấy
Thung dung đèn sách, thảnh thơi chơi.

Thủy vốn mạch sông nước có nguồn.
Chính Trung tiền hậu đổi nhau luôn.
Nụ cười Nghê Việt luôn đầy đặn.
Mai với Bồ Đề ẩn sau lưng.
Tóc nhuốm bạch kim phơi nắng hửng
Da pha hồng ngọc trãi mưa nhuần.
Hoa Người Hoa Đất vui thầy bạn.
Phước Đức mừng ai thắng tuổi trăm.


phanchithang

Ta tìm gặp bạn đường xa
Tưởng là thăm bạn hoá ra thăm mình
Đêm dài xoè một bình minh…
Hoa Người tri kỹ ân tình đêm đông.

50namnholainguoihien

50 NĂM NHỚ LẠI NGƯỜI HIỀN
Hoàng Kim

Chuyến đi ngắn và điều đáng nhớ
Ba lô xe đò Một lối đi riêng.
Nhớ THƠ VIẾT VỀ NGƯỜI
của cụ Hải Như

” Chúng ta thích đón đưa,
Người không thích.
Đến thăm chúng ta
Người thường “đột kích”,
Chữ “đột kích” vui này
Người nói lại cùng ta.
Và đường quen thuộc
Người chẳng đi đâu
Đường quen thuộc
Thường xa
Người hiện đến
bằng lối tự tìm ra
Ngắn nhất.
Người không muốn dẫm lên
mọi đường mòn có sẵn.
Khi đích đã ngắm rồi.
Người luôn luôn tạo cho mình
Một lối đi riêng”.

Tôi đùa anh Thắng “Anh là Hoa Người. Hoa Người về Hoa Đất, sau lưng Hoa Người là Vườn Mai và Cây Bồ Đề đấy’. Anh tặng tôi cuốn sách của anh về “50 năm nhớ lại”. Tôi tặng anh cuốn sách “10 đại văn hào Trung Quốc” có câu chuyện gần gũi… Tôi nói với các bạn Lâm Cúc, Nguyễn Thị Kim Em, Đinh Đình Chiến, Nguyễn Viết Sự: “Một số việc sau này sẽ rõ ràng hơn, hiện nay thì chúng ta tạm biết vậy. Bài thơ Viên đá Thời gian.

PhanChiThang
Để bắt đầu câu chuyện , tôi sẽ kể vắn tắt với bạn Phan Chí Thắng là ai? Tôi đã kể về anh Phan Chí Thắng  năm 2009,  Võ Nguyên Giáp ẩn số Chính Trung. Bức ảnh chụp trên đây là năm 2006, nay chưa tiện nói dài, chỉ chép lại để lưu giữ thông tin và hiến tặng bạn đọc.

2017-10-19_Vo Nguyen Giap an so Chinh Trung



Chị Chính ở Moscova năm 1957 học lớp 2.

Anh Phan Chí ngày 1 tháng 5 viết ” “Bạn này có nét giống bạn Bun. Ảnh chụp khi mới sang Moskva năm 1957 học lớp 2. Hỏi sao lại cười chúm chím, bảo răng sún nên không dám cười! Cảm ơn chị Tú Uyên đã gửi ảnh!”
 
Chi Chinh va cac ban Tam Dao 2007

Chị Chính và các bạn Tam Đảo 2007

Nhân chuyện vui, một bạn hỏi tôi: “Văn hóa là gì?” Tôi trả lời : “Các cụ có định nghĩa rồi. Văn hóa là điều người ta còn nhớ khi người ta đã quên đi tất cả”. Bạn tôi hỏi tiếp: “Theo anh thì anh Phan Chí Thắng là người thế nào ? ” Tôi đáp không chút ngập ngừng: “Theo mình đó là một người rất hay, sâu sắc, tinh tế” và xòe năm ngón tay nhớ  bốn bài thơ và một bài văn của anh

nguoidanbaxala

TÔI BẮT ĐẦU MỘT KÝ ỨC với Victor Thắng, kẻ xách va ly cho người vũ công già, trong 50 năm nhớ lại, người anh đã liên tưởng tới Người đàn bà xa lạ của họa sĩ Kramskoi. Số phận đã cho Victor Thắng được gặp người phụ nữ Nga, cho tâm hồn anh một lần được trú ngụ trong cái hiền hòa và nhân hậu của người Nga. Câu chuyện này giúp tôi neo đậu tại đây các bài thơ không quên. Tôi nói với Huynh Thi Kim Em “Mời bạn theo dõi câu chuyện này, không phải với cương vị CATAND nữa mà là nhân chứng chuyện cổ tích cho người lớn nói về Con Người”. Trước hết, mời bạn hãy đọc kỹ bốn bài thơ và một bài văn của Victor Thắng

phanchithang

TỨ TUYỆT KHÔNG ĐỀ

Phan Chí Thắng

Không có rượu sao mà say đến thế
Giải Ngân Hà mờ tỏ  bóng thời gian
Ta đã được một lần say lặng lẽ
Giữa cuộc đời tỉnh táo đến khôn ngoan.

TA NỢ

Phan Chí Thắng

Ta nợ mặt trời chiếc bóng dưới chân
Ta nợ đêm thu tiếng sáo trong ngần
Ta nợ mẹ già tháng năm tần tảo
Ta nợ vợ hiền một thời thanh xuân

Ta nợ cuộc đời cúi đầu tạ lỗi
Ta nợ quê hương núi thẫm ráng chiều
Ta nợ lòng mình những lần thất hẹn
Ta nợ cuộc tình khoá lễ cầu siêu

Ở ĐÂU?

Phan Chí Thắng

Ở đâu có một ngôi nhà bé
Cửa sổ đèn khuya bóng em ngồi
Giai điệu dân ca ngân nhè nhẹ
Tự tình dạ khúc gửi xa xôi

Ở đâu có một khuôn vườn lặng
Em nở dùm tôi những nụ hồng
Chim hót chào reo bình minh nắng
Sương mòn xao xuyến như mắt mong

Ở đâu có một trời thương nhớ
Em thấu dùm tôi nỗi cháy lòng

Ở đâu có một con thuyền nhỏ
Chở những vần thơ tôi sang sông

GỬI HOÀNG KIM

Phan Chí Thắng

Nghe đêm vỡ giọt bên mành
Hương thơm như khẽ lay nhành phong lan
Mưa xa chớp loé trên ngàn
Lòng riêng chất chứa muôn vàn thiết tha

Ta tìm gặp bạn đường xa
Tưởng là thăm bạn hoá ra thăm mình
Đêm dài xoè một bình minh…

MỘT GIỜ DẠY HỌC CỦA KHỔNG TỬ

Phan Chí Thắng

Khổng tử thường đưa học trò đi các nơi du lịch sinh thái, vừa đi vừa dạy bằng cách trò chuyện với học trò. Các giáo án từ trên đưa xuống tỏ ra quá giáo điều và khô cứng nên ông không dùng. Mà ông cũng không bao giờ chuẩn bị giáo án. Ông phó mặc cho trí tuệ và cảm hứng dẫn dắt.

Vào một ngày đầu thu mát mẻ, ông đưa mấy người học trò ra vườn trúc. Những khóm trúc xanh nằm giữa bãi cỏ xanh. Xa xa có con suối róc rách, bên kia con suối là đồi chè rất xanh, vài ba thiếu nữ đang khom lưng hái chè.

Cầm chén rượu từ tay Tử Tư, người cháu duy nhất là môn đồ của ông, Khổng tử thư thái ngắm nhìn cảnh đẹp thiên nhiên đang bày ra trước mắt. Mấy người học trò cung kính chắp tay đứng sau lưng ông.

Bỗng Khổng tử cất tiếng:

– Hôm nay ta muốn các con trả lời câu hỏi:  “Cái gì ở sau lưng người đàn bà?”

Sau vài phút suy nghĩ, Tử Tư bước lên:

– Thưa thầy, sau lưng người đàn bà là một giỏ đầy trách nhiệm. Mời thầy và các bạn nhìn lên đồi sẽ thấy những người phụ nữ đang còng lưng với cái giỏ chè.

Khổng tử chiêu một ngụm rượu, vuốt râu khen Tử Tư:

– Con là người có tấm lòng nhân ái và biết thông cảm với nhân quần. Ta cho con 7 điểm.

Đến lượt Mạnh tử:

– Thưa thầy, sau lưng người đàn bà là không có gì ạ. Bản thân người đàn bà đã quá đẹp, không còn cái gì xung quanh có thể so sánh nổi với người đàn bà nữa rồi.
Ca dao có câu:
Trúc xinh trúc đứng đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh

Khổng tử lại chiêu thêm một ngụm rượu, cười hiền hậu:

– Con có khả năng tư duy logic và là người tin vào Chân Thiện Mỹ. Ta cho con 7 điểm.

Đến lượt Tuân Tử:

– Thưa thầy, sau lưng người đàn bà là nhiều người đàn ông ạ. Đó là những người si mê chạy theo nàng.

Khổng tử cười lớn:

– Con nói đúng. Con biết đề cao sự thực tế và những khía cạnh vật chất trong tư tưởng Khổng Tử. Ta cho con 7 điểm. Tất cả các con đều nói đúng nhưng chỉ mới đưa ra được một câu trả lời chưa khái quát, lại quá phức tạp và có vẻ chữ nghĩa quá!

Đám học trò im lặng chờ thầy đưa ra đáp án. Khổng tử uống nốt chén rượu, chậm rãi nói:

– Rất đơn giản: Ở ngay sau lưng của người đàn bà là cái khoá áo ngực. Hầu hết thời gian trong ngày người đàn bà mặc áo ngực? Ta hiểu các con muốn nói là có những lúc người đàn bà không mặc áo ngực. Những lúc đó thì chúng ta chỉ quan tâm đến phía trước của người đàn bà thôi. Ha ha!

Các môn đồ cúi đầu suy nghĩ. Thầy của họ thật sâu sắc. Thầy dạy cho họ biết bao giờ người ta cũng nhận thức thế giới khách quan như nó vốn có nhưng lại theo quyền lợi của ta.

PHAN CHÍ THẮNG TUYỂN VĂN

Anh Phan Chí Thắng có một nhà thật và ảo một nhà. Nhà thật là nhà số 10. Nhà ảo mà thật là  http://pcthang.vnweblogs.com;  Phan Chí Thắng tuyển văn có ba bài đáng để ý “Bình sinh Hồ Chí Minh” “Gia đình tôi” “Hậu duệ của Hàn Tín”. Đó là một ẩn ngữ thú vị, ban mai cho đời và nắng ấm cho văn.

BÌNH SINH HỒ CHÍ MINH
Phan Chí Thắng gửi Hoàng Kim 
ngày 30. 3 .2008 lúc 11:34:47

Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh
Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành
Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy
Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH

Cách đây mấy ngày trong một cuộc tiếp xúc nhiều người tôi vô tình được nói chuyện với anh H. – cháu nội người đỗ đầu khoa Hội cùng năm với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Dì ruột của anh H lấy anh cả của ông LĐT.  Anh H. kể là được nghe trực tiếp từ ông LĐT về bài tứ tuyệt được thêu trên trướng do 5 nhà cách mạng lão thành Nga gửi đến tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ nghe một lần mà anh H. thuộc lòng cho đến bây giờ thật xứng danh cháu nội cụ Hội Nguyên. Tôi xin chép lại vào đây để Hoàng Kim tham khảo. 

Có vài điểm thắc mắc: 1. Làm sao mà các nhà cách mạng Nga lại làm được thơ tứ tuyệt? Hay là họ nhờ ai đó làm giúp theo ý họ? 2. Các chữ viết hoa trong bài tứ tuyệt được thêu chữ hoa nghĩa là có dụng ý. Ba chữ là lấy từ trong “Hồ Chí Minh”. Còn chữ “Thơm” có phải đó cũng là tên hoạt động của Bác Hồ trong thời gian công tác cùng với 5 nhà cách mạng Nga kia? Hay là một tên gọi khác của Bác mà rất ít người biết? Sơ bộ như thế, các nhà nghiên cứu sẽ tìm câu trả lời.

GIA ĐÌNH TÔI


Phan Chí Thắng

Năm 1957 cha tôi được “sửa sai”. Trên mời cha tôi ra Hà nội nhận công tác. Dịp chỉnh huấn năm 1953 riêng cơ quan cha tôi có 7 người tự tử. Họ bị khép nhiều tội mà họ không hề mắc. Không ai tìm ra cha tôi có tội gì. Cha bị ghép là xuất thân con nhà quan lại bản thân thành phần tiểu tư sản theo cách mạng chưa chắc đã thật lòng. Không thật lòng thì có thể làm cho địch biết đâu đấy?

Cha tôi không tự tử. Sau này cha nói là một phần do cho đến năm đó cha chưa hề biết mặt tôi. Cha sợ nếu chết đi thì tôi sẽ khổ vì không có cha hoặc có cha nhưng cha mang tiếng phản động (vì mình chết rồi lấy ai thanh minh).

Từng là thư ký của tướng Nguyễn Chí Thanh đang là Trưởng ban Chính trị Công an Thừa thiên cha tôi được (hay bị) thuyên chuyển ra Nghệ an chờ nhận công việc mới.

Qua đường dây liên lạc cha nhắn tin đón mẹ con tôi lên chiến khu. Phải lần thứ hai chúng tôi mới đi thoát. Du kích đưa chúng tôi lên rừng bố trí ở trong một căn nhà lá. Sáng hôm sau cha và mấy người trong cơ quan mới đến. Trong số những người mặc bộ bà ba đen đeo xắc cốt giống hệt nhau tôi vẫn đoán ra ai là cha mình và lao vội vào lòng ông.

Sau một tháng đi xuyên rừng chúng tôi mới ra đến Nghệ an. Đoạn nào dễ đi thì tôi tự đi chỗ hiểm trở thì có người cõng tôi. Tôi mới 6 tuổi. Vì hầu hết là đi ban đêm nên chủ yếu là tôi được cõng. Tôi đi qua những địa danh mà sau này tôi không bao giờ quên. (Hôm đầu tháng Tư vừa rồi tôi về Lệ Thuỷ thăm quê của nhà thơ Trần Quang Đạo đại tá Thọ bạn của Đạo khoe ở vùng này có một suối nước nóng 103 độ C tôi nói tôi biết rồi luộc trứng ăn được nhưng hơi nồng vì trong nước có nhiều lưu huỳnh. Thọ ngạc nhiên: “Anh tới suối nước nóng này bao giờ?” tôi nói là từ năm 1953 Thọ tỏ ra rất thú vị).

Qua đất Hà Tĩnh có một đọan chúng tôi được đi “xe lửa” (một toa xe hàng còn sót lại do người đẩy trên quãng đường sắt vẫn còn ray). Ngồi chen chúc trên sàn xe nhưng ai cũng thấy sướng sau những ngày đi bộ xuyên rừng hai chân nứt nẻ toé máu.

Chúng tôi được bố trí nghỉ một ngày ở nhà cụ Phan Châu Trinh. Tôi còn nhỏ quá không biết cụ Phan Châu Trinh là ai thấy mọi người nói về cụ với lòng ngưỡng mộ sâu sắc con tim trẻ thơ của tôi ghi sâu tình cảm với cụ ngay từ lúc đó.

Ra đến Nghệ an cha tôi mới biết là mình bị chuyển sang làm thuế vụ. Ông kiêu hãnh vứt trả quyết định bỏ về ở Nam Vân – Nam Đàn. Phải chăngtừ ngày ấy định mệnh đã gắn tôi Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 vĩnh viễn với mảnh đất Nam Đàn?

Ở Nam Đàn mấy tháng thì hoà bình lập lại đất nước bị chia làm hai miền. Bà ngoại tôi chỉ có hai người con gái mẹ tôi là con đầu cậu tôi đã chết đuối năm lên mười tuổi. Ông ngoại tôi ghét thực dân Pháp bỏ quan (tôi không biết ông làm chức quan gì chắc là chức nhỏ thôi Tôn thất có ít chữ nghĩa thể nào chả được một chức quan) theo bạn sang Lào làm ăn bị ngã nước chết khi bà tôi mới 27 tuổi. Bà ở vậy nuôi con. Bà yêu tôi lắm. Những năm ở Huế tôi sống với bà là chính. Những lần bị Tây đuổi bà một bên nách là tôi bên kia là gói vài cái áo quần và cuộn thuốc Cẩm Lệ.    

Đất nước chia cắt nhớ thương con cháu quá bà dắt dì tôi đi xuyên rừng ra Nghệ an tìm chúng tôi bỏ lại sau lưng nhà cửa ruộng vườn và cuộc sống no đủ dấn thân vào quãng đời gian khổ mấy chục năm trên đất Bắc chiến tranh và nghèo đói. Mẹ tôi dệt vải nhuộm nâu còn bà giã lá gai làm bánh mang ra chợ bán. Có lần bà ngủ gật chày giã phải tay ngón cái từ đó bị tật cong queo cầm điếu thuốc lá rê…

Sau đó cha tôi mua nhà và mảnh ruộng ở Thịnh Sơn Anh Sơn. Ông quyết định về làm ruộng. Không hẳn là ông thấy cần tự cải tạo lao động mà ông không có việc gì để làm ngoài việc tối tối đi dạy bình dân học vụ. Ông làm thơ những bài thơ ông làm thời cải cách ruộng đất sau này ông đốt hết và vĩnh viễn không làm thơ nữa trừ những bài thơ khóc bạn đọc ở đám tang những người bạn ra đi trước ông. Ông cũng không thích tôi làm thơ bài thơ nào tôi viết ra ông cũng xé đi hoặc cất giữ rất bí mật. Ông muốn tôi theo đuổi con đường khoa học kỹ thuật tránh xa chuyện văn chương vì vậy mãi tới năm 56 tuổi khi cha tôi đã mất rồi tôi mới tí toáy viết lách.

Như đã nói năm 1957 trên mời cha tôi ra Hà nội nhận công tác hình như có sự can thiệp của chính Đại tướng Nguyễn Chí Thanh điều này tôi không dám chắc vì tính cha tôi ít khi nói chuyện với con cái về công việc của mình tôi chỉ nghe mẹ nói thế. Ông từ chối về lại ngành công an. Những người bạn vào sinh ra tử năm nào nhưng đã “đấu tố” ông trong chỉnh huấn nay vẫn còn đó ông không muốn làm việc với họ nữa. Thế là ông về làm biên tập viên ở Nhà Xuất bản Sự Thật nay là NXB Chính trị quốc gia. Ông chơi thân với ông Minh Tranh Giám đốc Nhà xuất bản người sau này bị cho là thuộc nhóm xét lại. Bởi vậy cha tôi cứ lẹt đẹt ở chức Trưởng phòng chính trị cho đến lúc về hưu mặc dù từng tham gia dự thảo nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và lãnh tụ. Sau này khi đã già mắc bệnh pa-king-sơn ông không tự đi được nữa song năm nào dịp tết cũng bảo tôi lấy xe đưa ông đi thăm ông Minh Tranh.

Vài tháng sau cha tôi được phân một phòng 24 mét vuông trên tầng hai ở 169 Mai Hắc Đế tiêu chuẩn độc thân. Cha đón mẹ tôi ra Hà nội trước bà ngoại ở lại bán nhà bán ruộng xong thì đưa tôi ra Hà nội.

Tôi có hai cái bình minh đáng nhớ ở Nghệ An. Một lần đi thuyền trên sông Lam. Sương khói lãng đãng trên sông xa xa là những ngọn núi tím mờ bãi ngô xanh mướt hai bên bờ sông tiếng hò lan trên mặt nước thấm vào đâu đó trong không gian tuyệt đẹp bao quanh. Và lần hai là khi bà cháu chúng tôi dắt nhau đi lúc tờ mờ sáng sau lưng là 4 năm thơ ấu của tôi là nấm mộ cô em gái tôi chết khi mới mấy tháng tuổi chỉ vì không có vài viên thuốc cần thiết. Chó sủa ăng ẳng tiễn đưa chúng tôi ra đi không ngày trở lại.”

DÒ ĐIỂM NHẠY CẢM

Phan Chí Thắng

Đã khuya mà cặp vợ chồng trẻ còn hí húi làm gì đó, thì thầm to đến nỗi vọng sang nhà lão Hâm.
– Điểm này nhạy cảm?
– Đúng.
– Điểm này?
– Cũng thế…
– Hi hi.

Vợ chồng hiện đại hay thật, chỉ cho nhau xem các điểm G trên cơ thể. Ngày xưa ai dám, ngượng chết!

Nhưng sao bọn này nhiều điểm G thế nhỉ, mình tìm mãi không ra điểm nào.

Sáng hôm sau đi ăn bún riêu đầu ngõ gặp hai vợ chồng trẻ kia, lão Hâm tủm tỉm khen các bạn chịu khó nghiên cứu khuya thế.

Đã không ngượng thì thôi, tay chồng còn hỏi nếu bác quan tâm thì em gửi kết quả thống kê của bọn em để bác tham khảo.

Sau đây là danh sách các điểm nhạy do vợ chồng nọ tập hợp:


VỢ THẰNG BỜM MẤT CÁI ẤY

Phan Chí Thắng

Ngày xưa thằng Bờm có mỗi cái quạt mo, phú ông gạ đổi bất động sản nó không chịu, gạ đổi gỗ tứ thiết khai thác trộm, động vật quý hiếm nó cũng không chịu. Nó chỉ khoái nắm xôi. Người nông dân chỉ quan tâm cái thiết thực, gắn liền với đời sống của họ nhất.

Hãy hứa cho họ ruộng đất, họ sẽ đi theo bạn làm cách mạng.
Đừng bao giờ cướp đất của họ dưới dạng giải phóng mặt bằng, họ sẽ căm thù bạn tận xương tuỷ.

Ngoài cái quạt mo, thằng Bờm còn có cô vợ “lỗ mũi có tám gánh lông, chồng thương chồng bảo tơ hồng trời cho” mà nó yêu thương hết mức.

Gần đây bỗng nhiên ăn tối rửa bát xong là vợ thằng Bờm chui tọt vào buồng khoá trái cửa, cấm vận chồng. Bờm van vỉ, xin xỏ, doạ nạt kiểu gì cũng không ăn thua. Nó cú lắm, đứng ngoài cửa quát vào:
– Mày có còn là vợ tao nữa không đấy?
– Còn.
– Sao mày không cho tao ấy? Hay mày có thằng nào rồi?
– Không.
– Thế sao cấm vận tao?
– …
– Sao?
– Tao làm mất cái ấy rồi.

Thằng Bờm vô cùng ngạc nhiên. Cái ấy nó dính vào người, mất thế éo nào được?

– Mày mở cửa tao kiểm tra, nếu đúng là mất rồi tao mới tin.

Vợ Bờm mở cửa, Bờm vồ lấy vợ, tụt quần ra xem. Nó cáu lắm:
– Vẫn nguyên đai nguyên kiện, sao bảo mất?

Con vợ vội kéo quần lên thanh minh:
– Đây là bản 2018, còn bản 1996 thì mất rồi.
– Bản éo nào chả được.
– Bản 1996 là bản hôm chúng mình đăng ký kết hôn.
– Sao nghe còn bản 2005 nào nữa?
– Bản 2005 là bản sau khi đẻ thằng Tồ, có điều chỉnh mở rộng.

Thằng Bờm gãi đầu suy nghĩ. Nó vốn chậm hiểu nên nghĩ hơi lâu.
– Thôi được rồi, mày làm mất bản 1996 và bản 2005. Thế bản 2018 thì dùng ngon chứ?

Vợ Bờm cười rung cả tám gánh lông mũi, bảo được nhưng phải chờ các cụ đốt xong cái lò ở Thủ Thiêm đã!


HẬU DUỆ CỦA HÀN TÍN

Phan Chí Thắng

1.    Cụ Vi Văn Định từng làm tổng đốc tỉnh Thái Bình dưới thời Pháp cai trị nổi tiếng đàn áp cách mạng nhưng thực ra cụ là người trí thức cách mạng ngoài miệng cụ chửi cộng sản nhưng ngầm giúp che giấu cán bộ hoạt động bí mật. Hai cuộc họp hội nghị trung ương đảng được tổ chức thành công tại chính nhà cụ trong khi thực dân Pháp ráo riết tìm kiếm khắp nơi. Cụ đã gả hai người con gái là bà Vi Kim Ngọc cho nguyên Bộ trưởng giáo dục chính quyền cách mạng Nguyễn Văn Huyên bà Vi Kim Phú cho giáo sư Hồ Đắc Di nguyên Giám đốc Đại học và gả cô cháu Vi Nguyệt Hồ cho giáo sư Tôn Thất Tùng.

Cụ đã hiến tặng ngôi nhà riêng tại phố Trần Bình Trọng  cho Đảng một thời làm nhà khách Trung ương. Sinh thời cụ và Bác Hồ có qua lại thăm nhau.

2.    Ngồi nói chuyện với Hàn Tín về tài năng của các tướng Lưu Bang hỏi ông:
– Như ta thì có thể cầm được bao nhiêu quân?
Hàn Tín nói:
– Bệ hạ chẳng qua chỉ cầm được mười vạn.
Lưu Bang lại hỏi:
– Thế còn nhà ngươi thì cầm được bao nhiêu?
Hán Tín trả lời:
– Thần thì càng nhiều càng tốt.
Lưu Bang cười nói:
– Càng nhiều càng tốt thì sao lại bị ta bắt?
Hán Tín đáp:
– Bệ hạ không có tài cầm quân nhưng có tài cầm tướng vì vậy cho nên Tín mới bị bệ hạ bắt.
Sau lần đó Lưu Bang càng sợ tài của Tín và quyết trừ khử cho được.

Sử ký Tư Mã Thiên ghi đại ý: Năm 196 TCN Trần Hy làm phản. Lưu Bang thân hành làm tướng đem quân đi đánh. Lã Hậu muốn gọi Hàn Tín vào để giết nhưng sợ ông không đến nên bàn với tướng quốc Tiêu Hà giả vờ sai người từ ngoài chiến trường chỗ Lưu Bang trở về báo tin rằng:
Trần Hy đã chết các chư hầu các quan đều đến mừng.
Tiêu Hà lừa Hàn Tín rằng:
– Tuy ngài ốm cũng xin cố gắng vào mừng.

Hàn Tín theo Tiêu Hà vào cung Lã Hậu lập tức sai võ sĩ trói ông rồi mang chém ở nhà treo chuông trong cung Trường Lạc. Lã Hậu giết tiếp cả ba họ nhà Hàn Tín. Sau khi Lưu Bang đã dẹp xong quân của Trần Hy trở về kinh đô thấy ông đã chết nhà vua vừa mừng vừa thương.

Tiêu Hà trước kia là ân nhân của Hàn Tín ra sức tiến cử ông với Lưu Bang nhưng cuối cùng lại chính Tiêu Hà lừa ông vào cung cho Lã Hậu giết. Bởi vậy đời sau nói rằng Hàn Tín làm nên sự nghiệp nhờ bởi Tiêu Hà mà chết cũng do tay Tiêu Hà.

3. Gần tết lão Hâm sang nhà ông tổ phó dân phố biếu cuốn lịch. Cơ quan in lịch nhiều quá biếu không hết nên chia thêm cho anh em mang đi đối ngoại.

Ông tổ trưởng dân phố người gầy gò thấp bé một mắt bị hỏng trong chiến tranh ông là thương binh loại hai. Ngày ngày hai vợ chồng ngồi dán túi nilon gia công cho người ta. Căn nhà nhỏ một tầng khá giản dị.

Ông tổ phó được phân công lo chuyện cung cấp nước cho dân đi ghi chỉ số công tơ tháng tháng đến từng nhà thu tiền nước. Những ngày hè nước chảy ri rỉ hoặc không chảy các hộ dân cứ nhè ông mà réo mà than phiền. Ông lăn lộn với bà con nên ai cũng quý thấy ông nghèo ai có cái gì cũng cho.

Ông tổ phó pha chè rút bao Thăng Long mời lão Hâm. Chuyện qua chuyện lại lão Hâm mới biết ông tổ phó là cháu của cụ Vi Văn Định – một người lẫy lừng tên tuổi. Khi biết vợ lão Hâm từng học cùng trường với chị Hà con ông Nguyễn Văn Huyên và là cháu ngoại của cụ Vi Văn Định ông tổ phó mới chậm rãi kể về giòng họ Vi mà người ta vẫn cho là người dân tộc Thổ ở Cao Bằng.

Ông tổ phó nói hiện ông còn giữ bộ gia phả giòng họ Vi được chạm trên nhiều tấm đồng lá theo đó chữ Vi chính là cắt ra từ chữ Hàn trong tiếng Hán. Một ngưòi con của Hàn Tín chạy thoát sang Việt nam đổi thành họ Vi sợ hậu thế không biết đến gốc gác của mình là từ Hàn Tín – vị võ tướng hiển hách thời Lưu Hán Đế – nên đã cho làm bản gia phả nói trên.

Lão Hâm ngắm ông tổ phó người nhỏ thó theo tài liệu thì Hàn Tín cũng nhỏ bé thể chất yếu ớt.

Không thể ngờ được là cái ông tổ phó ốm yếu nghèo nàn nhưng cần cù lo cho dân này lại chính là hậu duệ của Hàn Tín.

TIÉNG ĐÀN GUITAR TRONG VƯỜN ĐÊM

Phan Chí Thắng

Một sự sắp đặt kỳ lạ là Hưng và Linh học cùng nhau từ vỡ lòng đến hết phổ thông. Họ thân nhau như trời sinh ra thế, xưng hô mày tao như hai thằng bạn trai và xa nhau thì nhớ như hai cô bạn gái.

Một thứ tình bạn mà trong hoàn cảnh thuận lợi có thể phát triển thành tình yêu. Nhưng tình yêu chưa đến thì hết phổ thông Hưng sang Đức học đại học còn Linh đi công nhân. Bố mất sớm, Linh phải đi làm giúp mẹ nuôi em.

Hưng ở Đức một lèo tám năm, trong tám năm đó anh không về phép. Số tiền dành dụm được anh mua hàng gửi về cứu trợ gia đình. Nếu về phép anh giải quyết được khâu tình cảm, không về phép anh giúp được bố mẹ và các em một số tiền kha khá. Thời chiến nghèo đói buộc con người phải hy sinh tình cảm. Mà cũng là vì tình cảm.

Đôi bạn Hưng Linh thỉnh thoảng trao đổi thư từ. Một tháng thư đi và một tháng thư về. Linh viết ngắn và khô khan. Nàng chỉ là cô công nhân mờ nhạt trong bộ đồ bảo hộ lao động. Còn anh khi về nước đã là ngời ngời ông tiến sĩ, chưa chắc thèm nhận chức giám đốc nhà máy như nhà máy cô đang làm việc. Nàng sợ anh hiểu lầm là nàng muốn đi xa hơn tình bạn.

Về nước Hưng không biết mua quà gì tặng nàng. Quà vật chất sợ nàng không nhận, chính xác là sợ nàng nghĩ anh khoe giàu. Biết hồi nhỏ nàng rất thích chơi guitar, hay mượn đàn của thầy giáo Sơn để tập, Hưng mua một cây guitar xịn tặng nàng.

Hôm anh đến thăm nàng, hai người nhìn nhau ngỡ ngàng. Anh cao lớn trắng trèo, nàng gầy gò xanh xao. Hưng buột miệng sao mày gầy thế. Linh cười ai làm ca đêm chẳng thế

– Có phải làm ca đêm liên tục đâu mà! Hưng phản đối yếu ớt.
– Liên tục. Tao đăng ký làm ca ba để sáng ra còn phụ mẹ bán bún riêu.

Hưng lôi từ trong thùng các tông ra cái đàn guitar trong lớp áo bằng da thật, lặng lặng đặt lên bàn trước mặt Linh: “Quà cho mày đấy!”

Hai mắt Linh mở to không chớp nhìn Hưng. Trong đôi mắt đó từ từ xuất hiện hai giọt nước mắt, chúng to dần rồi lăn xuống má. Hưng nghĩ Linh xúc động trước món quà, anh đẩy nhẹ cây đàn về phía Linh.

Bỗng Linh nhấc hai tay nãy giờ giấu dưới gầm bàn đặt lên lớp áo da cây đàn. Bàn tay trái Linh bị cụt hai ngón. Nàng giải thích cụt lủn:
– Tai nạn lao động. Làm đêm buồn ngủ quá…

Hưng sững người, anh muốn ôm bạn vào lòng mà không dám. Linh không đủ 5 ngón tay để bấm phím cây đàn anh tặng nàng nữa rồi!

Bé Lan, năm đó 14 tuổi, nãy giờ lấp ló ở cửa chạy vụt vào kéo khoá dây, lôi chiếc đàn đẹp như mơ ra khỏi áo bọc:

– Cho em cái đàn này! Cho em cái đàn này!

Cô bé gầy nhẳng, ngực mới nhú, ôm chặt cây đàn Hưng tặng chị nó không muốn rời.

Hưng không thể ngờ chính cây đàn đó quyết định tương lai sau này của Lan, một tương lai rối rắm, lẫn lộn, xen cài giữa vinh quang và đau khổ, danh vọng và bất hạnh.

*

Bẵng một thời gian dài Hưng không gặp hai chị em Linh Lan. Anh quá bận bịu với những chuyến công tác liên miên, và cũng không kém nhức đầu vì các cuộc đấu đá trong cơ quan mà anh đứng về phe nào cũng chết. Rồi lo chuyện gia đình. Vợ anh sức khỏe không tốt, hai con đứa lớp một đứa mẫu giáo lấy đi của anh khá nhiều thời gian.

Một lần ngồi xem chương trình ca nhạc trên VTV, anh thấy một cô ca sĩ xinh đẹp vừa đoạt giải một cuộc thi hát đang tự đệm ghi ta và hát dáng rất giống Linh. Cô gái cao, thon thả có giọng nữ trung ấm áp. Anh gọi cho Linh:

– Linh à, có phải con Lan nhà mình vừa đoạt huy chương vàng Giọng hát hay?

– Đúng rồi, mày gặp nó ở đâu?

– Trên TV.

– Nó vừa nhắn tin mời mày và tao trưa mai đi ăn cơm, chiều mai nó phải bay đi Nga lưu diễn nửa tháng.

Từ đó hễ cứ có mặt ở Hà Nội là nó mời ông anh bà chị đi ăn nhà hàng. Tất nhiên là nó mua nhà cho mẹ và chị ở, sắm cửa hàng cho chị kinh doanh, chấm dứt kiếp làm ca ba của chị. Nhưng nó lại chuyên làm ca ba.

Với cây đàn guitar và chất giọng đẹp, Lan lướt qua phong trào văn nghệ quần chúng, nhanh chóng chiếm chỗ vững chắc trong giới biểu diễn.

Từ cô gái hồn nhiên nghiệp dư, em biến thành người dày dạn chuyên nghiệp.
Em bình thản nhắc đến tên những nhân vật nổi tiếng trong giới showbiz và không riêng giới showbiz. Lần gặp này thấy em vừa sửa mũi, lần gặp sau thấy em mới gọt cằm.

Em đủ thông minh để hiểu Hưng không khoái sắc đẹp dao kéo. Một lần anh vào Sài Gòn gặp đúng lúc em đang khủng khoảng tinh thần. Hình như đang làm thủ tục li dị lần hai. Lan nhắn anh đến chơi.

Lan mời anh ra vườn. Khu vườn được thiết kế tinh tế, ánh sáng lung linh thơ mộng. Lan pha hai ly cocktail, nâng chiếc đàn ngày trước anh tặng Linh, chầm chậm lên dây rồi độc tấu một bản gì đó anh không biết tên. Giai điệu trong sáng, vui vẻ, rộn ràng.

Dứt tiếng đàn, Lan mở to mắt nhìn anh. Anh hiểu trong sâu thẳm, dưới vẻ ngoài lọc lõi, chán chường, bị che khuất bởi những đường nét mỹ viện, vần là một tâm hồn nguyên khôi trong trẻo và thánh thiện.

Lúc tiễn Hưng ra cổng, Lan nắm chặt tay anh:
– Em cảm ơn anh đã hiểu em!

*
Ngày tháng cứ tiếp tục trôi qua, nhìn lại thấy như chớp mắt. Hưng và Linh sang tuổi 72 còn Lan sắp tròn một Hoa giáp. Lan thôi lên sân khấu, lặng lẽ và chăm chỉ làm từ thiện.

Lan mua vé máy bay mời Hưng và Linh vào Sài Gòn dự lễ mừng tròn 60 tuổi ta của em. Hưng ghét trò phô trương ngày nọ ngày kia của giới biểu diễn song lại thương Linh lần đầu tiên đi Sài Gòn mà không có ai đi cùng nên anh nhận lời đi.

Thật bất ngờ, dạ tiệc sinh nhật Lan chỉ có 3 người và tổ chức ngay trong vườn nhà Lan. Đèn điện tắt hết. Chỉ mấy ngọn nến bập bùng.

Lan không bỏ cặp kính mát to che gần nửa khuôn mặt, không tháo chiếc khăn buộc tóc, hình như để che sự tàn phai hoặc tệ hơn, sự hủy hoại của nhan sắc,

Hưng ngồi cạnh Linh trên ghế xích đu. Trong bàn tay to ấm của anh là bàn tay cụt hai ngón của Linh. Số năm họ làm bạn với nhau còn nhiều hơn số tuổi của ca sĩ nổi tiếng Lệ Lan.

Bỗng Lan thổi phụt tắt mấy ngọn nến. Khu vườn mờ ảo trong ánh đèn đường yếu ớt hắt vào.

Lan tháo khăn, bỏ kính, cầm cây đàn Đức búng vài ba phím rồi bỗng cất lên tiếng ca não nề bài Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương:

“… Đêm đông, xa trông cố hương buồn lòng chinh phu
Đêm đông, bên song ngẩn ngơ kìa ai mong chồng
Đêm đông, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư
Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng
Gió nghiêng, chiều say
Gió lay ngàn cây,
Gió nâng thuyền mây
Gió reo sầu miên
Gió đau niềm riêng
Gió than triền miên

Đêm đông…

Hưng cảm thấy giọt nước mắt nóng hổi của Linh rơi trên mu bàn tay mình. Lan nhẹ nhàng đặt cây đàn xuống, sang ngồi cạnh anh Hưng và chị Linh. Ba người cầm tay nhau. Một bàn tay đàn ông ấm ấp, một bàn tay thiếu ngón và một bàn tay mềm mại với những chiếc móng giả. Cả ba người nghe rõ trái tim của hai người kia đang đập mạnh.

Hưng biết anh yêu hai người đàn bà đang ngồi cạnh anh đây, yêu theo cách của anh.

Và anh cảm thấy bất hạnh. Bất hạnh bằng sự bất hạnh của hai chị em Linh Lan cộng lại.

Một đời anh cam chịu trước sự bất hạnh của những người anh yêu thương.”


LỜI GHI THÊM CỦA HOÀNG KIM

Truyện ngắn “Gia đình tôi” của Phan Chí Thắng đã đăng trên sách Nhà số 10 Tập truyện ngắn Nhà Xuất bản Lao Động 2010. Trên hộp thư nhà ảo của bài “Gia đình tôi” có lời nhắn tin của Nguyễn Minh Châu:”Kính gửi Anh Thắng. Có phải Ba của Anh tên là Chư ? Em trai anh tên là Quyết ? Vợ anh tên là Chính ? Con gái anh tên là Thuỷ? Nhà số 10 là số 10 Phùng Hưng ? Nếu đúng như vậy – anh em mình biết nhau đấy từ hồi anh mới học ở Liên Xô về“.

Tôi nhắn anh Thắng:  Cám ơn anh đã tặng bài thơ “GỬI HOÀNG KIM Nghe đêm vỡ giọt bên mành Hương thơm như khẽ lay nhành phong lan  Mưa xa chớp loé trên ngàn Lòng riêng chất chứa muôn vàn thiết tha Ta tìm gặp bạn đường xa Tưởng là thăm bạn hoá ra thăm mình Đêm dài xoè một bình minh…“. Em thêm một câu: “HOA NGƯỜI TRI KỶ ÂN TÌNH ĐÊM ĐÔNG”. Em đồng cảm tiếng tri âm “sau lưng người đàn bà là một giỏ đầy trách nhiệm” trong “Một giờ dạy học của Khổng Tử”   Em hiểu sâu sắc : “Tôi có hai cái bình minh đáng nhớ ở Nghệ An…” trong ‘Gia đình tôi’ và rất muốn anh viết tiếp “Người đàn bà xa lạ” kết nối ’50 năm nhớ lại’ để tỉnh thức điều mới mẻ ‘ĐÊM DÀI XÒE MỘT BÌNH MINH” “HOA NGƯỜI TRI KỶ ÂN TÌNH ĐÊM ĐÔNG” .

Ngoctrongda.JPG

NGỌC PHƯƠNG NAM KHO BÁU CHÍNH MÌNH

Lâm Cúc nhà thơ nữ vốn ám ảnh bạn đọc với tập thơ Đãi Trăng và bài thơ Tháng Ba kỳ ảo được nhiều người biết. Câu chuyện NGỌC TRONG ĐÁ giữa những người bạn quý đã giúp tôi tìm được KHO BÁU CHÍNH MÌNH:  Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn,  Ngọc cho đời,  Ngọc phương Nam, Dưới đáy đại dương là ngọc. Tôi ngộ được minh triết ở Ngày xuân đọc Trạng Trình,  500 năm nông nghiệp Brazil và  Ngọc lục bảo Paulo Coelho  ẩn tàng những niềm vui phúc hậu an nhiên.

ngoctrongda

KHO BÁU CHÍNH MÌNH
Hoàng Kim gửi anh Phan Chi

HOA NGƯỜI. Trong Ngọc lục bảo Paulo Coelho có chuyện một người thợ đá thử 999.999 viên đá, đến viên đá cuối cùng đã tìm được một viên ngọc lục bảo quý giá vô ngần. Ngọc lục bảo của đất nước Brazil là tác phẩm “O Alquimista” là kiệt tác của Paulo Coelho. Tiểu thuyết này được dịch ra 56 thứ tiếng, bán chạy chỉ sau kinh Thánh, đến năm 2008 đã bán được hơn 65 triệu bản trên toàn thế giới. Cuốn sách với tựa đề tiếng Anh là “The Alchemist” do Alan R. Clarke chuyển ngữ, và bản tiếng Việt có tựa đề là “Nhà giả kim” do Lê Chu Cầu dịch, Công ty Văn hóa Truyền thông Nhã Nam và Nhà Xuất bản Văn hóa in và phát hành. Nhà văn Brazil này đã tìm được NGỌC CHO ĐỜI của chính mình.

Tôi theo chân Lão Hâm Phan Chi và một ít người anh người bạn yêu thích để ghi chép một chút gì đó cho riêng mình Đó là một sở thích rất riêng thích làm người thợ đá tìm ngọc. Tôi tâm đắc và tôi tin lời Nguyễn Khải: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại“.“Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”

Cám ơn anh Phan Chi đã có những bài viết gây thao thức không chỉ là văn chương mà là con người, tôi chọn chép lại ở Hoa Người “Bài thơ viên đá thời gian” . Cám ơn anh, cám ơn bạn, cám ơn người thân trong gia đình, nơi tôi yêu thương nhận ra ở họ những phẩm chất trí tuệ và CON NGƯỜI giúp tôi học, làm, dạy và viết, trở thành người thợ đá cần mẫn, học mỗi ngày làm người , tự mình tìm ra kho báu chính mình để thành HOA NGƯỜI.

Ta tìm gặp bạn đường xa
Tưởng là thăm bạn hoá ra thăm mình
Đêm dài xoè một bình minh…
Hoa Người tri kỹ ân tình đêm đông.

 

dauchanthoigian

BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN

Giáo sư tiến sĩ Ngô Kế Sương (người thứ ba bên trái qua hàng đứng ở trong ảnh) và các bạn lớp 1 trường Internat Moskva gặp nhau ngày 15-10-2016 ở nhà hàng ẩm thực Nga 60 Ngọc Khánh Hà Nội, ảnh Phan Chi. Câu chuyện vui có Đôi lời của thầy Ngô Kế Sương:  “Vấn đề của bạn là gì? Bạn không phán xét bất kỳ ai vì bạn biết rằng mỗi người đều có câu chuyện riêng của mình. Đó là lí do tại sao bạn thấy được điều tốt ở tất cả mọi người và không tin rằng bất kỳ ai có thể làm điều gì xấu xa một cách có chủ ý”.

Thầy Ngô Kế Sương là người Thầy sinh hóa sinh lý của nhiều thế hệ sinh viên, là chủ của một gia đình hạnh phúc, bố mẹ của nghệ sĩ nhân dân Hồng Vân, người có chùm ảnh đẹp và lời giới thiệu cực ngắn và thật hay: “Ba người đàn ông của cuộc đời tôi: “Bố – Chồng – Con trai; Cảm ơn Ông Trời đã ban cho tôi ba con người này. Love them for life !!!!”. Thầy có trang Face Book Ngoke Suong nói chuyện về sức khỏe trí tuệ thật nhân hậu. Thầy Sương thuộc thế hệ chuyên gia sinh học đầu tiên của nước Việt Nam mới, được đào tạo tại Liên Xô. Thầy dạy khối sinh viên Trồng trọt 2 Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh là lứa tuyển sinh thứ 2 sau ngày Việt Nam thống nhất. Tôi đã kể chuyện này trong Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Do sự yêu thích học để làm “nhà phù thủy sinh học”  nên tôi thực sự ngưỡng mộ những danh sư như thầy Đào Thế Tuấn, Mai Văn Quyền, Trịnh Xuân Vũ,  Ngô Kế Sương, Lê Văn Tố, Nguyễn Văn Uyển, Lê Doãn Diên, Chu Phạm Ngọc Sơn. … Câu chuyện “nhà giả kim” (The Alchemist) Ngọc lục bảo Paulo Coelho Ngọc trong đá là một sự liên tưởng thú vị.

BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN thoạt đầu là chuyện  đời thường nhưng, thầy bạn ơi, về cuối sẽ có ‘dấu hiệu’ thú vị, tại thời điểm thích hợp.

Hoàng Kim

Notes:

LƯU LẠI CÁC GHI GHÉP TẢN MẠN

Tôi sau này theo hướng chọn giống cây lương thực, cây thực phẩm (sắn, khoai, ngô lúa, đậu đỗ) và nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ thâm canh tổng hợp hệ canh tác cây trồng vật nuôi lấy lúa – hoa màu làm nền. Mục đích đời tôi nhằm chuyên sâu chọn tạo giống cây lương thực và xây dựng quy trình canh tác thích hợp bền vững để nâng cao năng suất chất lượng sản lượng và thu nhận đời sống cho các hộ nông dân. Mơ ước tuổi thơ đầu đời “thích làm nhà phù thủy cây lương thực” và các bài nông sinh học đầu đời thành hành trang quý cho tôi lập nghiệp. Lạ lùng thay ước mơ sống giữa thiên nhiên nhởn nhơ cùng thầy quý bạn hiền, chọn lưu lại những viên đá ngọc cứ ám ảnh suốt tôi.  Những lời nhắc như của  thầy Lê Văn Ký của chúng tôi  “Hồn Tổ quốc ngự giữa rừng sâu thẳm. Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong !”, về với ruộng đồng lại là điều mà tôi yêu thích hơn cả. Tôi đã được trãi nghiệm thăm thú qua hầu hết Vườn Quốc gia ở Việt Nam do sự yêu thích và những chỉ dấu này. Vườn Quốc gia ở Việt Nam, những chỉ dấu lịch sử văn hóa đất nước con người Việt Nam và Thế Giới, các danh lam thắng cảnh tôi thực sự hanm thích. Đó  là những quà tặng vô giá trên quê hương Việt Nam yêu dấu mà chúng ta may mắn được thừa hưởng, là những điểm đến du lịch đáng ao ước của cả đời người, các điểm nhấn bảo tồn thiên nhiên và di sản lịch sử văn hóa.

Bài thơ viên đá thời gian là câu chuyện tiếp nối  Ngọc phương Nam kho báu chính mình Tôi đang trở về vùng ký ức như nhân vật trong chuyện Ngọc lục bảo Paulo Coelho. Nơi đó tôi nhận ra thầy Ngô Kế Sương và nhóm bạn Nga cùng Victor Thắng, người viết Người đàn bà xa lạ” tác phẩm văn học  “50 năm nhớ lại”, Nhà Xuất bản Lao Động, năm 2016, trang 193-197, là người chụp hình không có trong ảnh.

 

hoahuyenvamaiviet

Chúng tôi cũng có câu chuyện của riêng mình. Nhà tôi Nguyễn Thị Thủy, nói với anh Hoa Huyền năm 2007: “Gia đình em có được ngôi nhà này cũng vất vả lắm. Nhà bắt đầu làm từ năm 1986 mãi cho đến năm 2003 sau 18 năm mới hoàn thành đấy anh à. Công việc nghiên cứu khoa học và thầy giáo nghề nông dành dụm được thế này là thật cố gắng”. Tôi có bài viết Hoa Huyền cùng với các trao đổi của thầy bạn.

dauchanthoigian2
HOA NGƯỜI
Hoàng Kim

Đầu xuân gặp bạn thật mừng vui
Rượu ngọt trà thơm sóng sánh mời
NƯỚC suối ban mai trong tựa ngọc
OANH vàng CÚC tím nắng xuân tươi.

MÂY TRẮNG quyện lưng trời lãng đãng
Thiên NGA từng cặp nhởn nhơ bay
Nhớ xưa CHIẾN SỰ vùng đất lửa
HÒA bình về lại Chứa Chan nay.

Sóng nhạc yêu thương lời cảm mến
KIM Kiều tái ngộ rộn ràng vui
Anh HÙNG thanh thản mừng “Xuân cảm”
“Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi”.

Hoàng Kim

dauchanthoigian

9 NĂM LÀ BẤY NHIÊU NGÀY? anh Phan Chí Thắng viết: “9 năm trước, ngày 31 tháng 10 năm 2007, tôi cùng nhà văn Hoàng Đình Quang và nhà thơ Hoa Huyền đến thăm gia đình tiến sĩ nông học Hoàng Kim ở Dầu Giây. Ngày 18 tháng 10 năm nay (2016) tôi có dịp quay lại. Nhiều thứ đã thay đổi cùng thời gian, riêng tình bạn thì bền chặt hơn”.

Cám ơn tình bạn cao quý đã giúp tôi neo đậu Bài thơ Viên đá Thời gian, các ghi chép Phan Chí Thắng và Hoa Của Đất, Ngọc trong đá và phần đầu của Dấu chân thời gian. Trong bài Lương Định Của quê hương và dòng họ  tôi đã tâm đắc nhận thấy sự nuôi dưỡng của vùng đất lành Nam Bộ và sự chung sức của con người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam mà có được những vùng danh thắng như  Hà Tiên thập vịnh Mạc Thiên Tích. Tình bạn trân quý đã mang đến cho gia đình tôi nói riệng và cộng đồng nói chung  Lộc xuân cuộc đời.

TỪ LỀU THƠ THÀNH LẦU THƠ VĂN, Giáo sư Lê Văn Tố đùa vui ngợi khen nhóm bạn hữu chúng tôi đã bay qua giấc mơ, mỗi ngày tình bạn thêm bền chặt hơn, năng lượng ngày một dồi dào hơn và bài viết có vẻ ngày một chắc tay và đằm thắm hơn. Tôi cũng “bị” (được) nhà thơ Hoa Huyền, nhà báo Kim Loan với một số bạn thân khác cứ gọi bừa là ‘giáo sư’ trong khi tôi không hề bén được tới danh hiệu cao quý ấy. Tôi chỉ là hoa của đất đã trực tiếp làm thầy hướng dẫn của 5 tiến sĩ, 12 thạc sĩ, 98 kỹ sư nông học, có được 27 giống cây trồng tốt và 5 tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhưng đó chỉ là sản phẩm một thời. Tôi đã viết bài thơ “Ước noi cụ Trạng ưa duyên thắm”  họa thơ Hoa Huyền

ƯỚC NOI CỤ TRẠNG ƯA DUYÊN THẮM

Hoàng Kim

Gửi Hoa Huyền

Tui chỉ mới là thuộc sách (TS) thôi.
Giảng sách (GS) xem ra chửa tới nơi.
Vui việc cứ LÀM chưa vội DẠY
Nói nhiều làm ít sợ chê cười.

Cổ điển  honda không biết chạy
Canh tân blog viết đôi bài
Quanh quẩn chỉ là ngô khoai sắn
Vô bờ biển HỌC dám đơn sai.

Ước noi cụ Trạng ưa duyên thắm
Nịnh vợ  không quên việc trả bài
An nhàn vô sự là tiên  đấy
Thung dung đèn sách, thảnh thơi chơi.

(Nguồn: Thơ cho con)

HoacuaDat999

HOA ĐẤT

Hoàng Kim

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng…

NHÀ TÔI

(My Home, Hoàng Kim)

Trăng rằm, Hoa Đất
Gốc mai vàng trước ngõ

Nhà tôi có chim về làm tổ
Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng

Thơ cho con, Ngọc cho đời
Đêm trắng và bình minh
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Minh triết sống thung dung phúc hậu

Linh Giang dòng sông quê hương
Đất mẹ vùng di sản
Đến chốn thung dung
Nhớ miền Đông,
Phan Thiết có nhà tôi

Dạo chơi non nước Việt
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng
Sông Thương,ta về trời đất Hồng Lam
Chút Huế cho em, Ngày mới, Ngày xuân đọc Trạng Trình

Giấc mơ hạnh phúc
Đầy đặn yêu thương
Ong và Hoa, Ngọc phương Nam
Tình yêu cuộc sống

DSC00738

Tôi đang đọc bài thì nhà tôi chạy vào: “Nấm ngon nhà mình nhiều quá ! kín cả dưới gốc bồ đề và vườn mai trước ngõ. Anh ra chụp ảnh đi, đẹp quá!” Tôi chạy ra. Trời, cơ man là nấm ngon trắng xóa đất. Đúng là nhà có lộc! Chúng tôi trồng nhiều cây bóng mát, không săn bắn nên nhà tôi có chim về làm tổ và dưới gốc cây có nấm ngon để ăn. Tôi gọi nấm ngon và người hiền là Hoa của Đất. Ai ao ước những chuyện cao siêu, chúng tôi thì ao ước sự bình an, yêu thương, làm người hiền “hoa của đất” và có nấm ngon để chén… Nấm ngon và người hiền là Hoa của Đất.

DSC00734

DSC00736

DSC00739

Nấm ngon vườn nhà tôi

Triết lý nhân sinh của gia đình tôi thật giản dị “Người khôn về chốn đông người. Cái nhìn thì mỏng, cái cười thì nông. Ta vui ở lại ruộng đồng. Để gieo tục ngữ để trồng dân ca, Thỏa thuê cùng với cỏ hoa. Thung dung đọc sách nhẫn nha dọn vườn. Mặc ai tính thiệt so hơn Bát cơm gạo mới vẫn thơm láng giềng. Thiên nhiên là thú thần tiên, Chân quê là chốn bình yên đời mình. Bạn hiền bia miệng anh linh. Thảnh thơi hưởng trọn ân tình thế gian. Nước khơi ngập ánh trăng vàng. Ta ra cởi bỏ nhọc nhằn âu lo. Lợi danh một thực mười hư. Trăm điều ước vọng chỉ phù du thôi. Thung dung thanh thản cuộc đời. Tình quê bồi đắp về nơi sâu đằm. Ta về hát khúc trăm năm. Chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao“.

Tôi thích DẠY VÀ HỌC, TÌNH YÊU CUỘC SỐNG, thích lắng nghe đất trời , cổ vật và con người kể chuyện lịch sử văn hóa, thích dạy, học và thực hành những bài học minh triết, chí thiện, tải đạo, chứa đựng tinh hoa làm người và có năng lượng cao. Tôi thích câu chuyện cuộc đời và thơ văn của Trạng Trình, Nguyễn Du, Đào Duy Từ, Kim Dung hơn các nhà văn khác, tâm đắc với  Nguyễn Hiến Lê học và viết, Nguyễn Khải, ngọc cho đời và diễn từ của Mạc Ngôn “viết là cách nói tốt nhất”. Đời tôi vui sống thung dung vì chính mình: Hạnh phúc đối thoại triết học,  Minh triết sống thung dung phúc hậu, Ngọc phương Nam, Tình yêu cuộc sống, …

Dấu chân thời gian là câu chuyện nhà tôi, hoa của đất.

Hoàng Kim

(*) Notes của Hoàng Kim: Nguyễn Hiến Lê học và viết là trí tuệ bậc Thầy, ngọn đèn văn hóa, sao sáng trời Nam. Cuộc đời và di sản của danh nhân Nguyễn Hiến Lê là mẫu mực nhân cách người hiền còn mãi với thời gian. Trong “Lời mở đầu” tác phẩm “Đời viết văn của tôi” Nguyễn Hiến Lê đã viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời. Tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Nguyễn Khải, ngọc cho đời cũng nói những lời thật tâm huyết: “Trên cuộc đời không có bước đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải vượt qua được những ranh giới ấy”.“Tôi viết vậy thì tôi tồn tại! Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”. Lắng nghe Mạc Ngôn kể chuyện, Mạc Ngôn cũng nói: “Đối với một tác giả, viết là cách nói tốt nhất”

Mạc Ngôn  là một trong ba nhà văn đương đại Trung Quốc mà tôi yêu thích và tôi đã viết ở DẠY VÀ HỌC – Kim Dung, Vương Mông, Mạc Ngôn: bạn thích ai? .Theo Mạc Ngôn: “Đối với một tác giả, viết là cách nói tốt nhất. Các bạn sẽ tìm thấy mọi điều tôi muốn nói trong các tác phẩm của tôi. Lời nói bị gió cuốn đi, còn những câu chữ đã được viết ra thì không bao giờ bị xóa bỏ. Tôi mong các bạn hãy kiên nhẫn đọc các cuốn sách của tôi. Tôi không thể ép buộc các bạn, và ngay cả khi các bạn làm như vậy thì tôi cũng không trông chờ các bạn thay đổi ý kiến về tôi. Chưa có tác giả nào, dù ở bất cứ nơi đâu, lại được mọi độc giả của mình yêu thích; điều đó đặc biệt đúng trong những lúc như thế này“.

Mạc Ngôn kể chuyện về mẹ, về đất mẹ, về sự hình thành và ra đời của tác phẩm lớn “Ngực lớn mông rộng” (“Báu vật của đời”). Ông đã kính tặng hương hồn mẹ, tác phẩm đỉnh cao đưa ông đến giải Nobel văn chương. Cuối diễn từ, Mạc Ngôn kể tiếp câu chuyện thú vị:

Xin vui lòng nghe tôi, chỉ một câu chuyện cuối nữa thôi, câu chuyện mà nhiều năm trước ông tôi đã kể cho tôi: Một nhóm tám người thợ xây ở ngoại thành đến trú bão trong một ngôi đền. Sấm ầm ầm bên ngoài, trút những quả cầu lửa xuống chỗ họ. Họ thậm chí còn nghe thấy cả âm thanh tựa rồng thét. Họ kinh hãi, mặt tái mét. Một người nói: “Trong chúng ta có một người nào đó hẳn là đã gây tội khủng khiếp đối với trời. Ai có tội thì tình nguyện bước ra nhận lấy hình phạt và cứu những người vô tội khỏi sự đau đớn”. Tất nhiên chẳng có ai tình nguyện. Cho nên một trong số bảy người còn lại đề nghị: “Vì không ai muốn bước ra, nên tất cả chúng ta hãy quăng mũ rơm của mình ra cửa. Mũ của ai bay qua cửa thì người ấy có tội, và chúng ta sẽ đòi người ấy bước ra và nhận lấy hình phạt của mình”. Thế là họ quăng mũ của mình ra cửa. Bảy cái bị thổi ngược vào trong, một cái bay ra ngoài. Một người bị buộc bước ra và nhận lấy hình phạt của anh ta, và khi anh ta không chịu, bảy người còn lại nhấc bổng anh ta lên và quẳng anh ta ra cửa. Tôi dám cá rằng các bạn đều biết kết cục của câu chuyện: Ngôi đền sụp xuống ngay sau khi anh ta bị quẳng ra khỏi cửa.” Tôi là một người kể chuyện. Kể chuyện đã giúp tôi có được giải Nobel văn học. Nhiều điều thú vị đã đến với tôi sau khi đuợc giải thưởng này, và chúng thuyết phục tôi rằng sự thật cũng như công lý vẫn tồn tại, vững vàng.

Vì thế trong thời gian tới tôi sẽ tiếp tục kể những câu chuyện của mình. Cảm ơn mọi người!”

 

Bài viết mới

Anh Phan Chí viết ngày 1 tháng 5: “Bạn này có nét giống bạn Bun. Ảnh chụp khi mới sang Moskva năm 1957 học lớp 2. Hỏi sao lại cười chúm chím, bảo răng sún nên không dám cười! Cảm ơn chị Tú Uyên đã gửi ảnh! “

Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình

Đại hội thứ 19 Đảng Cộng Sản Trung Quốc khai mạc ngày 18 tháng 10 năm 2017. Trung Quốc đã bước vào “thời đại mới” và cần đóng vai trò “trung tâm trên thế giới”, theo Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Ông Tập, người cầm quyền năm 2012, đã củng cố được quyền lực và dự kiến sẽ tiếp tục tại vị. Giảm Đặng tăng Mao đề cao ý Tập, đài BBC bình luận. Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình từ ‘Có lý, có lợi, đúng lúc’ đến ’14 điểm chính sách và ba trọng tâm’. Việt Nam tự cũng cố, trầm tĩnh theo dõi.

Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình là nghiên cứu lịch sử của Hoàng Kim, góp phần tìm hiểu bình sinh Mao Trạch Đông và bình sinh Tập Cận Bình. Bài 1 đã được đăng năm 2015 . Bài 2 đã được đăng năm 2016.  Bài 3 nối tiếp hai bài trên và đã được tổng hợp đúc kết đăng vào ngày 10 tháng 10 năm 2017 là ngày kỷ niệm năm 1911 Cách Mạng Tân Hợi đã mang lại thành công trên toàn nước Trung Quốc để sau này Trung Hoa Dân Quốc chọn làm Quốc Khánh, làm sụp đổ hoàn toàn chế độ phong kiến nhà Thanh sau 2 tháng khởi nghĩa. Ngày 10 tháng 10 năm 1954 Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào tiếp quản Hà Nội từ tay người Pháp sau Chiến tranh Đông Dương. Ngày 10 tháng 10 năm 2010 là Đại lễ 1000 năm Thăng Long, Hà Nội được tổ chức nhằm kỷ niệm 1.000 năm Lý Thái Tổ ban chiếu dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long.

Mời bạn đọc lại bài 3 Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình và xem tiếp bài 4 dưới đây tổng hợp diễn biến mới nhất bên lề chính sử của thời cuộc.

Tập Cận Bình những chính sách lớn dường như đang phát huy tác dụng. Theo nhà báo Hiệu Minh ngày 19 tháng 10 năm  2017 trích dẫn số liệu của Tổng cục Thống kê Hoa Kỳ về bức tranh xuất nhập khẩu Trung Quốc Hoa Kỳ (1985-2017), với đường mầu xanh là Trung Quốc xuất sang Mỹ và đường mầu đỏ là Trung Quốc nhập từ Mỹ. Trung Quốc thắng lớn trong toàn cầu hóa, năm 2017 Mỹ nhập siêu 239 tỷ từ Trung Quốc so với năm 2016 là 347 tỷ đô la.  Mỹ bị thua thiệt kinh tế trong chiến lược toàn cầu. GDP Trung Quốc đạt 11 ngàn tỷ đô la năm 2016 chỉ đứng sau Hoa Kỳ với 18 ngàn tỷ, chỉ tính riêng tỉnh Quảng Đông thì GPD của họ đã gấp 5 lần GPD của Việt Nam.

Tập Cận Bình những chính sách lớn là khá nhất quán từ ngày 18 tháng 10 năm 2010, khi ông giữ chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương đến ngày 15 tháng 11 năm 2012 được bầu làm Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, đến sau ngày 14 tháng 3 năm 2013, khi ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực ở quốc gia đông dân nhất thế giới. Năm năm qua, ông Tập đã liệt kê những thành tựu của Trung Quốc trong nhiệm kỳ (2012-2017) của ông: Về đối nội thực hiện chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi, săn sói, quét muỗi”, chống tham nhũng khiến hơn một triệu quan chức bị xử phạt, hiện đại hóa quân đội, quyết liệt làm “Tứ Toàn” (Bốn toàn diện): “Xây dựng kinh tế xã hội thịnh vượng toàn diện; Cải tổ xã hội sâu sắc toàn diện; Thực hiện Nhà nước pháp quyền toàn diện; Thực thi kỷ cương Đảng toàn diện”. Ông kêu gọi các đảng viên “luôn gắn bó với người dân, dốc tâm trí xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân”. Về đối ngoại, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vạch chiến lược “3 mũi nhọn” thâu tóm châu Á và đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn, khởi xướng và thực thi chiến lược ‘liên Nga, bạn Ấn, mở rộng ảnh hưởng Á Âu Phi’  “một vành đai, một con đường”, xử lý vấn đề biển Hoa Đông, lưỡi bò biển Đông, đưa tầu chiến áp sát cuộc tập trận NATO, trỗi dậy thách thức Mỹ về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế.

Trung Quốc trong nhiệm kỳ tiếp theo của Tập Cận Bình đang rời bỏ vị thế “ẩn mình chờ thời” mà đã bước ra vũ đài thế giới khẳng định Trung Quốc như một cường quốc hàng đầu thế giới, theo giới quan sát. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố Trung Quốc bước vào “thời đại mới” và cần đóng vai trò “trung tâm trên thế giới”, nhờ “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” và cho thấy có “lựa chọn mới” cho các nước. Ông phát biểu khai mạc Đại hội Đảng 19 với 14 điểm chính sách và ba trọng tâm.

Giảm Đặng tăng Mao đề cao ý Tập. Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình từ ‘Có lý, có lợi, đúng lúc’ đến ’14 điểm chính sách và ba trọng tâm’.

Việt Nam tự cũng cố trầm tĩnh theo dõi.

Những bài viết có liên quan
Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình
Biển Đông vạn dặm
Qua Trường Giang nhớ Mekong
Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết Sơn
Trận Vũ Hán bài học lịch sử
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Minh triết sống thung dung phúc hậu
Trí tuệ bậc Thầy

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter

Bài ca Trường Quảng Trạch

BÀI CA TRƯỜNG QUẢNG TRẠCH. “Trường Quảng Trạch trên miền Quảng Thọ/ Tên trường ta chữ đỏ vàng son/ Tên Tổ Quốc, tên yêu thương / Thơm dòng sữa mẹ quê hương xa gần … Thầy Trần Đình Côn, hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quảng Trạch chúng tôi đã viết về mái trường thân yêu như vậy. Về lại mái trường bên dòng Gianh là về suối nguồn hạnh phúc, về lại dòng sông quê hương thao thiết chảy. Thầy Phạm Ngọc Căng, thầy Châu, thầy Thành … vui gặp cựu học sinh Trường Quảng Trạch đã xúc động “Ta gặp nhau từ lúc tóc còn xanh/ Nay tìm lại thì đầu đã bạc/ Để nhớ một thời cùng toàn dân đánh giặc/ Gian khổ chất chồng, mất mát đau thương/ Bốn mươi năm thầy bạn tỏa muôn phương/ Nay ôn lại thầy trò thời chống Mỹ/ Trăm khuôn mặt anh chị nào cũng quý/ Bình dị, chân thành, tình nghĩa, thuỷ chung/ Nét đẹp quê hương Quảng Trạch anh hùng…”  “Chúng tôi sà vào lòng Thầy mà trẻ lại”. Lời anh Đinh Đình Chiến cũng là tâm sự của tất cả chúng tôi. Lời của Thầy theo mãi bước em đi. Bài ca Trường Quảng Trạch như dòng sông Gianh quê hương chảy mãi.


BÀI CA TRƯỜNG QUẢNG TRẠCH
Trần Đình Côn
Hiệu trưởng

Hồi tưởng lại một mùa thu ấy
Mấy thu rồi biết mấy đổi thay
Khởi công ròng rã tháng ngày
Dốc lòng, dốc sức dựng xây trường mình.

Vùng cát trắng biến thành ao cá
Rừng dương xanh lộng gió vi vu
Giếng thơi trong suốt ngọt ngào
Cổng trường cao rộng đón chào anh em

Trường Quảng Trạch trên miền Quảng Thọ
Tên trường ta chữ đỏ vàng son
Tên Tổ Quốc, tên yêu thương
Thơm dòng sữa mẹ quê hương xa gần

Phòng học mới cửa xanh, ngói đỏ
Lá cờ sao trước gió tung bay
Tình em, tình bạn, tình thầy
Mỗi ngày thêm nặng, mỗi ngày thêm sâu.

Lòng những tưởng khởi đầu vất vả
Để năm sau tất cả tiến lên
Ai ngờ giặc Mỹ đê hèn
Tường vôi tan nát, khói hoen mặt người.

Cuộc sống đã sáng ngời lửa thép
Đạn bom nào uy hiếp được ta
Cổng trường, mái ngói, tường hoa
Đã thành gạch vụn xót xa hận thù

Đã đến lúc thầy trò sơ tán
Xa thị thành về tận xóm thôn
Bầu Mây, Phù Hợp, Đồng Dương
Trắng trong cồn cát mái trường thêm xinh

Phá trường ngói trường tranh ta dựng
Đắp luỹ dày, hầm vững, hào sâu
Khiêng bàn, vác gỗ đêm thâu
Lưng trời đạn xé, ngang đầu bom rơi.

Nơi Hầm Cối 3 xa vời em đến
Qua Khe Sâu 4 đá nghiến nát chân
Nhớ khi bụng đói lạc đường
Càng căm giặc Mỹ, càng thương chúng mình.

Chí đã quyết hi sinh chẳng quản
Lòng đã tin vào Đảng , vào dân
Kết liền lưc lượng Công Nông
Ghi sâu tình bạn Hải quân anh hùng

Sông Gianh đó vẫy vùng một cõi
Thép hạm tàu chói lọi chiến công
Đôi ta chiến đấu hợp đồng 5
Vít đầu giặc Mỹ xuôi dòng nước xanh.

Ngày thêm nặng mối tình kết nghĩa
Nơi “vườn đào” đất mẹ Phù Lưu 6
Cùng nhau chung một chiến hào
Trao quà chiến thắng vui nào vui hơn

Từ ấy đã nghìn đêm có lẽ
Có phút nào giặc Mỹ để yên
Chất chồng tội ác ngày đêm
Lửa thù rực cháy đốt tim muôn người

Ôi những cảnh rụng rời thê thảm
Mái nhà tranh giáo án thành tro
Mẹ già, anh chị, em thơ
Xương bay, thịt nát, cửa nhà tan hoang

Lớp học đó chiến trường em đó
Nín đi em hãy cố học chăm
Giành điểm bốn, giành điểm năm
Ấy là diệt Mỹ chiến công hàng ngày.

Đã có bạn có thầy giúp đỡ
Khó khăn nào lại khó vượt qua
Miếng khi đói gói khi no
Lưng cơm hạt muối giúp cho bạn nghèo

Thương em cảnh gieo neo mẹ mất
Lại cha già giặc giết hôm qua
Tình thầy tình bạn tình cha
Ấy là tình Đảng thiết tha mặn nồng.

Có những lúc đêm đông giá rét
Thầy bên em ai biết ai hay
Hầm luỹ thép, ngọn đèn khuya
Mùa đông sưởi ấm, mùa hè mát sao.

Nào Văn học lại nào Toán Lý
Giảng cho em nhớ kỹ từng lời
Cho em học một biết mười
Cho em học chóng nên người tài cao

Dắt em tận năm châu bốn biển
Mắt nhìn xa nghĩ đến mai sau
Đây Lạng Sơn đó Cà Mau
Giang sơn hùng vĩ, địa cầu lừng danh

Đưa em lên sao Kim sao Hoả
Để em nhìn cho rõ nước ta
Hiểu ngày nay ,hiểu ngày xưa
Hùng Vương, Nguyễn Trãi gần là Quang Trung

Em càng hiểu anh hùng thời đại
Có Bác Hồ chỉ lối ta đi
Dù địch phá, dù gian nguy
Trường ta vững lái cứ đi cứ về

Tuổi thanh niên sơ gì việc khó
Khó khăn nhiều tiến bộ càng nhanh
Đã nuôi chí lớn ắt thành
Có thầy, có bạn, có mình, có ta.

Thiếu phấn viết làm ra phấn viết
Sách giáo khoa ta chép thâu đêm
Sản xuất kết hợp học học hành
Như chim đủ cánh cất mình bay cao.

Ruộng tăng sản bèo dâu xanh biếc
Cấy thẳng hàng buốt thịt xương đau
Độ pH cách trừ sâu
Chiêm mùa sau trước trước sau khác gì.

Sổ tay đó em ghi phân bón
Ước mơ sao năm tấn thành công
Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông
Bức tranh tuyệt đẹp ruộng đồng bao la

Những đêm sáng trăng ngà trong suốt
Vút lên cao thánh thót lời ca
“Hoa Pơ lang” 7 ấy bông hoa
Tây Nguyên đẹp nhất thiết tha gửi lời
“Nổ trống lên rừng núi ơi” 8
“Bài ca may áo” 9 “Mặc người dèm pha” 10

Thân múa dẽo kết “Hoa Sen” 11 trắng
Giữa hội trường rực sáng đèn xanh
Tưởng chừng lạc đến cảnh tiên
Tưởng chừng thiếu nữ ở miền Thiên Thai.

Ai biết đó con người nghèo khổ
Con Công Nông bỗng hoá thành tiên
Rủ bùn em bước đi lên
Bùn tanh mà đã lọc nên hương trời.

Trường ta đó ấy nơi rèn luyện
Mấy năm qua bao chuyện anh hùng
Ngày xưa Phù Đổng Thiên Vương
Ta nay lớn mạnh phi thường lạ chưa?

Trong chiến đấu xông pha diệt Mỹ
Lập công đầu dũng sĩ tiền phương
Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan
Châu Âu châu Á từ trường mà ra

Dù ở tận Cu Ba châu Mỹ
Vẫn ngày đêm suy nghĩ về ta
Dú cho ở lại quê nhà
Xóm thôn xã vắng vẫn lo sớm chiều

Lo nước đủ phân nhiều lúa tốt
Cảnh ruộng đồng hợp tác vui thay
Mỗi khi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt nhớ thầy năm xưa

Ôi có những phút giờ sung sướng
Là những khi cờ Đảng trao tay 12
Anh em bè bạn sum vầy
Tiếng cười xen tiếng vỗ tay kéo dài

Có những lúc nghe đài Hà Nội
Vang truyền đi thế giới gần xa
Tin trường ta, tin chúng ta
Hả lòng, hả dạ ước mơ nào bằng

Có những lúc báo Đoàn báo Đảng
Đăng tin trường khai giảng thành công
Tin một năm, tin ba năm
Như luồng gió mới lửa hồng bùng lên

Trên màn bạc giữa nền ánh điện
Phim trường ta chiếu rạng khắp mơi  13
Châu Âu châu Mỹ xa xôi
Năm câu bốn biển rõ mười tin vui

Hay biết mấy xem người trong ảnh
Ta xem ta xem cảnh trường ta
Này hầm, này luỹ, này nhà
Kìa thầy kìa bạn kìa là xã viên

Phù Lưu đó ruộng liền thẳng cánh
Bầu Mây đây đúng cảnh trong phim
Sáng bừng như mặt trời lên
Chói ngời như một niềm tin tuyệt trần.

Chào 68 mùa xuân tuyệt đẹp
Cả trường đang vang nhịp tiến công
Đón xuân với cả tấm lòng
Đầy trời lửa đạn súng giòn chào ta

Duyên thiên lý một nhà sum họp
Người tuy đông mà một lòng son
Nào khách quý nào tri âm
Bốn phương quy tụ xa gần về đây

Thời gian hỡi dừng ngay cánh lại
Giờ vui ơi xin hãy khoan thai
Rượu nồng chưa uống mà say
Bữa ăn quên đói, chuyện dài thâu canh

Vui gặp chị gặp anh thân thiết
Chuyện xa gần khôn xiết nói sao
Yêu nhau xin nhớ lời nhau
Thù chung đã nặng càng sâu thù nhà

Con khôn lớn mẹ cha đẹp mặt
Trường vững vàng Đảng ắt mừng vui
Cờ hồng bạn lại trao tay 14
Phất cao cho đến tầng mây xa vời

Sức ta ước chọc trời khuấy nước
Khó khăn nào chặn bước ta đi
Mỗi năm xuân đến một thì
Xuân này hơn hẵn mấy kỳ xuân qua.

Có nghe chăng Bác Hồ ra lệnh
“Tiến lên toàn thắng ắt về ta”
Tiến lên giành lấy tự do
Tiến lên giành lấy thời cơ diệt thù

Hồi tưởng lại những mùa thu ấy
Bao ngày qua biết mấy buồn vui
“Đắng cay nay mới ngọt bùi
Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”

Lời Bác dạy ghi sâu trong dạ
Ngọn đèn pha chiếu toả muôn nơi
Trang sách rộng nghĩa đường đời
Học hành kết hợp nên người tài ba

Nay sum họp mai đà li biệt
Tiễn người đi lại tiếp người vào
Kể sao vui sướng dạt dàoào
Người sao vương vấn ra vào băn khoăn

Đã vì Đảng vì Dân vì Nước
Tiến lên đi nhanh bước tiến lên
Lòng thầy luôn ở bên em
Đường lên sao Hoả, sao Kim xa gì?

Đi đâu cũng hướng về Quảng Trạch
Cũng có ngày gặp mặt các em
Nhắc bao kỷ niệm êm đềm
Báo công nghi tiếp nên thiên sử vàng …

7.11.1968

Trần Đình Côn

1) Xã trường đóng từ 9/1962- 6/1965
2) Những tên đất, tên làng trường sơ tán từ 1965 đến1968
3) Tên rú nơi các em đi lấy gỗ
4) Tên khe nơi các em đi qua
5) Trận chiến đấu hợp đồng giữa Trường và đơn vị kết nghĩa Hải quân sông Gianh
6)  Nơi làm lễ kết nghĩa giữa ba đơn vị 11/1965
7, 8, 9, 10) Tên các ca khúc mà các em thường hát
11) Điệu múa truyền thống của Trường
12) Lễ tiếp nhận lần thứ nhất Cờ Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ trao tại Cao Mại ngày 30/8/1967
13) Bộ phim Trường Quảng Trạch do nhà quay phim Ma Văn Cường dựng 5/12/1965
14) Lễ treo tặng lần thứ nhất Cờ Lao động XHCN của Hội đồng Chính phủ và Bằng Khen của Tổng Công Đoàn tại Phù Lưu ngày 4/1/1968
15) Nguồn: Bài ca Trường Quảng Trạch (Ngọc phương Nam)

MỜI GHÉ THĂM TRƯỜNG EM

Nhạc và lời: Quách Mộng Lân

Ai về Quảng Lưu mời ghé thăm trường em
Lớn lên trong những ngày vui đánh Mỹ
Trường của em theo tiếng gọi Bác Hồ
Lớp học là chiến trường, học sinh là chiến sĩ
Ôi mái trường đẹp xinh
Bao năm trường dạy ta khôn lớn
Có thầy có bạn ngày đêm chan chứa bao tình

Ai về Quảng Lưu mời ghé thăm trường em
Gió reo vui hát bài ca chiến thắng
Ruộng phì nhiêu năm tấn hạt thóc vàng
Sống vui với xóm làng Trường ta thêm gắn bó
Đây mái trường của ta
Bao năm trường dạy ta khôn lớn
Muôn hạt giống đỏ rồi đây
Đi khắp mọi miền dựng xây Tổ quốc.

VỀ QUẢNG TRẠCH

Võ Huy Cát (Vĩnh Phúc)

Sách giáo khoa anh chép mấy đêm thâu
Mà từng bản thấm mồ hôi trí tuệ
Đồ dạy học biến từ không thành có
Từ mảnh bom vỏ đạn quân thù

Có thầy giáo lội băng đồng đến lớp
Nỗi cảm thông thầm kín trong lòng
Vừa hôm qua đi bới hầm chữa cháy
Soạn xong bài vừa lúc hừng đông

Có thầy giáo cùng các em tâm sự
Cảnh nhà neo mẹ giặc giết hôm qua
Một lon gạo thấm tình người đồng chí
Một lời khuyên ấm tình bạn chan hoà

Có em học điểm năm chen cọc sổ
Chiều lại về làm cán bộ thông tin
Chòi phát thanh tiếng em vang xóm ngõ
Những chiến công lừng lẫy hai miền

Quảng Trạch ơi kể làm sao hết được
Những chiến công của những người con
Trên đất anh hùng hôm trước đạn bom
Mà sáng dậy vẫn cười vui đến lớp

Anh đứng đó mái trường tranh mới lợp
Trái tim sôi máu nóng hờn căm
Mười tám đôi mươi hay tuổi trăng rằm
Mang sức trẻ cùng toàn dân cứu nước

Quảng Trạch ơi đường vào đó bao xa
Cầu phá mấy chuyến phà anh nhỉ
Cho tôi gửi bài thơ tặng người đồng chí
Dưới mái trường xanh đang ươm những mầm hoa

Dưới mái trường tranh đang cứu nước cứu nhà


LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI

Hoàng Kim

Kính tặng Thầy Nguyễn Khoa Tịnh
cùng qúy Thầy Cô Trường cấp ba
Bắc Quảng Trạch, Quảng Bình

Thầy khoan thai bước lên bục giảng
Giờ học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Vẫn có em nung nấu chí anh hùng?

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân

Mười năm
Thước đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Hẵn nhiều đêm rồi Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào giữa lòng Thầy xao xuyến
“Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay”

Mười năm
Con số thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có ngờ rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí muốn nối Ức Trai

“Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Thầy không tự ví mình là Lưu Bị
Mong mỏi kiếm tìm Gia Cát Khổng Minh
Nhưng lòng Thầy cháy bỏng một niềm riêng
Khao khát người tài giúp dân giúp nước
Sông núi nước Nam khí thiêng hun đúc
Đất Quảng Trạch này liệu giống Nam Dương
Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay vận Hán
Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẵn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!”
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Nguồn:
Bài ca Trường Quảng Trạch
Đoàn tụ đất phương Nam
Về lại mái trường bên dòng Gianh
Gặp thầy bạn cũ cấp ba Bắc Quảng Trạch ở đất Phương Nam

NGỌC PHƯƠNG NAM Kỷ niệm 50 năm thành lập Trường Cấp 3 Bắc Quảng Trạch / Phổ thông Trung học số 1 Quảng Trạch.. Một số hình ảnh và cảm nhận.

Bài ca Người giáo viên nhân dân – Lan Anh


Sáng tác : Hoàng Vân
Trình bày : Lan Anh



Ảnh tư liệu và biên tập:
Trần Văn Minh, Hoàng Kim

Norman Borlaug nhà khoa học xanh

NORMAN BORLAUG NHÀ KHOA HỌC XANH. Hoàng Kim. Ngày ghi nhớ trong trái tim tôi. CIMMYT tươi rói một kỷ niệm. Ngày 29 tháng 8 (âm lịch) năm 1988 là kỷ niệm ngày mất của cha tôi. Ngày này năm xưa, dưới vòm cây xanh do Thầy Norman Borlaug trồng ở CIMMYT Thầy với tôi đã trò chuyện về Goethe, cây xanh, nhà khoa học xanh.

LỜI THẦY DẶN

Tưởng nhớ Norman Borlaug nhà khoa học xanh.

Hoàng Kim

Việc chính đời người chỉ ít thôi.
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi.
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện.
Di sản muôn năm mãi sáng ngời

Norman Borlaug người Thầy sống nhân đạo, làm nhà khoa học xanh và nêu gương tốt. Thầy là nhà nhân đạo, nhà nông học Mỹ cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và Tổng thống Mỹ trao tặng huân chương cao quý nhất của nước Mỹ, thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói. Thầy đã suốt đời nghiên cứu giảng dạy về chọn tạo và phát triển cây lương thực, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hàng trăm triệu nông dân nghèo ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Thầy là người sáng lập Giải thưởng Lương thực Thế giới và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực thắp sáng niềm tin yêu cuộc sống.Tôi được Thầy ghé thăm gần trọn buổi chiều tại phòng riêng ở CIMMYT, Mexico ngày 29.8.1988. Thầy đã một mình ghé thăm người trò nhỏ duy nhất của châu Á trong lớp học “Quản lý Trung tâm/ Trạm trại Nông nghiệp”. Khi Thầy đến, tôi đang thắp nến trên giá sách trong phòng đề tưởng nhớ ngày cha mất. Biết cha tôi bị bom Mỹ giết hại tại làng nhỏ ở Quảng Bình của buổi chiều này hai mươi năm trước (1968) lúc tôi còn là học sinh trung học của Trường cấp Ba Bắc Quảng Trạch, Thầy bối rối xin lỗi và thật bất ngờ tôi đã có được một buổi chiều vô giá riêng tư bên Thầy.

Lời Thầy dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Trích “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” – Hoàng Kim

KimCIMMYT10

NHÀY GHI NHỚ TRONG TRÁI TIM TÔI

Ngày ghi nhớ trong trái tim tôi là ngày mất của cha tôi 29 tháng 8 âm lịch. Mỗi gia đình đều có những ngày riêng để ghi nhớ. Với gia đình chúng tôi ngày này là một kỹ niệm không bao giờ quên. Lịch Vạn Niên ngày dương lịch có thể đổi thay nhưng ý nghĩa của sự kiện vẫn vậy.  Ngày này cha tôi mất năm 1968 và thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết Bài ca Trường Quảng Trạch với những câu thơ đẫm nước mắt “Thương em cảnh gieo neo mẹ mất, lại cha già giặc giết hôm qua”. Hai mươi năm sau, ngày này năm 1988, tại phòng riêng của tôi ở CIMMYT Mexico, tôi bất ngờ được thầy Norman Borlaug, người đoạt giải Nobel hòa bình, cha đẻ cách mạng xanh, nhà bác học hàng đầu của nông nghiệp hiện đại tới thăm. Thầy đã dành trọn buổi chiều để trò chuyện và khai mở tâm thức cho tôi….

29 tháng 8 âm lịch năm 2016 trùng ngày 29 tháng 9 kỷ niệm 50 năm thành lập CIMMYT tôi nhớ đến cha tôi, người thầy và cũng là anh hai Hoàng Ngọc Dộ tần tảo thay cha mẹ nuôi em năm năm ngày một bữa, thầy Nguyễn Khoa Tịnh khóc trên bục giảng cùng thầy bạn nhường cơm xẻ áo cho tôi, thầy Mai Văn Quyền mà tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ để nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: “Ơn Thầy. Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”.
Trích… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ngay-ghi-nho-trong-trai-tim-toi/

Tôi nhớ Thầy Norman Borlaug trong biết bao câu chuyện đời thường và sự kiện. Tôi nhớ về Ngày ghi nhớ trong trái tim tôi. Tôi nhớ Cha Mẹ tôi, nhớ Thầy Mai Văn Quyền, nhớ người anh cũng là thầy tôi Hoàng Ngọc Dộ, nhớ thầy Nguyễn Khoa Tịnh và biết bao thầy bạn trong đời tôi đã cho tôi học làm người. Norman Borlaug và ngày 29 tháng 8 (âm lịch) năm 1988 là kỷ niệm ngày mất của cha tôi dưới vòm cây xanh do Thầy trồng ở CIMMYT gợi nhớ buổi chuyện trò của Thầy với tôi về Goethe, cây xanh, nhà khoa học xanh. CIMMYT tươi rói một kỷ niệm Một ngày không thể nào quên. Ngày này cũng gợi nhớ ngày Lương thực thế giới (World Food Day) 16 tháng 10 là ngày kỷ niệm thành lập Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc năm 1945, cũng là ngày Khoa học kỹ thuật thực phẩm. Ngày 17 tháng 10 là ngày Thế giới chống đói nghèo; Năm 1979, mẹ Têrêsa được trao giải Nobel Hòa bình do những hoạt động nhằm đấu tranh vượt qua nghèo khó tại Ấn Độ; Năm 1849 ngày mất Chopin nhà soạn nhạc nổi tiếng người Ba Lan; Năm 1604 ngôi sao Kepler được nhà thiên văn Johannes Kepler phát hiện.
Ngày này cũng gợi nhớ  Ngày Lương thực thế giới (World Food Day) 16 tháng 10 là ngày kỷ niệm thành lập Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc năm 1945, cũng là ngày Khoa học kỹ thuật thực phẩm. Ngày 17 tháng 10 là ngày Thế giới chống đói nghèo; Năm 1979, mẹ Têrêsa được trao giải Nobel Hòa bình do những hoạt động nhằm đấu tranh vượt qua nghèo khó tại Ấn Độ; Năm 1849 ngày mất Chopin nhà soạn nhạc nổi tiếng người Ba Lan; Năm 1604 ngôi sao Kepler được nhà thiên văn Johannes Kepler phát hiện.

Goethe at Rome

GIẤC MƠ THIÊNG DẠO CHƠI CÙNG GOETHE

Hoàng Kim

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Goethe trao tặng ta
minh triết của Người.

Ba lần tôi có giấc mơ thiêng
dạo chơi cùng Goethe

Người hóa thân
thành nữ thần Tình Yêu
Thơ Người đi cùng năm tháng

Tôi gặp Goethe  lần đầu
Kalovi Vary, Czechoslovakia
trong rừng thiêng cổ tích.
Người kể chuyện sử thi
Tiệp Khắc kỷ niệm một thời
Praha và lâu đài cổ
Những khát khao mơ ước của Faust,
Nỗi đau của chàng Werther

Tôi gặp Goethe
trên cầu đi bộ Charles
trong 30 tượng thánh trầm tư
Tôi ngắm hình tượng Faust
cũng là Đế Quốc La Mã Thần Thánh
trên quảng trường Old Town Square Praha
Goethe dạy tôi học Faust
hiến mạng sống lấy Tự Do
Học minh triết hiểu tận cùng được mất
Người nhắc tôi đừng quên dân tộc
Giỏi làm người kể chuyện sử thi
Cho dù dạy gì, học gì, làm gì
Cũng từ thực tiễn chính mình
Tích tụ năng lượng tự thân
Khai mở tự do trí tuệ !

Tôi gặp Goethe ở Mexico lần thứ hai
tại UNAM CIMMYT phía cuối trời Tây
GoetheNorman Borlaug dạy cho tôi
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương

Người hóa thân
trong thanh thản
vòm cây xanh
Người đàm đạo
với Norman Borlaug
và cậu học trò nghèo
Về ý tưởng xanh
Con đường xanh
Hành trình xanh
Sự nghiệp xanh
Nhà khoa học xanh
giấc mơ hạnh phúc

Goethe là vòm cây xanh
Goethe cũng là lão nông
ngồi cùng chúng ta
chuyện trò
trên cánh đồng xanh
hạnh phúc.

Goethe Norman Borlaug
là những trí tuệ bậc Thầy.
Họ không màng hư vình
mà hướng tới đỉnh cao hòa bình
sự an lành tiến bộ .

Tôi cũng lại gặp Người
Oregon Miền Tây Nước Mỹ.
Tôi gặp Người ở hồ lớn
Ciudad Obregon
Ba tỷ khối nước
Cây xanh đất nước giao hòa

Ta gặp Người lần thứ ba
ở FAO Roma, Italia
trong nhà ở Frankfurt,
ngoài công viên Leipzig, Strasbourg

với bao nhiêu điểm đến …

Trời xanh tuyệt vời !
Trời nhân loại mênh mông !

KimCIMMYT1
KimCIMMYT2

 KimCIMMYT4
KimCIMMYT9
KimCIMMYT7
KimCIMMYT8
KimCIMMYT

xem tiếp…
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương

Dạo chơi non nước Việt

DẠO CHƠI NON NƯỚC VIỆT. Hoàng Kim anh và em, chúng mình cùng nhau dạo chơi non nước Việt ! Anh đưa em vào miền cổ tích nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra đồng bào mình trong bọc trứng, thăm đền Hùng Phú Thọ ở Nghĩa Lĩnh, Việt Trì, vào Tràng An Bái Đính lên non thiêng Yên Tử về Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, thủ đô Việt Nam, hồn thiêng sông núi tụ về. “Khắp vùng đồng bằng sông Hồng, vùng núi và trung du phía Bắc,
không mẩu đất nào không lưu dấu tổ tiên để giành quyền sống với vạn vật. Suốt dọc các vùng từ duyên hải Bắc Trung Bộ, đến duyên hải Nam Trung Bộ,Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long, là sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên để mở rộng hy vọng tương lai dân tộc” (1. Đào Duy Anh) Tổ Quốc bốn nghìn năm giang sơn gấm vóc biết bao nơi lòng ta thầm ước một lần đến thăm. Anh đưa em lên Phù Vân giữa bạt ngàn Yên Tử nơi “vũ trụ mắt soi ngoài biển cả” (2. Nguyễn Trãi) đến Hạ Long, Hương Sơn, Phong Nha, Huế, Hải Vân, Non nước, Hội An,Thiên Ấn, Hoài Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt. Về tổ ấm chúng mình đồng xanh Ngọc phương Nam.Tình yêu muôn đời: Non nước Việt Nam !

VÀO TRÀNG AN BÁI ĐÍNH

Hoàng Kim

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
(ca dao cổ)

Cao Sơn thăm chốn cũ
Tràng An bao đổi thay
Minh Không thầy đâu nhỉ ?
Lững lờ mây trắng bay.

Trước khi lên Yên Tử
Vua Trần vào ở đây
Động thiêng trong núi thắm
Hạ Long cạn nơi này.

Hoa Lư – Tứ giác nước –
Kẽm Trống – Dục Thúy Sơn,
“Quá Thần Phù hải khẩu”
Nhớ Nguyễn Trãi Ức Trai.

Đinh, Lê vùng khởi nghiệp
Lý, Trần, Nguyễn …vươn dài
Kỳ Lân trời bảng lãng
Hoàng Long  sông chảy hoài …

Bài và ảnh rút trong tập
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
THUNG DUNG

Chuyên mục
DẠO CHƠI NON NƯỚC VIỆT

Lên chùa Đồng Yên Tử
Đến Kiếp Bạc Côn Sơn
Vào Tràng An Bái Đính
Về Nghĩa Lĩnh, Đền Hùng

Thăm Trường xưa Hà Bắc
Nhớ Linh Giang quê hương
Động Thiên Đường tuyệt đẹp
Biển Nhật Lệ Quảng Bình

Đất Mẹ vùng di sản
Nguồn Son nối Phong Nha
Biển xanh kề núi thẳm
Mừng bạn về Quê choa

Ảnh
Ảnh

Ảnh

Ảnh

ẢnhẢnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh
Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh

Ảnh


CNM365. Chào ngày mới 15 tháng 10
.Ngày này năm1065 là ngày sinh Minh Không thiền sư, Quốc sư, thần y nổi tiếng trong thời Lý, ông Tổ nghề đúc đồng Việt Nam. Hình trên là tượng Lý Quốc Sư tại đền thánh Nguyễn ở quần thể chùa Bái Đính, Ninh Bình.

Lý Quốc Sư (1065 – 1141) là tên gọi theo quốc tính họ Vua do nhà Lý ban cho ghép với chức danh pháp lý cao nhất của một vị thiền sư từng là dược sư, pháp sư, đại sư rồi quốc sư tên hiệu Nguyễn Minh Không. Ông là một vị cao tăng đứng đầu tổ chức phật giáo của triều đại nhà Lý trong lịch sử, được xem là vị thiền sư sáng lập nên nhiều ngôi chùa nhất ở Việt Nam và được tôn vinh là ông tổ nghề đúc đồng. Nguyễn Minh Không cà Trần Hưng Đạo là hai nhân vật lịch sử có thật được người Việt tôn sùng là đức thánh Nguyễn, và đức thánh Trần là những vị thánh hộ quốc bất tử. Đức Thánh Nguyễn trong truyền thuyết dân gian sau khi tu thiền đắc đạo có thể đi mây về gió, ngả nón làm thuyền bơi qua  sông lớn, cho cả kho đồng nước Tống vào túi đem về đúc tứ đại khí, chữa bệnh lạ hóa hổ cho vua Lý Thần Tông. Hiện nay ở vùng châu thổ sông Hồng có rất nhiều nơi còn đền thờ Đức Thánh Nguyễn Minh Không tại Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang.

Tại chùa Thắng Nghiêm thờ đức thánh Trần Hưng Đạo cũng lưu giữ nhiều huyền thoại về đức thánh Nguyễn Minh Không.

Tiểu sử

Theo “Thiền Uyển Tập Anh”, Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không tên húy là Nguyễn Chí Thành (阮志誠) sinh tại xã Đàm Xá, phủ Tràng An (nay là làng Điền Xá, xã Gia Thắng, Gia Viễn, Ninh Bình). Theo một số tài liệu, ông còn có đạo hiệu Không Lộ, từng tu ở chùa Không Lộ (Nam Định) và được thờ ở núi Không Lộ (chùa Thầy ngày nay).

Cha của thánh Nguyễn là ông Nguyễn Sùng, quê ở thôn Điềm Xá, phủ Tràng An. Mẹ ông là bà Dương Thị Mỹ, quê ở Phả Lại, phủ Từ Sơn nay làng Phả Lại, xã Đức Long, Quế Võ, Bắc Ninh (nơi giáp với phường Phả Lại, thị xã Chí Linh, Hải Dương). Vợ chồng ông Nguyễn Sùng tuy nghèo nhưng luôn chăm lo làm việc thiện. Hai ông bà sinh hạ được một người con trai khôi ngô, tuấn tú, đặt tên là Nguyễn Chí Thành.[3]

Cha mẹ mất sớm, Chí Thành làm ngư dân đánh bắt cá, sinh sống trên sông Hoàng Long.[4] Chí Thành nuôi chí lớn, đi chu du thiên hạ, lúc thì đăng sơn kích thỏ, khi thì phóng thuỷ cầu ngư.[5]

Sự nghiệp

Nguyễn Minh Không là một nhà sư tài danh lẫy lừng. Ông đã được coi là thần y khi chữa bệnh “hóa hổ” cho vua Lý Thần Tông và được ban quốc tính họ Lý, phong làm Quốc sư, được nhà vua cấp cho nhà ở, được miễn thuế má. Khi ông mất rồi được rất nhiều đền chùa thờ phụng. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Quốc sư Minh Không rất linh ứng. Phàm khi có tai ương hạn lụt, cầu đảo đều nghiệm cả.” Nguyễn Minh Không là hiện thân quyền lực linh thiêng của Phật giáo hưng thịnh thời Lý – là thầy thuốc tài ba bậc nhất, là ngư dân gắn bó với thôn dã Đại Việt, là thiền sư tài cao đức trọng, là bậc thánh tổ nghề đúc đồng Việt Nam.

Lập chùa, mở mang phật giáo

Nguyễn Chí Thành lớn lên sang Tây Trúc học đạo và kết nghĩa anh em với Từ Đạo HạnhNguyễn Giác Hải là hai vị chân sư có uy tín đương thời. Khi tu hành đắc đạo, Nguyễn Chí Thành trở về quê nhà dựng chùa Viên Quang, sau đó lại lập nhiều chùa ở vùng châu thổ sông Hồng… để tu hành, lấy vị hiệu là Không Lộ rồi Minh Không. Trong suốt cuộc đời, trên cương vị quốc sư thống lĩnh lực lượng phật giáo quốc gia, Nguyễn Minh Không đã dựng tới 500 ngôi chùa trên đất Đại Việt.[6] Nhiều ngôi chùa lớn còn tồn tại đến ngày nay như: chùa Bái Đính, chùa Cổ Lễ, chùa Non Nước, chùa Địch Lộng, chùa Quỳnh Lâm, chùa Am Tiên, chùa Trông, chùa Kim Liên, chùa Hàm Long,… Quốc sư Minh Không là vị thiền sư sáng lập nên nhiều ngôi chùa nhất ở Việt Nam.

Pháp sư tài danh

Thiền sư Minh Không đồng thời là một dược sư nổi tiếng thời Lý, một trong những kỳ tích của ông được sử sách ghi lại là chữa thành công bệnh cho vua Lý Thần Tông, được phong làm quốc sư.

Tương truyền lúc còn đang học đạo, trong khi dạo chơi ở khu rừng, Từ Đạo Hạnh giả tiếng hổ dọa, Người nói: “Nếu ngươi muốn vậy, sau này chắc sẽ phải chịu quả báo như thế.” Từ Đạo Hạnh hối hận: “Xưa kia đức Thế Tôn tạo quả viên thành còn chịu báo kim sương, mã mạch, huống chi tôi sinh thời mạt pháp đâu có thể tránh được, đời sau sẽ làm quốc chủ và sẽ chịu báo này, ông với tôi có nhân duyên bằng hữu lúc đó hãy cứu tôi.” Sau khi thiền sư Đạo Hạnh hóa, đầu thai là Dương Hoán, được Vua Nhân Tông yêu quý lập làm Hoàng Thái tử và kế vị ngai vàng tức Lý Thần Tông hoàng đế. Lên ngôi không được bao lâu, tháng 3 năm 1136 Vua Lý Thần Tông bệnh nặng, lông lá mọc khắp cơ thể, gầm thét như hổ suốt ngày, các danh y tài giỏi được triệu đến chữa bệnh nhưng không thuyên giảm. Tức thì trong dân gian, xuất hiện bài đồng dao của trẻ con rằng:

Bắc nam có tây đông
Đáy bể ẩn có rồng
Vua mắc bệnh khó chữa
Hãy đón Nguyễn Minh Không.”.

Vua bèn sai sứ tìm gặp Sư. Khi Sư đến, Tôn túc thạc đức các phương đang ở trên điện làm phép, thấy Sư ăn mặc quê mùa, họ khinh khí không đáp lễ. Sư đến, đem theo một cái đinh lớn, dài hơn 5 tấc, đóng vào cột, lên tiếng nói: “Ai có thể nhổ cái đinh đó ra thì trước đáng được tôn trọng”. Nói thế ba lần, chẳng ai dám làm. Sư lại lấy hai ngón tay trái, cầm vào thì đinh theo chúng mà ra. Mọi người đều khiếp phục. Khi gặp vua, Sư lớn tiếng nói: “Ðấng đại trượng phu, giàu sang bốn bể, há lại làm ra những điều cuồng loạn đấy ư?” Vua rất run sợ, Sư sai lấy một vạc lớn đựng nước nấu sôi tới cả trăm lần, dùng tay quậy lên khoảng bốn lần, rồi thò tay vào trong vạc dầu đang sôi sùng sục lấy ra đủ 100 cái kim châm cứu cho vua. Bệnh liền bớt ngay. Sau khi khỏi bệnh, cảm phục tài năng, Vua Lý Thần Tông phong ông là Quốc sư, tha thuế dịch cho vài trăm hộ. Trong quốc sử còn ghi rằng: “Tục truyền khi sư Từ Đạo Hạnh sắp trút xác, trong khi ốm đem thuốc niệm thần chú rồi giao lại cho Nguyễn Chí Thành tức Minh Không, dặn rằng 20 năm sau nếu thấy Quốc Vương bị bệnh lạ thì đến chữa ngay, có lẽ là việc này.” [7]

Vùng đồi núi Gia Sinh, Gia Viễn hiện còn cái tên làng Sinh Dược (làng thuốc sống) do Lý Quốc Sư dùng cây thuốc ở đây chữa bệnh. Từ các loại thảo dược này ông đã chữa bệnh nan y cho vua Lý Thần Tông và bào chế ra nhiều loại thuốc chữa bệnh cho nhân dân, ông đã truyền lại cho dân nhiều bài thuốc hay và sử dụng thuốc nam, châm cứu chữa bệnh. Đến nay vùng đồi núi Sinh Dược, Gia Sinh vẫn còn nhiều cây thuốc quý như: Bình vôi, Ngành ngạnh, Hoài sơn, Khúc Khắc, Mặt quỷ, Bòn bọt, Hà thủ ô, Hy thiêm thảo, chè vằng, Thiên niên Kiện, Bố chính sâm…

Phục hưng nghề đúc đồng

Đình thờ ông tổ đúc đồng Nguyễn Minh Không ở Ngũ Xá – Hà Nội

Nguyễn Minh Không được các làng nghề đúc đồng suy tôn là ông tổ của nghề đúc đồng[8] mặc dù từ thế kỷ X, Vua Đinh Tiên Hoàng đã cho đúc tiền bằng đồng đầu tiên trong lịch sử và trước đó người Việt cổ đã đúc trống đồng. Với vai trò là quốc sư triều Lý, ông tham gia gây dựng nhiều công trình phật giáo. Lý Quốc Sư là người đúc tượng phật chùa Quỳnh Lâm; đúc đỉnh đồng trên tháp Báo Thiên[9] góp phần tạo nên “An Nam Tứ đại khí” là những báu vật nổi tiếng của nước Đại Việt thời Lý – Trần. Ông là người sưu tầm và phục hưng nghề đúc đồng – tinh hoa của văn minh Đông Sơn – văn minh người Việt cổ mà trở thành tổ sư nghề đúc đồng.

Đầu năm 1118 Nguyễn Minh Không đến chùa Tống Xá ở Nam Định, đã đi thăm các cánh đồng ở đây và thấy có một khu đất rộng, có loại đất sét tốt có thể làm khuôn đúc ở đây. Ông bèn hướng dẫn dân làng nghề đúc đồng. Từ đó cánh đồng có hố đào để lấy đất sét được gọi là cánh đồng Hố, từ thời Lê bắc thêm cầu nên gọi là cánh đồng Cầu Hố.[10] Ngày nay ở thôn Tống Xá có đền thờ ông tổ của nghề đúc đồng Việt Nam Nguyễn Minh Không.

Tôn vinh

Đức Thánh Nguyễn

Đền Thánh Nguyễn trên quê hương ông – Gia ViễnNinh Bình

Là một thiền sư giỏi về Phật pháp, giỏi cả pháp thuật, có công chữa bệnh cho vua Lý, là ông tổ của nghề đúc đồng… Nguyễn Minh Không được tôn là đức Thánh Nguyễn bên cạnh chức danh Quốc sư triều Lý. Dân gian có câu:[11]

Đại Hữu sinh Vương
Điềm Dương sinh Thánh.

Trong hai câu ca trên thì Vương ở đây chỉ Đinh Tiên Hoàng, Thánh chỉ Nguyễn Minh Không. Hai ông được sinh ra ở hai làng liền kề nhau thuộc huyện Gia Viễn, Ninh Bình.

Tại núi Dương Sơn, có chùa Lạc Khoái xã Gia Lạc (Gia Viễn, Ninh Bình) còn câu đối:

Điềm Xá chung linh sinh Nguyễn thánh
Hoa Lư dục tú xuất Đinh Hoàng.

Trong tín ngưỡng Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng có 4 vị thần trong nhóm tứ bất tử đó là Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh Công chúa. Tuy nhiên, thực tế các vị thánh trong tứ bất tử từng được ghi chép còn có Lý Quốc Sư.[12] Kiều Oánh Mậu người làng Đường Lâm là nhà học giả cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục[13] có viết:

“Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đúng là như vậy. Vì bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào.” [14]

Thần Khổng Lồ

Các truyền thuyết về tổ nghề đúc đồng thường cho rằng thần Khổng Lồ là tục danh nhà sư Nguyễn Minh Không, hiệu Khổng Lộ, một cao tăng đời Lý có tài biến nhỏ thành to. Ông lấy đất sét nặn thành khuôn rồi rót đồng chảy vào, chế thành những món đồ dùng như mâm, hũ đến tượng Phật.[15] Cũng theo truyền thuyết, Quốc sư Minh Không khi tu thiền đắc đạo có thể đi mây về gió, niệm chú cho chim lạ rơi xuống đất, ngả nón làm thuyền vượt sông cả, cho cả kho đồng nước Tống vào túi đem về đúc tứ đại khí, thò tay vào vạc dầu đang sôi vớt hàng trăm chiếc kim chữa bệnh cho Vua Lý Thần Tông.[2]

Kho tàng văn hóa dân gian Ninh Bình còn lưu giữ nhiều câu chuyện truyền thuyết về thần Khổng Lồ như “Ông Khổng Lồ gánh núi”, “Ông Khổng Lồ bắt lươn”, “Núi Đó và lò nước của ông Khổng Lồ”, “Sự tích núi Kẽm Đó”, “Sự tích núi Con Mèo” gắn với hàng loạt di tích liên quan đến sư Minh Không ở đây như: núi Dương Sơn, núi Đồng Cân, núi Đầu Rau, núi Nút Đó, suối Canh Gà,[16]… Ở khu di tích phòng tuyến Tam ĐiệpTam Điệp ngày nay có Kẽm đó – Ải Cửu Chân vốn là một dãy núi, nhìn từ xa mạch núi khép kín dần, giống như cái đó bắt cá nên có tên là Kẽm Đó hay Lỗ Đó. Phía Bắc đèo Tam Điệp, đường Thiên Lý cổ len qua một “cửa ải”, hai bên mạch núi đá vôi liên tiếp và khép kín lại, chừa một lối đi như miệng đó đơm cá khổng lồ mà truyền thuyết cho rằng thần Khổng Lồ Nguyễn Minh Không đã đơm đó bắt cá ở đó. Đây là cửa ải ngăn cách giữa hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân xưa thời thuộc Hán. Cửa ải này án ngữ con đường Thiên Lý ra Bắc vào Nam.

Sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược viết: “Sư Nguyễn Chí Thành quê ở Điềm Xá Gia Viễn thường câu cá tại núi Tai Mèo, rồi chèo thuyền ra cửa biển Thần Phù, để thẳng đến Tây Chân đi bán, thường gánh đá một bên cho cân với cá, đi đường đá bị rơi sư đạp viên đá ra viên đá vỡ còn dấu tại xã Liên Tỉnh xã Tương Đông[17]

Theo truyền thuyết Khổng Minh Không, tổ nghề đúc đồng và sự tích Trâu Vàng hồ Tây thì quốc sư Minh Không còn có pháp danh khác là Khổng Lồ cũng chữa khỏi bệnh cho vua phương Bắc. Khi vua trả ơn, hỏi muốn lấy gì, ông chỉ xin một ít đồng đen cho vào tay nải. Và thế là tất cả kho đồng của vua phương Bắc đều chui vào tay nải của ông trước sự kinh ngạc của triều đình. Ông lại thả nón tu lờ làm thuyền bơi về nước Nam. Về đến Thăng Long ông đúc thành chuông. Đồng đen là mẹ vàng, nên khi thỉnh chuông này, con trâu vàng bên phương Bắc nghe tiếng mẹ, chạy vùng sang đến chỗ là hồ Tây bây giờ nó giẫm đất sụt thành hồ, và ẩn luôn dưới đó. Do vậy có tên là hồ Trâu Vàng.[18][19]

Việc thần hóa Nguyễn Minh Không thành vị thần Khổng Lồ là một mô típ độc đáo trong nền văn hoá của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở châu thổ sông Hồng. Thần Khổng Lồ Nguyễn Minh Không được xây dựng từ những mảnh vụn huyền thoại, được lịch sử hoá một quốc sư tài danh để trở thành một ông Khổng Lồ có yếu tố của một anh hùng văn hoá. Từ sự tích thần Khổng Lồ có thể thấy sự đan xen các lớp văn hoá, tín ngưỡng khó có thể nhận ra từng yếu tố, đâu là những mảnh vụn huyền thoại được thần thoại hoá, lịch sử hoá, tín ngưỡng thờ thần linh nông nghiệp, thần đánh cá, thờ Tổ nghề và lớp văn hoá Phật giáo để tôn vinh một quốc sư trở thành một vị Thánh bất tử.

Ông tổ nghề đúc đồng

Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không được những địa phương có nghề đúc đồng lâu đời như các làng nghề Yên Xá,[20] Tống Xá[21][22]Ý Yên, lễ hội chợ Viềng (Nam Định); phố nghề Ngũ Xã, phố Lò Đúc (Hà Nội) [23]; Đình làng Chè, làng Rỵ (Thiệu Hoá, Thanh Hóa)[24], các làng nghề đồng Châu Mỹ, Long Thượng, Đông Mai (Hưng Yên)[25] và Đào Viên, Điện Tiền (Bắc Ninh) đều thờ và tôn vinh ông là ông tổ đúc đồng.[26]

Một số nơi như làng nghề đúc đồng Đông Sơn, Thanh Hóa và đền thờ sư tổ nghề đồng ở số 5 phố Châu Long – Hoàn Kiếm[27] thì Tổ sư nghề đúc đồng là ông Khổng Minh Không. Trong các tài liệu lịch sử không có tên Khổng Minh Không. Dân gian đã hoà nhập Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không làm một thành Khổng Minh Không. Nhân dân những vùng này coi hai ông là tổ sư nghề đồng của Việt Nam. Đây cũng là một sự tích của Không Lộ dân gian nhập vào với Minh Không. Điều này còn tìm thấy trong văn bia chùa Keo Thái Bình, chùa Keo Nam Định và chùa La Vân (Quỳnh Phụ – Thái Bình).

Theo truyền thuyết dân gian một số vùng ở Nam Định và Thái Bình, Thánh Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không hầu như được đồng nhất với nhau trong một thánh Không Lộ[28][29][30]. Một số tư liệu, thư tịch cổ cũng cho rằng Nguyễn Minh Không, húy Chí Thành, hiệu Không Lộ và Không Lộ chỉ là tên ngôi chùa mà nhà sư Minh Không từng ở.[31] Sách “Lĩnh Nam chích quái” chép rằng “chùa Không Lộ ở làng Giao Thuỷ có nhà sư Minh Không“. Có ý kiến rằng Dương Không Lộ thực chất là tên lấy theo họ mẹ của Minh Không ghép với hiệu Không Lộ.

Một số tư liệu, thư tịch cổ và ý kiến của một số nhà nghiên cứu cho rằng Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không là người khác biệt, có tiểu sử rõ ràng, cả hai ông đã từng chữa khỏi bệnh cho vua.[32] Tuy nhiên, tài liệu quan trọng và đầy đủ như Đại Việt sử ký toàn thư lại hoàn toàn không có nhân vật Dương Không Lộ, chỉ thấy 3 đoạn ghi chép về đại sư Minh Không.[33]

Hơn nữa, Theo sách “Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược” (Phòng Địa chí – Thư viện tỉnh Nam Định chế bản) tại trang 146, trong mục chùa Keo thì: Không Lộ tên chính là Nguyễn Chí Thành người xã Điềm Xá huyện Gia Viễn cùng Nguyễn Viết Y người xã Loa Điền Hải Thanh kết bạn với nhau, Chí Thành đạo hiệu là Không Lộ, Viết Y đạo hiệu là Giác Hải, sau gặp sư Từ Đạo Hạnh người Yên Lãng cùng sang Tây Trúc học đạo đều thành.[34]

Ghi công từ hậu thế

Thờ phụng

Tên tuổi của Nguyễn Minh Không đã gắn liền với nhiều truyền thuyết hoang đường và kỳ bí. Rất nhiều nơi, đặc biệt là các chùa ở Việt Nam thờ vị quốc sư này theo kiểu “tiền phật hậu thánh“. Trong số các chùa, đền thờ quốc sư, tập trung nhiều nhất là các tỉnh Ninh Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Nam Định, Thái Bình… Trong dịp lễ hội ở các đền thờ này, thường có tục bơi chải vào ngày hội, tục này chắc liên quan đến giai thoại nhà sư đi thuyền một đêm mà đến được Kinh đô.[35]

Tại quê hương Ninh Bình, Đức Thánh Nguyễn Minh Không được thờ rất nhiều nơi đặc biệt là ở vùng Gia Viễn quê hương ông ở phía bắc cố đô Hoa Lư. Ông được thờ chung với Vua Đinh Tiên Hoàng ở nhiều di tích gắn với câu ca “Đại Hữu sinh Vương, Điềm Dương sinh Thánh” và được xem như vị thần Khổng Lồ trấn trạch phía Bắc trong Hoa Lư tứ trấn. Nơi thờ tiêu biểu nhất là đền thờ đức Thánh Nguyễn trên mảnh đất sinh ra ông thuộc địa phận hai xã Gia Thắng – Gia Tiến, Gia Viễn. Xưa đây là chùa Viên Quang, sau khi ông mất nhân dân biến Viên Quang Tự thành đền thờ trấn Bắc Hoa Lư tứ trấn.[36]. Đền thờ Nguyễn Minh Không ở khu văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính là nơi ông đã phát hiện ra các động và biến chúng thành chùa khi đến đây tìm cây thuốc chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông. Tại chùa Địch Lộng ở huyện Gia Viễn, nơi được mệnh danh là “Nam thiện đệ tam động”, tức động đẹp thứ 3 của trời Nam cũng có đền thờ và tượng của ông. Khu di tích động Hoa Lư thì phối thờ tượng ông cùng với tượng vua Đinh Tiên Hoàng trong ngôi đền cổ. Lý Quốc Sư còn được thờ ở đình Ngô Đồng, xã Gia Phú, Gia Viễn; đền thờ Tô Hiến Thành và chùa Lạc Khoái ở bên sông Hoàng Long gắn với giai thoại tuổi thơ ông hay cụm di tích miếu Bồ Vi – đình Vật ở xóm 10, thôn Bồ Vi, thị trấn Yên Thịnh, Yên Mô. Ông cũng được thờ ở chùa Nhất Trụđộng Am Tiêncố đô Hoa Lư. Tại đền Thượng xã Khánh Phú và đền Tam Thánh ở xã Khánh An, Yên Khánh ông được suy tôn là đức thánh cả.

Nam Định cũng có khá nhiều chùa thờ quốc sư Minh Không mà tiêu biểu nhất là chùa Cổ Lễ, ngôi chùa do Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không sáng lập. Đại sư Minh Không cũng được thờ ở chùa Xuân Trung xã Xuân Bắc (Xuân Trường) và xã Điền Xá (Nam Trực). Ở Ý Yên, Thánh tổ Minh Không được thờ ở đình Cổ Hương xã Yên Phương; đình Phúc Thọ xã Yên Thành và đền Tống Xá xã Yên Xá. Ông còn được phối thờ cùng Lý Thần Tông và Giác Hải tại chùa Nghĩa Xá ở xã Xuân Ninh Xuân Trường. Lễ hội chợ Viềng hàng năm gắn liền với việc thờ ông Nguyễn Minh Không, ông tổ đúc đồng, nên trước đình ông Khổng, người dân thường bày bán đồ đồng, đồ sắt.[37] chùa Keo Hành Thiện, xã Xuân Hồng cũng hòa nhập thần tích của Nguyễn Chí Thành và Dương Minh Nghiêm thành một thánh Không Lộ.

Thái Bình các di tích thờ quốc sư Minh Không có nhiều ở huyện Quỳnh Phụ như: Chùa Hóa Long ở thôn Đại Nẫm, xã Quỳnh Thọ;[38] đền thờ và chùa La Vân ở xã Quỳnh Hồng; đền Soi ở thôn Đồng Mỹ xã Quỳnh Lâm. Các nơi khác thờ đại sư như đền Ngũ xã Điệp Nông, Hưng Hà; Chùa Am ở xã Vũ Tây, huyện Kiến Xương. Riêng khu vực Chùa Keo (Vũ Thư) thì có nhiều di tích, thần tích liên quan đến Nguyễn Minh Không.

Hà Nội có đền thờ Lý Quốc Sư trên con phố mang tên Lý Quốc Sư. Chùa Quán Sứ ở phố Quán Sứ hiện là trụ sở giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng có ban thờ riêng để tôn vinh vị cao tăng này. Đền Thần Quang (Ngũ Xã) và chùa Tổ Ong ở 79 phố Lò Đúc cũng thờ ông với tư cách tổ nghề đúc đồng[39] Ông cũng được thờ ở chùa Thiên Vũ ở La Dương, phường Dương Nội, quận Hà Đông và đền Lạc Chính, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình. Ông cũng được phối thờ cùng Giác Hải tại khu di tích Từ Đạo Hạnh ở chùa Thầy.

Hải Dương có chùa Trông (Hưng Long – Ninh Giang); Đình Cao Dương (Đình Hói) ở xã Gia Khánh và Đình Hậu Bổng (Đình Bóng) tại xã Quang Minh, Gia Lộc; chùa Kính Chủ ở xã An Sinh, huyện Kim Môn là nơi thờ Nguyễn Minh Không.

Quảng Ninh, Nguyễn Minh Không là sư tổ chùa Quỳnh Lâm, Đông Triều.

Hưng Yên, 3 trong 5 làng nghề đúc đồng tạo nên làng Ngũ Xã (Hà Nội) là Châu Mỹ, Long Thượng (xã Đại Đồng) và Đông Mai (xã Chỉ Đạo) thuộc huyện Văn Lâm đều thờ ông với tư cách tổ nghề đúc đồng của các làng nghề này.

Bắc Ninh, việc thờ Nguyễn Minh Không có tới hàng chục di tích thuộc địa bàn các huyện: thành phố Bắc Ninh, Tiên Du, Quế Võ, Lương Tài, Gia Bình xưa vốn là quê ngoại của người, tiểu biểu như chùa Phả Lại và đền Vệ Xá ở Đức Long, Quế Võ; chùa Hàm Long, thành phố Bắc Ninh[40] và các đình làng Đào Viên, Điện Tiền thuộc xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành thờ thánh Nguyễn với vai trò sư tổ của nghề đúc đồng.

Bắc Giang, Lý Quốc Sư cũng được thờ ở đình Thắng xã Đức Thắng, Hiệp Hòa,…

Tên đường

Tên tuổi của quốc sư Minh Không được đặt cho nhiều đường phố ở Việt Nam như đường Lý Quốc Sư ở các thành phố Nha Trang, Hà Nội, Tam Điệp, thành phố Bắc Ninh, TP HCM… hay đường Nguyễn Minh Không ở các thành phố Ninh Bình, Đà Nẵng,…

Trong thơ ca

Sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược trang 127 có viết giai thoại về sư Minh Không như sau: “Sư Nguyễn Chí Thành quê ở Điềm Xá Gia Viễn thường câu cá tại núi Tai Mèo, rồi chèo thuyền ra cửa biển Thần Phù, để thẳng đến Tây Chân đi bán, thường gánh đá một bên cho cân với cá, đi đường đá bị rơi sư đạp viên đá ra viên đá vỡ còn dấu tại xã Liên Tỉnh xã Tương Đông” và trích bài thơ của sử gia Lê Tung (đời Lê Sơ) khi về thăm di tích này như sau:[41]

Nguyên bản: Bài “Kiến Liên xã thuyết đáo Nguyễn thiền sư nhân tác thi sĩ lưu vu tự bi chi hậu”:

Miêu lĩnh thuyền hành xuất hải tần,
Thần phù bắc hướng đáo Tây Chân,
Bộ trình đảm thạch lưu Liên xã,
Khứ mãi lai cư hữu toạ ngân,
Tây Lạc thị chiền dân thượng ký,
Quần Hàn cổ sát ấp tôn thân.
Lý triều chư xứ phương danh tại,
Linh khí y nhiên mục tự tân.

Dịch: (Thấy người xã Liên Tỉnh tới nơi Nguyễn thiền sư, nên làm bài thơ khắc vào mặt sau bia chùa:

Núi Mèo ra biển cửa Thần Phù,
Thuyền hướng Tây Chân chở lướt đi,
Liên Tỉnh đá rơi đường chẳng mất,
Chỗ ngồi bán cá vết như y,
Chợ nơi Tây Lạc dân còn nhớ,
Chùa đất Quân Hàn nghĩa vẫn ghi.
Triều Lý các nơi di tích ấy,
Khí thiêng nêu đậm buổi tu trì)

Liên kết ngoài

Chú thích

  1. ^ a ă Đề cử hai kỷ lục về Đức Thánh Nguyễn Minh Không
  2. ^ a ă Thiền Sư Minh Không
  3. ^ (Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 – NXBKHXH. H, 1983 Tr 322)
  4. ^ Những huyền thoại ít biết về vị thiền sư nổi tiếng nhất Việt Nam
  5. ^ trong bài “Đức Thánh Nguyễn Minh Không” của Đỗ Danh Gia (Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình, số 59 năm 2008)
  6. ^ Lý Quốc Sư – ông tổ nghề đúc đồng Việt Nam
  7. ^ LỊCH SỬ CHÙA LÝ TRIỀU QUỐC SƯ
  8. ^ Lý Quốc Sư – ông tổ nghề đúc đồng Việt Nam
  9. ^ Tháp Báo Thiên được xây dựng từ đời vua Lý Thánh Tông năm 1057. Tháp này ban đầu xây 12 tầng bằng gạch, sau này sư Minh Không làm thêm tầng 13 đỉnh tháp bằng đồng
  10. ^ Lã Đăng Bật, Kinh đô Hoa Lư xưa và nay, trang 241
  11. ^ ĐỀN THỜ ĐỨC THÁNH NGUYỄN
  12. ^ Những phát hiện mới nhất về Tứ bất tử Việt Nam
  13. ^ (AB.289, tờ 4a), in năm Canh Tuất 1910
  14. ^ Án: Ngã Tứ bất tử chi danh, Minh nhân dĩ Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đương chi nhiên; thử thời Tiên chúa vị giáng, cố vị cập thế nhân sở truyền, văn hiến khả trung. Kim tục chi.
  15. ^ Việc thờ kính cúng của dân tộc Việt Nam
  16. ^ Xem cuối Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình của Trương Đình Tường, phần IV- Chuyện kể dân gian
  17. ^ Xem Sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược, trang 127
  18. ^ Hồ Trâu Vàng
  19. ^ Lễ đúc tượng trâu vàng bên hồ Tây
  20. ^ Làng đúc Yên Xá
  21. ^ Làng nghề 900 năm tuổi và… nỗi lo bệnh tật
  22. ^ Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược trang 143 ghi: Đền thờ tổ nghề rèn đúc, xã Tống Xá tổng Vũ Xá thường gọi là đền Thánh tổ, tổ tên là Nguyễn Chí Thành
  23. ^ Phố Lò Đúc
  24. ^ Sự hình thành làng xã ở đồng bằng sông Mã
  25. ^ Hưng Yên: Đúc tượng tổ để giữ nghề
  26. ^ Quốc sư Nguyễn Minh Không
  27. ^ Ông tổ nghề đúc đồng
  28. ^ sách Chùa Keo của Đỗ Văn Ninh, Trịnh Cao Tưởng, Ty Văn hóa Thái Bình xb 1974, Thơ văn Lý – Trần, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991
  29. ^ Dương Không Lộ (1016-1094
  30. ^ Về các lớp văn hóa trong sự tích Thánh Dương Không Lộ
  31. ^ Theo sách “Quốc sư bảo lục” Đức Thánh Khổng tên thật là Nguyễn Minh Không, ở xã Điền Xá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, làm nghề chài lưới. Bản tính thông minh, thương người gặp kẻ khó hết lòng giúp đỡ, người ốm đau chữa trị. Năm 29 tuổi xuất gia tu hành, lấy đạo hiệu là Không Lộ. Năm 44 tuổi, ngài cùng thiền sư Từ Đào Hạnh và thiền sư Giác Hải đi Tây Trúc cầu Phật pháp. Không Lộ đã chính quả học được “Tâm ấn lục trí thần thông” do Đức Phật truyền dạy. Sách “Lĩnh Nam chích quái” thì lại chép chùa Không Lộ ở làng Giao Thuỷ có nhà sư Minh Không.
  32. ^ Tác giả Bùi Duy Lan và Phạm Đức Duật, trong công trình “Chùa Keo” của mình khẳng định: Không Lộ là đạo hiệu của một nhà sư có thật của đời nhà Lý. Không Lộ và Minh Không là hai người khác nhau. Không Lộ ở thế hệ trước cùng với Giác Hải và Từ Đạo Hạnh. Còn Minh Không ở thế hệ sau và là học trò của Từ Đạo Hạnh nhưng thực tế thì Minh Không nhiều tuổi hơn Đạo Hạnh. Nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn giữa Không Lộ và Minh Không vì sự tích hai nhà sư này có những điểm tương tự như nhau: Cả hai người để chữa bệnh chu vua nhà Lý, Không Lộ chữa bệnh sợ tiếng Tắc kè kêu của Lý Nhân Tông còn Minh Không thì chữa bệnh hoá hổ cho Lý Thần Tông. Cả hai người đều được nhà Lý phong làm quốc sư. Minh Không cũng tu ở chùa Viên Quang nơi mà  Không Lộ và Giác Hải trước đó từng tu. Lê Mạnh Thát trong “Thiền Uyển tập anh ngữ lục” cũng cho rằng Không Lộ và Minh Không là 2 thiền sư ở 2 thời kỳ khác nhau, nhưng dân gian đã lấy những truyền thuyết, công trạng của Minh Không để dùng cả cho Không Lộ.
  33. ^ Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” phần kỷ nhà Lý, không có đoạn nào chép riêng về sự tích Dương Không Lộ, chỉ thấy có 3 đoạn đề cập đến thiền sư Minh Không mà thôi. Ví dụ “khoảng tháng 6 năm Tân Hợi, niên hiệu Thiên Thuận thứ 4 (1131) dựng nhà cho đại sư Minh Không”; hoặc có đoạn chép: “Vua bệnh nặng, chữa thuốc không khỏi. Nhà sư Minh Không chữa khỏi, phong làm Quốc sư. Tha thuế dịch cho vài trăm hộ. Khi đại sư Minh Không hoá, “Đại Việt sử ký toàn thư” có đoạn chép “mùa thu tháng 8 (13), Quốc sư Minh Không chết (sư người Đàm Xá, huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên) rất linh ứng, phàm khi có tai ương hạn, lụt, cầu đảo đều nghiệm cả, nay hai chùa Giao Thủy và Phả Lại đều tô tượng để thờ.
  34. ^ Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược
  35. ^ Minh Không
  36. ^ Đền thờ Đức Thánh Nguyễn
  37. ^ Đi “bán rủi, mua may” chợ Viềng
  38. ^ Hội chùa Hóa Long
  39. ^ chùa Thần Quang
  40. ^ Bảo tồn di tích lịch sử chùa Hàm Long
  41. ^ [1]

Ảnh

 

 

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Có một ngày như thế

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim
Có một ngày như thế
Cuộc đời nâng trang văn
Lan tỏa niềm vui mới
Lộc đời thêm tình thân
Giếng ngọc mãi thanh xuân
Người hiền gieo chí thiện
Thung dung giữa đời thường
An nhiên lời cảm mến.

xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-mot-ngay-nhu-the/

Có một ngày như thế.
Thầy bạn là lộc xuân.
Hợp tác đào tạo tốt.
Nơi ấy xa mà gần.

Chúc mừng em vững bước
Đi về phía  bình minh
Mừng những người hướng đạo
Giúp em vượt chính mình.

Thắp sáng một niềm tin
Tỏa ngời như nắng ấm
Ngày thước đo cố gắng
Chúc mừng em thành công.

Có một ngày như thế.
Nỗ lực òa niềm vui.
Chào lớp thầy cô trẻ.
Thênh thang trên đường đời.

Có một ngày như thế.
Người thân bên mẹ hiền.
Đời vui người trẻ lại.
Lộc Vừng thắm đầy sân.

Có một ngày như thế
Giữa cuộc đời yêu thương
Em đi tìm điều hay
Tôi bày em việc tốt.

Đời vui người trẻ lại
Thoải mái bên bạn hiền
Trường tôi thành điểm tựa
Giấc mơ lành bay lên.

Có một ngày như thế.
Vui em nay thành công.
Nụ cười tươi rạng rỡ.
Ngày mỗi ngày trưởng thành.

Phúc hậu và thực việc
Tận tụy với nghề nông
Thân thiết tình thầy bạn
Chăm chút từng trang văn.

Có một ngày như thế
Đường xa về thăm Thầy
Niềm vui ngời nét mặt
Thầy trẻ lại vì vui.

Ảnh đẹp và thật tươi
Khoảnh khắc mà vĩnh cữu
Thay bao lời muốn nói
Học bởi hành hôm nay.

2017-10-14_Noi voi ban hien

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Vị tướng của lòng dân

HOA LÚA HOA ĐẤT HOA NGƯỜI

Hoàng Kim

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng.

Con thăm Thầy lên non thiêng Yên Tử
Về đất lành chùa Giáng giữa đồng xuân
Thơm hương lúa ngậm đòng chăm bón đúng
Ngát gương sen lồng lộng bóng trúc mai


Biết ơn Thầy trọn đời thương hạt gạo
Bưng bát cơm đầy, quý giọt mồ hôi
Con xin được theo Thầy làm Hoa Lúa
Hoa quê hương hạt ngọc trắng ngần.

Lẫn với cỏ không tranh đua hương vị
Không màng ngôi ngự trị các loài hoa
Hoa Lúa đượm hồn quê dung dị
Quên sắc hương để lộng lẫy Hoa Người ! ” (*)


Con nguyện ước nối đời theo hạt gạo
Chén cơm ngon thơm bếp lửa gia đình
Thầy Trò cùng chung tay làm việc thiện
Sống trọn tình với giấc mơ xanh.

Bạch Ngọc
Hoàng Kim (**)

(*) Thơ Dương Phượng Toại
(**) ON THIS DAY October 13
1) Võ Nguyên Giáp tự trong sâu thẳm;
2) Hà Nội và Hồ Linh Đàm.

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, CassavaViet, foodcrops.vn  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam