Dưới đáy đại dương là Ngọc


DƯỚI ĐÁY ĐẠI DƯƠNG LÀ NGỌC

Hoàng Kim

‘Dưới đáy đại dương là Ngọc’, ‘Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi’, ‘Bảy Nhị chuyện cổ tích người lớn’ là ba câu chuyện ám ảnh trong chuỗi bài ‘Con đường lúa gạo Việt Nam’. Tôi mắc nợ câu chuyện này đã nhiều năm và chỉ neo đậu cái tựa đề này với ít tên người để thỉnh thoảng nhớ lại. Kể về họ là sự chiêm nghiệm một đời. Chúng ta chắc vẫn còn nhớ câu chuyện “Hai cha con đều là anh hùng” và Trở lại nụ cười Ba Sương : “Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình, …” . Sự kiện ngày 15 tháng 8 năm 2009 đến nay trong lòng dân đâu đã quên và chuyện đâu đã khép lại…

Hôm bác Năm Hoằng mất, chúng tôi gần như đi suốt đêm từ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (Đồng Nai) về Nông trường sông Hậu (Hậu Giang) để kịp viếng bác. Tôi biết ơn bác Năm đã năm lần lội ruộng thăm đồng Trung tâm Hưng Lôc và đã gợi ý cho tôi nhiều điều. Trong đó có một lần bác tặng cho tôi chiếc máy điện thoại di động “Cháu giữ mà dùng, bác mua lại cái khác”, “Thông tin là cần thiết, đừng tiết kiệm quá con ạ !” “Chưa kỹ đâu con đừng vội làm sư” “Bác có chút kinh nghiệm thau chua, rữa phèn, lấn biến” “Hiểu cây và đất thì mới làm ra được giống mới con ạ !” “Phải sản xuất kinh doanh khép kín mới khá được” “Dưới đáy đại dương là ngọc !”. Những bài học của bác Năm và chị Ba đã giúp chúng tôi rất nhiều.

Lâu nay chúng ta đã xúc động nhiều với cuộc đời bất hạnh của chị Ba Sương nhưng hình như việc “tích tụ ruộng đất”, “xây dựng nông trại điển hình”, và “lập quỹ trái phép”, của Nông trường sông Hậu thời bác Năm Hoằng và chị Ba Sương cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo để rút ra những bài học sâu sắc về quan điểm, tầm nhìn, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp. Không chỉ vậy, những bài học tổng kết thực tiễn kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Thế giới và Việt Nam việc soát xét 10 năm, 40 năm, 90 năm, 500 năm để tính toán một tầm nhìn trung và dài hạn vẫn chưa có những công trình xứng tầm để đánh giá thấu đáo và đúc kết những bài học phát triển. Bác Năm đã yên nghĩ, chị Ba Sương kêu án tù 8 năm và được thả. Người đương thời chưa thể mổ xẽ và phân tích đúng sai về cách “tích tụ ruộng đất”“lập quỷ trái phép” nhưng nếu khép lại điều này thì không thể nói rõ nhiều việc và cũng không đúng tâm nguyện của những bậc anh hùng trượng nghĩa Nam Bộ đã quyết liệt dấn thân trọn đời cho sự nghiệp và niềm tin ấy.

Hôm nay, khi xem bài viết ‘Phát triển kinh tế nông nghiệp: Tích tụ ruộng đất không phải là yếu tố quyết định‘. của ông Nguyễn Minh Nhị nguyên là Chủ tịch tỉnh An Giang, đăng trên Báo Tia Sáng ngày 8 tháng 6 năm 2017 và bài Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Khuyến nghị chính sách‘ của giáo sư tiến sĩ Trần Đức Viên, chuyên gia đầu ngành Sinh thái học Nông nghiệp, Sinh thái học Nhân văn, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nhiệm kỳ 2006-2016, đăng trên Báo Tia Sáng ngày 25 tháng 5 năm 2017, tôi lần đọc lại trang viết Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi cùng những trang viết nông nghiệp trăn trở của Thầy. Giáo sư Mai Văn Quyền là chuyên gia thâm canh lúa và nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp bền vững nay đã trên 82 tuổi vẫn miệt mài dạy và học nghề nông. Lòng tôi rưng rưng cảm xúc nhớ đến “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” và tự nhắc mình phải cố gắng, nhất định phải dành thời gian cho học và viết về nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Mỗi người chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong sự trường tồn và đi tới mãi của dân tộc nhưng tôi tin câu nói của Nguyễn Khải: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại“.“Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”.

Tôi cũng đọc lại Bảy Nhị chuyện cổ tích người lớn và đồng tình với bài viết mới đây của ông về “niềm tin” và con đường sáng nông nghiệp. Tôi hoàn toàn đồng ý với luận điểm của ông: “Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất – hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác”. Trong một hội thảo Quốc tế trao đổi về “Thành tựu và bài học sắn Việt Nam” tôi có nói đến bài học 6M đó là Man Power (Con người), Market (Thị trường), Materials (Vật liệu mới, Công nghệ mới), Management (Quản lý, Chính sách) Methods (Phương pháp, Cách làm), Money (Tiền, Hậu cần, hậu phương)., Trong 6M thì yếu tố CON NGƯỜI phải là yếu tố quyết định.  Ông Bảy là con người thực tiễn. Ông đã nghỉ hưu, nay viết hồi ký “Tôi đã qua”. Ông kể lại những mẫu chuyện thực của đời mình. Sách “TÔI ĐÃ QUA” gồm hai tập với 675 trang. Lối kể chuyện của ông là tôn trọng sự thật, bám sát thực tế và tâm huyết. Tôi háo hức đọc và chia sẻ đôi lời cảm nhận với bạn, để mong cùng bạn  từ trong chuyện đời thường  rút tỉa được đôi điều về bài học tình yêu cuộc sống. Tôi thấm thía lời ông Bảy: Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì? Cụ Đồ Chiểu có cho Tiểu Đồng nói trong thơ Lục Vân Tiên rất hay: “Đồng rằng trong túi vắng hoe/ Bởi tin nên mắc bởi nghe nên lầm”! Con đường đi lên của nông nghiệp Việt Nam thật vất vả và nhọc nhằn quá! Nông nghiệp nông dân nông thôn Việt Nam sau khoán 10, sau nghị quyết 100, sau đổi mới, sau  liên kết nông nghiệp 10 năm, hiện nay là sau tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, … thực tế  đời sống người nông dân đã tăng lên bao nhiêu? tăng nhiều hay tăng ít? có ổn định bền vững không? đã thật sự công bằng chưa? Hỏi xem thu nhập thực tế của nông dân túi họ có bao nhiêu tiền thì biết. Làm gì để chất lượng cuộc sống nông dân, nông thôn tốt hơn?

Ông Bảy làm Chủ tịch Tỉnh sau làm Bí thư tỉnh An Giang là một tỉnh nông nghiệp. Ông vất vả tổ chức cho tỉnh An Giang đi lên từ hột lúa và con cá. Ông đã trãi nghiệm thực tiển và thấm thía thật nhiều về “niềm tin” về sự liên kết nông nghiệp, đưa hiện đại hóa, công nghiệp hóa vào nông nghiệp, nông thôn’ Ông đã từng tìm tòi và trả giá cho những bứt phá đúng nhưng chưa gặp thời như chuyện “Hai dự án tranh cãi”. Dự án thứ nhất là trồng bắp thu trái non, trồng đậu nành rau và xây dựng nhà máy đông lạnh rau quả xuất khẩu. Dự án thứ hai là nhà máy tinh bột khoai mì. Hơn 20 năm sau nhìn lại, ông viết: “Hai dự án đầy tranh cãi mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Chủ tịch Nước Trần Đức Lương,… từng đến thăm mấy lần và khen ghê lắm. Dự án thứ nhất nay lãi hằng năm cũng vài tỷ rồi cả vài chục tỷ đồng; có việc làm ổn định cho gần một ngàn công nhân (không kể lao động ngoài nhà máy). Dự án thứ hai, dù cho nhà máy bán đi nhưng An Giang được 9.000 ha đất từ Kiên Giang được Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh cho, từ hoang hoá và phèn nặng trở thành đất sản xuất 2-3 vụ/năm, lập thêm hai xã mới với gần một vạn dân. Đây là mồ hôi và cả nước mắt của hàng vạn con người. Nhưng không có ai tranh cãi. Chỉ có tôi và những người không đổ mồ hôi mới tranh cãi mà thôi.” Ông vui buồn trăn trở mà nói vậy thôi. An Giang nay đã vươn lên đứng đầu toàn quốc về sản lượng và xuất khẩu lúa, cá nhưng con đường nhọc nhằn của nghề nông, của một kẻ sĩ tâm huyết, cánh cánh bên lòng câu hỏi: “Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì?”. Tìm được câu trả lời vẹn toàn. Khó lắm!

Ôn cũ ngẫm mới tôi nhớ Đào Duy Từ xựa mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của ông không chỉ là trước tác mà còn là triều đại. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường, ngay trong trước tác  cũng rất chú trọng gắn thực tiễn với lý luận. Ông đặc biệt chú trọng thực tiễn mà không theo lối khoa trương, hủ nho của người đương thời. Tôi kính trọng những người thực tiễn, tâm huyết , biết thao thức vận dụng học để làm trong  thực tế cụ thể của chính mình,  biến những điều học ở trường, học ở trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân để làm được điều gì đó thiết thực cụ thể cho dân, cho nước, cho cộng động xã hội gia đình, và cho chính bản thân mình.

Ông Bảy Nhị mail cho tôi những trang hồi ký chỉ để đọc giữa một ít người trong gia đình và thân quen. Ông vui khi đọc bài viết Kênh ông Kiệt giữa lòng dân và nhận xét: “HK viết lúc mình đã nghĩ hưu nên cả HK cũng không bị ai hiểu là “tâng kẻ có chức”. Tôi thì ám ảnh bởi những điều mình chính đời mình mắt thấy tai nghe mà không lưu lại thì khó có thể trao truyền lại những bài học thực tiễn  cho người thân và các bạn trẻ nên tôi lựa chọn để kể.

Đọc lại và suy ngẫm. Dưới đáy đại dương là Ngọc.

Nguồn: Blog Tình yêu cuộc sống 12/6/2017,

Xem tiếp:

500 NĂM NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Hoàng Kim

“Hột lúa và con cá’ là chuyên mục do giáo sư Tôn Thất Trình gửi bài khi Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm 60 năm ngày thành lập (1955-2015) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam tổng kết chặng đường lịch sử 90 năm (1925- 2015).  “500 năm nông nghiệp Việt Nam” chúng ta chưa có thời gian nhìn lại. Lịch sử của dân tộc Việt từ thuở Nam tiến đầu thế kỷ 15 cho đến nay đối sánh gì với từ thời kỳ đầu tìm ra châu Mỹ của câu chuyện “500 năm nông nghiệp Brazil” ?

Câu chuyện lịch sử “Tổng thống T Jefferson và lúa gạo từ Việt Nam” do giáo sư Nguyễn Tử Siêm (Siem Nguyen Tu) sưu tầm và tổng hợp gợi cho chúng ta một góc nhìn tham chiếu: “Tổng thống Thomas Jefferson là người sáng lập Đại học Virginia vào năm 1819, người đồng soạn thảo và ký bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ. Tháng 7. 1787, khi còn là Đại sứ tại Pháp, ông đã tìm cách liên hệ với mong muốn có được giống lúa từ Việt Nam đem về trồng tại Mỹ. Ông nhận xét giống lúa VN nổi tiếng vì năng suất cao, gạo trắng và thơm ngon. Ông đã viết thư về nước bày tỏ sự quan tâm đặc biệt tới thông tin về tình hình nông nghiệp ở vùng đất phía Nam Việt Nam (Cochinchina).  Trong thời gian làm việc tại Paris (1785-1789), Thomas Jefferson có dịp đọc bút ký của Pièrre Poivre. Cuốn sách mô tả những đồng lúa bát ngát tại Cochinchina (Việt Nam) và chép rằng tại Cochinchina gạo nhiều như núi. Dựa trên những kiến thức đó, Thomas Jefferson dự tính sẽ chuyển những nông trại trồng thuốc lá tại miền Nam Hoa Kỳ trở thành những cánh đồng trồng lúa. Trên thế giới có rất nhiều giống lúa nhưng Thomas Jefferson thích lúa giống từ Việt Nam vì “gạo Cochinchina rất trắng, hương vị thơm ngon và sản lượng cao.”. Cơ hội cho Đại sứ Thomas Jefferson tìm được lúa giống từ Việt Nam là khi Linh mục Pigneau de Behaine mang Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh (1779-1801), con trai trưởng của chúa Nguyễn Ánh, sang Pháp cầu viện vào năm 1786. Qua sự giúp đỡ của một số nhà ngoại giao Pháp, Thomas Jefferson đã gặp Linh mục Pigneau de Behaine và Hoàng tử Cảnh, được đại diện của Hoàng tử Cảnh hứa sẽ gởi lúa giống từ Việt Nam (Cochinchina) sang Pháp. Thế nhưng sau khi về nước, cuốn vào những vòng xoáy chính trị đầy biến động, hoàng tử đã quên bẵng lời hứa với Ngài Đại sứ, còn Jefferson chỉ biết chờ đợi trong hi vọng. Đại sứ Thomas Jefferson rời nhiệm sở tại Paris vào năm 1789 nhưng vẫn chưa nhận được lúa giống từ Cochinchina (Việt Nam). Năm 1801, Thomas Jefferson trở thành Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ. Không hiểu có liên quan gì tới sự quan tâm trước đây của vị tân tổng thống đối với vùng đất phía Nam của Việt Nam mà ngay năm sau thương thuyền Frame do thuyền trưởng Jeremiah Brigg chỉ huy đã được phái sang Việt Nam để thu thập tin tức về cây lúa hạt gạo Việt và tìm hiểu về nguồn cung ứng đường và cà phê cho thị trường Mỹ. Tàu Frame đến cảng Đà Nẵng ngày 21.5.1803. Tại đây thuyền trưởng Brigg đã gặp 2 chiến hạm của Hải quân triều Nguyễn do người Pháp chỉ huy. Họ khuyên Brigg nên đến Huế để yết kiến vua Gia Long, nhưng tại đây viên thuyền trưởng Mỹ chỉ được gặp người đại diện của triều Nguyễn và một số cha cố, sĩ quan Hải quân Pháp đang phục vụ vua Gia Long. Sau khi thu thập được một số thông tin, tàu Frame rời Việt Nam đi Manila vào ngày 10.6.1803. Đây là chiếc tàu Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Phải mất 16 năm sau mới có chiếc tàu Mỹ thứ hai đến Việt Nam cũng với mục đích tìm nguồn cung ứng nông sản. Đó là tàu Franklin do thuyền trưởng John White chỉ huy. Ngày 2.1.1819, tàu Franlin cập cảng Vũng Tàu. J. White đã có cuộc tiếp xúc với quan chức địa phương và được hứa là sẽ cấp giấy phép cho vào Sài Gòn. Nhưng chờ mãi không thấy có hồi âm. Một quan chức địa phương nói rằng phải có giấy phép của triều đình thì tàu ngoại quốc mới được phép vào Sài Gòn. J. White quyết định đến Huế để trực tiếp yết kiến Hoàng đế. Nhưng tiếc thay, khi ấy Hoàng đế Gia Long đang tuần du ở Bắc Hà nên dự định của J. White không thực hiện được. Viên thuyền trưởng quyết định đưa thuyền đến Manila, hy vọng ở đây sẽ tìm ra được người có thể phiên dịch tiếng Việt rồi sẽ quay trở lại Việt Nam. Sau khi tàu Franklin rời Việt Nam còn có 3 tàu buôn khác của Mỹ là Marmion, Aurora và Beverli ghé cảng Vũng Tàu và Đà Nẵng với cùng mục đích, nhưng tất cả đều thất bại.  Sau này tháng 11.2000, khi thăm Việt Nam nguyên TT Bill Clinton trong bài nói chuyện với SV ĐHQG Hà Nội đã nhắc lại: “Hai thế kỷ trước, trong những ngày đầu của Hợp chủng quốc, chúng tôi đã vươn qua biển cả để tìm bạn hàng và Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên chúng tôi gặp. Một trong những bậc cha anh lập quốc của chúng tôi – Thomas Jefferson, đã tìm cách nhập lúa giống từ Việt Nam để trồng tại trang trại của ông ở Virginia 200 năm trước”. Và gần đây, TT B.Obama cũng đề cập câu chuyện này. Mỹ là cường quốc số 1 về xuất khẩu gạo, tuy thế với việc hội nhập TPP, cạnh tranh bình đẳng, nếu chúng ta tạo ra được sự khác biệt về chất lượng và giá cả thì gạo Việt Nam đâu phải đã hết cửa vạo thị trường Mỹ ?.” Dẫn liệu trên được trích dịch từ  [1] Poivre, P., Voyages d’un philosophe, ou Observations sur les Moeurs et les Arts des Peuples de l’Afrique, de I’Asie. et de l’Amdrique, Paris:Yverdon (1768).  [2] Looney, J.J., The Papers of Thomas Jefferson, Princeton, N.J,: Princeton University Press (1958), Vol. 11, 646.”

Giáo sư Tôn Thất Trình nguyên hai lần Tông trưởng Bộ Canh nông, nguyên Hiệu trưởng và Giám đốc Viện Khảo cứu Quốc Gia Nông nghiệp Sài Gòn, nguyên Chánh chuyên viên và Tổng Thư ký chương trình lúa gạo của FAO (1975-1980) đã viết trong bài ‘Hột lúa và con cá”: “Trồng lúa có thể chống đói nhưng không giảm được nghèo, dù năng suất cũng như xuất khẩu ngày nay gấp đôi, gấp ba lúa gao thời Pháp thuộc. Trước đây vào các thập niên 1975- 90, thiếu gao ăn nên Việt Nam đặt ưu tiên gia tăng sản xuất lúa gao với các giống Thần Nông (IR…, nguồn gôc IRRI – Phi Luật Tân) đặc biệt ở vùng Hậu Giang và giữa thập niên 1990, với các giống lúa lai – hybrid rice ( đời F1) nguồn gốc Hồ Nam – Trung Quốc ở đồng bằng Sông Hồng và các đồng bằng nhỏ miền Bắc Trung Bộ. Việt Nam đã thành công không những đủ gạo ăn mà còn xuất khẩu mấy năm sau này, mỗi năm 3-5 triệu tấn gạo, thay vì chỉ xuất khẩu thời vàng son lúa gạo 1934-38 , trung bình 1, 2 triệu tấn một năm. Thế nhưng chống đói thì có, giảm nghèo thì chưa chắc , vì nhiều người đã nêu lên là làm lúa gao hai ba mùa, dù năng xuất trung bình mỗi mùa đã cao hai ba lần hơn truớc đây, vẫn còn làm nông dân chuyên sản xuất lúa gạo nghèo hợn xưa. Vì chưng chánh sách trợ cấp bảo vệ ngũ cốc ( lúa mì , lúa gạo , bắp v.v… ) , các nước tiên tiến như Hoa Kỳ , Nhật , Hiệp Hội Âu Châu…. đã làm xáo trộn, lệch lạc thị trường “tự do“ lúa gạo quốc tế mà Tổ chức Thương mãi Quốc tế – WTO không giải quyết, dung hòa nổi “.

Hột lúa và con cá là căn bản của bữa ăn Việt. Nước lấy dân làm gốc. Dân lấy ăn làm đầu” 500 nông nghiệp Việt Nam, hột lúa và con cá được nhìn nhận và quan tâm như thế nào? Tiếc thay, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có được những công trình xứng tầm để nghiên cứu thấu đáo, đánh giá sâu sắc và đúc kết những bài học phát triển, để tổng kết thực tiễn kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Thế giới và Việt Nam, soát xét so sánh phân tích chuỗi sự kiện 5 năm, 10 năm, 40 năm, 60 năm, 90 năm,… 500 năm để tính toán một tầm nhìn trung và dài hạn, rút ra những bài học sâu sắc về quan điểm, tầm nhìn, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp.

Tôi lưu lại những ghi chép để suy ngẫm.

NHỮNG TRANG VIẾT RẤT CẦN ĐỌC LẠI
http://hocmoingay.blogspot.com/2017/06/nhung-trang-viet-rat-can-oc-lai.html

Hoàng Kim

Xem thêm chuỗi bài viết chuyên đề

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Lương Định Của con đường lúa gạo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác
Chuyện đời giáo sư Lê Văn Tố
Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai
Sắn Việt Nam kết nối châu Phi  
Sắn Thế Giới và Việt Nam
Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương
Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Đôi lời của thầy Ngô Kế Sương
Đối thoại giữa các nền văn hóa
OM lúa giống có Ngọc
Về miền Tây
Hoa của Đất

Hoa Lúa
Đường xuân

 

Video yêu thích
KimYouTube

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s