Đêm nhớ Người tỉnh thức Hải Như

ĐÊM NHỚ NGƯỜI TỈNH THỨC HẢI NHƯ

Hoàng Kim tưởng nhớ cụ Hải Như

Ba mươi tháng sáu hôm nay
Đêm nhớ ‘Người thức tỉnh’
Cụ Hải Như rời dương thế
Hải Như “thơ viết về Người”.

Bác Hồ trong thơ Hải Như
Chúng cháu canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi
Kỷ niệm sinh nhật Người năm ấy
Một lối đi riêng
Người sau không bị khuất
Cần những phút buồn

41 bài ‘thơ viết về Người’
Lắng đọng sâu sắc một đời
Là kiệt tác chân dung.
Minh triết Hồ Chí Minh.

Tuấn mã đưa Người về đích
Cụ không ngợi ca Lãnh tụ
mà làm ‘thơ viết về Người’
Đích nhân văn của Cụ là
THỨC TỈNH CON NGƯỜI
Cụ Hải Như ơi !

(*) Nhà thơ Hải Như (Vũ Như Hải) sinh ngày 25/12/1923 tại Nam Định, từ trần lúc 7g23’ngày 30/6/2017 (tức 7/6a6m lịch năm Đinh Dậu, thượng thọ 95 tuổi. Lễ viếng lúc 9g30 thứ bảy ngày 1/7/2017 nhằm ngày 8/6 âm lịch năm 9inh Dậu tại nhà tang lễ Bộ Quốc Phòng số 5 Phạm Ngũ Lão Gò Vấp. Lễ động quan lúc 7g thứ hai, ngày 3/7/2017 (10/6 âm lịch) an táng tại nghĩa trang Hoa Viên Bình Dương . Bà quả phụ Nguyễn Thị ngọc Tỉnh và Trưởng nam Vũ Dương Quân kính báo. Người gửi tin nhắn: Hải Như Hạnh 14 Nguyễn Thiệp, Quận 1, điện thoại 0913070041.

BÁC HỒ TRONG THƠ HẢI NHƯ
Hoàng Kim

DẠY VÀ HỌC. Nghiên cứu về Con Người và Sự nghiệp của Bác Hồ cần thiết hơn hết là đọc thẳng trước tác của Bác với tác phẩm chọn lọc Hồ Chí Minh tuyển tập trọn bộ ba tập Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2002, 2178 trang. Tiếp đến là cụm bảy tác phẩm chính, chứa đựng nhiều thông tin đầu nguồn mà tôi ưa thích hơn cả, đó là: 1) “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam” của đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên; 2) “Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất, đọc tại Lễ truy điệu trọng thể Hồ Chủ tịch, ngày 9 tháng 9 năm 1969 đúc kết sâu sắc năm cống hiến kiệt xuất nhất của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đất nước; 3).”Nhân cách lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh ” do giáo sư Trần Văn Giàu đúc kết bảy phẩm chất cơ bản của Bác “được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca”. 4) “Bác Hồ rất ít trích dẫn !” bài của chủ tịch Trường Chinh về phong cách văn chương của chủ tịch Hồ Chí Minh; 5) “Những nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh” của thủ tướng Phạm Văn Đồng nhà lãnh đạo gần gũi nhất bên cạnh Bác; 6) “Búp sen xanh ” và cụm 20 tác phẩm của “nhà văn Sơn Tùng – người viết về Bác Hồ thành công nhất 7) Chúng cháu canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi” và chùm 41 bài thơ của nhà thơ Hải Như – người làm thơ về Bác Hồ ấn tượng nhất. Trong bảy tài liệu trên, thơ Hải Như ở vị trí khiêm nhường nhưng làm sáng góc nhìn Con Người Bác Hồ. 

Hải Như và bài thơ nổi tiếng

Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật lịch sử hiếm có của Việt Nam. Bác được tôn kính và ngưỡng mộ như một vị thánh. Dường như rất ít ai trên thế giới được như Bác có nhiều ngợi ca bằng viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc, huyết họa, điện ảnh, sân khấu, thờ cúng trong gia đình và ngoài xã hội. Thời gian và sự tranh luận thêm bớt thần tượng hóa Bác Hồ không làm xóa nhòa những dấu ấn sâu đậm của Người trong lòng dân. Di sản to lớn nhất của Bác không chỉ là sự nghiệp huyền thoại vô song “anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới” mà cao đẹp hơn hết trong lòng dân là nhân cách Con Người đầy sức cảm hóa mà hiếm có một vị lãnh tụ nào đạt tới. Hải Như là nhà thơ viết về Bác Hồ ấn tượng nhất của lòng tôi trong số những nhà thơ Việt Nam. Dẫu Tố Hữu đã có các bài thơ “Việt Bắc“, “Theo chân Bác” viết rất hay về Người, Chế Lan Viên có bài thơ “Người đi tìm hình của nước” thật xúc động; Viễn Phương có bài “Viếng lăng Bác” hay nao lòng, và rất nhiều bài thơ khác nữa. … Nhưng lạ lùng thay, trên 43 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ như in lời thơ của Hải  Như “Chúng cháu canh giấc Bác ngủ Bác Hơi!“. Bài thơ do thầy Phạm Ngọc Căng, Phó Hiệu trưởng Trường cấp ba Bắc Quảng Trạch đọc trong đêm truy điệu Bác ngay sau khi bài thơ vừa ra đời, lên sóng truyền thanh Đài Tiếng Nói Việt Nam và thầy chép lại. Cả hội trường mênh mông không ai cầm được nước mắt …

CHÚNG CHÁU CANH GIẤC BÁC NGỦ, BÁC HỒ ƠI

Hải Như

“Trăng vào cửa sổ đòi thơ”
Bác vừa chợp mắt, xin chờ trăng ơi!

Chúng ta hãy bước nhẹ chân, nhẹ nữa
Trăng trăng ơi, hãy yên lặng cúi đầu…
Trọn cuộc đời Bác có ngủ yên đâu
Nay Bác ngủ, chúng ta canh giấc ngủ.

Hỡi ai đó, không được rời đội ngũ
Theo hàng hai, đi lặng lẽ tiến dần
Đừng khóc oà, hãy rón rén bàn chân
Bước nhẹ nữa. Bác Hồ vừa chợp mắt

Bác nằm đó, bộ ka-ki Bác mặc
Chưa kịp thay, Người vừa ngả lưng nằm.
Nếu ta đoán không lầm; Bác mới đi thăm
Một xóm thợ, xem nơi ăn chốn nghỉ…

Nhưng không phải – vì khi ta ngắm kỹ
Trên má Bác Hồ còn in dấu chiếc hôn
Các cháu nhi đồng lớp học đầu thôn
Được Bác ghé thăm, Bác cho bá cổ…

Hỡi ai đó, cắn chặt môi, hãy cố
Đừng để cho tiếng nấc động tai Người.
Bác Hồ vừa chợp mắt ngủ đó thôi
Trước giường Bác, ta nghẹn ngào đứng ngắm

Mái tóc Bác lẫn với mầu gối trắng
Râu Bác thưa cũng bạc trắng một mầu,
Ta muốn làm con nhỏ vuốt chòm râu
Từng sợi bạc dãi dầu sương, nắng, gió.

Đôi dép lốp như cùng ta kể rõ
Người quên Người, dành hết thảy cho ta!
Từ có Bác Hồ, thêm rạng rỡ ông cha
Tên của Bác đẹp thắm trang lịch sử.

Ta đứng lặng trước giấc Người yên Ngủ!
Chúng ta hãy bước nhẹ chân, nhẹ nữa
Trăng trăng ơi, hãy yên lặng cúi đầu…
Trọn cuộc đời Bác có ngủ yên đâu
Nay Bác ngủ, chúng ta canh giấc ngủ.

Hỡi ai đó, đừng gục đầu ủ rũ
Bác dặn ta: nhớ Bác phải vươn mình
Giường Bác nằm chiếu sáng giữa trăng thanh,
Chiếc giường một suốt đời, ta nhớ mãi…

Cạnh nách Bác, đồng chí đi bên ơi, có phải
Ta nhìn như chiếc quạt Bác hay dùng
Chiếc quạt quê nhà, Bác vẫn giắt lưng!
Cùng với khúc ca dao ngọt ngào, Bác thuộc.

Bên gối Bác còn ấm lời non nước
Ánh hào quang sông núi tụ trên mình
Bác chan hoà như biển lớn mông mênh
Hồn dân tộc kết tinh hồn thời đại…

Hỡi ai đó, như trẻ thơ khóc mãi
Hãy lau khô đừng để lệ chảy tràn
Bác không muốn ta chìm trong biển lệ khóc than
Trước khi ngủ, Bác dặn dò tha thiết

Vầng trán Bác in giấc mơ tuyệt đẹp!
Hãy đọc trong mi mắt khép: nụ cười,
Bác Hồ nằm, tay không để buông xuôi
Đặt trước ngực như khi Người dạo mát.

Ôi ta nhơ hai bàn tay của Bác
Vỗ nhịp cho cả nước hát Kết Đoàn.
Ngày mai đây khi giải phóng Miền Nam
Cả nước hát, vắng bàn tay Bác vỗ…

Ta đứng lặng trước giấc Người yên ngủ!
Chúng ta hãy bước nhẹ chân, nhẹ nữa
Trăng trăng ơi, hãy yên lặng cúi đầu…
Trọn cuộc đời Bác có ngủ yên đâu
Nay Bác ngủ, chúng ta canh giấc ngủ.

Hỡi ai đó, từ Cà Mau về đủ
Tạm dừng bên nhường bước bạn bè xa
Hỏi có ai giàu hơn Bác Hồ ta
Người chợp mắt, cả năm châu cùng đến

Trên giường Bác, chúng tôi không thắp nến
Đã có trăng sao ôm ấp quanh Người
Bác yêu trăng như yêu một con người
Trong thơ Bác, trăng với hoa là bạn

Giao thừa tới từ nay đâu tiếng Bác
Chúc đồng bào chiến sĩ, giọng ngân vang
Giọng của Bác Hồ làm ấm cả không gian
Nghìn thế hệ mai đây còn ấp ủ…

Hỡi ai đó, xiết chặt thêm đội ngũ
Người vẫy ta kia, môi Bác mỉm cười
Bác giữa Ba Đình rực rỡ nắng tươi
Trong tim óc chúng ta, Người vẫn sống

Bác dẫu ngủ, kẻ thù đừng hy vọng
Ánh sáng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đời
Bác thức tỉnh ta: giữ lấy kiếp người
Ta thức tỉnh, nguyện bên Người vĩnh viễn

Xin Bác ngủ giữa dòng đời lưu luyến
Với Mác Lênin, giấc ngủ nghìn đời
Chúng cháu canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi…

(Chiều 8 tháng 9 năm 1969)

Hải Như nhà thơ về Bác Hồ

Theo đại tá nhà văn Bùi Văn Bồng trong bài “Nhà thơ Hải Như: Hãy cãi lại Bác Hồ” thì “Nhà thơ Hải Như năm 2017 đã 95 tuổi, sinh năm 1923, tên thật là Vũ Như Hải, quê thành phố Nam Định. Ông tham gia cách mạng trước năm 1945 trong Hội truyền bá Quốc ngữ ở Hà Nội. Năm 1946, ông vào quân đội, tham gia lớp đào tạo báo chí cách mạng đầu tiên mang tên Huỳnh Thúc Kháng ở chiến khu Việt Bắc. Sau đó, ông lần lượt công tác ở các báo Sông Lô, Vệ quốc quân, Cứu quốc và báo Giác Ngộ rồi sau đó dừng viết báo, chỉ lo chung thủy với “Nàng Thơ”. Theo ông: Làm báo là phục vụ cho nhiệm vụ chính trị thời điểm, thời sự, còn làm thơ là sáng tác ra tác phẩm nói lên những vấn đề của con người gắn với thời cuộc, thời đại. Nhà thơ cần tìm ra cái cốt lõi của đời sống xã hội, truy nguyên vào bản chất của nó, đồng thời “nấu cao ngôn ngữ, cắt chữ dựng tượng” để có những bài thơ, câu thơ chắt lọc, lắng đọng. Vì thế nhà thơ cần phải có năng lực dự báo, cánh chim báo bão, là người đi đầu phản biện góp phần cho sự phát triển các giá trị Chân-Thiện-Mỹ trong xã hội; đem hồn thơ làm thắm được hồn người, thơ không nên chỉ lo phục vụ chính trị, mà phải “văn dĩ tải đạo”.  Ông là nhà thơ thuộc thế hệ đầu của cách mạng. Ông nổi tiếng với đề tài thơ viết về Hồ Chi Minh, trong đó nổi bật khoảng trên 50 bài in sách, đăng báo. Ông làm thơ ít chú ý đến vần-nhịp điệu, không tự khuôn vào các thể loại, mà cốt ở tứ thơ, ý thơ. Vì thế, thơ Hải Như tự nhiên như nói, tự nhiên nói lên suy nghĩ và chính kiến của mình, như lời tâm sự chân tình, lắng đọng. Những bài thơ đề tài Hồ Chí Minh với cách thể hiện riêng không lẫn với nhà thơ nào.”.
 
Tôi chưa rõ số bài thơ của Hải Như viết về Bác Hồ thực sự có bao nhiêu nhưng do kính trọng thơ ông nên tôi may mắn tiếp xúc được nhiều thơ ông viết về Bác. Tôi tâm đắc với anh Bùi Văn Bồng là Hải Như viết “những bài thơ đề tài Hồ Chí Minh với cách thể hiện riêng không lẫn với nhà thơ nào“. Hầu như bài nào cũng hay. Hầu như bài nào tôi biết cũng đều tâm đắc kỳ lạ. Nhà thơ Hải Như tiếp cận Bác Hồ không phải tiếp cận một lãnh tụ mà tiếp cận Bác với sự kính phục Con Người. Ông không xu nịnh, hoan hô, ngợi ca theo số đông mà thầm phục nhân cách:

KỶ NIỆM SINH NHẬT NGƯỜI NĂM ẤY

Hải Như

Nếu tôi nhớ không lầm
Có một nhà phê bình văn học được Bác Hồ mời lên
Thân tình góp ý:
“Làm nhà yêu nước đủ rồi! (Người cười vui)
Đừng bắt Bác “cõng” thêm nhà thơ,
Bác mệt!”

Cũng vậy – khi trao đổi với mọi người
Hồ Chí Minh không bao giờ
tự cho mình đúng hết
Hãy cãi lại Bác Hồ…
(Người đưa tay nghiêm nghị chỉ vào từng chúng ta)

Có lẽ nào
Các chú
lại không cho Bác
có quyền được biết mình sai!

(Tháng 5 năm 1980).

Học Bác Hồ qua thơ Hải Như

Những chính khách Việt Nam lỗi lạc Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, … đều có những cách riêng để học Bác Hồ. “Dĩ công vi thượng” là nhân cách lớn của đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt lợi ích chung lên trên hết. Đó là lời Bác Hồ nói với Bác Giáp tại hang Pắc Bó trước năm 1945. Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt đời tâm đắc điều này và là tấm gương mẫu mực về Dĩ công vi thượng từ “buổi đầu dựng nước” “chiến đấu trong vòng vây” đến “những năm tháng quyết định”, “ứng xử cuối đời” đều mẫu mực một nhân cách lớn.

Giáo sư Trần Văn Giàu thì đúc kết bảy phẩm chất cơ bản của Bác Hồ được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca đối với “Nhân cách lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh “: 1) Ưu tiên đạo đức; 2) Tận tụy quên mình; 3) Kiên trì bất khuất; 4) Khiêm tốn giản dị; 5) Hài hòa kết hợp; 6) Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý; 7) Yêu thiên nhiên hòa hợp với thiên nhiên.

Chủ tịch Trường Chinh thật sâu sắc khi chỉ ra “Bác Hồ rất ít trích dẫn !” Lúc đầu ông cũng cho là ngẫu nhiên. Về sau, hỏi trực tiếp, Bác nói: “Mác, Ang ghen, Lênin nói rất đúng. Nhưng hoàn cảnh Mác, Angghen, Lênin hoàn toàn khác hoàn cảnh của chúng ta. Vậy nên muốn nói gì, trước hết phải hiểu cho thật rõ điều mà các vị ấy muốn nói, nói cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, cho dân mình dễ hiểu. Do đó, Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn”. (Hà Đăng 2002. Trường Chinh, người anh cả trong làng báo. Trong sách: Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 320). Chủ tịch Trường Chinh hiểu thực chất ý tứ câu nói của Bác, đó là nắm chắc thực tiễn, coi trọng thực tiễn, nói và làm bất cứ điều gì phải phù hợp với hoàn cảnh. Những đổi mới của Việt Nam gắn liền sâu sắc với bài học đó.

Nhà thơ Hải Như cũng lặng lẽ học Bác nhưng ông đã tinh tế chỉ ra điều cần học nhất ở Bác Hồ là HỌC LÀM NGƯỜI,  Bác Hồ nói: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính. Thiếu một mùa thì không thành trời. Thiếu một phương thì không thành đất. Thiếu một đức thì không thành người”. “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân“.

Nhà thơ Hải Như lặng lẽ học Bác, quan sát thực tiễn và mạnh dạn đề xướng việc cấp bách nhất trong phong trào Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay là phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đang bành trướng trong toàn Đảng, làm suy yếu Đảng. Ông viết:

MỘT LỐI ĐI RIÊNG

Chúng ta thích đón đưa
Bác Hồ không thích
Đến thăm chúng ta Bác Hồ thường “đột kích”
Chữ “đột kích” vui này Người nói lại cùng ta
Và đường quen thuộc Bác chẳng đi đâu
Đường quen thuộc thường xa
Bác hiện đến bằng lối tự tìm ra:
Ngắn nhất
Bác không muốn giẫm lên mọi đường mòn có sẵn
Khi đích đã nhắm rồi
Người luôn luôn tạo cho mình:
Một lối đi riêng.
(1 – 1970)

NGƯỜI SAU KHÔNG BỊ KHUẤT

Bác Hồ đứng
Người sau không bị khuất
Ta đứng (thường quên)
Che lấp…
Bạn mình!
(10 – 1970)

CẦN CÓ NHỮNG PHÚT BUỒN

Khác với chúng ta
Bác Hồ đắp chăn đơn – không muốn mình ấm quá
Người trằn trọc canh dài
Vì tiếng trẻ rao đêm
Khi còn những bất công (chưa dễ dàng ta xóa)
Cần có những phút buồn
Nâng chúng ta lên.
(1970)

ÁO THUỞ HÀN VI

Khi tiếp khách người thân
Bác vẫn khoác chiếc áo bông sờn
Hai vai áo này đây hai mụn vá
Đâu phải chỉ thương dân còn vất vả
Ta hiểu Người muốn ngụ ý sâu xa
(Bác Hồ thường không nghĩ hộ cho ta)
Người gợi ý. Ta tự tìm chân lý
Áo thuở hàn vi
Bác Hồ vẫn quý
Nhiều chúng ta lãng phí cả… con người.
(5 – 1971)

ĐÂU CHỈ VÌ GIẢN DỊ

Bác Hồ đi dép lốp cao su
Đâu chỉ vì giản dị
Mà vì lẽ cao hơn
Ta lười nghĩ chẳng tìm thêm
Khi trái đất này còn những trẻ em
Chưa có đủ giày đi
Người không sao sống khác
(1970)

KHÔNG ĐÁNG SỢ KẺ THÙ TRƯỚC MẶT

Ta hãy tự trả lời ta – Bạn hỡi
Khi ta vui
Và cả lúc ta buồn
Tâm hồn ta có trong sáng đẹp hơn
Trước phút đi xa Bác Hồ căn dặn
Không đáng sợ kẻ thù trước mặt
Sợ nhất
Kẻ thù ẩn náu trong ta!
(1970)

TRONG PHÒNG NHỎ MÌNH TA

Ta không muốn chỉ ngắm hoài bức ảnh
Bác Hồ cười trán chẳng rõ nếp nhăn
Trong phòng nhỏ mình ta
Rất nhiều lúc ta cần
Được thấy Bác nghiêm nhìn ta – tư lự
Và được thấy cả lúc Người giận chứ!
Lặng lẽ ngoảnh đi…
(Ta tự hiểu với mình…)
(9 – 1971)

NGÀI QUÁCH

Người tù bị nhốt lao làm thơ – rung động chân thành
Ngợi ca người coi ngục
Mỗi lần đọc bài thơ “Ngài Quách” trong Nhật kỹ trong tù
Ta lại tự hỏi thêm:
Có phải Bác Hồ muốn giúp ta định nghĩa rõ hơn
Thế nào là người cộng sản?
Người biết chắt chiu từng giọt người trong xã hội còn đêm
Người tin vào bản chất người không một ai muốn xấu
Người không cho là đã nhuốm bùn rồi thì hết nảy những mầm sen
(9 – 1978)

ĐỎ MẶT

Đứng trước khó khăn
Bác Hồ dặn ta cười
Và do đó mà ta biết khóc
Khi nghĩ xấu
Ta không còn… đỏ mặt
Ấy là khi ta bỏ mất ta rồi!
(1970)

TRÊN HÈ PHỐ MAI ĐÂY

Trên hè phố chúng ta mai đây
Nếu còn một trẻ nhỏ bị còng ta
Vì lẽ này lẽ nọ
Thì em ơi – đừng sợ
Phải nói thật với mình:
Lỗi đó ở em
Lỗi đó ở anh
Bác Hồ dạy chúng ta điều trước tiên
Nhận lỗi.
(5 – 1972)

Nhà thơ Hải Như với sự ngưỡng mộ chân thành sâu sắc đối với Con Người Bác Hồ đã chỉ ra ba khẩu hiệu mà theo ông do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, nhưng chưa viết thành văn bản mà ông đã hiểu được trong quá trình nghiên cứu những tài liệu về hành trình sự nghiệp của Người. Đó là ba Không: Không vinh thân phì gia; Không phân biệt đối xử; Không đặc quyền đặc lợi.

Tại bài phỏng vấn “Thơ ca và những đề tài lớn” ông viết: “Khẩu hiệu thứ nhất là “Không vinh thân phì gia”. Tư tưởng phương Đông, một người làm quan cả họ được nhờ, đã làm quan thì thân được vinh hiển thay đổi cả vị trí xã hội và kinh tế, gia quyến thì được nhờ vả, được kính trọng lây. Hồ Chí Minh không vinh thân phì gia. Bà Thanh – chị ruột ra thăm Người rồi cũng về quê Kim Liên. Bác không có người thân nào ở cạnh để đề bạt cả, cho đến hết đời vẫn như thế. Thứ hai là “Không đặc quyền đặc lợi”. Hồ Chí Minh khi làm Cách mạng hay khi làm Chủ tịch Nước, cụ đều sống như những người dân thường. Cả nước đều biêt, khi có chính sách đề ra hũ gạo tiết kiệm thì hàng ngày Người cũng bớt một nắm gạo, bớt bữa ăn. Bác sống giản dị như người bình dân không nhà lầu, xe sang, ăn uống cũng đơn giản không đòi tiêu chuẩn riêng. Người không hưởng đặc quyền đặc lợi. Cụ vẫn đi dép lốp, đi xe cũ, mặc áo vá… luôn quan hệ gần gũi với người cận vệ, hàng ngày vẫn cho cá ăn, tưới rau. Khẩu hiệu thứ ba xuyên suốt cuộc đời Người. Đó là “Không phân biệt đối xử”. Hồ Chí Minh là người cộng sản nhưng khi thành lập Liên minh Chính phủ, ông đã mời cả những người ở đảng khác vào như Quốc Dân Đảng, Đảng Xã Hội… hay không phải Đảng viên. Cụ cũng mời các thành phần xã hội tham gia lãnh đạo Đất nước, tham gia kháng chiến… Về vấn đề kê khai tài sản, tôi thấy Nghị quyết Đảng đề ra đã lâu nhưng vẫn chưa làm được. Vẫn lúng túng quá. Phải chăng có điều gì khó khăn, khuất tất? Tại sao không học tập Hồ Chí Minh, chúng ta phải thấy rằng đây là một lãnh tụ duy nhất trên thế giới không kê khai tài sản mà công khai tài sản, Người chỉ xách một cái vali và đôi dép lốp về nước, làm Cách mạng đến khi làm Chủ tịch Nước vẫn công khai tài sản từng ấy. Người dân tin cậy Hồ Chí Minh vì ông là lãnh tụ sạch cho tới lúc ông ra đi.”

Nhà thơ Hải Như có em ruột và con trai hi sinh cho Tổ Quốc. Liệt sĩ Vũ Như Hà – em ruột nhà thơ Hải Như – sinh năm 1925 là người đã từng cùng ông Lê Đức Nhân (gốc người Đức do Bác Hồ đặt tên Việt) can đảm đóng giả sĩ quan Pháp vào đánh úp thắng lợi đồn giặc ở châu Nguyên Bình, Cao Bằng. Sau này, anh hi sinh năm 1948 ở Việt Bắc. Nhà thơ đã khóc em “Đi 22 tuổi chưa là trẻ/Ở đủ trăm năm chửa hẵn già / Kiêu hãnh ai xưa vào trại giặc/ Nghiêng cười sáng mãi nét tinh hoa”. Liệt sĩ Vũ Bắc Dũng – con trai nhà thơ Hải Như – sinh năm 1949 hi sinh năm 1969 ở chiến trường biên giới Việt Lào, đến nay vẫn chưa tìm thấy mộ. Nhà thơ Hải Như trong nỗi đau ấy hẵn thấu hiểu nỗi đau của Bác Hồ khi mất mẹ và em. Ông thấu hiểu, hiểu đúng và đồng cảm vì sao Bác Hồ đi dép lốp, cần có những phút buồn” mặc áo vá, đắp chăn đơn để Người hiểu và thương người lính cùng những người dân đói rách.

Nhà thơ Hải Như là thi sĩ nổi tiếng của hơn 100 bài thơ tình, quê hương, đất nước được phổ nhạc, trong đó mảng đề tài về Bác Hồ là sâu sắc hơn cả. Nhà sử học Đào Duy Anh nói với ông một câu bằng tiếng Pháp mà nhà thơ Hải Như nhớ mãi: “Anh đã có đề tài chuyên chở tư tưởng của anh rồi” và “Anh cứ tiếp tục làm đi!”. Đọc thơ Hải Như cùng những điều tâm huyết của ông trả lời khi được phỏng vấn đã giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về những giá trị nhân văn cao cả của Bác. Đó là bài học dấn thân “vì dân phục vụ” mà mỗi chúng ta, và đặc biệt là những vị đang nắm trọng trách của đất nước, chịu trách nhiệm trước lịch sử và nhân dân, cần đọc và suy ngẫm lời giáo sư Trần Văn Giàu: “Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn.”

Đêm nhớ Người tỉnh thức Hải Như. Hải Như “thơ viết về Người” Bác Hồ trong thơ Hải Như 41 bài ‘thơ viết về Người’ lắng đọng sâu sắc một đời là kiệt tác chân dung, minh triết Hồ Chí Minh, tuấn mã đưa Người về đích. Cụ Hải Như không ngợi ca lãnh tụ mà làm ‘thơ viết về Người’. Đích nhân văn của Cụ là THỨC TỈNH CON NGƯỜI, Cụ Hải Như ơi !

Hoàng Kim — with Hanh Vu.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Tím một trời yêu thương


TÍM MỘT TRỜI YÊU THƯƠNG

Hoàng Kim

Hạnh phúc thật giản đơn…
Khi sớm mai thức dậy
Thong thả vào trang mới
Cùng người thân chuyện trò

Thương năm tháng đường xa
Gừng cay và muối mặn
Nhớ giọt nước mắt trong
Sự an nhiên thầm lặng …

Chợt thấy lòng bâng khuậng
Thanh thản ngày thu tới
Thung dung chào ngày mới
Tím một trời yêu thương.

Noi tinh yeu bat dau
Nơi tình yêu bắt đầu, ảnh Phan Chí Quyết

Video yêu thích

Chiều nắng, album Tân Nhàn
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Tháng Sáu em đi đường xa

THÁNG SÁU EM ĐI ĐƯỜNG XA
Cha Mẹ vườn cà ớt đậu gửi ai.
Tháng sáu trời mưa bời bời
Nhớ ngày nắng hạn mình ngồi đợi mưa (*)
Tháng sáu trăng khuyết sao lu
Đêm quên đầy đặn, ngày thưa thớt dài
Bao giờ cho đến tháng Mười
Thảnh thơi mọi chuyện, ra ngồi đếm sao …

Hoàng Kim

Chim Phượng Hoàng Đất vườn nhà tôi

—–

(*) Bài trích dẫn:

Doimua

ĐỢI MƯA

Khát khao ngóng sớm chờ trưa
Sắn trồng nửa tháng đợi mưa cháy lòng
Mía xơ xác khắp cánh đồng
Đất rang rẫy nóng, trời nồng nực oi.
Lúa non ruộng nứt nẻ rồi
Suối khô, hồ cạn, người người ngóng trông
Tiếng ve ngằn ngặt trưa nồng
Mấy khi tháng bảy lại mong mưa rào?

Thương mình, thương kẻ khát khao
Mưa ơi, ngóng đợi lặn vào giấc mơ.

Hoàng Kim

Video yêu thích
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Con sẽ là màu nắng của Cha

CON SẼ LÀ MÀU NẮNG CỦA CHA

Hoàng Kim

Ngày của Cha trong gia đình tôi là ngày nhớ ơn Cha Mẹ, hát ca khúc tuyệt vời Em là hoa hồng nhỏ, ‘Con sẽ là màu nắng của Cha’ để biết ơn Người. Ngày này gia đình tôi ôn lại ký ức tuổi thơ về Mẹ Cha, lời Cha Mẹ yêu thương dặn con, ngày cưới Kim Thủy 20. 6. 1981, ngày sinh Hoàng Tố Nguyên 22.6.2983, ngày tiễn Bà Đen về trời 18.6.2014, ngày giỗ trận Waterloo 18.6.1815 và sử thi Di sản Walter Scott , thấu hiểu nhân văn kiếm bút Cha Anh lấy đức làm gươm; ngày bảo vệ môi trường nhớ lời Olinor Ostrom “Ngôi nhà chung Trái Đất”; Đó là ngày thấm thía Nhớ Mẹ Cha, Hoa của Đất,  Thơ cho con,  Giấc mơ hạnh phúc,


 Em là hoa hồng nhỏ

Nhạc và lời Trịnh Công Sơn,
trình bày Nhóm bé Tuổi hoa

Em sẽ là mùa xuân của mẹ
em sẽ là màu nắng của cha
em đến trường học bao điều lạ
môi biết cười là những nụ hoa

trang sách hồng nằm mơ mà ngủ
em gối đầu trên những dòng thơ
em thấy mình là hoa hồng nhỏ
bay giữa trời làm mát ngày qua

Trời mênh mông đất hiền hòa
bàn chân em đi nhè nhẹ
đưa em vào tình người bao la

cây có rừng bầy chim làm tổ
sông có nguồn từ suối chảy ra
tim mỗi người là quê nhà nhỏ
tình nồng thắm như mặt trời xa.”

Tôi lưu các bài về Cha Mẹ với bài hát này của nhạc Trịnh cho chính mình, cho vợ con và người thân. Đó là những trang viết sâu thẳm. “Ký ức tuổi thơ về Mẹ Cha”, “Lời Cha Mẹ yêu thương dặn con” cùng tâm nguyện “Con sẽ là màu nắng của Cha”.

Ký ức tuổi thơ về Mẹ Cha

Trong bài “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” tôi đã kể về tuổi thơ: “Quê tôi ở miền Trung nghèo khó “Nhà mình gần ngã ba sông/ Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình,/ Linh Giang sông núi hữu tình / Nơi đây cha mẹ sinh thành ra con/ Chèo thuyền cho khuất bến Son/ Để con khỏi chộ (thấy) nước non thêm buồn/ Câu thơ quặn thắt đời con/ Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơ ”. Mẹ tôi mất sớm, cha bị bom Mỹ giết hại, tôi và chị gái đã được anh Hoàng Ngọc Dộ nuôi dạy cơm ngày một bữa suốt năm năm trời. Thầy Nguyễn Khoa Tịnh đứng khóc trên bục giảng vận động thầy cô, bạn hữu chia sớt khoai sắn giúp đỡ. Tôi cũng dạy năm lớp vở lòng, ba lớp bổ túc văn hóa để vượt khó vươn lên. Thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết những lời xúc động trong trường ca tình thầy trò: “Thương em nhỏ gieo neo mẹ mất. Lại cha già giặc giết hôm qua. Tình thầy, tình bạn, tình cha. Ấy là ân nghĩa thiết tha mặn nồng”   Những gương mặt thầy bạn đã trở thành máu thịt trong đời tôi.

Nhà tôi thuở ấy nghèo quá ! Đói đến mức gần tắt bữa. Mẹ tôi ốm và chết trẻ do hậu sản và suy gan sau khi em tôi mất. Mẹ chết sáng mồng ba Tết “Giáp Thìn bốn chín mẹ quy tiên”. Trước đó, cha đã bán hết tài sản để cứu mẹ nhưng không được. Tài sản đáng giá nhất tôi còn nhớ là: một con bò vàng, hiền nhưng không chịu để ai bắt nạt và có những thế đánh rất giỏi, nổi tiếng khắp cả hai làng Minh Lệ và Hòa Ninh; một căn nhà gỗ mái lợp tranh; một bộ phản cũ và một thùng gỗ vừa là thứ đựng lúa gạo vừa cũng là giường nằm. Mẹ đau nặng, cha bán hết bò, vật dụng và nhà, vừa nói với các con vừa khóc: “Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”. Suốt bao nhiêu năm  trôi qua, khuôn mặt khắc khổ mếu xệch và dòng nước mắt người cha trước sự lựa chọn sinh tử dữ dội luôn thấm mát đời con. Nhà minh con trai con gái ai cũng yêu thương vợ con có lẽ có từ bài học sâu sắc đầu đời này. Trước đó, tôi nghe kể, có lần khi cha bị bắt đi, cha xin chậm lại một chút để chẻ củi nhóm than cho vợ vừa sinh, ông đã tự bổ thẳng vào chân mình, tự thương nên đã tránh được một kiếp nạn.

Mẹ mất lúc tôi lên 9 và chị Huyền tuổi 12. Anh Dộ đi dạy cấp 1 ở xa, chị Huyên đã lấy chồng đều về chịu tang. Hôm mẹ chết, hầu như cả làng đi đưa. Đám tang rất đông vì sinh thời mẹ ăn ở đức độ, phúc hậu và mẹ đẹp người, đẹp nết, chết trẻ vì bệnh hiểm nghèo nên ai cũng thương. Gia đình tôi sau đó còn ba bố con ở chái lều tranh một mái gác xiên trên tường đất cũ. Nền nhà cao hơn một mét, kiềng đá hộc chắc chắn để tránh lụt vô nhà. Nền này, anh Trực tôi đã nhiều đêm cùng cha đào gánh đất đắp nền, trước khi anh tình nguyện đi bộ đội lúc 17 tuổi để cha được miễn dân công hỏa tuyến ở nhà nuôi vợ ốm và hai con nhỏ.

Trong ký ức tuổi thơ của tôi nhớ về mẹ là được dụi đầu vào ngực của người và được mẹ âu yếm. Tôi nhớ ngày còn rất nhỏ theo mẹ đi bán nước chè lá vằng cho bà con cô bác đi chợ, một đọi (chén sành) được hai xu, thỉnh thoảng có người uống đến năm xu, vừa uống vừa xoa đầu tôi: “cháu giỏi lắm, chừng này tuổi mà đã biết giúp mẹ”. Những lúc mệt, tôi lại chạy về ôm mẹ và được mẹ lau mồ hôi cho. Chiếc khăn mẹ thơm mùi trầu cau. Sau này khi đi học, tôi có được thưởng một chiếc khăn mùi xoa. Lúc đó, cha tôi một mình gà trống nuôi con đã nhiều năm. Tôi đưa tặng chiếc khăn cho cha và đó là lần thứ hai  tôi đã nhìn thấy cha khóc; đó cũng là lần đầu tôi làm thơ trong đời.

Chiếc khăn tay
Con cầm về chiếc khăn tay
Của trường, của lớp, của thầy tặng con
Cầm khăn cụ vui vô cùng
Hai hòn nước mắt tưng bừng tuôn rơi
Gì từng ấy hỡi cụ ơi
So bằng công cụ như trời như non
Nuôi con biết mấy năm tròn
Gom từng hột sạu, bòn từng lá rau.
Công ơn của cụ thẳm sâu
Món quà con đó so đâu công này.

Kỷ niệm tuổi thơ tôi về cha mẹ thật êm đềm. Mẹ cha thường nựng tôi là ‘cục vàng của cụ mạ”, điều này quan hệ đến tên khai sinh và ngày sinh của tôi mà tôi được nghe kể và chứng kiến một chuyện lạ khi tôi lên sáu tuổi …

Lời Cha Mẹ yêu thương dặn con

Tôi nhớ rất rõ tờ giấy đã ố vàng lưu bút tích của cha ghi bằng hai loại mực. Phần trên ghi năm sinh của hai chị em tôi. Phần dưới ghi thêm lời cha dặn:

Hoàng Thị Huyền (Thỉu con) sinh buổi sớm 13 tháng 3 năm Mẹo, mặt trời lên ngọn tre. Hoàng Minh Kim sinh gần nửa đêm rằm xuân Gíáp Ngọ, trăng qua ngọn cau hơn hai sào”(1). “Con Kim. Cụ khi mô cũng nhớ ’em’ cả. Con học với thầy phải kính thầy để thầy thương. Con chơi với bạn phải nhường bạn để bạn mến. Con sống với người phải tử tế, phúc đức để họ trọng. Làm gì cũng phải tự ý cẩn thận, đừng nghe người ta xui”.”Cụ biết mạ con bệnh hiểm nghèo không qua khỏi nhưng cụ quyết bán hết tài sản ‘còn nước còn tát ‘ vì không thể thấy mạ con chết mà không cứu?”.

Tôi cất tờ giấy này giữa hai tờ bọc vở của cuốn sổ và mang  tờ giấy này theo bên mình khi rời Nam Quảng Trạch sang bờ bắc rào Nậy (sông Gianh) đến Pháp Kệ, sau đó là Phù Lưu, Đồng Dương để đi học theo anh Dộ tôi đang dạy cấp một. Anh tôi xin thầy Trần Đình Côn, hiệu trưởng nhà trường cho tôi được học cấp ba Bắc Quảng Trạch.

1948 GIAY CHUNG MINH 11948 GIAY CHUNG MINH 2Tờ giấy thứ hai là giấy chứng nhận cha tôi là lính Vệ quốc đoàn thuộc tiểu đoàn 174, Trung đoàn 18 “Chiến khu thư Tư” của đơn vị bác Lê Văn Tri (sau này là Trung tướng Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Phó Tư Lệnh Quân chủng Phòng Không Không Quân Việt Nam).Cha bị bom Mỹ giết hại năm 1968. Tôi vắng Mẹ từ tuổi thơ, lớn một chút lại mất Cha vì bom Mỹ giết. Tôi nhớ anh Hai đã thay cha yêu quý và chị gái Hoàng Thị Huyền đã thay mẹ hiền dìu dắt, nâng giấc. Kỹ niệm tuổi thơ yêu thương như dòng sông quê hương thao thiết chảy. Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời .

Anh Hai Hoàng Ngọc Dộ của gia đình tôi mất vào lúc gần nửa đêm rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu) năm 1994. Lời anh dạy khắc trên bia mộ “dặn con cháu khiêm nhu cần kiệm”. Tôi sinh lúc gần nửa đêm rằm xuân Giáp Ngọ 1954 trùng khớp thời khắc đêm anh mất. Kỷ niệm hai anh em lắng đọng trong ha bài thơ ‘Cuốc đất đêm’ và ‘Rằm Xuân’ : “Mười lăm trăng quả thật tròn / Anh hùng thời vận hãy còn gian nan / Đêm trăng nhát cuốc xới vàng / Trăng dòm, ta hẹn trăng càng dòm thêm / Đất vàng, vàng ánh trăng đêm / Đêm khuya ta với nàng quên nhọc nhằn” (Cuốc đất đêm, thơ Hoàng Ngọc Dộ); ” Trăng sáng lung linh trăng sáng quá / Đất trời lồng lộng một màu trăng / Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm / Trăng vẫn là trăng trăng vẫn rằm” (Rằm Xuân, thơ Hoàng Kim). Gốc mai vàng trước ngõ. Ba bài học không quên. Đi như dòng sông. Vầng trăng cổ tích. Mười lăm trăng quả thật tròn là những bài viết về Anh.

Tinhyeucuocsong

Con sẽ là màu nắng của Cha

Ngày của Cha
  là bài thơ ứng khẩu Hoàng Kim viết ngày 18.06.2017 với sự tiếp nối phần ba của bài ‘Con sẽ là màu nắng của Cha’ và đúc kết chiêm nghiệm bảy bài học cuộc sống:

NGÀY CỦA CHA

Con làm ngựa
Mẹ chụp hình
Vui gia đình
Hoa Của Đất

Ngày của Cha
Nhớ Bà Trần
Giữa tháng sáu
Giỗ Bà Đen

Ngày của Cha
Con thì vui
Cháu thì múa
Mẹ thì cười.

Ngày của Cha
Trận Waterloo
Nhớ sử thi
Walter Scott

Ngày của Cha
Thấm kiếm bút
Đời Cha Anh
đức làm gươm.

Ngày của Cha
Giữ Môi trường
Lời Olinor Ostrom
“Chung Trái Đất”

Ngày của Cha
Ngày của Mẹ
Ngày Gia Đình
Nôi hạnh phúc

NGÀY CỦA BỐ

Con làm ngựa
Mẹ chụp hình
Vui gia đình
Hoa Của Đất

Ngày của Bố
Nhớ Bà Trần
Giữa tháng sáu
Giỗ Bà Đen

Ngày của Bố
Con thì vui
Cháu thì múa
Mẹ thì cười.

Ngày của Bố
Trận Waterloo
Nhớ sử thi
Walter Scott

Ngày của Bố
Thấm kiếm bút
Đời Cha Anh
đức làm gươm.

Ngày của Bố
Giữ Môi trường
Lời Olinor Ostrom
“Chung Trái Đất”

Ngày của Bố
Ngày của Mẹ
Ngày Gia Đình
Nôi hạnh phúc

NGÀY CỦA BỌ

Con làm ngựa
Mạ chụp hình
Vui gia đình
Hoa Của Đất

Ngày của Bọ
Nhớ Mệ Trần
Giữa tháng sáu
Giỗ Ả Đen

Ngày của Bọ
Con thì vui
Cháu thì múa
Mạ thì cười.

Ngày của Bọ
Trận Waterloo
Nhớ sử thi
Walter Scott

Ngày của Bọ
Thấm kiếm bút
Đời Cha Anh
đức làm gươm.

Ngày của Bọ
Giữ Môi trường
Lời Olinor Ostrom
“Chung Trái Đất”

Ngày của Bọ
Ngày của Mạ
Ngày Gia Đình
Nôi hạnh phúc



NgaycuaBoconlamNguamechuphinh
Con sẽ là màu nắng của Cha
Nguồn: https://hoangkimlong.wordpress.com/category/con-se-la-mau-nang-cua-cha/

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Dưới đáy đại dương là Ngọc


DƯỚI ĐÁY ĐẠI DƯƠNG LÀ NGỌC

Hoàng Kim

‘Dưới đáy đại dương là Ngọc’, ‘Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi’, ‘Bảy Nhị chuyện cổ tích người lớn’ là ba câu chuyện ám ảnh trong chuỗi bài ‘Con đường lúa gạo Việt Nam’. Tôi mắc nợ câu chuyện này đã nhiều năm và chỉ neo đậu cái tựa đề này với ít tên người để thỉnh thoảng nhớ lại. Kể về họ là sự chiêm nghiệm một đời. Chúng ta chắc vẫn còn nhớ câu chuyện “Hai cha con đều là anh hùng” và Trở lại nụ cười Ba Sương : “Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình, …” . Sự kiện ngày 15 tháng 8 năm 2009 đến nay trong lòng dân đâu đã quên và chuyện đâu đã khép lại…

Hôm bác Năm Hoằng mất, chúng tôi gần như đi suốt đêm từ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (Đồng Nai) về Nông trường sông Hậu (Hậu Giang) để kịp viếng bác. Tôi biết ơn bác Năm đã năm lần lội ruộng thăm đồng Trung tâm Hưng Lôc và đã gợi ý cho tôi nhiều điều. Trong đó có một lần bác tặng cho tôi chiếc máy điện thoại di động “Cháu giữ mà dùng, bác mua lại cái khác”, “Thông tin là cần thiết, đừng tiết kiệm quá con ạ !” “Chưa kỹ đâu con đừng vội làm sư” “Bác có chút kinh nghiệm thau chua, rữa phèn, lấn biến” “Hiểu cây và đất thì mới làm ra được giống mới con ạ !” “Phải sản xuất kinh doanh khép kín mới khá được” “Dưới đáy đại dương là ngọc !”. Những bài học của bác Năm và chị Ba đã giúp chúng tôi rất nhiều.

Lâu nay chúng ta đã xúc động nhiều với cuộc đời bất hạnh của chị Ba Sương nhưng hình như việc “tích tụ ruộng đất”, “xây dựng nông trại điển hình”, và “lập quỹ trái phép”, của Nông trường sông Hậu thời bác Năm Hoằng và chị Ba Sương cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo để rút ra những bài học sâu sắc về quan điểm, tầm nhìn, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp. Không chỉ vậy, những bài học tổng kết thực tiễn kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Thế giới và Việt Nam việc soát xét 10 năm, 40 năm, 90 năm, 500 năm để tính toán một tầm nhìn trung và dài hạn vẫn chưa có những công trình xứng tầm để đánh giá thấu đáo và đúc kết những bài học phát triển. Bác Năm đã yên nghĩ, chị Ba Sương kêu án tù 8 năm và được thả. Người đương thời chưa thể mổ xẽ và phân tích đúng sai về cách “tích tụ ruộng đất”“lập quỷ trái phép” nhưng nếu khép lại điều này thì không thể nói rõ nhiều việc và cũng không đúng tâm nguyện của những bậc anh hùng trượng nghĩa Nam Bộ đã quyết liệt dấn thân trọn đời cho sự nghiệp và niềm tin ấy.

Hôm nay, khi xem bài viết ‘Phát triển kinh tế nông nghiệp: Tích tụ ruộng đất không phải là yếu tố quyết định‘. của ông Nguyễn Minh Nhị nguyên là Chủ tịch tỉnh An Giang, đăng trên Báo Tia Sáng ngày 8 tháng 6 năm 2017 và bài Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Khuyến nghị chính sách‘ của giáo sư tiến sĩ Trần Đức Viên, chuyên gia đầu ngành Sinh thái học Nông nghiệp, Sinh thái học Nhân văn, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nhiệm kỳ 2006-2016, đăng trên Báo Tia Sáng ngày 25 tháng 5 năm 2017, tôi lần đọc lại trang viết Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi cùng những trang viết nông nghiệp trăn trở của Thầy. Giáo sư Mai Văn Quyền là chuyên gia thâm canh lúa và nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp bền vững nay đã trên 82 tuổi vẫn miệt mài dạy và học nghề nông. Lòng tôi rưng rưng cảm xúc nhớ đến “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” và tự nhắc mình phải cố gắng, nhất định phải dành thời gian cho học và viết về nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Mỗi người chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong sự trường tồn và đi tới mãi của dân tộc nhưng tôi tin câu nói của Nguyễn Khải: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại“.“Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”.

Tôi cũng đọc lại Bảy Nhị chuyện cổ tích người lớn và đồng tình với bài viết mới đây của ông về “niềm tin” và con đường sáng nông nghiệp. Tôi hoàn toàn đồng ý với luận điểm của ông: “Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất – hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác”. Trong một hội thảo Quốc tế trao đổi về “Thành tựu và bài học sắn Việt Nam” tôi có nói đến bài học 6M đó là Man Power (Con người), Market (Thị trường), Materials (Vật liệu mới, Công nghệ mới), Management (Quản lý, Chính sách) Methods (Phương pháp, Cách làm), Money (Tiền, Hậu cần, hậu phương)., Trong 6M thì yếu tố CON NGƯỜI phải là yếu tố quyết định.  Ông Bảy là con người thực tiễn. Ông đã nghỉ hưu, nay viết hồi ký “Tôi đã qua”. Ông kể lại những mẫu chuyện thực của đời mình. Sách “TÔI ĐÃ QUA” gồm hai tập với 675 trang. Lối kể chuyện của ông là tôn trọng sự thật, bám sát thực tế và tâm huyết. Tôi háo hức đọc và chia sẻ đôi lời cảm nhận với bạn, để mong cùng bạn  từ trong chuyện đời thường  rút tỉa được đôi điều về bài học tình yêu cuộc sống. Tôi thấm thía lời ông Bảy: Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì? Cụ Đồ Chiểu có cho Tiểu Đồng nói trong thơ Lục Vân Tiên rất hay: “Đồng rằng trong túi vắng hoe/ Bởi tin nên mắc bởi nghe nên lầm”! Con đường đi lên của nông nghiệp Việt Nam thật vất vả và nhọc nhằn quá! Nông nghiệp nông dân nông thôn Việt Nam sau khoán 10, sau nghị quyết 100, sau đổi mới, sau  liên kết nông nghiệp 10 năm, hiện nay là sau tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, … thực tế  đời sống người nông dân đã tăng lên bao nhiêu? tăng nhiều hay tăng ít? có ổn định bền vững không? đã thật sự công bằng chưa? Hỏi xem thu nhập thực tế của nông dân túi họ có bao nhiêu tiền thì biết. Làm gì để chất lượng cuộc sống nông dân, nông thôn tốt hơn?

Ông Bảy làm Chủ tịch Tỉnh sau làm Bí thư tỉnh An Giang là một tỉnh nông nghiệp. Ông vất vả tổ chức cho tỉnh An Giang đi lên từ hột lúa và con cá. Ông đã trãi nghiệm thực tiển và thấm thía thật nhiều về “niềm tin” về sự liên kết nông nghiệp, đưa hiện đại hóa, công nghiệp hóa vào nông nghiệp, nông thôn’ Ông đã từng tìm tòi và trả giá cho những bứt phá đúng nhưng chưa gặp thời như chuyện “Hai dự án tranh cãi”. Dự án thứ nhất là trồng bắp thu trái non, trồng đậu nành rau và xây dựng nhà máy đông lạnh rau quả xuất khẩu. Dự án thứ hai là nhà máy tinh bột khoai mì. Hơn 20 năm sau nhìn lại, ông viết: “Hai dự án đầy tranh cãi mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Chủ tịch Nước Trần Đức Lương,… từng đến thăm mấy lần và khen ghê lắm. Dự án thứ nhất nay lãi hằng năm cũng vài tỷ rồi cả vài chục tỷ đồng; có việc làm ổn định cho gần một ngàn công nhân (không kể lao động ngoài nhà máy). Dự án thứ hai, dù cho nhà máy bán đi nhưng An Giang được 9.000 ha đất từ Kiên Giang được Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh cho, từ hoang hoá và phèn nặng trở thành đất sản xuất 2-3 vụ/năm, lập thêm hai xã mới với gần một vạn dân. Đây là mồ hôi và cả nước mắt của hàng vạn con người. Nhưng không có ai tranh cãi. Chỉ có tôi và những người không đổ mồ hôi mới tranh cãi mà thôi.” Ông vui buồn trăn trở mà nói vậy thôi. An Giang nay đã vươn lên đứng đầu toàn quốc về sản lượng và xuất khẩu lúa, cá nhưng con đường nhọc nhằn của nghề nông, của một kẻ sĩ tâm huyết, cánh cánh bên lòng câu hỏi: “Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì?”. Tìm được câu trả lời vẹn toàn. Khó lắm!

Ôn cũ ngẫm mới tôi nhớ Đào Duy Từ xựa mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của ông không chỉ là trước tác mà còn là triều đại. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường, ngay trong trước tác  cũng rất chú trọng gắn thực tiễn với lý luận. Ông đặc biệt chú trọng thực tiễn mà không theo lối khoa trương, hủ nho của người đương thời. Tôi kính trọng những người thực tiễn, tâm huyết , biết thao thức vận dụng học để làm trong  thực tế cụ thể của chính mình,  biến những điều học ở trường, học ở trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân để làm được điều gì đó thiết thực cụ thể cho dân, cho nước, cho cộng động xã hội gia đình, và cho chính bản thân mình.

Ông Bảy Nhị mail cho tôi những trang hồi ký chỉ để đọc giữa một ít người trong gia đình và thân quen. Ông vui khi đọc bài viết Kênh ông Kiệt giữa lòng dân và nhận xét: “HK viết lúc mình đã nghĩ hưu nên cả HK cũng không bị ai hiểu là “tâng kẻ có chức”. Tôi thì ám ảnh bởi những điều mình chính đời mình mắt thấy tai nghe mà không lưu lại thì khó có thể trao truyền lại những bài học thực tiễn  cho người thân và các bạn trẻ nên tôi lựa chọn để kể.


500 NĂM NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ?

Giáo sư Tôn Thất Trình gửi cho tôi hai bài viết về “Hột lúa và con cá” khi Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm 60 năm ngày thành lập (1955-2015) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam tổng kết chặng đường lịch sử 90 năm (1925- 2015). “500 năm nông nghiệp Việt Nam” chúng ta chưa có thời gian nhìn lại. Lịch sử của dân tộc Việt từ thuở Nam tiến đầu thế kỷ 15 cho đến nay đối sánh gì với từ thời kỳ đầu tìm ra châu Mỹ của câu chuyện “500 năm nông nghiệp Brazil” ?

Câu chuyện lịch sử “Tổng thống T Jefferson và lúa gạo từ Việt Nam” do giáo sư Nguyễn Tử Siêm (Siem Nguyen Tu) sưu tầm và tổng hợp gợi cho chúng ta một góc nhìn tham chiếu: “Tổng thống Thomas Jefferson là người sáng lập Đại học Virginia vào năm 1819, người đồng soạn thảo và ký bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ. Tháng 7. 1787, khi còn là Đại sứ tại Pháp, ông đã tìm cách liên hệ với mong muốn có được giống lúa từ Việt Nam đem về trồng tại Mỹ. Ông nhận xét giống lúa VN nổi tiếng vì năng suất cao, gạo trắng và thơm ngon. Ông đã viết thư về nước bày tỏ sự quan tâm đặc biệt tới thông tin về tình hình nông nghiệp ở vùng đất phía Nam Việt Nam (Cochinchina).  Trong thời gian làm việc tại Paris (1785-1789), Thomas Jefferson có dịp đọc bút ký của Pièrre Poivre. Cuốn sách mô tả những đồng lúa bát ngát tại Cochinchina (Việt Nam) và chép rằng tại Cochinchina gạo nhiều như núi. Dựa trên những kiến thức đó, Thomas Jefferson dự tính sẽ chuyển những nông trại trồng thuốc lá tại miền Nam Hoa Kỳ trở thành những cánh đồng trồng lúa. Trên thế giới có rất nhiều giống lúa nhưng Thomas Jefferson thích lúa giống từ Việt Nam vì “gạo Cochinchina rất trắng, hương vị thơm ngon và sản lượng cao.”. Cơ hội cho Đại sứ Thomas Jefferson tìm được lúa giống từ Việt Nam là khi Linh mục Pigneau de Behaine mang Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh (1779-1801), con trai trưởng của chúa Nguyễn Ánh, sang Pháp cầu viện vào năm 1786. Qua sự giúp đỡ của một số nhà ngoại giao Pháp, Thomas Jefferson đã gặp Linh mục Pigneau de Behaine và Hoàng tử Cảnh, được đại diện của Hoàng tử Cảnh hứa sẽ gởi lúa giống từ Việt Nam (Cochinchina) sang Pháp. Thế nhưng sau khi về nước, cuốn vào những vòng xoáy chính trị đầy biến động, hoàng tử đã quên bẵng lời hứa với Ngài Đại sứ, còn Jefferson chỉ biết chờ đợi trong hi vọng. Đại sứ Thomas Jefferson rời nhiệm sở tại Paris vào năm 1789 nhưng vẫn chưa nhận được lúa giống từ Cochinchina (Việt Nam). Năm 1801, Thomas Jefferson trở thành Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ. Không hiểu có liên quan gì tới sự quan tâm trước đây của vị tân tổng thống đối với vùng đất phía Nam của Việt Nam mà ngay năm sau thương thuyền Frame do thuyền trưởng Jeremiah Brigg chỉ huy đã được phái sang Việt Nam để thu thập tin tức về cây lúa hạt gạo Việt và tìm hiểu về nguồn cung ứng đường và cà phê cho thị trường Mỹ. Tàu Frame đến cảng Đà Nẵng ngày 21.5.1803. Tại đây thuyền trưởng Brigg đã gặp 2 chiến hạm của Hải quân triều Nguyễn do người Pháp chỉ huy. Họ khuyên Brigg nên đến Huế để yết kiến vua Gia Long, nhưng tại đây viên thuyền trưởng Mỹ chỉ được gặp người đại diện của triều Nguyễn và một số cha cố, sĩ quan Hải quân Pháp đang phục vụ vua Gia Long. Sau khi thu thập được một số thông tin, tàu Frame rời Việt Nam đi Manila vào ngày 10.6.1803. Đây là chiếc tàu Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Phải mất 16 năm sau mới có chiếc tàu Mỹ thứ hai đến Việt Nam cũng với mục đích tìm nguồn cung ứng nông sản. Đó là tàu Franklin do thuyền trưởng John White chỉ huy. Ngày 2.1.1819, tàu Franlin cập cảng Vũng Tàu. J. White đã có cuộc tiếp xúc với quan chức địa phương và được hứa là sẽ cấp giấy phép cho vào Sài Gòn. Nhưng chờ mãi không thấy có hồi âm. Một quan chức địa phương nói rằng phải có giấy phép của triều đình thì tàu ngoại quốc mới được phép vào Sài Gòn. J. White quyết định đến Huế để trực tiếp yết kiến Hoàng đế. Nhưng tiếc thay, khi ấy Hoàng đế Gia Long đang tuần du ở Bắc Hà nên dự định của J. White không thực hiện được. Viên thuyền trưởng quyết định đưa thuyền đến Manila, hy vọng ở đây sẽ tìm ra được người có thể phiên dịch tiếng Việt rồi sẽ quay trở lại Việt Nam. Sau khi tàu Franklin rời Việt Nam còn có 3 tàu buôn khác của Mỹ là Marmion, Aurora và Beverli ghé cảng Vũng Tàu và Đà Nẵng với cùng mục đích, nhưng tất cả đều thất bại.  Sau này tháng 11.2000, khi thăm Việt Nam nguyên TT Bill Clinton trong bài nói chuyện với SV ĐHQG Hà Nội đã nhắc lại: “Hai thế kỷ trước, trong những ngày đầu của Hợp chủng quốc, chúng tôi đã vươn qua biển cả để tìm bạn hàng và Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên chúng tôi gặp. Một trong những bậc cha anh lập quốc của chúng tôi – Thomas Jefferson, đã tìm cách nhập lúa giống từ Việt Nam để trồng tại trang trại của ông ở Virginia 200 năm trước”. Và gần đây, TT B.Obama cũng đề cập câu chuyện này. Mỹ là cường quốc số 1 về xuất khẩu gạo, tuy thế với việc hội nhập TPP, cạnh tranh bình đẳng, nếu chúng ta tạo ra được sự khác biệt về chất lượng và giá cả thì gạo Việt Nam đâu phải đã hết cửa vạo thị trường Mỹ ?.” Dẫn liệu trên được trích dịch từ  [1] Poivre, P., Voyages d’un philosophe, ou Observations sur les Moeurs et les Arts des Peuples de l’Afrique, de I’Asie. et de l’Amdrique, Paris:Yverdon (1768).  [2] Looney, J.J., The Papers of Thomas Jefferson, Princeton, N.J,: Princeton University Press (1958), Vol. 11, 646.”

Giáo sư Tôn Thất Trình nguyên hai lần Tông trưởng Bộ Canh nông, nguyên Hiệu trưởng và Giám đốc Viện Khảo cứu Quốc Gia Nông nghiệp Sài Gòn, nguyên Chánh chuyên viên và Tổng Thư ký chương trình lúa gạo của FAO (1975-1980) đã viết trong bài ‘Hột lúa và con cá”: “Trồng lúa có thể chống đói nhưng không giảm được nghèo, dù năng suất cũng như xuất khẩu ngày nay gấp đôi, gấp ba lúa gao thời Pháp thuộc. Trước đây vào các thập niên 1975- 90, thiếu gao ăn nên Việt Nam đặt ưu tiên gia tăng sản xuất lúa gao với các giống Thần Nông (IR…, nguồn gôc IRRI – Phi Luật Tân) đặc biệt ở vùng Hậu Giang và giữa thập niên 1990, với các giống lúa lai – hybrid rice ( đời F1) nguồn gốc Hồ Nam – Trung Quốc ở đồng bằng Sông Hồng và các đồng bằng nhỏ miền Bắc Trung Bộ. Việt Nam đã thành công không những đủ gạo ăn mà còn xuất khẩu mấy năm sau này, mỗi năm 3-5 triệu tấn gạo, thay vì chỉ xuất khẩu thời vàng son lúa gạo 1934-38 , trung bình 1, 2 triệu tấn một năm. Thế nhưng chống đói thì có, giảm nghèo thì chưa chắc , vì nhiều người đã nêu lên là làm lúa gao hai ba mùa, dù năng xuất trung bình mỗi mùa đã cao hai ba lần hơn truớc đây, vẫn còn làm nông dân chuyên sản xuất lúa gạo nghèo hợn xưa. Vì chưng chánh sách trợ cấp bảo vệ ngũ cốc ( lúa mì , lúa gạo , bắp v.v… ) , các nước tiên tiến như Hoa Kỳ , Nhật , Hiệp Hội Âu Châu…. đã làm xáo trộn, lệch lạc thị trường “tự do“ lúa gạo quốc tế mà Tổ chức Thương mãi Quốc tế – WTO không giải quyết, dung hòa nổi “.

Hột lúa và con cá là căn bản của bữa ăn Việt. Nước lấy dân làm gốc. Dân lấy ăn làm đầu” 500 nông nghiệp Việt Nam, hột lúa và con cá được nhìn nhận và quan tâm như thế nào? Tiếc thay, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có được những công trình xứng tầm để nghiên cứu thấu đáo, đánh giá sâu sắc và đúc kết những bài học phát triển, để tổng kết thực tiễn kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Thế giới và Việt Nam, soát xét so sánh phân tích chuỗi sự kiện 5 năm, 10 năm, 40 năm, 60 năm, 90 năm,… 500 năm để tính toán một tầm nhìn trung và dài hạn, rút ra những bài học sâu sắc về quan điểm, tầm nhìn, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp.

Dưới đáy đại dương là Ngọc.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn
NHỮNG TRANG VIẾT RẤT CẦN ĐỌC LẠI
http://hocmoingay.blogspot.com/2017/06/nhung-trang-viet-rat-can-oc-lai.html

Xem thêm

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Lương Định Của con đường lúa gạo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác
Chuyện đời giáo sư Lê Văn Tố
Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai
Sắn Việt Nam kết nối châu Phi  
Sắn Thế Giới và Việt Nam
Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương
Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Đôi lời của thầy Ngô Kế Sương
Đối thoại giữa các nền văn hóa
OM lúa giống có Ngọc
Về miền Tây
Hoa của Đất

Hoa Lúa
Đường xuân

Video yêu thích
KimYouTube

Về nơi cát đá (3)

VỀ NƠI CÁT ĐÁ
Hoàng Kim

Về nơi cát đá em ơi
Mình cùng Tỉnh thức những lời nhân gian

Quê em thăm thẳm Tháp Chàm
Biển xanh cát đá và rừng hoang sơ
Hoa trên cát, núi Phổ Đà
Tháp BÀ CHÚA NGỌC dẫu xa mà gần.

Ta đi về chốn trong ngần
Để thương cát đá cũng cần có nhau
Dấu xưa mưa gió dãi dầu
Đồng Xuân nắng ấm nhuốm màu thời gian.

Đỉnh mây gặp buổi thanh nhàn
Dịch cân kinh luyện giữa vùng non xanh
Cát vàng, biển biếc, nắng thanh
Bình Minh An Đức Hoàng Thành Trúc Lâm.

PhoDaSon

 

 

Về nơi cát đá (2)

HoangKim2017Lên Ngũ Đài Sơn Ninh Thuận, ngắm đàn cừu nhởn nhơ trước linh sơn, về nơi cát đá, về nơi tiếp biến nông nghiệp, du lịch, văn hóa sử thi,  tôi thao thức một góc nhìn thiền quán.

VỀ NƠI CÁT ĐÁ Cát và đá là bản tình ca Ta đi về chốn trong ngần. Để thương cát đá cũng cần có nhau. Hoàng Kim https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ve-noi-cat-da/  Chuyện kể rằng có hai người bạn cùng vượt qua sa mạc. Họ đã có ít lần bất đồng gay gắt, một người vì không kiềm chế được đã xúc phạm sâu sắc bạn mình. Người kia quá tổn thương nhưng nén buồn viết lên cát: Hôm nay, người thân yêu nhất đã xúc phạm tôi. Họ tiếp tục đi và tìm thấy nguồn nước là mạch sống. Người bạn nóng tính chạy ào đến nước không ngờ bị sụp cát lún rất nguy hiểm tính mạng nhưng may thay đã được người bạn kia cứu sống. Khi hết sợ, người này đã khắc lên đá: Nơi này hôm nay, tôi thoát chết nhờ người bạn thân nhất. Người kia hỏi: “Sao chuyện lần trước bạn ghi lên cát; còn nay bạn lại khắc vào đá?” Người bạn đáp: “Ghi lên cát để gió cuốn đi sự nóng giận, mà chỉ giữ lại sự nhẫn nhịn bao dung hoa trên cát. Khắc vào đá để không thể quên tình yêu thương”.

Phổ Đà Sơn Ninh Thuận tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận là chùa Giếng Trày cổ tự xưa tại tỉnh Ninh Thuận nay do đại đức Thích Minh Tánh trụ trì. Tương truyền Thiền sư Bảo Tạng (1818 – 1862) trên đường vân du từ Phú Yên vào Đàng Trong đã dừng chân tu hành tại chùa Trà Cang năm 1943 và vãng cảnh chùa Giếng Trày.  Thiền sư pháp hiệu là TRỪNG CHÁNH là thiền sư dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 42. Hang Tổ là nơi hàng ngày thiền sư ra vào nghỉ ở hang và khi thị tịch bà con đem linh cốt thờ ở Tháp Tổ và hang xưa thì nay gọi là Điện thờ Tổ. Các bậc trụ trì kế tục xây dựng tháp vọng Bảo Tạng tại chùa Giếng Trày và tổ chức giỗ thiền sư vào ngày 26 tháng 5 âm lịch hàng năm.

Đến Phổ Đà Sơn Ninh Thuận tôi liên tưởng về ngọn núi Phổ Đà Sơn, tên khác là Mai Sầm Sơn nằm ở  biển Nam Hải, huyện Định Hải ở tỉnh Chiết Giang Trung Quốc là nơi  đầu tiên Quán Thế Âm Bồ Tát phổ độ chúng sinh.,  Ngọn núi Phổ Đà Sơn nầy cùng với Nga Mi Sơn của Tứ Xuyên, Ngũ Đài Sơn của Sơn TâyCửu Hoa Sơn của An Huy hợp lại xưng là Tứ Đại Danh Sơn, Thánh địa Phật giáo Trung Quốc.

Sự giao thoa và tiếp biến văn hóa  thật vĩ đại.

Đứng trước những lâu đài cổ của nền văn hóa Champa, tôi cảm thụ sâu sắc hơn về sự tiếp biến văn hóa Việt – Chăm. Sự hỗn cư của hai tộc người Việt – Chăm trong lịch sử đã tạo ra bước ngoặc trong việc giao lưu và tiếp biến văn hóa.“… Lâu nay, khi nói về quá trình Nam tiến đó, thì nhiều người nghĩ đơn giản là cứ mỗi lần mở rộng phạm vi lãnh thổ quốc gia Đại Việt, người Việt tiến sâu về phương nam thì người Chăm càng co dần rút về tụ cư ở vùng đất Ninh Thuận Bình Thuận ngày nay. Thực ra không hoàn toàn là như vậy, mà cơ bản người Chăm vẫn bám trụ đất cũ, cùng cộng cư với người Việt mới tới và diễn ra quá trình người Chăm đồng hóa người Việt”. Tôi đồng tình với luận giải này. 

Dòng thiền Lâm Tế có ở Việt Nam là có từ rất sớm.  Việt Nam là chốn tâm thức thăm thẳm của đạo Bụt (Phật giáo) trãi suốt hàng nghìn năm. Lịch sử Phật giáo Việt Nam theo sách  Thiền Uyển tập anh xác nhận là đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Độ theo đường biển vào Việt Nam, gồm Giao Chỉ ở phía bắc và Chăm pa ở phía nam, khoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước Công nguyên, chứ không phải từ Trung Hoa như một số quan niệm trước đây. Phật giáo đồng hành chung thủy, lâu bền với dân tộc Việt, dẫu trãi nhiều biến cố nhưng được dẫn dắt bởi những nhà dẫn đạo sáng suốt và các đấng minh vương, lương tướng chuộng nhân ái của các thời nên biết thể hiện sự tốt đạo, đẹp đời.

Việt Nam là nước biết tiếp thu, chắt lọc tri thức tinh hoa của nhân loại, biệt chuộng sự học, đồng thời biết quay về với tự thân tổng kết thực tiễn, chứ không tìm ở đâu khác.

Về nơi cát đá là trở về với chính mình, tìm mầm sống, đường xuân trong sự yêu thương.

Hoàng Kim


Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây
 cp nht mi ngày
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/ve-noi-cat-da/