Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc

THẦY NGOẠN HỒ NÚI CỐC
Hoàng Kim

TRẦN thế hay là Thiên Thai đây.
Người hiền như NGỌC chốn trời mây.
Ai du ai NGOẠN nơi trần thế.
Hạnh phúc ngời lên đôi mắt say.

Nhớ thuở tìm về thăm bạn cũ.
Thái Nguyên đường thẳm hút sương mù.
Mênh mang mường Mán mình mong mỏi.
Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ.

Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
Sông Công đảo Cái ước mong chờ
Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.

Nhớ Sắn Việt Nam tình bạn quý.
Thương người Nam Bắc nghĩa anh em.
Thơ của tháng năm đời đẹp lắm.
Mình hẹn tìm nhau ở Bến Mơ.

https://cnm365.wordpress.com/2015/08/16/tho-tinh-ho-nui-coc/

HoNuiCoc01

Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm. Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa  lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở  mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng …

Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian Huyền thoại Hồ Núi Cốc, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Vũ Phong Vũ (bản khác NSƯT Thanh Hoà), Thanh Lam Tùng Dương ; Hồ trên núi, nhạc và lời Phó Đức Phương, trình bày Hồ Quỳnh Hương (bản khác NSƯT Anh Thơ); Thơ giao lưu Hồ Núi Cốc giữa những người bạn Mùa Thu Vàng, Hà Duy Tự, Trúc Nhã, LamCa07, Hoàng Kim… được giao hòa trong khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy, kỳ thú này.

Chương trình Sắn Việt Nam cùng Chương trình Sắn Châu Á nhiều lần họp tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng đi khảo sát các vùng sắn ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái,  … và đã có hai lần thăm Hồ Núi Cốc.

Lưu lại những ấn tượng khó quên về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc Việt Nam.

HoNuiCoc02
HoNuiCoc03
HoNuiCoc04
HoNuiCoc05
HoNuiCoc06
HoNuiCoc07
HoNuiCoc08
HoNuiCoc09
HoNuiCoc10
HoNuiCoc11
HoNuiCoc12

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Vui đùa bạn Hoa Huyền

VUI ĐÙA BẠN HOA HUYỀN
Hoàng Kim
tặng Hoahuyen Đào Ngọc

Đường trần ta lại rong chơi
Vui thêm chút nữa buồn thôi lại về …

Đọc thơ cũ, bình câu thơ mới
Nhớ bạn hiền phơi phới LỘC XUÂN
Tuy xa mà thật là gần
ĐƯỜNG XUÂN vui bạn, thơ xuân an nhàn.

XẾP CỤC GẠCH chén anh chén chú
Vô tình gieo MẦM NHỚ cho ai
Đình Quang XUÂN LỘC thảnh thơi
Thung dung ‘PHÍM’ CHIẾN, bạn chơi chân thành.

Nay cảnh giới thuyền câu TĨNH LẶNG
Chim vào MÙA LÁ RỤNG ngẫn ngơ
VẦNG TRĂNG CỔ TÍCH duyên thơ
QUÊ HƯƠNG XỨ NHÃN đến bờ HƯƠNG GIANG

(*) Trăng, chim và thuyền câu tĩnh lặng (ảnh Hoahuyen Đào Ngọc) Những chữ in hoa là tên của các tác phẩm của Hoahuyen Đào Ngọc, Hoàng Đình Quang, Hoàng Kim và bạn hữu, được tác giả ví như LỘC XUÂN https://hoangkimvietnam.wordpress.com/locxuan/

HoaHuyen

(**) Hoàng Kim

Hoahuyen Đào Ngọc một túi thơ
Trà ngon bạn ghé lúc tinh mơ
Ban mai dạo gót cùng vui chuyện
Tiên cảnh là đây chẳng hững hờ.

HOA HUYỀN

Hoàng Kim
tặng bạn QUÊ HƯƠNG XỨ NHÃN

Đời vui bạn chung tình, tri kỷ
Hoa Huyền ta đích thực là HÒA
“Dĩ hòa vi quý” câu ca
Mẹ cha sâu sắc nhìn xa tính người.

Thủy đô đốc một thời danh tiếng
Lẽ cương nhu quyền biến tùy thời
Thung dung, thanh thản, yêu đời
Túi thơ, bầu rượu, bạn chơi chân thành.

Xếp cục gạch chén anh, chén chú
Vô tình gieo mầm nhớ cho ai
Xin đừng như thế em ơi !
Ngại chi chậm nói những lời yêu thương?

Nhãn Phố Hiến thơm Hương Giang Huế
Vợ Thái Vân , con thứ Ngọc Minh
Mừng vui đoàn tụ quây quần
Số 5 Đức Thắng, Hải Quân là nhà.
*
Tiếp xướng họa tên cha, mẹ đặt
Đào Ngọc Hòa gọi tắt Đào Hoa
Di truyền tửu lượng giống cha
Thơ văn ứng khẩu cả nhà đều khen!

Dê bậc cụ, bạn hiền thích chọc
Sinh năm Mùi nức tiếng đào hoa
Duyên trời, mơ với không mơ
Đóng đinh số phận, ngẩn ngơ đa tình (2)

Người béo tốt, thông minh, từng trải,
Lính, cao… không tốn vải, yêu đời
Thương con, yêu vợ hơn người …
Tâm trong, hồn sáng, bạn chơi hết mình

Bạn tự họa, mình đùa xướng lại
Hoa Huyền ơi bạn thật… Đào Hoa
Say thơ, thích rượu, mê hoa
Đời vui dễ được mấy choa như mình?

*
Chơi với bạn chung tình, tri kỷ
Bạn Hoa Huyền đích thực là HÒA

Ghi chú :
1)

CHÂN DUNG TỰ HỌA
Đào Ngọc Hòa.

“Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu Huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Di truyền tửu lượng giống cha
Khả năng xướng-họa xã nhà thường khen!

Dê bậc cụ người quen đùa thế
Bởi ghẹo nàng xứ Huế ngây thơ
Đêm ngày dở tính mộng mơ
Nan y chứng bệnh ngẩn ngơ đa tình

Người béo tốt, cao… không tốn vải
Lính, thông minh, từng trải, yêu đời
Thương con, kính vợ hơn người …
Tâm trong, hồn sáng, bạn chơi hết mình

Nét chấm phá chân dung tự họa
Rất yêu đời một kiếp… Đào Hoa
Say thơ, thích rượu, mê hoa
Đời nay dễ có mấy choa hơn mình?”

2) Những tác phẩm thơ của Đào Ngọc Hòa
Xếp cục gạch,
Mầm nhớ
Xin đừng như thế em ơi !…
Ngại chi chậm nói những lời yêu thương?
Nhãn lồng Phố Hiến,
Duyên trời,
Mơ,
Không phải mơ
Đóng đinh số phận …
3) Vợ con và nơi ở:
Vợ Thái Vân quê gốc Huế
Con Hương Giang và Ngọc Minh
Số nhà 5 Đức Thắng, Hải Quân TP.HCM.
HƯNG YÊN

Hoàng Đình Quang
tặng bạn QUÊ HƯƠNG XỨ NHÃN

Lần đầu theo bạn đến Hưng Yên
Bạn tặng cho mình chút nợ duyên
Phố Hiến một thời còn tấp nập
Chùa Chuông trăm tuổi vẫn tham thiền
Thanh tân em gái cười trong nón
Chầm chậm mẹ già ngóng trước hiên
Phố Nối ngập ngừng ta tiễn bạn
Với Hưng Yên, thượng lộ bình yên!

Nguồn: Hoàng Đình Quang I Ngọc Phương Nam
https://hoangkimvietnam.wordpress.com/2010/04/07/hoang-dinh-quang/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

.

Bảo tồn và phát triển

NGƯỜI MỸ DI TRUYỀN VÀ BIẾN ĐỔI

Hoàng Kim

Câu chuyện ảnh Nga Lê, Anh và Tim với cộng đồng người Mỹ gợi cho tôi ý tưởng viết về Người Mỹ di truyền và biến đổi. Giáo sư Nguyễn Hữu Minh và tiến sĩ Nguyễn Chiến Thắng là cựu sinh viên của Georgetown University thuộc Washington, United StatesChung Le đang ở đấy, mời trao đổi thêm về điều này. Tôi dịp may trước đây được học nguồn gốc cây ngô, sắn, khoai lang ở Mexico, Colombia và Peru. Sự khởi đầu ghi chép từ  Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng đến CIANO, Oregon theo dấu vết Con đường di sản Lewis và Clark, đi theo “Giấc mơ thiêng dạo chơi cùng Goethe“ lần tới Minh triết Thomas Jefferson sau đó kết nối được với  Borlaug và Hemingway để tìm hiểu ngô sắn khoai nguồn gốc di truyền và sự biến đổi. Tôi ngẫu hứng lãng du sang vùng trời khác trầm tư Người Mỹ di truyền và biến đổi  Đối thoại giữa các nền văn hóa.

Câu chuyện kể này tôi ám ảnh hoài từ khi tiến sĩ Hannibal Multar, người Mỹ gốc Do Thái Jesusalem, chuyên gia CIMMYT mà tôi đã giới thiệu ở Đối thoại giữa các nền văn hóa. Ông dẫn tôi đi thăm thăm nguồn gốc cây ngô ở thung lũng Oaxaca ở Tây Nam Mexico  và cộng đồng người da đỏ ở Teotihuacan thành phố thời tiền Colombo, di sản thế giới 1987 tại Mexico, thăm kim tự tháp cổ Monte Alban trung tâm của nền văn minh Zapotec, di sản thế giới năm 1987 ở tiểu bang Oaxaca  phía nam Mexico. Chuyến đi tôi tóm tắt ở Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng, .


Cây ngô có tên khoa học là Zea mays L. do nhà thực vật học Thụy Điển Linnaeus đặt tên theo hệ thống tên kép Hy Lạp – La tinh: Zea là một từ của Hy Lạp để chỉ cây ngũ cốc và mays là từ “Maya”, tên một bộ tộc da đỏ ở vùng Trung Mỹ. Cây ngô có nguồn gốc ở Trung Mỹ, trồng nhiều nhất ở Châu Mỹ, nước trồng nhiều nhất là Hoa Kỳ, sản lượng ngô năm 2014 khoảng 353 triệu tấn/năm.

Cây ngô hiện đại đã là kết quả thuần dưỡng từ cỏ ngô Teosinte thung lũng sông Balsas, ở nam Mexico từ 5.500 tới 10.000 TCN. Dấu tích bắp ngô khảo cổ tìm thấy sớm nhất khoảng năm 4.250 TCN tại hang Guila Naquitz trong thung lũng Oaxaca ở tây nam Mexico. Oaxaca là một trong 31 tiểu bang của Mexico được bao bọc bởi các bang Guerrero về phía tây, Puebla về phía tây bắc, Veracruz về phía bắc, Chiapas về phía đông và đường bờ biểnThái Bình Dương ở phía nam.

Cây ngô tại Trung Mỹ sau đó được lan dần ra các khu vực xung quanh trở thành cây lương thực quan trọng nhất của châu Mỹ trước khi Cristop Colông tìm ra châu Mỹ. Đến cuối thế kỉ 15, cây ngô được người Tây Ban Nha đưa về trồng ở vùng Địa Trung Hải, Italia, Pháp… sau đó người Bồ Đào Nha đưa sang Trung Quốc, Nhật Bản…ở Châu Á và đến thế kỉ 16 mới đưa sang các nước châu Phi (José Antonio Serratos Hernández 2009). Ở Việt Nam cây ngô có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đầu đời Khang Hi, năm 1685, Trần Thế Vinh đi sứ nhà Thanh lấy được giống ngô đem về nước  (Lê Quý Đôn “Vân Đài loại ngữ” ). Ngô được trồng ở hạt Sơn Tây, làm lương thực chính, sau đó lan rộng ra cả nước. Cây ngô từ nguồn gốc ban đầu ở Mexico nay vùng phân bố phổ biến khắp toàn cầu với  sản lượng đứng đầu cây lương thực cây thực phẩm và thức ăn gia súc. Tổng sản lượng ngô toàn cầu năm 2014 là 1.016,74 triệu tấn, kế tiếp là lúa nước 745,71 triệu tấn, lúa mì 713,18 triệu tấn. (Hoàng Kim chủ biên 2017).

Mexico là nôi cội nguồn của cây ngô. Người dân México cho đến nay mặc dẫu đã nhiều thay đổi nhưng bữa ăn truyền thống vẩn dùng ngô làm món ăn chính. Ngô được ăn chung với các loài rau đậu, ớt, cà chua, lúa mì. México là nơi ra đời có nhiều loại bánh ngô có nhân thịt hoặc trộn rau, bánh ngô phomat, bánh ngô cay, thực phẩm đồ uống phổ biến là sữa ngô và rượu tequila được chế từ lá cây Agave Azul Tequilana, một loài thực vật bản địa ở Mexico, có độ cồn từ 38–40%, cá biệt có loại có độ cồn lên tới 43–46%. Ngày nay việc sử dụng gạo cũng rất phổ biến tai México để làm lương thực, ngoài ra còn có thịt bò, thịt lợn, thịt gà, rượu nho, tỏi,  đu đủ, dứa, ớt cay, khoai lang, đậu, lạc, chocolate … thế nhưng món ăn ngô vẫn chủ đạo trong đời sống thường ngày.

Tôi thăm người da đỏ ở Mexico, khảo sát cây ngô nguồn gốc di truyển và sự tiến hóa, so sánh bữa ăn thường ngày của người dân nông thôn bản địa truyền thống với người dân Mexico ở các phố xá sầm uất. Tôi chợt lẩn thẫn và trầm tư ngẫm nghĩ về người Mỹ di truyền và tiến hóa. Điều lạ là chẳng phải tôi, người tự xác định trọn đời làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ quan tâm câu chuyện “Người da đỏ ở Mexico” mà Giáo sư Nguyễn Hữu Minh và tiến sĩ Nguyễn Chiến Thắng, em tôi, ngành xã hội học và kinh tế của khoa học nhân văn, nguyên là cựu sinh viên của Georgetown University thuộc Washington, United States, Nga Lê,  Anh và Tim, cả nhà ai cũng rất quan tâm “Người da đỏ ở Seattle“. Người Mỹ trở thành đề tài nóng tiếp cận đa ngành trong sự tìm hiểu.


Tôi liên tưởng câu chuyện
Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, ngắm nhìn đôi mắt nhà tự nhiên học người Anh Charles Darwin soi thấu nguồn gốc muôn loài, và  thật ngưỡng mộ sức khái quát của ông trong sự đúc kết “Nguồn gốc các loài” .
Triết lý của Charles Darwin thật sâu sắc. “Mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên.  Đến thăm người da đỏ ở Mexico ở Oregon miền Tây nước Mỹ và thăm cây ngô nguồn gốc phát sinh và đa dạng di truyền ở Mexico. Tôi vụt nhớ về học thuyết tiến hóa và liên tưởng tới sự tương quan  giữa cây Ngô di truyền và biến đổi với người Mỹ di truyền và biến đổi. Ý tưởng này thật lạ cứ đeo bám tôi suốt bao năm?


(*) Charles Robert Darwin  (12 tháng 2, 18099 tháng 4, 1882) là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh. Tại ngôi nhà cũ bình dị Down House ở Anh, Darwin đã làm việc về thuyết tiến hóa bởi chọn lọc tự nhiên và nhiều thí nghiệm khác. Ông đã phát hiện và chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên.“Nguồn gốc các loài” của Charles Darwin, xuất bản lần đầu tiên ngày 24 tháng 11, năm 1859 là ấn phẩm khoa học tiêu biểu và là tác phẩm nòng cốt của ngành sinh học tiến hóa.

Tôi may mắn cũng có được cơ hội đến Thăm ngôi nhà cũ của Darwin”, du học ở “Viện Di truyền Mendel Tiệp Khắc”, thăm Praha Goethe và lâu đài cổ , Tiệp Khắc kỷ niệm một thờiDạo chơi cùng Goethe, Di sản Walter Scott, Nghị lực, Học để làm ở Ấn Độ, có thời gian làm việc với Những người bạn Nga của Viện Vavilop, được đến Brazil và nhiều nước Nam Mỹ thấu hiểu tài liệu quý 500 năm nông nghiệp Brazil,  may mắn tiếp cận trang vàng của những người thầy lớn có tầm nhìn rộng và sức khái quát cao. Tôi may mắn cũng đã được trãi nghiệm một phần trong  90 năm Viện KHKTNN miền Nam; 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM  và duyên may đã được học tận gốc, nhiều trăn trở may kịp chụp ảnh lại, nay lúc rỗi rãi có khối trò chơi, chỉ tiếc vẫn chưa lý giải được một cách hệ thống.

Người Mỹ ở nước Mỹ có lẽ được nghiên cứu về dân tộc học kỹ hơn hết so với nhiều nước trên thế giới. Dân số nước Mỹ năm 2016 ước khoảng 323,14 triệu người. Hoa Kỳ là một quốc gia đa-chủng tộc, nơi sinh sống của nhiều người có nhiều nguồn gốc quốc gia và chủng tộc khác nhau.

Hoa Kỳ là một quốc gia đa sắc tộc và chủng tộc. Vì vậy, Hoa Kỳ là một quốc gia đa văn hóa, nơi có rất nhiều truyền thống và giá trị đa dạng khác nhau. Nền văn hóa phương Tây khởi đầu từ của những người định cư Hà Lan, Anh, Đức  Ái Nhĩ Lan, Ý, Ba Lan Pháp, Scotland hòa trộn với dòng văn hóa bản địa sắc tộc Mỹ thành dòng chính chủ đạo.

Nền văn hóa đặc sắc Mỹ gốc châu Phi, phát triển trên truyền thống của những người nô lệ Trung Phi hòa trộn với văn hóa bản địa sắc tộc Mỹ ũng có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn hóa dòng chính của Mỹ. Sự bành trướng lãnh thổ của Hoa Kỳ về  miền Tây đã hội nhập vùng Louisiana và vùng Tây Nam Spenish Territory ngôn ngữ Tây Ban Nha và văn hóa Mexico đến gần hơn với Hoa Kỳ. Làn sóng di dân ồ ạt từ Đông Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latin tới nước Mỹ suốt những thập kỷ qua đã hòa trộn lan tỏa nấu chảy các nền văn hóa để có dòng chủ lưu và các đặc điểm văn hóa riêng biệt của tổ tiên mình. Người Mỹ còn có hơn 4 triệu người sống ở ngoại quốc, chủ yếu ở Canada, Mexico và châu Mỹ Latinh.

So sánh các nhóm sắc tộc và chủng tộc của người Mỹ và người Mexico cho thấy: Tại México người lai giữa người da trắng và người da đỏ ước 60-75%, người da đỏ bản địa chiếm tỉ lệ 12 – 30% dân số;  người da trắng đến từ Tây Ban Nha, Mỹ, Canada, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Đức,  Ba Lan,  Nga,… chiếm tỉ lệ 9 – 25 %; người da vàng đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ … và người da đen đến từ châu Phi chiếm tỷ lệ ít hơn. Tại Mỹ những số liệu chi tiết tôi chưa có cơ hội khảo sát sâu hơn nhưng sự sử dụng ngôn ngữ của người Mỹ đã cho thấy:

Các ngôn ngữ (2007)[43]
Tiếng Anh (1 ngôn ngữ) 225,5 triệu
Tiếng Tây Ban Nha bao gồm tiếng Creole 34,5 triệu
Tiếng Hoa 2,5 triệu
Tiếng Pháp bao gồm tiếng Creole 2,0 triệu
Tiếng Tagalog 1,5 triệu
Tiếng Việt 1,2 triệu
Tiếng Đức 1,1 triệu
Tiếng Triều Tiên 1,1 triệu

Người Mỹ di truyền và biến đổi, con đường di sản còn nhiều điều cần học và bàn luận.

Hoàng Kim

Còn tiếp …

 

Nguyễn Du trăng huyền thoại


NGUYỄN DU VÀ ĐỀN CỔ TRUNG LIỆT

Hoàng Kim

Đền cổ Trung Liệt Hà Nội ở số cũ 124 Thụy Khuê nay không rõ còn ở đó hay đã di dời về đâu? Ngôi đền cổ này có liên quan đến Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.Tôi đã viết bài khảo cứu Nguyễn Du đêm thiêng đọc lạiNguyễn Du với Hồ Xuân Hương sau chuyện lạ đêm mồng 4 tháng 7 năm 2012. Hôm nay việc chưa thể giải mã bất chợt nối mạch với câu chuyện “âm mưu đào phá mộ tổ của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa và cái chết rùng rợn của những kẻ phá mộ” của nhà báo Hoàng Anh Sướng đăng trên Văn Hiến Việt Nam.

Đền Trung Liệt Hà Nội có liên quan tới gia tộc của nhà thơ Trần Đăng Khoa: “Cụ tổ sáu đời là Trần Khuê. Cụ đã cùng anh ruột là Phương Trì Hầu Trần Lương, Sùng Lĩnh Hầu Trần Thai cùng em con chú ruột là Côn Lĩnh Bá Trần Đĩnh, Thủ lệnh trấn Hải Dương và Tổng trấn Kinh Bắc Trần Quang Châu, hộ giá vua Lê Chiêu Thống khi vị vua này bôn ba ở các tỉnh phía Bắc, chưa sang cầu cứu nhà Thanh. Đến năm Tự Đức thứ 14 nhà Nguyễn (1862), các vị trên được thờ ở đền Trung Liệt, Hà Nội, cùng với ba con của Trần Đĩnh là Trần Dần, Trần Hạc và Vũ Trọng Dật (con rể)…

Nguyễn Du quan hệ gì đến đền cổ Trung Liệt ? ngôi đền này nay ở đâu, di dời về đâu? Mời bạn đọc kỹ ba bài viết trên với những điểm nhấn bàn luận thông tin mới.

Tóm tắt Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt.

Thầy Nguyễn Lân Dũng trong bài viết “Một khám phá độc đáo về Truyện Kiều”  ủng hộ quan điểm của  GS. NGND Ngô Quốc Quýnh (Đại học Quốc gia Hà Nội) qua tác phẩm “Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua Truyện Kiều” cho rằng: Nguyễn Du gửi gắm tâm sự của mình qua Truyện Kiều mà nàng Kiều là Nguyễn Du và Từ Hải chính là Nguyễn Huệ, Kim Trọng chính là Lê Chiêu Thống. Truyện Kiều viết về nàng Kiều nhưng thực chất gửi gắm tâm sự  của kẻ sĩ tinh hoa trong thời thế nhiễu loạn.

Tôi (Hoàng Kim) thoạt tiên đồng tình với quan điểm này nhưng qua ba chất vấn của cụ già Linh Nhạc Phật Ý trong câu chuyện Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại chợt thấy đúng là có ba điều không ổn cần nghiên cứu tiếp : Một là Nguyễn Du nếu chính là nàng Kiều, Từ Hải chính là Nguyễn Huệ và Kim Trọng chính là Lê Chiêu Thống  thì tại sao Nguyễn Du lại chống Nguyễn Huệ, và Nguyễn Du chịu ra làm quan cho Nguyễn Ánh mà trước đó  kiên quyết không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn như anh trai là Nguyễn Nể và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, thậm chí còn lại chống nhà Tây Sơn để đến nổi bị Thận Quận Công bắt và Nguyễn Du bị quản thúc nhiều tháng ở Nghệ An? Hai là Nguyễn Du là người thế nào mà dám mắng Minh Thành Tổ một vị vua danh tiếng lừng lẫy thời nhà Minh ở Trung Quốc tại bài ‘Kỳ Lân mộ’ và ngầm ý chê Nguyễn Huệ là em tiếm quyền anh, chú giết cháu rể và giành ngôi của cháu con anh ruột, để nhà Tây Sơn đổ vỡ từ bên trong? Ba là  Nguyễn Công Trứ chống đối hay ủng hộ Nguyễn Du khi trong bài “Vịnh Thúy Kiều” Nguyễn Công Trứ đã viết: “Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải. Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu. Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu. Mà bướm chán ong chường cho đến thế. Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa. Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Bán mình trong bấy nhiêu năm. Đố đem chữ hiếu mà làm được ai“.

Kết quả sau 5 năm tìm tòi, tôi có ba phát hiện mới: Một là Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ lớn và danh nhân văn hóa thế giới mà còn là một danh sĩ tinh hoa, hiền tài lỗi lạc của Việt Nam. Nguyễn Du đã vượt lên vinh nhục bản thân giữa thời nhiễu loạn, vàng lầm trong cát để trao lại ngọc cho đời. Nguồn sử liệu và phân tích chi tiết qua các bài Nguyễn Du đêm thiêng đọc lại; Nguyễn Du 250 năm nhìn lạiNguyễn Du cuộc đời và thời thếHai là Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều có hình tượng các nguyên mẫu Nguyễn Du là Từ Hải và Hồ Xuân Hương là Thúy Kiều. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương đọa đày tủi nhục không được chung sống với người minh yêu “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung” phải trãi qua ba đời chồng, cam chịu lẽ mọn, chỉ tỏa sáng bia miệng giai thoại và Lưu Hương Ký. Hồ Xuân Hương thương Nguyễn Du long đong chìm nổi bị người đời và lịch sử thị phi vì “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” làm một tôi trung của nhà Lê, cam chịu cảnh mười lăm năm lưu lạc, chỉ hé lộ với Bắc Hành tạp lục và Truyện Kiều chứa một trời tâm sự để trao lại ngọc cho đời. Hồ Xuân Hương khen Nguyễn Du là anh hùng “Tấn Dương được thấy mây rồng có phen” khen Tấn Văn Công bôn ba, khí phách của người quân tử chịu hoạn nạn. Nguyễn Du thương Hồ Xuân Hương “khen cho con mắt tinh đời. Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” . Nguyễn Du đã dùng lời Thúy Kiều đánh giá “Từ Hải” và lời của Từ Hải thán phục Thúy Kiều, để thể hiện sự ý hợp tâm đầu của đôi nam nữ “trai anh hùng, gái thuyền quyên” Nguồn sử liệu và phân tích chi tiết qua các bài Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du là bậc anh hùng;  Nguyễn Du kiệt tác thơ chữ Hán, Nguyễn Du và Hồng Sơn Liệp Hộ. Ba là Nguyễn Du cuộc đời và tác phẩm là tấm gương soi thấu nhiều uẩn khúc lịch sử . Bí mật kho báu trên đỉnh Tuyết SơnNguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng. Nguyễn Du cuộc đời và thời thế; Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796; Nguyễn Du và đền cổ Trung Liệt; Hồ Xuân Hương kiệt tác thơ chữ Hán đang hé lộ những tư liệu mới về bí mật ngoại giao thời Tây Sơn,  Nguyễn Du và thời đại Nguyễn Du.

Hoàng Kim

Còn tiếp …

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Mexico ấn tượng lắng đọng

MEXICO ẤN TƯỢNG LẮNG ĐỌNG
Hoàng Kim

“Mexico ấn tượng lắng đọng”  là phần hai của bài viết “Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương” tiếp phần một “Con đường di sản Lewis và Clark“. Hợp chủng quốc Mê-hi-cô gọi tắt Mexico là một nước cộng hòa liên bang ở Bắc Mỹ có diện tích gần 2 triệu km², xếp thứ 14 trên thế giới và dân số khoảng 123,16 triệu người, xếp thứ 12 trên thế giới, so Việt Nam dân số khoảng 95,26 triệu người, xếp thứ 15, số liệu ước lượng tháng 7 năm 2016 theo The World Factbook. México là nước nói tiếng Tây Ban Nha nhiều nhất ở châu Mỹ và Thế giới. Đất nước này bị đô hộ bởi  thực dân Tây Ban Nha từ thế kỷ thứ 16 và được công nhận là một quốc gia độc lập chính thức năm 1821. Mexico có 31 bang và thành phố thủ đô Mê-hi-cô thuộc liên bang là một trong những khu đô thị đông dân nhất thế giới. Tìm hiểu đất nước và con người Mexico, chúng ta tìm về bốn câu hỏi là bốn yếu tố chính: Đất nước (đất đai và thức ăn); Con người (tộc người, ngôn ngữ, văn hóa); Môi trường sống (khí hậu, danh thắng, vấn đề chung); Chế độ và  Kinh tế hiện trạng.

México có tên gọi bắt nguồn từ tên kinh đô cổ của dân tộc Mexica, nền văn minh Aztec trong lịch sử. Theo kinh thư Mendoza là một cuốn sách kể về lịch sử của người Aztec và ngày nay xuất hiện trên quốc kỳ và quốc huy của México, có một vị thần đã chỉ cho người dân của bộ tộc này địa điểm xây dựng kinh đô tại nơi có một con đại bàng mang trong miệng một con rắn và đậu xuống cành cây xương rồng ở địa điểm gần hồ Texcoco. Nơi đây sau đó, người Aztec đã xây dựng nên một thành phố rộng lớn, đó là Trung tâm lịch sử của thành phố México ngày nay (hình trên), di sản thế giới được UNESCO công nhận năm 1987. Ngôn ngữ chính thức của México là tiếng Tây Ban Nha và 62 ngôn ngữ bản địa được quyền bình đẳng theo hiến pháp. Tại Mexico có số lượng người nói tiếng Tây Ban Nha cao nhất thế giới. Mexico xếp vào châu Mỹ latinh dù Mexico ở Bắc Mỹ, lý do chủ yếu bởi yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, tộc người, và lịch sử. Nếu như tiếng Anh là ngôn ngữ chính ở nước Mỹ, tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính ở Brazil , tiếng Pháp và tiếng Anh là ngôn ngữ chính ở Canada thì ở hầu hết các nước Nam Mỹ và vùng Caribe đều sử dụng tiếng Tây Ban Nha làm ngôn ngữ chính. Nói cách khác, tiếng Tây Ban Nha là thông dụng nhất của phần lớn các nước châu Mỹ Latinh. Tại Mexico, tôn giáo chính là Công giáo Roma chiếm khoảng 87,9% theo điều tra nhân khẩu năm 2000, mặc dù số lượng người đi lễ nhà thờ hàng tuần chỉ khoảng 46%;  người dân México theo đạo Tin lành ít hơn với khoảng 5,2%, số còn lại theo một số tôn giáo khác.

Đất nước México là nơi ra đời hai nền văn minh lớn của châu Mỹ là Aztec và Maya.  Mexico có thiên nhiên đa dạng và nền văn hóa đa sắc tộc, có lẽ đặc sắc nhất châu Mỹ của sự giao thoa nhiều nền văn hóa mà chủ đạo là nền văn hóa bản địa truyền thống đã biến đổi với nền văn hóa Tây Ban Nha đã Mỹ Latinh hóa. Sự pha trộn với khối văn hóa Mỹ Anh , Brazil Bồ Đào Nha, Canada Pháp ngữ đã làm cho México là ột quốc gia là một quốc gia đa chủng tộc sử dụng như ngôn ngữ ở đất nước Thuy Sĩ mà người dân ở đó có thể hiểu dễ dàng ba đến bốn thứ tiếng. Nhóm sắc tộc chiếm tỉ lệ cao nhất tại México là người lai giữa người da trắng và người da đỏ ước tính từ 60-75%. Nhóm sắc tộc chiếm tỉ lệ 12 – 30% dân số là  người da đỏ bản địa.  Nhóm sắc tộc chiếm tỉ lệ 9 – 25 % là người da trắng đến từ Tây Ban Nha, Mỹ, Canada, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Đức,  Ba Lan,  Nga,…, người da vàng đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ … và người da đen đến từ châu Phi với tỷ lệ ít hơn.

Đất nước México địa hình chủ yếu là đồi núi và hệ thống khí hậu quá đa dạng, nên việc đầu tư sản xuất thâm canh quy mô lớn ở México khó hơn nhiều so với nước Mỹ, Canada và Nam Mỹ. Người México bản địa bữa ăn truyền thống chủ yếu ngô làm lương thực chính, kết hợp với các loài rau đậu, ớt, cà chua, lúa mì. México là nơi ra đời có nhiều loại bánh ngô có nhân thịt hoặc trộn rau, bánh ngô phomat, bánh ngô cay, thực phẩm đồ uống phổ biến là sữa ngô và rượu tequila được chế từ lá cây Agave Azul Tequilana, một loài thực vật bản địa ở Mexico, có độ cồn từ 38–40%, cá biệt có loại có độ cồn lên tới 43–46%. Ngày nay việc sử dụng gạo cũng rất phổ biến tai México để làm lương thực, ngoài ra còn có thịt bò, thịt lợn, thịt gà, rượu nho, tỏi,  đu đủ, dứa, ớt cay, khoai lang, đậu, lạc, chocolate …Con người mang ẩm thực quê hương mình đi khắp hành tinh nên một đất nước đa sắc tộc như Mexico có nền ẩm thực rất đa dạng. México cũng có thị trường âm nhạc lớn nhất châu Mỹ Latinh và xuất khẩu âm nhạc rộng khắp Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Âu (đặc biệt là Tây Ban Nha) và nhiều nước trên thế giới .

México hiện nay là nền kinh tế lớn thứ 11 trên thế giới và có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm trung bình cao. Kinh tế México có mối liên hệ chặt chẽ với Canada và Mỹ nhờ Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ. México là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế khác như Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và có vai trò quan trọng trong khu vực Mỹ Latinh, là nước Mỹ Latinh duy nhất nằm trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế.  Vấn nạn chủ yếu của México là sự phân hóa giàu nghèo, tỷ lệ nghèo đói cao, bất bình đẳng thu nhập, tình trạng bạo lực, buôn bán ma túy phổ biến tại nhiều vùng, sự khủng hoảng trong quan hệ ngoại giao giữa México với các nước tham gia khai thác tài nguyên tại đây, sự di cư rất cao từ nước Mexico sang Mỹ vì chênh lệch nhiều về đời sống.

Danh sách di sản thế giới tại Mexico có tổng cộng 34 di sản được UNESCO công nhận, trong đó có 27 di sản văn hóa, 6 di sản tự nhiên và 1 di sản hỗn hợp.

Chùm ảnh dưới đây là những là một thoáng Mexico nhớ lại và suy ngẫm.

Teotihuacan disanthegioi Mexico
Ấn tượng hơn cả là Teotihuacan thành phố thời tiền Colombo, di sản thế giới 1987, ở México.

Monte Alban kimtuthap Mexico
Monte Alban kim tự tháp cổ trung tâm của nền văn minh Zapotec,  di sản thế giới năm 1987 ở tiểu bang Oaxaca  phía nam Mexico.

Đại học Tự trị Quốc gia México (Universidad Nacional Autónoma de México, tên viết tắt UNAM) là trường đại học lớn nhất ở khu vực Mỹ Latinh nằm tại thành phố thủ đô México, di sản thế giới 2007.

xem tiếp…
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương

Bài liên quan
Con đường di sản Lewis và Clark
Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng
Praha Goethe và lâu đài cổ
500 năm nông nghiệp Brazil
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Nguyễn Du 250 năm nhìn lại

Tô Đông Pha vầng trăng cổ tích
Trúc Lâm thăm thẳm một góc nhìn

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Cầu trời nối Mẹ Cha xưa

NhoMeCha

CẦU TRỜI NỐI MẸ CHA XƯA
Hoàng Kim

Cầu trời nối mẹ cha xưa
Mưa dày thấm đất, nắng thưa thấu trời
Lời thương giao cảm lòng người
Ngày của Mẹ suốt trọn đời trong con.


xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cau-troi-noi-me-cha-xua/

Thang nam nho lai va suy ngam 7

NHỚ MẠ
Hoàng Ngọc Dộ

“Đã chẵn tháng rồi, ôi Mạ ôi!
Tuần trăng tròn khuyết đã hết rồi
Mà con không thấy đâu bóng Mạ
Thấy trăng vắng Mạ dạ bùi ngùi.

Năm mươi ngày chẵn thấm thoắt trôi
Mạ về cỏi hạc để con côi
Vầng trăng tròn trặn vừa hai lượt
Vắng Mạ, lòng con luống ngậm ngùi. (2)

Con đọc sách khuya không nghe tiếng Mạ
Nỗi tâm tư con nghĩ miên man
Lúc Mạ còn, con bận việc riêng con
Không đọc được để Mạ nghe cho thỏa dạ.

Nay con đọc, vắng nghe tiếng Mạ
Nỗi bùi ngùi lòng dạ con đau
Sách mua về đọc Mạ chẵng nghe đâu
Xót ruôt trẻ lòng sầu như cắt.

Mạ ơi Mạ, xin Mạ hãy nghe lời con đọc.

Buồn khi rảo bước đồng quê
Buồn khi chợp mắt Mạ về đâu đâu
Buồn khi vắng Mạ dạ sầu
Buồn khi mưa nắng giải dầu thân Cha
Buồn khi sớm tối vào ra
Ngó không thấy Mạ, xót xa lòng buồn.

viengmochame

LỜI NGUYỀN

Không vì danh lợi đua chen
Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân
.

VIẾNG MỘ CHA MẸ
Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát  đời con từ  bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là binh nghiệp cha một thuở đau đời.

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần không ngừng không nghỉ 
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chải bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi hồi tưởng
Thuở thiếu thời trong lồng cánh mẹ cha

Ước hẹn anh em một “Lời nguyền”
Thù nhà  đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”

KHẮC SÂU LỜI NGUYỀN XƯA

Con năm năm mỗi ngày cơm một bữa
Thương về Cha ngực nát bởi bom thù
Tấm áo máu suốt đời con nhớ mãi
‘Lời Nguyền’ này khắc khoải giữa lòng con.

Con nhớ mãi Mẹ xưa khi sắp mất,
Cha nước mắt lưng tròng thương các con thơ
Mẹ quằn quại không thể nào nhắm mắt.
Cha vuốt mắt Người tiếng nấc quặn trong mơ.

Mồ của Mẹ hoa tươi nhiều năm tháng
Cha quấn quýt Người đến lúc giặc giết Cha
Dòng sông quê hương Rào Nan, Chợ Mới …
Mẹ Cha theo con thao thiết suốt đời.

Con nhớ cánh tay chị Năm thay mẹ
Thương nhớ anh Hai nâng giấc cho con.
Tình yêu thương như dòng sông chảy mãi.
Thầy bạn lộc xuân của cuộc đời con

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi| Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên; Hoàng Long; Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook   Kim on Twitter

Một niềm tin thắp lửa

Congviecnaytraolaichoem

Hoàng Kim Chúc mừng các em sinh viên! Chúc mừng Thầy Huỳnh Thanh Hùng và Thầy Trần Đình Lý trong buổi Lễ Tốt Nghiệp trang trọng. Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ. Chợt thấy lòng rưng rưng. Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc. Cố lên em nổ lực không ngừng ! Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo. Câu ca ông bà theo suốt tháng năm.Thêm bữa cơm ngon cho người lao động. Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cong-viec-nay-trao-lai-cho-em/

HuynhHuong Vo Minh Luan

CÔNG VIỆC NÀY GIAO LẠI CHO EM
Hoàng Kim

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ.
Chợt thấy lòng rưng rưng.
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc.
Cố lên em nổ  lực không ngừng !

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo.
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm.
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động.
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi.
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng.
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Công việc này trao lại cho em.

Congviecnaytraolaichoem

Congviecnaytraolaichoem1

IAS 20 11 2015aa

IAS 20 11 2015a

IAS 20 11 2015aaa

Congviecnaytraolaichoem4

GiadinhNN

NhoThay1

NhoThay2

ƠN THẦY

Hoàng Kim

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

LỚP HỌC TRÊN ĐỒNG

Trò đứng trên bờ
Thầy cày dưới ruộng
Roi rói đất lật lên
Thẳng tắp từng hàng từng luống …

Buổi đầu chưa quen đường cày đâu vững
Thầy nắn tay cầm, thầy sửa dáng đi
Trán lấm tấm mồ hôi, trời thì lạnh giá
Nhưng mọi người đều học say mê

Thầy dạy con muốn đường cày đẹp
Phải vững tay cày và thẳng mắt trông
Bước đĩnh đạc, đường hoàng, ngay ngắn
Dóng trâu đi đúng lối, thẳng đường

Con hiểu thầy bày từng lời cặn kẽ
Đâu chỉ dạy cày, thầy dạy đức cho con
Nuôi mục đích trước sau như một
Việc tốt đưa ra, quyết vượt tới cùng …

– Các em học hiểu không?
– Hiểu lắm!
– Em nào ra cày?
Muôn cánh tay giơ lên …

Luống cày chạy băng băng
Đất lành sôi sự sống
Từng hàng, từng hàng lật lên
Áo mới thay dần mặt ruộng

Thầy trò say mê mãi
Dưới ruộng trò cày
Trên bờ thầy hớn hở
Đường cày càng vững vàng hơn…

1971

NỐI NGHIỆP

– Các em học hiểu không?
– Hiểu lắm!
– Em nào ra cày?
Muôn cánh tay giơ lên …

Luống cày chạy băng băng
Đất lành sôi sự sống
Từng hàng, từng hàng lật lên
Áo mới thay dần mặt ruộng

Thầy trò say mê mãi
Dưới ruộng trò cày
Trên bờ thầy hớn hở
Đường cày càng vững vàng hơn.

Đường cày nay nối đường cày trước
Chuỗi giá trị tăng đâu chỉ trên đồng
Dạy và học ngày nay em nối nghiệp
Học làm Người học mãi chưa xong…

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ

Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON

(1)  Hình ảnh liên quan từ năm 1991-2017

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích

Beethoven – Für Elise (60 Minutes Version)

KimYouTube

Yên Tử Trần Nhân Tông

TRÚC LÂM TRẦN NHÂN TÔNG
Hoàng Kim

Người ơi con đến đây tìm
Non thiêng Yên Tử như tranh họa đồ
Núi cao trùng điệp nhấp nhô
Trời xuân bảng lãng chuông chùa Hoa Yên

Thầy còn dạo bước cõi tiên
Con ươm mầm sống xanh thêm ruộng vườn
Mang cây lộc trúc về Nam
Ken dày phên giậu ở miền xa xôi

Cư trần lạc đạo (*) Người ơi
Tùy duyên vui đạo sống đời thung dung
Hành trang Thượng sĩ Tuệ Trung
Kỳ Lân thiền viện cành vươn ra ngoài

An Kỳ Sinh trấn giữa trời
Thơ Thiền lưu dấu muôn đời nước non …

Lên non thiêng Yên Tử tôi nhớ câu thơ huyền thoại: “Trăm năm tích đức tu hành. Chưa lên Yên Tử chưa thành quả tu“. Núi Yên Tử thuộc tỉnh Quảng Ninh nơi có Quần thể di tích danh thắng Yên Tử ở Bắc Giang và Quảng Ninh. Đây là quần thể danh thắng đặc biệt nổi tiếng liên tỉnh đầu tiên ở Việt Nam được đệ trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO xem xét, công nhận là Di sản thế giới. Núi Yên Tử là đỉnh thứ hai của tam giác châu huyền thoại Bắc Bộ nối Việt Trì – Quảng Ninh là dải Tam Đảo rồi 99 ngọn Nham Biền của các dãy núi vòng cung Đông Triều tạo nên thế hiểm “trường thành chắn Bắc” của bề dày núi non hiểm trở khoảng 400 km núi đá che chắn mặt Bắc của thủ đô Hà Nội non sông Việt.

Về Nghĩa Lĩnh Đền Hùng, Lên non thiêng Yên Tử, Vào Tràng An Bái Đính là chúng ta đang về nguồn của vùng đất địa linh nhân kiệt cho sự trường tồn của tộc Việt trong cuộc “đấu tranh giành quyền sống với vạn vật”  trong lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và mở nước.

Trần Nhân Tông (1258-1308)  là một trong những vị vua anh minh nhất của lịch sử Việt Nam. Người tên thật là Trần Khâm, vua Trần thứ ba (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Với 50 năm cuộc đời, vua Phật Trần Nhân Tông đã kịp làm được ít nhất năm việc lớn hiếm thấy và khó ai bì kịp ở mọi dân tộc và mọi thời đại: 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thời đó; 2) Tổ sư thiền phái Trúc Lâm và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306) là vua Phật Việt Nam. 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với kiệt tác thơ Thiền Trần Nhân Tông và thắng tích Trúc Lâm Yên Tử; 4) Người thầy chiến lược vĩ đại muôn đời của kế sách một chữ “đồng” “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”, nhược thắng cường, yếu thắng mạnh, nước nhỏ thắng nước lớn, sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt bằng vương đạo, thuận thời, thuận người . 5) Nhà trị loạn kỳ tài đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt ở thời khắc quyết định, biến nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể.

Kiệt tác thơ thiền đức Nhân Tông

Cư trần lạc đạo phú
Đại Lãm Thần Quang tự
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
Đăng Bảo Đài sơn
Đề Cổ Châu hương thôn tự
Đề Phổ Minh tự thủy tạ
Động Thiên hồ thượng
Họa Kiều Nguyên Lãng vận
Hữu cú vô cú
Khuê oán
Lạng Châu vãn cảnh
Mai
Nguyệt
Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ
Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính
Sơn phòng mạn hứng
I
II
Sư đệ vấn đáp
Tán Tuệ Trung thượng sĩ
Tảo mai
I
II
Tặng Bắc sứ Lý Tư Diễn
Tây chinh đạo trung (tái chinh Ai Lao)
Thiên Trường phủ
Thiên Trường vãn vọng
Tống Bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai
Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng
Trúc nô minh
Tức sự
I
II
Vũ Lâm thu vãn
Xuân cảnh
Xuân hiểu
Xuân nhật yết Chiêu Lăng
Xuân vãn

Lên non thiêng Yên Tử, ta sẽ có dịp nghiền ngẫm kỹ các trước tác của đức Nhân Tông sau khi khảo sát điền dã những chứng tích lịch sử văn hóa lưu dấu mãi với thời gian. Xin chép lại dưới đây một số bài thơ thiền Trần Nhân Tông “Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được.” (Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.) Nghe xong, tôi thông suốt được đường vào, bèn vén áo thờ Ngài làm thầy”. Lời của đức Nhân Tông viết về sự đạt ngộ với thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ .

“Soi sáng lại chính mình”. Hãy là chính mình chứ không tìm kho báu ở đâu khác.

Ôi! Lời Người đã giác ngộ cho Con.

Hoàng Kim

Đọc tiếp…

THƠ THIỀN TRẦN NHÂN TÔNG

Cư trần lạc đạo

( )

I
命憹城市
涅用山林
怺業朗安閑體性
姅挧耒自在身心
貪愛源停,庄群汝珠腰玉貴
是非曢朗,特油牐燕說鶯吟
制搩碧隱筃籑,人間固饒勜得意
別桃紅処柳綠,天下能某主知音
月白暈青,芁每祖禪河淶焔
柳綿花岹,屹群生慧日森林
慮換骨約飛升,丹神買服
咅長生衛上界,徃兔群耽
冊易娂制,腰性瞆腰欣珠寶
經閒讀酉,重峼耒重女黃金

Mình ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm
Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm
Tham ái nguồn dừng , chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý
Thị phi tiếng lặng , được dầu nghe yến thốt oanh ngâm
Chơi nước biếc ẩn non xanh , nhân gian có nhiều người đắc ý
Biết đào hồng hay liễu lục , thiên hạ năng mỗ chủ tri âm
Nguyệt bạc vừng xanh , soi mọi chỗ thiền hà lai láng
Liễu mềm hoa tốt , ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm
Lo hoán cốt ước phi thăng , đan thần mới phục
Nhắm trường sinh về thượng giới , thuốc thỏ còn đam
Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu
Sách Nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim
**
II

別丕
免特峼耒
庄群法恪
廛性瞆性買侯安
裵念妄念停庄錯
悉除人我時歯相實金剛
停歇貪嗔買老峼牟圓覺
淨土羅峼瑇瀝渚群疑坙典西方
彌陀羅性瞆芁罵沛辱寻衛極樂
察身心煉性識呵浪蒙果報舖誇
倿戒行敵無常儍固詫求名半角
吿蔞吿迀業凩庄嫌所縙枾
運紙運檑身根固礙之顛白
若㐱戞皮道德姅間痆貴姅天宮
油能勉所仁義巴片瓦腰欣樓閣

Biết vậy !
Miễn được lòng rồi
Chẳng còn phép khác
Gìn tính sáng tính mới hầu an
Nén niềm vọng niềm dừng chẳng thác
Dứt trừ nhân ngã thời ra tướng báu kim cương
Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác
Tịnh độ là lòng trong sạch chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương
Di Đà là tính sáng soi mựa phải nhọc tìm về cực lạc
Xét thân tâm rèn tính thức há rằng mong quả báo phô khoe
Cầm giới hạnh địch vô thường nào có sá cầu danh bán chác
Ăn rau ăn trái nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay
Vận giấy vận sồi thân căn có ngại chi đen bạc
Nhược chỉn vui bề đạo đức nửa gian lều quý nửa thiên cung
Dầu năng miễn thửa nhân nghì ba phiến ngói yêu hơn lầu gác
**

III
裊麻谷
罪乙乑空
法學吏通
纏性瞆罵落邪道
所命學朱沛正宗
㐱孛羅峼舍諳坙隊機馬祖
忘財對色乙寻朱沛退龐公
盎資財性瞆庄貪呵為於歳鷂安子
譤聲色念停庄轉路之憹庵棧筃東
塵俗麻年,福意強腰歇則
山林庄谷,禍箕實垰徒功
願蒙親近明師果菩提蔑店麻佂
福及情期知識花優曇亖劫耽厠

Nếu mà cốc
Tội ắt đã không
Pháp học lại thông
Gìn tính sáng mựa lạc tà đạo
Sửa mình học cho phải chính tông
Chỉn bụt là lòng sá ướm hỏi đòi cơ Mã tổ
Vong tài đổi sắc ắt tìm cho phải thói Bàng công
Áng tư tài tính sáng chẳng tham , há vì ở Cánh Diều Yên Tử
Răn tham sắc niềm dừng chẳng chuyển , lọ chi ngồi Am Sạn Non Đông
Trần tục mà nên , phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chẳng cốc , họa kia thực cả đồ công
Nguyền mong thân cận minh sư , quả Bồ đề một đêm mà chín
Phúc gặp tình cờ tri thức , hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông
**
IV

信娂
免谷蔑峼
時耒每惑
轉三毒買證三身
断六根年除六賊
寻唐換骨㐱舍能服藥煉丹
坙法真空分之另櫀聲執色
別真如信般若,渚群寻佛祖西東
證實相年無為,儍辱坙經禪南北
娂三藏教,乙學隊禪苑清規
嘥五分香,庄損典栴檀詹蔔
積仁義修道德,埃処尼庄釋迦
倿戒行断慳貪,㐱實意羅弥勒

Tin xem
Miễn cốc một lòng
Thời rồi mọi hoặc
Chuyển tam độc mới chứng tam thân
Đoạn lục căn nên trừ lục tặc
Tìm đường hoán cốt , chỉn xá năng phục dược luyện đan
Hỏi pháp chân không , hề chi lánh ngại thanh chấp sắc
Biết chân như , tin bát nhã , chớ còn tìm phật tổ tây đông
Chứng thực tướng nên vô vi , nào nhọc hỏi kinh nam bắc
Xem Tam Tạng giáo , ắt học đòi thiền uyển thanh quy
Đốt ngũ phần hương , chẳng tổn đến chiên đàn chiêm bặc
Tích nhân nghì tu đạo đức , ai hay này chẳng Thích Ca
Cầm giới hạnh đoạn ghen tham , chỉn thực ấy là Di Lặc
**
V

丕買処
孛於宮茹
庄沛寻賒
因虧本年些寻孛
典谷処㐱孛羅些
禪午朩句,聮釀工圭何有
經娂巴遍,憹宜買國新羅
瑇道義曠機關,它突吝場經翓祖
另是非稽声色,櫀制排淡柳塘花
德孛慈悲,蒙饒劫願朱親近
恩堯曠垰,律全身逋沒乑赦
襖免绖潭蔭過務,或針或雉
琟共粥肁奴隊耉,油白油叉
垠八識裵八風,強提強倍
唩三玄箼三要,蔑拮沒磨
琴本少絃,舍彈酉控無生曲
笛庄固魯,共泛制唱太平歌
钖檜寻梗,群可惜俱胝長老
虧頭執俸,乙堪宼演若達多
律圈金剛,呵炦侯通年艶
訥蓬栗棘,儍検沛綽像庒

Vậy mới hay
Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa
Nhân khuây bản nên ta tìm bụt
Đến cốc hay chỉn bụt là ta
Thiền ngỏ năm câu , nằm nhãng cong quê Hà Hữu
Kinh xem ba bận, ngồi ngơi mái quốc Tân La
Trong đạo nghĩa , khoảng cơ quan , đà đụt lặn trường kinh cửa tổ
Lánh thị phi , ghê thanh sắc , ngại chơi bời dặm liễu đường hoa
Đức bụt từ bi , mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận
Ân Nghiêu khoáng cả, lọt toàn thân phô việc đã qua
Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa , hoặc châm hoặc xể
Cơm cùng cháo đói no đòi bữa , dầu bạc dầu thoa
Ngăn bát thức nén bát phong , càng đè càng bội
Lẩy tam huyền , nong tam yếu , một cắt một ma
Cầm vốn thiếu dây , xá đàn dấu xoang Vô sinh khúc
Địch chăng có lỗ , cũng bấm chơi xướng Thái bình ca
Lẩy cội tìm cành , còn khá tiếc Câu Chi trưởng lão
Quay đầu  chớp bóng , ắt kham cười Diễn Nhã Đạt Đa
Lọt quyển kim cương , há mặt hầu thông nên nóng
Nuốt bồng lật cức , nào tay phải xước tượng da .
**
VI

實世
唉舍無心
自然合道
停三業買瞆身心
達蔑峼時通祖教
認文解義,落來年禪客巴為
証理知機,勁葛沛訥僧坤窖
嘆有漏嘆無漏,保朱処硦律杓菱?
坙大乘坙小乘,撪倘悉斅錢絲欕
認別漏漏峼本,庄櫀皮時節因緣
搥朱域域性爯,儍固染根塵喧鬧
釺渚歇霚,舍須佂番篤佂番煉
祿庄群貪,免特蔑時齋蔑時粥
瀝戒峼搥戒相,內外年菩薩莊嚴
桰蜍主討蜍吒,岃杜買丈夫忠孝
參禪見伴,涅身命買可回恩
學道蜍柴,扟昌沃渚通晫報

Thực thế
Hãy xá vô tâm
Tự nhiên hợp đạo
Dừng tam nghiệp mới lặng tam thân
Đạt một lòng thì thông tổ giáo
Nhận văn nghĩa, lạc lài nên thiền khách bơ vơ
Chứng lý tri cơ , cứng cát phải nạp tăng khôn khéo
Han hữu lậu han vô lậu , bảo cho hay the lọt duộc thưng
Hỏi Đại thừa hỏi Tiểu thừa , thưa thẳng tắt sồi tiền tơ gạo
Nhận biết làu làu lòng vốn , chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên
Dồi cho vặc vặc tính gương , nào có nhuộm căn trần huyên náo
Vàng chưa hết quặng , xá tua chín phen đúc chín phen rèn
Lộc chẳng còn tham , miễn được một thì chay một thì cháo
Sạch giới lòng dồi giới tướng , nội ngoại nên bồ tát trang nghiêm
Ngay thờ chúa thảo thờ cha , đi đỗ mới trượng phu trung hiếu
Tham thiền kén bạn , nát thân mình mới khá hồi ân
Học đạo thờ thầy , dọt xương óc chưa thông của báo
**
VII

丕買処
法孛重世
煉買谷処
無明歇菩提添瞆
煩惱耒道德強蔢
娂倣峼經塁孛說易朱体酉
學隊機祖詫禪空坤卒別尼
穷根本瀉塵緣罵底某毫氂當炦
我勝幢圓知見渚朱群禍宁工検
厠帞覺悟嘥壞忛棱邪時訳
倿劍知慧撅朱空性識課尼
埄恩聖律憽吒蜍柴學道
勉德瞿經裴兀倿戒吿齋
感德慈悲底饒劫願朱親近
隊恩救渡涅怺身時召縙荄
義矣汝道庄涓香花供娂群年討
凩浪信峼吏磊釺玉蜍共渚歇桰

Vậy mới hay
Phép bụt trọng thay
Rèn mới cốc hay
Vô minh hết bồ đề thêm sáng
Phiền não rồi đạo đức càng say
Xem phỏng lòng kinh lời bụt thốt dễ cho thấy dấu
Học đòi cơ tổ sá thiền không khôn chút biết nơi
Cùng căn bản , tã trần duyên , mựa để mỗ hào ly đương mặt
Ngã thắng chàng , viên tri kiến , chớ cho còn họa trữ cong tay
Buông lửa giác ngộ đốt hoại thảy rừng tà thời trước
Cầm kiếm trí tuệ quét cho không tính thức thuở nay
Vâng ơn thánh , xót mẹ cha , thờ thầy học đạo
Mến đức Cù , kiêng bùi ngọt , cầm giới ăn chay
Cảm đức từ bi , để nhiều kiếp nguyền cho thân cận
Đòi ơn cứu độ , nát muôn thân thà chịu đắng cay
Nghĩa hãy nhớ , đạo chẳng quên , hương hoa cúng xem còn nên thảo
Miệng rằng tin , lòng lại lỗi , vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay
**
VIII

徵意
㐱舍須煉
渚年絕學
來意識渚執澄澄
裵念妄罵群觸觸
功名忙(-)意全羅仍打疑(-)
福慧兼奴㐱買可年勜實谷
鄧橋渡,搥廛塔,外莊嚴事相矣修
刪喜捨,軟慈悲,內自在經峼恒讀
煉峼乄孛,㐱舍修蔑飭搥埋
待葛見釺,群吏沛饒番瀘淥
娂經讀錄,乄朱朋所体所処
重孛修身,用罵磊蔑絲蔑泘
穷尼言句,㐱庄兮蔑丿櫀盧
栗所機關,罵群底爑唏突祿

Chưng ấy
Chỉn xá tua rèn
Chớ nên tuyệt học
Lay ý thức chớ chấp chằng chằng
Nén niềm vọng mựa còn xóc xóc
Công danh mảng đắm , ấy toàn là những đứa ngây thơ
Phúc tuệ gồm no , chỉn mới khá nên người thực cốc
Dựng cầu đò , dồi chiền tháp , ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu
Săn hỉ xả , nhuyễn từ bi , nội tự tại kinh lòng hằng đọc
Rèn lòng làm bụt , chỉn xá tu một sức dùi mài
Đãi cát kén vàng , còn lại phải nhiều phen lựa lọc
Xem kinh đọc lục , làm cho bằng thửa thấy thửa hay
Trọng bụt tu thân , dùng mựa lỗi một tơ một tóc
Cùng nơi ngôn cú , chỉn chăng hề một phút ngại lo
rất thửa cơ quan , mựa còn để tám hơi dọt lọc
**
IX

丕朱処
機關祖教
雖恪饒塘
庄隔某剛
㐱舍吶自罒馬祖
乙乑涓課訳蕭皇
功德全無,性執癡強添磊
廓然不識,碒愚渕乙群肹
生天竺,折少林,畕肁真筃熊耳
身菩提,峼明鏡,牌剶炦壁行廊
王老斬貓,辣忛峼馭首坐
柴胡摳匵,擼娂智珥昆床
悪盧陵欕末過於,庄朱麻垰
所石頭廏瀾歇則,坤典撪當
破灶拮棋,踏笹酉煶神庙
俱胝移阮,用隊躡躡翁盎
攨劍臨济,鑲秘魔,訳衲僧奴油自在
獅子翁端,橮柴佑,譤檀越歛舍迎昂
媫扇子,拮竹篦,驗几學機關珥(-)
芻丸毬,倿木杓,伴禪和所木誇光
船子耶掉,匇籑渚朱羨洗
道吾扄笏乾魔羕体怪光
纅偃老訥乾坤,些娂㐱戾
氜蓊存昂世界,勜体乙揚
夛柏羅峼,托歯訳沛方太白
丙丁屬火,吏呂罒磊向天罡
茶趙老餅韶陽,排禪子矣群肁渴
鋫曹溪園少室,眾衲僧仍底留荒
招勑檜乃厠嘫,因芒買涅
祿桃花宜曢竹,默峃高禥

Vậy cho hay
Cơ quan tổ giáo
Tuy khác nhiều đường
Chẳng cách mấy gang
Chỉn xá nói từ sau Mã tổ
Ắt đã quen thuở trước Tiêu Hoàng
Công đức toàn vô , tính chấp si càng thêm lỗi
Khuếch nhiên bất thức , tai ngu mảng ắt còn vang
Sinh Thiên Trúc , tử Thiếu Lâm , chôn dối chân non Hùng Nhĩ
Thân bồ đề , lòng minh kính , bài giơ mặt vách hành lang
Vương lão chém mèo , lại trẩy lòng ngừa thủ tọa
Thầy Hồ khua chó , trỏ xem trí nhẹ con giàng
Chợ Lư Lăng gạo mắt quá ư , chẳng cho mà cả
Sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc , khôn đến thưa đang
Phá Táo phất cờ , đạp xuống dấu thiêng thần miếu
Câu Chi day ngón , dùng đòi nếp cũ ông ang
Lưỡi gươm Lâm Tế , nạng Bí Ma , trước nạp tăng dầu tự tại
Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu , răn đàn việt hượm xá nghênh ngang
Đưa phiến tử , cất trúc bề , nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn
Xô hòn cầu , cầm mộc thược , bạn thiền hòa thửa khoe khoang
Thuyền tử rà chèo , dòng xanh chửa cho tịn tẩy
Đạo Ngô múa hốt , càn ma dường thấy quái quàng
Rồng Yển lão nuốt càn khôn , ta xem chỉn lệ
Rắn ông Tồn ngang thế giới , người thấy ắt dương
Cây bách là lòng , thác ra trước phải phương Thái Bạch
Bính đinh thuộc hỏa,  lại trở sau hỏi hướng Thiên Cang
Trà Triệu lão, bánh Thiều dương , bầy thiền tử hãy còn đói khát
Ruộng Tào Khê , vườn Thiếu Thất , chúng nạp tăng những để lưu hoang
Gieo bó củi , nẩy bông đèn , nhân mang mới nát
Lộc đào hoa nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang
**
X

象眾意
谷蔑真空
用隊根器
固峼些旺執坤通
呵機祖哰群所秘
眾小乘谷処渚典,垠寶所化城
等上士證寶麻年,埃技固山林城市
倂荒棱瓊,意羅尼逸士逍遙
廛永庵清,㐱實境道人逾戏
馭高傘垰,閻王儍計打迎昂
閣玉樓釺,獄卒少之勜腰貴
拯功名籠人我,實意凡愚
蔢道德移身心,定年聖智
眉昂每獨,相雖羅娂乙凭饒
炦聖峼凡,實隔忍萬萬千里

Tượng chúng ấy
Cốc một chân không
Dụng đòi căn khí
Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông
Há cơ tổ nay còn thửa bí
Chúng Tiểu thừa cốc hay chửa đến , bụt xá ngăn Bảo sở hóa thành
Đấng Thượng sĩ chứng thực mà nên , ai ghẽ có sơn lâm thành thị
Núi hoang rừng quạnh , ấy là nơi dật sĩ tiêu dao
Triền vắng am thanh , chỉn thực cảnh đạo nhân du hí
Ngự cao tán cả , Diêm vương nào kể đứa nghênh ngang
Gác ngọc lầu vàng , ngục tốt thiếu chi người yêu quý
Chuộng công danh , lồng nhân ngã , thực ấy phàm phu
Say đạo đức , dời thân tâm , định nên thánh trí
Mày ngang mũi dọc , tướng tuy là xem ắt bẵng nhau
Mặt thánh lòng phàm , thực cách nhẫn vạn vàn thiên lý
**

居塵樂道且隨緣,
饑則飧兮困則眠。
家中有宝休尋覓,
對鏡無心莫問禪。

Kệ vân:
Cư trần lạc đạo thả trùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối kính vô tâm mạc vấn thiền

Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo
Đói thì ăn, mệt thì ngủ
Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác
Đối diện với mọi cảnh giới mà vẫn vô tâm, thì cần chi hỏi thiền nữa

Ở đời vui đạo mặc tùy duyên
Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền
Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.

Trúc lâm yên tử đệ nhất tổ Trần Nhân Tông

Video nhạc tuyển
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Kim on Twitter

Sóng yêu thương vỗ mãi

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI ĐẾN VÔ CÙNG

Hoàng Kim

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

(*) Ban mai trên biển Nhật Lệ, Quảng Bình. Chùm ảnh của Hoàng Kim và bài thơ Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng

 


SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH
Thơ hay và lời bình yêu thích

Hoàng Kim. “Tôi vẫn thích trở lại với ‘Sóng’  của Xuân Quỳnh, thơ hay là lời bình thật tốt của Hà thị Hải, báo Phụ nữ Việt Nam tháng 1/2002″.

 

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể.

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ.

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh- một phương

ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vàn cách trở

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Ðể ngàn năm còn vỗ

        Thơ Xuân Quỳnh có nét rất riêng, trong số các nhà thơ nữ của Việt Nam, đó là: chân thật và đam mê mãnh liệt. Trong thơ chị cháy lên cái sắc màu của một thế giới lung linh, thế giới tình yêu. Thơ Xuân Quỳnh, thơ tình Xuân Quỳnh là niềm khao khát hạnh phúc. Thơ Xuân Quỳnh rất tình, rất đời và rất đàn bà bởi niềm khát khao ấy. Nói đến khát khao hạnh phúc trong thơ Xuân Quỳnh có nghĩa là nói đến “Sóng”.

        Tình yêu- vốn là đề tài muôn thuở. Xuân Diệu- nhà thơ của tình yêu- có bài thơ nổi tiếng “Biển”. Còn Xuân Quỳnh, chị mượn hình tượng “sóng” để diễn tả những cảm xúc, trạng thái của người phụ nữ khi yêu. “Biển” của Xuân Diệu mạnh mẽ, dữ dội và nồng nàn, bộc lộ một tình yêu rất nam tính. Còn “Sóng” của Xuân Quỳnh thì đậm tính chất nữ tính, nhẹ nhàng, chân thành mà vẫn nồng nàn, thiết tha.

Dữ dội và dịu êm
N ÀO VÀ LẶNG LẼ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể.

        Bao trùm bài thơ, lan toả khắp bài thơ là hình tượng “sóng”. Âm hưởng bài thơ là âm hưởng của con sóng dạt dào, nhịp nhàng. Nhịp của con sóng vỗ bờ triền miên, vô hồi hay nhịp của tiếng lòng thi sĩ- nhân vật chủ thể- đang yêu và khao khát yêu. Mỗi trạng thái của tâm hồn người phụ nữ đang yêu có thể tìm thấy sự tương đồng ở một khía cạnh nào đó của con sóng. Con sóng ấy khao khát, hay chờ sự “xoay vần” của con Tạo nữa. Trái tim ấy kiên quyết “tìm ra tận bể”, tìm đến độ sâu xa nhất trong tình yêu, để tìm hiểu, để khám phá và để yêu.

        Khát vọng tình yêu là chuyện của muôn đời, muôn người, nhưng mãnh liệt nhất là của tuổi trẻ, như có nhà thơ viết:

Nếu phải chia cho người yêu một nửa
Thì em ơi nhận lấy khoảng đời đầu

    Ðã yêu là kháo khát, là bồi hồi

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ.

        Nhận ra trạng thái khác của mình, người phụ nữ kiên quyết tìm hiểu, “tìm ra tận biển”, tận bến bờ sâu thẳm của tình yêu. Thế nhưng “tình yêu có những lý lẽ mà lí trí không sao giải thích nổi“. Tình yêu đầy bí ẩn, và chính vì nó bí ẩn nên nó lại càng đẹp và lại càng là nỗi khát khao của con người:

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

        Nữ thi sĩ người Bungaria Blaga Ðimitrôva- đã nói “Ta đi tìm mình cho ta và cũng là tìm ta cho chính ta nữa“. Xuân Quỳnh cho rằng: “Yêu là đi tìm một nửa của mình, cũng chính là đi tìm mình“. Như thế tình yêu làm cho con người ta hoàn thiện hơn, đẹp hơn. Tình yêu cũng làm cho con người ta băn khoăn về sự bắt đầu, sự khởi nguồn của nó. Thế nhưng: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?” (Xuân Diệu). Và có người thốt lên: “Có gì lạ quá đi thôi!“, còn Xuân Quỳnh, chị bộc bạch một cách hồn nhiên, rất con gái, nhẹ nhàng, bối rối lẫn chút đắm say, ngọt ngào pha lẫn hơi nũng nịu:

Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

        Nhà thơ, cũng như bao người con gái khác, đều không sao trả lời được. Em yêu anh tự bao giờ, em cũng chẳng biết nữa. Có lẽ là từ nỗi nhớ về anh da diết. Bởi đã yêu là nhớ:

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được

        Vẫn là hình tượng “sóng”. Sóng nhớ bờ, ngày đêm không thôi dào dạt. Cũng như em:

Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

        Ca dao xưa cũng viết về nỗi nhớ khi yêu:

Ðèn thương nhớ ai
Mà đèn chẳng tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ chẳng yên

        Nhà thơ Chế Lan Viên miêu tả nỗi nhớ cũng rất hay:

Anh không ngủ. Hẳn vì em đang nhớ
Một trời sao rực cháy giữa đôi ta
Anh thức giấc. Cho lòng em lặng gió
Cho sao trời yên rụng một đêm hoa

        Hai câu thơ được tách riêng thành một khổ thơ như nỗi lòng, tâm trạng của thi sĩ bấy giờ. Tâm trạng ấy lan sang người đọc. Thiết tha, sâu lắng và mãnh liệt.

        Yêu không chỉ là nhớ. Yêu là sự thuỷ chung, son sắt, dẫu xa cách ngàn trùng. “Khoảng cách trong tình yêu cũng như gió với lửa, dập tắt ngọn lửa nhỏ nhưng thổi bùng ngọn lửa lớn” (ngạn ngữ). Tình yêu của nhà thơ mãnh liệt và sâu đậm. Nỗi nhớ trong thơ chị gắn với khái niệm thời gian vô tận và không gian vô cùng. Với thời gian, nó không có ngày đêm. Với không gian, nó chẳng có nhiều phương hướng; chỉ có một phương thôi- đó là anh. Hai người yêu nhau luôn hướng về nhau. Họ là mặt trời soi rọi cho nhau vào những buổi sớm và là mặt trăng sưởi ấm những đêm khuya.

        Nhưng tình yêu sẽ chỉ là lãng mạn, tình yêu không thực sự là tình yêu theo đúng nghĩa nếu nó xa rời thực tế- cuộc đời. Mà cuộc đời vốn nhiều nỗi trái ngang. Bên cạnh hạnh phúc, tình yêu cũng là đau khổ. Nhưng không phải vì thế mà tình yêu kém đi nét đẹp và sự lung linh của nó. Trái lại tình yêu càng trở nên huyền diệu hơn khi nó vượt qua mọi giông bão của cuộc đời. Ðó là khát vọng mà con người luôn hướng tới.

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

        Khát khao được hướng tới tình yêu đích thực, hướng tới sự vĩnh cửu của tình yêu trở nên mãnh liệt. Và ở khổ thơ cuối cùng, biểu tượng “sóng” đã trở thành nơi cất giữ niềm khát khao mạnh mẽ.

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Ðể ngàn năm còn vỗ

        Thơ Xuân Quỳnh là tiếng hát của trái tim đắm đuối trong sóng nhạc tình yêu. Ðọc thơ tình của chị, người ta khát khao yêu, khát khao hạnh phúc. Người đàn bà ấy dù đã trải qua nhiều nỗi truân chuyên, thế nhưng giông bão bao nhiêu thì chị lại càng sống hết mình bấy nhiêu. Chị sống cho tình yêu, hơi thở của chị là hơi thở của tình yêu, “một tình yêu dù đã đi qua mọi va chạm, mọi đau đớn của cuộc đời mà vẫn khát khao, vẫn chờ đợi tình yêu bằng cả sự trinh bạch của tâm hồn. Cái mà không một sự tàn phá, va đập nào của thời gian và cuộc đời chạm tới được”.

Nguồn: vuhuu.edu.vn/null/Ebook/Phe_Binh/bai3_1.htm

Bài viết mới

Video yêu thích

Chúc mừng SÓNG KHÔNG TỪ BIỂN thơ Nguyên Hùng nhạc Le An Tuyen qua giọng ca vàng của Bích Hồng. Cuộc đời có được tác phẩm neo đậu trong lòng những người thân, bạn hữu thân thương và cộng đồng là đủ. Tôi cũng yêu biển và đồng cảm sâu sắc với thơ nhạc của bạn. Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng.
https://hoangkimlong.wordpress.com/2017/05/04/song-yeu-thuong-vo-mai-den-vo-cung/
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedInKim on Facebook, Kim on Twitter

 

 

Môhamet và đạo Hồi

MÔHAMET VÀ ĐẠO HỒI
Hoàng Kim

Hồi giáo là điều cần hiểu biết đúng vì số tín đồ theo đạo Hồi trên thế giới hiện nay khá lớn, chiếm một phần tư dân số toàn thế giới  với trên 1,57 tỷ, đứng thứ hai chỉ sau Kito giáo. Cộng đồng Hồi giáo chiếm 25% tại Nam Á, 20% ở Trung Đông, 15% ở Châu Phi, và 13% ở Indonesia. Người theo đạo Hồi cũng có ở châu Âu, Trung Quốc, Nga và châu Mỹ nhưng tỷ lệ thấp hơn. Đạo Hồi chủ yếu có 2 dòng Sunni (75–90%) và Shia (20-10%).  Nhà tiên tri Muhammad, sinh ngày 2 tháng 5, sống vào khoảng năm 570 – 632, được những tín đồ Hồi giáo Islam toàn cầu gọi là “sứ giả của Thượng Đế” và tin là vị ngôn sứ Allah cuối cùng mà Thiên Chúa gửi xuống để dẫn dắt nhân loại.


Tôi tóm tắt  câu chuyện ‘Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad’ giữa hai vùng tối sáng. Tôi định mời bạn xem kèm video Prophet Muhammad (PBUH) Complete life story in English của BBC dưới đây để hiểu thêm về nhà tiên tri Muhammad nhưng dường như đã không may mắn. Cõi nhân gian bé tí nhưng hiểu biết đúng không dễ vì chúng ta nhìn qua nhiều lăng kính khác nhau và nhiều ảo ảnh khúc xạ làm cho ta ngộ nhận lầm tưởng. Sự khôn ngoan là bớt nói hồ đồ và biết lắng nghe.

Nhà tiên tri Muhammad nói với chúng ta rằng ông chỉ là một người bình thường được may mắn làm sứ giả của Thượng đế để tiếp nhận và trao lại cho con người lời nhắn đó mà hậu thế gọi là Kinh Qu’ran

Quá trình đến với châu Phi, sang Trung Đông, Âu Mỹ và Ấn Độ, tôi được tiếp xúc với nhiều nguồn văn hóa, mới thấm hiểu tự do và cực đoan, thông suốt và vướng mắc, vô thần và đức tin, quả trứng nở ra con gà hay con gà đẻ ra quả trứng. Hành trình triết học là một chuỗi chiêm nghiệm để hiểu biết minh triết và tìm về tự thân. Tôi đã chuyên chú học và viết CNM365 suốt 5 năm qua (2012-2016) cùng sự liên hệ mật thiết với Wikipedia, nay đúc kết thông tin này cho mình và hiến tặng bạn đọc.  Mời bạn tìm hiểu thông tin chi tiết hơn tại https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-2-thang-5/.

ObamaẤn tượng Obama” câu chuyện cũ mà tôi muốn nhắc lại đó là câu nói “tôn trọng mọi tín ngưỡng”. Obama vững tin vào tương lai của nước Mỹ. Dẫu vậy, một linh cảm mà tầm nhìn Obama đã thấy trước một bức tranh tối tương lai thế giới đầy lo âu hơn. Tôi nhớ lại thông điệp sau cùng của Obama cuối năm 2016: “Tôi muốn kết luận lại bài diễn văn của mình bằng cách nói rằng tôi thừa nhận lịch sử đang kể một câu chuyện rất khác câu chuyện tôi nói ngày hôm nay. Chúng ta đã chọn một cái nhìn lịch sử đen tối hơn và đầy hoài nghi hơn. (Let me conclude by saying that I recognize history tells a different story than the one that I’ve talked about here today. There’s a much darker and more cynical view of history that we can adopt).

Một phần trong bức tranh thế giới hôm nay là Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad.

HỒI GIÁO

Sự ra đời Đạo Hồi có từ thế kỷ 7 tại bán đảo Ả Rập, do nhà tiên tri Muhammad là vị sứ giả Thượng đế nhận được mặc khải cuối cùng Kinh Koran của Allah  Đấng Tối Cao, truyền  cho con người qua thiên thần Jibrael. Islam nghĩa gốc Hồi giáo là “vâng mệnh, quy phục Thượng Đế” và Muslim trong tiếng Ả Rập là chỉ người theo đạo Islam.

Xuất xứ Hồi giáo từ dân tộc Hồi Hột là một nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc Dân tộc Hồi Hột lãnh thổ lúc rộng lớn nhất vào khoảng năm 616 đến 840, vùng phân bố kéo dài từ đông Mãn Châu đến tây Trung Á. Tài liệu xưa nhất dùng danh từ “Hồi Hột”  là Liêu Sử soạn vào thế kỷ 12. Dân tộc Hồi Hột đã giúp nhà Đường dẹp loạn An Lộc Sơn. Đến thời Nguyên (1260 – 1368), dân tộc Hồi Hột chuyển đổi thành “người Hồi” để chỉ người Trung Á, bất luận theo tín ngưỡng nào. Đến thời Minh (1368 – 1644), cụm từ “người Hồi” dần đổi nghĩa để chỉ những người theo đạo Islam. Tại Trung Quốc từ  thời Nguyên, đã có cụm từ “Đại Thực giáo”, “đạo A-lạp-bá”, “Thanh Chân giáo” trong nhiều từ điển tiếng Hán và dùng phổ biến tại  các thánh đường Islam quán ăn, nhà ăn. Ngày nay tại Trung Quốc người ta cũng thường gọi Islam theo phiên âm là Y Tư Lan giáo. Ở Việt Nam người dân quen dùng từ Hồi giáo hoặc Đạo Hồi.

Giáo lý căn bản của Hồi giáo tại duy nhất một quyển kinh Koran, gồm có 114 chương, 6236 tiết. Đối với các tín đồ Hồi giáo, kinh Koran là một vật linh thiêng, vì đó chính là lời phán của Allah Đấng Toàn Năng. Người Hồi giáo tin tưởng các vị sứ giả đến trước sứ giả Muhammad, kể từ Adam qua Noah, Abraham, Moise, đến Jesus. Người Hồi giáo cũng tin tưởng Cựu ước và Tân ước là kinh sách của Allah nhưng họ không thi hành theo vì sự “lệch lạc” do người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo tạo ra và thiên kinh Qur’an được Allah mặc khải xuống để điều chỉnh lại những gì đã sai trái ở hai cuốn kinh sách nói trên. Người Hồi giáo cũng kính trọng đức Jesus là một sứ giả rất được kính mến của Allah, nhưng họ không tin Jesus là con của Thiên Chúa mà Jesus chỉ là một con người, một sứ giả như mọi sứ giả khác vì theo quan điểm của Hồi giáo thì Thiên Chúa không có con, như Kinh Koran đã phán “Allah là Đấng Tạo Thiên Lập Địa! Làm thế nào Ngài có con khi Ngài không hề có người bạn đường? Chính Ngài là Đấng đã sáng tạo và thông hiểu tất cả mọi vật.” (trích 6:101). Người Hồi giáo không chấp nhận tội tổ tông, việc làm của Adam và Eva không là nguồn gốc tội lỗi của loài người. Không một ai có quyền rửa tội cho một ai khác, ngoại trừ Allah. Sự khác nhau giữa Kinh Cựu Ước, Kinh Tân Ước và Kinh Koran căn bản như sau: Kinh Cựu Ước: ‘Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình’ (sách Sáng Thế 1:27). Kinh Tân Ước: ‘Ta và Cha ta là một’ (Tân Ước Gioan 10:30). Kinh Koran: ‘Ngài là Đấng Duy Nhất. Allah Đấng Độc Lập và Cứu Rỗi. Ngài chẳng sinh ra ai và cũng chẳng ai sinh ra Ngài. Không một ai đồng đẳng với Ngài’. (Kinh Koran 112: 1-4).

Đạo Hồi kinh Koran liệt kê mười điều tâm nguyện

  1. Chỉ tôn thờ một Thiên Chúa (tiếng Á Rập là Allah).
  2. Vinh danh và kính trọng cha mẹ.
  3. Tôn trọng quyền của người khác.
  4. Hãy bố thí rộng rãi cho người nghèo.
  5. Cấm giết người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt (*).
  6. Cấm ngoại tình.
  7. Hãy bảo vệ và chu cấp trẻ mồ côi.
  8. Hãy cư xử công bằng với mọi người.
  9. Hãy trong sạch trong tình cảm và tinh thần.
  10. Hãy khiêm tốn

(*) Hai trường hợp đặc biệt được giết người mà không bị trọng tội là:
1) Trong khi kháng cự hoặc chiến đấu chống lại những kẻ lùng giết người đạo mình nhằm cưỡng bách bỏ đạo. Nhưng nếu chiến thắng, phải noi gương thiên sứ Muhammad, tha thứ và đối xử nhân đạo với phần đông kẻ bại trận.
2) Giết những tên sát nhân để trừ hại cho dân lành.

Năm trụ cột căn bản của đạo Hồi
1) Tuyên đọc câu Kalimah Sahadah: Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha du an na Muhammader rosu Lullah, có nghĩa Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài
2) Cầu nguyện ngày năm lần: Buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối.
3) Bố thí.
4) Nhịn chay tháng Ramadan.
5) Hành hương về Mecca.

Tín đồ Hồi giáo có chín luật lệ
1) Một lần trong đời, họ phải hành hương về thánh địa Mecca, nhưng với điều kiện họ không vay mượn hay xin phí tổn. Trước khi đi, họ phải lo cho gia đình vợ con đầy đủ những nhu cầu cần thiết trong thời gian họ vắng mặt hành hương.
2) Nghiêm cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi được cắt tiết theo nghi thức; không được ăn thịt lợn vì lợn là con vật ô uế.
3) Nghiêm cấm uống rượu và các thức uống lên men.
4) Nghiêm cấm cờ bạc.
5) Nghiêm cấm gian dâm và trai gái quan hệ xác thịt trước khi cưới hỏi.
6) Nghiêm cấm ăn những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp (như chó, mèo, chuột, v.v.).
7) Người Hồi giáo chỉ được ăn thịt đã được giết mổ theo nghi thức của đạo Hồi. Tuy nhiên, trong trường hợp tuyệt đối không có gì ăn, họ được ăn mọi thứ để duy trì sự sống.
8) Hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng. Trong tháng này, khi còn ánh sáng Mặt Trời, họ không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn. Cũng trong tháng này, con người phải tha thứ và sám hối, vợ chồng không được gần nhau vào ban ngày nhưng ban đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và phụ nữ có mang không phải thực hiện Ramadan.
9) Hồi giáo nghiêm cấm kỳ thị chủng tộc và tôn giáo, tín đồ Hồi giáo không được phép chỉ trích cũng như phán xét người khác. Đó là việc của Allah Đấng Toàn Năng

Đạo thường hằng trong vũ trụ. Theo quan điểm Hồi giáo, đạo của họ là đạo thường hằng trong vũ trụ, do Thượng Đế tạo ra, và vì Thượng Đế vốn bất sinh bất diệt nên đạo của Ngài cũng bất sinh bất diệt; còn Muhammad đơn thuần chỉ là một người “thuật nhi bất tác”, thuật lại cho mọi người những mặc khải của Thượng Đế mà thôi.

Con người đầu tiên Adam do Thượng Đế tạo ra là tín đồ Hồi giáo đầu tiên, và thuở hồng hoang, khắp đất trời là một vương quốc Hồi giáo. Không chỉ người mà thôi, mà tất cả muông thú, cỏ cây đều tuân theo Hồi giáo cả. Adam và loài người được kiến tạo là để thay mặt Thượng Đế cai quản các loài thảo cầm ở nhân gian. Do đẳng cấp của loài người cao và tự do ý chí nên dẫn đến lầm lạc rời bỏ Thượng Đế, và xa dần chính đạo. Khi Adam, con người đầu tiên lìa trần, con cháu ông thiếu sự chỉ dạy nên lầm lạc đi vào đường tối.

Vì vậy Thượng Đế đã gửi xuống nhân gian những vị Thiên Sứ để nhắc lại Thiên Đạo, đưa loài người về đúng nẻo ngay. Trước Muhammad, đã có nhiều nhà tiên tri giảng lời mặc khải ở trần thế, trong đó có Noah, Abraham, Moses, David  và Jesus … Tuy nhiên, do loài người chưa tỉnh ngộ và do sự tự cao, tự đại của con người, mà không theo chính đạo.

Muhammad là  vị Thiên Sứ hoàn hảo nhất và là vị Thiên Sứ cuối cùng. Bất cứ ai dám xưng Thiên Sứ sau Muhammad đều là kẻ tà giáo. Abraham (Ibrohim) cử xuống cho Do Thái Giáo và Giêsu (Ysa) cử xuống cho Kitô giáo, đều có vị trí Thiên Sứ trong Hồi giáo. Đấng Toàn Năng Allah mà ba tôn giáo này thờ phượng chỉ là một. Người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo cũng được tín đồ Hồi giáo tương đối coi trọng và gọi là Giáo Dân Thánh Thư (People of The Book). Kinh Thánh cũng là sách thiêng trong Hồi giáo, nhưng Kinh Koran là đầy đủ và hoàn thiện nhất.

NHÀ TIÊN TRI MUHAMMAD

Muhammad được sinh vào khoảng năm 570 tại Mecca (Makkah) và qua đời ngày 8 tháng 6 năm 632 tại Medina (Madinah). Hai thành phố Mecca và Medina thuộc về miền tây của Ả Rập Saudi ngày nay. Muhammad có nghĩa là “người được ca ngợi” trong tiếng Ả Rập. Tín đồ Islam khắp mọi nơi thế giới thường gọi ông là Nabi (al-nabi,النبي) “sứ giả (của Thượng Đế)”, Rasul-Allah (رسول الله ) hoặc Rasul có nghĩa là “thiên sứ của Thượng Đế”.

Một số tự điển lớn Anh Pháp dùng định nghĩa Prophet/Prophète “Sứ giả của Thiên Chúa”  và giải nghĩa thêm “Muhammad, người lập ra đạo Islam”. Các tín đồ Hồi giáo thường chúc tụng tiếng Anh là “Sall- Allahu alayhi wa salam” Peace and Benediction Upon Him”, viết tắt là PBUH, hoặc tiếng Pháp là “Paix et Bénédiction Sur Lui”, viết tắt là PBSL, tiếng Việt là ‘Cầu xin Allah ban ân phước và sự bình an cho ngài’, viết tắt là “(saw)” hay “(saas)”. Trong bản dịch tác phẩm văn học truyện Nghìn lẻ một đêm sang tiếng Việt và trên báo chí, ngôn ngữ tiếng Việt thông dụng thì nhà tiên tri Muhammad thường được gọi là Đấng tiên tri, Thánh Mô-ha-met hoặc Giáo chủ Mô-ha-met.

Nhà tiên tri Muhammad sinh ngày 12 tháng 3 âm lịch Ả Rập năm “Con Voi”. Năm ấy thống đốc vùng Yemen vào chiếm Mecca, trong đoàn quân có con voi chiến rất to, nên người ta gọi là năm Con Voi mà theo các sử gia ngày nay khoảng năm 569 – 571, số đông coi là năm 570. Thánh Muhammad là con đầu lòng của ông Abd-Allah và bà Aminah. Người Trung ĐôngẤn-Âu vốn có truyền thống lấy tên những người mình quý mến đặt cho con, nên tên thánh Muhammad rất thông dụng ngày nay.

Nhà tiên tri Muhammad không được biết mặt cha vì cha ông đã mất trên chuyến đi buôn xa vài tuần trước khi ông ra đời. Mẹ con ông từ đó được ông nội ông cấp dưỡng. Mẹ ông là người có học vấn và có sáng tác một số bài thơ, vẫn còn giữ được đến ngày nay. Tiếc thay, bà qua đời một cách đột ngột lúc ông lên sáu. Ông được ông nội rước về nuôi. Ông nội ông tuổi đã cao, nên ông cũng chỉ ở được với ông hai năm, sau đó được nuôi nấng và dạy dỗ bởi người bác là Abu Talib  là người thừa kế chức quản lý đền Al Haram.

Nhà tiên tri Muhammad lớn lên có tiếng là người đẹp trai và hào hiệp. Ông rất trọng tín nghĩa lại gia nhập nhóm nghĩa hiệp ở Mecca nhiều lần bênh vực những người cô quả bị cường hào ác bá ức hiếp nên được tặng ngoại hiệu là Al-Amin (người đáng tin cậy). Ông theo nghề buôn bán và không biết đọc biết viết như số đông người Mecca thời bấy giờ. Gặp năm đói kém, kinh tế thành Mecca bị suy thoái. Bác ông, ông Abu Talib mới đề nghị ông làm việc cho một goá phụ giàu có là bà Khadija, để quản lý cho bà các chuyến buôn hàng đường xa. Sau một thời gian làm việc cho bà Khadija, ông thành hôn với bà năm ông 25 tuổi. Phần nhiều các tài liệu nói rằng lúc ấy bà Khadija tuổi đã 40, nhưng theo sách của Baladhuri thì lúc ấy bà chỉ mới 28. Tất cả tài liệu đều nói rằng sau đó hai người sống với nhau hạnh phúc đến lúc bà Khadija qua đời, khoảng 24 năm sau. Bà Khadija trong khoảng 10 năm tiếp theo, đã sinh cho ông 7 người con, 3 trai 4 gái. Bé trai đầu tên là Qasim chỉ nuôi được đến lúc vừa mới biết đi. Những người sau mới nuôi được đến lúc trưởng thành, nổi tiếng nhất là con gái út, tên là Fatima.

Nhà tiên tri Muhammad lúc tuổi gần 40, khi cuộc sống đã tạm an ổn, thường hay đến động Hira núi Ánh Sáng  ở ngoại ô Mecca tu khổ hạnh theo lối tham thiền nhập định. Nhiều khi ông ở đấy mấy ngày liền và vợ ông phải cho người mang nước uống và thức ăn đến cho ông. Lúc ông 40 tuổi, vào một đêm cuối tháng 9 âm lịch Ả Rập (tháng Ramadan), tại động Hira, ông kể rằng ông chợt thấy một vầng sáng lạ hiện ra và nói “Ta là thiên thần Gabriel, được Thiên Chúa phái đến đây để báo cho anh được biết, anh được chọn làm sứ giả của Ngài”. Thiên thần dạy ông tẩy rửa theo nghi thức, và sau đó đưa cho ông một tấm lụa dài có thêu chữ bảo ông đọc. Ông trả lời rằng: Tôi không biết đọc. Thiên thần mới ôm siết lấy ông và nói: “Hãy đọc, nhân danh Chúa của ngươi, Đấng đã tạo ngươi từ một hòn máu đặc…” Ông đọc theo sau đó.

Dongda Hira Mecca

Động đá Hira ở Mecca là nơi mà thánh Muhammad đã nhận được kinh Koran theo các học giả Islam. Thiên thần Gabriel sau lần gặp đầu tiên đã tiếp tục đến với nhà tiên tri  Muhammad nhiều lần với những điềm lành, và tiếp tục mang đến thêm những lời kinh bảo ông học thuộc. Những lời kinh Koran ấy có thứ tự trình bày ngược với thứ tự thời gian mà thiên thần Gabriel mang đến. Câu đầu của Koran, “Hãy đọc, nhân danh Chúa của ngươi…” sau trở thành câu 1 của chương 96.

Nhà tiên tri Muhammad sau đó bắt đầu truyền đạo Islam. Những giáo lý cơ bản như đã được tóm tắt ở phần trên. Người tín đồ đầu tiên là vợ ông, bà Khadija. Kế đến là người nô lệ vừa được ông trả tự do tên là Zaid. Rồi ông làm một buổi tiệc mời thân bằng quyến thuộc đến nhà, và giới thiệu về Islam. Sau buổi tiệc đó, con của ông Abu Talib, tuyên bố theo đạo. Kế đến là người bạn chí thân của ông, ông Abu Bakar, một doanh nhân giàu có, cũng tuyên bố theo đạo và lập tức trả tự do ngay cho 8 người nô lệ của ông. Ông cũng truyền đạo rất tích cực và ông Othman rể của nhà tiên tri Muhammad cũng thuận theo.

Khoảng năm 613, một hôm, theo tập quán cổ truyền khi có việc hệ trọng, nhà tiên tri Muhammad đã kêu gọi mọi người quy tụ trên đồi Safa ở Mecca. Ông bắt đầu bằng câu hỏi: Mọi người có tin không nếu tôi nói rằng phía sau ngọn đồi này đang có một đoàn quân đang hạ trại để chuẩn bị tấn công chúng ta ?. Người ta trả lời rằng: Ông chưa hề nói dối, dĩ nhiên ông nói gì ai cũng sẽ tin. Ông mới bắt đầu rằng: Thiên Chúa đã sai phái tôi đến cảnh cáo mọi người, và ai không nghe tôi hãy coi chừng cơn thịnh nộ của Ngài. và tiếp tục bài giảng. Từ đó, ông thường xuyên giảng đạo trước công chúng.

Quả như lời ông tiên tri, vì giáo điều Islam ngược lại với tín ngưỡng và lợi tức kinh tế của thành Mecca giảm sút sự dâng hương cúng tế nên một số người của dòng Qureysh bắt đầu có phản ứng mạnh để ngăn chống sự phát triển của Islam. Họ thương lượng và tìm nhiều biện pháp để ông chấm dứt truyền đạo. Họ châm biếm, chế nhạo, chửi rủa và ném đá khi ông gảng đạo. Họ chặn các bộ lạc từ xa đến hành hương và dặn đừng đến nghe ông. Đối với những người từ xa đến Mecca làm việc, thường là nô lệ thì họ dùng những cực hình dã man để bức bách bỏ đạo.

Năm 615, do sự bách hại đó, nên khoảng 101 tín đồ Islam, trong đó có 18 phụ nữ, dẫn đầu bởi ông Othman là rể của nhà tiên tri Muhammad đã buộc phải trốn khỏi Mecca và đi  tị nạn ở Abyssinia. Ông Othman vào yết kiến vị hoàng đế xứ này và được chấp thuận tị nạn. Phe bảo thủ Mecca cho người đến Abyssinia đòi, nhưng bị khước từ.

Năm 619, ông Abu Talib, người đã nuôi nấng nhà tiên tri Muhammad từ lúc còn thơ, và là người đã cương quyết bảo vệ ông trước phe bảo thủ qua đời  lúc ông đã hơn 80 tuổi. Vài hôm sau lại đến lượt bà Khadija từ trần. Năm ấy việc truyền đạo gặp nhiều khó khăn vì lúc bấy giờ quyền quản lý đền Al Haram được về tay ông Abu Lahab, một trong hai người chống đối nhất của ông.

Năm 620, một hôm, thánh Muhammad kể lại với tín đồ và công chúng rằng đêm qua thiên thần Gabriel đã rước ông đi Jerusalem. Tại Jerusalem ông đã cầu nguyện nơi ngôi đền mà xưa kia thánh vương Solomon đã dựng lên lần đầu tiên. Sau đó ông cưỡi con thiên mã lên các tầng trời, được gặp các thánh đời trước như tổ Adam, Chúa Giê-Su, thánh Moses và thánh Abraham rồi được vào bái kiến Thiên Chúa . Dịp này, ông đã nhận được lệnh là các tín đồ Islam phải cầu nguyện 5 lần mỗi ngày.

Tín đồ lắm người hoang mang ngờ vực, không biết còn nên tiếp tục tin ở ông hay không. Nhưng những điều lạ mà ông tiên tri cho đoàn khách thương được xác nhận khi về đến Mecca đã làm cho sự cầu nguyện mỗi ngày 5 lần trở thành giáo điều căn bản của Islam. Ngày nay, tại các xứ Islam, mỗi năm ngày 27 tháng 7 âm lịch Ả Rập là ngày nghỉ lễ để kỷ niệm chuyến đi lên thượng giới của ông, gọi là chuyến đi Miraj. Tại các đền chùa, người ta cầu nguyện suốt đêm.

Khoảng năm 620 có vài người Yathrib theo đạo, trở về truyền giảng được thành công lớn. Năm 621, tại đồi Aqaba ở Mecca, thánh Muhammad lần lượt gặp hai phái đoàn người Yathrib. Thành phố Yathrib nằm cách Mecca khoảng 450 km về phía bắc. Tại đây, hai nhóm người này đã thề trung thành với đạo và với ông. Họ cũng sẵn sàng đón tiếp những người bị bức hại ở Mecca và mời ông sang thành phố nơi họ cư trú. Sau hai cuộc hội thề này, nhiều tín đồ Islam ở Mecca dần dần trốn sang Yathrib. Thấy vậy, phe bảo thủ của tộc Qureysh lại nhóm họp và tìm ra một ý kiến mới: mỗi chi của tộc Qureysh sẽ cử ra một thanh niên, đứng canh trước cửa của nhà  Muhammad, chờ ông bước ra thì đồng loạt xông đến hạ sát ông, và như vậy những ai muốn báo thù cho ông sẽ không thể nào hướng sự trả thù đến tất cả các chi trong bộ tộc. Nhà tiên tri Muhammad đã thoát được cạm bẫy này. Ông cùng ông Abu Bakar trốn ra khỏi Mecca, và sau mấy tháng vừa đi vừa ẩn trú, họ đến được Yathrib.

Nhà tiên tri Muhammad tại  Yathrib đã được các tín đồ cũ mới đón tiếp nồng nhiệt và  trở thành lãnh tụ của đa số dân thành phố này, nơi mà thời gian sau được đổi tên là “Thành Phố của vị Sứ Giả”gọi tắt là Medina. Việc đầu tiên ông làm ở đây là khởi công xây một thánh đường đơn sơ và giảng đạo trước công chúng vào buổi trưa thứ sáu hàng tuần. Ông cũng quy định khi cầu nguyện, hãy hướng mặt về Ngôi Đền Thiêng ở Mecca. Những người rời bỏ Mecca ít nhất  186 gia đình và khoảng 1500 tín đồ được người tiếp trợ cho tá túc và giúp kế sinh nhai. Medina lúc bấy giờ có hai bộ lạc Ả Rập và một thiểu số Do Thái với ba bộ lạc chính. Các bộ lạc này vừa trải qua mấy năm chiến tranh với nhau. Nhà tiên tri Muhammad họp các bộ lạc ấy lại, soạn một bản hiến pháp, và định quy chế thành bang cho Medina. Bản hiến pháp này gồm có 47 điều khoản, và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng châu Âu.

Nhà tiên tri Muhammad di cư từ Mecca đến Medina cùng với Abu Bakr năm 622. Năm này về sau (vào năm 638) được Umar lấy làm năm khởi đầu kỷ nguyên của cộng đồng Islam, gọi là kỷ nguyên Hijri (viết tắt là AH, Hijri nghĩa là Cuộc Di Cư), hay chính là năm đầu tiên của lịch Hồi giáo. Sau đó một thời gian, luật nhịn chay tháng Ramadan được ban ra, và được coi là một sự giảm nhẹ so với luật ban xuống thời trước (Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo nguyên thủy phải nhịn 40 ngày, thay vì 30 ngày). Luật Zakat (đóng góp an sinh xã hội, lấy từ 2,5% lợi tức đã trừ những chi tiêu căn bản), phân biệt với sự khuyến khích bố thí đã có từ trước, cũng được ban ra khoảng thời gian này.

Phe bảo thủ Mecca bằng mọi cách và thủ đoạn thuyết phục người Medina tuyệt giao với nhà tiên tri Muhammad và các tín đồ đến từ Mecca. Họ cũng liên lạc, bí mật hoặc công khai với các bộ lạc ở Medina và các vùng lân cận, để cấm vận kinh tế hay để có nội ứng cho cuộc tấn công về sau. Tín đồ Islam từ Mecca vẫn tiếp tục rải rác trốn đi Medina. Phe bảo thủ cũng cho người trà trộn trong những người này để hành thích ông, nhưng khi thích khách đến gần thì nhà tiên tri Muhammad  đã nói cho biết là thích khách và người chủ mưu ám sát ông đã nói riêng những lời gì với nhau, khiến thích khách hoảng sợ, thú nhận âm mưu và sau đó đã theo ông nhập đạo.

Năm 624 trận Badr là cuộc chiến đầu tiên giữa cộng đồng Islam ở Medina và phe bảo thủ Mecca xảy ra . Địa điểm ở cách Medina khoảng 100 km về phía nam. Quân Mecca đông hơn 900, quân Islam chỉ được 313 người, nhưng thắng trận. Phe Mecca tử trận khoảng 70 người, trong đó có ông Abu Jahil, một trong hai người chống đối quan trọng nhất. Ông Abu Lahab không đi đánh, nhưng hay tin bại trận thì tức tối thành bệnh mà chết một tuần sau. Đa số tù binh được đối xử tử tế, và được trả tự do đổi lấy tiền chuộc. Ai biết chữ thì phải dạy đọc dạy viết cho hai đứa trẻ ở Medina. Ai nghèo quá thì cũng được trả tự do mà không có điều kiện gì .

Năm 626,Trận núi Uhud xẫy ra khi phe bảo thủ Mecca phái đến 3000 quân thì nhà tiên tri Muhammad cũng có đến 1000 quân để ứng chiến. Trận này quân Mecca thắng, nhưng quân Medina giữ được các vị trí quan trọng, nên người Mecca phải rút về.

Năm 627, Trận Chiến Hào phe bảo thủ Mecca chuẩn bị trở lại với một đoàn quân đông hơn nữa. đoàn quân này khoảng một vạn đến hai vạn tư người tùy tài liệu do có  với một số lớn quân thuê từ các bộ lạc khác. Quân Islam có khoảng ba nghìn người. Nhà tiên tri Muhammad đã cho đào chiến hào để ngăn địch và ông cũng tham gia đào hào như mọi người.  Quân Mecca trong trân chiến hào bị thiệt hại nặng và buộc phải rút lui.

Năm 628, một thủ lĩnh lớn của miền đông theo Islam và cấm bán thực phẩm đi Mecca. Kinh tế của Mecca cũng gần kiệt quệ vì phí tổn tổ chức trận Chiến Hào, nên Mecca bị nạn đói đe dọa. Thánh Muhammad bèn ra lệnh xuất công quỹ giúp đỡ một số người nghèo túng ở Mecca, bán thực phẩm cho Mecca, và để cho người của phe bảo thủ Mecca tự do đi ngang qua vùng kiểm soát của Medina để buôn bán với Syria và Palestine. Sau một số cử chỉ tỏ thiện ý muốn hòa bình với Mecca, thánh Muhammad và 1.400 người hành hương về Mecca và không mang theo vũ khí. Hai bên ký hòa ước. Năm sau, cuộc hành hương của ông và những người đồng hành đến Mecca diễn ra tốt đẹp. Hai bên đều theo đúng điều đã giao kết tại Hudaybiya.

Nhà tiên tri Muhammad khi ở phương xa đến cầm quyền ở thành Yathrib và mang lại nhiều thay đổi năm 621, thì một số kẻ chống đối do bị mất quyền lợi và địa vị đã ngầm liên lạc với phe bảo thủ Mecca để làm nội ứng và tích cực khuyến khích một số bộ lạc xa gần chống lại chính quyền Islam. Trận Mouta chống quân Đông La Mã của Hoàng đế Đông La Mã là Heraclius tập trung lực lượng khá đông gần cửa ải vào bán đảo, nhà tiên tri Muhammad phái một đội quân 3.000 người đi ngăn địch. Quân hai bên giao chiến tại Mouta. Theo At-Tabari, quân Medina bại trận, nhưng cũng cầm cự được 3 ngày. Đông La Mã thấy muốn thắng Ả Rập cũng phải tổn thất nhiều, và họ còn cần giữ lực lượng để phòng Ba Tư phản công, nên không tiến quân vào bán đảo.

Năm 630 có bộ lạc Banu Bakr đồng minh của Mecca đánh nhau với bộ lạc Khuza’ah đồng minh của Medina. Phe bảo thủ Mecca giúp bộ lạc Banu Bakr. Thánh Muhammad coi là họ đã xé bỏ hòa ước Hudaibiya qua hành động đó, nên chuẩn bị hưng binh, nhưng giữ bí mật không nói là sắp đi đâu. Thủ lĩnh phe bảo thủ Mecca là ông Abu Sufyan lo ngại, đích thân đến Medina điều đình, nhưng bị giữ lại không cho về. Nhà tiên tri Muhammad đem 10.000 quân đến Mecca. Phe bảo thủ Mecca hoang mang vì năm trước hai tướng giỏi nhất của họ là Khalid bin Walid và Amr bin Al Ass đã bỏ đi Medina theo Islam. Nay lại không có thủ lĩnh Abu Sufyan quyết định, nên đa số ngồi im không kháng cự. Nhà tiên tri Muhammad đã dẹp yên lưc lượng chống đối ở Mecca và đưa Attab bin Asid, một nhân vật quan trọng của phe bảo thủ, nay theo Islam, được ông đặt làm thống đốc Mecca, và quy định lương bổng theo cơ chế chính quyền Medina. Khi vào xem kho tàng của đền Ka’aba từ nhiều năm được khách thập phương dâng cúng, người ta kiểm kê được hơn 55.000 lạng vàng. Nhà tiên tri Muhammad không chạm đến tiền này. Sau khi ở lại Mecca vài tuần sắp xếp các công việc, ông trở về Medina.

Năm thứ 9 của kỷ nguyên Hijri (tương đương với năm 631) được các sử gia Islam gọi là Năm của Các Phái Đoàn. Năm ấy có rất nhiều phái đoàn đến từ khắp nơi trên bán đảo Ả Rập tuyên bố bộ lạc họ theo Islam và xin nội thuộc vào lãnh thổ Medina. Nhà tiên tri Muhammad dành nhiều thời gian để tổ chức hệ thống hành chính, thuế khóa cho các vùng mới gia nhập. Ông nghiêm cấm gia đình và người trong họ lấy tiền công quỹ chi tiêu riêng. Năm thứ 10 Hijri rất nhiều trường học được lập ra trong khắp lãnh thổ, và đặc biệt là ở Yemen phía nam bán đảo.

Năm 631, Ba Tư ngày càng suy yếu, trong 3 năm ngôi hoàng đế qua tay ít nhất 5 người. Đông La Mã nhận thấy có thể yên tâm làm một cuộc viễn chinh vào Ả Rập. Được quân tế tác cho biết Đông La Mã chuẩn bị binh sĩ, nhà tiên tri Muhammad bèn kêu gọi thánh chiến. Ông quy tụ được một đạo quân đông 30.000 người cho chiến dịch Tabuk. Nhà tiên tri Muhammad và quân sĩ ra đến ải Tabuk, cách Medina khoảng 800 km về phía bắc. Đông La Mã thấy quân đối phương hùng hậu và kỷ luật, ngại nhiều tổn thất, nên không dám tấn công. Thánh Muhammad ở lại Tabuk ít lâu nhận định tình thế, rồi rút quân về.

Năm 632 nhà tiên tri Muhammad về Mecca hành hương lần cuối và có bài giảng ở Arafat. Ngày 9 tháng 12 âm lịch Ả Rập, theo nghi thức hành hương, các tín đồ quy tụ ở đất Arafat, ngoại ô Mecca, để cầu nguyện. Tùy tài liệu, Số tín đồ có mặt nghe giảng đông đả khoảng chín vạn đến mười bốn vạn người . Thánh Muhammad đứng trên một đỉnh núi con là núi Từ Bi (‘Ar-Rahman’). Mỗi khoảng cách xa xa có một người khỏe giọng lặp truyền lại từng câu ông nói để mọi người đều nghe rõ.

Ông nhắc lại những tín điều quan trọng, dặn dò mọi người hãy cố gắng theo lời truyền dạy của kinh Koran, và tuyên bố là sứ mạng truyền đạo Islam của ông nay đã hoàn tất.

Mặc dù là lãnh tụ của một quốc gia rộng lớn, nhưng thánh Muhammad vẫn sống giản dị, ở nhà cửa sơ sài. Ông không đòi hỏi sự phục dịch, tự tay xách nước giếng khi cần tắm rửa. Ông thường nhịn chay, và tránh trong một bữa ăn hai thứ thịt. Trong thời gian bà Khadija còn sống, ông chỉ một vợ một chồng. Sau khi bà Khadija qua đời khoảng một năm thì ông tục huyền với một góa phụ, và sau đó thành hôn với mấy người nữa, đều là góa phụ hay đã ly dị chồng, ngoại trừ cô Aisha con ông Abu Bakar, trong những tình huống đặc biệt.

Đầu năm 11 Hijri, sức khỏe ông kém hẵn. Vài lần thấy mình không đủ sức dẫn lễ cầu nguyện ngày 5 lần ở thánh đường, nên ông nhờ ông Abu Bakar dẫn lễ thay. Ông kiểm lại tài sản, có chút ít đất đai thì ông để lấy huê lợi cho gia đình, còn 7 đồng dinar thì bố thí cho người nghèo. Ông cũng còn thanh gươm trị giá mấy đồng tiền vàng gởi cho người rể út là Ali, và một chiếc áo giáp nằm ở một hiệu cầm đồ người Do Thái ở Medina.

Ông qua đời ngày 12 tháng 3 âm lịch Ả Rập, cũng là sinh nhật của ông. Đã có nhiều người có khuynh hướng thờ phụng ông như một vị thần linh khi ông còn sống, nên ông mới tuyên bố: Hỡi dân chúng ! Nếu ai tôn thờ Muhammad thì hãy biết rằng Muhammad đã chết. Còn ai tôn thờ Allah thì Allah vẫn hằng sống và không bao giờ chết !

Thi hài ông được an táng trong khuôn viên thánh đường gần nhà, nay gọi là thánh đường Al-Nabawy (Thánh Đường Thiên Sứ). Sau thánh đường mở rộng, phần mộ ông nay nằm trong toà đại điện.

ĐỐI THOẠI TRIẾT HỌC

Năm 620, nhà tiên tri Muhammad một hôm đã kể lại rằng đêm qua thiên thần Gabriel đã rước ông đi Jerusalem. Tại Jerusalem ông đã cầu nguyện nơi ngôi đền mà xưa kia thánh vương Solomon đã dựng lên lần đầu tiên. Kế đó, ông duy nhất chỉ nói đến Kinh Koran và Năm trụ cột căn bản của đạo Hồi: 1) Tuyên đọc câu Kalimah Sahadah: Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha du an na Muhammader rosu Lullah, có nghĩa Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài; 2) Cầu nguyện ngày năm lần: Buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối. 3) Bố thí. 4) Nhịn chay tháng Ramadan. 5) Hành hương về Mecca.

Vua Solomon và sách khôn ngoan là tinh hoa trí tuệ Do Thái. Vua Solomon (khoảng năm 965-928 trước công nguyên) là vị quân vương xuất sắc của Vương quốc Israel thống nhất, ông là chính trị gia, nhà cầm binh lỗi lạc, đồng thời cũng là con người khôn ngoan và nhà hiền triết. Ông có một số lượng tài sản khổng lồ và được coi là người giàu nhất lịch sử nhân loại. Thời gian ông trị vì là thời gian cực thịnh của vương quốc Israel. Ông áp dụng chính sách đối ngoại kết thân với các nước láng giềng nhằm phát triển về kinh tế và thương nghiệp, về đối nội thì củng cố chế độ phong kiến tập quyền, tăng cường tổ chức và phát triển quân đội, cải cách hành chính. Ông đã cho xây nhiều đền đài và lăng tẩm là những công trình kiến trúc tuyệt mỹ, di sản nghệ thuật quý báu để lại cho đời sau.

Tôi thích thái độ triết học ngày nay của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama: trân trọng và lắng nghe. Nghiên cứu Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad là chúng ta đang đối thoại với một di sản văn hóa lớn của vùng Mecca, Trung Đôn,g Trung Á và Châu Phi, một tâm điểm của nền chính trị, văn hóa và tâm linh thế giới.

LoivangAlbertEinstein

Anh Bu Lu Khin là người suy ngẫm và kiến giải rất sâu về đạo Bụt Việt Nam có nêu ra câu hỏi: ” Tại sao Đạo hồi dễ đi vào cực đoan, và khi đã cực đoan thì tàn hại cõi nhân sinh này thật khủng khiếp ???” Tôi Hoàng Kim đã mời anh ghé đọc chuyên mục ĐỐI THOẠI TRIẾT HỌC tiếp nối chuyên mục HỒI GIÁO và NHÀ TIÊN TRI MUHAMMAD cung cấp ba thông tin sự thật để góp phần lý giải ẩn ngữ trên. Trong mười tôn giáo lớn của thế giới, một số học giả đánh giá rằng tuyệt đại đa số các triết thuyết tôn giáo đều ít nhiều còn duyên nợ vấn vít giữa hữu và vô, giữa trí tuệ minh triết và vô minh, giữa vô thần và đức tin cố chấp theo một niềm tin nào đó, mà không cho phép dị biệt. Chỉ có ĐẠO PHẬT LÀ TỰ DO, triết lý vô ngã quay về tự thân, mà không tìm ở nơi khác. Đối với Hồi giáo và nhà tiên tri Muhammad, quá khứ và hiện tại đều có những uẩn khúc lịch sử (như trình bày trong bài trên) và môi trường thực tế có thể gieo mầm cực đoan đến mức tàn hại cõi nhân sinh này thật khủng khiếp (như đã thấy và nhiều người nghĩ). Lời vàng của Albert Einstein thật thấm thía: Không thể gìn giữ hòa bình bằng bạo lực. Nó chỉ có thể đạt được bằng sự thông hiểu lẫn nhau. (Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding.) https://hoangkimlong.wordpress.com/…/loi-vang-albert…/

Anh Bu Lu Khin viết tiếp: “Bu tui đã đọc đối thoại triết học nhưng mênh mông quá nên chỉ muốn nghe quan điểm của chính Hoàng Kim thôi hihi”. Tôi trả lời: Anh Bu Lu Khin thiên kinh vạn quyển thì em vái anh rồi. Nghiên cứu sâu đạo Bụt thì em vái anh thêm mấy vái nữa, nhưng đối thoại triết học thì mệnh mông quá. Phân biện đúng sai thì tính anh rành mạch đúng ra đúng sai ra sai chứ không hồ đồ. Huhu… Anh kể tiếp chuyện Phỏng vấn Đường Tăng và kinh Vệ Đà cho vui anh Bu.  Thầy Suong Ngoke khen: Hoàng Kim giỏi quá. Tiếp tục phát huy nhé. Tiếp lời Thầy và anh Bu, em xin có thêm bài viết

Binh Minh Yen Tu

TRÚC LÂM TRẦN NHÂN TÔNG
Hoàng Kim

Kinh Dịch xem chơi,
365 ngày
mê mãi.
Sách Nhàn đọc giấu,
câu có câu không.
Trước đèn bảy trăm năm,
Yên Tử
Trúc Lâm
thăm thẳm một góc nhìn.

1
“Câu hữu câu vô,
Quay bên phải, ngoái bên trái.
Thuyết lý ầm ĩ,
Ồn ào tranh cãi.
Câu hữu câu vô,
Khiến người rầu rĩ.
Cắt đứt mọi duyên quấn quýt như dây leo,
Thì hữu và vô đều hoàn toàn thông suốt”.
2.
Kinh Dịch xem chơi
Yêu TÍNH SÁNG yêu hơn châu báu>
Sách Nhàn đọc giấu
Trọng LÒNG NGƯỜI trọng nữa hoàng kim”
3.
“Ở đời vui đạo thả tùy duyên
Đói cứ ăn đi , mệt ngủ liền
Khoba1u trong nhà thôi tìm kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền”

(Trúc Lâm Trần Nhân Tông)

Hứng mật đời
thành thơ
Việc nghìn năm hữu lý
Trạng Trình

Đến trúc lâm
Đạt năm việc lớn hoàng thành
Đất trời xanh
Yên Tử …

Video nhạc tuyển

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook, Kim on Twitter