Tháp vàng hoa trắng nắng Mekong

thapvanghoatrangnangmekong

Tháp Vàng (That Luang), Hoa Trắng (Champa), nắng Mekong (golden light in Mekong River) là những ấn tượng khó quên về đất nước Lào. Tháp vàng là biểu tượng quốc gia. Hoa trắng là sắc hoa sứ thanh khiết mà người Lào rất mến chuộng. Nắng vàng rực rỡ trên sông Mekong tạo nên vẻ đẹp kỳ ảo của Viên Chăn. Uống bia Lào, ăn mực và nhâm nhi cà phê Việt, ngắm nắng chiều dát vàng trên sông xanh mà bờ sông bên kia là Thái Lan, để lắng nghe nhịp sống chậm rãi và yên bình.Tôi vui được tham dự Hội nghị Nghiên cứu Sắn Quốc tế lần thứ Tám (8th Asian Cassava Research Workshop) tổ chức tại Viên Chăn, đã cảm khái viết bài thơ “Tháp vàng hoa trắng nắng Mekong” và lưu lại một số hình ảnh đẹp về đất nước Lào.

THÁP VÀNG, HOA TRẮNG, NẮNG MEKONG

Hoàng Kim

Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong
Ấn tượng Viên Chăn thật lạ lùng
Nơi đâu hối hả, đây trầm lắng
Một vùng đất Phật ở ven sông.

Nhớ thuở Nguyễn công gây nghiệp lớn
Ai Lao thường mở lối đi về
Trung Hưng thành tựu nhờ chung sức
Núi thẳm, lòng dân đã chở che.

Dân Việt ngàn năm xuôi lấn biển
Tựa lưng vào núi hướng về Nam
Thoáng chốc nghìn năm nhìn trở lại
Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong.

DatnuocLao1

DatnuocLao2

DatnuocLao4

DatnuocLao5

DatnuocLao6


สวรรค์เมืองลาว

ĐÔNG DƯƠNG TÌM TÒI VÀ SUY NGẪM

Hoàng Kim

QuockhanhLao40nam

DẠY VÀ HỌC. Blog Hiệu Minh vừa có bài viết mới “Nước Lào không còn …chậm” nói về không gian văn hóa, kinh tế của khu vực Đông Dương đang thay đổi trong xu hướng toàn cầu hóa. Tôi nhớ bài viết của chính mình”Tháp vàng, hoa trắng nắng Mekong” và sự thấm thía lịch sử “Dân Việt nghìn năm xuôi lấn biển. Tựa lưng vào núi hướng về Nam, thoáng chốc ngàn năm nhìn trở lại. Tháp vàng, hoa trắng, nắng Mekong“.

Đi xa để lại nghĩ về gần.Tôi đọc lại lời bình của nhà văn hóa Nguyên Ngọc “Sáng sớm ở Luang Prabang của nước Lào, khoảng từ 5h, không gì hay bằng ra đường và ngắm các nhà sư đi khất thực…Lạ thay là một dân tộc, là những con người, suốt đời, suốt ngày nào cũng vậy, mỗi buổi sáng lại dậy thật sớm, dọn mình thật thanh khiết rồi ra ngồi lặng lẽ và cung kính bên đường để chờ làm công việc hẳn là tự nguyện nhất trong những công việc ở đời. Mở đầu một ngày sống như vậy thì thật khó làm điều ác trong ngày. Và một chút nhận xét nữa: ở đây người ta sống chậm. Không quan tâm, không ham hố tốc độ. Hình như giữa sự thâm trầm của tu, chùa, sư và sự thanh thản của cuộc sống hằng ngày chẳng có mấy khoảng cách“…

Chào ngày mới 2 tháng 12 viết: Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày quốc khánh Lào. Năm  1975, sau khi Pathet Lào chiếm được thủ đô Viêng Chăn, Quốc vương Savang Vatthana thoái vị, Vương quốc Lào chấm dứt tồn tại, Nội chiến Lào kết thúc.

“Nội chiến Lào là cuộc chiến tranh thường được tính bắt đầu từ cuối năm 1953 và kết thúc tháng 12/1975, theo các tài liệu truyền thống tại phương Tây, tại Việt Nam cuộc chiến được tính thời gian từ 1954 sau Hội nghị Giơnevơ tới khi Pathet Lào giải phóng Viên chăn. Tuy nhiên cuộc chiến này không liên tục, có thời gian ngưng chiến, và chỉ liên tục từ năm 1964 đến 1973 là năm Hiệp định Viêng Chăn ký kết. Ngay khi chiến tranh thực sự bùng nổ (1958) Pathet Lào đã có được sự giúp đỡ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Càng về sau, sự giúp đỡ này ngày càng tăng. Chính vì thế từ năm 1962 đây là cuộc chiến giữa lực lượng Pathet Lào được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hỗ trợ[7] và chính phủ hoàng gia Lào được Mỹ bảo trợ.

Sự tham gia của các lực lượng quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòaMỹ  và Việt Nam Cộng hòa trong cuộc chiến này nhằm mục tiêu giành quyền kiểm soát dải đất hẹp trên lãnh thổ Lào mà quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dùng làm khu vực hành lang tiếp viện cho quân giải phóng miền Nam. Quân Pathet Lào đã chiến thắng năm 1975 cùng với chiến thắng của phe Cộng sản ở Đông Dương trong năm đó. Pathet Lào đã lập nên Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Nhìn lại lịch sử Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào   nhân 40 năm kỹ niệm ngày thành lập (1975-2015) , tôi đồng tình với các nhận định sau (của cụ T.H.)

1. Dù  hoàn toàn một thời lệ thuộc, thậm chí tất cả đều bị áp đặt nhưng, suốt 40 năm, tên nước không hề đổi, vẫn là Cộng Hòa Dân chủ Nhân Dân Lào.

2. Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vẫn giữ nguyên tên đảng cùng tên nước, dù chế độ, trước rập khuôn của Việt Nam, nay thì đang thực sự đổi mới từ thể chế chính trị cũng như kinh tế, đang quyết tâm bỏ hẳn chế độ kinh tế chỉ huy, kinh tế tập trung bằng kinh tế thị trường.

3. Tại các trường học, lịch sử Lào đang được trở về cả ngàn năm với những tên vua chúa, với các cuộc xâm lược của người Thái, người Miên, người Miến Điện và cả người… Đại Việt (!?), với những cái tên dù có công hay có tội với lịch sử. Từ thời Vương quốc Lan Xang, qua các đời vua Phutisath, Ăn nuvông, tới đời Vathana cuối cùng (chết trong trại cải tạo sau 75). Mọi nhân vật như Souvana Phuma, Soupha-Nuvông, Phoumi Nôsavẳn, Kaysone Phomvihane đều lại được có tên  trong lịch sử,…  Vì tuy cộng sản nhưng lại là con cháu của hoàng tộc không thể hơn chức chủ tịch ủy ban hòa hợp dân tộc.

4. Chủ tịch nước, chủ tịch đảng là một (Choumaly Sayasone)…

5. Không những Lào vẫn tiếp tục xây đập Sayabouri mà còn có kế hoạch xây dựng đường sắt tiếp nối từ Trung Quốc vĩ đại, xuyên Lào, qua Thái Lan để rồi bung ra biển lớn cho rộng tầm mắt,…

6- Cuộc kỷ niệm 40 năm quốc khánh nước bạn thủy chung không phải là ngẫu nhiên chỉ có mặt một trong tứ trụ triều đình. Và nội dung chủ yếu là đề cao hai lãnh tụ Hồ Chí Minh và Phomvihane. Đặc biệt là hình ảnh ông Vi-hẳn đâu không ai thấy, chỉ thấy có tượng Bóac Hồ chiếm lãnh một phần khá lớn như có ý nói rằng: Phom vi gì thì cũng do bác chúng tớ tạo nên, đừng có mà… diễn biến khi tưởng rằng đã vượt VN được vài ba mặt nhé!…

Tôi thích thú khi hôm nay gặp anh Nguyễn Quang Vinh em ruột của Bọ Lập,được một sự đồng cảm kỳ lạ giữa 2 bài của hai bọ và một Hoàng Kim  khác. Thân chào các bạn. Mình chép chung vào Tình Yêu Cuộc Sống. Tôi xin trích dẫn hai đoạn văn của Nguyễn Quang VinhỞ Lào khó tìm thấy kịch. Không chỉ là tôi, những người tôi quen biết sống ở Lào lâu, đều nói, khó để nhìn thấy người Lào cãi cọ, trợn mắt phùng má, cào cấu, đánh lộn….hình như là không có. Người Lào nếu giận nhau thì im lặng ra về, vì nếu cự cãi, gây lộn, họ sẽ không bao giờ còn nhìn mặt nhau cho tới hết đời. Phật cũng dạy cho họ đức sống khiêm nhường, buông xả, bao dung và nhân hậu. Người Lào thích nhậu, chủ yếu là uống bia, phụ nữ đàn ông đều uống, nhưng họ nhậu rất chậm, từ từ, không ép nhau, không zô trăm phần trăm phần triếc, không kích, không khích nhau uống, không ép, không dồn, ngồi, nói chuyện, từ từ uống, từ từ chuyện trò, từ từ say, chầm chậm như thế.” ” Tôi không dám nói tôi đã hiểu nhiều về nước bạn Lào yêu dấu, nhưng tôi chắc rằng, nếu tôi ở Lào, tôi cũng chỉ làm được những bài thơ đẹp, chỉ có thể viết ra được những trang văn đẹp và tinh khôi, khó để viết thành kịch, khó để tạo ra kịch tính trong tác phẩm, khó để xây dựng được những nhân vật gọi là “phản diện”, chỉ có thể là sống vui, sống khỏe, sống yêu thương và say đắm trong bước nhảy của Lăm-Vông…
Có một dòng chảy văn hóa Phật giáo âm thầm trong huyết thống nhiều thế hệ của người Lào, tinh khiết, trong trẻo, không pha tạp, không hỗn mang, không náo loạn, thế mà hun đúc cho dân tộc một bản sắc văn hóa vững như đá, chảy dài theo ngàn thế hệ.

conhunglopsinhviennhuthe3
Các bạn trẻ Nông Học yêu quý của tôi. Chúng ta đang có sự kết nối giữa bài viết này cùng bài VỀ VỚI TÂY NGUYÊN và  VÀO MIỀN CÁT ĐÁ  Lên Phổ Đà Sơn hướng Phật. Ninh Thuận là vùng đất địa linh nhân kiệt nắng gió cát đá tháp Chàm rừng biển vườn quốc gia, hoa trên cát, nơi hoang sơ phế tích sự sống hồi sinh.

Sự giao thoa của những nền văn hóa là cuốn sách mở, cần tìm tòi và suy ngẫm như sông trăng lồng lộng xuôi về biển rộng lúc hừng đông.


HoangKim
Xem tiếp…

Nước Lào không còn chậm
 
Hiệu Minh
 


Người Lào tưởng là “chầm chậm” và là anh em của Việt Nam thì không có nghĩa ”tình hữu hảo là trên hết” và các bạn kiểu gì cũng đi sau mình. Trong thời đại toàn cầu hóa, lợi nhuận quan trọng hơn tình bạn.
Quan hệ tình thân giữa hai quốc gia đặc biệt này đã thay đổi. Người Mường định triển khai dự án thủy điện Xayaburi bất chấp tác động với các nước ở hạ lưu sông Mekong nhất là Việt Nam và chỉ tạm ngưng khi bị phản đối mạnh mẽ từ phía Việt Nam.
Theo dự kiến, dự án xây dựng thủy điện Xayaburi được Thái Lan đầu tư 3,5 tỉ USD với cam kết Lào bán điện cho nước này 95% sản lượng điện sản xuất ra được. Với công suất thiết kế đạt 1.260 MW/năm, Lào sẽ thu được khoảng gần 1 tỉ USD từ việc xuất khẩu điện.
Với 6,3 triệu dân và tổng thu nhập quốc dân chỉ hơn 6 tỉ USD (năm 2010) thì đó là “cái gì” không thể cưỡng lại vì lợi nhuận quá khủng, khi “bán nước” theo đúng nghĩa đen.
Trong nhiều năm, VN vẫn bán điện giá rẻ cho Lào. Để đổi lại, nếu dự án trên đi vào hoạt động thì VN mua được khoảng 5%, quá ít ỏi so với những gì mà VN đã giúp các bạn Lào từ trước tới nay.
Hơn thế nữa, đập thủy điện Xayaburi làm cho phù sa không về Nam Bộ, hàng triệu hectar trồng lúa bị nhiễm mặn, cá tôm sẽ hết mà không cần đến một biến đổi khí hậu nào. Biến đổi sắc thái của tình bạn không kém nguy cơ biến đổi khí hậu. Liệu VN còn đứng mãi trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới?
Nhớ lần đi qua Vientiane, thấy người Trung Quốc xây dựng sân vận động Sea Games 25 triệu đô la, rồi ngoại thành có những làng toàn người Hoa mới nhập cư.
Câu chuyện không đơn giản là tiền 1 tỷ đô la hàng năm lợi nhuận khi ngăn sông làm thủy điện. Mà đó là cách làm bạn của các bạn cũng khác xưa.

Trong lần công tác mấy năm trước, tôi ở trong khách sạn Lao Plaza tại thủ đô Vientiane. Mỗi sáng trong thang máy được thay một chiếc thảm đề “thứ” trong tuần. Thứ Hai là thảm Monday, thảm Chủ Nhật có tên Sunday. Ước muốn thay đổi của người Lào đã len lỏi đến cả những tấm thảm.
 
Mong chúng ta đừng ngủ quên trong tình yêu. Một lúc nào đó người yêu đi với đại gia, ta nhận ra thì đã quá muộn. Tình thường đi với tiền.
Nước Lào không còn chậm. Mà người chậm lại là chúng ta. Nhớ bài viết Chầm chậm tới Lào, các bạn đọc lại và suy ngẫm.

Đi xa để lại nghĩ về gần

Nguyên Ngọc

HOCMOINGAY. Sáng sớm ở Luang Prabang của nước Lào, khoảng từ 5h, không gì hay bằng ra đường và ngắm các nhà sư đi khất thực…Lạ thay là một dân tộc, là những con người, suốt đời, suốt ngày nào cũng vậy, mỗi buổi sáng lại dậy thật sớm, dọn mình thật thanh khiết rồi ra ngồi lặng lẽ và cung kính bên đường để chờ làm công việc hẳn là tự nguyện nhất trong những công việc ở đời. Mở đầu một ngày sống như vậy thì thật khó làm điều ác trong ngày. Và một chút nhận xét nữa: ở đây người ta sống chậm. Không quan tâm, không ham hố tốc độ. Hình như giữa sự thâm trầm của tu, chùa, sư và sự thanh thản của cuộc sống hằng ngày chẳng có mấy khoảng cách.Tôi cũng đã được thấy các sư đi khất thực ở Sài Gòn. Rất khác, và cũng có thể ở đấy lại có cái hay khác: những người tu hành đi xin ăn giữa chợ đời chen chúc, xô bồ, cũng là tu nhưng là “tu giữa chợ”. Là một thứ triết lý  tu hành thâm thuý riêng chăng?…
Ở Lào khác hẳn. Từ mờ sáng, người ta ra ngồi ven đường, mỗi người một vuông đệm nhỏ hay một chiếc ghế mây thấp, đàn bà thì quỳ, đàn ông xếp bằng, giỏ xôi đặt trước mặt. Rất sớm và rất trang trọng. Người ta bảo mình phải chờ sư, không được để sư chờ mình.
Trước khi các sư đến, người ta nâng giỏ xôi lên ngang trán, lầm rầm khấn vái. Không phải bố thí mà là dâng hiến. Các sư đi thành đoàn dài, người hai bên đường cung kính dâng thức ăn. Khi các sư đã đi qua rồi, người ta vẫn ngồi yên hồi lâu, chắp tay và nhắm mắt, một khoảnh khắc vọng về cõi vô thường, mỗi sáng lại được chạm nhẹ vào đấy trước khi dấn vào cuộc lầm bụi hằng ngày. Cũng có khi nhận thức ăn xong, các sư dừng lại, hát một bài kinh ngân nga, cảm ơn và chúc phúc…
Lạ thay là một dân tộc, là những con người, suốt đời, suốt ngày nào cũng vậy, mỗi buổi sáng lại dậy thật sớm, dọn mình thật thanh khiết rồi ra ngồi lặng lẽ và cung kính bên đường để chờ làm công việc hẳn là tự nguyện nhất trong những công việc ở đời.

Mở đầu một ngày sống như vậy thì thật khó làm điều ác trong ngày. Và một chút nhận xét nữa: ở đây người ta sống chậm. Không quan tâm, không ham hố tốc độ. Hình như giữa sự thâm trầm của tu, chùa, sư và sự thanh thản của cuộc sống hằng ngày chẳng có mấy khoảng cách.

Một chị bạn cùng đi chiêm ngưỡng cảnh khất thực buổi sáng còn chỉ cho tôi một chi tiết: một bà cụ, sau khi dâng thức ăn cho sư, dành lại một ít xôi trong giỏ, bà trở về nhà, chậm rãi đi đến từng cây trong vườn, kính cẩn gắn những vón xôi nhỏ lên các chạc cây: bà “cho cây ăn”. Dâng xôi cho sư và lại dâng xôi cho cây…

Ở Luang Prabang tôi được biết một điều: cả thành phố không nhà nào cao quá hai tầng, cố đô nép mình khiêm nhường bên bờ sông Mekong đoạn này rất êm ả, và bất cứ ai muốn chặt một cây nhỏ, ngay trong vườn riêng của mình, đều phải xin phép, rất khó khăn.

Tôi bỗng nhớ đến Tây Nguyên, ngày trước trên ấy khi phải chặt một cây trong rừng, người ta cẩn trọng làm lễ xin phép rừng và tạ lỗi với cây. Có gì đó gần nhau quá giữa bà cụ Luang Prabang dâng xôi cho sư rồi lại dâng xôi cho cây, đều kính cẩn như nhau, và người Tây Nguyên của tôi thấy mình có lỗi với rừng, với cây mỗi khi buộc phải làm đau cây, đau rừng.

Giống quá, tự trong một chiều sâu rất sâu nào đó mà Luang Prabang vẫn giữ được, còn Tây Nguyên của tôi đang mất. Đến Luang Prabang, tôi đi xa để lại nghĩ về gần…

Sau mấy ngày ở phố Luang Prabang, tôi ra vùng ngoại ô, dừng lại ở bản Xiêng Đa của người Lào Lum. Vừa qua ở Xiêng Đa đã tổ chức lễ  Buot Ton May, phong sư cho các cây trong rừng. Làng kéo nhau vào rừng, mỗi người mang theo một tấm vải dài màu vàng, cắt thành những rẻo mỏng, đem buộc vào từng cây.

Cây được buộc vải vàng cũng như người được khoác áo cà sa, được đánh thức tính Phật, được phong sư. Và khi con người đánh thức tính Phật ở cây thì cũng tự đánh thức tính Phật ở mình. Cây được phong sư là vì trong cây vốn đã có chất sư. Ở Lào tất cả thanh niên lớn lên đều phải qua mấy năm ở chùa, cũng là để đánh thức tính Phật vốn sẵn trong mỗi con người.

Buot Ton May cũng lại gợi suy ngẫm đến cách nghĩ về tự nhiên và con người ở bên này. Ở đây, giữa tự nhiên, cây cỏ, với con người có gì khác nhau?

Trong tác phẩm Nhiệt đới buồn nổi tiếng, Claude Lévi-Strauss kể rằng người Bororo Nam Mỹ vẽ lên mặt những hình khác nhau để tự phân biệt, tự tách mình ra khỏi tự nhiên, chưa vẽ mặt thì con người còn hoang dã như tự nhiên, có hình vẽ trên khuôn mặt rồi con người mới trở thành văn hoá, thành xã hội, cao lên, cao hơn tự nhiên. Và xã hội thì có đẳng cấp. Mỗi đẳng cấp khác nhau vẽ mặt theo những huy hiệu đẳng cấp vậy.
Hoá ra người Lào Lum ở Xiêng Đa không cảm thấy có nhu cầu đó, họ không cảm thấy có nhu cầu đó để được cao lên cho bằng tự nhiên, thậm chí họ cố đánh thức dậy ở mình một cái chất nào đó để được cao lên cho bằng tự nhiên.
Hoặc cũng có thể hiểu cách khác: để không từ “tự nhiên” mà tụt xuống thành “văn hoá”, tức thấp hơn. Cũng chính Claude Lévi-Strauss, ở một chỗ khác, trong tác phẩm Tư duy man dã, lại viết rằng “tư duy man dã đã không phải là tư duy của người man dã, mà là một thuộc tính phổ quát của tinh thần con người, biểu hiện chẳng hạn trong thơ và nghệ thuật”.
Hình như người Xiêng Đa có biết – rất có thể tự trong bản năng thuần khiết, chứ không phải bằng ý thức – những tìm tòi và trăn trở kiểu Strauss ấy và có câu trả lời riêng của họ. Họ không sợ sự man dã.
Nói như Strauss, họ là những nhà thơ và đầy chất nghệ thuật. Họ không có nhu cầu tách mình ra khỏi tự nhiên, không sợ còn là tự nhiên thì không có, chưa có văn hoá. Bởi họ tin rằng trong tự nhiên có văn hoá. Con người đi tìm văn hoá trong hoà nhập với tự nhiên.

Người Xiêng Đa đánh thức dậy trong mình chất cây, chất rừng, chất tự nhiên mà họ coi là cao quý nhất – cái mà chúng ta coi là man dại và đã đánh mất, vứt bỏ, giày xéo trong cuộc đua chen để trở thành hiện đại.

Người Xiêng Đa, tôi được biết, cũng không đứng ngoài cuộc đua chen hiện đại, và trong cuộc đua ấy họ đã thắng theo lối của họ. Vừa qua, nhiều thế lực bên ngoài, kiêu căng hùng hổ có, dụ dỗ ranh ma có, đổ vào mua rừng Xiêng Đa, thậm chí mua đất rồi đưa người đến theo một tính toán đồng hoá lâu dài. Người Xiêng Đa trả lời giản dị, nhẹ nhàng: họ không bán Phật.

Đến nay rừng Xiêng Đa vẫn xanh ngút đại ngàn.

Đến  Xiêng Đa bây giờ có thể mua được những tấm thổ cẩm thật đẹp do các cô gái Xiêng Đa thong thả dệt trên các khung cửi của từng nhà. Các cô không dùng màu hoá học để nhuộm chỉ, thổ cẩm Xiêng Đa toàn màu tự nhiên của cây, của lá, của rừng. Mộc, bền, tinh khiết, đậm đà.

Mà, như ta đã biết, rừng, cây ở đây cũng là Phật, trong thổ cẩm dưới tay các cô gái Xiêng Đa có chất Phật… thâm thuý thay, một đất nước có tục khất thực đẹp quá buổi sáng, lại biết rằng có Phật trong cả những vật dụng hằng ngày.

Các cô gái Xiêng Đa dệt thổ cẩm có thu nhập khoảng 1 triệu kíp, tức là 2 triệu đồng VN một tháng. Vừa rồi có 20 hộ người Khơ Mú xin chuyển đến sống cũng bà con Xiêng Đa, được người Xiêng Đa nhận.

Chị Xy, chị Văn người Lào Lum Xiêng Đa dạy cho các chị người Khơ Mú nghề thổ cẩm, không chỉ dệt mà cả nhuộm bằng cây, lá rừng, tạo nên màu tự nhiên đẹp và quý. Người Khơ Mú không theo đạo Phật.
Cũng không sao, người Xiêng Đa bảo nói cho đúng Phật không phải là một tôn giáo, mà là một cách hiểu về cuộc đời, một cách sống, Phật có trong bất cứ ai…

Vậy đó, kết quả của một tư duy.

Tôi mới chỉ đến Xiêng Đa một thoáng. Đang rủ một số bạn mùa xuân này trở lại Luang Prabang, trở lại Xiêng Đa. Mùa xuân, đến, nhìn, gặp rừng và người, để nghĩ thêm về một cách tồn tại trên đời, cũng là hay, đúng không?

Nguyên Ngọc

(Tuổi Trẻ Tết 2010)

nguyenquangvinh

Ở Lào khó tìm thấy kịch.

Nguyễn Quang Vinh

Không chỉ là tôi, những người tôi quen biết sống ở Lào lâu, đều nói, khó để nhìn thấy người Lào cãi cọ, trợn mắt phùng má, cào cấu, đánh lộn….hình như là không có. Người Lào nếu giận nhau thì im lặng ra về, vì nếu cự cãi, gây lộn, họ sẽ không bao giờ còn nhìn mặt nhau cho tới hết đời. Phật cũng dạy cho họ đức sống khiêm nhường, buông xả, bao dung và nhân hậu.
Người Lào thích nhậu, chủ yếu là uống bia, phụ nữ đàn ông đều uống, nhưng họ nhậu rất chậm, từ từ, không ép nhau, không zô trăm phần trăm phần triếc, không kích, không khích nhau uống, không ép, không dồn, ngồi, nói chuyện, từ từ uống, từ từ chuyện trò, từ từ say, chầm chậm như thế.
Khách đến nhà, thường thì người chồng lo nấu nướng đãi khách, dù chồng có làm quan chức to cũng thế, khách đến nhà thì người vợ mới là chủ nhân, người chồng phục vụ, vui vẻ, thỉnh thoảng anh lao từ bếp ra, uống với khách cốc bia, dọn thêm thức nhấm ( thường là các loại đồ nướng) xong lại vội vã vào bếp.
Đất nước Lào mỗi ngày trôi nhẹ theo tiếng chuông chùa, trôi nhẹ theo bước chân của các nhà sư khất thực, trôi nhẹ như cánh hoa chăm pa, không ồn ào, không chen lấn, không chụp giật, không hà hiếp, không náo loạn.
Âm nhạc Lào vì thế chỉ có những giai điệu tươi vui, những giai điệu khiến người nghe muốn đứng lên lăm vông, muốn hát, muốn múa, giai điệu âm nhạc Lào cứ thế trong vắt như ánh nắng ban mai, dào dạt như gió,róc rách như tiếng suối, thánh thót như tiếng chuông, khó tìm thấy một khúc điệu nào buồn…
Đến như làm đến quan chức hàng đầu chính phủ mà khi gặp gỡ bạn bè tại nhà cũng chỉ là những món thết đãi như người dân thường thôi, sang thì thêm con gà nướng, xiên thịt nướng, con cá nướng và chắc chắn là không thể thiếu những típ xôi, đĩa rau sống…bát muối giã với ớt tươi và uống bia, chỉ thế mà vui, mà nhậu, mà trò chuyện, rồi nhảy múa…
Báo chí, ti vi chỉ đưa những thông tin hội Bun, thông tin hoạt động văn hóa xã hội sản xuất, bình yên, bình yên, bình yên vô cùng…
Khó để tìm kiếm thấy kịch tính ở đất nước này.
Dày đặc những ngôi chùa ở khắp mọi nơi, và hình như vậy, ánh sáng Phật giáo lan tỏa, che chở, nương níu con người, cứu rỗi phận người, xã hội Lào nhè nhẹ trôi đi, nghèo khó hay giàu có cũng cùng chung một đời sống tinh thần, đời sống tâm linh, cùng chung ánh nhìn, cùng chung giọt yêu thương, khó nhìn thấy sự cao ngạo, khó nhìn thấy sự hỗn xược, khó nhìn thấy sự nóng giận….
Kiến trúc nhà cửa người Lào là mái nhà, những mái nhà vút cong không lẫn vào đâu được, từ biệt thự hay chỉ là ngôi nhà mái tôn nghèo khó ở vùng nông thôn, từ nhà quốc hội hay trung tâm hội nghị quốc gia….Nếu nước ngoài viện trợ xây công trình nhà cửa, bảo tàng, trụ sở, nhà văn hóa cho Lào, dứt khoát mái nhà phải đúng là của Lào, do người Lào yêu cầu thiết kế, không thay đổi.
Tôi không dám nói tôi đã hiểu nhiều về nước bạn Lào yêu dấu, nhưng tôi chắc rằng, nếu tôi ở Lào, tôi cũng chỉ làm được những bài thơ đẹp, chỉ có thể viết ra được những trang văn đẹp và tinh khôi, khó để viết thành kịch, khó để tạo ra kịch tính trong tác phẩm, khó để xây dựng được những nhân vật gọi là “phản diện”, chỉ có thể là sống vui, sống khỏe, sống yêu thương và say đắm trong bước nhảy của Lăm-Vông…
Có một dòng chảy văn hóa Phật giáo âm thầm trong huyết thống nhiều thế hệ của người Lào, tinh khiết, trong trẻo, không pha tạp, không hỗn mang, không náo loạn, thế mà hun đúc cho dân tộc một bản sắc văn hóa vững như đá, chảy dài theo ngàn thế hệ.


Lăm tơi – Nhạc Lào

BÀI TRONG NGÀY
CNM365 Chào ngày mới 06 tháng 3. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1946 – Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký kết Hiệp định sơ bộ, (Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tại Paris, 1946) công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương. Lịch sử chiến tranh Việt Nam (1955-1975), là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn khốc liệt nhất của Chiến tranh Đông Dương (1945–1979). Nghiên cứu lịch sử sẽ không thể hiểu rõ nếu không hiểu thấu mối quan hệ quốc tế, những sự kiện và động thái chính của các nước toan tính đối với Việt Nam, và sự ứng phó của những nhân vật chính trong cuộc đối chiến lịch sử này. xem tiếp…
Video yêu thích

Hoa dep ChamPa
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCNM365Tình yêu cuộc sốngCây Lương thựcDạy và HọcKim on LinkedInKimYouTubeKim on Facebook

Advertisements

One thought on “Tháp vàng hoa trắng nắng Mekong

  1. Pingback: Chào ngày mới 2 tháng 12 | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s