Có một ngày như thế

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ
Hoàng Kim
thăm anh Trần Duy Quý


Có một ngày như thế
Khuya muộn ghé thăm nhau.
Đầy niềm vui ngày mới
Tỉnh thức cùng ban mai

Có một ngày như thế
Giữa cuộc đời yêu thương
Em đi tìm điều hay
Tôi bày em việc tốt

Mừng anh thương hoa lúa
Nghề giống yêu trọn đời
Cụ rùa vàng cần mẫn
Qua cầu tới thảnh thơi.

xem tiếp Có một ngày như thế https://hoangkimlong.wordpress.com/category/co-mot-ngay-nhu-the/

Mây lành Phổ Đà Sơn

HoangKim2017
MÂY LÀNH PHỔ ĐÀ SƠN
Hoàng Kim


Lên Ngũ Đài Sơn Ninh Thuận, ngắm đàn cừu nhởn nhơ trước linh sơn, về nơi cát đá, về nơi tiếp biến nông nghiệp, du lịch, văn hóa sử thi,  tôi thao thức một góc nhìn thiền quán.

CÁT ĐÁ HOA CỎ NƯỚC
Hoàng Kim

Cát đá hoa cỏ nước là câu chuyện nhân duyên Ta đi về chốn trong ngần. Để thương cát đá cũng cần có nhau. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cat-da-hoa-co-nuoc/

Chuyện kể rằng có hai người bạn cùng vượt qua sa mạc. Họ đã có ít lần bất đồng gay gắt, một người vì không kiềm chế được đã xúc phạm sâu sắc bạn mình. Người kia quá tổn thương nhưng nén buồn viết lên cát: Hôm nay, người thân yêu nhất đã xúc phạm tôi. Họ tiếp tục đi và tìm thấy nguồn nước là mạch sống. Người bạn nóng tính chạy ào đến nước không ngờ bị sụp cát lún rất nguy hiểm tính mạng nhưng may thay đã được người bạn kia cứu sống. Khi hết sợ, người này đã khắc lên đá: Nơi này hôm nay, tôi thoát chết nhờ người bạn thân nhất. Người kia hỏi: “Sao chuyện lần trước bạn ghi lên cát; còn nay bạn lại khắc vào đá?” Người bạn đáp: “Ghi lên cát để gió cuốn đi sự nóng giận, mà chỉ giữ lại sự nhẫn nhịn bao dung hoa trên cát. Khắc vào đá để không thể quên tình yêu thương”.

Phổ Đà Sơn Ninh Thuận tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận là chùa Giếng Trày cổ tự xưa tại tỉnh Ninh Thuận nay do đại đức Thích Minh Tánh trụ trì. Tương truyền Thiền sư Bảo Tạng (1818 – 1862) trên đường vân du từ Phú Yên vào Đàng Trong đã dừng chân tu hành tại chùa Trà Cang năm 1943 và vãng cảnh chùa Giếng Trày.  Thiền sư pháp hiệu là TRỪNG CHÁNH là thiền sư dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 42. Hang Tổ là nơi hàng ngày thiền sư ra vào nghỉ ở hang và khi thị tịch bà con đem linh cốt thờ ở Tháp Tổ và hang xưa thì nay gọi là Điện thờ Tổ. Các bậc trụ trì kế tục xây dựng tháp vọng Bảo Tạng tại chùa Giếng Trày và tổ chức giỗ thiền sư vào ngày 26 tháng 5 âm lịch hàng năm.

Đến Phổ Đà Sơn Ninh Thuận tôi liên tưởng về ngọn núi Phổ Đà Sơn, tên khác là Mai Sầm Sơn nằm ở  biển Nam Hải, huyện Định Hải ở tỉnh Chiết Giang Trung Quốc là nơi  đầu tiên Quán Thế Âm Bồ Tát phổ độ chúng sinh.,  Ngọn núi Phổ Đà Sơn nầy cùng với Nga Mi Sơn của Tứ Xuyên, Ngũ Đài Sơn của Sơn TâyCửu Hoa Sơn của An Huy hợp lại xưng là Tứ Đại Danh Sơn, Thánh địa Phật giáo Trung Quốc.

Sự giao thoa và tiếp biến văn hóa  thật vĩ đại.

Đứng trước những lâu đài cổ của nền văn hóa Champa, tôi cảm thụ sâu sắc hơn về sự tiếp biến văn hóa Việt – Chăm. Sự hỗn cư của hai tộc người Việt – Chăm trong lịch sử đã tạo ra bước ngoặc trong việc giao lưu và tiếp biến văn hóa.“… Lâu nay, khi nói về quá trình Nam tiến đó, thì nhiều người nghĩ đơn giản là cứ mỗi lần mở rộng phạm vi lãnh thổ quốc gia Đại Việt, người Việt tiến sâu về phương nam thì người Chăm càng co dần rút về tụ cư ở vùng đất Ninh Thuận Bình Thuận ngày nay. Thực ra không hoàn toàn là như vậy, mà cơ bản người Chăm vẫn bám trụ đất cũ, cùng cộng cư với người Việt mới tới và diễn ra quá trình người Chăm đồng hóa người Việt”. Tôi đồng tình với luận giải này. 

Dòng thiền Lâm Tế có ở Việt Nam là có từ rất sớm.  Việt Nam là chốn tâm thức thăm thẳm của đạo Bụt (Phật giáo) trãi suốt hàng nghìn năm. Lịch sử Phật giáo Việt Nam theo sách  Thiền Uyển tập anh xác nhận là đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Độ theo đường biển vào Việt Nam, gồm Giao Chỉ ở phía bắc và Chăm pa ở phía nam, khoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước Công nguyên, chứ không phải từ Trung Hoa như một số quan niệm trước đây. Phật giáo đồng hành chung thủy, lâu bền với dân tộc Việt, dẫu trãi nhiều biến cố nhưng được dẫn dắt bởi những nhà dẫn đạo sáng suốt và các đấng minh vương, lương tướng chuộng nhân ái của các thời nên biết thể hiện sự tốt đạo, đẹp đời.

Việt Nam là nước biết tiếp thu, chắt lọc tri thức tinh hoa của nhân loại, biệt chuộng sự học, đồng thời biết quay về với tự thân tổng kết thực tiễn, chứ không tìm ở đâu khác.

Về nơi cát đá là trở về với chính mình, tìm mầm sống, đường xuân trong sự yêu thương.

Hoàng Kim

Video yêu thích

BinhMinhYenTu

Secret Garden – Bí mật vườn thiêng  
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài) 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Mây lành Phổ Đà Sơn

MÂY LÀNH PHỔ ĐÀ SƠN
Hoàng Kim
nhớ lời Phật dạy

“Bụng lớn năng dung, dung các chuyện khó dung thiên hạ
Miệng cười hỷ xả, xả những điều khó xả thế gian.
Một chút giận, hai chút hờn, lận đận cả đời rồi cũng khổ
Một điều vui, hai điều xả, thung dung tự tại thế mà vui”

A Na bà chúa Ngọc
Mây lành Phổ Đà Sơn
Cát đá đất miền Trung
Về với vùng văn hóa

https://hoangkimlong.wordpress.com/category/may-lanh-pho-da-son/

MÂY LÀNH PHỔ ĐÀ SƠN
Hoàng Kim

Về nơi cát đá em ơi
Mình cùng Tỉnh thức những lời nhân gian

Quê em thăm thẳm Tháp Chàm
Biển xanh cát đá và rừng hoang sơ
Hoa trên cát, núi Phổ Đà
Tháp Bà Chúa Ngọc dẫu xa mà gần.

Ta đi về chốn trong ngần
Để thương cát đá cũng cần có nhau
Dấu xưa mưa gió dãi dầu
Đồng Xuân nắng ấm nhuốm màu thời gian.

Đỉnh mây gặp buổi thanh nhàn
Dịch cân kinh luyện giữa vùng non xanh
Cát vàng, biển biếc, nắng thanh
Bình Minh An Đức Hoàng Thành Trúc Lâm.

PhoDaSon

Lên Ngũ Đài Sơn Ninh Thuận, ngắm đàn cừu nhởn nhơ trước linh sơn, về nơi cát đá, về nơi tiếp biến nông nghiệp, du lịch, văn hóa sử thi,  tôi thao thức một góc nhìn thiền quán.

CÁT ĐÁ HOA CỎ NƯỚC
Hoàng Kim

Cát đá hoa cỏ nước là câu chuyện nhân duyên Ta đi về chốn trong ngần. Để thương cát đá cũng cần có nhau. https://hoangkimlong.wordpress.com/category/cat-da-hoa-co-nuoc/ 

Chuyện kể rằng có hai người bạn cùng vượt qua sa mạc. Họ đã có ít lần bất đồng gay gắt, một người vì không kiềm chế được đã xúc phạm sâu sắc bạn mình. Người kia quá tổn thương nhưng nén buồn viết lên cát: Hôm nay, người thân yêu nhất đã xúc phạm tôi. Họ tiếp tục đi và tìm thấy nguồn nước là mạch sống. Người bạn nóng tính chạy ào đến nước không ngờ bị sụp cát lún rất nguy hiểm tính mạng nhưng may thay đã được người bạn kia cứu sống. Khi hết sợ, người này đã khắc lên đá: Nơi này hôm nay, tôi thoát chết nhờ người bạn thân nhất. Người kia hỏi: “Sao chuyện lần trước bạn ghi lên cát; còn nay bạn lại khắc vào đá?” Người bạn đáp: “Ghi lên cát để gió cuốn đi sự nóng giận, mà chỉ giữ lại sự nhẫn nhịn bao dung hoa trên cát. Khắc vào đá để không thể quên tình yêu thương”.

Phổ Đà Sơn Ninh Thuận tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận là chùa Giếng Trày cổ tự xưa tại tỉnh Ninh Thuận nay do đại đức Thích Minh Tánh trụ trì. Tương truyền Thiền sư Bảo Tạng (1818 – 1862) trên đường vân du từ Phú Yên vào Đàng Trong đã dừng chân tu hành tại chùa Trà Cang năm 1943 và vãng cảnh chùa Giếng Trày.  Thiền sư pháp hiệu là TRỪNG CHÁNH là thiền sư dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 42. Hang Tổ là nơi hàng ngày thiền sư ra vào nghỉ ở hang và khi thị tịch bà con đem linh cốt thờ ở Tháp Tổ và hang xưa thì nay gọi là Điện thờ Tổ. Các bậc trụ trì kế tục xây dựng tháp vọng Bảo Tạng tại chùa Giếng Trày và tổ chức giỗ thiền sư vào ngày 26 tháng 5 âm lịch hàng năm.

Đến Phổ Đà Sơn Ninh Thuận tôi liên tưởng về ngọn núi Phổ Đà Sơn, tên khác là Mai Sầm Sơn nằm ở  biển Nam Hải, huyện Định Hải ở tỉnh Chiết Giang Trung Quốc là nơi  đầu tiên Quán Thế Âm Bồ Tát phổ độ chúng sinh.,  Ngọn núi Phổ Đà Sơn nầy cùng với Nga Mi Sơn của Tứ Xuyên, Ngũ Đài Sơn của Sơn TâyCửu Hoa Sơn của An Huy hợp lại xưng là Tứ Đại Danh Sơn, Thánh địa Phật giáo Trung Quốc.

Sự giao thoa và tiếp biến văn hóa  thật vĩ đại.

Đứng trước những lâu đài cổ của nền văn hóa Champa, tôi cảm thụ sâu sắc hơn về sự tiếp biến văn hóa Việt – Chăm. Sự hỗn cư của hai tộc người Việt – Chăm trong lịch sử đã tạo ra bước ngoặc trong việc giao lưu và tiếp biến văn hóa.“… Lâu nay, khi nói về quá trình Nam tiến đó, thì nhiều người nghĩ đơn giản là cứ mỗi lần mở rộng phạm vi lãnh thổ quốc gia Đại Việt, người Việt tiến sâu về phương nam thì người Chăm càng co dần rút về tụ cư ở vùng đất Ninh Thuận Bình Thuận ngày nay. Thực ra không hoàn toàn là như vậy, mà cơ bản người Chăm vẫn bám trụ đất cũ, cùng cộng cư với người Việt mới tới và diễn ra quá trình người Chăm đồng hóa người Việt”. Tôi đồng tình với luận giải này.

Dòng thiền Lâm Tế có ở Việt Nam là có từ rất sớm.  Việt Nam là chốn tâm thức thăm thẳm của đạo Bụt (Phật giáo) trãi suốt hàng nghìn năm. Lịch sử Phật giáo Việt Nam theo sách  Thiền Uyển tập anh xác nhận là đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Độ theo đường biển vào Việt Nam, gồm Giao Chỉ ở phía bắc và Chăm pa ở phía nam, khoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước Công nguyên, chứ không phải từ Trung Hoa như một số quan niệm trước đây. Phật giáo đồng hành chung thủy, lâu bền với dân tộc Việt, dẫu trãi nhiều biến cố nhưng được dẫn dắt bởi những nhà dẫn đạo sáng suốt và các đấng minh vương, lương tướng chuộng nhân ái của các thời nên biết thể hiện sự tốt đạo, đẹp đời.

Việt Nam là nước biết tiếp thu, chắt lọc tri thức tinh hoa của nhân loại, biệt chuộng sự học, đồng thời biết quay về với tự thân tổng kết thực tiễn, chứ không tìm ở đâu khác.

Về nơi cát đá là trở về với chính mình, tìm mầm sống, đường xuân trong sự yêu thương.

Hoàng Kim

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích

BinhMinhYenTu

Secret Garden – Bí mật vườn thiêng  
Những bài hát hay nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (25 bài) 
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Thầy em là nắng tháng Ba

THẦY EM LÀ NẮNG THÁNG BA
Hoàng Kim

Thầy em là nắng tháng ba
Trời xanh biển rộng đậm đà sắc xuân

Nơi hoa vàng trên cỏ xanh
Biển xanh màu ngọc nắng lam da trời

Thầy Quyền nghề nông chúng tôi
Con ong làm mật một đời tận tâm

Thầy vừa có những phút thảnh thơi ngắm biển sau khi đánh giá phản biện đề tài sắn Phú Yên mà thầy đã giúp tỉnh Phú Yên tư vấn tuyển chọn đơn vị cá nhân chuyển giao tin cậy hiệu quả.

Hoàng Kim có bài thơ Ơn Thầy  trong bài Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời lưu tại kỷ yếu Khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh. Thầy Mai Văn Quyền, Norman Bourlaug, Tôn Thất Trình … là những người thầy tôn kính trong lòng chúng tôi.
ƠN THẦY.
Hoàng Kim,
kính tặng thầy Mai Văn Quyền và những người Thầy quý mến.
Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng.

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự việc con làm.
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ,
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con.

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng Thầy thay bóng Cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

Câu chuyện tuổi thơ gian khó nghị lực vươn tới của thầy, với tôi có một sự đồng cảm lớn.

Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời. Gương sáng và bài học từ thầy như nắng tháng Ba. Noi gương Thầy tôi học làm nắng tháng Ba mang niềm vui và sắc xuân đến nông dân nông nghiệp nông thôn, tập huấn đào tạo nguồn trí thức trẻ, khơi dậy tiềm năng  thế hệ mới vùng sâu vùng xa.

Niềm vui và sự trưởng thành vững chắc của đội ngũ trí thức mới như biển xanh lộng gió đậm đà sắc xuân.

Niềm vui sau công việc thành công thật rạng ngời hạnh phúc. Câu chuyện sắn Phú Yên là mô hình và sự thật thực tiễn ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thành công trên đồng ruộng của nhiều hộ nông dân ở vùng sâu vùng xa huyện Đồng Xuân và Sông Hinh của tỉnh Phú Yên.

2016-niemvuilangdong

Thành quả nổ lực cố gắng tận tụy làm việc cùng nông dân đã được đúc kết tốt. Đồng Xuân và Nắng tháng Ba bạn đã nhìn thấy ở báo Phú Yên năm 2016 niềm vui lắng đọng. Thầy Mai Văn Quyền có lối dạy và học thật giản dị, chất phát, tôn trọng tổng kết nâng tầm lý luận các mô hình sự thật thực tiễn, gương người thật việc thật, người tốt việc tốt. Thầy chuộng minh triết chân thành, lắng nghe cuộc sống không cần tô vẽ Lối dạy học để làm (Learning by Doing), gần gũi và tương đồng với ‘Nguyên Ngọc chân dung văn‘ mà Trần Đăng Khoa mô tả “Văn Nguyên Ngọc là một dạng văn có ma lực. Giản dị , chắt lọc mà trong veo. Đó cũng là dòng văn chủ đạo rất cần có trong đời sống của chúng ta hôm nay“.

Giáo dục Văn hóa Nông nghiệp Sinh thái thực sự cần  giao cảm tương đồng. Thầy quý bạn hiền lớp trẻ là suối nguồn tươi mát trong lòng tôi.

Hoàng Kim

Notes
CÂU CHUYỆN ẢNH THÁNG BA

Thaytoi6
Thầy Van Quyen Mai nói vui “Mình thua gà trống rồi”, sự thật là thầy đã Đến với Tây Nguyên gọi bình minh thức dậy ngay sau khi rời Phú Yên ít hôm. Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20 tháng 3, Thầy lđã có mặt ở Phnong Peng dự lễ kỷ niệm 15 năm hợp tác Phân bón Bình Điền &Tập đoàn Yetak đánh giá kết quả và định hướng phát triển bền vững.

Thaytoi7

Thầy Van Quyen Mai và PGS. TS Nguyễn Văn Bộ, cựu giám đốc của VAAS, là thành viên Hội đồng khoa học Công ty Phân bón Bình Điền.

Thaytoi8
Câu chuyện về Thầy Mai Văn Quyền và những người bạn, học trò, người thân … trong lòng tôi như suối nguồn thao thiết chảy. Đó là việc thực đời thường giáo dục nghề nông dâng hiến lặng lẽ thầm lặng mà hiệu quả. Biết bao nhiêu câu chuyện hay mà tôi chưa kịp ghi chép lại để tự mình suy ngẫm và trao lại ngọc cho đời. Thầy Mai Văn Quyền vẫn đang rất trẻ. Cái trẻ tươi tắn của người mang đậm nét hồn nhiên minh triết, phúc hậu, tận tụy với Người với Đời, làm gợi cho chúng ta liên tưởng ‘Thầy em và nắng tháng Ba’ cái nắng gió của ong làm mật …

Thaytoi5
Ngắm ảnh thầy Mai Văn Quyền ở giữa những học trò, bạn hữu thân thiết, các chuyên gia khoa học đất phân và cây trồng mà tên tuổi đã quá đổi thân thuộc với bạn nhà nông như PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ, PGS. TS Mai Thành Phụng, TS. Nguyễn Đăng Nghĩa, TS Nguyễn Thanh Bình  … với các nhà doanh nghiệp giỏi, xây dựng nên thương hiệu phân bón tín nhiệm, chất lượng tốt, tỏa rộng giá trị lao động khoa học đích thực tới nhiều vùng miền. Chúng ta thật tự hào được sống làm việc với những thầy bạn ấy.

Video yêu thích
OMAR AKRAM – A day with you ♥

Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Chuyện thầy Nguyễn Tử Siêm

gsnguyentusiem
CHUYỆN THẦY NGUYỄN TỬ SIÊM
Hoàng Kim

Đến với Tây Nguyên mới, về vùng cát đá, đi suốt miền Trung giữa miền nắng gió, tôi cùng các em sinh viên của hai lớp Nông học 14 Gia Lai và Nông học 14 Ninh Thuận thuộc phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh ở tỉnh Gia Lai và tỉnh Ninh Thuận tìm về những tác phẩm của Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm hậu duệ đất lành và tìm về lời cảnh báo thấm thía sâu sắc của nhà văn Nguyên Ngọc: Nước mội, rừng xanh và sự sống”. Chúng tôi soi trong Hệ thống giải pháp tổng hợp ‘Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam” để tìm những giải pháp thực tiễn cho vùng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Hai trích đoạn dưới đây gợi ý cho chúng ta những suy nghĩ và giải pháp:

NGUYỄN TỬ SIÊM HẬU DUỆ ĐẤT LÀNH

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm sinh ra ở làng Thư Điền thuộc xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, nổi danh là ‘đất học’. “Thư Điền ” được lấy ý từ câu thơ “Thư điền vô thuế tử tôn canh” nghĩa là  ‘sách là ruộng không phải đóng thuế, con cháu cần nên ngày cày ruộng đêm đọc sách’. Dòng họ Nguyễn Tử “vốn dòng thi lễ đời đời văn học”. Giáo sư Nguyễn Tử Siêm sinh nơi ấy và nhờ nơi ấy nên may mắn đã tiếp nhận được những di sản của quê hương và dòng họ để thành chuyên gia đầu ngành về đất. Giáo sư đã biên soạn 9 tác phẩm, dày dặn nhất là Đất Việt Nam năm 2000, Nhà Xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 600 trang. Nguyễn Tử Siêm hậu duệ đất lành.

Ninh Bình là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, lui có thế thủ, tiến có thể công” chót cạnh đáy của Tam Giác Châu Bắc Bộ . Dãy núi Đông Bắc là 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Đông Triều tạo thế Trường thành chắn Bắc. Dãy núi Tây Nam là dãi Tản Viên với 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù Nga Sơn tạo thành địa danh nổi tiếng Thần Phù  trong thơ “Quá Thần Phù cảm tác’ của Nguyễn Trãi và câu ca dao cổ:

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Cụ Nguyễn Tử Mẫn, người Thư Điền , Ninh Nhất trong tác phẩm “Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo luận” năm 1862 là chuyên khảo tường tận tỷ mỷ về vùng đất và con người Ninh Bình đã viết: “Ninh Bình là nơi chứa những vật báu của trời, nơi nổi tiếng có nhiều danh thắng, đó lại là điều khiến địa lý tỉnh Ninh ta càng không thể không được nghiên cứu tường tận“.  Trong ‘Lời tựa’  của giáo sư Trần Quốc Vượng tại tác phẩm” Địa chí Văn hóa Dân gian Ninh Bình” do Trương Đình Tưởng chủ biên, Nhà Xuất Bản Thế Giới năm 2004 đã viết: “Tại Nhà thờ đá Phát Diệm do Cố Lục xây dựng năm 1891 ở ngay sát bờ biển nay đã lùi sâu vào đất liền khoảng 20 km. Từ đó tôi tin theo tài liệu địa lý học (xem Lê Bá Thảo, Hoàng Thiếu Sơn, Vũ Tự Lập) là ở miền tây nam châu thổ Bắc bộ- chủ yếu ở Ninh Bình- mỗi năm trung bình phù sa lấn biển khoảng 100m“.

Ninh Bình là nôi khai sinh của người Việt cổ và chốn tổ của nghề lúa, có sông Hoàng Long huyền thoại chạy giữa lòng, điểm nhấn di sản Tràng An, ẩn chứa nhiều bí ẩn văn hóa lịch sử. Ninh Bình là một vùng đất cổ và cũng là một vùng đất mới. Mạch tâm linh dân tộc ký thác cho người, vật, cây cỏ của đất ấy bảo tồn và phát triển đường sống. Có người may mắn được làm thư đồng của quê hương và dòng họ để lưu giữ và trao lại cho đời sau những chỉ dấu.

Riêng Tài nguyên đất Ninh Bình thôi, các nhà nông học và thổ nhưỡng đã phân chia đất đai Ninh Bình thành 19 loại gộp thành 5 nhóm đất cơ bản. Nhóm đất phù sa có diện tích 74,53 nghìn ha chiếm 53% diện tích gồm 9 loại; nhóm đất đỏ vàng có 25,00 nghìn ha chiếm 17,8% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh; nhóm đất mặn có diện tích khoảng 14,19 nghìn ha chiếm 10,1%; nhóm đất xám bạc màu 3,48 nghìn ha chiếm 2,5% ; Nhóm đất thung lũng dốc tụ  có diện tich 1,60 nghìn ha chiếm 1,1% tổng diện tích đất tự nhiên. Nhìn chung tài nguyên đất của Ninh Bình có độ phì trung bình với ba loại địa hình là đồi núi đồng bằng và ven biển vì thế tỉnh có thế mạnh để phát triển nông lâm nghiệp kết hợp theo hướng đa dạng hóa. Vùng đồi núi có nhiều tiềm năng để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp vật liệu xây dựng.

Tôi nói với các em sinh viên: “Chúng ta rất cần nắm vững và xử lý tốt thông tin đất Việt Nam đất và cây trồng vật nuôi của từng tiểu vùng và địa phương cụ thể để ứng dụng thực tiễn cuộc sống. biết học thầy, học bạn, suy xét, đánh giá chất lượng thông tin và biết đọc. Các em cần nắm những thông tin cơ bản khái quát trên đây nhưng để thấu hiểu thì nên đọc sâu vào chi tiết và tốt nhất là nên đọc thẳng vào những tài liệu khảo cứu sâu viết cho từng tiểu vùng sinh thái cụ thể. Nguyễn Tử Siêm đất Việt Nam là sách hay đáng đọc .

NGUYỄN TỬ SIÊM CUỘC ĐỜI NGHỀ ĐẤT

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm sinh ngày 10 tháng 5 năm 1942, tại làng Thư Điền, thuộc huyện Gia Khánh, phủ Trường An (nay thuộc xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình). là một trong những chuyên gia đầu ngành về đất đồi núi Việt Nam, chủ yếu trong các lĩnh vực bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi, phục hồi độ phì nhiêu đất, canh tác vùng cao. Đất đai là tài nguyên nuôi sống con người. GS. Nguyễn Tử Siêm đã khéo chọn đất làm nghề nghiệp. Thổ quyển quan trọng như sinh quyển, khí quyển. Đất lành và việc sử dụng đất hiệu quả bền vững để không thoái hóa là cực kỳ cấp thiết. Đất và thức ăn là tầm nhìn và kinh nghiệm đáng suy ngẫm trong đúc kết 500 năm nông nghiệp Brazil  thật đáng suy ngẫm. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm cũng là một trong số những nhà khoa học Việt Nam quan tâm nhiều đến xã hội thông qua các comment trên nhiều website.

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội năm 1964, làm nghiên cứu viên tại Bộ Nông trường Quốc doanh, Trạm Nghiên cứu Cây Nhiệt đới Tây Hiếu, từ năm 1964-1969. Bài báo khoa học đầu tiên là ‘Biện pháp sản xuất nhanh phân hữu cơ ở nông trường quốc doanh’ năm 1968. Cuối năm 1969, ông được cử làm nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Lômônôsôp Liên Xô và bảo vệ thành công Luận văn Tiến sĩ năm 1974.Ông về Việt Nam làm trưởng Bộ môn rồi Phó Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng và Nông hóa (NISF) từ năm 1974-1993 . Ông được phong Phó Giáo sư Nông nghiệp năm 1991. Từ năm 1994- 2000, ông lần lượt giữ các chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Cục trưởng Cục Khuyến nông Khuyến lâm, Trưởng ban Quản lý các dự án Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.  Ông làm chuyên gia tư vấn tự do từ 2001 đến nay. Ông được phong học hàm Giáo sư Nông nghiệp năm 2002.

Giáo sư Nguyễn Tử Siêm là một trong các chuyên gia đầu ngành của Hội Khoa học Đất Việt Nam. Ông là giáo sư có uy tín, sử dụng thành thạo 4 ngoại ngữ Nga, Trung, Anh, Pháp; được mời tham gia giảng dạy ở nhiều trường Đại học trong và ngoài nước. Từ năm 2016 đến nay là Trưởng ban, Ban Soạn thảo Bách khoa Toàn thư Nông nghiệp và Thủy lợi, thuộc đề án Bách khoa Toàn thư Việt Nam. Làm việc kiêm nhiệm. Tác phẩm chính của GS. Nguyễn Tử Siêm là 9 cuốn sách đã in và 121 bài báo khoa học Hội Khoa học Đất Việt Nam  (Land Science Association Of VietNam) là đội ngũ khoa học đất Việt Nam thật to lớn và mạnh mẽ. Hội được thành lập ngày 30 tháng 8 năm 1991 có Trụ sở ở 61 Hàng Chuối, Hà Nội. Mục đích của Hội nhằm tập hợp và đoàn kết những nhà khoa học làm công tác về đất của Việt Nam. Hội Khoa học Đất Việt Nam tính đến năm 2014 đã tập hợp được 750 hội viên bao gồm 100 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, 170 thạc sĩ và 480 kỹ sư làm công tác khoa học kỹ thuật về đất bao gồm các mặt điều tra, nghiên cứu, sử dụng, bảo vệ, cải tạo, giảng dạy, quy hoạch quản lý đất để nâng cao trình độ, phổ biến kiến thức, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao độ phì đất, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.

Nhiều chuyên gia đất phân và thầy bạn quý của tôi (Hoàng Kim) có trong Hội Khoa học Đất Việt Nam.,Tôi nhớ nhất những người trong số đó có Thầy GS. Đỗ Ánh, Thầy GS. Lê Văn Căn, PGS.Giám đốc VAAS Nguyễn Văn Bộ,  GS Võ Tòng Xuân, GS. Phan Liêu,  GS. Trương Công Tín, GS Vũ Cao Thái, GS Thái Phiên,  GS. Nguyễn An Phong,  GS. Võ Minh Kha, GS. Nguyễn Vi, PGS. Lê Văn Thượng,  GS.Vũ Năng Dũng chủ tịch Hội Khoa học ĐấtViệt Nam, GS. Nguyễn Tử Siêm, PGS. Lê Xuân Đính, PGS. Huỳnh Thanh Hùng, PGS Phạm Quang Khánh, PGS. Mai Thành Phụng,   PGS. Nguyễn Thi Hòa, PGS. Công Doãn Sắt, PGS. Trịnh Đình Tư, TS. Phạm Sĩ Tân, TS Nguyễn Đăng Nghĩa, TS. Đỗ Trung Bình, TS. Phạm Thị Công,  TS. Phạm Quang Chơn, TS. Trần Văn Thịnh, TS. Nguyễn Thanh Bình, ThS Lê Văn Dũ, ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương…

datvietnam

Hoàng Kim, Phạm Văn Biên, Reinhardt Howeler năm 2003 đúc kết thông tin “Bản đồ đất Việt Nam” công bố ở FAO, có các số liệu cơ bản trực tiếp phục vụ cho quản lý và sử dụng đất: Nhóm đất đỏ vàng gần 20,0 triệu ha; Nhóm đất phù sa khoảng 3,5 triệu ha (phù sa sông Cửu Long 850 nghìn ha, phù sa sông Hồng 600 nghìn ha và đất phù sa các con sông khác) Nhóm đất xám bạc màu khoảng 3,0 triệu ha; Nhóm đất phèn khoảng 2,0 triệu ha; Nhóm đất mặn khoảng 1,0 triệu ha; Nhóm đất cát khoảng 550 nghìn ha. Sự phân bố và tính chất đất cơ bản’ trong tài liệu trên của chúng tôi là dựa trên thông tin gốc sách ‘Đất Việt Nam’ năm 2000 của Giáo sư Nguyễn Tử Siêm và những cập nhật mới của PGS. Nguyễn Văn Bộ 2000 (Sau này được đúc kết trong sách Nguyễn Văn Bộ chủ biên, Bùi Huy Hiền, Hồ Quang Đức, Nguyễn Công Vinh, Nguyễn Văn Vân, Roland J. Buresh, 2009. Hướng dẫn quản lý dinh dưỡng cho cây lúa theo vùng đặc thù của Việt Nam. Nhà Xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 204 trang. http://nhasachvietnam.blogspot.com/2016/10/vaas-huong-dan-quan-ly-dinh-duong-cho.html)

NGUYỄN TỬ SIÊM TRANG ĐỜI LẮNG ĐỌNG

Nhà khoa học đất Nguyễn Tử Siêm biên soạn 9 bộ sách cẩm nang nghề nghiệp ‘Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam’ và 121 bài báo khoa học, hiện nay làm Trưởng ban biên soạn tập 9 Nông nghiệp và Thủy lợi, Từ điển Bách khoa thư Việt Nam. 9 bộ sách cẩm nang nghề nghiệp bao gồm:  Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên 1999. ‘Đất đồi núi Việt Nam thoái hóa và phục hồi’; Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006; Đất và sử dụng đất vùng cao Việt Nam, 2002; Cây phủ đất ở Việt Nam, 2002; Từ điển Thổ nhưỡng Anh-Việt, 2001;Từ điển thuật ngữ Anh – Việt về quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao, 2001; Đất Việt Nam, 2000; Giáo trình Chọn giống cây trồng, 2000; Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam, 1998; Nghiên cứu Đất và Phân bón, 1976 . Những sách chuyên khảo này giúp chúng ta kinh nghiệm và hiểu biết về đất đồi núi từ  lý thuyết đến thực hành, quan hệ đất nước với cây trồng và thức ăn.

Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam, nội dung cơ bản gồm: 1. Các yếu tố xói mòn & Khả năng dự báo xói mòn. 2. Nguy cơ xói mòn rửa trôi & Biện pháp khắc phục. 3. Thoái hóa & Phục hồi đất dốc. 4. Chất hữu cơ & Độ phì nhiêu đất 5. Tuần hoàn chất hữu cơ & Biện pháp phục hồi đất nghèo. 6. Quản lý dinh dưỡng tổng hợp, nâng cao hiệu lực phân bón. Biện pháp tổng hợp quản lý bền vững đất dốc. 

Chúng ta đang hướng đến những tài liệu học trực tuyến, tìm đến những người Thầy và các trang sách mở để được tư vấn trao đổi về bài học thực tiễn và tình yêu cuộc sống. Hoàng Kim chưa có điều kiện đúc kết tài liệu , chỉ trích dẫn ít thông tin thú vị và bài viết mới cập nhật

Nhà khoa học đất Nguyễn Tử Siêm biên soạn bộ sách cẩm nang nghề nghiệp ‘Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam’, bao gồm:  Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên 1999. ‘Đất đồi núi Việt Nam thoái hóa và phục hồi’; Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006; Đất và sử dụng đất vùng cao Việt Nam, 2002; Cây phủ đất ở Việt Nam, 2002; Từ điển Thổ nhưỡng Anh-Việt, 2001;Từ điển thuật ngữ Anh – Việt về quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao, 2001; Đất Việt Nam, 2000; Giáo trình Chọn giống cây trồng, 2000; Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam, 1998; Nghiên cứu Đất và Phân bón, 1976 . Những sách chuyên khảo này giúp chúng ta kinh nghiệm và hiểu biết về đất đồi núi từ  lý thuyết đến thực hành, quan hệ đất nước với cây trồng và thức ăn.

denvoitaynguyen

Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn… Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này. Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước.” Nguyên Ngọc,  Kinh tế Sài Gòn Online  (xem  Nguyên Ngọc: Nước mội, rừng xanh và sự sống). GSTS. Nguyễn Tử Siêm thông tin về 9 cuốn sách đã in và 121 bài báo của ông liên quan tới  Quản lý bền vững đất dốc ở Việt Nam, nội dung: 1. Các yếu tố xói mòn & Khả năng dự báo xói mòn. 2. Nguy cơ xói mòn rửa trôi & Biện pháp khắc phục. 3. Thoái hóa & Phục hồi đất dốc. 4. Chất hữu cơ & Độ phì nhiêu đất 5. Tuần hoàn chất hữu cơ & Biện pháp phục hồi đất nghèo. 6. Quản lý dinh dưỡng tổng hợp, nâng cao hiệu lực phân bón. Biện pháp tổng hợp quản lý bền vững đất dốc. Chúng ta đang hướng đến những tài liệu học trực tuyến, tìm đến những người Thầy và các trang sách mở để được tư vấn trao đổi về bài học thực tiễn và tình yêu cuộc sống.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về đầu trang
Hoàng KimNgọc Phương NamThung dungDạy và họcCây Lương thựcDạy và HọcTình yêu cuộc sốngKim on LinkedIn Kim on Facebook

 

Chuyện thầy Dương Thanh Liêm

thayduongthanhliem

CHUYỆN THẦY DƯƠNG THANH LIÊM
Hoàng Kim

Thầy Dương Thanh Liêm là nhà giáo Nhân dân, chuyên gia đầu ngành Việt Nam về dinh dưỡng gia súc, độc chất học. Thầy PGS.TS Dương Thanh Liêm nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 1994-1998, thời mà thầy Bùi Cách Tuyến và cô Nguyễn Phước Nhuận làm hiệu phó. Tôi nghe tin thầy Dương Thanh Liêm đau nặng, suy tim giai đoạn cuối, hiện đang điều trị ở phòng săn sóc tích cực của Bệnh Viện Việt Pháp số 6 Nguyễn Lương Bằng quận 7, do thầy Dương Duy Đồng và thầy Trần Đình Lý thông báo, nên tôi vội đến thăm . Khi tôi đến Thầy đã chuyển lên phòng 642, tuy có đỡ hơn trước một chút và vẫn minh mẫn tĩnh táo trò chuyện nhưng thầy rất mệt. Tôi thầm mong quý thầy bạn sớm ghé thăm hổ trợ thầy.. Thầy tuy an nhiên vui vẻ nhưng suy tim hiểm nghèo, và thầy đã luống tuổi trên 80 xuân, gặp được thầy lúc nào là quý lúc đó. Tôi lắng nghe lòng rưng rưng. Tôi thưa với thầy tôi tri ngộ thầy và tâm đắc ở thầy ba chuyện: đức độ hi sinh, thanh liêm chính trực, tận tụy dạy người. Đó là ba bài học lớn.

Đức độ hi sinh

Thầy Dương Thanh Liêm sinh năm 1938 tại xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Năm 1955 thầy tập kết ra Bắc và học tại Trường Học sinh miền Nam, sau đó vào học Trường Đại Học Nông nghiệp 1 Hà Nội (nay là Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam). Năm 1974, thầy bảo vệ thành công luận án PTS tại Hungary, năm 1976 thầy chuyển vào công tác tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1994-1998 thầy làm Hiệu Trưởng Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2004, thầy được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân.

Thầy Dương Thanh Liêm đức độ hi sinh nhẫn nại hiếm thấy  trong một tình cảnh gia đình ngặt nghèo cùng cực. Vợ phát bệnh tâm thần sau khi sinh con trai được mấy tháng. Đứa con trai duy nhất của thầy đã chết đuối năm 13 tuổi . Thầy ngày ngày nuôi vợ bệnh tâm thần và hai người con gái bị suy nhược thần kinh. Vợ thầy mất năm 2014. Suốt cuộc đời bật hạnh, thầy Dương Thanh Liêm đã vượt lên những nỗi đau và tổn thất thiệt thòi cùng cực của riêng mình, để  trao lại cho Trường, cho đời những niềm vui và sự thành công.

Lịch sử Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh thời thầy Dương Thanh Liêm làm Hiệu Trưởng đã có những dấu ấn nổi bật, tuy chưa có xâu chuỗi so sánh lịch sử. Thầy đã cống hiến cho trường đầy đặn thủy chung như Abraham Lincoln đối với nước Mỹ chịu riêng mình nỗi đau và bất hạnh khủng khiếp khó tưởng tượng nổi nhưng thầy đã an nhiên và điềm tĩnh vượt qua.

Thầy như thiền sư giữa đời thường.

Giáo sư Dương Thanh Liêm là Hiệu trưởng và Phó Giáo sư Lưu Trọng Hiếu là Trưởng Phòng Hợp tác Quốc tế những người thầy nhân cách cao quý  ‘dĩ công vi thượng’ đặt việc chung lên trên, sẵn sáng ‘ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng’ cùng quý thầy cô tham gia nghiên cứu khoa học thực sự cùng lũ học trò chúng tôi mà không hề so đo tính toán.

thayduongthanhlienvabotlasan

Chương trình Sắn Việt Nam (Viet Nam Cassava Program – VNCP) do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chủ trì kết nối với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, CIAT, CIP, VEDAN cùng với nhiều cơ quan, công ty, đơn vị, cá nhân của Việt Nam và Thế Giới.

Chương trình Sắn Việt Nam (Viet Nam Cassava Program – VNCP) có hoạt động như là một hiệp hội nghề nghiệp. Cây sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển bền vững nhờ sự “góp gạo thổi ăn chung”. Thầy Dương Thanh Liêm, thầy Lưu Trọng Hiếu cùng quý thầy cô Bùi Xuân An, Ngô Văn Mận, Nguyễn Thị Sâm, Trần Thị Dung của Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh là những người đồng sáng lập và tham gia từ rất sớm chương trình cộng đồng này.

duongthanhliem2

Hai trong số tám sách khoai sắn dày dặn thời bấy giờ có hình trên đây là nhờ sự chung sức kết nối.  Nhiều chuyên gia quốc tế sau này vẫn thích trở lại bài học sắn Việt Nam bây giờ và sau đó (Vietnam and Cassava: Now and Then by Prof. Dr. Kazuo Kawano) như là một điểm sáng toàn cầu.

Thầy Lưu Trọng Hiếu nhiều lần cùng cô Nguyễn Thị Sâm đưa chuyên gia và tôi về Vĩnh Long để ‘khoe” giống khoai lang mới HL518 (Nhật đỏ) HL491 (Nhật tím) của học trò mình chọn tạo có thân lá tốt cho chăn nuôi và củ ăn thật ngon, thịt củ lại có màu cam đậm hoặc tím đậm, thật tốt cho công nghệ thực phẩm. Năng suất khoai lang toàn tỉnh Vĩnh Long tăng gấp đôi, diện tích từ 6.000 ha lên 12.000 ha, Thầy mừng việc của trò như chính việc mình. Thầy Dương Thanh Liêm, thầy Ngô Văn Mận, thầy Bùi Xuân An vừa nghiên cứu bột cỏ vừa … nuôi dê và giúp phân tích thành phần dinh dưỡng củ và dây lá khoai lang sắn của Kim Thủy mang đến với sự giúp đỡ tận tình mà không chút nề hà,  thầy cô nhận quà biếu chỉ ít  … củ khoai. Thầy có thể quên nhưng trò mãi nhớ…

duongthanhliem3

Thầy Dương Thanh Liêm viết bài “Chế biến và sử dụng bột lá khoai mì trong chăn nuôi gia súc”. GS. Dương Thanh Liêm, KS. Nguyễn Phúc Lộc, KS. Nguyễn Văn Hảo, ThS. Ngô Văn Mận, KS. Bùi Huy Như Phúc, ThS Bùi Xuân An (sau này thầy Mận là giảng viên chính tiến sĩ, thầy An là giảng viên chính, phó giáo sư).  Đề tài sử dụng bột lá sắn làm thức ăn gia súc đã phát triển thành đề tài rất có giá trị Việt Nam, gắn liền với tên tuổi thầy Liêm với “bột cỏ” làm thức ăn hỗn hợp cho gia súc, gia cầm mà nhờ đó gia súc không thiếu sinh tố A, kháng bệnh tốt và lòng đỏ trứng gà trở nên màu vàng đẹp.

duongthanhliem4

Sử dụng lá khoai mì trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc (Yves Froehlich, Thái Văn Hùng). Hội thảo hiệu quả sử dụng sắn và lá sắn ủ trong khẩu phần lợn thịt và kết quả chuyển giao ủ yếm khí sắn vào các nông hộ ở Thừa Thiên Huế (Nguyễn Thị Hoa Lý, Lê Văn An, Đào Thị Phượng, Lê Văn Phước). Những nghiên cứu mới sử dụng sắn làm thức ăn gia súc. (Lê Đức Ngoan) … Những công trình nghiên cứu tiếp nối công trình của giáo sư Dương Thanh Liêm đã mở ra những thành tựu mới trong khoa học.

Nhân cách cao quý đức độ hi sinh là bài học lớn về thầy.

Thanh liêm chính trực

Thầy Dương Thanh Liêm là người thực sự thanh liêm và thẳng thắn nói lên chính kiến , Thầy yêu ghét thật rõ ràng minh bạch. Câu chuyện thanh liêm đã có nhiều người kể. Một người thầy ở nhà tập thể của trường cho tới mãi sau nghỉ hưu và có câu chuyện Trò xây nhà tặng thầy. Bài viết của Hà Thạch Hãn   Một đời thanh liêm‘ trên báo Tuổi trẻ ngày 16 tháng 11 năm 2006 đã kể về Thầy.  Khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí MinhHọc Viện Nông Nghiệp Việt Nam có thông tin về Thầy.

Giáo sư Bùi Chí Bửu khi về tiếp nhận chức vụ Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam có mời giáo sư Dương Thanh Liêm về báo cáo khoa học “Thực trạng và định hướng ngành chăn nuôi Việt Nam”. Chúng tôi lặng người khi lắng nghe những cảnh báo thật sâu và thật thấm thía những vấn đề nóng hổi của chăn nuôi thú y Việt Nam. Thầy Dương Thanh Liêm đã điềm tĩnh mổ xẽ không khoan nhượng những điều được và chưa được trong ngành chăn nuôi thú ý Việt Nam và so sánh với nghề cá và nông học. Thầy nói về trình độ của đội ngũ nghiên cứu giảng viên, cơ sở giảng dạy vật chất thiết bị và thực tập để gắn nghiên cứu đào tạo và thực tiễn sản xuất, hợp tác trong nghiên cứu khoa học và đào tạo với nước ngoài, nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ trọng tâm thứ hai và là sức sống của trường đại học. Thầy vinh danh ngành thủy sản sớm khảo sát và định danh cá nước ngọt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nghiên cứu sinh học và sinh sản cá Tra trở thành đối tượng xuất khẩu hàng đầu của ngành thủy sản tạo nên thương hiệu Việt, vinh danh việc chọn tạo giống và thâm canh cây lương thực đã làm nên những kỳ tích Việt, đánh giá cao cách làm và thành quả nghiên cứu phát triển sắn khoai lang, những cây trồng cho người nghèo, vì người nghèo. Tôi nghe mà xúc động trước sự hiểu biết sâu sắc và thấm thía những cảnh báo của Thầy về những vấn đề nóng hổi của chăn nuôi thú y Việt Nam. Tôi ngối sau thầy Trần Thế Thông và khi ăn cơm thì ngồi cạnh hai thầy. Tôi nghe được các lời đối thoại không thể quên.

Thầy Liêm nói:  “Anh Thông ơi ! Ngành chăn nuôi chúng ta chưa có gà Việt, heo Việt và bò Việt tương xứng đúng nghĩa, dinh dưỡng và thức ăn gia súc thì chưa có nền công nghiệp thức ăn đáp ứng mong đợi, dịch cúm gia cầm gia súc đang là vấn nạn. Anh có giải thưởng Hồ Chí Minh về giống heo. Tôi có giải thưởng Nhà nước (Hồ Chí Minh ?) về bột cỏ dinh dưỡng thức ăn gia súc. Nhưng soi vào thực tại thì ngành Thủy sản cậu KS. Nguyễn Thanh Xuân, Đại học Nông Lâm (người nối nghiệp GS.TS. Ngô Bá Thành đã mất ) mới kỹ sư thôi, đã  cùng anh em Khoa Thủy Sản của Trường tôi và cậu Tuấn với Khoa Thủy sản Đại học Cần Thơ, họ đã làm được biết bao nhiêu việc (GS.TS. Nguyễn Anh Tuấn, cựu sinh viên trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, sau là phó Hiệu trưởng Đại học Cần Thơ  nhiệm kỳ 2002 – 2006 Hiệu trưởng Đại học Cần Thơ  nhiệm kỳ 2007 – 2011 ) . Thủy sản Việt xuất khẩu Mỹ phải sợ không phải là chuyện đùa. Kể cả cách làm và thành quả cây sắn của cậu Kim và anh em Hưng Lộc và mạng lưới sắn là đáng suy nghĩ đấy. .. Cậu Xuân chỉ là kỹ sư thôi nhưng là chuyên gia đầu ngành thủy sản.

Thầy Liêm nói đại ý vậy, và tôi đã lặng người về Thầy.

Một người Thầy với một báo cáo đề dẫn 20 phút đã không phát biểu theo thường lệ là dành khoảng bảy phần mười thời lượng để nói về việc tốt, điều hay của nghề mình phụng sự và việc mình làm, và ba phần mười thời lượng để nói về những suy tư gợi ý và định hướng. Thầy Liêm thì khác. Thầy nói thẳng ngay vào thực trạng đến nóng mặt, những điều được và chưa được, cho những người nghe toàn là những chuyên gia chăn nuôi thú y lõi nghề của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (Viện đa ngành duy nhất thuở ấy của Việt Nam). Thầy ngợi khen về những kết quả khác mà người thường  và những người khác ngành nghề chuyên môn không dễ thấy. Sau này khi suy ngẫm về tái cơ cấu nông nghiệp, con tôm con cá được Chính phủ nhấn mạnh gần đây, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần bài “Hột lúa và con cá” của giáo sư Tôn Thất Trình, bài “Đáy biển mò kim” và “Bốn mươi năm khoa Thủy sản” của  KS. Trần Thanh Xuân nguyên phó Trưởng Khoa Thủy sản, cùng với bài viết “Những điều tôi đã trãi qua” của thạc sĩ Lê Thị Phương Hồng, nguyên Trưởng Khoa Thủy sản, tôi càng thấy thấm thía hơn đối với những lời Thầy.

Tại một kỳ họp toàn thể của Đảng bộ Trường trong một lần khác,  Thầy cũng đã nói những lời tốt đẹp hoan nghênh sự trở về mái trường xưa để giảng dạy và nghiên cứu của tôi. Những lời động viên ấm áp, đúng lúc của Thầy làm tôi xúc động, biết ơn Thầy về sự tận tụy với con người,  với Trường, với nghề, với đồng nghiệp, với học sinh thân yêu thật quý biết bao !

Sinh thời Giáo sư Lê Văn Căn có nói với tôi: “Cụ Trừu nói một câu mà làm mình phải luôn cố gắng Kim ạ. Đó là câu  “Anh Căn thực việc, thầm lặng nhưng hiệu quả”. Khi trực tiếp nghe thầy Dương Thanh Liêm đánh giá kết quả chương trình sắn Việt Nam vượt bao khó khăn khâu nối tốt hợp tác trong và ngoài nước, thầy khen ngợi thực lòng làm ấm lòng biết bao người, Bài báo cáo của Thầy ỏ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, hồn nhiên khen con cá và củ khoai củ sắn, chưa bằng lòng với thành tựu của ngành chăn nuôi, người nghe thấy thầy công tâm biết bao. Tôi nghe thầy phát biểu khen ngợi công việc và sự trở về trường của tôi trước hội nghị toàn thể của Đảng bộ Trường, tôi cũng có cảm giác biết ơn con mắt tri kỹ biết soi thấu những góc khuất kẻ sĩ để khích lệ sự thầm lặng cống hiến.

Thầy Dương Thanh Liêm là tấm gương sáng thanh liêm chính trực

truongtoivathayduongthanhliem

Tận tụy dạy người.

Có những người thầy mà nhân cách, sự tận tụy và đức hi sinh cao hơn những trang sách đã học. Thế hệ chúng tôi may mắn được học Thầy.

duongduydong

Chương trình tiên tiến và Chương trình chất lượng cao hướng đến an toàn thực phẩm và quản lý chất lượng (Food Safety and Quality Management), của Khoa Chăn nuôi Thú Y và Công nghệ Thực phẩm Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang là cơ hội lớn để nâng cao chất lượng giảng viên và mở rộng chất lượng hợp tác.  Tôi thật ngưỡng mộ sự vươn tới  của Bộ Môn Dinh Dưỡng, Khoa Chăn nuôi Thú Y Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh. Người lãnh đạo ban đầu sau ngày Việt Nam thống nhất là thầy Dương Thanh Liêm Cho đến nay Bộ môn Dinh dưỡng có thật nhiều chuyên gia giỏi trong lĩnh vực này và là một đội ngũ thực sự gắn bó và tận tụy với người. Sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, bảo tồn  kế thừa phát triển thực sự  nhân ái. Giảng viên chính, tiến sĩ Dương Duy Đồng, Trưởng Bộ Môn Dinh Dưỡng, Phó Hiệu Trưởng, PGS. TS. Dương Thanh Liêm (nghỉ hưu), GVC. TS. Ngô Văn Mận (nghỉ hưu), GVC. ThS. Nguyễn Văn Hảo (nghỉ hưu) Tiến sĩ Nguyễn Quang Thiệu, Phó Trưởng Khoa CNTY,  Tiến sĩ Ngô Hồng Phương, BSTY. Nguyễn Thị Phương Dung, ThS. Nguyễn Văn Hiệp, ThS. Lê Minh Hồng Anh, Nguyễn Thị Lộc. Nơi đây có một mạng lưới liên kết chiều sâu rộng khắp với các Viện, Trường, Công ty , Tổ chức, cá nhân trong nước và thế giới.

Trường ĐHNL, Khoa CNTY và Bộ Môn Dinh Dưỡng là nơi sớm có chương trình đào tạo thạc sĩ tiến sĩ từ những năm đầu thập kỷ 1990, điển hình là hai chương trình Đào tạo Thạc sĩ về Hệ thống Chăn nuôi bền vững do SAREC-SIDA tài trợ và chương trình đào tạo Thạc sĩ về Thú y do chính phủ Pháp tài trợ. Dự án đào tạo Thạc sĩ Chăn nuôi Nhiệt đới Bền vững do SIDA tài trợ với sự giúp đỡ của Đại học Thụy Điển và các giáo sư có uy tín trên thế giới đã thực sự đào tạo được đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở trình độ cao, nhiều chuyên gia chăn nuôi thú y giỏi Việt Nam và tạo nên sự kết gắn thật tốt của các Viện Trường Công ty và những người chăn nuôi. Trên cơ sở của dự án này Chính phủ Thụy Điển đã tiếp tục tài trợ cho Chương trình MEKARN giai đoạn 1 và 2 kéo dài cho đến nay.

gslevananvagiadinhsannghiencuucungnongdanCác thầy cô chăn nuôi đã tham gia Chương trình Sắn Việt Nam (VNCP) với tính chất cộng đồng thật vui vẻ và tự nguyện, thanh thản và bình tâm, chẳng chút đắn đo, như thầy Dương Thanh Liêm, thầy Lưu Trọng Hiếu, thầy Trần Thế Thông, Thầy Bùi Xuân An,  thầy Lê Văn An (nay là giáo sư Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Huế, ảnh trên),TS. Nguyễn Thị Hoa Lý,  PGS.TS Lê Đức Ngoan (nay là phó Hiệu Trưởng Đại học Nông Lâm Huế, chuyên gia chăn nuôi nghiên cứu tiếp nối cụm công trình bột lá  của thầy Liêm về sử dụng sắn làm thức ăn gia súc)…  Thầy Liêm dấn thân làm ‘người trong cuộc’, cũng đứng báo cáo, thảo luận thật hòa đồng, nên mới có sự thấu hiểu sâu sắc đến vậy.

Nhiều thầy cô khác như Thầy Mai Văn Quyền, Thầy Ngô Kế Sương, thầy Trương Công Tín, Thầy Nguyễn Văn Luật, cô Nguyễn Thị Sâm , cô Trần Thị Dung, tham gia chương trình với những vị trí đóng góp  thật cảm động và sâu sắc, làm nên sức mạnh cộng đồng. Chặng đường trên 40 năm nhìn lại thật ân tình. Phần lớn quý thầy nay đã nghĩ hưu.

duongthanhliem5
Quyển sách chuyên khảo “Thực phẩm chức năng, sức khỏe bền vững” của Dương Thanh Liêm, Lê Thanh Hải, Vũ Thủy Tiên, 2010, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Hùng Vương TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh, 527 trang (xem online tài liệu tại đây) và hai công trình nghiên cứu khác  “Hợp chất iôt hữu cơ kích thích gia súc tiết sữa, gia cầm đẻ trứng” và “Nuôi dê sữa theo lối công nghiệp” hiện được ứng dụng ở nhiều nơi.

Thăm thầy giáo bệnh’ bài thơ xúc động của anh Hoàng Đại Nhân đã nói hộ cho biết bao tấm lòng sinh viên Đại học Nông Lâm chúng tôi và những người chăn nuôi Việt Nam biết ơn Thầy.

THĂM THẦY GIÁO BỆNH

Thơ Hoàng Đại Nhân

Kính tặng Nhà giáo nhân dân, PGS. TS. Dương Thanh Liêm,
nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.

Trọn đời gắn với giảng đường
Một đời thanh bạch chẳng vương bụi trần
Bàn chân đi khắp xa gần
Vẫn nguyên cốt cách tảo tần hồn quê

Một đời yêu đến say mê
Những trang giáo án truyền nghề lớp sau
Một đời thận trọng từng câu
Một lời giảng cũng nặng sâu nghĩa tình

Một đời làm việc hết mình
Nâng niu tất cả, riêng mình thì quên
Nỗi buồn, chôn dấu niềm riêng
Niềm vui chia sẻ nhân thêm nghĩa tình

Một đời tình nghĩa phân minh
Thầy trò chia sẻ nghĩa tình cha con.
Tám mươi tuổi, sức hao mòn
Mà trang giáo án vẫn còn trên tay

Cao xanh sao nỡ đặt bày
Gây nên trọng bệnh để thầy đớn đau
Cầu mong cơn bệnh qua mau
Hết mưa lại sáng một bầu trời xanh

Mong thầy bình phục an lành
Cây đại thụ của rừng xanh đại ngàn.

Tôi đồng cảm với anh Hoàng Đại Nhân và thật sự cảm phục thầy Dương Thanh Liêm.

Đức độ hi sinh, thanh liêm chính trực, tận tụy dạy người là ba bài học lớn của thầy Liêm

Hoàng Kim

Video yêu thích