Thêm cho ngày Ba

themphucngayba

phuocducngay3

THÊM CHO NGÀY BA

Hoàng Kim

Tảo Mộ, Táo Quân, Tất Niên, Tổ Chạp
Giao thừa, Ngày Xuân, Tết nhớ Mẹ Cha
Phước Đức ngày Ba, cháu con mãi nhớ
Lập Xuân, Nguyên Tiêu, Thiên Địa Nhân Hòa.

Đất cảm trời thương, lòng người gắn bó
Để xa nên gần trước nhớ sau thương
Mình đừng ngại tháng Mười rồi lâu đến
Bởi đêm ngày năm tháng đúc nhân duyên.

themphucngay3

Tứ bách niên tiền, chung phục thuỷ
Thập tam thế hậu, dị nhi đồng… (**)

thaicucdo

(*) Tổ Chạp Bà 17/1 trước Đại Hàn 3 ngày
(**) Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

2017-01-31_phuocduchoanggia

phuocducngayba

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Advertisements

Viếng mộ cha mẹ

viengmochame

viengmochame2

VIẾNG MỘ CHA MẸ

Không danh lợi đua chen
Thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân.

Lời nguyền của Hoàng Ngọc Dộ
các em, thề trước mộ cha mẹ)

Hoàng Trung Trực

Dưới lớp đất này là mẹ là cha
Là khởi phát đời con từ bé bỏng
Là lời mẹ ru dịu dàng cánh võng
Là gươm đao cha một thuở đau đời

Hành trang cho con đi bốn phương trời
Là nghĩa khí của cha, là nhân từ của mẹ
Vẫn bầu sữa tinh thần
không ngừng không nghỉ
Để hành trang cho con đi tiếp cuộc đời

Cuộc đời con bươn chãi bốn phương trời
Nay về lại nơi cội nguồn sinh trưởng
Dâng nén hương mà lòng hồi tưởng
Thuở thiếu thời dưới lồng cánh mẹ cha

“Ước hẹn anh em một lời nguyền
Thù nhà đâu sá kể truân chiên
Bao giờ đền được ơn trung hiếu
Suối vàng nhắm mắt mới nằm yên”.

vieng-mo-cha-me

NGÀY CỦA MẸ TRONG LỊCH SỬ

Hoàng Kim

Ngày mùng 3 Tết (trùng ngày 30 tháng 1 dương lịch năm nay) là ngày mất của Mẹ. Mẹ mất lúc Hoàng Kim mới 9 tuổi. Ít năm sau bố bị máy bay Mỹ bắn chết. ‘Hoành Linh vô gia huynh đệ tán’. Lời nguyền ‘Không vì danh lợi đua  chen. thù nhà nợ nước quyết rèn bản thân’ do anh Hoàng Ngọc Dộ và các em thề trước mộ Cha Mẹ và chúng tôi đã học thái độ của nước để đi như dòng sông …

LINH GIANG DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG

Nhà mình gần ngã ba sông.
Rào Nan, Chợ Mới, Nguồn Son, Quảng Bình.
Quê ta sông núi hữu tình.
Nơi đây cha me sinh thành ra con.

Chèo thuyền cho khuất bến Son.
Để con khỏi chộ nước non con buồn.
Câu thơ quặn thắt lòng con.
Mẹ Cha mất sớm con còn bé thơ.

Ra đi từ bấy đến chừ.
Lặn trong sương khói tiếng hò sông quê.
Ngày Xuân giữ vẹn lời thề.
Non sông mở cõi tụ về trời Nam”.

NHỚ MẸ CHA

“Mẹ xưa khi sắp mất, nước mắt lưng tròng, thương các con côi cút nhỏ dại, thương bố một mình gà trống nuôi con nên Mẹ không thể nhắm mắt . Bố vuốt mắt cho Mẹ, nói nghẹn trong tiếng nấc: “Mạ mi an lòng mà đi, tui hứa…”. Mẹ cười mếu với Bố và nhắm mắt. Bố giữ mồ cho Mẹ suốt ba năm, hoa cỏ luôn tươi trên mồ và thay Mẹ chăm dạy con. Ít năm sau , Bố bị bom Mỹ giết hại. Kỷ niệm Bố Mẹ theo suốt đời con”.

Một số mẫu chuyện “Nhớ Mẹ Cha” gửi em và các con (xem tiếp…)


CHÙM THƠ VỀ MẠ

Hoàng Ngọc Dộ

(1) CHẴN THÁNG

Đã chẵn tháng rồi, ôi Mạ ôi!
Tuần trăng tròn khuyết đã hết rồi
Mà con không thấy đâu bóng Mạ
Thấy trăng vắng Mạ dạ bùi ngùi.

(2) NĂM MƯƠI NGÀY

Năm mươi ngày chẵn thấm thoắt trôi
Mạ về cỏi hạc để con côi
Vầng trăng tròn trặn vừa hai lượt
Vắng Mạ, lòng con luống ngậm ngùi.

(3) ĐỌC SÁCH

Con đọc sách khuya không nghe tiếng Mạ
Nỗi tâm tư con nghĩ miên man
Lúc Mạ còn, con bận việc riêng con
Không đọc được để Mạ nghe cho thỏa dạ.

Nay con đọc, vắng nghe tiếng Mạ
Nỗi bùi ngùi lòng dạ con đau
Sách mua về đọc Mạ chẵng nghe đâu
Xót ruôt trẻ lòng sầu như cắt.

Mạ ơi Mạ, xin Mạ hãy nghe lời con đọc.

(4) BUỒN

Buồn khi rão bước đồng quê
Buồn khi chợp mắt Mạ về đâu đâu
Buồn khi vắng Mạ dạ sầu
Buồn khi mưa nắng giải dầu thân Cha
Buồn khi sớm tối vào ra
Ngó không thấy Mạ, xót xa lòng buồn.

(Mạ: Mẹ tiếng Quảng Bình)

SAO KIM

Hoàng Ngọc Dộ

Bóng đêm trùm kín cả không trung
Lấp lánh phương Đông sáng một vừng
Mây bủa, mây giăng còn chẳng ngại
Hướng nhìn trần thế bạn văn chương.

(Rút từ tập Khát vọng, thơ Hoàng Ngọc Dộ)

(*) Sao Kim hay Kim tinh (chữ Hán: 金星), còn gọi là sao Thái Bạch (太白), Thái Bạch Kim tinh (太白金星) (thường dùng khi xem tướng mệnh), là hành tinh thứ hai trong hệ Mặt Trời, tự quay quanh nó với chu kỳ 224,7 ngày Trái Đất.[10] Xếp sau Mặt Trăng, nó là thiên thể tự nhiên sáng nhất trong bầu trời tối, với cấp sao biểu kiến bằng −4.6, đủ sáng để tạo nên bóng trên mặt nước.[12] Bởi vì Sao Kim là hành tinh phía trong tính từ Trái Đất, nó không bao giờ xuất hiện trên bầu trời mà quá xa Mặt Trời: góc ly giác đạt cực đại bằng 47,8°. Sao Kim đạt độ sáng lớn nhất ngay sát thời điểm hoàng hôn hoặc bình minh, do vậy mà dân gian còn gọi là sao Hôm, khi hành tinh này mọc lên lúc hoàng hôn, và sao Mai, khi hành tinh này mọc lên lúc bình minh.

ngoisaomayman
(Mẹ là vầng trăng cổ tích. Con là vì sao bên cạnh mẹ hiền. Trăng và sao Kim trên bầu trời, đêm mồng ba Tết Đinh Dậu năm 2017. Ảnh và thơ Hoàng Kim ở Gốc mai vàng trước ngõ lúc  17: 54)

NGÔI SAO MAY MẮN

Hoàng Kim

Mẹ là vầng trăng cổ tích
Con là ngôi sao bên cạnh mẹ hiền.
Sao Kim suốt đời bên mẹ
Gặp Mẹ Trong Mơ giấc ngủ bình yên.

Khi vầng Thái Dương bừng lên ngày mới
Mẹ con lặn phía chân trời
Con lạy Mẹ Cha ngôi sao may mắn
Hoàng Thành Trúc Lâm Phước Đức cho đời.


CNM365. Chào ngày mới 30 tháng 1. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1932Văn hóa Hòa Bình được công nhận chính thức theo đề xuất của Madeleine Colani (Mô hình minh họa cư dân Văn hóa Hòa Bình). Năm  2007Microsoft phát hành đại trà Hệ điều hànhWindows Vista. Năm 1948 – ngày mất Mahatma Gandhi, nhà hoạt động chính trị người Ấn Độ (sinh năm 1869). Năm 1882 –ngày sinh Franklin D. Roosevelt, Tổng thống Hoa Kỳ (mất năm 1945). xem tiếp…

TỪ MEKONG NHỚ NEVA

Hoàng Kim

Tôi đã trãi qua kinh nghiệm chiến tranh và hòa bình tại Srepok và liên tưởng so sánh sông Mekong, sông Hồng với sông Neva, sông Volga, những dòng sông Nga huyền thoại. Biển Đông sông Mekong nay đang trong vùng xoáy sôi động và dữ dội nhất thế giới cũng như biển Bantic và sông Neva trước đây đã từng là và nay tiếp tục là điểm nóng, vùng đất địa chính trị – lịch sử tàn khốc và dữ dội nhất thế giới. Đó là nơi cuốn hút hàng chục, hàng trăm triệu người vào những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Nơi mà giá trị của con người được đặt lên bàn cân sinh tử với sự lựa chọn tình yêu tổ quốc. Tôi đã từng đứng bên bờ sông sinh tử này, đã từng  câu cá tại dòng sông Srepok, thuở mà sông chưa làm đập thủy điện. Nay tôi về lặng ngắm dòng sông xưa với thao thiết một dòng sông chảy mãi… (xem tiếp…)

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Lộc xuân cuộc đời

locxuancuocdoiTÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Hoàng Kim

Lộc xuân cuộc đờiminh triết sống thung dung phúc hậu yêu thương sức khỏe trí tuệ đầm ấm với gia đình, người thân, thầy quý, bạn hiền giữa thiên nhiên trong lành và cộng đồng dân cư thân thiện. Đó là giấc mơ hạnh phúc.  Tôi thích sự phúc hậu của Giáo sư Mai Văn Quyền người Thầy nghề nông, sự lắng đọng minh triết Ngày xuân đọc Trạng Trình, sự tận tâm với đời qua Lời thầy dặn của giáo sư Norman Borlaug, giáo sư Lương Định Của con đường lúa gạo Việt Nam.

Ngày đầu xuân Đinh Dậu đọc Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, tôi tâm đắc với bài viết của tiến sĩ Trần Công Trục sự nhàn đàm điềm tĩnh mà minh triết. ‘Khi Trump không nói chơi, người Việt cần thay đổi‘. “Bài học quan trọng nhất từ sự thay đổi chính sách của Trump, với Việt Nam cũng như các nước châu Á-Thái Bình Dương khác, đó là độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đoàn kết trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung, trật tự và luật pháp quốc tế. Bài học quan trọng tiếp theo là tư duy khoa học khi nhìn nhận các vấn đề thời cuộc, tránh để cảm xúc chi phối. Chúng ta nên nhìn vào mục đích, hiệu quả chứ không nên nhìn vào cái vỏ bề ngoài. Chúng ta cần nghiên cứu sâu hơn nữa về các nhà lãnh đạo mới nổi cũng như chính sách của họ thay vì bình phẩm và chỉ trích”.

Lắng nghe cuộc sống (xem tiếp…)

donald-trump-tien-barack-obama

DONALD TRUMP TIỄN BARACK OBAMA.

Hoàng Kim

Nước Mỹ chuyển giao quyền lực trong hòa bình với sự đối kháng gay gắt về quan điểm. DONALD TRUMP TIỄN BARACK OBAMA rời Điện Capitol sau lễ nhậm chức hôm 20/1, ảnh AP là một bằng chúng đầy thuyết phục cho thấy. Donald Trump, Barack Obama, Hillary Clinton, Bill Clinton, Bush đều là những chính khách lớn. Tôi tâm đắc chép lại nguyên văn bài viết của tiến sĩ Trần Công Trục đăng ngày đầu xuân Đinh Dậu trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam với tựa đề ‘Khi Trump không nói chơi, người Việt cần thay đổi‘ để cùng bạn đọc lại và suy ngẫm.

KHI TRUMP KHÔNG NÓI CHƠI, NGƯỜI VIỆT CẦN THAY ĐỔI

Tiến sĩ Trần Công Trục ngày Mồng Một Tết ĐInh Dậu

(GDVN) – Bài học quan trọng nhất từ sự thay đổi chính sách của Trump, với Việt Nam cũng như các nước châu Á-Thái Bình Dương khác, đó là độc lập tự chủ, tự lực tự cường.

Tổng thống thứ 45 của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ ông Donald Trump đã tuyên thệ nhậm chức hôm 20/1 với bài diễn văn 16 phút đầy ấn tượng và khác thường.

Người ta không còn nghe thấy những lời hoa mỹ được các chính khách thường lặp đi lặp lại theo khuôn mẫu sau mỗi lần tiếp quản quyền lực.

Thay vào đó là những cái nhìn xoáy thẳng vào sự thật, tiếp theo đó là những chính sách đảo ngược tình thế, tống cựu nghênh tân.

Người viết dù rất ấn tượng với bài phát biểu của ông Donald Trump, xong vẫn muốn để một vài ngày lắng lại cảm xúc, quan sát tiếp những hành động đầu tiên của tân Tổng thống Hoa Kỳ để đưa ra một số nhận định cùng chia sẻ với bạn đọc Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam đầu xuân Đinh Dậu.

Mùa xuân này với người Mỹ và phần còn lại của thế giới, là một mùa xuân đặc biệt, bởi nó sẽ đánh dấu một bước khởi đầu mới, một bước ngoặt mới của đời sống chính trị, kinh tế quốc tế.

Trump không nói chơi

The New York Times ngày 10/1 cho biết, trước khi nhậm chức 10 ngày ông Donald Trump đã yêu cầu Quốc hội Mỹ bác bỏ Đạo luật Chăm sóc sức khỏe giá cả phải chăng (Obamacare) và thông qua một đạo luật mới về y tế một cách nhanh chóng.

Ông đã yêu cầu các nghị sĩ đảng Cộng hòa lập tức thực hiện điều này.

Trump tuyên bố, trì hoãn việc bãi bỏ Obamacare vài tuần hay phải mất vài năm để thực hiện một đạo luật thay thế là điều không thể chấp nhận với tân Tổng thống. [1]

Chỉ 3 ngày sau, cuộc bỏ phiếu diễn ra tại Hạ viện Mỹ với 227 phiếu thuận, 198 phiếu chống, kế hoạch hủy bỏ và thay thế Obamacare đã chính thức bắt đầu.

Vấn đề đặt ra là, tại sao một đạo luật được nhiều người tin là nhân đạo, là thành công của Tổng thống tiền nhiệm Barack Obama lại bị người kế nhiệm gạt phăng đi như thế?

Trump đã cho biết cụ thể nguyên nhân trong cuốn sách “Nước Mỹ nhìn từ bên trong. Làm thế nào để nước Mỹ què quặt hùng mạnh trở lại” của ông xuất bản cuối năm 2015, và đó cũng là cương lĩnh tranh cử của ông. [2]

Có thể tóm lược lý do phải hủy Obamacare và ra một đạo luật thay thế như thế này: muốn có chất lượng dịch vụ y tế tốt, phải có sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ.

Cạnh tranh vừa góp phần hạ thấp giá cả, vừa nâng cao chất lượng dịch vụ.
Nhà nước cần tạo môi trường và hành lang pháp lý đảm bảo cho sự cạnh tranh lành mạnh và minh bạch trong hệ thống y tế.

Tuy nhiên Obamacare lại chặn đứng sự canh tranh thật sự giữa các công ty bảo hiểm để có được khách hàng.

Dưới Đạo luật Obamacare, các công ty bảo hiểm lớn gần như độc quyền ở mỗi bang. Chính những công ty bảo hiểm này trả tiền cho các chính trị gia và dùng nó để “kiểm soát” họ.

Donand Trump đi lên từ một doanh nhân, ông phải lo cuộc sống cho hàng ngàn công nhân, trong đó có bảo hiểm y tế. Ông dùng tiền túi của mình để tranh cử, không tranh cử bằng túi tiền các doanh nghiệp.

Vậy giải pháp tân Tổng thống Mỹ đưa ra để thay thế Obamacare là gì? Theo ông, chính phủ không nên can thiệp vào lĩnh vực dịch vụ y tế, trừ trường hợp vạn bất đắc dĩ.

Công việc chính phủ Mỹ cần làm là tạo chính sách để đảm bảo cho các công ty bảo hiểm vững mạnh về tài chính, để nếu có một sự cố y tế nào đó, họ sẽ có đủ nguồn lực để xử lý.

Động thái quyết liệt thứ 2 cho thấy Donald Trump không nói chơi, đó là ông giữ đúng cam kết tranh cử, ngày đầu tiên làm việc ông đã ký quyết định chính thức rút Hoa Kỳ khỏi Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Quyết định này cũng giống việc hủy bỏ Obamacare, gây tranh cãi chính trong lòng nước Mỹ. Thậm chí vượt ra ngoài khuôn khổ nước Mỹ, nhiều người, nhiều nhà phân tích đã bày tỏ sự thất vọng về tân Tổng thống Hoa Kỳ.

Tại sao người ta thất vọng? Tại sao Trump cứ phải nhất quyết hủy TPP?

Cá nhân tôi cho rằng, người ta thất vọng vì thói quen, quán tính và nếp tư duy cũ.

Lâu nay dư luận vẫn coi Mỹ là nước phải gánh trách nhiệm đảm bảo an ninh cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương trước sự trỗi dậy về kinh tế – quân sự và theo đuổi yêu sách lãnh thổ phi lý từ Trung Quốc, vấn đề hạt nhân bán đảo Triều Tiên.

TPP được chính quyền Tổng thống tiền nhiệm Barack Obama và phần đông dư luận xem là một phần của chiến lược xoay trục, hay còn gọi là tái cân bằng sang châu Á – Thái Bình Dương, để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Còn Bắc Kinh thì xem hiệp định này cũng như chiến lược xoay trục là một hình thức “bao vây” họ. Có lẽ đây chính là lý do để người ta ủng hộ TPP, và tiếc nuối khi Trump quyết đinh rút Hoa Kỳ khỏi hiệp định này.

Lý do đã được tân Tổng thống Hoa Kỳ nêu ra trong chiến dịch tranh cử, cũng như diễn văn nhậm chức. Xin được trích dẫn một đoạn trong diến văn nhậm chức của ông để hiểu thêm quyết sách quan trọng này:

“Trong nhiều thập niên, chúng ta đã làm giàu cho công nghiệp nước ngoài trong khi công nghiệp Mỹ bị thua thiệt;

Trợ cấp cho quân đội các nước khác trong khi để mặc cho quân đội của chúng ta suy yếu một cách đáng buồn;

Chúng ta đã bảo vệ biên giới các quốc gia khác trong khi không bảo vệ biên giới của chính đất nước mình;

Chúng ta đã chi hàng nghìn tỷ đôla ở nước ngoài trong khi cơ sở hạ tầng của Mỹ rơi vào tình trạng hư hại, mục nát.

Chúng ta đã giúp các nước khác trở nên giàu có trong khi sự thịnh vượng, sức mạnh và niềm tự tin của đất nước chúng ta mai một dần.

Lần lượt, các nhà máy đóng cửa và rời lãnh thổ của chúng ta, mà không mảy may nghĩ đến hàng triệu, hàng triệu công nhân Mỹ bị bỏ lại phía sau.

Tầng lớp trung lưu của chúng ta đã bị tước mất tài sản, nhà cửa, để chia lại trên khắp thế giới.

Nhưng đó là quá khứ. Bây giờ chúng ta sẽ chỉ hướng đến tương lai.”

Giải pháp của Trump là: nước Mỹ sẽ phải tuân theo hai quy định đơn giản: Mua hàng Mỹ và mướn nhân công Mỹ.

Khi mất đi “chùm khế ngọt viện trợ” hay “chiếc ô an ninh” vốn đã quen sự hiện diện của nó từ lâu, người ta thấy băn khoăn, lo lắng, hụt hẫng…cũng là điều dễ hiểu.

Nhưng đã đến lúc tất cả các quốc gia phải tự lực cánh sinh, phải tìm đường đi cho riêng mình trong con đường chung hướng tới hòa bình, thịnh vượng, trật tự công bằng dựa trên luật pháp quốc tế mà nhân loại văn minh hướng tới. Không thể mãi dựa vào nước này hay nước khác.

Hợp tác dầu khí Việt – Mỹ ở Biển Đông, Rex Tillerson và Phán quyết Trọng tài

(GDVN) – Tôi có thể hiểu được tại sao Giáo sư Carl Thayer hay nhà báo Hellen Clark đánh giá cao về vai trò, ảnh hưởng của Ngoại trưởng đề cử Rex Tillerson.

Trump sẽ làm gương, thay vì xuất khẩu giá trị Mỹ

Cá nhân tôi cho rằng, đây là thay đổi căn bản và toàn diện nhất trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời tân Tổng thống Donald Trump. Trong diễn văn nhậm chức, ông khẳng định:

“Chúng ta sẽ xây dựng tình hữu nghị và thiện chí với các quốc gia trên thế giới – nhưng chúng ta làm như vậy với ý thức rằng tất cả các quốc gia có quyền đặt lợi ích của chính họ lên trên hết.

Chúng ta không tìm cách áp đặt lối sống của chúng ta lên bất cứ ai, mà thay vào đó là tự mình thể hiện như một tấm gương cho mọi người noi theo”.

Nói cách khác, nước Mỹ dưới thời Trump sẽ không đảm nhiệm vai “cảnh sát toàn cầu”, sẽ không làm chuyện “bao đồng” như các chính phủ tiền nhiệm.

Đồng thời, Mỹ dưới thời Trump cũng sẽ từ bỏ chính sách xuất khẩu hệ giá trị tự do, dân chủ Mỹ sang các nước khác. Nước nào thấy hay thì học, vấn đề của nước nào, nước đó tự giải quyết.

Điều này trái ngược hoàn toàn với nếp nghĩ Mỹ phải là lãnh đạo toàn cầu, Mỹ phải lo giải quyết mọi chuyện từ Trung Đông, Bắc Phi cho đến Đông Á.

Trump không nghĩ vậy, và tôi cho rằng, đó là suy nghĩ thực dụng, phù hợp với tương quan lực lượng giữa các siêu cường trong bối cảnh hiện nay và vì nước Mỹ.

Do đó, việc Trump rút Hoa Kỳ khỏi TPP biết đâu lại là một cơ hội, thay vì thách thức như nhiều người vẫn nghĩ.

Có phải Trump “nhường” địa vị hiện có của mình cho Trung Quốc?

Câu hỏi này không chỉ nhiều quan điểm trong dư luận Việt Nam đặt ra, mà ngay cả chính giới và học giả Hoa Kỳ cũng có nhiều người nhận định tương tự, ví như Thượng nghị sĩ John McCain, hay Giáo sư Jonathan London.

Tôi thì không cho rằng quyết định rút khỏi TPP làm suy yếu vai trò, ảnh hưởng của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương. Ngược lại, nó có thể làm cho Washington mạnh thêm.

Thứ nhất, bản chất TPP là một hiệp định về tự do thương mại, nhưng lâu nay nhiều người lại chỉ coi trọng giá trị an ninh, địa- chính trị, địa- chiến lược của nó.

Việt Nam là một thành viên tham gia đàm phán, ký kết TPP với nhiều kỳ vọng về cơ hội, thị trường cho hàng hóa, sản phẩm Việt Nam vào thị trường Mỹ và các nước tham gia TPP.

Nhưng cá nhân tôi quan sát thấy, dường như rất ít người dân và doanh nghiệp hiểu tường tận về TPP và chủ động chuẩn bị cho sự gia nhập sân chơi này.

Trên báo chí, TPP thường được gắn với câu chuyện an ninh khu vực, quan hệ Trung – Mỹ và cả chuyện Biển Đông.

Với tâm thế và sự chuẩn bị như vậy, tham gia TPP lợi chưa thấy đâu, nhưng nguy cơ Việt Nam trở thành nơi các sản phẩm Trung Quốc “rửa” xuất xứ để vào thị trường TPP là khá rõ ràng.

Câu chuyện thép Trung Quốc núp xuất xứ Việt Nam để vào châu Âu là một bài học.

Còn tại sao tôi nói rút khỏi TPP có thể giúp Mỹ tăng vai trò ở châu Á – Thái Bình Dương và không có chuyện “nhường ngôi” cho Trung Quốc? Đó là vì, cuộc so găng Trung – Mỹ quyết định bởi “nội công” chứ không phải “ngoại lực”.

Sở dĩ Bắc Kinh làm mưa làm gió trong hoạt động kinh tế đối ngoại, sử dụng kinh tế – thương mại như công cụ để thực hiện các ý đồ chính trị là vì, họ có nguồn ngoại tệ dồi dào nhờ thống trị thị trường hàng giá rẻ gần như toàn thế giới trong mấy chục năm phát triển hòa bình sau Chiến tranh Thế giới II.

Sở dĩ Mỹ đứng trước nguy cơ bị Trung Quốc qua mặt là vì một thời gian dài chạy theo chính sách “bao đồng”, “cảnh sát toàn cầu” mà không lo củng cố nội lực.

“Canh bạc” tiên phát chế nhân của Thủ tướng Shinzo Abe và tác động đến Biển Đông

(GDVN) – Tùy theo cách tiếp cận của ông Donald Trump, Nhật Bản có thể phải đánh giá lại kỹ lưỡng cách đối phó với Trung Quốc trên mặt trận an ninh.

Do đó, sự thay đổi của Trump là cần thiết. Chỉ có như thế, nước Mỹ mới có thể mạnh trở lại. Dưới thời Obama, Trung Quốc tự tung tự tác quân sự hóa Biển Đông, Mỹ có làm gì được họ?

Vậy hy vọng gì vào TPP và chiến lược tái cân bằng ngăn được Trung Quốc tiếp tục độc chiếm Biển Đông? Thậm chí, nó chỉ tạo thêm những cái cớ để Trung Quốc lấn thêm từng bước.

Rút khỏi TPP, không có nghĩa là nước Mỹ dưới thời Trump rút khỏi châu Á – Thái Bình Dương hay Biển Đông. Đơn giản là Trump sẽ sử dụng nước cờ địa- chính trị khác, con bài chiến lược khác để kiềm chế sự leo thang của Trung Quốc.

Một trong số đó là vấn đề Đài Loan. Thời gian tới, có thể sẽ có nhiều dấu hiệu, bằng chứng hơn nữa về điều này, vì ông mới vừa nhậm chức. Tôi cho rằng, đây mới là con bài hiệu quả để Mỹ chơi với Trung Quốc trên bàn cờ Biển Đông.

Bài học nào cho Việt Nam và các nước ở khu vực Biển Đông?

Bài học quan trọng nhất từ sự thay đổi chính sách của Trump, với Việt Nam cũng như các nướ châu Á-Thái Bình Dương khác, đó là độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đoàn kết trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung, trật tự và luật pháp quốc tế.

Tư duy dựa vào Mỹ về an ninh, dựa vào Trung Quốc về kinh tế đã chứng minh là lựa chọn lợi bất cập hại.

Hai quốc gia thích ứng nhanh nhất với sự thay đổi thời cuộc và chính trường Hoa Kỳ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương là Nhật Bản và Philippines.

Mỹ chỉ bảo vệ lợi ích của Mỹ, chúng ta và bất cứ quốc gia nào cũng thế. Tuy nhiên ở khu vực Biển Đông, có lợi ích chung cho tất cả các bên, đó là hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải – hàng không và luật pháp quốc tế.

Thay vì tìm cách dựa vào Mỹ để đối phó với Trung Quốc, chúng ta cần tìm hiểu các chính sách của 2 cường quốc này, để hướng tới một tiếng nói chung mà các bên chấp nhận được.

Muốn làm điều đó, chúng ta cần phải có tư duy độc lập. Lệ thuộc ngay từ tư duy vào bất cứ quốc gia nào, cũng sẽ dẫn đến sự lệ thuộc nhiều mặt trong thực tế.

Về mặt kinh tế, đồng tiền Trung Quốc tuy không đi kèm điều kiện khắt khe về chính trị, nhân quyền như nguồn vốn phương Tây, nhưng nó lại luôn đi kèm với công nghệ lạc hậu, ô nhiễm, doanh nghiệp – nhà thầu và lao động chân tay Trung Quốc. Đằng sau đó là cả một hệ lụy.

Đàm phán cũng là một mặt trận, một cuộc chiến đầy cam go, phức tạp

(GDVN) – Đàm phán mới làm cho “đấu tranh và kháng cự” phát huy được hiệu quả của nó: nói có người nghe, chứ không phải nói chỉ để cho mình nghe, để “tự sướng” với nhau.

Tôi không tin Trung Quốc có khả năng thay thế vai trò của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương chỉ với khoảng 240 tỉ USD họ tuyên bố qua Quỹ Con đường Tơ lụa, AIIB hay “sáng kiến” một vành đai, một con đường.

Bản thân Trung Quốc cũng đang chật vật tái cơ cấu nền kinh tế và tìm cách đẩy các doanh nghiệp, nhà máy, công nghệ ô nhiễm lạc hậu ra nước ngoài theo Con đường tơ lụa mà lại mơ lãnh đạo kinh tế toàn cầu chỉ là chuyện viển vông, mò trăng đáy nước.

Vì thế, nên coi Trung Quốc là một đối tác kinh tế bình đẳng, làm việc với họ trên cơ sở sòng phẳng và cùng có lợi. Chấp nhận dễ dãi các nhà thầu Trung Quốc, chúng ta cũng như nhiều nước trong khu vực đã, đang và sẽ phải trả giả.

Tôi cho rằng, những quan điểm tin là Trump rút Mỹ khỏi TPP sẽ khiến Việt Nam “lệ thuộc” vào Trung Quốc là không chính xác. Nó không những chẳng giúp nước ta mạnh lên, mà chỉ là tư duy xui Việt Nam lệ thuộc nước này, thay vì nước khác.

Các con số thống kê về quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc cho thấy quốc gia láng giềng này là một thị trường lớn có sức ảnh hưởng mạnh, thậm chí có thể chi phối một số lĩnh vực, ngành sản xuất.

Điều đó tất nhiên là không ổn, và chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục mở cửa, đa dạng hóa thị trường.

Nhưng không thể phủ nhận thực tế rằng, trong những năm tháng chiến tranh và bị cấm vận sau chiến tranh, Trung Quốc đã viện trợ, giúp đỡ Việt Nam rất nhiều về tiền của, vật tư.

Muốn mạnh lên, chỉ có cách không ngừng đổi mới, tự lực tự cường, nghiên cứu nắm bắt các xu thế chính sách các nước lớn có lợi cho hòa bình, ổn định và sự phát triển của Việt Nam để tận dụng tối đa các lợi thế, đòn bẩy và nguồn lực.

Câu chuyện tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, hàng hải giữa Việt Nam – Trung Quốc và một số quốc gia nữa là một vấn đề khác, cần được giải quyết trên cơ sở pháp lý quốc tế, trong đó quan hệ thân thiện về chính trị là một lợi thế.

Bài học quan trọng tiếp theo là tư duy khoa học khi nhìn nhận các vấn đề thời cuộc, tránh để cảm xúc chi phối. Chúng ta nên nhìn vào mục đích, hiệu quả chứ không nên nhìn vào cái vỏ bề ngoài.

Chúng ta cần nghiên cứu sâu hơn nữa về các nhà lãnh đạo mới nổi cũng như chính sách của họ thay vì bình phẩm và chỉ trích.

Tôi thấy rất lạ là nhiều người trong chúng ta tỏ ra khá cay nghiệt với ông Rodrigo Duterte, ông Donald Trump hay ông Tập Cận Bình, ngay cả với những công việc nội bộ của đất nước họ và người dân của họ cũng không phản đối thái quá.

Muốn nước nhà mạnh lên, thiết nghĩ phải thay đổi triệt để 2 điều này trong tư duy, suy nghĩ và hành động của mỗi người.

Ngày đầu xuân Đinh Dậu xin có mấy lời dông dài chia sẻ với bạn đọc, chúc Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam và quý bạn đọc xa gần một năm mới an khang, thịnh vượng và đóng góp nhiều hơn vì sự tiến bộ của cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://www.nytimes.com/2017/01/10/us/repeal-affordable-care-act-donald-trump.html

[2] http://nhanam.vn/tin-tuc/nuoc-my-que-quat-qua-goc-nhin-cua-donald-trump

Phat

MINH TRIẾT SỐNG THUNG DUNG PHÚC HẬU

Hoàng Kim

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Bài giảng đầu tiên của đức Phật

Tứ Diệu đế – Sự khổ: Nguyên nhân, Kết quả và Giải pháp – là bài giảng đầu tiên của Phật (Thích ca Mầu ni -Siddhartha Gamtama), nhà hiền triết phương đông cổ đại. Người là hoàng tử Ấn Độ, đã có vợ con xinh đẹp nhưng trăn trở trước sự đau khổ, thiếu hoàn thiện và vô thường (Dukkha) của đời người mà Phật đã xuất gia vào năm hai mươi chín tuổi để đi tìm sự giác ngộ. Người đã dấn thân suốt sáu năm trời tự mình đi tìm kiếm những vị hiền triết nổi tiếng khắp mọi nơi trong vùng để học hỏi và thực hành những phương pháp khác nhau nhưng vẫn chưa đạt ngộ.  Cho đến một buổi chiều ngồi dưới gốc bồ đề, thốt nhiên Người giác ngộ chân lý  mầu nhiệm lúc ba mươi lăm tuổi. Sau đó, Người đã  có bài giảng đầu tiên cho năm người bạn tu hành. Mười năm sau, Phật thuyết pháp cho mọi hạng người và đến 80 tuổi thì mất ở Kusinara (Uttar Pradesh ngày nay). Học thuyết Phật giáo hiện có trên 500 triệu người noi theo.

Bài giảng đầu tiên của Phật là thấu hiểu sự khổ (dukkha), nguyên nhân (samudaya), kết quả  (nirodha) và giải pháp (magga). Tôn giáo được đức Phật đề xuất là vụ nổ Big Bang trong nhận thức, san bằng mọi định kiến và  khác hẵn với tất cả các tôn giáo khác trước đó hoặc cùng thời trong lịch sử Ấn Độ cũng như trong lịch sử nhân loại. Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, hết thảy các pháp là vô ngã. Mục đích là vô ngã là sự chấm dứt đau khổ và phiền muộn để đạt sự chứng ngộ bất tử, Niết bàn.

Kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn, chứ không phải là con người thần thánh hoặc chân lý tuyệt đối. Vị trí độc đáo của Phật giáo là một học thuyết mang đầy đủ tính cách mạng tư tưởng và cách mạng xã hội (1). Tiến sĩ triết học Walpola Rahula là giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Ceylan (Pháp) đã tìm tòi văn bản cổ và giới thiệu tài liệu nghiêm túc, đáng tin cậy này (Lời Phật dạy. Lê Diên biên dịch). (2)

xem tiếp… https://hoangkimlong.wordpress.com/category/minh-triet-song-thung-dung-phuc-hau/

Giacmohanhphuc1

GIẤC MƠ HẠNH PHÚC

Hoàng Kim

nhắm mắt lại đi em
để thấy rõ giấc mơ hạnh phúc
trời thanh thản xanh
đêm nồng nàn thở
ta có nhau trong cuộc đời này.
nghe hương tinh khôi đọng mật
quyến rũ em và khát khao anh
mùi ngây ngất đằm sâu nỗi nhớ
một tiếng chuông ngân
thon thả đầu ghềnh.

nhắm mắt lại đi em
hạnh phúc đâu chỉ là đích đến
hạnh phúc là con đường trãi nghiệm
vỗ về, chờ đợi, nhớ thương.

nhắm mắt lại đi em.
trong giấc mơ của anh
có em và rừng thiêng cổ tích
có suối nước trong veo như ngọc
có vườn trúc và ngôi nhà tranh
có một đàn trẻ thơ tung tăng
heo gà chó mèo ngựa trâu
nhởn nhơ trên đồng cỏ
tươi xanh.

nhắm mắt lại đi em,
tận hưởng thú an lành.

Nhắm mắt lại đi em
Giấc ngủ ngoan giấc mơ hạnh phúc
I will be right here waiting for you
Em sẽ ở đây đợi anh,
Run away with me
Đồng hành với anh
Bài ca thời gian
Bài ca yêu thương
Suốt đời tỉnh thức
Ta có nhau trong cuộc đời này.

Giacmohanhphuc2

NHỮNG LỜI MINH TRIẾT PHẬT DẠY

Không có đường đến hạnh phúc. Hạnh phúc là con đường.
Ai biết nhìn vào trong tự thân mình thì người đó tỉnh thức.
(xem tiếp…    https://hoangkimlong.wordpress.com/category/giac-mo-hanh-phuc/)


DẠY VÀ HỌC. Câu chuyện vinh danh hạt ngọc Việt, hạt gạo làng ta, hạt vàng Việt Nam có con đường lúa gạo Lương Định Của.  Đó là câu chuyện dài về một trí thức lớn gắn mình với ruộng đồng, với giảng dạy nghề nông, hiến mình cho con đường lúa gạo Việt Nam tỏa rộng. Lương Định Của (1920 – 1975) là giáo sư tiến sỹ nông học ngành di truyền giống.Thầy là người có công lớn đặt nền móng cho nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại, chấn hưng giáo dục và nghề lúa Việt Nam. Nhiều thế hệ học trò do Thầy đào tạo đã trở thành cán bộ đầu đàn trong các lĩnh vực khoa học nông nghiệp với nhiều người xuất sắc. Nhiều “giống bác sĩ Của” thương hiệu Việt nổi tiếng một thời như: lúa Nông nghiệp 1 (NN1), lúa chiêm 314, NN75-1, NN8-388, lúa mùa Saisubao, lúa xuân sớm NN75-5, giống dưa lê, cà chua, khoai lang, dưa hấu không hạt, chuối, rau, táo… Giáo sư đã đề xướng kỹ thuật thâm canh lúa “cấy nông tay thẳng hàng” “bờ vùng, bờ thửa” “đảm bảo mật độ” được hàng chục triệu nông dân áp dụng, tạo ra cuộc cách mạng trong nông nghiệp. Ngôi nhà niên thiếu và phần mộ tổ tiên, cha mẹ song thân của Thầy tại ấp Ngãi Hoà, cách trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã Đại Ngãi khoảng 3 km, và phải đi bằng xe ôm vì lối đi nhỏ, thuần phác, khiêm nhường giữa vùng quê Nam Bộ. Xe ôm chạy hun hút dưới vòm dừa nước y như trong vườn thiêng cổ tích. Chúng tôi đến thăm cụ Sáu, em gái Thầy và thắp hương khu mộ gia đình Thầy khi trăng rằm tháng giêng lồng lộng đang lên. Ruộng lúa Đại Ngãi, Trường Khánh xanh ngát dưới ánh trăng.

xem tiếphttps://hoangkimlong.wordpress.com/category/luong-dinh-cua-con-duong-lua-gao/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Ngày xuân đọc Trạng Trình

ngayxuandoctrangtrinh

NGÀY XUÂN ĐỌC TRẠNG TRÌNH

Hoàng Kim

“Thanh nhàn vô sự là tiên” , ngày xuân đọc Trạng Trình là học phong thái thung dung tự tại, gần với thiên nhiên và dân chúng. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) là nhà giáo, nhà tiên tri, nhà thơ triết lý, nhà văn hoá lớn của thời Lê – Mạc, bậc kỳ tài yêu nước thương dân, xuất xử hợp lý, hợp thời, sáng suốt. Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện khả năng dự báo thiên tài và tầm nhìn kiệt xuất của một trí thức lớn. 

Bài tựa về Trạng Trình của tiến sĩ Vũ Khâm Lân có vị trí trọng yếu để tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tác phẩm được viết năm 1743 cho tập gia phả dòng họ Trạng Trình sau khi cụ Trạng đã mất khoảng 158 năm. Áng văn xuất sắc này là viên ngọc rất quý của người xưa xứng đáng được đọc đi đọc lại nhiều lần. Hoàng Kim duyên may sưu tầm được sách hay nay tuyển chọn, biên soạn thành chín mục, hổ trợ dạy và học, đăng dần trên blog: Ngày xuân đọc Trạng Trình (1); Nguyễn Bỉnh Khiêm trí tuệ bậc Thầy (2); Bài tựa Nguyễn Công Văn Đạt phổ ký của TS. Vũ Khâm Lân (3)  Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm (4); Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm (5). Thầy bạn Nguyễn Bỉnh Khiêm (6); Học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm (7); Giai thoại về Trạng Trình (8); Cảm nhận về Trạng Trình (9).

Ngày xuân đọc Trạng Trình để học gương đạo đức thương dân, học sự minh triết thuận lý, tuỳ thời của kẻ sĩ trước biến động phức tạp. Học sự thanh nhàn vô sự là tiên, thung dung tự tại, gần với thiên nhiên và dân chúng. Học những trang thơ văn, sấm ký, thấm đẫm tình người và sự minh triết. Học những giai thoại, lời truyền, tâm thức dân gian, di tích lịch sử- văn hoá về Người.

Ngày xuân đọc Trạng Trình, càng thấy sự DẠY VÀ HỌC thật tâm huyết, trí tuệ và vinh dự biết bao!

nguyenbinhkhiem

NGUYỄN BỈNH KHIÊM TRÍ TUỆ BẬC THẦY

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) là nhà giáo, nhà tiên tri, nhà thơ triết lý, nhà văn hoá lớn của thời Lê -Mạc.

Nguyễn Bỉnh Khiêm, sinh năm Tân Hợi (1491) đời vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Ðức thứ 21, quê gốc ở huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Ông sinh cùng thời với Nostradamus (1503-1566) là nhà tiên tri đại tài của phương Tây. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo.Ông khôi ngô tuấn tú và có tư chất thông minh khác thường, một tuổi đã nói sõi, năm tuổi đã thuộc nhiều thơ văn chữ Nôm truyền miệng và kinh sách được mẹ dạy cho. Năm 1497, vua Lê Thánh Tông mất, truyền ngôi cho Lê Hiếu Tông. Khi đó mới bảy tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phải sống với cha vì mẹ đã bỏ nhà đi do bất đồng trong dạy con.

Lớn lên, ông theo học người thầy nổi tiếng tinh thông Lý học là Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Ông có nhân cách và tài năng lỗi lạc nên đã được thầy giảng dạy Bát quái đồ, Kinh Dịch, Lý học và trao truyền cho bộ sách Thái Ất Thần Kinh.

Nguyễn Bỉnh Khiêm khi vào tuổi trưởng thành thì nhà Lê cũng bắt đầu giai đoạn cực kỳ suy yếu dưới thời vua Lê Uy Mục (1505-1509) “vua nghiện rượu, hay giết người, hoang dâm, thích ra oai, giết hại người tôn thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại chuyên quyền, trăm họ oán giận, người đời gọi là vua Quỷ”. Tiếp đó là triều vua Lê Tương Dực (1510- 1516) “mặt thì đẹp mà người lệch,tính thích dâm, là vua Lợn” “ham chơi mà không quyết đoán, việc thổ mộc bừa bãi, nhân dân thất nghiệp, trộm cướp nổi dậy” (Đại Việt sử ký toàn thư). Năm 1508, Mạc Đăng Dung vốn là chàng đánh cá khoẻ ở làng Cổ Trai thuộc vùng Đồ Sơn đã thi trúng võ cử được lên chức Đô chỉ huy sứ. Năm 1526, ông được phong tước Thái Sư và đã hiếp vua phải nhường ngôi để lập ra nhà Mạc. Trong nước biến loạn, nhà Mạc tuy thay thế nhà Lê nhưng chưa được lòng dân. Cựu thần nhà Lê là Lê Ý và Nguyễn Kim dựng cờ “Lê Trung hưng” ở Thanh Hoá. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ở ẩn suốt hai mươi năm, cùng hai người bạn thân là Bùi Doãn Đốc và Nguyễn Thừa Hưu (tam hữu: Tùng, Mai, Trúc) không ra dự thi tiến sĩ.

Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc 45 tuổi, thời Mạc Đăng Doanh lên nối ngôi năm Đại Chính thứ sáu (1535), thì ông mới ra thi và đã đỗ Trạng nguyên. Hai bạn thân của ông đã đỗ Bảng nhãn và Thám hoa. Vua Mạc cất ông lên làm Ðông các Hiệu thư rồi được thăng tới chức Lại Bộ Tả thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ.

Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan Tam phẩm triều Mạc 8 năm. Sau khi vua giỏi Mạc Đăng Doanh đột ngột từ trần (1540), nhà Mạc không có vua sáng nối nghiệp. Ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần dưới triều vua Mạc Phúc Hải nhưng không được vua nghe. Năm 1542, ông đã xin cáo quan ở tuổi 53.

Sau khi về trí sĩ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mở trường dạy học, dựng am Bạch Vân, quán Trung Tân cạnh sông Hàn Giang, lấy hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ và học trò gọi ông là “Tuyết Giang Phu tử”. Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như: Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nhà ngoại giao lỗi lạc; Nguyễn Dữ, tác giả “Truyền kỳ mạn lục”; Lương Hữu Khánh, Lễ bộ Thượng thư của triều Lê Trung hưng; Giáp Hải, Trạng nguyên của triều Mạc; Nguyễn Quyện, danh tướng của triều Mạc; Trương Thời Cử, Trương Thời Trung, Nguyễn Mãn, Đinh Bá Lộc, Nguyễn Văn Chính … đều là những nhân tài kiệt xuất một thời. Cụ ngay cả khi đã lui về dạy học, vẫn được các vua Mạc đến vời ra giúp hoặc hỏi về mưu lược. Nguyễn Bỉnh Khiêm mặc dù tôn phù nhà Mạc nhưng chúa Trịnh, chúa Nguyễn đều kính phục và vấn kế.

Nguyễn Bỉnh Khiêm được dân gian truyền tụng và suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam. Ông đã cho ra đời “Sấm ký” là những lời tiên tri mà người đời gọi là “Sấm Trạng Trình. Tương truyền, khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Khi vua Lê Trung Tông chết không có con nối, Trịnh Kiểm sai người đến hỏi ông. Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là nói với bề tôi họ Trịnh: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản” (ý nói giữ là tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe theo, sai người tìm người tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”. Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc “Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể” (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà văn hoá lớn, nhà thơ triết lý, nhà hiền triết thông kim bác cổ, tài danh lỗi lạc “tác giả lớn của văn học thế kỷ XVI và của cả giai đoạn văn học thế kỷ XVI, XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII” (Từ điển Văn học Việt Nam). Ông đã để lại tập thơ chữ Nôm “Bạch Vân Quốc ngữ thi tập” “có cả ngàn bài” theo lời “Bài tựa” của chính ông, và nhiều bài thơ chữ Hán. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cập đến nhiều vấn đề hiện thực xã hội, là tiếng nói về đạo lý ở đời. Vũ Khâm Lân đã khen “văn chương của tiên sinh thường bộc lộ cái tấc dạ ưu thời mẫn thế, không cần điêu luyện mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà ý vị, câu câu đều có ngụ ý răn đời” “ý nghĩa thanh cao mà siêu thoát”, Phan Huy Chú thì cho rằng đọc qua thơ ông, dù nghìn năm sau còn tưởng như trăng trong, gió mát”.

Cụ từ trần ngày 28 tháng 11 năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 95 tuổi. Vua Mạc Mậu Hợp truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm là Lại Bộ Thượng Thư Thái Phó Trình Quốc Công, nên nhân dân quen gọi là Trạng Trình.

Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết trong bộ sách lớn Lịch triều hiến chương lọai chí: “Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở”. La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp khi về thăm đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có bài thơ Quá Trình tuyền mục tự (Qua thăm đền cũ Trình tuyền) đã xem Trình tuyền là người có tài “Huyền cơ tham tạo hóa” (nắm được huyền vi của tạo hóa). Tiến sĩ thời nhà Hậu Lê Vũ Khâm Lân đã làm bia ở đền Trạng Trình và nói rằng danh tiếng Trạng Trình “ như núi Thái sơn, sao Bắc Ðẩu / nghìn năm sau như vẫn một ngày/. Đạo Cao Đài đã suy tôn ông là một trong ba vị Thánh cùng với Tôn Trung Sơn và Victor Hugo.

BÀI TỰA NGUYỄN CÔNG VĂN ĐẠT PHỔ KÝ

Tiến sĩ Vũ Khâm Lân viết năm 1743
Trích Gia phả dòng họ Trạng Trình

DẠY VÀ HỌC. Hoàng Kim 2006 trích dẫn: Vũ Khâm Lân còn có tên là Vũ Khâm Thận, sinh năm 1702 tại làng Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Ông đỗ tiến sĩ năm 1727 làm quan đến chức Tham tụng, Ngự Sử đài, tước Ôn Quận công. Bài tựa này được chép trong quyển “Công Dư Tiệp Ký” (Những chuyện ghi nhanh trong lúc rãnh việc quan) của Vũ Phương Đề, cuốn 3, tờ 166- 175. Quyển “Công Dư Tiệp Ký” là của Vũ Phương Đề do vậy có người nghi vấn tác giả bài tựa này là Vũ Phương Đề, sinh năm 1697, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là Bình Giang, Hải Dương, đỗ tiến sĩ năm 1736. Căn cứ trên văn bản thì tác giả “Bài tựa” này là của Vũ Khâm Lân mà Vũ Phương Đề là người chép lại. “Bài tựa” này tuyển chọn từ trích dẫn của nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế năm 2000. Bản dịch tại quyển “Bạch Vân Quốc ngữ Thi tập” của Nguyễn Quân, nhà xuất bản Sống Mới- Sài Gòn năm 1974. Đây là một văn bản quý đã trải qua sự sàng lọc của thời gian 269 năm (1743- 2012). Nguồn tư liệu chuẩn mực, tin cậy với những dẫn liệu chọn lọc và xác thực, lời văn chặt chẽ, súc tích, khoáng đạt.

“Trình Quốc công Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (còn có tên khác là Nguyễn Văn Đạt) tự Hành Phủ, đạo hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Tiên tổ ngày xưa tu nhân, tích đức nhiều, nay không thể khảo cứu được, chỉ biết từ đời cụ tổ được tập phong Thiếu bảoTư Quận công, cụ bà được phong Chính phu nhân Phạm Thị Trinh Huệ. Nguyên trước các cụ lập gia cư ở nơi có núi sông bao bọc hợp với kiểu đất của Cao Biền, tay phong thủy trứ danh đời Đường.

Phụ thân cụ Trạng được tặng phong tước Thái bảo Nghiêm Quận công, mỹ tự là Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên tiên sinh. Cụ Văn Định học rộng, tài cao, có đưc tốt và đã có lần sung chức Thái học sinh đời Lê.

Thân mẫu cụ Trạng được phong tặng tước Từ Thục phu nhân. Bà là người làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh cũng thuộc tỉnh Hải Dương, con gáí quan Thượng thư Bộ Hộ Nhữ Văn Lân. Bà thông minh, học rộng, văn hay, lại tinh thông tướng số. Ngay đời Hồng Đức (niên hiệu vua Lê Thánh Tôn), bà đã đoán trước rằng vận mệnh nhà Lê chỉ bốn mươi năm nữa là suy đồi khó gỡ. Bà có chí hướng muốn phò vua giúp nước như một bậc trượng phu nên chỉ chịu kết duyên khi gặp người trai vừa ý. Bà kén chồng đến ngót hai mươi năm, cho đến khi gặp ông Văn Định là người có tướng sinh quý tử, mới thành lập gia thất.

Sau khi lấy ông Văn Định, có lần qua bến đò Hàn thuộc sông Tuyết (sông thuộc làng Cổ Am) gặp một chàng thanh niên khác, bà nhìn người này và ngạc nhiên than rằng “lúc trước không gặp, ngày nay sao đến đây làm gì?”. Bọn theo hầu không hiểu nghĩa gì, cầm roi toan đánh đuổi chàng thanh niên ấy, bà cản lại và hỏi tên họ. khi được biết, bà buồn rầu hối hận đến cả mấy năm trời. Người thanh niên ấy không ai khác hơn là Mạc Đăng Dung, Thái Tổ của nhà Mạc sau này.

Bỉnh Khiêm sinh năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm Tân Hợi 1491), lúc nhỏ có vóc dáng kỳ vĩ, chưa đầy một năm đã nói sõi. Một hôm vào buổi sáng sớm, Văn Định được bế cậu trên tay, bỗng thấy cậu nói ngay rằng: “Mặt trời mọc ở phương Đông” ông lấy làm lạ. Xem đó đủ biết con người khác thường, từ lúc thơ ấu đã có vẻ khác thường.

Năm Bỉnh Khiêm được bốn tuổi, thân mẫu dạy cậu học các bài chính nghĩa của Kinh, Truyện (tức các bài chính của các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh). Bà dạy bằng cách khi ru, khi hát, nhưng dạy đến đâu cậu thuộc lòng đến đó. Cũng vào khoảng năm ấy, về thi ca, Bỉnh Khiêm đã thuộc vanh vách đến cả mấy chục bài quốc âm (thơ Nôm)…

… Trong tám năm ở triều, tiên sinh dâng sớ hạch tội mười tám kẻ lộng thần, xin đem ra chém để làm gương, bởi vì bản tâm. Tiên sinh chỉ muốn trăm họ được an vui, những người tàn tật mù loà được hành nghề hát xướng bói toán nhưng rồi thấy người con rể là Phạm Dao ỷ thế lộng hành, tiên sinh sợ liên luỵ đến mình nên cáo quan về nghỉ. Năm ấy là năm Quảng Hoà thứ hai (1542) đời Hiến Tông nhà Mạc, tiên sinh mới 52 tuổi.

Treo mũ về quê, tiên sinh dựng am Bách Vân ở phía đông làng và vẫn lấy biệt hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Tiên sinh bắc hai chiếc cầu là Nghinh Phong và Trường Xuân để hóng mát, đồng thời dựng một cái quán ở bến sông Tuyết gọi là Trung Tân quán, hiện nay quán này còn tấm bia đá làm di tích để lại.

Ngoài ra, tiên sinh còn tu bổ chùa chiền. Tiên sinh thường cùng các lão tăng đàm luận và thường khi thả thuyền dạo chơi Kim hải hay Úc hải để xem người đánh cá. Các chỗ danh lam thắng cảnh như Yên Tử, Ngoạ Vân, Kinh Chủ, Đồ Sơn, nơi nào tiên sinh cũng chống gậy trèo lên, thừa hứng ngâm vịnh, có khi quên cả sớm chiều. Mỗi khi ngắm cảnh non cao chót vót, rừng rậm xanh rờn, gió động rì rào, chim ca thánh thót, tiên sinh lại hớn hở tự đắc, phiêu phiêu như một vị lục địa thần tiên (thần tiên ở thế gian).

Thời gian tiên sinh dưỡng lão ở quê hương, tiên sinh không tham dự quốc chính nhưng nhà Mạc vẫn kính như bậc thầy. Mỗi khi có việc trọng đại, vua Mạc thường sai quan về hỏi hoặc mời lên kinh đô nói chuyện. Tiên sinh dâng lên ý kiến được bổ ích rất nhiều. Mỗi lần lên kinh, xong việc, tiên sinh lại xin về, triều đình ân cần lưu lại, thế nào cũng không được. Sau tiên sinh được nhà Mạc xếp vào hạng đệ nhất công thần, phong tước Trình Tuyền hầu, rồi thăng dần tới tước Lại bộ Thượng thư, Thái phó, Trình Quốc công. Ông bà hai đời cũng được truy tặng chức tước, ba người vợ và bảy người con cũng được thứ tự phong hàm.

Năm Cảnh Lịch thứ ba (1555) đời Mạc Tuyên Tôn (Mạc Phúc Nguyên) Thư Quốc công Nguyễn Thiến (người làng Khoa Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông) cùng con trai là Quyện và Miễn (cũng đọc Mồi) về hàng quốc triều (nhà Lê), tiên sinh làm bài thơ gửi cho Thiến trong có câu: Cố ngã tồn cô duy nghĩa tại/ Tri quân xử biến khởi cam tâm (Ta giúp con côi vì nghĩa trọng/ Ông khi xử biến khá cam lòng) ; Lại có câu: “Vận chuyển nhất chu ly phục hợp/ Tràng giang khởi hữu hạn đông nam (Vận chuyển một vòng tan lại hợp/ Trường giang đâu có hạn đông nam). Thiến xem thơ, trong lòng cảm thấy bứt rứt. Quyện là viên tướng có tài, luôn luôn lập được chiến công. Mạc Phúc Nguyên lấy làm lo ngại sai vời tiên sinh lên hỏi kế. Tiên sinh tâu: “Cha Quyện với hạ thần là chỗ bạn chí thân ngày trước, có lúc đã ở tại nhà thần, nay ra trấn thủ Thiên Trường, đang ở vào tình thế bán tín bán nghi nay muốn bắt lại, thật chẳng khó gì, cũng như thò tay vào túi để móc một vật gì ra thôi”. Tiên sinh nói đoạn, xin Mạc Phúc Nguyên giao cho một trăm tráng sĩ, sai đi phục sẵn trên bắc ngạn, rồi tiên sinh gửi thư mời Quyện sang bên thuyền uống rượu để gặp và nói chuyện tâm tình. Quyện nhận lời ngay; thừa lúc quá say, phục binh nổi dậy, bắt cóc đem về nam ngạn. Quyện cảm động quá khóc nức nở. Tiên sinh dẫn Quyện theo lại nhà Mạc và sau đó trở thành một danh tướng lừng lẫy. Nhờ đó nhà Mạc duy trì được mấy chục năm nữa.

Trong thời gian ấy, đức Thế Tổ (tức Trịnh Kiểm) nhà chúa Trịnh đã dấy nghĩa binh, thanh thế vang dội khắp xa gần; trong trận giao tranh ở cửa biển Thần phù, Khiêm Vương Mạc Kính Điển (con thứ của Mạc Đăng Doanh) thua to. Thừa thắng, đức Thế tổ tiến binh theo đường núi phía tây ra tiến đánh Kinh Bắc, trong ngoài nơm nớp lo sợ. Nhà Mạc nhờ tiên sinh hiến kế rất nhiều, mới ổn định được tình thế lúc ấy.

Năm Diên Thành thứ 8 (1585) đời Mạc Mậu Hợp, tiên sinh lâm bệnh. Vua Mạc sai sứ đến thăm và hỏi kế quốc sự. Tiên sinh trả lời: Sau này nước nhà có bề gì thì đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng thêm được vài đời (Tha nhật quốc sự hữu cố/Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế). Qủa nhiên, cách bảy năm sau, nhà Mạc mất, các chuà nhà Mạc như Càn Thống, Long Thái, Thuận Đức, Vĩnh Xương rút lên Cao Bằng cũng còn giữ được hơn 70 năm, nghĩa là sau ba, bốn đời mới hoàn toàn bị diệt. Xem đó thấy lời dự đoán của tiên sinh rất nghiệm.

Ngày 28 tháng 11 (âm lịch) năm ấy, tiên sinh tạ thế, hưởng thọ 95 tuổi, học trò tôn hiệu là Tuyết Giang Phu tử. Phần mộ ở trên một mô đất khá cao trong làng…

2

Năm Thuận Bình thứ tám (1556) vua Lê Trung Tông băng, không hoàng nam nối ngôi, đức Thế Tổ (Trịnh Kiểm) do dự không biết lập ai, hỏi trạng nguyên Phùng Khắc Khoan, cũng không quyết định nổi, mới sai ngầm đem lễ vật ra tận Hải Dương hỏi tiên sinh. Tiên sinh không trả lời, chỉ quay lại bảo các gia nhân rằng:
– Vụ này lúa không được mẩy, chỉ tại thóc giống không tốt, vậy hãy đi tìm giống cũ mà gieo mạ. …

Nói xong, tiên sinh xe ra chùa, bảo các chú tiểu quét dọn và thắp nhang, ngoài ra không đã động gì đến chuyện khác, và đó là cái thâm ý tỏ ra cho biết “cứ việc thờ Phật thì sẽ có oản ăn”. Trạng Bùng thấy thế, hiểu ý, xin từ giả. Qua lời kể lại, đức Thế Tổ hiểu ngay, nên đón vua Anh Tôn về lập, tình hình nội bộ mới trở lại bình thường.

Trong thời gian ấy, Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng là con trai thứ Chiêu Huân Tĩnh Vương (Nguyễn Kim) đương ở trong tình thế nguy ngập, sợ không thát khỏi tay Trịnh Kiểm, thân mẫu ông, người làng Phạm Xá, huyện Tứ Kỳ, với tiên sinh là chỗ đồng hương, nên trước cảnh ấy, sai người bí mật về làng nhờ tiên sinh chỉ giúp con trai bà một lối sống. Sứ giả đặt gói bạc nén trước mặt,rồi chắp tay lạy mãi.

Tiên sinh thấy sứ giả cố năn nỉ nhưng vẫn không đáp, rồi đứng phắt dậy, cầm gậy thủng thẳng bước ra sau vườn. Đến chỗ núi non bộ (giả sơn) do mười tảng đá xanh xếp thành một dãy quanh co, tiên sinh thấy trên núi có bầy kiến đang men đá leo lên, đứng ngắm một lúc, mỉm cười đọc:

Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân

Sứ giả hiểu ý trở về thuật lại, Nguyễn Hoàng liền nghĩ ra kế, xin vào trấn thủ Quảng Nam, đến nay con cháu còn hùng cứ một phương.

Trong lúc ngày thường, có lần tiên sinh cùng người học trò là Bùi Thời Cử bói dịch trúng quẻ Càn, thế mà tiên sinh dự đoán “chỉ sau tám đời cuộc can qua nổi dậy”. Sau đúng như thế. Lời đoán của tiên sinh quả thật thần diệu vậy.

Riêng số học trò của tiên sinh thì đông không biết bao nhiêu mà kể. Những người có danh vọng lừng lẫy của bản triều (nhà Lê) như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyển Dữ và Trương Thời Cử đều là những người nhờ sự dạy dỗ của tiên sinh.

Nhắc đến Phùng Khắc Khoan khi còn theo học, bỗng một đêm tiên sinh đến thẳng nhà trọ, gõ cửa bảo: “Gà gáy rồi, sao chưa dậy nấu cơm, còn nằm ỳ ngủ vậy?”. Khắc Khoan hiểu ý, vội thu xếp hành lý, tìm đường vào Thanh Hóa, nhưng lại ẩn nơi nhà Nguyễn Dữ, người đã soạn bộ “Truyền kỳ mạn lục”. Bộ này được thành một tác phẩm “thiên cổ kỳ bút” là một phần lớn nhờ sự phủ chính rất nhiều của tiên sinh.

Xem đó thì thấy tiên sinh đối với bản triều (nhà Lê) cũng có góp phần đào tạo một số nhân tài vậy.

Tôi thấy tiên sinh là người lòng dạ khoáng đạt, tư chất cao siêu, sử dụng sự hồn nhiên, không chút cạnh góc, ai hỏi thì nói không thì thôi, đã nói câu gì là câu ấy không xê không dịch. Tiên sinh ở nơi thôn dã, vui với cúc tùng, hơn mười năm trời vẫn không quên nước.

Văn chương của tiên sinh thường bộc lộ cái tấc dạ ưu thời mẫn thế, không cần điêu luyện mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà ý vị, câu câu đều có chỗ ngụ ý răn đời. Thơ Quốc âm của tiên sinh có nhiều, trước đã soạn thành một tập gọi là Bạch Vân Quốc ngữ Thi tập, có cả ngàn bài nhưng nay chỉ còn độ hơn trăm. Thơ Hán tự cũng nhiều nhưng cũng thất lạc, tôi xem cũng đều thấy chứa những ý nghĩa thanh cao và siêu thoát. Thí dụ câu tiên sinh tự thuật chí hướng mình:

Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ
An nhàn ngã thị địa trung tiên
(Cao khiết ai là thiên hạ sĩ
An nhàn ta chính địa trung tiên)

Nói về gia đình thì tiên sinh có ba vợ:

Bà vợ cả người họ Dương, hiệu Từ Ý, quê tỉnh Hải Dương, người cùng huyện, là con gái quan Hình Bộ Thị lang Dương Đức Nhan.

Bà thứ hai, người họ Nguyễn, hiệu Như Tĩnh

Bà thứ ba hiệu Vi Tĩnh, cùng người họ Nguyễn

Tiên sinh có tất cả mười hai người con, gồm bảy người trai, năm người gái. Con trưởng lấy hiệu Hàn Giang Cư sĩ, được tập ấm phong hàm Trung Trinh đại phu, sau làm quan đến chức Phó hiến. Con thứ hai là Túy An tiên sinh được phong hàm Triều Liệt đại phu, tước Quảng Nghĩa hầu. Con thứ ba hàm Hiễn Cung đại phu, tước Xuyên Nghĩa bá. Con thứ tư hiệu Thuần Phu, hàm Hoằng Nghị đại phu, tước Quảng Đô hầu. Con thư năm là Thuần Đức, tước Bá Thư hầu (không thấy ghi người con thứ bảy). Mấy người này đều có quân công cả.

Sau đó, Hàn Giang sinh ra Thiết Đức, Thiết Đức sinh Đạo Tiến, Đạo Tiến sinh Đạo Thông. Đạo Thông sinh Đăng Doanh. Đăng Doanh sinh Thời Đương. Thời Đương lúc này đã 65 tuổi, sinh được ba người con trai, đều là cháu tám đời của tiên sinh vậy.

Năm Vĩnh Hựu nguyên niên (Ất Mão 1735 đời Lê Ý Tôn) người trong làng vì nhớ thịnh đức của tiên sinh nên đã dựng hai đền thờ này. Người hàng tổng cũng nhớ ơn đức, xuân thu hai kỳ đến tế lễ. Người trong họ của tiên sinh là Nguyễn Hữu Lý sợ sau này gia phả thất lạc có soạn lại một quyển và nhờ tôi viết cho bài tựa.

Tôi đây là người đất Hồng Châu, nghĩa là cùng quê với tiên sinh, nhưng nay đã cách 190 năm rồi, còn biết gì để viết.

Lúc thơ ấu , tôi cũng thường được nghe các bậc phụ huynh nói chuyện tiên sinh, nhưng cũng chỉ biết đại khái là cụ Trạng Trình thôi. Sau nhân những buổi bình luận về tiên hiền với các quan đại phu, tôi có thêm ít nhiều nên ước có dịp thuận tiện sẽ về tận quê quán của tiên sinh để tìm hiểu cho tường.

Ước mãi chưa được vì cứ luôn luôn bị việc quan bó buộc.

May thay! Năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Hưng (1741 đời Lê Hiển Tôn) tôi vâng mệnh đổi đi Hồng Châu, nhận thấy cùng với nơi nhà cũ tiên sinh chỉ trong gang tấc, tới lui dễ dàng, nhưng lại vì việc quân ngũ quá bề bộn nên mãi đến mùa xuân năm sau, tức năm Nhâm Tuất, trong khi vâng mệnh đi bối đắp đê sông Nhị Hà, mới thực hiện được ý định nói trên.

Đến quê hương của tiên sinh, tôi tìm đến nền quán Trung Tân, coi tấm bia cũ, nhưng nét chữ đã quá mờ, không sao đọc nổi. Tôi vào đền thờ bái yết, nhân tiện hỏi người cháu bảy đời là Nguyễn Thời Đương để xem hành trạng nhưng cũng không thâu thập được gì. Hỏi thăm các bô lão thì sau cơn binh lửa cũng chẳng còn ai biết; duy chỉ có viên hương ấp là Trần Bá Quang biết sơ qua về mấy việc cũ. Ông này ôn lại cho nghe bài phú quốc âm tức bài văn bia quán Trung Tân và đưa cho một bản lục ít bài thơ của tiên sinh. Nhân tiện tôi hỏi đến những di tích của cầu Trường Xuân, cầu Nghinh Phong rồi đi thăm nơi vườn cũ, tới nơi chỉ thấy ba gian nhà lá. Thời Đương và con cháu hơn mười người cũng ở căn nhà đó.

Tôi nhìn quang cảnh đã sinh lòng hoài cảm, lại trông bốn phía càng bồi hồi nữa. Này phía bên tả trước mặt là một cái đầm và bốn năm cái vũng, tất cả độ vài trăm mẫu, bề sâu chỉ độ hơn trượng, chỗ đứt chỗ nối, chỗ thắt chỗ phình, khi thì yên lặng, khi nắng vàng tỏa, phải chăng đây chính là chỗ kiểu đất Nghiễn trì thủy ảnh (mặt hồ nghiên, ánh nước long lanh) có khí thiêng chung đúc để sinh ra một đại nhân vậy?

Do đó tôi ngâm vịnh thẩn thơ, chẳng muốn dời chân. Ôi! Tôi muốn vì tiên sinh viết bài tựa quyển Gia phả, nhưng ngặt vì việc quân khẩn cấp, còn phải gác bút để đeo gươm, thành thử phải đợi ngày khác nữa.

3

Năm Quý Hợi (1743 đời Lê Hiển Tôn) khoảng mùa Đông, tôi vâng mệnh đi dẹp bọn thuỷ khấu ở vùng Đồ Sơn , nhân lúc đóng quân trên bờ sông Tuyết, lại đến yết kiến đền thờ của tiên sinh. Bọn Thời Đường cho tôi xem quyển Gia phả và nói :

Trước đây đã trãi bao phen loạn lạc, chẳng còn quyển nào, sau họ mới sưu tầm được mấy trang rách, trong đó chỉ biên tên họ tiền nhân, ngoài ra chảng có gì khác cả.

Vì thế tôi phải thâu nhặt ý kiến nhiều người, rồi hợp với những điều mắt thấy tai nghe để viết nên bài tựa. Còn việc sưu tầm những bài thơ của tiên sinh, xếp thành thiên, đóng thành tập, để lưu lại cho đời sau thì xin nhường phấn các vị cao minh khác.

Than ôi Phượng Hoàng, Kỳ Lân, đâu phải những vật thường thấy trong vũ trụ xưa nay, mà có thì chúng phải hiện ở những chỗ như vườn nhà Đường (vua Nghiêu) sân nhà Nhu (vua Thuấn) mới là điềm tốt lành.

Như tiên sinh đã có sẵn tư chất thông tuệ lại thâm hiểu đạo học thánh hiền, ví phỏng gặp thời để thi thố sở học thì chắc sẽ tạo ra được cảnh trị bình, biến đổi được thói ở trọc phù bạc ra lễ nghĩa văn minh. Khá tiếc thay, một người có tài đức phù tá Vương nghiệp lại sinh giữa thời đại bá giả, khiến cho sở học không áp dụng được gì.

Tuy nhiên, dùng thì làm, bỏ thì ẩn, sự đắc dụng hay không, đối với tiên sinh cũng chẳng quan trọng gì. Tôi rất hâm mộ điểm ấy của tiên sinh. Tiên sinh sinh trưởng trên đất nhà Mạc, có lúc thử ra làm quan để thi hành sở học thì cũng là việc bắt chước việc Khổng Phu Tử xưa đi ra mắt Công Sơn Phất Nhiễu; rồi khi thấy không thể giúp được, vội bỏ đi thì lại muốn theo trí sáng của Trương Tử Phòng theo gót Xích Tùng Tử xưa.

Nay tôi đọc những thi văn còn lại của tiên sinh, cũng chẳng khác nào được nghe tiếng reo ngọc khua vàng, sang sủa như thái dương, rực rỡ như mây màu, thơ thái như cái phong vị tắm nước sông Nghi rồi lên hóng mát ở Vũ vu của Tăng Điểm ngày trước, và cái phong độ yêu sen thích lan của các tiên nho xưa. Đồng thời cũng như thấy tiên sinh và được bái kiến tiên sinh ở chỗ đang ngồi dạy học vậy.

Ngoài ra, tiên sinh lại là người tinh thông Lý học, thấu triệt hoạ phúc, biết rõ dĩ vãng và tương lai, cả trăm đời sau chưa chắc đã có ai hơn được.

Ôi ! Thiên hạ xưa nay, các bậc quân vương và hiền giả thiếu gì nhưng sống thì phú quý vinh hoa còn khuất, hỏi thời gian sau, đã có mấy ai được người đời nhắc đến. Còn tiên sinh, nay con cháu đã bảy tám đời mà gần thì sĩ phu, dân thứ còn xem như sao Đẩu trên trời, cho cách nghìn năm cũng còn mường tượng như mới buổi sớm nào; xa thì sứ giả Thanh triều là Chu Xán khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu.

Như thế, đủ biết tiên sinh là người rất mực của nước ta về thời đại trước vậy“.

SẤM KÝ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Sấm ký là những lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm (từ năm 1509 đến năm 2009). Đây là những dự báo thiên tài, hợp lý, tùy thời, tự cường, hướng thiện và lạc quan theo lẽ tự nhiên “thuận thời thì an nhàn, trái thời thì vất vả”. “Trạng Trình đã nắm được huyền cơ của tạo hóa” (lời Nguyễn Thiếp – danh sĩ thời Lê mạt). “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (lời Chu Xán – sứ giả của triều Thanh).

Sấm ký ở bản A có 262 câu, gồm 14 câu “cảm đề” và 248 câu “sấm ký”. Đây là bản trích ở bộ “Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) của Trịnh Văn Thanh – Sài Gòn – 1966. Ngoài bản A còn có ít nhất ba dị bản về sấm Trạng Trình. Tài liệu liên quan hiện có 20 văn bản, trong đó 7 bản là tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Khoa học Xã hội (trước đây là Viện Viễn Đông Bác Cổ) và Thư viện Quốc gia Hà Nội và 13 tựa sách quốc ngữ về sấm Trạng Trình xuất bản từ năm 1948 đến nay. Bản tiếng quốc ngữ phát hiện sớm nhất có lẽ là Bạch Vân Am thi văn tập in trong Quốc Học Tùng Thư năm 1930 mà hiện nay vẫn chưa tìm được.

Sấm ký gắn với những giai thoại và sự thật lịch sử. Nhiều nội dung trong sấm ký hiện đã được giải mã, chứng minh tính đúng đắn của những quy luật- dự đoán học trong Kinh Dịch và Thái Ất thần kinh”. (Đến nay đã có 36 giai thoại và sự thật lịch sử về Sấm Trạng Trình đã được giải mã mà chúng tôi sẽ lần lượt đăng trong các bài nghiên cứu tiếp theo).

Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, vua Phật Trần Nhân Tông (1258-1308) là người rất coi trọng phép biến Dịch. Người đã viết trong “Cư trần lạc đạo”: “Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim”.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với “Thái Ất thần kinh”, “Sấm ký”, “Bạch Vân Am thi văn tập”, “huyền thoại và di tích lịch sử” đã lưu lại cho dân tộc Việt Nam và nhân loại một tài sản văn hoá vô giá.

CẢM ĐỀ

Nguyễn Bỉnh Khiêm

1- Thanh nhàn vô sự là tiên
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi
Cơ tạo hoá
Phép đổi dời
Đầu non mây khói tỏa
Mặt nước cánh buồm trôi
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời
Tuổi già thua kém bạn
Văn chương gửi lại đời
Dở hay nên tự lòng người cả
Nghiên bút soi hoa chép mấy lời
Bí truyền cho con cháu
Dành hậu thế xem chơi.

SẤM KÝ

15- Nước Nam từ họ Hồng Bàng
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi dời
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
Đồ thư một quyển xem nay mới rành

21- Hoà đao mộc lạc,
Thập bát tử thành.
Đông A xuất nhập
Dị mộc tái sinh.

25- Chấn cung xuất nhật
Đoài cung vẫn tinh.
Phụ nguyên trì thống,
Phế đế vi đinh.

29- Thập niên dư chiến,
Thiên hạ cửu bình.
Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.

33- Hoà đao mộc hồi dương sống lại
Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương.
Hà thời biện lại vi vương,
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.

37- Lê tồn, Trịnh tại,
Lê bại, Trịnh vong.
Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
Hà thời thạch mã độ giang.
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.

43- Chim bằng cất cánh về đâu?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công.
Bao giờ trúc mọc qua sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.

47- Đoài cung một sớm đổi thay,
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Đầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.

51- Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chim chích u mê,
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.

55- Để loại quỷ bạch Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy
Gia đình một ở ba đi dần dần.
Cho hay những gã công hầu,
Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này.

61- Kìa kìa gió thổi lá rung cây
Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây
Tan tác kiến kiều an đất nước
Xác xơ cổ thụ sạch am mây.

65- Lâm giang nổi sóng mù thao cát,
Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy.
Một ngựa một yên ai sùng bái?
Nhắn con nhà vĩnh bảo cho hay.

69- Tiền ma bạc quỷ trao tay
Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua,
Giữa năm hai bẩy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.

73- Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
Rắn mới hai đầu khó chịu thay,
Ngựa đã gác yên không người cưỡi
Dê không ăn lộc ngoảnh về Tây.

77- Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu
Gà kia vỗ cánh chập chùng bay
Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa
Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.

81- Nói cho hay khảm cung ong dậy,
Chí anh hùng biết đấy mới ngoan.
Chữ rằng lục, thất nguyệt gian
Ai mà giữ được mới nên anh tài.

85- Ra tay điều độ hộ mai
Bấy giờ mới rõ là người an dân
Lọ là phải nhọc kéo quân,
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.

89- Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuồn luồn
Đàn đi nó cũng một môn phù trì

93- Thương những kẻ nam nhi chí cả
Chớ vội sang tất tả chạy rong
Học cho biết chữ cát hung
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
Bất kỳ nhi ngộ tưởng gì đợi mong.

99- Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tí đều không
Ví dù có gặp ngư ông
Lưới dăng đâu dễ nên công mà hòng.

103- Khuyên những đấng thời trung quân tử
Lòng trung nghi nên giữ cho mình
Âm dương cơ ngẫu hộ sinh
Thái Nhâm, Thái Ất trong mình cho hay.
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Hư vô bàn miệng tiếng nói không.

109- Ô hô thế sự tự bình bồng
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông
Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch
Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng.
113- Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc
Ngưu xuất lam điền nhật chính đông
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng
Tứ phương thiên hạ thái bình phong.

117- Ngỡ may gặp hội mây rồng
Công danh rạng rỡ chép trong vân đài
Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà đặt vững ai hay tỏ tường?

121- So mấy lề để tàng kim quỹ
Kể sau này ngu bỉ được coi
Đôi phen đất lở, cát bồi
Đó đây ong kiến, dậy trời quỷ ma

125- Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
Mão Thìn Tí Ngọ bất yên
Đợi tam tứ ngũ lai niên cùng gần.

129- Hoành Sơn nhất đái
Vạn đại dung thân
Đến thời thiên hạ vô quân
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.

133- Gà kêu cho khỉ dậy nhanh
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung
Thiên sinh hữu nhất anh hùng
Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà.

137- Thái Nguyên cận Bắc đường xa
Ai mà tìm thấy mới là thần minh
Uy nghi dung mạo khác hình
Thác cư một góc kim tinh non đoài

141- Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý, nhân dân phép màu

145- Xem ý trời ngõ hầu khải thánh
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai
Song thiên nhật nguyệt sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường

149- Thông minh kim cổ khác thường
Thuấn Nghiêu là trí, Cao Quang là tài
Đấng hiên ngang nào ai biết trước
Tài lược thao uyên bác vũ văn
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.

155- Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Chốc lại mòng gá vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?

159- Đã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán
Lại đua nhau quần thán đồ lê
Chức này quyền nọ say mê
Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải thuở hung hoang
Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình

165- Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An

169- Nực cười những kẻ bàng quang
Cờ tam lại muốn toan đường chống xe
Lại còn áo mũ xun xoe
Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

173- Ghê thay thau lẫn với vàng
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.

177- Can qua, việc nước bời bời
Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân
Oai phong khấp quỷ kinh thần
Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca

181- Rừng xanh, núi đỏ bao la
Đông tàn, Tây bại sang gà mới yên
Sửu Dần thiên hạ đảo điên
Ngày nay thiên số vận niên rành rành.

185- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân dậu niên lai kiến thái bình

189- Sự đời tính đã phân minh
Thanh nhàn mới kểchyện mình trước sau
Đầu thu gà gáy xôn xao
Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.

193- Chó kêu ầm ỉ mùa đông
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi
Lợn kêu tình thế lâm nguy
Quỷ vương chết giữa đường đi trên giời

197- Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi
Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra
Hùm gầm khắp nẽo gần xa
Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời.

201- Rồng bay năm vẻ sáng ngời
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng
Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời

205- Chín con rồng lộn khắp nơi
Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu
Lời truyền để lại bấy nhiêu
Phương đoài giặc đã đến chiều bại vong
Hậu sinh thuộc lấy làm lòng
Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.
211- Đầu can Võ tướng ra binh
Ắt là trăm họ thái bình âu ca
Thần Kinh Thái Ất suy ra
Để dành con cháu đem ra nghiệm bàn

215- Ngày thường xem thấy quyển vàng
Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi
Bởi Thái Ất thấy lạ đời
Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân

219- Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian
Mỗi đời có một tôi ngoan
Giúp chung nhà nước dân an thái bình

223- Phú quý hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh
Hoa thôn đa khuyển phệ
Mục giã giục nhân canh
Bắc hữu Kim thành tráng
Nam hữu Ngọc bích thành
Phân phân tùng bách khởi
Nhiễu nhiễu xuất đông chinh
Bảo giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

233- Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò
Nhị Hà một dải quanh co
Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nao nao
Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?

239- Nói đến độ thầy tăng mở nước
Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu
Bấy lâu những cậy phép màu
Bây giờ phép ấy để lâu không hào

243- Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình vào ở nội Ngô Tề
Có thầy Nhân Thập đi về
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh

247- Những người phụ giúp thánh minh
Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai
Phùng thời nay hội thái lai
Can qua chiến trận để người thưởng công

251- Trẻ già được biết sự lòng
Ghi làm một bản để hòng giở xem
Đời này những thánh cùng tiên
Sinh những người hiền trị nước an dân

255- Này những lúc thánh nhân chưa lại
Chó còn nằm đầu khải cuối thu
Khuyên ai sớm biết khuông phù
Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngỏ hầu.

259- Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới tỏ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.”

NHỮNG KIỆT TÁC THƠ VĂN NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm là những kiệt tác bền vững với thời gian: “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình” (Cự ngao đới sơn). An nhàn, vô sự là tiên (Sấm ký). Giữ khí, gìn tinh, lại dưỡng thần Ít lo, ít muốn, ít lao thân (Dưỡng sinh thi). Nhàn (Thơ Nôm, bài 73) Chín mươi thì kể xuân đà muộn. Xuân này qua thì xuân khác còn (Chín mươi, thơ Nôm bài 29 ). Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện. (Trung Tân quán bi ký, 1543) Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568). Sấm ký ở trên và những tuyển chọn dưới đây là những bài đặc sắc trong kho tàng đồ sộ Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm

CỰ NGAO ĐỚI SƠN

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bích tầm tiên sơn triệt đế thanh
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh
Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực
Trước cước trào vô quyển địa thanh
Vạn lý Đông minh quy bá ác
Ức niên Nam cực điện long bình (*)
Ngã kim dục triển phù nguy lực
Vãn khước quan hà cựu đế thành

Dịch nghĩa

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI

Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đáy
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời
Bấm chân xuống, sóng cuộn không dội tiếng vào đất
Vạn dặm biển Đông đưa về nắm trong bàn tay
Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình
Ta nay muốn thi thổ sức phù nguy
Lấy lại quan hà, thành xưa của Tổ tiên.

Dịch thơ

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI
Núi tiên biển biếc nước trong xanh
Rùa lớn đội lên non nước thành
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá
Dầm chân đất sóng vỗ an lành
Biển Đông vạn dặm dang tay giữ
Đất Việt muôn năm vững thái bình
Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ Tổ tiên mình.

Nguyễn Khắc Mai
dịch nghĩa và dịch thơ

DƯỠNG SINH THI

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tích khí, tồn tinh, cánh dưỡng thần
Thiểu tư, qủa dục, vật lao thân.
Thực thôi ban bảo, vô kiêm vị,
Tửu chỉ tam phân, mạc quá tần
Mỗi bả hý ngôn, đa thủ tiếu,
Thường hàm, lạc ý, mạc sinh xân
Nhiệt viêm, biến trá, đô hưu vấn
Nhiệm ngã tiêu dao qúa bách xuân

Dịch thơ

Giữ khí, gìn tinh, lại dưỡng thần
Ít lo, ít muốn, ít lao thân.
Cơm nên vừa bụng, đừng nhiều vị,
Rượu chỉ vài phân, chớ qúa từng.
Miệng cứ câu đùa, vui miệng mãi,
Bụng thường nghĩ tốt, bụng lâng lâng.
Bốc đồng, biến trá, thôi đừng hỏi,
Để tớ tiêu dao đến tuổi trăm.

(Bản dịch của GS. Lê Trí Viễn)

NHÀN (Thơ Nôm, bài 73)

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến cội cây, ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

CHÍN MƯƠI (Thơ Nôm, bài 29)

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tóc đã thưa, răng đã mòn,
Việc nhà đã phó mặc dâu con.
Bàn cờ, cuộc rươu, vầy hoa cúc
Bó củi, cần câu, trốn nước non.
Nhàn được thú vui hay nấn ná,
Bữa nhiều muối bể chứa tươi ngon
Chín mươi thì kể xuân đà muộn
Xuân ấy qua thì xuân khác còn.

NGUYỄN BỈNH KHIÊM: MẶT TRỜI MỌC Ở PHƯƠNG ĐÔNG

Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện. (Trung Tân quán bi ký, 1543)

Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568).

Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân (Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với sứ giả của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng)[7]

Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế (Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với sứ giả của vua Mạc)

Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong (Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về mối quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh)

Tứ bách niên tiền, chung phục thuỷ / Thập tam thế hậu, dị nhi đồng (Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về con cháu họ Mạc) [8]

Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ / Hưng tộ diên trường ức vạn xuân (Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về thời vận mới của nước Việt)[9]

Cổ lai quốc dĩ dân vi bản / Đắc quốc ưng tri tại đắc dân (Thơ chữ Hán, Cảm hứng)[10]

Cổ lai nhân giả tư vô địch / Hà tất khu khu sự chiến tranh (Thơ chữ Hán)[11]

Tất cánh dục cầu ngô lạc xứ / Tri ngô hậu lạc tại tiên ưu (Thơ chữ Hán, Ngụ hứng)

Có thuở được thời mèo đuổi chuột / Đến khi thất thế kiến tha bò (Thơ Nôm, Bài 75)

Thớt có tanh tao ruồi đậu đến / Ang không mật mỡ kiến bò chi (Thơ Nôm, Bài 53)

Hoa càng khoe nở, hoa nên rữa / Nước chứa cho đầy, nước ắt vơi (Thơ Nôm, Bài 52)

Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi (Thơ Nôm, Bài 77)

Làm người hay một chớ hay hai / Chớ cậy rằng hơn, chớ cậy tài (Thơ Nôm, Bài 65)

Làm người chớ thấy tài mà cậy / Có nhọn bao nhiêu lại có tù (Thơ Nôm, Bài 11)

Làm người có dại mới nên khôn / Chớ dại ngây si, chớ quá khôn (Thơ Nôm, Bài 94)

Chớ cậy rằng khôn khinh rẻ dại / Gặp thời, dại cũng hoá ra khôn (Thơ Nôm, Bài 94)

Thuở khó dẫu chào, chào cũng lảng / Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen (Thơ Nôm, Bài 5)

Đạo ở mình ta lấy đạo trung / Chớ cho đục, chớ cho trong (Thơ Nôm, Bài 104)

hoangkimtuoitho

CẢM NHẬN VỀ TRẠNG TRÌNH

Hoàng Kim

Em đã học nhiều gương sáng danh nhân
Hãy biết nhục biết hèn mà rèn chí
Thắp đèn lên đi em ngọn đèn dầu bền bỉ
Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Giao thừa

giaothua999

GIAO THỪA

Hoàng Kim

Trời Đất Người giao thừa
Đời thanh thản bình tâm
An định tiễn đông qua
Tỉnh thức đón xuân tới.

Thung dung dạo đông tàn
Nhớ thầy thương bạn quý
Huỳnh chút với đời
Vũ Hồng thơm trang mới …

Mekong nhớ Neva
Ngắm Mỹ xây biên giới
Đừng bỏ rơi chính mình
Mình ơi nghe mình nói …

Lắng hạc giữa thinh không
Đọng sương mai đầu nụ.
Đêm nay đêm trừ tịch
Thiêng liêng ngày mới về.

BÀI CA THỜI GIAN

Notes
giaothua99
Huỳnh chút với đời

NHỚ LÊ HUỲNH MỘT CHÚT VỚI ĐỜI

Hoàng Kim

Về miền Tây cùng thầy yêu bạn quý, chúng ta gặp biết bao con người trượng nghĩa thân thương Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS, Nhớ bố con người anh hùng Dưới đáy đại dương là ngọc, thăm Tri Tôn Tịnh Biên nhớ Bảy Nhị kênh ông Kiệt và tôi, qua Lấp Vò (Đồng THáp) thắp hương cho Nguyễn Hiến Lê, lên quê hương Đồng khởi nhớ “Ông từ thiện ở Bến Tre“.

Ông Lê Huỳnh là Huỳnh Văn Cam cựu Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre, ông là người mà nhà văn Hữu Thỉnh dành trang viết cảm động “Triệu phú của tình thương” để ca ngợi và nhà văn Vũ Hồng đã ghi lại. Ông cũng là người mà Thái Bình đã có bài viết “Ông từ thiện ở Bến Tre” để giới thiệu. Sinh thời cố Tổng Bí thư Lê Duẩn rất yêu thích câu chuyện thành phố Sankt Peterburg bị vây hãm, thành phố “pháo đài anh hùng” bên dòng Neva được giải phóng sau 872 ngày đêm vây hãm của phát xít Đức làm chết gần một triệu người Nga trong thành phố vì bom đạn, đói khát và bệnh tật. Thành phố anh hùng là thử thách của một dân tộc. Một người cán bộ tử tế được dân tin yêu là pháo đài của chế độ trong lòng người. Lê Huỳnh một chút với đời cũng là một pháo đài của lòng dân.

Ông Lê Huỳnh được mô tả “Không vợ nhưng ông có đến… hàng ngàn đứa con. Ông không có nhiều tiền mà chỉ có trái tim nhiệt huyết luôn dành cho “đàn con đặc biệt” của mình và suốt ngày đi đây đó, kêu gọi cộng đồng góp chút lòng nhân ái để lo cho chúng. Tấm lòng từ tâm, bác ái của người đàn ông xứ dừa này đã gây sự chú ý, xúc động đến tận đất nước phù tang Nhật Bản. Ông  Ông Kazuo Toga là người Nhật Bản, mất ngày 17/9/1968. Để ghi lại giá trị nhân văn về một tấm lòng cao thượng – cả cuộc đời dành hết cho những người tàn tật – những phế nhân được sinh ra từ sự tàn khốc của chiến tranh, từ năm 1997, tỉnh Shiga – quê ông thành lập giải thưởng ITOGA hàng năm. Quy mô của giải thưởng là xét chọn những cá nhân tích cực trong tạo phúc lợi cho người tàn tật. Từ khi thành lập đến nay, hàng năm, giải được trao cho từ 1 đến 3 người của các quốc gia châu Á – Tây Thái Bình Dương, mỗi quốc gia duy nhất một người. Ông (Huỳnh Văn Cam tức Lê Huỳnh) là người Việt Nam vinh dự nhận được giải thưởng ITOGA này.” “Ông đã trở thành nguời Việt Nam đầu tiên được nhận ITOGA – giải thưởng có uy tín khu vực châu Á – Thái Bình Dương; được một kênh truyền hình NHK cử đoàn phóng viên “bay” sang để thực hiện bộ phim “Chân dung một người châu Á” (phim này đã được phát sóng). Ông là Huỳnh Văn Cam, người dân xứ dừa quen gọi ông là Lê Huỳnh“. Nhà báo Thái Bình  “gặp ông Năm Lê Huỳnh vào ngày đầu Xuân 2006 trong căn phòng làm việc nhỏ nằm trên đường Đoàn Hoàng Minh, phường 5, thị xã Bến Tre. Công việc của ông bây giờ bề bộn như lúc ông còn là Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre cách đây 5 năm, bởi vậy phải ít nhất 3 lần hẹn, tôi mới được ông bố trí cuộc gặp. Tấm bảng treo tường thì ghi kín lịch công tác của ông: ngày hôm qua đi Mỏ Cày, ngày mai đi ngược lên Chợ Lách rồi vọt một mạch xuống huyện biển Thạnh Phú; ngày hôm sau lại đi Bình Đại, Ba Tri… Ông và các cộng sự đang tập trung lo tiền, thủ tục cho những ca mổ tim thứ 51, 52. Ông kể về các con thơ chẳng may bị tật nguyền: “Tội cho chúng nó lắm. Cha mẹ chúng đều nghèo, nhà trống trước dột sau, tiền bạc đâu mà lo cho nổi trước những căn bệnh ngặt nghèo của chúng”. Rồi ông rơm rớm nước mắt khi kể lại cho tôi nghe trường hợp của cháu Nguyễn Lê Yến Nhi ở Châu Thành. Khoảng tháng 10/2003, khi gia đình đem cháu đến đây thì mới biết cháu bị bệnh tim bẩm sinh. Bằng mối quan hệ thân tình của mình, ông đã giới thiệu cháu lên Viện Tim tại Tp.HCM khám và được biết thêm, cháu Nhi bị hở van hai lá, thông liên thất. Muốn cứu sống cháu, gia đình phải có 2.400 USD. Cha mẹ cháu Nhi giàn giụa nước mắt xin được đem con về nuôi theo kiểu, sống tới ngày nào hay ngày đó. Ông thì chạy đôn chạy đáo vận động tiền để cứu đứa bé. “Tuy nhiên, chưa đủ tiền thì cháu Nhi đã qua đời. Tôi thật sự sốc!” – ông nói. Sau niềm đau này, ông bắt đầu lặn lội đi tìm những đứa trẻ bị bệnh tim bẩm sinh từ khắp các huyện thị với con số hàng chục em và chợt nhận ra rằng: “Nếu không tìm cách cứu chúng, chúng sẽ chết âm thầm!”. Nhớ lại những đôi môi tím tái, những cơn thở dồn, ông giật mình: “Tại sao hai ba đứa trẻ chẳng may bị chết chìm, dư luận biết, xã hội đau đớn. Còn những đứa trẻ khác do bệnh tật, bệnh tim bẩm sinh chết âm thầm với số lượng nhiều như thế, chưa thấy ai làm bài toán cộng để mà lo?”. Thế là ông bàn với các cộng sự tại Phòng khám nhân đạo và tiến hành khám miễn phí. Số ca trẻ em nghèo bị bệnh tim bẩm sinh nhiều gấp rất nhiều lần so với con số ông được biết. Ngay trong năm 2004, ông vận động đủ tiền và đã liên hệ với các bệnh viện mổ cho 10 trường hợp. “Mổ xong, tất cả chúng đều bình phục nhanh và chóng khỏe mạnh!”. Ông Huỳnh vốn là một đứa trẻ mồ côi. Cuộc đời tham gia cách mạng suốt mấy mươi năm trời, ông đã chứng kiến biết bao đau thương khiến ông đồng cảm và muốn sẻ chia trong khả năng của mình. Ông từng khóc vì chứng kiến một người mẹ nghèo “vượt cạn” rồi chết tại bệnh viện. Đưa tang cho mẹ là đứa bé đỏ hỏn và anh của nó là thằng nhóc chỉ có 3 tuổi. Sau khi cho người thân tiền lo đám tang, ông xin chúng làm con. Tay bồng, miệng ông hỏi trấn an: “Ba con đâu?”. Thằng lớn mếu máo khóc nhưng tay chỉ vào trán ông. Ông lại khóc. “Đấy là ngày tôi nhớ nhất trong đời!”. Kể từ ngày ấy, ông trở thành người đàn ông “đẻ dày” nhất xứ dừa. Cứ vài ba ngày, ông lại có thêm dăm ba đứa con. Câm, điếc, mù, bị bỏ rơi, trẻ bị dị dạng do nhiễm chất độc da cam… ông cũng nhận làm con. “Chúng nó đều rất thèm một mái nhà, có sự cưng yêu của người lớn!” – ông nói. Trái tim nồng hậu, nhân ái của ông Năm Lê Huỳnh đã làm thao thức bao trái tim nhân hậu khác và kết dính thành một tình thương không biên giới. Từ Nhật Bản xa xôi, bà Akemi Bando – một “nhũ mẫu” có tiếng xứ hoa anh đào đã lặn lội sang Bến Tre và cùng ông tìm những đứa trẻ như thế đưa về chung một mái nhà – đó là Trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật Bến Tre. Và 15 năm qua, ở bên Nhật, bà Bando chạy tiền; bên này, ông lo chăm sóc, tu bổ, ngôi trường này hiện có quy mô nhất miền Tây. Với hàng ngàn đứa trẻ bị sứt môi, hở hàm ếch của tỉnh, trong một lần đi Nhật theo lời mời của Hội Trợ giúp trẻ em Việt Nam – Nhật Bản, ông đã thuyết phục được các bác sĩ nổi tiếng của Hiệp hội Sứt môi, hở hàm ếch Nhật Bản sang phẫu thuật miễn phí. 13 năm qua, đã có trên 1.000 trẻ em có được “nụ cười trọn vẹn”. Bây giờ, cái địa chỉ và tên gọi Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo và Người tàn tật tỉnh Bến Tre do ông làm Chủ tịch đã trở nên quen thuộc với những hoàn cảnh thương tâm, bệnh tật hiểm nghèo. Sau hai năm thành lập, thông qua nguồn tiền, vật chất… của các tấm lòng hảo tâm, tổ chức này đã giúp trên 3.000 người mù nghèo được phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo, khám và cấp thuốc miễn phí cho trên 30.000 bệnh nhân nghèo, vùng sâu, vùng xa; tặng 140 xe lăn cho người tàn tật và cấp học bổng cho hàng trăm học sinh, sinh viên mồ côi, khuyết tật học giỏi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…”Người dân nghèo bình thường lo cái ăn, cái mặc đã vất vả. Nhưng nếu không may lâm bệnh kéo dài hay tàn tật, mồ côi, thì gia đình họ càng khốn khổ biết chừng nào. Lúc ấy, họ rất cần sự quan tâm của xã hội, sự giúp đỡ của những tấm lòng nhân ái” – ông Huỳnh tâm sự.”

Người dân phương Nam hào hiệp trượng nghĩa, thường không muốn kể công và người khác cũng không muốn viết công của những người vốn có chức có quyền, ngại bị chê là háo danh, xu nịnh. Thế nhưng những người thực sự có công mà không được nhìn nhận và lưu dấu thì cũng không thực sự công bằng.

Con đường lúa gạo Việt Nam, Con đường xanh ta đi lưu dấu một điểm đến.

*

SongSrepokTỪ MEKONG NHỚ NEVA

Hoàng Kim

Năm trước, tôi về thăm lại Srepok, điểm hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong ở ngã ba Đông Dương, trong lần chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác sắn Tây Nguyên. Từ Mekong nhớ Neva, tôi liên tưởng và suy ngẫm về các dòng sông đất nước.

Srepok hợp lưu của sông Mekong

Tôi đã trãi qua kinh nghiệm chiến tranh và hòa bình tại Srepok và liên tưởng so sánh sông Mekong, sông Hồng với sông Neva, sông Volga, những dòng sông Nga huyền thoại. Biển Đông sông Mekong nay đang trong vùng xoáy sôi động và dữ dội nhất thế giới cũng như biển Bantic và sông Neva trước đây đã từng là và nay tiếp tục là điểm nóng, vùng đất địa chính trị – lịch sử tàn khốc và dữ dội nhất thế giới. Đó là nơi cuốn hút hàng chục, hàng trăm triệu người vào những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Nơi mà giá trị của con người được đặt lên bàn cân sinh tử với sự lựa chọn tình yêu tổ quốc.

Tôi đã từng đứng bên bờ sông sinh tử này, đã từng  câu cá tại dòng sông Srepok, thuở mà sông chưa làm đập thủy điện. Nay tôi về lặng ngắm dòng sông xưa với thao thiết một dòng sông chảy mãi…

Câu cá bên dòng Srepok

Hoàng Kim

Bạn chèo thuyền trên sông Neva
Có biết nơi này mình câu cá?
Srepok giữa mùa mưa lũ
Sốt rừng, muỗi vắt, đói cơm.

Suốt dọc đường hành quân
Máy bay,
pháo bầy,
thám báo,
mưa bom.
Chốt binh trạm giữa rừng
Người bạn thân
Lả người
Vì cơn rét đậm.
Thèm một chút cá tươi,
Mình câu cá
Cho bữa cơm người thân
mà nước mắt
đời người
rơi, rơi…
mặn đắng.

Bạn ơi
Con cá nhỏ trên dòng Srepok
Đã theo dòng thác cuốn đi rồi.
Đất nước nghìn năm
Trọn lời thề
Sống chết thủy chung
với dân tộc mình
Muôn suối nhỏ
Đều đi về biển lớn.

Bài thơ Câu cá bên dòng Srepok là cảm tác của tôi năm 1972 tại Tây Nguyên, trong buổi chiều câu cá bên dòng Srepok gần Buôn Đôn. Buổi câu cho bữa cơm người bạn sốt rừng ốm nặng thèm ăn cá. Nơi tôi câu cá là binh trạm nằm ở khoảng giữa Đăk Tô- Tân Cảnh và Buôn Đôn, rất gần điểm ảnh dòng sông Srepok của Đỗ Tuấn Hưng.

Lúc câu cá, tôi nghĩ nhiều về bức tranh sơn dầu nổi tiếng “Những người kéo thuyền trên sông Volga” của Repin và bài thơ Chèo thuyền trên sông Neva của Hoàng Bình. Tôi cảm nhận thật rõ ràng những suy tư của người lính chiến trước dòng sông Neva, Volga Mekong và sông Hồng huyền thoại. Mekong sông Hồng là sông Việt mến yêu của Tổ Quốc tôi, còn Neva, Volga là những dòng sông Nga mãi sau này tôi mới tới.

Srepok
Tại Tây Nguyên, đơn vị tôi chốt ở vùng ngã ba biên giới Việt – Lào- Cămpuchia, bên dòng sông  Srepok (hay Sêrêpôk, Srêpôk, mà tiếng Campuchia gọi là Tongle Xrepok). Srepok tại ngã ba Đông Dương là điểm hợp lưu quan trọng nhất, trong khi Phnôm Pênh lại chính là điểm phân lưu quan trọng nhất của sông Mekong.

MekongSông Srepok vùng ngã ba Đông Dương là hợp lưu quan trọng nhất của sông Mekong. Sông Srepok phần Việt Nam là phụ lưu đặc biệt quan trọng của sông Mekong. Đây là ngã ba Đông Dương, hợp lưu lớn nhất của sông Mekong. Sông Srepok với các dòng sông ngắn dốc hung dữ hoang sơ chảy ngược về Mekong mà không phải chảy xuôi về Biển Đông như các sông Việt khác. “Ai nắm được nóc nhà Tây Nguyên và chế ngự được vùng hợp lưu này là quản lý được Đông Dương”. Những chuyên gia quân sự và sử học đã từng nhận định vậy, Tính từ chỗ hợp lưu của sông Krông Ana (sông Mẹ) và sông Krông Nô (sông Bố) tới cửa sông Srepok dài 406 km, trong đó đoạn chảy qua Campuchia dài khoảng 281 km, đoạn chảy trong lãnh thổ Việt Nam dài khoảng 126 km.

SongNeva

Sông Neva và sông Volga huyền thoại

Neva là dòng sông mẹ thứ hai của nước Nga nơi có thành phố Sankt Peterburg lịch sử, niềm tự hào thiêng liêng của tổ quốc Nga. Nơi đây là điểm giao tranh quyết liệt nhất của những đánh đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Ngày 27 tháng 1 năm 1944  là ngày kỷ niệm thành phố Sankt Peterburg bên dòng Neva được giải phóng sau 872 ngày đêm vây hãm của phát xít Đức làm chết gần một triệu người Nga trong thành phố vì bom đạn, đói khát và bệnh tật.  (xem tiếp…)
tumekongnhoneva1

Từ Mekong nhớ Neva (ảnh và bài Hoàng Kim)

(xem tiếp…)

trumphomquavangaynay

DONALD TRUMP HÔM QUA VÀ NGÀY NAY.

Hoàng Kim

Trump vừa ký sắc lệnh để giới hạn nhập cư Hồi Giáo từ 7 quốc Hồi Giáo. Không những vậy ông ta đã ký sắc lệnh để bắt đầu xây dựng Bức Tường Biên Giới như đã hứa và Mexico sẽ chi trả kinh phí cho bức tường này. Đây là một điều mà truyền thông đã cố tình chế nhạo, kể cả Mexico, kiểu như “Trump thật ngốc, làm sao có thể ép Mexico chi trả được.”
myvatuongbiengioi

Năm cách mà Trump sẽ bắt Mexico chi trả cho Bức Tường Biên Giới, Ku Búa @ Cafe Ku Búa phân tích: “ 1 – Đánh thuế VAT lên hàng hóa từ Mexico. Tính khả thi: có thể. 2 – Đánh thuế giao dịch ngoại tệ và kiều tối từ Mỹ đến Mexico. Tính khả thi: có thể. 3 – Bắt chính phủ Mexico chi trả trực tiếp toàn phần. Tính khả thi: khó. 4 – Bắt Chính phủ Mexico chi trả bán phần. Vì biên giới bảo vệ cả 2 nước nên 2 nước phải hỗ trợ kinh phí chứ không phải Mỹ làm một mình. Tính khả thi: rất có thể. 5 – Đánh và tăng thuế visa vào Mỹ lên người Mexico. Tính khả thi: khả thi nhất” “Hình như họ cố tình không hiểu vấn đề. Chi trả ở đây không đồng nghĩa vơi việc móc tiền trong túi rồi trả trực tiếp. Để giải thích cho dễ hiểu. Lấy thuế VAT. Chính phủ đánh thuế lên hàng hóa, bạn trả thuế khi mua hàng hóa một cách vô tình không hay biết. Bạn vừa mới chi trả cho ngân sách chính phủ đó, nhưng thay vì móc tiền đưa trực tiếp vào kho bạc thì bạn chi trả gián tiếp khi mua hàng. Trong trường hợp của Trump và bức tường biên giới cũng vậy. Mexico sẽ chi trả gián tiếp bằng cách đó. Tuy có vài cách khác như sau nhưng cách gián tiếp là khả thi nhất” “Sau đây tôi Ku Búa xin phân tích cái cách số 5. Đây là cách khả thi nhất mà Trump sẽ làm để bắt Mexico chi trả cho kinh phí xây dựng bức tường biên giới trực tiếp và gián tiếp. Hiện tại giá visa cho mỗi lần 1 người là $160. Hàng năm nước Mỹ tiếp đón tầm 14.5 triệu (người nhập cảnh từ Mexico) ghi 14 đi cho dễ tính. Giờ bức tường theo dự kiến sẽ tốn tầm $8-15 tỷ USD. Giờ bỏ tiền xây trước rồi tăng giá visa đối với người Mexico. Giờ tăng giá visa $30 / người/lần. $30 nhân cho 14 triệu là $420 triệu mỗi năm. $420 triệu mỗi năm nhân cho 20 năm là $8.4 tỷ. Vậy là người Mexico mỗi lần xin visa vô Mỹ là chi trả cho bức tường rồi. Đó chỉ là doanh thu từ phí visa thôi nhé, còn nhiều nguồn nữa. Cho nên lần sau bạn nghe ai nói “Trump ngu, Mexico làm gì trả cho bức tường” thì hãy trả lời họ như ở trên“.
trumphotlienkhongnoinhieu

Thời đại của Trump bắt đầu, ảnh Hiệu Minh khởi đầu cho bài bình luận của tác giả “Tuần (1) của Trump: Hốt liền không nói nhiều”. Buồn cười nhất trong hai tấm biểu ngữ có chữ OM là chúng ta nhớ ngay đến bài “Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS” mặc dù hai nội dung bài là khác nhau. Blog Hiệu Minh viết: “Chiều qua (25-1) đảo qua Nhà Trắng thấy rào kín, lễ đài đón TT chưa dỡ xong, có mỗi ông cầm biển biểu tình. Mầu trắng của tòa nhà vẫn như xưa, Obama ra khỏi không làm xám hơn, Trump nhập trạch cũng không làm sáng hơn. Nhưng những gì xảy ra bên trong thì không hề êm đềm như khu vườn trước cửa với những chú sóc nhảy nhót. Vào Nhà Trắng được một tuần, Tổng thống Trump đã ký hàng loạt sắc lệnh (executive order) quan trọng: 1. Y tế: Xóa Obamacare (Bảo hiểm y tế dưới thời Obama) và chưa biết thay bằng loại bảo hiểm gì; 2. TPP: Rút khỏi TPP; 3. Ỗng dẫn dầu: Tiếp tục xây dựng ống dẫn dầu Keystone và Dakota đưa dầu từ Canada về Hoa Kỳ; 4. Cấm phá thai: Cấm dùng tiền liên bang giúp các nhóm quốc tế ủng hộ phá thai. 5. Tường biên giới Mexico: Xây bức tường dọc theo biên giới giữa miền nam nước Mỹ với Mexico; 6. Hạn chế nhập cảnh từ các nước nguy hiểm; 7..Chính phủ liên bang: Ngừng tuyển thêm nhân viên chính phủ. Lời bình của Mao Tôn Cua  Một tuần với 7 ngày ông ký 7 sắc lệnh, toàn những việc “hốt liền không nói nhiều”.  Hậu quả đầu tiên: Trump dọa trên Twitter, không trả tiền xây tường (12-15 tỷ đô), gặp gỡ làm đéo gì. Enrique Peña Nieto, Tổng thống Mexico, cũng “véo von” lại không kém “anh đéo gặp”.  Cuộc gặp tuần sau giữa Tổng thống Mexico và Trump bị hủy bỏ.  Nhà Trắng thông báo dự định áp thuế suất 20% lên mọi hàng hóa nhập từ Mexico. Tin cho hay, mỗi ngày có khoảng 1,5 tỷ USD hàng hóa từ Mexico xuất khẩu sang Mỹ. Đồng peso của Mexico mất giá 13% từ khi Trump thắng cử. Trong quá khứ từng có cuộc chiến biên giới USA – Mexico năm 1910-1919, phần thắng nghiêng về Mỹ. Tranh cãi về bức tường biên giới “Mỹ xây – Mexico trả tiền” theo cách của Trump sẽ gây ra cuộc chiến thương mại giữa hai nước. Chiến thắng lần này chưa biết thuộc về ai, nhưng người lao động ở Mexico và người tiêu dùng tại Mỹ sẽ bị ảnh hưởng tới giá áo túi cơm. Chưa kể bức tường được coi là sự hận thù giữa hai quốc gia mà lẽ ra phải là xây cầu hữu nghị. Thử tưởng tượng nhà hàng xóm của bạn thấy trộm cắp ra vào nhà họ, kể cả gà chó của nhà bạn chạy sang, họ xây tường và bắt bạn trả chi phí, liệu có được? Thế mà người Mỹ họ cũng OK đấy, hoan hô ầm ầm. Đừng trách tại sao “Đồng minh tháo chạy” tại Sài Gòn 4-1975. Đáng khen cho Tổng thống Mexico Enrique Peña Nieto trẻ trung và không biết sợ hãi. Hiện ông bị con số 12% dân chúng ủng hộ nên đây là dịp cho người Mexico tự hào đôi chút. Trả 15 tỷ cho một cuộc gặp với Tổng thống Mỹ thì chỉ có thời của Trump nhìn tiền sáng hơn tình nghĩa. Thời quốc tế nhiễu nhương, không có chỗ cho lãnh đạo quốc gia yếu hèn. TPP bị Mỹ xóa bỏ nhưng còn 11 quốc gia do Nhật và Úc đứng đầu vẫn có thể tiếp tục. Như nhiều bài Hiệu Minh Blog từng viết về TPP, ngoài chuyện thương mại mà còn là cuộc chơi địa chính trị toàn cầu nhằm bao vây Trung Quốc đang ngoi lên thay thế Mỹ. Hoa Kỳ bỏ cuộc chơi TPP sẽ giúp cho Trung Quốc chiếm ngôi thứ 1 toàn cầu nhanh hơn. Tập Cận Bình sẽ không bỏ qua dịp may hiếm có này. Cú ngoại giao bóng bàn năm 1970 đã giúp Trung Quốc thoát cô lập và sau nửa thế kỷ họ đang đe dọa Mỹ. Hậu quả phải đợi thêm vài đời Tổng thống Hoa Kỳ mới thấy. Chống phá thai bị phụ nữ phản đối dữ dội do quyền của họ. Trump và đảng Cộng hòa theo đạo Thiên chúa nên chống phá thai là bình thường. Ống dẫn đầu nhằm tạo ra việc làm cho nước Mỹ, từ đào ống, sản xuất ống thép, đến lắp ráp, mua dầu rẻ từ Canada, không phụ thuộc vào Trung Đông hay Nga. Việc này ảnh hưởng đến môi trường và sẽ bị các nhà hoạt động môi trường phản đối. Tuy nhiên, có việc làm và ra tiền thì phá như FORMOSA người ta vẫn tiếp tục, dù Mỹ hay Việt Nam. Nhưng vụ này thì Putin không vui. Ngừng tuyển nhân viên chính phủ liên bang là bước đi cần thiết vì chính phủ làm việc không hiệu quả suốt đời Tổng thống này sang Tổng thống khác. Lịch sử chỉ ra rồi, Cộng hòa bóp nghẹt, Dân chủ nới ra. Đó là vòng luẩn quẩn của chính phủ Hoa Kỳ. Tin ngoài lề. Những viên chức ngoại giao cao cấp và quan trọng của ông John Kerry đã thôi việc, tạo ra một khoảng trống trong bộ ngoại giao mà ông Tex Tillerson phải đối mặt khi vừa ngồi vào ghế. Trả lời phỏng vấn hãng ABC, Trump thản nhiên ủng hộ tra tấn tù nhân để khai thác thông tin, mà việc này là trái luật Mỹ. Các nhà lập pháp của Cộng hòa cũng phải lắc đầu. Trump tiếp tục than về số lượng phiếu gian lận và có thể ký lệnh điều tra trong vài giờ tới về việc này. Bà thủ tướng Anh và cũng là tác giả Brexit, Theresa May, vừa phát biểu tại cuộc họp của các nhà lập pháp đảng Cộng Hòa rằng, Mỹ và Anh phải lãnh đạo thế giới, dù bà nhận xét về những phát biểu về đạo hồi của Trump là “divisive, unhelpful and wrong – chia rẽ, không giúp gì và sai trái”. Tuy vậy, tone giống nhau, dân tộc chủ nghĩa và da trắng vĩ đại. Cố vấn thân cận của Tổng thống, ông John Bannon, vừa như gà “mổ” không kém “Báo chí nên câm miệng khi đưa tin về Trump”. Tổng thống Trump tiếp tục twitter. Nhiệm kỳ sẽ véo von lúc như vàng anh, hay gật gù như cúc cu, đôi khi như quạ mổ. Stay tuned…. Hãy bắt sóng hang Cua vào thứ 6 về Trump nếu Tổng Cua có thời gian“.

Tôi (Hoàng Kim) thì nhớ “Bài đồng dao cho em” và “Lời đồng dao huyền thoại” trong ngày cuối năm và đêm giao thừa.

loidongdaohuyenthoai

Bay trên tổ chim cúc cu

Hoàng Kim

Dây dã tường vi thật dẻo dai
Ba con ngỗng trong một đàn
Một bay về Đông, một bay Tây
Và một bay trên tổ chim cúc cu.

(Wire, briar, limber-lock
Three geese in a flock
One flew east, one flew west
And one flew over the cuckoo’s nest).

Nhân loại
Nghìn năm trước
Bây giờ
và mãi mãi
là bài ca
khát khao Tự Do
và duy trì Kỷ luật.

Wire, briar, limber-lock
Three geese in a flock
One flew east, one flew west
And one flew over the cuckoo’s nest.

Dây dã tường vi thật dẻo dai
Ba con ngỗng trong một đàn
Một bay về Đông, một bay Tây
Và một bay trên tổ chim cúc cu.

Tách cà phê ban mai
Gió mù sương đầy núi
Suối nguồn thao thiết chảy
Nhạc rừng đầy tiếng chim …

giaothua1

Giao thừa 1 (ảnh Hoàng Kim)

giaothua2

Giao thừa 2 (ảnh Hoàng Kim)

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Đằm thắm yêu thương

chuc-mung-nam-moi

ĐẰM THẮM YÊU THƯƠNG

Hoàng Kim

Anh chẳng ước gì hơn
Vì có em tròn giấc mơ hạnh phúc
Bỏ lại sau lưng những nhọc nhằn cơ cực.
Chỉ căn phòng này ấm áp, và em.

Ngày giáp Tết an lành.
Một giấc ngủ ngon. Đón ban mai thức dậy.
Ta khoan khoái thung dung chào ngày mới.
Hôm qua vất vả qua rồi.

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày mới để yêu thương
Nắm chặt tay anh đi em !”
Mình thích nghe nhau nói
Dậy đi em yêu thương
Ngày mới đến rồi.

Em chẳng trẻ như thuở xưa.
Nhưng vẫn khát yêu thương.
Thích nghe lời thương, nói lời hờn giận.
Mặc kệ anh vùi đầu vào việc làm
Em thích chơi và chăm sóc anh.
Lướt nét, nhặt rau, nấu ăn, đi chợ
Ngắm nghía chọn hàng dẫu ít khi mua …

Em có ước gì đâu
Anh ơi!
Đằm thắm yêu thương đó là điều giản dị.
Nhiều người mơ giàu sang,
chức trọng quyền cao vinh hiển!
Em ước thung dung giấc mơ hạnh phúc
Bình an yêu thương sống trọn kiếp người…

damthamyeuthuong

Xem tiếp

Đến với bài thơ hay

BỮA CƠM GIA ĐÌNH NGÀY CUỐI NĂM

ngayxuan

 

Sankt Petersburg
CNM365
. Chào ngày mới 26 tháng 1.
Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1924 – Năm ngày sau khi Lenin qua đời, Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô quyết định đổi tên thành phố Petrograd thành Leningrad, nay là Sankt-Peterburg thành phố lớn thứ hai của Nga. Năm 1790 – Vở Opera Così fan tutte của Wolfgang Mozart được trình diễn lần đầu tiên tại kịch viện Burg tại Wien, Áo. Năm 1905Viên kim cương thô lớn nhất thế giới cho đến nay được tìm thấy gần thành phố Pretoria tại Nam Phi. xem tiếp …

ĐẾN NEVA NHỚ PIE ĐẠI ĐẾ

Tập tin:Sankt Petersburg Dekabristenplatz 2005 c.jpg
CNM365. TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 365 chuyện kể mỗi ngày. Hoàng Kim.
Đến Neva nhớ Pie Đại đế, người đã hiến trọn đời mình để sông Neva trở thành huyền thoại, Sankt-Peterburg trở thành cửa chính của nước Nga nhìn ra thế giới, vùng đất bùn lầy, lạnh lẽo, đêm trắng bình minh phương Bắc thành miền di sản.
Piedaide

PIE ĐẠI ĐẾ

Pie Đại Đế là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga, vượt cả StalinLe Nin. Ông đã có những thành tựu đặc biệt to lớn trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, chuyển đổi mạnh mẽ một nước Nga lạc hậu, đi sau Tây Âu hàng trăm năm  vượt lên trở thành một trong năm đại đế quốc của châu Âu, chỉ  trong một thời gian ngắn. Pie Đại Đế có tố chất quân vương vừa cứng rắn vừa mềm dẻo, vừa nhiệt huyết kiên quyết, vừa bao dung mềm mỏng, vừa tàn nhẫn cứng rắn, vừa tình cảm ân nghĩa. Ông đã tạo nên bước ngoặt trong lịch sử nước Nga.

Pie đại đế ( tên thường gọi là Pyotr I ; tiếng Nga: Пётр Алексеевич Романов, Пётр I, Пётр Великий’, có sách viết theo tiếng Anh là Peter I hay tiếng Pháp là Pierre I ) sinh ngày 10 tháng 6 năm 1672 tại Moskva,  mất ngày  8 tháng 2 năm 1725 tại Sankt-Peterburg. Ông là Sa hoàng của nước Nga cũ và sau đó là Hoàng đế của Đế quốc Nga từ năm 1721, đồng cai trị với vua anh Ivan V – một người yếu ớt và dễ bệnh tật – trước năm 1696. Ông được tôn là Pyotr Đại Đế hay Pierre Đại Đế, Pie Đại Đế ( tiếng Nga: Пётр Великий, Pyotr Velikiy). Ông được xem là một trong những nhà cải cách kiệt xuất nhất trong lịch sử Nga.

Pie Đại Đế  đã tiến hành cuộc cải tổ lớn lao tại nước Nga Sa hoàng. Trong những năm 1697 – 1698 ông đi vòng quanh Tây Âu, học được những điều mới lạ ở đó và truyền vào Nga. Dưới triều ông, nước Nga có nền kinh tế phát triển và thành lập thể chế nghị viện. Trong việc xây dựng đất nước, Pie Đại Đế thường tham vấn những cố vấn tài ba người nước ngoài. Nhờ vậy, dưới triều đại không lâu dài của ông (1696 – 1725), nước Nga trở thành một đế quốc hùng cường trên thế giới thời đó, Hải quân Nga được thành lập. Người Nga đã có đủ sức giành chiến thắng trước hai cựu thù vào thời đó là đế quốc Ottoman và Thụy Điển,  tái chiếm các lãnh thổ đã mất và lấy đường thông ra biển. Năm 1703, ông hạ lệnh cho xây dựng thành phố Sankt-Peterburg. Chính tại đây, năm 1782 nước Nga đã hoàn thành việc xây cất tượng Pyotr I – tức tượng “Kị sĩ đồng”. Sankt – Peterburg trở thành một “thành Venezia của phương Bắc”, và trở thành kinh đô nước Nga vào năm 1712. Người Nga đã ca ngợi ông như một vị “Đại đế Ross toàn nước Nga”, hay “Cha của Tổ Quốc”.

xem tiếp …

CNM365 Chào ngày mới 27 tháng 1. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Trận Leningrad kết thúc với thắng lợi của Liên Xô, thành phố Leningrad (hiện nay là Sankt-Peterburg) hoàn toàn thoát khỏi sự bao vây của Đức Quốc Xã. Năm 1995 – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh…[ 1303 more words.]
https://cnm365.wordpress.com/2016/01/26/chao-ngay-moi-27-thang-1-2/

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống 
Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS

hoquangcuanguyenvanluat

NHỚ THẦY LUẬT LÚA OM VÀ OMCS.

Hình ảnh của Thầy Nguyễn Văn Luật tác giả chính của Ôm Em (OM) và Ôm Em Cực Sướng (OMCS), với kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả chính của gạo thơm Sóc Trăng trên đồng lúa mới

Hoàng Kim
.

Ngày giáp Tết, khi tôi kính thăm sức khỏe và chúc Xuân quý Thầy Van Quyen Mai, Vu Trinh, To Le Van, Ngoke Suong, … thì các Thầy đều vui vẻ thông cảm nơi xa của tôi tận Đồng Nai nên không câu nệ đồng ý ghé chơi nhà ảo và giao lưu trò chuyện. Đó là hạnh phúc cho thế hệ chúng tôi kết nối được những người Thầy trí thức lớn thế hệ vàng Việt Nam với các bạn sinh viên trẻ đề chúng tôi được tự hào giới thiệu về các người Thầy đã lưu dấu nhiều ấn tượng sâu xa trong cuộc đời mình. Câu chuyện ‘Nhớ thầy Luật lúa OM và OMCS’ là sự nối dài và tỏa rộng thêm “Con đường lúa gạo Việt Nam” từ Đại Ngãi Long Phú Sóc Trăng quê hương của nhà bác học nông dân anh hùng lao động Lương Định Của, người thầy nghề lúa, đến Viện Lúa Ô Môn, nôi khai sinh thương hiệu OM và OMCS nổi tiếng đến làng OM, cầu OM, cầu Nhót Hà Nội quê hương của thầy Luật.

vienluathambacgiap

Giáo sư Nguyễn Văn Luật là tác giả chính của thương hiệu lúa giống OM và OMCS, đến nay trong thương hiệu OM lúa giống đã có trên 166 giống lúa của nhiều tác giả Viện Lúa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận, mà phần lớn đều mang tên OM. GS Nguyễn Văn Luật cũng là tác giả chủ biên của bộ sách đồ sộ gần 1.500 trang “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20” ba tập do Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội. xuất bản năm 2001, 2002, 2003 mà bất cứ chuyên gia nông nghiệp Việt Nam nào khi soát xét cây lúa Việt Nam của một thời và ‘Việt Nam chốn tổ của nghề lúa’ đều không thể bỏ qua. Bài học lớn hơn hết, sâu đậm hơn hết là bài học tập hợp và phát huy được năng lực của một đội ngũ chuyên gia tuyệt vời đầy tài năng và một đội ngũ các lãnh đạo qua các thời kỳ thật tâm huyết. Bài học cao quý của sự đoàn kết một lòng hoàn thành tốt nhiệm vụ của các thế hệ cán bộ viên chức người lao động Viện Lúa, sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và các cấp lãnh đạo Trung ương, địa phương và doanh nghiệp, sự cộng hưởng, giúp đỡ và liên kết thật tuyệt vời của thầy cô, bạn hữu, đồng nghiệp bạn nhà nông cùng với đông đảo nông dân từ khắp mọi miền đất nước.

Giáo sư Nguyễn Văn Luật, anh hùng lao động là tác giả chính của cụm công trình đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ 10 nhà khoa học được nhận năm 2000. Tập thể Viện Lúa là anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2000, đến năm 2014 Viện Lúa phát huy truyền thống và được nhận Huân chương Độc Lập hạng Nhất cao quý nhất của Việt Nam. Thầy là một người lính và danh tướng lỗi lạc của mặt trận nông nghiệp Điện Biên Nam Bộ. Trong câu chuyện đời thường của giáo sư Luật có ba câu chuyện tiếu lâm, học mà vui, vui mà học. Đó là “ÔM EM VÀ ÔM EM CỰC SƯỚNG”, “NUÔI HEO TRỒNG SO ĐŨA NUÔI DÊ”, “LÚA MỚI THƠ THẦY LUẬT VÀ BẠN”. Câu chuyện được tình tự kể như dưới đây.

ÔM EM VÀ ÔM EM CỰC SƯỚNG

Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt thời đó cũng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiền nhiệm đều ham làm lúa, thăm lúa vì … dân đói. Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt thăm Viện Lúa giữa năm 1997 và hỏi Viện trưởng Nguyễn Văn Luật: ‘Vì sao anh đặt tên lúa giống là OM và OMCS?’

Giáo sư Nguyễn Văn Luật trả lời: “Thưa Thủ tướng, để tỏ lòng biết ơn lãnh đạo và nhân dân địa phương tạo điều kiện cho Viện hoạt động, chúng tôi lấy tên huyện Ô Môn của địa phương làm tên của giống lúa do Viện tạo chọn”.

Trong không khí vui vẻ, nhiều người đã bổ sung những ý kiến tốt đẹp. Chủ tịch tỉnh Ba Xinh cười nói OM nghĩa là Ôm Em, một phóng viên ngồi ở vòng ngoài nói xen vào OMCS nghĩa là Ôm Em Cực Sướng, đoàn tháp tùng có một cán bộ ở Hà Nội nói là địa danh quê của Viện trưởng là làng OM, cầu OM cầu Nhót Hà Nội, nên OM cũng có nghĩa là làng OM, cầu OM.Thủ tướng tóm tắt ; Vậy OM là O EM, O BẾ EM !

Ngài Ngài đại sứ Ấn Độ có lần đến thăm Viện biết chuyện có bổ xung: dân Ấn Độ chúng tôi khi phát âm Ô Ô ÔM ÔM… , hai tay chắp lại, là để tỏ lòng thành kính cầu phúc!

Có một chuyện vui liên quan là giáo sư Luật một lần đi với cố nhà báo Nhật Ninh, gặp anh xe ôm dọc đường gọi là “anh hai ôm em”..! và chuyện này đã đăng báo Nhân Dân mà tác giả là Nhật Ninh!

OM và OMCS là những câu chuyện như suối nguồn tươi trẻ thao thiết chảy giữa vùng quê Nam Bộ và xuống nông thôn càng có thêm nhiều huyền thoại thú vị.

Nghe nói có một lần cố đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đang làm Phó Thủ Tướng phụ trách Khoa học Kỹ thuật và Chương trình Kế họach hóa Gia đình, trong một chuyến thăm một đơn vị rất thành công ở miền Tây, bác Văn đã hỏi về bài học kinh nghiệm thành công. Vị giám đốc đơn vị vui vẻ trình bày: Em có bốn bài học thấm thía nhất: một là o bế dân, được lòng dân nên được tất cả; hai là o bế địa phương, mất lòng thổ địa thì chẳng thể anh hùng; ba là o bế hiền tài và các vị cao minh, sự nghiệp phát triển được là nhờ họ; bốn là o bế em, thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn.

Thầy Viện trưởng khác của tôi kể chuyện là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói vậy không là nói vui mà thực sự chính cụ đã trãi nghiệm sâu sắc về sự O bế Em thành công, mà chính mối tình này làm ông còn một người con Phan Thanh Nam sinh ngày ngày 25 tháng 2 năm 1952, người đã thay mặt gia đình đọc lời cảm tạ trong lễ tang của ông. Mẹ của Nam là bà Hồ Thị Minh, chủ bút đầu tiên của tờ Phụ nữ cứu quốc Nam bộ. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt có người vợ đầu cùng hai người con út, một trai một gái, đã thiệt mạng khi quân đội Hoa Kỳ bắn chìm tàu Thuận Phong trong một cuộc càn quét qua chiến khu Củ Chi và người con trai đầu của ông là Phan Chí Dũng đã hi sinh ngày 29 tháng 4 năm 1972 tại Sóc Trăng trong một lần đi trinh sát. Câu chuyện đời thường và lời cụ Kiệt thật thấm thía. Đó là một sự trãi nghiệm.

OM hay ÔM, O hay Ô, chữ nào hay hơn? Hóa ra hai chữ đều hay. “Om mầm nên nõn lá” việc lặt lá mai và cái lạnh giá mùa đông là sự om mầm để cây nẩy lộc xuân. Con đường lúa gạo Việt Nam, Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển có nhiều những dâng hiến lặng lẽ mà giáo sư Luật là một trong những con người ấy.

Trong bài “Thầy bạn là lộc xuân của cuộc đời” tôi có kể về giáo sư Bùi Chí Bửu tâm sự với tôi: Anh Bổng (Bùi Bá Bổng) và mình đều rất thích bài thơ này của Sơn Nam :

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Tay ôm đàn độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Từ Cà Mau Rạch Giá
Dựng chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mờ như sương
Thân chưa là lính thú
Sao không về cố hương ?

Nhớ Thầy Luật lúa OM và OMCS là nhớ thầy Hai Lúa ‘anh hai ôm em’ trong số những dâng hiến lặng lẽ đó.

“NUÔI HEO, TRỒNG SO ĐŨA, NUÔI DÊ”

Ông Nguyễn Khôi phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc Văn phòng Quốc hội có bài thơ ‘Giáo sư Lúa’ tặng GSTS Nguyễn Văn Luật.

GIÁO SƯ LÚA

Trai Hà Nội đi Nông Lâm buổi ấy
Bạn bè cười cày đường nhựa được chăng?
Rồi ở Viện suốt đời vì cây lúa
Đem sông Hồng vào với Cửu Long.

Đất Ô Môn đồng chua cỏ lác,
Ôi Cần Thơ đất rộng Tây Đô
Xứ Nam Bộ hai mùa mưa nắng,
Kết 20 triệu tấn lúa ước mơ …

Anh Kỹ sư rồi thành ông Tiến sĩ,
Vị Giáo sư lội ruộng suốt ngày.
Lại nhớ thời Hải Dương – Ô Mễ
Làm bèo dâu, cấy thẳng mê say.

Nay lúa vượt 25 triệu tấn,
Ôi Việt Nam, sức sống diệu kỳ.
Sông Hồng với Cửu Long hòa sóng,
Bạn bè đùa ‘ông Tiến sĩ nhà quê”.

Mùi hạnh phúc đượm bao sương mấy nắng,
Trai Hà Thành đen nhẽm ngỡ nông dân.
Cũng xởi lởi như Bác Hai Nam Bộ
Viết vần thơ ca ngợi ruộng đồng.

Tôi xin giải thích thêm bài thơ của cụ Nguyễn Khôi về 25 triệu tấn lúa này là 25 triệu tấn lúa mà toàn quốc Việt Nam đạt được năm 1995. Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển đã góp phần đưa sản lượng lúa ở ĐBSCL từ khoảng 4 triệu tấn/ năm 1977 vượt trên 25 triệu tấn/ năm 2016, tăng hơn gấp 6 lần, và điều kì diệu là  25 triệu tấn lúa trên năm tại ĐBSCL năm 2016 bằng toàn bộ sản lượng lúa Việt Nam năm 1995 !  Chùm thơ cuối của tác giả Nguyễn Khôi thật thấm thía: “Mùi hạnh phúc đượm bao sương mấy nắng,/ Trai Hà Thành đen nhẽm ngỡ nông dân./ Cũng xởi lởi như Bác Hai Nam Bộ /Viết vần thơ ca ngợi ruộng đồng”.

Trong những câu chuyện tiếu lâm cười vui một thời có chuyện Viện Lúa Viện Dê Viện Trưởng Dê mà tôi tần ngần không dám đặt tên này mà kể chệch đi một chút là “nuôi heo, trồng so đũa, nuôi dê”. Hồi đó, cán bộ công nhân viên của các Viện nghiên cứu và Trung tâm Nông nghiệp đều quá vất vả và thiếu thốn. Hầu như nhà nào cũng nuôi heo,  phải tăng gia sản xuất mới có đồng gia đồng vào, vợ đẻ con bệnh không lo bằng heo đẻ, heo bệnh. Cán bộ công nhân ra đồng làm ruộng, vui vè chuyện trò thì thường đầu tiên là kể chuyện vợ chồng con cái, kế đến là việc nuôi heo, trồng so đũa, nuôi dê thật hợp với Viện Lúa, sau đó là đến chuyện tiếu lâm nam nữ.

Giáo sư Luật kể rằng một hôm ông đi qua dãy nhà lá trên đoạn đê cụt trong Viện chợt nghe tiếng ục ịch, sột soạt, hổn hển, ông dừng lại nghe và dòm qua cửa sổ mở thì hóa ra đó là tiếng động của hai cô kế toán trường trung cấp Xuân Mai về Viện đang vuốt ve … hai con lợn trắng hồng độ 45 – 50 kg. Cô Hinh nhanh nhẩu tự giới thiệu đây là nhà ở của Hồng heo, Hồng Hinh, Hồng Hay ! Hai cô này đến nay đã thành bà nội bà ngoại, nhà cửa khang trang, con cháu học hành thành đạt, nhưng chắc vẫn nhớ một thời gian khó đã dành nơi tốt nhất cho heo ở.

Nhiều gia đình ở Viện lúa thuở đó đều trồng so đũa và nuôi dê sữa. Nhà giáo sư Viện trưởng cũng nuôi vài con heo và một con dê Bách Thảo mỗi sáng vắt được đến 5 – 6 lít sữa, dư dùng. Lộc, Thành và Thu Hiền là con của giáo sư Luật sáng sáng thay nhau đi bỏ sữa cho các nhà cần và đi học về là vác câu liêm lấy lá so đũa để nuôi dê. Viện Lúa hồi đó, đất nền nhà và đường sá trụ sở mới được tôn lên từ đất ruộng chua phèn nên rất ít cây phát triển được, ngoại trừ rau muống dại, chuối, mía, và trồng so đũa để lấy hoa nấu canh, thân cây đục lỗ cấy nấm mèo (mộc nhĩ), lấy lá nuôi dê.

Viện Lúa ĐBSCL một thời không chỉ vang danh lúa mới OM, OMCS mà còn vang danh là Viện Dê, Viện Trưởng Dê. Bộ trưởng Nguyễn Công Tạn, Bí thư Tỉnh Ủy Tám Thanh và các cán bộ đi cùng khi đến tham quan Viện Lúa, ngoài việc thăm đồng đều không quên đến thăm các mô hình trồng so đũa  – nuôi dê, cũng như sau thăm mô hình con cá con tôm ôm cây lúa ‘canh tác bền vững trong vuông’. Một số gia đình kỹ sư giỏi nuôi dê như gia đình kỹ sư Bình Thủy có thêm tên gọi thân mật Bình dê, tương tự như nhiều cặp vợ chồng của Bổng Hòa lúa, Bửu Lang lúa quen thuộc với nông dân miền Tây.

Tôi có một kỷ niệm vui với Viện Lúa là trồng sắn ngô xen thêm đậu xanh, lạc, đậu rồng và tôi khuân về từ Viện Lúa hai con dê Bách Thảo để làm mô hình kinh tế hộ gia đình. Các con tôi Nguyên Long còn quá bé, thuở đó vợ chồng đều bận rộn suốt ngày mà dê Bách Thảo phá quá, gặm cỏ và cây cối rất miệt mài. Tôi có sáng kiến buộc hai con dê lại với nhau và treo bao cỏ trên gác bếp cao để dê rút cỏ ăn dần. Thế nhưng một hôm một con leo lên cao rút cỏ, con ở dưới giật kéo làm con ở trên ngã vật xuống và bị … ‘chấn thương sọ não’ như anh em trong cơ quan nói vui. Chúng tôi mua hai can rượu và xẻ thịt dê gõ kẽng ‘báo động’ mời anh em về liên hoan và chia thịt dê cho mọi nhà. Câu chuyện ‘mổ dê đãi tiệc’ nghe thật hoành tráng và nhớ quá một thời.

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

Con đường lúa gạo Việt Nam đang tỏa rộng nhiều vùng đất nước, kết nối lớp lớp những dâng hiến lặng lẽ tôn vinh hạt ngọc Việt. Cây lúa Việt Nam nửa thế kỷ nhìn lại (1977 – 2017) có tốc độ tăng năng suất vượt 1,73 lần so với thế giới. Thành tựu này có cống hiến hiệu quả của nhà bác học nông dân Lương Định Của ở chặng đường đầu của nước Việt Nam mới và lớp lớp những tài danh nông nghiệp Việt. Tôi đang kể về sự thật và huyền thoại của những con người đó. Viện Lúa Ô Môn, Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Luật anh hùng lao động, Bác Hai Nam Bộ, ‘anh Hai ôm em’  là một trong những điểm đến đặc biệt ấn tượng .

Con đường lúa gạo Việt Nam  khởi phát từ Long Phú Sóc Trăng quê hương của người bác học nông dân Lương Định Của đang nối dài và tỏa rộng đến nhiều vùng đất nước. Tôi kể về “Nuôi heo, trồng so đũa nuôi dê” của Viện Lúa lại thấy ẩn hiện “ Mấy ông tượng chạy lũ” của cố nhà báo Phan Quang viết về cố giáo sư Lương Định Của:

“Nghe chị thường trực báo có bác sĩ Lương Định Của muốn gặp, tôi vội vàng gác bút chạy ra. Nhà nông học quần xắn móng lợn ống thấp ống cao, mình vận chiếc sơ mi ngắn tay mầu dưa cải muối, trên đầu vẫn chiếc nón lá rộng vành rất thời thượng và cũng rất tiện lợi thời kháng chiến, tay xách một túi lưới bên trong lủng củng mấy vật gì cồng kềnh gói sơ sài bằng giấy báo. – Làm sao anh về được Hà Nội? – Tôi hỏi. – Thì cũng phải tạt về nhà xem bả với sắp nhỏ sống thế nào chứ, – anh Lương Định Của cười.

Trận lụt lịch sử năm ấy rất ác hại. Đê sông Đuống vỡ, một phần lớn hai tỉnh Hải Hưng ngập sâu trong nước, kể cả một đoạn đường số 5 huyết mạch. Nghe tin vỡ đê, Lương Định Của đang họp ở Hà Nội, đâm bổ về Viện Cây Lương thực hô anh em cứu thiết bị và các loại giống lúa quý Viện đang lai tạo dở, rồi bị kẹt luôn dưới ấy.

Nước đã tràn được vào đồng trũng thì ngâm luôn lại không rút vì nước các sông đang mùa đầy, mà mặt đồng nhiều nơi lại thấp hơn mặt biển lúc triều cường. Ông Của sốt ruột, đi thuyền ra đường 5, mạn dưới Phố Nối một ít, đáp xe về Hà Nội.

Tôi mời ông vào phòng khách. – Không, không, tôi chưa ghé nhà. Tiện đường, tôi tạt ngang, mang tặng anh mấy thứ này, chắc anh thích. Mà cũng để đỡ lủng củng. Ông xách cái túi lưới cồng kềnh đang đặt tạm trên chiếc ghế đá bên gốc cây đa, đưa cho tôi. Tôi ngạc nhiên vì nó khá nặng.

Thú thật, nhác thấy ông Viện trưởng xách cái túi lưới, tôi ngỡ đấy là trứng vịt lộn. Hồi ấy, bổ sung chất đạm, nhất là đạm động vật, là nhu cầu của mọi người. Bác sĩ nông học Lương Định Của được giao xây dựng Viện Cây Lương thực và Thực phẩm trên một cánh đồng quạnh vắng với cái vốn ban đầu ít ỏi, vấn đề lớn đầu tiên là làm sao cho anh em đủ no, đủ chất để lao động nặng nhọc. Ông cho nuôi nhiều vịt đẻ và tổ chức ấp trứng theo phương pháp học được bên Nhật, ông bảo thế, rất đơn giản mà hiệu suất cao, trứng ung chưa bao giờ vượt quá một phần trăm. Nhiều lần ông nói: “Chúng ta đều biết trứng là thức dinh dưỡng toàn diện, aliment complet, tốt lắm. Mang ấp nó lên, trong thời kỳ chuyển hóa từ quả trứng sang con vịt con, lượng dinh dưỡng của nó còn tăng lên. Cùng một quả trứng ấy, ta cho ấp, chẳng tốn kém gì mà ăn đỡ chán, lượng bổ vào cơ thể lại nhiều – thế có phải kinh tế không?”.

Lần nào từ Viện Cây lương thực về, ông cũng mang cho bạn bè một ít trứng vịt lộn. Mỗi nhà hai gói. Mỗi gói một chục quả bọc trong mấy tờ báo to và dày. Mỗi quả lại được gói riêng bằng mảnh giấy nhỏ. Để vừa đỡ làm vỡ trứng lúc đi đường vừa ủ ấm cho cái phôi tiếp tục chuyển hóa. Ông đánh dấu cẩn thận và đề ngày tháng từng gói một: “Chục này luộc ăn ngay hôm nay. Chục này để đến chiều hoặc tối mai”. Mỗi lần ông không quên cẩn thận dặn dò. Nhưng lụt to thế này, gia súc gia cầm không chết đuối cũng tản mác, thóc lúa ướt hết, người còn không có cái ăn, nói gì gà vịt.

Tôi mở hé gói quà. Hóa ra toàn là tượng gỗ thờ trong chùa, phần lớn phủ sơn ta, cũng có cái sơn son thếp vàng. Lương Định Của nói: – Lũ cuốn trôi chùa. Tượng nổi lềnh bềnh. Biết anh thích tượng cổ, tôi khoèo vớt mấy cái cho anh. Cũng chỉ cứu được mấy cái nhỏ nhất thôi. Có tượng Phật to và đẹp lắm, nhưng bê làm sao nổi. Tôi bọc giấy báo, kẻo đi đường dân nhìn thấy lại cho là cán bộ phá tự do tín ngưỡng. Nói xong, ông lật đật trở sang ban đối ngoại Đài Tiếng nói Việt Nam, phố Bà Triệu. Giờ này, bà Của đang làm việc bên ấy.”

*

Tôi viết cho giáo sư tiến sĩ Ngô Kế Sương, thầy học và các bạn của tôi: Kính chào Thầy Ngoke Suong cùng danh họa Chiêu Đồng Lâm nhà thơ “Đãi Trăng” Lâm Cúc, Giám đốc quỷ Khuyến học Huế cũng nguyên là Trưởng Trạm giống lúa Châu Phú An Giang anh Lehieu Huu , các bạn Giang Tranthuygiang, Mai Trúc Nguyễn Thị, Nguyen Le, Huyền Nguyễn Huyền Nguyễn, Linh Duy Nguyen . Cám ơn đã cùng Hoàng Kim đến thăm Tết sớm gia đình thầy Luat Nguyen, con gái thầy là Thu Hien Nguyen và con trai thầy là Loc Nguyen. Em xin phép thầy Ngoke Suong và các bạn để được kể tiếp câu chuyện THĂM THẦY LUẬT LÚA OM VÀ OMCS.

DẠY VÀ HỌC không chỉ là trao truyền kiến thức mà còn thắp lên ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Các sâu sắc của sự học làm người là noi theo gương sáng (mặt tốt) của những bậc thầy minh triết, phúc hậu, tận tâm với Người với Đời. Sức lan tỏa của một người Thầy là tình yêu thương con người, sức tập hợp và cảm hóa. Thầy Nguyễn Văn Luật trở thành nhân vật lịch sử của em để đón nhận mọi sự khen chê của đời thường, nhưng riêng em luôn nhớ về Thầy với những điều cảm phục ngưỡng mộ”.

“Em Hoàng Kim nhớ nhất là lúc lần đầu đi cùng thầy Van Quyen Mai về Ô Môn và về Cần Thơ cùng thầy Luat Nguyen, thầy Võ Tòng Xuân (là thân phụ của thầy giáo Võ-Tòng Anh) cùng cố giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn chung sức xây dựng Chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam là điểm sáng một thời của Nông Nghiệp Việt Nam và thầy Phạm Văn Hiền của Nong Lam University in Ho Chi Minh cityNong Hoc Web nay phát triển thành giáo trình tâm đắc. Một số thầy ở Viện KHKTNN Miền Nam thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đùa là nhóm thầy Van Quyen Mai về Cần Thơ Ô Môn để làm “lô đối chứng”.Nhưng chính nhờ giao lưu học tập ấy (về cách tập hợp dấn thân của tập thể Viện Lúa đạo quân tiên phong của Điện Biên Nam Bộ) để rồi tiếp nối làm nên Cách mạng sắn ở Việt NamHoa của Đất …Thật biết ơn quý Thầy khoa học nông nghiệp đầu ngành, biết ơn Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển

LÚA MỚI THƠ THẦY LUẬT VÀ BẠN

Giáo sư To Le Van  nhắn tin trên Facebook: “Tôi kính nể hai ngươi anh hùng chân chính này và vinh dự được đàm đao với hai anh hùng tại nhà. Nói đến nông sản mà không nói đến công nghệ sau thu hoạch là việt vị nên sau khi thành lập cơ sở nghiên cứu theo đề nghị của GS Luật, tôi đã viết phần này”. Câu chuyện của thầy Tố, tôi chỉ lưu được một chút nhỏ trong bài Chuyện đời giáo sư Lê Văn Tố và mong thầy trao đổi thêm đôi lời về lĩnh vực chuyên sâu đầy thách thức và cơ hội này đối với lớp trẻ.

Giáo sư Trịnh Xuân Vũ người thầy đại thụ sinh học và sinh lý thực vật, hôm chấm luận văn thạc sĩ mới đây, thầy đã kể chuyện với giáo sư Nguyễn Thơ, giáo sư Phạm Văn Biên và chúng tôi về cuộc họp mới đây nhất của các đại gia kinh tài bàn về nông nghiệp. Đó là các gói đầu tư khổng lồ cho Nông sản Việt Nam, chuyện thật lạ và quen mà anh Nam Sinh Đoàn đã bàn. Giáo sư Nguyễn Thơ góp vui: “Đi họp với các Cụ ớn nhất là các Cụ mang thơ đến tặng. Một hội nghề nghiệp đã đùa “Xin mọi người hãy để giày dép và thơ ở ngoài”. Thế nhưng lại có ý mới với  ‘Lúa mới, thơ thầy Luật và bạn’  …

(xem tiếp…)

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook