Có ba dòng văn chương

huongtichnuihong
Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như và trò chuyện với anh Hoàng Đình Quang. “Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết ”.

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Hoàng Kim

hoangdinhquang1

“Khi nàng trở về chả còn mặt trời
Một tí dưới đáy ly bàng hoàng
Con mèo đen bàng hoàng vệt váy”
(thơ Hoàng Đình Quang).

Hoàng Kim
quên thơ mới mất rồi.
Mình làm người cổ điển thôi.
Nhưng mình thích ảnh này
Và chuyện con mèo vàng
CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

“Bất kể mèo trắng mèo đen
Miễn là bắt được chuột”
Nhân loại đang lên đồng
Cuồn cuộn mọi nơi
Lên cơn hưng phấn.
Mọi chốn nháo nhào
Theo thuyết thực dụng
Thời Vi Tiểu Bảo lên ngôi

Ai Vi Tiểu Bảo?
Ai là Khang Hy?
Ai Trần Cận Nam?
Ai Ngô Tam Quế?

Nén hương bùng cháy trên tay.
Con mèo vàng từ chốn cao nhảy xuống.
Một câu hỏi khắc khoải mênh mông
Giữa trời xanh cao rộng.

Ai phán xét ai,
Nhân danh ai.?
Lịch sử
Nhân dân
và chính CON NGƯỜI:

Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du
Ai là kẻ anh hùng?
Ai là bậc anh hùng?
Ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa?

“Trăm năm trong cõi người ta.
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
“Thiện căn cốt ở lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lọng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
LIỆP
Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt“.

*

Người dặn ta từ thuở xưa.
Càng về sau mỗi ngày càng thấm
Có ba dòng văn chương.

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

hainhuhoangkim

(*) Notes: Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như “Hôm trước em có thăm vợ chồng bác Hải Như nhà thơ ở nhà riêng tại 7/2A Tổ 3 Khu phố 2 Hà Huy Giáp, Phường Thạnh Lộc , Quận 12 TP Hồ Chí Minh. Cụ tên thật là Vũ Như Hải, sinh năm 1923 tại làng Bái Dương, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. Cụ là một trong 80 thành viên đầu tiên tham gia Đại hội Văn nghệ Toàn Quốc lần thứ nhất ngày 25-7- 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Hai cụ nay 93 và 91 tuổi. Nhà thơ Hải Như là tác giả của hơn 100 bài thơ được phổ nhạc. Các tác phẩm chính đã xuất bản có ‘Trái đất mai này còn lại tình yêu’ (1985), ‘Thơ viết về Người’ (2004, 2015) ‘Có hai dòng văn chương’ (2010) và nhiều tác phẩm khác. Nhà thơ Hải Như phảng phất những tính cách giống Thầy Tịnh của chúng ta: uyên thâm về học thức và vốn sống, điềm tĩnh, vị tha, theo sát thời cuộc. Cụ cũng có điều tương đồng với Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Thầy Hiến, … Cụ nói với em: ‘Văn dĩ tải đạo’ cần nói đúng người, đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, thậm chí chưa nói tốt hơn là vội nói ra. Cụ Hải Như tặng em tập sách ‘Thơ Viết về Người’ mới in lại và tặng bản sao tập di cảo ‘Chân dung phác thảo’ với hàng chục khuôn mặt mà cụ giữ mấy chục năm nay, chưa bao giờ in với lời dặn ‘cháu viết bài hoặc đăng sau này lúc thích hợp’. Theo nhà thơ Hải Như thì có HAI DÒNG VĂN CHƯƠNG: Lâu nay nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa văn học và báo chí. Báo chí là hiện thực, văn học có hư cấu. Chức năng văn học là thức tỉnh con người. Từ văn học có ‘Hai dòng văn chương’ là Ưu thời và Xu thời. Dòng văn chương Ưu thời gồm những áng văn chương của kẻ sĩ vốn giàu lòng trắc ẩn, luôn trăn trở suy tư về kiếp người, sự hưng thịnh của dân tộc. Dòng văn chương Xu thời, gồm các tác phẩm nói theo Balzac, chỉ muốn “bào nhẵn những gồ ghề trong cuộc sống xã hội”, những áng văn chương “một chiều”. Em thì phân biệt CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG. Đây không phải là sự phân biệt của em mà khởi đầu bởi thầy Tịnh và thầy Dộ trò chuyện với nhau thuở trước. Em mới thấm chứ chưa thể kể lại thật kỹ được. Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết”. Em Hoàng Kim

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
KỲ LÂN MỘ VÀ CHUYỆN NGUYỄN DU

(còn tiếp….)

Xem thêm
Giải mã bí ẩn ngạc nhiên về lăng mộ vua Quang Trung
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (3)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (2)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (1)


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Advertisements

Có ba dòng văn chương

cobadongvanchuong1

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Hoàng Kim

Câu chuyện lạ lùng này ấn tượng mãi trong tôi ngày lên núi Dũng Quyết 27 tháng 11 năm 2014 viếng thăm đền thờ Quang Trung Hoàng Đế (*). Tại chốn thiêng cao vọi này, tôi thành kính thắp hương, nhưng trong đầu lại vụt ra câu hỏi: ‘Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du ai là kẻ anh hùng, ai là bậc anh hùng, ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa tài trí đức độ kiệt xuất nhưng mệnh vua không tới?’.

cobadongvanchuong
Thốt nhiên nén hương bùng cháy và có một con mèo rất lớn từ đâu đó nhảy phắt xuống, quấn quýt bên tôi.

Tôi nhớ rất rõ trên tấm bia đá lớn cạnh chuông đại hồng chung có khắc sáu câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài ‘Lịch sử nước ta’ (sau này đã thay bằng tấm văn bia khác). Nội dung thơ Bác như sau: ‘Nguyễn Huệ là kẻ phi thường./ Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,/ Ông đà chí cả mưu cao,/ Dân ta lại biết cùng nhau một lòng./ Cho nên Tàu dẫu làm hung,/ Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.’ (Hồ Chí Minh tuyển tập Q1, trang 598). Năm câu chuyện lịch sử  đột ngột ùa về trong nén hương đang bùng lên trên tay và tôi ngộ ra được lời bàn luận của thầy Tịnh ‘có ba dòng văn chương’.

Hôm nay tôi xin kể lại bài thơ ‘Kẻ phi thường’ với chuyến hành hương đầy kỷ niệm. Tặng phẩm vô giá của thầy Nguyễn Khoa Tịnh sách Binh thư Yếu lược Trần Quốc Tuấn. Chuyện thầy và tôi bình sách ‘Lộc Đỉnh Ký’ Kim Dung sau hơn hai mươi năm gặp lại. Nhà thơ Hải Như tặng sách “Có hai dòng văn chương”,”Thơ viết về Người” “Chân dung phác thảo”. ‘Kỳ Lân Mộ’ và chuyện Nguyễn Du tiểu thuyết lịch sử của nhà giáo nhà văn Nguyễn Thế Quang.

nuiDungQuyet

TA VỀ TRỜI ĐẤT HỒNG LAM

Bài thơ ‘Kẻ phi thường’ với chuyến hành hương đầy kỷ niệm

Hoàng Kim

Ta về trời đất Hồng Lam
Bâng khuâng bước dưới trăng vàng lộng soi
Ngực trần chạm tới thảnh thơi
Nghe lưng thấu đến bồi hồi đất quen.
Linh miêu chốn Tổ Rồng Tiên
Quấn quanh trao gửi nổi niềm Thái Sơn
Hỡi ai là kẻ phi thường
Đỉnh chung dâng nén tâm hương nhớ Người.

Trần Hưng Đạo và Chùa Thắng Nghiêm
TẶNG PHẨM VÔ GIÁ CỦA THẦY TỊNH

Sách Binh thư Yếu lược Trần Quốc Tuấn là di sản vô giá thầy Tịnh tặng gia đình tôi, nay tôi để trang trọng bên di ảnh của Thầy nơi trân trọng cùng những kỷ vật hình ảnh thiêng liêng của Cha Mẹ, Dì, Anh Hai Hoàng Ngọc Dộ và những người thân thiết khác.

Thầy Tịnh là người đã viết bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên” với lời đề tặng “Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn”

Em ơi em can đảm bước chân lên !

“Thương mến tặng em Hoàng Kim.
Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn”

Nguyễn Khoa Tịnh

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

1970

Thầy khi tặng sách đã hỏi tôi: Vì sao em chọn gương danh nhân Trần Quốc Tuấn để học ? Em thích nhất chương nào trong sách này? Tôi thưa với Thầy đức Thánh Trần Quốc Tuấn là người minh triết, văn võ song toàn, vị thánh hiền tài, thân danh trọn vẹn nhất trong sử Việt mà em ngưỡng mộ nhất. Hơn nữa học theo gương Người (như bài thơ trên đây) chính thầy là người khuyến khích em từ thuở nhỏ .  Chương sách “Đạo làm tướng” là em thích nhất trong sách này. Lời dặn lại của Đức Thánh Trần: Bậc đại tướng là người bao trùm và vượt hẳn tám hạng tướng kể trên, gặp hiền tài thì tôn trọng lắng nghe, biết tỏ ý mình không theo kịp người, biết nghe lời can ngăn như thuận theo dòng nước, lòng rộng rãi nhưng chí cương quyết, giản dị và nhiều mưu kế“. “Người quân tử tiến thoái quả quyết, xem người thì thanh thản vui tươi, chí thì ở trừ tàn bạo, đó là khí độ của người tướng quốc. Thấy ác không giận, thấy lành không mừng, nhan sắc không thay đổi, đó là lượng của người thiên tử.” Bảy phép để biết người: 1. Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không  2. Lấy lời cật vấn đến kỳ cùng để xem cách ứng biến của họ. 3.  Cho gián điệp thử xem có trung thành không. 4. Hỏi rõ ràng tường tất để xem đức hạnh thế nào. 5. Lấy của mà thử để xem có thanh liêm không 6. Lấy sắc đẹp mà thử để xem có đứng đắn không. 7. Lấy việc khó khăn mà thử để xem có dũng cảm không. 8. Đem rượu cho họ uống say để xem có giữ được thái độ không”.

Thầy cười, khen, tặng sách và viết lời đề tặng.

Nhờ Thầy mà sau này tôi có duyên may viết được bài  Trần Hưng Đạo và chùa Thắng Nghiêm

THẦY VÀ TÔI BÌNH SÁCH LỘC ĐỈNH KÝ

Khi tôi còn nhỏ, thầy Tịnh, thầy Thuật, thầy Phượng và thầy Dộ (anh Hai tôi) hay chơi cờ và bình sách hay. Thầy Thuật đánh cờ giỏi nhất, thầy Tịnh là người giỏi cờ thứ hai. Thầy Tịnh đã có nói đến  “ba dòng văn chương” “nghiên cứu lịch sử và dạy sử” với nhiều chuyện thật hay nhưng chưa được chép lại. Riêng việc ‘có ba dòng văn chương’ một hôm thầy hỏi tôi: Hoàng Kim đọc sách Kim Dung chưa? tôi thưa thầy là chưa. Thầy nói thầy đọc rồi và thích nhất hai bộ “Tiếu ngạo giang hồ” và “Lộc Đỉnh Ký”.

Khoảng năm 1990 sau hai mươi năm gặp lại, tôi không ngờ Thầy nhắc lại câu chuyện cũ về sách ưa thích của Thầy là ‘Tiếu ngạo giang hồ; ghét  ‘ngụy quân tử kiếm’ không đáng làm thầy, ưa thích thung dung tự tại của Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh.

Thầy nói với tôi “Lộc Đỉnh Ký” là dòng văn chương thứ ba, có những loại sách thuộc loại ưu thời nhưng khó đọc. Lúc thầy trò gặp lại, tôi thưa thầy quan điểm của tôi về bộ sách này. ĐỌC LỘC ĐỈNH KÝ CỦA KIM DUNG, chúng ta sẽ thấy Vi Tiểu Bảo là hình tượng của mẫu người Trung Quốc hiện đại: có tốt có xấu, tốt là căn bản “với vua tốt thì trung, với bạn tốt thì nghĩa, với cha mẹ thì hiếu, với vợ con thì ái” mặt khác phổ biến là thực dụng, giảo hoạt, không dễ đối phó. Tôi tấu đồng và tâm đắc với nhận xét của Kim Dung đây là tiểu thuyết cuối cùng hay nhất của đời ông. Muốn hiểu người Trung Quốc có lẽ phải đọc sách này chăng? Lộc Đỉnh Ký dụng công sâu xa của Kim Dung để viết về Hoàng Đế Khang Hy một trong mười vị vua anh minh xuất sắc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thời Khang Hy đế chế Trung Hoa có biên giới lãnh thổ rộng lớn nhất so với từ trước đến nay. Bậc minh chủ không chỉ giỏi dùng người hiền đức, người tài mà còn biết biến dịch, tâm cơ, giỏi dụng công chế ngự được người xấu, kẻ ác, những loại người lưu manh, giảo hoạt, lập lờ tốt xấu. Lộc Đỉnh Ký là sách về mưu lược trị loạn của Khang Hy. Đó là một kỳ thư hiếm thấy. Đây là loại sách không dễ đọc vì lợi bất cập hại . Nó thuộc nhóm sách hay hạn chế đọc chỉ dùng cho bậc minh chủ.


CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Nhớ về kỷ niệm thầy Nguyễn Khoa Tịnh, tôi có trò chuyện với cô Trần Thị Diệu Vinh (vợ thầy Nguyễn Khoa Tịnh) cô Lê Thị Muôn (vợ thầy Hoàng Ngọc Dộ cũng là anh Hai, người Thầy lớn của tôi) và với anh Lê Quang Vinh. Nội dung như sau: “Hôm trước em có thăm vợ chồng bác Hải Như nhà thơ ở nhà riêng tại 7/2A Tổ 3 Khu phố 2 Hà Huy Giáp, Phường Thạnh Lộc , Quận 12 TP Hồ Chí Minh. Cụ tên thật là Vũ Như Hải, sinh năm 1923 tại làng Bái Dương, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. Cụ là một trong 80 thành viên đầu tiên tham gia Đại hội Văn nghệ Toàn Quốc lần thứ nhất ngày 25-7- 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Hai cụ nay 93 và 91 tuổi. Nhà thơ Hải Như là tác giả của hơn 100 bài thơ được phổ nhạc. Các tác phẩm chính đã xuất bản có ‘Trái đất mai này còn lại tình yêu’ (1985), ‘Thơ viết về Người’ (2004, 2015) ‘Có hai dòng văn chương’ (2010) và nhiều tác phẩm khác. Nhà thơ Hải Như phảng phất những tính cách giống Thầy Tịnh của chúng ta: uyên thâm về học thức và vốn sống, điềm tĩnh, vị tha, theo sát thời cuộc. Cụ cũng có điều tương đồng với Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Thầy Hiến, … Cụ nói với em: ‘Văn dĩ tải đạo’ cần nói đúng người, đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, thậm chí chưa nói tốt hơn là vội nói ra. Cụ Hải Như tặng em tập sách ‘Thơ Viết về Người’ mới in lại và tặng bản sao tập di cảo ‘Chân dung phác thảo’ với hàng chục khuôn mặt mà cụ giữ mấy chục năm nay, chưa bao giờ in với lời dặn ‘cháu viết bài hoặc đăng sau này lúc thích hợp’. Theo nhà thơ Hải Như thì có HAI DÒNG VĂN CHƯƠNG: Lâu nay nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa văn học và báo chí. Báo chí là hiện thực, văn học có hư cấu. Chức năng văn học là thức tỉnh con người. Từ văn học có ‘Hai dòng văn chương’ là Ưu thời và Xu thời. Dòng văn chương Ưu thời gồm những áng văn chương của kẻ sĩ vốn giàu lòng trắc ẩn, luôn trăn trở suy tư về kiếp người, sự hưng thịnh của dân tộc. Dòng văn chương Xu thời, gồm các tác phẩm nói theo Balzac, chỉ muốn “bào nhẵn những gồ ghề trong cuộc sống xã hội”, những áng văn chương “một chiều”. Em thì phân biệt CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG. Đây không phải là sự phân biệt của em mà khởi đầu bởi thầy Tịnh và thầy Dộ trò chuyện với nhau thuở trước. Em mới thấm chứ chưa thể kể lại thật kỹ được. Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết”. Em Hoàng Kim

 

huongtichnuihong
Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như và trò chuyện với anh Hoàng Đình Quang. “Dòng văn chương Xu thời quá phổ biến trong mọi xã hội.  Dòng văn chương Ưu thời có hai dạng loại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Khang Hi và Vi Tiểu Bảo. Thầy Tịnh nói với em “Có những tác phẩm văn chương nên hướng đến những giá trị nhân văn sâu xa hơn, như một món ăn trong thờ cúng, dẫu một con ruồi nhỡ rơi vào và đã được vứt đi nhưng cảm giác sẽ không bằng thức ăn hoàn toàn tinh khiết ”.

CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

Hoàng Kim

hoangdinhquang1

“Khi nàng trở về chả còn mặt trời
Một tí dưới đáy ly bàng hoàng
Con mèo đen bàng hoàng vệt váy”
(thơ Hoàng Đình Quang).

Hoàng Kim
quên thơ mới mất rồi.
Mình làm người cổ điển thôi.
Nhưng mình thích ảnh này
Và chuyện con mèo vàng
CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

“Bất kể mèo trắng mèo đen
Miễn là bắt được chuột”
Nhân loại đang lên đồng
Cuồn cuộn mọi nơi
Lên cơn hưng phấn.
Mọi chốn nháo nhào
Theo thuyết thực dụng
Thời Vi Tiểu Bảo lên ngôi

Ai Vi Tiểu Bảo?
Ai là Khang Hy?
Ai Trần Cận Nam?
Ai Ngô Tam Quế?

Nén hương bùng cháy trên tay.
Con mèo vàng từ chốn cao nhảy xuống.
Một câu hỏi khắc khoải mênh mông
Giữa trời xanh cao rộng.

Ai phán xét ai,
Nhân danh ai.?
Lịch sử
Nhân dân
và chính CON NGƯỜI:

Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Du
Ai là kẻ anh hùng?
Ai là bậc anh hùng?
Ai là anh hùng danh sĩ tinh hoa?

“Trăm năm trong cõi người ta.
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
“Thiện căn cốt ở lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
ĐI SĂN
Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lọng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :
LIỆP
Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt“.

*

Người dặn ta từ thuở xưa.
Càng về sau mỗi ngày càng thấm
Có ba dòng văn chương.
Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
CÓ BA DÒNG VĂN CHƯƠNG

hainhuhoangkim

(*) Notes: Hoàng Kim thăm nhà thơ Hải Như

Nguyễn Du với Hồng Sơn Liệp Hộ
KỲ LÂN MỘ VÀ CHUYỆN NGUYỄN DU

(còn tiếp….)

 

(*) Xem thêm
Giải mã bí ẩn ngạc nhiên về lăng mộ vua Quang Trung
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (3)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (2)
Hành trình tìm mộ Hoàng đế Quang Trung (1)


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Thầy ơi

nguyenkhoatinh

THẦY ƠI

Tưởng nhớ Thầy Nguyễn Khoa Tịnh

Hoàng Kim

Thầy ơi, em nặng lòng với Huế
Mừng duyên lành con em xe về miền Trung
Nơi LỘC Khê Hầu NGUYÊN vẹn công nghìn năm mở cõi
Với dòng sông Hương soi bóng núi Ngự Bình.

nguyenkhoatinh7
BÀI CA TRƯỜNG QUẢNG TRẠCH  là bài thơ nổi tiếng của Thầy Trần Đình Côn, Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quảng Trạch “Hồi tưởng lại một mùa thu ấy Mấy thu rồi biết mấy đổi thay Khởi công ròng rã tháng ngày Dốc lòng , dốc sức dựng xây trường mình Vùng các trắng biến thành ao cá  Rừng dương xanh lộng gió vi vu Giếng thơi trong suốt ngọt ngào Cổng trường cao rộng đón chào anh em…” và hình ảnh thầy trò Trường Quảng Trạch (ảnh Lê Quang Vinh), là ấn tượng mãi không bao giờ quên trong trái tim tôi.

Bài ca Trường Quảng Trạch, tôi đã dành trọn chiều và suốt đêm 2.4.2012 tại phòng đợi máy bay để đưa thơ này lên mạng. Bốn mươi bốn năm trước, Thầy Trần Đình Côn đã khóc đưa chiếc áo máu cha tôi bị bom Mỹ giết hại vào phòng truyền thống của Trường và viết nên những câu thơ cháy lòng:  “Thương em cảnh gieo neo mẹ mất / Lại cha già giặc giết hôm qua/ Tình thầy, tình bạn, tình cha/ Ấy là tình nghĩa thiết tha mặn nồng”.

nguyenkhoatinh1

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh thông xanh núi Huế là người thầy dạy nhân cách và lịch sử, khai sáng thế hệ chúng tôi. Tôi đã viết bài ‘Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời‘ để tỏ lòng tri ân sâu nặng đối với người Thầy lớn và những thầy bạn mà tôi không thể có được ngày hôm nay nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này: “Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”.

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh sinh ngày 21 tháng 7 năm 1935 tuổi Ất Hợi, mất ngày 5 tháng 12 năm 1993 nhằm ngày 21/10 năm Quý Dậu. Thầy mất lúc 58 tuổi khi chưa nghỉ hưu (Giỗ Thầy lần thứ 23 là ngày 21/10 Bính Thân trùng ngày 20 tháng 11 năm 2016 NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM). Thân phụ của Thầy là cụ Nguyễn Khoa Hoan, thân mẫu là cụ Tôn Nữ Thị Yến. Nhà riêng của Thầy nay vợ con Thầy thừa tự ở số 10, kiệt 42, đường Nguyễn Công Trứ, phường Phú Hội, Thành phố Huế …

Thầy Nguyễn Khoa Tịnh lúc sinh thời nổi tiếng là thầy dạy sử và văn học sử đặc biệt thông tuệ. Thầy là “hình ảnh mẫu mực về đạo đức, thẩm mĩ cao khiết khai sáng đầy lãng mạn góp phần tạo nên hoài bão, ước mơ và nhân cách sống trong khoảng đầu đời vô cùng quan trọng của học trò” như lời tự hào của bao thế hệ học trò của Thầy và được đúc kết tại bài viết “Thầy cô tôi thời ấy…” của nhà báo Lê Quang Vinh đăng trên báo “Quảng Bình cuối tuần”, số 107 (8061), ngày 14/5/2015 và Kỷ yếu “50 năm mái ấm Trường Quảng Trạch”.

Tự học và học để làm (Learning by Doing), học không biết mỏi, dạy không biết mệt là suối nguồn tươi trẻ hạnh phúc của tôi. ‘Học ở trường, học ở trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân’. ‘Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời‘. Tổ ấm gia đình và thầy quý bạn hiền là sinh khí và tinh lực đời ta. Cuộc sống có nhiều thầy bạn trong nhiều lĩnh vực nhưng thật may mắn cho ai khi gặp được bậc thầy minh triết phúc hậu khai tâm và thành ‘đôi tri kỹ’. Phạm Bình Trọng nhớ về ‘Thầy Hiến'(*) còn tôi thì ‘Ơn Thầy‘ nghề nghiệp và chẳng bao giờ quên được ‘Thầy ơi!’.

Mời bạn đọc bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên!” bài thơ khai tâm của thầy Nguyễn Khoa Tịnh đối với tôi để thấu hiểu. Tôi luôn coi đây là một áng văn chương vô giá, là một viên ngọc quý, chưa bao giờ và chưa lúc nào mà tôi tìm thấy một áng văn thắp lên ngọn lửa nghị lực trong lòng tôi sâu sắc đến vậy. Từ cậu bé chân đất làng Minh Lệ – Báo Quảng Bình điện tử có kể về tuổi thơ tôi và câu chuyện của những người Thầy. Thật xúc động biết bao khi Thầy “đãi cát tìm vàng” xâu chuỗi lại tuổi thơ và những vần thơ  em viết lúc còn nhỏ với sự trân quý và xúc động đặc biệt sâu xa giúp luyện nên nhân cách một CON NGƯỜI .

Thầy ơi ! các Thầy Cô và bạn bè đã giúp em nghị lực vượt lên mồ côi, đói nghèo để biết sống phúc hậu, nghị lực và làm người có ích. Em nay chép lại thơ thầy, đọc lại thơ Thầy mà rưng rưng nước mắt, biết ơn KÝ ỨC THỜI GIAN. “Hồi tưởng lại những mùa thu ấy/ Bao ngày qua biết mấy buồn vui / Đắng cay nay mới ngọt bùi / Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau”.

Thầy đã hóa thân vào Huế, vào bóng núi, mạch nước,  gốc thông, khai sáng cho em, lồng lộng như trời Nam, khuyến khích em trọn đời tiếp bước.

Lời của thầy theo mãi bước em đi.

Hoàng Kim

 

thayoi

EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN !

“Thương mến tặng em Hoàng Kim.
Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn”

Nguyễn Khoa Tịnh

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng
Hiên ngang khí phách:

Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

1970

nguyenkhoatinh4a

LỜI CỦA THẦY THEO MÃI BƯỚC EM ĐI

Đúc gan sắt để dời non lấp bể. Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ“. Trước tượng Phan Bội Châu, nhớ thầy Nguyễn Khoa Tịnh và bài thơ “Em ơi em can đảm bước chân lên“.

Hoàng Kim

Thầy thung dung bước lên bục giảng
Buổi học cuối cùng “Tổng kết sử Việt Nam”
Tiếng Thầy ấm trong từng lời nói
Như muốn truyền cho các em
Tất cả những niềm tin.

Đôi mắt sáng lướt nhìn toàn bộ lớp
Thầy có dừng trên khuôn mặt nào không ?
Thầy có tin trong lớp còn ngồi học
Có những em nung nấu chí anh hùng ?

Các em hiểu những gì
Trong tim óc người Thầy
Mái tóc đà điểm bạc
Em biết Thầy tâm huyết rất nhiều
Trên mười năm dạy học
Vẫn canh cánh trong lòng
Luôn tìm kiếm những người
Có chí lớn
và tấm lòng yêu nước
thương dân.

Mười năm
Thức đo thời gian
Dài như cả nỗi đau chia cắt
Sương bạc thời gian phôi pha mái tóc
Câu chuyện mười năm Đông Quan dạy học
Hẳn nhiều đêm rồi
Thầy nhớ Ức Trai xưa?

Mười năm
Trang lòng, trang thơ
Nhớ tráng sĩ Đặng Dung đêm thanh mài kiếm
Ôi câu thơ năm nào
giữa lòng Thầy xao xuyến
Anh hùng lỡ vận ngẫm càng cay

Mười năm
Dằng dặc thời gian
Đo lòng Thầy nhớ miền Nam tha thiết
Em tin trong lòng Thầy
Luôn âm ỉ cháy lửa lòng yêu nước
Thầy có tin rằng trong lớp
Có người trò nghèo
Chí Quốc Tuấn Ức Trai.

Dẫu đất này khi thịnh khi suy
Song hào kiệt đời nào cũng có

Thầy giảng Bình Ngô Đại Cáo
Chuyện chân chúa Nguyễn Hoàng
Âm thầm tìm kiếm Đào Duy Từ …
Chuyện “Tam cố thảo lư”
Anh em Lưu Bị
vượt núi thẳm, mưa tuyết, đường xa
ba lần đến Long Trung
tìm kiếm Khổng Minh Gia Cát
tuổi chỉ đáng bằng tuổi con mình
nhưng trọng dụng kỳ tài
tôn làm quân sư cùng lo việc nước…

Thầy kể chuyện Đào Duy Từ
Khai quốc công thần nhà Nguyễn
dựng nghiệp nhọc nhằn, người hiền lắm nạn
cha mẹ chết oan, chiếc lá giữa dòng
Đào Duy Từ còn mãi với non sông
Kỳ tài nước Nam chẳng kém Ngọa Long
Định Bắc thu Nam công đầu Nam tiến.
Chế thắng chiều sâu, ba tầng thủ hiểm
Hoành Sơn, Linh Giang, Lũy Thầy
Sừng sững mưu cao.
Người lập nên định chế đàng Trong
Một chính quyền rất được lòng dân
Minh chúa, dân mến, tướng tài.
Người viết kiệt tác Hổ trướng khu cơ,
Nhã nhạc cung đình và tuồng Sơn Hậu,
Trí tuệ bậc Thầy, danh thơm vạn thuở
Minh triết ông cha học mãi không cùng …

Bài học lịch sử Việt Nam
Biết bao người con trung hiếu
Tận tụy quên mình vì dân vì nước
Nhiệt huyết lời Thầy cháy bỏng khát khao …

Tổ Quốc Việt Nam rất đổi tự hào
Vượng khí non sông khí thiêng hun đúc
Lòng dân cơ trời chuyển xoay vận nước
Đất Quảng Trạch mình đâu kém Nam Dương?

Có nông phu ham học, chăm làm
Mà thao lược chuyển xoay thời vận.
Ôi sử sách cổ kim bao nhiêu gương sáng
Học sử ai người biết sử để noi?

“Lịch sử dân tộc mình
Những năm bảy mươi
Các em sẽ là người viết tiếp
Điểm theo thời gian
Truyền thống ông cha xưa
Oanh liệt vô cùng”

Tiếng Thầy thiết tha
Truyền nguồn cảm xúc
Các em uống từng lời
Lắng nghe từng chữ
Lời tâm huyết thấm sâu vào lòng em:
“Nung gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”
Em đã tìm được trong Thầy
Một người anh
Một người đồng chí
Em vững tin trong sự nghiệp cứu dân
Hẳn có lòng Thầy luôn ở bên em!

Thầy nói nhiều về Việt Nam thân yêu
Dựng nước gian nan, người dân còn khổ
Mắt Thầy thiết tha quá chừng
Làm em mãi nhớ
Thầy truyền cho chúng em niềm tin
Đạo làm người, lòng yêu nước
Em càng thấm thía vô cùng
Vì sao những người có tâm huyết ngày xưa
Những Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Thiếp, Phan Châu Trinh, …
Đều yêu nghề dạy học.

Tổ Quốc cần, gọi em về phía trước
“Em ơi em, can đảm bước chân lên!” (1)
Em sẽ khắc trong lòng
Những lời dạy đầu tiên!

Lời của Thầy theo mãi bước em đi !
nguyenkhoatinh9

Hình ảnh thăm gia đình Thầy và bữa cơm họp mặt tại nhà hàng Huế xưa.

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ
Hoàng Kim
Rút trong tập THƠ CHO CON
(1)  bài thơ của thầy Nguyễn Khoa Tịnh
EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN (ở trên hoặc tại đây)

Mai Em Về – Tân Nhàn (Album Thương)

Tài liệu trích dẫn

(1)  Nếp nhà và nét đẹp văn hóa  Hoàng Kim có trích dẫn bài viết “Nên thợ nên thầy” “No ăn no mặc”của  nhà văn Hoàng Ngọc Hiến. Dưới đây xin chép bài “Thầy Hiến” của nhà văn  Phạm Bình Trọng để cung cấp thêm một góc nhìn về vai trò người Thầy trong đời sống: “Trường đại học viết văn Nguyễn Du không đào tạo ra nhà văn. Trường chỉ có tham vọng bồi đắp cho nhà văn nền tảng văn hóa về con người và nền tảng tư tưởng triết học của loài người. Không còn nhà văn đến học, trường đã kết thúc vai trò lịch sử sau sáu khóa tồn tại. Trường viết văn Nguyễn Du của thầy Hoàng Ngọc Hiến không còn nữa nhưng tinh thần Hoàng Ngọc Hiến, linh hồn Hoàng Ngọc Hiến vẫn còn mãi trong những nhà văn đã từng đèn sách ở ngôi trường mang bóng dáng lừng lững người thầy Hoàng Ngọc Hiến” (Phạm Bình Trọng).

hoangngochienTHẦY HIẾN

Phạm Bình Trọng

Chúng tôi vẫn gọi trường viết văn mà chúng tôi là những người học khóa đầu tiên là “Trường Viết Văn Nguyễn Du Của Thầy Hoàng Ngọc Hiến”. Phải gọi vậy để phân biệt với trường viết văn cũng mang tên Nguyễn Du của Hội Nhà Văn Việt Nam đã có từ giữa thế kỉ trước và hiện nay vẫn đang tồn tại đã liên tiếp mở những khóa bồi dưỡng viết văn ngắn hạn để những nhà văn đã thành danh khai tâm truyền nghề cho những người mới cầm bút.

Nhìn những lớp người trẻ có vốn sống dày dặn của một thời lịch sử khốc liệt, có hồn văn chương thấp thoáng trên những trang tác phẩm đã xuất bản nhưng vì chiến tranh và vì một nền giáo dục nông cạn, hời hợt, nhồi nhét thô thiển và méo mó, bị chính trị hóa nặng nề làm cho những hồn văn chương đó thiếu hụt quá lớn nền tảng văn hóa về con người và nền tảng tư tưởng triết học của loài người. Thiếu hụt hai tầng quan trọng của nền tảng văn hóa đó, những trang viết của họ khó tiếp cận được với giá trị nhân văn, chỉ còn là thứ văn chương minh họa, cổ động cho chính trị, thứ văn chương công cụ của chính trị, núp bóng chính trị. Văn chương núp bóng. Con người bầy đàn. Không có cá nhân, không có con người tự do thì không thể có nhân cách văn hóa. Với tâm trạng đó, nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến, người thầy Hoàng Ngọc Hiến dạy ngữ văn ở nhiều trường đại học sư phạm đã dành nhiều tâm sức, thời gian xây dựng đề án tổ chức, xây dựng nội dung giảng dạy của một trường viết văn theo hệ đại học, chính qui, dài hạn cho những hồn văn chương đó.

Với đề án trong tay, với nỗi băn khoăn về sự thiếu hụt nền tảng văn hóa đích thực ở những nhà văn tương lai của nền văn học nước nhà, ông đến gặp những quan chức nhà nước đứng đầu ngành văn hóa và ngành giáo dục đại học, vận động để có một trường viết văn hệ đại học.

Giữa năm 1979 trường đại học viết văn Nguyễn Du chính thức ra đời và chiêu sinh khóa 1. Trường do một tiến sĩ văn chương có lí lịch được tin cậy về chính trị làm hiệu trưởng. Thầy Hoàng Ngọc Hiến chỉ là chủ nhiệm khoa nhưng chúng tôi đều nhận ra bóng thầy Hoàng Ngọc Hiến lừng lững trên ngôi trường đơn sơ chỉ là một dãy nhà tranh mái lá vách liếp trên đất trường Đại học Văn hóa và song song với những dãy nhà vách liếp mái lá là nhà nội trú của sinh viên trường Đại học Văn hóa, 103 Đê La Thành, Hà Nội. Chúng tôi vẫn thấy tinh thần Hoàng Ngọc Hiến, linh hồn Hoàng Ngọc Hiến trong từng tiết học, ở từng con người, người dạy và người học, trong những tiết học đó.

Tinh thần Hoàng Ngọc Hiến ở người dạy và người học hiển hiện rõ nhất ớ khóa 1 trường đại học viết văn Nguyễn Du. Không thể đào tạo ra nhà văn, với nhận thức đó trường chỉ nhận những người đã có tác phẩm văn chương được xuất bản, đã là nhà văn và có nền học vấn đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Có người bước ra từ cuộc chơi trò trốn tìm với cái chết suốt mười năm ở mặt trận phía Nam. Trong tay chỉ có mảnh giấy chứng nhận thương binh. Mảnh bằng tốt nghiệp trung học phổ thông bị thất lạc không còn nữa thì phải dự cuộc kiểm tra kiến thức môn văn và môn sử do trường Đại học Văn hóa ra đề và chấm bài. Một chuyện bi hài đã xảy ra. Nhà văn Thái Bá Lợi, tác giả truyện vừa Hai người trở lại trung đoàn đang có tiếng vang đã bị điểm 1, điểm thấp nhất bài kiểm tra môn Văn!

45 sinh viên khóa 1 là lứa nhà văn dân sự và nhà văn quân đội chắt ra từ cuộc chiến tranh thảm khốc hàng triệu người lính từ hai phía bỏ xác ngoài mặt trận, hàng triệu người dân trên khắp đất nước chết thảm vì bom đạn từ trên trời rơi xuống, chết thảm vì những khối thuốc nổ gài vào cuộc sống bình yên. Chết trên cánh đồng ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chết trong xưởng máy ở Hải Phòng. Chết trên giường ngủ êm ấm giữa trung tâm Sài Gòn. 22 nhà văn mặc áo lính và 23 nhà văn dân sự với những cái tên đã được dư luận quan tâm như Dương Thu Hương, Lâm Thị Mỹ Dạ, Vương Anh, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Thái Bá Lợi…

Đã đi qua suốt cuộc chiến tranh mười năm, người học không còn trẻ nữa. Còn người dạy là những nhà văn hóa hàng đầu Việt Nam ở các trường đại học và các viện nghiên cứu được thầy Hiến chọn lọc và đến gặp trực tiếp từng người đặt hàng họ giảng về những đề tài mà họ chuyên sâu và đã có những thành tựu khoa học được ghi nhận. Trò có bề dày cuộc sống thì thầy cũng có bề dày chữ nghĩa nên cũng không có thầy nào còn trẻ.

Nhà khoa học đích thực đều có tâm hồn nghệ sĩ, hồn nhiên và trẻ trung. Giáo sư tâm lí học Hồ Ngọc Đại mái tóc muối tiêu mà phần muối đã lấn lướt phần tiêu với chiếc áo blouson của lính phi công Nga và chiếc xe đạp đua Sputnik ông mang về từ nước Nga Xô viết, nơi ông lấy bằng tiến sĩ tâm lí học. Áo bay và xe đua Sputnik đang là mốt của thanh niên Hà Nội lúc đó. Trước những đôi mắt chăm chú của người học nhìn lên, đôi mắt ông cũng sáng lấp lánh như đôi mắt cô gái đang yêu. Giọng sang sảng và say sưa, ông dẫn Marx vanh vách nhưng ông lại hồn nhiên nói: Cách mạng tháng Tám thành công là do dân trí thấp!

Giảng đường là hai gian đầu của dãy nhà lá tuềnh toàng nhưng những giờ lên lớp về ngôn ngữ của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, lên lớp về lịch sử văn hóa Việt Nam của giáo sư Trần Quốc Vượng, lên lớp về lịch sử văn hóa thế giới của giáo sư Nguyễn Hồng Phong… đã thu hút cả những cán bộ ở các cơ quan văn hóa, sinh viên khoa văn các trường Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp đến nghe, ngồi chật trong phòng học, ngồi tràn cả ra ngoài cửa.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi ở Viện Văn học được dành khá nhiều giờ để diễn giải về lịch sử thể kí sự. Be rượu nhỏ để trước mặt, nhà văn Nguyễn Tuân thủng thẳng nói về việc nhặt nhạnh, tích cóp từ ngữ trong dân gian, học lời ăn tiếng nói của người lam lũ làm ra hạt gạo, củ khoai cũng là người sáng tạo ra ngôn ngữ dung dị mà gợi cảm. Học ngôn từ của cuộc sống, học cả cách nhìn, cách cảm nhận cuộc sống. Nguyễn Tuân nói về những chuyến đi theo cách của Nguyễn Tuân để có những bài kí mang phong cách Nguyễn Tuân. Nhìn con người lịch lãm trong đời, lịch lãm trong văn chúng tôi hình dung ra con người văn hóa Nguyễn Tuân và con người văn hóa đó đã làm nên sức hấp dẫn của trang sách Nguyễn Tuân và sức hấp dẫn của lời nói Nguyễn Tuân.

Mang tinh thần Hoàng Ngọc Hiến là mang những giá trị văn hóa mới mẻ đến cho chúng tôi, được chúng tôi háo hức đón nhận. Không mang tinh thần đó, một tên tuổi lớn, một nhà thơ có tài viết về tình yêu say đắm nhưng mãi mãi khắc khoải không bao giờ đến được: Phải duyên phải lứa thì thương / Để chi đêm thẳm ngày trường hỡi em. Tình yêu luôn khắc khoải trong xa cách. Dù có sát bên nhau vẫn xa vời vợi: Có một bận em ngồi xa anh quá / Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn / Xích lại gần hơn chút nữa, anh hờn / Em đứng dậy mỉm cười vội vã / Đến bên anh và mơn trớn: Em đây / Anh vui liền nhưng lại buồn ngay / Vì anh thấy vẫn còn xa nhau quá! Người viết về tình yêu say đắm và khắc khoải như vậy, không phải chỉ chúng tôi chờ đợi mà cả những người trẻ làm công việc chữ nghĩa ở các báo, các nhà xuất bản, các viện khoa học xã hội cũng đến để được nghe tiếng nói của một tình yêu khôn cùng. Nhưng nhà thơ tình yêu lại nói những điều rất chính trị mà ông đã nói hàng chục, hàng trăm lần với các trường học, các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị quân đội, nơi ông được mời đến nói chuyện thơ với quần chúng công nông binh trong nhiều năm qua bây giờ nhà thơ lớn lại rỉ rả nói ở trường viết văn Nguyễn Du. Người nghe cứ lặng lẽ biến mất. Phòng học trống vắng đến nỗi nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ phải đưa cả hai con gái nhỏ, bé Lim và bé Líp, vào phòng học, ngồi lấp bớt đi những chiếc ghế trống để nhà thơ lớn khỏi buồn.

Giữa năm 1981, khóa 1 trường đại học viết văn Nguyễn Du đi thực tế để viết tác phẩm tốt nghiệp. Tôi, Nguyễn Trí Huân, Lâm Thị Mỹ Dạ được ở cùng đoàn đi Lâm Đồng với thầy Hoàng Ngọc Hiến. Chúng tôi đã ngồi thuyền độc mộc ngược dòng sông Đồng Nai đến buôn Go, Cát Tiên, mảnh đất heo hút của tỉnh Lâm Đồng giáp Đắc Nông, gặp những nông dân đói đất từ Nam Định, đồng bằng Bắc Bộ vào khai khẩn vùng đất màu mỡ còn hoang vu Cát Tiên để nhà văn Nguyễn Trí Huân có bút kí Bát ngát Đồng Nai Thượng. Chúng tôi đã đến nghĩa trang liệt sĩ ở thành phố Đà Lạt đứng lặng trước san sát những nấm mồ liệt sĩ vô danh để nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có bài thơ hay với câu kết rưng rưng: Người vô danh, cỏ cũng vô danh / Nhưng tôi thấy suốt đời tôi mắc nợ. Trong một đêm ở nhà khách tỉnh ủy Lâm Đồng, đường Duy Tân, Đà Lạt, tôi viết xong truyện ngắn Giai điệu Đà Lạt. Truyện ngắn này sau đó đăng ở tạp chí Văn nghệ Quân đội và in trong nhiều tập sách khác, được chọn in trong tập truyện ngắn xuất bản bằng tiếng Anh, The Dalat Melody, của nhà xuất bản Ngoại Văn, năm 1983.

clip_image004

Thầy Hoàng Ngọc Hiến (bìa phải), tác giả và nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ

Đến Lâm Đồng chúng tôi được gặp một tấm lòng hồn hậu, thân thiết, một tỉnh ủy viên, trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy Lâm Đồng Hồ Phú Diên. Tấm lòng đó đã đưa chúng tôi đi nhiều ngả đường Lâm Đồng, đã mở lòng với chúng tôi về cuộc đời ở rừng gian nan của ông. Quê ông ở miệt biển Bình Thuận nhưng trong suốt cuộc chiến tranh vừa qua ông sống chui lủi trong những cánh rừng cao nguyên Đà Lạt. Trong một bữa nhậu vui vẻ, tôi ngồi bên phải và Hồ Phú Diên ngồi bên trái Hoàng Ngọc Hiến. Được nghe câu chuyện của Hồ Phú Diên và Hoàng Ngọc Hiến, tôi mới chợt nhận ra ông thầy Hoàng Ngọc Hiến của mình. Hồ Phú Diên than phiền rằng làm tuyên giáo nhưng ông thiệt thòi là không được học lí luận dài hạn, bài bản ở trường đảng Nguyễn Ái Quốc. Hoàng Ngọc Hiến liền nhỏ giọng, nói: Anh không được học là may. Học cái sai thì càng học càng ngu. Đất nước mình khốn khổ như hiện nay là vì cái ngu đó. Tôi nhìn Hồ Phú Diên. Ông cũng bất ngờ như tôi nhưng sau đó tôi nhận ra ông càng thân tình, quí mến, nể trọng Hoàng Ngọc Hiến hơn.

Đó là giữa năm 1981. Mười năm sau, cái sai mà Hoàng Ngọc Hiến nói đến mới bộc lộ ra ở sự sụp đổ cả hệ thống cộng sản Đông Âu.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Thơm hương hoa lộng lẫy Hoa Người

thomhuonghoalonglayhoanguoi
THƠM HƯƠNG HOA LỘNG LẪY HOA NGƯỜI

Hoàng Kim

Nhìn đàn em ngời niềm vui rạng rỡ
Chợt thấy lòng rưng rưng
Công việc nghề nông cực mà hạnh phúc
Cố lên em nổ  lực không ngừng.

Hột mồ hôi lắng vào hạt gạo
Câu ca ông bà theo suốt tháng năm
Thêm bữa cơm ngon cho người lao động
Nâng chén cơm thơm, qúy trọng người trồng.

Em ơi hãy học làm ruộng giỏi.
Nghề nông thời nào cũng quý kỹ năng
Người dân khá hơn là niềm ao ước
Thơm hương hoa lộng lẫy Hoa Người.

hoahongngayvui

thomhuonghoalonglayhoanguoi3

  CHÚC MỪNG QUÝ THẦY CÔ BẠN HỮU
GIA ĐÌNH NÔNG NGHIỆP

Dù đi đâu ta mãi là hạt giống
Đã được ươm xanh tốt ở vườn trường


thomhuonghoalonglayhoanguoi1

HOA CỦA ĐẤT

Hoàng Kim

Bao năm Trường Viện là nhà
Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương
Một đời người một rừng cây
Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng

thaybanlalocxuancuocdoi1

ƠN THẦY

Hoàng Kim

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

lophoctrendongLỚP HỌC TRÊN ĐỒNG

Trò đứng trên bờ
Thầy cày dưới ruộng
Roi rói đất lật lên
Thẳng tắp từng hàng từng luống …

Buổi đầu chưa quen đường cày đâu vững
Thầy nắn tay cầm, thầy sửa dáng đi
Trán lấm tấm mồ hôi, trời thì lạnh giá
Nhưng mọi người đều học say mê

Thầy dạy con muốn đường cày đẹp
Phải vững tay cày và thẳng mắt trông
Bước đĩnh đạc, đường hoàng, ngay ngắn
Dóng trâu đi đúng lối, thẳng đường

Con hiểu thầy bày từng lời cặn kẽ
Đâu chỉ dạy cày, thầy dạy đức cho con
Nuôi mục đích trước sau như một
Việc tốt đưa ra, quyết vượt tới cùng …

NỐI NGHIỆP

– Các em học hiểu không?
– Hiểu lắm!
– Em nào ra cày?
Muôn cánh tay giơ lên …

Luống cày chạy băng băng
Đất lành sôi sự sống
Từng hàng, từng hàng lật lên
Áo mới thay dần mặt ruộng

Thầy trò say mê mãi
Dưới ruộng trò cày
Trên bờ thầy hớn hở
Đường cày càng vững vàng hơn…


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

 

 

Con đường lúa gạo Việt Nam

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài ghi chép lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của các nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

 


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Myanmar đất nước chùa tháp

myanmar-dat-nuoc-chua-thapMYANMAR ĐẤT NƯỚC CHÙA THÁP

Hoàng Kim.

Tôi đến Myanmar hai lần nhưng cả hai lần đều ngắn ngủi, vì đó chỉ là sự quá cảnh Việt Nam qua Ấn Độ nên tôi dè dặt chưa dám viết gì nhiều về nơi này, ngoại trừ sự ám ảnh ấn tượng về đất nước chùa tháp và câu chuyện huyền thoại bà Aung San Suu Ky. Nói về Myanmar tôi nhớ ngay đến thầy Mai Văn Quyền, thầy Nguyễn Lân Dũng và anh Bulukhin Nguyễn Quốc Toàn, những người lưu trong tôi sự sâu đậm về đất nước kinh kim cương thừa.

myanmarThầy Quyền nghề nông của chúng tôi sang giảng dạy và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp ở Myanmar. Thầy đã mang về tặng cho tôi kỷ vật vô giá bức khảm tuyệt đẹp khu rừng thiêng dát đầy nắng vàng và cây xanh. Tôi trang trọng treo ở chốn tĩnh lặng để khi dâng hương ở bàn thờ Cha Mẹ lại thân thiết nhớ về những người thầy yêu mính trong đời mình.

ƠN THẦY

Cha ngày xưa nuôi con đi học.
Một nắng hai sương trên những luống cày.
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ.
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất.
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con.
Mắt cha lắng bao niềm ao ước.
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng.

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy.
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm.
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ.
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con.

Trên luống cày này, đường cày con vững.
Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa.
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ.
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”.

(trích trong bài: Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời)

 

Myanmar1
Thầy Nguyễn Lân Dũng viết bài Myanmar ngày nay tổng hợp thật nhanh và thật ấn tượng về những điều kỳ diệu lạ lùng đang diễn ra ở đó.

Myanmar5
Anh Bulukhin lang thang hơn một tuần bên đó và đưa ra câu đố về bức phù điêu lạ “Vũ điệu bắn cung” do cậu con trai mang về từ Yangon.

Myanmar: Gian nan con đường dân chủ những tư liệu dưới đây giúp đúc thông tin Myanmar đất nước chùa tháp, đọc lại và suy ngẫm.

myanmar

Bài học con người và lịch sử văn hóa Myanmar, chúng ta sẽ còn nhiều lần quay lại.

Hoàng Kim

xem tiếp

MYANMAR GIAN NAN CON ĐƯỜNG DÂN CHỦ

Blog VOA 16/11/2015

Trần Vinh Dự

Mặc dù việc kiểm phiếu chưa kết thúc, nhưng câu chuyện NLD (Liên minh Dân chủ Toàn quốc) thắng cử là câu chuyện chắc chắn. Đây là một sự kiện trọng đại trong lịch sử của Myanmar, cho dù cuối cùng thì phe quân đội có để cho NLD lên cầm quyền hay không. Ít ra thì cuộc bầu cử cũng đã được diễn ra và được công nhận rộng rãi là cuộc bầu cử tự do, theo nghĩa không có những chiêu trò gian lận làm ảnh hưởng lớn đến kết quả bầu cử, và dĩ nhiên, việc đảng NLD thắng gần như tuyệt đối trên các ghế được đem ra bầu như vậy là việc quá ấn tượng.

Hai vế này cho thấy đảng USDP (Liên minh Đoàn kết và Phát triển) của phe quân đội cũng đã chơi “fair” ván bài mà họ chấp nhận chơi. Ở mặt khác nó cũng cho thấy rằng mặc cho các thành tựu gần đây mà giới lãnh đạo USDP đạt được trong lĩnh vực mở cửa và phát triển kinh tế, quần chúng Myanmar cũng vẫn kỳ vọng một sự thay đổi thực sự chứ không phải câu chuyện bình mới rượu cũ của USDP, và vì vậy họ đặt niềm tin vào NLD cũng như cá nhân bà Suu Kyi.

Chiến thắng của NLD được coi là một bước tiến về dân chủ ở Myanmar, tuy nhiên trước khi có những chuyện này, Myanmar đã có 2 nền tảng quan trọng của dân chủ. Đó là việc có nhiều đảng phái được công nhận (dù có được bầu cử dân chủ hay không), và người Myanmar cũng đã quen với văn hóa chính trị dân chủ. Sự kiện lần này đặt thêm một dấu mốc quan trọng nữa, nhưng nó không chỉ nằm ở chỗ NLD thắng, mà nó còn nằm ở chỗ USDP và lực lượng quân sự chấp nhận ván cờ bầu cử tự do, và chấp nhận kết quả của ván cờ này (ít nhất là theo những gì họ nói cho đến giờ).

Cũng có nhiều người đặt câu hỏi về việc liệu NLD có làm tốt vai trò lãnh đạo nền kinh tế. Điều này làm tôi nhớ câu nói của triết gia John Dalberg-Acton rằng “tự do không phải là phương pháp để đạt được mục tiêu chính trị tốt hơn, bản thân nó chính là mục tiêu chính trị cao nhất”. Vì thế cũng không nên đặt vấn đề là việc NLD lên cầm quyền là để phát triển kinh tế, và họ phải làm tốt hơn những gì USDP đã làm trong giai đoạn vừa qua. Thậm chí họ có thể làm tệ hơn trong một nhiệm kỳ, và có thể trong kỳ bầu cử sau họ sẽ thua, nhưng cái được là người dân Myanmar và nền chính trị đã chấp nhận sử dụng cơ chế bầu cử dân chủ để tìm ra người lãnh đạo theo ý mình. Đó mới là điều quan trọng nhất, hoặc nói như John Dalberg-Acton, đó mới là mục tiêu cao nhất.

Dân chủ hóa từ trên xuống

Những diễn biến hiện nay làm người ta dễ quên con đường đã qua. Con đường này mang nặng dấu ấn của ông Than Shwe, người đã lãnh đạo chính quyền quân sự trong gần 20 năm, sau đó thực hiện cuộc cải cách chính trị vào năm 2011 để dựng nên một chính quyền mang màu sắc dân sự do ông Thein Sein làm tổng thống, còn bản thân ông lui vào hậu trường.

Tại sao Than Shwe lại thực hiện cuộc cải cách chính trị mà dấu mốc bản lề là vào năm 2011 khi ông chính thức rút vào hậu trường? Than Shwe luôn được ghi nhận là một nhà độc tài tàn bạo và kẻ thù của tiến trình dân chủ ở Myanmar. Ông chỉ đạo hai cuộc đàn áp đẫm máu phong trào đấu tranh dân chủ, một lần vào năm 1988 và một lần vào năm 2007 (cách mạng cà sa). Vì các “thành tích” đàn áp trong suốt những năm lãnh đạo của mình, ông bị xếp hạng thứ 4 trong danh sách các nhà độc tài tệ hại nhất thế giới bởi Parade Magazine năm 2009.

Thế nhưng vào năm 2003, khi ông tròn 70 tuổi, thì chính quyền của ông đã soạn ra “lộ trình 7 bước đến dân chủ”. Năm 2008, hiến pháp mới do chính quyền của ông soạn được thông qua. Năm 2009, ông Than Shwe đã nói về cuộc bầu cử diễn ra sau đó vào năm 2010 rằng “tôi sẽ trở thành một công dân bình thường, một người bình thường, và các cộng sự của tôi cũng vậy vì chính quyền sẽ là một chính quyền dân sự”. Và ông đã làm đúng như thế, khi vào năm 2011 một chính quyền mang màu sắc dân sự được dựng lên (mặc dù họ đều từng xuất thân từ quân đội).

Nhiều người cho rằng ông Than Shwe thực hiện cuộc đổi mới chính trị là vì bị áp lực. Điều đó đúng một phần, nhưng nó khó giải thích câu chuyện ông cho soạn ra “lộ trình 7 bước đến dân chủ” từ năm 2003. Cũng khó nói tuổi tác khiến ông nghĩ lại, vì cách lãnh đạo của ông vẫn cứng rắn, thể hiện ở việc đàn áp năm 2007. Vì thế không thể nói khác được rằng cuộc đổi mới này thực sự là cuộc đổi mới từ trên xuống, từng bước, và có kế hoạch chặt chẽ.

Vai trò của ông Thein Sein cũng không hề nhỏ. Trước khi nhậm chức tổng thống, ông đã được coi là một người khá ôn hòa. Ngay sau khi trở thành tổng thống thì ông đã ngay lập tức thực hiện nhiều cuộc cải cách mạnh mẽ, trong đó có việc “thoát Trung”, điển hình là việc hủy bỏ dự án xây thủy điện Myitsone theo tiếng gọi của người dân nước ông. Ông cũng thả hàng nghìn tù nhân chính trị, bình thường hóa quan hệ với đảng NLD, làm thân với phương Tây, và hàng loạt các động thái thay đổi mạnh mẽ khác.

Ông cũng là người mà, nếu chúng ta còn nhớ, vào đầu năm 2014 lên tiếng về việc có thể thay đổi hiến pháp năm 2008, theo đó cho phép “bất cứ công dân nào” cũng có thể trở thành tổng thống. Hiến pháp 2008 được viết ra bao gồm nhiều nội dung bảo vệ cho phe quân sự, trong đó bao gồm cả một nội dung viết ra chỉ nhắm vào bà Suu Kyi, đó là cấm công dân Myanmar có thành viên trong gia đình là người quốc tịch khác trở thành tổng thống. Nó cũng quy định phe quân đội nghiễm nhiên có 25% số ghế trong Quốc hội mà không qua bầu cử, và 75% số phiếu thì không thay đổi được hiến pháp. Đó là lá chắn hiến pháp để bảo vệ phe quân đội. Phát ngôn này của ông Thein Sein, một người xuất thân từ phe quân đội, và là đương kim tổng thống, là một phát ngôn đáng kinh ngạc và thể hiện tư tưởng đặc biệt cấp tiến và thái độ thân thiện với bà Suu Kyi.

Tới lần này, ngay trước cuộc bầu cử diễn ra, ông Thein Sein cũng khẳng định sẽ chấp nhận kết quả bầu cử. Cuộc bầu cử cũng diễn ra theo cách mà ngay cả phe đối lập là đảng NLD cũng thừa nhận là tự do. Vì thế, cho đến giờ, phải thừa nhận là ông Thein Sein đóng vai trò rất quan trọng.

Vai trò tiếp diễn của quân đội trong nền chính trị

Nhiều người đang đặt dấu hỏi liệu phe quân đội sẽ làm gì tiếp theo. Nghi ngờ là có cơ sở vì ít nhất vào năm 1988 họ cũng đã sổ toẹt kết quả cuộc bầu cử dân chủ thời đó. Tuy nhiên, lần này, có ít lý do để tin chuyện tương tự sẽ lặp lại.  Khả năng lớn là ông Thein Sein sẽ rời nhiệm sở và ông có quyền rời nhiệm sở trong thế ngẩng cao đầu. Thế nhưng sau đó việc quân đội có để yên cho NLD lãnh đạo đất nước trong nhiệm kỳ này không thì vẫn là một câu hỏi mở.

Ai cũng biết phe quân đội nắm tối thiểu 25% số phiếu, và với 75% số phiếu thì không thay đổi được hiến pháp. Với hiến pháp hiện tại thì thứ nhất là bà Suu Kyi không thể làm tổng thống bởi một quy định trong hiến pháp mà phe quân đội đặt ra chỉ để áp dụng cho trường hợp của bà, và thứ 2 là 3 bộ cực kỳ quan trọng đối với sự ổn định của nền chính trị Myanmar đều nằm trong tay quân đội – bộ quốc phòng, nội vụ, và biên giới.

Vì thế vai trò của quân đội vẫn hết sức trọng yếu trong nền chính trị Myanmar, và dĩ nhiên bà Suu Kyi cũng như NLD không ảo tưởng gì về chuyện này. Để giữ được ổn định và phát triển, họ phải tìm kiếm sự đồng thuận từ quân đội. Điều này làm cho nền chính trị Myanmar sẽ còn tiếp tục ở trạng thái bấp bênh trong một thời gian dài. Có nhiều người cho rằng nếu cuộc chuyển giao quyền lực thuận buồm xuôi gió, quân đội Myanmar sẽ dần trở thành lực lượng chính trị giống như vai trò của quân đội Thái Lan trong nền chính trị nước này, tức là họ sẽ đứng một bên để yên cho chính phủ làm, nhưng sẵn sàng “can thiệp” trong những giai đoạn họ cho là “khủng hoảng”.

Điều này nếu thành công thì, xét cho cùng, sẽ là một kỳ tích và một bài học mới về chuyển đổi chế độ trên thế giới. Từ một nền độc tài bị cả thế giới lên án sang một nền dân chủ tự do và pháp quyền mà không phải trải qua các cuộc cách mạng đẫm máu như chúng ta đã nhìn thấy ở nhiều nơi trên thế giới.

Những thách thức lớn của NLD và Aung San Suu Kyi

Có 4 thách thức rất lớn. Thứ nhất, việc bà Suu Kyi không thể làm tổng thống tạo ra những phức tạp không hề nhỏ. Dù một đại diện khác của NLD lên làm tổng thống, và theo ý muốn của bà Suu Kyi, người đó chỉ là bù nhìn và bà sẽ là người ngồi “trên tổng thống”, thì điều đó cũng không dễ dàng. Nó có thể tạo ra xung đột ngay trong chính nội bộ đảng NLD. Không ai muốn mình là bù nhìn cả, nhất là về mặt pháp luật không quy định như vậy.

Thứ hai là cái bóng của bà Suu Kyi quá lớn và bà năm nay đã 70 tuổi. Cái bóng quá lớn của bà cũng khiến cho các tài năng chính trị khác của NLD bị lu mờ. Nếu có bất kỳ chuyện gì xảy ra với bà liên quan đến sức khỏe thì đó sẽ là một tổn thất cực kỳ lớn của NLD. Và con người thì không ai bất tử. Bà Suu Kyi và đảng NLD chắc chắn sẽ phải có kế hoạch thật tốt liên quan đến chuyện chuẩn bị nhân sự thế hệ kế tiếp.

Thứ ba là là câu chuyện phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Rất nhanh thôi sau khi cầm quyền, hào quang có được trong giai đoạn đấu tranh dân chủ sẽ phải nhường chỗ cho việc chứng minh các thành tựu từ việc quản lý có hiệu quả nền kinh tế và xã hội nếu NLD muốn tiếp tục cầm quyền. Điều này nói thẳng ra là không dễ dàng. Lech Walesa, nhà dân chủ lỗi lạc của Ba Lan (người cũng được nhận giải Nobel Hòa Bình vào năm 1983), chẳng hạn, chỉ trụ được ở vai trò tổng thống có đúng một nhiệm kỳ, sau đó cũng thua cuộc trong một cuộc bầu cử tự do.

Thứ tư là NLD sẽ liên tục phải tìm kiếm sự đồng thuận từ quân đội nếu muốn duy trì sự ổn định và phát triển. Dĩ nhiên các cuộc mặc cả liên tục này sẽ không dễ dàng.

Chính trị thực dụng và câu chuyện thoát Trung

Dưới thời của tổng thống Thein Sein, Myanmar đã thực hiện một cuộc chuyển đổi ngoạn mục về đường lối ngoại giao. Nó được kích hoạt vào đúng lúc nước Mỹ xoay trục về chiến lược ngoại giao và hướng sang châu Á. Vì thế nó được phương Tây, nhất là Mỹ, ủng hộ mạnh mẽ. Nó giúp USDP, một đảng do phe quân sự lập ra, nhanh chóng lấy được vị thế và uy tín đối với phương Tây, cũng như sự hậu thuẫn cần thiết của phương Tây để thực hiện cuộc chuyển đổi mềm về mô hình chính trị.

Đó là chưa kể nó giúp Myanmar thoát khỏi một số phận bi thảm của một thuộc quốc (vassal state) của Trung Quốc. Chưa có quốc gia nào giàu mạnh lên được với số phận thuộc quốc của đế quốc này. Có lẽ lựa chọn của Myanmar cũng là bài học tốt cho một vài nước Đông Nam Á có vẻ như đang vì vài mối lợi ích trước mắt mà Trung Quốc bố thí mà tạm thời đánh mất mình như Campuchia chẳng hạn.

Vì thế, một điểm mà chắc chắn giới quan sát và lãnh đạo các nước có lợi ích liên quan mật thiết với Myanmar sẽ quan tâm là, dưới sự dẫn dắt của bà Suu Kyi và NLD, Myanmar sẽ thực hành một nền chính trị thực dụng như thế nào, và câu chuyện quan hệ của họ với Trung Quốc sẽ ra sao. Bà Suu Kyi đang tỏ ra nóng lòng để thực hiện vai trò lãnh đạo, và chắc chắn, bà sẽ muốn tạo ra một con đường riêng chứ không đơn giản là thực hiện tiếp những gì mà ông Thein Sein đang làm dang dở.

*Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Trần Vinh Dự

Trần Vinh Dự chuyên nghiên cứu, tư vấn, và viết về các vấn đề kinh tế của Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới. Ngoài lĩnh vực sở trường này, ông cũng thường xuyên viết về các vấn đề quan hệ quốc tế liên quan tới Á Châu. Trần Vinh Dự tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học tổng hợp Texas ở Austin, làm chuyên gia tư vấn kinh tế cho tập đoàn ERS Group Inc., đồng sáng lập và là cố vấn cho Quỹ nghiên cứu Biển Đông.

Myanmar

MYANMAR NGÀY NAY

Blog Nguyễn Lân Dũng

Nhờ có Vietnam Airline mà càng ngày càng có nhiều người Việt Nam có thể bay từ Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh sang Myamar để du lịch hoặc tìm cơ hội hợp tác kinh tế. Năm 1989, hội đồng quân sự đổi tên tiếng Anh từ Burma thành Myanmar, tên của thủ đô đổi từ Rangoon thành Yangon. Myanmar là tên quốc gia, trong khi Bama (Burma lấy nguồn gốc từ đây) là tên gọi thông tục. Nhiều nhóm người Myanmar tiếp tục sử dụng tên “Burma” vì họ không chấp nhận tính hợp pháp của chính quyền quân sự cũng như sự đổi tên đất nước. Một vài chính phủ phương tây, chẳng hạn Hoa Kỳ, Australia, Ireland và Anh tiếp tục sử dụng tên “Burma”, trong khi Liên minh châu Âu sử dụng cả hai. Liên Hợp Quốc sử dụng tên “Myanmarr”.

Myanmar có diện tích lớn hơn nước ta nhiều (676 577 km2). Nước này có 5.876 km đường biên giới với Trung Quốc (2.185 km), Thái Lan (1.800 km), Ấn Độ (1.463 km), Lào (235 km) và Bangladesh (193 km). Đường bờ biển dài 1.930 km. Tính theo chiều dài bắc-nam thì dài tới 2090 km, bề ngang chỗ rộng nhất là 925 km. Tuy nhiên dân số ít hơn nước ta khá nhiều, theo thống kê vào tháng 7-2010 thì dân số nước này là 59,1 triệu người, mật độ bình quân chỉ có 87 người km2. Khi máy bay sắp hạ cánh xuống sân bay quốc tế của Thủ đô Yagon thì nhìn xuống chỉ thấy đồng ruộng mênh mông, không thấy một nhà cửa, xóm làng gì cả.
Sự đa dạng chủng tộc dân cư ở Myanmar (135 sắc tộc khác nhau) đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chính trị, lịch sử và nhân khẩu học của quốc gia này . Người Miên (Burma) chiếm tới 68%, dân tộc Shan (9%), Karren (8%), Rakhine (4%), các dân tộc còn lại không quá 4%. Có tới 89% người Myanmar theo Phật giáo (Thiên chúa giáo-5,6%; Hồi giáo- 3,8%; Hinđu giáo- 0,5%…).
Phật giáo được coi như quốc đạo với 500 000 tăng ni và hầu hết mọi người trong đời mình phải qua nhà chùa rèn luyện không dưới 3 năm (!). Họ theo giáo phái Nam Tông như Ấn Độ, chứ không phải Bắc Tông như Trung Quốc. Người ta gọi Myanmar là “đất nước chùa tháp” vì có tói hàng vạn đền chùa lớn nhỏ nằm trên khắp đất nước.

Vì điều kiện công tác chúng tôi chỉ có thể ghé thăm một số chùa nổi tiếng. Chùa vàng Swedagon có lẽ là rộng lớn nhất và đẹp đẽ nhất vì phủ bằng bàng thật. Các bạn nói tháp lớn nhất lắp bằng vàng khối chứ không phải chỉ mạ vàng. Người đông như hội, vào chùa đều phải đi đất, không được đốt một chút vàng mã nào (!). Họ đến bằng lòng thành kính và cầu mong mọi sự yên bình chứ không phải để cầu xin, tiền tài, bổng lộc. Trên tay họ chỉ có vài bông hoa , một chuỗi hoa hay một nén hương mà thôi. Tất cả đều yên lặng, thành kính và nhiều người mang theo cơm hộp để ở cà ngày trong đền.

Bạn kể chuyện cơn siêu bão Nargis đã tàn phá Myanmar khiến trên 100 000 người chết. Chùa Swedgon bị vỡ từng khối vàng lớn nhưng người dân dã thu gom lại để tái thiết chùa mà không thiếu một chút vàng nào (!)Hàng vạn cây cổ thụ bị đốn ngã, bạn đã tận dụng để tạo ra các bức tượng bằng gỗ quý có giá trị nghệ thuật rất cao

Chúng tôi được bạn đưa đi thăm bằng thuyền đến một ngôi chủa rất lớn ở giữa sông. Mọi người mua bỏng ném xuống sông và hàng đoàn cá nổi lên nuốt chửng những nắm bỏng lớn, trông thật vui mắt.

Chúng tôi còn đi thăm nhiều ngôi đền khác nữa mà không kịp nhớ nổi tên. Đặc biệt được đến thăm những con voi trắng mà người dân Myanmar vô cùng sùng bái.

Ấn tượng sâu sắc nhất đối với chúng tôi là người Myanmar trông ai cũng hiền lành, thánh thiện, Không có trộm cắp, đĩ điếm, cờ bạc, cãi cọ, đâm chém, cướp bóc, nghiện hút ( trừ Khu tám giác vàng quá đặc biệt ở biên giới ba nước mà chua có cách gì triệt phá nổi).., Từ sau khi tháo gỡ một phần cấm vận , xe hơi cũ đã được thay gần hết bằng xe hơi đời mới. Không có một chiếc xe máy trên đường phố, nhưng có những xe đạp cải tiến chở được hai khách ngồi quay lưng lại nhau trong một thùng bên cạnh, Xe máy có che ô chở được hai hành khách ngồi trên một ghế lắp phía sau xe.

Người Myanmar không ăn thịt chó nên rất nhiều chó trên đường phố, Đặc biệt là không thấy con nào sủa hoặc dữ tợn. Quạ và chim bổ câu bay khắp nơi- chứng tỏ môi trường thiên nhiên còn rất trong sạch. Đồng bằng Ayeyarwady, diện tích gần 50.400 km², phần lớn để canh tác lúa gạo. Vậy mà Myanmar không xuất khẩu được lúa gạo, vì mỗi năm chỉ làm có một vụ. Công việc thủy lợi không phát triển và hiện nay mới đang nhờ Việt Nam giúp đỡ. Nông dân Myanmar ưa một cuộc sống rất thanh đạm, không có ý định làm giàu và họ coi cuộc sống sau khi chết quan trọng hơn đời sống thực trên trần thế.
Việt Nam có rất nhiều cơ hội để hợp tác phát triển nông lâm thủy sản với Myanmar. Độ tăng trưởng kinh tế chậm của Myanmar góp phần giữ gìn môi trường và các hệ sinh thái. Rừng, gồm rừng nhiệt đới với loại gỗ tếch có giá trị kinh tế cao ở vùng hạ Myanmar, bao phủ 49% diện tích đất nướ. Các loại cây khác mọc ở vùng này gồm cao su, keo, tre, lim, đước, dừa, cọ… Trên những cao nguyên phía bắc có sồi, thông, và nhiều giống đỗ quyên khác nhau bao phủ đa phần diện tích. Những vùng đất dọc bờ biển có nhiều cây ăn quả nhiệt đới. Tại Vùng khô, thực vật thưa thớt và còi cọc hơn. Có nhiều loài động vật rừng rậm tiêu biểu, đặc biệt hổ và báo có nhiều tại Myanmar. Ở vùng Thượng Myanmar, có tê giác, trâu rừng, lợn lòi, hươu, linh dương và voi nhà… Các loài động vật có vú nhỏ hơn cũng rất nhiều – vượn, khỉ , cáo bay, heo vòi… Đáng chú ý là sự đa dạng về các loài chim với hơn 800 loài (vẹt, peafowl, gà lôi, quạ, diệc và gõ kiến..). Trong số các loài bò sát có cá sấu, tắc kè, rắn mang bành, trăn , rùa… Hàng trăm loài cá nước ngọt là nguồn thực phẩm quan trọng. Năm 1994, đất canh tácchiếm 15,3% (chỉ mới 2% có tưới tiêu), đồng cỏ 0,5%, rừng và cây bụi 49,3%, các đất khác 34,9%. Khoáng sản chính: dầu khí, thiếc, kẽm, antimon, đồng, vonfram, chì, than, đá quý…. Mức sống của người Myamar rất chênh lệch so với nhau. Một số nhỏ rất giàu có họ đến với các siêu thị lớn, hết sức hoành tráng, đi xe đời mới nhất và sở hữu những tài sản kếch xù. Còn phần lớn dân cư an phận sống cuộc đời rất thanh bạch nhưng lại cảm thấy thỏa mãn (!). Đó có phần tốt nhưng cũng là sức cản cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

Myanmar là một trong những quốc gia có quan hệ ngoại giao sớm nhất với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời kháng chiến chóng thực dân Pháp Myanamar là cửa ngõ giúp ta liên hệ với thế giới bên ngoài. Đầu thập niên 1950 Myanmar đã mua vũ khí từ Ấn Độ chuyển qua Lào để sang giúp quân đội ta, Cơ quan đại diện Chính phủ VNDCCH tai Rangoon được thành lập từ tháng 1-1948. Sau 1954 Myanmar giữ lập trường trung lập và có Tổng lãnh sự quán ở cả hai mièn Nam Bắc.Tháng 11-1954 Thủ tướng U Nu và Hồ Chủ tịch ký tuyên bố chung ghi nhận”năm nguyên tắc chung sống hòa bình”. Tháng 2-1958 Hồ Chủ tịch sang thăm chính thức Myanmar. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã hai lần Chính phủ Myanmar ra tuyên bố phản đối Mỹ ném bom miền Bắc và giải dioxin ở miền Nam. Sau ngày Việt Nam thống nhất đất nước, Myanmar thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Việt Nam từ ngày 25 tháng 5 năm 1975. Tháng 5-1994 Thủ tướng Võ văn Kiệt thăm Myanmar và hai bên ký kết 3 Hiệp định (thương mại, du lịch và thành lập UB hỗn hợp). Sau đó là các chuyến viếng thăm hữu nghị của các Thủ tướng Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trần Đức Lương cùng với các cuộc viếng thăm Việt Nam của các Tướng Myanmar. Tuyên bố chung ngày 2-4-2010 đã khẳng định việc gia tăng hợp tác trong 12 lĩnh vực kinh tế. Đến tháng 7-2010 Việt Nam là bạn hàng xuất nhập khẩu thứ 10 của Myanmar, và là bạn hàng xuất nhập khẩu thứ 4 của Myanmar trong ASEAN. Tính đến hêt năm 2010 các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều dự án với vốn đăng ký tới gần 1 tỷ USD. Các doanh nghiệp đã có mặt sớm tại Myanmar là VNA, VIETTEL, PETROVIETNAM, BIDV. Hoàng Anh Gia Lai, TCT Sông Đà, TCT tôn Hoa Sen. TCT sữa quốc tế, TCT Điện lực, VIGLACERA, VIETRANIMEX….
Ngày 7-11-2010 đã có 29 triệu cử tri đi bầu cử Quốc hội (sau 20 năm kể từ 1990) để thành lập Chính phủ dân sự mới. Đầu tháng 2/2011,Quốc hội Myanmar đã bầu Thủ tướng mãn nhiệm trước đây – ông Thein Sein- làm Tổng thống dân sự đầu tiên sau gần 50 năm cầm quyền của quân đội. Chính phủ quân sự Than Shwe đã chuyển giao quyền lục êm thấm cho Chính phủ dân sự Thein Sein và một trang lịch sử mới đã mở ra trên đất nước này. Bà Aung San Suu Kyi ( sinh ngày 19-6-1945) Yagon. Trong những năm 1988-1995 bà hoạt động đòi tự do nhân quyền cho Myanma và bị chính quyền Myanma giam lỏng.Năm 1990, bà được trao Giải tưởng niệm Thorolf Rafto. Bà được tặng giải Nobel Hòa bình năm 1991. Tháng 9 năm 2006, theo bình chọn của tạp chí Forbes, Aung San Suu Kyi ở vị trí thứ 47 trong số 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới. Năm 2011 bà được trao Huy chương Wallenberg. Hiện nay bà là hội viên danh dự của Câu lạc bộ Madrid. Năm 2012 bà được bầu làm nghị sỹ quốc hội của Myanma. Ngày 16/6/2012, Ủy Ban Giải Nobel Hòa Bình đã tổ chức đón tiếp bà Suu Kyi, người đoạt giải Nobel Hòa Bình năm 1991. Buỗi lễ với sự hiện diện của vua Harald, hoàng hậu Sonja, thái tử Haakon, thủ tướng Jens Stoltenberg, Chủ tịch Quốc hội Dag T. Andersen, và lãnh đạo các chính đảng của Nauy. Chủ tịch Ủy Ban, ông Thorbjørn Jagland đọc diễn văn chào đón Aung San Suu Kyi. Diễn văn nhấn mạnh gương tranh đấu của Aung San Suu Kyi đã mang lại hi vọng cho thế giới. Chế độ quân phiệt càng quản chế và cô lập mạnh bao nhiêu, tiếng nói của bà càng rõ hơn. Lý tưởng và sự tranh đấu kiên trì của bà đã động viên được người dân Miến và chiến thắng được chế độ quân phiệt. Tự do và dân chủ không do nhà cầm quyền hay luật pháp ban phát. Những giá trị cao quý đó phải do tranh đấu bền bỉ mà có.

Thành quả tranh đấu của Aung San Suu Ky mang một thông điệp: chế độ độc tài có tất cả mọi thứ trong tay nhưng họ rất sợ dân chủ và trước sau cũng sụp đổ.

Nguyễn Lân Dũng
sinh năm 1938 là một giáo sưtiến sĩ sinh học, Nhà giáo Nhân dân của Việt Nam [1]. Công tác chính của ông là giảng dạy và nghiên cứu tại Viện vi sinh vật và Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. (Wikipedia)

MỘT LẦN TỚI MIẾN ĐIỆN

Bulukhin

Bu thích gọi Myanma là Miến Điện vì nghe nó thâm u, kì bí, phù hợp với những thông tin về đất nước này bao giờ cũng trái chiều, gây tò mò, thắc mắc.  Có người bảo Miến Điện tương đương Việt Nam 35 năm trước (khoảng 1976) tức là lúc dân ta còn nhai hạt bo bo thay gạo, mọi hàng hóa trên đời phải mua bằng tem phiếu.  Mấy chú bộ đội trong nam về bắc còn tòng teng cái khung xe đạp và con búp bê nhựa sau ba lô… Tờ thông báo du lịch Miến Điện của Ami tour nhắc nhỡ quý khách có thể mang theo mỳ gói hoặc mắm ruốc đề phòng ăn không hợp khẩu vị.  Ở Răng Gun 19 giờ là đóng cửa, quý khách không nên ra ngoài một mình…Bởi vậy khi máy bay tiếp đất Răng Gun, Bu tui trong bụng không yên… Càng thêm sợ khi làm thủ tục nhập cảnh thấy nhà ga tối om, cúp điện! Đến hồi máy nổ chạy lên thì ơ kìa,  nhà ga họ lộng lẫy không kém chi Nội Bài và Tân Sơn Nhất, chưa nói là hơn. Riêng tấm thảm hoa ở phòng đợi dài 110 mét, rộng 11 mét tuyệt đẹp ( không có chỗ nối)  đã làm các vị Việt Nam thầm phục. Các sân bay xứ mình không nói làm gì, phòng đợi ở sân bay Bangkok (cách nay 10 năm) ở sân bay Bắc Kinh, Thượng Hải cách nay 5 năm bu tui chưa  thấy tấm thảm lót nền sang trọng thế.

Bữa ăn tối đầu tiến đến Răng gun ở nhà hàng  Bangkok Kitchen tuyệt ngon.  Chỉ riêng mấy loại nước chấm, các bà nội trợ khó tính Hà Nội đã khen rối rít. Bốn ngày, bốn bữa ăn sáng, tám bữa ăn chính chưa thấy vị  khách Việt Nam nào kêu không hợp khẩu vị.   Ngủ đêm ở khách  sạn Royal Park 4 sao  sang trọng và tiện nghi.

19 gìờ đèn điện ngoài phố sáng trưng, xe tắc xi mời đi dạo phố, không dám đi vì ngôn ngữ bất đồng, với lại xe họ không có đồng hồ đếm cây số, chỉ áng chừng để tính tiền. Cả thành phố chưa thấy cây xăng nào, nghe bảo các chỗ đổ xăng người ta xếp thùng, phuy, cao lêu nghêu, người bán đong từng xô đổ vào ô tô, bên cạnh đó có nơi nhà hàng ăn uống vẫn lửa đỏ từng bừng.

Vài ấn tượng đầu tiên khi đặt chân đến Răng Gun bạn đọc tạm, Bu còn viết tiếp.

NGÀ

6 giờ sáng ngày đầu tiên ở Răng gun bu rủ một anh bạn xách máy ảnh đi dạo phố coi thử cảnh vật xứ người ra sao. Quái lạ, trời sáng trưng rồi mà sao phố xá vẫn đóng im ỉm? Hoá ra, với người Miến lúc đó mới 5 giờ 30. Giờ họ chậm hơn giờ mình nửa tiếng. Định về lại khách sạn thì thấy một anh Miến đạp chiếc xe đi ngược chiều. Nói đạp xe nhưng chiếc xe ấy không hẳn là xe đạp, mà là một thứ “xi đờ ca” chạy bằng cơ bắp. Ngoài phần xe đạp thông thường ra, người ta gắn vào (bên phải người lái) một cái thùng để chở khách. Bu ra hiệu dừng xe và chễm chệ ngồi vào thùng. Anh chàng Miến khom lưng, guồng chân, nói một tràng líu ríu, chằc là hỏi “ông đi đâu”. Xe lăn bánh được một đoạn, bu ra hiệu dừng xe, đưa cho anh lái một đô la, nhảy vội xuống đất. Anh chàng kia không ra mừng, không ra ngạc nhiên, đạp xe đi, ngoái lại nói một tràng líu ríu, có thể là cảm ơn, cũng có thể bảo chụp hình cả người lẩn xe người ta mà trả có một đô, đồ keo kiệt! Hehehe.

Có anh đi Miến Điện về viết như đinh đóng cột lên mạng, con gái Miến ra đường trang điểm bằng vôi bột xoa lên má. Khiếp! vôi bột mà xoa lên má thì bỏng da, hỏi còn gì là má nữa. Ấy thế mà các cô rao bán hàng lưu niệm ở nơi đông khách du lịch hai má cứ trắng xóa như hề tuồng. Chả nhẽ da mặt mấy em Miến này chịu được vôi bột? Cho đến khi vào khách sạn Kyaik Hto (trên đỉnh núi cao 1200m so với mặt biển) mới biết thứ bột trắng ấy được mài từ thân cây thanaka (chỉ có ở Miến Điện). Khúc gỗ thanaka bằng cái cốc vại mài lên đá với nước lả. Dung dịch thu được trắng đục như sữa, xoa lên da chống được tia tử ngoại mặt trời và làm trắng da. Khổ! Nào có thấy em nào trắng, em nào em nấy da dẽ cứ như đồng điếu đấy thôi.

Trong số những vật phẩm bu tui mang về tặng bà xã có một phiến gỗ thanaka và một cái đĩa đá mài hình tròn. Sau khi nghe bu thuyết trình về công dụng trang điểm của nó, bà xã nguýt dài: Ôi dào, trang với chả điểm kiểu này thì có mà dở hơi. Hihihi!!

Theo các nhà Trầu Học thì tập tục ăn trầu phổ biến ở vùng nhiệt đới châu Á và châu Đại Dương. Quốc đảo Đài Loan khoảng 25 triệu dân mà có tới 20% dân số ăn trầu. Cả nước mỗi năm chi ra 3 tỷ USD để nhai nhai, nhả nhả, một thứ chẳng ngon lành béo bổ gì. Thế nhưng đứng đầu thế giới về vụ ăn trầu phảỉ là dân Miến Điện. Những ai đi Miến về đều nói thế, và bu tui loanh quanh nước Miến 5 ngày cũng thấy thế. Từ nông thôn cho chí thành thị, hang cùng ngõ hẽm nào cũng có người bán trầu, gặp 10 người thì đã có tới 4, 5 người nhai trầu bỏm bẻm.

Cách tiếp thị trầu của người Miến khác xa người Đài Loan. Các em “Tây Thi bán trầu hút khách” xứ Đài có chiêu câu khách ngoạn mục: Áo mỏng liền váy ngắn, cúc cài chiếu lệ, “quên” mặc nội y, anh nào mua đủ 100 Đài tệ trầu cau thì em cho xem luôn vòng 1 !

Hehehe…. P/S Đoạn nói về “Tây Thi bán trầu hút khách” và tấm hình minh hoạ dưới đây bu dẫn theo tác giả Thu Hà trên báo điện tử Vietnamnet.

Người Miến không thế, trầu bày ra đấy, ai cần thì mua không thì thôi, chẳng đon đả mời chào, không nói lời đưa đẩy. Như anh chàng đen nhẻm dưới đây, đã không mời thì chớ, còn trừng trừng nhìn khách, thượng đế nào yếu bóng vía có khi phải co giò …chạy.Nhìn vào quầy bán trầu (ảnh dưới) của anh chàng này chỉ thấy trầu không , vôi, một hộp không nắp đựng vai (từ cây gỗ gì đó đẽo ra) còn 7 hộp khác đựng gì thì có trời biết nỗi. Bu đoán mò: Cau khô, vỏ chay, vỏ quạch, vỏ trầm, rễ sen, là những thứ người ăn trầu nói chung vẫn dùng. Có thể có thêm đinh hương và đậu khấu là hai món người Miến khoái xài như các nhà Trầu Học nói tới.Bàn dân thiên hạ ăn trầu thì không nói làm gì, đằng này chú cảnh sát giao thông cũng ăn trầu khi đang thi hành công vụ (ảnh dưới). Tay phải chú cầm roi (điện ?), tay trái cầm bộ đàm. Đang tả xung hữu đột điều khiển người đi đường thì bổng chú ta dừng lại, nhổ toẹt bả trầu xuống đường. Nhè lúc này bu giơ máy ảnh lên, chú ta quay tít cây roi (điện?) và hô to: No photo. No photo!! Bu đành rút êm nhưng vẫn ghi nhanh được cảnh chú vào quán trầu mua tiếp 5 miếng, cho vào bao ni lông, đút túi quần để dành ăn tiếp…

Người Việt ta ăn trầu chưa đến mức nổi tiếng thế giới, nhưng đã có một nềnVăn Hoá Trầu mang bản sắc Việt rất độc đáo, với sự tích trầu cau bi thương và cảm động, với tâm sự của dân gian: Miếng trầu là đầu câu chuyện. Thương nhau cau sáu bửa ba, ghét nau cau sáu bửa ra làm mười. Rồi những nhà thơ viết về trầu: Xóm làng đã đỏ đèn đâu, chờ em ăn giập miếng giầu em sang (Nguyễn Bính). Các cụ ông say thuốc, các cụ bà say giầu, còn con trai con gái. chỉ nhìn mà say nhau (tác giả ?). Vậy thì xài trầu tầm cỡ nước Miến Điện hẳn phải có một nền Văn Hoá Trầu cực kì phong phú không kém gì người Việt, chưa nói là hơn . Hiềm nỗi chính phủ nước này chủ trương bế quan toả cảng, các nhà báo, nhà nghiên cứu không được tự do vào đó hành nghề. Văn học dân gian Miến chưa có ai dịch thuật giới thiệu. Bu tui được cái văn dốt võ dát, ở Miến có 5 ngày, chỉ nói được vài dòng chung chung, cốt mua vui cho bạn bè vậy, hehehe..

*

Bài viết “MỘT LẦN ĐẾN MIẾN ĐIỆN” trên đây, Bu nói những điều mắt thấy tai nghe ở cái xứ sở khuất nẻo và huyền bí. Có thể bạn sẽ hỏi: Tại sao Miến Điện rộng gấp đôi nước Việt, đất đai màu mỡ, tài nguyên dồi dào, dân số chỉ hơn nửa Việt Nam, có một quá khứ vàng son làm thế giới nể phục, lại nghèo nàn chậm tiến hơn nhiều nước Đông Nam Á. Anh Cô Cô người Miến hướng dẫn viên du lịch đã trả lời câu hỏi đó không chút dè dặt:  “Thể chế chính trị Miến Điện nhiều năm do quân đội nắm giữ, họ dựa vào súng đạn, đàn áp nhiều cuộc nổi dậy đòi tự do và dân chủ của dân chúng và tăng lữ, đẩy Miến Điện một thời thịnh vượng trở thành một nước nghèo nàn, xứ sở của sự sợ hãi…”

Ngày 4 tháng 1 năm 1948 Miến Điện thoát khỏi ách nô dịch thực dân Anh trở thành nước cộng hòa độc lập với tên gọi Liên bang Myanma do Sao Shwe Thaik làm tổng thống và Unu làm thủ tướng. Dẫu sao thì chính phủ Unu cũng còn được gọi là dân chủ. Nhưng đến 1962 tướng Ne Win đảo chính quân sự và lên nắm quyền suốt 26 năm liền. Ông này theo đuổi chính sách Xã hội chủ nghĩa, thân cộng sản, lấy quốc hiệu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Myanma. Đứng đầu phe cộng sản thời bấy giờ là Liên xô và Tàu đang coi nhau như “kẻ thù số một”. Mao Trạch Đông chống Liên Xô do việc Khơ rút sốp hạ bệ thần tượng Sta lin. Bản thân Mao đưa ra chính sách Đại nhảy vọt, chỉ trong ba năm làm chết đói 37,55 triệu người, mười năm Đại cách mạng Văn hóa chết thêm 20 triệu, tổng cộng 57,55 triệu, 100 triệu người bị đấu tố (trang 243, sách Mao Trạch Đông ngàn năm công tội của giáo sư Tân Tử Lăng, Thông tấn xã Việt Nam xuất bản).

Thể chế XHCN của Ne Win thân cộng ngày càng mất lòng dân. Chính vì thế năm 1974 nhân đám tang của U Than (Tổng thư kí Liên hợp quốc người Miến Điện) một cuộc biểu tình lớn đã xẩy ra, quân đội nổ súng đàn áp, máu người đổ đầy đường. Năm 1988 tướng Saw Maung làm đảo chính buộc Ne Win từ chức, lập nên Hội đồng Khôi phục trật tự và luật pháp Liên bang (SLORC). Hội đồng này lãnh đạo kinh tế yếu kém, thẳng tay đàn áp các phong trào đòi dân chủ, phản đối áp bức chính trị, dẫn đến cuộc nổi dậy 8888 (ngày 8 tháng 8 năm 1988), và bị quân đội đàn áp dã man, làm chết 3000 người (theo Trần Viết Đại Hưng, Email: dalatogo@yahoo.com).

Tuy nhiên cuộc biểu tình 8888 đã dọn đường cho bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) do bà Aung San Suu kyi lãnh đạo thắng hơn 60% số phiếu và chiếm 80% ghế trong Quốc hội. Nhân dân Miến Điện hy vọng có sự đổi đời . Nhưng chính quyền quân sự đã thẳng thừng bác bỏ kết quả bầu cử, không những không trao quyền lực cho (NLD) mà còn giam cầm, quản thúc bà Suu kyi tổng cộng 15 năm ( trong số 21 năm từ 1990 đến 2011). Chủ trì việc loại bỏ NLD là thống tướng Than Xuề lúc bấy giờ giữ chức phó tổng chỉ huy lực lượng vũ trang, kiêm phó chủ tịch Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang (SLORC). Tháng 3 năm 1992 Than Xuề làm bộ trưởng bộ quốc phòng , tháng 4 năm đó giữ chức chủ tịch (SLORC) tiếp theo làm thủ tướng.

Việc loại bỏ NLD trong bầu cử 1990 và chính sách đàn áp dân chúng của Than Xuề làm nhiều nước như Ái Nhĩ Lan, Anh quốc, Áo, Ấn Độ, Bỉ, Đức, Hoa Kì, Ca na đa, Na Uy, Hàn quốc, Pháp, Tân Tây Lan, Singgapo, Thái Lan, Tây Ban Nha, Úc…đã có các cuộc biểu tình chống chính quyền quân phiệt Miến Điện. Liên Hiệp Quốc, trực tiếp can thiệp bằng ngoại giao. Hội đồng Bảo an LHQ cử đặc sứ Ibrahim Gambari đến Miến Điện cùng với các nước Đông Nam Á làm áp lực đòi chính phủ quân sự phải đối thoại với thủ lãnh đối lập – bà Aung San Suu Ky.

Mỹ và EU đưa ra nhiều biện pháp trừng phạt kinh tế như cấm nhập hàng hóa Miến Điện, hạn chế đầu tư… Nền kinh tế Miến do vậy gặp rất nhiều khó khăn. Có gần 2 triệu người Miến Điện sang lao động kiếm sống ở Thái Lan. Jackie, điều phối viên của MAP cho biết lao động nhập cư phải làm việc quá giờ và được trả lương thấp, thậm chí thấp hơn mức tối thiểu mà chính phủ Thái đưa ra. Họ không có quyền thành lập công đoàn và gặp rào cản về ngôn ngữ. Tính ra người lao động Miến Điện ở Thái thu nhập khoảng 3000 baht (1,2 triệu VNĐ)/ tháng. Con số đó còn cao gấp đôi những người lao động ở chính quốc. Tại các thị trấn giáp biên về phía nam quán karaoke và nhà thổ nhiều gấp đôi nhà hàng và quán rượu, tệ nạn xã hội vượt tầm kiểm soát của chính quyền sở tại. Một sự thực hiển nhiên, khi còn là thuộc địa Anh (1948 trở về trước) xuất khẩu gạo của Miến Điện đứng đầu thế giới. Đến năm 2011 dự kiến xuất khẩu 1,5 triệu tấn, chỉ bằng 1/5 số gạo xuất của Việt Nam. Ở SEA Games (1965-1973) đội tuyển bóng đá quốc gia Miến Điện 5 lần liền giành cúp vô địch, từ đó đến nay trên bảng xếp hạng chỉ là con số không.

Trước áp lực của  Liên Hợp quốc, Hoa kỳ, EU, khối ASEAN và nhiều nước trên thế giới, chính quyền quân phiệt Miến Điện đã chấp nhận tiến hành tổng tuyển cử vào ngày 7 tháng 11 năm 2010.  Ngày 3 tháng 3 năm 2011 Thủ tướng chính quyền quân sự ông Thein Sein tuyên thệ trở thành tổng thống Miến Điện. Tướng Min Aung  Halaing thay thế ông Than Xuề  làm tổng tư lệnh quân đội. Chính phủ mới có 34 bộ, trong đó có 23 bộ trưởng và thứ trưởng vốn là tướng lĩnh vừa mới lột bỏ quân hàm quân hiệu. Dư luận phương Tây cho rằng chính quyền quân sự Myanmar về hình thức đã mở đường cho một chính phủ dân sự sau nửa thế kỉ liên tiếp các chính phủ quân sự nắm quyền. Nhưng chế độ dân sự lần này hoàn toàn không thực chất.

Sau khi nhà cầm quyền Miến Điện dở bỏ lệnh quản thúc tại gia, tháng 7 2011 bà Aung San Suu Ky đã xuất hiện trước công chúng như một trắc nghiệm chính trị. Đi đến đâu bà cũng được nhân dân quây quần đón tiếp.  Chính quyền Miến Điện ngay lập tức cảnh báo sẽ đàn áp nếu có những cuộc tập hợp ủng hộ như trong quá khứ.

Bà San Suu Kyi được nhân dân mến mộ

Nhân dân Miến Điện cũng như những người yêu quý đất nước con người Miến Điện hy vọng vào sự trở lại chính trường của bà Suu Kyi. Chính bà cũng đã lên tiếng đề nghị ASEAN kêu gọi Mỹ và EU dở bỏ lệnh cấm vận đối với Miến Điện. Và tại cái xứ sở đầy rẫy sợ hãi này đã le lói ngọn gió đổi mới.

Tháng 1.2011 xuất hiện tấm hình các doanh nhân gặp Thống tướng Than Xuề

Ngày 7.6.2011 Một phái đoàn ngoại giao cao cấp của EU đến Răng gun khởi đầu những cuộc đối thoại về dân chủ và nhân quyền với chính phủ dân sự mới thành lập của Miến Điện.

Ngày 15.6.2011 Tồng thư ký Ban Ki-moon của Liên Hiệp Quốc cũng loan báo sẽ lập một văn phòng làm việc toàn thời gian chuyên trách về Miến Điện, để thúc đẩy quốc gia Đồng Nam Á này đổi mới chính trị.

Mong lắm thay một thể chế dân chủ thực sự cho toàn dân Miến Điện.


Bulukhin

Xem hồ sơ bác Bu

Nguyễn Du và Hồng Sơn Liệp Hộ

huongtichnuihong
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Nguyễn Du và Hồng Sơn Liệp Hộ. Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ (Người đi săn núi Hồng) sau khi bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An mùa đông năm Bính Thìn (1796) về tội danh định trốn vào Nam với chúa Nguyễn Ánh, sau được tha về sống ở Tiên Điền. “Nguyễn Du và Hồng Sơn Liệp Hộ” (1797-1802) thuộc NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI. Hoàng Kim. Phần 3. Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối (1797- 1820).

Bài Liệp “Đi săn” Nguyễn Du viết : “Những người áo mũ hiển đạt để chí mình ở đường mây, còn ta, ta vui với bầy hươu nai của ta, cốt là để khuây khỏa trong lúc nhàn chớ đâu phải ham được thịt thú. Diệt trừ giống khác hại chăng đến đức nhân ? Con xạ ngủ nơi đồng cỏ non hương thơm còn ướt. Con chó vượt qua nhiều lớp núi, tiếng sủa không còn nghe thấy. Tìm thú vui chơi trong cuộc phù sinh mỗi người một sở thích. Những người lọng đón xe đưa là người nào thế nhỉ ?”

Nguyễn Hành viết về Phi Tử Nguyễn Du trong bài Ca tụng việc đi săn (Trương Chính. Thơ chữ Hán Nguyễn Du  Nxb Văn Học, Hàn Nội 1965,  tr 38) : Đó là ông nói việc đi săn của người tầm thường, chứ ông đâu có biết việc đi săn của bậc đại nhân. Bậc đại nhân đi săn không ở chỗ đi săn. Họ nhỡn nhơ chỗ nọ chỗ kia, ngắm núi ngắm rừng. Họ trèo lên đỉnh cao để nhìn vực thẳm, tắm gội nơi suối trong, thơ thẩn giữa cây tùng cây bách, nhìn tạo vật biến hóa, đùa giỡn với hươu nai, do đó mà tinh thần được thư thái, ý chí được trau giồi, lòng dạ thảnh thơi không bận bịu, mây nhẹ nhàng luồn trong tay áo, gió phất phơ thổi đưa tà áo, trông thấy kinh kỳ trong gang tấc, hứa hẹn những cuộc ngao du. Bậc đại nhân đi săn như thế, người tục đâu có biết !

Nguyễn Du tóm tắt các sự kiện chính (1797- 1820)

Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An về tội danh định trốn vào Nam với chúa Nguyễn Ánh. Nguyễn Du viết tập thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù), và được tha về sống ở Tiên Điền. Nguyễn Du những năm 1797-1801 làm Hồng Sơn Liệp Hộ (Người đi săn núi Hồng);  Mùa thu năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên); mấy tháng sau ông được thăng chức tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc Hà Nội). Năm Quý Hợi (1803), Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long. Năm Ất Sửu (1805) ông được thăng Đông các đại học sĩ (hàm Ngũ phẩm), tước Du Đức hầu và vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm Đinh Mão (1807) ông được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm Mậu Thìn (1808), ông xin về quê nghỉ. Năm Kỷ Tỵ (1809) ông được bổ chức Cai bạ (hàm Tứ phẩm) ở Quảng Bình. Năm Quý Dậu (1813) ông được thăng Cần chánh điện Đại học sĩ và được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Tập thơ Bắc Hành tạp lục được hoàn thành trong dịp này. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham tri bộ Lễ (hàm Tam phẩm) ông được về nghỉ ở quê sáu tháng, có dựng lều thơ ở bến Gian Đình và hoàn thành Truyện Thúy Kiều. Năm Bính Tý (1816), anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng Nam. Năm (Canh Thìn) 1820 Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong nhưng ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi. Năm Giáp Thân (1824), di cốt của ông được cải táng về quê nhà Tiên Điền, Hà Tĩnh. Niên biểu Nguyễn Du thời thế và cuộc đời , chi tiết như sau:

Nguyễn Du cuộc đời và thời thế 1797-1801

Năm Đinh Tỵ (1797). Nguyễn Du 32 tuổi.

Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản đã cử Lê Trung làm tướng trấn giữ Quy Nhơn và điều Trần Quang Diệu về hầu việc trong triều. Bốn tứ trụ triều đình Cảnh Thịnh là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Nguyễn Văn Huấn và Nguyễn Văn Danh. Thế nhưng tướng Trần Quang Diệu bị người ta dèm pha là uy quyền quá lớn sắp có mưu đồ khác nên vua Cảnh Thịnh đã điều chỉnh như vậy. Trần Quang Diệu lo sợ nên cáo bệnh không vào chầu mà đốc suất thủ hạ thân tín canh phòng tự vệ suốt ngày đêm.

Nguyễn Vương truy quét thổ phỉ người Thượng, phủ dụ dân tình ở vùng núi và tìm hiểu tướng trấn giữ các nơi. Nguyễn Vương được tin mật báo nội tình Tây Sơn cả mừng, tập hợp các tướng bàn định việc ra quân. Nguyễn Vương  để Tôn Thất Hội giữ thành Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh, Nguyễn Đình Đắc theo đường bộ đánh thẳng ra Phú Yên, Quy Nhơn, còn tự mình thì cùng với hoàng tử Cảnh và tướng Nguyễn Văn Trương đem đại binh thuyền đánh ra Quy Nhơn. Quân thủy của Nguyễn Vương tiến sâu vào cửa Thị Nại. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ra lệnh cho Nguyễn Văn Huấn mang toàn quân ra chống cự, phục chức cho Trần Quang Diệu sai giữ cửa Thuận để làm thanh ứng.

Nguyễn Vương tấn công quyết liệt quân Tây Sơn mấy tháng ròng ở Bình Định không phân thắng bại, thấy sự phòng thủ chặt chẽ, liệu sức không đánh đổ được bèn kéo binh thuyền ra đánh phá Quảng Nam, nhưng cũng không giành được thế thắng và quân nhu không đủ, bèn rút về Gia Định, sai Nguyễn Văn Thành giữ chức khâm sai tiền tướng quân và Đặng Trần Thường làm hiệp tán quân vụ ở lại giữ thành Diên Khánh.

Nguyễn Vương theo mưu kế của Đặng Trần Thường, một mặt sai Nguyễn Văn Thụy sang Thái Lan báo tin thắng trận cho vua Thái và nhờ quốc vương nước này xuất binh theo đường bộ Lào với sự dẫn đường của Thụy để tấn công Thuận Hóa từ hướng Tây  hoặc cho quân đột phá Nghệ An để chặn đường quân Bắc Hà vào cứu viện. Quân sĩ Nguyễn Vương cũng sẽ phối hợp tấn công ở hai mặt Đông và Nam. Mặt khác, Nguyễn Vương cũng sai binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh sang sứ nhà Thanh vừa do thám tình hình vừa trao trả lại cho nhà Thanh một số tàu thuyền mượn tiếng là thu được của quân Tàu biển “Thiên Địa Hội” phản Thanh phục Minh nhằm lấy lòng vua nhà Thanh vừa tố cáo Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn trước đây trong thì tiếm xưng là hoàng đế Quang Trung, ngoài thì giả cách thuần phục nhà Thanh, nhưng lại ngấm ngầm tiếp tay cho quân phỉ biển “Thiên Địa Hội” để gây chia rẽ nhà Thanh với nhà Tây Sơn. Mặt khác Lưu Nhân Tĩnh cũng tìm mọi cách liên kết với các cựu thần nhà Lê, tầng lớp sĩ phu và những người vốn có oán thù với nhà Tây Sơn để tăng thêm thanh thế và đồng minh.  

Ngô Nhân Tĩnh vừa đi khỏi thì “phụ quốc nguyên công’ Tôn Thất Hội là tướng giỏi của Nguyễn Vương bị ốm nặng và mất. Nguyễn Ánh theo lời của quốc thúc Tôn Thất Thăng đã đưa hoàng tử Cảnh với sự trợ giúp của Bá Đa Lộc và Tống Viết Phước ra trấn giữ Diên Khánh, thay thế cho các tướng Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tính và Đặng Trần Thường được gấp rút trở về Gia Định luyện quân để chuẩn bị cho chiến dịch mới.

Nguyễn Du làm “Hồng Sơn Liệp Hộ” (Người đi săn ở núi Hồng) trong khoảng thời gian 1797-1802 là năm năm cuối cùng của nhà Tây Sơn và khởi đầu của triều Nguyễn, sau thời gian Nguyễn Du làm “Nam Hải Điếu Đồ” (Người đi câu ở biển Nam) trong khoảng thời gian 1790-1796 ở đền Khán Xuân cạnh Hồ Tây (Hà Nội).

Theo Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương  “ba năm vẹn”,  Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng: Nguyễn Du là nhà sư Chí Hiên đi lại ở Quảng Tây, Bắc Kinh, cung Nhiệt Hà (Trung Quốc), sau đó cùng em Nguyễn Ức xây đền thờ nghĩa sĩ nhà Hậu Lê (nay ở Thụy Khê, quận Tây Hồ, Hà Nội), làm nhiệm vụ được anh Nguyễn Nể giao phó xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền ở làng Tiên Điền, đình chùa Trường Ninh, cầu Tiên ở xứ Nghệ (tên cũ của  Nghệ An và Hà Tĩnh thời ấy). Nguyễn Du đầu năm 1794 vào Quy Nhơn và đầu năm 1796 vào Phú Xuân tiếng là ‘thăm anh’ thực chất là giúp Nguyễn Nễ thoát hiểm (*) tránh bị cuốn vào họa diệt tộc khi nhà Tây Sơn nội bộ chia rẽ nghiêm trọng sau khi Nguyễn Huệ mất. Nguyễn Nễ từ Hiệp trấn Quy Nhơn về làm Thái sử ở Phú Xuân bên cạnh vua Cảnh Thịnh, sau đó làm Phó sứ trong sứ đoàn Tây Sơn sang sứ nhà Thanh lần hai, thành công vang dội với “Quế Hiên Nguyễn Nễ đỉnh núi cao thi trận nước Nam”, sau được phong Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu . Cuối năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du được tha và đã về sống hẵn (quản thúc?) ở làng Tiên Điền, khép lại Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc.

(*)  Lại nói về những ghi chú rất quan trọng:  Nguyễn Nể (1761-1805) là anh cùng cha khác mẹ và là người đặc biệt yêu thương của Nguyễn Du, thân thiết với Nguyễn Khản, Nguyễn Điều, Nguyễn Quýnh, Vũ Trinh, Đoàn Nguyễn Tuấn, Hà Mỗ. Họ là những anh em cùng gia tộc hoặc anh em rể hoặc là cha nuôi, tùy tướng đặc biệt tin cẩn (như với trường hợp của Hà Mỗ và Nguyễn Du). Nguyễn Nể tự là Tiến Phủ, hiệu Quế Hiên,  thi đậu đầu khóa Quốc Tử Giám, đậu đầu thi hạch, đậu Tứ Trường thi Hương năm 1779, Nguyễn Nể được bổ vào Thị Nội Văn thường trực tại nhà học của con chúa Trịnh Sâm, là bạn thiết của Trịnh Tông, sau Nguyễn Nể cai quản đội quân Nhất Phẩm kiêm Trị thị nội thư tả của phủ chúa Trịnh. Năm 1783, Nguyễn Nể làm Hiệp tán quân cơ đạo quân Sơn Tây. Năm 1786 vua Lê Quý Kỳ trực tiếp nắm lại chính sự nhất thống thì Lê Quýnh và Nguyễn Nể được vua Lê tin cẩn “ngày đêm cùng họ trù tính mọi công việc, ngay cả những mưu kế phải dùng đến trong lúc bối rối bất ngờ, cũng được lo toan chu đáo” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí trang 179).

Vũ Trinh (1769-1828) là Chánh Sứ phụ trách mọi công việc bang giao của nhà Lê đối với Tôn Sĩ Nghị. Suốt triều Tây Sơn, (1789- 1801) Vũ Trinh lánh thân ở Hồ Sơn vùng Hà Nam ngày nay, dạy học và soạn sách. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Vũ Trinh được mời ra tham chính, nhận chức Thị Trung Học sĩ được thăng Hữu Tham Tri Bộ Hình năm 1807 làm Chánh Sứ cùng Ngô Nhân Tĩnh đi sứ nhà Thanh. Năm 1816 ông có ý bênh vực cho học trò ông là Nguyễn Văn Thuyên, con Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày đi Quảng Nam 12 năm, đến năm 1828 mới được ân xá, trở về quê vài ngày thì bị bệnh mất hưởng dương 59 tuổi.

Nguyễn Nễ sau khi thời gian 1788, khi Tôn Sĩ Nghị sang chiếm nước ta, vua Lê Chiêu Thống thanh trừng những người cộng tác với nhà Tây Sơn thì rất nhiều người bị đục bỏ tên trong bia tiến sĩ nhưng Nguyễn Nể không có trong danh sách những người bị tội. Năm 1789 vua Quang Trung ra Bắc đánh bại Tôn Sĩ Nghi quét sạch quân Thanh ra khỏi bờ cõi, Nguyễn Nể được vời ra bổ làm Hàn Lâm Thị Thư và làm Phó Sứ sang Trung Quốc cầu phong nhà Thanh cho Vua Quang Trung, Vũ Huy Tấn làm Chánh Sứ, sứ đoàn còn có Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình Cử, Nguyễn Quang Hiến … Trong cuộc đi sứ, vua Càn Long mời dự yến ở Các Tứ Quang ông làm thơ chúc mừng, vua Càn Long thưởng cho một tấm đoạn, hai thỏi mực và 3 tập hoa tiên lụa. Trở về được thăng Đông Các Học Sĩ, Thái tử Tả Thị Lang, Nghi Thành Hầu, được giao việc cai trị tại Bắc Hà.

Nguyễn Nể năm 1794 được nhà Tây Sơn vời vào Phú Xuân làm việc Viện Cơ Mật.  Ông giao phó tiền bạc cho hai em là Nguyễn Du và Nguyễn Ức về xây dựng lại từ đường, đền thờ, cầu Tiên, chùa Trường Ninh làng Tiên Điền bị Hiệp Trấn Tây Sơn Lê Văn Dụ đốt phá nhân vụ Nguyễn Quýnh khởi nghĩa. Nguyễn Nể sau đó được phong Tả phụng Nghi Bộ Binh, hàm Tam phẩm, được cử làm Hiệp Tán Nhung vụ Quy Nhơn. Năm 1795 Nguyễn Nể được cử làm Chánh Sứ của triều Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản sang dự lễ vua Càn Long nhường ngôi cho con là vua Gia Khánh. Nguyễn Nể dâng hai bài thơ ứng chế được vua Càn Long đích thân mời uống rượu và dự yến Các Tử Quang. Nguyễn Nể được vua Càn Long khen thơ và ban thưởng : gấm đoạn, trà sen, gậy tuổi già, ngọc như ý, tứ bửu.. Cháu 24 đời Chu Văn Công tri phủ Tứ Thành tặng bốn chữ Thiên Môn Tái Đăng (hai lần lên cổng trời).

Nguyễn Nể mùa thu 1796 sau khi sứ đoàn về nước được vẻ vang vì cả hai lần được vua Càn Long và triều đình nhà Thanh kính trọng. Ông là “Quế Hiên Nguyễn Nễ đỉnh núi cao thi trận nước Nam” được vua Cảnh Thịnh ban thưởng 40 mẫu ruộng, giữ chức Đông Các đại học sĩ, gia tặng Thái sử, Tả Thị Lang, tước Nghi Thành Hầu, chức vụ dâng sách cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười hai tuổi, đọc và giảng nghĩa cho vua nghe sách Tiểu Học Diễn Nghĩa do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp và Sùng Chính Viện vừa mới soạn xong. Ngoài ra còn các công việc giúp vua soạn các chiếu biểu, và kiêm các công việc Cơ Mật Viện, và chức vụ cuối cùng được thăng tới chức Trung Thư lĩnh hữu đồng nghị, chức vụ ngang hàng với quân sư Trần Văn Kỷ.

Sau khi Nguyễn Du thăm anh cuối năm 1796, Nguyễn Nể xin về quê Nghệ An là hiệp trấn tham mưu cho Nguyễn Thận, xa dần kinh đô. Nguyễn Nể can thiệp cho Nguyễn Du ra tù sau khi toan trốn vào Nam theo Nguyễn Ánh. Theo nhà nghiên cứu Phạm Trọng Chánh “Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng” và “Quế Hiên Nguyễn Nể” thì lí do Nguyễn Nể năm 1797 được rời Phú Xuân là  Nguyễn Nể xin đi xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại Nghệ An cùng Trần Quang Diệu và Trấn Thủ Nguyễn Văn Thận. 

Nguyễn Du từ đầu năm 1997 đã về sống hẳn ở Tiên Điền. Theo Gia phả Nguyễn tộc tính toán năm sinh các con của Nguyễn Du thì năm 1977 Nguyễn Du về sống với vợ là cô Đoàn Nguyễn Thị Huệ (còn gọi là Tộ) là em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn. Nhưng theo Nguyễn Trung Chánh thì lúc đầu có lẽ là ông vẫn độc thân sau mới lấy vợ là em của Đoàn Nguyễn Tuấn, bạn thân của Nguyễn Du. Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Mai cũng khoảng năm 1796 mẹ gả chồng cho một thầy lang gần Cổ Nguyệt Đường (*) làng Nghi Tàm.  Lưu Hương Ký sau này đă cắt nghĩa nguyên do có điều đau xót ấy.

Họa Thanh Liên Chí Hiên nguyên vận

Khúc hoàng tay nguyệt còn chờ dạy,
Cánh phượng đường mây đã vội chi.
Chua xót lòng xem lời để lại,
Hững hờ duyên bấy bước ra đi.
Thử vàng đá nọ treo từng giá,
Phong gấm hoa kia nở có thì,
Đào thắm mận xanh còn thú lắm,
Xuân ơi đành nở đứt ra về.

Thơ Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương ký.

Thạch đình tặng biệt

Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời,
Nước non sầu nặng muốn đi về.
Cung hoàng dịu vợi đường khôn lọt,
Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê.
Đã chắc hương đâu cho lửa bén,
Lệ mà hoa lại quyến xuân đi.
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,
Tròn trặn gương tình cũng có khi …

Thơ chữ Nôm Thanh Hiên Nguyễn Du
Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương ký.

(*) Cổ Nguyệt Đường cạnh chùa Kim Liên, cho nên Phạm Đình Hổ đã viết: Từ thuở làm thân khách Cố kinh. Kim Liên qua lại đã bao lần, anh chàng này từng là học trò cụ Đồ Diễn, nên biết Xuân Hương từ thuở còn thiếu nữ. Trong Vũ Trung tùy bút tr. 42, cho biết năm 1798 -1799 có dạy học tại thôn Khánh Văn, hạ lưu sông Tô Lịch không xa nhà Xuân Hương. Trong Tang Thương Ngẫu lục, q 2 tr 231 có bài ký tả cảnh chùa Kim Liên. “Mùa thu năm Đinh Tỵ (1797) tôi cùng các ông Nguyễn Thạch Hiên, Nguyễn Kính Phủ, Hoàng Hy Đỗ đến vãn cảnh chùa Kim Liên ở làng Nghi Tàm, nơi trụ trì của Hoà Thượng Huệ (nội thị của chúa Uy Vương)”  Phạm Đình Hổ đến thăm Xuân Hương cùng các bạn nhân đó ra về thăm chùa Kim Liên. Qua Vũ Trung Tùy bút ta biết Phạm Đình Hổ nhà ở phố Hàng Buồm và Nguyễn Kính Phủ (Nguyễn Án) ở cạnh đền Lý Quốc Sư bên Hồ Gươm, (nay là phố Nhà Thờ). Quang cảnh chung quanh Cổ Nguyệt Đường thế nào? Theo thơ Tốn Phong, người viết tựa cho Lưu Hương Ký:Phía trước nhà có trồng một cây bàng lớn: Cội bàng trăng khuất chiếu mai đình bài 6. Chung quanh nhà có trồng nhiều cây mai (mơ) Chủ nhân trước viện trắng mai hoa Bài 5, Bên quán người hoa chỉ thích mai.Bài 9 Tiết hàn mai tự nở ngàn hoa bài 26. Nhà nàng cạnh bến trúc làng Nghi Tàm: Vàng bay lá trúc ngõ chuyền oanh. Bài 6, Phượng cầm tự khóm trúc vang thanh, bài 14, Khóm trúc đình mai ta với ta, bài 21, Bến trúc mừng vui gặp mỹ nhân bài 25 Trên bến có trồng vài cây liễu: Bến nước đìu hiu liễu rủ cành, bài 6 Trong vườn có trồng cây vông và cây mận: Ngô đồng lá cũ mơ hồn phượng, ngõ hạnh lạnh tàn chuyển bóng oanh ,bài 17.

Năm Mậu Ngọ (1798). Nguyễn Du 33 tuổi.

Nguyễn Ánh đang bàn việc mang tin thắng lợi sang báo vua Xiêm (Thái Lan) thì vừa lúc vua Xiêm cử sứ giả sang xin viện binh chống Miến Điện. Nguyên lúc trước ở Băng Cốc vua tôi Nguyễn Ánh lúc sang nương nhờ Thái Lan đã cùng quân tướng Thái Lan đánh lui được quân Miến nên được vua Thái trong thị. Nay trước việc này, Nguyễn Vương sai Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đình Đắc đem một vạn quân và chiến thuyền sang cứu viện cho Thái Lan. Quân Nguyễn khi đến Côn Lôn vừa lúc nghe tin quân Miến đã lui, nên chỉ một mình Nguyễn Huỳnh Đức mang quốc thư sang Xiêm còn Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Đình Đắc thì mang quân về. Khi về Gia Định lại gặp Nguyễn Văn Nhơn đưa Đặng Đức Siêu là danh sĩ Hàn lâm, kỳ tài của Bồng Sơn Bình Định thường tự ví mình là Quản Trọng Nhạc Nghị, trước làm quan nhà Nguyễn, sau không chịu theo họ Trịnh và nhà Tây Sơn, nay theo thuyền buôn trốn vào dâng sách Bình Tây phương lược. Nguyễn Ánh vui mừng cử làm Trung doanh tham mưu.

Nguyễn Vương cử tướng Nguyễn Văn Thụy làm Khâm sai thượng đạo đại tướng quân cùng tiền quân Lưu Phước Tường, tham mưu Nguyễn Hoài Châu, Nguyễn Văn Uẩn, tham quân Lê Văn Xuân làm cánh quân vu hồi đi cắt đường sang Lào. Cánh quân này có nhiệm vụ trên lối đi dụ người Thượng cùng dấy binh hưởng ứng và đến thành Viên Chăn dụ quốc vương Vạn Tượng cùng người dân ở Trấn Ninh, Thanh Nghệ hành binh đi theo. Quân đi đến đâu cũng phao lên rằng quân Nguyễn cùng quân Xiêm và Lào đang hành binh tiến đánh Thuận Hóa và Tây Nghệ An để đánh lạc lướng và ghìm chân lực lượng tinh nhuệ cửa hai nơi này và quân Bắc Hà vào cứu Quy Nhơn.

Tướng Nguyễn Văn Thụy là người Diên Phước, Quảng Nam vốn là người mưu trí lại có sẵn thẻ thông hành đi các nước, nguyên là tướng thân tùy hộ giá Nguyễn Vương lúc trước ở Băng Cốc, đã ba lần đi sứ nước Xiêm, hai lần quản lĩnh đạo Thanh Châu, và vừa bảo hộ Nguyễn Văn Nhơn đi sứ Xiêm về, nay được Nguyễn Vương cử làm thống tướng phụ trách cánh quân vu hồi này.

Nguyễn Vương lại sai cho hoàng tử thứ hai trọng trách trấn giữ vùng Gia Định và các trọng địa của đất phương Nam, cùng với các tướng là Nguyễn Văn Nhơn làm Chưởng cơ thống lĩnh quân binh kiêm chưởng Bộ Hộ, Nguyễn Tử Châu làm Tham mưu Bồi tán quân vụ.

Tại Bình Định, Nguyễn Bảo là con của Nguyễn Nhạc vì căm giận vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản chiếm giữ đất Tây Sơn bèn định bỏ về hàng Nguyễn triều. Vua Cảnh Thịnh biết mưu ấy sai tướng vào bắt Nguyễn Bảo đưa về dìm xuống sông giết đi. Lại có người nói gièm rằng Nguyễn Bảo sở dĩ làm phản là tại quan trấn thủ Lê Trung. Vua Cảnh Thịnh triệu Lê Trung về Phú Xuân sai võ sĩ bắt chém đi. Được ít lâu sau quan Thái phó Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết. Từ đó tướng sĩ Tây Sơn nhiều người nản lòng tìm cơ hội bỏ theo về Nguyễn Vương.

Nguyễn Du làm Hồng Sơn Liệp Hộ ở Tiên Điền. Ba bài Tạp ngâm cho ta thấy cảnh sống nhà thơ tại bên bờ sông Quế Giang.

TẠP NGÂM I

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ.

Tiếng thu một tối vượt Lam Hà,
Vô ảnh vô hình đến với ta.
Muôn dậm Tây phong đầu bạc tóc,
Một song thu sắc cúc vàng hoa.
Trăm năm vui khổ bao giờ hết,
Bốc vách thi thư mấy cũng vừa.
Trước ngõ cội tùng trăm thước đứng,
Chúa Xuân ghen có được gì a ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM I

Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia.
Vạn lý Tây phong lai bạch phát,
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa.
Bách niên ai lạc hà thời liễu ?
Tứ bích đồ thư bất yếm đa.
Đình thực cô tùng cao bách xích,
Bất tri thanh đế nại nhân hà ?

Chú thích:
Lam hà : tức sông Lam
Thanh đế: thần mùa xuân, còn gọi Đông đế hay Đông quân. Ý nói cây thường xanh tươi mùa xuân, tiêu điều rụng lá mùa thu, nay trồng một cây tùng xanh tươi suốt năm, chẳng hay chúa Xuân có làm gì được người trồng cây tùng không ?
Xích:  thước đo ngày xưa bằng ba gang tay.

TẠP NGÂM 1 (dịch nghĩa)
Tiếng thu một tối vượt qua sông Lam,
không bóng không hình lọt vào nhà ta.
Gió Tây muôn dậm làm cho mái tóc thêm bạc.
Sắc thu đầy trên cửa sổ trên khóm hoa vàng.
Cuộc vui buồn trăm năm bao giờ hết ?
Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng vừa.
Trước sân trồng một cây tùng cao trăm thước,
không biết chúa Xuân sẽ làm gì được người .

Bài này cho thấy số sách vở họ Nguyễn Tiên Điền không cháy hết còn lại một hai  phần mười mà vẫn còn lại một số chất đầy bốn vách. Đáng tiếc nhất là bộ sưu tập thơ văn của Đoàn Thị Điểm của cụ Nguyễn Nghiễm bị cháy.

TẠP NGÂM II

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Long Vĩ đầu sông nhà một gian,
Ẩn sầu chót vót bỗng vui tràn.
Đạt nhân lòng tỏ như trăng sáng,
Xử sĩ trước nhà vọng núi xanh.
Gối sách đỡ thân nằm bệnh tật,
Bên đèn rượu nhắp thắm dung nhan.
Suốt ngày bên bếp không đun lửa,
Ngoài song no với khóm hoa vàng.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

TẠP NGÂM  III

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian,
U cư sầu cực hốt tri hoan.
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,
Xử sĩ môn tiền thanh giả san.
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,
Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan.
Táo đầu chung nhật vô yên hỏa,
Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.

TẠP NGÂM II (dịch nghĩa): 
Đầu sông Long Vĩ có một gian nhà,
ở ẩn buồn đến cực độ, bỗng thấy vui.
Cõi lòng người khoáng đạt sáng tỏ như vầng trăng.
Trước cửa nhà ẩn dật toàn là núi xanh.
cạnh gối có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật.
Trước đèn uống chén rượu cho vẻ mặt tiều tụy vui tươi  lên.
Suốt ngày bếp không đỏ lửa,
ngoài cửa sổ hoa cúc vàng tươi tốt có thể ăn được.

Bài viết này thêm một bằng chứng Nguyễn Du còn độc thân.

TẠP NGÂM III

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Tháng tám thu tàn vương mác man,
Khí trời nửa nắng mây mênh mang.
Gió đùa cao trúc trời vang sáo,
Mưa ướt  hoàng hoa đất rãi vàng.
Núi lạnh gió lùa du tử mộng,
Đầm sâu trong suốt chủ nhân lòng.
Cửa ngoài dạo gót nhìn thu sắc,
Thoáng nửa đầu sông, rừng lá phong.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM III

Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm,
Mang mang thiên khí bán tình âm.
Thu phong cao trúc minh thiên lại,
Linh vũ hoàng hoa bố địa câm (kim).
Viễn tụ hàn xâm du tử mộng,
Trừng đàn thanh cộng chủ nhân tâm.
Xuất môn từ bộ khan thu sắc,
Bán tại giang đầu phong thụ lâm.

BÀI TẠP NGÂM III (dịch nghĩa)

Tháng tám cảnh thu già lặng lẽ,
khí trời mênh mang nửa rạm mây nửa nắng.
Bụi trúc cao gió thổi, tiếng sáo trời nổi lên,
hoa cúc sau trận mưa, rơi xuống rắc hoa vàng trên mặt đất.
Khí lạnh rặng núi xa thấm vào giấc mộng người du tử.
Nước đầm trong suốt giống như lòng chủ nhân.
Ra trước cửa thong thả ngắm sắc thu,
thấy một nửa trên dải rừng phong mé đầu sông.

Năm Kỷ Mùi (1799). Nguyễn Du 34 tuổi.

Nguyễn Vương thấy thế Tây Sơn đã suy yếu; cánh quân vu hồi của tướng Nguyễn Văn Thụy cùng phương lược ngoại giao của binh bộ tham tri Lưu Nhân Tĩnh đã hình thành tình thế mới, bèn quyết định cử đại binh ra đánh Quy Nhơn. Nguyễn Vương tự mình làm tướng, chia binh làm hai đường thủy bộ, giao cho tướng trấn giữ Diên Khánh là Đông cung Cảnh với Tả quân phó tướng Nguyễn Đình Đắc, Hữu quân phó tướng Nguyễn Công Thái chẹn giữ các vùng hiểm yếu Phú Yên, Ninh Thuận,  Bình Thuận để làm thanh thế.

Cánh quân tiên phong đường bộ do Nguyễn Văn Thành làm thống tướng, Đặng Trần Thường làm Hiệp tán quân vụ, Trịnh Hoài Đức làm Hộ bộ tham tri, Lưu thủ Vĩnh Trấn Nguyễn Văn Thịnh phụ trách việc vận chuyển lương cho bộ binh.

Cánh quân thủy do Nguyễn Vương trực tiếp thống lãnh, Bình Tây tham thặng đại tướng quân Võ Tánh làm hộ giá, tướng Mai Đức Nghị quản lĩnh hơn năm mươi chiến thuyền  hộ vệ đoàn thuyền lương.

Năm Kỷ Mùi (1799) đầu mùa hè, Nguyễn Vương hạ lệnh xuất quân. Quân Nguyễn và quân Tây Sơn đối trân ác liệt tại cửa Thị Nại Bình Định cho đến Quảng Ngãi. Bá Đa Lộc ốm chết trong quân ở cửa Thị Nại ngày 9 tháng 10 năm 1799, xác được ướp thuốc đưa về chôn ở gần nhà giảng của Lộc ở Gia Định, xây lăng gọi là lăng Cha Cả .

Tướng sĩ Tây Sơn do sự chia rẽ của triều đình Cảnh Thịnh nên một số tướng lĩnh thân tín Nguyễn Nhạc cùng hậu duệ của họ nản lòng bỏ theo về Nguyễn Vương, trong số đó có  đại đô đốc Tây Sơn là Lê Chất, một tướng giỏi đánh trận, người huyện Phù Ly, phủ Bình Định là con rễ của Tư lệ Lê Trung. Lê Chất đưa hơn hai trăm quân bản bộ về hàng được Nguyễn Vương cho làm chức tướng quân dưới quyền Võ Tánh.

Nguyên Lê Chất là thuộc tướng Lê Trung được Lê Trung mến tài gả con gái cho. Lê Chất biết tình thế triều Quang Toản sẽ tan vỡ từ bên trong nên nhiều lần khuyên Lê Trung đầu hàng Nguyễn Ánh nhưng Trung còn do dự chưa quyết. Sau sự biến Nguyễn Bảo bị dìm chết, Lê Trung và Nguyễn Văn Huấn bị giết, vua Cảnh Thịnh lùng bắt Chất rất gấp, Chất giả dạng trốn được. Lê Chất được Tổng quản Tây Sơn là Lê Văn Thanh tiếc tài giữ lại làm thân tín trong doanh. Lê Chất gặp thời cơ đã sang hàng Võ Tánh.

Tướng trấn thủ Quy Nhơn là Lê Văn Ứng thấy quân Nam thế lớn sợ lương thực không đủ dùng nên lệnh cho Tổng quản Nguyễn Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Thái Phác cùng Thiếu úy Nguyễn Tiến Thúy giữ thành còn mình thì mang quân ra thành về ấp Tây Sơn thu chở quân lương. Lê Chất biết rõ tình hình báo cho Võ Tánh lập tức giao tinh binh cho Nguyễn Đức Xuyên và Lê Chất chia làm hai cánh đánh tiêu diệt lớn và cướp binh lương. Lê Văn Ứng thua to, chạy thoát được vào thành, xua quân ra ngoài dàn trận chống cự. Nguyễn Văn Thành Và Võ Tánh đem đại binh vây chặt. Tổng quản Lê Văn Thanh thế cùng phải đóng cửa thành tử thủ để chờ viện binh.

Quang Toản nghe tin thua trận liền sai ngay hai đại tướng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng mang binh thuyền tới cứu viện. Quân do thám báo về Nguyễn Vương lập tức dẫn đại quân chia ba đường do Lê Văn Duyệt, Tống Viết Phước, Đông cung Cảnh với hai phó tướng là Nguyễn Đình Đắc, Nguyễn Công Thái cùng tiến đánh quân cứu viện; Võ Duy Nghi quản binh thuyền năm doanh án ngữ cửa biển Kim Bồng. Nguyễn Vương tự mình chỉ huy đại quân tiến gấp đến Tân Quan.

Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vào Quảng Ngãi nghe tin quân Nam đã chiếm Tân Quan bèn bỏ thuyền lên bộ, quân đông tới vài vạn, tiến nhanh như gió cuốn đất. Quân Quang Diệu và Nguyễn Ánh giáp chiến, trong khi Võ Văn Dũng ngầm chia binh theo đường tắt thẳng đến Bến Đá định tập kích Tân Quan đang đêm vượt suối nhỏ bị chạm trán cánh quân mạnh của Tống Viết Phước bị thua to phải lùi về Quảng Ngãi.

Nguyễn Vương lập tức sai đem quân thua của Võ Văn Dũng đi diễu quanh thành Bình Định để làm quân Bắc khiếp sợ, lại lệnh cho Võ Tánh gấp rút công đồn và cho người vào thành dụ hàng. Tổng quản Lê Văn Thanh, Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đại Phác, Thiếu úy Trương Tiến Thúy thấy thế không thể chống nổi, phải dâng thành xin hàng. Nguyễn Vương sai Lại bộ Tham tri Phạm Đăng Hưng cùng Lại bộ  Trần Văn Trạc đến thành Quy Nhơn chiêu dụ và tiếp nhận sự đầu hàng.

Phạm Đăng Hưng nguyên là người làng Tân Hòa, Gia Định, là môn sinh của Lại bộ Nguyễn Bảo Trì, thông minh, hiếu học , thạo việc nước , binh thư lịch pháp tinh thông, thường được dự bàn mưu lược trong quân. Phạm Đăng Hưng sau này có con gái là bà Từ Dụ hoàng thái hậu, vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức.

Tướng Nguyễn Văn Thành chỉ huy quân tiên phong và hữu quân kịch chiến năm ngày ở Bến Đá với quân của tướng Tây Sơn Nguyễn Quang Diệu không phân thắng bại. Quang Diệu thấy Võ Văn Dũng thua trận nên không dám ham đánh mà thu binh rút lui. Nguyễn Vương chiếm thành Quy Nhơn.

Nguyễn Vương thu quân về Nam, chọn cử đại tướng quân kiêu dũng thiện chiến Võ Tánh vừa là con rể Nguyễn Vương thống tướng trấn thủ  Bình Định,  Ngô Tòng Chu làm hiệp trấn, Hình bộ Nguyễn Hoài Quýnh làm Bồi tán Quân vụ, Vệ úy Nguyễn Văn Thịnh làm Lưu thủ, Cai cơ Nguyễn Văn Tường làm Cai bạ. Phụng nghị Tá làm Ký lục giúp Võ Tánh ở dinh Trấn thủ. Ba đồn quân ngự lâm Tả Trung Tiền đặt dưới quyền của ba tướng Phan Tiến Huỳnh, Đoàn Văn Cát, Lê Chất, cùng với Nguyễn Văn Tồn chỉ huy lính Xiêm đóng tại các vị trí hiểm yếu che chắn vòng ngoài và tạo thế liên hoàn phòng thủ thành Bình Định. Nguyễn Vương cũng chọn cử tướng Nguyễn Văn Trương đóng giữ cửa Thi Nại. Tướng Nguyễn Văn Tính lưu thủ Diên Khánh, Đặng Trần Thường làm Hiệp trấn, Phạm Tiến Tuấn lưu thủ Phú Yên, Lưu Tiến Hòa lưu thủ Bình Khang, Võ Văn Lân lưu thủ Bình Thuận. Ra lệnh lập sổ dân binh, khen thưởng huân công, bổ dụng con cháu những người trung nghĩa, xét trả lại ruộng đất bị quan quân Tây Sơn chiếm đoạt.

Quy Nhơn trước  thuộc trấn Quảng Nam vốn là đất khởi nghiệp của nhà Tây Sơn, sản vật dồi dào, sức binh hùng mạnh mà Trung ương Hoàng Đế Tây Sơn Nguyễn Nhạc và Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ tranh chấp để giành lấy sự chính danh ngôi vua, đã dẫn đến hiềm khích bất hòa và chia rẽ sâu sắc, dẫn đến suy yếu. Sau hai mươi sáu năm khởi nghiệp nay thành Quy Nhơn bị rơi vào tay quân Nam Triều, Nguyễn Vương cho đổi tên thành Bình Định. Vua Quang Toản nghe tin báo quân Nam đã rút về Nam, chỉ để lại quân tướng giữ thành bèn thương nghị với Trần Văn Kỷ.  Quy Nhơn là đất hưng vượng triều ta mà không giữ được thì làm sao giữ được Phú Xuân và cửa Hàn?

Trần Văn Kỷ người Thuận Hóa, vốn có văn học, là bậc danh sĩ ở Nam Hà. Sách Hoàng Lê Nhất thống chí viết: “Năm Đinh Dậu (1777) niên hiệu Cảnh Hưng, Kỷ thi ở trấn (Phú Xuân) đậu giải nguyên. Năm Mậu Tuất (1778), Kỷ tới kinh (Thăng Long) thi Hội. Sĩ phu ở Bắc Hà, Kỷ có giao thiệp quen biết ít nhiều. Năm Bính Ngọ (1786), Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ) đánh lấy thành Phú Xuân, sai người tìm Kỷ hỏi việc Nam, Bắc. Kỷ đối đáp rất nhanh và rất hợp ý, nên Bắc Bình Vương rất trọng, cho ở vào chỗ “màn trướng”, việc gì cũng bàn với Kỷ, lúc nào cũng gần bên Kỷ, không mấy khi xa rời”. Năm 1786, khi  Nguyễn Huệ xuất quân ra Thăng Long lần thứ nhất để diệt Trịnh, phò Lê; gặp khi vua Lê Hiển Tông mất (ngày 10 tháng 8), Trần Văn Kỷ cùng Nguyễn Hữu Chỉnh đã thay mặt Nguyễn Huệ mặc áo trắng đi theo hầu đám tang vua đến nơi an táng ở Bàn Thạch (Thanh Hóa). Năm 1787, nội bộ Tây Sơn lâm vào tình trạng chia rẽ sâu sắc. Trần Văn Kỷ đã đứng ra lo dàn xếp giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bằng cách lấy Bản Tân làm ranh giới. Từ Quảng Ngãi trở vào Nam do Nguyễn Nhạc làm chủ, từ Thăng Diện ra Bắc thuộc về Nguyễn Huệ, nhờ mưu kế này đã chấm dứt cuộc hỗn chiến đẫm máu kéo dài suốt từ tháng 1 đến  tháng 5 năm 1787 giữa hai thủ lĩnh Tây Sơn làm thiệt hại chừng một nửa trong số 6 vạn quân của Nguyễn Huệ điều vào Quy Nhơn. Theo sách Tây Sơn thủy mạt khảo của Đào Nguyên Phổ (1861-1908) đã xác nhận điều này “nhờ mưu kế của Trần Văn Kỷ, là người hạnh thần của Nguyễn Huệ bày ra”. Do thành quả trên, ông được phong tước Kỷ Thiện hầu, giữ chức Trung thư Phụng chính, có nhiệm vụ tham mưu, nắm toàn bộ trung thư cơ mật, thảo sắc phong, chiếu lệnh, vị đại thần bên cạnh vua Quang Toản.

Chính vì vậy Quang Toản  đã đích thân dẫn đại quân vào Trà Khúc để đôn đốc các tướng tiến đánh. Trần Nhật Kết nói: Nay là cuối thu, hướng gió không thuận, nên chuẩn bị kỹ quân lương mọi mặt, đầu xuân hãy ra quân. Mặt khác cũng phải đề phòng kinh thành Phú Xuân bị đột kích từ hướng tây và hướng biển. Quang Toản nghe lời, sau khi hội tướng xong bèn để Nguyễn Quang Diệu, Võ Văn Dũng  trấn thủ Quảng Nam và Quảng Ngãi, Nguyễn Văn Giáp trấn thủ Trà Khúc, còn vua thì đem quân về Phú Xuân.

Nguyễn Du năm 1799 vẫn ở làng Tiên Điền. Ông làm Hồng Sơn Liệp Hộ nhưng tâm trạng vẫn khắc khoải nhiều tâm sự buồn. Tôi chép lại trích dẫn các bài thơ Tạp thi của Nguyễn Du và lời bình của Tiến sĩ Nguyễn Trọng Chánh nhưng tôi cho rằng chùm thơ này không phải của giai đoạn Nam Hải Điếu Đồ (Người câu cá ở biển Bắc 1790-1994) mà thuộc giai đoạn này.

Bài Tạp thi I  Ghi lại tâm sự Nguyễn Du: Tráng sĩ bạc đầu bùi ngùi ngẫng nhìn trời, hùng tâm sinh khí mờ mịt cả hai. Chuyện tình với cô Xuân Hương làng Nghi Tàm, cô Cúc làng Trường Lưu thành chuyện hão. Lần lửa đông rét hè nóng, cướp cả tuổi trẻ. Dắt chó vàng mãi vui thú dưới Hồng Lĩnh. Trông mây trắng nằm bệnh bên bờ sông Quế. Ở thôn quê, thích được mua rượu luôn. Trong túi hãy còn ba mươi đồng tiền.

TẠP THI I

Nguyẽn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than !
Dựng nghiệp, mưu sinh thảy lỡ làng.
Thu cúc, xuân lan thành mộng ảo,
Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh.
Chó vàng vui thú quanh Hồng Lĩnh,
Mây trắng, nằm đau cạnh Quế Giang.
Vẫn thích làng quê hằng có rượu,
Ba mươi tiền sẵn túi con mang.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

TẠP THI I

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan, thu cúc thành hư sự,
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

TẠP THI II (dịch nghĩa).
Non Hồng một màu soi bóng xuống làn nước phẳng,
nơi thanh tú tĩnh mịch này, kẻ hàn sĩ có thể ở được.
Mây trắng từ ngàn dậm đến bay in bóng trên giường chiếu,
Trăng sáng soi qua cửa sổ chiếu vào cặp sách túi đàn (*).
Lúc loạn lạc cười khóc cũng theo đời.
Thân  già yếu nên yên lặng để giữ mình.
Chuyện đời trước mắt thay đổi như hoa nở lá rụng.
Quanh năm cõi lòng vẫn thản nhiên như không .

(*) TS. Nguyễn Trọng Chánh bình: Nguyễn Du luôn có bên mình thanh gươm và cây đàn nguyệt. Tình hình Hồng Lĩnh từ sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, công an quận công Thận đang kiểm soát gắt gao, tai vách mạch rừng, nói gì cũng phải cẩn thận, cười khóc phải theo thời, thiên hạ đang cười mà mình khóc, thiên hạ đang khóc mà mình cười công an bắt ngay !. Từ khi vua Quang Trung mất, chúa Nguyẽn Ánh nổi dậy đang hùng cứ Nam Hà, chuyện đời sẽ đổi thay như hoa nở lá rụng ).

TẠP THI  II

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Núi Hồng soi bóng nước xanh trong,
Hàn sĩ nơi đây ẩn cảnh nhàn.
Ngàn dậm mây về quanh chiếu chỏng,
Một song trăng sáng rọi thư đàn.
Khóc cười thời loạn theo trần thế,
Bệnh yếu lặng câm mà giữ thân,
Trước mắt nở hoa rồi rụng lá,
Bốn mùa thanh thản có như không.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP THI II

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ,
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch.
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư.
Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,
Tứ thời tâm kính tự như như.

Năm Canh Thân (1800). Nguyễn Du 35 tuổi.

Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng về triều kiến vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản ở Phú Xuân. Vua Quang Toản phủ dụ rằng: Các khanh là trụ cột của triều đình , nên đồng tâm gắng sức để trừ họa ngoài, không nên nghi ngờ nhau.  Hai tướng khóc mà tạ ơn. Diệu nói: Bọn thần đi chuyến nay nếu không thu phục được Quy Nhơn thề không đem binh trở về. Không ngờ, đây chính là chuyến xuất quân định mệnh, bước ngoặt của cục diện quân sự thay đổi dẫn đến sụp đổ nhà Tây Sơn.

Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng vốn là hai chiến tướng trụ cột lừng danh của nhà Tây Sơn, hai  ông cùng với Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân được người đương thời gọi là Tây Sơn tứ kiệt. Ngô Văn Sở lúc ấy đã chết. Bùi Thị Xuân thì sau này là nữ tướng lẫm liệt bậc nhất của triều Cảnh Thịnh đương đầu với thế quân áp đảo của Nguyễn Vương khi Nguyễn Quang Diệu và Võ Văn Dũng bị hãm trận ở nơi xa.

Nguyên là Võ Văn Dũng sau trận thua nặng nề ở Bến Đá khi ông định tập kích Tân Quan, kỹ luật của quân Tây Sơn rất nghiêm minh, Quang Toản nối chí Nguyễn Huệ nhưng đã quen phong thái cỉ huy của cha, trị quân và khiển tướng rất nghiêm. Mọi sơ suất trong hành binh, đánh trận và thưởng phạt đều xử trọng tội theo quân pháp. Võ Văn Dũng dễ bị tội chết  nhưng nhờ có Quang Diệu che giấu nên Võ Văn Dũng cảm nghĩa ấy mà kết sinh tử với Trần Quang Diệu và cố kết với nhau rất tương đắc. Trần Văn Kỷ, Trần Nhật Kết và Hồ Công Diệu trong Cơ Mật Viện ‘ban tham mưu’ của vua Cảnh Thịnh ở Phú Xuân vốn ghét Nguyễn Quang Diệu oai quyền lấn chủ, tướng ở ngoài thường tự chuyên, hành binh tiến lui và mưu lược đánh trận coi thường mưu kế tcủa ham mưu ở xa. Nay nhân việc binh thua mất đất căn bản Quy Nhơn của Quang Diệu nên đã gửi mật chiếu lệnh cho Dũng thay Diệu nắm trọng binh. Dũng vì mang ơn Diệu nên đưa tờ chiếu ấy cho Diệu xem. Hai người kéo binh về đóng trại ở nam Sông Hương đòi trị tội tên giặc ở bên cạnh vua. Trần Văn Kỷ đổ lỗi cho Hồ Công Diệu và Trần Nhật Kết. Kết bỏ trốn. Quang Toản sai bắt Hồ Công Diệu nộp cho Nguyễn Quang Diệu, bấy giờ Trần Quang Dũng và Võ Văn Dũng mới chịu vào triều kiến và xuất quân đánh Quy Nhơn

Tháng Chạp năm 1800, Trần Quang Diệu sai đắp lũy dài vây đánh thành Quy Nhơn rất gấp, trong khi Võ Văn Dũng thì đem hai tàu lớn và hơn trăm chiến thuyền bố phòng bị nghiêm ngặt cửa biển Thị Nại, xây đồn và đặt súng đại bác ở hai bên cửa biến phòng thủy quân của nhà Nguyễn đánh ra. Tin báo về Gia Định, các tướng đều thấy quân Võ Tánh thế cô, xin xuất binh cứu viện gấp. Nguyễn Vương nói: “Lương thảo trong thành Bình Định đủ ăn một năm. Nay gió mùa đông bắc đang mạnh, chưa tiện đưa thủy quân ra”. Nói rồi cho người ruổi ngựa mang thư khuyến khích Võ Tánh đốc thúc tướng sĩ liều chết cầm cự, một mặt hội tướng bàn việc tiến quân.

Nguyễn Vương điều Đông cung Cảnh về giữ thành Gia Định, lấy Nguyễn Văn Nhơn quyền lãnh Tả quân phó tướng coi sóc mọi việc cùng Đông cung và lo chi viện lương thảo, cử Hình bộ Thượng thư Nguyễn Tử Châu làm hiệp tán cơ vụ. Tấn phong Nguyễn Văn Thụy làm làm Khâm sai thượng đạo Bình Tây đại tướng quân, dẫn một cánh quân  ‘thám báo tinh nhuệ’ đi mua chuộc lòng dân, tổ chức dân binh, hội binh cùng vua Vạn Tượng loan truyền việc đánh Nghệ An và tây Phú Xuyên để kiềm chế viện binh Phú Xuân và Bắc Hà kéo vào tiếp ứng Quy Nhơn. Kế đến là tung thám báo và những người có quan hệ nhiều với triều Lê, tướng trụ cột Tây Sơn để  thăm dò nội tình, gây chia rẽ, lũng đoạn triều chính ngay trong lòng nội bộ Tây Sơn. Đội quân này xuất phát ngay.

Tháng ba năm ấy, Nguyễn Vương lệnh cho Nguyễn Đức Xuyên đưa đội tượng binh và đại quân đường bộ lên đường còn tự mình thì dẫn đoàn chiến thuyền tiến phát tiếp sau. Nguyễn Đức Xuyên ra đến Diên Khánh thì Trần Quang Diệu đã lập 90 đồn binh hùng hậu liên hoàn để phòng giữ. Nguyễn Đức Xuyên xin lệnh Nguyễn Vương về phối hợp tiến công. Các tướng bàn định là nên bỏ Bình Định để tấn công Phú Xuân. Đặng Trần Thường cho rằng không nên vì quân Nam triều thuận gió ập đến, thủy quân Tây Sơn đang hùng hậu và cố thủ ở cửa Thị Nại, nếu thuyền quân Nam tiến ra Phú Xuân thì thủy quân Tây Sơn sẽ thuận gió đuổi theo, hai mặt trước sau giáp công thì quân Nam sẽ rất nguy hiểm. Nên đánh tan thủy binh mới đánh Phú Xuân được. Nguyễn Vương khen phải nên cho chiến thuyền tạm cập bến Cù Mông là nơi luồng lạch không thuận lợi bằng cửa Thị Nại vì Tây Sơn đã chiếm trước và phòng ngự chắc chắn rồi.

Quân sư Đặng Đức Siêu dâng kế là quân Nam nếu bỏ tàu thuyền lên bộ thì thuyền neo lại ngoài khơi rất dễ bị Tây Sơn đánh đoạt, trong khi quân Nam sở trường thủy chiến hơn đánh bộ, sao bằng nhân trời gió nồm lớn gió thuận thế hãy dùng kế hỏa công lấy thuyền cá của dân chở thuốc dẫn nổ và đồ gây cháy đi đầu bí mật xáp trận phá sạch thủy quân của địch thì sẽ có lợi lớn. Sự cần thiết là quân bộ phải tấn công nhiều hướng để thu hút địch và phân tán sự chú ý. Nguyễn Vương theo kế này. Tướng tiền quân Nguyễn Văn Thành kiêu dũng, thiện chiến được giao thống binh tất cả các đạo quân bộ để giao chiến gìm chân tướng giỏi Nguyễn Quang Diệu. Tướng Võ Duy Nghi và Lê Văn Duyệt  cùng đại đội quân thủy tổ chức tập kích Võ Văn Dũng ở Thị Nại.

Quân hai bên giao chiến rất ác liệt. Lúc bấy giờ quân bộ của Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh với quân thủy của Nguyễn Vương chưa thông được với nhau. Các tướng thống binh của hai bên đều là tướng tài, chiến sự rất ác liệt giằng co không phân thắng bại.

Nguyễn Du năm 1800 làm Hồng Sơn Liệp Hộ ở Tiên Điền , xứ Nghệ. Anh Nguyễn Nễ ở thành Nghệ An làm hiệp trấn nhung vụ cho Thận Quận Công. Nguyễn Du vẫn thường quan sát diễn biến thời thế. Đọc lại bài thơ ‘Nhớ Anh’ của Nguyễn Du viết năm 1794 gửi Nguyễn Nể làm Hiệp Tán Nhung Vụ Quy Nhơn trong sự so sánh với các bài thơ khác của danh sĩ đương thời càng thấy trí tuệ đặc biệt minh triết của Nguyễn Du bậc trí tướng hào kiệt lỗi lạc, có tầm nhìn thật xa rộng, lánh họa tìm phúc giúp anh Nguyễn Nễ.

NHỚ ANH

Nguyễn Du thơ chữ Hán ,
Nhất Uyên dịch thơ.

Lục Tháp thành Nam buộc chức quan,
Gập gềnh đá vượt Hải Vân đêm.
Chướng lam ba tết xa, đồn trú,
Hoa khói tháng hai , nhớ cố hương.
Một biệt phương nào ai biết nhỉ ?
Kiếp sau hẹn đến cuộc tương phùng;
Biển trời mù mịt đườngngàn dậm,
Trong mộng tìm nhau cũng khó khăn.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

ỨC GIA HUYNH

Lục Tháp thành Nam hệ nhất quan,
Hải Vân dạ độ thạch toàn ngoan.
Cùng xu lam chướng tam niên thú.
Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn.
Nhất biệt cách tri hà xứ trú,
Trùng phùng đương tác tái sinh khan.
Hải thiên mang điểu thiên dư lý,
Thần phách tương cầu mộng diệc nan.

Chú thích:
Lục tháp thành: chỉ thành Bình Định, có 8 cụm tháp, nhưng chỉ có 6 cụm ở gần đường chỉ thấy có sáu nên người xưa gọi là thành Lục Tháp.
Hải Vân đèo nằm giữa Thừa Thiên và Quảng Nam rất hiểm yếu nên được gọi là Đệ Nhất Hùng Quan.

(*) Năm 1794, Nguyễn Nễ đang làm Tả Phụng Nghị Bộ Binh bên cạnh vua Cảnh Thịnh, trong Cơ Mật Viện có Tả hữu Trung Thư là Trần Văn Kỷ và Nguyễn Nể, do sự sự xung của triều đình bởi Bùi Đắc Tuyên tiếm quyền nên đày Trung Thư Trần Văn Kỷ làm lính thú ở Hoàng Giang, Nguyễn Nể nhân đó xin đi trấn nhậm Quy Nhơn đất khởi nghiệp triều Tây Sơn, và Nguyễn Du đã có ý vào Nam tù dịp ấy. Ngô Thời Nhậm từ quan Binh bộ thượng thư và chủ trì các chính sách ngoại giao nhà Tây Sơn với Trung Hoa năm 1794 xin về đi tu theo đạo Phật làm Hải Lượng Thiền Sư. Phan Huy Ích cũng từ quan Thị trung Ngự sử ở tòa Nội các và Thượng thư bộ Lễ về đi tu và sau mất tại làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, (nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh).

Bài Tiễn ông Tả Phụng Nghị Bộ Binh Nghi thành hầu
họ Nguyễn đi thành Quy Nhơn.

Phan Huy Ích thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Sông núi Hoan gấm vóc,
Chung đúc bậc kỳ nhân.
Rạng rỡ quê đạo đức,
Điềm lành sinh phượng lân.
Tiến thủ biết khí phách.
Từ trẻ tỏ xuất sắc,
Cơ trí từng trải đời,
Đức độ rộng kiến thức.
Khí tiết như tùng bách,
Phẩm chất mài như ngọc.
Bản lĩnh tự tín trung,
Hành động thường lỗi lạc.
Hiểu lý tận tóc tơ,
Nói chuyện người bén sắc.
Làm bạn khắp thế gian,
Gắn bó như ruột thịt.
Nhìn rõ việc thiên hạ,
Nắm vững để vận hành.
Tạo hóa tính kỳ lạ,
Giao trách nhiệm xứng danh.
Gặp gỡ thánh minh trị;
Đi thăm gióng ngựa quý.
Học thức vua nể vì,
Nơi thanh toả dốc trí.
Ba năm dạo gươm đàn,
Thơ rượu thường vui vẻ.
Đấng trượng phu công danh,
Chí dũng giữ đúng thể.
Phía Nam biển mênh mang,
Đất mới triều khai thác.
Ấp thang mộc Quy Nhơn,
Anh tài nơi then chốt.
Dân vỗ về yên ổn,
Uy danh quân lẫy lừng,
Triều đình cần người trấn,
Khẳng khái đến cầm quân.
Lòng hùng khí độc tan,
Thanh cao tiếng hạc đàn.
Thị Nại sóng cuồn cuộn,
Cù Mông mây mác man.
Chí bốn phương thoả nguyền,
Mài núi khắc thơ hùng.
Bài khải ca tấu khúc,
Miếng đỉnh chung thấm ơn.
Nâng chén rượu lên đường,
Kẻ ở lòng thấy thẹn.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

Tiễn Binh Bộ Tả phụng nghị Nghi thành Nguyễn hầu
phó Quy Nhơn thành

Ngã Hoan hảo giang sơn,
Chung bẩm đa kỳ trác.
Thế đức diệu tiên hương,
Nhân thụy xuất lân nhạc.
Tiến phủ bão tài khí,
Diệu linh kiến đầu giác,
Cơ thức tảo duyệt thục,
Khí thế du hoành bác.
Tùng tiết nại nghiêm ngưng,
Ngọc chất kinh ma trác.
Bản lĩnh tự trung tín,
Động tức thường lỗi lạc.
Chúc lý cập hào mang
Lập đàn sinh phong ngọc.
Biến giao thế gian nhân,
Hệ thuộc vi tâm lạc.
Nhàn thị thiên hạ sự,
Vận dụng tại chưởng ác.
Tạo hóa dữ kỳ phẩm,
Giáng nhậm lương bất thác.
Tao tế thánh minh thì,
Tuân tư giá hoa lạc.
Vọng học vu thần cố,
Chu tuyền thanh tỏa các.
Tam niên cầm kiếm du,
Ngâm chước bất cải lạc.
Trượng phu pho công danh,
Bỉnh chí há đoan xác.
Hạo diểu hải chi nam,
Hy đại tân khai thác.
Quy Nhơn thang mộc địa,
Khu hoản ỷ khôi thạc.
Dân dung sơ phủ tập,
Quân thanh phương trấn bạc.
Triều đình trọng hành biên,
Khẳng khái tựu nhung mạc.
Tráng tâm tễ yên lam,
Thanh khiếu đái cầm hạc.
Thị Nại đào hung dũng,
Cù Mông vân lạc mạc.
Huyền hồ thù sơ chí,
Ma nhai lặc giai tác.
Khải ca tấu kỳ huân,
Chung đỉnh đàm tân ác.
Bả bôi tống chinh huy,
Cư giả diệc tâm tạc.

Năm Tân Dậu (1801). Nguyễn Du 36 tuổi. 

Chúa Nguyễn cùng cánh quân thủy của Lê Văn Duyệt và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương, Võ Di Nguy đánh chiếm cửa biển Thị Nại. Tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết lúc lâm trận, Lê Văn Duyệt trong mưa đạn liều chết hãm trận, càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận Thị Nại được khen là “võ công đệ nhất” của Nhà Nguyễn, và là “võ công lớn nhất” của Lê Văn Duyệt. Thủy quân Tây Sơn của danh tướng Võ Văn Dũng bị quân Nguyễn Ánh đánh bại, tàu lớn và chiến thuyền đều bị thiêu rụi. Võ Văn Dũng lên bộ, hợp quân với Trần Quang Diệu tiếp tục vây Quy Nhơn. Quân đôi bên đánh nhau rất quyết liệt thì vừa có tin Gia Định báo ra là Đông cung Cảnh bị bệnh đậu mùa đã mất. Nguyễn Vương đau đớn sai Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Tử Châu thay thế giữ công việc trấn thủ Gia Định và lo liệu việc tang. Tháng sau hoàng tử thứ hai tên là Hi cũng mất ở Diên Khánh, đem về táng ở Gia Định.

Nguyễn Ánh sai tướng chỉ huy đạo Trung doanh là Nguyễn Văn Trương tấn công Quảng Ngãi và Quảng Nam. Đô đốc Tây Sơn tên là Tuấn phải bỏ chạy. Đại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể liều chết cố thủ. Trương cho quân vòng ra phía sau đánh úp, quân Tây Sơn buộc phải tháo chạy. Nguyễn Vương sai Tống Viết Phước và Phạm Văn Nhơn đem binh thuyền tiến gấp ra cửa biển Đà Nẵng phối hợp tác chiến. Đại đô đốc Nguyễn Văn Toản quê huyện Bình Sơn Quảng Ngãi đang quản sáu đạo quân Quảng Ngãi vây Quy Nhơn đã lén theo hàng Nguyễn Ánh và được Nguyễn Vương cho giữ chức Lưu thủ Quảng Ngãi.

Vua Cảnh Thịnh được tin chiến sự cấp báo bèn triệu Trần Văn Kỷ vào định kế ngăn chặn quân Nam đánh ra Bắc. Trần Văn Kỷ tâu: Lực lượng tinh nhuệ quân Tây Sơn nay đang vướng bận vây thành Quy Nhơn và bị cắt đường về không thể ứng cứu, trong khi Nghệ An bị người Vạn Tượng, Trấn Ninh kéo xuống quấy nhiễu. Quân lực ở Quảng Bình và Quảng Trị chỉ đủ trấn giữ địa phương, nên Phú Xuân không còn quân dự bị để ngăn quân Nam tiến ra. Vua cần mời gấp La Sơn Phu Tử về vấn kế.

Gặp vua,  La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp nói ngay: “Song Ngư thủy thiển. Nguyễn thị hoàn lương” (Song Ngư nước cạn. Họ Nguyễn về làng). “Xin bệ hạ gấp dời đô về Nghệ An, ngõ hầu còn kịp” vua Cảnh Thịnh sợ rối loạn lòng quân dân nên do dự chưa quyết.

Trần Văn Kỷ hiến kế cho vua là cử Phò mã Nguyễn Văn Trị đóng đồn trọng binh ở cửa Thuận An, đắp lũy đóng cọc rào để chặn thủy quân Nguyễn Vương, lại lệnh cho Đại đô đốc Nguyễn Văn Xuân và Thiếu úy Văn Tiến Thể thu thập quân mã tiến đánh Nguyễn Văn Trương để khôi phục lại Quảng Nam làm thanh viện cho quân Tây Sơn đang vây thành Quy Nhơn. Xuân  và Thể nghe lệnh đã thu thập binh mã, trước dụ hàng và sau tiến đánh quân Nam của Nguyễn Văn Trương nhưng bị thua nên buộc phải cố thủ.

Tháng 4 âm lịch năm 1801, nhận thấy quân tinh nhuệ của Tây Sơn đều ở cả Quy Nhơn mà lực lượng ở Phú Xuân (Huế) thì rất yếu ớt, Nguyễn Ánh đốc suất toàn bộ thuỷ quân và trên 1.000 chiến thuyền, thuận theo gió nam vượt biển ra phía bắc, đánh thẳng vào cửa Thuận An. Quân Tây Sơn địch không nổi và tan vỡ. Cảnh Thịnh dốc hết tướng sĩ, tự mình cầm quân tới đánh nhau với quân Nguyễn. Gần trưa, quân Tây Sơn đại bại, vỡ chạy tan tác. Quân chúa Nguyễn chiếm lại đô thành, tướng Lê Văn Duyệt bắt sống Phò mã Nguyễn Văn Trị và Đô đốc Phan Văn Sách.

Ngày 3 tháng 5 (tức ngày 15 tháng 6 năm 1801),  Nguyễn Vương tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc. Một số quan tướng triều Cảnh Thịnh ra hàng, có người được dùng có người bị giết. Vua Gia Long nói: “Bọn khanh trình bày, cố nhiên là có ý phòng ngừa từ trước. Nhưng từ khi ta lấy lại Phú Xuân, bọn tướng giặc đầu hàng có, bắt được cũng có, ta đã tùy nghi xếp đặt, quân của chúng cho xen lẫn với quân ta, dưới quyền quan ta cai quản. Bọn chúng bất quá cai quản năm ba tên thuộc binh mà lệ theo súy phủ, phỏng có mang lòng phản trắc cũng không thi hành vào đâu. Bọn khanh ở quân thứ xa, chưa rõ sự cơ, nên đặc dụ cho biết”.

Nguyễn Vương vừa chiếm Phú Xuân đã lập tức sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ và Tống Viết Phước đem quân thủy, bất kể ngày đêm gấp đường vào cứu Bình Định. Lê Văn Duyệt dọc đường đánh thắng nhiều trận nhưng rốt cuộc không kịp cứu Quận Công Võ Tánh và Lễ Bộ Ngô Tùng Châu. Hai ông vì lương hết, nên đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 âm lịch năm 1801. Chúa Nguyễn xét công phong Lê Văn Duyệt làm “Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận Công”, phong cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi.

Nguyễn Quang Toản sau khi thua trận, chạy ra Nghệ An ở lại vài ngày, rồi vội ra Thăng Long hội họp tướng sĩ, lo việc chống giữ. Tháng 8 năm đó, vua Quang Toản ở Thăng Long đổi niên hiệu Cảnh Thịnh làm năm đầu niên hiệu Bảo Hưng. Tháng 11, vua đem quân và voi của 6 trấn Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Thanh Hoa, Nghệ An vào đánh, nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh thua, lại phải rút về.

Nguyễn Du thơ người đi săn núi Hồng

Nguyễn Du năm ấy vẫn ở Tiên Điền làm Hồng Sơn Liệp Hộ. Nguyễn Du viết

ĐI SĂN

Nguyễn Du thơ chữ Hán,
Nhất Uyên dịch thơ

Kẻ đạt quan trường chí đỉnh mây,
Còn ta vui thú với hươu nai.
Cốt lòng thư thái không mong được,
Không hại điều nhân diệt các loài.
Xạ ngủ cỏ thơm hương ướt ẩm,
Núi xa, chó sủa tiếng ngoài tai.
Thú vui phù thế âu tùy thích,
Xe đón lộng che ấy những ai ?

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

LIỆP

Y quan đạt giả chí thanh vân,
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quân.
Giải thích nhàn tình an tại hoạch,
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân.
Xạ miên thiển thảo hương do thấp,
Khuyển độ trùng sơn phệ bất văn.
Phù thế vi hoan các hữu đạo,
Khu xa ủng cái thị hà nhân.

Chú thích:
Thanh vân, mây xanh, chỉ công danh thành đạt.

Năm Nhâm Tuất (1802). Nguyễn Du 37 tuổi.

Mùa xuân năm 1802, quân nhà Nguyễn qua sông Gianh tiến đánh, hạ được đồn Tâm Hiệu thuộc châu Bố Chính. Quân Tây Sơn tan vỡ, chạy về doanh Hà Trung trong hạt Kỳ Anh. Tháng 5 năm này, Nguyễn Ánh hạ chiếu đổi niên hiệu làm năm đầu niên hiệu Gia Long.

Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng sau khi hạ được thành Quy Nhơn liền đem quân về đánh Phú Xuân. Khi Diệu đem quân ra khỏi địa giới Quy Nhơn thì bị tướng của nhà Nguyễn là Đắc Lộc hầu chặn lại. Quân của Trần Quang Diệu đánh phá nửa ngày nhưng không thể hạ được với vô số người chết và bị thương. Diệu đành đem quân theo đường núi vào Ai Lao, định ra Nghệ An. Được tin, Nguyễn Ánh lập tức cắt đặt các tướng, thống lĩnh các đạo quân thuỷ bộ, hẹn ngày kéo ra Bắc.

Ngày 28 tháng 5, thuỷ quân của nhà Nguyễn tới cửa biển Đan Nhai thuộc Nghệ An, tiến đánh và phá được đồn Quần Mộc. Quân bộ cũng tiến đến phía nam sông Thanh Long rồi vượt sang bờ phía Bắc. Hai mặt thuỷ bộ đều tiến công, quân Tây Sơn bỏ chạy tán loạn. Quân nhà Nguyễn bèn xông lên cướp kho thóc Kỳ Lân. Trấn thủ của nhà Tây Sơn là Nguyễn Văn Thận cùng với hiệp trấn Nguyễn Triêm, thống lĩnh Nguyễn Văn Đại, thiếu uý Đặng Văn Đằng bỏ thành chạy ra miền Bắc. Đến đồn Tiên Lý, Nguyễn Triêm tự thắt cổ; còn Nguyễn Văn Thận chạy ra trấn Thanh Hoa. Quân nhà Nguyễn lấy được thành Nghệ An.

Trần Quang Diệu ở Quỳ Hợp xuống đến địa phận Hương Sơn thì nghe tin Nghệ An đã thất thủ, bèn đến Thanh Chương, qua sông Thanh Long,  rồi chạy ra trấn Thanh Hoa. Tướng sĩ đi theo Diệu dần dần tản mát mỗi người một nơi. Quân nhà Nguyễn đuổi kịp, bắt sống được Diệu.

Tháng 6, quân nhà Nguyễn tiến đánh thành Thanh Hoa. Em vua Quang Toản là đốc trấn Nguyễn Quang Bàn cùng Nguyễn Văn Thận, Đặng Văn Đằng đều đầu hàng.

Ngày 18, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long, quân Tây Sơn hoàn toàn tan vỡ. Nguyễn Quang Toản bỏ thành cùng với em là Nguyễn Quang Thùy và đô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà chạy về hướng bắc. Sau đó, Quang Thùy và vợ chồng Tú đều tự thắt cổ. Còn vua cùng các bề tôi đều bị thổ hào Kinh Bắc bắt được đóng cũi giao nộp cho Nguyễn Ánh. Quan lại của nhà Tây Sơn ở các trấn hoặc trốn, hoặc hàng, không ai dám chống lại.

Vua Gia Long vài tháng sau về lại Phú Xuân, sửa lễ cáo miếu dâng tù, đem Nguyễn Quang Toản ra dùng cực hình giết chết, rồi bố cáo cho khắp cả nước đều biết. Quang Toản cùng những người con khác của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực hình 5 voi xé xác. Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc cũng bị trả thù rất dã man: Mồ mả bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm cố vĩnh viễn trong ngục thất (Nơi ấy, nay thuộc địa điểm Trường Đại học Nông Lâm Huế).

Quang Toản khi bị hành hình, mới 19 tuổi. Triều đại Tây Sơn chấm dứt.

Nguyễn Du năm ấy viết hai bài Hành lạc từ. Theo lời bình của nhà Kiều học đích thực, giáo sư văn chương, tiến sĩ Phạm Trọng Chánh, đại học Paris Pháp thì “Bài thơ phản phất không khí thơ bài Lý Bạch mời rượu, Trương Tiến Tửu, hãy vui chơi hôm nay. Đừng lo danh tiếng hảo xa vời khi đã chết, công danh, giàu sang trần thế như phù vân, có rồi lại mất, đời người ai sống được trăm tuổi, làm chi cho mệt cuộc đời. Đọc bài này rồi ta không thể nghĩ rằng Nguyễn Du có thể viết ngược lại đòi ba trăm năm lẻ nữa có người khóc mình trong bài Độc Tiểu Thanh Ký“. (Nguyễn Du- Người đi săn núi Hồng)

HÀNH LẠC I

Nguyễn Du thơ và từ
Nhất Uyên dịch thơ

Chó săn vàng đốm trắng,
Cổ đẹp đeo chuông vàng.
Chàng trai mặc áo ngắn,
Dắt về phía núi Nam.

Núi Nam nhiều nai hương,
Huyết ngọt thịt thơm ngon.
Dao vàng thái món quý,
Rượu ngon uống trăm chung.

Đời ai sống trăm tuổi,
Gặp thời cứ vui chơi.
Tội chi sống bần tiện,
Lo âu suốt đời người.

Di Tề chẳng danh lớn,
Chích Cược không giàu to.
Sống lâu chỉ tám chục,
Tội gì ngàn năm lo.

Có chó cứ làm thịt,
Có rượu cứ nghiêng bầu.
Hay dỡ trên đời sao biết được,
Cần gì lo tiếng hão về sau.

HÀNH LẠC  (I)

Tuấn khuyển hoàng bạch mao,
Kim linh hệ tú cảnh,
Kinh sam thiếu niên lam,
Khiển hướng Nam sơn lĩnh.

Nam sơn hương đa mi,
Huyết nhục cam thả phì.
Kim đao thiết ngọc soạn,
Mỹ tửu lũy bách chi.

Nhân sinh vô bách tải,
Hành lạc dương cập kỳ.
Vô vi thủ bần tiện,
Cùng niên bất khai mi.

Di Tề vô đại danh,
Chích Cược vô đại lợi,
Trung thọ chỉ bát thập,
Hà sự thiên niên kế.

Hữu khuyển khả tu sát,
Hữu tửy thả tu khuynh.
Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận,
Hà sự mang mang thân hậu danh.

HÀNH LẠC bài từ số I ( dịch nghĩa)

Chó tốt lông vàng đóm trắng,
cổ đẹp đeo chuông vàng,

chàng trai trẻ mặc áo cộc,
dắt về núi phía nam.

Núi phía nam có lắm nai hương,
huyết thơm thịt lại béo,

dao vàng thái thành món ăn quý,
rượu ngon uống hàng trăm chén.

Đời người ai sống trăm tuổi,
vui chơi nên kịp thì,

tội gì giữ nếp nghèo nàn,
suốt năm không mở mặt mở mày.

Bá Di, Thúc Tề cũng chẳng có danh lớn.
Đạo Chích, Trang Cược cũng chẳng giàu to.
Sống lâu cũng chỉ tám mươi tuổi,
cần gì tính chuyện nghìn năm.

Có chó cứ giết ăn thịt,
có rượu cứ uống cho hết;

chuyện trước mắt hay dỡ khó mà biết được,
cần gì phải lo cái danh xa xôi sau khi chết rồi.

Chú thích :
– Di, Tề : Bá Di, Thúc Tề con vua Cô Trúc, một nước thuộc nhàÂn nay thuộc tỉnh Trực Lệ, Khi nhà Ân bị nhà Chu lấy, hai người không phục nhà Chu, lên núi Thú Dương ởẩn rồi nhịn đói mà chết chứ không thèm ăn thóc nhà Chu.
– Chích, Cược : Đạo Chích và Trang Cược hai tên trộm cướp nổi tiếng thời Xuân Thu. Đạo Chích em của Liễu Hạ Huệ có khoảng chín ngàn lâu la, đi bắt bò trâu trộm, cướp vợ người. Trang Cược em Sở Trang Vương cũng là tay cướp đại bợm.
– Trung thọ : Người xưa chia tuổi làm ba bậc : Hạ thọ (60 tuổi), Trung thọ (80 tuổi), Đại thọ (90 tuổi).

HÀNH LẠC  II

Nguyễn Du thơ và từ
Nhất Uyên dịch thơ

Núi cao hoa đào nở,
Tươi như màu lụa đỏ.
Sáng mai đùa xuân xanh,
Chiều tối rơi bùn nhọ.

Hoa nào đẹp trăm ngày ?
Người sống ai trăm tuổi ?
Chuyện đời lắm đổi thay,
Kiếp phù sinh chơi mãi.

Trong tiệc mỹ nữ đẹp như hoa,
Trong hồ có rượu như vàng pha,
Tiếng kèn tiếng sáo như khoan nhặt,
Được dịp hát to cứ hát ca.

Anh có thấy ông Vương Nhung tự tay cầm bàn ngà,
Ngày ngày tính toán lòng chưa vui sướng,
Đài Tam công đổ, cây mận ngon tàn,
Bạc vàng tiêu tán người khác hưởng.

Lại thấy không, ông Phùng Đạo khi về già còn phú quý.
Trải mấy triều vua ngôi cao khanh sĩ,
Chuông minh đỉnh vạc lại hoàn không,
Nghìn năm lưu bài Trường Lạc Tự.

Giàu sang trước mắt như phù vân,
Người nay chỉ biết cười người trước,
Người trước chết chôn đầy tha ma,
Người nay sao vẫn còn xuôi ngược.

Hiền ngu xưa nay một nấm mồ,
Nào ai vượt qua được sống chết.
Anh ơi uống rượu rồi vui chơi,
Kìa trông phía Tây trời đã xế.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

HÀNH LẠC (II)

Sơn thượng hữu đào hoa,
Xước ước như hồng ỷ,
Thanh thần lộng xuân nghiên,
Nhật mộ trước nê trỉ.

Hảo hoa vô bách nhật,
Nhân thọ vô bách tuế,
Thế sự đã suy di,
Phù sinh hành lạc sự.

Tịch thượng hữu kỹ hiểu như hoa,
Hổ trung hữu tửu như kim ba,
Thúy quản ngọc tiêu hoãn cánh cấp.
Đắc cao ca xứ thả cao ca.

Quân bất kiến:
Vương Nhung nha trù thủ tự tróc,
Nhật nhật cối kê thường bất túc,
Tam công đài khuynh hảo lý tử,
Kim tiền tán tán tha nhân phúc.

Hựu bất kiến:
Phùng Đạo vãn niên xung cực quý,
Lịch triều bất ly khanh tướng vị,
Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không,
Thiên trải đồ lưu  Trường Lạc Tự.

Nhãn tiền phú quý như phù vân,
Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân.
Cổ nhân phần doanh dĩ luy luy,
Kim nhân bôn tẩu hà phân phân,

Cổ kim hiền ngu nhất khâu khổ,
Sinh tử quan đầu mạc năng độ.
Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan,
Tây song nhật lạc thiên tương mộ.

HÀNH LẠC (Bài từ số II dịch nghĩa) 

Trên núi có hoa đào tươi
đẹp như tấm lụa đỏ,

sáng sớm còn đùa giỡn với màu xuân đẹp,
chiều tối đã nằm giữa bùn lầy.

Hoa đẹp không được trăm ngày,
người sống lâu mấy ai trăm tuổi,
chuyện đời lắm đổi thay,
kiếp phù sinh nên cứ vui chơi.

Trên tiệc có gái đẹp như hoa,
trong vò có rượu quý như nổi sóng vàng,
tiếng thúy quản, tiếng ngọc tiêu (tiếng kèn, tiếng sáo)
khi mau khi chậm,
được dịp hát to cứ hát to.

Người không thấy
ông Vương Nhung cầm thẻ ngà,

ngày nào cũng tính toán mà trong bụng vẫn thấy chưa đủ.
Đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng chết,
bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng.

Lại không thấy
ông Phùng Đạo lúc về già phú quý xiếc bao,

trải mấy triều vua không rời gối khanh tướng,
thế mà miếng đỉnh chung rốt cuộc vẫn không,
nghìn năm chỉ lưu lại bài Trường Lạc Tự.
Phú quý trước mắt không khác gì phù vân,

người nay chỉ biết cười người xưa,
người chết mồ mả đã ngổn ngang,
người sau vẫn bôn tẩu rộn ràng ?
Xưa nay kẻ hiền người ngu cũng chỉ trơ lại một nấm đất,

không ai vượt qua cửa ải sống chết,
khuyên anh nên uống rượu rồi vui chơi,
kìa trong cửa sổ phía tây,
bóng mặt trời đã xế.

Chú thích:

Vương Nhung: một trong Trúc Lâm thất hiền đời Tấn, nhà giàu ruộng vườn khắp các châu, nhưng lại là tay biển lận, ngày nào cũng cầm bàn tính, thẻ ngà trong tay để tính toán, trong nhà có cây mận rất ngon, bán quả sợ người ta được giống, nền dùi nát hột đi rồi mới bán.

Phùng Đạo, người đời Ngũ Đạo, tính chất phác văn chương hay, làm khanh tướng dưới bốn triều Đường, Tấn.. tự đặt hiệu là Trường Lạc lão có làm bài Trường Lão lạc tứ tự kể chuyện mình thờ bốn họ, sáu ông vua.

Đọc bài thơ Hành Lạc Từ của Nguyễn Du chúng ta tìm lại được cái an vui thanh thản của nhà nho ngày xưa. Cái triết lý Á Đông  chấp nhận cuộc đời có sống có chết lẽ thường.

*

Nguyễn Du và Hồng Sơn Liệp Hộ là ẩn ngữ đời người. Nguyễn Du là danh sĩ tinh hoa, hào kiệt lỗi lạc, một nhân cách lớn. Người đúng là Hồng Sơn Liệp Hộ (Người đi săn ở núi Hồng) và Nam Hải Điếu Đồ (Người đi câu ở biển Nam). Nghiên cứu Bình sinh và hành trạng Nguyễn Du soi tỏ cuộc đời, thời thế, tâm hồn Nguyễn Du 250 năm nhìn lại.

Hoàng Kim

Xem thêm:

Kiều – Nguyễn Du
Ca trù hát nói Việt Nam

nguyenduvanguyencongtru1

Năm 1814 Nguyễn Du đi sứ Thanh về, được vua ban thưởng trọng hậu, về Bến Giang Đình dựng lều viết thơ Kiều và cùng Nguyễn Công Trứ “chén rượu cuộc cờ” đàm đạo.

truyenthuykieu

Nguyễn Công Trứ “Vịnh Thúy Kiều” đã viết: “Từ Mã Giám Sinh cho tới chàng Từ Hải. Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu. Bây giời Kiều còn hiếu vào đâu. Mà bướm chán ong chường cho đến thế. Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa. Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Bán mình trong bấy nhiêu năm. Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai”. Bài thơ ‘Vịnh Thúy Kiều’ trên đây và lời của Nguyễn Du viết về Kiều:“Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. (Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như?) cho đến nay vẫn là lời thách đố với lịch sử ẩn ngữ đời người “trơ gan cùng tuế nguyệt”.

Nguyễn Công Trứ ‘Vịnh Thúy Kiều’ thực chất là sự đánh giá và chính sách của triều đình nhà Nguyễn đối với  Nguyễn Du và đám con cháu cựu thần nhà Lê, vừa tiếc tài mà trọng dung nhưng nhìn sâu vào vào bản chất và luôn cảnh giác đề phòng.

Bình sinh và hành trạng Nguyễn Du với Nguyễn Công Trứ là hai bài học lớn về phép xử thế quyền biến của hai bậc cao sĩ giữa đời thường. Giải mã Nguyễn Du và Truyện Kiều cần thấu hiểu  Nguyễn Du cuộc đời và thời thế. Tài liệu này đúc kết sự thật lịch sử vể những điều đó.

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music


NS Phú Quang – Những ca khúc hay nhất


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu