Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều

hoxuanhuong

Hồ Xuân Hương là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi . Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều là hai kiệt tác văn chương Việt chứa đựng chuyện tình đặc biệt và cao đẹp hiếm thấy. Nguyễn Du và Xuân Hương là anh hùng và mỹ nhân. Nguyễn Du là đại thi hào danh nhân văn hóa thế giới nhưng tầm vóc anh hùng danh sỹ tinh hoa chỉ mới được Xuân Hương soi thấu. Hồ Xuân Hương là “bà chúa thơ Nôm” nhưng kiệt tác thơ Hán Nôm Hồ Xuân Hương, tình yêu đôi lứa và thân phận con người thì nay vẫn còn bị che khuất.

Điều này cũng đã từng xẩy ra với  kiệt tác “Chiến tranh và Hòa bình” của Lev Tonstoy, bao nhiêu năm qua chỉ mới được đề cao là đỉnh cao văn chương nước Nga và thế giới mà chưa thấy hết tầm vóc tư tưởng cao vọi của một vĩ nhân đại văn hào. Sa Hoàng Nhicolai và toàn bộ gia đình bị quân khởi nghĩa Cách mạng tháng Mười giết nhưng ngày nay ông đang được vinh danh là vĩ nhân lỗi lạc thứ ba ảnh hưởng lớn nhất đến lịch sử nước Nga tương đương Lê Nin. Lev Tonstoy là “thánh sư” gần gũi Sa Hoàng.

Truyện Thúy Kiều và Lưu Hương Ký cũng ví như kiệt tác “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần, một kỳ thư nổi tiếng bậc nhất của văn chương Trung Hoa và thế giới nhưng người đời chưa hiểu hết thân phận và mối quan hệ của Tào Tỵ, Tào Dần và Tào Tuyết Cần với các vị vua Khang Hy, Ung Chính và Càn Long. Sau này kiệt tác Lộc Đỉnh Ký ra đời, người đời mới hiểu hết dụng tâm của Kim Dung viết về Khang Hy một trong những vị minh quân xuất sắc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Lộc Đỉnh Ký là sách viết về mưu lược trị loạn của Khang Hy, soi thấu các góc khuất Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần.

Truyện Thúy Kiều soi thấu những góc khuất của Lưu Hương Ký và ngược lại. Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương phần một chúng tôi đã viết “Hồ Xuân Hương tỏ ý Nguyễn Du” “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ” để mở đầu cho chuyên luận này, nay biên khảo tiếp phần hai.

HỒ XUÂN HƯƠNG THỰC LÀ AI ?

Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai (1772 – 1822) là nhà thơ nữ người Việt nổi tiếng được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”, tác giả của Lưu Hương Ký kiệt tác thơ Hán Nôm và bà cũng được coi là tác giả thơ Hồ Xuân Hương được truyền tụng rất rộng rãi trong dân gian. Hồ Xuân Hương là con của ông Hồ Phi Diễn (1703- 1786) đỗ tú tài năm 24 tuổi, ra Bắc dạy học, lấy bà họ Hà quê Hưng Yên rồi sinh được một con gái là Hồ Phi Mai nữ sĩ dạy học tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận,  Bắc thành  Thăng Long, nay gần vườn Bách Thảo và trụ sở chính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại số 2 Ngọc Hà, quận Ba Đình, gần hồ Tây của phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thuộc thủ đô Hà Nội. Hồ Xuân Hương và Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ tức Hồ Thơm là anh em cùng có chung họ Hồ Quỳnh Đôi là ông tổ 5 đời, cùng đời thứ 27 của Đức Nguyên tổ Hồ Hưng Dật. (xem thêm Hồ Xuân Hương gia đình và dòng họ, tài liệu dẫn 1, 2, 3 kèm theo).

Hồ Xuân Hương gia đình và dòng họ.

1. Bà Hồ Xuân Hương là con của ông Hồ Phi Diễn (1703- 1786) đỗ tú tài năm 24 tuổi, ra Bắc dạy học, lấy bà họ Hà quê Hưng Yên rồi sinh được một con gái là Hồ Phi Mai (bút danh sau là Hồ Xuân Hương) ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (nay ở vườn Bách Thảo gần hồ Tây) được trích dẫn từ Hồ Quỳnh gia phả (gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An). Hồ Xuân Hương và Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ tức Hồ Thơm là anh em cùng có chung ông tổ 5 đời, cùng đời thứ 27 của Đức Nguyên tổ Hồ Hưng Dật là dẫn liệu khác cũng trong tài liệu trên. Có người nói lại cho rằng, Hồ Xuân Hương là con ông Hương cống Hồ Sĩ Danh (1706- 1783), em ruột Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống nhưng phả hệ Quỳnh Đôi không thừa nhận điều này vì, ông Hồ Sĩ Danh sau khi đỗ Hương cống không ra làm quan, cũng không đi đâu xa khỏi làng nên không thể có con là Hồ Xuân Hương.

2. Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi chép rằng: “Theo sử cũ, ông tổ đầu tiên của họ Hồ ở Việt Nam là trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống vào thế kỷ thứ 10. Tộc phả bị thất truyền 11 đời (khoảng 300 năm). Đến đời 12 (ông Hồ Liêm) dời ra Thanh Hóa và đời 13 (ông Hồ Kha) ở Nghệ An, tộc phả mới liên tục. Năm 1314, ông Hồ Kha từ Quỳ Trạch (Yên Thành) về Quỳnh Đôi xem địa thế và giao cho con cả là Hồ Hồng ở lại cùng 2 người họ Nguyễn, họ Hoàng khai cơ lập nên làng Quỳnh Đôi còn mình trở lại Quỳ Trạch. Sau này ông Hồ Hồng cùng với 2 ông thủy tổ họ Nguyễn, họ Hoàng được dân suy tôn là Thành Hoàng, rước vào thờ ở đền làng. Ông Hồ Kha và ông Hồ Hồng được coi là thủy tổ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, thờ ở nhà thờ lớn họ Hồ. Thế thứ (còn gọi là đời, vai) trong họ được tính từ ông Hồ Hân (con ông Hồ Hồng) trở đi, nghĩa là: ông Hồ Hân là đời thứ nhất. Nếu tính từ đời ông Hồ Hưng Dật thì phải cộng thêm 14 đời nữa. Ông tổ trung chi II là Hồ Khắc Kiệm (đời 3) con Hồ Ước Lễ, cháu Hồ Hân. Cháu đời 8 là Hồ Sĩ Anh (còn gọi là Hồ Thế Anh) sinh năm 1618, mất năm 1684, thi hội trúng tam trường, làm tri huyện Hà Hoa (vùng Kỳ Anh, Hà Tĩnh) tước Diễn Trạch hầu. Hồ Thế Anh sinh Hồ Thế Viêm (đậu Sinh đồ), Hồ Phi Cơ (thi hội đậu tam trường), Hồ Danh Lưu, Hồ Phi Tích (đậu Hoàng giáp, tước quận công), Hồ Phi Đoan. Hồ Thế Viêm sinh Hồ Phi Khang (đời 10). Phi Khang sinh 5 con trai: Hồ Phi Phú, Hồ Phi Thọ, Hồ Phi Trù, Hồ Phi Phúc, Hồ Phi Huống. Hồ Phi Phúc sinh 3 con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (đời 12). Nguyễn Nhạc (1743-1793) sinh các con trong đó có Nguyễn Bảo, con Bảo là Nguyễn Đâu. Nguyễn Huệ (1753-1792) sinh các con trai trong đó có Quang Thiệu (Khang công tiết chế); Quang Bàn (Tuyên công, đốc trấn Thanh Hóa); Quang Toản (vua Cảnh Thịnh 1783-1802). Hồ Phi Cơ (đời 9) sinh Hồ Phi Gia (thi hội đậu tam trường). Hồ Phi Gia sinh Hồ Phi Diễn (đậu sinh đồ) và Hồ Phi Lãng (cũng đậu sinh đồ). Hồ Phi Diễn (1703-1786) sinh Hồ Xuân Hương (đời 12, 1772-1822).

3. Theo “Hồ Tông thế phả”: “Trong lịch sử Việt Nam có hai triều đại phong kiến Việt Nam được hình thành từ người mang họ Hồ gốc ở Quỳnh Đôi là: Triều đại nhà Hồ (14001407): với nhân vật Hồ Quý Ly. Triều đại nhà Tây Sơn với Nguyễn Nhạc; Nguyễn LữNguyễn Huệ.” Bên dưới tài liệu có ghi chú:  Con của Phi Khang là Phi Phú, Phi Thọ, Phi Trù, Phi Phúc, Phi Huống từ Quỳnh Đôi di cư lên Nhân Lý (Nhân Sơn, Quỳnh Hồng ngày nay) rồi một chi chuyển cư vào Thái Lão – Hưng Nguyên, tiếp theo một chi vào trại Tây Sơn – Quy Nhơn.

4. Tại “Bia tưởng niệm Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam” tại làng Bảo Đội huyện Quỳnh Đôi năm 2005 viết: “Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam là ngài Hồ Hưng Dật thuộc dòng Bách Việt, sinh tại Vũ Lâm tỉnh Chiết Giang, đậu Trạng nguyên đời Hán An Đế. Ngài sang làm thái thú Châu Diễn, sau đó  từ quan, về làm chủ trại hương Bảo Đột huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, Ngài đức trọng tài cao giàu lòng nhân nghĩa, để lại cho muôn đời con cháu di huấn: Vạn đại vi dân… Trãi hơn ngàn năm, chừng 40 đời con cháu rãi khắp từ Bắc chí Nam, họ Hồ đã góp sức bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam được quốc sử ghi nhận như: Vua Hồ Quý Ly nhà cải cách lỗi lạc, như vua Quang Trung (Hồ Thơm) thiên tài quân sự, như trạng nguyên Hồ Tông Thốc nhà sử học lớn, như nữ sĩ Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm…”

Những thông tin trên cho đến nay dẫu chưa đủ cơ sở để kết luận hai triều đại nhà Hồ và nhà Tây Sơn xuất thân từ dòng họ trạng nguyên Hồ Hưng Dật vì gia phả dòng họ bị cách quãng 11 đời nhưng rõ ràng Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương đều đúng là “đồng hương”  họ Hồ Quỳnh Đôi.

5. Theo Trung chi II họ Hồ Quỳnh Đôi thì thời Trịnh Nguyễn phân tranh họ Hồ nhà Tây Sơn đời Hồ Phi Phúc đã vào Bình Định khoảng năm 1655 theo quân của chúa Nguyễn  thời vua Lê Thần Tông. Ông cố (cụ nội) của Nguyễn Huệ tên là Hồ Phi Long (vào giúp việc cho nhà họ Đinh ở thôn Bằng Châu, huyện Tuy Viễn, tức An Nhơn) cưới vợ họ Đinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi Tiễn. Hồ Phi Tiễn không theo việc nông mà bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn, cưới vợ và định cư tại đó. Vợ của Hồ Phi Tiễn là Nguyễn Thị Đồng, con gái duy nhất của một phú thương đất Phú Lạc, do đó họ đổi họ của con cái mình từ họ Hồ sang họ Nguyễn của mẹ. Người con là Nguyễn Phi Phúc cũng chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt. Cũng có tài liệu cho rằng họ Hồ đã đổi theo họ chúa Nguyễn ngay từ khi mới vào Nam. Nguyễn Phi Phúc có 8 người con, trong đó có ba người con trai: Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn LữNguyễn Văn Huệ. Nguyễn Nhạc thuở đi buôn trầu nên gọi anh Hai Trầu. Nguyễn Huệ sinh năm 1753. Ông còn có tên là Quang Bình, Văn Huệ hay Hồ Thơm. Sau này, người dân địa phương thường gọi ông là Đức ông Bình hoặc Đức ông Tám. Nguyễn Lữ được gọi là Đức Ông Bảy.

Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường

Trang thơ Hồ Xuân Hương tại “Thi Viện có giới thiệu “154 bài thơ của Hồ Xuân Hương” và “Đôi điều về nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương”:

Trong nền văn học Việt Nam, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, không chỉ trong nội dung và nghệ thuật sáng tác mà ngay cả các văn bản sáng tác của nữ sĩ họ Hồ vẫn còn là những vấn đề đặc biệt, cần tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu.

Riêng về cuộc đời riêng tư của nhà thơ, cho đến nay vẫn còn là những dấu hỏi, chưa có một công trình nghiên cứu nào đáng tin cậy cả.

Trong phần mở đầu bài thơ “Hồ Xuân Hương – người đó là ai” cố nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hoàng Trung Thông, nguyên Viện trưởng Viện Văn học vốn người xứ Nghệ, làng Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu đã viết:

Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ

Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai?
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ
Như có như không như không như có
Nàng ở làng Quỳnh
Nàng ở phường Khán Xuân …”

Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường tiêu biểu được truyền tụng rất rộng rãi trong dân gian gồm: Đề đền Sầm Nghi Đống,  Bánh trôi nước, Kẽm Trống, Khóc Tổng Cóc, Khóc ông phủ Vĩnh Tường,  Làm lẽ, Tự tình, Mời trầu, Đèo Ba Dội, Hang Cắc Cớ, Cái quạt, Đánh đu, Thiếu nữ ngủ ngày, Không chồng mà chửa, Chùa Quán Sứ,  Sư hổ mang, Sư bị ong châm, Quan thị, Mắng học trò dốt … Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường bài nào cũng thực thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa cận nhân tình.

Đặc trưng nổi bật của Hồ Xuân Hương thơ giữa đời thường là khẩu khí thơ thanh tục tục thanh biến hóa khôn lường, đa tầng ngữ nghĩa, khí phách và đảm lược cao vọi, vượt lên sự nhu thuận nữ nhi thường tình, là tiếng nói giải phóng phụ nữ, giải phóng con người, khiến các bậc anh hùng và minh sư đọc thơ Xuân Hương đều bất giác kính trọng. Xin trích dẫn dưới đây ba bài thơ để dẫn chứng:

Giai thoại Trí Tản chỉ là một trong nhiều giai thoại về Hồ Xuân Hương nhưng khỏa lấp sau tiếng cười để hiểu hết ý tứ thâm trầm của bài thơ là không dễ. Chuyện kể rằng một lần Xuân Hương về thăm làng Quỳnh Đôi, các tài tử văn nhân của làng, của vùng nghe tiếng nàng một cô gái tuyệt sắc và thơ hay lại đáo để nên đã kéo tới rất đông để … xem mặt. Làng Quỳnh Đôi xưa nay nổi tiếng là làng khoa bảng, người chữ nghĩa có nhiều, trong đó có ông đồ Dương Trí Tản vốn tự phụ tài “xuất thơ thành thơ” đã sang xem mặt “người đẹp” và thách đấu thơ văn.Trí Tản ung dung rít điếu thuốc lào rồi đọc một bài thơ “ứng khẩu” đã chuẩn bị sẵn:

Eo lưng thắt đáy thật là xinh
Điếu ai hơn được điếu cô mình
Thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa
Càng núc, càng say tính với tình.

Hồ Xuân Hương trả lời luôn:

Giương oai giễu võ thật là kinh
Danh tiếng bao lăm đã tận rồi
Thoáng ngửi thoáng ghê hơi hương lửa
Tài trí ra sao hỏi tính tình.

Bia miệng truyền tụng rất nhanh, nhưng có ẩn ngữ Xuân Hương ngầm nhắn, ít người để ý: Bậc Quân tử mà nàng coi trọng thì không chỉ là “tài trí ra sao” mà quan trọng hơn hết là “tính tình”.

Kẽm Trống thơ Hồ Xuân Hương. Kẽm Trống là một di tích thắng cảnh ở giữa địa phận hai tỉnh Hà NamNinh Bình cách Hà Nội 80 km về phía Nam, nơi “nước cờ Tam Điệp” nổi tiếng. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã viết bài thơ “Kẽm Trống“:

Hai bên thì núi, giữa thì sông
Có phải đây là Kẽm Trống không
Gió đập cành cây khua lắc cắc
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong
Ở trong hang đá hơi còn hẹp
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng
Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại
Nào ai có biết nỗi bưng bồng

Về phía tả ngạn sông Đáy có một con sông đào dài gần 2 cây số, cả hai đầu đều nối với con sông Đáy, chảy ôm núi Rùa và núi Cổ Động trong quần thể thắng cảnh Kẽm Trống. Tương truyền, trong cuộc tuần du từ kinh đô Huế ra Bắc Hà, vua Minh Mệnh muốn xuôi dòng sông Đáy để ghé thăm Kẽm Trống và Địch Lộng (Ninh Bình). Nhưng khi nghe bài thơ của Hồ Xuân Hương vịnh cảnh Kẽm Trống, thấy những ẩn ý nghịch ngợm, nhà vua không chịu đi qua đoạn sông này mà bắt nhân dân trong vùng phải cấp tốc đào một con sông mới để thuyền ngự vượt qua. Do vậy mới có con sông đào chảy vòng này. Cho đến nay, nhiều người vẫn chưa hiểu hết ẩn tình sâu xa của chuyện này.

Đề đền Sầm Nghi Đống
của Hồ Xuân Hương là bài thơ mà học sinh người Việt hầu như ai cũng biết và rất nhiều người thuộc:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền Thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

Sầm Nghi Đống là Thái thú Điền Châu cùng với Tôn Sĩ Nghị Tổng Đốc Lưỡng Quảng và Ô Đại Kinh Đề Đốc Vân Nam và Quý Châu, ba vị Thái thú tương đương với An Nam quốc vương, đã chia ba đường cùng kéo quân vào xâm lược Đại Việt trong cuộc chiến tranh Thanh Việt năm Kỷ Dậu 1789.

Nhà Thanh với lực lượng đông đảo lại mượn tiếng là giúp triều Lê Trung hưng khôi phục ngai vàng, diệt Nguyễn Huệ có mưu đồ đoạt ngôi, để lung lạc lòng dân Việt vốn yêu nước, yêu tự do và căm ghép kẻ phản quốc. Nhà Thanh với kế sách khôn ngoan và thâm hiểm của vị vua xuất chúng “Thập toàn  đại công” Càn Long: “…việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sang Thuận HóaQuảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.”“.

Quang Trung đã đại phá quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy, Ô Đại Kinh một cánh quân mạnh phải tháo lui, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Hứa Thế Hanh danh tướng cầm quân cùng toàn bộ lực lượng quân Thanh tinh nhuệ ở đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt, Lê Chiêu Thống không còn cơ may hồi phục, Kế hoạch chiếm Đại Việt của nhà Thanh bị phá sản và ý chí xâm lược bị dập tắt. Điểm nhấn sâu đậm nhất của Chiến thắng Kỷ Dậu 1789 là gò Đống Đa tại biểu tượng đền thờ Sầm Nghi Đống.

Nơi ấy, Sầm Nghi Đống khi đã bị quân Tây Sơn vây chặt, đánh bí thế phải thắt cổ tự tử. Quang Trung khi bang giao với nhà Thanh đã cho người Hoa lập đền thờ Sầm Nghi Đống tại ngõ Sầm Công, gò Đống Đa ngày nay.

Hồ Xuân Hương “ghé mắt trông ngang thấy bảng treo” cố tình chọn một góc nhìn coi thường đối với “Kìa đền Thái thú đứng cheo leo” và bất ngờ hạ hai câu thơ tuyệt bút: “Ví đây đổi phận làm trai được/ Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu !” . “Đổi phận làm trai” là sự diễn đạt ngắn nhất và sâu sắc nhất về thân phận người phụ nữ trong xã hội trọng nam khinh nữ.  Câu kết “há bấy nhiêu” tỏ sự coi thường vị nam nhi Thái thú. Đó là một lời dè bỉu một sự đánh giá thấp. Hồ Xuân Hương tự cho mình có thể làm hơn thế.

Thơ Hồ Xuân Hương đề đền Sầm Nghi Đống là bia miệng.

Vị nam nhi Thái thú đó là ai? Hiển nhiên đó là Sầm Nghi Đống. Nhưng ngoài Sầm Nghi Đống còn ai khác nữa? Hóa ra “ý tại ngôn ngoại” khi Lưu Hương ký và Truyện Thúy Kiều hé bức màn bí mật Từ Hải và nàng Kiều, Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương.

Lưu Hương Ký kiệt tác thơ Hán Nôm

Tập thơ LƯU HƯƠNG KÝ của Hồ Xuân Hương xuất hiện vào năm 1814, là văn bản cổ nhất và đáng tin nhất liên quan đến thơ Hồ Xuân Hương. Tập thơ này mới được phát hiện vào năm 1963 gồm Bài Tựa của Tốn Phong, người Nghệ An viết năm 1814 và 52 bài thơ của Hồ Xuân Hương với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm. Trong bài tựa, Tốn Phong tự nhận mình là bạn của Hồ Xuân Hương, tự Cổ Nguyệt Đường, con cháu họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chính Hồ Xuân Hương đã nhờ ông viết lời tựa ấy: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa.” (Chữ in đậm là Hoàng Kim nhấn mạnh).

Trong tập thơ Lưu Hương Ký có bài thơ “Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ”  là bài thơ Hồ Xuân Hương “tỏ ý” với Nguyễn Du. Một bài thơ khác đã xác nhận viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu chính là Nguyễn Du.

NHỚ CHUYỆN CŨ
Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu

感舊兼呈勤政學士阮侯 – Nhớ chuyện cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu (*).

Hồ Xuân Hương

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

(*) Sau đầu đề trên, tác giả có chú: “Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân” 侯宜春仙田人 (Hầu người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân). Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền ghi rõ mùa hè năm Kỉ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ Quảng Bình. Tháng 2 năm Quý Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.

Bài thơ Vịnh Hà Long của Hồ Xuân Hương là một tuyệt phẩm. Di sản văn hóa thế giới Hạ Long cho đến nay có lẽ chưa có tác phẩm văn chương nào viết về vịnh Hạ Long của Việt Nam và thế giới ngời sáng hơn bài thơ này:
VỊNH HẠ LONGHồ Xuân Hương

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duyềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

(Bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn)








Độ Hoa Phong

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thủy trung.
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thủy môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy Tinh cung.

Dịch nghĩa

Lá buồm không vội vượt qua vũng Hoa Phong,
Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chỏi dựng lên.
Thế nước tuỳ chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.
Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để nước thông qua.
Cá rồng lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa thu.
Âu cò cùng ban trong ánh đỏ mặt trời chiều.
Cõi Tiên có ba trăm sáu động ngọc và phòng mây,
Đây không biết chốn nào là cung Thủy Tinh.

Bài thơ Miếu Sầm Thái Thú  ở bản khắc 1922 chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau cũng là một câu chuyện sử thi thú vị.

MIẾU SẦM THÁI THÚ

Ghé mắt trông lên thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.

(Bản khắc 1922) chữ “lên” khác với chữ “ngang” ở các bản khắc sau.

Nguồn: Kiều Thu Hoạch, Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, 2008

Đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là nghệ thuật thơ Hán Nôm đặc biệt điêu luyện, sánh ngang những kiệt tác thơ Trung Hoa thời Thịnh Đường. Thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương hàm súc sâu sắc hiếm thấy, trong thơ có nhạc, chuyển tải sử thi văn hóa giáo dục tài tình và khiêm nhu hiền lành rất mực.

Đặc trưng nổi bật thứ hai trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là bà chọn duy nhất chỉ  tập thơ Lưu Hương Ký gồm 52 bài thơ với 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm nhờ Tốn Phong viết lời tựa: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa”.Thơ tuyển chọn đã thể hiện thực chất con người Hồ Xuân Hương.

Đặc trưng nổi bật thứ ba trong thơ Hán Nôm của Hồ Xuân Hương là Lưu Hương Ký kết với Truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du thành tuyệt phẩm văn chương, tinh hoa đặc sắc “song kiếm hợp bích”, biểu tượng văn hóa, anh hùng mỹ nhân, tuyệt kỹ ngôn ngữ tiếng Việt Hán Nôm.

Hai kiệt tác Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều bền vững với thời gian.

Hồ Xuân Hương ‘tỏ ý’ với Nguyễn Du, Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng. Bài tổng hợp mời đọc Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.

*

NGUYỄN DU 250 NĂM NHÌN LẠI là chuyên luận của Hoàng Kim gồm 12 bài : 1) Nguyễn Du quê hương và dòng họ; 2)  Nguyễn Du cuộc đời và thời thế  (Nguyễn Du mười lăm năm tuổi thơ 1765- 1780; Nguyễn Du mười lăm năm lưu lạc 1781-1796; Nguyễn Du hai mươi ba năm cuối đời 1797- 1820), 3)  Nguyễn Du thơ chữ Hán, 4) Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ, 5)  Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương,  6) Nguyễn Du là bậc anh hùng, 7)  Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa, 8) Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du,  9) Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ,   10) Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa;  11) Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ, 12) Nguyễn Du nửa đêm đọc lại.

“Bất tri tam bách dư niên hậu.
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”.

Ba trăm năm nữa chốc mòng.
Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như? 

Nguyễn Du danh sĩ tinh hoa
Đời Người là kiệt tác thơ Truyện Kiều.

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
ChucmungNammoi

 

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music


Vietnamese food paradise
Ta Nợ (Thơ Phan Chí Thắng, Nhạc Nguyễn Quang Nhàn)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu

 

Advertisements

8 thoughts on “Lưu Hương Ký và Truyện Thúy Kiều

  1. Pingback: Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Nguyễn Du Xuân Hương luận anh hùng | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Nghiên cứu Kinh Dược Sư | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Đức Thánh Trần và Chùa Thắng Nghiêm | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Tình yêu cuộc sống | Khát khao xanh

  7. Pingback: Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Di sản Dân ca Ví Dặm Nghệ Tĩnh | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s