Gạo Việt chất lượng và thương hiệu

gaovietchatluongvathuonghieu

7000 TỶ NÂNG CAO GIÁ TRỊ GẠO VIỆT Gạo Việt chất lượng và thương hiệu đang có những tín hiệu vui trong tầm nhìn, định hướng và quyết định đầu tư của Chính phủ Việt Nam.7000 tỷ tìm lại ‘thời vang bóng’ của gạo Việt với trên 5.000 tỷ đồng đầu tư trực tiếp cho các dự án hoàn chỉnh đồng ruộng, củng cố giao thông và thủy lợi nội đồng, hệ thống điện phục vụ sản xuất ở các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và duyên hải Nam Trung Bộ.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vừa thông qua đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Mục tiêu đề án lúa gạo Việt đến năm 2030 nhằm đạt 50% lượng gạo xuất khẩu có thương hiệu Việt, với 30% là gạo đặc sản, gạo thơm. Bộ cũng đã thông qua lộ trình thực hiện và danh mục các dự án cần ưu tiên trong năm năm (2017 – 2022) với tổng kinh phí dự kiến đầu tư trên 7.000 tỷ đồng.

Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 trong Ngày Nông dân Việt Nam hi vọng sẽ kết nối sức mạnh Việt với một loạt các giải pháp thực tiễn khơi dậy sức dân, động lực cách mạng của đông đảo người dân nông thôn, khai mở được tiềm lực chưa được đầu tư đúng mức và sức mạnh vốn có của nông nghiêp nông dân nông thôn. 7000 tỷ tìm lại ‘thời vang bóng’ của gạo Việt.

Giáo sư Võ Tòng Xuân nói những lời thật tâm đắc: “Ngành lúa gạo hiện được chia ra các giai đoạn phát triển như: giai đoạn thiếu ăn, giai đoạn đủ ăn và dư thừa, giai đoạn tìm hiểu công nghệ sản xuất mới, giai đoạn sản xuất công nghệ xanh. Các nước đang ở giai đoạn sản xuất theo phương thức công nghệ xanh, còn Việt Nam sau bao nhiêu năm vẫn chỉ ở giai đoạn sản xuất dư thừa, loay hoay không phát triển lên, vẫn chỉ chú trọng về lượng chứ không về chất nên rất khó cạnh tranh“. TS Hoàng Kim nói thêm: “Chúng ta rất cần thấu hiểu vòng tròn nhân quả: ‘hột lúa – cây lúa – hạt gạo – bát cơm’, nắm vững hai khâu then chốt ‘hoa lúa – bùn ngấu’ của chuỗi thức ăn quan trọng nhất đời người, học và hành kỹ từng khâu và khâu nào cũng phải chắc tay. Đường sống là con đường xanh hòa bình, con đường văn minh nhân loại. Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân, động lực cách mạng của đông đảo người nông dân. Chừng nào người dân nông thôn chưa thay đổi được số phận của mình thì chừng đó bài toán kinh tế chưa khai mở được tiềm lực nông nghiêp nông dân nông thôn.”

(Trích: Gạo Việt chất lượng và thương hiệu bài 1)

dongxuanlua-sieuxanh
Tuyển chọn và xác định những giống lúa siêu xanh chủ lực, thích ứng biến đổi khí hậu, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh lúa, xây dựng cánh đồng mẫu lúa siêu xanh năng suất chất lượng cao, ngắn ngày, ít sâu bệnh, tạo thương hiệu lúa gạo hàng hóa là giải pháp khoa học công nghệ nghề lúa Báo Phú Yên: Triển vọng 2 giống siêu lúa xanh.

LuaSieuXanhVietNam1“Phương thức công nghệ xanh” theo xu thế mới Quốc tế, Việt Nam đã và đang làm. Ngành lúa gạo tiếp tục phát huy những lợi thế chiến lược mà Việt Nam đã có. Các Viện Trường, Công ty lúa gạo Việt Nam hiện đã có nhiều thành quả. Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh Lúa Sắn Việt Nam đến châu Phi  là có triển vọng. “Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân”

gaovietchatluongvathuonghieu3

Gạo Việt tái cơ cấu để tăng xuất khẩu. (ảnh Bạch Dương báo VN Economy). 7.000 tỷ tìm lại “thời vang bóng” gạo Việt.

Những vấn đề thực tiển cấp bách của ngành lúa gạo Việt, các giải pháp then chốt  gạo Việt tái cơ cấu để tăng xuất khẩu nhằm tăng hiệu quả ngành lúa gạo, nâng cao sinh kế và thu nhập đời sống cho đông đảo người nông dân Việt.

Nhóm giải pháo chính theo đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 gồm: Đầu tư cơ sở hạ tầng vùng lúa hàng hóa và khoa học công nghệ nghề lúa, hoàn chỉnh đồng ruộng, củng cố giao thông và thủy lợi nội đồng, hệ thống điện, đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng,phục vụ sản xuất ở các vùng chuyên canh lúa; Tái cơ cấu và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước; Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân mở rộng kinh doanh, đầu tư vào ngành lúa gạo bằng các dự án hợp tác công tư (PPP), ưu đãi thuế, vốn vay…; Đặc biệt ưu tiên các doanh nghiệp có vùng nguyên liệu, doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu khoa học và khuyến nông, doanh nghiệp kinh doanh vật tư đầu vào có liên kết với nông dân; Thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào việc xây dựng vùng nguyên liệu, hình thành liên kết và lâu dài giữa các tổ chức liên kết sản xuất của nông dân, hợp tác xã với các doanh nghiệp nòng cốt và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tham gia xuất khẩu. Và các giải pháp thực tiễn cụ thể thiết thực khác.

Mời xem thêm những tài liệu chi tiết chọn lọc dưới đây với các đường link kèm theo thuộc chuyên mục GẠO VIỆT CHẤT LƯỢNG VÀ THƯƠNG HIỆU . Xin lắng nghe trao đổi của các chuyên gia cùng với bạn đọc cuối bài hoặc tại đây Kim on Facebook.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn:

BẢY NGHÌN TỶ TÌM LẠI THỜI VANG BÓNG GẠO VIỆT

Bạch Dương, báo VN Economy, 16:28 – Thứ Sáu, 14/10/2016.
Nguồn: 7.000 tỷ tìm lại “thời vang bóng” gạo Việt.

Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo dự kiến sẽ chi hơn 7.000 tỷ đồng trong 5 năm tới… Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa thông qua đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Gần đây đã xảy ra không ít các thông tin bê bối về việc xuất khẩu gạo Việt qua các nước. Giới chuyên gia cảnh báo nếu Việt Nam không thay đổi sẽ phải nhường sân nhà cho gạo ngoại và mất uy tín với các mối hàng quốc tế. Từ một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, gạo Việt đang tụt dần phong độ..

Cổ phần hoá, khuyến khích tư nhân

Theo đề án tái cơ cấu, ngành lúa gạo tiếp tục phát huy những lợi thế chiến lược mà Việt Nam có.  Bên cạnh việc đáp ứng thị trường trong nước, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lúa gạo theo hướng tăng giá trị và phát triển vững bền…

Đề án có đề cập đến việc tái cơ cấu và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, trọng tâm là Tổng công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) và Tổng công ty Lương thực Miền Bắc (Vinafood 1).

Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân mở rộng kinh doanh, đầu tư vào ngành lúa gạo bằng các dự án hợp tác công tư (PPP), ưu đãi thuế, vốn vay…; đặc biệt ưu tiên các doanh nghiệp có vùng nguyên liệu, doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu khoa học và khuyến nông, doanh nghiệp kinh doanh vật tư đầu vào có liên kết với nông dân.

Thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào việc xây dựng vùng nguyên liệu, hình thành liên kết và lâu dài giữa các tổ chức liên kết sản xuất của nông dân, hợp tác xã với các doanh nghiệp nòng cốt và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tham gia xuất khẩu.

Thu hút đầu tư, liên doanh liên kết lâu dài với doanh nghiệp từ các quốc gia khác có tiềm lực về vốn, công nghệ, thiết bị và kinh nghiệm kinh doanh để phát triển và hiện đại hóa ngành lúa gạo nước ta.

Hỗ trợ doanh nghiệp lớn, có liên kết sản xuất với nông dân tại các vùng nguyên liệu chuyên canh chính, xác định thị trường mục tiêu, thu hút khách hàng lớn, xây dựng thương hiệu, kết nối trực tiếp với hệ thống bán lẻ.

Hạn chế tối đa các biện pháp quản lý xuất khẩu làm méo mó, gián đoạn thị trường như tạm dừng xuất khẩu, hạn ngạch xuất khẩu, trợ giá…

Tập trung phát triển sản xuất các nhóm sản phẩm theo phân khúc thị trường trong nước như gạo đặc sản, gạo chất lượng trung bình, gạo phục vụ cho chế biến.

Về thị trường xuất khẩu, đề án xác định tăng tỷ trọng loại gạo trắng, hạt dài, gạo chất lượng cao (5-10% tấm), giảm tỷ trọng loại gạo trên 15% tấm. Đồng thời, tăng tỷ trọng các loại gạo thơm, gạo đồ, gạo Japonica, đa dạng các sản phẩm chế biến từ gạo.

Xây dựng các chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp ngành gạo phát triển thị trường mới nhằm khai thác hiệu quả của các cam kết hội nhập. Hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm, ký kết hợp đồng xuất khẩu trực tiếp tới các hệ thống phân phối nước ngoài.

Tiếp cận hệ thống bán lẻ tại các thị trường nhập khẩu gạo chất lượng cao. Xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam và phát triển hệ thống phân phối tại các thị trường nhập khẩu. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại gạo đồ sang các thị trường châu Phi, Bắc Mỹ, châu Âu.

Đẩy mạnh hoạt động marketing cho sản phẩm gạo Việt Nam có thương hiệu trên cả thị trường nội địa và quốc tế. Xây dựng kho ngoại quan tại các thị trường chủ lực phù hợp với các cam kết hội nhập nhằm phát triển kênh phân phối cho gạo Việt Nam tại các thị trường nhập khẩu.

5 năm, 7.000 tỷ

Đến năm 2030, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt mục tiêu 50% lượng gạo xuất khẩu sẽ có thương hiệu Việt, trong đó 30% là gạo đặc sản, gạo thơm.

Để đạt được các mục tiêu trên, Bộ đã đưa ra lộ trình thực hiện và danh mục các dự án cần ưu tiên thực hiện từ năm 2017 – 2022. Tổng kinh phí vượt hơn 7.000 tỷ đồng.

Trong đó, chiếm 5.000 tỷ đồng là dự án hoàn chỉnh đồng ruộng, củng cố giao thông và thủy lợi nội đồng, hệ thống điện phục vụ sản xuất ở các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và duyên hải Nam Trung Bộ.

Ngoài ra, là hàng loạt các dự án về chọn giống lúa, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và các chủng loại gạo phục vụ xuất khẩu… được lên kế hoạch.

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng đầu năm 2016, khối lượng xuất khẩu gạo ước đạt 3,76 triệu tấn, thu về 1,69 tỷ USD. So với cùng kỳ, gạo xấu khẩu năm nay đã giảm 16,4% về khối lượng và giảm 12,5% về giá trị.

TRIỂN VỌNG 2 GIỐNG “SIÊU LÚA XANH”

Mạnh Hoài Nam, báo Phú Yên, Thứ Tư, 14/09/2016 14:00 CH
Nguồn : Triển vọng 2 giống lúa siêu xanh (báo Phú Yên)

Vụ hè thu 2016, Sở NN-PTNT khảo nghiệm 4 giống lúa GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245. Đây là bộ giống “siêu lúa xanh” (Green Super Rice-GSR) được du nhập từ Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), trồng tại huyện Tây Hòa và PhúHòa. Cuối vụ năng suất lúa đạt từ 75-80 tạ/ha, chất lượng gạo tôt.

gaovietchatluongvathuonghieu4
Mô hình khảo nghiệm giống “siêu lúa xanh” trồng tại xã Hòa Mỹ Tây (huyện Tây Hòa) – Ảnh: LÊ TRÂM, Báo Phú Yên

Năng suất cao
Vụ hè thu năm nay, trên cánh đồng Cây Trảy, Hòn Đình Dưới thuộc xã Hòa Mỹ Tây (huyện Tây Hòa) gieo sạ 4 giống “siêu lúa xanh” là GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam ưu 1245, trên diện tích 15ha. Trong quá trình sinh trưởng, lúa phát triển tốt, giai đoạn chắc xanh lúa phơi gié dài cả gang tay người lớn. Bà Phùng Thị Yên, thành viên tổ sản xuất giống của HTX Nông nghiệp Kinh doanh dịch vụ Hòa Mỹ Tây, cho hay: Cả cánh đồng Hòa Mỹ Tây rộng gần 100ha, nhưng khó có đám nào có năng suất cao bằng đám được trồng bởi giống GSR 65. Lúa chín sát cậy (gốc gié lúa), hạt sáng bóng mẩy, năng suất đạt trên 85 tạ/ha. Còn ruộng kề bên, không gieo sạ giống “siêu lúa xanh” thì lúa lép trong cậy, năng suất không quá 60 tạ/ha.

Đám ruộng rộng 2 sào trồng giống lúa GSR 90 nằm cạnh đường nội đồng Cây Trảy, năng suất cũng gần 85 tạ/ha. Ông Cao Văn An, nông dân ở xã Hòa Mỹ Tây tham gia mô hình, trầm trồ: “Cánh đồng này thời gian qua được trồng nhiều giống lúa khác nhau, nhưng chưa có giống nào đạt năng suất cao như giống này. Lúa GSR 90 chỉ sạ 4kg/sào, đến thời kỳ mạ đẻ nhiều nhánh, khi trổ đóng hạt dày, phơi gié hạt sáng trưng”.Ông Nguyễn Trình, Trưởng Trạm Khuyến nông – Khuyến ngư huyện Tây Hòa, nhận định: Vụ hè thu năm nay, thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Sâu bệnh hại có chiều hướng gia tăng, gây hại mạnh nhất là bệnh khô vằn, thối thân thối bẹ, rầy nâu… Thế nhưng, với giống “siêu lúa xanh”, cây có sức sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu với sâu bệnh hại, hạn chế tối đa sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cho năng suất cao.

Các giống GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245 cũng được trồng khảo nghiệm tại Trại giống Nông nghiệp Hòa An (huyện Phú Hòa). Theo bà Phạm Thị Thỏa, Trưởng Trại giống Nông nghiệp Hòa An, trong thời gian trồng khảo nghiệm giống lúa thuộc bộ giống “siêu lúa xanh”, cuối vụ chúng tôi nhận thấy giống có năng suất cao nhất là giống GSR 65 đạt 96,3tạ/ha, cao hơn giống đối chứng ML48 là 27,4 tạ/ha (năng suất giống lúa ML48 chỉ đạt 68,8tạ/ha). Tiếp đến là các giống GSR 90, năng suất 88,57 tạ/ha; giống GSR 38 năng suất đạt 88,2 tạ/ha và Nam Ưu 1245 đạt năng suất 83,1 tạ/ha.

Tuyển chọn 2 giống “siêu lúa xanh”

Trước đó, từ năm 2015, Sở NN-PTNT tiến hành khảo nghiệm 10 giống lúa “siêu lúa xanh” gồm GSR 90, GSR 84, Nam Ưu 1245, GSR 38, GSR 54, GSR 89, Nam Ưu 1241, GSR 65, GSR 36, GSR 63. Trải qua 3 vụ trồng khảo nghiệm tại 2 điểm là Trại giống Nông nghiệp Hòa An và cánh đồng huyện Tây Hòa được theo dõi theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đến nay, sở tuyển chọn 2 giống ưu tú phù hợp là GSR 65 và GSR 90.

TS Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT, chủ nhiệm đề tài tuyển chọn giống lúa gạo năng suất cao, phẩm chất tốt từ nguồn gen lúa siêu xanh, cho hay: Giống GSR 65 và GSR 90 có các đặc tính sinh trưởng, phát triển khỏe, kháng sâu bệnh tốt, thời gian sinh trưởng ngắn ngày. Năng suất cao, đạt trung bình từ 75-80 tạ/ha, thâm canh có thể đạt trên 85-90 tạ/ha, gạo có chất lượng tốt.

Thời gian đến, Sở tiếp tục nghiên cứu quy trình canh tác phù hợp để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống lúa. Đồng thời phối hợp với các địa phương sớm chuyển giao nhân rộng 2 giống lúa mới GSR 65 và GSR 90 đưa vào sản xuất đại trà nhằm góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu.

Theo TS Hoàng Kim, giảng viên Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, người dày công nghiên cứu bộ giống “siêu lúa xanh”, một số giống của bộ giống lúa “siêu lúa xanh” hiện có phẩm chất gạo cao nhất trên thị trường thế giới. Vì vậy trong quá trình khảo nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu nông học, năng suất và phẩm chất hạt gạo đã tuyển chọn ra bộ giống lúa chủ lực tiến tới xây dựng cánh đồng lúa chất lượng cao.

Đây là một trong những giải pháp xây dựng cánh đồng mẫu lúa chất lượng, tạo xu hướng sản xuất lúa hàng hóa. Qua đó chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất mới cho nông dân mang lại nguồn thu nhập cao.

NHỮNG TIN GẠO VIỆT MỚI CẬP NHẬT

Kiến nghị ‘cởi trói’ cho hạt gạo
Cánh đồng lớn lúa Nhật   
Xây dựng tiêu chuẩn gạo thơm Việt Nam
Để vụ Đông trở thành vụ sản xuất chính
Hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp
Đối phó với biến đổi khí hậu

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

Những bài đã đăng trên báo Thế giới Tiếp thị:
Thương hiệu nông sản cần cả nhạc trưởng lẫn dàn nhạc đồng đều
Kết luận thanh tra việc đầu tư 3 dự án nhiên liệu sinh học thua lỗ lớn
GIỐNG LÚA RVT
hay chuyện ‘ỷ mạnh đạp lên lưng người khác’
Chông gai ‘gạo ngon’ từ thời Lương Định Của
Giống lúa chịu mặn mới và nhà khoa học’đẻ mướn’
Thương hiệu quốc gia mất giá và ‘bữa ăn dỡ nhất’ của Vietnam Airlines
Năm 2016 Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu gạo sang Trung Quốc
Thái Lan quyết tâm tìm chiến lược mới về lúa gạo

votongxuan
Hãy gạt tự ái dân tộc đi và học người Campuchia làm gạo
Giáo sư Võ Tòng Xuân: ‘Mỹ cần gạo, Việt Nam không có gạo bán’
Giáo sư Võ Tòng Xuân lý giải vì sao người Việt lại chọn gạo Campuchia

Trở về đầu trang
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Con đường lúa gạo Việt Nam

Trao đổi ở cuối bài hoặc trên Kim on Facebook

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music

Vietnamese food paradise
Vietnam traditional music
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam
Trở về đầu trang  Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam
Advertisements

9 thoughts on “Gạo Việt chất lượng và thương hiệu

  1. Pingback: Bài thơ Viên đá Thời gian | Khát khao xanh

  2. Pingback: Trần Tử Ngang đêm thiêng đọc lại | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Ngọc trong đá | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Đôi lời của thầy Ngô Kế Sương | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Dấu chân thời gian | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Hoàng Kim dấu chân thời gian | Tình yêu cuộc sống

  8. CHỌN NGÃ RẼ CHO LÚA GẠO

    Bích Hồng (TTXVN)
    Nguồn: http://www.tintucnongnghiep.com/2017/03/chon-nga-re-cho-lua-gao-viet-nam.html

    Là quốc gia xuất khẩu gạo thuộc tốp đầu thế giới nhưng sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn vấp phải rất nhiều khó khăn. Chọn ngã rẽ nào cho lúa gạo Việt Nam đang là câu hỏi và cũng là mục tiêu tìm kiếm của ngành lúa gạo hiện nay. Lý giải tại sao Việt Nam xuất khẩu gạo phần lớn vẫn là phân khúc thị trường gạo cấp thấp, ông Nguyễn Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết, Thái Lan có cả phân khúc thị trường gạo cao cấp và phân khúc cấp thấp. Nhưng ở Thái Lan hay Campuchia, gạo cao cấp là từ loại lúa một vụ/năm, trong khi đó Việt Nam sản xuất các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao.

    Nếu tính thu nhập trên 1 đơn vị diện tích Việt Nam chưa chắc kém Thái Lan và Campuchia. Cùng chung quan điểm với ông Cường, ông Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam chỉ ra năng suất lúa của Thái Lan trung bình chỉ 3,5 tấn/ha và trồng 1 vụ/năm, còn Việt Nam năng suất lúa 5,6 – 5,7 tấn/ha và trồng 2 vụ/năm. Như vậy, với giá gạo Việt Nam bán được bằng một nửa so với Thái Lan thì về thu nhập không thấp hơn. Bên cạnh đó, Thái Lan có 11 triệu ha đất lúa, cung cấp cho 60 triệu dân; Việt Nam có khoảng 4 triệu ha đất lúa cung cấp lương thực cho 90 triệu dân.

    Thu hoạch lúa trên vùng Tứ giác Long Xuyên (Kiên Giang). Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN

    “Thời gian vừa qua chúng ta chọn tạo giống lúa theo hướng là tăng năng suất, ít chú ý, thậm chí là không cho phép chú ý đến chất lượng bởi vì phải đảm bảo an ninh lương thực là yếu tố đầu tiên. Lúa gạo Việt Nam được chú ý về chất lượng chỉ từ sau những năm 2000”, ông Hàm so sánh. Nhìn thẳng vào thực tại khi ngay cả những vùng sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu nhưng nông dân vẫn nghèo, ông Trịnh Khắc Quang, Quyền Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, sản xuất lúa gạo Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn ngoài hiệu quả sản xuất còn thấp, còn do biến đổi khí hậu.

    Hiện cơ cấu giống lúa ở một số vùng không còn thích hợp để tiếp tục duy trì phát triển. Việt Nam xuất khẩu nhiều nhưng thị trường xuất khẩu chưa ổn định, các thị trường khó tính chưa vào được nhiều, chủ yếu vẫn là thị trường châu Á, châu Phi. Từ cách xây dựng chất lượng, thương hiệu hạt gạo của Thái Lan, ông Lê Huy Hàm cho hay, Thái Lan không tạo ra giống mới mà họ trồng những giống lúa được trồng từ cách đây hàng trăm năm đã trồng. Thái Lan đi theo hướng, giống yếu mặt nào thì cải tiến mặt đó.

    Trong khi đó, Việt Nam ngày càng tạo ra nhiều giống mới. Nhiều doanh nghiệp ngày càng quan tâm đầu tư nghiên cứu chọn tạo các giống lúa mới. Tuy nhiên, khi đưa giống mới vào sản xuất, đương nhiên sẽ phủ nhận giống cũ. Điều này dẫn đến việc khó xây dựng thương hiệu nếu liên tục đưa ra giống mới. Nhận thấy điều đó, Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam đang hình thành chiến lược mới.

    Đó là không tạo ra các giống chịu mặn, chịu ngập… mới mà tận dụng những giống lúa đã có thương hiệu, những giống lúa được người dân chấp nhận và được trồng phổ biến. Nhưng các giống đó có nhược điểm như không kháng mặn, không chịu ngập, dễ nhiễm bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá… Trên cơ sở những giống này sẽ cải tiến những đặc tính đó nhưng giữ nguyên những đặc tính nông sinh học của hạt lúa để giữ chất lượng gạo.

    Như vậy, thương hiệu gạo, thương hiệu giống trên thị trường không thay đổi. “Đây là chiến lược tạo giống mới, là yếu tố ứng phó với biến đổi khí hậu. Các giống mới được gọi là giống kháng đa yếu tố cần thiết để ứng phó với biến đổi khí hậu”, ông Lê Huy Hàm nói. Cũng theo ông Hàm, từ trên đặc điểm về địa lý tự nhiên, xã hội, các nhà kinh tế, hoạch định chính sách cần chỉ ra được lợi thể để Việt Nam phát huy, không dứt khoát phải có nhiều gạo trên thị trường như Mỹ, châu Âu…

    Thái Lan và Việt Nam là hai nền sản xuất rất khác nhau từ điều kiện tự nhiên, xã hội. Do đó, chúng ta phải chọn ngã rẽ cho lúa gạo Việt Nam sẽ là hợp lý hơn so với việc cứ xông vào cạnh tranh ở bất kỳ thị trường nào. Sau gần 2 năm xây dựng, Đề án tái cấu trúc ngành hàng lúa gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 mới đây đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.

    Đề án xác định không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lúa gạo mà còn bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 của Đề án là tổ chức sản xuất, chế biến và phân phối các sản phẩm gạo trắng, gạo thơm và đặc sản; phấn đấu đạt 20% sản lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu “Gạo Việt Nam”. Đồng thời, quảng bá, giới thiệu thương hiệu rộng rãi trong nước và đến ít nhất 20 thị trường xuất khẩu.

    Ông Trịnh Khắc Quang đánh giá, thương hiệu là một vấn đề quan trọng phải làm. Nhưng thương hiệu đó cần gắn liền vùng trồng, gắn liền với giống, với doanh nghiệp để sản xuất ra gạo được gắn với thương hiệu đó. Bên cạnh đó, cần duy trì chất lượng, giảm giá thành sản xuất, tạo được sự tín nhiệm của gạo Việt Nam trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Đó là mấu chốt quan trọng nhất song song với thương hiệu.

    Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh, thực hiện Đề án tái cấu trúc ngành hàng lúa gạo Việt Nam, ngành nông nghiệp đã đưa ra hệ thống các gói giải pháp từ khâu cải tiến bộ giống đến hình thành gói kỹ thuật và các điều kiện hạ tầng, đặc biệt là cơ giới hóa trong sản xuất, bảo quản, chế biến và sản xuất theo chuỗi.

    Đồng thời, định dạng các thị trường xuất khẩu lúa gạo Việt Nam, từ đó xác định các giống phù hợp cho từng thị trường, phân khúc từng thị trường lúa gạo. “Trước mắt phải tập trung đẩy mạnh nghiên cứu bộ giống có chất lượng và nghiên cứu gói kỹ thuật sản xuất lúa cho từng vùng cụ thể theo hướng giảm chi phí như: không lãng phí phân bón, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả; giảm lượng giống sử dụng. Điều này vừa giúp giảm chi phí, nâng cao chất lượng gạo vừa giúp bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu”, Thứ trưởng Lê Quốc Doanh nói.

    Bích Hồng (TTXVN)

  9. TÁI CƠ CẤU NGÀNH LÚA GẠO YÊU CẦU BỨC THIẾT

    Hữu Hiệp – Cao Phong (Báo SGGP)

    Việt Nam đứng tốp đầu thế giới về xuất khẩu gạo nhưng hiện giá gạo vẫn còn thấp, hàm lượng chất xám ít, lợi tức nông dân thấp nên vẫn nghèo… Tổ chức lại sản xuất ngành lúa gạo theo hướng hiện đại, chất lượng cao, tính cạnh tranh cao và bền vững là yêu cầu bức bách hiện nay.

    Giảm chỉ tiêu xuất khẩu không đơn giản là bài toán trừ

    Không phải ngẫu nhiên mà từ cuối năm 2016, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) muốn giảm lượng gạo xuất khẩu xuống gần 3 lần so với hiện tại. Thống kê xuất khẩu gạo cả nước năm 2016 chỉ đạt hơn 4,8 triệu tấn và 2,2 tỷ USD, giảm 25,8% về khối lượng và giảm 21,2% về giá trị so với năm 2015.

    Xuất khẩu gạo cần chọn phân khúc sản phẩm chất lượng để lách “khe cửa hẹp”. Ảnh: Cao Phong

    Theo ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch VFA, chính sách và năng lực tự túc lương thực cùng với xu hướng bảo hộ ngày càng tăng của các quốc gia vốn là bạn hàng nhập khẩu gạo truyền thống của Việt Nam như Trung Quốc, Philippines, Indonesia… buộc chúng ta phải điều chỉnh chính sách. Các khuyến nghị được đưa ra là giảm lượng gạo xuất khẩu, trồng nhiều hơn lúa chất lượng cao, chuyển đổi diện tích lúa sang cây trồng, vật nuôi khác…

    Nhưng thực ra, việc này đã được đề cập từ nhiều năm trước. Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 23-12-2009 về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia đã xác định mục tiêu đến năm 2020, chúng ta chỉ sản xuất khoảng 41-43 triệu tấn lúa, đáp ứng tổng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu chỉ khoảng 4 triệu tấn gạo/năm. Nhưng ngay sau đó, xuất khẩu gạo vẫn liên tục tăng, lượng gạo xuất khẩu năm 2012 đã vượt ngưỡng 8 triệu tấn và từ đó đến nay, hàng năm nước ta xuất khẩu gạo khoảng 6-7 triệu tấn. Cần lý giải nguyên nhân của thực trạng này để chuyển đổi căn bản, toàn diện, thực chất ngành hàng lúa gạo hơn là tiếp tục đưa ra chỉ tiêu số lượng. Cần sự tiếp cận và giải quyết tổng thể, đa ngành, gắn với tái cơ cấu nông nghiệp. Cần phải định hướng điều chỉnh theo xu hướng giảm hợp lý lượng gạo xuất khẩu, tăng giá trị. Nhưng vấn đề không phải là định ra chỉ tiêu xuất khẩu bao nhiêu tấn gạo mỗi năm!

    Theo các chuyên gia, xuất khẩu gạo tập trung đầu mối và tập trung thị trường rất cao, vừa thể hiện mặt tích cực, nhưng cũng bộc lộ những khiếm khuyết. Điểm yếu cốt lõi là, hầu hết doanh nghiệp xuất khẩu gạo chưa liên kết, hợp tác chặt chẽ với nhau, chủ yếu tự mình tìm kiếm khách hàng. VFA chưa thể hiện chuỗi vai trò trong việc thúc đẩy chuối liên kết. Nhìn chung, các nhà xuất khẩu gạo lớn của Việt Nam vẫn chưa có sự liên minh, liên kết chặt chẽ với nhau và với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở các nước khác để đạt được thế mặc cả cao hơn trên thị trường.

    Chú trọng đầu ra sản phẩm

    Trong những ngày đầu năm 2017, tín hiệu tích cực mở ra cơ hội cho xuất khẩu gạo Việt Nam là việc Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh đã ký quyết định bãi bỏ Quy hoạch Thương nhân Kinh doanh và xuất khẩu gạo – quy định đang bị phàn nàn là gây khó doanh nghiệp. Theo đó, bỏ quy định khống chế số lượng tối đa 150 đầu mối xuất khẩu gạo; bỏ quy định khống chế địa bàn đầu tư xây dựng kho chứa, cơ sở xay, xát thóc gạo để đáp ứng điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo tại 20 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; bỏ quy định tiêu chí thành tích xuất khẩu gạo.

    “Nhu cầu gạo thơm, chất lượng cao rất đa dạng và nhiều thị trường có nhu cầu. Số lượng phân khúc gạo phẩm cấp cao thường số lượng không lớn. Có đối tác chỉ cần vài ngàn tấn. Bãi bỏ quy định tối thiểu xuất khẩu gạo 10.000 tấn/năm là động thái tích cực khi hạt gạo phải cạnh tranh khốc liệt hơn, giải tỏa được nghịch lý giá gạo tiêu dùng trong nước thì cao còn giá gạo xuất khẩu lại thấp do không cạnh tranh được với đối tác”, một doanh nghiệp ở ĐBSCL cho biết.

    Các chuyên gia am hiểu về lúa gạo cho rằng, đã đến lúc cơ cấu lại ngành sản xuất lúa gạo cho phù hợp với nhu cầu của thế giới. Trước tiên, vựa lúa ĐBSCL cần thay đổi cơ cấu sản xuất, không nên quá tập trung sản xuất 3 vụ lúa/ năm, thậm chí có vùng 7 vụ/2 năm.

    Theo TS Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, tái cơ cấu phải chú trọng đến đầu ra sản phẩm. Đặc biệt là đối với sản phẩm sản xuất trên nền tảng bền vững về môi trường và xã hội, bởi thực tế có nhiều dự án hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bền vững nhưng gặp khó về đầu ra như mô hình sản xuất lúa theo tiêu chuẩn Global Gap (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt toàn cầu) của nông dân hợp tác xã Mỹ Thành Nam (Tiền Giang).

    Theo GS-TS Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu lúa ĐBSCL, để tránh tình trạng được mùa, mất giá, ĐBSCL cần giảm diện tích lúa ở vùng ven biển do tác động của biến đổi khí hậu. Ngành lúa gạo cần được đầu tư đúng mức theo hướng chuyên nghiệp hóa: Cung – cầu cân đối theo từng phân khúc gạo (gạo thơm, gạo đặc sản, gạo có phẩm cấp trung bình) gắn với thị trường tiêu thụ cụ thể, tìm đầu ra cho lúa gạo Việt Nam.

    Lúa thu hoạch sớm trúng giá

    Đầu tháng 3-2017, nông dân ĐBSCL bước vào cao điểm thu hoạch lúa đông – xuân. Bán lúa được giá, nhiều nông dân khá hài lòng. Hiện giá lúa dao động từ 4.900 – 5.300 đồng/kg (tùy theo lúa ướt hay lúa khô), bình quân tăng 300 – 400 đồng/kg so với trước Tết Nguyên đán. Trong khi đó, theo công bố mới đây, giá thành sản xuất lúa đông – xuân dao động ở ngưỡng 3.700 – 3.800 đồng/kg. Với mức giá thành này, giá lúa trên 5.000 đồng/kg, nông dân sẽ có mức lời khoảng 30%.

    Vụ đông xuân năm nay, ĐBSCL xuống giống trên 1,5 triệu ha, ước tính sản lượng lúa đạt 11 triệu tấn. Đây là sản lượng lớn so với những năm trước đây.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s