Ngày nhớ trong tim tôi

KimCIMMYT10

NGÀY NHỚ TRONG TIM TÔI
Hoàng Kim

Bài ca yêu thương là thơ hoa hồng.
Đỏ của máu và xanh hi vọng.
Ngày ghi nhớ trong trái tim tôi
Ngày mới nhớ về mạch sống

29 tháng 8 âm lịch là ngày nhớ trong tim tôi. Ngày này cha tôi mất năm 1968 và thầy Hiệu trưởng Trần Đình Côn đã viết Bài ca Trường Quảng Trạch với những câu thơ đẫm nước mắt “Thương em cảnh gieo neo mẹ mất, lại cha già giặc giết hôm qua”. Hai mươi năm sau, ngày này năm 1988, tại phòng riêng của tôi ở CIMMYT Mexico, tôi bất ngờ được thầy Norman Borlaug, người đoạt giải Nobel hòa bình, cha đẻ cách mạng xanh, nhà bác học hàng đầu của nông nghiệp hiện đại tới thăm. Thầy đã dành trọn buổi chiều để trò chuyện và khai mở tâm thức cho tôi. Lời Thầy dặn thung dung thật thấm thía: “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”. “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời”.

29-8-am-lich

29 tháng 8 âm lịch năm 2016 trùng ngày 29 tháng 9 kỷ niệm 50 năm thành lập CIMMYT tôi nhớ đến cha tôi, người thầy và cũng là anh hai Hoàng Ngọc Dộ tần tảo thay cha mẹ nuôi em năm năm ngày một bữa, thầy Nguyễn Khoa Tịnh khóc trên bục giảng cùng thầy bạn nhường cơm xẻ áo cho tôi, thầy Mai Văn Quyền mà tôi viết trên trang cảm ơn của luận án tiến sĩ để nói lên tình cảm của tôi đối với thầy cô: “Ơn Thầy. Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày. Trán tư lự, cha thường suy nghĩ. Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất. Cái chết giằng cha ra khỏi tay con. Mắt cha lắng bao niềm ao ước. Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy. Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ. Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …”.Ngày này điều đáng nhớ?

KimCIMMYT2
KimCIMMYT4
KimCIMMYT9
KimCIMMYT7
KimCIMMYT8
KimCIMMYT5
KimCIMMYT
KimCIMMYT1

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, Tình yêu Cuộc sống, CNM365; Kim on LinkedIn Kim on Facebook Kim on Twitter

Gạo Việt và thương hiệu

gaovietchatluongvathuonghieu

GẠO VIỆT VÀ THƯƠNG HIỆU
Hoàng Kim


Gạo Việt đang có những tín hiệu vui trong tầm nhìn, định hướng và quyết định đầu tư của Chính phủ Việt Nam.7000 tỷ tìm lại ‘thời vang bóng’ của gạo Việt với trên 5.000 tỷ đồng đầu tư trực tiếp cho các dự án hoàn chỉnh đồng ruộng, củng cố giao thông và thủy lợi nội đồng, hệ thống điện phục vụ sản xuất ở các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và duyên hải Nam Trung Bộ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vừa thông qua đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Mục tiêu đề án lúa gạo Việt đến năm 2030 nhằm đạt 50% lượng gạo xuất khẩu có thương hiệu Việt, với 30% là gạo đặc sản, gạo thơm. Bộ cũng đã thông qua lộ trình thực hiện và danh mục các dự án cần ưu tiên trong năm năm (2017 – 2022) với tổng kinh phí dự kiến đầu tư trên 7.000 tỷ đồng.

Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 trong Ngày Nông dân Việt Nam hi vọng sẽ kết nối sức mạnh Việt với một loạt các giải pháp thực tiễn khơi dậy sức dân, động lực cách mạng của đông đảo người dân nông thôn, khai mở được tiềm lực chưa được đầu tư đúng mức và sức mạnh vốn có của nông nghiêp nông dân nông thôn. 7000 tỷ tìm lại ‘thời vang bóng’ của gạo Việt.

Giáo sư Võ Tòng Xuân nói những lời thật tâm đắc: “Ngành lúa gạo hiện được chia ra các giai đoạn phát triển như: giai đoạn thiếu ăn, giai đoạn đủ ăn và dư thừa, giai đoạn tìm hiểu công nghệ sản xuất mới, giai đoạn sản xuất công nghệ xanh. Các nước đang ở giai đoạn sản xuất theo phương thức công nghệ xanh, còn Việt Nam sau bao nhiêu năm vẫn chỉ ở giai đoạn sản xuất dư thừa, loay hoay không phát triển lên, vẫn chỉ chú trọng về lượng chứ không về chất nên rất khó cạnh tranh“. TS Hoàng Kim nói thêm: “Chúng ta rất cần thấu hiểu vòng tròn nhân quả: ‘hột lúa – cây lúa – hạt gạo – bát cơm’, nắm vững hai khâu then chốt ‘hoa lúa – bùn ngấu’ của chuỗi thức ăn quan trọng nhất đời người, học và hành kỹ từng khâu và khâu nào cũng phải chắc tay. Đường sống là con đường xanh hòa bình, con đường văn minh nhân loại. Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân, động lực cách mạng của đông đảo người nông dân. Chừng nào người dân nông thôn chưa thay đổi được số phận của mình thì chừng đó bài toán kinh tế chưa khai mở được tiềm lực nông nghiêp nông dân nông thôn.”

dongxuanlua-sieuxanh
Tuyển chọn và xác định những giống lúa siêu xanh chủ lực, thích ứng biến đổi khí hậu, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh lúa, xây dựng cánh đồng mẫu lúa siêu xanh năng suất chất lượng cao, ngắn ngày, ít sâu bệnh, tạo thương hiệu lúa gạo hàng hóa là giải pháp khoa học công nghệ nghề lúa Báo Phú Yên: Triển vọng 2 giống siêu lúa xanh.

LuaSieuXanhVietNam1“Phương thức công nghệ xanh” theo xu thế mới Quốc tế, Việt Nam đã và đang làm. Ngành lúa gạo tiếp tục phát huy những lợi thế chiến lược mà Việt Nam đã có. Các Viện Trường, Công ty lúa gạo Việt Nam hiện đã có nhiều thành quả. Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh Lúa Sắn Việt Nam đến châu Phi  là có triển vọng. “Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân”

gaovietchatluongvathuonghieu3

Gạo Việt tái cơ cấu để tăng xuất khẩu. (ảnh Bạch Dương báo VN Economy).

7.000 tỷ tìm lại “thời vang bóng” gạo Việt.

Những vấn đề thực tiển cấp bách của ngành lúa gạo Việt, các giải pháp then chốt  gạo Việt tái cơ cấu để tăng xuất khẩu nhằm tăng hiệu quả ngành lúa gạo, nâng cao sinh kế và thu nhập đời sống cho đông đảo người nông dân Việt.

Nhóm giải pháo chính theo đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 gồm: Đầu tư cơ sở hạ tầng vùng lúa hàng hóa và khoa học công nghệ nghề lúa, hoàn chỉnh đồng ruộng, củng cố giao thông và thủy lợi nội đồng, hệ thống điện, đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng,phục vụ sản xuất ở các vùng chuyên canh lúa; Tái cơ cấu và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước; Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân mở rộng kinh doanh, đầu tư vào ngành lúa gạo bằng các dự án hợp tác công tư (PPP), ưu đãi thuế, vốn vay…; Đặc biệt ưu tiên các doanh nghiệp có vùng nguyên liệu, doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu khoa học và khuyến nông, doanh nghiệp kinh doanh vật tư đầu vào có liên kết với nông dân; Thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào việc xây dựng vùng nguyên liệu, hình thành liên kết và lâu dài giữa các tổ chức liên kết sản xuất của nông dân, hợp tác xã với các doanh nghiệp nòng cốt và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tham gia xuất khẩu. Và các giải pháp thực tiễn cụ thể thiết thực khác.

Mời xem thêm những tài liệu chi tiết chọn lọc dưới đây với các đường link kèm theo thuộc chuyên mục GẠO VIỆT VÀ THƯƠNG HIỆU. Xin lắng nghe trao đổi của các chuyên gia cùng với bạn đọc Kim on Facebook.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn:

BẢY NGHÌN TỶ TÌM LẠI THỜI VANG BÓNG GẠO VIỆT

Bạch Dương, báo VN Economy, 16:28 – Thứ Sáu, 14/10/2016.
Nguồn: 7.000 tỷ tìm lại “thời vang bóng” gạo Việt.

Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo dự kiến sẽ chi hơn 7.000 tỷ đồng trong 5 năm tới… Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa thông qua đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Gần đây đã xảy ra không ít các thông tin bê bối về việc xuất khẩu gạo Việt qua các nước. Giới chuyên gia cảnh báo nếu Việt Nam không thay đổi sẽ phải nhường sân nhà cho gạo ngoại và mất uy tín với các mối hàng quốc tế. Từ một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, gạo Việt đang tụt dần phong độ..

Cổ phần hoá, khuyến khích tư nhân

Theo đề án tái cơ cấu, ngành lúa gạo tiếp tục phát huy những lợi thế chiến lược mà Việt Nam có.  Bên cạnh việc đáp ứng thị trường trong nước, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lúa gạo theo hướng tăng giá trị và phát triển vững bền…

Đề án có đề cập đến việc tái cơ cấu và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, trọng tâm là Tổng công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2) và Tổng công ty Lương thực Miền Bắc (Vinafood 1).

Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân mở rộng kinh doanh, đầu tư vào ngành lúa gạo bằng các dự án hợp tác công tư (PPP), ưu đãi thuế, vốn vay…; đặc biệt ưu tiên các doanh nghiệp có vùng nguyên liệu, doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu khoa học và khuyến nông, doanh nghiệp kinh doanh vật tư đầu vào có liên kết với nông dân.

Thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào việc xây dựng vùng nguyên liệu, hình thành liên kết và lâu dài giữa các tổ chức liên kết sản xuất của nông dân, hợp tác xã với các doanh nghiệp nòng cốt và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tham gia xuất khẩu.

Thu hút đầu tư, liên doanh liên kết lâu dài với doanh nghiệp từ các quốc gia khác có tiềm lực về vốn, công nghệ, thiết bị và kinh nghiệm kinh doanh để phát triển và hiện đại hóa ngành lúa gạo nước ta.

Hỗ trợ doanh nghiệp lớn, có liên kết sản xuất với nông dân tại các vùng nguyên liệu chuyên canh chính, xác định thị trường mục tiêu, thu hút khách hàng lớn, xây dựng thương hiệu, kết nối trực tiếp với hệ thống bán lẻ.

Hạn chế tối đa các biện pháp quản lý xuất khẩu làm méo mó, gián đoạn thị trường như tạm dừng xuất khẩu, hạn ngạch xuất khẩu, trợ giá…

Tập trung phát triển sản xuất các nhóm sản phẩm theo phân khúc thị trường trong nước như gạo đặc sản, gạo chất lượng trung bình, gạo phục vụ cho chế biến.

Về thị trường xuất khẩu, đề án xác định tăng tỷ trọng loại gạo trắng, hạt dài, gạo chất lượng cao (5-10% tấm), giảm tỷ trọng loại gạo trên 15% tấm. Đồng thời, tăng tỷ trọng các loại gạo thơm, gạo đồ, gạo Japonica, đa dạng các sản phẩm chế biến từ gạo.

Xây dựng các chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp ngành gạo phát triển thị trường mới nhằm khai thác hiệu quả của các cam kết hội nhập. Hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm, ký kết hợp đồng xuất khẩu trực tiếp tới các hệ thống phân phối nước ngoài.

Tiếp cận hệ thống bán lẻ tại các thị trường nhập khẩu gạo chất lượng cao. Xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam và phát triển hệ thống phân phối tại các thị trường nhập khẩu. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại gạo đồ sang các thị trường châu Phi, Bắc Mỹ, châu Âu.

Đẩy mạnh hoạt động marketing cho sản phẩm gạo Việt Nam có thương hiệu trên cả thị trường nội địa và quốc tế. Xây dựng kho ngoại quan tại các thị trường chủ lực phù hợp với các cam kết hội nhập nhằm phát triển kênh phân phối cho gạo Việt Nam tại các thị trường nhập khẩu.

5 năm, 7.000 tỷ

Đến năm 2030, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt mục tiêu 50% lượng gạo xuất khẩu sẽ có thương hiệu Việt, trong đó 30% là gạo đặc sản, gạo thơm.

Để đạt được các mục tiêu trên, Bộ đã đưa ra lộ trình thực hiện và danh mục các dự án cần ưu tiên thực hiện từ năm 2017 – 2022. Tổng kinh phí vượt hơn 7.000 tỷ đồng.

Trong đó, chiếm 5.000 tỷ đồng là dự án hoàn chỉnh đồng ruộng, củng cố giao thông và thủy lợi nội đồng, hệ thống điện phục vụ sản xuất ở các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và duyên hải Nam Trung Bộ.

Ngoài ra, là hàng loạt các dự án về chọn giống lúa, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và các chủng loại gạo phục vụ xuất khẩu… được lên kế hoạch.

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng đầu năm 2016, khối lượng xuất khẩu gạo ước đạt 3,76 triệu tấn, thu về 1,69 tỷ USD. So với cùng kỳ, gạo xấu khẩu năm nay đã giảm 16,4% về khối lượng và giảm 12,5% về giá trị.

TRIỂN VỌNG 2 GIỐNG “SIÊU LÚA XANH”
Mạnh Hoài Nam, báo Phú Yên, Thứ Tư, 14/09/2016 14:00 CH
Nguồn : http://baophuyen.com.vn/82/162257/trien-vong-2-giong–sieu-lua-xanh.html

Vụ hè thu 2016, Sở NN-PTNT khảo nghiệm 4 giống lúa GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245. Đây là bộ giống “siêu lúa xanh” (Green Super Rice-GSR) được du nhập từ Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), trồng tại huyện Tây Hòa và PhúHòa. Cuối vụ năng suất lúa đạt từ 75-80 tạ/ha, chất lượng gạo tôt.

Năng suất cao

Vụ hè thu năm nay, trên cánh đồng Cây Trảy, Hòn Đình Dưới thuộc xã Hòa Mỹ Tây (huyện Tây Hòa) gieo sạ 4 giống “siêu lúa xanh” là GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam ưu 1245, trên diện tích 15ha. Trong quá trình sinh trưởng, lúa phát triển tốt, giai đoạn chắc xanh lúa phơi gié dài cả gang tay người lớn. Bà Phùng Thị Yên, thành viên tổ sản xuất giống của HTX Nông nghiệp Kinh doanh dịch vụ Hòa Mỹ Tây, cho hay: Cả cánh đồng Hòa Mỹ Tây rộng gần 100ha, nhưng khó có đám nào có năng suất cao bằng đám được trồng bởi giống GSR 65. Lúa chín sát cậy (gốc gié lúa), hạt sáng bóng mẩy, năng suất đạt trên 85 tạ/ha. Còn ruộng kề bên, không gieo sạ giống “siêu lúa xanh” thì lúa lép trong cậy, năng suất không quá 60 tạ/ha.



Đám ruộng rộng 2 sào trồng giống lúa GSR 90 nằm cạnh đường nội đồng Cây Trảy, năng suất cũng gần 85 tạ/ha. Ông Cao Văn An, nông dân ở xã Hòa Mỹ Tây tham gia mô hình, trầm trồ: “Cánh đồng này thời gian qua được trồng nhiều giống lúa khác nhau, nhưng chưa có giống nào đạt năng suất cao như giống này. Lúa GSR 90 chỉ sạ 4kg/sào, đến thời kỳ mạ đẻ nhiều nhánh, khi trổ đóng hạt dày, phơi gié hạt sáng trưng”.Ông Nguyễn Trình, Trưởng Trạm Khuyến nông – Khuyến ngư huyện Tây Hòa, nhận định: Vụ hè thu năm nay, thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Sâu bệnh hại có chiều hướng gia tăng, gây hại mạnh nhất là bệnh khô vằn, thối thân thối bẹ, rầy nâu… Thế nhưng, với giống “siêu lúa xanh”, cây có sức sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu với sâu bệnh hại, hạn chế tối đa sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cho năng suất cao.

Các giống GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245 cũng được trồng khảo nghiệm tại Trại giống Nông nghiệp Hòa An (huyện Phú Hòa). Theo bà Phạm Thị Thỏa, Trưởng Trại giống Nông nghiệp Hòa An, trong thời gian trồng khảo nghiệm giống lúa thuộc bộ giống “siêu lúa xanh”, cuối vụ chúng tôi nhận thấy giống có năng suất cao nhất là giống GSR 65 đạt 96,3tạ/ha, cao hơn giống đối chứng ML48 là 27,4 tạ/ha (năng suất giống lúa ML48 chỉ đạt 68,8tạ/ha). Tiếp đến là các giống GSR 90, năng suất 88,57 tạ/ha; giống GSR 38 năng suất đạt 88,2 tạ/ha và Nam Ưu 1245 đạt năng suất 83,1 tạ/ha.

Tuyển chọn 2 giống “siêu lúa xanh”

Trước đó, từ năm 2015, Sở NN-PTNT tiến hành khảo nghiệm 10 giống lúa “siêu lúa xanh” gồm GSR 90, GSR 84, Nam Ưu 1245, GSR 38, GSR 54, GSR 89, Nam Ưu 1241, GSR 65, GSR 36, GSR 63. Trải qua 3 vụ trồng khảo nghiệm tại 2 điểm là Trại giống Nông nghiệp Hòa An và cánh đồng huyện Tây Hòa được theo dõi theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đến nay, sở tuyển chọn 2 giống ưu tú phù hợp là GSR 65 và GSR 90.

TS Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT, chủ nhiệm đề tài tuyển chọn giống lúa gạo năng suất cao, phẩm chất tốt từ nguồn gen lúa siêu xanh, cho hay: Giống GSR 65 và GSR 90 có các đặc tính sinh trưởng, phát triển khỏe, kháng sâu bệnh tốt, thời gian sinh trưởng ngắn ngày. Năng suất cao, đạt trung bình từ 75-80 tạ/ha, thâm canh có thể đạt trên 85-90 tạ/ha, gạo có chất lượng tốt.

Thời gian đến, Sở tiếp tục nghiên cứu quy trình canh tác phù hợp để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống lúa. Đồng thời phối hợp với các địa phương sớm chuyển giao nhân rộng 2 giống lúa mới GSR 65 và GSR 90 đưa vào sản xuất đại trà nhằm góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu.

Theo TS Hoàng Kim, giảng viên Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, người dày công nghiên cứu bộ giống “siêu lúa xanh”, một số giống của bộ giống lúa “siêu lúa xanh” hiện có phẩm chất gạo cao nhất trên thị trường thế giới. Vì vậy trong quá trình khảo nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu nông học, năng suất và phẩm chất hạt gạo đã tuyển chọn ra bộ giống lúa chủ lực tiến tới xây dựng cánh đồng lúa chất lượng cao.

Đây là một trong những giải pháp xây dựng cánh đồng mẫu lúa chất lượng, tạo xu hướng sản xuất lúa hàng hóa. Qua đó chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất mới cho nông dân mang lại nguồn thu nhập cao.


NHỮNG TIN GẠO VIỆT MỚI CẬP NHẬT

Kiến nghị ‘cởi trói’ cho hạt gạo
Cánh đồng lớn lúa Nhật   
Xây dựng tiêu chuẩn gạo thơm Việt Nam
Để vụ Đông trở thành vụ sản xuất chính
Hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp
Đối phó với biến đổi khí hậu

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM
Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc TrăngPhạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanhNguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh
Con đường xanh của chúng ta Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG
Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI
Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

Những bài đã đăng trên báo Thế giới Tiếp thị:

Thương hiệu nông sản cần cả nhạc trưởng lẫn dàn nhạc đồng đều
Kết luận thanh tra việc đầu tư 3 dự án nhiên liệu sinh học thua lỗ lớnGIỐNG LÚA RVT
hay chuyện ‘ỷ mạnh đạp lên lưng người khác’
Chông gai ‘gạo ngon’ từ thời Lương Định Của
Giống lúa chịu mặn mới và nhà khoa học’đẻ mướn’Thương hiệu quốc gia mất giá và ‘bữa ăn dỡ nhất’ của Vietnam Airlines
Năm 2016 Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu gạo sang Trung Quốc
Thái Lan quyết tâm tìm chiến lược mới về lúa gạo
Hãy gạt tự ái dân tộc đi và học người Campuchia làm gạo
Giáo sư Võ Tòng Xuân: ‘Mỹ cần gạo, Việt Nam không có gạo bán’
Giáo sư Võ Tòng Xuân lý giải vì sao người Việt lại chọn gạo Campuchia

Trở về đầu trang
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Con đường lúa gạo Việt Nam

Trao đổi ở cuối bài hoặc trên Kim on Facebook

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
Vietnamese Dan Bau Music
Vietnamese food paradise
Vietnam traditional music
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Mười lăm trăng quả thật tròn

muoilamtrangquathattron

CON ĐƯỜNG NGẮN NHẤT ĐẾN VỚI NGƯỜI
“trực chỉ nhân tâm”, thiền sư Bồ Đề Đạt Ma

(Ghi chép của Hoàng Kim)

“Mười lăm trăng quả thật tròn / Anh hùng thời vận hãy còn gian nan / Đêm trăng nhát cuốc xới vàng / Trăng dòm, ta hẹn trăng càng dòm thêm / Đất vàng, vàng ánh trăng đêm / Đêm khuya ta với nàng quên nhọc nhằn” (Cuốc đất đêm, thơ Hoàng Ngọc Dộ);   “Trăng sáng lung linh trăng sáng quá / Đất trời lồng lộng một màu trăng / Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm / Trăng vẫn là trăng trăng vẫn rằm” (Rằm Xuân, thơ Hoàng Kim).

NÓI VỚI BẠN HIỀN. Con đường ngắn nhất đến với Người “trực chỉ nhân tâm” được phát hiện, lĩnh ngộ và trao đổi sớm nhất có lẽ là thiền sư Bồ Đề Đạt Ma, dịch nghĩa là Đạo pháp, ~470-543. Ông ấy được coi là người truyền bá và sáng lập ra Thiền học và Võ thuật tới Trung Quốc. Sách Ebook: Bồ đề đạt ma – Thiền sư vĩ đại nhất, tác giả Osho cũng tâm đắc với khẩu quyết “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”.

Hồ Chí Minh chọn một lối đi riêng đến độc lập cho con đường cách mạng Việt Nam “Chúng ta thích đón đưa. Bác Hồ không thích. Đến thăm chúng ta Bác Hồ thường “đột kích”. Chữ “đột kích’ vui này Người nói lại cùng ta Và con đường quen thuộc Bác chẳng đi đâu Đường quen thuộc thường xa Bác hiện đến bằng lối tự tìm ra: Ngắn nhất Bác không muốn giẫm lên mọi đường mòn có sẵn Khi đích đã nhắm rồi Người luôn luôn tạo cho mình Một lối đi riêng. (Nhà thơ Hải Như: Thơ viết về Người, trang 32).

Chuyện Bảy Nhị, kênh ông Kiệt và tôi của Hoàng Kim về ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang, đã viết” Tôi có một kỷ niệm quí rất khó quên. Ông Bảy Nhị ba lần lặn lội lên Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tìm tôi là giám đốc Trung tâm để hỏi cách đưa cây gì vào khai hoang phục hóa hiệu quả cho vùng đất hoang hóa Tri Tôn, Tịnh Biên. Ông đồng tình với tôi việc ứng dụng canh tác giống lúa thơm Khao Dawk Mali 105 (KDM 105) nhưng trồng cây gì luân canh lúa hiệu quả trong các tháng mùa khô thì đó vẫn là bài toán khó? Mờ sớm một ngày đầu tháng mười một. Trời se lạnh. Nhà tôi có chim về làm tổ. Buổi khuya, tôi mơ hồ nghe chim khách líu ríu lạ trên cây me góc vườn nên thức dậy. Tôi bước ra sân thì thấy một chiếc xe ô tô đậu và cậu lái xe đang ngủ nướng. Khi tôi ra, cậu lái xe thức dậy nói: “Chú Bảy Nhị, chủ tịch tỉnh An Giang lên thăm anh nhờ tuyển chọn giống mì ngắn ngày để giúp An Giang né lũ. Đợt trước chú đã đi cùng chú Tùng (là ông Lê Minh Tùng sau này làm Phó Chủ Tịch Tỉnh, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang) lên làm việc với anh rồi. Nay mì đã được năm tháng tuổi, chú muốn lên coi kỹ ở trên ruộng xem củ to bằng ngần nào. Chú Bảy giờ hành chính bận họp nên thăm sớm. Đến nhà anh, thấy sớm quá chú ngại nên ra thẳng ngoài đồng rồi, nhờ tui đón anh ra sau”. Tôi giật mình nghĩ: “Cái ông này không thể xạo được. Mình nói là có giống mì bảy tháng. Năm tháng ông lên kiểm tra đồng ruộng nhổ thử, thiệt chu đáo. Ông thật biết cách kiểm tra sâu sát”. Chợt dưng tôi nhớ đến MỘT LỐI ĐI RIÊNG của Bác Hồ trong thơ Hải Như:… Sau này hiếm có đồng chí lãnh đạo nào học được cách làm như Bác. Họ đi đâu đều thường xếp lịch hành chính và đưa đón đàng hoàng, chẳng cần một lối đi riêng. Tôi thầm chợt cảm phục ông Bảy”.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều trong bài viết “Làm Thủ tướng hay là lái taxi?” có chi tiết thú vi mà tôi đã kể với bạn trong bài ‘Soi mình trong lòng người hơn là soi mặt mình trong gương‘: “Năm 2004, tôi được Sứ quan Na-uy mời sang thăm Na-uy. Trong chuyến đi đó, tôi được tiếp kiến Vua và Hoàng hậu Na-uy trong hoàng cung. Tôi có tặng Vua và Hoàng hậu một tác phẩm văn xuôi của tôi được dịch và xuất bản ở Na-uy năm 2003. Tác phẩm viết về những đứa trẻ lớn lên trong một khu vườn mà vào các buổi chiều chúng nghe thấy tiếng đập cánh của chim Thần. Nhưng rồi chiến tranh ập đến. Những đứa trẻ lớn lên và đi vào mặt trận như những người lính vệ quốc. Sau chiến tranh những chàng trai, cô gái còn sống trở lại khu vườn xưa. Họ đến đó để tin rằng những con chim Thần trên xứ sở của họ sẽ trở về và đập cánh. Tôi nói với Vua và Hoàng hậu rằng tuy chỉ là một câu chuyện nhỏ bé từ một làng quê nhỏ bé nhưng đã nói lên khát vọng lớn lao của con người và văn hóa của xứ sở đó. Vua và Hoàng hậu hứa sẽ đọc tác phẩm đó của tôi. Sau này, tôi vô cùng xúc động khi nghe tin Vua và Hoàng hậu có đọc tác phẩm đó của tôi. Trong buối tiếp kiến đó, tôi có thưa với Vua và Hoàng hậu Na-uy rằng tôi được biết câu chuyện về mối tình đầy sóng gió của họ. Trước khi trở thành Hoàng hậu Na-uy, bà chỉ là con gái của một gia đình bình thường trong xã hội. Chính thế mà Hoàng gia đã không ủng hộ mối tình của Vua khi còn là Thái tử với bà. Nhưng họ đã yêu nhau mãnh liệt và bằng mọi giá đi đến hôn nhân. Sau khi kể cho Vua và Hoàng hậu Na-uy nghe câu chuyện tình yêu của họ mà tôi được biết, tôi nói với Vua và Hoàng hậu Na-uy rằng : “ Thưa đức Vua và Hoàng hậu, bây giờ tôi càng tin rằng : Quyền lực của ái tình còn mạnh hơn quyền lực của ngai vàng”. Vua và Hoàng hậu Na-uy cười rất vui và hoàn toàn đồng ý với nhận xét của tôi. Tôi hỏi Hoàng hậu có hay tự nấu nướng trong những ngày nghỉ cuối tuần không. Hoàng hậu cười , nhìn sang Đức Vua và nói: Đức Vua mới là người nấu. Thế là tôi bày tỏ nguyện vọng muốn được ăn một món ăn do chính Đức Vua Na-uy nấu. Đức Vua mỉn cười đồng ý và hẹn tôi vào một dịp nào đó. Tất nhiên, tôi biết tôi chẳng bao giờ có cơ hội ấy. Nhưng tôi đã được thưởng thức một món ăn đặc biệt của Đức Vua và Hoàng hậu Na-uy. Đó là món ăn tinh thần từ cuộc nói chuyện vô cùng cởi mở và dân giã giữa những người đại diện cao quý nhất của đất nước Na-uy. Tôi kể câu chuyện này để nói một điều gì đó về đức làm Vua hay làm Thủ tướng của một đất nước. Lúc đó Na-uy đang là một trong năm quốc gia Châu Âu có mức thu nhập đầu người cao nhất châu lục ấy. Tôi cũng nhớ đến câu chuyện của ông Mai Thế Nguyên, Việt kiều sống ở Na-uy. Ông kể rằng trong những năm tháng chiến tranh, ông đã từng kiệu trên vai một cậu bé Na-uy xuống đường tham gia các cuộc biếu tình chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Và cậu bé ngồi trên vai ông sau này đã trở thành một trong những Thủ tướng của Na-uy. Hàng ngày, Ngài Thủ tướng đó vẫn đạp xe đạp từ nhà đến nơi làm việc. Có lần gặp nhau, Thủ tưởng Na-uy và ông dừng xe bên hè đường và trò chuyện với nhau như hai anh công chức ở Hà Nội cách đây mấy chục năm. Làm quan của họ là như vậy và làm dân của họ là như vậy. Na-uy là một đất nước thanh bình và phát triển. Tôi đã có những ngày lang thang trên đất nước này và tìm hiểu câu chuyện về đất nước họ. Họ đã xây dựng được một đất nước mà nhiều người mơ đến bởi họ có những Đức Vua như thế, những Thủ tướng như thế và cả những thần dân như thế. ( Ảnh dưới : Đức Vua, Hoàng Hậu Na-uy và tôi. Ảnh chụp tại Hoàng Cung Na-uy năm 2004 )”

Hôm nay là mười bốn. Đêm mai là Trăng rằm.

Mười lăm trăng quả thật tròn !

Hoàng Kim

xem thêm
Đường sáng ta đi
Ngày xuân đọc Trạng Trình
Cậu Cương ngọc trai bé của ông tôi
Hoàng Gia Cương theo dòng thời gian
Nếp nhà và nét đẹp văn hóa 
Nối nhịp cầu văn hóa Việt

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Nhớ Ông Bà Cậu Mợ

Cậu tôi thơ Hoàng Kim

TỰ VỊNH VƯỢT BÁT TUẦN
Minh Sơn Hoàng Bá Chuân

Bát tuần đã trãi việc đời nhiều
Chân chính bao nhiêu phúc bấy nhiêu
Nhân hậu thói nhà in một nếp
Trung kiên việc nước đủ trăm chiều
Lòng son phơi phới vầng trăng dọi
Tóc bạc phơ phơ ngọn gió phiêu
Hôm sớm sân Lai (*) thêm sắc mới
Sum vầy con cháu tiếng vui reo !

NHỚ CẬU
Hoàng Kim

Mai trắng tóc người cũng trắng trong
Đường trần lên thấu đỉnh cao phong
Hoàng chi Mạc tộc ngời tâm đức
Phố nối đường cong chẳng thẹn lòng

xem tiếp Nhớ Ông Bà Cậu Mợ;https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nho-ong-bà-cau-mo/ Thông tin tại http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong

BẢN TUYÊN BỐ VỀ LỊCH SỬ VƯƠNG TRIỀU MẠC

Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Lung thay lời Ban Liên lạc Mạc tộc tuyên bố: “Vào năm 2017 (1697 – 2017) này, tác phẩm lịch sử “Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên” con đẻ của chế độ quân chủ (cung vua – phủ chúa) Lê Trịnh tròn 300 tuổi. Lịch sử nhà Mạc ra đời từ những trang sử ấy, những trang viết này là sản phẩm tư tưởng, quan điểm chính trị do một thể chế quân chủ mới (bình mới rượu cũ) “thắng cuộc” biên chép về bên “thua cuộc” là nhà Mạc. Suốt 300 năm qua chưa từng xuất hiện một nghiên cứu nào phân tích kĩ lưỡng nội dung mang tính cảnh báo: Coi chừng sẽ xuất hiện “lịch sử nhận thức” nhằm vào lịch sử nhà Mạc từ phía giới chuyên môn. Trừ một bài viết ngắn của giáo sư sử học Hà Văn Tấn có nhắc tới tính thực dụng soạn sử của Phạm Công Trứ. Xin hãy trả lại sự thật lịch sử chân chính của nhà Mạc đó là đòi hỏi từ thực tiễn, lẽ công bằng tự nhiên và là mệnh lệnh của cuộc sống, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập toàn diện của đất nước chúng ta.

Tác giả Nguyễn Xuân Lung thay lời Ban Liên lạc Mạc tộc kiến nghị:

“1) Viết lại lịch sử nhà Mạc: Bằng việc tổ chức một hội đồng các nhà sử học có “tâm” có “tài” khai thác hết các tài liệu sử học có thể có trong nước, nước ngoài để định hướng cách viết mới khách quan và trung thực về lịch sử nhà Mạc.

2) Xin chấm dứt sử dụng những giáo trình giảng dạy tại các trường đại học trong nước như cách viết của các ông Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh, Nguyễn Phan Khoa hay nội dung giảng dạy của một số tác giả nữ: Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Thị Bích, Nguyễn Thị Thế Bình. Trong sách “Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập lịch sử lớp 10”, trong các cấp học phổ thông.

3) Xin chấm dứt những trang viết không đủ độ “chín” như bài viết của PGS – TS. Trần Thị Băng Thanh trên công luận về nhà Mạc.

4) Xin dừng phổ cập các bài viết thể hiện sự xuống cấp về mặt đạo đức, tư cách con người như trường hợp: Hoàng Thiếu Phủ vv.

5) Xin chấm dứt những bài báo giấy, báo điện tử khai thác những tư liệu dập khuôn sử cũ để viết về lịch sử nhà Mạc, vẽ tranh châm biếm, dựng truyện, dựng tuồng, chèo, khai thác những tình tiết phản cảm về vị vua thứ 5 nhà Mạc: Mạc Mậu Hợp”.

Bản tuyên bố là có căn cứ khoa học với sự kiện lịch sử trung thực, Kiến nghị sự công tâm khách quan giải mã”.

Chi tiết thông tin mời xem tại http://hoangkimlong.blogspot.com/2017/03/nha-mac-oc-lai-va-suy-ngam.html

MẠC TRIỀU TRONG SỬ VIỆT
Hoàng Kim

Ngày 12 tháng 7 năm 1527, Lê Cung Hoàng ra chiếu nhường ngôi hoàng đế cho Mạc Đăng Dung, kết thúc triều Lê sơ và mở đầu triều Mạc trong lịch sử Việt Nam. Mạc Triều mở đầu từ đó trãi ba thời kỳ, tổng cộng là 156 năm, trong đó ở Thăng Long 1527-1592 và ở Cao Bằng 1593 -1683. Mạc triều thay thế triều Lê sơ là một tất yếu lịch sử và đã để lại những dấu ấn nổi bật về tiến bộ xã hội.

Hình thế đất Việt khoảng năm 1590: Lãnh thổ nằm trong tầm kiểm soát của nhà Mạc xanh lục và nhà Lê trung hưng xanh lam. Mạc Triều ngoài các vị vua danh tiếng như Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh còn có những danh thần tài đức lỗi lạc như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn,… Mạc triều là một vương triều chính thống trong sử Việt nhưng lâu nay việc đánh giá còn thiên lệch, thiếu khách quan do nhận thức, ý thức hệ và sự thừa kế sử liệu chưa công bằng. Bài này đúc kết các thông tin nghiên cứu và trao đổi về Mạc triều trong sử Việt, nhằm góp phần phục thủy sự thật lịch sử để hậu thế đánh giá công bằng hơn và rút ra những được những bài học thấm thía hơn đối với những nhân vật lịch sử. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu sấm truyền về dòng tộc Mạc “Tứ bách niên tiền chung phục thủy/Thập tam thế hậu dĩ nhi đồng.”

HOÀNG CHI MẠC TỘC VÀ CAO BẰNG

Tỉnh Cao Bằng có làng Đà Quận ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, từ thời Mạc đến nay hàng năm đều có Lễ hội chùa Đà Quận từ ngày 9 âm lịch đến rằm Nguyên tiêu tháng Giêng hàng năm để tảo mộ tổ tiên và dâng hương tưởng nhớ. Cao Bằng là đất sau cùng của nhà Mạc tiếp tục tồn tại hơn 100 năm sau khi nhà Mạc không còn triển vọng phục quốc mới nhập vào đất nhà Hậu Lê. Làng Đà Quận là làng dân Mạc theo hương linh Đà Quận Công Mạc Ngọc Liễn. Nhà Mạc tuân theo di nguyện của Mạc Ngọc Liễn danh tướng thái phó vua Mạc là không bao giờ vì dòng họ mình mà nồi da xáo thịt đưa ngoại viện vào giày xéo non sông. Mạc tộc lúc kế cùng lực kiệt đã đổi họ Mạc thành họ khác và lưu tán khắp mọi nơi trong cả nước, trong đó có Hoàng chi Mạc tộc Làng Minh Lệ và cho đến nay có Hoàng chi Mạc tộc đất phương Nam cũng là những người con xa xứ.

Những ngày đầu xuân nay (2018) sau 426 năm (tính từ năm 1592 Cao Bằng thất thủ vì sự công phá của nhà Lê Trịnh), chúng ta ghi nhớ di nguyện tổ tiên, ‘Lời dặn sau cùng của Mạc Ngọc Liễn’ tại quốc sử Việt đối chiếu qua các thời viết về Mạc triều trong sử Việt: “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”. Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử” có đoạn bình luận về lời trăng trối của ông: “Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn – nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc”.

Chùm ảnh trong bài: Linh Giang dòng sông quê hương nơi ven sông có mộ tổ tiên Hoàng chi Mạc tộc (ảnh Hoàng Kim); Thái Thượng Hoàng Mạc Đăng Dung tiếp sứ Minh (ảnh trong sách cổ nguồn Wikipedia); Nguồn Son tới Phong Nha (ảnh Hoàng Kim ban mai trên sông Son vào Phong Nha) Linh Giang dòng sông quê hương (ảnh Hoàng Kim ngã ba sông Son và Rào Nậy) ; Ban Mai trên sông Nhật Lệ ảnh Bu Lu Khin).

Nhà thơ Hoàng Gia Cương, hậu duệ dòng đích nhà Mạc giới thiêu khái quát về nguồn gốc Mạc tộc

TÌM VỀ NGUỒN CỘI

Hoàng Gia Cương

Tìm về Lũng Động, Cổ Trai (1)
Thắp hương bái lạy bao đời Tổ Tông
Biển gom nước vạn dòng sông
Thập tam thế hậu… nhi đồng” là đây! (2)

Qua bao giông bão, tháng ngày
Thay tên đổi họ chẳng thay đổi lòng
Vẫn là cha, vẫn là ông
Vẫn dòng máu ấy cuộn trong tim này!

Hoàng, Phan, Lều, Thạch … về đây
Trăm phương như nước như mây tụ nguồn
Gốc còn trên đất Hải Dương
Lá cành hoa trái đã vươn khắp miền.

Ta về tìm lại Tổ tiên
Tìm về nguồn cội khí thiêng sinh thành
Hương dâng là nghĩa là tình
Thoảng thơm như thể tinh anh giống dòng.

Cúi mình trước đấng Tổ Tông
Râm ran như được tiếp dòng máu thiêng !

1) Lũng Động thuộc huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương là quê của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi; Cổ Trai thuộc huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng là quê của Hoàng đế Mạc Đăng Dung.
2) Sau khi vương triều Mạc bị diệt, con cháu li tán phải đổi thành nhiều họ khác nhau. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu sấm truyền về dòng tộc Mạc “Tứ bách niên tiền chung phục thủy/Thập tam thế hậu dĩ nhi đồng

Ông Phạm Đức Hải với bài thơ “Phục thủy” tựa đề lấy từ ý của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, với các dẫn liệu lịch sử minh chứng vận Trời thế nước để hậu thế thấu hiểu Mạc triều và cắt nghĩa vì sao Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ứng xử như vậy.

PHỤC THỦY

Phạm Đức Hải

Ai đã nghe sấm trạng Trình
Xin mời đến đất Dương kinh thăm đền
cho dù khác họ ,chưa quen
“thập tam thế hậu…”anh em một nhà

cùng từ họ Mạc mà ra
ngày xưa Quốc sử ngợi ca hết lời:
“Ra đường không nhặt của rơi”
“cửa không cần đóng…”,”trộm thời bặt tăm…”

đắm chìm suốt bốn trăm năm
đao xưa thái tổ vẫn cầm còn đây
Phò ba vua ,dạ thẳng ngay
để rồi phải chịu tội này: cướp ngôi

chiếu nhường vị vẫn đấy thôi
sử gia đã chép : lòng người hướng theo…
xuất thân từ cảnh đói nghèo
quý từng tấc đất ,thương yêu đồng bào

trọng hiền tài, giỏi ngoại giao
suốt thời Nhà Mạc, giặc nào sang đâu
nhiều đời Trịnh ,Nguyễn đánh sau
chỉ vì tham lợi , quên câu “vận Trời”

mấy trăm năm, bấy nhiêu đời…
Gương trong “phục thủy” để rồi thêm trong
thắp hương khấn với tổ tông
cũng xin một nén vái ông: Trạng Trình (*)

Phạm Đức Hải ĐT :  0986668160Lỗi Sơn, Gia Phong, Gia Viễn, Ninh Bình

MẠC TRIỀU TRONG SỬ VIỆT đọc lại và suy ngẫm. xem toàn văn tại đây https://hoangkimlong.wordpress.com/…/mac-trieu-trong-su-vi…/

EM ƠI EM CAN ĐẢM BƯỚC CHÂN LÊN
Nguyễn Khoa Tịnh

Thầy ước mong em noi gương Quốc Tuấn

Đọc thơ em, tim tôi thắt lại
Lòng nghẹn ngào, nước mắt chảy rưng rưng
Nửa xót xa nhưng nửa lại vui mừng
Xót xa vì đời em còn thơ dại
Mới tuổi thơ mà cuộc đời đầy khổ ải
Mới biết cười đã phải sống mồ côi
Như chiếc thuyền giữa biển tự trôi
Như chiếc lá bay về nơi vô định
“Bụng đói” viết ra thơ em vịnh:

“Cơm ngày một bữa sắn trộn khoai
Có biết lòng ta bấy hỡi ai?
Vơi vơi lòng dạ, cồn cào bụng
Kể chi no đói, mặc ngày dài”

Phải!
Kể chi no đói mặc ngày dài
Rất tự hào là thơ em sung sức
Rất tự hào là em tôi đầy nghị lực
Đã hiển lộ mình qua “Cái chảo rang”

“Trung dũng ai bằng cái chảo rang
Lửa to mới biết sáp hay vàng
Xào nấu chiên kho đều vẹn cả
Chua cay mặn ngọt giữ an toàn
Ném tung chẳng vỡ như nồi đất
Quăng bừa xó bếp vẫn nằm ngang
Tốt đẹp đâu cần danh tiếng hão
Bạn cùng lửa đỏ, nóng chang chang”

Phải!
Lửa to mới biết sáp hay vàng!
Em hãy là vàng,
Mặc ai chọn sáp!
Tôi vui sướng cùng em
Yêu giấc “Ngủ đồng”
Hiên ngang khí phách:

“Sách truyền sướng nhất chức Quận công
Ta sướng khi ra ngủ giữa đồng
Lồng lộng trời hè muôn làn gió
Đêm thanh sao sang mát thu không
Nằm ngữa ung dung như khanh tướng
Lấy mấy vần thơ tỏ nỗi lòng
Tinh tú bao quanh hồn thời đại
Ngủ đồng khoan khoái ngắm gương trong”

Tôi biết chí em khi “Qua đèo Ngang
Ung dung xướng họa với người anh hùng
Đã làm quân thù khiếp sợ:

“Ta đi qua đèo Ngang
Cũng gặp Người trèo qua núi hiểm
Đỉnh dốc chênh vênh
Xe mù bụi cuốn
Có lẽ thiên nhiên đã định bao giờ
Một dãy Hoành Sơn bát ngát trận đồ
Điệp điệp núi cao
Trùng trùng rừng thẳm.
Người thấy
Súng gác trời xanh
Gió lùa biển lớn
Nông dân rộn rịp đường vui
Thanh Quan nàng nhẽ có hay
Cảnh mới đã thay cảnh cũ.
Ta hay
Máu chồng đất đỏ
Mây cuốn dặm khơi
Nhân công giọt giọt mồ hôi
Hưng Đạo thầy ơi có biết
Người nay nối chí người xưa

Tới đây
Nước biếc non xanh
Biển rộng gió đùa khuấy nước
Đi nữa
Đèo sâu vực thẳm
Núi cao mây giỡn chọc trời

Nhớ thù nhà, luống thẹn làm trai
Thương dân nước, thà sinh phận gái
“Hoành Sơn cổ lũy”
Hỏi đâu dấu tích phân tranh?
Chỉ thấy non sông
Lốc cuốn, bốn phương sấm động.

Người vì việc nước ra đi
Ta muốn cứu dân nên thăm trận thế
Điều không hẹn mà xui gặp mặt
Vô danh lại gặp hữu danh
Cuộc đời dài ắt còn sẽ gặp nhau
Nay hội ngộ giữa đỉnh cao trời đất
Anh em ta ngự trên xe đạp
Còn Người thì lại đáp com măng
Đường xuyên sơn
Anh hùng gặp anh hùng
Nhìn sóng biển Đông
Như ao trời dưới núi.

Xin kính chào
Bậc anh hùng tiền bối
Ta ngưỡng mộ Người
Và tỏ chí với non sông
Mẹ hiền ơi!
Tổ Quốc ơi!
Xin tiếp bước anh hùng!”

Hãy cố lên em!
Noi gương danh nhân mà lập chí
Ta với em
Mình hãy kết thành đôi tri kỷ!
Đất Quảng Trạch này đâu kém Nam Dương
Tôi tự hào bài “Tỏ chí” của em:

“Quốc Tuấn ngày xưa chí vững bền
Thù nhà, nợ nước chẳng hề quên
Đến bữa quên ăn, đêm quên ngủ
Thương dân, yêu nước quyết báo đền
Văn hay thu phục muôn người Việt
Võ giỏi kinh hồn lũ tướng Nguyên
Mươi năm sau nữa ơi ông Tuấn
Nối chí ông, nay cháu tiến lên!”

Tôi thương mến em
Đã chịu khó luyện rèn
Biết HỌC LÀM NGƯỜI !
Học làm con hiếu thảo.
Mười lăm tuổi đã “Tập làm thầy giáo

“Vui gì hơn buổi đầu làm thầy giáo
Của lớp vở lòng đất mẹ yêu thương
Trưa nắng luyến các em cùng đến lớp
Giọng líu lo như chim hót ven đường.

Đứng trước các em tuổi nhỏ đáng yêu
Mà đã tưởng tới bao nhiêu người lớn
Nghe em đọc giọng thanh thanh dễ mến
Mà đã nghe đất nước xuyến xao mình!”

Tổ Quốc đang chờ em phía trước.
Em ơi em, can đảm bước chân lên!

Nguyễn Khoa Tịnh, 1970

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Việt Nam tổ quốc tôi|Đất nước con người, nghiên cứu dịch thuật Việt Trung, Hoàng Tố Nguyên  Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống Food Crops Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter


Gạo Việt và thương hiệu

gaovietchatluongvathuonghieu

GẠO VIỆT VÀ THƯƠNG HIỆU
Hoàng Kim


Gạo Việt ,báo VietNamNet.vn ngày 8 tháng 10 năm 2016 đưa tin:nước ngoài từ chối, người dân mất tin: Thế mạnh Việt hết thời?  Các công ty xuất khẩu gạo liên tục bị trả hàng về, còn trong nước, dân Việt cũng không tin vào gạo Việt. Thời kỳ đỉnh cao của gạo Việt đã hết, và nếu không đổi mới trong tư duy sản xuất, gạo Việt sẽ mất toàn bộ thị trường cả nội lẫn ngoại. Buôn gạo lỗ ngàn tỷ: Ông lớn Vinafood 2 thành ‘cục nợ’ Nghịch lý: Bán gạo giá rẻ, bỏ tỷ USD mua ngô Dân Việt từ chối, Campuchia xuất khẩu gạo từ giống Việt Nam Gạo Việt rồi chỉ bán được cho người nghèo…  những thông tin nhức nhối, đắng lòng với những ai tâm huyết với gạo Việt và thương hiệu. Đọc trang báo xót đắng sự thật mà bùi ngùi. Không phải bây giờ và chỉ một vài người nói tư duy lối mòn hủy hoại gạo Việt, cần đột phá đổi mới cách sản xuất. Thực trạng nghề lúa Việt không chỉ “tư duy sản xuất vẫn theo lối mòn, sản xuất nhỏ lẻ manh mún, thiếu cánh đồng mẫu lớn dẫn đến chất lượng hạt gạo Việt làm ra không đồng đều, rất khó để làm thương hiệu” mà còn nhiều vấn đề khác để có được gạo Việt chất lượng và thương hiệu (mời đọc thêm bài Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh).

LuaSieuXanhVietNam1

Tầm nhìn và đầu tư chẳng thể dễ dàng “Nếu quyết tâm làm thì chỉ cần 3-4 vụ là có thể xây dựng được thương hiệu gạo Việt chất lượng cao” vì sự thật không dễ như vậy đâu! (mời đọc thêm bài Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh, trích dẫn một ảnh HOA LÚA BÙN HỘT LÚA HẠT GẠO, cần biết bao mồ hôi công sức nhọc nhằn, trí tuệ, tầm nhìn, tâm huyết, đầu tư, khoa học công nghệ mới có bát cơm ngon như video cuối bài).

Giáo sư Võ Tòng Xuân nói những lời thật tâm đắc: “Ngành lúa gạo hiện được chia ra các giai đoạn phát triển như: giai đoạn thiếu ăn, giai đoạn đủ ăn và dư thừa, giai đoạn tìm hiểu công nghệ sản xuất mới, giai đoạn sản xuất công nghệ xanh. Các nước đang ở giai đoạn sản xuất theo phương thức công nghệ xanh, còn Việt Nam sau bao nhiêu năm vẫn chỉ ở giai đoạn sản xuất dư thừa, loay hoay không phát triển lên, vẫn chỉ chú trọng về lượng chứ không về chất nên rất khó cạnh tranh“. Tôi muốn nói thêm: Chúng ta rất cần thấu hiểu vòng tròn nhân quả: ‘hột lúa – cây lúa – hạt gạo – bát cơm’, nắm vững hai khâu then chốt ‘hoa lúa – bùn ngấu’ của chuỗi thức ăn quan trọng nhất đời người, học và hành kỹ từng khâu và khâu nào cũng phải chắc tay. Đường sống là con đường xanh hòa bình, con đường văn minh nhân loại. Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân, động lực cách mạng đông đảo của người dân nông thôn. Chừng nào người dân nông thôn chưa thay đổi được số phận của mình thì chừng đó bài toán kinh tế chưa khai mở được tiềm lực nông nghiêp nông dân nông thôn.

Hoàng Kim

Tài liệu dẫn:

NƯỚC NGOÀI TỪ CHỐI, NGƯỜI DÂN MẤT TIN, THẾ MẠNH VIỆT HẾT THỜI

B. Hân, báo VietNamNet ngày 8 tháng 10 năm 2016

Các công ty xuất khẩu gạo liên tục bị trả hàng về, còn trong nước, dân Việt cũng không tin vào gạo Việt. Thời kỳ đỉnh cao của gạo Việt đã hết, và nếu không đổi mới trong tư duy sản xuất, gạo Việt sẽ mất toàn bộ thị trường cả nội lẫn ngoại.

“Hết thời phong độ đỉnh cao

Từ một nước thiếu ăn, sau thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã vươn lên là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Song, những năm gần đây, gạo Việt đang mất dần “phong độ đỉnh cao”, rơi vào thế bế tắc cả trong lẫn ngoài. Bằng chứng là, trên thị trường quốc tế, gạo Việt đang bị các đối thủ như Campuchia, Thái Lan cướp dần thị phần. Kéo theo đó, gạo xuất khẩu đang giảm mạnh cả về lượng và chất.

Cụ thể, theo báo cáo mới nhất của Bộ NN-PTNT, trong 9 tháng đầu năm 2016, khối lượng xuất khẩu gạo ước đạt 3,76 triệu tấn, với 1,69 tỷ USD, giảm 16,4% về khối lượng và giảm 12,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Không chỉ vậy, gạo Việt đang còn phải đối mặt với nguy cơ bị Mỹ “cấm cửa” do phát hiện rất nhiều lô gạo còn tồn lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng. Thực trạng này buộc lãnh đạo Bộ NN-PTNT phải cảnh báo các doanh nghiệp hạn chế xuất khẩu sang Mỹ, bởi nếu vẫn tiếp tục bị phát hiện thì nguy cơ Hoa Kỳ sẽ “cấm cửa” gạo Việt Nam.Trong khi đó, theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), 6 tháng đầu năm 2016, đã có hơn 500 container gạo thơm của Việt Nam bị đối tác trả về do không đạt tiêu chuẩn chất lượng.

VFA cũng cho biết, những năm vừa qua, đặc biệt là năm 2016, rất nhiều đơn hàng xuất khẩu gạo thơm của các DN xuất khẩu gạo có tiếng tăm đã bị trả về vì dính dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phải bán trong nội địa. Đó là thị trường trong quốc tế. Còn tại “sân nhà”, các thương hiệu gạo Sóc Miên, Sa Mơ, Móng Chim,… nhập từ Campuchia hay các thương hiệu gạo Thái Lan cũng được nhập về ồ ạt, xuất hiện tràn lan.

Thừa nhận thực trạng trên, tại Hội thảo Phát triển thị trường nông sản sạch và Nông sản hữu cơ diễn ra ngày 7/10, GS. Võ Tòng Xuân cho biết, các công ty xuất khẩu gạo liên tục bị trả hàng về, còn trong nước, dân Việt cũng không tin vào gạo Việt.

Bà Nguyễn Tú Anh, đại diện Công ty Nông nghiệp GAP, thẳng thắn nói, những người có tiền đi chợ thường chọn mua gạo Thái Lan, gạo Campuchia về ăn, còn người nghèo, người có thu nhập trung bình mới chịu chọn gạo Việt Nam.

Tư duy lối mòn… hủy hoại gạo Việt

Theo GS. Võ Tòng Xuân, ngành lúa gạo hiện được chia ra các giai đoạn phát triển như: giai đoạn thiếu ăn, giai đoạn đủ ăn và dư thừa, giai đoạn tìm hiểu công nghệ sản xuất mới, giai đoạn sản xuất công nghệ xanh. Các nước đang ở giai đoạn sản xuất theo phương thức công nghệ xanh, còn Việt Nam sau bao nhiêu năm vẫn chỉ ở giai đoạn sản xuất dư thừa, loay hoay không phát triển lên, vẫn chỉ chú trọng về lượng chứ không về chất nên rất khó cạnh tranh.

Nguyên nhân được chỉ ra rất nhiều, chẳng hạn: ở Việt Nam, bà con tự do sản xuất, ai thích trồng gì thì trồng, không theo quy hoạch. Đến lúc lúa bị sâu bệnh thì vào cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật mua vô tội vạ, dẫn đến việc gạo Việt mất an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong khi đó, phẩm chất gạo ngày càng giảm sút do người dân lạm dụng phân hóa học (phân u rê), không quan tâm đến phân hữu cơ NPK. Mà theo ông Xuân, phân hữu cơ mới là loại phân giúp cải tạo đất, đưa hạt gạo thơm ngon hơn.

Mặt khác, bà con nông dân vẫn bám lấy phương thức canh tác cũ cổ truyền, không chịu để lớp người trẻ đưa phương thức canh tác mới vào thay thế. Do đó, giá thành sản xuất luôn cao mà chất lượng gạo vẫn kém. Rồi thương lái thu mua nháo nhào, không phân biệt giống má, chất lượng, cứ thế đưa vào xay xát rồi bán cho doanh nghiệp xuất khẩu; còn các DN không thể làm thương hiệu do không biết được xuất xứ của hạt gạo mà mình mua, ông Xuân chia sẻ.

Tương tự, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cũng nhận định, gạo Việt gặp khó khăn là do tư duy sản xuất vẫn theo lối mòn, sản xuất nhỏ lẻ manh mún, thiếu cánh đồng mẫu lớn dẫn đến chất lượng hạt gạo Việt làm ra không đồng đều, rất khó để làm thương hiệu. Theo ông Doanh, cần đột phá đổi mới cách sản xuất. Nếu quyết tâm làm thì chỉ cần 3-4 vụ là có thể xây dựng được thương hiệu gạo Việt chất lượng cao.

Rõ ràng, chất lượng là một trong những yếu tố quan trọng để vực dậy thị trường, thương hiệu gạo Việt Nam. Xu hướng tiêu dùng của người dân hiện nay là ăn ít nhưng phải ngon, an toàn. Thế nên, đạt được 3 tiêu chuẩn trên gạo Việt sẽ chiếm lại được thị trường của mình.

B.Hân

TỪ SẮN VIỆT NAM ĐẾN LÚA SIÊU XANH

Hoàng Kim

LuaSieuXanhVietNam
Câu chuyện TỪ SẮN VIỆT NAM ĐẾN LÚA SIÊU XANH.  Cách mạng sắn ở Việt Nam (The Cassava Revolution in Vietnam) là điểm sáng toàn cầu được vinh danh tại Hội thảo Cây Có Củ Thế Giới được tổ chức tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 1 năm 2016. Sắn là cây trồng triển vọng của thế kỷ 21. Lúa Siêu Xanh ở Việt Nam (Green Super Rice in Vietnam) kết nối lúa Siêu Xanh IRRI/ CAAS (dự án lúa gạo toàn cầu IRRI Green Super Rice GSR Project) đang hướng tới những sản phẩm lúa gạo thích ứng với biến đổi khí hậu đạt năng suất cao, chất lượng gạo tốt, ngon cơm, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, kháng sâu bệnh, chống chịu mặn, hạn, thích nghi cho vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời. Bài viết này đúc kết tài liệu đã đăng trước đây và cập nhật thông tin mới.

Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam. Lúa là cây lương thực hàng đầu chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất, kế đến là ngô, sắn và khoai lang. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng diện tích canh tác hàng năm của cây lương thực Việt Nam (lúa, ngô, sắn và khoai lang) khoảng 9,257 triệu ha, so với diện tích cây công nghiệp lâu năm khoảng 1,885 triệu ha, cây công nghiệp hàng năm khoảng 806 nghìn ha và cây ăn quả khoảng 775 nghìn ha .

SanVietnamTừ Sắn Việt Nam

Sắn Việt Nam thành tựu và bài học đã khái quát tình hình sản xuất, tiêu thụ, thành tựu và bài học sắn Việt Nam qua nửa thế kỷ. Chọn tạo giống sắn; xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác sắn thích hợp bền vững; bảo tồn và phát triển sắn đã là các kinh nghiệm quý. Sắn Việt Nam hiện được ca ngợi  là điển hình của sắn thế giới khi nhiều hộ nông dân tại nhiều vùng rộng lớn ở Tây Ninh đã tăng năng suất sắn trên 400%, từ 8,35 tấn/ ha lên trên 36,0 tấn/ ha. (FAO,  2013b). Năng suất sắn Việt Nam bình quân cả nước hiện đạt trên gấp đôi so với năng suất sắn năm 2000 đạt 8,35 tấn/ha. Điển hình tại Tây Ninh, năm 2011 năng suất sắn đã đạt bình quân 29,0 tấn/ ha trên diện tích thu hoạch 45,7 nghìn ha với sản lượng là 1,32 triệu tấn, so vớ inăm  2000 năng suất sắn đạt bình quân 12,0 tấn/ ha trên diện tích thu hoạch 8,6 nghìn ha, sản lượng 9,6 nghìn tấn. Sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam đã trở thành một trong mười mặt hàng xuất khẩu chính. Sắn Việt Nam hiện thành nguồn sinh kế, cơ hội xóa đói giảm nghèo và làm giàu của nhiều hộ nông dân cũng hấp dẫn sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp chế biến kinh doanh. Sắn Việt Nam bên cạnh cơ hội và thành tựu giống sắn mới và giải pháp kỹ thuật quy trình thâm canh sắn tổng hợp bảo tồn và phát triển sắn bền vững cũng bộc lộ nhiều rủi ro, bất cập, đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến, kinh doanh và bảo vệ môi trường. Các nhà máy ethanol Việt Nam đầu tư lớn và lỗ; Nhà máy ethanol hoạt động khó khăn. Trong khi sắn Nigeria sản lượng 52,4 triệu tấn năng suất sắn chỉ đạt 14,02 tấn/ha (thấp hơn sắn Việt Nam) nhưng từ năm 2011 đã đạt thành tựu chế biến nhiên liệu sinh học đơn giản và hiệu quả bằng “bếp cồn sắn” cho toàn quốc, dành được lượng lớn xăng dầu cho xuất khẩu.

Cách mạng sắn ở Việt Nam hôm nay là điển hình quốc tế. Sắn Việt Nam là cây công nghiệp xuất khẩu triển vọng với diện tích trồng khoảng trên nửa triệu hecta và giá trị xuất khẩu ngày nay đạt hơn một tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Sắn miền Đông, Tây Nguyên, miền Trung và sắn vùng núi trung du phía Bắc thực sự thân thiết trong đời sống, văn hóa, xã hội của người dân các vùng này ; Những tinh hoa khoa học kỹ thuật cây sắn thế giới và Việt Nam đã được đúc kết, chọn lọc và vận dụng phù hợp sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cụ thể của từng vùng.  Cách mạng sắn ở Việt Nam có sự tham gia đông đảo của hàng triệu nông dân nghề sắn đã đạt được sự chuyển đổi to lớn về năng suất, sản lượng, giá trị sử dụng, hiệu quả kinh tế, thu nhập đời sống, sinh kế và việc làm cho người dân rộng khắp toàn quốc.


The cassava revolution in Vietnam

Sắn Việt Nam hướng tới bảo tồn và phát triển bền vững trong tầm nhìn mới về nông nghiệp căn cứ trên tổng kết thực tiễn, đúc kết tinh hoa của quá khứ và hiện tại, phát huy lợi thế so sánh, năng động sáng tạo và ứng dụng những thành tựu mới phù hợp. Thông tin Cách mạng sắn ở Việt Nam“, “Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai“, “Sắn Việt Nam kết nối châu Phi”, “Lúa sắn Việt Nam tới châu Phi” “Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam“, “Đất nước Angkor nụ cười suy ngẫm“, Lúa Sắn Angkor … là những thông tin tham khảo phục vụ cho tài liệu chính CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM  Học để Làm (Learning by Doing).

Đến Lúa  Siêu Xanh

Chọn tạo giống lúa siêu xanh (GSR) thích ứng biến đổi khí hậu ở Việt Nam là sự đột phá tiếp nối theo cách mà cây sắn Việt Nam đã đạt thành công cao. Sản xuất lúa ở Việt Nam, đặc biệt là vùng ĐBSCL đang phải đối mặt với ảnh hưởng to lớn của biến đổi khí hậu, nhiễm mặn lan rộng, kéo dài và khô hạn cục bộ. Việc chọn tạo giống lúa siêu xanh năng suất cao, hướng tăng trần năng suất đạt 7-10 tấn/ha trong điều kiện sản xuất tại Việt Nam, chất lượng gạo tốt, ngon cơm, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, kháng sâu bệnh, chống chịu mặn, hạn, thích nghi cho vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời là một đòi hỏi thực tiễn cấp bách. Cách đột phá được tập trung thực hiện là chọn tạo giống lúa siêu xanh (Green Super Rice – GSR) thích ứng biến đổi khí hậu tại Việt Nam. 754 giống lúa  siêu xanh (GSR) được nhập nội trực tiếp về Việt Nam từ IRRI – CAAS (Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI và Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc CAAS). Mạng lưới nghiên cứu phát triển lúa siêu xanh Việt Nam gồm: Trường Đại học Nông Lâm Huế (HUF), Sở Nông nghiệp & PTNT Phú Yên, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (CLRRI), Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU), Trung tâm Giống Cây trồng Sóc Trăng, Viện Di truyền Nông nghiệp (AGI), Trung tâm Khuyến Nông Quốc Gia và Hệ thống Khuyến nông, các doanh nghiệp sản xuất cung ứng giống lúa của các tỉnh. Những mẫu giống GSR này được phối kết, khai thác, tuyển chọn cùng với nguồn vật liệu lúa đặc sản Sóc Trăng, Viện Lúa, Viện Di truyền Nông nghiệp, …. Mục tiêu: chọn tạo giống lúa siêu xanh năng suất cao, hướng tăng trần năng suất đạt 7-10 tấn/ha , chất lượng gạo tốt, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, ít sâu bệnh, đáp ứng cho vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn (chịu được độ mặn 4-6‰) và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời.

Thông tin lúa siêu xanh Việt Nam những bài liên quan đang được cập nhật

  1. Báo AGROVIET (Bộ Nông nghiệp và PTNT). Số 4. 2014. Sóc Trăng: Chọn tạo giống lúa chịu mặn thích nghi với biến đổi khí hậu.http://xttm.agroviet.gov.vn/Site/vi-vn/76/tapchi/67/79/7973/Default.aspx
  2. Báo Nhân Dân, 2015. Vũ Thế Thường Thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu .http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_ndct/_mobile_chuyende/item/26547602.html
  3. Bộ Nông nghiệp & PTNT 2011. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống lúa (QCVN 01-55: 2011/BNNPTNT)
  4. Đặng Văn Mạnh, Trần Thị Lệ, Hoàng Long, Hoàng Kim 2015. Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa chịu mặn thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Phú Yên. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tháng 9/ 2015, 8 trang.
  5. Hoang Long, Zhi-Kang Li, Tian-Qing Zheng, Hoang Kim, Pham Trung Nghia, Tran Thi Le, Nguyen Trong Tung, Nguyen Thanh Phuoc, Le Huy Ham et al. 2015. Result of Green Super Rice (GSR) Breeding adaptation to climate change in Vietnam. “Conference of Young Scientists” hosted  by IAS, HCMC, Vietnam, 18 March. 2015. Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam (IAS) 121 Nguyen Binh Khiem, district 1. HCMC, Vietnam
  6. Hoang Long, Tian-Qing Zheng, Zhi-Kang Li 2014. QTL mapping for leaf rolling and yield component traits in a set of reciprocal introgression lines and RILs in rice (Oryza sativa L). Nghiên cứu bản đồ QTL của tính trạng xoắn lá và tính trạng năng suất của ILs và RILs ở lúa (Oryza sativa L). Luận văn thạc sĩ. 66 trang
  7. Hoàng Thị Hường 2012. Khảo sát đặc điểm nông học và năng suất của tập đoàn giống lúa triển vọng tại Kế Sách, Sóc Trăng. Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư nông học. Khoa Nông học. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 102 trang.
  8. IRRI, 2013. Strategies for developing Green Super Rice; Contributed by Qifa Zhang, trích dẫn bởi Hoàng Long, Zhikang Li, Tian Qing Zheng, 2015. Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính xoắn lá lúa ảnh hưởng tới năng suất lúa ở các dòng IL đối ứng với RIL của lúa (Oryza sativa L.)
  9. IRRI, 2002. Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây lúa (SES)
  10. Nguyễn Minh Thùy 2012. Khảo sát đặc điểm nông học và năng suất của tập đoàn giống lúa triển vọng tại Long Phú, Sóc Trăng. Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư nông học. Khoa Nông học. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 100 trang.
  11. Phạm Trung Nghĩa 2010. Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chống chịu mặn và phẩm chất tốt cho đồng bằng Sông Cửu Long và phía Bắc. Thuyết minh tổng thể đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Viện Lúa Đông Bằng Sông Cửu Long. 126 trang.
  12. Nguyễn Thị Bắp và ctv. 2015. Kết quả chọn tạo giống lúa chịu mặn tại Sóc Trăng. Tài liệu Tổng kết Đề tài Lúa chịu mặn Sóc Trăng. Báo Nông nghiệp Việt Nam. http://nongnghiep.vn/chon-giong-lua-chiu-man-post118496.html

Thông tin được tiếp nối tại đây

Mời đọc thêm Google search: Green Super Rice IRRI
https://www.google.com.vn/?gws_rd=ssl#q=green+super+rice+irri

LuaSieuXanhVietNam1

HOA LÚA BÙN HỘT LÚA HẠT GẠO

Hoàng Kim
tản văn và ảnh.

Tôi mắc nợ ý tưởng “Nấu cơm” của một người bạn nên hôm nay tạm đưa lên một hình để trả lời cho một mục trong chùm bài viết “Con đường lúa gạo Việt Nam”.

Anh Nam Sinh Đoàn viết như vầy: “Ngoài đồng giống lúa không thuần, nhà nông lười khử giống bị lẫn, giống dại. Cộng với nhà lái mua vào để lẫn, hoặc cố tình pha lẫn lấy lời. Ai đời trộn lẫn hột dài với hột hơi tròn, gạo dẽo với gạo cứng cơm, gạo cũ với gạo mới,…Chính vì vậy mà nồi cơm nào cũng chỗ nhão chỗ khô, hạt mềm nhẽo cạnh hạt còn tim bột.(Chưa kể phun thêm hương liệu, chất chống mốc mọt,…thay đổi cả đặc tính hạt gạo khi đun nấu). Nhiều năm làm lúa với anh Hồ Quang Cua, mới có dịp học hỏi về việc làm giống, giữ đặc trạng của từng giống, cách thức trồng trọt- thu hoạch- tồn trữ- xay xát- lựa lọc- bao bì,…cả chục việc đòi hỏi phải chắc tay. Thế mà khi thí nghiệm trên bàn của nhóm chuyên gia còn lòi ra bao thứ khác: thời gian ngâm, tỉ lệ nước, thời gian đun và cách đun nấu,… Ví dụ, với cùng một thứ gạo, nhưng có dòng nở ít, thì chỉ 70-71% nước. Loại nào nở cơm thì ngâm trước 15 phút, loại nở búp chỉ cần mươi phút là được. Lại còn tùy loại gạo, để ăn xào với rau, gia vị cho có màu mùi như kiểu châu Âu thì nấu bằng nồi hơi như nồi hong. Để còn làm cơm xào, cơm chiên thì chớ ngâm nhiệt, tức là ngâm gạo, đun nước vừa nóng chừng 50 độ hãy cho gạo vào theo đúng tỉ lệ, mới đạt yêu cầu. Câu nói: Cơm lành canh ngọt tưởng dễ mà khó thay“.

Tôi (Hoàng Kim) trả lời: Thưa anh, xin hãy nhìn tấm ảnh, từ hạt gạo đến bát cơm chỉ là một phần ngắn trong chuỗi “hoa lúa, bùn, hột lúa, cây lúa, hạt gạo, bát cơm”. Hai khâu khó nhất và nhọc nhằn nhất là hoa lúa và bùn.

Mời trao đổi trên Face Book tại ĐÂY và đọc bài tiếp nối Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/08/19/tu-san-viet-nam-den-lua-sieu-xanh/

— with Manh Tran Van, Khacthinh Do, Phuoc Nguyen Thanh, Chí Hiếu, Pham Sy Tan, Nam Sinh Đoàn, Phan Chi and Hoang Long at Sân Phượng Vỹ- Đh Nông Lâm Tphcm.

“Nấu cơm” của anh Nam Sinh Đoàn viết rất ngắn nhưng góc nhìn sâu sắc. Chúng ta rất cần thấu hiểu vòng tròn nhân quả: ‘hột lúa – cây lúa – hạt gạo- bát cơm’, nắm vững hai khâu then chốt ‘hoa lúa – bùn ngấu’ của chuỗi thức ăn quan trọng nhất đời người, học và hành kỹ từng khâu và khâu nào cũng phải chắc tay. Đường sống là con đường xanh hòa bình, con đường văn minh nhân loại. Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân, động lực cách mạng đông đảo của người dân nông thôn. Chừng nào người dân nông thôn chưa thay đổi được số phận của mình thì chừng đó bài toán kinh tế chưa khai mở được tiềm lực nông nghiêp nông dân nông thôn.
Chien luoc chon tao lua sieu xanh Vietnam

LuaSieuXanhVietNam3
LuaSieuXanh VietNam4

Bài và ảnh: Hoàng Long, Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích

Vietnamese Dan Bau Music
Vietnam traditional music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam

Giấc mơ thiêng cùng Goethe

prahademthienghanhphuc

GIẤC MƠ THIÊNG CÙNG GOETHE
Hoàng Kim

Tôi gặp giấc mơ lạ trong đêm thiêng hạnh phúc, dạo chơi cùng Goethe, tình nguyện theo người Thầy lỗi lạc ‘ông gia kể chuyện sử thi’ hiến trọn đời mình ể thấu hiểu trời nhân loại mênh  mông … Đây là phần ba của bài viết  “Tiệp Khắc kỷ niệm một thời”, tiếp nối  phần một “Tiệp Khắc đất nước con người”, phần hai “Praha Goethe và lâu đài cổ“.

PRAHA ĐÊM THIÊNG HẠNH PHÚC

Praha Goethe và lâu đài cổ là nơi tôi chứng ngộ đêm thiêng hạnh phúc. Praha là thủ đô Cộng hòa Séc, trái tim văn hóa và học vấn châu Âu, nơi trung tâm thành phố được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới năm 1992, là “thành phố vàng” “thành phố một trăm ngọn tháp”. Goethe là nhà thông thái thiên tài, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học, triết gia, nhà viết kịch và họa sỹ người Đức danh tiếng toàn châu Âu và Thế Giới với Viện Goethe hiện có phân viện tại 13 thành phố ở Đức và 128 thành phố nước ngoài. Lâu đài cổ là cụm công trình di sản thế giới với các câu chuyện huyền thoại kỳ lạ.

Tôi đến Praha Tiệp Khắc ngày 19 tháng 12 năm 1985 nơi đi từ Hà Nội, Việt Nam, ngày về là 29 tháng 5 năm 1986 đó là chuỗi ngày Năm tháng ở trời Âu. Sau này, đầu tháng 9 năm 1988 đến cuối tháng 2 năm 1989, tôi được sanghọc ở CIMMYT và CIANO, được tới Mexico, Mỹ và quá cảnh qua Canada, Nhật, đó là chuỗi ngày Sáu tháng ở CIMMYT. Chuyện giấc mơ lạ dạo chơi cùng Goethe tôi chép lại trong bài thơ kèm theo . Thông tin và tài liệu của hai cuốn album này giúp làm rõ hơn những địa danh và trích dẫn trong ba bài thơ dưới đây.

Đêm thiêng hạnh phúc 24 tháng 12 năm 1985 là sinh nhật của con trai tôi Hoàng Long, cũng là đêm tôi có giấc mơ lạ dạo chơi cùng Goethe ở Kalovi Vary trong rừng thiêng cổ tích Praha Goethe và lâu đài cổ tại Tiệp Khắc kỷ niệm một thời. Chuyến đi do sự chu đáo của chị Magdalena Buresova  và sự giúp đỡ tận tình của Giáo sư Pavel Popisil, chuyên gia nông nghiệp nổi tiếng ở Trường Đại học Praha (tiền thân là Trường Đại Học Karlova  được thành lập từ năm 1348).

Suốt từ ngày 19 tháng 12 năm 1985 đến ngày 17 tháng 2 năm 1986, chúng tôi có một  lịch làm việc dày đặc và hành trình học tập nghiên cứu qua hầu hết các Viện Trường và cơ sở nghiên cứu, sản xuất, phát triển nông nghiệp của toàn Tiệp tại các thành phố lớn và nhiều địa danh nổi tiếng, mà tôi đã lưu giữ một kho tư liệu dày về câu chuyện này.

Nguyen Long 1

Tôi đã viết bài THƠ CHO CON từ ngày đó, gửi gắm tình yêu thương và nhớ thương đằm thắm. Đêm thiêng hạnh phúc kết nối bao nhiêu câu chuyện, sự kiện và kỷ niệm … Tôi viết bài THƠ CHO CON ở Praha, ngày 17 tháng 2 năm 1986 sau gần hai tháng trời kể từ đêm thiêng hạnh phúc  vì thời ấy thông tin không dễ như hiện nay. Giấc mơ lạ và đêm Thánh vô cùng, dạo chơi cùng Goethe, tôi chứng ngộ được điều kỳ diệu của sự hiểu biết, dẫu biết rằng tôi phải trả giá khủng khiếp bằng chính mạng sống của mình và có những hiểm nguy cực kỳ phải đối mặt.



Đêm Thánh vô cùng
là một ca khúc Giáng sinh nổi tiếng đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu phi vật thể của nhân loại vào tháng 3 năm 2011. Tác giả bài hát là Josef Mohr và Franz Gruber cả hai đều là người Áo, biểu diễn lần đầu tiên bản gốc bằng tiếng Đức tại một nhà thờ Áo vào ngày 24 tháng 12 năm 1818. Bản tiếng Việt do Elvis Phương trình bày. Thực hiện Ngọc Huy.
Đêm thiêng hạnh phúc, sau này gợi cho tôi viết lên bài thơ yêu thích MÙA XUÂN QUÊ HƯƠNG. “Đêm Giáng sinh an lành. Ông Già Noel mở cửa. Chuông ngân nga mười hai giờ đêm. Đông tàn Xuân đã đến. Mai em đi làm sớm. Trời Giáng Sinh se lạnh. Đừng quên giữ ấm nghe em. Lời nhắn yêu thương. Niềm vui đầy đặn. Thung dung cuộc đời. Mùa xuân quê hương. (THE SRING IN OUR COUNTRY. A Christmas Eve in well-being. Christmas father knocks at the door. The bell resounds at 12pm. The Winter ends, The Spring is coming. In the morning You go to work early. It becomes rather cold. Don’t forget to keep warm, dear. A lovely message. A fulfilled happiness. An easy life. The Spring in Our Country).

Dưới đây là bài Thơ cho con tôi viết từ thuở ấy, hình ảnh được chọn bổ sung sau này.

THƠ CHO CON
Thương yêu tặng hai con Hoàng Tố Nguyên và Hoàng Long
Hoàng Kim

Nguyen Long

Con!
Thân thương một tiếng gọi
Hạnh phúc bật nên lời
Lòng Cha bồi hồi
Sung sướng gọi:
Con!

Cha đi công tác xa
Mong đợi Con, từng ngày chờ thư Mẹ
Thư đến!
Con ra đời!
Cha run lên vì mừng
Thao thức suốt đêm
Không ngủ

Bạn bè vây quanh Cha
Trân trọng niềm vui thiêng liêng
Nâng cốc chúc Cha
Hạnh phúc!

Tiếng Con ngọt ngào môi Cha
Dào dạt lòng Cha vỗ mãi
Có Con
Nối cuộc đời Cha
Gấp đôi
Có Con
Đan giữa cuộc đời
Hạnh phúc

Con là sợi dây máu thịt
Yêu thương gắn Mẹ và Cha
Có Con
Cha thấy cuộc đời ý nghĩa hơn
Cuộc sống – Tình yêu – Sự nghiệp
Hai Con là hai con mắt
Cửa sổ tâm hồn Cha
Dẫu đời Cha nhiều chông gai
Trái chín cuộc đời vẫn ngọt
Con là giấc mơ trong trẻo
Là ban mai tươi vui
Là viên ngọc trao đời
Là hương hoa hạnh phúc

Ước vọng cuộc đời Cha
Có Con đi nối con đường sự nghiệp
Con đứng trên vai Cha
Vươn tới những chân trời mơ ước

Hai Con
Hai viên ngọc
Chị con và Con
Mẹ con dịu hiền hơn
Mẹ con đảm đang hơn
Cha bớt vụng về mỗi việc làm nho nhỏ
Con trở thành ngọn lửa
Sưởi ấm lòng Mẹ Cha
Khi mỗi ngày khó khăn
Trong trẻo tiếng Con
Mẹ Cha hết mệt
Con là niềm vui lớn nhất
“Con hơn Cha nhà có phúc”
Cha mong dồn cho Con.

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên Con là Hoàng Long?
Con ơi!
Tên Con là khúc hát yêu thương
Của lòng Cha Mẹ
Cha Mẹ thương nhau
Vì qúy trọng những điều ân nghĩa
Sự nghiệp và tình yêu
Những ngày gian khổ
Cùng nghiên cứu củ sắn, củ khoai
Con là giống khoai Hoàng Long
Tỏa rộng nhiều vùng đất nước
Dẫu không là trái thơm qủa ngọt
Nhưng là niềm vui người nghèo
Để Cha nhớ về quê hương
Khoai sắn bốn mùa vất vã
Để Cha nhớ những ngày gian khổ
Năm năm
Cơm ngày một bữa
Khoai sắn không phụ lòng
Để Cha nhớ về
Lon khoai nghĩa tình
Nắm khoai bè bạn
Gom góp giúp Cha ăn học
Khi vào đời
Cha gặp Mẹ con
Cho nên:
Cha muốn Con
Trước khi làm những điều lớn lao
Hãy biết làm củ khoai, củ sắn
Hãy hướng tới những người lao động
Nhớ quê nghèo cắt rốn, chôn rau

Lớn lên
Con sẽ hỏi cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Con là đậu rồng
Là công trình thứ hai Mẹ Cha nghiên cứu
Mẹ con chọn hạt
Cha gieo nên con
Vất vả gian nan
Hứa hẹn một mùa gặt hái
Con là tháng ngày mong đợi
Là niềm vui đóng góp cho đời
Từ hạt đậu củ khoai
Cha Mẹ trao Con sự nghiệp
Cha nhớ câu đối trăm năm
Về một gia đình hạnh phúc
“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai
ngày khoai ba bữa
Cha đỗ, mẹ đỗ, con đỗ
đều đỗ cả nhà”
Chị con và Con
Là mong ước
Của Mẹ và Cha

Lớn lên
Con sẽ hỏi Cha
Sao Cha đặt tên con Hoàng Long?
Long là rồng
Nghĩa mẹ tạo nền
Công cha xây móng
Trước mắt con là sông dài, biển rộng
Ước mong con bay lên
Con hãy đi đến cùng
Mục đích của con
Làm được những điều cao cả
Hãy cố gắng không ngừng
Kiên gan
Bền chí
Ước mơ và hiện thực
Hôm nay và mai sau
Nghị lực là thước đo cuộc đời
Hai chữ đầu tiên Con học làm người
Phải học hai điều NHÂN NGHĨA

Cha mong Con lớn lên
Ít nếm trãi khó khăn, vất vả
Nhưng đừng bao giờ quên
Những ngày đói khổ
Thời thơ ấu của Cha
Mồng Ba tháng Giêng ngày mất của Bà
Hai mươi tháng Mười ngày ông Mỹ giết
Ngày mà cửa nhà tan nát
Đói nghèo Bác dắt dìu Cha
Tuổi thơ thì bắt ốc, mò cua
Lớn một chút trồng khoai, dạy học
Qua danh lợi hiểu vinh, hiểu nhục
Trãi đói nghèo biết nghĩa, biết ân
Phan Thiết là nơi Mẹ đã sinh Con
Ông Bà ngoại nuôi cho Con khôn lớn
Tuổi thơ của Con lớn trong yên ấm
Tao nôi êm ả, thanh bình
Ru cho Con “uống nước nhớ nguồn”
Khi con lớn đừng quên điều HIẾU THẢO

Cha say viết về Con
Kể về Con
Thơ cho Con
Cô bác vây quanh Cha
Gật gù
Thông cảm

Thơ chắp mối
Từng vần,
Từng mảng
Câu thơ chưa chỉnh lời
Nhưng tứ thơ
Dồn dập
Bối hồi
Hạnh phúc lớn
Trong lòng Cha
Ngân mãi

Nguyen Loc 1a

Nguyen Loc 9

Ảnh trên là Hoàng Bá Lộc, Hoàng Tố Nguyên anh chị của Hoàng Long.

Goethe at Rome

GIẤC MƠ THIÊNG CÙNG GOETHE
Người già kể chuyện sử thi
Kalovi Vary, Roma, Oregon
Thắp lên trong tôi ngọn lửa
Hoàng Kim

Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Goethe trao tặng cho tôi
Ngọc minh triết của Người.

Tôi giấc mơ gặp Goethe
Kalovi Vary, Czechoslovakia
trong rừng thiêng cổ tích.
Người kể chuyện sử thi

Tiệp Khắc kỷ niệm một thời
Praha Goethe và lâu đài cổ
Những khát khao của Faust,
Nỗi đau của chàng Werther

Người nhắc tôi đừng quên
kể chuyện sử thi dân mình
Cho dù học gì làm gì
Cũng đừng quên chuyện đó !

Người hỏi tôi trong mơ
Con có dám học Faust?
Chọn minh triết làm Thầy
Suốt đời theo Trí Tuệ ?

Tôi trả lời.trong mơ
Có con xin theo Người !
Con xin theo học Goethe
Người kể chuyện sử thi

Ta bàng hoàng gặp Goethe
Trên cầu đi bộ Charles
Trong 30 tượng thánh trầm tư
Tôi ngắm hình tượng Faust

Quảng trường Old Town Square
Đế Quốc La Mã Thần Thánh
Goethe lắng đọng tại Praha
Trong huyền thoại muôn đời

Tôi nhớ Người ở Frankfurt,
Di sản Người Leipzig, Strasbourg
Ông già hiền triết châu Âu
Tại bao nhiêu điểm đến …

Goethe

Tôi học Goethe qua thơ Xuân Diệu
Mọi lý thuyết đều là màu xám,
chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi
Thơ Người đi cùng tôi bao tháng năm.

Tôi gặp Goethe ở châu Âu
Trong hình bóng người hiền
Cũng gặp Người tại Oregon
Nơi Miền Tây Nước Mỹ.

Tôi gặp Goethe ở châu Mỹ
Tại Ciudad Obregon
Hồ lớn ba tỷ khối nước
Cây xanh đất nước giao hòa

Tôi  gặp Người ở CIMMYT Mexico
phía cuối trời Tây
GoetheNorman Borlaug dạy cho tôi
Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương

Người hóa thân
trong thanh thản
bóng cây xanh
Người đàm đạo
với Norman Borlaug
và cậu học trò nghèo
Về ý tưởng xanh
Con đường xanh
Hành trình xanh
Sự nghiệp xanh
Nhà khoa học xanh
giấc mơ hạnh phúc

Goethe là vòm cây xanh
Goethe cũng là lão nông
ngồi cùng chúng ta
chuyện trò
trên cánh đồng xanh
hạnh phúc.

Goethe Norman Borlaug
là những trí tuệ bậc Thầy.
Họ không màng hư vình
mà hướng tới đỉnh cao hòa bình
sự an lành tiến bộ.

Anh và em cùng Goethe
Ở FAO, Rome, Italy
Người hóa thân
thành nữ thần Tình Yêu (*)

Trời xanh tuyệt vời !
Trời nhân loại mênh mông !

(*) Hình ảnh Hoàng Kim ở Roma, Italia.

Giấc mơ về điểm hẹn

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày


Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter