Con đường xanh ta đi

Vietnamxanh

CON ĐƯỜNG XANH TA ĐI

Hoàng Kim

Con đường minh triết, năng động, hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, phát triển bền vững các ngành hàng an sinh xã hội lợi thế so sánh, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống, sinh kế thu nhập dân lao động là con đường xanh Việt Nam.”Nông sản Việt Nam” và  Nông thôn ngày nay” là hai chủ đề nóng hiện nay.  Bạn Alon Tran hỏi: Thầy có lời khuyên gì cho thế hệ trẻ nông nghiêp, cả về tài và đức, để đóng góp được gì đó cho quê hương không Thầy?… Tôi muốn nói đôi lời và mời bạn đọc 2 bài viết trích dẫn của anh Nam Sinh Đoàn  ở cuối bài.

NHỮNG MẪU CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG là thú vui trò chuyện, bình phẩm điều tâm đắc, ưa gì nói nấy, dài ngắn không chừng, cũng chẳng cần theo một khung chủ đề nào cả ! Như Chuyện đời giáo sư Lê Văn Tố nếu biết lắng nghe, góp nhặt cát đá thì có thể chọn được những điều có ích. Xin mời quý thầy cô bạn hữu và mọi người cùng trao đổi chuyện đời con đường xanh ta đi.

GreenSuperRiceinVietnam

MINH TRIẾT VÀ LỜI YÊU THƯƠNG

Giáo sư Norman Borlaug có lời dặn thật thấm thía trích trong Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”

Tiến sĩ  Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh,  Phó Viện Trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long nói tại Lớp học trên đồng những lời sâu sắc: “Hãy cúi xuống học trên đồng, cúi xuống học trong phòng thí nghiệm, cúi xuống học thầy, học bạn và lắng nghe tiếng nói người dân”. Chúng ta hãy cùng tiếp bước trên Con đường lúa gạo Việt Nam  theo những tấm gương sáng  Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Trâm, Lê Văn Bảnh, Trần Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang,  Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng, Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên, … để tạo chọn được những giống lúa gạo, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân; nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta còn DẠY VÀ HỌC. Gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

conduongluagaovietnam

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt
Lương Định Của con đường lúa gạo

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Mời đọc ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài trích dẫn dưới đây.

Minhtrietsongthungdungphuchau4

CON ĐƯỜNG XANH CỦA CHÚNG TA

Làm gì để nâng cao chất lượng cuộc sống, sinh kế và thu nhập của nông dân Việt Nam? Con đường xanh ta đi là con đường minh triết, năng động, hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, phát triển bền vững các ngành hàng an sinh xã hội lợi thế so sánh, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống, sinh kế thu nhập người dân lao động.

LevTonstoy

Đường sống” kiệt tác của Lev Tonstoi là một cẩm nang văn hóa giáo dục nên đọc lại và suy ngẫm thật thấm thía . Nó là rất cần cho ai muốn hiểu sâu hơn về lý tưởng trau dồi đức tài phụng sự xã hội.

Đường sống” là tác phẩm văn thư nghị luận chọn lọc của Lev Tolstoi do Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành năm 2010.  Nhà văn Nguyên Ngọc nói về Tolstoi và tác phẩm Đường sống: “Đây là  cuốn sách khổng lồ  theo nhiều nghĩa, dày đến 1.180 trang, là một cuốn sách mà ai cũng nên đọc và trí thức bắt buộc phải đọc”. “Càng đọc càng thấy ông quá lớn so với những gì ta đã biết”. Ông nói: “Chúng ta ai cũng biết đến và khâm phục Lev Tolstoi với tư cách một văn hào vĩ đại, nhưng ít ai biết ông còn là một nhà tư tưởng vĩ đại không kém, thậm chí hơn thế. Không chỉ ở Việt Nam, trên thế giới mà ngay ở Nga, đã một thời gian dài người ta cố tình đề cao hết mức nhà văn Tolstoi để hạ thấp hoặc chính xác là lờ đi một Tolstoi, nhà tư tưởng” (tôi HK gạch dưới).

Những dấu ấn tư tưởng nổi bật nhất của Tolstoi trong những tiểu luận và thư từ này là sự gắn kết những tinh hoa của trí thức Nga với những tinh túy của nhân dân lao động Nga – nhất là nông dân. Tolstoi yêu người nông dân Nga và nhận rõ những giá trị của họ, nhưng không thần thánh hóa nông dân, coi đó là những giá trị tuyệt đối và phủ nhận trí thức – thành phần xuất thân của chính mình – như các nhà cách mạng dân túy cùng thời và sau này.” Nhà văn Nguyên Ngọc viết tiếp.

“Yêu lao động, hay là thắng lợi của nhà nông” (trang 319- 331, kiệt tác Đường sống của Lev Tonstoi). Hãy đổ mồ hôi trán để có được miếng ăn, cho đến khi ngươi trở về với đất, bởi từ đất ngươi đã được lấy ra. Sáng thế III, 19. …”Nếu nó vẫn cứ dùng đến mưu mẹo và bạo lực , thì bởi vì nó yêu thích mưu mẹo và bạo lực , chứ không phải vì chúng cần thiết như hiện nay.  Đối với những kẻ yếu sức, những người vì lý do nào đó  không thể làm ra được cái ăn cho mình, hoặc vì lí do nào đó miếng ăn đã mất đi , thì sẽ không còn cần thiết bán mình , bán lao động và nhiều khi bán cả linh hồn của mình để có được cái ăn.

Sẽ không còn cái ước nguyện của mọi người, như hiện giờ, bằng mọi cách giải phóng mình khỏi lao động cơm áo và trút nó sang những người khác đè chết những kẻ yếu bằng lao động và giải phóng những kẻ mạnh khỏi mọi lao động. Sẽ không còn định hướng của tư duy con người như hiện nay, khi mà mọi nổ lực trí tuệ của con người đều được hướng vào không phải việc làm dễ lao động của những người lao động , mà làm dễ và tô điểm cho sự vô công rồi nghề của những kẻ vô công rồi nghề .

Việc mọi người đều tham gia lao động cơm áo và thừa nhận nó là đi đầu trong mọi công việc của loài người sẽ làm được điều giống như một người sẽ làm với cái xe kéo bị lật ngược bị một lũ ngốc hùng hục kéo đẩy, khi anh ta sẽ lật cỗ xe lại và đặt nó lên trên bánh của nó vừa không làm hỏng cỗ xe, vừa làm cho nó đi nhẹ nhàng.” …(trích) “Bạn hãy hạ mình xuống tận hạ tầng (rời khỏi chỗ bạn tưởng là hạ tầng, nhưng đó lại là thượng tầng) hãy đứng bên cạnh những người cho những người đói ăn, cho những người rét mặc; đừng sơ một cái gì: sẽ không có cái gì xấu hơn đâu, mà sẽ chỉ tốt hơn về mọi phương diện.

Hãy đứng vào hàng , bằng hai bàn tay yếu ớt của mình hãy bắt đầu cái công việc đầu tiên là mang lại cơm ăn áo mặc cho những người đói rét- hãy thực hành trực tiếp cái lao động cơm áo , thực hành trực tiếp đấu tranh với thiên nhiên, và lần đầu tiên bạn sẽ thấy đất vững chắc dưới chân mình, cảm thấy ở nhà mình, cảm thấy được tự do, bảo đảm, không cần đi đâu hết, và bạn sẽ được trãi nghiệm những niềm vui thuần khiết, không bị đầu độc, mà bạn sẽ không tìm được ở nơi nào khác, không sau cánh của nào, không sau tấm rèm nào” … (Lev Tonstoi).

Hạnh phúc được sống Chương XXXI (trích trong Đường sống). “Chúng ta hay coi thường hạnh phúc của cuộc sống này, tưởng là ở nơi nào đó, vào lúc nào đó sẽ có được một hạnh phúc lớn hơn. Nhưng cái hạnh phúc lớn hơn như thế không thể có ở đâu và lúc nào, bởi lẽ chúng ta trong cõi người của ta đã được ban tặng một hạnh phúc vĩ đại đến thế – sự sống, mà không có và không thể có cái gì cao hơn nó“. (Lev Tonstoi). Con người bất hạnh bởi vì nó không biết là nó hạnh phúc (Dostoievsky). Nếu thiên đường không ở trong ngươi thì ngươi không bao giờ vào được thiên đường (Angelus Silesius).

Người hiền tìm kiếm tất cả trong mình, kẻ ngu tìm kiếm tất cả ở người khác (Khổng Tử). Làm điều thiện đó là một việc duy nhất mà có thể nói rằng nó chắc chắn có lợi cho ta (Lev Tonstoi). Con người cầu mong những người khác hoặc Thượng Đế cứu giúp nó; nhưng không ai có thể cứu giúp nó, ngoài chính nó, bởi vì chỉ có cuộc sống thiện lương của nó mới có thể cứu giúp nó. Mà cái đó thì chỉ nó mới làm được. (Lev Tonstoi)

Minh triết Hồ Chí Minh là trau dồi đức tài để đóng góp được gì đó cho quê hương.  Nhớ Đào Duy Từ xưa mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông (1218-1277), vị vua sáng khởi nghiệp nhà Trần “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Đào Duy Từ di sản để lại không chỉ là trước tác mà là triều đại. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường, rất chú trọng gắn thực tiễn với lý luận. Đào Duy Từ chỉ trong 9 năm ngắn ngủi (1625-1634) đã kịp làm nên kỳ tích phi thường: Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong chống cự thành công với họ Trịnh ở phía Bắc; Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh. Đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn, sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao. Sau khi ông mất (1634) triều Nguyễn còn truyền được 8 đời (131 năm), cho đến năm 1735.

TSLeVanBanh

TS Lê Văn Bảnh, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, trong bài “Gấp rút xóa bỏ tình trạng sản xuất manh mún, lạc hậu” đã đánh giá: “ĐBSCL là vựa lúa cả nước. Năm 2014, sản lượng lúa ĐBSCL vượt ngưỡng 25 triệu tấn, tăng gần 3,5 triệu tấn so với năm 2010. Thế nhưng đầu ra nông sản rất bấp bênh; sản xuất manh mún, hạt gạo vẫn chưa có thương hiệu… Nhiều vấn đề cấp bách đang đặt ra Đầu tư lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn vẫn chưa xứng tầm nên khoảng cách chênh lệch đời sống thành thị và nông thôn quá lớn. Đó là điểm yếu đầu tư cơ sở hạ tầng, nhân lực, dân trí. Đời sống nông dân càng khó khăn do đất trồng lúa ngày càng manh mún! Điều này liên quan rất nhiều đến tầm nhìn, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng ngành hàng lúa gạo. Vì sao giáo sư Viên Long Bình và các đồng sự chuyên gia chọn tạo phát triển giống lúa gạo Trung Quốc lại có thể làm được việc đột phá lừng lẫy trong nghề lúa thời gian qua?  Vì đó chính là vấn đề an sinh xã hội và an ninh lương thực ám ảnh chiến lược kinh tế Trung Quốc. Thế nhưng, tầm nhìn về nâng cao chất lượng cuộc sống, sinh kế và thu nhập của đông đảo người dân, nâng cao chất lượng môi trường sống, kiến tạo đường sống hòa bình cho nhân loại và tổ quốc mình lại đòi hỏi một minh triết.

DoanNamSinh

“Sự vinh quang của người có học là được bà con bóc lột. Nếu không, thì học thức sẽ vô bổ, chẳng cần tích lũy kiến thức hay đào sâu suy nghĩ để tiêu hóa chúng làm gì. Tiếp theo là tìm mọi phương cách để đưa cái học đến được với thực tế cuộc sống” . Sự hủy hoại nông thôn bắt đầu như thế, từ chuyển dịch sức lao động. Tiếc thay, chẳng một chút vốn công nghệ nào được người Việt làm chủ. Điều ấy, cho thấy Bộ Công Thương chỉ có khả năng “săp xếp bộ máy” cho con ta thăng quan, con sếp tiến chức, chứ không thể sản xuất nổi con vít. Toàn thể “công nhân” chỉ bán sức lao động rẻ và bị ức hiếp, bóc lột vô chừng dưới tay chủ nước ngoài. Hy sinh nghề nông rồi đất nước được gì hơn ? Gần đây, một Gíao sư Nhật được mời tư vấn, đã tỏ bày đề nghị cho kế hoạch kinh tế đến năm 2035 của Việt Nam, cũng chỉ là phát triển nông nghiệp hiện đại. Một nền nông nghiệp sinh thái, bảo vệ được môi sinh là không xa lạ với nhà nông chúng ta, nhưng để làm được việc dễ nhất – thực phẩm ngon lành, giá cả phải chăng – thì cũng phải dọn dẹp đi trong bộ máy này, đất nước này những thứ rác bẩn đã kể trước”.

“Phụng sự xã hội” là bài viết của anh Đoàn Nam Sinh quá đắng và thật khác so với ý của Phó Thủ tướng: Thu nhập bình quân hộ nông dân đã đạt 97 triệu đồng đăng trên báo Dân Trí ngày 25/8/2016 và gợi lại ý kiến của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Hiện là lúc kinh tế Việt Nam đang cho thấy có những chuyển dịch các nguồn lực “Không qua 2 vấn đề khó khăn, Việt Nam sẽ thành nền kinh tế thất bại“. Trang VietNamNet ngày 29/8/2016 với tiêu đề Tầm nhìn quá xa, mục tiêu quá nhiều: Việt Nam thua cả châu Phi

Việt Nam để trở thành nước công nghiệp vào 2020 hầu hết các mục tiêu được thừa nhận rất khó đạt được. Chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam được xem là quá nhiều ưu tiên không có trọng điểm. Ông Dương Đình Giám, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viên trưởng Viện chính sách công nghiệp, Bộ Công thương đề xuất Việt Nam nên trở thành nước cung cấp các sản phẩm nông sản và nông sản chế biến chất lượng cao với một số thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới. Đồng thời, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan tới nông nghiệp với ưu tiên cơ khí nông nghiệp, cơ khí hóa chất, cơ khí vận tải… Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright lưu ý nên tham vấn khu vực tư nhân vì doanh nghiệp nhà nước hiện chỉ đóng góp 30% vào GDP.

Nông sản Việt Nam và các sản phẩm chế biến nông sản chất lượng cao có thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới làm gì, ở đâu và khi nào để nông dân thực sự được hưởng lợi đổi đời? Tôi nói với anh Đoàn Nam Sinh: “Tui Hoàng Kim (đại học Nông Lâm) đang lắng nghe anh, nhưng thưa anh Đoàn Nam Sinh, thuốc anh đắng quá !”.

Đầu tư của nước ta đối với lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn chưa xứng tầm nên khoảng cách chênh lệch đời sống thành thị và nông thôn quá lớn. Tôi có một giấc mơ Hoa Lúa Hoa của Đất. Công việc này trao lại cho em ! Thực tiễn là thước đo chân lý. Giá trị cuộc sống CHÍ THIỆN. Mục đích sau cùng của DẠY và HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc. Hãy là chính mình !

Hoàng Kim

xem tiếp

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

PHỤNG SỰ XÃ HỘI

Đoàn Nam Sinh

Lý tưởng thanh niên phung sự xã hội đã xuất hiện từ lâu, theo dòng tây học, để vận động lớp trẻ hướng thiện, sống cao thượng nuôi chí lớn nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội mới dân chủ pháp trị.

Từ khi đặt chân vào trường cao đẳng, đại học các sinh viên được ghi danh vào tài nguyên nhân sự quốc gia. Các sinh viên ngành nông học tự nguyện tham gia vào các Câu lạc bộ như Câu Lạc Bộ Nông gia tương lai, ngoài việc học là tập họp rèn luyện các kỹ năng sống, văn thể mỹ và sinh hoạt cộng đồng.

Nội dung “phấn đấu, cống hiến” có khác với sau này ở chỗ không vì mục tiêu đấu tranh giai cấp, mà là mọi người, không có sự phân biệt nguồn gốc, thành phần,…

Sự học tập cũng vậy, khá là bình đẳng từ đồng phục, tác phong, tư cách,…cho đến việc thi cử, tuyển trạch, phân nhiệm sau khi hoàn tất học trình.

Mọi người đều nhận thức rằng sự cố gắng của bản thân sẽ được đãi ngộ và mình đã và đang được hưởng sự ưu đãi để học tập thành tài. Lớp chúng tôi lớn lên không mấy ai chấp nhận hành vi vụ lợi cá nhân mà tất cả đều nhằm phụng sự xã hội với tất cả máu nóng và sự trong trẻo.

Gần đây, những cuộc tranh luận về sản xuất và tiêu thụ “thực phẩm sạch” rộ lên chuyện đắt rẻ. Nhiều ý kiến cho rằng chi phí cao, thuế khóa nhiều nên cấu thành giá đã đắt. Dòng ý kiến cho rằng có thể sản xuất ra sản phẩm ngon và lành với giá rẻ hơn cách làm cẩu thả, bẩn thỉu cầu lợi nhanh, nhiều. Buộc lòng phải nhắc lại vấn đề phụng sự xã hội của những kỹ sư, kỹ thuật viên: Chỉ còn là con số không to lớn khi hầu hết thanh niên không hề có lý tưởng xã hội.

Bao lâu nay, Ngân hàng Thế giới tài trợ cho nghề nông các nơi trong khắp nước để phát triển các Hợp tác xã hoặc các tổ chức nông dân vài mươi nóc nhà, nhằm tổ chức lại sản xuất tốt hơn, rẻ hơn nhằm tăng lợi thế cạnh tranh, song song với việc phát triển HTX Cung ứng – Tiêu thụ để giảm bớt trung gian, giảm tệ đoan trục lợi, giúp nghề nông phát triển. Trong chuỗi công việc ấy, bóng dáng những nhà chuyên môn mờ khuất sau thế lực, đồng tiền.

Tất nhiên, con bệnh trầm kha độc quyền bè phái tư lợi và tham nhũng,…trong bộ máy chánh quyền, trong quản lý nghề nông, nghề buôn, vệ sinh,…đã biến mọi nỗ lực ấy thành vô ích.

Tệ trạng buôn lậu phân bón, thuốc phòng dịch, thực phẩm chăn nuôi,…dưới chiêu bài nhất đái- “một hành lang” của Trung quốc với hàng ngàn đường mòn cửu vạn, đã đưa vào sâu trong nội địa vô số hàng kém phẩm và độc chất. Kết hợp với giới thương buôn nhập hàng hóa cận hạn giá rẻ về thay tên đổi hiệu lừa người nông dân hám lợi, thật thà.

Việc buông lỏng quản lý này đã kéo dài rất nhiều năm. Chí ít là từ lúc ĐM làm thủ tướng. Trong hơn 20 năm ấy, nào là nghị quyết của BCT, đến các văn bản cao nhất của chính phủ về việc đưa Công nghệ sinh học vào sản xuất Nông nghiệp,…cũng lần lượt đưa vào lưu trữ, tốn kém hàng ngàn tỉ đồng. Riêng vụ này đã khiến nền sản xuất vốn dĩ chậm trễ lại càng lạc hậu hơn khu vực. Trong đó, vai trò của nhiều “nhà khoa học” thiếu tinh thần phụng sự xã hội đều có mặt, nhất là đang đóng vai trò lãnh đạo, quản lý các Bộ, Cục, Vụ, Viện, Trường, Trung tâm, Trạm trại liên quan.

Giống lúa, vốn nhập về từ IRRI- Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế không qua được các giống tên tuổi như Jasmine, Khaw Đak Mali,…trên thương trường thế giới, chỉ ăn gạo đồ chất lượng cao. Ta chỉ xuất khẩu được gạo sang thị trường nghèo, thiếu đói. Sau này lại nhập lúa lai của Tàu cộng, đề ra Nam sản Bắc tiêu.

Mới đây Bộ NN&PTNT buông tay thỏa hiệp rồi lại thỏa thuận để chúng nó “chỉ đạo” miền Tây sản xuất lúa gạo bán cho chúng, thật là đau vì Bộ càng không có tinh thần phụng sự, chỉ chăm lo cho ý đảng cầm quyền.

Giống cây trồng nào cũng phụ thuộc. Ngoài Bắc còn mỗi anh Mai Quang Vinh lo giống đậu tương, nay cũng khốn khổ vì Bộ cho nhập giống chuyển gien của TQ. Miền Nam chỉ một anh Hồ Quang Cua tự lo giống lúa, lo gạo sạch từ chính sức mình, chưa biết còn trụ được bao lâu trước làn sóng buôn dân bán nước này.

Giống, muôn đời là giải pháp có hiệu quả kinh tế cao nhất trong sản xuất. Hiện nay công nghệ sinh học đang góp sức lớn nhất để cải thiện giống, đồng thời cung cấp các giải pháp về sinh lý dinh dưỡng, phòng trừ bệnh hại,… Nhưng vấn đề đạo đức sinh học luôn được nêu ra, vì mục tiêu an toàn sinh học cho môi trường, xã hội. Nên mục tiêu xã hội luôn luôn là điều ray rứt của nhà chuyên môn.

Nay chính phủ trao lảy nõ vào tay giặc, chắc chắn họ biết, nhưng đã dám trao cả chăn nuôi, thủy hải sản, lâm sản,…thì nông sản chỉ còn chờ thời gian. Đó chính là thước đo tinh thần vì dân, phụng sự xã hội của các người trách nhiệm trên Bộ, trong Chính phủ  -Đảng cai trị này.

Cuối cùng, tôi muốn nói với các bạn trẻ, các anh chị sinh viên của tôi một đôi lời. Khi còn ở lớp, tôi từng hỏi rằng vì sao hôm qua các anh chị còn là thí sinh, khi có tên trong danh sách trúng tuyển người ta bắt đầu gọi là sinh viên ?

Hầu hết đều không tự nhận ra rằng mình đã là công dân, tức là đủ sự chín chắn trong mọi suy nghĩ và hành động, chịu trách nhiệm về mọi hành vi, và có trách nhiệm với xã hội. Trước nhất, tôi yêu cầu các anh chị phải nuôi dưỡng tinh thần phụng sự, không vụ lợi vị kỷ.

Sự vinh quang của người có học là được bà con bóc lột. Nếu không, thì học thức sẽ vô bổ, chẳng cần tích lũy kiến thức hay đào sâu suy nghĩ để tiêu hóa chúng làm gì. Tiếp theo là tìm mọi phương cách để đưa cái học đến được với thực tế cuộc sống.

Ngày trước, học văn ở lớp 9 có được học về tác phẩm của cụ Nguyễn Công Trứ, ông nhắc đến nhiệm vụ của kẻ sĩ/ người có học rằng phải “…đem tất cả sở tồn làm sở dụng…”

Không ít người thủ đắc được một số kiến văn đã giữ như bảo bối để kiếm sống. Không chịu học hỏi thêm để mở rộng tầm nhìn, thiếu sự chuyển hóa từ quá trình được đào tạo trong nhà trường thành quá trình tự đào tạo chính mình, thì không thể thành tài.

Hơn nữa, cần có sự phê phán để nhận ra cái đúng, cái tốt đẹp, cái hay cái tích cực để ủng hộ, theo đuổi, phát huy. Ngược lại, nhìn cho rõ trước sau những tệ trạng xã hội mà chống lại. Các anh chị có toàn quyền bày tỏ chính kiến và đấu tranh bất bạo động. Nhờ đó mà đạo đức cá nhân và xã hội mới có thể thăng tiến.

Xã hội dân sự/ nghề nghiệp rồi sẽ tái lập, chính quyền sẽ phải thay đổi triệt để mới thoát khỏi suy vong. Nhiệm vụ của mọi người dân vẫn là nhà kiến tạo, đổi mới xã hội vì chính cuộc sống của họ đang bị thách thức.

Tb. Nhân đây tôi xin trả lòi cho bạn @ Alon Trần, vì nội dung bạn đăt ra còn nhiều mảng, phải có thời gian dài để thảo luận. Có thể sẽ trao đi đổi lại nhiều hơn ở các bài sau.

DoanNamSinhlanguoithenao
Mời đọc lại phần 1: Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh. Tôi nói với anh Đoàn Nam Sinh: “Tui Hoàng Kim (đại học Nông Lâm) đang lắng nghe anh, nhưng thưa anh Đoàn Nam Sinh, thuốc anh đắng quá !”.

TRÒ CHUYỆN VỚI ANH ĐOÀN NAM SINH

Đoàn Nam Sinh là người thế nào?  hãy đọc “Nông sản Việt Nam” thì rõ. Ông là người tử tế và có góc nhìn khác. Nam Sinh Đoàn hơi giống Sơn Nam ông già Nam Bộ của miền Tây, nhưng ông này có pha một chút của Huỳnh Kim và Hoàng Kim (Đồng Tháp) lại có lẫn một chút của Trần Mạnh Hảo. ” Thế giới đã phải chịu tổn thất rất lớn không phải vì sự tàn ác của những người xấu mà vì sự im lặng của những người tốt ” Napoleon đã nói vậy và Nam Sinh Đoàn là người dám nói lên sự thật, dẫu là một góc nhìn khác. https://www.facebook.com/doannamsinh/posts/482057221893742 .

Đoàn Nam Sinh là ai?

Anh Nam Đoàn Sinh trong bài “NÔNG SẢN VIỆT NAM” đã tự giới thiệu:

Tôi là con một nông dân. Từ bé đã vọc đất, nghịch nước, đã phụ kéo dây tưới rau, thu hoạch hoa lợi đưa vào chợ. Lớn lên, tôi nghe lời cha học canh nông. Và suốt từ bấy đến giờ, tôi vẫn đùa như thiệt mình là người Việt gốc Sú/ chou, bắp cải.Toàn bộ công việc của đời tôi là làm gì cho nhà nông khấm khá hơn. Bước đầu là cơ giới hóa  canh tác, tự động hóa việc tưới. Sau này về trường còn chú ý đến chế biến, bao bì, vận xuất,… Cũng đã qua một thời xuất khẩu rau hoa, cà phê, cây cảnh đến một số thị trường, XHCN cũng từng, TB giẫy chết cũng biết …

Hai mươi lăm năm gần đây, tôi cùng đồng nghiệp chuyên tâm đưa tiến bộ về công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, trước nhất là giống và kỹ thuật nhân giống. Sau đó là dinh dưỡng, phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại theo hướng sinh học hữu cơ, thân thiện với môi trường. Nhìn chung, góc nào cũng từng lăn, từng trãi với nhà nông từ rau hoa hàng niên, lúa bắp đậu mè, cho đến đa niên như Tiêu trà cà phê, cả cây rừng,…

Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn”.

Đoàn Nam Sinh là con nông dân, lớn lên từ nghề nông, học nghề nông, từng trãi với nhà nông. Như vậy là rõ. Mục đích loạt bài này của anh là gì? Anh viết: “Nên việc dấn lên sự thật này, có thể tự làm khó cho mình, song (Đoàn Nam Sinh) phải gióng lên để chia sẻ với cộng đồng xã hội và bà con chân lấm tay bùn“. Như vậy cũng là thật rõ.

Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại

Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, tôi ước ao học được từ đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài, tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn và tập hợp lắng nghe kinh nghệm tầm nhìn của những người trong cuộc đương thời để vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ” 500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “90 năm Nông nghiệp miền Nam” nhằm tìm thấy trong sự rối loạn và góc khuất lịch sử dòng chủ lưu tiến hóa, chấn hưng văn hóa, giáo dục và nông nghiệp Việt.

Đối thoại với anh Đoàn Nam Sinh, anh nhận định tổng quát về  “Nông sản Việt Nam 70 năm nhìn lại“:

Nếu những năm ’60 miền Nam mới nhập DDT, Endrine, Mercaptan,…trừ sâu thì miền Bắc cũng bắt đầu “hóa học hóa” nông nghiệp. Nhà nông trong Nam làm quen với Urê, sulfate amonne -SA thì miền Bắc tiếp cận “Đạm một lá”, ‘đạm hai lá’. Khi cách mạng xanh ở Ấn Độ thành công, thì miền Bắc mới bắt đầu với Trân châu lùn, các giống lúa mang gien lùn. Miền Nam tiếp cận với IRRI qua các giống Thần Nông IR8, IR 20,… Nhưng tốc độ tiếp cận công nghệ và sản phẩm công nghệ cao ở phía  bắc phụ thuộc vào Liên Xô, Trung Quốc nên đã chậm dần đều.

Sau ngày thống nhất, hầu hết kỹ sư nông nghiệp từ miền Bắc không đọc được tên thuốc, tên phân hay các chếphẩm chăn nuôi. Kiến thức ở các trường Đại học cũng chậm lại chừng 20 năm do đủ thứ trì trệ. Do vậy, đến nay, từ chỗ ta đi trước các nước lân cận thì tụt hậu so với họ không dưới 50 năm. (Chú ý rằng chỉ 50 năm sau cùng của thế kỷ 20, loài người đã đi được đoạn đường bằng 5000 năm trước đã đi. Và trong vũ trụ thông tin, chỉ 13 năm qua thôi, ta đã chậm hơn các nước như Mã Lai, In đô, Thái Lan, Đài Loan,… bình quân chừng 50 năm phát triển kinh tếnông nghiệp).

Trách nhiệm này, trước hết thuộc về sự kiên trì “ngu lâu” nhằm chính trị hóa khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, kinh tế xã hội,…của giới chóp bu và sự kiên quyết lãnh đạo toàn dân toàn diện toàn thể…để giành quyền kiểm soátt và thao túng tài nguyên của đảng cầm quyền.

Từ khi ‘cởi trói’, ‘đổi mới’ để nhà nông tự lo, thì có gạo dư để bán, thịt đủ để ăn, vài ngành như cà phê, tiêu cũng có vẻ khởi sắc. Nhưng hãy nhìn đi, giá trị xuất khẩu của tất cả nông sản nước ta trong mấy mươi năm góp lại thì có nhân với trăm năm nữa cũng không huề vốn được với diện tích 7 triệu hec ta rừng đã và đang mất đi, đất và nước dùng trong nghề nông đang từng ngày suy kiệt.

Các đồng bằng Nam Bộ đã vắt kiệt khả năng tạo ra năng suất của đất, phân hóa học được dùng ngày càng nhiều. Sâu bệnh cỏ dại kháng thuốc tích lũy ngày càng đông, càng mạnh khiến nhà nông phải đổi thuốc tăng liều liên tục để giữ lấy mùa màng. Trên Tây nguyên, ngoài Tây Bắc và cả vùng Bắc và  Trung Bộ cũng không khác tý nào.

Việc cải thiện giống ra sao ? Miền Bắc dựa vào lúa lai của TQ, miền Trung có nhiều vùng cũng vậy. Trong Nam còn dựa được vào các giống lúa Thái như Khao Đak Mali, Ấn Độ như Jasmine 85 để xuất khẩu. Một số giống chọn lọc được như ST 5 đến ST 20, hay vài giống của Viện Ô Môn còn rất hẹp đường tiến thủ. Trong lúc các giống cơm cứng rẻ tiền vẫn chiếm phần lớn diện tích. Giống Ngô thì nhập từ Mỹ là chính, vài giống từ Thái, từ Đài Loan và Viện Ngô cải tiến rất leo heo trên các cánh đồng.  Các giống cây trồng khác từ cây ăn quả đến rau hoa đều di nhập vào hàng năm cả tỉ đô la. Con giống trong chăn nuôi cũng thế, nhất là sau khi để Trung Quốc ôm hết từ con giống đến thức ăn thì ngành chăn nuôi, chủ lực của Nông nghiệp Việt Nam teo dần.

Phân bón và thuốc men phần lớn đều nhập. Đạm Phú Mỹ chỉ được một phần nhỏ, còn lại toàn bộ nguyên liệu là nhập. Các nhà máy thuốc thú y cũng nhập cảng nguyên liệu, sang chai đóng gói, thế thôi.

Nhà nông chúng ta ngày nay bị một lúc nhiều vòi bạch tuộc nhắm vào. Các Công ty bán giống, bán vật tư nói chung là giàu lên, thiên đường của thuốc trừ sâu, trừ cỏ mà. Thứ đến là các đại lý, cùng một trust với chính quyền, cán bộ kỹ thuật ngành nông nghiệp- từ thanh tra cho đến bảo vệ thực vật, khuyến nông, khuyến đủ thứ…hè nhau vét của nông dân từ cái đáy khố rách. Thế mà khi nông sản tới mùa, đám thu mua từ các công ty còn đỗ ra đồng. Nào cân điêu, trừ thủy phần, tạp nhiễm, mua nợ,… cho đến các công ty nhà nước cũng điêu. Chúng chỉ ở xa, điều hành bằng chính sách giá cả.

Cũng tội nghiệp cho nông sản xứ ta, lúa mua về đủ cỡ hạt, độ ẩm,… Sấy xong xay ra nát tấm nhiều, chỉ bán cho khách nghèo, ăn đỡ đói. Chứ yêu cầu phẩm chất đồng đều cho dễ chế biến vận xuất thì đào đâu ra. Khách ăn gạo yêu cầu cao và khác xa cách làm của Việt Nam, nhưng chẳng ai định hướng cho sản xuất.

Đến chuyện xuất cảng, các hiệp hội nhà nước trá hình như VFA (gạo), Vicofa (cà phê) toàn quyền giao dịch, định giá, xây dựng cổng sau, sân sau,…miển trích nộp ngon lành cho “Chính phủ”, còn bọn nhà nông thì mặc mẹ chúng nó, và cấm chúng mày thành lập hiệp hội ngành nghề.

Hai năm trước, tôi nhận lời súp-pọt cho Đại học Kinh tế, thuộc dự án Brownee- thúc đẩy sản xuất kinh doanh cà phê. Tại sự kiện cà phê, có cả Nam của Vicofa, Vũ của Trung Nguyên,… tôi đã nói rõ (trích…) chỉ cần nhìn qua “lăng kính” cà phê: Hiệp hội là bọn hoạt đầu chính trị; Kinh doanh thì triết lý tởm lợm, tiền gom vào nhà; Chính quyền các cấp dây dưa với mafia; thử hỏi nông dân sẽ được gì? Cà phê lung tung giống, chất lượng rất ba vạ vì có quy trình nào chuẩn tắc đâu, ngứa đâu gãi đấy. Chẳng cần bồi bổ cho đất đai (của toàn dân -của đảng), chỉ chạy theo năng suất, mà người mua lại đòi chất lượng thì giết dân chứ còn gì.

Từ các Viện, Trường chỉ nghiên cứu vớ vẫn. Chứ chuyện làm ra một giống, xây dựng một quy trình chuẩn tại một vùng cụ thể để đáp ứng yêu cầu chất lượng ABC…thì cũng cần mươi năm đến vài mươi năm, chẳng ai làm. Doanh nghiệp như thằng cu Vũ cu Văn chả dại đầu tư, nên có gì xơi nấy, chẳng trách được.

Vấn đề vẫn là quyền tư hữu đất đai, quyền tự do lập hội còn xa với nhà nông, nên ngày nào còn tồn tại thể chế cũ rích và thối nát này thì nông dân còn khốn  đốn. Nói nhanh cho vuông.”

Những lời này anh Nam Sinh Đoàn đã chia sẽ với Song Pham, Chinh Pham, Xinh Pham, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Hồng Kiên, Phan Chi, Phan Tùng Giang, Hồng Chương Phan, Trung Quan Do, Quang Ham Ho, Quoc Trung, Nguyen Quoc, Tuan Nguyen Quoc, Võ Lão Nông, Võ Quốc Hội, Danh Vo Dinh

90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở

Chúng ta muốn đánh giá sâu ở khoảng thời gian 90 năm Viện KHKTNN miền Nam khi Viện Hàn lâm Khoa học Pháp thiết lập đầu tiên Viện Khảo cứu Nông nghiệp Đông Dương năm 1925 mà nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam vừa kỷ niệm 90 năm ngày thành lập, sau đó là nhìn rộng ra từ 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM  kể từ năm 1955 cho đến nay vừa qua 60 năm.

Lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt bắt đầu từ thế kỷ 15 cũng đồng thời với mốc thời gian mà Colombo khám phá ra châu Mỹ năm 1492. Trong chuỗi lịch sử trên 4000 năm của dân tộc Việt, được chia làm hai phần theo ý  kiến của nhà sử học giáo sư Đào Duy Anh (tại trích dẫn ở trang Dạo chơi non nước Việt): Phần đầu từ thời mở nước cho đến thế kỷ 15 là “Khắp vùng đồng bằng sông Hồng,/ vùng núi và trung du phía Bắc,/ không mẩu đất nào không lưu dấu tổ tiên/ để giành quyền sống với vạn vật”. Phần sau là quá trình Nam Tiến “Suốt dọc các vùng /từ duyên hải Bắc Trung Bộ,/ đến duyên hải Nam Trung Bộ,/ Tây Nguyên,/ Đông Nam Bộ,/ Đồng Bằng Sông Cửu Long, là sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên /để mở rộng hy vọng tương lai dân tộc”.

Và, chúng ta nhìn rộng ra một chút, so sánh với  500 năm nông nghiệp Brazil , Angkor nụ cười suy ngẫm để luận bàn về 90 năm nông nghiệp Việt Nam những  điều trăn trở và tìm đường sống của dân tộc (Đường sống Tonstoi, Nguyên Ngọc giới thiệu).Tư duy mới nông nghiệp cần làm gì và làm như thế nào để đời sống người dân tốt hơn?

Giáo sư Võ Tòng Xuân trong “Tâm thư”  gửi tân Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã viết: “Việt Nam muốn được cộng đồng thế giới đối xử như một quốc gia có nền kinh tế thị trường thật sự thì nên bỏ mức hạn điền và công nhận đất tư nhân, để người dân có toàn tâm đầu tư vào mảnh đất của mình sản xuất hiệu quả nhất”. “Vấn đề sơ hữu đất đai này là cốt lõi, chìa khóa cần giải quyết hàng đầu trước khi xử lý các vấn đề khác.” Giải pháp mà giáo sư Xuân đề xuất lợi và hại như thế nào, quản lý đất đai nên như thế nào  là tốt nhất?

Làm gì để phát huy nội lực và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp? Tái cơ cấu nông nghiệp như thế nào là tốt nhất? Trang thông tin Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam  có trao đổi: “Định hướng quan trọng hơn tốc độ” (Direction is somuch more important than speed).  “Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp” (Source: Africa’s future lies in agriculture – African leaders insist ). Đánh giá một đất nước, một dân tộc, một chính sách kinh tế xã hội cần nhìn thấu chất lượng cuộc sống của những người nghèo nhất xã hội là nông dân. Nếu họ chưa thay đổi được số phận thì đất nước đó, chính sách đầu tư đổi mới đó vẫn chưa đạt được hiệu quả đích thực. Nông nghiệp là giá đỡ của nền kinh tế ở châu Phi và Việt Nam, cần khai mở được tiềm lực nông nghiêp để chấn hưng kinh tế văn hóa xã hội. Châu Phi phải có một cách tiếp cận tốt hơn để chấm dứt nạn đói và nghèo đói ở đó. Hợp tác Nam Nam do FAO và Chính phủ Việt Nam khởi xướng đầu thế kỷ 21 có ý nghĩa chính trị kinh tế văn hóa xã hội to lớn. Thành tựu và bài học đạt được là tốt, có thể chia sẻ bảo tồn phát triển bền vững. Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp đã tái khẳng định tầm nhìn và ước muốn của bạn trong thay đổi phát triển. Sự cần thiết phải nắm lấy cơ hội, điều chỉnh mới và tăng tốc, đừng để cơ hội vuột đi. Việt Nam – châu Phi, nên đẩy mạnh hợp tác tư nhân, khai thác nhiều kênh hợp tác đầu tư hiệu quả, mà không chỉ trông chờ vào hợp tác song phương chính thức giữa hai chính phủ cho bảo tồn và phát triển. Con người (Man power) Vật liệu (Materials), Quản lý (Management) Cách làm (Method) Tiền (Money) cần hợp tác khai thông hiệu quả”.

“Phụng sự xã hội” là bài viết mới của anh Đoàn Nam Sinh quá đắng và thật khác so với ý của Phó Thủ tướng: Thu nhập bình quân hộ nông dân đã đạt 97 triệu đồng đăng trên báo Dân Trí ngày 25/8/2016 và gợi lại ý kiến của ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Hiện là lúc kinh tế Việt Nam đang cho thấy có những chuyển dịch các nguồn lực “Không qua 2 vấn đề khó khăn, Việt Nam sẽ thành nền kinh tế thất bại“. Trang VietNamNet ngày 29/8/2016 với tiêu đề Tầm nhìn quá xa, mục tiêu quá nhiều: Việt Nam thua cả châu Phi

Việt Nam để trở thành nước công nghiệp vào 2020 hầu hết các mục tiêu được thừa nhận rất khó đạt được. Chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam được xem là quá nhiều ưu tiên không có trọng điểm. Ông Dương Đình Giám, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viên trưởng Viện chính sách công nghiệp, Bộ Công thương đề xuất Việt Nam nên trở thành nước cung cấp các sản phẩm nông sản và nông sản chế biến chất lượng cao với một số thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới. Đồng thời, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan tới nông nghiệp với ưu tiên cơ khí nông nghiệp, cơ khí hóa chất, cơ khí vận tải… Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright lưu ý nên tham vấn khu vực tư nhân vì doanh nghiệp nhà nước hiện chỉ đóng góp 30% vào GDP.

Nông sản Việt Nam và các sản phẩm chế biến nông sản chất lượng cao có thương hiệu mạnh tầm khu vực và thế giới làm gì, ở đâu và khi nào để nông dân thực sự được hưởng lợi đổi đời?

Xin được tiếp tục nghe kiến giải của tác giả và  lắng nghe các ý kiến của thầy bạn nghề nông. Tôi nói với anh Đoàn Nam Sinh: “Tui Hoàng Kim (đại học Nông Lâm) đang lắng nghe anh, nhưng thưa anh Đoàn Nam Sinh, thuốc anh đắng quá !”

Hoàng Kim


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Advertisements

7 thoughts on “Con đường xanh ta đi

  1. NÔNG DÂN NGÀY NAY

    Nam Đoàn Sinh

    Cả bao năm qua, vài chục năm có lẻ, nghề nông nước ta vừa thoát khỏi tai ách kinh tế tập thể lại tiếp tục khoác lên vai gầy những tai ách mới có tên gọi mỹ miều là “kinh tế thị trường”.

    Hậu quả của cuộc cách mạng quan hệ sản xuất nhằm xác định ai thắng ai về năng suất lao động đã rõ, hợp tác xã đồng loạt tan hàng. Nhưng đất đai vẫn là sở hữu toàn dân, đất ruộng vẫn bị chia lại theo chủ nghĩa bình quân, bà con miền Bắc vẫn bỉ bôi: Mảnh đất chó nằm ló đuôi hay chỉ bằng cái lồn té ngửa, nay đang vận động dồn điền đổi thửa tốn kém không kể xiết.

    Nhưng đặc biệt là vẫn áp dụng việc hạn điền không quá 3 héc ta, trong lúc các quan lớn thì vô hạn như cựu chủ tịch nước TđL chiếm chừng hơn trăm héc làm trang trại vườn rừng trên Thang lang, Ba vì hay NmT chỉ hơn trăm héc cao su,… cựu chủ tịch 9 Cung Bình dương cũng vậy, làm riêng con đường nhựa hơn chục km để đi…làm rẫy.

    Ngày còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, các giảng sư đã dạy rằng tình trạng đất đai bị chia nhỏ của nước ta sẽ khó bề canh tác lớn. Nếu muốn làm ra sản phẩm đồng đều ắt phải tổ chức lại, trước nhất là đồng áng.

    Miền Bắc đã làm được một bước hợp tác hóa, nhưng tệ đoan và chậm tiến đã phá vỡ. Nam miền Trung và Nam bộ chưa bị cột vào lầm lỗi chết người ấy, nhưng cũng vất vả đói ăn cả chục năm, sai lầm đến nay vẫn còn di hại.

    II
    Về mối quan hệ chủ thợ trong sản xuất nông nghiệp, ngay đầu thế kỷ trước chủ điền phải lo toan mọi thứ, trai cày thợ cấy chỉ làm công. Địa chủ đã phát canh thu tô, nhưng phương thức sản xuất của tá điền vẫn lạc hậu, con trâu đi trước cái cày. Do vậy người cộng sản đã vận động đấu tranh giảm tô giảm tức, tập hợp được tầng lớp nông phu.

    Từ một cổ hai tròng, nông dân dần dần chấp nhận nhiều tròng mới, nào là chủ tịch, chủ nhiệm, nào là đảng, đoàn thể,… Bao nhiêu cặp mắt đều chăm vào hạt lúa, con mắm của họ. Hơn nữa, sinh mạng của họ là chủ lực đóng góp cho công cuộc đánh Pháp đuổi Nhật rồi kháng chiến trường kỳ.

    Chỉ đến khi cải cách ruộng đất, nông dân mới vỡ lỡ ra khẩu hiệu ruộng đất về tay dân cày chỉ là chiêu bài dẫn dụ nhất thời. Giới tinh hoa ở nông thôn đã bị đấu tố bắn giết hàng loạt. Tập thể hóa là công trình vĩ đại nhất phá tan văn hóa hương thôn, dĩ nông vi bản, ngàn đời. Từ đây, với sức tổ chức quản lý của trình độ tá điền, tài nguyên đất đai bị khai thác thảm hại, sản lượng thua sút xa ngày trước.

    Không thể nào thay đổi nghịch lý ấy, nếu không áp dụng khoa học kỹ thuật, nhưng cơ sở để tiếp thu và vận dụng thành tựu, tiến bộ ấy là tầng lớp chủ điền có kinh nghiệm thực tiễn đã biến mất, kéo lùi miền Bắc chậm trễ nhiều thế hệ. Mãi đến sau ’73 mới lác đác dăm Htx có được đội cơ giới, đi liền với tệ trạng trâu đen ăn cỏ trâu đỏ ăn gà. Còn toàn dân chỉ còn 5% diện tích để lây lất.

    Miền Nam Việt Nam đi theo một cách khác, đến giữa thập kỷ ’60 đã hoàn thành cơ giới hóa nông nghiệp. Đầu thập niên sau đó mới tiến hành trưng mua đất đai của địa chủ giao lại cho nông dân với chính sách hữu sản hóa tư liệu, người cày có ruộng, có máy móc, đủ trình độ sản xuất hàng hóa.

    Chính nhờ đó mà sau khi phá sản công cuộc cải tạo nông nghiệp, công thương nghiệp xhcn, cả nước đói khó liên miên, ăn độn mì hạt lòi con trê thì trung uong mới sáng suốt nhận định không đủ khả năng quản lý, cần phải giao khoán, thì khoán 10, khoán tới khâu sau cùng, rồi chỉ thị 100,…”đổi mới” một phát về ngay thời kỳ…trước cách mạng tháng tám.

    Nông dân được cởi trói do các bộ máy trí tuệ kiên trì xiềng xích, đặc biệt là miền Nam, đã tổ chức sản xuất một cách “tự phát” nên dân chúng ấm no, còn có thừa gạo thóc đem xuất cảng.
    Nghề nông luôn phụ thuộc vào công nghiệp, như phân thuốc, nước tưới cho trồng trọt; thức ăn, thuốc bệnh cho chăn nuôi, đôi khi cả cây con làm giống. Mặt khác, đầu ra phụ thuộc thương buôn. Thế thì cái thị trường định hướng xhcn chính là cái thúng úp voi, chả nên đầu nên đũa gì cả, trở thành cái rọ nhốt con heo nông dân.

    Gần đây, trungương có chuyện mời các chuyên gia đóng góp ý kiến cho BCT về giải pháp và đường hướng phát triển kinh tế, có chị Chi Lan nói chân tình về đồng bằng nam bắc trung đều thiếu nước do thủy điện, rằng năm tới gần nửa diện tích ĐB SCL sẽ ngập mặn, rằng nguy cơ dậm chân tại chỗ của ngành nông nghiệp đã hiển hiện rõ ràng,… Nhưng chẳng ma nào nói cho vuông, rằng nền nông nghiệp quốc gia này nếu còn cái đuôi xhcn kia, còn điều 4 trong hiến pháp thì còn… chết không kịp ngáp.

    Năm rồi ngập mặn, thấy đảng trưởng vào nam sờ cây lúa héo, rồi chỉ đạo ra sức khắc phục. Trong khi đó, chỉ cần anh khắc phục một phát là xong. Làm đếch gì có cái đuôi ấy, nó là cái bình phong che đậy cho chính phủ bất minh, liên kết với mafia đầu cơ chính trị trục lợi trong các tập đoàn tư lợi xấu xa, ăn bòn rút kiệt đất đai lẫn nông dân qua con heo con gà, con tôm hột lúa.

    Nó chính là cái cầu cái thang cho Tàu cộng chui sâu leo cao, khuynh đảo sản xuất, bóp chết nghề nông nước ta. Nó cũng chính là cửa mở cho kẻ địch bao vây thôn tính như tằm ăn rỗi cả nước đất biển rừng. Nó kẻ ơn kể nghĩa, dựng lên chuyện học tập noi gương…rất tốn kém nhưng chả mùi mẻ gì. Sự nghiệp tam nông, bốn nhà đều phá sản, cả câu chuyện nông thôn mới dớ dẩn cực cùng.

    Thị trường kiểu gì mà giá thuốc men cao chót vót so với Thái, Mã ? Rằng thuế phí cao, do tham nhũng, do quản lý yếu kém,… Thị trường sao xuất giá thấp hơn Miên, Miến ? Vì họ làm ăn chất lượng cao hơn, vì không bị nhà nước và các tổng công ty chặt cua cho ngân sách, lập sân sau cho người nhà.

    Thị trường mà cuốn tập cho con nông dân đi học cũng chịu thuế VAT, thị trường mà xăng dầu bơm nước tưới cây cũng chịu phí giao thông,…thì nhà nông hết chuyện.

    Người làm nông có trách nhiệm xã hội vì xã hội chăm lo việc học tập cho con cái họ có tương lai, chăm sóc cho sức khoẻ gia đình họ, bảo đảm an ninh và đời sống tinh thần phong phú, nhất là họ được quyền định giá sản phẩm của mình.

    Thế nhưng trẻ con phải đu dây qua suối, cơm không cá thịt, thiếu cả áo quần đi học đến quẩn trí tự tử,… Họ luôn sống trong môi trường đầy độc chất hóa học mà chăm sóc y tế rất sơ sài. An ninh nông thôn ngày càng bê bối, ma tuý, đá và cả SIDA về làng, đời sống tinh thần và tâm linh méo mó. Nhất là hàng hóa làm ra đã chốt giá đầu vào, nhưng đầu ra do thương lái có sự che chắn của quan chức, quyết định.

    Bao giờ nông dân có quyền lập hội, như hội sản xuất cà phê, hội sản xuất lúa gạo, hội nuôi gà, hội nuôi cua,…tức là hình thành xã hội nghề nghiệp- để họ tự bảo vệ quyền lợi, quyền làm người của họ thì nông nghiệp mới được gỡ rối, mới thực sự đóng góp vững chắc vào nền kinh tế nước nhà.

    III
    Khoảng cuối thế kỷ trước, đã dấy lên một thời kỳ kinh tế trang trại. Cũng có chủ trương, cũng ngân hàng góp vốn hoặc cho vay dễ dãi. Cty rồi câu lạc bộ trang trại bùng lên như nấm sau mưa. Đến nay, phần nhiều đã rã đám.

    Đó là những nhà ảo tưởng, nghĩ rằng mình có vốn, có kỹ thuật là có thể làm các farm như nước ngoài. Farm của Úc hay Mỹ rất khác, cách quản lý cao hơn xứ ta nhiều lớp đầu. Nhà nông – farmer xứ họ là triệu phú đô la, có học hành, ít nhất cũng phải qua các trường lớp quy định, khá hơn cả là kỹ sư kinh tế nông học, để tính toán được kế hoạch đầu tư trên quy mô hàng ngàn hec ta, hạch toán được lỗ lãi,…

    Nông gia là người khai thác kinh tế các quy luật sinh học trong nông học, khai thác các quy luật tự nhiên của đất, nước, ánh sáng, không khí,…vào cây trồng vật nuôi trên đồng đất mình quản lý, sao cho đầu tư tích cực sẽ mang lại đồng lãi tương xứng.

    Muốn trồng cây, nuôi con gì nhà nông liên hệ với nhà tư vấn. Nhà tư vấn đưa ra nhiều đề án cho nhà nông quyết định. Và tiếp theo là ký kết các hợp đồng làm đất, rải phân, gieo giống, tưới tiêu, bảo vệ mùa màng cho đến thu hoạch, chuyển về chế biến lưu kho,…với các cty chuyên nghiệp.

    Đến phiên đấu giá, cty tư vấn nhắc nhở tham gia. Được thì bán, hàng chuyển đi từ kho qua nhà buôn, tức thời chuyển tiền vào tài khoản người bán. Nhà nông thanh toán một loạt khoản nợ, còn lời bao nhiêu thì khai thuế, trả thuế và kết toán một vụ, một lứa.

    Nông dân “trang trại” của chúng ta chẳng ai chuyên cái gì mà cái gì cũng phải biết. Từ cày đất trộn phân, ủ phân gieo giống,…cho đến chạy chợ hàng ngày. Trong nhà đủ thứ máy, phân, thuốc,…đủ thứ nhà kho. Nên có nhà giáo dạy nông học nước ngoài đã nhận xét: Nông dân nước anh quá giỏi, cái gì cũng biết. Nhưng đó là phương cách lao động khổ sai của thời trung cổ bên Ai cập.

    Muốn chuyên nghiệp hóa, muốn sản phẩm tốt lành, bảo vệ môi trường,… thì phải tiến hành kinh tế thị trường đúng nghĩa. Mà làm như thế thì các chức quan bất tài vô tướng hiện nay có gì ăn mảnh nữa, đảng làm sao biết đường lãnh đạo cho thắng lợi quang vinh ? Thôi thì cứ ăn quẩn, từ từ khoai sẽ nhừ.

    IV

    Không ai nhận thức rõ cho bằng chính họ, những nông dân chân lấm tay bùn, quê mùa, thô mộc, chơn chất,…đã biến đổi hình tướng ra sao, sau vài ba thế hệ. Không còn những ánh mắt thật thà, nụ cười e thẹn, mà đổi lại là sự lanh lợi, dạn dĩ đến mức người ở phố thị cũng không hơn.

    Nhớ ngày xưa, nhà thơ Nguyễn Bính tiếc hương đồng gió nội đã bay bớt ít nhiều, sau khi nàng gái quê lên tỉnh chỉ một ngày. Còn với chủ trương nông thôn hóa thành thị và thành thị hóa nông thôn một cách chủ quan, méo mó suốt hàng chục năm, đã góp thêm mấy nhát dao băm vằm cái làng quê bao đời yên ả.

    Tôi về làng cổ của nhà thơ Quang Dũng, có trường tiểu học Đan Phượng. Những căn nhà xưa lát gạch hoa cổ nay đã thay nhà ống. Ao làng chỉ còn là vũng nước tù. Không ai trân quý những giá trị xưa ấy lại ca ngợi khu phố cổ ngoài kia, kỳ thực đã bị nông thôn hóa, lai tạp hóa từ thời tám hoánh.

    Người thôn dân thành thị dân nửa mùa, cũng giống như thủ đô còn có ngoại ô Hà Nhì, có đụn rơm với sân phơi lúa đỗ. Họ bị lưu manh hóa đúng ngữ nghĩa. Tương tự, gái điếm và bia ôm thủ đô không từ miền Tây, miền Trung ra đây thì là thôn nữ Đông hay Tây bắc bị dụ xuống. Đô thị được chủ tịch mang gỗ tạp về trồng đường phố, chẳng coi ai ra gì, thì các vùng nông thôn xa gần cũng loạn lên không kém.

    Không có tiếng nói phản biện của giới có học đủ trọng lượng, càng không có tiếng nói của xã hội công dân, của hội đoàn nghề nghiệp thì coi ai cũng như đám dân ngu, dân ngụ, phường manh lệ hết lượt. Hệ thống chính (cai) trị cứ tha hồ lạm quyền.

    V

    Nông dân ngày một tha hoá trên thửa đất của mình, bị lưu manh hóa trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hỏi còn có cái cọc cái neo nào giữ gìn cho họ chút nề nếp ? Đình chùa, miếu mạo cho đến nhà thờ không bày phá cũ xây mới thì cũng quốc doanh từng bước. Dòng họ không tranh chức tranh quyền thì cũng tị hiềm nhau bờ mương thửa đất.

    Nhìn thực tại thì làng có đường bê tông, dăm nhà cũng có kỹ sư, bác sỹ. Có ai tỉnh ra rằng lối đào tạo hàng ngang bỏ mặc chất lượng, không chịu trách nhiệm tương lai, hay việc hiện đại hóa nông thôn mới rất hình thức ấy, là một bài bản mị dân rồi tha hóa nông dân ?

    Mấy hôm rồi nghe bộ trưởng Cường nói về chuyển đổi nghề nghiệp lâu dài cho ngư dân 5 tỉnh mà cú tiết. Xuống dân mà xem, cả vài thế hệ còn chưa chuyển nổi huống hồ là một vài năm. Thanh niên nông thôn ra khỏi làng, học nghề, làm việc giản đơn mười năm cũng chẳng ra nghề ngỗng gì, chỉ bán sức lao động rẻ. Mười năm tới, hết sức, bệnh tật không bám trụ được phố thị, muốn về quê thì quê đâu nữa mà về.Nông sản là thế mạnh của nước ta trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới. Suốt ba thập kỷ vừa qua, từ sau “đổi mới”, nếu không nhờ vào nông sản, thì cũng không biết nước nhà đã ra sao.

    Ngày ấy, bí thư của tôi đến vận động tôi sang nắm một huyện mới, ý rằng nhờ sự lãnh đạo của trung ương mà ta chuyển từ thiếu ăn sang xuất khẩu được gạo, rằng huyện mới tuy chỉ có nông nghiệp, xa xôi nhưng có “tiềm năng về rừng”,… Sau buổi ấy tôi quay lưng đi luôn, quyết không làm thầy đứa dại chứ đừng hòng làm tớ. Vừa cướp công của nông dân còn hòng cướp của thiên nhiên.

    Chỉ vài năm sau, nhiễu nhương đã nên lề. Nào là tranh nhau nguồn nhập phân thuốc, vật tư,… tranh nhau quota xuất gạo, trái cây, tôm cá,…nên hệ thống vòi hút máu, mồ hôi nông dân từ “chính phủ, bộ ngành, tỉnh thành, quận huyện” cho đến xã thôn qua các đại lý, chủ chành đã cắm sâu chôn chặt nông dân với nợ nần.

    Nào là chuyện hiếu hỉ, tang ma; chuyện xóm giềng giỗ quảy; con đi học, đi làm; đến ông bà ốm đau, vợ chồng tật bệnh đều trông vào muà màng. …nếu thuận trời được mùa còn đỡ, cầm bằng thất bát thì chỉ còn nước cắm sổ đỏ cho đại lý. Chỉ vài lần, đại lý từ chối “đầu tư”, nghĩa là bán rẻ “quyền sử dụng”, chuyển sang mần mướn.

    Lẽ ra, nông dân được ưu tiên vay vốn qua ngân hàng nông nghiệp, nhưng không. Dễ gì họ đụng được đồng vốn ấy, vì ngân hàng kinh doanh đồng tiền. Tiền ấy sẽ ưu tiên cho chủ nợ, đại lý và chủ chành, vì dễ có mầu, dễ thu hồi.

    Chồng còn sức thì đi phụ hồ, phụ việc giản đơn; vợ phụ bán hàng, ô sin, chăm người ốm; con lớn chạy bằng tốt nghiệp vào công nhân, con nhỏ gửi ông bà. Hoàn cảnh ngặt hơn thì con gái lớn bỏ chồng đi bán phấn buôn hương khắp xứ, mat xa, mãi dâm,… Xa nữa thì sang Kam, Mã, Thái, Xin. Tệ nhất tận bên Tàu. Gái nhỏ gả cho Đài loan, Hàn quốc,… Nam chạy đi bán thận, bán mắt sang cho TQ,…

    Nông thôn không mấy nơi còn đờn ca tài tử, tuồng cải lương cũ rích hết người xem, bài vọng cổ mới lên toàn tô hồng giả dối, không thu hút. Chuyện hát hò, chuyện chia sẻ ngày càng lạc điệu, mơ hồ. Có phải vui chung buồn riêng nữa đâu, mà đó là hoàn cảnh éo le chung cho một vùng ngọt ngào hương lúa cùng cây trái.

    9/9/’16.

    Có một con số đáng buồn, 2020. Đó là năm chốt lại kế hoạch đưa nước ta căn bản thành một nước công nghiệp. Trong đó có chuyện rút tỉ lệ người sống nhờ nghề nông từ hơn 80% xuống còn 30% !!!

    Có phải là không tưởng chăng, trong khi chuẩn bị cho thiên niên kỷ mới, thì cuối thế kỷ 20 những nhà hoạch định cộng sản nửa mùa đã đặt ra một mốc chết tiệt, chỉ ngót 20 năm. Họ cho rằng một Trung quốc, Hàn quốc, và cả Nhật bản chỉ 20 năm là đủ để thoát nông, vươn lên thành rồng, thành hổ.

    Việc giảm giá nông sản, giảm giá sức lao động nông nghiệp,…là một chủ trương lớn. Vì có cố gắng lắm, với dăm sào ruộng đất, hai vợ chồng quần quật cũng không thể có dư được mỗi tháng lấy 3 triệu đồng. Nếu chỉ một người làm công nhân thì sẽ khá, hay một người vợ đi làm thuê vẫn đỡ khổ hơn. Sự hủy hoại nông thôn bắt đầu như thế, từ chuyển dịch sức lao động.

    Tiếc thay, chẳng một chút vốn công nghệ nào được người Việt làm chủ. Điều ấy, cho thấy bộ công thương chỉ có khả năng “săp xếp bộ máy” cho con ta thăng quan, con sếp tiến chức, chứ không thể sản xuất nổi con vít. Toàn thể “công nhân” chỉ bán sức lao động rẻ và bị ức hiếp, bóc lột vô chừng dưới tay chủ nước ngoài. Hy sinh nghề nông rồi đất nước được gì hơn ?

    Gần đây, một Gs Nhật được mời tư vấn, đã tỏ bày đề nghị cho kế hoạch kinh tế đến năm 2035 của Việt Nam, cũng chỉ là phát triển nông nghiệp hiện đại. Một nền nông nghiệp sinh thái, bảo vệ được môi sinh là không xa lạ với nhà nông chúng ta, nhưng để làm được việc dễ nhất – thực phẩm ngon lành, giá cả phải chăng – thì cũng phải dọn dẹp đi trong bộ máy này, đất nước này những thứ rác bẩn đã kể trước.

    Nguồn: FB Nam Đoàn Sinh
    (http://facebook.com/namdoansinh)

  2. Pingback: Thanh trà Thủy Biều cố đô Huế | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Con đường di sản thanh trà Huế | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Ngày chầm chậm yêu thương | Khát khao xanh

  5. Pingback: Chuyện đời giáo sư Lê Văn Tố | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Thăm ngôi nhà cũ của Darwin | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Để tôi nhặt lại | Khát khao xanh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s