Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi

ThayQuyennghenongcuachungtoi

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi trên 80 xuân mà vẫn phong độ, vui vẻ lội đồng và họp bạn nhà nông cùng thứ trưởng Lê Quốc Doanh, các anh Nguyễn Văn Bộ, Le Thanh Tung và nhiều thầy bạn khác ở miền Tây hôm nay.

oitiengvietnhubunvanhulua

Năm trước khi lội bùn cùng các bạn Sóc Trăng và Viện Lúa Ô Môn làm giống lúa siêu xanh (Green Super Rice) thích ứng với biến đổi khí hậu, chịu mặn hạn, năng suất cao, ngon cơm, tôi đã kể câu chuyện Từ Sắn Việt Nam tới Lúa Siêu Xanh. Tôi nói chuyện với anh Nam Sinh Đoàn về chuyện thầy Quyền nghề nông của chúng tôi, về bài học thâm canh cây lúa do thầy Quyền dạy và đã in thành sách “Thâm canh lúa ở Việt Nam”.

LuaSieuXanhVietNam1Từ hoa lúa đến hột lúa đến cây lúa đến hạt gạo đến nấu cơm và bát cơm là một quá trình thấm nhiều mồ hôi, công sức, trí tuệ, có tầm nhìn, sự đầu tư khoa học công nghệ và tấm lòng.  Hạt ngọc Việt thật giống như Tiếng Việt trong câu thơ của Lưu Quang Vũ “Ôi Tiếng Việt như bùn và như lụa. Óng tre ngà và mềm mại như tơ” “Ôi Tiếng Việt suốt đời ta mắc nợ. Quên nỗi mình, quên áo mặc cơm ăn. Trời xanh quá, môi tôi hồi hộp quá. Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình”. Nếu thay chữ “Tiếng Việt” bằng “hạt ngọc” hoặc “hạt ngọc Việt” thì thân phận của tiếng Việt cũng đúng hoàn toàn như thân phận cây lúa, người nông dân làm lúa, người nghiên cứu, giảng dạy và khuyến nông cây lúa. Sự nhọc nhằn nhiều hơn là vinh quang, có bùn và có lụa, nhưng đó chính lại là văn minh gốc và thế mạnh Việt Nam lan tỏa ra thế giớí.

thayquyennghenongcuachungtoi

Tôi khởi đầu cho các em sinh viên và thầy bạn nghe VỀ MIỀN TÂY hôm nay bằng câu chuyện người Thấy, trên 80 tuổi. Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi. Dạy học không chỉ là trao truyền tinh hoa kiến thức nghề nông mà thắp lên ngọn lửa! Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC CÂY LƯƠNG THỰC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

MaiVanQuyen

THẦY QUYỀN NGHỀ NÔNG CỦA CHÚNG TÔI

Giáo sư tiến sĩ Mai Văn Quyền là nhà khoa học xanh, chuyên gia hàng đầu Việt Nam về lĩnh vực thâm canh lúa, hệ thống nông nghiệp, sinh lý thực vật và quản lý bền vững đất nước cây trồng. Giáo sư là thầy hướng dẫn đã bảo vệ thành công của 12 tiến sĩ khoa học nông nghiệp, nhiều thạc sỹ, kỹ sư nông học, tác giả của sáu sách chuyên khảo và nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí, sách ở trong và ngoài nước. Giáo sư Mai Văn Quyền từ năm 2007 đến nay là cộng tác viên thường xuyên của đài VOV 2 phát thanh mỗi tuần 2 lần các nội dung về phân bón trong khuôn khổ hợp tác giữa Đài VOV2 với công ty Cổ phần phân bón Binh Điền. Giáo sư là chuyên gia của chương trình VTV “Đồng hành và chia sẻ” hàng tuần trả lời các câu hỏi của nông dân cả nước qua thư bạn nghe đài, là cộng tác viên của báo Nông nghiệp Việt Nam và các báo nông nghiệp, viết bài phổ biến khoa học trong lĩnh vực phân bón và cây trồng. Với cương vị là chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty Cổ phần phân bón Bình Điền, hàng năm tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật sử dụng phân bón cho nông dân Việt Nam, Campuchia, và Myanmar, qua đó tạo thêm điều kiện tăng thêm sự hiểu biết và thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân và chính phủ các nước với nhân dân và chính phủ Việt Nam. Thầy là tấm gương phúc hậu, minh triết, tận tụy trong nghiên cứu, giảng dạy nông học, đồng hành cùng nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam. Bước vào năm 2016, giáo sư Mai Văn Quyền sang tuổi 80 và Thầy vẫn đang sung sức đi tới trong tốp đầu của các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam thời hiện đại.

Ơn Thầy. Hoàng Kim, kính tặng thầy Mai Văn Quyền và những người Thầy quý mến. Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày, Trán tư lự, cha thường suy nghĩ,  Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất, Cái chết giằng cha ra khỏi tay con, Mắt cha lắng bao niềm ao ước, Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy, Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ, Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng Thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

Mai Văn Quyền gương sáng nghị lực

Quê hương và gia đình

Giáo sư Mai Văn Quyền sinh ngày 24 tháng 4 năm 1936, khai sinh ngày 16 tháng 3 năm 1938. Quê quán tại thôn Thủy Khê, xã Vĩnh Liêm, huyện Vĩnh Linh (sau giải phóng đổi thành xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh) tỉnh Quảng Trị, nguyên Phó Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, đã nghĩ hưu, hiện thường trú tại BA4-8, khu phố Cảnh viên 2, Đường C, phường Tân Phú, Phú Mỹ Hưng, Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh,

Giáo sư xuất thân trong một gia đình rất nghèo, bố mất sớm khi thầy mới sinh, chưa biết mặt. Mẹ là Trương Thị Iu, thời đánh Mỹ bị quản thúc tại gia vì trước có tham gia hội mẹ chiến sĩ thời chống Pháp, và có con ở miền Bắc. Mẹ lao động lam lũ để nuôi con, các anh chị đều làm thuê, làm mướn, mò cua bắt ốc, đánh cá sông và cá đồng. Bà mất do bom Napan của Mỹ ngày 12 tháng 8 âm lịch năm 1967, tại quê. Chị cả là Mai Thị Miến lấy chồng khác xã, đã mất cùng hai người con vào tháng 11 năm 1951, do bom Pháp ném trúng nhà. Chị thứ hai Mai Thị Lũy có hoạt động phụ nữ kháng Pháp, mất năm 1986. Anh thứ ba gia nhập bộ đội Vệ Quốc Đoàn, chống Pháp, bị thương, giải ngũ. Sau này bị Mỹ-Ngụy trả thù, bắt giam, tra tấn dã man. Sau khi được thả ra đã ra Bắc chữa bệnh và đã mất ngày 21 tháng 6, năm 1965 tại Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Anh thứ tư là Mai Phú, tham gia họat động bộ đội địa phương chống Pháp, khi Mỹ xâm lược miền Nam có tham gia đường dây họat động bí mật ở quê, sau bị lộ đã đưa gia đình ra sơ tán ở Tân Kỳ, Nghệ An, mất năm 1984 tại quê. Sau này, giáo sư đã tìm cách quy tập mộ của người anh ở Thanh Hóa về cùng một chỗ với bố, mẹ và người anh kế tại cồn Cát, thôn Thủy Khê, đồng thời hổ trợ để các cháu tu bổ phần mộ cho hai chị gái nằm ở hai quê khác nhau để tỏ lòng biết ơn bố mẹ sinh thành nuôi dưỡng và sự chăm sóc của các anh chị cho đến ngày người rời quê sống ở nơi xa.

Giáo sư có vợ là Lê Thị Thanh Vân, sinh năm 1943, người cùng quê và hai con trai Mai Việt Cường, sinh năm 1969 và Mai Trúc Quỳnh sinh năm 1972, đều thành đạt, có gia đình riêng, mỗi gia đình đều có hai con. Cô Lê Thị Thanh Vân là kỹ sư bảo vệ thực vật, tốt nghiệp đại học năm 1966, công tác tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, cô về hưu non tháng 5 năm 1990 do sức khỏe với thời gian công tác 24 năm 6 tháng khi cô đang còn ở IRRI.

Tuổi thơ gian khó

Giáo sư Mai Văn Quyền do xuất thân trong một gia đình rất nghèo, nên bản thân sớm biết quí trọng sản phẩm lao động và có tinh thần tự lực vươn lên, biết thông cảm và giàu lòng thương yêu những người nghèo khó. Tuổi thơ, khi các chị lần lượt đi lấy chồng, các anh đi làm thuê, ở nhà một mình, lúc 4-5 tuổi, cậu bé Mai Văn Quyền đã biết lao động  phụ mẹ như nuôi lợn, gà, mót củi, lấy nước, nấu ăn, dọn dẹp việc nhà. Do là con út, cả nhà không ai được đi học, nguyện vọng của mẹ muốn cho đi học chữ hán để sau này có thể đọc được văn tự, khế ước. Bảy tuổi cậu đi học một buổi còn một buổi làm các việc nhà. Không có đèn, cậu đã đốt củi hay dùng hạt bưởi xâu lại đốt lên xem chữ để học. Ấy vậy mà bài nào cũng thuộc, chữ viết đẹp, ngoan ngoãn, lễ phép nên luôn được thầy yêu, bạn mến. Do nhà quá nghèo nên việc học thường đứt đoạn.Tuy vậy, cậu học rất giỏi, khi bắt đầu đọc được khế ước, thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ, sách vỡ bị cháy, nên hiện không còn dấu tích học chữ nho. Trong những năm kháng Pháp, cậu được cử làm đội trưởng thiếu niên Tiền phong, hăng hái hoạt động giúp bộ đội nắm tin tức, hành tung của địch, giúp dân cất dấu lương thực và báo động khi có giặc về càn, đồng thơi vẫn theo học tiểu học, và tham gia dạy bình dân học vụ để xóa nạn mù chữ cho bà con trong thôn. Tuổi thơ gian khó và giàu ý chí tự lực vươn lên, nhờ vậy mà cậu khá thành thạo các việc nội trợ cũng như các hoạt động sản xuất đồng áng như gieo trồng chăm sóc khoai, sắn, xay lúa, giã gạo. Những công việc như vậy đã giúp rất nhiều khi thoát ly gia đình ra vùng tự do tự lập để theo học văn hóa.

Thoát ly gia đình

Từ năm 1950-51, giặc Pháp tăng cường càn quét vùng du kích, nên trường học luôn bị bắn phá, buộc phải dời rất nhiều chỗ, gây khó khăn cho học sinh theo học.Trước tình hình đó,Chính quyền cho phép ai có điều kiện thoát ly ra vùng tự do để học thì tìm cách để thoát ly. Một nhóm bạn học lớp Bốn cùng thôn, rủ nhau lên chiến khu Ba Lòng để xin giấy thông hành ra Thanh Nghệ Tịnh học.Vượt đường số Một, lánh qua các bót gác của Pháp để lên chiến khu, nhóm đã có giấy thông hành sau 4 ngày đi về. Tháng 11/1952 nhóm cùng nhau lên đường ra Thanh-Nghệ-Tịnh. Vượt đường rừng lên chiến khu Thủy Ba thì tối. Hôm sau đi đến chân núi U Bò (thuộc địa phận Quảng Bình) thì cũng vừa tối. Dừng lại, nấu ăn, ngủ lại, rạng sáng leo núi U-Bò, trưa lên đến đỉnh núi, tối xuống núi, đi qua xóm Cà, xóm Rẫy (nơi quân Pháp hay phục kích).Từ xóm Cà, xóm Rẫy đến Gia Hưng, tối đi đò dọc từ Gia Hưng ra Minh Cầm, Minh Lệ, Lệ Sơn thì trời sáng. Sau đó đi xe Gòn (Vagon tàu hỏa) ra Thanh Luyện của Hà Tĩnh, từ đó đi đò đến Đức Thọ,  Hà Tĩnh là vùng tự do của khu Bốn. Hành trang của cậu vẻn vẹn chỉ có chiếc balo cũ của người anh đi bộ đội tặng cho, cùng vài bộ áo quần cộc cũ kỹ, kèm theo chiếc áo tơi và bao gạo lên đường. Khi đến Đức Thọ, Hà Tĩnh, mặc dầu lạ lẫm nhưng nhóm vẫn phải chia nhau tự đi liên hệ nhà dân để xin ở trọ. Nhóm ba bạn thân được cho ở trong nhà anh chị tên là Túy, gia đình có nghề làm bún bán để sống. Không ai bảo cậu, cậu vẫn tự nguyện cùng thức khuya dậy sớm, giã gạo lấy bột để làm bún với gia chủ. Nhờ vậy mà anh chị Túy nuôi cả nhóm ăn ở mà không lấy tiền trọ. Sau vài tháng, nhóm được chuyển sang Nghệ An để theo học lớp 5 cho đến lớp 7. Thời gian này lúc đầu ở trọ, trong gia đình thầy giáo Võ Tá Phi. Thầy Phi người Hươngg Sơn, Hà Tĩnh, đã từng vào Huế học, và đã kết duyên với cô Tôn Nữ Hồng Điểm là em gái của cố Giáo sư Tôn Thất Tùng. Nhà ở của thầy Phi là một ga xép của ga tàu hỏa còn sót lại. Nhà chật nên chỉ nhận hai học trò trọ học. Cậu và một bạn cùng làng là Trần Viết An (đã mất ở Hà nội). Lúc đầu không có tiền trả tiền cơm, nhưng Thầy vẫn cho ở trọ. Cảm kích lòng tốt của Thầy, cậu đã tham gia tích cực vào làm các công việc lặt vặt như gánh nước, bổ củi và đặc biệt là tham gia trồng thuốc lá sợi vàng cùng gia đình để đỡ bớt gánh nặng cho Thầy. Vì gia đình thầy có cả thảy 6 người mà chỉ trông vào đồng lương ít ỏi của Thầy để sống đã là việc quá sức, nay lại nhận thêm 2 học sinh vùng Bình Trị Thiên cùng ở để cái khó lại chồng lên cái khó thì làm sao mà gánh nổi. Đất đai để trồng thuốc là khai thác hai mép đường sắt đã bị phá hoại, nhặt các thứ do trâu bò thải ra dọc bờ ruộng để làm phân. Cũng nhờ vậy mà cậu bé biết thêm nghề trồng và chế biến thuốc lá sợi vàng. Sau này cũng nhờ hoàn cảnh khó khăn đó mà Thầy đã giúp cậu và bạn cậu xin được học bỗng, mỗi tháng được 25 kg gạo. Có ngần ấy gạo, cộng thêm khoai sắn coi như nạn đói cả nhà đã bị đẩy lùi. Nhờ vậy cậu bé yên tâm tối tối xách chiếc đèn chai đến trường theo học, còn ban ngày lại theo nghề kinh doanh thuốc lá. Cuộc sống như vậy kéo dài hơn một năm thì cậu được chuyển đến trọ học ở xã Nam Trung, Nam Đàn. Nơi đó vốn là cơ sở cũ của trường Nguyễn Công Trứ đã tồn tại nhiều năm. Nhưng do máy bay của Pháp bắn phá ác liệt nên trường phải dời lên Bạch Ngọc để vừa lánh bom đạn, vừa mở rộng quy mô dạy và học cho nhiều thế hệ. Ở môi trường mới, câu cũng trải qua nhiều phương cách sống, vì có nhiều anh em học sinh Bình- Trị-Thiên chuyển đến. Lúc đầu ở theo nhóm, tự đi lấy củi, nấu nướng lấy ăn để học. Phương cách này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, sau đó phải phân tán nhỏ để ở trọ trong từng hộ khác nhau. Cậu được phân vào ở một gia đình có 9 người con gái. Người ta gọi đùa là chim cu rơi vào hũ nếp. Nhờ có nguồn vốn biết dân vận, nên ngay từ đầu cậu bé đã được ưu ái, chỗ ăn chỗ ở khá yên lành, gia chủ rất quý. Thế nhưng do ở xa trường nên về sau đành phải xa tổ ấm mới nhen nhóm để về chỗ ở mới gần trường hơn. Lần này cậu cũng may mắn được ở trọ trong một gia đình đơn chiếc, một mẹ, một con. Tên mẹ là Phạm Thị Em, nhưng thường được gọi tên là mẹ Sung. Người con duy nhất của mẹ lúc ấy đang ở trong quân ngũ. Vì vậy mẹ coi cậu như con đẻ và ở đây cậu bé phát huy hết khả năng dân vận. Cậu có số gạo học bỗng đã có, thay người con trai vắng nhà làm mọi việc, nên cuộc sống dù còn nhiều khó khăn nhưng tinh thần lại rất thoải mái. Mẹ yêu cậu như người con đẻ của mẹ. Ở đây cậu bé lại học thêm được nghề mới là chèo đò và trồng dâu nuôi tằm. Thời gian này cũng phải học ban đêm, nên ban ngày cậu có thời gian để cùng đi lao động trồng dâu, hái lá dâu nuôi tằm, cậu biết cả thuật ngữ tằm ăn lên hay tằm ăn rỗi, biết gột trứng tằm, biết cả kéo tơ để lấy nhộng chiên ăn. Vào tháng 7 năm 1954, khi hiệp nghị Giơneve về Việt Nam được ký, đất nước bị chia cắt làm hai miền. Cậu dù nhớ nhà, rất muốn về thăm gia đình, thăm người mẹ yêu thương của cậu, nhưng do một mặt không có tiền lộ phí, mặt khác cậu được giải thích là chỉ hai năm là có tổng tuyển cử, đất nước được thống nhất rồi về một thể. Vậy là cậu yên trí ở lại theo học cho hết cấp hai. Thế rồi cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất đã diễn ra.Trong thời gian ấy đã có quá nhiều sự kiện xảy ra. Cậu vừa là trưởng ban tổ chức đám cưới cho con trai của mẹ và nhiều anh bộ đội khác, lại tổ chức dạy bình dân học vụ. Nhưng đáng nhớ nhất, có lúc cười ra nước mắt là những năm cải cách ruộng đất, cậu cùng với một người bạn khác cùng quê là Nguyễn Tiến Bội, hiện đang sống ở Tân Bình, cùng nhau chịu trách nhiệm viết khẩu hiệu quảng bá cho chiến dịch giảm tô, cải cách ruộng đất, phát thanh, tổ chức cổ động. Trong đó có sự kiện đáng nhớ nhất là ban ngày đi học cùng bạn bè nhưng buổi tối thì đi gác để quản thúc chính người bạn học của mình. Vì gia đình của các bạn ấy bị quy là phú nông hay địa chủ. Biết là không hợp với đạo lý làm người, nhưng thuở ấy nếu không làm theo lệnh của Đội thì chính bản thân của cậu cũng bị quy là có tư tưởng chống đối và việc ghi vào lý lịch hay nặng hơn là đuổi học sẽ phải xảy ra. Kỹ niệm lớn nhất trong quảng đời trọ học ở Nam Trung, Nam Đàn là mọi người dù khi sung sướng hay lúc gian khổ, cậu cũng đều nhận được những lời khen, lời an ủi. Câu nói thường nghe nhất là “không biết ai có phúc đã đẻ ra cậu ấy mà ngoan thế”. Vì vậy ai cũng sẵn lòng mời cậu về ở với gia đình họ. Thế rồi đã đến lúc phải tạm rời cái nơi có nhiều kỹ niệm đáng nhớ ấy để đến Vinh, theo học cấp 3, đó là năm 1956. Thành phố Vinh cũng như nhiều thị xã khác phải tiêu thổ kháng chiến, nên nhiều nhà cửa, đền chùa bị phá hủy. Thành phố lúc ấy cũng chẳng khác nào nơi thôn quê. Các học sinh cũng phải được phân tán ở trong nhà dân. Cậu và một bạn lớn tưổi hơn, người cùng quê, tên là Lê Văn Tài (sau nhiều năm vắng tin nay được biết là đang còn sống ở gần khu Phong Nha –Kẻ Bàng, rất gần Đồng hới, 87 tuổi). Hai bạn được phân trọ học trong một gia đình nghèo có tên là ông bà Tân. Ở đây cậu cũng được nhận sự ân cần niềm nở của nhà chủ. Sau một học kỳ, khi nhà trường làm được những ngôi nhà lá thì tất cả các học sinh Trị-Thiên đều được dời về ở trong ký túc xá của trường. Lúc này Nhà nước có thực hiện chế độ trợ cấp cho học sinh miền Nam ăn học, Cậu và các bạn miền Nam khác được cấp áo quần, chăn màn và tiền ăn hàng tháng, nhờ vậy cuộc sống từ đó được cải thiện hơn. Giai đoạn này cậu được cử làm hiệu đoàn phó và cán sự đoàn thanh niên lao động và cũng được công nhận là đối tượng Đảng. Kết thúc cấp 3, bạn bè ai cũng háo hức chuẩn bị đi thi vào đại học. Lúc bấy trong trường, nhóm năm, nhóm ba truyền nhau câu nói: “Nhất Y, nhì Dược, Tạm được Bách khoa, Sư phạm loại ra, Nông Lâm bỏ xó” nên rất ít bạn ghi tên thi vào sư phạm và nông lâm. Vì vậy nhà trường kêu gọi các đoàn viên ghi tên vào hai trường này. Cậu là cán bộ đoàn lại là đối tượng đảng nên đã hăng hái ghi tên thi vào Đại Học Nông Lâm

Người nhà quê ra thủ đô

Hè 1959, kết thúc phổ thông, cậu chia tay thầy và bạn, tạm biệt mái trường đơn sơ nhưng thân yêu và chứa đầy kỹ niệm để ra Hà Nội. Cậu chưa biết thủ đô Hà Nội, chỉ nhớ chuyện ngay từ lúc cách mạng mới bùng nổ, lúc ấy ở quê cậu, vào năm 1945, trong một cuộc mít tinh, một vị lãnh đạo hô to: Tất cả hướng về thủ đô Hà Nội chào cờ, chào! Mọi người đều răm rắp làm theo. Nay nghe nói được đi Hà Nội thì hồi hộp lắm. Cả đoàn lớp 10 với hành trang đơn giản bước lên tàu. Ra Hà Nội cậu may mắn có người bạn thân cùng lớp tên là Phạm Ngọc Du, thường gọi là Du A, có bà chị làm bác sĩ ở bệnh viện Bạch Mai, được cấp một phòng nhỏ làm nhà ở, nên cả hai đều nương tựa vào chị trong thời gian chuẩn bị thi Đại học. Bước lên tàu là xa trường và xa gia đình mẹ Sung thương yêu cậu như người ruột thịt. Hoàn cảnh giao thông và kinh tế lúc ấy chỉ biết đi nhưng khó hẹn ngày về. Tàu bắt đầu chuyển bánh. Lần đầu tiên được bước lên tàu hỏa đi thủ đô nhưng thấy cũng chẳng khác cái xe gòn ngày từ quê nhà ra Hà Tĩnh là bao. Tuy vậy, cậu cũng cảm thấy lâng lâng trong lòng, thỏa sức ngắm nhìn thế giới đang lùi lại phía sau. Đến thủ đô Hà nội, đúng là Thủ đô, đẹp hơn thành phố Vinh, nơi cậu vừa tốt nghiệp phổ thông nhiều lắm. Thủ đô có có Hồ Tây rộng bao la, có hồ Hoàn Kiếm, có Vườn Bạch Thảo, có Công viên Bảy Mẫu, nhiều nhà xây và cây xanh mà thành phố Vinh không có. Đặc biệt là có tàu điện chạy kêu leng keng mà trẻ con nhảy lên rồi nhảy xuống vẫn an toàn. Cậu và bạn cậu cũng tranh thủ đi tàu điện cho biết. Nhảy tàu từ phố Bạch Mai, đi đến Hà Đông rồi quay lại vẫn chưa thấy chán. Sau khi thi xong, đôi bạn lại tiếp tục lội bộ quanh thủ đô ngày này qua ngày khác, ngắm nhìn thiên hạ và phong cảnh. Người thủ đô lúc ấy sao mà hiền hòa đến thế.

Hồi hộp và chờ đợi

Số may, nên bạn Du A cũng thi cùng trường, nhưng thi vào thủy sản. Nhờ vậy đi lại từ bệnh viện Bạch Mai đến Văn Điển đã có bạn đồng hành và nhờ vậy đôi chân vẫn đi mà không biết mỏi. Từ lúc đi thăm dò để biết trường đóng ở đâu, rồi đến ngày tựu trường nghe giáo sư Bùi Huy Đáp, hiệu trưởng trường nói chuyện với thí sinh, rồi hôm sau đến thi đều nhờ đôi chân vạn dặm. Thời ấy làm gì có xe bus, tắc xi hay xe ôm, mà dẫu có cũng không biết lấy tiền đâu mà chi trả. Vì vậy, lội bộ là phương pháp bền vững nhất. Thi xong là những ngày chờ đợi, mãi cho đến ngày công bố kết quả dán ở ngoài cổng trường. Chữ được đánh máy trên giấy pơlua, chữ tỏ chữ mờ, tìm mãi không thấy tên cho đến khi thấy tên Mai Văn Quyền xuất hiện ở một trang riêng nhưng không biết xếp vào khoa nào, lớp nào. Cuối cũng tìm gặp được thầy Toản trưởng phòng giáo vụ mới được thầy giải thích là đã đậu rồi, nhưng còn chờ xếp lớp. Dầu vậy hai bạn ra về với vẻ mặt hoan hỷ báo với chị Hữu chị ruột của bạn Du A biết là các em của chị đã đậu đại học. Sau này, những ngày chờ đợi kéo dài và cậu được chọn cho đi học ngoại ngữ để đi Liên Xô, nên danh sách đã gửi về trường chuyên tu ngoại ngữ ở Gia Thượng, Gia Lâm, Cậu cần liên hệ với trường để biết thông tin chi tiết. Thế là lại thêm một tin mừng nữa, nhưng phải tiếp tục chờ đợi. Vì trường ngoại ngữ khai giảng chậm hơn, nên cậu tìm về người quen ở Gia Lâm để tá túc.Về sau cậu được xếp vào lớp học tiếng Nga, nhưng ở trong một lớp không có bạn nào cùng trường cả. Cậu học khá, được cử làm lớp phó phụ trách sinh hoạt. Về sau cậu được kết nạp Đảng lớp đảng viên Hồ Chí Minh 6/1 tại trường. Lâu nay việc kết nạp đảng tại trường chuyên tu ngoại ngữ hiếm khi xảy ra, vì thời gian học ngắn, không đủ để qua thử thách. Nhưng với Cậu, nhờ có thầy Nguyễn Tài Đại, vốn có thời làm thư ký cho Bác Hồ, rồi làm bí thư Đảng ủy của trường Huỳnh Thúc Kháng, đang ra học tại trường Đảng nên có dịp ghé đến trường trình bày để kết nạp Đảng cho cậu Quyền, coi như trường Huỳnh Thúc Kháng nhờ trường Ngoại ngữ kết nạp thay vì trước đây chưa thu xếp kết nạp được. Dù học tốt, được kết nạp Đảng, nhưng Cậu phải ở lại nước vì sức khỏe không đủ do bị đau bào tử nặng. Thế là vui buồn lẫn lộn. Số là năm 1959, nhiều học sinh bị đau phổi, dạ dày hay đau ốm hơn vẫn được cử đi học nước ngoài nói là học vì Miền Nam ruột thịt. Nhưng một số khá lớn trong đó, giữa chừng phải về nước vì không chịu nổi thời tiết khắc nghiệt. Tạm biệt bạn bè để trở lại nơi thi vào để học. Trở về trường mới, bị lùi lại mộ năm nên học khóa 5, Cậu được cử làm lớp trưởng của lớp cây trồng 5, có 92 sinh viên. Lúc này cậu mang trong mình bệnh đau dạ dày mạn tính. Nhưng do bản chất cần cù, chịu khó và nhẫn nại, nên cậu vượt qua, vừa học giỏi, vừa lãnh đạo lớp xuất sắc nên năm nào cậu cũng làm lớp trưởng. Cũng tại đây, cậu bắt đầu phác đồ điều trị bệnh dạ dày cho riêng mình. Bác sĩ tây y nói bệnh dạ dày ít khi chữa lành ngoài phương pháp phẫu thuật, nhưng với phác đồ điều trị kiên trì sau 26 năm bệnh dày dày của cậu đã phải chấm dứt.

Trở thành cán bộ Nhà nước

Tháng 4 năm 1964 tốt nghiệp đại học loại xuất sắc (bằng đỏ). Cậu được thầy Đào Thế Tuấn nhận về làm việc tại phòng sinh lý cây trồng thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đóng ở Văn Điển, Hà Nội. Năm 1965, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, cơ quan sơ tán về nông thôn, nhưng người cán bộ trẻ mới ra trường này vẫn hăng hái tham gia các đề tài nghiên cứu bệnh lúa vàng lụi rồi nghiên cứu sinh lý ruộng lúa năng suất cao. Về sau khi thầy Uyển được cử đi nghiên cứu sinh năm 1967, cậu được giao nhiệm vụ phụ trách phòng sinh lý với chức danh phó phòng, đảm nhiệm công việc của thầy Đào Thế Tuấn phải làm trưởng đoàn đi chỉ đạo sản xuất ở Nghệ An. Cậu một mình vừa tổ chức sơ tán, vừa xây lán trại cho cán bộ ở, vừa liên hệ địa phương xin đất để làm thí nghiệm, vẫn đảm bảo công việc của Viện giao tốt đẹp. Dù gian khổ mấy cũng hoàn thành tốt công việc. Năm 1972, Quảng Trị được giải phóng một phần rộng lớn, Bộ định cử cậu đi tiếp quản Quảng Trị, nhưng lại có trường phái khác đề nghị cho cậu đi học tiếp, và ý tưởng này đã thắng. Bộ Nông nghiệp thông báo cho cậu được chuẩn bị thi tuyển sinh. Đây cũng là bước ngoặt, vì trước năm 1991, chỉ có tuyển không có thi (dựa vào lý lịch và một phần là học lực là chính, những bạn ở miền Nam thì phần lớn do Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam giới thiệu). Nhưng từ năm 1971 là phải thi tuyển. Đầu năm 1972, cậu thi trúng tuyển, đi học ngoại ngữ. Cậu học giỏi ngoại ngữ và cả chính trị vì giáo trình ngoại ngữ không khác với giáo trình mà cậu được học năm 1959-1960. Cuối khóa học, vào lúc thi cử, vợ và con đều nằm bệnh viện, một chốn ba nơi. Vợ ốm phải phẫu thuật ở bệnh viện K, con đau sốt cao ở tại Hà Đông mà nhà và việc làm thì ở Văn Điển. Tình cảnh ấy cậu nghĩ rằng giống như năm 1960, sẽ khó có thể xuất ngoại. Cậu nghĩ đi học thêm là tốt, nhưng sức khỏe của vợ con là quan trọng hơn. Dầu vậy, cậu vẫn thi tốt và mọi việc rồi cũng được thu xếp ổn thỏa. Cậu được cử đi học Liên Xô nhưng chưa tìm được thầy hướng dẫn, nên Mặt trận đề nghị chuyển qua Đông Âu, thế là lại chờ đợi và cuối cùng được báo là đi học ở Bungari. Đi học là có quyền lợi nên đáng lẽ năm 1973 cậu được nâng lương. (5 năm mới được xét nâng lương). Nhưng khốn nổi chỉ tiêu nâng lương chỉ có 3% mà đơn vị của cậu có nhiều người khóa 1 khóa 2 chưa được nâng lương. Nếu một lúc cậu nhận được hai vinh dự thì có người sẽ không được nâng lương. Thế là cậu nhường suất nâng lương cho người khác. Kết quả là sau 14 năm cậu mới được nâng một bậc lương. Khi sang nước bạn, do chỉ muốn được rảnh thì giờ để học nên cậu từ chối làm đoàn trưởng hay làm chi ủy. Cũng may là có nhiều người muốn làm các chức vụ ấy nên cậu dễ dàng thực hiện được nguyện vọng. Nhưng rồi đến năm cuối, do có nhiều sự việc xảy ra, nên cậu bị điều ra làm Bí thư. Thế là mọi việc đều được sắp xếp ổn thỏa.

Gương sáng Gia đình Nông nghiệp

Về nước, tiến sĩ Mai Văn Quyền lại tiếp tục công tác tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (Hà Nội). Từ tháng 11 năm 1979 được cử vào xây dựng cơ sở II tại TP Hồ Chí Minh cho đến tháng 1 năm 1981. Cũng cần nói thêm rằng trong khi tiến sĩ được cử dẫn một đoàn cán bộ khoa học gồm cả trồng trọt và chăn nuôi vào xây dựng cơ sở II ở 12 Nguyễn chí Thanh, năm 1959, thì tiến sĩ vừa đóng vai trò là cán bộ khoa học, vừa là Đảng Ủy Viên của Viện để tổ chức đơn vị Đảng cho cơ sở II, vì hai thầy Viện Phó đang còn ngoài Đảng. Nhiệm vụ nhóm cán bộ chuyên môn là phải đặt được các cơ sở nghiên cứu tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó nhóm trồng trọt tổ chức nghiên cứu lúa ngắn ngày tại xã Bình Mỹ, còn nhóm chăn nuôi tổ chức nghiên cứu tại các trại chăn nuôi của thành phố. Chỉ sau một năm nhóm đã thiết lập được những kết quả đủ để cho cơ sở II bắt đầu phát huy thanh thế của Viện ở phía Nam

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam cơ sở II sáp nhập với Viện Kỹ thuật Nông nghiệp miền Đông Nam Bộ thành Viện Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Thời gian này tiến sĩ Mai Văn Quyền làm trưởng phòng trồng trọt, đảng ủy viên, kiêm bí thư chi bộ. Từ 1981 đến tháng 4 năm 1988, trưởng phòng Sinh lý – Đất phân, Đảng Ủy viên, bí thư chi bộ khối Trồng trọt, tham gia giảng dạy đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ nông học. Năm 1991, tiến sĩ Mai Văn Quyền được phong học hàm phó giáo sư; Tháng 7 năm 1996, tiến sĩ Mai Văn Quyền được phong học hàm giáo sư. Từ tháng tư năm 1988 đến tháng 9 năm 1999 làm Phó Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Từ tháng 9 năm 1999 tham gia các dự án Quốc tế ngắn hạn, chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty phân bón Bình Điền cho đến nay.

Mai Văn Quyền quá trình học và làm

1956-1959: Học cấp Ba ở trường Huỳnh Thúc Kháng, Vinh

1959-1960: Học Ngoại ngữ Nga văn, Trường Đại học Ngoại ngữ, Gia Lâm, Hà Nội

1960-1964: Học Đại học, ngành cây trồng, tại Học Viện NL Gia Lâm, Hà Nội

1964-1967: Nghiên cứu sinh lý bệnh lúa vàng lụi tại các tỉnh phía Bắc. Kết quả nghiên cứu đã góp phần chứng minh bệnh vàng lụi không phải là bệnh sinh lý mà chỉ có các hiện tượng bên ngoài biểu hiện giống bệnh sinh lý. Kết luận này đã góp phần xây dựng phương pháp phòng trừ hợp lý và nhanh chóng dập tắt bệnh nguy hiễm này trên đồng ruộng các tỉnh phía Bắc. Sau đề tài bệnh lúa vàng lụi nối tiếp đến các đề tài khác như thâm canh lúa xuân, khảo nghiệm các cây trồng có nguồn gốc ôn đới, như lúa mì thấp cây, mạch ba gốc, hướng dương, củ cải đường, khoai tây, phương pháp phá miên trạng ở cây lúa….

1972-1973: và thi tuyển vào tháng 7/1973: Học ôn thi NCS tại Hà nội

1973-1974: Học ngoại ngữ tại Trường Đại học Ngoại ngữ Thanh Trì, Hà Nội

1975-6/1978: Nghiên cứu đặc điểm hoạt động quang hợp và khả năng di truyền của các giống ngô lá thẳng khi lai với các giống ngô lá thông thường (Gốc lá rộng). Đề tài nghiên cứu sinh.

1974- 6/1978: Học nghiên cứu sinh tại Bungaria; 6/1978:Tốt nghiệp Phó Tiến sĩ Sinh học về sinh lý cây trồng (nay là Tiến sĩ) tại Viện Sinh lý Thực vật PoPop, Xofia, Bungaria

2/1980-6/1980: Thực tập sinh nghiên cứu tính kháng phèn 2/1980-6/1980, tại IRRI

1979-1986: Nghiên cứu tính chống chịu phèn của lúa trên đất phèn ĐBSCL

1985-1988: Điều phối  viên chương trình nghiên cứu Mạng lưới Phân bón Quốc gia của Viện KHKTNNMN

  1. Học lớp hệ thống canh tác 6 tháng tại IRRI

1986-1999: Chủ trì các đề tài nghiên cứu Hệ thống Canh tác (HTCT) trên nền lúa.

1990-1999: Chủ nhiệm chương trình HTCT ở Đồng Tháp Mười trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện KHKTNNMN với quỹ viện trợ phát triển của Bỉ

1989-1990: Thực tập sinh (Visiting Scientist) tại IRRI (IRRI quy định tiêu chuẩn Post doc là từ khi có học vị tiến sĩ đến 10 năm, trên 10 năm được hưởng danh hiệu visiting scientist) 6/1990: Hoàn thành chương trình sau tiến sĩ (khách mời Visiting scientist) tại Viện Lúa IRRI

1991: được phong học hàm phó giáo sư

1991-1995: Điều phối viên chương trình nghiên cứu thâm canh lúa của Việt Nam

1991-1999: Thành viên ban điều phối màng lưới HTCT Việt Nam hợp tác với IDRC (do IDRC tài trợ).

1993-1996: Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu và phát triển HTCT trên đất dốc ở Miền Đông Nam Bộ trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện KHKTNNMN với trường Địa học KU-Leuven của Bỉ

4/1995: Cố vấn kỹ thuật đánh giá chương trình VIE/91/005 của Viện Lúa ĐBSCL do FAO tài trợ và IRRI cố vấn kỹ thuật.

12/1995: Cố vấn kỹ thuật đánh giá dự án công nghệ sau thu hoạch DANIDA tài trợ cho 4 tỉnh trồng lúa ở Việt Nam- Dự án tiền khả thi.

Tháng 7/1996: được phong học hàm giáo sư

1996-2002: Ủy viên HĐKH chuyên ngành trồng trọt và BVTV của Bộ NN&PTNT

1995-2012 Uỷ viên HĐKH chuyên ngành đất phân, đánh giá các sản phẩm phân bón do các công ty đăng ký khảo nghiệm

1996-2004: Ủy viên HĐKH (khách mời) của Viện Sinh học Nhiệt đới Việt Nam tại TP.HCM

1997: Phó chủ nhiệm chương trình đánh giá 10 năm khai thác Đồng Tháp 10, Đồng Bằng Sông Cửu Lông do Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt chủ trì.

10/1999: Cố vấn kỹ thuật đánh giá kết quả thực hiện dự án phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, Dự án GCP/VIE/021 AUL do Úc tài trợ

1999-2002: Điều phối viên chương trình công nghệ sau thu hoach lúa ở ĐBSCL do chính phủ Pháp tài trợ cho Viện CN sau thu hoạch TP. HCM

9/2001-12/2002: Nhóm trưởng cố vấn kỹ thuật cho chương trình phát triển nông thôn Quảng Ngãi do Úc tài trợ.

7/2002: Cố vấn kỹ thuật cho Công ty tư vấn Lương Nông Quốc tế tại ĐBSCL

Tháng 10-11/2004 Cố vấn kỹ thuật vế phát triển khuyến nông, dự án tiền khả thi cho chương trình phát triển nông thôn tại Thừa Thiên-Huế, do Phần Lan tài trợ

7/2008: Cố vấn kỹ thuật đánh giá giữa kỳ chương trình VE/002 giữa chính phủ Luxambua với Tỉnh Hậu Giang và Đại học Cần Thơ về sử dụng cây lục bình cho sản xuất Biogas, điện, phân bón, thức ăn cho cá, trồng nấm để góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân trong tỉnh. Năm 2009, tiếp tục được mới đánh giá cuối kỳ cũng dự án nói trên

1999- đến 2015 Chủ tịch Hội đồng cố vấn khoa học cho Công ty Phân bón Bình Điền

Mai Văn Quyền con người và tác phẩm

Giáo sư đã đào tạo 12 tiến sĩ khoa học nông nghiệp (đến tháng 6/2008) nhiều thạc sỹ, kỹ sư nông học, viết sáu sách chuyên khảo và nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí, sách ở trong và ngoài nước.Từ năm 2007-2014 cộng tác viên của đài VoV 2 phát thanh mỗi tuần 2 lần các nội dung về phân bón trong khuôn khổ hợp tác giữa Đài VOV2 với công ty Cổ phần phân bón Binh điền. Cũng từ năm 2007 là cộng tác viên cho tờ báo NNVN, viết bài phổ biến khoa học trong lĩnh vực phân bón và cây trồng. Hàng tuần trả lời các câu hỏi của nông dân cả nước qua thư bạn nghe đài thuộc chương trình Đồng hành và chia sẻ trong khuôn khổ hợp tác giữa đài VTV Cần Thơ với công ty Cổ phần phân bón Bình Điền. Với cương vị là chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty Cổ phần phân bón Bình điền, hàng năm tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật sử dụng phân bón cho nông dân Việt Nam, Campuchia, và Myanmar, qua đó tạo thêm điều kiện tăng thêm sự hiểu biết và thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân và chính phủ các nước với nhân dân và chính phủ Việt nam. Dù tuổi cao nhưng trong suốt thời gian còn làm việc ở cơ quan nhà nước hay lúc đã về hưu vẫn được mời làm chủ tịch chấm các luận án tiến sĩ, chủ tịch thẩm định hay nghiệm thu các đề tài, các dự án từ cấp Bộ đến cấp tỉnh, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển khoa học kỹ thuật, phổ biến khoa học kỹ thuật cho nông dân trong và ngoài nước.

Giáo sư Mai Văn Quyền được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 3, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng 3; Huy hiệu 40 năm tuổi đảng (2001); Huy hiệu 50 năm tuổi đảng (2011); Huy hiệu 55 tuổi đảng năm (2015); Huy hiệu vì sự nghiệp phát triển khoa học; Huy hiệu vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp; Huy tượng người bạn nhà nông; Hội viên danh dự Hội Nông dân Việt Nam; Hai năm chiến sĩ thi đua cấp Bộ; Nhiều năm chiến sĩ thi đua cấp Viện.

Giáo sư Mai Văn Quyền người thầy nghề nông phúc hậu, minh triết, tận tâm, nghị lực.

Hoàng Kim

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

 


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Advertisements

23 thoughts on “Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi

  1. Pingback: Thầy Xuân lúa và hệ canh tác | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Chuyện đời giáo sư Lê Văn Tố | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Con đường lúa gạo Việt Nam | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Con đường lúa gạo Việt Nam | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Gạo Việt chất lượng và thương hiệu | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Lương Định Của cuộc đời và sự nghiệp | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Lương Định Của quê hương và dòng họ | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Lương Định Của những năm tháng tuổi trẻ | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Lương Định Của luồng gió từ Hà Nội | Tình yêu cuộc sống

  10. Pingback: Lương Định Của nhà bác học nông dân | Tình yêu cuộc sống

  11. Pingback: Lương Định Của chính khách giữa lòng dân | Tình yêu cuộc sống

  12. Pingback: Thầy bạn và học trò Lương Định Của | Tình yêu cuộc sống

  13. Pingback: Ông bà Của cổ tích giữa đời thường | Tình yêu cuộc sống

  14. Pingback: Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh | Tình yêu cuộc sống

  15. Pingback: Kênh ông Kiệt giữa lòng dân | Tình yêu cuộc sống

  16. Pingback: Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi | Tình yêu cuộc sống

  17. Pingback: Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh | Tình yêu cuộc sống

  18. Pingback: Con đường xanh của chúng ta | Tình yêu cuộc sống

  19. Pingback: Về miền Tây | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Hoa lúa | Khát khao xanh

  21. Pingback: Để tôi nhặt lại | Khát khao xanh

  22. Pingback: OM lúa giống có Ngọc | Tình yêu cuộc sống

  23. Pingback: Viện Lúa 40 năm xây dựng phát triển | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s