Chuyện thầy Ngô Kế Sương

ThayNgoKeSuong

Thầy Ngô Kế Sương giữa những khuôn mặt sinh học thân thiết của nhiều lớp sinh viên.

ThayNgoKeSuong2Vợ chồng giáo sư Ngô Kế Sương là bố mẹ của nghệ sĩ nhân dân Hồng Vân, người có chùm ảnh đẹp và lời giới thiệu cực ngắn và thật hay:

ThayNgoKeSuong3a

Ba người đàn ông của cuộc đời tôi. Bố-Chồng-Con trai cảm ơn Ông Trời đã ban cho tôi ba con người này. Love them for life !!!! Trang FB của thầy rất tuyệt. Tôi thích nhất đôi lời thầy về trí tuệ và sức khỏe.

ThayNgoKeSuong3

Thầy khuyên hãy luôn tự chăm sóc sức khỏe bằng những thủ thuật đơn giản: Mật ong và chanh tươi là thần dược uống buổi sáng

Matongvachanhtuoi

Mỗi sáng thức giấc, hãy lấy một ly nước ấm, cho vào một thìa cà phê mật ong và nước cốt chanh tươi. Hòa tan nước cốt chanh và mật ong cùng nước ấm và thưởng thức. Áp dụng mỗi ngày bạn sẽ thấy làn da đẹp, và không còn lo lắng tăng cân. Uống trước khi ăn sáng từ 15 đến 30 phút sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất. (theo PHUNUTODAY).

BÍ QUYẾT MẠNH KHOẺ SỐNG LÂU

1. Mỗi ngày nhiều lượt chải đầu.
Lưu thông khí huyết, nhớ lâu, giảm phiền.
2. Thường xuyên xát huyệt dũng tuyền (giữa lòng bàn chân).
Chữa được nhiều bệnh càng yên nỗi lòng.
3. Nuốt nước bọt tưởng lạ lùng.
Nước thần tiêu độc diệt trùng thật hay.
4. Xoa bụng dưới rốn hàng ngày.
Tiểu đường, tim mạch,dạ dày bớt đau.
5. Hai hàm răng đánh vào nhau.
Chắc cơ răng khoẻ dài lâu đẹp bền.
6. Muốn thẳng cột sống dướn mình.
Tinh thần phấn chấn, ngoại hình đẹp thêm.
7. Kéo tai nhiều lượt mỗi bên,
Vòng tay sang kéo lên đỉnh đầu.
8. Co thắt hậu môn giảm đau,
Bệnh trĩ viêm ruột nhắc nhau nên làm.

SÁNG XOA MẶT, TỐI XOA CHÂN.

Ngũ dậy khoan xuống đất, xoa nóng hai bàn tay
Rồi úp lên hai mắt, lên mũi lên vành tai.
Lại tiếp tục xoa tay, rồi xoa đều gáy, mặt.
Ấn ngón tay day day. Những chỗ đau liên tục.
Thường ngày xoa quanh mắt, hai bên mũi, sau tai.
Gõ ngón tay giữa trán, vài mươi cái mới thôi.
Trước khi ngủ rửa chân, lau khô cho sạch,
Áp bàn chân với nhau, rồi cứ xoa liên tục
Rồi tiếp thay đổi lại, Mu bàn chân với lòng,
Rồi ngược lại xoa mãi. Khoảng mười phút là xong.
Đơn giản mà hiệu nghiệm,
Hạ huyết áp khoẻ tim,
Dễ ngũ , giảm đi tiểu,
Mười ngày sức khoẻ lên.
(File này do thày Bùi Quang Xuân, ĐNTU gửi).

KHÔNG CÒN SỢ ĐAU KHỚP
kể cả khi thay đổi thời tiết với công thức của người Nhật Bản

Cơ thể mệt mỏi triền miên và gặp nhiều vấn đề về xương khớp sẽ gây ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng cuộc sống, khó khăn trong sinh hoạt. Mặc dù đã tìm nhiều cách, bổ sung nhiều loại thực phẩm nhưng vẫn không đỡ, hãy đọc ngay bài viết này.

Trong bài viết này, chúng tôi xin gửi đến các bạn công thức lâu đời của các samurai Nhật Bản. Công thức này giúp cơ thể có được nhiều loại vitamin, protein và canxi giúp cơ thể thoát khỏi mệt mỏi và ổn định về sức khỏe xương khớp, theo Healthy Food Star.
Thành phần cần thiết:

Nguyên liệu
bao gồm trứng và giấm táo.
– 150ml giấm táo
– 1 quả trứng gà tươi

Thực hiện:
Bước 1: Rửa quả trứng thật sạch rồi cho vào trong một chiếc cốc thủy tinh.
Bước 2: Đổ 150ml giấm táo vào trong cốc có chứa quả trứng giữ nguyên giấm và trứng trong cốc ở nơi thoáng mát trong vòng 1 tuần. Lưu ý, sử dụng đúng loại giấm táo hữu cơ (có bán tại các siêu thị, 01 chai giấm táo khoảng 500 ml bán trong siêu thị có thể dùng để ngâm 4 quả trứng).
Bước 3: Sau 1 tuần, vỏ của quả trứng sẽ bị hòa tan hoàn toàn trong hỗn hợp giấm táo.

Tuy nhiên, lớp màng trắng bên trong quả trứng vẫn giữ cho lòng đỏ không bị tràn ra ngoài. Hãy dùng dụng cụ phá bỏ lớp màng và khuấy đều hỗn hợp trứng và giấm táo.
Như vậy là đã có được hỗn hợp tăng cường canxi, protein giúp cơ thể luôn khỏe mạnh và xương khớp luôn vững chắc.

Cách dùng:
Nên sử dụng hỗn hợp này 3 lần/ ngày, mỗi lần 10ml :
10ml hỗn hợp pha vào một cốc nước ấm (chừng 200ml), khuấy đều rồi uống trước 3 bữa ăn chừng 30 phút (nếu khó uống thì cho thêm chút mật ong hoặc đường vừa đủ ngọt rồi uống).
Thực hiện đến khi hỗn hợp vừa hết thì kết thúc một liệu trình. Bạn sẽ cảm nhận được cơ thể mình khỏe lên trông thấy. Sau đó, bạn nghỉ 1 tháng rồi tiếp tục liệu trình thứ 2 nếu muốn.

Chúc sống vui khỏe.
(Theo Mogo Khuyên)
dauchanthoigian

NGÔ KẾ SƯƠNG DẤU CHÂN THỜI GIAN

Giáo sư tiến sĩ Ngô Kế Sương (Ngoke Suong – người thứ ba bên trái qua hàng đứng ở trong ảnh) và các bạn lớp 4 trường Internat Moskva gặp nhau ngày 15-10-2016 ở nhà hàng ẩm thực Nga 60 Ngọc Khánh Hà Nội, ảnh Phan Chi Câu chuyện vui có Đôi lời của thầy Ngô Kế Sương: “Vấn đề của bạn là gì? Bạn không phán xét bất kỳ ai vì bạn biết rằng mỗi người đều có câu chuyện riêng của mình. Đó là lí do tại sao bạn thấy được điều tốt ở tất cả mọi người và không tin rằng bất kỳ ai có thể làm điều gì xấu xa một cách có chủ ý”.

Câu chuyện này thoạt đầu là chuyện đời thường nhưng thầy ơi, thầy đang là nhân chứng của một câu chuyện thú vị mà em biết hiện giờ chưa thể nói rõ nhưng em tin là em sẽ kể đúng sự thật mà thầy biết rõ những người trong cuộc, và truyện này là truyện Việt,

Thầy Ngoke Suong là người Thầy sinh hóa sinh lý của chúng em và nhiều thế hệ sinh viên. Thầy thuộc thế hệ chuyên gia sinh học đầu tiên của nước Việt Nam mới, được đào tạo tại Liên Xô. Thầy dạy khối sinh viên Trồng trọt 2 Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh là lứa tuyển sinh thứ 2 sau ngày Việt Nam thống nhất cùng những danh sư như thầy Đào Thế Tuấn, Mai Văn Quyền, Trịnh Xuân Vũ, Lê Văn Tố, Nguyễn Văn Uyển, Lê Doãn Diên, Chu Phạm Ngọc Sơn. …

2017-10-25_NgoKeSuong

Chúc mừng thầy Ngô Kế Sương.

2017-10-25_NgoKe Suong— với Bui Minh Tri, To Le Van and 8 others.

Bài viết mới

 

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Vị tướng của lòng dân

TuongGiapansoChinhTrungTướng Giáp là ẩn số Chính Trung. Cách mạng là sửa lại cho đúng để hợp thời thế. Chí Thiện là Chính Trung dĩ bất biến ứng vạn biến. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491– 1585) trong Trung Tân quán bi ký, viết năm 1543 có nói: Vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung. Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện (xem thêm: Ngày xuân đọc Trạng Trình). Tướng Giáp biết nhiều, tâm đắc với “dĩ công vi thượng”. Tướng Giáp hiểu rõ Chính Trung là Chí Thiện của Hồ Chí Minh.

Tướng Giáp ba lần kiến nghị không nên khai thác bauxite Tây Nguyên. Thư thứ nhất kính gửi đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/1/2009; Thư thứ hai là điện thư gửi Hội thảo bauxite Tây Nguyên. Bức điện thư này được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đọc tại hội thảo ngày 9/4/2009; Thư thứ ba kính gửi Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, đồng kính gửi Quốc hội và Chính phủ ngày 20/5/2009. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết thư gửi đúng nơi, đúng lúc, viết đúng chính kiến và lương tâm của mình, với văn phong chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.Tư liệu này hiện đã thuộc về sự thật lịch sử, lưu để đọc lại và suy ngẫm.

Tướng Giáp hồng phúc dân tộc Việt.

Hoàng Kim

(*) chùm ảnh tư liệu về đại tướng Võ Nguyên Giáp.

VoNguyenGiapthu1bauxiteTayNguyen

“Hà Nội ngày 5 tháng 1 năm 2009

Kính gửi: Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ

Thời gian vừa qua báo chí đăng nhiều bài và ý kiến của các nhà khoa học và hoạt động xã hội cảnh báo nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội của các dự án khai thác bô-xít trên Tây Nguyên.

Đầu tháng 11-2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị đến lãnh đạo Đảng và Nhà nước đề nghị cho dừng các dự án này để nghiên cứu, xem xét lại, cân nhắc lợi hại một cách toàn diện.

Tuy nhiên, các dự án này vẫn đang được triển khai, trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án).

Cần nhắc lại rằng, đầu những năm 1980 Chính phủ đã đưa chương trình khảo sát khai thác bô-xít trên Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON. Tôi được phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo chương trình này. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè…) trên Tây Nguyên.

Ý kiến phản biện của các nhà khoa học nước ta vừa qua phân tích trên nhiều phương diện, trong các điều kiện kinh tế kỹ thuật hiện nay cũng đi tới kết luận như các nhà khoa học Liên Xô cách đây 20 năm. Với những cảnh báo nghiêm trọng như vậy, chúng ta cần xem xét các dự án này một cách khách quan – cần đánh giá lại quy hoạch khai thác bô-xít trên Tây Nguyên đến 2025.

Về quy mô, quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên từ nay đến 2025 là một kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đô-la Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta.

Vì vậy nên mời thêm các tư vấn chuyên ngành quốc tế có nhiều kinh nghiệm phối hợp với các nhà khoa học và nhà quản lý của nước ta cùng thẩm định cho khách quan, sau đó báo cáo Bộ Chính trị và Quốc hội xem xét, cân nhắc kỹ càng, không thể chỉ đưa vào đề xuất của các Bộ hay tập đoàn kinh tế.

Vừa qua đồng chí Thủ tướng đã quyết định bác dự án nhà máy thép lớn của Hàn Quốc tại vịnh Vân Phong, khẳng định quyết tâm của Chính phủ phát triển kinh tế bền vững, được đông đảo nhân dân và các nhà khoa học đồng tình, ủng hộ.

Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định.

Chúc đồng chí mạnh khỏe,

Võ Nguyên Giáp

VoNguyenGiapthu2bauxiteTayNguyen

“Tôi được biết, hôm nay có cuộc Hội thảo về vấn đề bô-xít ở Tây Nguyên do đồng chí Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì.

Tôi cho đây là một vấn đề cực kỳ hệ trọng. Vấn đề này trước đây tôi đã từng nghiên cứu, tôi đã có thư gửi đồng chí Thủ tướng nhưng chưa được trả lời.

Tại cuộc Hội thảo quan trọng này, tôi mong các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội hãy nêu cao trách nhiệm trước dân tộc thảo luận một cách khoa học, nghiêm túc, thẳng thắn để kiến nghị với Đảng và Nhà nước một chủ trương đúng đắn về vấn đề bô-xít Tây Nguyên mà tôi cho là không nên khai thác.

Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.

Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Hà Nội, ngày 09 tháng 4 năm 2009

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 

VoNguyenGiapthu3abauxiteTayNguyen

VoNguyenGiapthu3bbauxiteTayNguyen

Kính gửi : Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị,

Đồng kính gửi : Quốc hội và Chính phủ

Thời gian qua, tôi đã có thư gửi đồng chí Thủ tướng và điện gửi cuộc Hội thảo khoa học về vấn đề khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Vừa rồi, Văn phòng Trung ương theo chỉ đạo của đồng chí Thường trực Ban bí thư đã gửi cho tôi thông báo kết luận của Bộ Chính trị. Tôi đã đọc kỹ bản kết luận, xin có kiến nghị tiếp với Bộ Chính trị và lần này kiến nghị đến Ban Chấp hành Trung ương, đến Quốc hội và Chính phủ :

1. Tôi hoan nghênh Bộ Chính trị đã lắng nghe ý kiến của các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng và các nhà khoa học, đã chủ trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch, nêu lên một số yêu cầu quan trọng như : Bảo đảm hiệu quả kinh tế, xã hội, sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại của thế giới, giải quyết nguồn điện, nguồn nước ; đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh quốc phòng cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường sinh thái, môi trường văn hoá, chưa chủ trương bán cổ phần cho tập thể và cá nhân người nước ngoài v.v… Và Bộ Chính trị đã thấy tầm quan trọng của chủ trương khai thác bô xít ở Tây Nguyên nên quyết định báo cáo Trung ương và Quốc hội.

2. Tuy nhiên kết luận của Bộ Chính trị nói chung là vẫn tiếp tục tiến hành khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Trước mắt làm thí điểm ở Tân Rai – Lâm Đồng, xem xét đánh giá lại Dự án Nhân Cơ Đắc Nông, rồi từng bước triển khai theo quy hoạch.

Vì vậy, tôi xin kiến nghị cụ thể như sau :

Chủ trương khai thác chế biến bô xít ở Tây Nguyên là một vấn đề hết sức hệ trọng sẽ có tác động lớn đến môi trường sinh thái, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đến phát triển ổn định, bền vững của đất nước. Nhiều vấn đề mà Bộ Chính trị nêu lên cho đến nay chưa được nghiên cứu phân tích đánh giá toàn diện đầy đủ và chưa có phương án giải quyết rõ ràng, còn nhiều vấn đề bất cập. Do đó, tôi đề nghị dừng các dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, kể cả khai thác thí điểm. Nên giao cho Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tập hợp những cán bộ khoa học có liên quan tiến hành một chương trình khoa học nghiên cứu phát triển tổng thể kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên, có tính đến quan hệ với vùng Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, trong đó tập trung nghiên cứu vấn đề bô xít Tây Nguyên một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề mà Bộ Chính trị đã nêu lên. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ấy, Trung ương, Quốc hội mới cân nhắc có nên khai thác hay không nên khai thác. Tôi thiên về chủ trương hiện nay không nên khai thác, chờ khi khoa học phát triển, có công nghệ mới hiện đại hơn sẽ tiết kiệm tài nguyên, hiệu quả cao hơn, an toàn hơn. Hiện nay chưa khai thác bô xít ở Tây Nguyên, dành tài nguyên đó cho thế hệ mai sau và không khai thác bô xít thì chúng ta vẫn tiến hành được công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Tôi đề nghị Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội hãy nêu cao trách nhiệm to lớn của toàn Đảng, toàn dân thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách dân chủ, khoa học. Chỉ quyết định khi đã biết được kết quả nghiên cứu phân tích đầy đủ, toàn diện các vấn đề đặt ra, lắng nghe ý kiến rộng rãi của đông đảo các nhà khoa học, của cán bộ và nhân dân hơn nữa. Làm như vậy là để tránh được quyết định sai lầm, gây nên tai hoạ lớn cho đất nước.

Mong Trung ương và Quốc hội phát huy dân chủ, bàn bạc kỹ lưỡng, có quyết định đúng đắn.

Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Chào thân ái,

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2009

Võ Nguyên Giáp

 

Ghi thêm

GSTranTheThong1ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Hoàng Kim cám ơn anh Khai Vutrong và xin chia sẻ bài viết TÔI ĐÃ TỪNG LÀ VẬT CÁ ĐỘ nhân ngày luật sư Việt Nam 10 tháng 10. Đây là tư liệu quý về Tư pháp Việt Nam và chuyện liên quan về cụ Vũ Trọng Khánh, người Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tướng Giáp ẩn số Chính Trung thuở làm Phó Thủ tướng phụ trách Khoa học kỹ thuật kiêm kế hoạch hóa gia đình thường đi miền Tây nhiều lần cùng giáo sư Trần Thế Thông và PGS Vũ Trọng Khải. Tướng Giáp có tặng cho Giáo sư Trần Thế Thông tài liệu “Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ sống mãi”. Tướng Giáp hẵn thấu hiểu Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và những biến đổi theo chiều hướng nào sau này và vì sao cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp nhận làm biểu tượng giai đoạn cuối để thuận theo xu thế thời cuộc, còn đó bài học cuộc sống thật đáng đọc lại và suy ngẫm. 

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Vị tướng của lòng dân

vonguyengiap999

Võ Nguyên Giáp ẩn số Chính Trung. Chào ngày mới 25 tháng 8. Bước ngoặt lịch sử Việt Nam mới khởi đầu bằng bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương, đọc lại và suy ngẫm. Năm 1883 Chính phủ Pháp và triều Nguyễn ký kết Hòa ước Quý Mùi, xác lập quyền bảo hộ lâu dài của Pháp trên toàn bộ Việt Nam. Năm 1911, ngày sinh Võ Nguyên Giáp, chính khách và danh tướng Việt Nam. Năm 1945,  Cách mạng tháng Tám: Bảo Đại đọc chiếu thoái vị tại Huế, kết thúc nhà Nguyễn.

Nguyen Hien viết:  “Anh Hoàng Kim ơi, Vương Triều Nguyễn đã hàng CMT8 sau gần 200 năm trị vì, mở mang bờ cỏi về phía nam và hướng ra biển, để lại cho nhân loại nền văn hóa được gọi là văn hóa Huế. Hoàng tử Vĩnh San (Hoàng Đế Duy Tân) để lại cho nhân loại án văn chương Tiếng nói của vạn vật thể hiện bằng văn phong Pháp cũng trở thành áng văn bất hủ (nhà văn Nguyên Ngọc, tác giả của Đất nước đứng lên đã chuyển ngữ sang tiếng Việt) năm 1987 nhà nước Pháp cùng với chính phủ Việt Nam đã đưa hài cốt Đức Duy Tân an táng tại Huế, một lần nữa nhà thơ Nguyễn Duy lại thể hiện trong thơ : “Bao Triều Vua phế đi rồi Người yêu nước chẳng mất Ngôi bao giờ …”

Tôi trả lời Nguyen Hien trao đổi về nhận thức của riêng mình:  Hồ Chí Minh – Ẩn số Việt Nam  đã hiểu đúng Dịch lý và giành được lợi thế trong bối cảnh quốc tế nhiễu loạn lúc đó.


“Đó là lãnh tụ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thành công nhất mà chúng ta thấy trong thế kỉ này”.

Vì sao Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm không hợp tác được để thành lập một nước Việt Nam mới ? Nghiên cứu lịch sử đang làm sáng tỏ Minh triết Hồ Chí Minh.

Sự cân nhắc đúng tầm mức chi phối thời cuộc của Pháp, Trung Hoa Dân Quốc, Anh, Trung Hoa Cộng sản, Mỹ, Nga. Sự lợi dụng mau lẹ và kiên quyết trước phong trào vô sản quốc tế và cộng sản đang trỗi dậy, ngọn nến hoàng cung vương triều Nhà Nguyễn phong kiến đang suy tàn nhưng có những lực cản thật mạnh mẽ, hệ thống thuộc địa thực dân cũ đã lung lay và hệ thống thực dân mới đang chuyển đổi nhanh chóng, Sự đánh giá đúng tầm vóc và vị thế lịch sử của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng,  Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Đế Duy Tân, Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm, Hoàng Xuân Hãn, Phạm Quỳnh,  Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Trường Tam, Phan Văn Giáo …  Đó là bài học lịch sử có giá trị và tầm vóc đặc biệt to lớn.

ChinhphuHoChiMinh1961

Lãnh đạo Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bài ca mùa xuân 1961, (ảnh Phan Chí)  soi thấu bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dươngminh triết Hồ Chí Minh.

Cụ Hồ Chí Minh đã có bài thơ hay đối thoại với trăng để nói CON NGƯỜI và ĐẤT NƯỚC:“Trăng rằng tôi kính trả lời ông. Tôi đã từng soi khắp núi sông. Muốn biết tự do chầy hay chóng. Thì xem tổ chức khắp hay không. Nước nhà giành lại nhờ gan sắt. Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng. Tổ chức tuyên truyền càng rộng rãi. Tức là cách mạng chóng thành công”.

Ngày 7 tháng 10 năm 1946, nếu Chủ tịch Hồ Chí Minh không thoát hiểm Việt Nam sẽ đi về đâu?

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày 7 tháng 10 năm 1947, nếu không thoát hiểm thì Việt Nam sẽ đi về đâu? câu hỏi của  bước ngoặt lịch sử chiến tranh Đông Dương.

ChinhphuTranTrongKim
Ngược dòng lịch sử, ngày 17 tháng 4 năm 1945, thành phần chính phủ Trần Trọng Kim tại Huế, sau khi Phạm Quỳnh cùng toàn thể thượng thư sáu bộ trong triều đình Huế xin từ chức.

TuongGiapansoChinhTrung
Tướng Giáp ẩn số Chính Trung. Cách mạng là sửa lại cho đúng để hợp thời thế. Chí Thiện là Chính Trung dĩ bất biến ứng vạn biến.

Những tư liệu lịch sử và thông tin góp phần giải mã bí mật và soi sáng góc khuất này.

Hoàng Kim

Dưới đây là bản sao một số tài liệu tham khảo chính

Chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim
Tài liệu cho sử gia
Trần Chung Ngọc và sachhiem.net
Đế quốc Việt Nam
Một cơ hội bị bỏ lỡ ở Việt Nam năm 1945?
Học giả Trần Trọng Kim
Hoàng Xuân Hãn con người và chính trị
Nhà văn hóa Phạm Quỳnh
Bảo Long – Hoàng thái tử cuối cùng thời quân chủ VN
Vài suy nghĩ về cựu hoàng Bảo Đại


BẮC KINH ĐÃ NGĂN CẢN VÕ NGUYÊN GIÁP
TRỞ THÀNH TỔNG BÍ THƯ NHƯ THẾ NÀO?

Sau Hội nghị Trung ương 4 khoá XII diễn ra từ ngày 9 đến 14/10 và chuyến thăm Trung Quốc của Thường trực Ban Bí thư Đảng CSVN diễn ra từ ngày 19 đến 21/10 vừa qua, dư luận đang dấy lên đồn đoán là ông Đinh Thế Huynh đã được chọn làm người kế nhiệm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chưa biết tin đồn này có trở thành hiện thực hay không, nhưng dường như một lần nữa Trung Quốc lại nổi lên như một nhân tố quyết định ngôi vị lãnh đạo tối cao ở Việt Nam.Không ít người cho rằng đây là một “thông lệ” bắt đầu từ Hội nghị Thành Đô năm 1990, hội nghị mà cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch từng cảnh báo là sẽ đưa Việt Nam bước vào “một thời kỳ bắc thuộc mới rất nguy hiểm”. Tuy nhiên trên thực tế, Bắc Kinh đã thò “bàn tay lông lá” của mình vào chính trường Việt Nam từ trước đó rất lâu.

Ngược dòng thời gian, sau thảm hoạ diệt chủng mang tên “Cải cách ruộng đất” do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, Trưởng ban Cải cách Ruộng đất Trung ương Trường Chinh bị biến thành con dê tế thần và mất chức Tổng Bí thư vào tháng 10/1956. Lúc bấy giờ, trong số những trợ thủ thân cận nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi lên như là ứng cử viên số một để tiếp quản chiếc ghế mà ông Trường Chinh để lại. Vậy nhưng, sau một thời gian ông Hồ Chí Minh (Chủ tịch Đảng) kiêm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư, tại Đại hội lần thứ III Đảng CSVN năm 1960, nhân vật được bầu vào vị trí Bí thư Thứ nhất lại là ông Lê Duẩn, một người mới từ Miền Nam ra Hà Nội cuối năm 1957, chứ không phải là ông Võ Nguyên Giáp, người từng sát cánh với ông Hồ Chí Minh suốt mười mấy năm.

Một số người, trong đó có Đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập báo Nhân Dân, cho rằng việc ông Võ Nguyên Giáp bị loại và ông Lê Duẩn được chọn xuất phát từ ý muốn của ông Hồ Chí Minh. Theo họ, sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành một tên tuổi nổi bật trên thế giới. Uy tín của ông Võ Nguyên Giáp trong nhân dân lớn tới mức, sau thất bại thảm hại của cuộc Cải cách ruộng đất, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đã phải cử ông thay mặt họ nhận tội và xin lỗi nhân dân tại sân vận động Hàng Đẫy vào ngày 29/10/1956. Ông Hồ Chí Minh lo sợ trước viễn cảnh một vị Tổng Bí thư với vầng hào quang chói lọi sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sẽ khiến hình ảnh của mình bị lu mờ.

Tuy nhiên, trong một cuộc trò chuyện mới đây giữa chúng tôi với Đại tá Đoàn Sự, một sự thật hoàn toàn khác lại hé lộ. Đại tá Đoàn Sự là em ruột của Đại tá Lê Trọng Nghĩa, nguyên Cục trưởng Cục Quân báo (nay là Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng), trợ thủ đắc lực của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bị bắt trong vụ án “xét lại chống đảng” tháng 2/1968. Đại tá Đoàn Sự là người phiên dịch tiếng Trung tại đại bản doanh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ, và có thời gian làm thư ký cho ông. Từ năm 1955-1959, ông là phó tuỳ viên quân sự tại Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc. Ông cũng từng mấy lần tháp tùng và phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các cuộc gặp với lãnh đạo Trung Quốc.

Với vị thế đó, Đại tá Đoàn Sự là một nhân chứng lịch sử, một trong số ít người nắm được những bí mật thuộc hàng “thâm cung bí sử” của chế độ. Ông cho biết, sau khi ông Trường Chinh bị mất chức, ông Hồ Chí Minh tạm quyền Tổng Bí thư và chủ trương đưa ông Võ Nguyên Giáp lên ngồi vào chiếc ghế đó. Vì thế, ông đã bí mật cử ông Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc để “tham vấn” ý kiến của Bắc Kinh. Ông Hồ nói với ông Võ Nguyên Giáp: “Thôi bây giờ chú trút bỏ quân phục đi. Chú phải làm nhiệm vụ này. Nhưng trước hết là ta phải sang trao đổi với Trung Quốc, trên đường chú đi Tiệp Khắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Tiệp Khắc.”

Sau khi trở thành đại tướng, tổng tư lệnh quân đội, ông Võ Nguyên Giáp luôn mặc quân phục mỗi khi tham gia các sự kiện hay các cuộc gặp gỡ, giao đãi. Thói quen này vẫn được ông duy trì cho đến những năm tháng cuối đời. Chuyến sang Tiệp Khắc lần đó là một dịp hiếm hoi ông mặc quần áo dân sự, mà mục đích là để tạo hình ảnh của một Tổng Bí thư tương lai.

Đoàn Việt Nam sang Tiệp Khắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Tiệp Khắc lần thứ 11 năm 1958 gồm có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Tố Hữu và một vài người khác. Cả đi lẫn về đoàn đều dừng chân ở Bắc Kinh. Mặc dù đoàn gặp Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông sau khi từ Tiệp Khắc trở lại Bắc Kinh, nhưng thực ra đó mới là mục đích chính của đoàn.

Đại tá Đoàn Sự đã gặp Mao Trạch Đông từ trước. Theo ông, đó là một con người cao to, hách dịch và ăn nói thì rất khó nghe. Tham dự cuộc gặp bên phía Trung Quốc còn có Phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm. Phía Việt Nam còn có ông Nguyễn Khang, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc. Đại tá Đoàn Sự làm phiên dịch cho đoàn Việt Nam. Trong cuộc gặp, Mao Trạch Đông hết lời khen ngợi ông Võ Nguyên Giáp, nào là “Võ Tổng tài ba lắm”, “Võ Tổng giỏi giang lắm”, v.v. Tuy nhiên, cuối cùng ông ta lại chốt một câu: “Nhưng tôi thấy hình như Võ Tổng chưa làm công tác lãnh đạo địa phương bao giờ cả thì phải? Chưa làm qua tỉnh uỷ… gì gì cả. Võ Tổng toàn là thân chinh bách chiến, toàn là đánh nhau cả. Cho nên tôi cũng e ngại là Võ Tổng có ít kinh nghiệm về chuyện này [làm Tổng Bí thư]. Tôi đã trao đổi với mấy người. Chúng tôi không dám có ý kiến gì về chuyện đồng ý hay không đồng ý. Nhưng chúng tôi thấy là ở Việt Nam còn nhiều đồng chí giỏi lắm mà, như đồng chí Lê Duẩn này, đồng chí Lê Đức Thọ này, v.v. Các đồng chí cũng nên cân nhắc xem thế nào.”

Đây là một cuộc gặp bí mật. Hai bên không ghi chép gì. Bên Việt Nam chỉ đến trao đổi rồi lẳng lặng ra về. Sau cuộc gặp, ông Võ Nguyên Giáp nói với ông Đoàn Sự: “Thôi thế là trật rồi. Mình giờ lại khoác quân phục rồi.” Và trước khi mặc lại quân phục, ông đã chụp ảnh kỷ niệm với người cộng sự thân tín một thời, ghi lại hình ảnh hiếm hoi của mình trong bộ quần áo dân sự.

vonguyengiapdoansu

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tá Đoàn Sự sau cuộc gặp với Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh năm 1958. Ảnh do Đại tá Đoàn Sự cung cấp.

Thời điểm diễn ra cuộc gặp giữa Mao Trạch Đông và ông Võ Nguyên Giáp thì bà vợ hai của ông Lê Duẩn là Nguyễn Thụy Nga cũng mới sinh người con trai út Lê Kiên Trung ở Bắc Kinh. Theo thông tin mà người ta rỉ tai nhau vào lúc đó thì ông Lê Duẩn phải đưa vợ bé sang Trung Quốc và tá túc trong Đại sứ quán Việt Nam vì bị bà vợ cả đánh ghen. Tuy nhiên, sau những gì đã xảy ra cùng tiết lộ của Đại tá Đoàn Sự thì rất có thể đây là chiêu mà ông Lê Duẩn nghĩ ra để lấy được lòng tin của Bắc Kinh.

Ông Lê Duẩn đem vợ con sang Bắc Kinh như một thứ “con tin” để đổi lấy sự ủng hộ của Bắc Kinh cho ngôi vị Tổng Bí thư. Vậy ông Đinh Thế Huynh lấy gì để “thế chấp” cho các ông chủ Trung Nam Hải?

Hội nghị Trung ương 4 khoá XII kết thúc, người ta nhận thấy Bí thư Thành uỷ Hà Nội Hoàng Trung Hải, một người Hán trá hình, “cha đẻ” của Formosa Hà Tĩnh cùng hàng loạt hiểm hoạ Trung Quốc khác ở Việt Nam và là người bị tố cáo những tội ác khủng khiếp suốt hơn 8 năm nay nhưng vẫn không được giải quyết đúng pháp luật, lại xuất hiện nổi bật trên truyền thông sau một thời gian khá trầm lắng: phát biểu trong chương trình thời sự VTV 19h về tái cấu trúc nền kinh tế, chỉ đạo công an Hà Nội xử lý vụ nhân viên Vietnam Airlines bị hành hung… (Theo một nguồn tin của chúng tôi, ông Hoàng Trung Hải vẫn thường lui tới nhà ông Đinh Thế Huynh từ hồi ông ta còn làm Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương).

Tối 28/10 vừa qua, buổi lễ kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Câu lạc bộ bóng đá No-U FC, nơi tập hợp những tiếng nói đấu tranh ôn hoà chống bá quyền Trung Quốc, dù đã phải diễn ra trong khuôn viên Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà để đảm bảo an toàn nhưng vẫn bị chính quyền Hà Nội huy động một lực lượng an ninh hùng hậu đến bao vây và tiến hành cắt điện, ngắt Internet, phá sóng điện thoại di động. Một số nhà hoạt động thậm chí còn bị công an ngăn cản tại nhà, không cho đến địa điểm tổ chức.

Phải chăng cặp bài trùng Hoàng Trung Hải – Nguyễn Phú Trọng sắp sửa nhường sân chơi cho cặp bài trùng cũng đặc biệt nguy hiểm cho tương lai đất nước là Hoàng Trung Hải – Đinh Thế Huynh? Và “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải lại tiếp tục kiểm soát ban lãnh đạo tối cao của Việt Nam hòng tiếp tục gieo rắc tai ương cho dải đất hình chữ S này?

* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

24 tiết khí lịch nhà nông

ThangBaymuaNgau

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. 24 TIẾT KHÍ LỊCH NHÀ NÔNG. 23 tháng 8 là ngày mưa ngâu  Mong em đừng quên ngày này Xử Thử. Em học để làm 24 tiết khí Mộc mạc hát vần bài học đầu tiên.

24tietkhi

Qua Xử Thử đến tiết trời Bạch Lộ
Sau Mưa Ngâu đến Nắng nhạt đấy em.
Tiết Thu Phân khoảng 23 tháng 9
Đối lịch nhà nông em nhớ đừng quên.

Tiết Hàn Lộ nghĩa là trời mát mẻ
Kế tiếp theo là Sương Giáng (sương mù)
23 tháng 10 mù sa dày đặc
Thuyền cỏ mượn tên” nhớ chuyện Khổng Minh.

24 tiet khi PhanLanHoa

23 tháng 11 là ngày tiểu tuyết
Việt Thường La Bàn Ví Dặm Ân Tình
8 tháng 12 là ngày đại tuyết
22 tháng 12 là chính giữa đông.

6 tháng Một bắt đầu rét nhẹ
21 tháng Một trời lạnh cắt da
4 tháng Hai ngày xuân mới đến
20 tháng Hai Thiên Địa Nhân hòa...

Đất cảm trời thương, lòng người gắn bó
Dẫu khó vạn lần khéo liệu cũng xong
Em đừng ngại mùa Xuân rồi lâu đến
Bởi biết rằng năm tháng đó là em.

(tiếp vần liên hoàn … 24 tiết khí lịch nhà nông)

Chào ngày mới 23 tháng 8
Tháng bảy mưa Ngâu

Hoàng Kim

Tháng Bảy mưa Ngâu
Trời thương chúng mình
Mưa giăng
Ướt đầm vạt áo
Bảy sắc cầu vồng
Lung linh huyền ảo
Mẹ thương con
Đưa em về cùng anh.

Chuyến xe tốc hành
Chạy giữa trăm năm
Chở đầy kỷ niệm
Chở đầy ắp tình em
Từ nơi chân trời
Góc biển

Chàng Ngưu hóa mình vào dân ca
Con ngựa, con trâu
Suốt đời siêng năng làm lụng.
Thương con gà luôn dậy sớm
Biết ơn con chó thức đêm trường.

Em ơi !
Những câu thơ ông bà gửi lại
Đã theo chúng mình đi suốt thời gian.

Tháng Bảy mưa Ngâu
Đầy trời mưa giăng giăng
Thương nàng Chức Nữ
Em là tiên đời thường
Đầy đặn yêu thương

DSC02003

Tháng Bảy mưa Ngâu
Nhớ thương ai góc biển chân trời
Những cuộc chia ly
Đong đầy nỗi nhớ …

Chiêm bao mơ về chuyện cũ
Khói sương mờ ký ức thời gian
Chốn nào chúng mình hò hẹn
Nơi em cùng anh xao xuyến yêu thương

Ngắm mưa Ngâu tháng Bảy
Mưa, mưa hoài, mưa mãi
Mưa trong lòng người
Nên mưa rất lâu…

Mưa rơi như dòng lệ trắng
Đất trời thương nối một nhịp cầu.

Em ơi
Lời tình tự của nghìn năm dân tộc.
Như sắc cầu vồng
Nối hai miền xa cách
Để xa nên gần
Vời vợi nhớ thương.

Cầu vồng yêu thương
Cầu vồng yêu thương

Thơ và ảnh Hoàng Kim

HUYỀN THOẠI  NGÀY NGƯU LANG CHỨC NỮ

“Tháng Bảy mưa Ngâu” là chuyện tình cảm động Ngưu Lang Chức Nữ (1) có trong dân gian Việt Nam. Truyện về nàng tiên Chức Nữ xinh đẹp, phúc hậu, nết na yêu thương chàng trai Ngưu Lang khôi ngô, hiền lành, chăm chỉ. Họ yêu nhau say đắm, bất chấp sự xa xôi nghìn trùng của cõi Trời và cõi Người. Cảm động trước tình yêu son sắt thủy chung của hai người, mỗi năm Trời Phật đã nối duyên cho họ găp nhau một lần vào tiết tháng Bảy mưa ngâu trước rằm Trung Thu tháng Tám. Đó là dịp Trời gom góp của nhà Trời và sự cần mẫn suốt năm của Ngưu Lang Chức Nữ để làm thành chiếc cầu vồng bảy màu nối liền đôi bờ thăm thẳm cho họ được gặp nhau. Muôn vạn con quạ, con cò, con vạc, bồ nông, ngỗng trời đã hợp lực ken kín cầu Ô Thước để giúp Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Những giọt nước mắt mừng tủi của hai người và sự cảm động của trời đất, chim muông đã hóa thành mưa ngâu. Theo Lịch Vạn Niên, ngày 20 tháng 8 năm 2015 (ngày 7 tháng 7 âm lịch) là ngày Ngưu Lang Chức Nữ (xem Âm Dương đối lịch ở cuối bài).

(1)

Thất Tịch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tranh khắc gỗ xưa của Nhật về ngày Thất Tịch, của Hiroshige (1797–1858)

Ngày Thất Tịch (Hán-Nôm: 𣈗七夕), theo văn hóa phương Đông, (Châu Á), nhất là các nước Đông Á và Đông Nam Á, là ngày lễ tình yêu được tổ chức vào ngày 7 tháng 7 Âm lịch, đôi khi được người phương Tây gọi là Ngày Valentine châu Á. Lịch sử về ngày này gắn bó với câu chuyện về Ngưu Lang Chức Nữ hoặc vợ chồng Ngâu với nhiều dị bản. Đây là ngày hội truyền thống ở Trung Quốc để các cô gái trẻ trưng bày các vật dụng nghệ thuật tự tạo trong ngày này và để cầu mong lấy được ông chồng tốt. Ngày này còn có các tên gọi khác như:

  • Khất xảo tiết (乞巧節; qǐ qiǎo jié – Lễ hội thể hiện tài năng)
  • Thất thư đản (七姐誕; qī jiě dàn – Sinh nhật cô em thứ bảy)
  • Xảo tịch (巧夕; qiǎo xì – Đêm kỹ năng).

Nhật Bản cũng kỷ niệm lễ hội này để kỷ niệm ngày gặp gỡ của Orihime (織姫 Chức Cơ) (tức sao Chức Nữ và Hikoboshi (彦星 Ngạn Tinh) (tức sao Ngưu Lang), gọi là lễ Tanabata (七夕). Tại Hàn Quốc là lễ Chilseok (칠석).

Mục lục

Lễ hội ở Nhật Bản

Lễ hội được cho là du nhập vào Nhật trong thế kỷ thứ 8 và phổ biến rộng từ thời kỳ Edo.

Nhật Bản, đặc biệt tại thành phố SendaiHiratsuka và vùng Tōhoku, lễ hội này còn được gọi là “Tanabata” và được tổ chức lần đầu tiên vào ngày 7 tháng 7 dương lịch hàng năm với nhiều hình ảnh trang hoàng được làm từ giấy, vào đêm trước, thường có bắn pháo bông tại công viên Nishi-kōen. Sau đó lễ hội tiếp tục được mở rộng ra tại nhiều vùng cho đến giữa tháng 8.

Theo phong tục, người dân xếp hình giấy theo 7 hình thông dụng, như cánh hạc (折り鶴; Orizuru), Kimono bằng giấy (紙衣; Kamigoromo), túi xách (巾着; Kinchaku), lưới (投網; Toami), bao (くずかご; Kuzukago),… để trang trí hoặc để tặng nhau để chúc may mắn, tốt lành.

Ngày lễ Thất Tịch theo dương lịch

Trong những năm gần đây:

  • 6 tháng 8 năm 2011
  • 23 tháng 8 năm 2012
  • 13 tháng 8 năm 2013
  • 2 tháng 8 năm 2014
  • 20 tháng 8 năm 2015
  • 9 tháng 8 năm 2016
  • 28 tháng 8 năm 2017
  • 17 tháng 8 năm 2018
  • 7 tháng 8 năm 2019
  • 25 tháng 8 năm 2020

Chú thích

Xem thêm

Hoàng Kim học để làm ở Ấn Độ

Thăm nhà cũ của Darwin

Darwin

THĂM NHÀ CŨ CỦA DARWIN
Hoàng Kim

Đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài. Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn để vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ”500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “90 năm Nông nghiệp miền Nam” nhằm tìm thấy trong sự rối loạn và góc khuất lịch sử dòng chủ lưu tiến hóa, chấn hưng văn hóa, giáo dục và nông nghiệp Việt.

Tôi may mắn được “Thăm nhà cũ của Darwin” , Down House,  là ngôi nhà cũ của nhà tự nhiên học người Anh Charles Darwin và gia đình ông. Darwin tại đó đã làm việc về thuyết tiến hóa bởi chọn lọc tự nhiên và nhiều thí nghiệm khác. “Nguồn gốc các loài” của Charles Darwin (12 tháng 2, 1809 – 9 tháng 4, 1882), xuất bản lần đầu tiên ngày 24 tháng 11, năm 1859 là ấn phẩm khoa học tiêu biểu và là tác phẩm nòng cốt của ngành sinh học tiến hóa. chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Triết lý của Charles Darwin thật sâu sắc. “Mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên“.

Tôi cũng đã đươc du học Tiệp Khắc ở “Viện Di truyền Mendel  ”, được thăm Praha Goethe và lâu đài cổ , Tiệp Khắc kỷ niệm một thờiDạo chơi cùng Goethe, Di sản Walter Scott, Nghị lực, Học để làm ở Ấn Độ, … được một thời gian làm việc cùng với Những người bạn Nga của Viện Vavilop”, đọc được tài liệu quý 500 năm nông nghiệp Brazil,  may mắn tiếp cận được những trang vàng của những người thầy lớn,  với tầm nhìn rộng có sức khái quát cao và tài năng khoa học phi thường. Tôi nhiều điều chưa kịp ghi lại.  Nay bất chợt gặp lại chùm ảnh cũ “một thời để nhớ”  Thăm ngôi nhà cũ của Darwin, bỗng bâng khuâng ngắm nhìn đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc muôn loài, ngưỡng mộ sức khái quát trong đúc kết “Nguồn gốc các loài” của ông.Thật thú vị khi được trãi nghiệm một phần đời mình gắn bó máu thịt với 90 năm Viện KHKTNN miền Nam; 60 năm Đại học Nông Lâm TP. HCM 

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam 1925-2015

Đó là tóm tắt nông nghiệp 90 năm khá thú vị: Tác giả Bùi Chí Bửu, Trần Thị Kim Nương, Nguyễn Hồng Vi, Nguyễn Đỗ Hoàng Việt, Nguyễn Hiếu Hạnh, Đinh Thị Lam, Trần Triệu Quân, Võ Minh Thư, Đỗ Thị Nhạn, Lê Thị Ngọc, Trần Duy Việt Cường, Nguyễn Đức Hoàng Lan, Trần Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Kim Thoa, Đinh Thị Hương, Trần Văn Tưởng, Phan Trung Hiếu, Hồ Thị Minh Hợp, Đào Huy Đức* (*Chủ biên chịu trách nhiệm tổng hợp).

Khoa học nông nghiệp là một tổng thể của kiến thức thực nghiệm, lý thuyết và thực tế về nông nghiệp, nông dân, nông thôn do các nhà nghiên cứu phát triển với các phương pháp khoa học, trong đó đặc biệt là sự quan sát, giải thích, và dự báo những hiện tượng của nông nghiệp. Việt Nam là đất nước “dĩ nông vi bản”, do đó nông nghiệp của chúng ta gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước. Viện đã không ngừng phát triển trong chặng đường lịch sử 90 năm. Viện đã cùng đồng hành với nông dân Việt Nam, người mà lịch sử Việt Nam phải tri ân sâu đậm. Chính họ là lực lựơng đông đảo đã làm cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân thành công; đồng thời đã đóng góp xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, với nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tạo nên những đột phá liên tục làm tiền đề cho công nghiệp và dịch vụ phát triển như ngày nay. Sự kiện 02 triệu người chết đói năm 1945 luôn nhắc người Việt Nam rằng, không có độc lập dân tộc, không có khoa học công nghệ, sẽ không có ổn định lương thực cho dù ruộng đất phì nhiêu của Đồng bằng Sông Cửu Long có tiềm năng vô cùng to lớn.

Lịch sử của Viện cũng là lịch sử của quan hệ hợp tác mật thiết với các tổ chức nông dân, với lãnh đạo địa phương, với các Viện nghiên cứu trực thuộc VAAS và các Trường, Viện khác, với các tổ chức quốc tế. Khoa học nông nghiệp không thể đứng riêng một mình. Khoa học nông nghiệp phải xem xét cẩn thận các yếu tố kinh tế, môi trường, chính trị; trong đó có thị trường, năng lượng sinh học, thương mại hóa toàn cầu. Đặc biệt, nông nghiệp phải nhấn mạnh đến chất lượng nông sản và an toàn lương thực, thực phẩm, khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Lịch sử đang đặt ra cho Viện những thách thức mới trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, thay vào đó là rào cản kỹ thuật đối với nông sản trên thương trường quốc tế. Thách thức do bùng nổ dân số, thiếu đất nông nghiệp, thiếu tài nguyên nước ngọt, biến đổi khí hậu với diễn biến thời tiết cực đoan, thu nhập nông dân còn thấp là những nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nhưng rất vinh quang của Viện, đang mong đợi sự năng động và thông minh của thế hệ trẻ.”

Lịch sử của Viện được chia là hai phân kỳ : Từ ngày thành lập Viện 1925 đến năm 1975, và từ năm 1975 đến năm 2018.

Từ năm 1925 đến năm 1975 những nhân vật lịch sử tiêu biểu của Viện trong thời kỳ này là GS.TS. Auguste Chavalier (1873-1956) Người thành lập Viện Khảo cứu Khoa học Đông Dương, năm 1918;  Yves Henry (1875-1966) Người thành lập Viện Khảo cứu Nông Lâm Đông Dương, năm 1925;  GS. Tôn Thất Trình, GS. Thái Công Tụng, GS. Lương Định Của, … là những người có ảnh hưởng nhiều đến Viện trong giai đoạn này

Từ năm 1975 đến năm 2018 Viện trãi qua 5 đời Viện trưởng GS Trần Thế Thông, GS Phạm Văn Biên, GS Bùi Chí Bửu, TS Ngô Quang Vinh và TS Trần Thanh Hùng. Hiện tại TS. Trần Thanh Hùng là Viện trưởng đương nhiệm.

Tham ngoi nha cu cua Darwin 5b

Viện trưởng TS. Trần Thanh Hùng (giữa) nhận hoa chúc mừng của các đồng nghiệp

Viện từ năm 1975 đến năm 2015 là một Viện nông nghiệp lớn đa ngành, duy nhất trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam. Đó là tầm nhìn phù hợp điều kiện thực tế thời đó. Viện có một đội ngũ cán bộ khoa học nông nghiệp hùng hậu, có trình độ chuyên môn cao, thế hệ đầu tiên của giai đoạn hai mươi lăm năm đầu tiên sau ngày Việt Nam thống nhất (1975 – 2000)  gồm các chuyên gia như:  Giáo sư Trần Thế Thông, Giáo sư Vũ Công Hậu, Giáo sư Lê Văn Căn, Giáo sư Mai Văn Quyền, Giáo sư Trương Công Tín, Giáo sư Dương Hồng Hiên, Giáo sư Phạm Văn Biên, … là những đầu đàn trong khoa học nông nghiệp.

Viện có sự cộng tác của nhiều chuyên gia lỗi lạc quốc tế đã đến làm việc ở Viện như: GSTS. Norman Bourlaug (CIMMYT), GS.TS. Kazuo Kawano, TS. Reinhardt Howeler, GS.TS. Hernan Ceballos, TS. Rod Lefroy, (CIAT),  GS.TS. Peter Vanderzaag, TS. Enrique Chujoy, TS. Il Gin Mok, TS. Zhang Dapheng (CIP), GS.TS. Wiliam Dar, TS. Gowda (ICRISAT), GSTS.  V. R. Carangal (IRRI), TS. Magdalena Buresova , GSTS. Pavel Popisil (Tiệp), VIR, AVRDC,  …

Thật đáng tự hào về một khối trí tuệ lớn những cánh chim đầu đàn nêu trên. Chúng ta còn nợ những chuyên khảo sâu các đúc kết trầm tích lịch sử, văn hóa, sinh học  của vùng đất này để đáp ứng tốt hơn cho các vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn, đời sống và  an sinh xã hộiđể vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ” 500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “90 năm Nông nghiệp miền Nam” nhằm tìm thấy trong góc khuất lịch sử  dòng chủ lưu tiến hóa của văn hóa, giáo dục , nông nghiệp Việt.

Tôi lưu lại một số bức ảnh tư liệu kỷ niệm một thời của tôi với những sự kiện chính không quên.

Năm tháng đi qua chỉ tình yêu còn lại.

Hoàng Kim

Tham ngoi nha cu cua Darwin 3

GS Trần Thế Thông nay đã 93 tuổi, trò chuyện về Viện

Tham ngoi nha cu cua Darwin 3a

GS Trần Thế Thông, GS Vũ Công Hậu làm việc cùng chuyên gia Viện Vavilop Liên Xô.

Tham ngoi nha cu cua Darwin 3b

GS.Vũ Công Hậu và chuyên gia Liên Xô chương trình thu thập bảo tồn tài nguyên cây trồng

Tham ngoi nha cu cua Darwin 3c

Mô hình trồng xen lạc, đậu xanh, đậu nành, đậu rồng với ngô lai, sắn có hiệu quả cao ở vùng Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung. TS. Hoàng Kim đang báo cáo kết quả nghiên cứu và phát triển mô hình trồng xen ngô đậu với bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu.

Tham ngoi nha cu cua Darwin 3d

GS Mai Văn Quyền hướng dẫn chuyên gia IRRI và chuyên gia Viện Lúa ĐBSCL thăm mô hình trồng xen ngô đậu trong hệ thống cây trồng vùng Đông Nam Bộ.

Tham ngoi nha cu cua Darwin 4a

Những người bạn Sắn Việt Nam và Những người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á

Tham ngoi nha cu cua Darwin 4b

Viện trưởng GS. Phạm Văn Biên với chuyên gia CIAT và các lãnh đạo Mạng lưới Sắn châu Á, châu Mỹ La tinh tại Hội thảo Sắn châu Á tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh năm 2000

Viện trưởng GS. Phạm Văn Biên hướng dẫn Bộ trưởng Lê Huy Ngọ thăm các giống điều ghép PN1 và các giống điều mới chọn tạo tại Trung tâm Hưng Lộc, Đồng Nai

Tham ngoi nha cu cua Darwin 4d

Viện Trưởng GS. Bùi Chí Bửu hướng dẫn Tổng Giám đốc CIAT thăm các giống sắn mới.

Tham ngoi nha cu cua Darwin 5a

Quyền Viện Trưởng TS. Ngô Quang Vình cùng các chuyên gia CIAT đánh giá các giống sắn mới (KM419 bên phải và KM140 bên trái)

Tham ngoi nha cu cua Darwin.5de
Tham ngoi nha cu cua Darwin.5c
Tham ngoi nha cu cua Darwin.6a

SỰ CHẬM RÃI MINH TRIẾT
Hoàng Kim

Chậm rãi học cô đọng
Giản dị văn là người
Lời ngắn mà gợi nhiều
Nói ít nhưng ngân vang .

Đi bộ trong đêm thiêng
Sự chậm rãi minh triết
Tỉnh thức một đôi điều
CNM365 Tình yêu cuộc sống

TỈNH THỨC
Hoàng Kim

thiên hà trong vắt khuya
chuyển mùa
tự nhiên tỉnh
ta ngắm trời ngắm biển
chòm sao em
vầng sáng anh
dưới vòm trời lấp lánh
khoảnh khắc thời gian
thăm thẳm
một tầm nhìn.

Video nhạc tuyển
Khí công Y đạo: Bài học tốt tự chăm sóc sức khỏe 
Ban Mai
MAR AKRAM – Dancing with the wind♥
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh

TỪ SẮN VIỆT NAM ĐẾN LÚA SIÊU XANH
Hoàng Kim và Hoàng Long, bài tổng hợp


Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh, từ nghiên cứu đến thực hành là một cuộc chiến đấu đặc biệt gian khổ cho sự hoàn thành tốt việc nghiên cứu giảng dạy chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp thành công. Đó là sự dấn thân không ngơi nghỉ kết nối lớp người sau với người lớp trước tích hợp bài học kinh nghiệm thực tiễn vươn tới không ngừng. Cách mạng sắn và lúa gạo Việt Nam chỉ bằng cách đó mới có thể bảo tồn và phát triển ..

Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam. Lúa là cây lương thực hàng đầu chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất, kế đến là ngô, sắn và khoai lang. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng diện tích canh tác hàng năm của cây lương thực Việt Nam (lúa, ngô, sắn và khoai lang) khoảng 9,257 triệu ha, so với diện tích cây công nghiệp lâu năm khoảng 1,885 triệu ha, cây công nghiệp hàng năm khoảng 806 nghìn ha và cây ăn quả khoảng 775 nghìn ha .

Cách mạng sắn ở Việt Nam (The Cassava Revolution in Vietnam) là điểm sáng toàn cầu được vinh danh tại Hội thảo Cây Có Củ Thế Giới được tổ chức tại thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 1 năm 2016. Sắn là cây trồng triển vọng của thế kỷ 21. Lúa Siêu Xanh ở Việt Nam (Green Super Rice in Vietnam) là sự tiếp nối Cách mạng sắn ở Việt Nam. Lúa Siêu Xanh ở Việt Nam kết nối lúa Siêu Xanh IRRI/ CAAS (dự án lúa gạo toàn cầu IRRI Green Super Rice GSR Project) đang hướng tới những sản phẩm lúa gạo thích ứng với biến đổi khí hậu đạt năng suất cao hơn, chất lượng gạo tốt hơn, ngon cơm, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, kháng sâu bệnh, chống chịu mặn, hạn, thích nghi cho các vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời. Bài viết này đúc kết tài liệu đã đăng trước đây và cập nhật thông tin mới. xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tu-san-viet-nam-den-lua-sieu-xanh/

CÁCH MẠNG SÁN Ở VIỆT NAM

Sắn Việt Nam thành tựu và bài học đã khái quát tình hình sản xuất, tiêu thụ, thành tựu và bài học sắn Việt Nam qua nửa thế kỷ. Chọn tạo giống sắn; xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác sắn thích hợp bền vững; bảo tồn và phát triển sắn đã là các kinh nghiệm quý. Sắn Việt Nam hiện được ca ngợi  là điển hình của sắn thế giới khi nhiều hộ nông dân tại nhiều vùng rộng lớn ở Tây Ninh đã tăng năng suất sắn trên 400%, từ 8,35 tấn/ ha lên trên 36,0 tấn/ ha. (FAO,  2013b). Năng suất sắn Việt Nam bình quân cả nước hiện đạt trên gấp đôi so với năng suất sắn năm 2000 đạt 8,35 tấn/ha. Điển hình tại Tây Ninh, năm 2011 năng suất sắn đã đạt bình quân 29,0 tấn/ ha trên diện tích thu hoạch 45,7 nghìn ha với sản lượng là 1,32 triệu tấn, so vớ inăm  2000 năng suất sắn đạt bình quân 12,0 tấn/ ha trên diện tích thu hoạch 8,6 nghìn ha, sản lượng 9,6 nghìn tấn. Sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam đã trở thành một trong mười mặt hàng xuất khẩu chính. Sắn Việt Nam hiện thành nguồn sinh kế, cơ hội xóa đói giảm nghèo và làm giàu của nhiều hộ nông dân cũng hấp dẫn sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp chế biến kinh doanh. Sắn Việt Nam bên cạnh cơ hội và thành tựu giống sắn mới và giải pháp kỹ thuật quy trình thâm canh sắn tổng hợp bảo tồn và phát triển sắn bền vững cũng bộc lộ nhiều rủi ro, bất cập, đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến, kinh doanh và bảo vệ môi trường. Các nhà máy ethanol Việt Nam đầu tư lớn và lỗ; Nhà máy ethanol hoạt động khó khăn. Trong khi sắn Nigeria sản lượng 52,4 triệu tấn năng suất sắn chỉ đạt 14,02 tấn/ha (thấp hơn sắn Việt Nam) nhưng từ năm 2011 đã đạt thành tựu chế biến nhiên liệu sinh học đơn giản và hiệu quả bằng “bếp cồn sắn” cho toàn quốc, dành được lượng lớn xăng dầu cho xuất khẩu.

Cách mạng sắn ở Việt Nam hôm nay là điển hình quốc tế. Sắn Việt Nam là cây công nghiệp xuất khẩu triển vọng với diện tích trồng khoảng trên nửa triệu hecta và giá trị xuất khẩu ngày nay đạt hơn một tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Sắn miền Đông, Tây Nguyên, miền Trung và sắn vùng núi trung du phía Bắc thực sự thân thiết trong đời sống, văn hóa, xã hội của người dân các vùng này ; Những tinh hoa khoa học kỹ thuật cây sắn thế giới và Việt Nam đã được đúc kết, chọn lọc và vận dụng phù hợp sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cụ thể của từng vùng.  Cách mạng sắn ở Việt Nam có sự tham gia đông đảo của hàng triệu nông dân nghề sắn đã đạt được sự chuyển đổi to lớn về năng suất, sản lượng, giá trị sử dụng, hiệu quả kinh tế, thu nhập đời sống, sinh kế và việc làm cho người dân rộng khắp toàn quốc.

Sắn Việt Nam hướng tới bảo tồn và phát triển bền vững trong tầm nhìn mới về nông nghiệp căn cứ trên tổng kết thực tiễn, đúc kết tinh hoa của quá khứ và hiện tại, phát huy lợi thế so sánh, năng động sáng tạo và ứng dụng những thành tựu mới phù hợp. Thông tin “Cách mạng sắn ở Việt Nam“, “Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai“, “Sắn Việt Nam kết nối châu Phi”, “Lúa sắn Việt Nam tới châu Phi” “Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam“, “Đất nước Angkor nụ cười suy ngẫm“, Lúa Sắn Angkor … là những thông tin tham khảo phục vụ cho tài liệu chính CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM  Học để Làm (Learning by Doing).

LÚA SIÊU XANH Ở VIỆT NAM

Chọn tạo giống lúa siêu xanh (GSR) thích ứng biến đổi khí hậu ở Việt Nam là sự đột phá tiếp nối theo cách mà cây sắn Việt Nam đã đạt thành công cao. Sản xuất lúa ở Việt Nam, đặc biệt là vùng ĐBSCL đang phải đối mặt với ảnh hưởng to lớn của biến đổi khí hậu, nhiễm mặn lan rộng, kéo dài và khô hạn cục bộ. Việc chọn tạo giống lúa siêu xanh năng suất cao, hướng tăng trần năng suất đạt 7-10 tấn/ha trong điều kiện sản xuất tại Việt Nam, chất lượng gạo tốt, ngon cơm, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, kháng sâu bệnh, chống chịu mặn, hạn, thích nghi cho vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời là một đòi hỏi thực tiễn cấp bách. Cách đột phá được tập trung thực hiện là chọn tạo giống lúa siêu xanh (Green Super Rice – GSR) thích ứng biến đổi khí hậu tại Việt Nam. 754 giống lúa  siêu xanh (GSR) được nhập nội trực tiếp về Việt Nam từ IRRI – CAAS (Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI và Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc CAAS). Mạng lưới nghiên cứu phát triển lúa siêu xanh Việt Nam gồm: Trường Đại học Nông Lâm Huế (HUF), Sở Nông nghiệp & PTNT Phú Yên, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (CLRRI), Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU), Trung tâm Giống Cây trồng Sóc Trăng, Viện Di truyền Nông nghiệp (AGI), Trung tâm Khuyến Nông Quốc Gia và Hệ thống Khuyến nông, các doanh nghiệp sản xuất cung ứng giống lúa của các tỉnh. Những mẫu giống GSR này được phối kết, khai thác, tuyển chọn cùng với nguồn vật liệu lúa đặc sản Sóc Trăng, Viện Lúa, Viện Di truyền Nông nghiệp, ….

Mục tiêu: chọn tạo giống lúa siêu xanh năng suất cao, hướng tăng trần năng suất đạt 7-10 tấn/ha , chất lượng gạo tốt, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, ít sâu bệnh, đáp ứng cho vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn (chịu được độ mặn 4-6‰) và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời.

Thông tin lúa siêu xanh Việt Nam những bài liên quan trước năm 2016

  1. Báo AGROVIET (Bộ Nông nghiệp và PTNT). Số 4. 2014. Sóc Trăng: Chọn tạo giống lúa chịu mặn thích nghi với biến đổi khí hậu.http://xttm.agroviet.gov.vn/Site/vi-vn/76/tapchi/67/79/7973/Default.aspx
  2. Báo Nhân Dân, 2015. Vũ Thế Thường Thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu .http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_ndct/_mobile_chuyende/item/26547602.html
  3. Bộ Nông nghiệp & PTNT 2011. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống lúa (QCVN 01-55: 2011/BNNPTNT)
  4. Đặng Văn Mạnh, Trần Thị Lệ, Hoàng Long, Hoàng Kim 2015. Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa chịu mặn thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Phú Yên. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tháng 9/ 2015, 8 trang.
  5. Hoang Long, Zhi-Kang Li, Tian-Qing Zheng, Hoang Kim, Pham Trung Nghia, Tran Thi Le, Nguyen Trong Tung, Nguyen Thanh Phuoc, Le Huy Ham et al. 2015. Result of Green Super Rice (GSR) Breeding adaptation to climate change in Vietnam. “Conference of Young Scientists” hosted  by IAS, HCMC, Vietnam, 18 March. 2015. Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam (IAS) 121 Nguyen Binh Khiem, district 1. HCMC, Vietnam
  6. Hoang Long, Tian-Qing Zheng, Zhi-Kang Li 2014. QTL mapping for leaf rolling and yield component traits in a set of reciprocal introgression lines and RILs in rice (Oryza sativa L). Nghiên cứu bản đồ QTL của tính trạng xoắn lá và tính trạng năng suất của ILs và RILs ở lúa (Oryza sativa L). Luận văn thạc sĩ. 66 trang
  7. Hoàng Thị Hường 2012. Khảo sát đặc điểm nông học và năng suất của tập đoàn giống lúa triển vọng tại Kế Sách, Sóc Trăng. Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư nông học. Khoa Nông học. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 102 trang.
  8. IRRI, 2013. Strategies for developing Green Super Rice; Contributed by Qifa Zhang, trích dẫn bởi Hoàng Long, Zhikang Li, Tian Qing Zheng, 2015. Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính xoắn lá lúa ảnh hưởng tới năng suất lúa ở các dòng IL đối ứng với RIL của lúa (Oryza sativa L.)
  9. IRRI, 2002. Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây lúa (SES)
  10. Nguyễn Minh Thùy 2012. Khảo sát đặc điểm nông học và năng suất của tập đoàn giống lúa triển vọng tại Long Phú, Sóc Trăng. Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư nông học. Khoa Nông học. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 100 trang.
  11. Phạm Trung Nghĩa 2010. Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chống chịu mặn và phẩm chất tốt cho đồng bằng Sông Cửu Long và phía Bắc. Thuyết minh tổng thể đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Viện Lúa Đông Bằng Sông Cửu Long. 126 trang.
  12. Nguyễn Thị Bắp và ctv. 2015. Kết quả chọn tạo giống lúa chịu mặn tại Sóc Trăng. Tài liệu Tổng kết Đề tài Lúa chịu mặn Sóc Trăng. Báo Nông nghiệp Việt Nam. http://nongnghiep.vn/chon-giong-lua-chiu-man-post118496.html

Thông tin được tiếp nối tại đây

Giới thiệu các giống sắn ngắn ngày, năng suất cao tại Phú Yên

Mời đọc thêm Google search: Green Super Rice IRRI
https://www.google.com.vn/?gws_rd=ssl#q=green+super+rice+irri

Còn tiếp… (giới thiệu bài tiếp nối)

LuaSieuXanhVietNam1

HOA LÚA BÙN HỘT LÚA HẠT GẠO

Hoàng Kim
tản văn và ảnh.

Tôi mắc nợ ý tưởng “Nấu cơm” của một người bạn nên hôm nay tạm đưa lên một hình để trả lời cho một mục trong chùm bài viết “Con đường lúa gạo Việt Nam”.

Anh Nam Sinh Đoàn viết như vầy: “Ngoài đồng giống lúa không thuần, nhà nông lười khử giống bị lẫn, giống dại. Cộng với nhà lái mua vào để lẫn, hoặc cố tình pha lẫn lấy lời. Ai đời trộn lẫn hột dài với hột hơi tròn, gạo dẽo với gạo cứng cơm, gạo cũ với gạo mới,…Chính vì vậy mà nồi cơm nào cũng chỗ nhão chỗ khô, hạt mềm nhẽo cạnh hạt còn tim bột.(Chưa kể phun thêm hương liệu, chất chống mốc mọt,…thay đổi cả đặc tính hạt gạo khi đun nấu). Nhiều năm làm lúa với anh Hồ Quang Cua, mới có dịp học hỏi về việc làm giống, giữ đặc trạng của từng giống, cách thức trồng trọt- thu hoạch- tồn trữ- xay xát- lựa lọc- bao bì,…cả chục việc đòi hỏi phải chắc tay. Thế mà khi thí nghiệm trên bàn của nhóm chuyên gia còn lòi ra bao thứ khác: thời gian ngâm, tỉ lệ nước, thời gian đun và cách đun nấu,… Ví dụ, với cùng một thứ gạo, nhưng có dòng nở ít, thì chỉ 70-71% nước. Loại nào nở cơm thì ngâm trước 15 phút, loại nở búp chỉ cần mươi phút là được. Lại còn tùy loại gạo, để ăn xào với rau, gia vị cho có màu mùi như kiểu châu Âu thì nấu bằng nồi hơi như nồi hong. Để còn làm cơm xào, cơm chiên thì chớ ngâm nhiệt, tức là ngâm gạo, đun nước vừa nóng chừng 50 độ hãy cho gạo vào theo đúng tỉ lệ, mới đạt yêu cầu. Câu nói: Cơm lành canh ngọt tưởng dễ mà khó thay“.

Tôi (Hoàng Kim) trả lời: Thưa anh, xin hãy nhìn tấm ảnh, từ hạt gạo đến bát cơm là một phần ngắn trong chuỗi “hoa lúa, bùn ngấu, hột lúa, cây lúa, hạt gạo, bát cơm”. Hai khâu khó nhất và nhọc nhằn nhất là hoa lúa và bùn ngấu.

Mời trao đổi trên Face Book tại đây và đọc bài viết Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/08/19/tu-san-viet-nam-den-lua-sieu-xanh/

— with Manh Tran Van, Khacthinh Do, Phuoc Nguyen Thanh, Chí Hiếu, Pham Sy Tan, Nam Sinh Đoàn, Phan Chi and Hoang Long at Sân Phượng Vỹ- Đh Nông Lâm Tphcm.

“Nấu cơm” của anh Nam Sinh Đoàn viết rất ngắn nhưng góc nhìn sâu sắc. Chúng ta rất cần thấu hiểu vòng tròn nhân quả: ‘hột lúa – cây lúa – hạt gạo- bát cơm’, nắm vững hai khâu then chốt ‘hoa lúa – bùn ngấu’ của chuỗi thức ăn quan trọng nhất đời người, học và hành kỹ từng khâu và khâu nào cũng phải chắc tay. Đường sống là con đường xanh hòa bình, con đường văn minh nhân loại. Việt Nam đưa công nghệ văn minh lúa nước vào môi trường xanh hòa bình góp sức cùng tri tuệ nhân loại lan tỏa con đường lúa gạo Việt Nam (lúa và cây trồng vật nuôi, công nghệ lúa cá thực phẩm khác đi theo cây lúa), khơi dậy sức dân, động lực cách mạng đông đảo của người dân nông thôn. Chừng nào người dân nông thôn chưa thay đổi được số phận của mình thì chừng đó bài toán kinh tế chưa khai mở được tiềm lực nông nghiêp nông dân nông thôn.
Chien luoc chon tao lua sieu xanh Vietnam

LuaSieuXanhVietNam3

LuaSieuXanh VietNam4

Bài và ảnh: Hoàng Long, Hoàng Kim

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM
Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, …

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5 … Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

 

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Thầy Quyền thâm canh lúa

ThayQuyennghenongcuachungtoi

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi trên 80 xuân mà vẫn phong độ, vui vẻ lội đồng và họp bạn nhà nông cùng thứ trưởng Lê Quốc Doanh, các anh Nguyễn Văn Bộ, Le Thanh Tung và nhiều thầy bạn khác ở miền Tây hôm nay.

oitiengvietnhubunvanhulua

Năm trước khi lội bùn cùng các bạn Sóc Trăng và Viện Lúa Ô Môn làm giống lúa siêu xanh (Green Super Rice) thích ứng với biến đổi khí hậu, chịu mặn hạn, năng suất cao, ngon cơm, tôi đã kể câu chuyện Từ Sắn Việt Nam tới Lúa Siêu Xanh. Tôi nói chuyện với anh Nam Sinh Đoàn về chuyện thầy Quyền nghề nông của chúng tôi, về bài học thâm canh cây lúa do thầy Quyền dạy và đã in thành sách “Thâm canh lúa ở Việt Nam”.

LuaSieuXanhVietNam1Từ hoa lúa đến hột lúa đến cây lúa đến hạt gạo đến nấu cơm và bát cơm là một quá trình thấm nhiều mồ hôi, công sức, trí tuệ, có tầm nhìn, sự đầu tư khoa học công nghệ và tấm lòng.  Hạt ngọc Việt thật giống như Tiếng Việt trong câu thơ của Lưu Quang Vũ “Ôi Tiếng Việt như bùn và như lụa. Óng tre ngà và mềm mại như tơ” “Ôi Tiếng Việt suốt đời ta mắc nợ. Quên nỗi mình, quên áo mặc cơm ăn. Trời xanh quá, môi tôi hồi hộp quá. Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình”. Nếu thay chữ “Tiếng Việt” bằng “hạt ngọc” hoặc “hạt ngọc Việt” thì thân phận của tiếng Việt cũng đúng hoàn toàn như thân phận cây lúa, người nông dân làm lúa, người nghiên cứu, giảng dạy và khuyến nông cây lúa. Sự nhọc nhằn nhiều hơn là vinh quang, có bùn và có lụa, nhưng đó chính lại là văn minh gốc và thế mạnh Việt Nam lan tỏa ra thế giớí.

thayquyennghenongcuachungtoi

Tôi khởi đầu cho các em sinh viên và thầy bạn nghe VỀ MIỀN TÂY hôm nay bằng câu chuyện người Thấy, trên 80 tuổi. Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi. Dạy học không chỉ là trao truyền tinh hoa kiến thức nghề nông mà thắp lên ngọn lửa! Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC CÂY LƯƠNG THỰC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

MaiVanQuyen

THẦY QUYỀN NGHỀ NÔNG CỦA CHÚNG TÔI

Giáo sư tiến sĩ Mai Văn Quyền là nhà khoa học xanh, chuyên gia hàng đầu Việt Nam về lĩnh vực thâm canh lúa, hệ thống nông nghiệp, sinh lý thực vật và quản lý bền vững đất nước cây trồng. Giáo sư là thầy hướng dẫn đã bảo vệ thành công của 12 tiến sĩ khoa học nông nghiệp, nhiều thạc sỹ, kỹ sư nông học, tác giả của sáu sách chuyên khảo và nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí, sách ở trong và ngoài nước. Giáo sư Mai Văn Quyền từ năm 2007 đến nay là cộng tác viên thường xuyên của đài VOV 2 phát thanh mỗi tuần 2 lần các nội dung về phân bón trong khuôn khổ hợp tác giữa Đài VOV2 với công ty Cổ phần phân bón Binh Điền. Giáo sư là chuyên gia của chương trình VTV “Đồng hành và chia sẻ” hàng tuần trả lời các câu hỏi của nông dân cả nước qua thư bạn nghe đài, là cộng tác viên của báo Nông nghiệp Việt Nam và các báo nông nghiệp, viết bài phổ biến khoa học trong lĩnh vực phân bón và cây trồng. Với cương vị là chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty Cổ phần phân bón Bình Điền, hàng năm tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật sử dụng phân bón cho nông dân Việt Nam, Campuchia, và Myanmar, qua đó tạo thêm điều kiện tăng thêm sự hiểu biết và thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân và chính phủ các nước với nhân dân và chính phủ Việt Nam. Thầy là tấm gương phúc hậu, minh triết, tận tụy trong nghiên cứu, giảng dạy nông học, đồng hành cùng nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam. Bước vào năm 2016, giáo sư Mai Văn Quyền sang tuổi 80 và Thầy vẫn đang sung sức đi tới trong tốp đầu của các chuyên gia nông nghiệp Việt Nam thời hiện đại.

Ơn Thầy. Hoàng Kim, kính tặng thầy Mai Văn Quyền và những người Thầy quý mến. Cha ngày xưa nuôi con đi học. Một nắng hai sương trên những luống cày, Trán tư lự, cha thường suy nghĩ,  Phải dạy con mình như thế nào đây? Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất, Cái chết giằng cha ra khỏi tay con, Mắt cha lắng bao niềm ao ước, Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng. Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy, Tương lai con đi, sự nghiệp con làm. Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ, Cha ngã xuống rồi trao lại tay con. Trên luống cày này, đường cày con vững. Bởi có dáng Thầy thay bóng cha xưa. Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ. Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

Mai Văn Quyền gương sáng nghị lực

Quê hương và gia đình

Giáo sư Mai Văn Quyền sinh ngày 24 tháng 4 năm 1936, khai sinh ngày 16 tháng 3 năm 1938. Quê quán tại thôn Thủy Khê, xã Vĩnh Liêm, huyện Vĩnh Linh (sau giải phóng đổi thành xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh) tỉnh Quảng Trị, nguyên Phó Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, đã nghĩ hưu, hiện thường trú tại BA4-8, khu phố Cảnh viên 2, Đường C, phường Tân Phú, Phú Mỹ Hưng, Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh,

Giáo sư xuất thân trong một gia đình rất nghèo, bố mất sớm khi thầy mới sinh, chưa biết mặt. Mẹ là Trương Thị Iu, thời đánh Mỹ bị quản thúc tại gia vì trước có tham gia hội mẹ chiến sĩ thời chống Pháp, và có con ở miền Bắc. Mẹ lao động lam lũ để nuôi con, các anh chị đều làm thuê, làm mướn, mò cua bắt ốc, đánh cá sông và cá đồng. Bà mất do bom Napan của Mỹ ngày 12 tháng 8 âm lịch năm 1967, tại quê. Chị cả là Mai Thị Miến lấy chồng khác xã, đã mất cùng hai người con vào tháng 11 năm 1951, do bom Pháp ném trúng nhà. Chị thứ hai Mai Thị Lũy có hoạt động phụ nữ kháng Pháp, mất năm 1986. Anh thứ ba gia nhập bộ đội Vệ Quốc Đoàn, chống Pháp, bị thương, giải ngũ. Sau này bị Mỹ-Ngụy trả thù, bắt giam, tra tấn dã man. Sau khi được thả ra đã ra Bắc chữa bệnh và đã mất ngày 21 tháng 6, năm 1965 tại Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Anh thứ tư là Mai Phú, tham gia họat động bộ đội địa phương chống Pháp, khi Mỹ xâm lược miền Nam có tham gia đường dây họat động bí mật ở quê, sau bị lộ đã đưa gia đình ra sơ tán ở Tân Kỳ, Nghệ An, mất năm 1984 tại quê. Sau này, giáo sư đã tìm cách quy tập mộ của người anh ở Thanh Hóa về cùng một chỗ với bố, mẹ và người anh kế tại cồn Cát, thôn Thủy Khê, đồng thời hổ trợ để các cháu tu bổ phần mộ cho hai chị gái nằm ở hai quê khác nhau để tỏ lòng biết ơn bố mẹ sinh thành nuôi dưỡng và sự chăm sóc của các anh chị cho đến ngày người rời quê sống ở nơi xa.

Giáo sư có vợ là Lê Thị Thanh Vân, sinh năm 1943, người cùng quê và hai con trai Mai Việt Cường, sinh năm 1969 và Mai Trúc Quỳnh sinh năm 1972, đều thành đạt, có gia đình riêng, mỗi gia đình đều có hai con. Cô Lê Thị Thanh Vân là kỹ sư bảo vệ thực vật, tốt nghiệp đại học năm 1966, công tác tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, cô về hưu non tháng 5 năm 1990 do sức khỏe với thời gian công tác 24 năm 6 tháng khi cô đang còn ở IRRI.

Tuổi thơ gian khó

Giáo sư Mai Văn Quyền do xuất thân trong một gia đình rất nghèo, nên bản thân sớm biết quí trọng sản phẩm lao động và có tinh thần tự lực vươn lên, biết thông cảm và giàu lòng thương yêu những người nghèo khó. Tuổi thơ, khi các chị lần lượt đi lấy chồng, các anh đi làm thuê, ở nhà một mình, lúc 4-5 tuổi, cậu bé Mai Văn Quyền đã biết lao động  phụ mẹ như nuôi lợn, gà, mót củi, lấy nước, nấu ăn, dọn dẹp việc nhà. Do là con út, cả nhà không ai được đi học, nguyện vọng của mẹ muốn cho đi học chữ hán để sau này có thể đọc được văn tự, khế ước. Bảy tuổi cậu đi học một buổi còn một buổi làm các việc nhà. Không có đèn, cậu đã đốt củi hay dùng hạt bưởi xâu lại đốt lên xem chữ để học. Ấy vậy mà bài nào cũng thuộc, chữ viết đẹp, ngoan ngoãn, lễ phép nên luôn được thầy yêu, bạn mến. Do nhà quá nghèo nên việc học thường đứt đoạn.Tuy vậy, cậu học rất giỏi, khi bắt đầu đọc được khế ước, thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ, sách vỡ bị cháy, nên hiện không còn dấu tích học chữ nho. Trong những năm kháng Pháp, cậu được cử làm đội trưởng thiếu niên Tiền phong, hăng hái hoạt động giúp bộ đội nắm tin tức, hành tung của địch, giúp dân cất dấu lương thực và báo động khi có giặc về càn, đồng thơi vẫn theo học tiểu học, và tham gia dạy bình dân học vụ để xóa nạn mù chữ cho bà con trong thôn. Tuổi thơ gian khó và giàu ý chí tự lực vươn lên, nhờ vậy mà cậu khá thành thạo các việc nội trợ cũng như các hoạt động sản xuất đồng áng như gieo trồng chăm sóc khoai, sắn, xay lúa, giã gạo. Những công việc như vậy đã giúp rất nhiều khi thoát ly gia đình ra vùng tự do tự lập để theo học văn hóa.

Thoát ly gia đình

Từ năm 1950-51, giặc Pháp tăng cường càn quét vùng du kích, nên trường học luôn bị bắn phá, buộc phải dời rất nhiều chỗ, gây khó khăn cho học sinh theo học.Trước tình hình đó,Chính quyền cho phép ai có điều kiện thoát ly ra vùng tự do để học thì tìm cách để thoát ly. Một nhóm bạn học lớp Bốn cùng thôn, rủ nhau lên chiến khu Ba Lòng để xin giấy thông hành ra Thanh Nghệ Tịnh học.Vượt đường số Một, lánh qua các bót gác của Pháp để lên chiến khu, nhóm đã có giấy thông hành sau 4 ngày đi về. Tháng 11/1952 nhóm cùng nhau lên đường ra Thanh-Nghệ-Tịnh. Vượt đường rừng lên chiến khu Thủy Ba thì tối. Hôm sau đi đến chân núi U Bò (thuộc địa phận Quảng Bình) thì cũng vừa tối. Dừng lại, nấu ăn, ngủ lại, rạng sáng leo núi U-Bò, trưa lên đến đỉnh núi, tối xuống núi, đi qua xóm Cà, xóm Rẫy (nơi quân Pháp hay phục kích).Từ xóm Cà, xóm Rẫy đến Gia Hưng, tối đi đò dọc từ Gia Hưng ra Minh Cầm, Minh Lệ, Lệ Sơn thì trời sáng. Sau đó đi xe Gòn (Vagon tàu hỏa) ra Thanh Luyện của Hà Tĩnh, từ đó đi đò đến Đức Thọ,  Hà Tĩnh là vùng tự do của khu Bốn. Hành trang của cậu vẻn vẹn chỉ có chiếc balo cũ của người anh đi bộ đội tặng cho, cùng vài bộ áo quần cộc cũ kỹ, kèm theo chiếc áo tơi và bao gạo lên đường. Khi đến Đức Thọ, Hà Tĩnh, mặc dầu lạ lẫm nhưng nhóm vẫn phải chia nhau tự đi liên hệ nhà dân để xin ở trọ. Nhóm ba bạn thân được cho ở trong nhà anh chị tên là Túy, gia đình có nghề làm bún bán để sống. Không ai bảo cậu, cậu vẫn tự nguyện cùng thức khuya dậy sớm, giã gạo lấy bột để làm bún với gia chủ. Nhờ vậy mà anh chị Túy nuôi cả nhóm ăn ở mà không lấy tiền trọ. Sau vài tháng, nhóm được chuyển sang Nghệ An để theo học lớp 5 cho đến lớp 7. Thời gian này lúc đầu ở trọ, trong gia đình thầy giáo Võ Tá Phi. Thầy Phi người Hươngg Sơn, Hà Tĩnh, đã từng vào Huế học, và đã kết duyên với cô Tôn Nữ Hồng Điểm là em gái của cố Giáo sư Tôn Thất Tùng. Nhà ở của thầy Phi là một ga xép của ga tàu hỏa còn sót lại. Nhà chật nên chỉ nhận hai học trò trọ học. Cậu và một bạn cùng làng là Trần Viết An (đã mất ở Hà nội). Lúc đầu không có tiền trả tiền cơm, nhưng Thầy vẫn cho ở trọ. Cảm kích lòng tốt của Thầy, cậu đã tham gia tích cực vào làm các công việc lặt vặt như gánh nước, bổ củi và đặc biệt là tham gia trồng thuốc lá sợi vàng cùng gia đình để đỡ bớt gánh nặng cho Thầy. Vì gia đình thầy có cả thảy 6 người mà chỉ trông vào đồng lương ít ỏi của Thầy để sống đã là việc quá sức, nay lại nhận thêm 2 học sinh vùng Bình Trị Thiên cùng ở để cái khó lại chồng lên cái khó thì làm sao mà gánh nổi. Đất đai để trồng thuốc là khai thác hai mép đường sắt đã bị phá hoại, nhặt các thứ do trâu bò thải ra dọc bờ ruộng để làm phân. Cũng nhờ vậy mà cậu bé biết thêm nghề trồng và chế biến thuốc lá sợi vàng. Sau này cũng nhờ hoàn cảnh khó khăn đó mà Thầy đã giúp cậu và bạn cậu xin được học bỗng, mỗi tháng được 25 kg gạo. Có ngần ấy gạo, cộng thêm khoai sắn coi như nạn đói cả nhà đã bị đẩy lùi. Nhờ vậy cậu bé yên tâm tối tối xách chiếc đèn chai đến trường theo học, còn ban ngày lại theo nghề kinh doanh thuốc lá. Cuộc sống như vậy kéo dài hơn một năm thì cậu được chuyển đến trọ học ở xã Nam Trung, Nam Đàn. Nơi đó vốn là cơ sở cũ của trường Nguyễn Công Trứ đã tồn tại nhiều năm. Nhưng do máy bay của Pháp bắn phá ác liệt nên trường phải dời lên Bạch Ngọc để vừa lánh bom đạn, vừa mở rộng quy mô dạy và học cho nhiều thế hệ. Ở môi trường mới, câu cũng trải qua nhiều phương cách sống, vì có nhiều anh em học sinh Bình- Trị-Thiên chuyển đến. Lúc đầu ở theo nhóm, tự đi lấy củi, nấu nướng lấy ăn để học. Phương cách này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, sau đó phải phân tán nhỏ để ở trọ trong từng hộ khác nhau. Cậu được phân vào ở một gia đình có 9 người con gái. Người ta gọi đùa là chim cu rơi vào hũ nếp. Nhờ có nguồn vốn biết dân vận, nên ngay từ đầu cậu bé đã được ưu ái, chỗ ăn chỗ ở khá yên lành, gia chủ rất quý. Thế nhưng do ở xa trường nên về sau đành phải xa tổ ấm mới nhen nhóm để về chỗ ở mới gần trường hơn. Lần này cậu cũng may mắn được ở trọ trong một gia đình đơn chiếc, một mẹ, một con. Tên mẹ là Phạm Thị Em, nhưng thường được gọi tên là mẹ Sung. Người con duy nhất của mẹ lúc ấy đang ở trong quân ngũ. Vì vậy mẹ coi cậu như con đẻ và ở đây cậu bé phát huy hết khả năng dân vận. Cậu có số gạo học bỗng đã có, thay người con trai vắng nhà làm mọi việc, nên cuộc sống dù còn nhiều khó khăn nhưng tinh thần lại rất thoải mái. Mẹ yêu cậu như người con đẻ của mẹ. Ở đây cậu bé lại học thêm được nghề mới là chèo đò và trồng dâu nuôi tằm. Thời gian này cũng phải học ban đêm, nên ban ngày cậu có thời gian để cùng đi lao động trồng dâu, hái lá dâu nuôi tằm, cậu biết cả thuật ngữ tằm ăn lên hay tằm ăn rỗi, biết gột trứng tằm, biết cả kéo tơ để lấy nhộng chiên ăn. Vào tháng 7 năm 1954, khi hiệp nghị Giơneve về Việt Nam được ký, đất nước bị chia cắt làm hai miền. Cậu dù nhớ nhà, rất muốn về thăm gia đình, thăm người mẹ yêu thương của cậu, nhưng do một mặt không có tiền lộ phí, mặt khác cậu được giải thích là chỉ hai năm là có tổng tuyển cử, đất nước được thống nhất rồi về một thể. Vậy là cậu yên trí ở lại theo học cho hết cấp hai. Thế rồi cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất đã diễn ra.Trong thời gian ấy đã có quá nhiều sự kiện xảy ra. Cậu vừa là trưởng ban tổ chức đám cưới cho con trai của mẹ và nhiều anh bộ đội khác, lại tổ chức dạy bình dân học vụ. Nhưng đáng nhớ nhất, có lúc cười ra nước mắt là những năm cải cách ruộng đất, cậu cùng với một người bạn khác cùng quê là Nguyễn Tiến Bội, hiện đang sống ở Tân Bình, cùng nhau chịu trách nhiệm viết khẩu hiệu quảng bá cho chiến dịch giảm tô, cải cách ruộng đất, phát thanh, tổ chức cổ động. Trong đó có sự kiện đáng nhớ nhất là ban ngày đi học cùng bạn bè nhưng buổi tối thì đi gác để quản thúc chính người bạn học của mình. Vì gia đình của các bạn ấy bị quy là phú nông hay địa chủ. Biết là không hợp với đạo lý làm người, nhưng thuở ấy nếu không làm theo lệnh của Đội thì chính bản thân của cậu cũng bị quy là có tư tưởng chống đối và việc ghi vào lý lịch hay nặng hơn là đuổi học sẽ phải xảy ra. Kỹ niệm lớn nhất trong quảng đời trọ học ở Nam Trung, Nam Đàn là mọi người dù khi sung sướng hay lúc gian khổ, cậu cũng đều nhận được những lời khen, lời an ủi. Câu nói thường nghe nhất là “không biết ai có phúc đã đẻ ra cậu ấy mà ngoan thế”. Vì vậy ai cũng sẵn lòng mời cậu về ở với gia đình họ. Thế rồi đã đến lúc phải tạm rời cái nơi có nhiều kỹ niệm đáng nhớ ấy để đến Vinh, theo học cấp 3, đó là năm 1956. Thành phố Vinh cũng như nhiều thị xã khác phải tiêu thổ kháng chiến, nên nhiều nhà cửa, đền chùa bị phá hủy. Thành phố lúc ấy cũng chẳng khác nào nơi thôn quê. Các học sinh cũng phải được phân tán ở trong nhà dân. Cậu và một bạn lớn tưổi hơn, người cùng quê, tên là Lê Văn Tài (sau nhiều năm vắng tin nay được biết là đang còn sống ở gần khu Phong Nha –Kẻ Bàng, rất gần Đồng hới, 87 tuổi). Hai bạn được phân trọ học trong một gia đình nghèo có tên là ông bà Tân. Ở đây cậu cũng được nhận sự ân cần niềm nở của nhà chủ. Sau một học kỳ, khi nhà trường làm được những ngôi nhà lá thì tất cả các học sinh Trị-Thiên đều được dời về ở trong ký túc xá của trường. Lúc này Nhà nước có thực hiện chế độ trợ cấp cho học sinh miền Nam ăn học, Cậu và các bạn miền Nam khác được cấp áo quần, chăn màn và tiền ăn hàng tháng, nhờ vậy cuộc sống từ đó được cải thiện hơn. Giai đoạn này cậu được cử làm hiệu đoàn phó và cán sự đoàn thanh niên lao động và cũng được công nhận là đối tượng Đảng. Kết thúc cấp 3, bạn bè ai cũng háo hức chuẩn bị đi thi vào đại học. Lúc bấy trong trường, nhóm năm, nhóm ba truyền nhau câu nói: “Nhất Y, nhì Dược, Tạm được Bách khoa, Sư phạm loại ra, Nông Lâm bỏ xó” nên rất ít bạn ghi tên thi vào sư phạm và nông lâm. Vì vậy nhà trường kêu gọi các đoàn viên ghi tên vào hai trường này. Cậu là cán bộ đoàn lại là đối tượng đảng nên đã hăng hái ghi tên thi vào Đại Học Nông Lâm

Người nhà quê ra thủ đô

Hè 1959, kết thúc phổ thông, cậu chia tay thầy và bạn, tạm biệt mái trường đơn sơ nhưng thân yêu và chứa đầy kỹ niệm để ra Hà Nội. Cậu chưa biết thủ đô Hà Nội, chỉ nhớ chuyện ngay từ lúc cách mạng mới bùng nổ, lúc ấy ở quê cậu, vào năm 1945, trong một cuộc mít tinh, một vị lãnh đạo hô to: Tất cả hướng về thủ đô Hà Nội chào cờ, chào! Mọi người đều răm rắp làm theo. Nay nghe nói được đi Hà Nội thì hồi hộp lắm. Cả đoàn lớp 10 với hành trang đơn giản bước lên tàu. Ra Hà Nội cậu may mắn có người bạn thân cùng lớp tên là Phạm Ngọc Du, thường gọi là Du A, có bà chị làm bác sĩ ở bệnh viện Bạch Mai, được cấp một phòng nhỏ làm nhà ở, nên cả hai đều nương tựa vào chị trong thời gian chuẩn bị thi Đại học. Bước lên tàu là xa trường và xa gia đình mẹ Sung thương yêu cậu như người ruột thịt. Hoàn cảnh giao thông và kinh tế lúc ấy chỉ biết đi nhưng khó hẹn ngày về. Tàu bắt đầu chuyển bánh. Lần đầu tiên được bước lên tàu hỏa đi thủ đô nhưng thấy cũng chẳng khác cái xe gòn ngày từ quê nhà ra Hà Tĩnh là bao. Tuy vậy, cậu cũng cảm thấy lâng lâng trong lòng, thỏa sức ngắm nhìn thế giới đang lùi lại phía sau. Đến thủ đô Hà nội, đúng là Thủ đô, đẹp hơn thành phố Vinh, nơi cậu vừa tốt nghiệp phổ thông nhiều lắm. Thủ đô có có Hồ Tây rộng bao la, có hồ Hoàn Kiếm, có Vườn Bạch Thảo, có Công viên Bảy Mẫu, nhiều nhà xây và cây xanh mà thành phố Vinh không có. Đặc biệt là có tàu điện chạy kêu leng keng mà trẻ con nhảy lên rồi nhảy xuống vẫn an toàn. Cậu và bạn cậu cũng tranh thủ đi tàu điện cho biết. Nhảy tàu từ phố Bạch Mai, đi đến Hà Đông rồi quay lại vẫn chưa thấy chán. Sau khi thi xong, đôi bạn lại tiếp tục lội bộ quanh thủ đô ngày này qua ngày khác, ngắm nhìn thiên hạ và phong cảnh. Người thủ đô lúc ấy sao mà hiền hòa đến thế.

Hồi hộp và chờ đợi

Số may, nên bạn Du A cũng thi cùng trường, nhưng thi vào thủy sản. Nhờ vậy đi lại từ bệnh viện Bạch Mai đến Văn Điển đã có bạn đồng hành và nhờ vậy đôi chân vẫn đi mà không biết mỏi. Từ lúc đi thăm dò để biết trường đóng ở đâu, rồi đến ngày tựu trường nghe giáo sư Bùi Huy Đáp, hiệu trưởng trường nói chuyện với thí sinh, rồi hôm sau đến thi đều nhờ đôi chân vạn dặm. Thời ấy làm gì có xe bus, tắc xi hay xe ôm, mà dẫu có cũng không biết lấy tiền đâu mà chi trả. Vì vậy, lội bộ là phương pháp bền vững nhất. Thi xong là những ngày chờ đợi, mãi cho đến ngày công bố kết quả dán ở ngoài cổng trường. Chữ được đánh máy trên giấy pơlua, chữ tỏ chữ mờ, tìm mãi không thấy tên cho đến khi thấy tên Mai Văn Quyền xuất hiện ở một trang riêng nhưng không biết xếp vào khoa nào, lớp nào. Cuối cũng tìm gặp được thầy Toản trưởng phòng giáo vụ mới được thầy giải thích là đã đậu rồi, nhưng còn chờ xếp lớp. Dầu vậy hai bạn ra về với vẻ mặt hoan hỷ báo với chị Hữu chị ruột của bạn Du A biết là các em của chị đã đậu đại học. Sau này, những ngày chờ đợi kéo dài và cậu được chọn cho đi học ngoại ngữ để đi Liên Xô, nên danh sách đã gửi về trường chuyên tu ngoại ngữ ở Gia Thượng, Gia Lâm, Cậu cần liên hệ với trường để biết thông tin chi tiết. Thế là lại thêm một tin mừng nữa, nhưng phải tiếp tục chờ đợi. Vì trường ngoại ngữ khai giảng chậm hơn, nên cậu tìm về người quen ở Gia Lâm để tá túc.Về sau cậu được xếp vào lớp học tiếng Nga, nhưng ở trong một lớp không có bạn nào cùng trường cả. Cậu học khá, được cử làm lớp phó phụ trách sinh hoạt. Về sau cậu được kết nạp Đảng lớp đảng viên Hồ Chí Minh 6/1 tại trường. Lâu nay việc kết nạp đảng tại trường chuyên tu ngoại ngữ hiếm khi xảy ra, vì thời gian học ngắn, không đủ để qua thử thách. Nhưng với Cậu, nhờ có thầy Nguyễn Tài Đại, vốn có thời làm thư ký cho Bác Hồ, rồi làm bí thư Đảng ủy của trường Huỳnh Thúc Kháng, đang ra học tại trường Đảng nên có dịp ghé đến trường trình bày để kết nạp Đảng cho cậu Quyền, coi như trường Huỳnh Thúc Kháng nhờ trường Ngoại ngữ kết nạp thay vì trước đây chưa thu xếp kết nạp được. Dù học tốt, được kết nạp Đảng, nhưng Cậu phải ở lại nước vì sức khỏe không đủ do bị đau bào tử nặng. Thế là vui buồn lẫn lộn. Số là năm 1959, nhiều học sinh bị đau phổi, dạ dày hay đau ốm hơn vẫn được cử đi học nước ngoài nói là học vì Miền Nam ruột thịt. Nhưng một số khá lớn trong đó, giữa chừng phải về nước vì không chịu nổi thời tiết khắc nghiệt. Tạm biệt bạn bè để trở lại nơi thi vào để học. Trở về trường mới, bị lùi lại mộ năm nên học khóa 5, Cậu được cử làm lớp trưởng của lớp cây trồng 5, có 92 sinh viên. Lúc này cậu mang trong mình bệnh đau dạ dày mạn tính. Nhưng do bản chất cần cù, chịu khó và nhẫn nại, nên cậu vượt qua, vừa học giỏi, vừa lãnh đạo lớp xuất sắc nên năm nào cậu cũng làm lớp trưởng. Cũng tại đây, cậu bắt đầu phác đồ điều trị bệnh dạ dày cho riêng mình. Bác sĩ tây y nói bệnh dạ dày ít khi chữa lành ngoài phương pháp phẫu thuật, nhưng với phác đồ điều trị kiên trì sau 26 năm bệnh dày dày của cậu đã phải chấm dứt.

Trở thành cán bộ Nhà nước

Tháng 4 năm 1964 tốt nghiệp đại học loại xuất sắc (bằng đỏ). Cậu được thầy Đào Thế Tuấn nhận về làm việc tại phòng sinh lý cây trồng thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đóng ở Văn Điển, Hà Nội. Năm 1965, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, cơ quan sơ tán về nông thôn, nhưng người cán bộ trẻ mới ra trường này vẫn hăng hái tham gia các đề tài nghiên cứu bệnh lúa vàng lụi rồi nghiên cứu sinh lý ruộng lúa năng suất cao. Về sau khi thầy Uyển được cử đi nghiên cứu sinh năm 1967, cậu được giao nhiệm vụ phụ trách phòng sinh lý với chức danh phó phòng, đảm nhiệm công việc của thầy Đào Thế Tuấn phải làm trưởng đoàn đi chỉ đạo sản xuất ở Nghệ An. Cậu một mình vừa tổ chức sơ tán, vừa xây lán trại cho cán bộ ở, vừa liên hệ địa phương xin đất để làm thí nghiệm, vẫn đảm bảo công việc của Viện giao tốt đẹp. Dù gian khổ mấy cũng hoàn thành tốt công việc. Năm 1972, Quảng Trị được giải phóng một phần rộng lớn, Bộ định cử cậu đi tiếp quản Quảng Trị, nhưng lại có trường phái khác đề nghị cho cậu đi học tiếp, và ý tưởng này đã thắng. Bộ Nông nghiệp thông báo cho cậu được chuẩn bị thi tuyển sinh. Đây cũng là bước ngoặt, vì trước năm 1991, chỉ có tuyển không có thi (dựa vào lý lịch và một phần là học lực là chính, những bạn ở miền Nam thì phần lớn do Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam giới thiệu). Nhưng từ năm 1971 là phải thi tuyển. Đầu năm 1972, cậu thi trúng tuyển, đi học ngoại ngữ. Cậu học giỏi ngoại ngữ và cả chính trị vì giáo trình ngoại ngữ không khác với giáo trình mà cậu được học năm 1959-1960. Cuối khóa học, vào lúc thi cử, vợ và con đều nằm bệnh viện, một chốn ba nơi. Vợ ốm phải phẫu thuật ở bệnh viện K, con đau sốt cao ở tại Hà Đông mà nhà và việc làm thì ở Văn Điển. Tình cảnh ấy cậu nghĩ rằng giống như năm 1960, sẽ khó có thể xuất ngoại. Cậu nghĩ đi học thêm là tốt, nhưng sức khỏe của vợ con là quan trọng hơn. Dầu vậy, cậu vẫn thi tốt và mọi việc rồi cũng được thu xếp ổn thỏa. Cậu được cử đi học Liên Xô nhưng chưa tìm được thầy hướng dẫn, nên Mặt trận đề nghị chuyển qua Đông Âu, thế là lại chờ đợi và cuối cùng được báo là đi học ở Bungari. Đi học là có quyền lợi nên đáng lẽ năm 1973 cậu được nâng lương. (5 năm mới được xét nâng lương). Nhưng khốn nổi chỉ tiêu nâng lương chỉ có 3% mà đơn vị của cậu có nhiều người khóa 1 khóa 2 chưa được nâng lương. Nếu một lúc cậu nhận được hai vinh dự thì có người sẽ không được nâng lương. Thế là cậu nhường suất nâng lương cho người khác. Kết quả là sau 14 năm cậu mới được nâng một bậc lương. Khi sang nước bạn, do chỉ muốn được rảnh thì giờ để học nên cậu từ chối làm đoàn trưởng hay làm chi ủy. Cũng may là có nhiều người muốn làm các chức vụ ấy nên cậu dễ dàng thực hiện được nguyện vọng. Nhưng rồi đến năm cuối, do có nhiều sự việc xảy ra, nên cậu bị điều ra làm Bí thư. Thế là mọi việc đều được sắp xếp ổn thỏa.

Gương sáng Gia đình Nông nghiệp

Về nước, tiến sĩ Mai Văn Quyền lại tiếp tục công tác tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (Hà Nội). Từ tháng 11 năm 1979 được cử vào xây dựng cơ sở II tại TP Hồ Chí Minh cho đến tháng 1 năm 1981. Cũng cần nói thêm rằng trong khi tiến sĩ được cử dẫn một đoàn cán bộ khoa học gồm cả trồng trọt và chăn nuôi vào xây dựng cơ sở II ở 12 Nguyễn chí Thanh, năm 1959, thì tiến sĩ vừa đóng vai trò là cán bộ khoa học, vừa là Đảng Ủy Viên của Viện để tổ chức đơn vị Đảng cho cơ sở II, vì hai thầy Viện Phó đang còn ngoài Đảng. Nhiệm vụ nhóm cán bộ chuyên môn là phải đặt được các cơ sở nghiên cứu tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó nhóm trồng trọt tổ chức nghiên cứu lúa ngắn ngày tại xã Bình Mỹ, còn nhóm chăn nuôi tổ chức nghiên cứu tại các trại chăn nuôi của thành phố. Chỉ sau một năm nhóm đã thiết lập được những kết quả đủ để cho cơ sở II bắt đầu phát huy thanh thế của Viện ở phía Nam

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam cơ sở II sáp nhập với Viện Kỹ thuật Nông nghiệp miền Đông Nam Bộ thành Viện Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Thời gian này tiến sĩ Mai Văn Quyền làm trưởng phòng trồng trọt, đảng ủy viên, kiêm bí thư chi bộ. Từ 1981 đến tháng 4 năm 1988, trưởng phòng Sinh lý – Đất phân, Đảng Ủy viên, bí thư chi bộ khối Trồng trọt, tham gia giảng dạy đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ nông học. Năm 1991, tiến sĩ Mai Văn Quyền được phong học hàm phó giáo sư; Tháng 7 năm 1996, tiến sĩ Mai Văn Quyền được phong học hàm giáo sư. Từ tháng tư năm 1988 đến tháng 9 năm 1999 làm Phó Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Từ tháng 9 năm 1999 tham gia các dự án Quốc tế ngắn hạn, chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty phân bón Bình Điền cho đến nay.

Mai Văn Quyền quá trình học và làm

1956-1959: Học cấp Ba ở trường Huỳnh Thúc Kháng, Vinh

1959-1960: Học Ngoại ngữ Nga văn, Trường Đại học Ngoại ngữ, Gia Lâm, Hà Nội

1960-1964: Học Đại học, ngành cây trồng, tại Học Viện NL Gia Lâm, Hà Nội

1964-1967: Nghiên cứu sinh lý bệnh lúa vàng lụi tại các tỉnh phía Bắc. Kết quả nghiên cứu đã góp phần chứng minh bệnh vàng lụi không phải là bệnh sinh lý mà chỉ có các hiện tượng bên ngoài biểu hiện giống bệnh sinh lý. Kết luận này đã góp phần xây dựng phương pháp phòng trừ hợp lý và nhanh chóng dập tắt bệnh nguy hiễm này trên đồng ruộng các tỉnh phía Bắc. Sau đề tài bệnh lúa vàng lụi nối tiếp đến các đề tài khác như thâm canh lúa xuân, khảo nghiệm các cây trồng có nguồn gốc ôn đới, như lúa mì thấp cây, mạch ba gốc, hướng dương, củ cải đường, khoai tây, phương pháp phá miên trạng ở cây lúa….

1972-1973: và thi tuyển vào tháng 7/1973: Học ôn thi NCS tại Hà nội

1973-1974: Học ngoại ngữ tại Trường Đại học Ngoại ngữ Thanh Trì, Hà Nội

1975-6/1978: Nghiên cứu đặc điểm hoạt động quang hợp và khả năng di truyền của các giống ngô lá thẳng khi lai với các giống ngô lá thông thường (Gốc lá rộng). Đề tài nghiên cứu sinh.

1974- 6/1978: Học nghiên cứu sinh tại Bungaria; 6/1978:Tốt nghiệp Phó Tiến sĩ Sinh học về sinh lý cây trồng (nay là Tiến sĩ) tại Viện Sinh lý Thực vật PoPop, Xofia, Bungaria

2/1980-6/1980: Thực tập sinh nghiên cứu tính kháng phèn 2/1980-6/1980, tại IRRI

1979-1986: Nghiên cứu tính chống chịu phèn của lúa trên đất phèn ĐBSCL

1985-1988: Điều phối  viên chương trình nghiên cứu Mạng lưới Phân bón Quốc gia của Viện KHKTNNMN

  1. Học lớp hệ thống canh tác 6 tháng tại IRRI

1986-1999: Chủ trì các đề tài nghiên cứu Hệ thống Canh tác (HTCT) trên nền lúa.

1990-1999: Chủ nhiệm chương trình HTCT ở Đồng Tháp Mười trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện KHKTNNMN với quỹ viện trợ phát triển của Bỉ

1989-1990: Thực tập sinh (Visiting Scientist) tại IRRI (IRRI quy định tiêu chuẩn Post doc là từ khi có học vị tiến sĩ đến 10 năm, trên 10 năm được hưởng danh hiệu visiting scientist) 6/1990: Hoàn thành chương trình sau tiến sĩ (khách mời Visiting scientist) tại Viện Lúa IRRI

1991: được phong học hàm phó giáo sư

1991-1995: Điều phối viên chương trình nghiên cứu thâm canh lúa của Việt Nam

1991-1999: Thành viên ban điều phối màng lưới HTCT Việt Nam hợp tác với IDRC (do IDRC tài trợ).

1993-1996: Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu và phát triển HTCT trên đất dốc ở Miền Đông Nam Bộ trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện KHKTNNMN với trường Địa học KU-Leuven của Bỉ

4/1995: Cố vấn kỹ thuật đánh giá chương trình VIE/91/005 của Viện Lúa ĐBSCL do FAO tài trợ và IRRI cố vấn kỹ thuật.

12/1995: Cố vấn kỹ thuật đánh giá dự án công nghệ sau thu hoạch DANIDA tài trợ cho 4 tỉnh trồng lúa ở Việt Nam- Dự án tiền khả thi.

Tháng 7/1996: được phong học hàm giáo sư

1996-2002: Ủy viên HĐKH chuyên ngành trồng trọt và BVTV của Bộ NN&PTNT

1995-2012 Uỷ viên HĐKH chuyên ngành đất phân, đánh giá các sản phẩm phân bón do các công ty đăng ký khảo nghiệm

1996-2004: Ủy viên HĐKH (khách mời) của Viện Sinh học Nhiệt đới Việt Nam tại TP.HCM

1997: Phó chủ nhiệm chương trình đánh giá 10 năm khai thác Đồng Tháp 10, Đồng Bằng Sông Cửu Lông do Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt chủ trì.

10/1999: Cố vấn kỹ thuật đánh giá kết quả thực hiện dự án phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, Dự án GCP/VIE/021 AUL do Úc tài trợ

1999-2002: Điều phối viên chương trình công nghệ sau thu hoach lúa ở ĐBSCL do chính phủ Pháp tài trợ cho Viện CN sau thu hoạch TP. HCM

9/2001-12/2002: Nhóm trưởng cố vấn kỹ thuật cho chương trình phát triển nông thôn Quảng Ngãi do Úc tài trợ.

7/2002: Cố vấn kỹ thuật cho Công ty tư vấn Lương Nông Quốc tế tại ĐBSCL

Tháng 10-11/2004 Cố vấn kỹ thuật vế phát triển khuyến nông, dự án tiền khả thi cho chương trình phát triển nông thôn tại Thừa Thiên-Huế, do Phần Lan tài trợ

7/2008: Cố vấn kỹ thuật đánh giá giữa kỳ chương trình VE/002 giữa chính phủ Luxambua với Tỉnh Hậu Giang và Đại học Cần Thơ về sử dụng cây lục bình cho sản xuất Biogas, điện, phân bón, thức ăn cho cá, trồng nấm để góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân trong tỉnh. Năm 2009, tiếp tục được mới đánh giá cuối kỳ cũng dự án nói trên

1999- đến 2015 Chủ tịch Hội đồng cố vấn khoa học cho Công ty Phân bón Bình Điền

Mai Văn Quyền con người và tác phẩm

Giáo sư đã đào tạo 12 tiến sĩ khoa học nông nghiệp (đến tháng 6/2008) nhiều thạc sỹ, kỹ sư nông học, viết sáu sách chuyên khảo và nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí, sách ở trong và ngoài nước.Từ năm 2007-2014 cộng tác viên của đài VoV 2 phát thanh mỗi tuần 2 lần các nội dung về phân bón trong khuôn khổ hợp tác giữa Đài VOV2 với công ty Cổ phần phân bón Binh điền. Cũng từ năm 2007 là cộng tác viên cho tờ báo NNVN, viết bài phổ biến khoa học trong lĩnh vực phân bón và cây trồng. Hàng tuần trả lời các câu hỏi của nông dân cả nước qua thư bạn nghe đài thuộc chương trình Đồng hành và chia sẻ trong khuôn khổ hợp tác giữa đài VTV Cần Thơ với công ty Cổ phần phân bón Bình Điền. Với cương vị là chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty Cổ phần phân bón Bình điền, hàng năm tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật sử dụng phân bón cho nông dân Việt Nam, Campuchia, và Myanmar, qua đó tạo thêm điều kiện tăng thêm sự hiểu biết và thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân và chính phủ các nước với nhân dân và chính phủ Việt nam. Dù tuổi cao nhưng trong suốt thời gian còn làm việc ở cơ quan nhà nước hay lúc đã về hưu vẫn được mời làm chủ tịch chấm các luận án tiến sĩ, chủ tịch thẩm định hay nghiệm thu các đề tài, các dự án từ cấp Bộ đến cấp tỉnh, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển khoa học kỹ thuật, phổ biến khoa học kỹ thuật cho nông dân trong và ngoài nước.

Giáo sư Mai Văn Quyền được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 3, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng 3; Huy hiệu 40 năm tuổi đảng (2001); Huy hiệu 50 năm tuổi đảng (2011); Huy hiệu 55 tuổi đảng năm (2015); Huy hiệu vì sự nghiệp phát triển khoa học; Huy hiệu vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp; Huy tượng người bạn nhà nông; Hội viên danh dự Hội Nông dân Việt Nam; Hai năm chiến sĩ thi đua cấp Bộ; Nhiều năm chiến sĩ thi đua cấp Viện.

Giáo sư Mai Văn Quyền người thầy nghề nông phúc hậu, minh triết, tận tâm, nghị lực.

Hoàng Kim

Đến Long Phú, Sóc Trăng bạn sẽ gặp con đường Trường Khánh - Đại Ngãi nối vựa lúa chất lượng ngon và năng suất cao nhất nước.

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

 


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Ma Văn Kháng trong tôi

MaVanKhang
Giáo sư Nguyễn Lân Dũng già làng xóm Lá có bài viết “Cuốn tiểu thuyết ở tuổi 80” giới thiệu sách mới in “Người thợ mộc và tấm ván thiên” của nhà văn Ma Văn Kháng. Thầy Dũng viết: Lời tâm sự (của nhà văn Ma Văn Kháng) nghe xao xuyến quá: “Mình dồn hết sức lực vào cuốn này, cuốn tiểu thuyết cuối cùng của đời mình đấy, Lân Dũng yêu quý à!”. Tôi tin là sách hay, vì đây là sách lắng đọng tâm huyết một đời. “Người thợ mộc và tấm ván thiên” là tuyên ngôn văn học của nhà văn Ma Văn Kháng tiếp nối cuốn hồi ký “Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương” của chính tác giả. Văn là Người. Nhà văn Ma Văn Kháng là ai thì chúng ta đã thật kính trọng và hiểu ông rồi. Ma Văn Kháng thầy giáo Việt văn.

Ma Văn Kháng hơn nửa thế kỷ cầm bút

Nhà văn Ma Văn Kháng trên hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút của mình đã xuất bản 25 tập truyện, 16 tiểu thuyết và 1 cuốn hồi ký. Những tác phẩm nổi tiếng của ông “Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương”, “Mùa lá rụng trong vườn”, “Đồng bạc trắng hoa xòe”, “Trăng soi sân nhỏ”, “Đám cưới không có giấy giá thú”, “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn”, “Một mình một ngựa”, “Bóng đêm”… và gần đây là “Người thợ mộc và tấm ván thiên” chắc chắn sẽ còn được đón nhận của nhiều thế hệ.

Ma Văn Kháng là tấm gương nghị lực đã dấn thân cho nghiệp văn để soi sáng cái đẹp của con người trong đời sống bình dị. Thật khâm phục một thầy giáo dạy văn cấp hai ở vùng núi Lào Cai suốt 20 năm mà đã để lại cho đời một văn nghiệp đồ sộ đến vậy.

Trần Đăng Khoa có lời thẩm văn tinh tế: “Ma Văn Kháng, một cây bút xuất sắc trong văn học đương đại Việt Nam. Ma Văn Kháng là một nhà văn lớn. Có thể xếp ông bên cạnh Nam Cao là cây bút vào hạng xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Tiếc là Nam Cao mắt sớm, nên không phong phú, đồ sộ bằng Ma Văn Kháng. Tuy nhiên Nam Cao viết đều tay hơn Ma Văn Kháng, hầu như ông không có cái nào non lép. Còn Ma Văn Kháng, bên cạnh những tác phẩm đặc sắc, ông vẫn có những cái không xứng tầm với ông. Nhưng chẳng sao. Bởi nếu chỉ chọn những cái hay, vứt hết những gì non lép đi, nếu chỉ tính số lượng những tác phẩm đặc sắc còn lại, Ma Văn Kháng vẫn đứng hàng đầu bảng. Ông là một trong vài nhà văn ứng viên Giải thưởng Hồ Chí Minh năm nay, trong số những ứng viên ấy, ông cũng là người xứng đáng nhất“.

Ông hiện đã lớn tuổi và bệnh tim, hãy quan tâm ông và phổ biến rộng hơn tấm gương dấn thân và tác phẩm chọn lọc của người Thầy này đến nhiều người đọc hơn nữa.

Ma Văn Kháng cuộc đời nghị lực

Nhà văn Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936 tại làng cổ Kim Liên, Đống Đa, hiện sống và viết ở Hà Nội. Ông tham gia quân đội từ tuổi thiếu niên. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, sau lên dạy học ở tỉnh Lào Cai, sống và gắn bó với đồng bào dân tộc miền núi hơn 20 năm. Ngày ấy, ông quen anh Ma Văn Nho, Phó chủ tịch huyện Bảo Thắng, Lào Cai. Anh Nho cũng là người Kinh, quê ở Hạ Hòa, Phú Thọ. Hai anh em cùng đi cơ sở, thực hiện ba cùng với nhân dân, vận động họ tăng gia sản xuất, đóng thuế, đi dân công, xóa mù chữ, vệ sinh phòng dịch bệnh… Ông kết nghĩa anh em với anh Nho và chuyển sang họ Ma. Từ đó Ma Văn Kháng là tên dùng hàng ngày trong công tác. Ký học bạ cho học sinh, ông cũng lấy tên này. Sau này, viết văn thì dùng luôn(1). Ông vào Đảng năm 1959 và lấy vợ năm 1962. Năm 1961 ông gừi truyện ngắn đầu tay Phố Cụt về báo Văn học (tiền thân của báo Văn nghệ) và được đăng. Nhờ có đà động viên ấy mà sau đó ông gửi liên tiếp nhiều truyện ngắn khác (2). Ông trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1974. Từ năm 1976 đến nay ông công tác tại Hà Nội, đã từng là Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà Xuất bản Lao Động. Từ tháng 3 năm 1995 ông là Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã 8 lần đệ đơn xin thôi vị trí này. Ông đã được nhận giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986 cho quyển tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 cho tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ (3)

Ma Văn Kháng tác phẩm chọn lọc

Nhà văn, nhà giáo Ma Văn Kháng trên hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút của mình đã xuất bản 25 tập truyện, 16 tiểu thuyết và 1 cuốn hồi ký “Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương”. Những tác phẩm nổi tiếng của ông phản ánh đời sống của đồng bào dân tộc miền núi như “Đồng bạc trắng hoa xoè”, “Vùng biên ải”, “Trăng soi sân nhỏ, “Gặp gỡ ở La Pan Tẩn”, “Một mình một ngựa”, “Bóng đêm”… là những viên ngọc sáng. Ông được mệnh danh là “nhà văn của núi rừng”. Ngoài ra, ông cũng rất thành công với đề tài gia đình như các tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn”, “Đám cưới không có giấy giá thú”. Tác phẩm của ông sẽ còn được đón nhận của nhiều thế hệ. Tại Tác phẩm đầu tay hay sự khởi đầu nghiệt ngã (4) có trích dẫn nhận định đời văn của Ma Văn Kháng. Ông cho biết đời văn của ông, ngoài 15 tiểu thuyết và 1 cuốn hồi ký, ông đã viết khoảng 200 truyện ngắn. Trong 25 tập truyện ngắn đã in thì chỉ có 18 tập ông coi là tác phẩm. Truyện ngắn đầu tay “Phố cụt” cho dù để lại trong ông nhiều ấn tượng và cảm xúc đẹp, nhưng nó là một truyện viết thường nên ông không đưa vào tập truyện ngắn nào của mình. Nó chỉ được in chung trong “Tủ sách mùa đầu” của Nhà xuất bản Phổ thông.

Một số tác phẩm tiêu biểu của Ma Văn Kháng

  • Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979)
  • Mưa mùa hạ (tiểu thuyết 1982)
  • Vùng biên ải (tiểu thuyết,1983)
  • Trăng non (tiểu thuyết 1984)
  • Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết,1985)
  • Giấy trắng (tiểu thuyết)
  • Phép lạ thường ngày
  • Thầy Thế đi chợ bán trứng
  • Võ sỹ lên đài (1986)
  • Thanh minh trời trong sáng
  • Hoa gạo đỏ
  • Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986)
  • Đám cưới không giấy giá thú
  • Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988)
  • Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988)
  • Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989)
  • Đám cưới không giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989)
  • Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992)
  • Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992)
  • Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994)
  • Ngoại thành (truyện ngắn 1996)
  • Truyện ngắn Ma Văn Kháng(tuyển tập 1996)
  • Vòng quay cổ điển (truyện ngắn 1997
  • Đầm sen (1997)
  • Một chiều giông gió (1998)
  • Ngược dòng nước lũ (1999)
  • Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001)
  • Bến bờ
  • Một mình một ngựa (2009)
  • Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (2009)
    + Người thợ mộc và tấm ván thiên (2016)

Ma Văn Kháng trong tôi

Nhân trò chuyện với anh Chử Anh Đào và Văn Công Hùng, tôi có nói:  Hoàng Kim đã đọc văn Ma Văn Kháng và văn anh Chử Anh Đào từ rất lâu rồi, nhưng nay mới có dịp kết nối FB để đối diện con người thực ngoài đời và con người nhà văn trên văn hóa mạng. Tôi có viết bài MA VĂN KHÁNG THẦY GIÁO VIỆT VĂN, nay muốn diễn đạt giữa thầy giáo nhà văn Ma Văn Kháng và thầy giáo nhà văn Chử Anh Đào có những nét tương đồng: Họ đều là những người thầy cầm bút, họ đều rời chốn đô hội “đa số” về nơi tỉnh lặng “thiểu số” và số phận cho họ nhân xưng của một nhà văn dân tộc đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Và, điều sâu xa hơn, họ đều trân trọng nâng niu những giá trị gốc văn hóa bản địa của núi rừng Tây Bắc và Tây Nguyên cao vọi để làm cho giá trị đó tỏa sáng. Họ đừng nên so sánh với bất cứ ai, và nếu có một giải thưởng tôn vinh họ thì đó cũng chỉ là bình thường và lại là một câu chuyện khác.

Và cũng vậy, giống như câu chuyện Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam, thầy Võ Tòng Xuân, TS. Tô Văn Trường,  PGS.TS. Dương Văn Chín, GS. Nguyễn Tử Siêm … cùng biết bao người tiên phong đưa hạt ngọc Việt đến châu Phi. Công việc thầm lặng  “Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương”, “Người thợ mộc và tấm ván thiên” góp phần thức tỉnh một nhân cách, một định hướng.

Ma Văn Kháng là nhà văn lớn, viên ngọc sáng, đồng bạc trắng hoa xòe của núi rừng Tây Bắc. Mỗi nhà văn lớn ngoài cái tâm nhân cách, cái tầm tư tưởng, cái tài tình danh sĩ,  còn có cái hồn thiêng của một vùng đất, một nghề nghiệp mà họ yêu thiết tha như chính cuộc đời này. Ma Văn Kháng gắn bó với Tây Bắc như Nguyên Ngọc thân thiết với những ngọn núi kỳ vĩ của núi rừng Tây Nguyên, và như Nguyễn Ngọc Tư thương nhớ sâu xa cánh đồng bất tận của đất phương Nam vậy.

Hoàng Kim

Chaongaymoi

Hoàng Kim Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

 

Lúa sắn Việt châu Phi

ChauPhikhongngheochingheoquanly

Định hướng quan trọng hơn tốc độ. Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp. Tại diễn đàn kinh tế thế giới ở châu Phi tổ chức tại Kigali 11-13 tháng 5 năm 2016 các nhà lãnh đạo châu Phi nhấn mạnh. Châu Phi không nghèo, chỉ nghèo quản lý, cần tìm kiếm phương thức bảo tồn phát triển bền vững. Câu hỏi “Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam”, đã có trên mười năm kinh nghiệm, hôm nay và ngày mai chúng ta nên và có thể làm gì?

Con người tìm đường sống theo bản năng và bị chi phối bởi số phận lịch sử. Thế giới được viết lại sau năm 1492 khi Tân Thế Giới được khám phá. Sự di cư của người da trắng châu Âu cùng với sự xuất khẩu lao động nô lệ của người châu Phi sang vùng đất hứa đã đồng hóa người da đỏ, ngoài những điều tốt đẹp có sự cưỡng chiếm, tái phân phối châu Mỹ tạo nên Đông Tây hai nẻo đường nhân loại. Châu Phi hôm nay vốn đã chi phối mạnh mẽ của hợp tác Bắc Nam từ nhiều thập kỷ trước, nay đang tìm đường hợp tác Nam Nam phối hợp với hợp tác Bắc Nam.

Việt Nam Châu Phi hợp tác Nam Nam là bút ký của Hoàng Kim, một trãi nghiệm quý giá bài học thực tiễn từ người Thầy liên quan nhiều các vấn đề quốc tế nóng hổi và sự trăn trở về tầm nhìn. Thông tin chuyên đề này tiếp nối: “Lúa Sắn Việt Nam đến châu Phi”, “Sắn Việt Nam kết nối châu Phi“ “Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai“,“Cách mạng sắn ở Việt Nam“.

 

*
Việt Nam châu Phi cơ hội hợp tác

Hội thảo Quốc tế Việt Nam – Châu Phi lần 1 được tổ chức tại Hà Nội năm 2003 với chủ đề “Việt Nam – Châu Phi: Những cơ hội hợp tác và phát triển trong thế kỷ XXI” do Chính phủ Việt Nam khởi xướng là mốc son điển hình của Hợp tác Nam-Nam. Các đại biểu đặc biệt ca ngợi thành công của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, coi đây là trọng tâm hợp tác giữa Việt Nam và Châu Phi trong thời gian tới. Bài viết này tổng quan thông tin và kết nối sự kiện để giúp bạn đọc dễ theo dõi.

Trước đó vào năm 2000, FAO/ UNDP đã dự báo, nhấn mạnh và kêu gọi khởi xướng những chương trình hợp tác liên châu lục, tạo đồng thuận chung tay cùng giải quyết những vấn đề quốc tế nóng hổi và cấp bách, mang tính toàn cầu như: an ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu toàn cầu, giải pháp ứng phó hạn mặn ngập úng, suy thoái ô nhiễm môi trường, thức ăn, điều kiện sinh hoạt.

Theo VOA, Hội thảo Quốc tế Việt Nam – Châu Phi lần 1 có sự tham dự của 84 đại biểu quốc tế đến từ 23 nước Châu Phi, 10 tổ chức quốc tế và khoảng 300 đại biểu từ các Bộ, ngành, cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam có hợp tác với Châu Phi. Sáng kiến tổ chức Hội thảo của Việt Nam nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các đại biểu quốc tế vì đã tạo ra cơ chế đối thoại hợp tác chặt chẽ, toàn diện giữa hai bên. Đây cũng là một trong năm sáng kiến được đánh giá cao trong Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao Á – Phi lần 2, tổ chức tại Indonesia năm 2005.

Hội thảo Quốc tế Việt Nam – Châu Phi lần 2 với chủ đề “Việt Nam – Châu Phi: Hợp tác cùng phát triển bền vững” tại Hà Nội ngày 17 – 19/ 8/ 2010 có sự tham dự của 41 đoàn khách quốc tế, trong đó có 22 nước châu Phi, 15 tổ chức quốc tế (có 12 Bộ trưởng, Phó Tổng Thư ký LHQ, Tổng Giám đốc Ban thư ký NEPAD…) và đại diện các nước có dự án hợp tác 3 bên và 4 bên với Việt Nam và châu Phi (Pháp, JICA- Nhật Bản…) cùng một số doanh nghiệp châu Phi, các học giả, nhà nghiên cứu về châu Phi. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và nhiều lãnh đạo Bộ, ngành với các địa phương cùng doanh nghiệp của Việt Nam tham dự. Chính phủ Việt Nam khẳng định chủ trương nhất quán mong muốn đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế với các nước châu Phi theo hướng thiết thực, hiệu quả và bền vững hơn, tương xứng với mối quan hệ hữu nghị truyền thống vốn có và với tiềm năng to lớn của hai bên, vì lợi ích chung của cả Việt Nam và châu Phi. Hội thảo tập trung thảo luận về quan hệ hợp tác đa ngành, đa lĩnh vực Việt Nam – châu Phi, trong đó có an ninh lương thực, hợp tác nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo. Các lĩnh vực trọng điểm là nông nghiệp, thương mại, năng lượng và lao động…; vấn đề hợp tác thương mại, đầu tư và phát triển nguồn nhân lực cho phục hồi và phát triển kinh tế là những nội dung chủ đạo.  Hội thảo dành nhiều thời gian thảo luận xác định mô hình hợp tác thiết thực, hiệu quả trong những năm tới. Một số văn kiện quan trọng được ký kết giữa Việt Nam và các nước châu Phi. Bên lề Hội thảo, những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu sang châu Phi như các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi, các cơ sở sản xuất máy kéo nông nghiệp, dây và cáp điện, thiết bị điện gia dụng, dệt may … đã được giới thiệu đến khách tham quan.

Những hợp tác song phương Việt Nam Châu Phi về nông nghiệp trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2010, giữa Hội thảo Việt Nam Châu Phi  lần 1 và Hội thảo Việt Nam Châu Phi  lần 2, chủ yếu là các đoàn vào của châu Phi và các châu lục sang Việt Nam tham quan trao đổi về kinh nghiệm thâm canh cây lương thực lúa ngô sắn khoai lang . Địa điểm tổ chức tại Việt Nam với nguồn tài chính song phương hoặc trợ giúp của bên thứ ba. Ví dụ như Trung tâm Giống Cây trồng Hà Nội đã tổ chức khóa đào tạo về kỹ thuật, quản lý trồng lúa nước cho cán bộ khuyến nông Mozambique và chuyên gia nông nghiệp của Hà Nội dự án JICA hợp tác 3 bên giữa Việt Nam – Nhật Bản – Mozambique về phát triển lúa gạo. Nội dung đào tạo gồm các chuyên đề chính như: Tình hình sản xuất lúa gạo Thế giới, Việt Nam và ở Hà Nội; Chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam; Cây lúa Việt Nam: giống và quy trình kỹ thuật thâm canh, thủy lợi, tưới tiêu và các biện pháp quản lý nước, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản chế biến lúa, … tham quan đồng ruộng và thăm các mô hình tiêu biểu.

Câu chuyện trồng lúa ở châu Phi

Lúa Việt Nam đến châu Phi chỉ thực sự được bắt đầu năm 2005 khi  Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone tiến sỹ Sama Monde đến Việt Nam. Ông đã về thẳng Đồng Bằng Sông Cửu Long thăm trường đại học An Giang và vùng sản xuất lúa An Giang. Ngưỡng mộ và ấn tượng trước các thành tích về phát triển lương thực của Việt Nam, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa năng suất cao của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), mà tỉnh An Giang lúc đó đã đạt sản lượng trên một triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu cao nhất nước. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone tiến sỹ Sama Monde đã trân trọng mời GSTS. Võ Tòng Xuân sang Sierra Leone giúp xây dựng chương trình an ninh lương thực.

VoTongXuan
Giáo sư Xuân nhớ lại: “Kể từ năm 1984, là chuyên gia quốc tế, tôi tham gia vào các hội nghị và các đoàn chuyên gia được tạo ra bởi WB, FAO, IFAD, CIRAD, CGIAR để thực hiện các công trình tư vấn tại Senegal, Nigeria, Kenya, Ethiopia, Madagascar. Tôi nhận ra rằng cần phải có một cách tiếp cận tốt hơn để chấm dứt nạn đói và nghèo đói ở châu Phi. Ngày 16 tháng Ba năm 2006, ngài Sierra Leone Đại sứ Sierra Leone trên đường đến Bắc Kinh đã ký với tôi biên bản ghi nhớ hợp tác trong một quán cà phê tại Galaxy Hotel, Phan Đình Phùng, Hà Nội“.  Sau đó, trong năm 2006, GSTS. Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường đại học An Giang đã đến Sierra Leone làm việc với Phó Tổng thống Solomon Berawa, Bộ trưởng Sama Monde về chương trình nói trên. Sau khi đi khảo sát thực địa, Hai bên thống nhất lựa chọn vùng Mange Bureh thuộc huyện Port Loko làm khu thí điểm trồng lúa. Theo GS Võ Tòng Xuân, tại Sierra Leone chỉ cần cải tạo lại, bón phân hữu cơ, cải tạo hệ thống kênh dẫn nước từ sông vào là có thể trồng được mỗi năm 2 vụ lúa ngắn ngày.

Tiến sĩ Tô Văn Trường đã thuật lại chi tiết trong bài “Giúp châu Phi trồng lúa bài toán được và mất” đăng ở bài học thực tiễn từ người Thầy: “Vấn đề đặt ra là làm sao có được nguồn kinh phí để có thể bắt tay vào việc xây dựng khu thí điểm này?  Sierra Leone là quốc gia nằm ở Tây Phi có diện tích 71.740 km2, dân số hơn 5 triệu người, có nhiều tiềm năng về tài nguyên (đất đai, nguồn nước, khoáng sản…) nhưng vì mới trải qua cuộc nội chiến, cơ sở vật chất rất nghèo nàn, lạc hậu, lương thực phải nhập khẩu hơn 90%, ngay Thủ đô là Freetown cũng thiếu điện nước trầm trọng, nhiều phố phải thắp đèn dầu và hình ảnh người dân từ già đến trẻ phải nhẫn nại đi đội nước mang về dùng trở thành khá phổ biến trên các đường phố”.

Bài toán đã có lời giải khi Công ty Long Dân, một doanh nghiệp chuyên xuất khẩu mặt hàng nông sản có trụ sở tại TP.HCM đã hợp tác với GS Võ Tòng Xuân bỏ ra 150.000 USD để trồng lúa tại đất nước này. “Việc lựa chọn khu thí điểm hơn 100 ha để trồng lúa ở Mange Bureh là hoàn toàn thích hợp về điều kiện thổ nhưỡng, đất đai, nguồn nước. Giống lúa của Việt Nam đưa sang có ưu điểm là giống lúa ngắn ngày, năng suất cao so với giống lúa địa phương. Các giống lúa trồng thí điểm ở Trại nông nghiệp Rokupr (gần 1 ha) mọc khá tốt vì có đủ nguồn nước. Riêng 4 ha lúa thí điểm ở Mange Bureh phát triển không được như mong muốn vì 3 nguyên nhân (1) Cỏ tranh cao ngút đầu người, làm đất chỉ bằng thủ công không có máy cày lật hết rễ cỏ tranh nên ảnh hưởng nhiều đến cây lúa (2) Làm đất, gieo trồng vào cuối tháng 8 nên khi mùa mưa chấm dứt, không có đủ nguồn nước cung cấp cho các giai đoạn phát triển của cây lúa (ra lá, đẻ nhánh, làm đòng, trổ chín) và (3) bón phân và thuốc trừ sâu đều thiếu so với yêu cầu phát triển của cây lúa.”

Slide22

5 bước kế hoạch phát triển lúa: kinh nghiệm của tiến sĩ Lúa (Giáo sư Võ Tòng Xuân) là: 1) Khảo sát đồng ruộng, chọn điểm và mô tả điểm. 2) Thiết lập các thí nghiệm hợp phần kỹ thuật thích hợp sinh thái (về giống, thời vụ bón phân, mật độ, phòng trừ sâu bệnh hại,…) 3) Thiết kế hệ thống tưới tiêu cho các điểm đã tuyển chọn; 4) Trình duyệt dự án đầu tư được chấp thuận với khuyến nghị đồng thuận của Bộ/ Sở Nông nghiệp đến ngân hàng cho vay; 5) Tổ chức sản xuất lúa gạo của nông dân địa phương châu Phi với hướng dẫn thực hành của nông dân trồng lúa có kinh nghiệm Việt Nam. Kết quả mà nhóm chuyên gia do GS Võ Tòng Xuân dẫn đầu đã thu được kết quả khá tốt. Năng suất lúa (giống lúa ngắn ngày đem từ đồng bằng sông Cửu Long qua) đạt 4,8 – 5,2 tấn/ha trong vòng 105 ngày, so với giống lúa địa phương trên 140 ngày mà năng suất dưới 3 tấn/ha.

NongdanvaluaVietochauPhi
Nhiều nông dân ĐBSCL đã được đưa sang các nước châu Phi để chuyển giao kỹ thuật trồng lúa. Bài báo “Quảng bá hạt lúa Việt ở châu Phi” của Hải Cường – Cẩm Tú – B.T đăng trên dân Việt ngày 25 tháng 1 năm 2012 đã kể chi tiết cho bạn nghe chuyện này:

“…cách đây khoảng 5 năm  (2007) bà Từ Thanh Hương, một Việt kiều Đức thuê 110 ha đất nông nghiệp ở nước Cộng hoà Sierra Leone làm trang trại trồng lúa. Lý giải về lý do chọn đất nước này, bà Hương cho hay: “Thổ nhưỡng, khí hậu ở Sierra Leone giống như đồng bằng Nam Bộ Việt Nam, rất thuận lợi trồng lúa nước. Trong khi đấy là đất nước còn rất khó khăn về lương thực“. …“Chúng tôi dựa trên cơ sở hạ tầng thuỷ lợi sẵn có rồi đầu tư thêm một số hạng mục để sản xuất lúa giống bán lại cho người dân địa phương” – bà Hương cho biết. Một số công ty của nước láng giềng Nigeria nghe tin đã lập tức mời GS Võ Tòng Xuân sang khảo sát giúp. GS Xuân đã sang Nigeria thăm 7 tiểu bang, rồi cũng thiết kế chương trình tương tự như ở Sierra Leone. Cũng tương tự như thế, nhóm chuyên gia Việt Nam đã có mặt tại Sudan, Mozambique, Rwanda, Burundi và Liberia để khảo sát vùng thích nghi cây lúa của Ghana và Mauritania theo yêu cầu của Công ty Nissa Development Ltd và Societe Mauritanienne d’Armement Pelagique” .

“Tại Liberia, PGS – TS Dương Văn Chín – Phó Viện Trưởng Viện Lúa ĐBSCL, người đang cùng làm việc với những công nhân nông nghiệp ở một trại thực nghiệm trồng lúa tại vùng Madina cách thủ đô Monrovia 150km, cũng cho biết: “Liberia là một trong số 37 nước trên thế giới đang gặp khủng hoảng và mất an ninh lương thực. Hàng năm đất nước này cần khoảng 500.000 tấn gạo để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nội địa. Trong khi đó, diện tích lúa ở đất rất nhỏ, năng suất thấp. Vì vậy, việc các chuyên gia Việt Nam có mặt tại đây để giúp họ trồng lúa, quảng bá hạt ngọc Việt rất có nhiều ý nghĩa”.

Thực tế là sau một thời gian khảo sát, với kinh nghiệm của mình, Việt Nam có thể giúp Liberia phát triển trồng lúa cũng như quảng bá hạt lúa Việt Nam. Theo PGS – TS Chín, chúng ta đã và đang chuyển giao cho bạn những kỹ thuật phù hợp. Thiết kế, xây dựng và vận hành hệ thống thoát thủy khoa học cho vùng đầm lầy. Du nhập và thử nghiệm các giống lúa chất lượng cao từ châu Á. Tập huấn và tổ chức nhân giống lúa cấp xác nhận. “Việc đưa kỹ thuật trồng lúa sang giúp đỡ bạn một mặt sẽ tăng cường quan hệ hai nước, mặt khác sẽ giúp người dân nơi đấy biết đến hạt lúa Việt Nam” – PGS – TS Chín nói.”

Theo những thông tin mới nhất, hiện nay nhiều quốc gia châu Phi đã chính thức đặt vấn đề mở rộng hợp tác đi vào chiều sâu bằng cách đưa nông dân Việt Nam sang châu Phi, triển khai các chương trình sản xuất lúa và chế biến tại chỗ. Hiện tại, ở một số quốc gia châu Phi như Benin, Mali, Mozambique, Guinea Conakry… cũng có khoảng hơn 30 chuyên gia nông nghiệp Việt Nam đang trực tiếp giúp các nước bạn về nhiều ứng dụng công nghệ – khoa học mà Việt Nam đã thành công trong thời gian qua …”

Sắn Việt Nam đến châu Phi

Sắn là cây lương thực cứu đói, cây thức ăn gia súc, cây tinh bột và nhiên liệu sinh học được FAO quan tâm rất sớm trong các giải pháp an ninh lương thực, hợp tác nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo, nguồn nguyên liệu để mang lại nhiên liệu sạch giá cạnh tranh , mang đến nhiều cơ hội sinh kế và việc làm cho người nghèo của châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh.

Kim_in_Africa
Tôi (tiến sĩ Hoàng Kim, tác giả bài viết này) năm 2003 may mắn được nằm trong nhóm chuyên gia quốc tế khảo sát đánh giá một số vùng sắn chính ở châu Phi và châu Mỹ La tinh  sau đó họp ở CIAT/ Colombia về chọn tạo giống và định hướng nghiên cứu bảo tồn phát triển sắn.

Trước đó năm 2000, tôi đã có báo cáo tại FAO (Rome) “Tình trạng sắn tại Việt Nam các gợi ý cho tương tai nghiên cứu và phát triển” (Status cassava in Vietnam: implication for future research and development, by Hoang Kim, Pham Van Bien and R.H. Howeler) và bài được đăng trên tài liệu của FAO 2003. Sau này bài viết này đã được FAO coi như là một chỉ dấu minh chứng so sánh để thấy rõ tốc độ tăng năng suất và sản lượng sắn Việt, đã góp phần tăng thêm sinh kế, thu nhập đời sống và cơ hội việc làm cho người dân nghèo Việt Nam.  Năng suất sắn bình quân của Việt Nam năm 2000 gần tương đương sắn châu Phi và thấp hơn so bình quân năng suất sắn châu Mỹ nhưng sau mười năm, năng suất sắn Việt Nam đã tăng lên gấp đôi và sản lượng sắn Việt Nam tăng lên gấp năm lần, vượt năng suất sắn châu Mỹ và vượt xa năng suất sắn châu Phi. Kinh nghiệm thực tiễn đã mang cây sắn Việt Nam đến với các bạn châu Phi.

KiminCIATColombia2003
Nhóm chuyên gia sắn quốc tế người Uganda, Nigeria, Brazil, … làm việc ở CIAT năm 2003 để báo cáo kết quả khảo sát các vùng sắn chính ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh và lập kế hoạch phối hợp nghiên cứu phát triển sắn. Tất cả mọi người đều rất hào hứng chăm chú theo dõi và trao đổi về “hợp tác Nam Nam” tầm nhìn của Chính phủ Việt Nam tại Hội thảo Quốc tế Việt Nam – Châu Phi lần 1  chú trọng nông nghiệp.

CIATIndiaVietnam
Các chuyên gia sắn CIAT Ấn Độ Châu Phi Châu Á Châu Mỹ Latinh Việt Nam đã cùng làm việc trên đồng ruộng Việt Nam. Thành tựu công việc trên đồng ruộng đã được trao đổi chia sẻ thân thiết, cùng bảo tồn và phát triển.

Sắn Ghana bảo tồn và phát triển, thao thức một góc nhìn

“Định hướng quan trọng hơn tốc độ” (Direction is somuch more important than speed). Tôi đồng tình với đánh giá của các nhà lãnh đạo châu Phi tại diễn đàn kinh tế thế giới ở châu Phi tổ chức tại Kigali 11-13 tháng 5 năm 2016 “Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp” (Source: Africa’s future lies in agriculture – African leaders insist ). Đánh giá một đất nước, một dân tộc, một chính sách kinh tế xã hội cần nhìn thấu chất lượng cuộc sống của những người nghèo nhất xã hội là nông dân. Nếu họ chưa thay đổi được số phận thì đất nước đó, chính sách đầu tư đổi mới đó vẫn chưa đạt được hiệu quả đích thực. Nông nghiệp là giá đỡ của nền kinh tế ở châu Phi và Việt Nam, cần khai mở được tiềm lực nông nghiêp để chấn hưng kinh tế văn hóa xã hội.

Châu Phi phải có một cách tiếp cận tốt hơn để chấm dứt nạn đói và nghèo đói ở đó. Hợp tác Nam Nam do FAO và Chính phủ Việt Nam khởi xướng đầu thế kỷ 21 có ý nghĩa chính trị kinh tế văn hóa xã hội to lớn. Thành tựu và bài học đạt được là tốt, có thể chia sẻ bảo tồn phát triển bền vững. Tương lai của châu Phi nằm trong nông nghiệp đã tái khẳng định tầm nhìn và ước muốn của bạn trong thay đổi phát triển. Sự cần thiết phải nắm lấy cơ hội, điều chỉnh mới và tăng tốc, đừng để cơ hội vuột đi.

Việt Nam – châu Phi, nên đẩy mạnh hợp tác tư nhân, khai thác nhiều kênh hợp tác đầu tư hiệu quả, mà không chỉ trông chờ vào hợp tác song phương chính thức giữa hai chính phủ cho bảo tồn và phát triển. Con người (Man power) Vật liệu (Materials), Quản lý (Management) Cách làm (Method) Tiền (Money) cần hợp tác khai thông hiệu quả.

(còn tiếp…)

Hoàng Kim

 

Notes:

TỪ MAOTRẠCH ĐÔNG ĐẾN TẬP CẬN BÌNH Nghiên cứu lịch sử đăng lại bài chuyên luận của Hoàng Kim …”Tôi dạo chơi Thiên An Môn, Cố Cung, Di Hòa Viên, Thiên Đàn trong ngày Quốc tế Lao động, ngắm những nơi lưu dấu các di sản của những triều đại hiển hách nhất Trung Hoa, lắng nghe đất trời và các cổ vật kể chuyện. Tôi ngắm nhìn người nghệ sĩ nhân gian, vui cùng ông và đùa cùng trẻ thơ. … Muốn BÌNH sao chẳng lấy nhân. Muốn AN sao lại bắt dân ghê mình? (Nguyễn Bỉnh Khiêm) …” https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tu-mao-trach-dong-den-tap-can-binh/

ĐỊNH HƯỚNG QUAN TRỌNG HƠN TỐC ĐỘ. Tầm nhìn Trường Đại học Lãnh đạo Châu Phi (AFU) thao thức đối với Việt Nam một tầm nhìn tham chiếu. 

“Vào ngày 29 tháng 9 năm 2017 Đại học Lãnh đạo Châu Phi (ALU) đã mở cánh cửa cho khuôn viên thứ hai của mình trên lục địa, mở ra một kỷ nguyên mới của giáo dục đổi mới cho Rwanda. Với mục tiêu dài hạn là đào tạo 3 triệu thanh thiếu niên châu Phi vào năm 2060, Rwanda là trường đại học thứ hai trong kế hoạch đầy tham vọng mở 25 trường đại học trên toàn châu Phi. Khuôn khổ đầu tiên được khai trương tại Mauritius vào năm 2015. Theo trang web của họ, ALU mong muốn giáo dục thế hệ tiếp theo của các nhà lãnh đạo đạo đức, những người sẽ thúc đẩy lục địa này tiến lên phía trước.

Khóa học sắp tới của ALU sẽ dành năm đầu tiên tham gia lớp học “Leadership Core”, một chương trình giảng dạy được thiết kế nhằm lôi kéo sinh viên với một loạt các kỹ năng siêu dữ liệu cốt lõi, được coi là cần thiết để tồn tại trong thị trường việc làm ngày nay. Trong số các nhân tố cốt lõi là các lớp học về dữ liệu và ra quyết định, cũng như sự lãnh đạo của doanh nghiệp. Việc tập trung vào các kỹ năng này đến từ các nghiên cứu cho thấy sự không phù hợp trong giáo dục đại học và kỹ năng cần thiết trong lực lượng lao động hiện đại.

ALU tự hào về việc giảng dậy và học tập sáng tạo, cung cấp nội dung thông qua mô hình lộn xộn lớp học. Ngoài việc chỉ chuẩn bị cho sinh viên làm việc, ALU hy vọng sẽ tạo ra các nhà lãnh đạo, những người sẽ nắm giữ mantle để giải quyết một số thách thức lớn nhất mà Châu Phi phải đối mặt. Để đạt được điều này, một trong những chương trình được cung cấp tại khuôn viên Rwanda của ALU là một bằng Thạc sĩ Toàn cầu…”

Read more at

African Leadership University is Decolonizing Higher Education in Africa

On September 29, 2017 African Leadership University (ALU) opened the doors to its second campus on the continent, ushering in a new era of innovative education to Rwanda. With a long-term goal of educating 3 million young Africans by 2060, Rwanda is the second campus in an ambitious plan to open 25 campuses across the African continent. The first campus opened in Mauritius in 2015. According to their website, ALU aspires to educate the next generation of ethical leaders who will push the continent forward.

ALU’s incoming class will spend their first year taking classes in the ‘Leadership Core,’ a custom curriculum designed to instill students with a set of core meta-skills, deemed necessary for survival in today’s job market. Among the core are classes on data and decision-making, as well as entrepreneurial leadership. The focus on these skills comes from research that shows a mismatch in university education and skills needed in the modern workforce.

ALU prides itself on innovative teaching and learning, delivering content through a flipped classroom model. Beyond just preparing students for work, ALU hopes to mold leaders who will take up the mantle of solving some of the greatest challenges facing Africa today. To this end, one of the programs being offered at ALU’s Rwanda campus is a Global Challenges degree.

The idea of Global Challenges is that it promotes mission-driven learning, allowing students to align their learning around a problem they want to solve. “Ultimately we want students to have a sense of their own mission, aligned with their purpose in life. And we have formalized this idea in a degree,” ALU founder Fred Swaniker told Atlanta Black Star.

ALU is a recent entry to a larger movement to reclaim and remake college education in Africa and across the globe. The #rhodesmustfall movement, which began in South Africa and quickly spread to other universities, has ignited a debate about decolonizing education. Joining the debate, one of the ALU faculty in Mauritius recently penned a viral article on decolonizing social sciences at an African university. ALU is primed to be at the center of this movement to reshape and redefine education in Africa in a manner that, as the name suggests, has both ‘Africa’ and ‘leadership’ at its center.

Along with retooling what education means in Africa, ALU hopes to increase accessibility to meet the rising demand of the continent’s surging youth population. There is a massive shortage of colleges and universities in Africa. Speaking to a new group of faculty and staff going through orientation in Mauritius, Swaniker stated, “Only 8% of Africa’s college-aged students are enrolled in college or university. The capacity does not exist. Africa would need to build 215 Harvard sized universities a year for the next 15 years in order to catch up to the 26% college enrollment rate of India.” He further stated that college enrollment in China is at 30% and the United States and Europe are over 60%. “Kenya, for example, graduates 600,000 high school students a year but only has the capacity for 50,000 students in its colleges and universities,” said Swaniker, just one example among many he offered highlighting the massive need for institutions like ALU.

In explaining to ABS, why he decided to enroll at ALU in Mauritius, second-year student Gitahi Kairuki explained that he felt ALU offered something no one else did. “I feel this is something that has never been done before in the sense of an African going to school in Africa, looking for African solutions to African problems. When you think about Africa’s brain drain in the past, you can see how this is a great opportunity.” Kairuki added, “One of the great things about being here is the ability to network with people from all over Africa. We have been kept apart by political ideologies but we all have the same goals. There is a very strong Pan-African feeling that comes with being here.”

Speaking to ABS on why African content and contextualization in the curriculum is so important, Nachula Wilson, a member of the Business Management faculty in Mauritius notes, “A lot of my friends went to African business schools. Most of what they were taught was based on a curriculum designed somewhere in the west. They learned western business management concepts and applications and then they graduate and end up unable to use it in their African work environment.”

Reflecting on her own education, Wilson states, “I learned about creative accounting through an in-depth study of American and UK financial scandals. And there’s nothing wrong with this except there were financial scandals happening right within my own environment, which is an entirely different world financially than the U.S.” She complains that she “did not get a chance to think around structures that can be put in place in the Zambian financial sector to prevent creative accounting. Instead,

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Lúa sắn Việt châu Phi

LuaSanVietNamdenchauPhiGiáo sư Võ Tòng Xuân và tiến sĩ Tô Văn Trường trên ruộng lúa thực nghiệm lúa Việt Nam ở châu Phi. “Lúa Sắn Việt Nam đến châu Phi” là bút ký của Hoàng Kim, một trãi nghiệm quý giá bài học thực tiễn từ người Thầy liên quan nhiều các vấn đề quốc tế nóng hổi và sự trăn trở về tầm nhìn. Thông tin chuyên đề này tiếp nối “Cách mạng sắn ở Việt Nam“, “Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai“, “Sắn Việt Nam kết nối châu Phi“.

Lúa Sắn Việt Nam đến châu Phi dường như có một nhân duyên khó lý giải. Điều này giống như câu chuyện Chào ngày mới 3 tháng 8 năm 1492 khi mà Cristoforo Colombo khởi hành từ Palos de la Frontera, Tây Ban Nha trong hành trình viễn dương đầu tiên của ông để khám phá ra châu Mỹ. Colombo đâu có ngờ rằng đó chính là bước đi đầu tiên của một sứ giả kết gắn Tân Thế Giới với Cựu Thế Giới của đầu thế kỷ 15.Lúa Sắn Việt Nam đến châu Phi là trãi nghiệm cuộc sống mà tôi may mắn được là người chứng kiến trong chặng đường đầu. Bài viết này chia sẻ các nhận thức về tầm nhìn, mục tiêu, nôi dung, giá trị kết quả và bài học.

Tôi theo thầy Võ Tòng Xuân đến châu Phi với danh nghĩa là chuyên gia nông học “Dr. Cassava” và ý nghĩ “giúp bạn cũng là tự giúp mình”. Tôi thành tâm và tự nguyện dấn thân tiếp nối ý nguyện, việc làm của Norman Borlaug di sản niềm tin và nổ lực, Bill Gates học để làm,…Họ là thầy bạn tốt đã đến châu Phi sớm hơn. Tôi thực lòng tin vào minh triết sống thung dung phúc hậu, thích vươn ra ngoài khi có cơ hội trãi nghiệm cuộc sống, dạy học và làm việc thực sự có ích, còn thì dành trọn phần lớn tâm sức và thời gian cho việc nghiên cứu khoa học, giảng dạy chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông học đến đồng bào nghèo Việt Nam ở vùng sâu vùng xa, chuyên sâu đúc kết thực tiễn, văn hóa. Đi đâu cũng không bằng Tổ quốc mình. Nói gì, làm gì cũng không bằng dạy, học và làm cho đồng bào đất nước mình.

OM8017oNigeriaGạo châu Phi, chuyên môn Việt Nam. (Happy new rice, ảnh GMX Agri 2.1.2016)

Bài học thực tiễn từ người Thầy” sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn những gian nan của cây lúa Việt khi đến châu Phi. Đọc bài “Giúp châu Phi trồng lúa bài toán được và mất” của TS. Tô Văn Trường viết về giáo sư Võ Tòng Xuân là câu chuyên dài, một thuở đã tưng bừng trên báo mạng liên quan đến “Ba Kim”: Huỳnh Kim, một cây bút cự phách của Đồng Bằng Sông Cửu Long và Sài Gòn tiếp thị, Hoàng Kim Đồng Tháp một con người Hai Lúa điểm nóng thời sự của miền Tây và một Hoàng Kim Nông Lâm thầm lặng hơn, thích chuyên môn cây lương thực hơn, chỉ thỉnh thoảng ló dạng góp vui như bài Hoa điển điển và em Cao Nguyên,  làm không ít bạn đọc lầm tưởng rằng đó là Hoàng Kim (Đồng Tháp), hoặc là Huỳnh Kim (cây bút vàng),  ngay cả đối với những bạn bè thân.

Xin trích dẫn một đoạn mail của TS. Tô Văn Trường ở Bài học thực tiễn từ người Thầy dẫn bài Huỳnh Kim và chất vấn của Hoàng Kim Đồng Tháp: Nhân đọc bài “Sang Châu Phi trồng lúa” đăng trên báo Sài gòn tiếp thị, tác giả Huỳnh Kim bức xúc, viết bài “Tại sao bỗng dưng nhẩy tưng sang Châu Phi lập liên doanh trồng lúa” đặt vấn đề rất cụ thể những nhà khởi xướng, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cụ thể là Chính phủ Việt Nam phải trả lời thỏa đáng cho nông dân Việt Nam các câu hỏi : Việt Nam được lợi gì khi đầu tư trồng lúa ở Châu Phi? Và việc phát triển cây lúa ở Châu Phi có mất thị trường xuất khẩu gạo của nông dân Việt Nam, do tạo thêm cạnh tranh về xuất khẩu gạo hay không? Lợi đâu không thấy, có đâu mà thấy (?!). Nếu có thì quí vị hãy trưng ra. Tôi chỉ thấy toàn là tai hại cho nông dân Việt Nam, và nền kinh tế Việt Nam“.

Tôi (Hoàng Kim Nông Lâm) nhớ về bài học an sinh và Lời Thầy dặn, đó là thầy Norman Boulaug di sản niềm tin và nổ lực: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”. Giáo sư Võ Tòng Xuân có nhiều tâm sự khi trồng lúa giúp châu Phi, khác với ý kiến của anh Hoàng Kim (Đồng Tháp),”Giúp bạn cũng là tự giúp mình ! ”, tôi, Hoàng Kim (Đại học Nông Lâm) liên tưởng đến “Chuyện bếp gas nhiên liệu sinh học”, hiện đã là tiến bộ kỹ thuật rộng lớn tại Nigeria. Nó được gợi mở ý tưởng qua học hỏi kinh nghiệm thực tiễn từ Việt Nam. Các đoàn chuyên gia dầu khí và nghề sắn của châu Phi đã đến Việt Nam. Họ thăm ruộng sắn và nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học, thăm thu hoạch sắn và học trên đồng cùng nông dân và sinh viên, họ cũng đến thặm gia đình chúng tôi. Sau khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo là công nghệ và tổ chức sản xuất. Bài học thực tiễn từ người Thầy thật thấm thía! Tôi ủng hộ hợp tác Nam Nam “gạo sắn châu Phi, chuyên môn Việt Nam, hãy đến đấy cùng học tập và chia sẻ với chuyên gia và nông dân châu Phi. Đó là một trãi nghiệm cho chính mình. Khi người khác quý trọng và tin tưởng mình, nếu ngại khó mà thoái lui thì chính mình hổ thẹn là không xứng đáng làm một người bạn. Và điều này, tôi đã kể cho bạn nghe một phần ở “Sắn Việt Nam kết nối châu Phi“.

Slide23
Gạo sắn châu Phi, chuyên môn Việt Nam. Việt Nam và Châu Phi hợp tác Nam Nam lan tỏa Con đường lúa gạo Việt Nam. Các nước Tây Phi và Việt Nam điều kiện sinh thái cùng trên một nền khí hậu nhiệt đới là hoàn toàn tương tự nhau dễ dàng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật cây trồng và thâm canh phù hợp.  Lúa gạo là một trong ba cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới, sản lượng đứng sau ngô và trước lúa mì. 
Gạo là lương thực ổn định thân thiết và không thể thay thế ở châu Phi, đặc biệt là ở Tây Phi, nơi mà những năm gần đây mức tiêu thụ gạo trong gia đình người dân vùng Tây Phi đang tăng lên đáng kể do thu nhập đời sống, gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa.

Lúa Sắn ở nhiều nước châu Phi là cây lương thực chính. Bài học lúa sắn và chén cơm thường ngày của người dân là ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người khách đến thăm châu Phi. GMX Consulting đang mở rộng tư vấn từ Lúa, Sắn đến Cá, Rau xanh.  Đó thực sự là một câu chuyện dài. Tôi tạm đưa lên một ít hình về câu chuyện “Cassava in Ghana: Save and Grow” có nhiều thông tin liên quan về lúa và Dr. Rice Võ Tòng Xuân.


Sắn Ghana bảo tồn và phát triển, thao thức một góc nhìn

Vùng Tây Phi là một khu vực nhập khẩu gạo lớn nhất toàn cầu trong khi Việt Nam là một trong những nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Tây Phi mỗi năm đang chi 3 tỷ đô la Mỹ cho sự nhập khẩu gạo. Châu Phi là vùng tiềm năng cho sự tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ gạo lớn hơn, như Nigeria và Ghana vẫn đang trong khoảng 30- 40kg so với hơn 100kg ở các nước như Sierra Leone, Guinea and Liberia. Chuyên môn lúa Việt Nam là đáng tin cậy  Tốc độ tăng năng suất lúa gạo Việt Nam (1975-2014) vượt 1,73 lần so với tốc độ tăng năng suất lúa gạo bình quân chung của toàn thế giới. Năm 2015, diện tích đất trồng lúa ở Việt Nam là 7,83 triệu ha, tổng sản lượng lúa đạt 45,22 triệu tấn, năng suất bình quân đạt 57,7 tạ/ha, đã xuất khẩu 6,7 triệu tấn,  tăng 5,8% so với năm 2014.

 Việt Nam đã được một trong 3 nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới trong 25 năm qua. Quá trình chuyển đổi của Việt Nam đến một nước xuất khẩu gạo hàng đầu của những năm gần đây đã sản sinh ra nhiều chuyên gia lúa gạo, hạt giống phù hợp, thủy lợi và phát triển các kỹ thuật  mà có thể được triển khai tới châu Phi. Trong chuỗi giá trị hàng hóa từ cây lúa đến hạt gạo đến chén cơm ngon có biết bao những vấn đề bức xúc , niềm vui, nổi buồn và những vấn nạn.

Trăm nghe không bằng một thấy.  Việt Nam Châu Phi xa mà gần. Tôi thực sự được trãi nghiệm và thấm thía sâu sắc những bài học thực tiển về bảo tồn và phát triển

(còn tiếp…)

Hoàng Kim

 

Notes:

Nhà văn Hoàng Đình Quang viết cho nhà văn Bùi Anh Tấn: “Xem VTV9, thấy phóng sự của VTV dẫn hình ông già Christophe ca ngợi công đức Donald Trump ứng cử viên Tổng thống Mỹ của đảng Cộng hòa một cách rất nhiệt thành. Đây có lẽ là phóng sự đầu tiên VTV Việt Nam thường trú ở Mỹ. Trộm nghĩ, nhiệt tình với chính trường Mỹ thế, giá mà làm một phóng sự về công đức của Chủ tịch nước nhà trước khi bầu có phải có ích cho nước cho dân không hè?“. Tôi nhắn lại: “Ý kiến của anh Hoàng Đình Quang hay và sâu sắc. Chiến lược tranh cử của Trump đang lấy lòng số đông dân da trắng Mỹ phản đối đưa TPP ra ngoài, ve vãn Nga và rút chân ra khỏi những tranh chấp đang chia rẽ ý kiến cử tri Mỹ. Tôi thích Hillary Clinton hơn. Hillary Clinton là người tử tế

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter