Cách mạng sắn ở Việt Nam

SanTheGioivaVietnam
Cách mạng sắn ở Việt Nam
thành tựu và bài học là điểm sáng toàn cầu được vinh danh tại Hội thảo Cây Có Củ Thế Giới được tổ chức tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 1 năm 2016. Sắn là cây trồng triển vọng thế kỷ 21.

Ở Việt Nam sắn và khoai lang là các cây lương thực xếp vị trí quan trọng thứ ba và thứ tư sau lúa và ngô. Sắn Việt Nam là cây công nghiệp xuất khẩu triển vọng với diện tích trồng khoảng trên nửa triệu hecta và giá trị xuất khẩu ngày nay đạt hơn một tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Sắn miền Đông, Tây Nguyên, miền Trung và sắn vùng núi trung du phía Bắc thực sự thân thiết trong đời sống, văn hóa, xã hội của người dân các vùng này ; Những tinh hoa khoa học kỹ thuật cây sắn thế giới và Việt Nam đã được đúc kết, chọn lọc và vận dụng phù hợp sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cụ thể của từng vùng.  Cách mạng sắn ở Việt Nam có sự tham gia đông đảo của hàng triệu nông dân nghề sắn đã đạt được sự chuyển đổi to lớn về năng suất, sản lượng, giá trị sử dụng, hiệu quả kinh tế, thu nhập đời sống, sinh kế và việc làm cho người dân rộng khắp toàn quốc.


The cassava revolution in Vietnam

Cách mạng sắn ở Việt Nam” là sự tiếp nối của “Con đường lúa gạo Việt Nam“. Vấn đề chính khoa học mời bạn xem ở video Những ghi chép dưới đây là bên lề hội nghị.
Nhiều bạn bè quốc tế thường thích trao đổi chia sẻ kinh nghiệm thành công của cách mạng sắn ở Việt Nam. Ba câu hỏi chính thường gặp là:  “Tại sao bạn lại chọn nghiên cứu giảng dạy về sắn?”; “Cây sắn vị trí thế nào đối với gia đình bạn và người Việt?”; “Cây sắn Việt Nam hiện tại và tương lai?” (Cassava and Việt Nam: Now and Then). Ba chuyên mục dưới đây góp phần trao đổi rõ thêm các câu hỏi trên: “Việt Nam thành tựu sắn và bài học thành công” (Vietnam cassava achievement and learnt lessons).

NGƯỜI LÍNH CÂY SẮN VÀ TUỔI THƠ

Tôi chọn sắn và cây lương thực để nghiên cứu và giảng dạy vì sắn khoai ngô lúa là máu thịt của đời mình. Tôi từng xúc động phát biểu khi được vinh dự làm nhà khoa học xanh người thầy chiến sĩ nhận huy hiệu 40 năm tuổi Đảng: “Bao năm Trường Viện là nhà / Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương / Một đời người một rừng cây / Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”. Gia đình nông nghiệp chúng tôi nhiều thầy bạn suốt đời chuyên tâm sắn khoai  mà tôi chỉ là một người trong đội ngũ đó. Sắn miền Đông, Tây Nguyên, miền Trung và sắn Tây Bắc Đông Bắc thực sự thân thiết trong đời sống văn hóa xã hội của người dân các vùng này.

Cây sắn là một phần máu thịt của người dân trung du và vùng núi Việt Nam, một phần máu thịt người lính trong cuộc chiến sinh tử. Tôi viết trên facebook cho  Lâm Cúc, Hoàng Đại Nhân, anh Phan Chi cùng những người bạn thân thiết của mình về bài sắn này vì “ký ức Tây Nguyên”,” thương về miền Trung”, “nhớ miền Đông” “Sóc Bom Bo người lính cây sắn và tuổi thơ” trỗi dậy. Tôi chỉ mới phác thảo (notes) vì thấy quá cần thiết và ý nghĩ vụt đến mà chưa kịp chắp nối lại liền mạch. Tôi nay đọc lại các bài của Nguyên Ngọc, Văn Công Hùng , Hoàng Đại Nhân về Tây Nguyên mà bùi ngùi nhớ những người bạn đã mất như Trần Ngọc Quyền, Cao Xuân Tài, La Đức Vực, Phạm Trung Nghĩa  … mà các công việc của họ dấn thân cho người dân lam lũ và cây lương thực chưa kịp chép lại. Tôi nhớ nôn nao bài thơ “sắn Tây Nguyên” của thượng tướng Đặng Vũ Hiệp mà tôi không thể để lại chậm hơn nữa việc chép lại, rồi có thời gian tôi sẽ viết tiếp…

Trong “Ký ức Tây Nguyên” của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, vị tướng già đức độ và tài năng, Chính ủy Bộ Tư lệnh tiền phương,Chủ nhiệm chính trị Mặt trận Tây Nguyên của chúng tôi,  ông đã kịp chép lại bài thơ “Sắn Tây Nguyên và người lính” của ai đó mà ông đọc được và đại tá nhà văn Lê Hải Triều đã ghi lại.

SẮN TÂY NGUYÊN VÀ NGƯỜI LÍNH

“Bọn tôi tới những nơi tưởng không có hơi người
Thì nương sắn lại hiện ra xoè lá vẫy
Sắn rồi sắn, cứ biếc lên như vậy
Khắp một vùng lũng hẹp, dốc cao
Như là sắn của trời cho

Muốn dỡ, có sao đâu
Dỡ để luộc,
dỡ để gùi,
được tất.

Một trung đoàn ư?
Một sư đoàn ư?
Thả sức!
Đây nồi sắn Thạch Sanh mà,
không thể hết, đừng lo!

Vào đây lần đầu xin bạn nhớ cho
Có thói quen của người đi trước ta để lại
Dỡ một gốc hãy trồng thêm mấy gốc
Gặp bom phạt cây nào,
nhặt cành gãy,
trồng thay.

Bọn tôi đi vào những rừng sắn ở đây
Cây mới nhú mầm,
cây đã tầm tay với.

Đội ngũ sắn cũng có nhiều lứa tuổi
Cũng như là trong đội ngũ chúng ta”.

Tôi đã là người lính Tây Nguyên và miền Đông và đã từng viết bài thơ “CÂU CÁ BÊN DÒNG SREPOK ” và “NHỚ MIỀN ĐÔNG”. Cây sắn gắn bó thân thiết với tôi từ tuổi thơ cơm ngày một bữa gian khổ đi học cho đến những ngày làm người lính chiến trường của Tây Nguyên và miền Đông khốc liệt mà tôi đã kể cho bạn nghe trong “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời “. Khi yêu tha thiết Tổ Quốc mình, yêu vô cùng người và đất này thì chúng ta mới có thể sống chết với Việt Nam và Cây Lương Thực sắn khoai ngô lúa.

CÂU CÁ BÊN DÒNG SREPOK

Bạn chèo thuyền trên sông Neva
Có biết nơi này mình câu cá?
Srepok giữa mùa mưa lũ
Sốt rừng, muỗi vắt, đói cơm.

Suốt dọc đường hành quân
Máy bay,
pháo bầy,
thám báo,
mưa bom.
Chốt binh trạm giữa rừng
Người bạn thân
Lả người
Vì cơn rét đậm.
Thèm một chút cá tươi,
Mình câu cá
Cho bữa cơm người thân
mà nước mắt
đời người
rơi, rơi…
mặn đắng.

Bạn ơi
Con cá nhỏ trên dòng Srepok
Đã theo dòng thác cuốn đi rồi.
Đất nước nghìn năm
Trọn lời thề
Sống chết thủy chung
với dân tộc mình
Muôn suối nhỏ
Đều đi về biển lớn.

(rút trong bài Từ Mekong nhớ Neva)


NHỚ MIỀN ĐÔNG

Giữa ngày vui nhớ miền Đông
Nôn nao lòng lại giục lòng nhớ thương
Chân đi muôn dặm nẽo đường
Phải đâu cứ đất quê hương mới là

Đêm nằm nghe gió thoảng qua
Nồng thơm hương lúa, đậm đà tình quê
Chợt dưng lòng lại gọi về
Vùng quê xa với gió hè miền Đông

Vục đầu uống ngụm nước trong
Nhớ sao Vàm Cỏ ngọt dòng sông xanh
Nhớ từ xóm Giữa xa em
Nhớ lên Bù Đốp, Lộc Ninh, xóm Chùa

Xa em từ bấy đến chừ
Một vầng trăng sáng, xẽ chia đôi miền
Em về Châu Đốc, Long Xuyên
Anh lên Srêpốc với niềm nhớ thương

Nằm đêm lưng chẳng tới giường
Nghe chao cánh võng giữa rừng đêm khuya
Chăm chăm theo nét bản đồ
Cùng anh, cùng bạn tiến vô Sài Gòn

Giữa ngày vui nhớ miền Đông
Nhớ em, nhớ bạn, thuỷ chung vẹn toàn
Phải vì vất vả gian nan
Của bao năm đặm nhớ thương đến rày …

Non sông những tháng năm này
Lọc muôn sắc đỏ cho ngày hội vui
Nhớ em trong dạ bùi ngùi …
Trông trời hoa, nhớ đất trời miền Đông”

Với tôi “người lính cây sắn và tuổi thơ” là điều ám ảnh. Sắn Tây Nguyên những năm tháng chiến tranh khốc liệt là người bạn thân thiết của người lính chúng tôi. Khẩu phần ăn mỗi ngày của bộ đội nhiều năm trường chủ yếu là sắn ngô khoai chỉ độn thêm khoảng 1,0 – 1,5 lạng gạo. Người lính và sĩ quan quân đội đều đồng cam cộng khổ như nhau ăn uống đạm bạc, chỉ khác chút ít về chế độ. Sắn là thức ăn chính độn cùng rau, măng rừng nhiều tháng của những người lính. Mỗi đơn vị chúng tôi ở Tây Nguyên và miền Đông đi đâu cũng phải trồng 500 gốc sắn, đó là chỉ tiêu bắt buộc của mặt trận.

Sắn khoai là thức ăn thân thiết của tuổi thơ lứa chúng tôi ở những vùng quê nghèo khó. Gạo là thức ăn chính của 100% người dân Việt, ngô, khoai sắn là cửa ải của vấn đề lương thực, là thức ăn không thể thiếu của người dân và gia súc vùng cao. Đất thấp trồng lúa, nơi cao trồng màu. Nước lấy dân làm gốc. Dân lấy ăn làm trời. Bài học đầu đời từ tuổi thơ đến chiến trường đã ám ảnh chúng tôi những năm tháng không thể nào quên.

Giáo sư Norman Bourlaug cha đẻ của cách mạng xanh đã có một câu nói rất thấm thía: ” Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; Lời Thầy dặn tôi thật tâm đắc: “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”.

Tôi và Trần Ngọc Quyền, Cao Xuân Tài, La Đức Vực … những người lính từ các vùng quê nghèo khó nhọc nhằn và các đơn vị khác biệt, lúc trở về học tiếp ở trường nông nghiệp và tốt nghiệp đại học đều lựa chọn gắn bó trọn đời mình với nghiên cứu hoặc giảng dạy cây lương thực sắn, khoai ngô lúa.

Trần Ngọc Quyền người lính và cây sắn” là một thí dụ điển hình của người lính trở về sau cuộc chiến tranh giải phóng và thống nhất Tổ Quốc. Anh Trần Ngọc Quyền đã gắn bó suốt đời với nghiên cứu phát triển cây sắn. Anh là tác giả chính của giống sắn KM94, KM60 được Nhà nước công nhận cấp quốc gia áp dụng toàn quốc, góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giàu cho nhiều địa phương và gia đình. Anh đã cùng đồng đội dấn thân thầm lặng cho đời sống người dân no đủ hơn như người lính không tiếc xương máu trên chiến trường cho đất nước sống mãi. Được mùa chớ phụ sắn khoai. Anh Trần Ngọc Quyền cùng chúng tôi tự hào lưu dấu đời mình là tác giả chính của gi61ng sắn KM94  chủ lực đầu tiên làm thay đổi hẵn diện mạo ngành sắn Việt Nam.

Một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, nhà giáo, nhà khuyến nông, nhà quản lý và người dân lao động giỏi ngành sắn đã tự nguyện dấn thân, tận tụy, say mê cho sự bảo tồn và phát triển bền vững ngành sắn Việt Nam như thế. Nền tảng khoa học và nghệ thuật chọn tạo giống sắn tốt đến nghiên cứu hoàn thiện quy trình biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn tổng hợp, phù hợp cho từng vùng từng vụ. Sự lựa chọn vụ trồng và thời điểm thu hoạch hợp lý cho giống sắn tốt nhất, cách bón phân cân đối hiệu quả, cách phòng trừ sâu bệnh chính hại sắn, cách tăng năng suất hạ giá thành sản phẩm sắn để nâng sức cạnh tranh cây trồng, đến sự kết nối sản xuất chế biến tiêu thụ hiệu quả để có thu nhập tốt hơn cho người dân. Đó là những kinh nghiệm và bài học thực tiễn nóng hổi, những bí quyết nghề nông và kỹ năng thực hành chuyên nghiệp.

Cây sắn và Việt  Nam gắn bó mật thiết trong sâu thẳm của tiềm thức văn hóa, đời sống và xã hội của nền văn minh lúa nước lấy lúa làm nền. Ngô, khoai, sắn là cửa ải của vấn đề lương thực, là thức ăn không thể thiếu của người dân và gia súc vùng cao. Sắn Việt Nam thành công vì cây sắn thân thiết với người dân nhiều vùng đất  Việt.

SẮN VIỆT NAM THÀNH TỰU VÀ BÀI HỌC

Bài viết ‘Bảo tồn và phát triển sắn bền vững ở Việt Nam’ do Hoàng Kim, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai và Reinhardt Howeler đúc kết năm 2015. (Nguyên văn: Hoang Kim, Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Bach Mai, Reinhardt Howeler, 2015. Cassava  Conservation and Sustainable Development in Vietnam. In: R.H. Howeler (Ed.). A New Future for Cassava in Asia: Its Use as Food, Feed and Fuel to Benefit the Poor. Proc. 9th Regional Workshop, held in Quangxi, China, 2014. pp. 35-56). Bài viết khái quát thông tin về: 1) Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam; 2) Thành tựu mới bảo tồn và phát triển sắn bền vững ở Việt Nam; 3) Bài học bảo tồn và phát triển sắn Việt Nam. Tài liệu này chỉ trích dẫn mục 1 và mục 3.

Sắn là cây trồng triển vọng của thế giới trong thế kỷ 21 để làm lương thực – thực phẩm (food), thức ăn gia súc (feed), tinh bột (flour) và nhiên liệu sinh học (fuel). Tổng diện tích sắn toàn thế giới năm 2013 có 20,73 triệu ha, năng suất bình quân 13,34 tấn/ha, sản lượng 276,72 triệu tấn, đứng hàng thứ năm về sản lượng các cây lương thực chính, xếp sau ngô 1016,74 triệu tấn; lúa nước 745,71 triệu tấn; lúa mì 713,18 triệu tấn và khoai tây 368,09 triệu tấn.Giá trị và vị thế cây sắn dự báo tiếp tục gia tăng trong thập kỷ tới.  Sắn được trồng phổ biến ở châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ  trên những vùng đất nghèo dinh dưỡng với kỹ thuật canh tác truyền thống để làm lương thực – thực phẩm, thức ăn gia súc. Chiều hướng sản xuất sắn thế giới, châu Phi, châu Á, châu Mỹ và Việt Nam  đã không ngừng gia tăng từ năm 1975 đến nay.

Những năm gần đây, cây sắn đã nhanh chóng chuyển đổi thành cây công nghiệp triển vọng của thế kỷ 21 (FAO, 2013). Sắn làm cây nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến tinh bột (flour), cây nhiên liệu sinh học (fuel) chịu hạn nhiều triển vọng, giá cạnh tranh, và sắn vẫn là cây lương thực thực phẩm (food) cây thức ăn gia súc (feed) phổ biến của nhiều nước.  Hội nghị Sắn Toàn cầu tổ chức tại Bỉ năm 2008 đã đưa ra thông điệp: “Cây sắn là quà tặng của thế giới, cơ hội cho nông dân nghèo và thách thức đối với các nhà khoa học”. (Claude M.Fauquest 2008). Hướng sử dụng nguyên liệu sắn để chế biến tinh bột, cồn sinh học, tinh bột biến tính, thức ăn gia súc và màng phủ sinh học đang ngày càng được quan tâm. Theo thông cáo báo chí của FAO tháng 5 năm 2013 “Sắn tiềm năng to lớn là cây trồng thế kỷ 21”, Việt Nam được ca ngợi là điển hình trong thực tiễn đã đưa năng suất sắn lên 400% từ 8,5 tấn/ ha năm 2000 lên 36,0 tấn / ha năm 2011 tại nhiều hộ nông dân (FAO, 2013b). Sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam hiện là một trong mười mặt hàng xuất khẩu chính. Việt Nam hiện có 13 nhà máy nhiên liệu sinh học công suất 1067,7 triệu lít cồn sinh học mỗi năm, 66 nhà máy chế biến tinh bột sắn qui mô công nghiệp, hơn 2000 cơ sở chế biến thủ công (Hoang Kim, Le Huy Ham et al. 2013). Sắn là sự lựa chọn của nhiều hộ nghèo và người dân ở các vùng đất xấu, bạc màu, khô hạn, cũng là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp chế biến và kinh doanh do sắn đạt lợi nhuận cao, dễ trồng, ít chăm sóc, chi phí thấp, dễ thu hoạch, dễ chế biến. Sản xuất, chế biến, tiêu thụ, nghiên cứu, phát triển sắn hiện là cơ hội, triển vọng của nông dân và doanh nghiệp Việt Nam cũng như của nhiều nước trên thế giới. Thế nhưng, cây sắn đồng thời cũng đang bộc lộ rất nhiều những rũi ro, bất cập.

Sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam
Sản xuất tiêu thụ sắn trên Thế giới. Sắn được trồng 66 % ở châu Phi với sản lượng sắn 168,6 triệu tấn, 20 % ở châu Á, 14 % ở châu Mỹ Latinh (FAOSTAT, 2013). Những nước có diện tích sắn nhiều nhất thế giới là Nigeria 3,84 triệu ha, kế đến là Cộng hòa Congo 2,20 triệu ha, Brazil 1,52 triệu ha, Thái Lan 1,38 triệu ha và Indonesia 1,06 triệu ha. Năng suất sắn cao nhất thế giới là Ấn Độ đạt 33 tấn/ha, kế đến là Căm pu chia 22,9 tấn/ ha và Indonesia 22,5 tấn/ha. Sản lượng sắn dẫn đầu thế giới là Nigeria 54,00 triệu tấn, kế đến là Thái Lan 30,20 triệu tấn, Indonesia 23,90 triệu tấn và Brazil 21,20 triệu tấn. Các nước đang phát triển có nhu cầu tiêu thụ sắn nhiều hơn các nước đã phát triển. Sắn Châu Phi phần lớn được dùng làm lương thực thực phẩm 130,2 triệu tấn chiếm 77,2 % sản lượng.

Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm cồn sinh học (bio-ethanol), tinh bột biến tính (modify starch), thức ăn gia súc và dùng trong công nghiệp thực phẩm, dược liệu.

Thị trường xuất khẩu sắn của Thái Lan và Việt Nam đều chủ yếu là Trung Quốc, kế đến là Đài Loan, Nhật Bản và một số nước châu Âu. Thái Lan trước năm 2007, xuất khẩu chính là sắn viên và sắn lát sang cộng đồng châu Âu để làm thức ăn gia súc nhưng từ năm 2007 đến nay tỷ trọng xuất khẩu sắn viên của Thái Lan sang cộng đống châu Âu giảm hẳn vì họ mua ngô và đậu nành để làm thức ăn gia súc. Xuất khẩu sắn của Thái Lan hiện chủ yếu là sắn lát và tinh bột sắn.

Sản xuất sắn toàn cầu năm 2015 bị giảm sút do thời tiết nắng hạn El Niño tại châu Phi, Đông Nam Á và Brazil là những khu vực trồng sắn chính của thế giới. Do vậy đã làm trì hoãn sự tăng trưởng sản lượng sắn toàn cầu mà trước đây liên tục tăng với tốc độ đáng kinh ngạc. Sản xuất sắn toàn cầu năm 2016 triển vọng không khá hơn vì nắng hạn El Niño dự báo tiếp tục diễn biến khắc nghiệt làm giảm sút năng suất và sản lượng sắn ở Đông Nam Á, châu Phi và Brazil. Tại Thái Lan, năng suất sắn năm 2016 dự báo giảm khoảng 1 tấn mỗi ha. Tại Brazil, giá sắn giảm và nguồn cung cấp sắn dư thừa sẽ làm giảm diện tích sắn trồng ở vùng này trong vụ sắn 2016.

Buôn bán sắn toàn cầu năm 2015 chiếm 15,7% tổng sản lượng sản xuất sắn. Giá sắn lát Thái Lan cung ứng sang Trung Quốc năm 2013-2015 sút giảm từ 236,2 đô la Mỹ/ tấn (2013) xuống 215,7 USD/tấn. Tinh bột sắn Thái Lan bán sang Trung Quốc sút giảm từ 473,4 đô la Mỹ/ tấn (2013) xuống 430,8 đô la Mỹ/tấn giá f.o.b tại Băng Cốc. Giá sắn củ tươi nội địa Thái Lan giảm từ 90,1 đô la Mỹ/ tấn (2013) xuống 70,2 đô la Mỹ tấn. Mức tiêu thụ sắn bình quân toàn cầu hiện khoảng 18- 20 kg/năm, ở các nước đang phát triển  35 kg/ năm, tại các nước châu Phi khoảng 151-157 kg/năm. Dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu đến năm 2020 và tốc độ tăng hàng năm của sự tiêu thụ sản phẩm sắn, giai đoạn 1993 – 2020 theo tài liệu của Scott et al., 2000 được trích dẫn bởi Trần Công Khanh 2012, thì sản lượng sắn toàn thế giới đạt năm 2020 ước đạt 275,1 triệu tấn. Thị trường buôn bán sắn thế giới năm 2016 ngoài các nguy cơ thời tiết, sẽ phải đối mặt với sự bất ổn và suy giảm kinh tế. Trung Quốc có lượng dự trữ ngô nội địa rất lớn sẳn sàng thay thế sắn nhập khẩu trong việc làm nhiên liệu sinh học và chế biến thức ăn gia súc (Jin Shu Ren. 2014). Tất cả các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á hiện nay hầu như đều hướng thị trường sắn tới cung cấp cho Trung Quốc. Nếu Trung Quốc phát hành kho dự trữ ngô để củng cố tỷ giá đồng nhân dân tệ và lượng dự trữ đồng đô la Mỹ cùng giá dầu thì thị trường sắn nguy cơ chấn động dữ dội và sụt giảm. Tất cả những điều này đều có triển vọng nhô ra ở khu vực châu Á. Chiến lược ngành hàng sắn Việt Nam nói riêng và xuất nhập khẩu nông sản nói chung cần tỉnh táo có phương thức ứng phó phù hợp.

Sản xuất tiêu thụ sắn ở Việt Nam. Sản lượng sắn Việt Nam tăng từ 1,99 triệu tấn năm 2000 lên đến 9,74 triệu tấn năm 2013. Năng suất sắn Việt Nam tăng từ 8,35 tấn/ ha năm 2000 lên 17,9 tấn/ ha năm 2013.Thành tựu đạt được nhờ sử dụng các giống sắn  có năng suất cao, đặc biệt là các giống sắn KM94, KM419, KM140, KM98-5, KM98-1, KM98-7, … và biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững.  Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ. Sắn Việt Nam được trồng rộng rãi từ Bắc chí Nam với diện tích hơn nửa triệu ha và sản lượng gần mười triệu tấn Ở Việt Nam, sắn là cây trồng quan trọng sau lúa và ngô. Sắn Việt Nam là cây công nghiệp xuất khẩu triển vọng. Việt Nam hiện mỗi năm thu hoạch trên nửa triệu hecta sắn đạt sản lượng khoảng 10 triệu tấn, với giá trị xuất khẩu sắn mỗi năm đạt từ 1,0 tỷ đến 1,5 tỷ USD, đứng thứ tư trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Cách mạng sắn Việt Nam là điểm sáng toàn cầu về thành tựu áp dụng giống sắn tốt và kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp bền vững. Năng suất sắn hiện tại đã tăng lên gấp đôi và sản lượng sắn tăng lên gấp 5 lần so với năng suất và sản lượng sắn năm 2000. Việt Nam là điểm sáng toàn cầu về sự gia tăng sản lượng và năng suất sắn từ những năm đầu thế kỷ 21 cho đến nay.

Sắn Việt Nam thành tựu và bài học

SanVietnam2016Hình 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam 1995-2015

Sắn Việt Nam sự chuyển biến tăng sản lượng và năng suất sắn trong hai mươi năm qua (1995-2015) được thể hiện ở Hình 1.1 đã tăng vượt bực trong những năm gần đây. So với năm 2000 có sản lượng sắn đạt 1,98 triệu tấn, năng suất 8,35 tấn/ ha thì  năm 2013, diện tích cây sắn thu hoạch 544,30 nghìn ha, sản lượng 9,74 triệu tấn, năng suất 17,9 tấn/ha, sản lượng sắn đã tăng lên năm lần, năng suất tăng lên gấp đôi.

Sắn Việt Nam được trồng phổ biến ở các vùng: 1) Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với diện tích sắn năm 2013 là 3.017.900 tấn sắn củ tươi chiếm 30,97% tổng sản lượng sắn cả nước. Những tỉnh trồng nhiều sắn của vùng này là Bình Thuận, Nghệ An, Quảng Ngãi và Phú Yên. 2) Tây Nguyên có diện tích sắn năm 2013 là 2.526.400 tấn sắn củ tươi chiếm 25.93% tổng sản lượng sắn cả nước. Những tỉnh trồng nhiều sắn của vùng này là Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk và Đăk Nông. 3) Đông Nam Bộ với diện tích sắn năm 2013 là 2.433.800 tấn sắn củ tươi, chiếm 24.98% tổng sản lượng sắn cả nước. Những tỉnh trồng nhiều sắn của vùng này là Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương. 4) Vùng núi và trung du phía Bắc với diện tích sắn năm 2013 là 1.500.500 tấn sắn củ tươi chiếm 15.40% tổng sản lượng sắn cả nước. Những tỉnh trồng nhiều sắn của vùng này là Sơn La, Yên Bái và Hòa Bình

Tốc độ tăng năng suất sắn Việt Nam nhiều hộ nông dân Việt Nam đã đạt năng suất sắn trên diện rộng 36,00- 50,00 tấn/ ha vượt hơn 400% so với năng suất trước đây. Cây sắn đã đóng góp lớn trong nguồn thu nhập của nông hộ. Giống sắn tốt là một trong những nhân tố cơ bản làm nên bước chuyển biến này. Giống sắn chủ lực trong sản xuất là KM94 chiếm khoảng 50% diện tích sắn trồng, kế đến là giống sắn KM419 khoảng 35% và giống khác 35% .

Lịch sử bảo tồn và phát triển sắn Việt Nam. Trước năm 1986, những giống sắn địa phương Gòn, Xanh Vĩnh Phú … được trồng chủ yếu trong sản xuất ở Việt Nam. Các giống này có đặc điểm ăn tươi ngon nhưng năng suất củ tươi thấp (chỉ đạt trên dưới 10 tấn/ha), tỷ lệ tinh bột thấp (20 – 25 %). Từ năm 1986 đến năm 1990, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) đã thu thập, tuyển chọn và giới thiệu cho sản xuất ba giống sắn HL23, HL20 và HL24 sử dụng chính làm lương thực và thức ăn gia súc, đạt năng suất củ tươi 20 – 23 tấn/ ha, được canh tác mỗi năm khoảng 70.000 – 80.000 ha ở các tỉnh phía Nam (Hoàng Kim, Trần Ngọc Quyền, Nguyễn Thị Thủy 1990). Giống sắn Xanh Vĩnh Phú và mô hình canh tác sắn trên đất dốc sớm đã sớm được nghiên cứu tại các tỉnh phía Bắc (Nguyễn Văn Tiễn, Trần Ngọc Ngoạn, Đặng Thị Ngoan, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Hữu Hồng 1994). Cây sắn đã góp phần quan trọng vào an ninh lương thực, đặc biệt vào các giai đoạn khó khăn của đất nước (Hoàng Kim, Phạm Văn Biên 1995). Từ năm 1988 đến năm 2012, qua một phần tư thế kỹ hợp tác, Chương trình Sắn Việt Nam (VNCP) kết hợp với Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT) đã đạt được những thành tựu to lớn trong nghiên cứu và phát triển sắn (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim 1998; Hoang Kim và tập thể 2006, Hoang Kim, Nguyen Van Bo el al 2010). Tám giống sắn tốt đã được giới thiệu công nhận giống và trồng phổ biến trong sản xuất. Trong tám giống sắn có sáu giống nhập nội và tuyển chọn: KM60; KM94, KM95; SM937-26 (Trần Ngọc Quyền, Hoàng Kim và tập thể 1995) ; Trần Ngọc Ngoạn 2000; Trịnh Phương Loan, Trần Ngọc Ngoạn và ctv. 1995), KM98-1 (Hoàng Kim, Kazuo Kawano và tập thể 1999) KM98-7 (Trịnh Thị Phương Loan, Nguyễn Trọng Hiển và tập thể 2008); Ba giống sắn đã được lai tạo và trồng rộng rãi trong sản xuất là KM140 (Trần Công Khanh, Hoàng Kim và tập thể 2007, 2009, 2010) và KM98-5 (Trần Công Khanh, Hoàng Kim và tập thể 2009), KM419 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Thị Trúc Mai và tập thể 2015, 2016)

Việt Nam đã trở thành điển hình sắn của châu Á và thế giới trong việc ứng dụng công nghệ chọn tạo, nhân giống sắn lai và xây dựng mô hình canh tắc sắn bền vững Nhiều hộ nông dân giỏi như ông Hồ Sáu (Tây Hòa, Trảng Bom, Đồng Nai), Tống Quốc Thanh (Sa Nghe, Hảo Đước, Châu Thành,Tây Ninh), Trần Thị Quyền (Hà Tây), Nguyễn Thị Sáu (Hà Tây), Ngô Trung Kiên (Phổ Yên),…đã trồng sắn đạt năng suất, lợi nhuận cao liên tục nhiều năm liền và đã thực sự giàu lên từ cây sắn (Kazuo Kawano 2001, 2009), Reinhard Howeler 2004, 2008). “Việt Nam là một nước xuất khẩu chính của nhiều sản phẩm nông nghiệp, và trong một số trường hợp là dẫn đầu hoặc là một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu trên toàn cầu, với tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp đạt 25 tỷ USD mỗi năm. Trong lĩnh vực sắn, với diện tích thu hoạch hơn nửa triệu ha, giá trị xuất khẩu sản phẩm sắn của Việt Nam đạt 800-950 triệu USD mỗi năm. Trong kết nối này, CIAT đã có những đóng góp đáng kể thông qua việc cải thiện ngành sắn Việt Nam”.“Ở cấp quốc gia, sắn đã trở thành một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu. Trong cuộc sống của hàng trăm ngàn, nếu không nói là hàng triệu gia đình sản xuất nhỏ trong cả nước thông qua các thay đổi về năng suất và lợi nhuận. Nguồn vật liệu giống sắn từ CIAT thông qua chương trình chọn tạo và nhân giống đã bao gồm hơn 90% của tất cả diện tích sắn được trồng hiện nay ở Việt Nam.” (Bùi Bá Bổng 2012).

Bài học sắn Việt Nam
. Chương trình Sắn Việt Nam đã đúc kết ba bài học 6M, 10T, 1F (Hoang Kim, Pham Van Bien et al. 2003, Hoang Kim et al. 2013):

1) Sáu kinh nghiệm (6M tiếng Anh) liên kết chính
1. Man Power Con người
2. Market Thị trường
3. Materials Giống mới, Công nghệ mới
4. Management Quản lý và Chính sách
5. Methods Phương pháp tổ chức thực hiện
6. Money Tiền

2) Mười kinh nghiệm (10T tiếng Việt) chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
1) Thử nghiệm (Trials)
2) Trình diễn (Demonstrations)
3) Tập huấn (Training)
4) Trao đổi (Exchange)
5) Thăm viếng (Farmer tours)
6) Tham quan hội nghị đầu bờ (Farmer field days)
7) Thông tin tuyên truyền (Information, propaganda)
8) Thi đua (Competition)
9) Tổng kết khen thưởng (Recognition, price and reward)
10) Thành lập mạng lưới nông dân giỏi(Establish good farmers’ network)

3) Nông dân tham gia nghiên cứu (Farmer Participatory Research – FPR)

Sắn Việt Nam đã phát triển theo hướng bền vững trong những năm đầu của thế kỷ 21 (2000-2013). Thành tựu sắn Việt Nam đạt được là rất to lớn: Cây sắn đã chuyển đổi từ cây lương thực, cây thức ăn gia súc thành cây 4 F (Food, Feed, Flour, Fuel: lương thực thực phẩm, thức ăn gia súc, tinh bột và sản phẩm sau tinh bột, nhiên liệu sinh học). Ở cấp quốc gia, sắn đã trở thành một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu và đi vào cuộc sống của hàng trăm ngàn, hàng triệu gia đình nông dân sản xuất nhỏ trong cả nước thông qua các thay đổi về năng suất và lợi nhuận. Nguồn vật liệu giống sắn từ CIAT thông qua chương trình chọn tạo và nhân giống đã bao gồm hơn 90% của tất cả diện tích sắn được trồng hiện nay ở Việt Nam. Bài học của Chương trình Sắn Việt Nam 6M,10T và “Nông dân tham gia nghiên cứu FPR” là kinh nghiệm hợp tác đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất vì đời sống của hàng triệu hộ gia đình nông dân nghèo.

SẮN VIỆT NAM HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

Sắn Việt Nam là một câu chuyện thành công. Hoàng Kim có chùm bài viết Thầy bạn trong đời tôi  kể lại sự kết nối CIAT với Sắn Việt Nam là thật sự lâu bền và có hiệu quả trong nhiều bài học chuyên gia nông nghiệp Quốc tế của CIAT, CIP, IRRI, ICRISAT, CIMMYT, FAO, ACIAR, Viện Vavilop (Nga), Trường Đại học Nông nghiệp Praha (Czech) đã đến chung sức nghiên cứu phát triển cây lương thực và nông nghiệp Việt Nam.


Cách mạng sắn ở Việt Nam thành tựu và bài học là điểm sáng toàn cầu được vinh danh tại Hội thảo Cây Có Củ Thế Giới được tổ chức tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc ngày 18 – 22 tháng 1 năm 2016. Sắn là cây trồng triển vọng của thế kỷ 21.

Tại kỷ niệm 45 năm thành lập Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) năm 2012 ở Hà Nội CIAT đã ghi dấu son hợp tác CIAT- VIET NAM trong sự kết nối mang lại lợi ích cho nông dân sản xuất nhỏ và người tiêu dùng nghèo trên toàn vùng nhiệt đới của thế giới. Sắn Việt Nam là một điểm sáng thành công điển hình toàn cầu trong sự lưu dấu trên ba thập kỷ nghiên cứu sáng tạo cho phát triển nông nghiệp theo định hướng thị trường trong khu vực Đông Nam Á của CIAT, trong đó có Việt Nam.

Tôi nhớ lại lễ kỷ niệm 45 năm thành lập CIAT và sắn Việt Nam năm 2012 với lời chào mừng từ Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tiến sĩ Bùi Bá Bổng phát biểu đã tôn vinh ba thành tựu to lớn của CIAT đóng góp cho nền nông nghiệp Việt Nam. Thứ trưởng nhấn mạnh:

” Nông nghiệp vẫn là một lĩnh vực rất quan trọng đối với Việt Nam. Khoảng 70% dân số có liên quan đến nông nghiệp và sản xuất hơn 20% sản lượng kinh tế. Việt Nam là một nước xuất khẩu chính của nhiều sản phẩm nông nghiệp, và trong một số trường hợp là dẫn đầu hoặc là một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu trên toàn cầu, với tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp đạt 25 tỷ USD mỗi năm. Trong lĩnh vực sắn, với diện tích thu hoạch hơn nửa triệu ha, giá trị xuất khẩu sản phẩm sắn của Việt Nam đạt 800-950 triệu USD mỗi năm. Trong kết nối này, CIAT đã có những đóng góp đáng kể thông qua việc cải thiện ngành sắn Việt Nam. CIAT đã làm việc tại Việt Nam trong hơn hai mươi năm với các cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các Trường Đại học, Viện Nghiên cứu. Đã có ba lĩnh vực chính của sự hợp tác.” Trước hết  CIAT là người đầu tiên bắt đầu với các thử nghiệm và phát hành cải tiến giống cây thức ăn gia súc động vật và kỹ thuật quản lý. Điều này đã cải tiến sản xuất đáng kể trong chăn nuôi và sinh kế của hàng chục ngàn gia đình nông dân sản xuất nhỏ, đặc biệt là ở vùng núi. Những tác động này đã được nhìn thấy cho các ngành chăn nuôi từ gia súc cho đến cá. Khu vực tác động lớn thứ hai đã được với sắn. Trong  thời gian CIAT làm việc với các đối tác Việt Nam về cải thiện sắn thì cả diện tích trồng và năng suất sắn  bình quân của cây sắn trên toàn Việt Nam đã tăng gấp đôi,  sản lượng tăng nhiều hơn bốn lần tăng trong sản xuất và gia tăng cao trong cả hai chế biến và xuất khẩu. Tác động này đã được thực hiện ở nhiều cấp độ: Ở cấp quốc gia, sắn đã trở thành một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu. Trong cuộc sống của hàng trăm ngàn, nếu không nói là hàng triệu gia đình sản xuất nhỏ trong cả nước thông qua các thay đổi về năng suất và lợi nhuận. Nguồn vật liệu giống sắn từ CIAT tho6ngb qua chương trình chọn tạo và nhân giống đã bao gồm hơn 90% của tất cả diện tích sắn được trồng hiện nay ở Việt Nam. Lĩnh vực thứ ba của việc hợp tác với CIAT đã  liên kết nông dân với thị trường, đặc biệt là nông dân từ các khu vực vùng sâu, vùng  xa của đất nước tại Thừa Thiên Huế, Hòa Bình, Đắk Lắk. Thông qua việc giải quyết vấn đề sự kết hợp giữa kỹ thuật và tiếp thị, các vấn đề cải tiến trong việc tiếp cận thị trường, lợi nhuận, và sinh kế đã được quan sát cho nhiều cộng đồng gồm một loạt các sản phẩm, bao gồm không chỉ sắn và chăn nuôi mà còn trái cây, rau, và nhiều hơn nữa.

Ba khu vực chính của công việc đã được hỗ trợ bởi các tổ chức tài trợ đại diện trong căn phòng này, cụ thể là Cơ quan Hợp tác Phát triển, Quỹ Nippon, AusAID, ACIAR, và IFAD Thụy Sĩ. Chúng tôi rất biết ơn vì sự ủng hộ của họ, và tôi biết CIAT cũng rất biết ơn. Còn nhiều thách thức cho nông dân Việt Nam và có một vai trò quan trọng đối với khoa học nông nghiệp trong việc giải quyết những thách thức này. Năng lực nghiên cứu triển khai thuộc phạm vi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như trong các trường đại học và các lĩnh vực khác của đất nước, cần phải vươn lên đối mặt với những thách thức trong nông nghiệp. Điều này sẽ liên quan đến làm việc với nông dân, các dịch vụ khuyến nông, và các lĩnh vực thương mại với một tập trung vào việc cải thiện sinh kế trong khi vẫn duy trì các nguồn tài nguyên của đất nước và đáp ứng với những thay đổi trong thị trường và biến đổi khí hậu. Làm việc với các trung tâm quốc tế, chẳng hạn như CIAT và với các tổ chức nghiên cứu quốc gia khác trong khu vực là quan trọng. Có rất nhiều vấn đề có thể được giải quyết hiệu quả hơn thông qua hợp tác quốc tế rộng rãi. Một lần nữa tôi xin chúc mừng CIAT kỷ niệm lần thứ 45 quan trọng và chúng tôi mong muốn nhiều năm làm việc cùng nhau trong tương lai. Sử dụng cơ hội này, tôi muốn cảm ơn CIAT và các nhà khoa học đã  hỗ trợ  hiệu quả chọ Nông nghiệp Việt Nam. Cuối cùng, tôi xin chúc mừng Ngài  Ruben Echeverría,  Tổng Giám đốc CIAT, Tiến sĩ Rod Lefroy, Giám đốc CIAT khu vực Châu Á và Tiến sĩ Keith Farhney, Giám đốc dự án của CIAT, những người đã được trao tặng Huy chương Vì Sự nghiệp Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Đó là với vinh dự lớn mà tôi trao những Huy chương trong buổi lễ này”.

Sắn Việt Nam là câu chuyện thành công (Cassava in Vietnam: a successful story), Sắn làm nhiên liệu sinh học tại Việt Nam (Cassava for Biofuel in Vietnam) Sắn Việt Nam hôm nay và mai sau (Cassava and Vietnam: Now and Then) là trãi nghiệm sâu sắc.

KazuoKawano and Reinhardt Howeler

Giáo sư Kazuo Kawano và Giáo sư Reinhardt Howeler chuyên gia sắn CIAT, những người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á đã phát biểu cảm động về Việt Nam.

Giáo sư Kazuo Kawano nói tại bài viết Sắn Việt Nam hôm nay và mai sau (Cassava and Vietnam: Now and Then) : “My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap. I might be a little too positively partial to those friends of mine. Nevertheless, I have a similar feeling toward some of my colleagues in Rayong, Thailand and Nanning, China to count a few. During the two decades of post-war Japan, we seem to have many Japanese of this category as well.”

Giáo sư Reinhardt Howeler nói: Cassava in Vietnam: a successful story

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook KimTwitter  hoangkim vietnam 

Advertisements

2 thoughts on “Cách mạng sắn ở Việt Nam

  1. Pingback: Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Đến với Tây Nguyên | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s