Lời vàng Albert Einstein

Albert Einstein1
LỜI VÀNG ALBERT EINSTEIN

Hoàng Kim

Albert Einstein thật minh triết! “Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm”. (Love is a better teacher than duty). “Học từ ngày hôm qua, sống ngày hôm nay, hi vọng cho ngày mai. Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi.” (Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning). “Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng”. (Science without religion is lame, religion without science is blind). “Đừng tham công mà hãy cố gắng làm người có ích”. (Strive not to be a success, but rather to be of value). “Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ”. (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough).

Albert Einstein4

Albert Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 tại Ulm là thị trấn nhỏ  bên dòng sông Danube thuộc bang Baden-Württemberg của Đức. Einstein bỏ quốc tịch Đức năm 1896 và nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901, sau đó ông nhận quốc tịch Mỹ  năm 1940 nhưng vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ. Ông mất vào lúc 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955 tại Trenton, New Jersey, Mỹ . Albert Einstein là bác học đặc biệt nổi tiếng, cha đẻ của  “thuyết tương đối” thiên tài và các danh ngôn minh triết.

Lược sử khoa học về Albert Einstein là vĩ nhân thay đổi thế giới, ông được biết đến như là một nhà vật lý lý thuyết người Do Thái gốc Đức mang quốc tịch Mỹ và Thụy Sĩ,  người đã phát triển thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột kia là cơ học lượng tử). Albert Einstein mặc dù nổi tiếng nhất thế giới qua phương trình E = mc2 về sự tương đương khối lượng – năng lượng, ông lại được trao Giải Nobel Vật lý năm 1921 “cho những cống hiến của ông đối với vật lý lý thuyết, và đặc biệt cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện” là công trình về hiệu ứng quang điện có tính chất bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử.

Anbert Einstein cuộc đời và sự nghiệp được tóm lược như sau. Ông sau khi tốt nghiệp trường  đại học kỹ thuật Eidgenössische Technische Hochschule năm 1900 ở Zurich, Thụy Sĩ, ông nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901 và dạy toán tại một trường đại học kỹ thuật khác ở Winterthur, rồi từ 1902 đến 1908, bắt đầu làm việc cho văn phòng cấp bằng sáng chế kỹ thuật tại Bern, với chức vụ giám định viên kỹ thuật hạng III. Einstein trong thời gian này hoàn toàn tự nghiên cứu ngoài giờ mà không có nhiều liên hệ trực tiếp với đồng nghiệp và tài liệu khoa học nhưng ông đã có những phát kiến rất quan trọng về vật lý lý thuyết làm nền tảng cho sự nghiệp của ông sau này. Anbert Einstein nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Zurich năm 1905 và cùng năm này xuất bản ba công trình khoa học trong đó có thuyết tương đối hẹp. Ngay sau khi ông công bố những phát kiến về nguyên lý tương đương của trọng trường năm 1907, ông được mời làm giảng viên Đại học Bern năm 1908, rồi trở thành giáo sư vật lý tại Đại học Zurich năm 1909 và bắt đầu nổi danh là một nhà khoa học vật lý hàng đầu.  Năm 1911, ông đến giảng dạy tại trường Đại học Karl Praha là trung tâm khoa học nổi tiếng châu Âu và thủ đô của Tiệp Khắc. Ông đưa ra tiên đoán đầu tiên của thuyết tương đối rộng là ánh sáng phải đi theo đường cong khi qua gần Mặt Trời. Một năm sau đó, ông trở lại Zurich tiếp tục phát triển lý thuyết về trọng trường bằng tính toán tensor, với sự giúp đỡ của Marcel Grossmann nhà toán học danh tiếng và cũng là bạn học. Năm 1914 Anbert Einstein quay về Đức làm thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Đức. Năm 1915, lần đầu thuyết tương đối rộng được xuất bản. Năm 1919, đoàn chuyên gia người Anh đã đo đạc ánh sáng mặt trời khi có nhật thực và  khẳng định tiên đoán thiên tài năm 1911 của Anbert Einstein. Trong khi ông trở nên nổi tiếng toàn cầu thì ở Đức ông bị các phần tử bài Do Thái gây rối và tấn công. Năm 1921 Anbert Einstein được nhận giải thưởng Nobel về vật lý đối với  hiệu ứng quang điện mà không phải thuyết tương đối công trình nổi tiếng nhưng còn gây tranh cãi vào thời điểm đó. Từ năm 1920 đến năm 1927, ông đi khắp thế giới (1921 ở Mỹ, 1922 ở Pháp và Nhật, 1923 ở Palestine, 1924 ở Nam Mỹ) để thuyết trình khoa học và hoạt động xã hội . Bắt đầu từ năm 1927, Einstein tham gia vào một cuộc tranh luận với Niels Bohr về thuyết lượng tử. Ông làm việc quá sức và lâm bệnh năm 1928. Mặc dù bình phục ngay trong năm này, cường độ làm việc của ông buộc phải thư giãn hơn trước. Năm 1932, Einstein nhận giảng tại Đại học Princeton, tại Mỹ, và không quay trở lại nữa vì chính quyền chống Do Thái Đức quốc xã đã cầm quyền ở Đức. Năm 1933, ông tiếp tục chu du Oxford, Glasgow, Brussels, Zurich và nhận được những vị trí danh dự mà ông đã từng mơ ước vào năm 1901 từ Jerusalem, Leiden, Oxford, Madrid và Paris. Năm 1935 Einstein quyết định ở lại Princeton thực hiện những cố gắng trong việc thống nhất các định luật của vật lý. Năm 1940 ông nhận quốc tịch Mỹ, và vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ. Anbert  Einstein không chỉ là khai sinh ra “thuyết tương đối” nổi tiếng thế giới mà còn là một nhà khoa học phản đối chiến tranh. Ông đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về thuyết tương đối hẹp vào năm 1944.  Phương trình năng lượng của vật chất: E=mc2 trong bao nhiêu năm trời chỉ là đề tài tranh luận của các cuộc cãi vả lý thuyết, cho đến khi kết quả thực tế về năng lượng hạt nhân của quả bom nguyên tử đã làm san bằng thành phố Hiroshima năm 1945 chứng minh sự thật của phương trình đó. Albert Einstein, tác giả của phương trình lừng danh này luôn coi thường và lãnh đạm mọi tôn vinh. Ông chỉ khao khát được suy nghĩ làm việc.  Anbert   Einstein bắt đầu lâm bệnh năm 1949 và viết di chúc năm 1950. Chính phủ Israel năm 1952, mời Einstein nhận chức tổng thống, nhưng ông đã từ chối. Một tuần trước khi mất, Anbert Einstein đã ký tên vào một bức thư kêu gọi các nước không xây dựng vũ khí hạt nhân. Ông mất tại Trenton, New Jersey, Mỹ lúc 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955.

Di sản “thuyết tương đối” thiên tài và minh triết Albert Einstein  bền vững với thời gian.

Hoàng Kim
(thu thập và tổng hợp)

Danh ngôn của Albert Einstein

Chỉ có hai điều là vô hạn: vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người, và tôi không chắc lắm về điều đầu tiên.

Only two things are infinite, the universe and human stupidity, and I’m not sure about the former.

Sự khác biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một ảo tưởng dai dẳng đến ngoan cố.

The distinction between the past, present and future is only a stubbornly persistent illusion.

Không phải là tôi quá thông minh, chỉ là tôi chịu bỏ nhiều thời gian hơn với rắc rối.

It’s not that I’m so smart, it’s just that I stay with problems longer.

Học từ ngày hôm qua, sống ngày hôm nay, hi vọng cho ngày mai. Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi.

Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning.

Sự đơn điệu và cô độc của một cuộc sống yên lặng kích thích trí sáng tạo.

The monotony and solitude of a quiet life stimulates the creative mind.

Có một câu hỏi đôi khi khiến tôi thấy mơ hồ: Tôi điên hay người khác điên?

A question that sometimes drives me hazy: am I or are the others crazy?

Kẻ ngu xuẩn nào cũng có thể khiến mọi thứ trở nên to hơn, phức tạp hơn và bạo lực hơn. Chỉ bàn tay của thiên tài – và thật nhiều dũng khí – để biến chuyển ngược lại.

Any fool can make things bigger, more complex, and more violent. It takes a touch of genius – and a lot of courage – to move in the opposite direction.

Đừng phấn đấu để thành công mà hãy phấn đấu để mình có ích.

Strive not to be a success, but rather to be of value.

Người đọc quá nhiều và dùng tới bộ óc quá ít sẽ rơi vào thói quen suy nghĩ lười biếng.

Any man who reads too much and uses his own brain too little falls into lazy habits of thinking.

Chúa luôn chọn cách đơn giản nhất.

God always takes the simplest way.

Logic sẽ đưa anh từ điểm A tới điểm B. Trí tưởng tượng sẽ đưa anh tới mọi nơi.

Logic will get you from A to B. Imagination will take you everywhere.

Sự khác biệt giữa thiên tài và kẻ ngu dốt là ở chỗ thiên tài luôn có giới hạn.

The difference between stupidity and genius is that genius has its limits.

Tôi nghĩ và nghĩ hàng năm hàng tháng. Chín mươi chín lần tôi đi tới kết luận sai lầm. Lần thứ một trăm tôi đúng.

I think and think for months and years. Ninety-nine times, the conclusion is false. The hundredth time I am right.

Tôi không biết chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ sử dụng vũ khí nào nhưng tôi biết rằng chiến tranh thế giới thứ 4 sẽ sử dụng gậy gộc và đá!

I know not with what weapons World War III will be fought, but World War IV will be fought with sticks and stones.

Tôi sống với sự cô đơn đau đớn trong tuổi trẻ nhưng lại ngọt ngào trong những năm tháng trưởng thành.

I live in that solitude which is painful in youth, but delicious in the years of maturity.

Tôi là người vô đạo tới sâu sắc – điều này có phần như là một thứ tôn giáo mới.

I am a deeply religious nonbeliever – this is a somewhat new kind of religion.

Trước Chúa chúng ta đều thông thái và ngu xuẩn như nhau.

Before God we are all equally wise – and equally foolish.

Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ.

If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough.

Anh càng đi nhanh, anh càng đi được ít.

The faster you go, the shorter you are.

Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức.

Imagination is more important than knowledge.

Tiền lực luôn luôn thu hút những kẻ không có đạo đức.

Force always attracts men of low morality.

Kẻ nào chưa từng mắc phải lỗi lầm cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả.

A person who never made a mistake never tried anything new.

Không thể gìn giữ hòa bình bằng bạo lực. Nó chỉ có thể đạt được bằng sự thông hiểu lẫn nhau.

Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding.

Đừng làm gì trái với lương tâm, ngay cả khi chính quyền yêu cầu bạn.

Never do anything against conscience even if the state demands it.

Lực hấp dẫn không chịu trách nhiệm cho việc con người ta yêu nhau.

Gravitation is not responsible for people falling in love.

Tôi không bao giờ tin vào vị Chúa chơi xúc xắc với thế gian này.

I shall never believe that God plays dice with the world.

Chính trị chỉ cho hiện tại, nhưng phương trình là mãi mãi.

Politics is for the present, but an equation is for eternity.

Sợ chết là nỗi sợ hãi phi lý nhất, vì người đã chết chẳng có nguy cơ bị tai nạn.

The fear of death is the most unjustified of all fears, for there’s no risk of accident for someone who’s dead.

Tôi không có tài năng đặc biệt nào, tôi chỉ có sự tò mò đầy nhiệt huyết.

I have no special talent. I am only passionately curious.

Môi trường là tất cả những gì không phải là tôi.

The environment is everything that isn’t me.

Nhiệm vụ của chúng ta là tự giải phóng bản thân bằng cách làm rộng vòng tròn của lòng trắc ẩn để ôm lấy mọi sinh vật sống và tất cả sắc đẹp của thiên nhiên.

Our task must be to free ourselves by widening our circle of compassion to embrace all living creatures and the whole of nature and its beauty.

Nếu thực tế không vừa với học thuyết, hãy thay đổi thực tế.

If the facts don’t fit the theory, change the facts.

Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng.

Science without religion is lame, religion without science is blind.

Thông tin không phải là kiến thức.

Information is not knowledge.

Tôi không những chỉ là một người chuộc hòa bình mà còn là một người chuộc hòa bình máu chiến. Tôi sẵn sàng chiến đấu vì hòa bình. Không gì có thể kết thúc chiến tranh nếu bản thân con người không từ chối tham gia chiến tranh.

I am not only a pacifist but a militant pacifist. I am willing to fight for peace. Nothing will end war unless the people themselves refuse to go to war.

Đừng lo lắng về khó khăn của bạn trong toán học, tôi đảm bảo với bạn rằng những khó khăn toán học của tôi còn gấp bội.

Do not worry about your difficulties in Mathematics. I can assure you mine are still greater.

Tất cả những điều có giá trị trong xã hội con người đều dựa vào cơ hội phát triển hòa hợp trong mỗi cá nhân.

All that is valuable in human society depends upon the opportunity for development accorded the individual.

Chúa trời rất khó hiểu, nhưng không ma mãnh.

God may be subtle, but he isn’t plain mean.

Chính là trải nghiệm về những điều bí ẩn – thậm chí ngay cả khi lẫn trong niềm kính sợ – đã sản sinh ra tôn giáo.

It was the experience of mystery – even if mixed with fear – that engendered religion.

Nỗ lực kết hợp giữa trí tuệ và quyền lực hiếm khi thành công, mà có thành công cũng chỉ trong chốc lát.

The attempt to combine wisdom and power has only rarely been successful and then only for a short while.

Nguồn tri thức duy nhất là kinh nghiệm.

The only source of knowledge is experience.

Thật kỳ diệu rằng sự tò mò vẫn sống sót sau giáo dục truyền thống.

It is a miracle that curiosity survives formal education.

Toán học thuần túy, theo cách của riêng nó, là thi ca của tư duy logic.

Pure mathematics is, in its way, the poetry of logical ideas.

Nghệ thuật tối thượng của người thầy là đánh thức niềm vui trong sự diễn đạt và tri thức sáng tạo.

It is the supreme art of the teacher to awaken joy in creative expression and knowledge.

Giận dữ chỉ náu mình trong lồng ngực của những kẻ ngu xuẩn.

Anger dwells only in the bosom of fools.

Người trí thức giải quyết rắc rối; bậc anh tài ngăn chặn rắc rối.

Intellectuals solve problems, geniuses prevent them.

Với tôi thì tôi ưa thói xấu câm lặng hơn là đức hạnh phô trương.

As far as I’m concerned, I prefer silent vice to ostentatious virtue.

Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm.

Love is a better teacher than duty.

Chỉ cuộc đời sống cho người khác là cuộc đời đáng giá.

Only a life lived for others is a life worthwhile.

Quy luật của toán học càng liên hệ tới thực tế càng không chắc chắn, và càng chắc chắn thì càng ít liên hệ tới thực tế.

As far as the laws of mathematics refer to reality, they are not certain, and as far as they are certain, they do not refer to reality.

Ai cũng nên được tôn trọng như một cá nhân, nhưng không phải là thần tượng hóa.

Everyone should be respected as an individual, but no one idolized.

Mỗi người nên đi tìm điều vốn thế chứ không phải điều mình nghĩ là nên thế.

A man should look for what is, and not for what he thinks should be.

Khi chúng ta chấp nhận giới hạn của mình, chúng ta đã vượt qua nó.

Once we accept our limits, we go beyond them.

Giáo dục là thứ gì còn lại sau khi anh đã quên những gì anh học ở trường.

Education is what remains after one has forgotten what one has learned in school.

Ít người thực sự nhìn với đôi mắt của mình và cảm nhận bằng trái tim mình.

Few are those who see with their own eyes and feel with their own hearts.

Những tâm hồn vĩ đại luôn va phải sự chống đối mãnh liệt từ những trí óc tầm thường.

Great spirits have always encountered violent opposition from mediocre minds.

Điên rồ: lặp đi lặp lại một việc và hy vọng những kết quả khác nhau.

Insanity: doing the same thing over and over again and expecting different results.

Tôi chẳng bao giờ nghĩ tới tương lai – nó luôn luôn đến đủ sớm.

I never think of the future – it comes soon enough.

Chủ nghĩa dân tộc là căn bệnh tiềm ẩn. Nó là bệnh sởi của loài người.

Nationalism is an infantile disease. It is the measles of mankind.

Chủ nghĩa anh hùng theo mệnh lệnh, bạo lực phi lý và tất cả những điều vô nghĩa nhân danh lòng ái quốc – tôi mới căm ghét chúng làm sao!

Heroism on command, senseless violence, and all the loathsome nonsense that goes by the name of patriotism – how passionately I hate them!

Điều đếm được không nhất thiết đáng kể; điều đáng kể không nhất thiết đếm được.

Everything that can be counted does not necessarily count; everything that counts cannot necessarily be counted.

Ta có thể nói rằng bí ẩn vĩnh cửu của thế giới này chính là sự lĩnh hội.

One may say the eternal mystery of the world is its comprehensibility.

Nó đã trở nên rõ rệt tới kinh hoàng rằng công nghệ đã vượt xa nhân loại.

It has become appallingly obvious that our technology has exceeded our humanity.

Về sự thật và công lý, không có sự khác biệt giữa những vấn đề lớn nhỏ, vì những điều liên quan tới cách con người được đối sử đều giống như nhau.

In matters of truth and justice, there is no difference between large and small problems, for issues concerning the treatment of people are all the same.

Niềm vui quan sát và lĩnh hội là món quà đẹp nhất của tạo hóa.

Joy in looking and comprehending is nature’s most beautiful gift.

Ký ức dễ lừa gạt vì nó khoác màu những sự kiện của hôm nay.

Memory is deceptive because it is colored by today’s events.

Người đàn ông nào có thể vừa hôn mỹ nhân vừa lái xe an toàn đơn giản là không dành cho nụ hôn sự tận tâm mà nó đáng được nhận.

Any man who can drive safely while kissing a pretty girl is simply not giving the kiss the attention it deserves.

Khoa học là điều tuyệt vời nếu anh không phải kiếm sống bằng nó.

Science is a wonderful thing if one does not have to earn one’s living at it.

Nếu chúng ta biết rằng chúng ta đang làm gì, thì công việc đó đã không còn được gọi là nghiên cứu.

If we knew what it was we were doing, it would not be called research, would it?

Mọi thứ đều nên đơn giản như nó vốn có, nhưng không nên đơn giản hơn.

Everything should be as simple as it is, but not simpler.

Chiếc bàn, cái ghế, bát hoa quả và cây đàn vi ô lông; còn cần gì hơn cho hạnh phúc?

A table, a chair, a bowl of fruit and a violin; what else does a man need to be happy?

Tôi không tin rằng nhân loại sẽ bị quét sạch trong chiến tranh với bom nguyên tử. Có lẽ chỉ hai phần ba người trên trái đất sẽ bị tiêu diệt.

I do not believe that civilization will be wiped out in a war fought with the atomic bomb. Perhaps two-thirds of the people of the earth will be killed.

Ác quỷ đã đặt hình phạt lên tất cả những thứ chúng ta yêu thích trong đời. Hoặc chúng ta kém sức khỏe, hoặc chúng ta khốn khổ về tinh thần, hoặc chúng ta trở nên béo.

The devil has put a penalty on all things we enjoy in life. Either we suffer in health or we suffer in soul or we get fat.

Người làm khoa học là triết gia tồi.

The man of science is a poor philosopher.

Đôi khi người ta bỏ ra nhiều nhất cho thứ mà người ta có thể có được chẳng mất gì cả.

Sometimes one pays most for the things one gets for nothing.

Người không coi trọng sự thật trong những vấn đề tiểu tiết cũng không thể tin cậy được trong việc lớn.

Anyone who doesn’t take truth seriously in small matters cannot be trusted in large ones either.

Sự phát triển trí tuệ nên bắt đầu khi sinh và kết thúc khi chết.

Intellectual growth should commence at birth and cease only at death.

Thế giới sẽ bị hủy diệt không phải bởi những người làm điều ác, mà bởi những người đứng nhìn mà không làm gì cả.

The world will not be destroyed by those who do evil, but by those who watch them without doing anything.

Tôi tin chắc rằng làm đổ máu dưới màu áo chiến tranh không gì khác là hành động sát nhân.

It is my conviction that killing under the cloak of war is nothing but an act of murder.

Nếu bạn ra ngoài để nói lên sự thật thì hãy để sự tao nhã lại cho thợ may.

If you are out to describe the truth, leave elegance to the tailor.

Tôi tin rằng cuộc sống đơn giản và không phỏng đoán là tốt nhất với tất cả mọi người, tốt nhất cả cho tâm hồn và thể xác.

I believe that a simple and unassuming manner of life is best for everyone, best both for the body and the mind.

Người không còn có thể dừng lại để ngạc nhiên hay say mê kính sợ cũng như người đã chết; mắt anh ta nhắm lại rồi.

He who can no longer pause to wonder and stand rapt in awe, is as good as dead; his eyes are closed.

Hiện thực chỉ là ảo tưởng, mặc dầu đó là thứ ảo tưởng dai dẳng.

Reality is merely an illusion, albeit a very persistent one.

25 CÂU NÓI NỔI TIẾNG CỦA ALBERT EINSTEIN

25 câu nói của Einstein được nhiều người trích lại nhất, mỗi một câu đều cho bạn hiểu rõ thêm về tư duy của huyền thoại này.

Về quyền thế

(ảnh: Flickr/jeffmcneill)

“Sự tôn sùng quyền thế mà không suy nghĩ chính là kẻ thù lớn nhất của chân lý.” – Trích “The Curious History of Relativity”

Về quy mô

“Thiên nhiên chỉ cho chúng ta thấy cái đuôi của con sư tử. Nhưng tâm trí tôi không hề nghi ngờ rằng có con sư tử ở đó, ngay cả khi nó không thể xuất hiện toàn thân thể trước con mắt thịt của tôi bởi vì kích thước quá to lớn.” – Trích “Smithsonian, 02/1979”

Về chính trị


(ảnh: Wikimedia)

“Tôi thừa hưởng di sản của người Do thái, là công dân của Thụy Sĩ, và trưng diện như một con người, và chỉ một con người, không hề có gắn kết bất kỳ với nhà nước hay tổ chức quốc gia nào.” – Trích “The Yale Book of Quotations”

Về sự chắc chắn


“Quy luật của toán học càng liên hệ tới thực tế càng không chắc chắn, và càng chắc chắn thì càng ít liên hệ tới thực tế.” – Phát biểu tại Viện Khoa học Prussian, 01/1921

Về sự khiêm nhường


“Là con người, người ta được ban cho chỉ vừa đủ trí tuệ để có thể thấy rõ ràng trí tuệ ấy nhỏ bé thảm hại thế nào khi đứng trước thế giới này.” – Trích Thư gửi Nữ Hoàng Elisabeth tại Bỉ, 09/1932

Thuyết tương đối


“Khi người đàn ông ngồi với một cô gái xinh đẹp trong một giờ, dường như đó chỉ là một phút. Nhưng nếu anh ta ngồi trên một cái bếp lò nóng trong một phút, thời gian đó còn dài hơn cả một giờ. Đấy là thuyết tương đối.” – Trích “The Yale Book of Quotations”

Về sự phát triển của bản thân


(ảnh: Wikipedia)

“Đúng là cha mẹ tôi đã rất lo lắng bởi tôi biết nói khá trễ, đến mức họ phải đi tư vấn bác sĩ. Tôi không thể khẳng định lúc đó mình bao nhiêu tuổi – nhưng chắc chắn là không dưới ba tuổi.” – Trích Thư năm 1954

Về lẽ thường

“Lẽ thường chẳng khác nào một khoản định kiến đã nằm sẵn trong tâm trí từ trước khi bạn đủ 18 tuổi.” – Trích “The Universe and Dr. Einstein”

Về sự thành công


“Nếu đặt A là một sự thành công trong cuộc sống, vậy thì A bằng X cộng với Y cộng với Z. Làm việc chính là X, vui chơi chính là Y, còn biết giữ mồm giữ miệng chính là Z.” – Trích “The Yale Book of Quotations”

Về chủ nghĩa quốc gia


(ảnh qua imgur.com)

“Chủ nghĩa quốc gia là căn bệnh của trẻ con. Nó là bệnh sởi của loài người.” – Trích từ sách “Albert Einstein, the Human Side”

Về những điều huyền bí


(ảnh: Baby Boomer Talk)

“Trải nghiệm tươi đẹp nhất mà chúng ta có chính là những điều huyền bí. Nó là cảm xúc cơ bản đứng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Những ai không biết nó và cũng chẳng còn tự hỏi, chẳng còn lấy làm ngạc nhiên, thì cũng bằng như đã chết, và mắt họ đã bị mờ đi.” – Trích “The World As I See It,” 1930.

Về sự đơn độc


(ảnh: Apple)

“Ý thức đam mê của tôi về trách nhiệm và công lý xã hội luôn luôn tương phản một cách kỳ quái với sự thiếu vắng nhu cầu phải tiếp xúc trực tiếp với người khác và cộng đồng. Tôi thực sự là “kẻ độc hành” và chưa bao giờ, với cả trái tim mình, thuộc về đất nước, tổ ấm, bạn bè của mình, thậm chí cả người thân ngay trong gia đình; khi đối diện với các mối ràng buộc này, tôi chưa bao giờ mất đi cảm giác cần có một khoảng cách và nhu cầu được đơn độc.” – Trích “The World As I See It,” 1930.

Về vẻ bề ngoài


(ảnh: Wikimedia)

“Nếu tôi bắt đầu quan tâm đến việc chải chuốt, tôi sẽ không còn là chính mình nữa.” – Trích Thư, 12/1913.

Về trí tưởng tượng


(ảnh: Getty)

“Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn cả kiến thức. Kiến thức thì hạn chế. Trí tưởng tượng lại bao quanh cả thế giới.” – Trích Smithsonian, 02/1979

Về động lực


(ảnh: ebravolosada / Flickr)

“Lý tưởng thắp sáng con đường của tôi, và nhiều lần cho tôi dũng khí mới để có thể đối diện cuộc sống một cách vui tươi, đó chính là Chân, Thiện, Mỹ. Nếu không có cảm giác thân hữu với những người cùng tư duy, không có sự hiện hữu với thế giới khách quan, sự bất tận vĩnh hằng trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học, thế giới sẽ dường như trống rỗng đối với tôi. Những mục tiêu nhàm chán của loài người – của cải, thành công bề ngoài, sự xa hoa – tôi luôn xem là đáng khinh thường.” – Trích “The World As I See It,” 1930

Về giáo dục


“Mục đích [của giáo dục] phải là sự đào tạo ra những cá nhân biết hành động và tư duy một cách độc lập, tuy nhiên lại là những người xem việc phục vụ cộng đồng là vấn đề lớn nhất trong cuộc đời.” – 10/1936

Về tham vọng

“Điều có giá trị thực sự sẽ không bao giờ phát sinh từ tham vọng hoặc từ ý thức bổn phận đơn thuần, nó bắt nguồn từ tình yêu và sự tận tâm đối với con người và những điều khách quan.” – Trích Thư, 07/1947

Về sự học hỏi


(ảnh: Flickr/recuerdosdepandora)

“Hầu hết các giáo viên phí hoài thời gian bằng việc đặt những câu hỏi nhằm tìm những điều học sinh không biết, trong khi nghệ thuật đặt câu hỏi chính là để khám phá xem học sinh thực sự biết và có khả năng biết những gì.” – Trích trong một buổi đối thoại năm 1920.

Về việc suy nghĩ


(ảnh: Wikimedia commons)

“Tôi rất ít khi suy nghĩ bằng câu từ. Khi một ý nghĩ đến, về sau tôi mới cố gắng thể hiện nó ra thành lời nói.” – Trích “Productive Thinking,” 1959

Về cuộc sống


“Một người hạnh phúc đã quá hài lòng với hiện tại, anh ta sẽ không sống quá nhiều ở thì tương lai.” – Trích Smithsonian, 02/1979

Về sự tò mò


(ảnh: Flickr/timi)

“Điều quan trọng chính là đừng bao giờ ngừng đặt câu hỏi. Sự tò mò có lý do tồn tại riêng của nó.” – Trích Nova.

Về đạo đức trong công việc


“Trạng thái tinh thần cho phép một người làm loại công việc này… là giống với hình thức người ta tôn sùng tín ngưỡng hay yêu nhau; nỗ lực hằng ngày không đến từ chủ ý hay lập trình, mà từ chính trái tim.” – 1918

Về tuổi thơ

“Người lớn bình thường không bao giờ nghĩ về các vấn đề thời gian-không gian… Tôi, trái lại, phát triển quá chậm đến mức tôi không hề thắc mắc về thời gian và không gian cho đến khi đã trưởng thành. Nên sau này tôi đào sâu nghiên cứu vào vấn đề này nhiều hơn bất kỳ một người lớn hay đứa trẻ nào.” – Trích Thư 1956

Về vai trò của khoa học


(ảnh: Wikimedia Commons)

“Có một điều mà tôi đã học được trong cả cuộc đời: Rằng khoa học của chúng ta, khi đem đo lường với thực tại, là rất thô sơ và ngô nghê – nhưng nó lại là điều quý giá nhất mà chúng ta có.” – Trích sách “Albert Einstein: Creator and Rebel,” 1972

Về sự thúc ép


“Cách duy nhất để thoát khỏi sự lung lạc của những lời tán dương chính là tiếp tục đi làm việc” – Trích Smithsonian, February 1979

Theo Business Insider,

Bích Ngân dịch


Hoàng Kim
Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây cp nht mi ngày
Bài viết mới

Video nhạc tuyển
Mưa Xuân 
Lãng du trong văn hoá Việt Nam
Việt Nam quê hương tôi
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam Phúc Hậu Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực Dạy và Học Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Yên Tử Trần Nhân Tông

LÊN NON THIÊNG YÊN TỬ
Hoàng Kim

Tỉnh thức giữa đêm thiêng Yên Tử
Để thấm hiểu đức Nhân Tông
Ta thành tâm đi bộ
Lên tận đỉnh chùa Đồng
Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc

“Yên sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải ngọc châu lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng”
(1)

Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong
Trời mới ban mai đã rạng hồng
Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả
Nói cười lồng lộng giữa không trung
Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh
Cỏ cây chen đá rũ tầng không
Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu
Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng. (2)

*

Non thiêng Yên Tử
Nghìn năm Thăng Long, Đông Đô, Hà Nôi
Bảy trăm năm đức Nhân Tông
Non sông bao cảnh đổi
Kế sách một chữ Đồng
Lồng lộng gương trời buổi sớm
Trong ngần, thăm thẳm, mênh mông …

(1) Nguyễn Trãi, đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự
(2) Hoàng Kim bản dịch thơ Nguyễn Trãi, bài thơ ‘đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự’

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook  Kim on Twitter  hoangkim vietnam 

Sơn Nam ông già Nam Bộ

SonNamonggiaNamBo

“Cố gắng viết ngắn, câu nào cũng có thông tin” “Khuyến nông tức là giữ đạo làm nông, thì dân mới giàu mạnh được”, nhà văn Sơn Nam đã nhắc chúng ta như vậy. Sơn Nam sinh ngày 11 tháng 12 năm 1926 từ trần ngày 13 tháng 8 năm 2008, tên thật là Phạm Minh Tài, quê ở làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay thuộc xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Ông là nhà văn, nhà báo, nhà khảo cứu Nam Bộ, được mệnh danh là “ông già Nam Bộ”, “ông già Ba Tri”, “ông già đi bộ’, “pho từ điển sống về miền Nam” hay “nhà Nam Bộ học”.

“Trong khói sóng mênh mông/ Có bóng người vô danh/ Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu/ Mang theo chiếc độc huyền/ Điệu thơ Lục Vân Tiên/ Với câu chữ:/ Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả/ Tới Cà Mau – Rạch Giá/ Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng/ Muỗi vắt nhiều hơn cỏ/ Chướng khí mù như sương/ Thân không là lính thú/ Sao chưa về cố hương?...”.  Bài thơ hay ám ảnh trên đây của nhà văn Sơn Nam là “Thay lời tựa” trong “Hương rừng Cà Mau” của sự nghiệp trước tác đồ sộ của ông với trên 8000 trang sách của hơn 44 đầu sách đã in và trên 10.000 trang sách chưa in (ở thông tin cuối bài) mà tôi ấn tượng nhất là “Bà Chúa Hòn” và “Hương rừng Cà Mau”.

Hoàng Tố Nguyên con gái tôi, muốn tìm hiểu sâu về ngôn ngữ văn hóa Việt, tôi đọc cho cháu nghe lời điếu của cụ Sơn Nam khóc cụ Bùi Giáng sao mà chân tình, văn hóa, tri âm, tri kỷ đến vậy: “Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài,…nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay đưa anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của Thành ủy – Ủy Ban, có Hội Nhà văn, dậy là anh có hộ khẩu Sài Gòn rồi đó nghe anh Giáng!.”

Nhà văn Sơn Nam đã chân thành ngợi ca cụ Trương Vĩnh Ký đã dành thời gian cuối đời để viết chuyện hay cho con nít đọc.“Viết chuyện hay con nít tìm đọc là khó lắm đó nghe” chứ không chỉ là những công trình bác học đồ sộ. Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ, chúng ta nhớ những trang văn, những chuyện đời thấm đẫm tính nhân văn.

Nhớ Sơn Nam, tôi đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần “Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê” của Võ Đắc Danh: “Nhớ hôm ấy, ngồi sau lưng tôi, ông kể chuyện huyên thuyên, rồi bất chợt khi ngồi ở một quán cà phê vỉa hè, ông nói: “Tôi còn mấy chuyện hay lắm, nhưng về già tôi mới viết”. Tôi giật mình nhìn ông và tự hỏi, về già là bao lâu nữa, hơn 80 rồi, ông lẩm cẩm rồi chăng? Rồi ông lại nói: “Có gặp thằng Nguyễn Trọng Tín, nói tôi nhắn với nó chuyển sang viết văn xuôi đi, thời buổi này mà làm thơ là húp nước mắm”. Tôi nói ông Tín bây giờ viết báo rồi, ông cười: “Vậy là càng tốt, viết báo dễ kiếm tiền hơn”. Trầm ngâm một chút, ông nói: “Nè, tôi dặn ông cái này nghen, ông viết báo thì cứ lo viết báo, đừng bày đặt góp ý với thằng chủ báo phải làm thế này thế nọ, trào máu có ngày! Ngoài mặt nó giả bộ gật đầu nhưng trong bụng nó ghét cay ghét đắng”.

Từ chiến khu về thành ông được phân công ở lại sau tập kết, một phòng trọ, một bộ bà ba vải ú trắng, một đôi guốc vông, lang thang đi bộ khắp Sài Gòn. Ông nói sự nghiệp của ông có ảnh hưởng khá nhiều từ lời khuyên của Bình Nguyên Lộc.

Những ngày đầu tiên ở Sài Gòn, ông lang thang đi tìm Bình Nguyên Lộc, hôm ấy gặp nhau trong một căn gác xép, hai người trao đổi với nhau xem nên viết cái gì để vừa kiếm tiền nuôi sống, vừa có lợi cho dân. Bình Nguyên Lộc trầm ngâm khá lâu rồi nói: “Tôi thấy Sài Gòn bây giờ khá đông dân nhập cư từ miền Tây, hay là ông viết những chuyện xứ ông, chắc sẽ có nhiều người đọc”. Quả nhiên, những câu chuyện của Sơn Nam về rừng U Minh đã thu hút đông đảo độc giả Sài Gòn, không chỉ dân miền Tây mà cả những người đến từ mọi miền đất nước.

Ông nói: “Đến với văn chương để mong nổi danh thì đừng có hòng. Nền văn học của ta hơn nửa thế kỷ qua, nhìn lại ở một góc độ nào đó, coi như lấy rổ múc nước”. Tôi cũng không hỏi vì sao, bởi biết tánh ông thỉnh thoảng hay “phán” ra một câu rồi bỏ ngỏ, không giải thích, ai muốn hiểu sao thì tự hiểu. Với riêng ông, ông tự xem viết văn là một cái nghề, cái nghiệp để mưu sinh, “vì vậy mà phải viết cho đàng hoàng, phải có lương tâm nghề nghiệp thì các báo, các nhà xuất bản họ mới mua của mình, độc giả họ mới đọc của mình”.

Dường như với Sơn Nam, mọi thứ đều rất thực tế và rất đơn giản. Trong câu chuyện Âm dương cách trở của ông cách nay gần 20 năm, tôi vẫn bị ám ảnh một chi tiết: “Ông già hớt tóc vỉa hè bị công an khu vực xét hộ khẩu, ông nói: “Tôi sống ở đây gần trọn một đời người, chỉ biết mình là công dân của Tổ quốc Việt Nam thôi”. Anh công an hỏi: “Vậy theo ông thế nào là Tổ quốc?”. Ông già nói: “Với tôi, Tổ quốc là một nơi kiếm sống được bằng một việc lương thiện nào đó, không bị ai làm khó dễ, có vài người bạn chơi được, không ba trợn”. Ông già hớt tóc sau đó qua đời, được một người bạn thầy tu cho hỏa táng và mang hũ hài cốt về quê ở U Minh”.

Cho đến bây giờ, khát vọng đơn giản của ông già kia vẫn đang là khát vọng của hàng triệu con người. Càng nghĩ càng thấy “đáng sợ” một Sơn Nam.”

Viết về Sơn Nam, tôi thích hơn cả là của Đoàn Nam Sinh và Huỳnh Kim (Sơn Nam, ảnh Đức Huy), kế đến là Võ Đắc Danh và chùm Sơn Nam video nhạc tuyển. Ba năm trước vào ngày 12 tháng 8 trước ngày mất của nhà văn Sơn Nam một ngày, chợt dưng tôi bất ngờ gặp được bài “Sơn Nam vạt lục bình Nam Bộ”. Nữa đêm, tôi bật dậy lưu lại bài viết trên HỌC MỖI NGÀY “Nhân đọc Sơn Nam vạt lục bình Nam Bộ của Trần Mạnh Hảo” rồi thao thức mãi không ngủ. được. Mãi cho đến hôm nay Mark Zuckerberg và Facebook  nhắc lại. Bài viết hay và viết đúng tâm thế Sơn Nam . “Cụ” có lẽ cũng thích sự đánh giá này chăng?

Nhân đọc Sơn Nam vạt lục bình Nam Bộ của Trần Mạnh Hảo” Tôi (Hoàng Kim) hôm nay cặm cụi suốt ngày trên cánh đồng chữ nghĩa, đọc và góp ý khóa luận tốt nghiệp cho sinh viên. Những giống lúa OM 6976, GSR38, GSR 50, GSR63, GSR 65… quấn quýt tôi, ám ảnh tôi trong cả giấc mơ trưa với những thửa ruộng thí nghiệm tại Sóc Trăng, Gia Lai, Ninh Thuận, Phú Yên, Nghệ An, Thừa Thiên – Huế. Nhớ ngày mai là ngày giỗ của Cụ Sơn Nam ông già Nam Bộ, tôi dành phút thư giản để lần tìm trên báo mạng, lắng nghe những lời đồng cảm tri âm. Bài viết “Sơn Nam vạt lục bình Nam Bộ” của nhà văn Trần Mạnh Hảo đã làm tôi xúc động:

“Không hiểu sao, mỗi lần nhớ đến nhà văn Sơn Nam, tôi lại hình dung đến những vạt hoa lục bình trên các kênh rạch, sông ngòi của miền Nam. Lục bình, loài hoa “vừa đi vừa nở”, như một bài thơ tôi viết thuở nào, là một thứ hoa quá bình thường, thậm chí quá tầm thường, do trời trồng, cứ phiêu dạt, cứ lang bạt kỳ hồ như mây bay gió thổi, như số phận và tâm hồn của người nghệ sĩ. Lục bình vừa đi vừa sống, vừa đi vừa nở hoa, vừa đi vừa sinh sôi và tan rã. Nương trên sông nước, có lúc loài hoa xê dịch này chạy như bay về phía chân trời, chạy như đang bị nghìn thượng nguồn lũ lụt đuổi bắt, chạy như đang trôi tuột về phía hư vô, về phía không còn gì, để bấu víu và tồn tại…

Quả thực, Sơn Nam là loài lục bình chuyên đi bộ, trôi bộ trên những vỉa hè của Sài thành. Ông cứ tưng tửng như thế mà đi vào lòng người, mà đi vào văn học. Học theo phép trôi nổi, vô bờ bến của hoa lục bình, chừng như Sơn Nam cứ tưng tửng suốt hơn bảy mươi năm mà đi bộ trên những vỉa hè bụi bậm quanh co của con người. Đốm lục bình trên cạn này có cảm giác như trôi không nghỉ, vừa đi vừa ngậm cái sâu kèn bốc khói, thảng hoặc cười ruồi một cái rất bí hiểm, hoặc gật đầu chào một bóng mây, quờ tay lên khoảng không như tính vịn vào sự hụt hẫng của bước chân phận số. Trên dòng đời trôi dạt, cuộn xoáy về vô định ấy, trong hoang sơ im lặng chợt trổ ra bông lục bình, đột ngột như tiếng khóc oa oa sơ sinh của mang mang thiên cổ, có lúc lại đầy đặn, ấm áp tươi vui như tiếng cười của trời đất. Nhìn lên trời, đám mây tưng tửng kia chợt như một dề lục bình của cao xanh, trôi đi muôn đời bí hiểm mà sao chưa học được phép nở hoa của bông lục bình hoang dã.

Gió kia thổi tưng tửng lên miệt vườn và Sơn Nam cứ thế mà đi tưng tửng đến mọi người. Ông có cái dáng cổ quái như người đã ở miệt vườn từ mấy trăm năm, từ độ ông bà mình đầu tiên mở đất Nam Bộ. Ông giống như một tùy phái của Thoại Ngọc Hầu vừa thu nạp dân binh đi mở kinh Vinh Tế về, lội bộ qua vài ba trăm năm đến với chúng ta như lội qua vài ba công ruộng. Sơn Nam đã ở đô thành gần này hơn nửa thế kỷ mà cái dáng của ông vẫn như là dáng của dân miệt vườn chay. Ông chưa hề bị nhiễm chất thị thành, hệt như ông già Nam Bộ này vừa theo mùa nước nổi bắt được mấy xâu chuột, kêu bạn bè kiếm vài chùm bông điên điển về nướng chuột nhậu chơi. Ông có cái dáng dân chài lưới của U Minh thượng, U Minh hạ hơn là cái dáng của dân làm văn, viết sử.

Sơn Nam là nhà văn của nông thôn, mà là nông thôn Nam Bộ, một nông thôn thuần phác mà dữ dằn, chịu chơi mà nghĩa khí, nhân hậu mà ngang tàng. Cái miệt vườn trong văn chương của Sơn Nam là một miệt vườn xưa, nơi con người và cá sấu còn tranh giành nhau từng tấc đất, nơi cọp ngồi lù lù giữa buổi chợ chiều, nơi mũi lao thường biết cách dẫn đường con người bằng cách phóng đi như tên bắn về phía hoang vu, tăm tối và nỗi sợ trước một thiên nhiên được cấu tạo bằng nỗi niềm của người xa xứ.

Ông chính hiệu là nhà văn của buổi đầu mở đất, của những người bị phát vãng, bị lưu đầy từ miền Trung, miền Bắc vào, của dân trốn nợ, của kẻ thất tình quá mà bỏ xứ, của những anh hùng Lương Sơn Bạc, muốn tìm tự do nơi xứ cọp hơn là phải sống tù túng, sợ hãi trong sự áp bức của cõi người toàn quan ôn, chúa ác. Sơn Nam là một nhà Nam Bộ học, một cuốn từ điển của thời đầu mở đất Đồng Nai. Ông tiếp tục truyền thống văn chương của những Nguyễn Đình Chiểu, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ… Văn ông giản dị chừng nào, mộc mạc chừng nào lại sâu sắc mà hàm súc chừng ấy. Đọc ông, tôi cứ nhớ đến Tuốchghênhiép, một nhà văn phong tục của Nga ở thế kỷ mười chín với “bút ký người đi săn” nổi tiếng trên thế giới. Tuốchghênhiép là một biên niên sử của nông thôn Nga thời Sa hoàng, với những trang trại và những cỗ xe tam mã, những mệnh phụ phu nhân và những mối tình phù phiếm gió bay, những nông nô và số phận tẩm toàn nước mắt, những cánh rừng tai ga hư thực và những hươu nai chỉ lấy sự chạy làm vũ khí. Cũng như Tuốcghênhiép, Sơn Nam là một nhà văn phong tục của miền Nam, của những huyền thoại thời kỳ khai điền lập ấp.

Văn của Sơn Nam không ào ào như gió chướng, lại không trong veo như nước cất trong phòng thí nghiệm, mà nó là thứ chất lỏng hồng hào có tên là phù sa, chỉ cần vốc lên đã thấy mỡ màu cả bàn tay. Dưới ngòi bút của ông, những mảnh vụn bình thường nhất của thiên nhiên, những góc khuất nhất của hồn người chợt như được khoác lên một thứ ánh sáng mới, được bước ra sân khấu của ngôn từ với vẻ mặt trang trọng và cảm động. Những cảnh, những đời, những tâm sự của ông dù với tính cách hảo hớn, hào hùng nhất, sảng khoái và chịu chơi nhất bao giờ cũng pha một giọng kể trầm buồn, u hoài, xa vắng. Nói cho cùng, Sơn Nam là nhà văn của nỗi buồn con người. Hình như nỗi buồn đau mới có khả năng tạo ra cái đẹp của nghệ thuật? Thế giới nguy hiểm hơn, dễ đổ vỡ hơn nếu chỉ tồn tại bằng tiếng cười, bằng sự hoan lạc. Những câu chuyện mà Sơn Nam kể cho chúng ta thường pha chất dân gian, pha chút tiếu lâm nguyên thủy miệt vườn, đôi khi cái cười đi qua còn lưu lại nước mắt. Làm cho người đọc cảm động, còn tác giả tuồng như vẫn tỉnh queo, vẫn lầm lũi đi tìm những mảnh đời khác, những câu chuyện khác, gom nhặt chất liệu như đi mót lúa.

Sơn Nam dáng dấp nhỏ con như núi của phương Nam nhưng rắn rỏi, gân guốc. Gương mặt ông khắc khổ, hun hút như được chạm khắc bởi nỗi niềm tù túng của lịch sử có nét hao hao gương mặt của tượng đá Phù Nam. Đôi mắt ông nhìn tôi vừa xuyên suốt, vừa u u minh minh, vừa sáng quắc vừa lờ đờ, hệt như là đôi mắt của quá khứ. Ông cười lành như cái cười của nghé, của bê. Đôi lúc đang ngồi cười nói, ông chợt im lặng như quên mất tiếng nói, thậm chí như thể ông đã để quên hai lỗ tai ở nhà. Và chợt thấy ông cười ruồi như cười với người trong mơ. Đôi khi ông thất thường như mưa nắng, song ông vẫn là người bình dị, chưa một lần tỏ ra kênh kiệu ta đây. Ông có khả năng chơi thượng vàng hạ cám. Lớp trẻ quý mến ông ở tấm lòng thành thật, cởi mở và chịu chơi, thậm chí lẹt xẹt, hề hề.

Thỉnh thoảng gặp ông, tôi lại thấy nhà văn Sơn Nam của chúng ta già đi một tí. Duy giọng nói ông còn hào sảng, tiếng cười hì hì của ông sao mà trẻ thơ dường vậy. Con người càng già đi, tâm hồn càng trở về thời thơ ấu. Với những tập truyện ngắn bút ký xuất sắc, với những tập biên khảo uyên thâm, với những phát hiện mới mẻ về chân dung tinh thần của người Nam Bộ, Sơn Nam quả rất xứng đáng với ý nghĩa của tên tuổi mình.

Dòng sông đuổi bắt chân trời, chẳng có gì trên đời có gan bám theo dòng sông về vô tận ngoài chấm lục bình kia. Lục bình như một biểu tượng sâu xa của kiếp người, vẫn trổ hoa trong mưa gió. Như một đóa lục bình văn học, tâm hồn Sơn Nam đang trôi trên những trang văn về phía chân trời của cuộc sống.”

Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông! Tôi từ trước đã tâm đắc điều này, và ngộ ra những người hiền thường thung dung, an nhiên với đời thường. Sơn Nam, Bùi Giáng, Võ Hồng, Trang Thế Hy… và những người hiền phương Nam đều hiền hòa, chất phác. Nay đọc Sơn Nam vạt lục bình Nam Bộ, tôi càng hiểu sâu sắc điều đó.

Hoàng Kim

Bài đã đăng tại dayvahoc.blogspot.com/2013/04/nho-sonnam-ong-gianambo.html
đăng lại tại https://hoangkimlong.wordpress.com/2016/07/29/nho-son-nam-ong-gia-nam-bo/

Tài liệu dẫn:

NHỚ SƠN NAM

Đoàn Nam Sinh

Hồi còn nhỏ, thập kỷ sáu mươi về trước, trong làng ấp xa xăm, tôi đã được đọc những bài viết của chú trên tờ Hương Quê, giấy báo trắng láng với màu mè, hình vẽ minh họa rất đẹp. Mẫu chuyện mà tôi nhớ đời là bà con xứ Nam kỳ đã lập thế nhử vịt câu sấu như thế nào, với giọng văn giản dị, tưng tửng. Ba tôi, người cũng từng dầu dãi sông nước giải thích chuyện trẻ nhỏ nghịch ý với cha mẹ thì thường bị quở là “đem câu sấu cho rồi”, tụi nhỏ tôi sợ lắm.

Ông cậu vợ tôi sau này, ngày còn nhỏ nhà ngoại khá giả cho đi học trên Nam Vang, chắc có Pri-me rồi về Rạch Giá đi dạy học. Đổi vùng khắp chốn đến sau khởi nghĩa mới biết là đi theo cộng sản từ thời ông Giàu gây dựng đâu bên Xiêm bên Lèo. Cậu làm chủ tịch một xã ở Gò Quao, mà cái bằng “đẹp trai” không giấu được. Ở đâu chị em cũng bu theo. Cậu có lần kể “tao đi công tác với hai cô, mùa nước nổi chun nóp ngủ trên chòi gò, lần quần rồi tao quất cả hai”. Không biết có phải vì đào hoa, lăng nhăng hay sao đó cậu ở lại, không tập kết. Rồi tù tội liên miên. Có lần cậu nói “thằng cha này là Minh Tài, nó viết văn hay lắm, ham đi xuống thực tế, rồi ham viết, chẳng kể gì giờ giấc, chưng dọn. Người hổng biết nói chả ở dơ, lúc 9 năm chả hay về đây, tiếng Tây chỉ có mấy người biết, đủ để nói thầm, chả thân cậu lắm!”. Sau này tôi kể lại với chú cậu Trần Kỳ Ứng dưới Gò Quao hỏi thăm, chú nói chuyện “hồi đó ai cũng yêu nước, đánh Tây đặng giành độc lập. Có mấy người biết chữ đâu. Lớp đó là người theo đạo Thiên chúa cũng vào Đảng, làm lãnh đạo Việt Minh. Khi định biên lại khoảng năm 53, làm theo kiểu mấy anh Tàu nên nhiều người chán nãn…”.

Lớn lên trong thời chiến, lại lo chuyện học hành, chuyện kiếm hiệp/võ hiệp kỳ tình tràn lan rồi phong trào hip-pi, phản chiến đến triết lý hiện sinh hiện tồn,…Mỹ đã đổ quân vào Đà Nẵng, đảo chính, tăng quân, leo thang đánh phá,…Làng quê ứng phó bằng tích trữ khô muối, dầu đèn, trảng-sê hầm hào trước bom sai đạn lạc; phố chợ lung lay trước bao cuộc biểu tình, đình công bãi thị, học sinh bãi khóa, chống đàn áp Phật giáo rồi chống hiến chương Vũng Tàu, đả đảo Nguyễn Khánh bán nước, đả đảo Thiệu-Kỳ-Có,…khiến tụi nhỏ tôi chẳng còn thời gian và lòng dạ nào dòm đến văn học miền Nam nữa.

Sau 68, anh em tan tác người một ngã. Ngọn lửa tàn độc tràn qua thôn ấp ngày một hung tợn, ác liệt. Làn sóng tỵ nạn chiến tranh lan ra, người dân tản cư chạy vào khu dồn, lớp trẻ chúng tôi về Sài Gòn. Mấy năm sau tôi thấy chú trong phong trào chống chế độ kiểm duyệt báo chí của Sở Phối hợp Nghệ thuật, tổ chức biểu tình với khẩu hiệu “Ký giả đi ăn mày”, nhưng mỗi người một việc.

Bẵng đi có chục năm liền, cũng vì mưu sinh chen chúc, tuy không xa nhưng khó dịp hàn huyên. Có lần gặp nhau tôi hỏi nghe chuyện vợ con chú sao đó, chú Sơn Nam buồn buồn ̶ “mình viết văn mà không hay thì ai đọc, làm sao sống? Mà lo chuyện viết lách thì bỏ bê, vợ con mấy người thông cảm”…Tới 97, đợt 300 năm Sài Gòn chú nhờ tôi tiếp mấy chuyện vặt. Lúc này chú thuê nhà ở Phan Văn Trị, một cái buồng dài và hẹp, bốn bề nước đái khai um. Cũng chỉ cái máy Olivetti gõ cọc cạch và bộn bề sách vở xếp chung quanh lan cả lên chiếc giường tám tấc. Gần đến ngày trả tiền nhà chú lúng túng, xốn xang cùng nổi lo trễ nãi bà chủ phiền.

Chú Sơn Nam lúc này đã thấy già, nói chuyện vẫn bông lơn nhưng có phần cam chịu. Có bữa được ít tiền nhuận bút, “chú em chở dùm qua đi gửi cho thằng con, nó khổ lắm”. Lần khác thì “thằng con dưới Mỹ Tho hẹn lên xin mấy trăm về lo chuyện nhà”.

Mấy lần chú xuất hiện trên phim, và khi đi ra quê Bắc tế cụ Nguyễn Hữu Cảnh, với bộ nam phục lụa màu xanh thấy ngồ ngộ, khác xa với “ông già đi bộ” thường ngày, lưng chú đã hơi còng rồi.

Vài năm sau nữa, tôi nhớ bữa đưa tang Bùi Giáng ở Gò Dưa, sau bài ai điếu của Cung Văn là điếu văn của Hội Nhà Văn thành phố. Chú moi ra bài viết sẵn trên túi áo vét xanh nhầu nhỉ, sửa lại đôi kính cũng rầu rĩ như ông chủ và chú run run nói: “Anh Giáng ơi! Sáng nay anh NQS nói với tui anh là lớp trước, lại ở trong này, cũng ít dịp gần gũi. Anh đại diện cho Hội đọc dùm điếu văn này. Dậy đây là phần của Hội nghe anh Giáng…Tui đọc dậy là xong rồi, còn đây là của tui. Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài,…nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay đưa anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của Thành ủy – Ủy Ban, có Hội Nhà văn, dậy là anh có hộ khẩu Sài Gòn rồi đó nghe anh Giáng!…”.

Có lần hội thảo khoa học về cụ Trương Vĩnh Ký, như những lần hội thảo danh nhân Nam bộ khác, chú đã đọc tham luận. Không phải về những công trình bác học, đồ sộ hoặc luận về công/tội, chú nói đến chuyện sau cùng cụ TVK đã dành thời gian viết chuyện cho con nít đọc, “mà viết chuyện hay con nít tìm đọc là khó lắm đó nghe”.

Lúc Bé Tư mới ra cuốn Cánh đồng bất tận, một ông lão nghe chuyện hỏi tôi NQS ủng hộ lắm hả, cháu có không? Tui nghe chú Sơn Nam có bản photo. Mà lúc này ổng về ở dưới Lăng Ông rồi. Chở chú lại thăm giả chút. Hai người lớn nói chuyện văn chương, tôi mãi mê đọc báo. Chỉ nghe thoáng khúc cuối chú Sơn Nam nói “nó muốn đặt tên cho đứa nhỏ là Hiền, Lành gì đó chứ không Thù, Hận,…nghĩ lại không biết tụi mình là con hoang của vụ hiếp dâm nào?” Tôi xin phép hai ông chú ra về trước.

Tự nhiên mấy năm gần cuối đời hai dái tai của chú dày ra, rộng hơn phát đỏ hồng, anh em mừng. Thì cũng có chuyện hợp đồng bán được tác quyền, sách được in lại đẹp đẽ, chú cũng mừng. Nhưng thường bữa, trừ đợt bịnh nặng, chú vẫn đến thư viện Gò Vấp cạnh cầu Hang tìm sách đọc, viết và nhờ mấy cháu đánh máy lại. Rủng rỉnh thì mời mấy cô bé đi ăn trưa, cơm dĩa. Sáng sáng lại ngồi cà phê đen xéo phía kia đường.

Khúc cuối cùng cuộc đời, do có chuyện bình chọn để lãnh giải thưởng gì đó ngoài trung ương mới có chuyện “…Sơn Nam không được, vì nhờ biết tiếng Tây, đọc các bài viết cũ rồi viết lại chứ không có công trình gì…”. Từ hồi chữ quốc ngữ thịnh lên tới giờ, có biết bao nhà văn đọc rồi phóng tác; có bao người đọc để biết mà tránh viết giống người trước? Tôi thì biết rõ là chú Sơn Nam không đạo văn như cái án oan kiểu gây dư luận đó.

Lại rủi cho chú khi đi đường bị xe của bọn trẻ chạy vong mạng làm gãy chân, chú chỉ nói buồn “tụi nhỏ chúc thọ ông già kiểu này ngặt quá!”.

Mới đó mà chú đã đi xa một năm rồi, ngày đưa tang chú tôi từ Gia Lai về, mệt quá ngủ quên, khi anh em nhắc thì đã xong mọi việc. Tiếc và buồn! Thôi, đêm nay tôi nhớ chú, ngồi viết gọn mấy dòng dâu bể.

Bình Dương, 10/08/09
Nguồn : http://www.viet-studies.info/DoanNamSinh_NhoSonNam.htm

BÀI THƠ “HƯƠNG RỪNG CÀ MAU”

Huỳnh Kim

Bài “Thay lời tựa” tập truyện ngắn nổi tiếng “Hương Rừng Cà Mau” của nhà văn Sơn Nam là một bài thơ hay. Bài thơ dài 28 câu viết về cái thuở tiền nhân xưa từ miền Trung tha hương vào khai hoang mở cõi phương Nam. Đó là một bài thơ độc đáo hiếm thấy của nhà văn Sơn Nam mà nhiều người đã thuộc lòng vì cái điệu buồn chất chứa trong từng âm điệu, câu chữ.

Nhưng có lẽ ít ai biết bài thơ đó nhà văn viết khi nào và ở đâu. Một hôm, cuối năm 2000, gần Tết, tôi nhớ vào ngày 15-1-2001, ông ghé thăm báo Cần Thơ và nhắn tôi qua chơi. Tôi chở ông về nhà mình, giở cuốn “Hương rừng Cà Mau” do nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 1986, có chữ ký tặng bằng mực đỏ của ông ngày nào, rồi hỏi:

– Bài thơ này chú Tám làm hồi nào vậy?

Ông nheo nheo mắt, nói:

– Viết từ năm 1961, trong nhà tù Phú Lợi. Hồi đó chánh quyền Sài Gòn bỏ tù cái tội mình vẫn theo kháng chiến.

Rồi ông ngồi chép lại cả bài thơ trên mặt sau một tờ lịch lớn. Nét chữ của một ông già 75 tuổi mà bay bướm quá chừng. Cuối bài thơ, ông ghi: “Viết thơ này từ năm 1961, nay chép lại tặng Huỳnh Kim, bờ sông Hậu”. Tôi đã nhờ thợ phủ la-mi-na và ép tờ lịch ấy lên một tấm gỗ để lưu giữ được lâu dài bút tích của nhà văn Sơn Nam.

Tôi treo kỉ vật này trên tường kế bên kệ sách và gắn kề bên nét chữ của ông, một chiếc lá cây khô hoang dã đã lìa cành tự khi nào. Chiếc lá ấy, nét chữ ấy, mỗi lần nhìn lên, như nghe có tiếng người xưa vọng lại:

Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Tới Cà Mau – Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?

Chiều chiều nghe vượn hú
Hoa lá rụng buồn buồn
Tiễn đưa về cửa biển
Những giọt nước lìa nguồn
Đôi tâm hồn cô tịch
Nghe lắng sầu cô thôn
Dưới trời mây heo hút
Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa

Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…

Huỳnh Kim bài đăng báo Tuổi Trẻ cuối tuần (tháng 8-2018)

Bút tích của nhà văn Sơn Nam
(click vào hình để có bản chính trên blog Huỳnh Kim)

GẶP LẠI NHÀ VĂN SƠN NAM

Huỳnh Kim

Nhà văn Sơn Nam đã về với đất, nhẹ như câu thơ của ông “Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Sáng nay, lục tìm trong ký ức và trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TBKTSG), như gặp lại ông…

1.

Năm bảy năm trước, khi còn khỏe, nhà văn Sơn Nam có viết lai rai cho TBKTSG, thường là vào dịp Tết. Có một bài mà bây giờ đọc lại, thấy như ông nói chuyện đang xảy ra. Đó là bài “Làm tiền và xài tiền”. Mở đầu bài báo, ông viết: “Tuy không rành về kinh tế tài chính nhưng tôi dám phát biểu rằng không phải có nhiều vàng trong tay là mặc nhiên được đứng vào hàng ngũ tư sản Việt Nam trong giai đoạn mở cửa này”. Rồi ông nhận xét: “Mấy năm gần đây, phát sinh một hiện tượng ăn xài hoang phí trong một bộ phận dân cư ở Sài Gòn và các tỉnh, đến mức mà chính những nhà kinh doanh nước ngoài phải ngạc nhiên, thậm chí coi khinh. Trúng mối vài dịch vụ sang nhượng nhà đất, buôn lậu, tráo trở chứng từ, dành dụm được năm, mười cây vàng, hoặc hơn, làm tiền không đổ mồ hôi thì dĩ nhiên cần tiêu xài vô lý, dịp may hiếm có. Tiền sẽ vào túi, dễ dàng, cóc nằm há mồm là sung rụng ngay vào miệng, muốn khạc ra cũng không được. Đó là chưa kể một số cán bộ tiêu cực có bài bản, ăn chơi một buổi bằng một năm lương bổng của người làm công. Xài ô-tô hạng sang, quần áo thứ tốt, nhà cửa trang trí toàn đồ ngoại”.

Một chỗ khác, ông mô tả rành rọt: “Rượu mạnh với nhãn hiệu đắt tiền, nốc vài chai đã là tốn bạc triệu. Gọi thức ăn đủ món, nhưng món nào cũng gắp thử một vài đũa, hoặc không gắp rồi chờ đem món khác! Ăn để phá của, vì của cải ấy làm ra không đổ mồ hôi, lắm khi không tiêu xài thì không phải lẽ, vì đó là tiền thù lao tập thể cho phép cả nhóm kết nghĩa! Tiêu xài để cho người đồng lõa thấy mình là người hào hiệp, thừa tiềm năng và thừa bản lãnh. Đến mức những người phục vụ cửa hàng tuy cười tươi ra mặt nhưng khi vào nhà bếp, họ cũng lắc đầu, khinh bỉ cái phong cách điên khùng của “thời đại”. Chưa hết! Ăn uống bừa bãi, nửa ăn nửa bỏ, nôn mửa, lắm khi để xóa mặc cảm tội lỗi, họ lại cởi áo, dùng những lời lẽ phàm tục, nhờ điện thoại cầm tay để nói láo với bạn bè, với vợ con hoặc trêu chọc cô gái nào đó để ra vẻ mình… có máu văn nghệ. Chưa kể trường hợp say quá mức, họ lại đùa giỡn bằng cách chế diễu các cơ quan nhà nước và tự chế diễu mình”.

Ông quan sát thấu đáo cả những kiểu sống như thế này: “Có tiền nhiều, nhưng không tin nơi ngày mai, hoặc quá tin vào tử vi, tuổi con rồng, gặp tháng con chuột. Họ cầu mong làm giàu thêm, không bỏ những dịp may có thể thoáng qua rồi mất. Con cái của họ cần được nổi danh trong khu phố, với bạn bè cùng trang lứa. Nào khiêu vũ, nào ăn điểm tâm ở khách sạn sang trọng nhất, xài đô-la chớ không xài tiền Việt, trong khăn mù-soa nhung nhúc những khoen lớn khoen nhỏ. Mất chiếc xe gắn máy đắt tiền này, lập tức cho con số tiền to để sắm trở lại chiếc khác, lắm khi còn đắt tiền và hợp thời trang hơn”.

Gần cuối bài đó, nhà văn nhắc nhẹ: “Ở Việt Nam, xưa kia đã từng có xuất hiện vài nhà tư sản xứng đáng cho đời sau ghi nhớ. Thí dụ như ông Trương Văn Bền. Khi rảnh rang, ông tranh thủ đọc sách, nghiên cứu cách tiếp thị, phân phối sản phẩm theo đường dây hợp lý. Mỗi sáng, ông không quên tập thể dục”.

2.

Nhà văn Sơn Nam viết báo kinh tế như vậy đó. Còn các nhà báo kinh tế và doanh nhân thì lại hay trích văn của ông. Trong mấy chục bài của họ đã đăng trên TBKTSG, dễ gặp lại hình ảnh “ông già Nam bộ” Sơn Nam.

Tỉ như trong bài “Như ngày xưa tiền nhân đi mở cõi”, ông Trần Kim Chung – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Quốc tế C&T – đại diện Tập đoàn Mỹ phẩm Amore – Pacific Hàn Quốc, tâm sự: “Có một bài thơ của nhà văn Sơn Nam luôn làm tôi liên tưởng rằng, chuyện khởi nghiệp kinh doanh ngày nay cũng tựa như chuyện tiền nhân ta ngày xưa đi mở cõi. Đó là đoạn đầu trong bài thay lời tựa tập truyện ngắn “Hương rừng Cà Mau” của nhà văn: Trong khói sóng mênh mông / Có bóng người vô danh / Từ bên này sông Tiền / Qua bên kia sông Hậu / Mang theo chiếc độc huyền / Điệu thơ Lục Vân Tiên / Với câu chữ: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” / Tới Cà Mau, Rạch Giá / Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng…”.

Hoặc trong bài “Quán Sơn Nam”, nhà báo Võ Đắc Danh kể: “Sáng thứ bảy, tôi tìm đến địa chỉ liên lạc thường nhật của ông, tức cái quán cà phê trong khuôn viên nhà truyền thống quận Gò Vấp. Khác với lệ thường, hôm nay sau khi uống xong ly sữa tươi và ly cà phê đen, nhà văn Sơn Nam ăn thêm một gói bắp nấu, rắc lên một ít đường cát và dừa nạo. Bắp nấu là món ăn sáng của người nghèo, hồi trước bắp nấu được gói bằng lá chuối, múc ăn bằng một miếng sóng lá dừa. Bây giờ là cây muỗng nhựa, bắp nấu gói trong bọc ny lông, bên ngoài gói thêm lớp giấy báo.

Thấy ông ăn một cách ngon lành, tôi hỏi: “Tía tìm đâu ra món này, đã lâu rồi tôi không thấy?”. Ông nói ở gần nhà ông còn một người bán, nhưng phải dậy sớm mua mới có.

Ông vừa ăn xong thì một thanh niên tìm tới, nói là ở tạp chí Điện ảnh đến nhận bài báo Tết theo đơn đặt hàng. Ông vừa lấy bản thảo trong túi ra, vừa cười nói: “Lấy tiền trước của họ, xài hết rồi mới viết”. Ông cho tôi xem trước khi giao nó cho khách hàng. Năm Giáp Thân, ông viết về khỉ. Thì ra, ông là một trong những cư dân Sài Gòn trực tiếp chứng kiến các chuyên gia người Pháp mang hai con khỉ đầu tiên đến Thảo cầm viên. Ông nói ông rất khoái câu nói của Gamzatov, đại ý: con khỉ muốn thành người phải trải qua quá trình tiến hóa hàng triệu năm, nhưng con người muốn trở lại thành khỉ thì chỉ cần một chai rượu”.

Hay trong bài “Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản”, nhà báo Hưng Văn viết: “Nhà văn Sơn Nam đề nghị: Trong chương trình sử học cho học sinh, nên có một bài nói về ông Phan Thanh Giản; đủ tình đủ lý; gọi là tình huống đặc biệt của Nam bộ khi phải hội nhập với vùng Đông Nam Á và phương Tây quá sớm so với các vùng khác trong cả nước. Ông để lại cho đời sau chút gì khó quên, khó xóa nhòa, gọi là tâm linh, phóng khoáng, mơ mộng”.

Nhà văn Sơn Nam đọc “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” – Ảnh: H.KIM

Tấm ảnh đăng kèm bài này là hình nhà văn Sơn Nam lật xem cuốn “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” trên giường bệnh vào chiều ngày 19-6-2005. Một giọt nước mắt ứa ra nơi khóe mắt ông già 80 tuổi. Dạo đó, ông phải nằm viện cả tháng trời sau một tai nạn giao thông. Cùng nhiều bạn đọc khác, tôi từ Cần Thơ về Sài Gòn thăm ông, gởi biếu ông quà của công nhân Công ty In Vườn Lài ở Quận 10 và của giáo sư Trần Hữu Dũng ở Mỹ nhờ chuyển. Tôi cũng tặng ông cuốn sách của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau, do Nhà xuất bản Trẻ và TBKTSG mới ấn hành. Ông lặng lẽ giở vài trang sách, không nói một lời. Nhưng nhìn ánh mắt ông, tôi hiểu tình cảm của ông dành cho nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, năm đó Tư 29 tuổi. Trước đó mấy tháng, tôi gặp ông chỗ cái quán cà phê mà anh Võ Đắc Danh kể ở trên. Nhắc tới cô Tư, ông nói: “Viết hay hơn Sơn Nam à nghen!”. Sau đó tôi gọi điện thoại cho Tư rồi đưa máy cho hai chú cháu nói chuyện. Nhớ giọng ông hào hứng: “Chịu khó viết mỗi ngày. Báo hổng đăng thì để đó, rồi sẽ có ngày báo đăng”. Bữa đó, truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư chưa đăng báo.

* Blog Huỳnh Kim, bài này đăng Thời báo Kinh tế Sài Gòn 21-8-2008

VÀI KỈ NIỆM VỚI NHÀ VĂN SƠN NAM

Huỳng Kim (Vũ Châu ghi)

Ấn tượng nhứt của anh với nhà văn Sơn Nam là gì?

– Lần nào gặp, tôi cũng thấy ổng giản dị, lạc quan và hầu như nói chuyện gì với ổng tôi cũng học được nhiều thông tin bổ ích. Sơn Nam là một nhà văn nổi tiếng nhưng rất dễ tiếp xúc và chuyện trò. Ở nhà, trong quán cà phê, giữa cuộc họp… hay bất cứ đâu, hễ rảnh rang là ổng sẵn sàng la cà với mọi người, nhất là với giới bình dân. Có lần tôi về Sài Gòn ghé thăm khi ổng đang nằm trên giường bệnh. Ổng gầy lắm, da bọc xương, nhưng nói chuyện thì tỉnh táo, ánh mắt vui. Ổng khuyên tôi nên coi bộ phim “Mê-kông ký sự” mà theo ổng thì còn gặp được những hình ảnh văn hóa gốc của nhiều dân tộc thiểu số chưa bị “con người hiện đại” can thiệp. Ổng nói rất lạc quan: “Nếu còn sống được tới 85 tuổi, tôi sẽ viết tiếp câu chuyện này, ở hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu của đồng bằng sông Cửu Long”.

Nhà văn Sơn Nam & H.Kim tại báo Cần Thơ hôm 15-1-2001 – Ảnh: QUỐC ANH

Nghe nói nhà văn Sơn Nam có dạy anh viết báo?

– Không dạy trên giảng đường, ổng chỉ dạy tôi trong cuộc sống. Từ năm 1975, nhà tôi ở chung con hẻm nhỏ với nhà văn trên đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, TPHCM. Tôi vào bộ đội rồi chuyển sang nghề báo. Phóng sự đầu tiên tôi nhờ ổng đọc, viết về đảo Phú Quốc gởi báo Quân đội nhân dân. Cho tới giờ, tôi vẫn thực hành lời dạy viết báo của nhà văn Sơn Nam từ dạo đó: “Cố gắng viết ngắn, câu nào cũng có thông tin”.

Một lần khác, vào năm 1993, tôi theo nhà văn vào xã Tây Phú thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Trong khi chúng tôi cứ loay hoay với mấy cái báo cáo tổng kết về chuyện đi khai hoang vùng tứ giác, thì nhà văn Sơn Nam đã lội lòng vòng quanh chợ xã. Quay về, ông chỉ hỏi anh bí thơ xã mấy câu mà nghe xong thấy… quá nể: “Có gái giang hồ vào tứ giác tìm tình yêu hay không?”; “Có người nông dân bất mãn? Có anh cán bộ cường hào?”; “Điện thoại bàn đã gọi ra quốc tế nhưng sách báo về xã sao thấy còn ít quá?”… Khi nghe anh bí thơ xã kể chuyện bà con nông dân lập miếu Thần Nông, 17 tháng 3 âm lịch hằng năm họ cúng tạ ơn trời đất, tổ tiên và cây lúa, nhà văn Sơn Nam nói: “Đó là đạo. Làm ruộng là đạo, giữ đất là đạo. Khuyến nông tức là cách giữ đạo làm nông, thì dân mới giàu mạnh được. Tôi lội chợ Tây Phú, thấy có đánh bi-da, có tiệm vàng, có cái kéo rèn từ Phú Tân đưa qua, có bộ xa-lông tre lấy mẫu từ Mộc Hóa, có cô bán quán quê Đồng Tháp, có thầy giáo quê Thanh Hóa… Người tứ xứ về tứ giác sinh cơ lập nghiệp, thì cần giữ cái đạo làm người, thì kinh tế thị trường ở đây mới nên bộ mặt nông thôn mới”. Khi ghé thăm chùa, thăm khu di chỉ văn hóa Óc-Eo, cánh nhà báo chúng tôi lăng xăng hỏi nhà chùa đủ chuyện thì nhà văn Sơn Nam lặng lẽ thắp nhang trước bàn thờ Phật, cúng dường nhà chùa và bố thí cho người nghèo chung quanh chùa.

Đó là những bài học làm báo và làm người nhớ đời của tôi.

Anh có giữ kỷ vật gì của nhà văn Sơn Nam không?

– Tôi đang giữ tập truyện “Hương Rừng Cà Mau” do Nhà xuất bản Trẻ tái bản lần đầu tiên sau ngày giải phóng, tháng 11-1986, in giấy vàng khè, giá 25 đồng, có chữ ký tặng bằng bút bi màu đỏ của nhà văn Sơn Nam. Tôi cũng đang treo bên kệ sách, bút tích của nhà văn Sơn Nam chép bài thơ thay lời tựa tập truyện “Hương Rừng Cà Mau”. Lần đó, tôi nhớ vào ngày 15-1-2001, sau khi ghé thăm báo Cần Thơ, nhà văn về nhà tôi chơi. Sau đó, ổng chép lại bài thơ vào mặt sau một tờ lịch lớn và ký tặng vì biết tôi rất thích bài thơ đó. Tôi tò mò hỏi chú viết bài thơ trong hoàn cảnh nào, ổng nói: “Viết từ năm 1961, trong nhà tù Phú Lợi; hồi đó chính quyền Sài Gòn bỏ tù cái tội mình vẫn theo kháng chiến”.

“CỐT CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM MÌNH LÀ NHÂN NGHĨA”

Huỳng Kim

Trung tuần tháng 3-1990, nhà văn Sơn Nam về Cần Thơ để chuẩn bị cho một công trình nghiên cứu về chùa Nam Nhã. Lúc này ông đã 64 tuổi, thường xuyên đi về miền Tây. Biết tôi đã chuyển qua làm ở báo Quân khu 9 và cộng tác với mấy tờ báo ở Sài Gòn, Hà Nội, ông nhắn tôi đi uống cà phê đêm rồi về nhà tôi chơi. Lâu ngày gặp nhau, không hiểu sao tôi vẫn muốn nghe ông nói chuyện về miền Tây, về đồng bằng sông nước mà khi đó dù đã cưới vợ quê gốc Cần Thơ, lúc nào tôi cũng thấy mình thiếu cái… cốt cách miền Tây. Tôi còn nhớ đã hỏi ông như thế này:

– Cái cốt cách người đồng bằng mình, theo chú Tám, là sao?

Ông trả lời:

– Cái cốt cách người Việt Nam mình là nhân nghĩa. Ông vua mà không nhân nghĩa thì sẽ bị cái nhân nghĩa của nhân dân “cách cái mạng”. Hàng xóm có đám ma, mình góp tiền lo đám, dù người đó lúc còn sống mình không ưa. Không phải chỉ ông vua chết, mình mới cúng. Người ăn mày chết, mình cũng cúng. Đứa trẻ chết, mình cúng. Người ăn cắp, người đói chết, mình cúng. Xưa, công chúa Thuận Thiên than lạnh với cha, vua Lý Thánh Tông họp quần thần bảo: Trẫm thương dân như thương công chúa. Công chúa mặc hai lớp áo cung đình còn than lạnh, huống hồ là muôn dân của trẫm bị cầm tù vì nghèo vì dốt. Nay trẫm lệnh phải phát đủ quần áo để muôn dân được ấm. Đó không phải là mị dân, cái gốc của nó là nhân nghĩa Việt Nam.

Ông còn nói thêm về cái hiện trạng sống thiếu nhân nghĩa xung quanh ta. Tôi giật mình nghĩ lại mình. Lúc đó là đã mười bốn năm kể từ ngày ba tôi mất. Lúc đó, đời lính đã tạm yên, không còn ra mặt trận 979 nữa, nhưng vợ chồng tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện thờ phượng ba tôi, tất cả để một mình mẹ già của tôi ở Sài Gòn lo nhang khói. Mà hai vợ chồng tôi lúc đó là đảng viên, lúc nào cũng nghĩ mình sống có ích, có nghĩa với dân với nước! Có ngờ đâu, có những lúc thấy tâm hồn trống vắng cô đơn kì lạ mà không làm sao hiểu nổi. Như là đêm hôm đó, tôi lập cập tiễn ông già 64 tuổi ra khỏi căn nhà “gia binh” già nua của mình, gió đêm lạnh ngắt.

HK

* Blog Huỳnh Kim, hai bài này đăng báo Cần Thơ (tháng 8-2008)

HẠT BỤI NGHIÊNG MÌNH NHỚ ĐẤT QUÊ

Võ Đắc Danh

>> Vĩnh biệt “ông già Nam bộ” Sơn Nam
>> Vĩnh biệt Sơn Nam: Con ong rừng U Minh đã bay về cõi
>> Nhà văn Sơn Nam: Cả đời viết về cuộc khẩn hoang Nam Bộ
>> Đi lãnh nhuận bút với nhà văn Sơn Nam
>> Nhà văn Sơn Nam đang nguy kịch
>> Nghe chuyện xưa, tích cũ với Sơn Nam

Biết thế nào rồi cũng có cuộc chia ly, hôm ấy, cách nay hơn ba năm, khi ông còn tá túc ở thư viện Gò Vấp, tôi mua một tờ giấy cứng với cây bút lông mang lên, nói: “Tía chép giùm con bài thơ để con giữ bút tích của tía làm kỷ niệm”. Ông nói: “Ừ, để đó đi, vài hôm nữa đã, tôi có chết sớm đâu mà lo, giờ có rảnh hôn, chở tôi đi vòng vòng Sài Gòn chơi”. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi chở ông đi dạo, và rồi bài thơ ông cũng không kịp chép cho tôi. Hôm ấy được tin ông bị tai nạn giao thông, tôi chạy sang thì ông đã nằm liệt giường, thậm chí không còn nhận ra tôi là ai nữa. Bây giờ thì ông đã ra đi!

Nhớ hôm ấy, ngồi sau lưng tôi, ông kể chuyện huyên thuyên, rồi bất chợt khi ngồi ở một quán cà phê vỉa hè, ông nói: “Tôi còn mấy chuyện hay lắm, nhưng về già tôi mới viết”. Tôi giật mình nhìn ông và tự hỏi, về già là bao lâu nữa, hơn 80 rồi, ông lẩm cẩm rồi chăng? Rồi ông lại nói: “Có gặp thằng Nguyễn Trọng Tín, nói tôi nhắn với nó chuyển sang viết văn xuôi đi, thời buổi này mà làm thơ là húp nước mắm”. Tôi nói ông Tín bây giờ viết báo rồi, ông cười: “Vậy là càng tốt, viết báo dễ kiếm tiền hơn”. Trầm ngâm một chút, ông nói: “Nè, tôi dặn ông cái này nghen, ông viết báo thì cứ lo viết báo, đừng bày đặt góp ý với thằng chủ báo phải làm thế này thế nọ, trào máu có ngày! Ngoài mặt nó giả bộ gật đầu nhưng trong bụng nó ghét cay ghét đắng”.

Từ chiến khu về thành ông được phân công ở lại sau tập kết, một phòng trọ, một bộ bà ba vải ú trắng, một đôi guốc vông, lang thang đi bộ khắp Sài Gòn. Ông nói sự nghiệp của ông có ảnh hưởng khá nhiều từ lời khuyên của Bình Nguyên Lộc.

Những ngày đầu tiên ở Sài Gòn, ông lang thang đi tìm Bình Nguyên Lộc, hôm ấy gặp nhau trong một căn gác xép, hai người trao đổi với nhau xem nên viết cái gì để vừa kiếm tiền nuôi sống, vừa có lợi cho dân. Bình Nguyên Lộc trầm ngâm khá lâu rồi nói: “Tôi thấy Sài Gòn bây giờ khá đông dân nhập cư từ miền Tây, hay là ông viết những chuyện xứ ông, chắc sẽ có nhiều người đọc”. Quả nhiên, những câu chuyện của Sơn Nam về rừng U Minh đã thu hút đông đảo độc giả Sài Gòn, không chỉ dân miền Tây mà cả những người đến từ mọi miền đất nước.

Ông nói: “Đến với văn chương để mong nổi danh thì đừng có hòng. Nền văn học của ta hơn nửa thế kỷ qua, nhìn lại ở một góc độ nào đó, coi như lấy rổ múc nước”. Tôi cũng không hỏi vì sao, bởi biết tánh ông thỉnh thoảng hay “phán” ra một câu rồi bỏ ngỏ, không giải thích, ai muốn hiểu sao thì tự hiểu. Với riêng ông, ông tự xem viết văn là một cái nghề, cái nghiệp để mưu sinh, “vì vậy mà phải viết cho đàng hoàng, phải có lương tâm nghề nghiệp thì các báo, các nhà xuất bản họ mới mua của mình, độc giả họ mới đọc của mình”.

Dường như với Sơn Nam, mọi thứ đều rất thực tế và rất đơn giản. Trong câu chuyện Âm dương cách trở của ông cách nay gần 20 năm, tôi vẫn bị ám ảnh một chi tiết: “Ông già hớt tóc vỉa hè bị công an khu vực xét hộ khẩu, ông nói: “Tôi sống ở đây gần trọn một đời người, chỉ biết mình là công dân của Tổ quốc Việt Nam thôi”. Anh công an hỏi: “Vậy theo ông thế nào là Tổ quốc?”. Ông già nói: “Với tôi, Tổ quốc là một nơi kiếm sống được bằng một việc lương thiện nào đó, không bị ai làm khó dễ, có vài người bạn chơi được, không ba trợn”. Ông già hớt tóc sau đó qua đời, được một người bạn thầy tu cho hỏa táng và mang hũ hài cốt về quê ở U Minh”.

Cho đến bây giờ, khát vọng đơn giản của ông già kia vẫn đang là khát vọng của hàng triệu con người. Càng nghĩ càng thấy “đáng sợ” một Sơn Nam.

SƠN NAM CÂY TRÀM CỔ THỤ RỪNG U MINH (*)

Trần Thị Hồng Hạnh
(giải nhất Văn học tuổi 20 lần 3-2005)

Con bé rụt rè, tự ti ngày ấy chỉ có sách vở làm bạn. Con bé chưa từng ra khỏi thị xã bé như lòng bàn tay đã bay bổng với một không gian đặc biệt, với những con người khác thường độc đáo trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam. Vụt chốc, những dị nhân buổi giao thời như ông già Năm xay lúa, ông mù Vân Tiên cùng vô số những nhân vật khác trong sáng tác của Sơn Nam đã đưa con bé – tôi – đến khung trời của sự hào sảng Nam bộ, của những chí khí chọc trời khuấy nước dưới vẻ bề ngoài bình thường.

Trong một lần trả lời phỏng vấn, ông nói mình viết những Mùa len trâu, Hương rừng Cà Mau từ “ký ức quê nhà mãi mãi không bao giờ phai nhạt”. Quê nhà của ông, nơi có cây tràm. “Trời sinh ra cây tràm thật là kỳ diệu, nó bám chặt rễ trong sình, chìm ngập trong nước mà vẫn mạnh khỏe, vẫn sinh sôi nảy nở để giữ vững mảnh đất bồi cho quê hương và giữ người cho đất”.

Tôi cũng nghĩ như vậy về ông. Ông đã góp nhặt tất cả những điều bình thường nhất, đã viết lại để giữ lại những nét đẹp đẽ của quê hương mình. Ông như cây tràm cần mẫn ra hoa, kéo ong bướm đến làm mật. Ông như hương tràm dìu dịu mà làm say mê bao kẻ trót một lần đến với rừng. Bây giờ, khi rừng đã bị phá rất nhiều, khi những con sông không chở nặng phù sa mà héo úa vì ô nhiễm, khi cá tôm không còn là của trời ưu đãi vùng đất phương Nam; những trang văn của ông bỗng trở thành vùng cổ tích, thành bảo tàng tâm tưởng cho những người con đồng bằng tự hào trong hoài vọng, nuối tiếc về những gì mà thiên nhiên đã ban tặng cho xứ sở của mình.

Lần cuối cùng được gặp ông cách đây hơn sáu tháng, vẫn thấy ông miệt mài với những con chữ, vẫn đau đáu với những trang văn. Cuộc trò chuyện ngắn ngủi thường bị ngắt quãng vì ai đó cần ông chỉ cho một điều gì đó về vùng đất Nam bộ. Vì đơn giản là họ biết, cứ hỏi “từ điển Nam bộ sống” này thì sẽ có câu trả lời.

Từ hôm nay, và nhiều năm sau nữa, nhiều độc giả sẽ tìm đến với những trang văn đẫm vị phù sa sông nước Nam bộ để hầu mong thấu được cái hồn cốt của đất và người nơi này. Rồi từ những con chữ lung linh ký ức đẹp về đất, về người; người đọc sẽ thấy thấp thoáng một dáng gầy, nhỏ, đang cắm cúi trên từng trang sách. Một trang đời đã khép lại. Vĩnh biệt một cây tràm cổ thụ của rừng U Minh!

SƠN NAM NHỮNG TRANG VĂN SẼ SỐNG MÃI (*)

Lê Văn Thảo
(phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM)

Đối với tôi, Sơn Nam là nhà văn số một của vùng đồng bằng Nam bộ.

Tôi đọc ông từ tuổi ấu thơ, thời gian nghiệt ngã giờ đây biến tôi và ông thành hai người già như nhau, nhưng với nhà văn tôi vẫn là người em nhỏ, rất nhỏ. Tôi yêu sông nước Cà Mau, viết nhiều về Cà Mau, con người vùng đất đó đã cuốn hút tôi, đôi khi nghĩ lại hay chính là do những tác phẩm của Sơn Nam tôi đọc được từ hồi nhỏ, chính con người vùng đất trong tác phẩm đó đã đi vào cuộc sống của tôi? Nhà văn đã mất đúng giữa trưa, trời miền Nam mây mù dông bão.

Tôi đau xót, và cũng thấy tự hào là người cầm bút của vùng miền có nhà văn Sơn Nam, nơi con sông cánh đồng rừng đước rừng mắm lấp lánh trang văn của ông. Đó là những trang văn sẽ sống mãi, như viên ngọc quý càng lâu càng sáng.

SƠN NAM TRÊN 10.000 TRANG SÁCH CHƯA IN (*)

Lam Điền

Niềm an ủi cuối đời – như có lần ông tâm sự – là các sách của ông đã xuất bản tập trung, nhờ hợp đồng tác quyền ký kết với NXB Trẻ từ tháng 12-2002. Đến nay đã có 19 tựa sách của nhà văn Sơn Nam ra mắt bạn đọc trong chương trình sách này, đó là các tác phẩm:

– Bốn truyện vừa; Bà Chúa Hòn; Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ; Dạo chơi tuổi già; Đất Gia Định; Bến Nghé xưa & người Sài Gòn; ĐBSCL: nét sinh hoạt xưa – Văn minh miệt vườn; Đình miếu & lễ hội dân gian miền Nam; Hương rừng Cà Mau; Lịch sử khẩn hoang miền Nam; Nói về miền Nam – Cá tính miền Nam; Phong trào Duy Tân ở Bắc Trung Nam; Theo chân người tình – Một mảnh tình riêng; Tìm hiểu đất Hậu Giang – Lịch sử đất An Giang; Hồi ký Sơn Nam; Vạch một chân trời – Chim quyên xuống đất; Xóm Bàu Láng; Gốc cây, cục đá, ngôi sao – Danh thắng miền Nam; Chuyện xưa tích cũ; Hương quê – Tây đầu đỏ và một số truyện ngắn khác.

Đây là tổng cộng 8.000 trang in, tập hợp từ 44 đầu sách của nhà văn Sơn Nam đã xuất bản từ trước đến nay. Thế nhưng, đến khi nhắm mắt xuôi tay, nhà văn Sơn Nam vẫn còn hơn 10.000 trang sách chưa in, đang được NXB Trẻ tập hợp, trong đó phần lớn là các bài báo và những bài khảo cứu của ông.

(*) Nguồn: Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê, theo báo Tuổi Trẻ. Những tựa đề (*) do chúng tôi đặt để nhấn mạnh từ chìa khóa của tác giả có trong bài.

SƠN NAM (nhà văn)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Sơn Nam (1926 – 2008) là một nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam nổi tiếng.

Tiểu sử

Ông tên thật là Phạm Minh Tài sinh ngày 11 tháng 12 năm 1926, tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang). Do sự nhầm lẫn của nhân viên hộ tịch, tên khai sinh của ông bị viết sai thành Phạm Minh Tày.

Thuở nhỏ ông học tiểu học tại quê nhà, rồi học trung học tại Cần Thơ. Năm 1945, ông tham gia Thanh niên Tiền phong, giành chính quyền tại địa phương, rồi lần lượt tham gia công tác ở Hội Văn hóa Cứu quốc tỉnh, phòng Chính trị Quân khu, phòng Văn nghệ Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ. Bút danh Sơn Nam ra đời trong thời gian này, để tưởng nhớ người phụ nữ Khmer đã cho ông bú mớm thời thơ ấu (Sơn là một họ lớn của người Khmer, Nam là để nhắc nhớ mình là người phương Nam)[1]. Sau Hiệp định Genève 1954, ông về lại Rạch Giá.

Năm 1955, ông lên Sài Gòn cộng tác với các báo: Nhân loại, Công Lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống…

Năm 1960-1961, bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam ở nhà lao Phú Lợi (Thủ Dầu Một, Bình Dương)[2]. Ra tù, ông tiếp tục làm báo, viết văn và khảo cứu về Nam Bộ. Sau 1975, ông tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhà văn Sơn Nam đã viết nên nhiều tác phẩm dấu ấn, ông được nhiều người gọi yêu là “ông già Nam Bộ”, “ông già Ba Tri”, “ông già đi bộ’, “pho từ điển sống về miền Nam” hay là “nhà Nam Bộ học”. Toàn bộ các sáng tác của ông được Nhà xuất bản Trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh mua bản quyền. Ông qua đời ngày 13 tháng 08 năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm

Chuyện xưa tình cũ (1958)
Tìm hiểu đất Hậu Giang (1959)
Hương rừng Cà Mau (1962)
Chim quyên xuống đất (1963)
Hình bóng cũ (1964)
Truyện ngắn của truyện ngắn (1967)
Vạch một chân trời (1968)
Người Việt có dân tộc tính không? (1969)
Gốc cây – Cục đá & Ngôi sao (1969)
Thiên địa hội và cuộc Minh Tân (1971)
Phong trào duy tân ở Bắc Trung Nam (1975)
Đồng bằng Sông Cữu Long, nét sinh hoạt xưa (1985)
Vạch một chân trời (1988)
Bà chúa Hòn (1989)
Lịch sử An Giang (1989)
Chuyện tình một người thường dân (1990)
Theo chân người tình (1991)
Văn minh miệt vườn (1992)
Ngôi nhà mặt tiền (1992)
Âm dương cách trở (1993)
Đình miếu & lễ hội dân gian miền Nam (1994)
Lăng ông bà Chiểu và lễ hội văn hóa dân gian (1994)
Dạo chơi (1994)
Giới thiệu Sà Gòn xưa (1995)
Hương rừng Cà Mau tập 1 (1997)
Người Sài Gòn (1997)
Bến Nghé xưa (1997)
Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1997)
Đất Gia Định xưa (1997)
Nghi thức lễ bái của người Việt Nam (1997)
Tuổi già (1997)
Danh thắng miền Nam (1998)
Ấn tượng 300 năm (1998)
Biển cỏ miền Tây ( 2000)
Một mảnh tình riêng (2000)
Tiếp cận Đồng bằng Sông Cửu Long (2000)
Cá tính miền Nam (2000)
Chim quyên xuống đất (2001)
Hồi ký Sơn Nam tập 1 (2001)
Hương rừng Cà Mau tập 2 (2001)
Hương rừng Cà Mau tập 3 (2001)
Dạo chơi tuổi già (2002)
Chuyện xưa tích cũ (2002)
Hồi ký Sơn Nam tập 2 (2002)

Từ U Minh đến Cần Thơ – Ở chiến khu 9 – 20 năm giữa lòng đô thị – Bình An
Tìm hiểu đất Hậu Giang & lịch sử đất An Giang
Xóm Bàu Láng …

Ghi nhận công lao
“ Sơn Nam là một tâm hồn lạc lõng trong thế giới buyn-đinh và Mercedes, trong thế giới triết hiện sinh, tranh trừu tượng và nhạc tuýt. Nhưng đó là một tâm hồn đẹp không biết bao nhiêu, đẹp cái vẻ đẹp của lọ sứ Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây (có khác lọ hoa Ý Đại Lợi ngày nay), và ít được người đời thưởng thức hơn là họ đã thưởng thức một tiểu thuyết gia chuyên viết về chuyện tình chẳng hạn. Nhưng phải nhìn nhận rằng, cái đẹp Sơn Nam bất hủ… ”
“ Không chỉ cống hiến trong văn chương, ông (Sơn Nam) còn được xem là người có công khai phá, khảo cứu và sưu tầm văn hóa mảnh đất Nam Bộ. Vì vậy, không phải hiển nhiên mà người ta trân trọng gọi ông là “nhà Nam Bộ học” hay ông già Ba Tri… ”
“ Sơn Nam là một trong số những nhà văn từng sống ở đô thị miền Nam nhưng tác phẩm vẫn được in liền mạch sau giải phóng, điều đó không phải dễ. Trước hết, tác phẩm của Sơn Nam không thuộc dạng a dua. Sống dưới chế độ ấy mà tránh được lối viết ấy quả là rất cao tay. Có lần người viết bài này hỏi vậy, Sơn Nam cười nhẹ, cũng chẳng giỏi giang gì đâu mà tôi chủ yếu viết về phong tục, về lịch sử khai khẩn đất đai Nam Bộ, và nếu là truyện thì đi vào tầng lớp nông dân, dân nghèo thành thị.

“Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghiệp sáng tác, những trang viết của ông không đơn thuần là sự giải trí cho độc giả mà còn là những khảo cứu, khám phá về mảnh đất phương Nam. Là người Nam Bộ chính gốc nên nhà văn Sơn Nam là người am hiểu quá trình hình thành dải đất này. Những sáng tác của ông mang hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ được thể hiện qua giọng văn giản dị, mộc mạc…”

Tham khảo

^ “Ông già đi bộ” Sơn Nam không còn nữa Hà Đình Nguyên, Thanh Niên
^ Theo Hỏi đáp về Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2006, tr. 63.
^ Tạp văn Gốc cây, Cục đá & Ngôi sao. Nhà văn Sơn Nam qua đời, VnExpress.
^ Vĩnh biệt nhà văn Sơn Nam , Lê Phương, Dân Trí.
^ Sơn Nam – Người của nhiều thời, Vannghesongcuulong.org.vn.

Liên kết ngoài

^ Sơn Nam người của nhiều thời N.A.Đ, trên web Sông Cữu Long theo báo Tiền Phong
^ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê Võ Đắc Danh, Tuổi Trẻ.
^ Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ Hoàng Kim, Dạy và học
^ Dấu ấn Sơn Nam Vietvan.vn

Nhớ Sơn Nam video nhạc tuyển
SON NAM “Ông già Nam Bộ” – Clip 1
SON NAM “Ông già Nam Bộ” – Clip 2
SON NAM – “Nhà Nam Bộ Học” – Clip 3
SON NAM – Nỗi buồn gác trọ – clip 4


SON NAM – Cát bụi “Clip 05”
SON NAM- Đất phương Nam- Clip 06

SON NAM- Dạ cổ hoài lang- Clip 07

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Lý Thái Tông vua giỏi thời Lý

LyThaiTongvuagioithoiLy
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG.  Lý Thái Tông là vị hoàng đế thứ 2 của thời Lý, Việt Nam, sinh ngày 29 tháng 7 năm 1000, mất ngày 3 tháng 11 năm 1054, làm vua trong 26 năm (1028 – 1054). Thời đại của Lý Thái Tông tiếp nối vua cha là Lý Thái Tổ và kế nhiệm bởi vua con là Lý Thánh Tông,  đều là những vương triều thịnh vượng của nhà Lý. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [8] đánh giá Lý Thái Tông “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông. Nhưng người quân tử còn lấy việc khoe khoang thái quá để chê trách vua chưa hiền.”

(xem tiếp … https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-29-thang-7/)

Hoàng Kim

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Mai Hoa Thi Thiệu Ung

MaiHoaThi“Thơ Hoa Mai” (Mai Hoa Thi hay Mai Hoa Dịch số) của Thiệu Ung là một trong ba bộ đại kỳ thư đặc biệt nổi tiếng của văn hoá cổ Trung Hoa còn lưu lại cho đến ngày nay. Tôi đang cố gắng sưu tầm Hoa Mai Thi Thiệu Ung văn bản gốc tiếng Trung và những bản dịch nghĩa, dịch thơ tiếng Việt của 10 bài thơ Hoa Mai nói trên (Hoàng Kim).

xem tiếp … https://cnm365.wordpress.com/category/hoa-mai-tho-thieu-ung/

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Cách mạng sắn Việt Nam

CÁCH MẠNG SẮN VIỆT NAM
Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai
(bài tổng hợp) 
Cách mạng sắn Việt Nam đã đạt kỳ tích điểm sáng toàn cầu. Sắn giống tốt cùng với kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp, bền vững và thị trường thuận lợi đang là cơ hội thu nhập, sinh kế và việc làm của đông đảo bà con nông dân nghề sắn. Dẫu vậy, sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng. Cây sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển bền vững nằm trong điểm nóng thời sự hôm nay khi mà hiểm họa môi trường do biến đổi khí hậu và sự mất rừng, mất biển, khô hạn, ngập lụt vì các dòng sông bị chặn dòng, điều chỉnh dòng đang trở thành những vấn đề đặc biệt cấp thiết ở Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến việc người dân lựa chọn nghề sắn.

KazuoKawano

Cassava and Vietnam: Now and Then là lời phát biểu của giáo sư Kazuo Kawano người Nhật, chuyên gia và bác học sắn hàng đầu thế giới trên đài truyền hình NHK năm 2012. Giáo sư Kazuo Kawano là người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á và Việt Nam. Ông đã dự báo từ rất sớm rằng sắn Việt Nam chắc chắn sẽ làm nên kỳ tích là điểm sáng sắn toàn cầu vì hội đủ nhiều điều kiện mà trước hết là con người. Đó là phẩm chất năng động cần cù tuyệt vời của người nông dân Việt và đội ngũ cán bộ khoa học nông nghiệp Việt Nam biết yêu quê hương, yêu người, yêu nghề, tâm huyết và dấn thân, biết tổng kết thực tiễn và biết vận dụng sáng tạo tinh hoa khoa học kỹ thuật của dân tộc và thời đại vào điều kiện cụ thể của đất nước mình, để tìm ra con đường sống, bảo tồn và phát triển sắn bền vững.

Cassava and Vietnam: Now and Then là sự tiếp nối bài “Cách mạng sắn ở Việt Nam, phần 1: Người lính cây sắn và tuổi thơ“, tiếp nối những suy tư  “Ký ức Tây Nguyên”, “Tây Nguyên kêu cứu”, “Nước mội, rừng xanh và sự sống”. Cây sắn đang cảnh báo: Sắn trước đây là cây chống đói, hôm nay là cây thoát nghèo nhưng ngày mai “được mùa chớ phụ ngô khoai”. Chú trọng năm ưu tiên chiến lược bảo tồn và phát triển sắn bền vững; thực hành mười biện pháp kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp bền vững. Dự án làm giàu từ sắn đừng phụ nông dân. Sắn vắt kiệt đất nuôi người thì người phải trả lại màu mỡ cho đất. Sắn trồng trên đất dốc thì phải trồng băng chống xói mòn. Sắn bội thu năng suất, lợi nhuận là để dành đất trồng rừng. Sắn chế biến công nghiệp nhất thiết phải đảm bảo yêu cầu môi trường.


The cassava revolution in Vietnam  (mời đọc phần 1: Cách mạng sắn ở Việt Nam)

Sắn Việt Nam hôm nay thực sự đã làm nên kỳ tích. Năm 2015 diện tích sắn Việt Nam khoảng 560 nghìn ha, năng suất bình quân 19 tấn/ ha, sản lượng 10,5 triệu tấn sắn củ tươi. Diện tích và sản lượng sắn Việt Nam năm 2015 đứng thứ ba sau lúa và ngô, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷ đô la Mỹ xếp thứ ba sau lúa và cà phê. So với năm 2000, diện tích sắn Việt Nam đạt 237,6 nghìn ha, năng suất bình quân 8,4 tấn/ ha, sản lượng gần 2,0 triệu tấn, thì năng suất sắn năm 2015 đã cao hơn trước gấp hai lần, sản lượng cao hơn gấp năm lần. Cây sắn Việt Nam đã thực sự lợi ích mang lại việc làm và thu nhập cho hàng triệu người của bốn vùng sinh thái ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Trung Bộ, vùng núi và trung du phía Bắc.

Sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển bền vững chú trọng nâng cao năng suất, lợi nhuận và hiệu quả kinh tế sản xuất tiêu thụ sắn bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường. Năng suất sắn Việt Nam hiện đạt 19 tấn/ ha (cao hơn năng suất sắn của châu Phi, châu Mỹ và bình quân chung của toàn thế giới, nhưng vẫn còn thấp hơn năng suất sắn Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và năng suất bình quân của sắn châu Á), thấp hơn nhiều so với tiềm năng năng suất sắn và nhiều rủi ro trong sản xuất tiêu thụ sắn. Thách thức lớn nhất của ngành sắn Việt Nam là giá mua bán sắn không ổn định và lệ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc. Mỗi năm Việt Nam xuất khẩu trên 3,4 triệu tấn sản phẩm sắn, 90% xuất khẩu qua thị trường Trung Quốc. Nhiễu loạn thời tiết khí hậu nắng hạn toàn cầu đang ảnh hưởng trầm trọng tới nhiều tỉnh của Việt Nam. Trung Quốc nếu phát hành kho dự trữ ngô để củng cố tỷ giá đồng nhân dân tệ và tăng lượng dự trữ đồng đô la Mỹ, bình ổn giá dầu thì thị trường sắn nguy cơ chấn động dữ dội và sụt giảm rất nghiêm trọng, sản xuất tiêu thụ sắn và sinh kế nông dân Việt càng khó khăn hơn.

Định hướng nghiên cứu phát triển sắn Việt Nam với năm ưu tiên chiến lược bảo tồn và phát triển sắn bền vững (Nguyễn Văn Bộ, Hoàng Kim, Lê Quốc Doanh, Trần Ngọc Ngoạn, Bùi Chí Bửu, Rod Lefroy, Lê Huy Hàm, Mai Thành Phụng, Trần Viễn Thông 2013) :

  1. Xác định một chiến lược phù hợp cho nghiên cứu và phát triển sắn trong sự hợp tác chặt chẽ với các nhà máy chế biến sắn để thiết lập các khu vực có nguồn nguyên liệu sắn ổn định; sử dụng sắn làm 4F: sản xuất ethanol sinh học (Fuel), tinh bột sắn (Flour), lương thực thực phẩm chế biến (Food), thức ăn gia súc (Feed);
  2. Lựa chọn và phổ biến các giống sắn năng suất củ cao với hàm lượng tinh bột cao và sức đề kháng cao, ít bị gây hại bởi rệp sáp, bệnh chồi rồng và sâu bệnh khác. Chọn tạo giống sắn năng suất cao chất lượng tốt có nguồn gốc từ các nguyên liệu CIAT và áp dụng lai tạo, đột biến, chuyển gen trong tạo giống sắn. Lựa chọn và phát triển các giống sắn năng suất củ cao, thời gian sinh trưởng phù hợp 8-16 tháng để rãi vụ thu hoạch và nâng cao chất lượng, giá trị dinh dưỡng của củ sắn.
  3. Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật tổng hợp thâm canh rãi vụ sắn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật canh tác thích hợp cho nông dân để tăng năng suất và hiệu quả kinh tế của sản xuất tinh bột sắn ở các vùng sinh thái khác nhau.
  4. Nghiên cứu phát triển các công nghệ chế biến sắn. Sử dụng lá sắn và củ sắn trong thức ăn chăn nuôi và chế biến thực phẩm. Sử dụng các sản phẩm tinh bột sắn, nước thải và ethanol; chuyển hóa vào thức ăn chăn nuôi và phân bón.
  5. Phát triển thị trường nội địa và xuất khẩu cho các sản phẩm sắn.

Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp bền vững
(Hoang Kim, Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Bach Mai , Reinhardt Howeler 2014)

1) Sử dụng hom giống sắn tốt nhất của giống sắn thích hợp nhất;

2) Thời gian trồng tốt nhất và thời điểm thu hoạch tối ưu cho năng suất tối đa và kinh tế;

3) Bón phân NPK kết hợp phân hữu cơ vi sinh và phân chuồng để cải thiện độ phì đất và tăng năng suất;

4) Khoảng cách trồng tối ưu cho giống sắn tốt nhất và thích hợp loại đất;

5) Ngăn chặn sâu bệnh hại bằng biệp pháp phòng trừ tổng hợp (IPM);

6) Trồng xen sắn với lạc, cây họ đậu; trồng băng cây đậu phủ đất, luân canh;

7) Dùng thuốc diệt cỏ, dùng tấm phủ đất để kiểm soát cỏ dại kết hợp bón thúc sớm chuyển vụ;

8) Kỹ thuật làm đất trồng sắn thích hợp để kiểm soát xói mòn đất;

9) Phát triển hệ thống quản lý nước cho canh tác sắn;

10) Đào tạo tập huấn bảo tồn phát triển sắn bền vững, sản xuất kết hợp sử dụng sắn.

Thế giới đang đổi thay. Đất nước đang chuyển biến từng ngày. Sắn Việt Nam hôm nay và ngày mai đang đặt ra nhiều vấn đề cần trao đổi và bàn luận .

Tài liệu dẫn:

CASSAVA AND VIETNAM: NOW AND THEN
Kazuo Kawano

“My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap.

Throughout my many years of association with Vietnam, I have gotten to know many people, whom I seem to be able to categorize in retrospect. I got my first impression of the Vietnamese from the several Vietnamese trainees staying at the International Rice Research Institute, Los Baños, Philippines in 1963 and it was not particularly a favorable one. They appeared rather uncaring, cynical and apathetic, if not selfish, contemptuous, and corrupt. I may be too harsh and judgmental on them; nevertheless, Halberstam wrote about this type of people belonging to the upper strata of the South Vietnamese society during the same period so vividly and critically in 「The Making of a Quagmire」that my judgment might not have been too far away from the reality.

My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap. I might be a little too positively partial to those friends of mine. Nevertheless, I have a similar feeling toward some of my colleagues in Rayong, Thailand and Nanning, China to count a few. During the two decades of post-war Japan, we seem to have many Japanese of this category as well.

Then comes the mass of the population who just want tomorrow to be better than today. In this trip, I was deeply impressed and touched in meeting many people who seemed never to doubt tomorrow is better than today. This reminds me of the Japanese during the next two decades of post-war where the majority of the population was seeing a rosy future. Now in Japan, more than 30,000 people commit suicide annually and the main reason for this act is believed to be hopelessness to the present and future. Needless to say, Vietnam is not without problems such as the incompleteness of juridical system or rampant corruption to name some. Yet, the proportion of people feeling happy seems to be far higher in Vietnam than in Japan now. It is fascinating to imagine where these former colleagues of mine would further lead this society to.”

(Trích …)

KK and NHK

KK and NHK

Sach san gui anh Dinh

Bệnh thối củ sắn và cách phòng trừ

PGS. TS. Lê Xuân Đính gọi điện : Hoàng Kim ơi, sắn bị thối củ sắn hiện nay đang gây hại nghiêm trọng tại một số địa phương. Bạn giúp gấp thông tin về bệnh thối củ sắn và biện pháp phòng trừ nhé.

TS. Hoàng Kim trả lời: Anh Đính thân mến! bệnh thối củ sắn và biện pháp phòng trừ xin được trao đổi như sau

Benh thoi cu
Thối củ là bệnh sắn thông dụng ở những vùng đất sét nặng và lượng mưa nhiều. Bệnh thối rễ sắn phổ biến ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh nhưng được tìm thấy chủ yếu ở đất khô hạn có hàm lượng chất hữu cơ cao và trong thời gian mưa nhiều.

Nguyên nhân: Căn bệnh phức tạp này có thể được gây ra bởi một loạt các nấm hoặc vi khuẩn gây bệnh tấn công cây thân gỗ như sắn và nguyên nhân suy thoái gốc, ngay cả lúc sắn sinh trưởng phát triển cho đến sau thu hoạch khi củ sắn được bảo quản. Các bệnh thối rễ phổ biến nhất gây ra bởi một loạt các loài trong chi Phytophthora, đặc biệt là Phytophthora drechsleri. Căn bệnh này có thể tấn công cả cây non và cây trưởng thành, gây héo đột ngột, rụng lá nghiêm trọng và thối nhũn. Rễ nhiễm chảy ra một chất lỏng hăng và chúng phân hủy hoàn toàn.

Cách phòng trừ: Bệnh này kiểm soát tốt nhất bằng cách trồng giống kháng kết hợp với thực hành như sau:

  • Trồng cây trên đất có sa cấu nhẹ tơi xốp, độ sâu vừa phải và thoát nước tốt.
  • Nếu cần thiết, cải thiện hệ thống thoát nước bằng cách sử dụng một máy cày sâu
  • Nếu là đất sét và khá bằng phẳng, sắn cần trồng trên các liếp hoặc luống.
  • Luân canh sắn sang trồng ngũ cốc khi hơn 3% cây sắn có triệu chứng thối rễ.
  • Loại bỏ cây bệnh bằng cách loại bỏ rễ nhiễm ngay trên đồng và đốt chúng đi.
  • Chọn vật liệu cây giống sắn khỏe mạnh từ cây mẹ sạch bệnh.
  • Nếu không có cây giống sắn sạch bệnh có sẵn thì nên xử lý hom giống với một dung dịch 0,3 g hoạt chất metalaxyl / lít hoặc ngâm hom giống trước khi trồng trong nước nóng (49°C) trong 49 phút.
  • Sử dụng kiểm soát sinh học bằng cách dìm hom giống trong một hệ thống treo của Trichoderma harzianum và Trichoderma viride 2,5 x 108 bào tử / lít, tiếp theo là áp dụng hệ thống treo tương tự ở dạng ngâm nước.

Các phương pháp kiểm soát bệnh thối rễ phù hợp hơn cho nông hộ bao gồm:

  • Dùng 200 g/cây hỗn hợp 1:1 của tro và lá khô.
  • Lựa chọn hom giống tốt.
  • Sắn trồng xen với đậu cowpea đậu đen, đậu trắng, đậu đỏ (Vigna unguiculata).

Những kỹ thuật canh tác này loại trừ bệnh thối rễ trong các khu thử nghiệm của nông dân tham gia thực hiện tại khu vực Amazon Colombia nơi thối rễ là vấn đề nghiêm trọng.

Thông tin mời đọc:

Howeler, R.H. and T.M. Aye. 2015.  Người dịch: Hoàng Kim, Hoàng Long, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai 2015. Quản bền vững sắn châu Á: Từ nghiên cứu đến thực hành, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam,  Nhà Xuất bảnThông tấn, Hà Nội, Việt Nam. 148 p. (Nguyên tác: Sustainable Management of Cassava in Asia − From Research to Practice. CIAT, Cali, Colombia. 147 p).

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Cách mạng sắn Việt Nam

SanTheGioivaVietnam
CÁCH MẠNG SẮN VIỆT NAM
Hoàng Kim

Cách mạng sắn Việt Nam
thành tựu và bài học là điểm sáng toàn cầu được vinh danh tại Hội thảo Cây Có Củ Thế Giới được tổ chức tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 1 năm 2016. Sắn là cây trồng triển vọng thế kỷ 21.

Ở Việt Nam sắn và khoai lang là các cây lương thực xếp vị trí quan trọng thứ ba và thứ tư sau lúa và ngô. Sắn Việt Nam là cây công nghiệp xuất khẩu triển vọng với diện tích trồng khoảng trên nửa triệu hecta và giá trị xuất khẩu ngày nay đạt hơn một tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Sắn miền Đông, Tây Nguyên, miền Trung và sắn vùng núi trung du phía Bắc thực sự thân thiết trong đời sống, văn hóa, xã hội của người dân các vùng này ; Những tinh hoa khoa học kỹ thuật cây sắn thế giới và Việt Nam đã được đúc kết, chọn lọc và vận dụng phù hợp sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cụ thể của từng vùng.  Cách mạng sắn ở Việt Nam có sự tham gia đông đảo của hàng triệu nông dân nghề sắn đã đạt được sự chuyển đổi to lớn về năng suất, sản lượng, giá trị sử dụng, hiệu quả kinh tế, thu nhập đời sống, sinh kế và việc làm cho người dân rộng khắp toàn quốc.


The cassava revolution in Vietnam

Cách mạng sắn Việt Nam” là sự tiếp nối của “Con đường lúa gạo Việt Nam“. Vấn đề chính khoa học mời bạn xem ở video Những ghi chép dưới đây là bên lề hội nghị. Nhiều bạn bè quốc tế thường thích trao đổi chia sẻ kinh nghiệm thành công của cách mạng sắn ở Việt Nam. Ba câu hỏi chính thường gặp là:  “Tại sao bạn lại chọn nghiên cứu giảng dạy về sắn?”; “Cây sắn vị trí thế nào đối với gia đình bạn và người Việt?”; “Cây sắn Việt Nam hiện tại và tương lai?” (Cassava and Việt Nam: Now and Then). Ba chuyên mục dưới đây góp phần trao đổi rõ thêm các câu hỏi trên: “Việt Nam thành tựu sắn và bài học thành công” (Vietnam cassava achievement and learnt lessons).

NGƯỜI LÍNH CÂY SẮN VÀ TUỔI THƠ

Như bao người lính khác trở về sau chiến tranh, thầy Đào Thế Tuấn, anh Trần Mạnh Báo, anh Trần Ngọc Quyền, anh La Đức Vực,… và tôi đều chọn cây lương thực (lúa ngô sắn khoai để nghiên cứu và giảng dạy vì sắn khoai ngô lúa đều là máu thịt của đời mình. Tôi vinh dự làm người thầy khoa học xanh chiến sĩ nhận huy hiệu 40 năm tuổi Đảng đã từng xúc động phát biểu trước toàn thể Đảng bộ Trường Đại học Nông Lâm ngày 4 tháng năm 2014 : “Bao năm Trường Viện là nhà / Sắn khoai ngô lúa đều là thịt xương / Một đời người một rừng cây / Thầy ươm giống tốt để mai thành rừng”. Gia đình nông nghiệp chúng tôi nhiều thầy bạn suốt đời chuyên tâm sắn khoai  mà tôi chỉ là một người trong đội ngũ đó. Sắn miền Đông, Tây Nguyên, miền Trung và sắn Tây Bắc Đông Bắc thực sự thân thiết trong đời sống văn hóa xã hội của người dân các vùng này.

Cây sắn là một phần máu thịt của người dân trung du và vùng núi Việt Nam, một phần máu thịt người lính trong cuộc chiến sinh tử. Tôi viết trên facebook cho  Lâm Cúc, Hoàng Đại Nhân, anh Phan Chi cùng những người bạn thân thiết của mình về bài sắn này vì “ký ức Tây Nguyên”,” thương về miền Trung”, “nhớ miền Đông” “Sóc Bom Bo người lính cây sắn và tuổi thơ” trỗi dậy. Tôi chỉ mới phác thảo (notes) vì thấy quá cần thiết và ý nghĩ vụt đến mà chưa kịp chắp nối lại liền mạch. Tôi nay đọc lại các bài của Nguyên Ngọc, Văn Công Hùng , Hoàng Đại Nhân về Tây Nguyên mà bùi ngùi nhớ những người bạn đã mất như Trần Ngọc Quyền, Cao Xuân Tài, La Đức Vực, Phạm Trung Nghĩa  … mà các công việc của họ dấn thân cho người dân lam lũ và cây lương thực chưa kịp chép lại. Tôi nhớ nôn nao bài thơ “sắn Tây Nguyên” của thượng tướng Đặng Vũ Hiệp mà tôi không thể để lại chậm hơn nữa việc chép lại, rồi có thời gian tôi sẽ viết tiếp…

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, vị tướng già đức độ và tài năng, Chính ủy Bộ Tư lệnh tiền phương,Chủ nhiệm chính trị Mặt trận Tây Nguyên của chúng tôi, tại “Ký ức Tây Nguyên”   ông đã kịp chép lại sự thật bài thơ “Sắn Tây Nguyên và người lính” của ai đó mà ông đọc được và đại tá nhà văn Lê Hải Triều đã ghi lại.

SẮN TÂY NGUYÊN VÀ NGƯỜI LÍNH

“Bọn tôi tới những nơi tưởng không có hơi người
Thì nương sắn lại hiện ra xoè lá vẫy
Sắn rồi sắn, cứ biếc lên như vậy
Khắp một vùng lũng hẹp, dốc cao
Như là sắn của trời cho

Muốn dỡ, có sao đâu
Dỡ để luộc,
dỡ để gùi,
được tất.

Một trung đoàn ư?
Một sư đoàn ư?
Thả sức!
Đây nồi sắn Thạch Sanh mà,
không thể hết, đừng lo!

Vào đây lần đầu xin bạn nhớ cho
Có thói quen của người đi trước ta để lại
Dỡ một gốc hãy trồng thêm mấy gốc
Gặp bom phạt cây nào,
nhặt cành gãy,
trồng thay.

Bọn tôi đi vào những rừng sắn ở đây
Cây mới nhú mầm,
cây đã tầm tay với.

Đội ngũ sắn cũng có nhiều lứa tuổi
Cũng như là trong đội ngũ chúng ta”.

Tôi đã là người lính Tây Nguyên và miền Đông và đã từng viết bài thơ “CÂU CÁ BÊN DÒNG SREPOK ” và “NHỚ MIỀN ĐÔNG”. Cây sắn gắn bó thân thiết với tôi từ tuổi thơ cơm ngày một bữa gian khổ đi học cho đến những ngày làm người lính chiến trường của Tây Nguyên và miền Đông khốc liệt mà tôi đã kể cho bạn nghe trong “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời “. Khi yêu tha thiết Tổ Quốc mình, yêu vô cùng người và đất này thì chúng ta mới có thể sống chết với Việt Nam và Cây Lương Thực sắn khoai ngô lúa.

CÂU CÁ BÊN DÒNG SREPOK

Bạn chèo thuyền trên sông Neva
Có biết nơi này mình câu cá?
Srepok giữa mùa mưa lũ
Sốt rừng, muỗi vắt, đói cơm.

Suốt dọc đường hành quân
Máy bay,
pháo bầy,
thám báo,
mưa bom.
Chốt binh trạm giữa rừng
Người bạn thân
Lả người
Vì cơn rét đậm.
Thèm một chút cá tươi,
Mình câu cá
Cho bữa cơm người thân
mà nước mắt
đời người
rơi, rơi…
mặn đắng.

Bạn ơi
Con cá nhỏ trên dòng Srepok
Đã theo dòng thác cuốn đi rồi.
Đất nước nghìn năm
Trọn lời thề
Sống chết thủy chung
với dân tộc mình
Muôn suối nhỏ
Đều đi về biển lớn.

(rút trong bài Từ Mekong nhớ Neva)


NHỚ MIỀN ĐÔNG

Giữa ngày vui nhớ miền Đông
Nôn nao lòng lại giục lòng nhớ thương
Chân đi muôn dặm nẽo đường
Phải đâu cứ đất quê hương mới là

Đêm nằm nghe gió thoảng qua
Nồng thơm hương lúa, đậm đà tình quê
Chợt dưng lòng lại gọi về
Vùng quê xa với gió hè miền Đông

Vục đầu uống ngụm nước trong
Nhớ sao Vàm Cỏ ngọt dòng sông xanh
Nhớ từ xóm Giữa xa em
Nhớ lên Bù Đốp, Lộc Ninh, xóm Chùa

Xa em từ bấy đến chừ
Một vầng trăng sáng, xẽ chia đôi miền
Em về Châu Đốc, Long Xuyên
Anh lên Srêpốc với niềm nhớ thương

Nằm đêm lưng chẳng tới giường
Nghe chao cánh võng giữa rừng đêm khuya
Chăm chăm theo nét bản đồ
Cùng anh, cùng bạn tiến vô Sài Gòn

Giữa ngày vui nhớ miền Đông
Nhớ em, nhớ bạn, thuỷ chung vẹn toàn
Phải vì vất vả gian nan
Của bao năm đặm nhớ thương đến rày …

Non sông những tháng năm này
Lọc muôn sắc đỏ cho ngày hội vui
Nhớ em trong dạ bùi ngùi …
Trông trời hoa, nhớ đất trời miền Đông”

Với tôi “người lính cây sắn và tuổi thơ” là điều ám ảnh. Sắn Tây Nguyên những năm tháng chiến tranh khốc liệt là người bạn thân thiết của người lính chúng tôi. Khẩu phần ăn mỗi ngày của bộ đội nhiều năm trường chủ yếu là sắn ngô khoai chỉ độn thêm khoảng 1,0 – 1,5 lạng gạo. Người lính và sĩ quan quân đội đều đồng cam cộng khổ như nhau ăn uống đạm bạc, chỉ khác chút ít về chế độ. Sắn là thức ăn chính độn cùng rau, măng rừng nhiều tháng của những người lính. Mỗi đơn vị chúng tôi ở Tây Nguyên và miền Đông đi đâu cũng phải trồng 500 gốc sắn, đó là chỉ tiêu bắt buộc của mặt trận.

Sắn khoai là thức ăn thân thiết của tuổi thơ lứa chúng tôi ở những vùng quê nghèo khó. Gạo là thức ăn chính của 100% người dân Việt, ngô, khoai sắn là cửa ải của vấn đề lương thực, là thức ăn không thể thiếu của người dân và gia súc vùng cao. Đất thấp trồng lúa, nơi cao trồng màu. Nước lấy dân làm gốc. Dân lấy ăn làm trời. Bài học đầu đời từ tuổi thơ đến chiến trường đã ám ảnh chúng tôi những năm tháng không thể nào quên.

Giáo sư Norman Bourlaug cha đẻ của cách mạng xanh đã có một câu nói rất thấm thía: ” Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; Lời Thầy dặn tôi thật tâm đắc: “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm tiếng để đời”.

Các anh Trần Ngọc Quyền, Cao Xuân Tài, La Đức Vực … và tôi đều là những người lính từ các vùng quê nghèo khó nhọc nhằn và các đơn vị khác biệt, lúc trở về học tiếp ở trường nông nghiệp và tốt nghiệp đại học đều lựa chọn gắn bó trọn đời mình với nghiên cứu hoặc giảng dạy cây lương thực sắn, khoai ngô lúa.

Trần Ngọc Quyền người lính và cây sắn” là một thí dụ điển hình của người lính trở về sau cuộc chiến tranh giải phóng và thống nhất Tổ Quốc. Anh Trần Ngọc Quyền đã gắn bó suốt đời với nghiên cứu phát triển cây sắn. Anh là tác giả chính của giống sắn KM94, KM60 được Nhà nước công nhận cấp quốc gia áp dụng toàn quốc, góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giàu cho nhiều địa phương và gia đình. Anh đã cùng đồng đội dấn thân thầm lặng cho đời sống người dân no đủ hơn như người lính không tiếc xương máu trên chiến trường cho đất nước sống mãi. Được mùa chớ phụ sắn khoai. Anh Trần Ngọc Quyền cùng chúng tôi tự hào lưu dấu đời mình là tác giả chính của gi61ng sắn KM94  chủ lực đầu tiên làm thay đổi hẵn diện mạo ngành sắn Việt Nam.

Một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, nhà giáo, nhà khuyến nông, nhà quản lý và người dân lao động giỏi ngành sắn đã tự nguyện dấn thân, tận tụy, say mê cho sự bảo tồn và phát triển bền vững ngành sắn Việt Nam như thế. Nền tảng khoa học và nghệ thuật chọn tạo giống sắn tốt đến nghiên cứu hoàn thiện quy trình biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn tổng hợp, phù hợp cho từng vùng từng vụ. Sự lựa chọn vụ trồng và thời điểm thu hoạch hợp lý cho giống sắn tốt nhất, cách bón phân cân đối hiệu quả, cách phòng trừ sâu bệnh chính hại sắn, cách tăng năng suất hạ giá thành sản phẩm sắn để nâng sức cạnh tranh cây trồng, đến sự kết nối sản xuất chế biến tiêu thụ hiệu quả để có thu nhập tốt hơn cho người dân. Đó là những kinh nghiệm và bài học thực tiễn nóng hổi, những bí quyết nghề nông và kỹ năng thực hành chuyên nghiệp.

Cây sắn và Việt  Nam gắn bó mật thiết trong sâu thẳm của tiềm thức văn hóa, đời sống và xã hội của nền văn minh lúa nước lấy lúa làm nền. Ngô, khoai, sắn là cửa ải của vấn đề lương thực, là thức ăn không thể thiếu của người dân và gia súc vùng cao. Sắn Việt Nam thành công vì cây sắn thân thiết với người dân nhiều vùng đất  Việt.

SẮN VIỆT NAM THÀNH TỰU VÀ BÀI HỌC

Bài viết ‘Bảo tồn và phát triển sắn bền vững ở Việt Nam’ do Hoàng Kim, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai và Reinhardt Howeler đúc kết năm 2015. (Nguyên văn: Hoang Kim, Nguyen Thi Truc Mai, Nguyen Bach Mai, Reinhardt Howeler, 2015. Cassava  Conservation and Sustainable Development in Vietnam. In: R.H. Howeler (Ed.). A New Future for Cassava in Asia: Its Use as Food, Feed and Fuel to Benefit the Poor. Proc. 9th Regional Workshop, held in Quangxi, China, 2014. pp. 35-56). Bài viết khái quát thông tin về: 1) Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam; 2) Thành tựu mới bảo tồn và phát triển sắn bền vững ở Việt Nam; 3) Bài học bảo tồn và phát triển sắn Việt Nam. Tài liệu này chỉ trích dẫn mục 1 và mục 3.

Sắn là cây trồng triển vọng của thế giới trong thế kỷ 21 để làm lương thực – thực phẩm (food), thức ăn gia súc (feed), tinh bột (flour) và nhiên liệu sinh học (fuel). Tổng diện tích sắn toàn thế giới năm 2013 có 20,73 triệu ha, năng suất bình quân 13,34 tấn/ha, sản lượng 276,72 triệu tấn, đứng hàng thứ năm về sản lượng các cây lương thực chính, xếp sau ngô 1016,74 triệu tấn; lúa nước 745,71 triệu tấn; lúa mì 713,18 triệu tấn và khoai tây 368,09 triệu tấn.Giá trị và vị thế cây sắn dự báo tiếp tục gia tăng trong thập kỷ tới.  Sắn được trồng phổ biến ở châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ  trên những vùng đất nghèo dinh dưỡng với kỹ thuật canh tác truyền thống để làm lương thực – thực phẩm, thức ăn gia súc. Chiều hướng sản xuất sắn thế giới, châu Phi, châu Á, châu Mỹ và Việt Nam  đã không ngừng gia tăng từ năm 1975 đến nay.

Những năm gần đây, cây sắn đã nhanh chóng chuyển đổi thành cây công nghiệp triển vọng của thế kỷ 21 (FAO, 2013). Sắn làm cây nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến tinh bột (flour), cây nhiên liệu sinh học (fuel) chịu hạn nhiều triển vọng, giá cạnh tranh, và sắn vẫn là cây lương thực thực phẩm (food) cây thức ăn gia súc (feed) phổ biến của nhiều nước.  Hội nghị Sắn Toàn cầu tổ chức tại Bỉ năm 2008 đã đưa ra thông điệp: “Cây sắn là quà tặng của thế giới, cơ hội cho nông dân nghèo và thách thức đối với các nhà khoa học”. (Claude M.Fauquest 2008). Hướng sử dụng nguyên liệu sắn để chế biến tinh bột, cồn sinh học, tinh bột biến tính, thức ăn gia súc và màng phủ sinh học đang ngày càng được quan tâm. Theo thông cáo báo chí của FAO tháng 5 năm 2013 “Sắn tiềm năng to lớn là cây trồng thế kỷ 21”, Việt Nam được ca ngợi là điển hình trong thực tiễn đã đưa năng suất sắn lên 400% từ 8,5 tấn/ ha năm 2000 lên 36,0 tấn / ha năm 2011 tại nhiều hộ nông dân (FAO, 2013b). Sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam hiện là một trong mười mặt hàng xuất khẩu chính. Việt Nam hiện có 13 nhà máy nhiên liệu sinh học công suất 1067,7 triệu lít cồn sinh học mỗi năm, 66 nhà máy chế biến tinh bột sắn qui mô công nghiệp, hơn 2000 cơ sở chế biến thủ công (Hoang Kim, Le Huy Ham et al. 2013). Sắn là sự lựa chọn của nhiều hộ nghèo và người dân ở các vùng đất xấu, bạc màu, khô hạn, cũng là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp chế biến và kinh doanh do sắn đạt lợi nhuận cao, dễ trồng, ít chăm sóc, chi phí thấp, dễ thu hoạch, dễ chế biến. Sản xuất, chế biến, tiêu thụ, nghiên cứu, phát triển sắn hiện là cơ hội, triển vọng của nông dân và doanh nghiệp Việt Nam cũng như của nhiều nước trên thế giới. Thế nhưng, cây sắn đồng thời cũng đang bộc lộ rất nhiều những rũi ro, bất cập.

Sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam

Sản xuất tiêu thụ sắn trên Thế giới. Sắn được trồng 66 % ở châu Phi với sản lượng sắn 168,6 triệu tấn, 20 % ở châu Á, 14 % ở châu Mỹ Latinh (FAOSTAT, 2013). Những nước có diện tích sắn nhiều nhất thế giới là Nigeria 3,84 triệu ha, kế đến là Cộng hòa Congo 2,20 triệu ha, Brazil 1,52 triệu ha, Thái Lan 1,38 triệu ha và Indonesia 1,06 triệu ha. Năng suất sắn cao nhất thế giới là Ấn Độ đạt 33 tấn/ha, kế đến là Căm pu chia 22,9 tấn/ ha và Indonesia 22,5 tấn/ha. Sản lượng sắn dẫn đầu thế giới là Nigeria 54,00 triệu tấn, kế đến là Thái Lan 30,20 triệu tấn, Indonesia 23,90 triệu tấn và Brazil 21,20 triệu tấn. Các nước đang phát triển có nhu cầu tiêu thụ sắn nhiều hơn các nước đã phát triển. Sắn Châu Phi phần lớn được dùng làm lương thực thực phẩm 130,2 triệu tấn chiếm 77,2 % sản lượng.

Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm cồn sinh học (bio-ethanol), tinh bột biến tính (modify starch), thức ăn gia súc và dùng trong công nghiệp thực phẩm, dược liệu.

Thị trường xuất khẩu sắn của Thái Lan và Việt Nam đều chủ yếu là Trung Quốc, kế đến là Đài Loan, Nhật Bản và một số nước châu Âu. Thái Lan trước năm 2007, xuất khẩu chính là sắn viên và sắn lát sang cộng đồng châu Âu để làm thức ăn gia súc nhưng từ năm 2007 đến nay tỷ trọng xuất khẩu sắn viên của Thái Lan sang cộng đống châu Âu giảm hẳn vì họ mua ngô và đậu nành để làm thức ăn gia súc. Xuất khẩu sắn của Thái Lan hiện chủ yếu là sắn lát và tinh bột sắn.

Sản xuất sắn toàn cầu năm 2015 bị giảm sút do thời tiết nắng hạn El Niño tại châu Phi, Đông Nam Á và Brazil là những khu vực trồng sắn chính của thế giới. Do vậy đã làm trì hoãn sự tăng trưởng sản lượng sắn toàn cầu mà trước đây liên tục tăng với tốc độ đáng kinh ngạc. Sản xuất sắn toàn cầu năm 2016 triển vọng không khá hơn vì nắng hạn El Niño dự báo tiếp tục diễn biến khắc nghiệt làm giảm sút năng suất và sản lượng sắn ở Đông Nam Á, châu Phi và Brazil. Tại Thái Lan, năng suất sắn năm 2016 dự báo giảm khoảng 1 tấn mỗi ha. Tại Brazil, giá sắn giảm và nguồn cung cấp sắn dư thừa sẽ làm giảm diện tích sắn trồng ở vùng này trong vụ sắn 2016.

Buôn bán sắn toàn cầu năm 2015 chiếm 15,7% tổng sản lượng sản xuất sắn. Giá sắn lát Thái Lan cung ứng sang Trung Quốc năm 2013-2015 sút giảm từ 236,2 đô la Mỹ/ tấn (2013) xuống 215,7 USD/tấn. Tinh bột sắn Thái Lan bán sang Trung Quốc sút giảm từ 473,4 đô la Mỹ/ tấn (2013) xuống 430,8 đô la Mỹ/tấn giá f.o.b tại Băng Cốc. Giá sắn củ tươi nội địa Thái Lan giảm từ 90,1 đô la Mỹ/ tấn (2013) xuống 70,2 đô la Mỹ tấn. Mức tiêu thụ sắn bình quân toàn cầu hiện khoảng 18- 20 kg/năm, ở các nước đang phát triển  35 kg/ năm, tại các nước châu Phi khoảng 151-157 kg/năm. Dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu đến năm 2020 và tốc độ tăng hàng năm của sự tiêu thụ sản phẩm sắn, giai đoạn 1993 – 2020 theo tài liệu của Scott et al., 2000 được trích dẫn bởi Trần Công Khanh 2012, thì sản lượng sắn toàn thế giới đạt năm 2020 ước đạt 275,1 triệu tấn. Thị trường buôn bán sắn thế giới năm 2016 ngoài các nguy cơ thời tiết, sẽ phải đối mặt với sự bất ổn và suy giảm kinh tế. Trung Quốc có lượng dự trữ ngô nội địa rất lớn sẳn sàng thay thế sắn nhập khẩu trong việc làm nhiên liệu sinh học và chế biến thức ăn gia súc (Jin Shu Ren. 2014). Tất cả các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á hiện nay hầu như đều hướng thị trường sắn tới cung cấp cho Trung Quốc. Nếu Trung Quốc phát hành kho dự trữ ngô để củng cố tỷ giá đồng nhân dân tệ và lượng dự trữ đồng đô la Mỹ cùng giá dầu thì thị trường sắn nguy cơ chấn động dữ dội và sụt giảm. Tất cả những điều này đều có triển vọng nhô ra ở khu vực châu Á. Chiến lược ngành hàng sắn Việt Nam nói riêng và xuất nhập khẩu nông sản nói chung cần tỉnh táo có phương thức ứng phó phù hợp.

Sản xuất tiêu thụ sắn ở Việt Nam. Sản lượng sắn Việt Nam tăng từ 1,99 triệu tấn năm 2000 lên đến 9,74 triệu tấn năm 2013. Năng suất sắn Việt Nam tăng từ 8,35 tấn/ ha năm 2000 lên 17,9 tấn/ ha năm 2013.Thành tựu đạt được nhờ sử dụng các giống sắn  có năng suất cao, đặc biệt là các giống sắn KM94, KM419, KM140, KM98-5, KM98-1, KM98-7, … và biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững.  Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ. Sắn Việt Nam được trồng rộng rãi từ Bắc chí Nam với diện tích hơn nửa triệu ha và sản lượng gần mười triệu tấn Ở Việt Nam, sắn là cây trồng quan trọng sau lúa và ngô. Sắn Việt Nam là cây công nghiệp xuất khẩu triển vọng. Việt Nam hiện mỗi năm thu hoạch trên nửa triệu hecta sắn đạt sản lượng khoảng 10 triệu tấn, với giá trị xuất khẩu sắn mỗi năm đạt từ 1,0 tỷ đến 1,5 tỷ USD, đứng thứ tư trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Cách mạng sắn Việt Nam là điểm sáng toàn cầu về thành tựu áp dụng giống sắn tốt và kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp bền vững. Năng suất sắn hiện tại đã tăng lên gấp đôi và sản lượng sắn tăng lên gấp 5 lần so với năng suất và sản lượng sắn năm 2000. Việt Nam là điểm sáng toàn cầu về sự gia tăng sản lượng và năng suất sắn từ những năm đầu thế kỷ 21 cho đến nay.

Sắn Việt Nam thành tựu và bài học

SanVietnam2016Hình 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam 1995-2015

Sắn Việt Nam sự chuyển biến tăng sản lượng và năng suất sắn trong hai mươi năm qua (1995-2015) được thể hiện ở Hình 1.1 đã tăng vượt bực trong những năm gần đây. So với năm 2000 có sản lượng sắn đạt 1,98 triệu tấn, năng suất 8,35 tấn/ ha thì  năm 2013, diện tích cây sắn thu hoạch 544,30 nghìn ha, sản lượng 9,74 triệu tấn, năng suất 17,9 tấn/ha, sản lượng sắn đã tăng lên năm lần, năng suất tăng lên gấp đôi.

Sắn Việt Nam được trồng phổ biến ở các vùng: 1) Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với diện tích sắn năm 2013 là 3.017.900 tấn sắn củ tươi chiếm 30,97% tổng sản lượng sắn cả nước. Những tỉnh trồng nhiều sắn của vùng này là Bình Thuận, Nghệ An, Quảng Ngãi và Phú Yên. 2) Tây Nguyên có diện tích sắn năm 2013 là 2.526.400 tấn sắn củ tươi chiếm 25.93% tổng sản lượng sắn cả nước. Những tỉnh trồng nhiều sắn của vùng này là Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk và Đăk Nông. 3) Đông Nam Bộ với diện tích sắn năm 2013 là 2.433.800 tấn sắn củ tươi, chiếm 24.98% tổng sản lượng sắn cả nước. Những tỉnh trồng nhiều sắn của vùng này là Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương. 4) Vùng núi và trung du phía Bắc với diện tích sắn năm 2013 là 1.500.500 tấn sắn củ tươi chiếm 15.40% tổng sản lượng sắn cả nước. Những tỉnh trồng nhiều sắn của vùng này là Sơn La, Yên Bái và Hòa Bình

Tốc độ tăng năng suất sắn Việt Nam nhiều hộ nông dân Việt Nam đã đạt năng suất sắn trên diện rộng 36,00- 50,00 tấn/ ha vượt hơn 400% so với năng suất trước đây. Cây sắn đã đóng góp lớn trong nguồn thu nhập của nông hộ. Giống sắn tốt là một trong những nhân tố cơ bản làm nên bước chuyển biến này. Giống sắn chủ lực trong sản xuất là KM94 chiếm khoảng 50% diện tích sắn trồng, kế đến là giống sắn KM419 khoảng 35% và giống khác 35% .

Lịch sử bảo tồn và phát triển sắn Việt Nam. Trước năm 1986, những giống sắn địa phương Gòn, Xanh Vĩnh Phú … được trồng chủ yếu trong sản xuất ở Việt Nam. Các giống này có đặc điểm ăn tươi ngon nhưng năng suất củ tươi thấp (chỉ đạt trên dưới 10 tấn/ha), tỷ lệ tinh bột thấp (20 – 25 %). Từ năm 1986 đến năm 1990, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) đã thu thập, tuyển chọn và giới thiệu cho sản xuất ba giống sắn HL23, HL20 và HL24 sử dụng chính làm lương thực và thức ăn gia súc, đạt năng suất củ tươi 20 – 23 tấn/ ha, được canh tác mỗi năm khoảng 70.000 – 80.000 ha ở các tỉnh phía Nam (Hoàng Kim, Trần Ngọc Quyền, Nguyễn Thị Thủy 1990). Giống sắn Xanh Vĩnh Phú và mô hình canh tác sắn trên đất dốc sớm đã sớm được nghiên cứu tại các tỉnh phía Bắc (Nguyễn Văn Tiễn, Trần Ngọc Ngoạn, Đặng Thị Ngoan, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Hữu Hồng 1994). Cây sắn đã góp phần quan trọng vào an ninh lương thực, đặc biệt vào các giai đoạn khó khăn của đất nước (Hoàng Kim, Phạm Văn Biên 1995). Từ năm 1988 đến năm 2012, qua một phần tư thế kỹ hợp tác, Chương trình Sắn Việt Nam (VNCP) kết hợp với Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT) đã đạt được những thành tựu to lớn trong nghiên cứu và phát triển sắn (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim 1998; Hoang Kim và tập thể 2006, Hoang Kim, Nguyen Van Bo el al 2010). Tám giống sắn tốt đã được giới thiệu công nhận giống và trồng phổ biến trong sản xuất. Trong tám giống sắn có sáu giống nhập nội và tuyển chọn: KM60; KM94, KM95; SM937-26 (Trần Ngọc Quyền, Hoàng Kim và tập thể 1995) ; Trần Ngọc Ngoạn 2000; Trịnh Phương Loan, Trần Ngọc Ngoạn và ctv. 1995), KM98-1 (Hoàng Kim, Kazuo Kawano và tập thể 1999) KM98-7 (Trịnh Thị Phương Loan, Nguyễn Trọng Hiển và tập thể 2008); Ba giống sắn đã được lai tạo và trồng rộng rãi trong sản xuất là KM140 (Trần Công Khanh, Hoàng Kim và tập thể 2007, 2009, 2010) và KM98-5 (Trần Công Khanh, Hoàng Kim và tập thể 2009), KM419 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Thị Trúc Mai và tập thể 2015, 2016)

Việt Nam đã trở thành điển hình sắn của châu Á và thế giới trong việc ứng dụng công nghệ chọn tạo, nhân giống sắn lai và xây dựng mô hình canh tắc sắn bền vững Nhiều hộ nông dân giỏi như ông Hồ Sáu (Tây Hòa, Trảng Bom, Đồng Nai), Tống Quốc Thanh (Sa Nghe, Hảo Đước, Châu Thành,Tây Ninh), Trần Thị Quyền (Hà Tây), Nguyễn Thị Sáu (Hà Tây), Ngô Trung Kiên (Phổ Yên),…đã trồng sắn đạt năng suất, lợi nhuận cao liên tục nhiều năm liền và đã thực sự giàu lên từ cây sắn (Kazuo Kawano 2001, 2009), Reinhard Howeler 2004, 2008). “Việt Nam là một nước xuất khẩu chính của nhiều sản phẩm nông nghiệp, và trong một số trường hợp là dẫn đầu hoặc là một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu trên toàn cầu, với tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp đạt 25 tỷ USD mỗi năm. Trong lĩnh vực sắn, với diện tích thu hoạch hơn nửa triệu ha, giá trị xuất khẩu sản phẩm sắn của Việt Nam đạt 800-950 triệu USD mỗi năm. Trong kết nối này, CIAT đã có những đóng góp đáng kể thông qua việc cải thiện ngành sắn Việt Nam”.“Ở cấp quốc gia, sắn đã trở thành một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu. Trong cuộc sống của hàng trăm ngàn, nếu không nói là hàng triệu gia đình sản xuất nhỏ trong cả nước thông qua các thay đổi về năng suất và lợi nhuận. Nguồn vật liệu giống sắn từ CIAT thông qua chương trình chọn tạo và nhân giống đã bao gồm hơn 90% của tất cả diện tích sắn được trồng hiện nay ở Việt Nam.” (Bùi Bá Bổng 2012).

Bài học sắn Việt Nam
. Chương trình Sắn Việt Nam đã đúc kết ba bài học 6M, 10T, 1F (Hoang Kim, Pham Van Bien et al. 2003, Hoang Kim et al. 2013):

1) Sáu kinh nghiệm (6M tiếng Anh) liên kết chính
1. Man Power Con người
2. Market Thị trường
3. Materials Giống mới, Công nghệ mới
4. Management Quản lý và Chính sách
5. Methods Phương pháp tổ chức thực hiện
6. Money Tiền

2) Mười kinh nghiệm (10T tiếng Việt) chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
1) Thử nghiệm (Trials)
2) Trình diễn (Demonstrations)
3) Tập huấn (Training)
4) Trao đổi (Exchange)
5) Thăm viếng (Farmer tours)
6) Tham quan hội nghị đầu bờ (Farmer field days)
7) Thông tin tuyên truyền (Information, propaganda)
8) Thi đua (Competition)
9) Tổng kết khen thưởng (Recognition, price and reward)
10) Thành lập mạng lưới nông dân giỏi(Establish good farmers’ network)

3) Nông dân tham gia nghiên cứu (Farmer Participatory Research – FPR)

Sắn Việt Nam đã phát triển theo hướng bền vững trong những năm đầu của thế kỷ 21 (2000-2013). Thành tựu sắn Việt Nam đạt được là rất to lớn: Cây sắn đã chuyển đổi từ cây lương thực, cây thức ăn gia súc thành cây 4 F (Food, Feed, Flour, Fuel: lương thực thực phẩm, thức ăn gia súc, tinh bột và sản phẩm sau tinh bột, nhiên liệu sinh học). Ở cấp quốc gia, sắn đã trở thành một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu và đi vào cuộc sống của hàng trăm ngàn, hàng triệu gia đình nông dân sản xuất nhỏ trong cả nước thông qua các thay đổi về năng suất và lợi nhuận. Nguồn vật liệu giống sắn từ CIAT thông qua chương trình chọn tạo và nhân giống đã bao gồm hơn 90% của tất cả diện tích sắn được trồng hiện nay ở Việt Nam. Bài học của Chương trình Sắn Việt Nam 6M,10T và “Nông dân tham gia nghiên cứu FPR” là kinh nghiệm hợp tác đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất vì đời sống của hàng triệu hộ gia đình nông dân nghèo.

SẮN VIỆT NAM HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

Sắn Việt Nam là một câu chuyện thành công. Hoàng Kim có chùm bài viết Thầy bạn trong đời tôi  kể lại sự kết nối CIAT với Sắn Việt Nam là thật sự lâu bền và có hiệu quả trong nhiều bài học chuyên gia nông nghiệp Quốc tế của CIAT, CIP, IRRI, ICRISAT, CIMMYT, FAO, ACIAR, Viện Vavilop (Nga), Trường Đại học Nông nghiệp Praha (Czech) đã đến chung sức nghiên cứu phát triển cây lương thực và nông nghiệp Việt Nam.


Cách mạng sắn ở Việt Nam thành tựu và bài học là điểm sáng toàn cầu được vinh danh tại Hội thảo Cây Có Củ Thế Giới được tổ chức tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc ngày 18 – 22 tháng 1 năm 2016. Sắn là cây trồng triển vọng của thế kỷ 21.

Tại kỷ niệm 45 năm thành lập Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) năm 2012 ở Hà Nội CIAT đã ghi dấu son hợp tác CIAT- VIET NAM trong sự kết nối mang lại lợi ích cho nông dân sản xuất nhỏ và người tiêu dùng nghèo trên toàn vùng nhiệt đới của thế giới. Sắn Việt Nam là một điểm sáng thành công điển hình toàn cầu trong sự lưu dấu trên ba thập kỷ nghiên cứu sáng tạo cho phát triển nông nghiệp theo định hướng thị trường trong khu vực Đông Nam Á của CIAT, trong đó có Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tiến sĩ Bùi Bá Bổng phát biểu đã tôn vinh ba thành tựu to lớn của CIAT đóng góp cho nền nông nghiệp Việt Nam. Thứ trưởng nhấn mạnh:

Nông nghiệp vẫn là một lĩnh vực rất quan trọng đối với Việt Nam. Khoảng 70% dân số có liên quan đến nông nghiệp và sản xuất hơn 20% sản lượng kinh tế. Việt Nam là một nước xuất khẩu chính của nhiều sản phẩm nông nghiệp, và trong một số trường hợp là dẫn đầu hoặc là một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu trên toàn cầu, với tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp đạt 25 tỷ USD mỗi năm. Trong lĩnh vực sắn, với diện tích thu hoạch hơn nửa triệu ha, giá trị xuất khẩu sản phẩm sắn của Việt Nam đạt 800-950 triệu USD mỗi năm. Trong kết nối này, CIAT đã có những đóng góp đáng kể thông qua việc cải thiện ngành sắn Việt Nam. CIAT đã làm việc tại Việt Nam trong hơn hai mươi năm với các cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các Trường Đại học, Viện Nghiên cứu. Đã có ba lĩnh vực chính của sự hợp tác.” Trước hết  CIAT là người đầu tiên bắt đầu với các thử nghiệm và phát hành cải tiến giống cây thức ăn gia súc động vật và kỹ thuật quản lý. Điều này đã cải tiến sản xuất đáng kể trong chăn nuôi và sinh kế của hàng chục ngàn gia đình nông dân sản xuất nhỏ, đặc biệt là ở vùng núi. Những tác động này đã được nhìn thấy cho các ngành chăn nuôi từ gia súc cho đến cá. Khu vực tác động lớn thứ hai đã được với sắn. Trong  thời gian CIAT làm việc với các đối tác Việt Nam về cải thiện sắn thì cả diện tích trồng và năng suất sắn  bình quân của cây sắn trên toàn Việt Nam đã tăng gấp đôi,  sản lượng tăng nhiều hơn bốn lần tăng trong sản xuất và gia tăng cao trong cả hai chế biến và xuất khẩu. Tác động này đã được thực hiện ở nhiều cấp độ: Ở cấp quốc gia, sắn đã trở thành một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu. Trong cuộc sống của hàng trăm ngàn, nếu không nói là hàng triệu gia đình sản xuất nhỏ trong cả nước thông qua các thay đổi về năng suất và lợi nhuận. Nguồn vật liệu giống sắn từ CIAT tho6ngb qua chương trình chọn tạo và nhân giống đã bao gồm hơn 90% của tất cả diện tích sắn được trồng hiện nay ở Việt Nam. Lĩnh vực thứ ba của việc hợp tác với CIAT đã  liên kết nông dân với thị trường, đặc biệt là nông dân từ các khu vực vùng sâu, vùng  xa của đất nước tại Thừa Thiên Huế, Hòa Bình, Đắk Lắk. Thông qua việc giải quyết vấn đề sự kết hợp giữa kỹ thuật và tiếp thị, các vấn đề cải tiến trong việc tiếp cận thị trường, lợi nhuận, và sinh kế đã được quan sát cho nhiều cộng đồng gồm một loạt các sản phẩm, bao gồm không chỉ sắn và chăn nuôi mà còn trái cây, rau, và nhiều hơn nữa. Ba khu vực chính của công việc đã được hỗ trợ bởi các tổ chức tài trợ đại diện trong căn phòng này, cụ thể là Cơ quan Hợp tác Phát triển, Quỹ Nippon, AusAID, ACIAR, và IFAD Thụy Sĩ. Chúng tôi rất biết ơn vì sự ủng hộ của họ, và tôi biết CIAT cũng rất biết ơn. Còn nhiều thách thức cho nông dân Việt Nam và có một vai trò quan trọng đối với khoa học nông nghiệp trong việc giải quyết những thách thức này. Năng lực nghiên cứu triển khai thuộc phạm vi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như trong các trường đại học và các lĩnh vực khác của đất nước, cần phải vươn lên đối mặt với những thách thức trong nông nghiệp. Điều này sẽ liên quan đến làm việc với nông dân, các dịch vụ khuyến nông, và các lĩnh vực thương mại với một tập trung vào việc cải thiện sinh kế trong khi vẫn duy trì các nguồn tài nguyên của đất nước và đáp ứng với những thay đổi trong thị trường và biến đổi khí hậu. Làm việc với các trung tâm quốc tế, chẳng hạn như CIAT và với các tổ chức nghiên cứu quốc gia khác trong khu vực là quan trọng. Có rất nhiều vấn đề có thể được giải quyết hiệu quả hơn thông qua hợp tác quốc tế rộng rãi. Một lần nữa tôi xin chúc mừng CIAT kỷ niệm lần thứ 45 quan trọng và chúng tôi mong muốn nhiều năm làm việc cùng nhau trong tương lai. Sử dụng cơ hội này, tôi muốn cảm ơn CIAT và các nhà khoa học đã  hỗ trợ  hiệu quả chọ Nông nghiệp Việt Nam. Cuối cùng, tôi xin chúc mừng Ngài  Ruben Echeverría,  Tổng Giám đốc CIAT, Tiến sĩ Rod Lefroy, Giám đốc CIAT khu vực Châu Á và Tiến sĩ Keith Farhney, Giám đốc dự án của CIAT, những người đã được trao tặng Huy chương Vì Sự nghiệp Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Đó là vinh dự lớn mà tôi trao những Huy chương trong buổi lễ này”

Sắn Việt Nam là câu chuyện thành công (Cassava in Vietnam: a successful story), Sắn làm nhiên liệu sinh học tại Việt Nam (Cassava for Biofuel in Vietnam) Sắn Việt Nam hôm nay và mai sau (Cassava and Vietnam: Now and Then) là trãi nghiệm sâu sắc.

KazuoKawano and Reinhardt Howeler

Giáo sư Kazuo Kawano và Giáo sư Reinhardt Howeler chuyên gia sắn CIAT, những người bạn lớn của nông dân trồng sắn châu Á đã phát biểu cảm động về Việt Nam.

Giáo sư Kazuo Kawano nói tại bài viết Sắn Việt Nam hôm nay và mai sau (Cassava and Vietnam: Now and Then) : “My ten years of close collaboration with my cassava breeding colleagues in the 1990s and the reunion with them in this trip completely changed my assessment of the Vietnamese. As evidenced by the series of my reporting here, they are industrious, insightful, considerate and indefatigable, as if to emulate General Vo Nguyen Giap. I might be a little too positively partial to those friends of mine. Nevertheless, I have a similar feeling toward some of my colleagues in Rayong, Thailand and Nanning, China to count a few. During the two decades of post-war Japan, we seem to have many Japanese of this category as well.”

Giáo sư Reinhardt Howeler nói: Cassava in Vietnam: a successful story

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook KimTwitter  hoangkim vietnam 

Biển Đông vạn dặm

BienDongvandam

BIỂN ĐÔNG
Hoàng Kim
Lưu thông tin chọn lọc

Phán quyết pháp lý quan trọng nhất và có tác động lớn nhất đối với biển đông của PCA
là việc bác bỏ hoàn toàn đường lưỡi bò – Vốn là một tuyên bố chủ quyền phi lý và hoang đường nhất trong các tranh chấp biển hiện hữu trên thế giới. Điều này củng cố những chứng lý quan trong nhất để đàm phán ranh giới biển giữa các nước có tham gia tranh chấp như Vietnam, Philipin, Indonesia, Malaysia, Bruney trước các đòi hỏi của Trung Quốc. Nó cũng mở đường cho các cường quốc bên ngoài dễ dàng can thiệp vào khu vực khi phán quyết mở ra những ranh giới rất rõ về các vùng biển lưu thông tự do.
Tuy nhiên, chính phán quyết thứ hai về các đảo và bãi đá tại Trường Sa mới là phần bổ sung quan trọng nhất để giải quyết các tranh chấp trong phiên toà lịch sử này: PCA tuyên bố xét cả về hoàn cảnh lịch sử lẫn điều kiện tự nhiên, các đảo và đá tại Trường Sa đều thiếu vắng sự hiện diện thường xuyên, liên tục của đời sống kinh tế dân sự thông thường. Việc hiện diện của các lực lượng công vụ của các quốc gia tranh chấp trên các hòn đảo tại đây không phải là căn cứ và không tạo cơ sở cho sự hiện diện kinh tế đơn thuần. Do đó, các đảo này không tạo ra yêu sách về lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế. Đây là một nội dung hết sức quan trọng của phán quyết. Nó tạo cơ sở cho việc đàm phán chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế của tất cả các quốc gia đang có tranh chấp ở Trường Sa. Quyền chiếm hữu các đảo và đá của mỗi nước có thể tiếp tục duy trì, nhưng quyền về vùng đặc quyền kinh tế thì không còn phụ thuộc vào chúng nữa. Đây là lối thoát cho tất cả các nước trong hoà bình. Với riêng Việt Nam, nội dung phán quyết thứ hai này cũng mở ra cơ hội cho việc giải quyết các tranh chấp tại quần đảo Hoàng Sa. Một số đảo tại Hoàng Sa có kích thước lớn (Ví dụ Phú Lâm) và đã được Trung Quốc củng cố và tôn tạo nhiều thập niên sau khi chiếm đóng sau cuộc chạm súng khốc liệt với hải quân Việt Nam Cộng Hoà. Cho đến nay, với các phương tiện chiến tranh TQ đưa ra Hoàng Sa, gồm chiến đấu cơ, các hệ thống phòng không và tên lửa đối hải, cộng với lực lượng hải quân khiến việc tiếp cận của Việt Nam với Hoàng Sa hầu như vô vọng. Cùng với đường lưỡi bò, Trung Quốc dựa vào các yêu sách pháp lý đối với vùng đặc quyền kinh tế của các đảo tạo Hoàng Sa để đòi hỏi rất sâu vào vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ngay từ lúc này, Việt Nam cần nghiên cứu rất kỹ phán quyết 12/07 của PCA và cân nhắc một vụ kiện tương tự với tình trạng các đảo tại Hoàng Sa. Nếu vô hiệu hoá được quyền yêu sách lãnh hải của các đảo này thì dù Trung Quốc có tiếp tục duy trì quyền chiếm đóng Hoàng Sa, nhưng Việt Nam sẽ cải thiện được tình trạng tranh chấp chênh vênh ở vùng biển miền Bắc và miền Trung Việt Nam.” Lang Anh đúc kết.

*

Trung Quốc “từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình” đã và đang có một chiến lược  định hình, hướng tới lâu dài theo nguyên tắc thực tiễn “chân lý thuộc về kẻ mạnh” “có lý, có lợi, đúng lúc”. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới. “Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang quyết tâm cao độ theo đuổi chủ thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” của Chủ tịch Mao Trạch Đông trên cơ sở thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm nhằm đưa ra phương lược mưu chiếm trọn 80% hải phận của vùng Đông Nam Á (theo đường Lưỡi Bò), khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình năm 1974 đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn trên biển Đông thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ: xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp vì sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg dù mọi giá . Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.”  Hoàng Kim đánh giá.

Nhớ cụ Nguyễn Ngọc Trìu

CuTruNguyenNgocTriu

NHỚ CỤ NGUYỄN NGỌC TRÌU
Hoàng Kim
nhớ Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và  mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam”.

BotruongTriuthamdaurong

Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông – Lâm – Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ . Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm” .Cụ Nguyễn Ngọc Trìu là một  nhân cách lớn như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.

Xin dâng nén tâm hương tưởng nhớ Người.

Ghi chú (*) NHỚ KỶ NIỆM MỘT THỜI. Hoàng Kim. Viện trưởng Trần Thế Thông đưa Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Trìu lên thăm Hưng Lộc hôm trước thì ngay hôm sau, TS Phạm Sỹ Tân và TS Đặng Kim Sơn cùng thầy GS Mai và ông Carangal lên Trung tâm Hưng Lộc trao đổi và bàn chuyện hợp tác phát triển Chương trình Hệ thống Canh tác Việt Nam.
IAS5

(Hình ảnh 2 là GSTS V. R. Carangal IRRI, người áo đỏ, bìa trái, đang trao đổi trên đồng ruộng với GSTS Mai Văn Quyền IAS, thứ hai phải qua,, TS. Đặng Kim Sơn CLRRI & IPSARD, TS. Phạm Sĩ Tân, CLRRI và TS Hoàng Kim bàn về sự hợp tác IRRI và Việt Nam trong chương trình liên kết nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác). Tôi khi đó đã kể câu chuyện ‘xếp’ Thông và cụ Trìu vừa thăm hôm qua, và kể chuyện “Ấn tượng Borlaug và Hemingway” để trả lời Sơn, với sự đồng cảm thật sâu sắc. “Norman Borlaugnhà khoa học xanh“, “Lời Thầy dặn” thật thấm thía “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”. Nhớ kỷ niệm một thời không thể nào quên. Đặng Kim Sơn hỏi : Cậu ấn tượng nhất chuyên gì trong chuyến đi học CIMMYT mới đây? Tôi cười nói :”Ấn tượng Borlaug và Hemingway” “Năm tháng ở CIMMYT” . Chuyện “Norman Borlaug nhà khoa học xanh” thầy tới thăm tôi ở nhà riêng là không thể quên. Tôi đọc bốn câu thơ cho thầy Quyen Mai Van, với các bạn Đặng Kim Sơn, Pham Sy Tan cùng nghe và, bất ngờ giáo sư V R Carangal rút bút ra ghi và nói lời đồng cảm.

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu cũng có đến thăm bạn học của tôi là Đinh Thế Lữ (Hoàng Kim với Pham Sy Tan học chung một lớp Trồng trọt 4, chung giường tầng giường dưới giường trên. Tôi học chung lớp Đinh Thế Lữ lớp Trồng trọt 10 sau khi bộ đội sáu năm và cùng chung lớp tiến sĩ với Đặng Kim Sơn, Mai Thành Phụng)

Từ trái qua phải: ô Nguyễn Quốc Tuấn PCT nguyên Viên trưởng Cây lương thực. Ô Ngô Thế Dân CT nguyên Thứ trưởng TT Bộ NN&PTNT.Bà Thanh. Ô Nguyễn Ngọc Trìu nguyên Bộ trưởng NN. PCT Hội đồng Bộ Trưởng (PThủ Tướng CP). Ô Lữ. O Bùi Sỹ Tiếu PCT TT nguyên Bí thư TƯ Thái Bình Phó Trưởng Ban ..TW Đảng

Cụ Nguyễn Ngọc Trìu trước là Chủ tịch Hội Làm Vườn, sau mới đến GS Ngô Thế Dân.


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Mark Zuckerberg và Facebook

MarkZuckerbergFacebook

MARK ZUCKERBERG THẬT TUYỆT VỜI !
Hoàng Kim

chúc mừng bạn Mark  Zuckerberg.

Anh chàng phù thủy đáng yêu Mark Zuckerberg thông báo vào ngày 7 tháng 7 năm 2016 tại San Jose Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và trên Facebook : “Trên hành trình của chúng tôi để kết nối thế giới, hôm nay chúng tôi công bố OpenCellular – một nền tảng truy cập không dây mã nguồn mở để đưa kết nối đến các khu vực xa xôi của thế giới. Hơn 4 tỷ người vẫn không có quyền truy cập internet cơ bản, và một trong những thách thức lớn nhất là tìm hiểu làm thế nào để đạt được cơ sở hạ tầng vùng sâu vùng xa không bao gồm hiện nay. Chúng tôi thiết kế OpenCellular là một hệ thống mở để bất cứ ai – từ các nhà khai thác viễn thông đến các nhà nghiên cứu cho các doanh nhân – có thể xây dựng và vận hành các mạng không dây ở những nơi xa. Đó là về kích cỡ của một hộp giày và có thể hỗ trợ lên đến 1.500 người từ xa như 10 km. Cùng với máy bay năng lượng mặt trời của chúng ta Aquila và tia laser băng thông cao, OpenCellular là bước tiếp theo trong cuộc hành trình của chúng tôi để cung cấp tốt hơn, kết nối chi phí hợp lý để đưa thế giới đến gần nhau hơn.”

Cám ơn Mark Zuckerberg và Facebook ! Thế giới có những người thì muốn vươn lên bằng bạo lực, tranh đoạt và chiến tranh. Tôi không thích. Thế giới cũng có nhiều khát khao xanh vươn tới nhân văn, chí thiện và hòa bình. I’m with you.

https://hoangkimlong.wordpress.com/…/mark-zuckerberg-va-fa…/

Mark Zuckerberg

MARK ZUCKERBERG VÀ FACEBOOK

Mark Zuckerberg sáng tạo ra Facebook và chính Facebook, một website truy cập miễn phí do công ty Facebook, Inc. điều hành có Trụ sở đặt tại Menlo Park, California, Hoa Kỳ với giá cổ phiếu hiện đạt 112,69 tỷ đô la Mỹ, lại làm ngời sáng danh tiếng lừng lẫy của Mark Elliot Zuckerberg, một trong những vĩ nhân ảnh hưởng nhất của thế giới đương đại, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1984, là một lập trình viên máy tính và là một chủ doanh nghiệp người Mỹ. Con đường lập nghiệp và thành công của Mark Zuckerberg như thế nào, và tại sao Facebook lại uy tín đến vậy ? Mời bạn xem tiếp câu chuyện dưới đây tóm tắt những nét chính đọc báo giùm bạn.

Bạn vào chơi với Mark bằng cách bấm vào đây hoặc vào đây, lối nào cũng được. OK rồi chứ? Thân thiện chưa? Chưa bao giờ và chưa khi nào thế giới xa mà gần đến thế, rộng lớn nhưng nhỏ bé đến vậy. Thế giới Facebook thật gần gũi. Mark đã giúp chúng ta nối vòng tay lớn, phát hiện ra những tiềm năng của chính mình, những người bạn cùng sở thích, những người thân trong gia đình và cộng đồng, để thỉnh thoảng lúc bạn có thời gian ghé vào nghiêng ngó một tí, tám một tí, like một tí, cười một tí cho đỡ nhớ và vui vẻ chào ngày mới hoặc … chúc ngủ ngon. Thật giản dị, tiện lợi, ít mất thời gian (đương nhiên là với người không nghiện FB) và sang trọng. Đó là Mark và Facebook.

Bạn dễ dàng cập nhật về  Mark và Facebook trên Từ điển Bách khoa Mở  Wikipedia Tiếng Việt. Dưới đây là sự trích dẫn những thông tin chính. Tôi thích hành trình xanh của những người người trí tuệ, minh triết, thân thiện, họ như ánh mặt trời, vầng trăng tỏa sáng trên bầu trời vì con người và hướng đến tình yêu cuộc sống.

Mark Elliot Zuckerberg (sinh ngày 14 tháng 5 năm 1984) là một lập trình viên máy tính và là một chủ doanh nghiệp người Mỹ. Lúc đang là một sinh viên của Đại học Harvard, anh đã thành lập website mạng xã hội Facebook với sự trợ giúp của các bạn học tại Harvard Andrew McCollum, cũng như của những người bạn ở chung phòng ở ký túc xá Eduardo Saverin, Dustin Moskovitz và Chris Hughes. Hiện nay anh đang là tổng giám đốc điều hành của Facebook. Năm 2008, Zuckerberg xếp thứ 785 trong bảng xếp hạng doanh nhân giàu có của tạp chí Forbes, với số tài sản của anh lên đến 1,5 tỷ USD.[6]

Năm 2011 tài sản cá nhân của Mark Zuckerberg ước tính khoảng 17,5 tỷ USD [7], xếp thứ 14 trong bảng xếp hạng 400 người giàu nhất Hoa Kỳ của tạp chí Forbes[8].

Zuckerberg sinh ra trong một gia đình Mỹ gốc Do Thái[9][10] và lớn lên tại Dobbs Ferry, quận Westchester, New York.[1] Anh đã bắt đầu lập trình máy tính từ lúc học lớp 6. Zuckerberg đã học Trường PTTH Ardsley và tốt nghiệp Phillips Exeter Academy năm 2002. Được nhận vào đại học Havard vào năm 2003 và bỏ học năm 2005 để hoàn thành dự án thành lập Facebook.

Năm 2010, Zuckerberg được tạp chí Time bình chọn là Nhân vật của Năm.[11] Năm 2008, Zuckerberg dược tạp chí Forbes xếp hạng người giàu ở thứ 321 tại Hoa Kỳ, với một giá trị của các mạng khoảng $16.6 tỷ.[12]. Anh là người trẻ nhất xuất hiện trên Forbes 40. Trong 2009, giá trị giữ tài sản của Zuckerberg đã tụt xuống dưới $ 1.2 tỷ. Năm 2011, ước tính tài sản của anh khoảng $17.5 tỷ.[13]

Ngày 19 tháng 5 năm 2012, Zuckerberg làm hôn lễ với Priscilla Chan, là con một người Việt gốc Hoa tị nạn đến Mỹ trong thập niên 70 [14], đã từng cùng học với Zuckerberg và nay có bằng bác sĩ y khoa.

Ngày 2/12/2015, Mark Zuckerberg và cô vợ Priscilla Chan đã thông báo với cả thế giới về sự chào đời của cô con gái đầu lòng Max. Cùng với đó, Anh sẽ quyên góp 99% cố phần của mình để làm từ thiện (ước tính 45 tỷ USD).

Facebook là một website truy cập miễn phí do công ty Facebook, Inc điều hành.[1] Người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác. Mọi người cũng có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho họ, và cập nhật trang hồ sơ cá nhân của mình để thông báo cho bạn bè biết về chúng. Tên của website nhắc tới những cuốn sổ lưu niệm dùng để ghi tên những thành viên của cộng đồng campus mà một số trường đại học và cao đẳng tại Mỹ đưa cho các sinh viên mới vào trường, phòng ban, và nhân viên để có thể làm quen với nhau tại khuôn viên trường.

Mark Zuckerberg thành lập Facebook cùng với bạn bè là sinh viên khoa khoa học máy tính và bạn cùng phòng Eduardo Saverin, Dustin Moskovitz và Chris Hughes khi Mark còn là sinh viên tại Đại học Harvard.[6]

Việc đăng ký thành viên website ban đầu chỉ giới hạn cho những sinh viên Harvard, nhưng đã được mở rộng sang các trường đại học khác tại khu vực Boston, Ivy League, và Đại học Stanford. Sau đó nó được mở rộng hơn nữa cho sinh viên thuộc bất kỳ trường đại học nào, rồi đến học sinh phổ thông và cuối cùng là bất cứ ai trên 13 tuổi.

Tính đến tháng 9 năm 2012, Facebook hiện có hơn một tỷ thành viên tích cực trên khắp thế giới [7]. Với con số ấy, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất, tiếp theo sau là MySpace và Twitter.[8][9]. Hiện tại, Facebook có số lượt truy cập đứng thứ 2 của thế giới sau Google.

Facebook đã gặp phải một số tranh cãi trong những năm qua. Nó đã bị cấm một thời gian tại một số quốc gia, trong đó có Syria[10], Trung Quốc[11], Việt Nam[12] và Iran[13] (hiện tại thì không còn). Nó cũng đã bị cấm tại nhiều công sở để hạn chế nhân viên tốn thời gian sử dụng dịch vụ.[14] Quyền riêng tư trên Facebook cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Trang này cũng đang đối mặt với một số vụ kiện từ một số bạn cùng lớp của Zuckerberg, những người cho rằng Facebook đã ăn cắp mã nguồn và các tài sản trí tuệ khác của họ.

Facebook mở đầu là một phiên bản Hot or Not của Đại học Harvard với tên gọi Facemash [15]. Mark Zuckerberg, khi đang học năm thứ hai tại Harvard, đã dựng nên Facemash vào ngày 28 tháng 10 năm 2003. Zuckerberg đang viết blog về một cô gái và cố gắng nghĩ ra một thứ gì đó để bớt nghĩ về cô ấy.[16]

Theo tờ Harvard Crimson, Facemash “đã dùng những bức ảnh lấy từ cuốn lưu bút trực tuyến của chín Nhà, đặt hai cái kế bên nhau và yêu cầu người dùng chọn ai là người là “hot” nhất”. Trang này nhanh chóng được chuyển đến vài máy chủ danh sách của nhóm campus nhưng bị những người quản lý Harvard tắt vài ngày sau đó. Zuckerberg bị ban quản lý phạt vì vi phạm an ninh, xâm phạm bản quyền và xâm phạm quyền tự do cá nhân và phải đối mặt với việc đuổi học, nhưng sau đó đã được hủy bỏ các cáo buộc[17]. Học kỳ tiếp theo, Zuckerberg thành lập “The Facebook“,  đặt tại the facebook.com, vào ngày 4 tháng 2 năm 2004.[18]

“Mọi người đã nói nhiều về một cuốn sách đăng ảnh trong Harvard”, Zuckerberg nói với The Harvard Crimson. “Tôi cho rằng hơi bị ngu xuẩn khi trường đã phải mất vài năm để bỏ nó. Tôi có thể làm tốt hơn những gì họ có thể, và tôi có thể làm nó trong vòng một tuần”.[19]

Việc đăng ký thành viên ban đầu giới hạn trong những sinh viên của Đại học Harvard, và trong vòng một tháng đầu tiên, hơn một nửa số sinh viên đại học tại Harvard đã đăng ký dịch vụ này [20]. Eduardo Saverin (lĩnh vực kinh doanh), Dustin Moskovitz (lập trình viên), Andrew McCollum (nghệ sĩ đồ họa), và Chris Hughes nhanh chóng tham gia cùng với Zuckerberg để giúp quảng bá website. Vào tháng 3 năm 2004, Facebook mở rộng sang Stanford, Columbia, và Yale[21]. Việc mở rộng tiếp tục khi nó mở cửa cho tất cả các trường thuộc Ivy League và khu vực Boston, rồi nhanh chóng đến hầu hết đại học ở Canada và Hoa Kỳ[22]. Vào tháng 6 năm 2004, Facebook chuyển cơ sở điều hành đến Palo Alto, California[21]. Công ty đã bỏ chữ The ra khỏi tên sau khi mua được tên miền facebook.com vào năm 2005 với giá 200.000 USD.[23]

Facebook ra mắt phiên bản trung học vào tháng 9 năm 2005, Zuckerberg gọi nó là một bước logic tiếp theo[24]. Vào thời gian đó, các mạng của trường trung học bắt buộc phải được mời mới được gia nhập[25]. Facebook sau đó mở rộng quyền đăng ký thành viên cho nhân viên của một vài công ty, trong đó có Apple Inc. và Microsoft Corp.[26]. Tiếp đó vào ngày 26 tháng 9 năm 2006, Facebook mở cửa cho mọi người trên 13 tuổi với một địa chỉ email hợp lệ.[27][28]

Ngày 24 tháng 10 năm 2007, Microsoft thông báo đã mua được 1,6% cổ phần (240 triệu $) của Facebook, nâng giá trị tài sản của Facebook lên khoảng 15 tỷ $. [29] Microsoft cũng mua bản quyền cho phép đặt các quảng cáo quốc tế của công ty lên Facebook.[30] Tháng 10 2008, Facebook tuyên bố nó đã thiết lập một trụ sở quốc tế tại Dublin, Ireland.[31] Tháng 9 năm 2009, Facebook tuyên bố lần đầu tiên công ty đã đạt lợi nhuận.[32] Tháng 11 năm 2010, dựa trên thống kê của SecondMarket Inc., một sàn giao dịch chứng khoán của các công ty tư nhân, tổng tài sản của Facebook là 41 tỷ $ (vượt qua một chút so với eBay) và trở thành công ty dịch vụ web lớn thứ ba ở Hoa Kỳ sau Google và Amazon.[33] Có khả năng Facebook sẽ phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu IPO vào 2013.[34]

Lượng người truy cập Facebook tăng ổn định từ 2009. Trong ngày 13 tháng 3 năm 2010 số người truy cập Facebook đã vượt qua lượng người truy cập vào Google.[35]

Vào ngày 09 tháng 04 năm 2012, Facebook mua lại Instagram với giá 1 tỉ USD, bao gồm cả tiền mặt lẫn cổ phiếu.[36]

Vào ngày 14 tháng 02 năm 2014, Faecbook mua lại Whatsapp với giá 16 tỉ USD, được thanh toán bằng 12 tỷ USD cổ phiếu Facebook, 4 tỷ USD tiền mặt và thêm 3 tỷ USD cổ phiếu hạn chế chuyển nhượng dành cho các sáng lập viên WhatsApp cũng như nhân viên trong vòng 4 năm tới.[37].

Phần lớn doanh thu của Facebook đến từ quảng cáo. Microsoft là một đối tác đặc biệt của Facebook về các dịch vụ banner quảng cáo,[38] và Facebook chỉ đăng các quảng cáo thuộc mạng lưới quảng cáo của Microsoft. Theo comScore, một công ty nghiên cứu thị trường internet, Facebook thu thập rất nhiều dữ liệu từ những người viếng thăm tương đương như Google và Microsoft, nhưng ít hơn so với Yahoo!.[39] Năm 2010, đội an ninh mạng của công ty đã bắt đầu mở rộng các nỗ lực nhằm ngăn chặn những nguy hiểm và phá hoại từ phía người sử dụng.[40] Ngày 6 tháng 11, 2007, Facebook triển khai Facebook Beacon nhằm ngăn chặn những cố gắng quảng cáo đến bạn bè của các thành viên nhờ sử dụng những thông tin cá nhân của thành viên đó.

Facebook nói chung có tỉ lệ nhấp chuột (clickthrough rate) (CTR) vào các nội dung quảng cáo nhỏ so với nhiều website lớn. Đối với các banner quảng cáo, CTR của banner chỉ bằng một phần năm so với CTR của toàn bộ các nội dung (đường link) trên FB.[41] Điều này có nghĩa là tỉ lệ người dùng FB nhấp chuột vào nội dung quảng cáo nhỏ hơn so với các website lớn khác. Ví dụ, trong khi số người click vào quảng cáo đầu tiên cho kết quả tìm được trên Google trung bình là 8% thời gian (80.000 click cho 1 triệu tìm kiếm),[42] thì người dùng Facebook click vào quảng cáo trung bình 0,04% thời gian (400 click cho 1 triệu trang).[43]

Sarah Smith, giám đốc hoạt động bán hàng trực tuyến của Facebook, xác nhận rằng các chiến dịch quảng cáo thành công trên FB có tỉ lệ nhấp chuột CTR là 0,05% tới 0,04%, và rằng CTR cho các quảng cáo có xu hướng giảm xuống trong vòng hai tuần.[44] So với CTR của mạng xã hội MySpace, tỉ lệ này là 0,1%, cao hơn 2,5 lần của Facebook nhưng vẫn thấp hơn so với nhiều website. Giá trị CTR của Facebook khá thấp có thể giải thích do FB bao gồm những thành viên là những người hiểu biết về công nghệ hơn và họ sử dụng các phần mềm chặn quảng cáo để ẩn đi những quảng cáo trên FB, có nhiều thành viên trẻ tuổi hơn tham gia FB do vậy họ cũng bỏ qua những thông tin quảng cáo; và trên Myspace, các thành viên dành nhiều thời gian để duyệt nội dung trong khi trên Facebook các thành viên lại sử dụng nhiều thời gian để trao đổi với bạn bè và do vậy họ bỏ qua sự chú ý tới nội dung quảng cáo.[45]

Bản mẫu:Facebook revenue Trên các trang cho các thương hiệu và sản phẩm, tuy nhiên, một số công ty đã báo cáo CTR cao tới 6,49% cho bài viết ở Wall (một tính năng của Facebook).[46] Involver, một nền tảng tiếp thị xã hội, công bố vào tháng 7 năm 2008 rằng nó quản lý để đạt được CTR là 0,7% trên Facebook (hơn 10 lần so với kết quả CTR từ các chiến dịch quảng cáo tiêu biểu trên Facebook) cho khách hàng đầu tiên của Involver, công ty phần mềm Serena, quản lý để chuyển đổi 1.100.000 lượt xem vào 8.000 khách truy cập vào trang web của họ.[47] Một nghiên cứu cho thấy rằng đối với quảng cáo video trên Facebook, kết quả là đối với những người sử dụng đã xem những video này thì hơn 40% họ xem chúng toàn bộ, trong khi trung bình ngành công nghiệp là 25% đối với quảng cáo video trong banner.[48]

Facebook có hơn 1.750 nhân viên và cộng tác viên ở 12 nước.[49] Về quyền sở hữu Facebook, Mark Zuckerberg sở hữu 24% công ty, Accel Partners là 10%, Digital Sky Technologies là 10%[50], Dustin Moskovitz sơ hữu 6%, Eduardo Saverin là 5%, Sean Parker là 4%, Peter Thiel là 3%, Greylock Partners và Meritech Capital Partners mỗi bên sở hữu 1 tới 2%, Microsoft sở hữu 1,3%, Lý Gia Thành sở hữu 0,75%,Interpublic Group sở hữu ít hơn 0,5%, một nhóm nhỏ các nhân viên hiện tại và cựu nhân viên cũng như nhân vật nổi tiếng sở hữu ít hơn 1%, bao gồm Matt Cohler, Jeff Rothschild, thượng nghị sĩ bang California Barbara Boxer, Chris Hughes, và Owen Van Natta; Reid Hoffman và Mark Pincus có cổ phần khá lớn trong công ty, và 30% còn lại hoặc do nhân viên sở hữu, hoặc do những người muốn giấu tên hoặc từ những nhà đầu tư bên ngoài.[51] Adam D’Angelo, giám đốc công nghệ và bạn của Zuckerberg, đã rút khỏi công ty vào tháng 5 năm 2008. Báo chí cho rằng ông và Zuckerberg đã tranh cãi, và rằng Adam không còn quan tâm đến việc sở hữu cổ phần công ty nữa.[52]

Thành viên đã đăng ký có thể tạo hồ sơ với các hình ảnh, danh sách sở thích cá nhân, thông tin liên lạc, và những thông tin cá nhân khác. Người dùng có thể trao đổi với bạn bè và những người khác thông qua tin nhắn cá nhân hoặc công cộng và tính năng chat của Facebook. Họ cũng có thể tạo và gia nhập nhóm ưa thích hay “trang yêu thích” (trước đây gọi là “trang các fans”, cho đến tận 19 tháng4, 2010), một số trang được duy trì bởi các tổ chức và có banner quảng cáo.[53]

Để xoa dịu những lo ngại về sự riêng tư, Facebook cho phép người dùng lựa chọn cài đặt bảo mật của riêng mình và lựa chọn những người có thể nhìn thấy phần cụ thể của tiểu sử của họ.[54] Website là miễn phí đăng nhập, và nó phát sinh lợi nhuận từ quảng cáo, chẳng hạn thông qua banner quảng cáo.[55] Facebook đòi hỏi tên thành viên và hình ảnh (nếu có) để mọi người có thể đăng nhập vào trang web. Người dùng có thể kiểm soát những ai nhìn thấy các thông tin mà họ đã chia sẻ, cũng như những người có thể tìm thấy chúng trong tìm kiếm, thông qua các thiết lập bảo mật của họ.[56]

Các phương tiện truyền thông thường so sánh Facebook với MySpace, nhưng có một ý nghĩa khác biệt giữa hai trang web là mức độ tuỳ biến.[57] Một khác biệt nữa là sự yêu cầu của Facebook rằng người dùng sử dụng danh tính thực sự của họ, một đòi hỏi mà không có ở MySpace.[58] MySpace cho phép người dùng trang trí hồ sơ của họ bằng cách sử dụng HTML và Cascading Style Sheets (CSS), trong khi Facebook chỉ cho phép bằng văn bản (plain text).[59] Facebook có một số tính năng mà người dùng có thể tương tác. Chúng bao gồm Wall, một không gian trên trang hồ sơ của mỗi thành viên cho phép bạn bè họ đăng các tin nhắn cho thành viên để xem;[60] Pokes(cú hích), cho phép người dùng gửi một “cái hích” ảo với nhau (một thông báo cho thành viên là họ đã bị chọc);[61] Hình ảnh, nơi người dùng có thể upload album và hình ảnh;[62] và Trạng thái, cho phép thành viên thông báo cho bạn bè họ đang ở đâu và làm gì.[63] Tùy thuộc vào cài đặt riêng tư, bất cứ ai có thể xem hồ sơ của người dùng cũng có thể xem tính năng Wall của người dùng đó. Tháng 7 năm 2007, Facebook bắt đầu cho phép người dùng gửi file đính kèm với Wall, trong khi trước đây Wall chỉ giới hạn nội dung văn bản.[60]

Theo thời gian, Facebook đã thêm các tính năng mới vào website. Ngày 6 tháng 9 năm 2006, tính năng News Feed được ra, nó xuất hiện trên trang chủ của thành viên sử dụng và làm nổi bật thông tin bao gồm thay đổi hồ sơ, các sự kiện sắp tới, và ngày sinh nhật của bạn bè của thành viên đó.[64] Điều này cho phép những người gửi thư rác (spammer) và người dùng khác thao tác với những tính năng này bằng cách tạo ra sự kiện bất hợp pháp hoặc đăng ngày sinh nhật giả để thu hút sự chú ý đến hồ sơ của họ.[65] Ban đầu, News Feed không làm hài lòng đối với những người sử dụng Facebook; một số người phàn nàn là nó quá lộn xộn và đầy những thông tin không mong muốn, trong khi những người khác đề cập đến nó quá dễ dàng cho những người khác có thể theo dõi các hoạt động cá nhân của họ (chẳng hạn như thay đổi tình trạng quan hệ, sự kiện, và các cuộc hội thoại với thành viên khác).[66]

Để đáp lại, Zuckerberg đã đưa ra một lời xin lỗi cho lỗ hổng của trang web và đưa vào các tính năng bảo mật thích hợp tùy biến được. Kể từ đó, người dùng đã có thể kiểm soát những loại thông tin được chia sẻ một cách tự động với bạn bè. Thành viên FB hiện nay có thể ngăn chặn những người trong danh sách bạn bè mà thành viên đó không muốn họ nhìn thấy thông tin cập nhật về một số loại hoạt động, bao gồm thay đổi hồ sơ, bài trên Wall, và bạn bè mới thêm vào.[67]

Ngày 23 tháng 2 năm 2010, Facebook được cấp bằng sáng chế US patent 7669123 về những khía cạnh của News Feed. Bằng sáng chế bảo vệ News Feeds trong đó các liên kết được cung cấp để một người dùng có thể tham gia vào các hoạt động tương tự của một người dùng khác.[68] Bằng sáng chế có thể khuyến khích Facebook theo đuổi hành động chống lại các trang web vi phạm bằng sáng chế của họ, mà có khả năng có thể bao gồm các trang web như Twitter.[69]

Một trong những ứng dụng phổ biến nhất trên Facebook là ứng dụng Hình ảnh (Photos), nơi thành viên có thể upload album và hình ảnh.[70] Facebook cho phép người dùng tải lên không giới hạn số hình ảnh, so với các dịch vụ lưu trữ hình ảnh khác như Photobucket và Flickr, trong đó áp dụng giới hạn số lượng các bức ảnh mà người dùng được phép tải lên. Trong những năm đầu tiên, người dùng Facebook được giới hạn đến 60 hình ảnh cho mỗi album. Tính đến tháng 5 năm 2009, giới hạn này đã được tăng lên đến 200 bức ảnh mỗi album. [71][72][73][74]

Các thiết lập bảo mật có thể được đặt cho các album cá nhân, hạn chế các nhóm người sử dụng có thể xem một album. Ví dụ, tính riêng tư của một album có thể được thiết lập để chỉ những bạn bè của thành viên có thể xem album, trong khi tính riêng tư của album khác có thể được thiết lập để tất cả người dùng Facebook có thể nhìn thấy nó. Một tính năng của ứng dụng hình ảnh là khả năng “tag“, hay đánh nhãn một thành viên trong một bức ảnh. Ví dụ, nếu một bức ảnh có một người bạn của thành viên, sau đó thành viên này có thể “tag” người bạn trong bức ảnh. Điều này sẽ gửi một thông báo cho người bạn rằng họ đã được gắn thẻ, và cung cấp cho họ một liên kết để xem bức ảnh.[75]Facebook Notes được giới thiệu vào ngày 22 tháng 8 năm 2006, một tính năng viết blog cho phép nhúng các thẻ và hình ảnh. Thành viên sau đó có thể nhập blog từ Xanga, LiveJournal, Blogger, và các dịch vụ blog khác.[27] Trong tuần lễ từ ngày 7 tháng 4 năm 2008, Facebook đưa ra ứng dụng nhắn tin tức thời dựa trên ngôn ngữ lập trình Comet[76] gọi là “Chat” cho một vài mạng,[77] cho phép người dùng giao tiếp với bạn bè và nó có chức năng tương tự ứng dụng tin nhắn tức thời của máy tính để bàn.

Ngày 8 tháng 2 năm 2007, Facebook ra mắt tính năng Quà tặng, cho phép người dùng gửi quà tặng ảo cho bạn bè của họ xuất hiện trên hồ sơ của người nhận. Mỗi quà tặng chi phí 1,00 $ để mua hàng, và một tin nhắn cá nhân hoá có thể được đính kèm với từng món quà.[78][79] Ngày 14 tháng 5 năm 2007, Facebook khai trương Marketplace, cho phép người sử dụng đăng quảng cáo miễn phí có tính phân loại.[80] Marketplace đã từng được so sánh với Craigslist bởi CNET, trong đó chỉ ra rằng sự khác biệt lớn giữa hai tính năng là danh sách được đăng bởi một người sử dụng trên Marketplace chỉ nhìn thấy bởi những người dùng đang ở trong cùng một mạng với người dùng đó, trong khi danh sách được đăng trên Craigslist có thể được xem bởi bất cứ ai.[81]

Ngày 20 tháng 7 năm 2008, Facebook giới thiệu “Facebook Beta”, một thiết kế lại đáng kể giao diện người dùng trên các mạng đã chọn. Tính năng Mini-Feed và Wall được hợp nhất, hồ sơ đã được tách thành nhiều phần theo thẻ, và một nỗ lực đã được thực hiện để tạo ra một cái nhìn “sạch”.[82] Sau khi ban đầu cho người dùng một sự lựa chọn để chuyển đổi, Facebook đã bắt đầu di chuyển tất cả thành viên vào phiên bản mới trong tháng 9, 2008.[83] Ngày 11 tháng 12 năm 2008, người ta thông báo rằng Facebook đã thử nghiệm một quá trình đăng ký đơn giản hơn.[84]

Ngày 13 tháng 6 năm 2009, Facebook đã giới thiệu tính năng “Tên người dùng”, nhờ đó mà các trang có thể được liên kết với URL đơn giản hơn. Nhiều điện thoại thông minh mới cung cấp truy cập vào các dịch vụ của Facebook hoặc thông qua trình duyệt web hoặc các ứng dụng của điện thoại. Ứng dụng Facebook chính thức có sẵn cho hệ điều hành iPhone, hệ điều hành Android, và WebOS. Nokia và Research In Motion đều cung cấp ứng dụng Facebook cho các dòng di động của họ. Hơn 150 triệu người dùng truy cập vào Facebook thông qua thiết bị di động trên 200 nhà khai thác dịch vụ di động ở 60 quốc gia.

Facebook đưa ra dịch vụ “Facebook Messages” mới vào ngày 15 tháng 11 năm 2010. Trong sự kiện truyền thông ngày hôm đó, Giám đốc điều hành Mark Zuckerberg cho biết, “Sự thật là mọi người sẽ có thể có địa chỉ email an@facebook.com, nhưng nó không phải email.” Việc ra mắt tính năng như vậy đã được dự đoán trước khi công bố nó, với một số người gọi nó là “sát thủ của Gmail.” Hệ thống này có sẵn cho tất cả người sử dụng trang web, kết hợp tin nhắn văn bản, tin nhắn tức thời, email, và tin nhắn thông thường, và sẽ bao gồm các thiết lập bảo mật tương tự như của các dịch vụ khác của Facebook. Với mã hiện “Project Titan,” Facebook Messages mất 15 tháng để phát triển.[86][87]

MARK ZUCKERBERG BÀI HỌC CUỘC SỐNG

Mark Zuckerberg chủ nhân trang Face Book đã có bài phát biểu tuyệt vời tại Harvard Commencement 2017 nhân lễ nhận bằng tiến sĩ. (Toàn văn bài phát biểu đó dưới đây).

Một số trao đổi sau khi nghe bài Mark. Người thứ nhất nói: “Mark, tôi chỉ muốn khen ngợi bạn về việc đưa ra một bài diễn văn khởi đầu tuyệt vời ngày hôm nay tại Harvard! Bạn dẫn theo ví dụ, và đó là điều hiếm khi được nhìn thấy được thực hiện tốt trong những ngày này. Cảm ơn bạn đã nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta có quyền tự do thất bại, và có nhiều khả năng giải quyết rất nhiều vấn đề chỉ bằng cách cố gắng. Một điều nữa làm tôi cảm động đến cốt lõi là cho chúng tôi thấy điều gì là kho báu xác thực nhất của chính mình  trong thế giới này…Cảm ơn bạn đã tạo cảm hứng “mục đích“.

Người thứ hai nói : “Tôi là một phụ nữ 76 tuổi đang hoạt động (chưa nghỉ hưu). Tôi vừa nghe xong bài phát biểu bắt đầu của bạn tại Harvard. Bạn đã làm cho tôi nhận ra rằng ngay cả đối với chúng tôi những người cao niên, thì tôi cũng rất có ý nghĩa với chính tôi, chúng ta cần mục đích. Đó là những gì đang thiếu trong cuộc sống của chúng ta và đó là điều khiến chúng ta cảm thấy già. Bạn đã truyền cảm hứng cho tôi. Cảm ơn bạn“.

Người thứ ba nói : “Bạn điều hành một công ty nửa tỷ đô la và vẫn có thời gian ăn sáng với học sinh trung học. Nó không chỉ là những lời của bạn đang gây cảm hứng, nó là hành động của bạn“.

Người thứ tư nói: “Làm thế nào mát mẻ là chúng ta có thể nhìn thấy Mark nói. Ông đã tạo ra một thế giới hoàn toàn mới cho tất cả chúng ta để giao tiếp trong xã hội. Thế giới cần nhiều Mark hơn !!!!!! Hòa bình và tình yêu từ Key Largo Florida

Người thứ năm nói: “Woow ước mơ của tôi là học tập tại Đại học Harvard 😍😍 Tôi ước rằng sẽ là một ngày thật

Người thứ sáu nói: “Mark. Tôi đã xem video của bạn với thị trưởng đến thăm các thị trấn trên khắp nước Mỹ! Bạn và vợ của bạn rất rộng lượng và vị tha! Không thể chờ đợi để nghe bài phát biểu khởi đầu này!

Mark Zuckerberg yêu thương và tự hào về gia đình hạnh phúc của mình . Bill Gates chúc mừng Mark thật ngắn và cảm động: “Mark người bạn của tôi cuối cùng đã nhận được bằng cấp của mình. Một lần nữa, và anh ta sẽ bắt kịp vợ mình …

Tôi thật tâm đắc với các trao đổi trên, thật thấm thía cảm hứng tự do, hạnh phúc.  Mark Zuckerberg thật tuyệt vời !. Mark Zuckerberg và Facebook là bài học cuộc sống.

Mark Zuckerberg học để làm. Mark Zuckerberg cũng như Bill Gates học để làm.

Mark Zuckerberg là bài học cuộc sống.

Cám ơn bạn.

(Hoàng Kim)

 

Tài liệu dẫn:

Mark Zuckerberg với bài phát biểu tuyệt vời tại Harvard Commencement 2017
nhân lễ nhận bằng tiến sĩ. (Toàn văn bài phát biểu tiếng Anh dưới đây).

President Faust, Board of Overseers, faculty, alumni, friends, proud parents, members of the ad board, and graduates of the greatest university in the world,

I’m honored to be with you today because, let’s face it, you accomplished something I never could. If I get through this speech, it’ll be the first time I actually finish something at Harvard. Class of 2017, congratulations!

I’m an unlikely speaker, not just because I dropped out, but because we’re technically in the same generation. We walked this yard less than a decade apart, studied the same ideas and slept through the same Ec10 lectures. We may have taken different paths to get here, especially if you came all the way from the Quad, but today I want to share what I’ve learned about our generation and the world we’re building together.

But first, the last couple of days have brought back a lot of good memories.

How many of you remember exactly what you were doing when you got that email telling you that you got into Harvard? I was playing Civilization and I ran downstairs, got my dad, and for some reason, his reaction was to video me opening the email. That could have been a really sad video. I swear getting into Harvard is still the thing my parents are most proud of me for.

What about your first lecture at Harvard? Mine was Computer Science 121 with the incredible Harry Lewis. I was late so I threw on a t-shirt and didn’t realize until afterwards it was inside out and backwards with my tag sticking out the front. I couldn’t figure out why no one would talk to me — except one guy, KX Jin, he just went with it. We ended up doing our problem sets together, and now he runs a big part of Facebook. And that, Class of 2017, is why you should be nice to people.

But my best memory from Harvard was meeting Priscilla. I had just launched this prank website Facemash, and the ad board wanted to “see me”. Everyone thought I was going to get kicked out. My parents came to help me pack. My friends threw me a going away party. As luck would have it, Priscilla was at that party with her friend. We met in line for the bathroom in the Pfoho Belltower, and in what must be one of the all time romantic lines, I said: “I’m going to get kicked out in three days, so we need to go on a date quickly.”

Actually, any of you graduating can use that line.

I didn’t end up getting kicked out — I did that to myself. Priscilla and I started dating. And, you know, that movie made it seem like Facemash was so important to creating Facebook. It wasn’t. But without Facemash I wouldn’t have met Priscilla, and she’s the most important person in my life, so you could say it was the most important thing I built in my time here.

We’ve all started lifelong friendships here, and some of us even families. That’s why I’m so grateful to this place. Thanks, Harvard.

•••

Today I want to talk about purpose. But I’m not here to give you the standard commencement about finding your purpose. We’re millennials. We’ll try to do that instinctively. Instead, I’m here to tell you finding your purpose isn’t enough. The challenge for our generation is creating a world where everyone has a sense of purpose.

One of my favorite stories is when John F Kennedy visited the NASA space center, he saw a janitor carrying a broom and he walked over and asked what he was doing. The janitor responded: “Mr. President, I’m helping put a man on the moon”.

Purpose is that sense that we are part of something bigger than ourselves, that we are needed, that we have something better ahead to work for. Purpose is what creates true happiness.

You’re graduating at a time when this is especially important. When our parents graduated, purpose reliably came from your job, your church, your community. But today, technology and automation are eliminating many jobs. Membership in communities is declining. Many people feel disconnected and depressed, and are trying to fill a void.

As I’ve traveled around, I’ve sat with children in juvenile detention and opioid addicts, who told me their lives could have turned out differently if they just had something to do, an after school program or somewhere to go. I’ve met factory workers who know their old jobs aren’t coming back and are trying to find their place.

To keep our society moving forward, we have a generational challenge: to not only create new jobs, but create a renewed sense of purpose.

I remember the night I launched Facebook from my little dorm in Kirkland House. I went to Noch’s with my friend KX. I remember telling him I was excited to connect the Harvard community, but one day someone would connect the whole world.

The thing is, it never even occurred to me that someone might be us. We were just college kids. We didn’t know anything about that. There were all these big technology companies with resources. I just assumed one of them would do it. But this idea was so clear to us — that all people want to connect. So we just kept moving forward, day by day.

I know a lot of you will have your own stories just like this. A change in the world that seems so clear you’re sure someone else will do it. But they won’t. You will.

But it’s not enough to have purpose yourself. You have to create a sense of purpose for others.

I found that out the hard way. You see, my hope was never to build a company, but to make an impact. And as all these people started joining us, I just assumed that’s what they cared about too, so I never explained what I hoped we’d build.

A couple years in, some big companies wanted to buy us. I didn’t want to sell. I wanted to see if we could connect more people. We were building the first News Feed, and I thought if we could just launch this, it could change how we learn about the world.

Nearly everyone else wanted to sell. Without a sense of higher purpose, this was the startup dream come true. It tore our company apart. After one tense argument, an advisor told me if I didn’t agree to sell, I would regret the decision for the rest of my life. Relationships were so frayed that within a year or so every single person on the management team was gone.

That was my hardest time leading Facebook. I believed in what we were doing, but I felt alone. And worse, it was my fault. I wondered if I was just wrong, an imposter, a 22 year-old kid who had no idea how the world worked.

Now, years later, I understand that *is* how things work with no sense of higher purpose. It’s up to us to create it so we can all keep moving forward together.

Today I want to talk about three ways to create a world where everyone has a sense of purpose: by taking on big meaningful projects together, by redefining equality so everyone has the freedom to pursue purpose, and by building community across the world.

•••

First, let’s take on big meaningful projects.

Our generation will have to deal with tens of millions of jobs replaced by automation like self-driving cars and trucks. But we have the potential to do so much more together.

Every generation has its defining works. More than 300,000 people worked to put a man on the moon – including that janitor. Millions of volunteers immunized children around the world against polio. Millions of more people built the Hoover dam and other great projects.

These projects didn’t just provide purpose for the people doing those jobs, they gave our whole country a sense of pride that we could do great things.

Now it’s our turn to do great things. I know, you’re probably thinking: I don’t know how to build a dam, or get a million people involved in anything.

But let me tell you a secret: no one does when they begin. Ideas don’t come out fully formed. They only become clear as you work on them. You just have to get started.

If I had to understand everything about connecting people before I began, I never would have started Facebook.

Movies and pop culture get this all wrong. The idea of a single eureka moment is a dangerous lie. It makes us feel inadequate since we haven’t had ours. It prevents people with seeds of good ideas from getting started. Oh, you know what else movies get wrong about innovation? No one writes math formulas on glass. That’s not a thing.

It’s good to be idealistic. But be prepared to be misunderstood. Anyone working on a big vision will get called crazy, even if you end up right. Anyone working on a complex problem will get blamed for not fully understanding the challenge, even though it’s impossible to know everything upfront. Anyone taking initiative will get criticized for moving too fast, because there’s always someone who wants to slow you down.

In our society, we often don’t do big things because we’re so afraid of making mistakes that we ignore all the things wrong today if we do nothing. The reality is, anything we do will have issues in the future. But that can’t keep us from starting.

So what are we waiting for? It’s time for our generation-defining public works. How about stopping climate change before we destroy the planet and getting millions of people involved manufacturing and installing solar panels? How about curing all diseases and asking volunteers to track their health data and share their genomes? Today we spend 50x more treating people who are sick than we spend finding cures so people don’t get sick in the first place. That makes no sense. We can fix this. How about modernizing democracy so everyone can vote online, and personalizing education so everyone can learn?

These achievements are within our reach. Let’s do them all in a way that gives everyone in our society a role. Let’s do big things, not only to create progress, but to create purpose.

•••

So taking on big meaningful projects is the first thing we can do to create a world where everyone has a sense of purpose.

The second is redefining equality to give everyone the freedom they need to pursue purpose.

Many of our parents had stable jobs throughout their careers. Now we’re all entrepreneurial, whether we’re starting projects or finding or role. And that’s great. Our culture of entrepreneurship is how we create so much progress.

An entrepreneurial culture thrives when it’s easy to try lots of new ideas.

Facebook wasn’t the first thing I built. I also built games, chat systems, study tools and music players. I’m not alone. JK Rowling got rejected 12 times before publishing Harry Potter. Even Beyonce had to make hundreds of songs to get Halo. The greatest successes come from having the freedom to fail.

But today, we have a level of wealth inequality that hurts everyone. When you don’t have the freedom to take your idea and turn it into a historic enterprise, we all lose. Right now our society is way over-indexed on rewarding success and we don’t do nearly enough to make it easy for everyone to take lots of shots.

Let’s face it. There is something wrong with our system when I can leave here and make billions of dollars in 10 years while millions of students can’t afford to pay off their loans, let alone start a business.

Look, I know a lot of entrepreneurs, and I don’t know a single person who gave up on starting a business because they might not make enough money. But I know lots of people who haven’t pursued dreams because they didn’t have a cushion to fall back on if they failed.

We all know we don’t succeed just by having a good idea or working hard. We succeed by being lucky too. If I had to support my family growing up instead of having time to code, if I didn’t know I’d be fine if Facebook didn’t work out, I wouldn’t be standing here today. If we’re honest, we all know how much luck we’ve had.

Every generation expands its definition of equality. Previous generations fought for the vote and civil rights. They had the New Deal and Great Society. Now it’s our time to define a new social contract for our generation.

We should have a society that measures progress not just by economic metrics like GDP, but by how many of us have a role we find meaningful.We should explore ideas like universal basic income to give everyone a cushion to try new things. We’re going to change jobs many times, so we need affordable childcare to get to work and healthcare that isn’t tied to one company. We’re all going to make mistakes, so we need a society that focuses less on locking us up or stigmatizing us. And as technology keeps changing, we need a society that focuses more on continuous education throughout our lives.

And yes, giving everyone the freedom to pursue purpose isn’t free. People like me should pay for it. Many of you will do well and you should too.

That’s why Priscilla and I started the Chan Zuckerberg Initiative and committed our wealth to promoting equal opportunity. These are the values of our generation. It was never a question of if we were going to do this. The only question was when.

Millennials are already one of the most charitable generations in history. In one year, three of four US millennials made a donation and seven out of ten raised money for charity.

But it’s not just about money. You can also give time. I promise you, if you take an hour or two a week — that’s all it takes to give someone a hand, to help them reach their potential.

Maybe you think that’s too much time. I used to. When Priscilla graduated from Harvard she became a teacher, and before she’d do education work with me, she told me I needed to teach a class. I complained: “Well, I’m kind of busy. I’m running this company.” But she insisted, so I taught a middle school program on entrepreneurship at the local Boys and Girls Club.

I taught them lessons on product development and marketing, and they taught me what it’s like feeling targeted for your race and having a family member in prison. I shared stories from my time in school, and they shared their hope of one day going to college too. For five years now, I’ve been having dinner with those kids every month. One of them even threw me and Priscilla our first baby shower. And next year they’re going to college. Every one of them. First in their families.

We can all make time to give someone a hand. Let’s give everyone the freedom to pursue their purpose — not only because it’s the right thing to do, but because when more people can turn their dreams into something great, we’re all better for it.

•••

Purpose doesn’t only come from work. The third way we can create a sense of purpose for everyone is by building community. And when our generation says “everyone”, we mean everyone in the world.

Quick show of hands: how many of you are from another country? Now, how many of you are friends with one of these folks? Now we’re talking. We have grown up connected.

In a survey asking millennials around the world what defines our identity, the most popular answer wasn’t nationality, religion or ethnicity, it was “citizen of the world”. That’s a big deal.

Every generation expands the circle of people we consider “one of us”. For us, it now encompasses the entire world.

We understand the great arc of human history bends towards people coming together in ever greater numbers — from tribes to cities to nations — to achieve things we couldn’t on our own.

We get that our greatest opportunities are now global — we can be the generation that ends poverty, that ends disease. We get that our greatest challenges need global responses too — no country can fight climate change alone or prevent pandemics. Progress now requires coming together not just as cities or nations, but also as a global community.

But we live in an unstable time. There are people left behind by globalization across the world. It’s hard to care about people in other places if we don’t feel good about our lives here at home. There’s pressure to turn inwards.

This is the struggle of our time. The forces of freedom, openness and global community against the forces of authoritarianism, isolationism and nationalism. Forces for the flow of knowledge, trade and immigration against those who would slow them down. This is not a battle of nations, it’s a battle of ideas. There are people in every country for global connection and good people against it.

This isn’t going to be decided at the UN either. It’s going to happen at the local level, when enough of us feel a sense of purpose and stability in our own lives that we can open up and start caring about everyone. The best way to do that is to start building local communities right now.

We all get meaning from our communities. Whether our communities are houses or sports teams, churches or a cappella groups, they give us that sense we are part of something bigger, that we are not alone; they give us the strength to expand our horizons.

That’s why it’s so striking that for decades, membership in all kinds of groups has declined as much as one-quarter. That’s a lot of people who now need to find purpose somewhere else.

But I know we can rebuild our communities and start new ones because many of you already are.

I met Agnes Igoye, who’s graduating today. Where are you, Agnes? She spent her childhood navigating conflict zones with human trafficking in Uganda, and now she trains thousands of law enforcement officers to keep communities safe.

I met Kayla Oakley and Niha Jain, graduating today, too. Stand up. Kayla and Niha started a non-profit that connects people suffering from chronic illnesses with people in their communities willing to help.

I met David Razu Aznar, graduating from the Kennedy School today. David, stand up. He’s a former city councilor who successfully led the battle to make Mexico City the first Latin American city to pass marriage equality — even before San Francisco.

This is my story too. A student in a dorm room, connecting one community at a time, and keeping at it until one day we connect the whole world.

Change starts local. Even global changes start small — with people like us. In our generation, the struggle of whether we connect more, whether we achieve our biggest opportunities, comes down to this — your ability to build communities and create a world where every single person has a sense of purpose.

•••

Class of 2017, you are graduating into a world that needs purpose. It’s up to you to create it.

Now, you may be thinking: can I really do this?

Remember when I told you about that class I taught at the Boys and Girls Club? One day after class I was talking to them about college, and one of my top students raised his hand and said he wasn’t sure he could go because he’s undocumented. He didn’t know if they’d let him in.

Last year I took him out to breakfast for his birthday. I wanted to get him a present, so I asked him and he started talking about students he saw struggling and said “You know, I’d really just like a book on social justice.”

I was blown away. Here’s a young guy who has every reason to be cynical. He didn’t know if the country he calls home — the only one he’s known — would deny him his dream of going to college. But he wasn’t feeling sorry for himself. He wasn’t even thinking of himself. He has a greater sense of purpose, and he’s going to bring people along with him.

It says something about our current situation that I can’t even say his name because I don’t want to put him at risk. But if a high school senior who doesn’t know what the future holds can do his part to move the world forward, then we owe it to the world to do our part too.

Before you walk out those gates one last time, as we sit in front of Memorial Church, I am reminded of a prayer, Mi Shebeirach, that I say whenever I face a challenge, that I sing to my daughter thinking about her future when I tuck her into bed. It goes:

“May the source of strength, who blessed the ones before us, help us find the courage to make our lives a blessing.”

I hope you find the courage to make your life a blessing.

Congratulations, Class of ’17! Good luck out there.

 


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
ngày mới nhất bấm vào đây  cập nhật mỗi ngày

Video yêu thích
KimYouTube
Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter