Ngày mới yêu thương

1SocCon
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Ngày mới yêu thương gồm các bài mới:  Việt Nam trong thập niên 70 của thế kỷ 20 (Trần Quang Cơ Hồi ký chương 1); Rất nhỏ và rất lớn (Giáo sư Tương Lai); Kỹ năng sống tính nhân hậu Bùi Huy Đáp (GSTS. Nguyễn Văn Luật); Trang phây buc lúc nào cũng đẹp ! (Nguyễn Thu Phương); Ban mai , (Symphony of light – FREDERIC DELARU) nhạc phẩm yêu thích  – biên tập video bởi Andreea Petcu).

VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN 70 CỦA THẾ KỶ 20

Trần Quang Cơ (*)
Hồi ký Chương 1 (**)

Nước Việt Nam ta trong những năm 70 của thế kỷ 20 đã trải qua những sự kiện to lớn: Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam kết thúc cuộc đàm phán “ma-ra-tông” 1968-1973 giữa Việt Nam và Mỹ toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đã đưa Việt Nam tới đỉnh cao của giải phóng dân tộc và uy tín quốc tế. Thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một tác nhân đưa đến những thay đổi rất quan trọng trong chiến lược của các nước lớn mà còn làm chuyển đổi cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á. Nể sợ sức mạnh quân sự và ý chí kiên cường của Việt Nam, mặt khác lo ngại mối đe doạ từ nước Trung Hoa khổng lồ tăng lên một khi Mỹ rút khỏi Đông Nam Á, đồng thời lại có yêu cầu phát triển kinh tế, các nước ASEAN sốt sắng bình thường hóa cải thiện quan hệ với Việt Nam; tổ chức liên minh quân sự SEATO tan rã; xu hướng hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á phát triển. Sau khi bị “gáo nước lạnh” ở Việt Nam, Mỹ lo tháo chạy khỏi Đông Nam Á, song lại sợ tạo ra một “khoảng trống” có lợi cho các đối thủ của mình. Một mặt sợ Liên Xô thừa thế mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á và thế giới, mặt khác lo Trung Quốc phát huy vai trò nước lớn Châu Á để lấp chỗ “trống” đó nên Mỹ vừa tìm cách khai thác mâu thuẫn Xô – Trung vừa muốn có một nước Việt Nam độc lập cả với Trung Quốc lẫn Liên Xô để duy trì thế cân bằng chiến lược giữa ba nước lớn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Trong tập “Tài liệu Lầu Năm Góc2 của Mỹ có viết: “ Báo cáo của đại sứ Mỹ tại Anh gửi Bộ Ngoại Giao Mỹ ngày 1.3.67 ghi lại một đối thoại ngắn ngoại trưởng Anh Brown và ngoại trưởng Ba Lan Rapacski tại Luân- đôn ngày 22.2.67. Khi Brown hỏi nhận định của Rapacski về mức độ thế lực của Kossyguine (thủ tướng Liên Xô lúc đó) đối với Hà Nội. Rapacski trả lời: “ Không kém của ông đối với Hà Nội”. Và khi Brown hỏi: “Giữa Trung Quốc và Liên Xô nước nào có nhiều ảnh hưởng hơn đối với Hà Nội ?” Rapacski trả lời: “Bắc Việt Nam”. Đường lối độc lập tự chủ đó của Việt Nam thể hiện rõ nét trong suốt thời gian đàm phán với Mỹ ở Paris.

Sau cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris, năm 1973 tôi được đề bạt làm vụ trưởng vụ Bắc Mỹ nên có đầy đủ điều kiện trực tiếp theo dõi và xử lý mối quan hệ của nước ta với Mỹ sau chiến tranh.

Vào quãng hơn một tháng sau khi giải phóng miền Nam, ta có nhờ Liên Xô chuyển cho Mỹ một thông điệp miệng “Lãnh đạo Việt nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) tán thành có quan hệ tốt với Mỹ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Trên tinh thần đó, phía Việt Nam đã tự kiềm chế trong khi giải phóng, tạo cơ hội cho người Mỹ không bị cản trở trong việc tiến hành di tản nhân viên của họ. Phía Việt Nam đã cố gắng làm moị sự cần thiết để không làm xấu đi quan hệ với Mỹ trong tương lai. Không có sự thù địch với Mỹ ở Việt Nam và Việt Nam cũng không muốn thấy như vậy ở phía Mỹ”.

Ngày 12.6.75, Mỹ gửi đến sứ quán ta ở Paris bức thông điệp đáp lại: “Về nguyên tắc, Mỹ không thù hận gì VNDCCH. Đề nghị trên cơ sở đó tiến hành bất cứ quan hệ nào giữa hai bên3. Mỹ sẵn sàng nghe bất cứ gợi ý nào mà phía VNDCCH có thể muốn đưa ra”. Thông điệp này do Sứ quán Mỹ ở Paris gửi tới Sứ quán ta, nội dung không nói rõ là của Bộ Ngoại Giao Mỹ hay của cấp nào.

Ngày 11.7.75, ta gửi thông điệp cho Mỹ, chủ yếu nhắc lại đoạn nói về Mỹ Trong báo cáo của Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh đọc trước Quốc hội ngày 4.6.75: “Việc Chính phủ Hoa kỳ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, từ bỏ hoàn toàn sự can thiệp vào công việc nội bộ miền Nam Việt Nam, làm nghĩa vụ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng lại sau chiến tranh ở cả hai miền Việt Nam, sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ bình thường giữa VNDCCH và Hoa kỳ theo tinh thần Điều 22 Hiệp định Paris về Việt Nam”.

Cuộc tiếp xúc đầu tiên sau chiến tranh giữa ta và Mỹ diễn ra tại Paris ngày 10.7 ở cấp bí thư thứ nhất đại sứ quán (Đỗ Thanh – Pratt) chủ yếu bàn về vấn đề MIA, cụ thể phía Mỹ xin được trao trả một số hài cốt phi công Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc. Đến cuộc gặp tiếp theo ngày 5.9.75, cũng vẫn giữa Đỗ Thanh và Pratt, ta đồng ý sẽ giao cho Mỹ 3 bộ hài cốt “giặc lái”, song mãi tới tháng 12 ta mới cho phép một đoàn 4 hạ nghị sĩ Mỹ do Chủ tịch Uỷ ban POW/MIA4 G.V. Montgomery dẫn đầu vào Hà Nội nhận. Đoàn này đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp.

Sang năm 1976 Mỹ lại thông qua Liên Xô thăm dò việc tiếp xúc với ta, song khẳng định sẽ không thực hiện điều 21 của Hiệp định Paris. Công hàm ngày 26.3.76 của Henry Kissinger – lúc này là ngoại trưởng – gửi ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh cảm ơn ta đã đón tiếp đoàn Montgomery và sẵn sàng mở cuộc thảo luận về việc thiết lập mối quan hệ giữa hai nước5. Ngày 30.4 Bộ trưởng ngoại giao ta gửi công hàm trả lời, nêu lại những vấn đề tồn tại giữa hai nước (vấn đề bồi thường chiến tranh và vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh), trên cơ sở giải quyết 2 vấn đề đó sẽ bình thường hoá quan hệ với Mỹ theo quy định của điều 22 Hiệp định Paris. Ta sẵn sàng xem xét đề nghị cụ thể của Mỹ về việc mở thương lượng giữa hai bên. Ta sẽ có trả lời không để quá lâu, song sẽ không trước khi Quốc hội Mỹ bàn về việc bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Gần như đồng thời với việc G. Ford bác kiến nghị của Quốc hội Mỹ yêu cầu tạm ngưng trong 6 tháng lệnh cấm vận buôn bán với Việt Nam, Bộ Ngoại Giao Mỹ gửi thông điệp khẳng định sẵn sàng sớm có thảo luận với Việt Nam, song nhận xét quan điểm ta đặt thương lượng trên cơ sở “áp dụng một cách có chọn lọc các Hiệp định đã ký6” là không đem lại kết quả xây dựng; vấn đề “ kiểm điểm đầy đủ7” về MIA sẽ là một trong những vấn đề hàng đầu của Mỹ, chỉ khi nào vấn đề này được giải quyết “một cách cơ bản8 mới có thể tiến bộ thật sự tới bình thường hóa quan hệ giữa hai nước chúng ta. Đề nghị Việt nam xem lại một cuộc họp bàn về các vấn đề tồn tại là có bổ ích hay không ?

Tình hình nhùng nhằng như vậy kéo dài cho tới khi Jimmy Carter trúng cử tổng thống thay Gerald Ford năm 1977. Chính quyền mới của Đảng Dân chủ có quan điểm chiến lược khác và thái độ đối với Việt Nam mềm mỏng hơn. Nguyên nhân quan trọng khiến chính quyền Carter quan tâm ngay từ đầu đến việc thiết lập mối quan hệ mới với Việt Nam là lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đại sứ Mỹ tại LHQ, Andrew Young, đã nói rõ điều đó: “Chúng tôi coi Việt Nam như một Nam Tư ở châu Á. Không phải là bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ” (tháng 1.77).

Ngày 6.1.77, thông qua Liên Xô, Mỹ lại đưa ra một kế hoạch 3 bước về bình thường hoá quan hệ với Việt Nam:

  1. Việt Nam cho biết tin về những “người Mỹ mất tích trong chiến tranh” (MIA).
  2. Mỹ chấp nhận Việt Nam vào LHQ và sẵn sàng lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, cũng như bắt đầu buôn bán với Việt Nam.
  3. Mỹ có thể đóng góp khôi phục tại Việt Nam bằng cách phát triển buôn bán, cung cấp thiết bị và các hình thức hợp tác kinh tế khai thác.

Ngày 3/3/1977 chính quyền Carter quyết định nới lỏng một phần cấm vận đối với ta, cho phép tàu thủy và máy bay nước khác chở hàng sang Việt Nam được ghé các cảng và sân bay của Mỹ để lấy nhiên liệu (nhưng vẫn cấm người Mỹ buôn bán với Việt Nam, cấm tàu Mỹ đến Việt Nam đến cảng và sân bay Mỹ). Ngày 9.3.77, Mỹ cho phép công dân Mỹ được đi thăm Việt Nam, Cu Ba, Bắc Triều Tiên, Campuchia kể từ ngày 18.3.77.

Đến giữa tháng 3 ta nhận tiếp đón Léonard Woodcock, đặc phái viên của tổng thống Mỹ Carter sang Việt Nam. Ngày 17.3.77 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tiếp L. Woodcock và 4 thành viên trong đó có Thượng nghị sĩ Mansfield – tại Chủ tịch phủ ở Hà Nội. Ngày hôm đó, đoàn Mỹ cũng đã đến chào Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh.

Sau chuyến đi thăm mở đường này, hai bên đã thoả thuận mở cuộc đàm phán về bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ tại Paris. Đoàn ta lúc đó do Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền dẫn đầu, thành viên có tôi, vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ, anh Vũ Hoàng, vụ trưởng vụ Lãnh sự và mấy cán bộ vụ Bắc Mỹ: (các) anh Bùi Xuân Ninh, Cương, Hà Huy Tâm, Lê Mai. Anh Lê Mai khi đó là cán bộ vụ Bắc Mỹ, làm phiên dịch cho trưởng đoàn. Sứ quán ta ở Pháp có anh Đỗ Thanh, bí thư thứ nhất, và anh Nguyễn Thiện Căn, tùy viên báo chí, tham gia đoàn. Phía Mỹ do R. Holbrooke làm trưởng đoàn. Cuộc đàm phán diễn ra khá lâu, phải qua 3 vòng đàm phán trong tháng 5, tháng 6 và tháng 12 năm 1977. Địa điểm luân phiên ở đại sứ quán ta và đại sứ quán Mỹ tại Pháp. Trong đàm phán vòng 1 (ngày 3-4.5.77), lập trường của Mỹ là hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ ngay và vô điều kiện, còn những vấn đề khác giữa hai bên để lại giải quyết sau; Mỹ sẽ không cản Việt Nam vào LHQ. Còn về điều 21 (của Hiệp định Paris về VN), Mỹ có khó khăn về pháp luật nên không thực hiện được, hứa sẽ thực hiện khi đã có quan hệ, bỏ cấm vận buôn bán và xét viện trợ nhân đạo. Theo chỉ thị đã nhận trước khi đi, ta kiên quyết đòi phải giải quyết “cả gói”9 3 vấn đề: ta và Mỹ bình thường hoá quan hệ (bao gồm cả việc bỏ cấm vận và lập quan hệ ngoại giao đầy đủ), ta giúp Mỹ giải quyết vấn đề MIA vàMỹ viện trợ 3,2 tỷ đô-la cho Việt Nam như đã hứa hẹn trước đây. Trở ngại lớn nhất cho việc bình thường hoá quan hệ là việc ta đòi Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô-la cho ta vì Quốc hội Mỹ khi đó dứt khoát không chấp nhận viện trợ làm điều kiện cho việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Ngày 2-3.6, đàm phán vòng 2, Mỹ nêu lại các đề nghị hồi tháng 5. Ngày 19.7.77, tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (LHQ), Mỹ quyết định rút bỏ việc phủ quyết Việt Nam vào LHQ. Sau vòng 2, anh Phan Hiền đã phải bay về Hà Nội báo cáo và xin chỉ thị, thực chất là đề nghị trên nên có thái độ thực tế và đối sách mềm dẻo hơn, nhưng nghe nói cả 4 vị lãnh đạo chủ chốt của ta lúc đó đều nhất trí lập trường trên. Trước đòi hỏi kiên quyết của ta, tại vòng 3 (19-20.12.78), Mỹ đề nghị nếu chưa thoả thuận được về việc thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ thì có thể lập Phòng Quyền lợi10 ở thủ đô hai nước, nhưng như vậy thì chưa bỏ cấm vận được. Sau khi có Phòng quyền lợi thì sẽ tuỳ tình hình mà xét bỏ cấm vận, song ta vẫn giữ lập trường cứng nhắc đòi giải quyết “cả gói” 3 vấn đề.

Rõ ràng năm 1977 chính quyền Carter thực sự muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Ngoại trưởng Mỹ C. Vance, ngày 10.1.77 tuyên bố: “ Việc tiến tới bình thường hoá quan hệ Mỹ – Việt nam phù hợp với lợi ích của hai nước” Năm 1977 đã có khả năng thực tế để ta bình thường hoá quan hệ với Mỹ nhưng ta đã bỏ qua.Trong khi đó, theo sự xúi dục của Bắc Kinh, chính quyền Polpot bắt đầu chiến tranh biên giới chống ta từ ngày 30.4.77 và đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao với ta ngày 31.12.77.

Từ đầu năm 1978, quan hệ giữa 3 nước lớn Mỹ-Xô-Trung bắt đầu chuyển từ hình thái đối đầu từng đôi một sang hình thái Mỹ-Trung cấu kết chống Liên Xô, Liên Xô nhân thế yếu của Mỹ sau thảm bại ở Việt Nam ra sức tăng cường ảnh hưởng ở Á – Phi và Mỹ Latinh bằng học thuyết “chủ quyền hạn chế” của Brejnev tại châu Á. Liên Xô đưa quân vào Afghanistan (1979), đồng thời thực hiện chính sách bao vây Trung QuốcViệt Nam cũng bị coi là một mắt xích của vòng vây đó. Đặng Tiểu Bình, cuối tháng 2.79, có nói với các nhà báo ở Bắc Kinh: “Chúng tôi có thể dung thứ việc Liên Xô có 70% ảnh hưởng ở Việt nam, miễn là 30% còn lại dành cho Trung Quốc

Cũng từ năm 1978, Mỹ đẩy nhanh quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc (từ tháng 2.73, khi Kissinger đi thăm Bắc Kinh. Trung Quốc và Mỹ đã ký thoả thuận lập Cơ quan liên lạc ở thủ đô 2 nước với quy chế như một sứ quán). Nước cờ “chơi lá bài Trung Quốc để ngăn chặn Liên Xô” của cố vấn an ninh quốc gia Z.Bzrezinski đã dần dần lấn lướt chủ trương của ngoại trưởng Cyrus Vance và R.Holbrooke là “thúc đẩy song song việc cải thiện quan hệ với Việt Nam và Trung Quốc”. Ngày 23.8.78, trong lúc Mỹ đàm phán về bình thường hoá quan hệ với ta ở Paris, ngoại trưởng Mỹ C.Vance đã đi thăm Bắc Kinh. Cho đến khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Trung Quốc là NATO phương Đông” và “Việt Nam là Cuba phương Đông” (19.5.78) và Bizezinski đi thăm Trung Quốc (20.5.78) thì chính quyền Carter đã chọn con đường bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc và gác sang bên việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam.

Ngày 21.8.78, Quốc hội Mỹ còn cử một đoàn 7 hạ nghị sĩ thuộc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà do hạ nghị sĩ Dân chủ G.V.Montgomery, chủ tịch Uỷ ban POW/MIA, dẫn đầu sang Việt Nam chủ yếu để trao đổi với thứ trưởng Phan Hiền về vấn đề tìm kiếm “người Mỹ mất tích trong chiến tranh” (MIA). Ta đã trao trả cho Mỹ một số bộ hài cốt để tỏ thiện chí hợp tác trong vấn đề MIA. Và theo yêu cầu của họ, tôi đã dẫn đoàn Montgomery đi miền Nam, thăm thánh thất Cao Đài và một trại người Campuchia tị nạn chiến tranh ở biên giới Tây Ninh. Đấy là lần đầu tiên ta cho phép một đoàn Mỹ chính thức thăm thành phố Hồ Chí Minh kể từ khi giải phóng miền Nam.

Sau đó đúng một tháng, tôi sang Nữu-ước để tiếp tục cuộc đàm phán về bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Cuộc đàm phán vòng 4 về bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Mỹ không kéo dài như năm 1977 ở Paris. Lần này trưởng đoàn đàm phán của ta là thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Còn phía Mỹ vẫn là R.Holbrooke. Đến lúc này khi ta quyết định rút bỏ đòi hỏi “Mỹ phải bồi thường chiến tranh – viện trợ 3,2 tỷ đô la mới bình thường hoá quan hệ” và nhận công thức “bình thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ thì đã muộn. Sở dĩ Mỹ tiếp tục đàm phán vấn đề bình thường hoá với ta lúc đó là chỉ nhằm làm Việt Nam chập chững trong quan hệ với Liên Xô và trong vấn đề Campuchia, trong khi đó Mỹ đã chuyển hướng sang phía Trung Quốc. R.Holbrooke nói với ta: “Mỹ coi trọng châu Á; Mỹ cần bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Nhưng Mỹ lo ngại Liên Xô đặt căn cứ ở Cam Ranh.”

Trong khi chờ đợi phía Mỹ trả lời dứt khoát về vấn đề bình thường hoá quan hệ, khoảng hạ tuần tháng 11, anh Thạch về Hà Nội trước; còn tôi vẫn ở lại Nữu-ước để giữ cầu. Ngày 30.11.78, R.Oakley, trợ lý ngoại trưởng Mỹ, trả lời sự thúc dục của tôi, còn nói: “Mỹ không thay đổi lập trường bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, nhưng phải chậm lại vì cần làm rõ 3 vấn đề Campuchia, Hiệp ước Việt-Xô và vấn đề người di tản Việt Nam”. Rồi họ trao cho tôi tấm ảnh toà nhà của sứ quán nguỵ trên đường R. ở Hoa-thịnh-đốn, nói là sẽ trao trả ta toà nhà đó làm trụ sở đại sứ quán, và yêu cầu ta cung cấp sơ đồ ngôi nhà cũ của tổng lãnh sự quán Mỹ tại đường Tràng Thi (?) Hà Nội.

Tôi ở lại Nữu-ước mãi tới cuối tháng 1.79, sau khi ta đưa quân vào Campuchia giúp bạn đánh đuổi Polpot giải phóng Nông-Pênh. Ngày 9.1.79, ngoại trưởng Mý Cyrus Vance nói: “Các cuộc nói chuyện Mỹ – Việt Nam về bình thường hoá đã tan vỡ do cuộc xâm lược Campuchia của Việt Nam”. Tôi nghĩ, thực ra Mỹ đã quyết định dứt bỏ quá trình đàm phán bình thường hoá quan hệ với ta từ khi tham gia khỏi COMECON và ký Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (3.11.78), để bắt tay với Trung Quốc chống Liên Xô ở châu Á – Thái Bình Dương. Ngày 15.12.78, Mỹ và Trung Quốc đã ra thông cáo chung chính thức công nhận nhau và thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 1.1.79. Việc Đặng Tiểu Bình đi thăm Mỹ (29.1 – 4.2.79) đánh dấu việc bình thường hoá quan hệ Mỹ – Trung Quốc, cũng là chính thức xếp lại việc bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Mỹ tới 17 năm sau. Khi ấy tôi còn lưu lại ở Nữu-ước nên được chứng kiến cảnh Hoa kiều Nữu-ước đón Đặng: trong khu người Hoa (Chinatown), dọc một đường phố treo toàn cờ đỏ năm sao11, còn dọc một đường phố song song treo toàn cờ “thanh thiên bạch nhật”12 ! Trong khi gặp Carter ở Hoa-thịnh-đốn. Đặng Tiểu Bình đã tỏ ý sẽ tiến công vào Việt Nam và không gặp phải phản ứng bất lợi nào từ phía Mỹ. Theo Brezinski, trong cuộc hội đàm với Carter hôm 29.1, Đặng yêu cầu có sự cộng tác giữa Mỹ và Trung Quốc để chống Liên Xô. Còn Carter có phần thận trọng hơn, đồng ý cần có những cuộc tham khảo chặt chẽ giữa hai nước để chặn chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô, nhưng thận trọng tránh đề cập tới đề nghị của Đặng. Sau đó, ngày 16.2.79, Carter có nêu 6 nguyên tắc xử sự khi Trung Quốc xâm lăng Việt Nam: Mỹ không can thiệp trực tiếp; khuyến khích các bên tự kiềm chế; Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam; cuộc xung đột không đe doạ lợi ích trước mắt của Mỹ; không đặt lại vấn đề bình thường hoá với Trung Quốc; quyền lợi đồng minh của Mỹ không bị đe doạ. Cũng từ đó, cuộc xung đột Campuchia và quan hệ với Việt Nam đã được đặt trong khuôn khổ của mối quan hệ giữa 3 nước lớn Mỹ-Xô-Trung. Và cũng từ đó Mỹ gắn vấn đề quan hệ Mỹ – Việt Nam với quá trình giải quyết vấn đề Campuchia.

Là nhân chứng lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các hoạt động ngoại giao này với tư cách là vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Bộ Ngoại giao, trực tiếp tham gia đoàn đàm phán về bình thường hoá quan hệ với Mỹ ở Paris năm 1977, rồi ở Nữu-ước năm 1978, tôi thật sự đau xót vị ta đã bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong hoà bình để tập trung phát triển đất nước sau bao năm chiến tranh, lỡ cơ hội san bằng khoảng cách với các nước cùng khu vực. Trong tập hồi ký của mình13, Lý Quang Diệu đã nhận xét: “Năm 1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok. Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm”.

Việc ta từ chối lời đề nghị “bình thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ, làm cao trước việc ASEAN ngỏ ý muốn Việt Nam tham gia tổ chức khu vực này, theo tôiđã đưa lại những hệ quả vô cùng tai hại cho nhân dân và đất nước ta. Liệu Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Polpot khiêu khích ta và có dám đánh ta năm 1979 nếu như Việt Nam sau Chiến thắng 1975 có một chiến lược “thêm bạn bớt thù” thực sự cầu thị hơn ? Việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ và việc gia nhập khối ASEAN mãi ngót 20 năm sau (1995) ta mới thực hiện được một cách khá chật vật.

Theo tôi, tư duy đối ngoại có phần cứng nhắc của ta lúc ấy quả đã không theo kịp bước chuyển biến của chính trị thế giới thể hiện qua sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn sau sự kiện Việt Nam 1975, để dám có những quyết sách linh hoạt kịp thời đem lại lợi ích to lớn lâu dài cho dân tộc ta. Ngược lại, việc ta bỏ lỡ cơ hội bình thường hoá quan hệ với Mỹ lúc này đã khiến Việt Nam gần như đơn độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng.

Còn với Trung Quốc, sau khi có Hiệp định Paris 1973, Trung Quốc có lợi ích duy trì nguyên trạng ở Đông Dương, nhất là việc Việt Nam chia cắt thành hai miền dưới hai chế độ chính trị khác nhau là phù hợp với ý đồ lâu dài của họ ở Đông Nam Á. Sau khi đi thăm Trung Quốc về, thượng nghị sĩ Mỹ K.Mansfield báo cáo trước Quốc hội Mỹ (1.2.75): “Trung Quốc tán thành để hai nước Việt Nam tiếp tục tồn tại. Trung Quốc cho rằng một nước Campuchia thống nhất, trung lập là điều chủ yếu trong một Đông Dương ổn định.”

Từ 1973 đã xảy ra những va chạm ở biên giới Việt-Trung. Năm 1974, Trung Quốc chiếm ngon lành nốt phần còn lại ở quần đảo Hoàng Sa của ta. Có người cho rằng chỉ sau khi ta ngã hẳn theo Liên Xô thì Trung Quốc mới chống ta. Song sự thật là các hoạt động thù địch của Trung Quốc đối với Việt Nam đã xảy ra từ trước khi Việt Nam tham gia khối SEV (tháng 6.78) và ký Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (tháng 11.78). Tháng 12.75, sau khi thăm Trung Quốc qua Paris, H.Kissinger nói: “Mỹ đang tính toán việc sử dụng Trung Quốc để hạn chế ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực.”

Nét đặc trưng của giai đoạn 1975-1978 là Campuchia trở thành tiêu điểm của sự đối đầu giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Việt Nam được Liên Xô ủng hộ. Sự đối đầu ấy trở thành xung đột quân sự ngay từ tháng 5.75 và phát triển lên thành cuộc chiến tranh biên giới Tây-Nam nước ta. Trong khi trả lời phỏng vấn, ngày 8.1.78, Z. Brezinski, cố vấn an ninh của tổng thống Mỹ, đã nhận định: “Điều lý thú đây là trường hợp đầu tiên của một cuộc chiến tranh qua tay người khác14giữa Liên Xô và Trung Quốc: xung đột giữa Việt Nam được Liên Xô ủng hộ và Campuchia được Trung Quốc ủng hộ.”

Như vậy chỉ hơn 4 năm sau khi giải phóng được đất nước, ta lại bị xô đẩy vào cuộc chiến thảm khốc ở Campuchia, đối đầu ngay với Trung Quốc, kẻ đã từng là đồng minh chiến lược của ta trong 30 năm chiến đấu chống xâm lược phương Tây. Sau hai cuộc kháng chiến gian khổ, dân ta mới chỉ được hưởng mùi vị của chiến thắng và hoà bình êm ả chưa đầy 5 năm. Vết thương chiến tranh chưa lành thì đã lâm vào cảnh nửa hoà bình nửa chiến tranh. Chiến tranh chống Mỹ tuy gian khổ khốc liệt song Việt Nam còn có được mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ, còn trong cuộc chiến đấu chống diệt chủng Polpot thì Việt Nam hầu như hoàn toàn cô lập. Các nước cùng khu vực lo sợ Việt Nam sau khi “hạ xong” Campuchia sẽ phát huy sức mạnh quân sự ra cả Đông Nam Á. Còn Trung Quốc ra sức vu khống “Việt Nam xâm lược Campuchia” và có mưu đồ lập “Liên bang Đông Dương” để làm chủ cả Lào lẫn Campuchia, xoá mờ tính chất “chống diệt chủng” của việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia.

Cùng thời gian này, do những khó khăn kinh tế – xã hội chồng chất của thời kỳ chiến tranh chưa được tháo gỡ, lại bị bao vây cấm vận bên ngoài nên trong nước đã nảy sinh ra tình trạng “vượt biên” trốn ra nước ngoài của một bộ phận dân chúng ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, tạo thêm gánh nặng về đối ngoại cho ta, bôi đen thêm hình ảnh Việt Nam trên quốc tế. Vấn đề Campuchia và vấn đề “thuyền nhân”15 lúc đó quả là gánh nặng trên mặt trận đối ngoại của ta trong thập niên 80 của thế kỷ 20.

Nửa cuối của thập kỷ 70 này là thời gian ta chồng chất nhiều sai lầm về đối ngoại nhất trong suốt lịch sử dựng nước sau cách mạng (từ 1945 đến nay):

  • Ta không khôn ngoan duy trì quan hệ cân bằng với Trung Quốc và Liên Xô, nhân tố cực kỳ quan trọng đảm bảo thắng lợi của ta trong kháng chiến chống Mỹ.
  • Bỏ lỡ cơ hội bình thường hoá quan hệ với Mỹ, năm 1977, khi chính quyền Carter đã chủ động đề nghị hai bên bình thường hoá quan hệkhông điều kiện.
  • Đánh giá sai và không gia nhập khối ASEAN ngay từ 1976 khi cả 6 nước này đều mong muốn ta tham gia vì lợi ích của mỗi một quốc gia và của chung khu vực.
  • Dính líu quá sâu và quá lâu vào vấn đề Campuchia.

Những sai lầm này có hệ quả liên quan chặt chẽ với nhau, gây thiệt hại lớn cho ta về đối ngoại về an ninh-quốc phòng, về phát triển kinh tế trong một thời gian dài

———-

2 Pentagone Papers

3 proceed on this basis in any relations between the two sides

4 Prisoner of War/Missing in Action

5 “I believe that the interests of peace and security will benefit from placing the past behind us and developing the basis for a new relationship between our two countries

6 selective application of past agreements

7 full accounting

8 substantially

9 package deal

10 Interest section

11 Cờ CHND Trung hoa (BT)

12 Cờ Trung hoa Dân quốc – Đài loan (BT)

13 From Third world to First – Từ thế giới thứ Ba đến thế giới thứ Nhất

14 Proxy War

15 boat people

(*) Trần Quang Cơ: QTXM Ông Trần Quang Cơ nguyên Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Việt Nam. Trần Quang Cơ vừa qua đời tối hôm thứ Năm 25/6 ở tuổi 89.Lễ tang ông sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, sáng ngày 1/7. Ông Cơ là người từng khước từ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao mà Đảng Cộng sản Việt Nam sắp đặt sau khi Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch bị buộc phải ra đi dưới áp lực của Trung Quốc năm 1991. Ông Trần Quang Cơ sinh năm 1927 tại Nam Định, làm ngoại giao từ 1954 tới khi về hưu năm 1997. Có thể nói ông là một trong các nhà ngoại giao lão luyện nhất của Việt Nam, từng kinh qua các chức vụ như Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao. Ông vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ năm 1986. QTXM xin giới thiệu cuốn hồi  ký của ông Trần Quang Cơ, cuốn hồi ký có giá trị cảnh báo nguy cơ Việt Nam rơi vào thời kỳ Bắc thuộc mới.

(**) Theo : Quà tặng xứ mưa;  Nguồn BBC- nhà báo Lê Quang Vinh cung cấp.
Hồi ức và suy nghĩ , Trần Quang Cơ

TranQuangCo

ÔNG TRẦN QUANG CƠ QUA ĐỜI

BBC 28 tháng 6 2015

Ông Trần Quang Cơ trong một cuộc tiếp xúc với chuyên gia Liên Xô (ảnh của báo Quân đội Nhân dân)

Nguyên thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ vừa qua đời tối hôm thứ Năm 25/6 ở tuổi 89.

Lễ tang ông sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, sáng ngày 1/7.

Ông Cơ là người từng khước từ chức bộ trưởng ngoại giao mà Đảng Cộng sản Việt Nam sắp đặt sau khi Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch bị buộc phải ra đi dưới áp lực của Trung Quốc năm 1991.

Ông Trần Quang Cơ sinh năm 1927 tại Nam Định, làm ngoại giao từ 1954 tới khi về hưu năm 1997.

Có thể nói ông là một trong các nhà ngoại giao lão luyện nhất của Việt Nam, từng kinh qua các chức vụ như Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao.

Ông vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN từ năm 1986.

Trong suốt 12 năm kể từ 1979, ông Trần Quang Cơ tham gia các cuộc thương lượng nhằm giải quyết vấn đề Campuchia.

Ông cũng tham gia tiến trình đàm phán bình thường hóa quan hệ với các nước lớn Hoa Kỳ, Liên Xô, và Trung Quốc.

‘Hồi ức và Suy nghĩ’

Năm 2001 ông cho ra cuốn hồi ký mang tựa đề ‘Hồi ức và Suy nghĩ’ gây tiếng vang vì đụng chạm tới những vấn đề vẫn được giữ kín về chính trị nội bộ và quan hệ với các nước lớn trong đó có Trung Quốc.

Đánh giá về ông, cựu đại sứ Nguyễn Ngọc Trường nói: ” Ông Cơ là một nhà ngoại giao lão luyện, có tầm nhìn chiến lược”.

‘ Tình hình quan hệ chiến lược giữa ba nước lớn bất lợi cho Việt Nam’ – trên ảnh là Richard Nixon và bản đồ Đông Dương

“Ông có chính kiến, độc lập, đặc biệt là không tán thành cách tiếp cận cơ hội với Trung Quốc như một số nhân vật cấp cao thời bấy giờ.”

Sau khi từ chối chức Bộ trưởng Ngoại giao năm 1991 vì cho rằng không thể làm việc khi một số nhân vật cao cấp trong dàn lãnh đạo Việt Nam lúc đó quá ngả về phía Trung Quốc, cuối năm 1993, ở Hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông Trần Quang Cơ cũng tự xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN.

Theo ông Nguyễn Ngọc Trường, “có thể xem ông Cơ như một nhà nho hiện đại, biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng nhưng có lẽ không biết biến…”

“Các phẩm chất ấy không phải ai cũng có. Đó là nhân cách lớn của Trần Quang Cơ.”

Trong cuộc phỏng vấn với BBC nhân dịp 30 năm cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, ông Trần Quang Cơ đã bình luận rằng căn nguyên (của cuộc chiến Việt – Trung) là xung quanh vấn đề quyền lợi nước lớn, liên quan tới vấn đề Đông Dương.

Ông nói: “Các nước lớn họ có tính toán của riêng họ, nhưng tình hình quan hệ chiến lược giữa ba nước lớn bất lợi cho Việt Nam”.

“Tôi thấy điều mình có thể làm khác, là phải đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế sớm. Trước Đại hội Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã quá phụ thuộc vào ý thức hệ mà không đa phương hóa được quan hệ.”

Thời kỳ vô cùng khó khăn của ngoại giao Việt Nam này đã được phản ánh trong cuốn hồi ký Trần Quang Cơ, với những chi tiết như về Hội nghị Thành Đô 1990 cho thấy “các giới hạn của môt thời kỳ lịch sử, cái khó của đất nước đứng cạnh Trung Quốc và chịu sức ép của Trung Quốc”, theo Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Trường.

Ông Trường nói với BBC: “Cuốn hồi ký thể hiện tính khách quan, không phải là chống Tàu, mà là ‘thân Việt'”.

“Chính vì vậy mà nhân dân biết đến ông và tôn trọng ông.”

Tin đọc nhiều nhất
Hai nhạc sĩ cách mạng VN qua đời
Khí phách Trần Quang Cơ (BBC, TS Đinh Hoàng Thắng)
Việt – Mỹ và chuyến thăm của TBT Trọng (BBC)


RẤT NHỎ VÀ RẤT LỚN

GS. Tương Lai

RẤT NHỎ  thì như đảo quốc Singapore. Diện tích chỉ cỡ huyện Cần Giờ của TP HCM, với dân số hơn 5,2 triệu người. Thế nhưng bình quân thu nhập tính trên đầu người của họ thì gấp 30 lần nước ta. Người ta đưa ra một con số thật chua chát rằng nếu họ cứ “kiên trì” đứng yên tại chỗ như ta kiên trì lập trường xã hội chủ nghĩa thì cũng phải 158 năm nữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ta mới đuổi kịp họ!

Nhưng đâu chỉ thu nhập đầu người! Nước có thu nhập đứng thứ ba thế giới này cũng là nước được xếp hạng cao trên các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và đặc biệt là sự minh bạch của guồng máy quản lý và tính cạnh tranh kinh tế! Vậy mà vào trước sau 1975, bình quân thu nhập của người dân quốc đảo này cũng thấp như dân mình buổi ấy!

Dõi theo lễ khai mạc rồi lễ bế mạc SEA Games do Singapore đăng cai mà báo chí trong, ngoài nước đều đồng thanh tán thưởng đây là kỳ SEA Games thành công nhất trong lịch sử những ngày hội thể thao các nước Đông Nam Á từng tổ chức, càng cảm phục đất nước của ông Lý Quang Diệu. Những người tham dự ngày hội thể thao này phải thốt lên hai tiếng “siêu việt” về trình độ tổ chức của nước chủ nhà. Không chỉ về ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ cao mà thời đại đạt được, họ còn chu đáo đến từng chi tiết, thể hiện được bản sắc văn hoá trong những ứng xử nhuần nhuyễn và tế nhị.

Thật xúc động nghe phóng viên tác nghiệp tại Singapore nhắc đến một chi tiết: khi Ánh Viên vừa chạm đích thì đã nghe một giai điệu Việt Nam được tấu lên. Động thái tuyệt vời thể hiện được cái tầm văn hoá của người tổ chức được thực hiện đối với tất cả các vận động viên phá kỷ lục hoặc cán đích đầu tiên với bài hát quen thuộc của nước mình! Họ chu đáo từ các giải pháp vĩ mô với những sự việc ấn tượng như đặt máy điều hoà, mái che sân vận động cũng đồng thời là màn hình tivi… cho đến việc nhỏ như cái tăm xỉa răng được cẩn thận cài vào suất ăn của vận động viên Việt Nam.

Tại sao họ làm được vậy? Chẳng thấy họ nói đến một cái “kim chỉ nam” nào cả! Phải chăng vì họ không nô lệ sao chép và làm theo ai cả. Họ biết tiếp nhận một cách sáng tạo những thành tựu văn minh của thế giới, đồng thời biết khôn ngoan ứng xử với thế giới. Đảo quốc bé nhỏ này biết kết bạn với ai và cảnh giác với ai từ vị thế một nước nhỏ, rất nhỏ. Trong cái guồng máy tàn khốc “cá lớn nuốt cá bé”, nhất là khi quốc đảo này nằm trong đường cắt khúc 9 đoạn của cái lưỡi bò ghê tởm siêu cường Đại Hán đang thè ra định liếm trọn Biển Đông, họ biết cách làm thế nào để mình không bị nuốt.

Đó là, như lời ông Lý Quang Diệu, phải biết cách trở thành con cá bé rất độc mà cá lớn nuốt vào thì chết liền! Thế rồi, từ vai trò của một hải cảng trung chuyển họ trở thành một quốc gia có một vị trí quốc tế hấp dẫn. Vì thế mà nước họ rất nhỏ nhưng sức hấp dẫn của đảo quốc này thật đáng nể trong cái nhìn đầy thiện cảm của thế giới.

RẤT LỚN. Điều này thì ngược hẳn với cái nhìn của khu vực và thế giới đối với một nước lớn, rất lớn với số dân hơn tỷ người đang nuôi mộng siêu cường. Nhưng là “siêu cường cưỡng bức” quen thói hung đồ như nhận định của nhật báo Le Monde của Pháp trong bài phân tích mang tựa đề Trung Quốc, siêu cường cưỡng bức.

Tác giả của bài báo lưu ý: Sự tích cực xúc tiến “mô hình Trung Quốc và nâng cao năng lực kinh tế là cơ sở cho một sự đô hộ mới. Và như vậy thì thế giới cần phải cân nhắc trước vai trò siêu cường Trung Quốc tương lai, cho một thế giới tốt đẹp hơn hoặc tệ hại đi khi Tập Cận Bình đeo đuổi tham vọng làm cho số phận của các quốc gia mới nổi dậy và thịnh vượng ở châu Á đang ngày càng tăng lên phải lệ thuộc vào Trung Quốc với tư cách đại cường. Một thứ đại cường “mang màu sắc Trung Quốc” mà điểm then chốt là duy trì quyền hành độc đảng.

Nhà nước độc đảng này chưa bao giờ đặt ra câu hỏi về giới hạn pháp luật và đạo đức cho hành động của họ. Bắc Kinh chỉ quan tâm đến kết quả, từ việc quản thúc các nhà tranh đấu, ngăn cản các nhà báo làm việc cho đến đóng cửa nhiều tổ chức phi chính phủ. Phân tích về hậu quả của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc với tính chất toàn trị của chế độ này, Le Monde dẫn lời cựu Thủ tướng Úc Kevin Rudd, “hy vọng về dân chủ hóa Trung Quốc nhờ sự trỗi dậy của giai cấp trung lưu và toàn cầu hóa chỉ là hoang tưởng. Tập Cận Bình không cảm thấy rằng khi vừa dấn sâu vào cải cách thị trường để đạt được mục tiêu, đồng thời áp đặt thêm những hạn chế về tự do chính trị cá nhân, là một nghịch lý. Trên thực tế, ông ta còn coi đây là tinh túy của “mô hình Trung Hoa” trước tự do dân chủ phương Tây mà Tập cho là hoàn toàn không thích hợp. Vì vậy phải bằng mọi giá để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa theo kiểu Trung Quốc, có nghĩa là duy trì quyền hành độc đảng.

Mục tiêu tối thượng này định ra các hành động của chế độ Bắc Kinh trong đối nội cũng như đối ngoại. Hai cột trụ cho tính chính danh của Đảng Cộng sản Trung Quốc là dân tộc chủ nghĩa cực đoan với một Trung Quốc bất di bất dịch trong vấn đề chủ quyền và phát triển kinh tế được tăng cường với việc bành trướng ra khỏi biên giới về mọi phương diện. Để đạt mục tiêu đó, Trung Quốc bất chấp luật pháp và đạo đức.

Chiến dịch thanh toán đối thủ, một chiêu bài dễ tranh thủ được công luận, đã và đang diễn ra tàn khốc. Cuộc “đả hổ diệt ruồi” của Tập đã phơi bày trước thế giới sự thối nát đến tận gốc khi mà những kẻ mới hôm nao còn lừng lẫy trên cái quyền uy tối thượng của Đảng Cộng sản và của Nhà nước, những người được quy định trong bộ luật bất thành văn là không được chạm tới các “ông cốp” như cỡ Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, thì nay đang hiện lên mặt báo như là những tội đồ lịch sử.

Chẳng hạn như Chu Vĩnh Khang với những chứng cứ về các tội tham nhũng cực lớn, sống đồi trụy với nhiều cô nhân tình, nghi án giết vợ, đặc biệt là vụ âm mưu chính biến chống Tập Cận Bình… đã bị phanh phui. Nhưng đâu chỉ có Chu. Tạp chí Động Hướng phân tích rằng vây cánh của Chu cũng chính là vây cánh của Giang ở Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Thượng Hải, Giang Tô. Phanh phui thế lực của Chu Vĩnh Khang đã giáng một đòn chí tử vào Giang Trạch Dân. Đến lượt Giang, từng là Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước, cha đẻ của thuyết “ba đại diện” từng một thời soi đường chỉ lối cho Đảng và là “kim chỉ nam” cho dân tộc Trung Hoa cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI được hiện nguyên hình là một kẻ có cuộc sống truỵ lạc và tham nhũng. Nhưng tội lớn nhất là định lật đổ Tập Cận Bình. Chuyện này cũng chẳng có gì lạ.

Thanh toán một cách đẫm máu và tàn khốc đối với những người vừa hôm qua còn là đồng chí tin cậy cùng chung lý tưởng, cùng tôn thờ một ý thức hệ thì như cơm bữa ở cái quốc gia xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc này! Mao thanh toán Lưu Thiếu Kỳ là một ví dụ quá điển hình. Tiếp đó các nguyên lão của Đảng Cộng sản lật đổ “bè lũ bốn tên” trong đó có vợ Mao. Rồi cứ thế triền miên những cuộc thanh toán đẫm máu để tranh giành quyền lực trong giới chóp bu ở Trung Nam Hải nhầy nhụa “màu sắc Trung Quốc” cho đến thời Đặng, Giang, Hồ. Tập hiện nay. Nhưng man rợ và ghê tởm nhất của Giang và cả của Tập là tội ác thảm sát, tiêu diệt Pháp luân công và mổ cướp nội tạng của nạn nhân đang còn sống.

Cuốn sách Bloody Harvest (Thu hoạch đẫm máu) của David Matas David Kilgour ước tính rằng mỗi năm có 8.000 học viên bị giết bởi thu hoạch nội tạng sống. Sự kiện này đã làm kinh động công luận khắp thế giới. Quốc hội Mỹ đã phải thông qua Nghị quyết 281 lên án việc mổ cướp tạng sống. Nghị sĩ Ileana Ros-Lehtinen, người đảm nhiệm Nghị quyết 281, cho biết có một lượng lớn các bằng chứng cho thấy việc buôn bán các nội tạng được thu hoạch cưỡng bức, và tội ác cực kỳ ghê tởm này phải chấm dứt. Luật sư Han Zhiguang viết: “Thu hoạch nội tạng sống là một tội ác mà một số người không thể tin nổi vì đã không tận mắt chứng kiến; tôi khó có thể tin rằng tội ác này thực sự tồn tại bởi vì nó quá tàn nhẫn và khiến bất cứ ai cũng phẫn nộ”.

Dana Rohrabacher, nghị sĩ Quốc hội Mỹ, Chủ tịch của Tiểu ban Giám sát và Điều tra, thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ nói: “Sự tha hóa đạo đức đến mức mổ cưỡng bức lấy tạng nạn nhân để bán là một hiện tượng chưa từng có… Tập Cận Bình lo ngại sự sụp đổ của chính quyền Trung Quốc khi toàn dân và thế giới biết sự thật nên đã tiếp tục im lặng và tội ác vẫn đang tiếp diễn. Thật quá bi hài khi tội ác giết người mổ nội tạng, tra tấn dã man được xem là “tuyệt mật quốc gia””.

Thật ra thì chuyện mổ thi thể người sống để cướp nội tạng không là chuyện lạ ở nước Tàu, chỉ có điều là nó chưa trở thành “tuyệt mật quốc gia” như thời Tập hôm nay. Người Việt đọc sách Tàu chắc không quên chuyện thời Đông Chu, Dịch Nha giết con trai lên ba để xào cho Tề Hoàn Công ăn khi nghe vua nói các giống điểu, thú, trùng, ngư đã nếm đủ, chỉ còn thiếu vị thịt người là chưa biết. Giới Tử Thôi cắt thịt đùi của mình nấu cháo cho Tấn Văn Công khi còn phải tha phương lánh nạn! Đấy là chuyện xưa. Vào thế kỷ XX, văn hào Lỗ Tấn quyết liệt phơi lên sách báo thời hiện đại vấn nạn khủng khiếp này để đánh thức lương tri người Trung Hoa. Trong Nhật ký người điên viết vào tháng 1 năm 1918, qua nhân vật Nguỵ Liên Thù, ngòi bút của ông rỉ máu: “Cổ lai, việc ăn thịt người thường lắm, mình cũng còn nhớ, nhưng không được thật rõ. Liền giở lịch sử ra tra cứu thử. Lịch sử không đề niên đại, có điều trang nào cũng có mấy chữ nhân, nghĩa, đạo đức viết lung tung tí mẹt. Trằn trọc không sao ngủ được, đành cầm đọc thật kỹ, mãi đến khuya mới thấy từ đầu chí cuối, ở giữa các hàng, ba chữ: “Ăn thịt người. … Không thể nghĩ được nữa… Bây giờ mới biết mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”.

Mà đâu chỉ Lỗ Tấn, Mạc Ngôn, người vừa được giải Nobel văn chương trong thế kỷ XXI này, tiếp tục đưa món thịt người mang “đặc sắc Trung Quốc” vào văn chương của mình trong nỗi ám ảnh khủng khiếp về người ăn thịt người của nền văn minh Trung Hoa.
Năm 1992, vợ chồng ký giả Nicholas D. Kristof và Sheryl Wudunn của tờ New York Times tìm được một số hồ sơ tiết lộ chi tiết về những vụ ăn thịt người tập thể trong giai đoạn Đại Cách mạng Văn hóa tại một số khu vực ở tỉnh Quảng Tây hồi cuối thập niên 60. Theo những tài liệu kể trên, đã có ít nhất 137 người đã bị ăn thịt, mỗi nạn nhân bị cả chục người cùng ăn. Hầu hết những người liên quan đến việc ăn thịt người tại tỉnh Quảng Tây chỉ bị phạt nhẹ sau khi kết thúc Đại Cách mạng Văn hóa.
Xin dừng lại thôi. Tiếp tục phơi bày chuyện “rất lớn” của “người đồng chí cùng chung ý thức hệ” (…) thì hãi quá.

Mà “hãi quá hoá lú” thì còn “mênh mông thế sự” thế quái nào được nữa!

T. L.

( Nguồn: BVN)

KỸ NĂNG SỐNG TÍNH NHÂN HẬU  BÙI HUY ĐÁP

GS. AHLĐ Nguyễn Văn Luật

Tôi xin kể lại những điều tôi trực tiếp cảm nhận mà không suy luận phát triển gì về thầy Đáp. Thầy để lại trong tôi ấn tượng về kỹ năng sống và tính nhân hậu tốt đẹp. Tôi gắng kể lại một số mẩu chuyện một cách minh triết, nhưng thời gian cách đây khá xa, nên có thể có một số chi tiết không nhớ rõ.

Trong đời thường thời chiến

Thỉnh thoảng tôi được đi công tác bằng xe ô tô commanca đít tròn với Thầy về Nam Hà. Thái Bình, Phú Thọ.. Thường đi ban đêm, đèn gầm. Nhiều lần địch vừa bắn phá bỏ bom, Thầy vẫn cho xe qua. Đây đó còn người chết nằm đắp chiếu, có thắp mấy nén nhanh trên đầu. Một tối nọ qua cầu Bo tỉnh Thái Bình, xe đến gần đầu cầu, Thầy nói xe dừng lại, chỉ ra phía trước bảo chúng tôi, hay tôi và lái xe,  xuống xe giúp bà cụ đang gánh qua cầu một cách khó khăn. Mấy xe trước đi vọt qua vì sợ máy bay quay lại đánh phá. Cũng tương tự vậy, có lần xe qua một tốp phụ nữ, trong đó có người chửa bụng to kềnh càng, trong Nam gọi là bà bầu bụng to trà bá, Thầy nói tài xế bóp còi từ xa và đi nhè nhẹ để họ khỏi giật mình. Trong mỗi dịp đó, Thầy đều giảng giải cho chúng tôi cần đối xử tế nhị với người lao động vất vả, với phụ nữ trẻ em yếu đuối, những điều mà trước đây tôi nghĩ lầm rằng Thầy không màng tới.

Một trí nhớ tuyệt vời và “tích – tán” thông minh.

Chỉ trong những dịp theo Thầy đi công tác Thầy mới có nhiều thời gian kể cho chúng tôi nhiều chuyện Thầy mới gặp, hoặc những truyển dài như Thủy Hử, Tây Du ký, Tam quốc,.. và nhất là Truyện Kiều của Đại Thi hào Nguyễn Du; hầu như Thầy thuộc làu làu, Thầy đọc từng đoạn nói về gì, tả cái gì, và Thầy có nhận xét. Tôi có  bạn hàng ngày không đọc dưới 100 trang sách, nhiều năm liền như thế, nhưng có lẽ chỉ “tích” mà không thấy ”tán” gì cả. Trường hợp Thấy Đáp thì ngược lại đấy nhé! Hoặc “tán” ngay những chuyện mới gặp, hoặc những truyện về hàng trăm năm, hàng ngàn năm trước.

Một hôm Thầy kể: Hôm qua được dự  họp  Chính phủ có Cụ Hồ chủ trì, ta được làm thư ký, Trên mỗi bàn họp có cả đĩa bánh bích quy thơm ngon. Nhiều người e dè; còn ta cứ lấy chén thỏa mái lúc không phải ghi chép gì. Bỗng Ông Cụ chỉ vào ta gọi :”Chú kia, ăn hết miếng bánh vỡ trước” Ta ngượng tái người, Ông Cụ cười nói, dù ăn hết cả đĩa cũng được, nhưng còn là phải còn bánh nguyên cho những người lao động tận dụng!.

Có một chuyện khá lạ là Đại tướng Lưu Á Châu bên Tàu thời nay có nhận xét về những mặt trái của nhân vật được thần thánh hóa như Lưu Bị, Gia Cát Lượng, hoặc bị công luận chê bai như Tào Tháo. Thì trước đấy khoảng nửa thế kỷ, lúc đó Lưu Á Châu chắc chỉ là anh lính hoặc sỹ quan quèn (nay lên Đại tướng mới về hưu), thầy Đáp của chúng ta đã có nhận xét tương tự: Trung Quốc không có nhà chiến lược, chỉ có nhà mưu kế như Gia Cát Lượng, vì Lượng chỉ hạn chế ở mức mưu lược,  nên cuối cùng thất bại thảm hại; Tào Tháo phải được đánh giá hơn Lưu Bị, vì nếu như Lưu Bị tham quyền cố vị thì đã cướp ngôi vua rồi; Trương Phi hơn Quan Công, vì Quan Công thì có lúc hàng giặc, Trương Phi thì không bao giờ.

Ứng xử xã hội

Thầy Đáp có khá nhiều kinh nghiệm ứng xử xã hội. Thầy không có nói với chúng tôi phải làm thế này thế nọ, mà ngồi nghe Thầy làm việc với địa phương, với cấp trên, rồi tự rút kinh nghiệm; hoặc phải suy ngẫm về những điều Thầy nói tự nhiên, có khi như là bâng quơ mà tới nay dân chủ cởi mở hơn mới hiểu. Xin cụ thể vài việc:

–  Thầy nhắc nhở chúng tôi phải coi trọng  thực tế, lấy thực tế là thước đo. Khi báo cáo khoa học kỹ thuật cũng như báo cáo với các đoàn về tham quan, nhất là báo cáo với lãnh đạo Thái Bình, phải nhớ vai trò của nông dân, của lãnh đạo huyện, xã, HTX, quên mình đi. Quả vậy, nói thế tổ công tác của chúng tôi càng được đề cao, càng ‘không bị quên’. Về sau làm việc với lãnh đạo địa phương càng dễ dàng.

Trong giao tiếp, cái gì mình không đồng ý thì đừng có phản bác ngay. Đấy là lời Thầy khuyên bảo. Phải tìm điều đồng thuận mà tỏ ý đồng tình, rồi hãy nêu ý của mình vào lúc thích hợp. Có lần, hình như Thầy mới gặp chuyện gì làm Thầy bực mình, nói với tôi: khi người ta bảo mầu này là mầu đỏ, dù thực tế là mầu đen thì cũng đừng cãi lại, nếu bị hỏi dồn, thì cũng đừng nói “đỏ” mà bị kết luận “ăn theo nói leo”, nếu cần thì đành phải nói màu này có thể giông giống mầu đám mây hồng mơ hồ ở xa xa kia. Một lần khác, cũng trong trạng thái bực bội, Thầy nói với tôi là lần trước ta có làm việc với một  chuyên gia tốt nghiệp ở nước ngoài, anh ta có nói cháu sẽ làm đúng như chú dậy bảo; đến lần này, ta hỏi lại, thì anh ta chưa làm gì cả. Cả hai lần, nói xong như trút được nỗi bực dọc, Thầy không nói gì nữa. Tôi cũng chẳng dám hỏi. Đến nay, tôi dần dần hiểu ra.

Kỹ năng nói chuyện, báo cáo, giảng dạy

Tôi nhận thấy kỹ năng tuyệt đỉnh của thầy Đáp đã thể hiện cả trong ba loại công việc rất khác nhau: nói chuyện thông thường; báo cáo khoa học và giảng dậy từ đại học đến khuyến nông. Nhiều khi Thầy đã làm giảm tối đa sự ngăn cách giữa thầy và trò; giữa người nói và người nghe, giảm tối đa rào cản tri thức, kinh nghiệm của thầy tới trò, tới người nghe là nông dân và cán bộ kỹ thuật địa phương

Làm tăng được tính hấp dẫn  của bài giảng, nội dung nói chuyện, Thầy Đáp đã làm được điều trên thật tài tình, trên cơ sở tri thức uyên thâm, kinh nghiệm thực tế sâu rộng, và trí nhớ tốt.  Xin kể lại vài chuyện:

Một hôm Thầy vừa vào lớp học là nhẩy phắt lên bàn, hai bàn chân xoa xoa rồi đập, Thầy nói hôm vừa rồi ta đi về xã Bộ Lĩnh thuộc vùng bạc màu Phúc Yên, bà con nông dân vùng này đi làm đồng về chỉ cần ba lần hai bàn chân xoa nhau, một lần đập là sạch bóng, lên giường đi ngủ được, nên vùng này còn được gọi là vùng đất “Ba xoa một đập”. Thầy bắt đầu giảng về đất nhẹ đất nặng và canh tác trên những loại đất ấy khác nhau thế nào. Một hôm khác, Thầy vào lớp, đứng nhìn chúng tôi một lúc, chúng tôi đứa nào đứa ấy sợ Thầy bắt lấy giấy ra kiểm tra nhanh như lần Thầy kiểm tra mà hầu hết chúng tôi được 1 điểm như đã kể trên. Như đoán được nỗi lo sợ đó, Thầy vui vẻ nói hôm nay không kiểm tra. Thầy trò cùng cười vui vẻ rồi mới vào bài học. Thầy còn nói khi các em giao tiếp với đối tác mà cùng cười thế này là dễ thành công đấy.

Thầy rất quan tâm thu thập những kinh nghiệm sản xuất, những ca dao, phương ngôn,  tục ngữ chứa đưng và giữ gìn kinh nghiệm,  và chuyển tải tới những thế hệ sau. Thầy đã lồng ghép vào bài giảng một cách hợp lý, làm cho buổi học sinh  động. Vài ví dụ:

Tua rua thì mặc tua rua.
Nạ dòng mắn đẻ sao anh hững hờ!

“Hỡi em ơi, cha mẹ em đâu,
mà em cứ  phải  chổng phao câu lên trời!”

“Hỡi anh ơi, đông  hạ nhị kỳ,
em mà không chổng thì lấy gì anh xơi!”

Thay lời kết

Thầy Đáp đã làm được nhiều việc đóng góp vào sự phát triển nền nông nghiệp nước nhà có hiệu quả cao. Việc nổi trội nhất là “Tầm nhìn vụ lúa xuân” ở miền Bắc. Đảng và Nhà nước đã ưu ái phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh ngay trong đợt đầu. Nhiều việc Thầy làm như phong cách làm việc quên mình, bám sát thực tế sản xuất và đời sống của nông dân, thông cảm sâu sắc với người lao động, đã tạo nên tập quán, nền nếp, tấm gương  Nhiều giải pháp kỹ thuật mà Thầy đề xuất đã được chấp nhận như trong nhiều bài viết của Thầy khi Thầy làm Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp.

Tôi xin đề nghị cơ quan chức năng liên quan xem xét và làm những thủ tục cần thiết để đề nghị Nhà nước truy tặng thầy Bùi Huy Đáp danh hiệu Anh hùng Lao động thời chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

GSTS Nguyễn Văn Luật

Trang phây buc lúc nào cũng đẹp !
NguyenThuPhuong

Nguyễn Thu Phương nhiều hình ảnh đẹp!

Video yêu thích


Ban Mai
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Advertisements

34 thoughts on “Ngày mới yêu thương

  1. Pingback: Đêm nhớ Phan Huỳnh Điểu Phan Nhân | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Quà tặng cuộc sống | Khát khao xanh

  3. Pingback: Quà tặng cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Biển Đông vạn dặm | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Đọc lại và suy ngẫm 2 | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Lộc xuân cuộc đời | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Bà Đen Tây Ninh Bà Đen Đồng Nai | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Trần Thánh Tông | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Chào ngày mới 8 tháng 7 | Tình yêu cuộc sống

  10. Pingback: Chào ngày mới 8 tháng 7 | CNM365

  11. Pingback: Đợi mưa | Khát khao xanh

  12. Pingback: Ngày mới yêu thương | Tình yêu cuộc sống

  13. Pingback: Đợi mưa | Tình yêu cuộc sống

  14. Pingback: Tháng Bảy mưa Ngâu | Tình yêu cuộc sống

  15. Pingback: Tiếng Anh cho em | Tình yêu cuộc sống

  16. Pingback: Khoảnh khắc tuyệt đẹp | Khát khao xanh

  17. Pingback: Khoảnh khắc tuyệt đẹp | Tình yêu cuộc sống

  18. Pingback: Giấc mơ tình yêu cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  19. Pingback: Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Mạc triều trong sử Việt | Tình yêu cuộc sống

  21. Pingback: Đến với bài thơ hay | Khát khao xanh

  22. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 7 | Tình yêu cuộc sống

  23. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 7 | CNM365

  24. Pingback: Từ Mekong nhớ Neva | Tình yêu cuộc sống

  25. Pingback: Lớp học trên đồng Đăk Glong Oxfam | Tình yêu cuộc sống

  26. Pingback: Thăm Borlaug và Hemingway ở CIANO | Tình yêu cuộc sống

  27. Pingback: Khoảnh khắc thiên thu | Khát khao xanh

  28. Pingback: Năm tháng đó là em | Tình yêu cuộc sống

  29. Pingback: Mảnh đạn trong người | Tình yêu cuộc sống

  30. Pingback: Mảnh đạn trong người | Tình yêu cuộc sống

  31. Pingback: Lê Phụng Hiểu truyện hay nhớ mãi | Tình yêu cuộc sống

  32. Pingback: Henry Ford và Thượng Đế | Tình yêu cuộc sống

  33. Pingback: Rằm Xuân Hà Nội | Tình yêu cuộc sống

  34. Pingback: Khổng Tử đọc lại và suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s