Helen Keller người mù điếc huyền thoại

HelenKeller
Helen Keller
(27 tháng 6 năm 1880 – 1 tháng 6 năm 1968) là nữ văn sĩ, nhà hoạt động xã hội, diễn giả người Mỹ. Bà vì viêm màng não nên bị mù, câm và điếc nhưng đã tốt nghiệp Đại học Harvard. Bà là người khiếm thị, khiếm thính đầu tiên của nước Mỹ giành học vị Cử nhân Nghệ thuật.[1]. Tại Việt Nam hiện đã có một số tác phẩm giới thiệu về người mù câm điếc huyền thoại này đã vượt lên số phận nghiệt ngã để làm được những điều tốt đẹp cho thế giới chúng ta. Hoàng Kim đã biên tập bài viết này từ nguồn Helen Keller Biography.com,  Wikipedia Tiếng Anh &Tiếng Việt và danh ngôn của Helen Keller ở trong Từ điển Danh ngôn.

HELEN KENLER CUỘC ĐỜI VÀ DI SẢN

Tuổi thơ
Helen Adams Keller sinh ra tại Tuscumbia, Alabama. Gia đình bà sống trong khu điền trang Ivy Green[2] được ông nội của bà xây dựng từ những thập kỉ trước.[3].

Cha bà là Arthur H. Keller[4] là người biên tập lâu năm cho tờ báo Tuscumbia North Alabamian và từng là đại úy trong Quân đội miền nam.[3] Bà nội của Helen là chị em họ với Robert E. Lee.[5] Mẹ bà là Kate Adams,[6] là con gái của Charles W. Adams[7] là người gốc từ Massachusetts và từng tham chiến cho Quân đội miền nam trong suốt Cuộc nội chiến Mỹ và trở thành đại tá. Họ nội của Helen thuộc dòng dõi với Casper Keller, người có gốc gác Thụy Sỹ.[5][8]

Keller không bị mù và điếc bẩm sinh. Khi chào đời được khoảng 19 tháng, bà bị ốm nặng sốt cao viêm màng não và không may hỏng mất đôi mắt, và sau đó tai cũng bị điếc. Gia đình bất hạnh chứng kiến đứa con gái vùa lớn lên vừa chống chọi với số phận nghiệt ngã, càng lớn thì tính tình của Keller càng nóng nảy cáu gắt.

 Keller và cô Anne Sullivan vào tháng 7 năm 1888

Thầy bạn nghị lực và học vấn

Năm 1886, mẹ bà tình cờ biết được một đứa bé cũng bị mù-điếc như con mình nhưng đã được dạy dỗ thành công, liền tới Baltimore, Maryland gặp bác sĩ để xin lời khuyên. Người bác sĩ này khuyên bà nên tới gặp Alexander Graham Bell, lúc đó còn đang là một nhà chuyên môn chuyên làm việc với những trẻ em bị điếc tại địa phương. Bell lại giới thiệu bà mẹ đưa con gái của mình tới học tại trường Perkins dành cho người mù,  ở Nam Boston, tiểu bang Massachusetts. Tại đây Keller đã được gặp cô gia sư Anne Sullivan vừa mới tốt nghiệp người Ireland, bắt đầu một tình bạn kéo dài suốt 49 năm.

Keller và cô Anne đang học từ

Có một lần Anne tặng cho Keller một con búp bê bằng vải mà cô ôm trên tay. Chờ cho Keller chơi một hồi, Anne liền cầm lấy bàn tay Keller và viết chữ “búp bê” (doll) lên lòng bàn tay em. Keller rất thích thú với cách thể hiện đó, từ đó về sau Anne thường xuyên tập cho Keller ghép chữ cái theo cách này. Sau 3 tháng, thông qua ngôn ngữ động tác tay và sờ xem cử động môi của Anne, Keller đã học được hơn 400 từ đơn cùng một số đoản ngữ.

Năm Keller 8 tuổi, cô Anne đưa bà tới học tại trường Perkins, nơi có các loại sách chữ nổi và các trẻ em bị mù-điếc khác. Chẳng bao lâu, Keller đã bộc lộ rõ tài năng vượt trội về các môn toán, địa lý, sinh học, tập đọc; em còn học cả bơi, chèo thuyền, cưỡi ngựa, đi xe. Sau đó Keller vào học trường nữ học tiểu bang Massachusetts, cô giáo Anne luôn luôn ở bên cạnh Keller để viết lại nội dung bài giảng vào lòng bàn tay Keller. Năm 1900 Keller thi đậu vào trường Radcliffe College, học tài liệu chữ nổi dành cho người mù. Cô kiên trì học tới mức khi nào đầu ngón tay rớm máu mới chịu dừng. Đến năm 1904 Keller tốt nghiệp và trở thành người mù-điếc đầu tiên được tốt nghiệp đại học.

Hoạt động chính trị

Hai năm sau ngày tốt nghiệp, Keller được vinh dự bầu vào chức chủ tịch hội người mù tiểu bang Massachusetts, bắt tay vào công việc xã hội cụ thể phục vụ cho cộng đồng người mù. Keller đón tiếp rất nhiều người mù, trả lời nhiều thư từ và đi thuyết giảng lưu động tại 39 nước trên thế giới. Cô không quản ngại vất vả, cống hiến hết sức mình cho chương trình giáo dục và chữa trị cho người mù. Năm 1920 với sự phấn đấu không mệt mỏi, Keller đã thành lập được tổ chức quần chúng trên phạm vi toàn quốc của Hội người mù toàn nước Mỹ. Tổ chức này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Keller trở thành một biểu tượng của tinh thần tự lực phi thường khi suốt đời sống trong thế giới không ánh sáng, không âm thanh nhưng vẫn cống hiến hết sức lực nhằm đem niềm vui đến với người tàn tật, có cùng hoàn cảnh như mình. Cô đã được gặp nhiều tổng thống Mỹ như Grover Cleveland, Benjamin Harrison, William McKinley, Theodore Roosevelt, William Howard Taft, Franklin D. Roosevelt, John F. Kennedy… Cô cũng trở thành bạn của những con người nổi tiếng như Alexander Graham Bell, Charlie Chaplin, Mark Twain.

Bà bắt đầu tham gia phong trào xã hội tại nước Mỹ. Keller gia nhập Đảng Xã hội Hoa Kỳ, và về sau bỏ đảng đó để gia nhập Industrial Workers of the World (Công nhân kỹ nghệ của Thế giới). Những nhà báo mà về trước khen ngợi sự can đảm và thông minh của bà bây giờ chỉ ra là bà bị tàn tật. Chủ báo Brooklyn Eagle viết rằng “những sai lầm [của bà] xuất hiện từ những hạn chế rõ ràng khi lớn lên”. Keller trả lời chủ báo này, nói đến lần gặp ông trước khi ông biết đến những quan điểm chính trị của bà:

At that time the compliments he paid me were so generous that I blush to remember them. But now that I have come out for socialism he reminds me and the public that I am blind and deaf and especially liable to error. I must have shrunk in intelligence during the years since I met him… Oh, ridiculous Brooklyn Eagle! Socially blind and deaf, it defends an intolerable system, a system that is the cause of much of the physical blindness and deafness which we are trying to prevent.[1]

Bà cũng biểu tình chống chiến tranh và đồng sáng lập tổ chức dân quyền ACLU[2]. Các hoạt động này có liên quan đến quan điểm công bằng của Keller.

Giới thiệu loài chó quý Akita tới Mỹ

Khi Keller tới thăm tỉnh Akita, Nhật Bản vào tháng 7 năm 1937, bà đã hỏi thăm tới Hachiko, một con chó giống Akita nổi tiếng đã chết từ năm 1935, và bày tỏ ý định muốn có một chú chó như thế. Chỉ trong vòng một tháng, một chú chó tên là Kamikaze-go đã được gửi đến, nhưng sau đó đã chết bệnh quá sớm. Chính phủ Nhật Bản quyết định tặng cho Keller một chú chó thứ hai tên là Kenzan-go vào tháng 7 năm 1939 để bà mang về Mỹ giới thiệu. Những tiêu chuẩn để nuôi dưỡng và chăm sóc giống chó này đã được xây dựng, đồng thời các cuộc biểu diễn cũng đã được tổ chức. Tuy nhiên tất cả đã bị hoãn vô thời hạn vì Thế chiến thứ hai nổ ra.

Ngày 14 tháng 9 năm 1964 Keller được Tổng thống Lyndon B. Johnson tặng thưởng Huân chương Tự do, một trong hai phần thưởng cao quý nhất của chính phủ Mỹ dành cho nhân dân.

Ngày 1 tháng 6 năm 1968 Helen Keller tạ thế ở tuổi 87 trong căn nhà của mình tại Easton, Connecticut, trong khi chỉ còn 26 ngày nữa là tới sinh nhật thứ 88 của bà.

Bệnh viện Helen Keller đã được xây dựng tại Alabama để tưởng nhớ người phụ nữ giàu nghị lực này.

Viết sách

Bìa cuốn sách Light in My Darkness

Năm 1902, khi đang học năm thứ 2, dưới sự giúp đỡ của Anne và một số nhà phê bình văn học, Keller đã hoàn thành tác phẩm đầu tay mang tựa đề The Story of My Life, được xuất bản năm 1903. Tác phẩm theo thể loại tự truyện, bút pháp súc tích chân thật khiến người đọc xôn xao.

Đến năm 1960, bà cho ra mắt một cuốn sách, Light in My Darkness, trong đó bà lên tiếng bênh vực những lời giáo huấn của nhà khoa họctriết gia người Thụy Điển Emanuel Swedenborg.

Tổng cộng, Helen Keller đã viết được 12 cuốn sách và nhiều bài báo khác nữa.

Chuyện đời thường

Tuy bị tàn tật nhưng Keller là một người phụ nữ tràn đầy lạc quan, thiết tha yêu sống. Bất ngờ có một chàng trai ngỏ lời cầu hôn và được Keller chấp nhận, sung sướng chờ đợi niềm hạnh phúc đó. Thế nhưng vì bị bà mẹ kịch liệt phản đối, Keller đành ngậm ngùi chia tay người yêu và nguyện dành tình yêu đó cho sự nghiệp phúc lợi mang lại niềm vui cho người mù.

Hai cuộc Thế chiến thứ nhấtThế chiến thứ hai gây ra đau thương chết chóc và tàn phế cho hàng trăm triệu người. Keller đã tìm đến hơn 70 bệnh viện để an ủi bệnh binh, động viên họ kiên cường chống chọi với số phận, làm cho họ hiểu rằng tàn phế không có nghĩa là hết hy vọng trước cuộc sống. Bà từng 3 lần sang thăm nước Nhật sau chiến tranh và được người dân Tokyo tiếp đón nồng nhiệt. Bà kể với mọi người rằng mình chỉ là một người không may mắn, nhưng đã dùng ý chí nghị lực để chống trả lại số phận trớ trêu, hoàn thành sự nghiệp khơi gợi tấm lòng nhân hậu của mọi người, nhằm mang lại tình thương cho người tàn tật.

LỜI VÀNG HELEN KELLER 

Hai câu nói đặc biệt nổi tiếng

“Những gì tốt đẹp nhất phải được cảm nhận bằng trái tim”
                                                                   — Helen Adams Keller
“Tôi đã khóc vì không có giày để đi chỉ đến khi tôi gặp một người khóc vì không có chân để đi giày
                                                                  — Helen Adams Keller

Danh ngôn của Helen Keller

Lạc quan là niềm tin dẫn tới thành tựu. Bạn chẳng thể làm được điều gì mà thiếu đi hy vọng và sự tự tin.

Optimism is the faith that leads to achievement. Nothing can be done without hope and confidence.

Cùng bước với một người bạn trong bóng tối tốt hơn là bước một mình trong ánh sáng.

Walking with a friend in the dark is better than walking alone in the light.

Thành công và hạnh phúc nằm trong bạn. Quyết tâm hạnh phúc, và niềm vui sẽ đi cùng bạn để hình thành đạo quân bất khả chiến bại chống lại nghịch cảnh.

Your success and happiness lies in you. Resolve to keep happy, and your joy and you shall form an invincible host against difficulties.

Chừng nào mà kỷ niệm về những người bạn thân thương vẫn sống trong tim tôi, tôi sẽ nói rằng đời tốt đẹp.

So long as the memory of certain beloved friends lives in my heart, I shall say that life is good.

Tính cách không thể phát triển một cách dễ dàng và yên lặng. Chỉ qua trải nghiệm thử thách và gian khổ mà tâm hồn trở nên mạnh mẽ hơn, hoài bão hình thành và thành công đạt được.

Character cannot be developed in ease and quiet. Only through experience of trial and suffering can the soul be strengthened, ambition inspired, and success achieved.

Một mình, ta làm được rất ít; cùng nhau, ta làm được rất nhiều.

Alone we can do so little; together we can do so much.

Thật tuyệt vời là con người đã sử dụng biết bao thời gian để chống lại cái ác. Giá mà họ cũng sử dụng năng lượng đó để yêu thương người khác, cái ác sẽ tự chết vì buồn chán.

It is wonderful how much time good people spend fighting the devil. If they would only expend the same amount of energy loving their fellow men, the devil would die in his own tracks of ennui.

Sự khoan dung là món quà lớn nhất của tâm hồn; nó đòi hỏi nỗi lực của bộ não cũng nhiều như khi bạn phải giữ thăng bằng khi đi xe đạp.

Toleration is the greatest gift of the mind; it requires the same effort of the brain that it takes to balance oneself on a bicycle.

Cũng như sự ích kỷ và phàn nàn làm tha hóa tâm hồn, tình yêu với những niềm vui của mình làm tầm nhìn trở nên rõ ràng và sắc nét.

As selfishness and complaint pervert the mind, so love with its joy clears and sharpens the vision.

Không ai có quyền hưởng thụ hạnh phúc mà không tạo ra nó.

No one has a right to consume happiness without producing it.

Ta không thể đánh mất những gì ta từng tận hưởng. Tất cả những gì ta yêu sâu sắc trở thành một phần trong ta.

What we have once enjoyed we can never lose. All that we love deeply becomes a part of us.

Chúng ta không bao giờ có thể học được sự can đảm và kiên nhẫn nếu chỉ có niềm vui trên thế gian này.

We could never learn to be brave and patient, if there were only joy in the world.

Cuộc sống là một chuỗi bài học mà bạn cần phải sống mới hiểu được.

Life is a succession of lessons which must be lived to be understood.

Niềm tin là sức mạnh có thể khiến thế giới tan vỡ xuất hiện trong ánh sáng.

Faith is the strength by which a shattered world shall emerge into the light.

Kết quả cao nhất của giáo dục là sự khoan dung.

The highest result of education is tolerance.

Sự đảm bảo chỉ là mê tín mà thôi. Nó không tồn tại trong tự nhiên, loài người nói chung cũng không trải nghiệm nó. Lảng tránh nguy hiểm về lâu dài không an toàn hơn nhảy thẳng vào nguy hiểm. Cuộc sống hoặc là một cuộc phiêu lưu táo bạo, hoặc chẳng là gì cả.

Security is mostly a superstition. It does not exist in nature, nor do the children of men as a whole experience it. Avoiding danger is no safer in the long run than outright exposure. Life is either a daring adventure, or nothing.

Chúng ta có thể đã chữa trị được hầu hết thói xấu xa; nhưng chúng ta vẫn chưa tìm ra liều thuốc cho thói xấu tồi tệ nhất, sự vô cảm của con người.

We may have found a cure for most evils; but we have found no remedy for the worst of them all, the apathy of human beings.

Điều tôi đi tìm không ở ngoài kia, nó ở trong bản thân tôi.

What I am looking for is not out there, it is in me.

Thay vì so sánh mình với những người may mắn hơn mình, ta nên so sánh mình với số đông con người. Và rồi sẽ có vẻ như chúng ta là những người may mắn.

Instead of comparing our lot with that of those who are more fortunate than we are, we should compare it with the lot of the great majority of our fellow men. It then appears that we are among the privileged.

Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối.

Keep your face to the sunshine and you cannot see a shadow.

Nhiều người có ý tưởng sai lầm về điều sản sinh ra hạnh phúc đích thực. Nó không đạt được qua sự tự thỏa mãn mà qua sự trung thành với một mục đích đáng giá.

Many persons have a wrong idea of what constitutes true happiness. It is not attained through self-gratification but through fidelity to a worthy purpose.

Điều tốt đẹp nhất trên thế gian này không thể nhìn thấy hoặc thậm chí chạm vào – chúng phải được cảm nhận bằng trái tim.

The best and most beautiful things in the world cannot be seen or even touched – they must be felt with the heart.

Cuộc sống rất thú vị, và thú vị nhất khi nó được sống vì người khác.

Life is an exciting business, and most exciting when it is lived for others.

Cả thế giới ngập tràn thống khổ. Nó cũng ngập tràn chiến thắng.

All the world is full of suffering. It is also full of overcoming.

Trước khi số đông con người tràn đầy tinh thần trách nhiệm đối với lợi ích của người khác, công bằng xã hội sẽ chẳng bao giờ đạt được.

Until the great mass of the people shall be filled with the sense of responsibility for each other’s welfare, social justice can never be attained.

Đừng bao giờ cúi đầu. Hãy luôn ngẩng cao. Nhìn thẳng vào mắt thế giới.

Never bend your head. Always hold it high. Look the world straight in the eye.

Thật khó để khiến những người có mọi thứ quan tâm tới những người chẳng có thứ gì.

It is hard to interest those who have everything in those who have nothing.

Mọi thứ đều chứa đựng điều bí ẩn, thậm chí cả bóng tối và sự câm lặng, và tôi học được rằng cho dù tôi ở trạng thái nào, tôi cũng có thể yên bình.

Everything has its wonders, even darkness and silence, and I learn, whatever state I may be in, therein to be content.

Tôi chỉ là một, nhưng tôi vẫn là một. Tôi không thể làm mọi thứ, nhưng tôi vẫn có thể làm gì đó; và bởi vì tôi không thể làm tất cả, tôi sẽ không từ chối làm điều tôi có thể.

I am only one, but still I am one. I cannot do everything, but still I can do something; and because I cannot do everything, I will not refuse to do something that I can do.

Thật tuyệt vời khi trèo lên những ngọn núi trong trẻo của bầu trời. Đằng sau tôi và trước tôi là Chúa, và tôi không sợ hãi.

It’s wonderful to climb the liquid mountains of the sky. Behind me and before me is God and I have no fears.

Khi ta làm hết sức của mình, ta không thể biết điều kỳ diệu nào sẽ xảy đến trong cuộc sống của ta, hoặc trong cuộc sống của người khác.

When we do the best that we can, we never know what miracle is wrought in our life, or in the life of another.

Sự phong phú tuyệt diệu của trải nghiệm sẽ mất đi đôi chút phần thưởng niềm vui nếu không có giới hạn để vượt qua. Thời khắc lên tới đỉnh núi sẽ chẳng tuyệt vời được bằng một nửa nếu không phải đi qua những thung lũng tối tăm.

The marvelous richness of human experience would lose something of rewarding joy if there were no limitations to overcome. The hilltop hour would not be half so wonderful if there were no dark valleys to traverse.

Nhiều người không biết nhiều hơn những gì nằm ngoài tầm trải nghiệm nhỏ bé của mình. Họ nhìn vào trong mình – và chẳng tìm thấy gì cả! Vì thế họ kết luận rằng cũng chẳng có gì ở bên ngoài họ.

Many people know so little about what is beyond their short range of experience. They look within themselves – and find nothing! Therefore they conclude that there is nothing outside themselves either.

Trường học không phải nơi để đi tìm ý tưởng.

College isn’t the place to go for ideas.

Thế giới đang tiến về phía trước, không phải bởi cú đẩy mạnh mẽ của những anh hùng, mà bởi tổng hòa cú đẩy yếu hơn của những người lao động lương thiện.

The world is moved along, not only by the mighty shoves of its heroes, but also by the aggregate of tiny pushes of each honest worker.

Tôi khao khát làm được những điều vĩ đại và cao cả, nhưng trách nhiệm chính của tôi là làm được những điều nhỏ nhặt như thể chúng vĩ đại và cao cả.

I long to accomplish a great and noble task, but it is my chief duty to accomplish small tasks as if they were great and noble.

Không kẻ bi quan nào có thể phát hiện ra bí ẩn của những vì sao, hay căng buồm tới miền đất mới, hay mở cánh cửa vào linh hồn của con người.

No pessimist ever discovered the secret of the stars, or sailed to an uncharted land, or opened a new doorway for the human spirit.

Than thân trách phận là kẻ thù tồi tệ nhất của chúng ta, và nếu ta đầu hàng nó, ta sẽ chẳng làm được gì khôn ngoan trên thế giới này.

Self-pity is our worst enemy and if we yield to it, we can never do anything wise in this world.

Người ta không thích suy nghĩ. Nếu một người nghĩ, anh ta phải đi đến kết luận. Kết luận không phải lúc nào cũng dễ chịu.

People do not like to think. If one thinks, one must reach conclusions. Conclusions are not always pleasant.

Trong lúc họ còn đang nói với nhau không thể làm được điều đó đâu, nó đã được làm xong rồi.

While they were saying among themselves it cannot be done, it was done.

HELEN KELLER CẢM NHẬN VÀ THƯ MỤC

Cảm nhận tại đây

Tham khảo

  1. ^ “Helen Keller FAQ”. Perkins School for the Blind. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2010.
  2. ^ Virtual tour of Ivy Green, Helen Keller’s birthplace
  3. ^ a ă Nielsen, Kim E. (2007), “The Southern Ties of Helen Keller”, Journal of Southern History 73 (4)
  4. ^ “Arthur H. Keller”. Encyclopedia of Alabama. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2010.
  5. ^ a ă Herrmann, Dorothy; Keller, Helen; Shattuck, Roger (2003), The Story of my Life: The Restored Classic, tr. 12–14, ISBN 978-0-393-32568-3, truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010
  6. ^ “Kate Adams Keller”. American Foundation for the Blind. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2010.
  7. ^ “Charles W. Adams (1817–1878) profile”. Findagrave.com. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2009.
  8. ^ “American Foundation for the Blind”. Afb.org. Ngày 1 tháng 6 năm 1968. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010.

Liên kết ngoài

Advertisements

39 thoughts on “Helen Keller người mù điếc huyền thoại

  1. Pingback: Thạch Lam hạt ngọc đời nay | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Tiếng Anh cho em | Khát khao xanh

  3. Pingback: Quà tặng cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Đêm nhớ Phan Huỳnh Điểu Phan Nhân | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Quà tặng cuộc sống | Khát khao xanh

  6. Pingback: Biển Đông vạn dặm | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Đọc lại và suy ngẫm 2 | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Lộc xuân cuộc đời | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Bà Đen Tây Ninh Bà Đen Đồng Nai | Tình yêu cuộc sống

  10. Pingback: Trần Thánh Tông | Tình yêu cuộc sống

  11. Pingback: Ngày mới yêu thương | Khát khao xanh

  12. Pingback: Ngày mới yêu thương | Tình yêu cuộc sống

  13. Pingback: Chào ngày mới 8 tháng 7 | Tình yêu cuộc sống

  14. Pingback: Chào ngày mới 8 tháng 7 | CNM365

  15. Pingback: Đợi mưa | Khát khao xanh

  16. Pingback: Ngày mới yêu thương | Tình yêu cuộc sống

  17. Pingback: Đợi mưa | Tình yêu cuộc sống

  18. Pingback: Tháng Bảy mưa Ngâu | Tình yêu cuộc sống

  19. Pingback: Tiếng Anh cho em | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Khoảnh khắc tuyệt đẹp | Khát khao xanh

  21. Pingback: Khoảnh khắc tuyệt đẹp | Tình yêu cuộc sống

  22. Pingback: Giấc mơ tình yêu cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  23. Pingback: Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời | Tình yêu cuộc sống

  24. Pingback: Mạc triều trong sử Việt | Tình yêu cuộc sống

  25. Pingback: Đến với bài thơ hay | Khát khao xanh

  26. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 7 | Tình yêu cuộc sống

  27. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 7 | CNM365

  28. Pingback: Từ Mekong nhớ Neva | Tình yêu cuộc sống

  29. Pingback: Lớp học trên đồng Đăk Glong Oxfam | Tình yêu cuộc sống

  30. Pingback: Thăm Borlaug và Hemingway ở CIANO | Tình yêu cuộc sống

  31. Pingback: Khoảnh khắc thiên thu | Khát khao xanh

  32. Pingback: Năm tháng đó là em | Tình yêu cuộc sống

  33. Pingback: Mảnh đạn trong người | Tình yêu cuộc sống

  34. Pingback: Lê Phụng Hiểu truyện hay nhớ mãi | Tình yêu cuộc sống

  35. Pingback: Henry Ford và Thượng Đế | Tình yêu cuộc sống

  36. Pingback: Rằm Xuân Hà Nội | Tình yêu cuộc sống

  37. Pingback: Khổng Tử đọc lại và suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

  38. Pingback: Thăm ngôi nhà cũ của Darwin | Tình yêu cuộc sống

  39. Pingback: Để tôi nhặt lại | Khát khao xanh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s