Biển Đông vạn dặm

ObamTap
Tình hình biển Đông có gì mới?
Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á? Báo Mỹ, tờ The New York Rewiew of Books  có bài bình luận mới, rất đáng chú ý ngày 19. 6. 2015 của tác giả George Soros:  A Partnership with China to Avoid World War (Xây dựng mối quan hệ đối tác với Trung Quốc nhằm tránh cuộc chiến tranh thế giới, người dịch Nguyễn Hoàng Mỹ Phương, trích dẫn trên trang Viet-Studies). Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Bắc Kinh, tháng 11 năm 2014, ảnh Pete Souza/ Nhà Trắng trên trang The New York Rewiew of Books.

Bài báo kết luận : “Các cuộc đàm phán (hợp tác kinh tế- HK) giữa Mỹ và Trung Quốc có thể không được hoàn thành vào tháng 10/2015, khi ban lãnh đạo của IMF dự kiến sẽ xem xét thành phần trong rổ SDR. Thực tế là phải đến chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch Tập Cận Bình tới Washington vào tháng 9 mới hoàn thành việc chuẩn bị. Nhưng có nhiều điều cần đạt được bằng cách kéo dài thời hạn SDR đến năm 2016. Sau đó Trung Quốc sẽ tổ chức cuộc họp của Nhóm G20, và năm 2016 cũng là năm cuối cùng của chính quyền Obama. Triển vọng của quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ huy động tất cả các lực lượng chính trị có lợi cho hợp tác quốc tế cả hai bên.

Nếu nỗ lực thiện chí thất bại, Mỹ sau đó sẽ hoàn toàn hợp lý trong việc phát triển quan hệ đối tác đủ mạnh với các nước láng giềng của Trung Quốc mà liên minh Trung Quốc – Nga sẽ không dám thách thức bằng vũ lực quân sự. Điều đó rõ ràng là kém hơn so với quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ đối tác với các nước láng giềng của Trung Quốc sẽ đưa chúng ta trở lại chiến tranh lạnh, nhưng vẫn là thích hợp hơn so với một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương, hiện đang được đàm phán, có thể mang đến cơ hội tuyệt vời cho chiến lược hai hướng nhưng cách tiếp cận hiện nay là hoàn toàn sai. Hiện tại, Trung Quốc bị loại trừ; thực sự là quan hệ đối tác được hình thành như là một liên minh chống Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Tổng thống đã yêu cầu Quốc hội cho ông và chính quyền kế nhiệm đến sáu năm để đàm phán hiệp định thương mại theo quy định đàm phán nhanh (fast-track rules) mà có thể tước đi quyền đưa ra các sửa đổi của Quốc hội. Dự luật đã được chuyển sang Thượng viện và bài báo này được viết trước khi chuyển sang Hạ viện. Nếu Hạ viện phê duyệt, Chủ tịch Tập Cận Bình có thể đối mặt với mối đe dọa rõ ràng cho chuyến thăm vào tháng 9. Đây là phản ứng thích đáng đối với hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông và các nơi khác, nhưng còn rất ít chỗ trống cho cách tiếp cận thay thế. Kết quả là, rất khó cho Tổng thống Obama đưa ra đề nghị thiện chí của quan hệ đối tác chiến lược.

Hy vọng rằng Hạ viện sẽ không cho phép dự luật có quyền đàm phán nhanh. Thay vì buộc dự luật thông qua Quốc hội nhanh chóng, nó nên được đưa khỏi quyền đàm phán nhanh. Trong trường hợp đó, Quốc hội sẽ có nhiều thời gian để điều chỉnh những sai sót cơ bản trong các hiệp ước dự kiến khiến chúng không được chấp nhận khi chúng hiện đang được soạn thảo. Và điều đó cũng sẽ cho phép Tổng thống Obama đưa cho Chủ tịch Tập lời đề nghị chân thành của quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc khi ông đến thăm Washington vào tháng 9.”

Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á: đọc và suy ngẫm. Bài viết này của tác giả George Soros đang chỉ ra những thách thức và trở ngại khó vượt qua trong đàm phán hợp tác kinh tế thương mại Trung Mỹ sắp tới. Bài báo khuyến cáo chính phủ Mỹ vẫn nên thực hiện nỗ lực có thiện chí trong việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc với chiến lược hai hướng vừa hợp tác vừa răn đe. Những lý lẽ hợp tác được mời gọi trong bài viết này chỉ ra sự giới hạn khi xu thế nghi ngại và kế hoạch ngăn chặn đang hình thành và tăng thêm ngay trong lòng nước Mỹ lúc chính quyền Obama chì còn một năm cho nổ lực thiện chí này.

Những góc nhìn khác, đó là:   Phỏng vấn Nye: Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á (Interview Joseph Nye on China and the U.S. rebalance to Asia tác giả  Samuel Ramani người dịch Đỗ Kim Thêm ) Có thể ngăn chặn Trung Quốc được không? (Can China Be Contained? tác giả Andrew Browne , người dịch Huỳnh Phan).

Sự thay đổi tâm trạng ở Washington hiện nay liệu có thể kết thúc bằng chiến lược ngăn chặn của Chiến tranh Lạnh cơ bản giống y như sự thay đổi đến trên toàn nước Mỹ ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, khi Mỹ chợt nhận ra rằng Liên Xô sẽ không thể tiếp tục là một đồng minh; Và, bây giờ một nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy thì liệu sự hợp tác kinh tế thương mại khoa học công nghệ với Mỹ có còn đáng tin cậy không và liệu có nên tiếp tục? Mặc dù Chủ tịch Tập Cận Bình đang thể hiện sự cần thiết, chào đón và hoan nghênh hợp tác khoa học công nghệ, giáo dục, đối tác chiến lược với Mỹ.

Việt Nam làm gì trong thế giới biến chuyển? Bài học lịch sử dân tộc và nhân loại luôn nhắc nhở  chúng ta : “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình”. “Ta lớn mau mau. Vượt qua biển lớn”. “Tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi, có lý, có lợi, đúng lúc “.

Hoàng Kim

*Xem Edward Wong, “Chinese Security Laws Elevate the Party and Stifle Dissent. Mao Would Approve,” The New York Times, May 30, 2015.

http://www.nybooks.com/articles/archives/2015/jul/09/partnership-china-avoid-world-war  truy cập 16/6/2015

Tiếng Anh cho em

Học song ngữ Anh Việt đối chiếu qua các trích đoạn “Tôi có một giấc mơ”

“So sánh “giấc mơ Trung Quốc” của Chủ tịch Tập với giấc mơ Mỹ nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai hệ thống chính trị và xã hội. Tập tán dương thành công của Trung Quốc trong “trẻ hóa dân tộc” bằng cách khai thác những tài năng và năng lực của người dân trong việc phục vụ nhà nước. Ngược lại, giấc mơ Mỹ ca ngợi sự thành công của cá nhân mạnh mẽ – những người đạt được vị trí xã hội cao hơn và giàu có hơn bằng cách vượt qua những trở ngại gây ra bởi các quy ước hoặc thành kiến xã hội hoặc chính quyền lạm dụng quyền lực của mình, hoặc do may mắn. Mỹ muốn Trung Quốc thực hiện theo các giá trị của mình, nhưng các lãnh đạo Trung Quốc cho rằng họ đang bị lật đổ.”

“Comparing President Xi’s “Chinese dream” with the American dream highlights the difference between the two political and social systems. Xi extols China’s success in “rejuvenating the nation” by harnessing the talents and energies of its people in service of the state. By contrast, the American dream extols the success of the rugged individual who achieves upward social mobility and material prosperity by overcoming obstacles posed by social conventions or prejudices or authorities abusing their power, or sheer bad luck. The US would like China to adopt its values but the Chinese leadership considers them subversive.”

Xem thêm:
Ông Putin nói Nga không tham vọng siêu cường, chỉ cần sự tôn trọng
Tôi có một giấc mơ, Martin Luther King
Tôi có một giấc mơ, Wikipedia tiếng Việt
Tôi có một giấc mơ, Hoàng Kim

Đọc toàn văn song ngữ Anh Việt đối chiếu bài báo nổi bật trong tuần:

 

A Partnership with China to Avoid World War

This article will appear in the July 9 issue of The New York Review.International cooperation is in decline both in the political and financial spheres. The UN has failed to address any of the major conflicts since the end of the cold war; the 2009 Copenhagen Climate Change Conference left a sour aftertaste; the World Trade Organization hasn’t concluded a major trade round since 1994. The International Monetary Fund’s legitimacy is increasingly questioned because of its outdated governance, and the G20, which emerged during the financial crisis of 2008 as a potentially powerful instrument of international cooperation, seems to have lost its way. In all areas, national, sectarian, business, and other special interests take precedence over the common interest. This trend has now reached a point where instead of a global order we have to speak of global disorder.In the political sphere local conflicts fester and multiply. Taken individually these conflicts could possibly be solved but they tend to be interconnected and the losers in one conflict tend to become the spoilers in others. For instance, the Syrian crisis deteriorated when Putin’s Russia and the Iranian government came to Bashar al-Assad’s rescue, each for its own reasons. Saudi Arabia provided the seed money for ISIS and Iran instigated the Houthi rebellion in Yemen to retaliate against Saudi Arabia. Bibi Netanyahu tried to turn the US Congress against the nuclear treaty the US was negotiating with Iran. There are just too many conflicts for international public opinion to exert a positive influence.

In the financial sphere the Bretton Woods institutions—the IMF and the World Bank—have lost their monopoly position. Under Chinese leadership, a parallel set of institutions is emerging. Will they be in conflict or will they find a way to cooperate? Since the financial and the political spheres are also interconnected, the future course of history will greatly depend on how China tackles its economic transition from investment and export-led growth to greater dependence on domestic demand, and how the US reacts to it. A strategic partnership between the US and China could prevent the evolution of two power blocks that may be drawn into military conflict.

How did we reach this point of global disorder? During the cold war the world was dominated by two superpowers. Each maintained some degree of control over its allies and satellites, and avoided direct military confrontation with the other because of the danger of Mutually Assured Destruction. It was a MAD system but it worked: it produced a number of local military conflicts but it avoided a world war.

When the Soviet empire fell apart the United States had an opportunity to become the sole superpower and the guarantor of peace in the world, but it did not rise to the occasion. The US was founded on the principle of individual freedom and it was not predisposed to become the policeman of the world. Indeed, it did not have a coherent view of the meaning of leadership in international affairs. During the cold war it had a bipartisan foreign policy, on which Democrats and Republicans largely agreed; but after the cold war ended the partnership broke up. Both parties continued to emphasize American sovereignty but they rarely agreed on subordinating it to international obligations.

Then in 1997, a group of neoconservatives argued that the US should use its military supremacy to impose its national interests, and established a think tank called the Project for the New American Century, “to promote American global leadership.” But that was a false approach: military force cannot be used to rule the world. After the terrorist attack of September 11, the neocons persuaded President George W. Bush to attack Iraq on dubious grounds that turned out to be false, and the US lost its supremacy. The Project for the New American Century had approximately the same lifespan as Hitler’s Thousand-Year Reich: around ten years.

On the financial side, by contrast, there was a clear consensus—the so-called Washington Consensus—on America’s role in the world. It became dominant in the 1980s under the leadership of Ronald Reagan and Margaret Thatcher. It had strong ideological support from market fundamentalists; it had a supposedly scientific foundation in the Efficient Market Hypothesis and Rational Choice Theory; and it was efficiently administered by the International Monetary Fund (IMF). The consensus was a much more subtle compromise between international governance and national self-interest than the neocons’ view that military power is supreme.

Indeed, the Washington Consensus had its roots in the original compromise on which the Bretton Woods institutions were founded. John Maynard Keynes proposed a truly international currency, the bancor, but the US insisted on the dollar as the world’s reserve currency and it prevailed. In the memorable words of George Orwell’s Animal Farm, “all animals are equal, but some animals are more equal than others.” The Washington Consensus promoted free trade and the globalization of financial markets. In the late 1990s, market fundamentalists even tried to modify the articles of agreement of the IMF so as to impose capital account convertibility, the free exchange of currencies. That attempt failed, but by allowing financial capital to move around freely the Washington Consensus also allowed capital to escape taxation and regulation. That was a triumph for market fundamentalism.

Unfortunately, the scientific foundations of this approach proved to be ill conceived. Unregulated financial markets are inherently unstable: instead of a general equilibrium that assures the optimum allocation of resources, they produce financial crises. This was dramatically demonstrated by the crash of 2008. By coincidence, 2008 marked both the end of America’s political supremacy and the demise of the Washington Consensus. It was also the beginning of a process of financial and political disintegration that first manifested itself in the microcosm of the European Union, but then spread to the world at large.

The crash of 2008 had a lasting negative effect on all the economies of the world, with the notable exception of China’s. The Chinese banking system was relatively isolated from the rest of the world and largely government-owned. As a consequence, the Chinese banks could, at the government’s behest, offset the collapse of external demand by flooding the economy with credit. The Chinese economy replaced the American consumer as the motor of the global economy, largely by selling to the American consumer on credit. It has been a rather weak motor, reflecting the relative size of the Chinese and American economies, so that the global economy has grown rather slowly since the emergence of China’s international economic power.

The main reason why the world avoided a global depression is that economists have learned some lessons from the experience of the 1930s. The heavy load of debt and lingering political prejudices limited the scale of fiscal stimulus globally (again with the exception of China); but the Federal Reserve under the leadership of its chairman, Ben Bernanke, embarked on unorthodox monetary policies including quantitative easing—large-scale injection of money into the economy through the purchase of bonds by the Federal Reserve. This prevented the reduction in effective demand from deteriorating into a global depression.

The crash of 2008 was also indirectly responsible for the euro crisis. The euro was an incomplete currency: it had a common central bank but it did not have a common treasury. The architects of the euro were aware of this defect but believed that when the deficiency became apparent the political will could be summoned to correct it. After all, that is how the European Union was brought into existence—taking one step at a time, knowing full well that it was insufficient but that when the need arose it would lead to further steps.

Unfortunately, political conditions changed between 1999, when the euro was adopted, and 2008, when the need arose. Germany under the leadership of Helmut Kohl led the process of European integration in order to facilitate the reunification of Germany. But reunification proved expensive and the German public became unwilling to take on any additional expenses. When, after the bankruptcy of Lehman Brothers in 2008, the European finance ministers declared that no systemically important financial institution would be allowed to fail, Chancellor Angela Merkel, as a politician in touch with the prevailing public opinion, insisted that the responsibility should fall on each country separately, not on the European Union collectively. That ruled out the possibility of a common treasury just when it was needed. That was the beginning of the euro crisis. Crises in individual countries like Greece, Italy, or Ireland are essentially variants of the euro crisis.

Subsequently, the financial crisis has morphed into a series of political crises. The differences between creditor countries and debtor countries have transformed the European Union from a voluntary association of equals into a relationship between creditors, such as Germany, and debtors, such as Greece, that is neither voluntary nor equal and arouses increasing political tensions.

The European Union started out as a valiant attempt at international governance on a regional scale. In the aftermath of 2008, the EU became preoccupied with its internal problems and failed to pull its weight in the international economy. The United States also became inward-looking but by a somewhat different route. The inward turn of the EU and US led to a decline in international cooperation on a global scale.

Since the Western powers are the mainstay of the prevailing world order, their declining influence has created a power vacuum in international governance. Aspiring regional powers and nonstate actors, which are willing to use military force, have rushed to fill the vacuum. Armed conflicts have proliferated and spread from the Middle East to other parts of Asia, Africa, and even Europe.

By annexing Crimea and establishing separatist enclaves in Ukraine, Putin’s Russia has challenged both the prevailing world order, which depends on the Western powers for support, and the values and principles on which the EU was founded. Neither the European nor the American public is fully aware of the severity of the challenge. President Vladimir Putin wants to destabilize all of Ukraine by precipitating a financial and political collapse for which he can disclaim responsibility, while avoiding occupation of a part of eastern Ukraine, which would then depend on Russia for economic support. He has demonstrated his preference by twice converting an assured military victory into a cease-fire that threatened to destabilize all of Ukraine. Unfortunately, Putin is succeeding, as can be seen by comparing the “Minsk Two” cease-fire with “Minsk One,” even if his success is purely temporary. Putin now seeks to use Ukraine to sow dissension and gain political influence within the European Union.

The severity of the Russian threat is directly correlated with the weakness of the European Union. The EU has excelled at muddling through financial and political crises but now it is confronted with not one but five crises: Russia, Ukraine, Greece, immigration, and the coming British referendum on EU membership—and that may be too much. The very survival of the EU is at risk.
Vladimir Putin; drawing by John Springs

International governance on a global scale is equally fragile. The world may break up into rival camps both financially and politically. China has begun to build a parallel set of financial institutions, including the Asian Infrastructure Investment Bank (AIIB); the Asian Bond Fund Initiative; the New Development Bank (formerly the BRICS Bank); and the Chiang Mai Initiative, which is an Asian regional multilateral arrangement to swap currencies. Whether the two camps will be able to keep their rivalry within bounds will depend on how China manages its economic transition and on how the US reacts to it.

The International Monetary Fund could play a positive part in this. It has abandoned its commitment to the Washington Consensus but the controlling shareholders of the Bretton Woods institutions—the US, the UK, France, and Germany among them—are unwilling to relinquish their voting control by increasing the representation of the developing world. This is very shortsighted on their part because it does not recognize changes in the relative weight of various economies and particularly the rise of China.

The controlling shareholders are unlikely to abandon their control, however tenuous; but the IMF has an opportunity to build a binding connection between the two camps. The opportunity arises from the fact that the composition of the IMF’s Special Drawing Rights (SDR) basket will be up for its five-yearly review at the end of 2015.

The SDR is an international reserve asset, created by the IMF in 1969 to supplement the existing official reserves of member countries. The Chinese renminbi is not fully qualified to be included in the SDR basket, but the qualifications to be included are not as rigorously defined as is generally believed. The Japanese yen was introduced when it was not yet widely traded; the franc entered the basket when the French capital account was heavily controlled; and the Saudi riyal was introduced when it was completely pegged to the US currency. The criteria for inclusion have changed over the years but now call for (1) a large exporter country and (2) a “freely usable” currency. This term is often misconstrued as imposing complete convertibility of capital accounts and flexibility of exchange rates; but that is not the case. Indeed, the basket of Special Drawing Rights formerly included currencies with no or little capital account convertibility.

The Chinese leadership has now embarked on a major effort to have the renminbi included in the SDR basket, and the IMF staff is sympathetic. For instance, it has announced that the renminbi is “no longer undervalued,” and it doesn’t seek full and precipitous capital account liberalization, but rather a cautious and gradual pace of reform in order to ensure the smooth functioning of the SDR and the preservation of financial stability in China.

Much now depends on the attitude of the US government, which holds veto rights in the IMF—even if the decision regarding the SDR basket requires only a 70 percent majority of the IMF’s board. The US would be making a major concession if it opened the door to allowing the renminbi to become a potential rival to the dollar. It could demand similar concessions from China in return, but that would be the wrong approach. The relationship between two great powers is not a zero-sum game: one party’s gain is not necessarily a loss for the other.

China is seeking SDR status for the renminbi not to please or hurt the US but for reasons of its own that are only indirectly connected with China’s ultimate ambition of replacing the US dollar as the dominant currency in the world. China seeks to use financial liberalization as an engine of growth for the Chinese economy. China wants to deepen the government bond market and open it up to international investors in order to enable the central government to clean up the bad debts of insolvent local authorities; it also wants to reduce the excessive leverage in the economy by promoting conversions of debt to equity. Inclusion of the renminbi in the IMF basket would facilitate the process, and success would automatically advance the renminbi’s weight and influence in the world.

The US government has little to gain and much to lose by treating the relationship with China as a zero-sum game. In other words it has little bargaining power. It could, of course, obstruct China’s progress, but that would be very dangerous. President Xi Jinping has taken personal responsibility for the economy and national security. If his market-oriented reforms fail, he may foster some external conflicts to keep the country united and maintain himself in power. This could lead China to align itself with Russia not only financially but also politically and militarily. In that case, should the external conflict escalate into a military confrontation with an ally of the United States such as Japan, it is not an exaggeration to say that we would be on the threshold of a third world war.

Indeed, military budgets are rapidly increasing both in Russia and in China, and they remain at a very high level in the United States. For China, rearmament would be a surefire way to boost domestic demand. China is already flexing its military muscle in the South China Sea, operating in a unilateral and often quite belligerent manner, which is causing justifiable concern in Washington. Nevertheless, it may take a decade or more until a Russian–Chinese military alliance would be ready to confront the US directly. Until then, we may expect a continuation of hybrid warfare and the proliferation of proxy wars.

Both the US and China have a vital interest in reaching an understanding because the alternative is so unpalatable. The benefits of an eventual agreement between China and the US could be equally far-reaching. Recently there has been a real breakthrough on climate policy on a bilateral basis. By taking the nonbinding representations and promises made by the two countries at face value, the agreement has made more credible some recent efforts to bring climate change under control. If this approach could be extended to other aspects of energy policy and to the financial and economic spheres, the threat of a military alignment between China and Russia would be removed and the prospect of a global conflict would be greatly diminished. That is worth trying.

On his last state visit to the US in 2013, President Xi spoke of a “new type of great power relationship.” The subject has been widely discussed in China since then. President Obama should outline his own vision by drawing a distinction between Putin’s Russia, which has replaced the rule of law with the rule of force, and today’s China, which does not always abide by the rule of law but respects its treaty obligations. Russian aggression needs to be firmly resisted; by contrast China needs to be encouraged—by offering a more constructive alternative—to avoid the route of military aggression. This kind of offer may elicit a favorable response. Rivalry between the US and China is inevitable but it needs to be kept within bounds that would preclude the use of military force.

It does not follow that a far-reaching agreement amounting to a strategic partnership between the US and China would be easy to accomplish. The two countries have fundamentally different political systems. While the US is founded on the principle of individual freedom, China has no significant tradition of such freedom. It has had a hierarchical structure since time immemorial and it has been an empire throughout most of its history. In recent years the US has led the world in the innovative development of social media, while China has led the world in finding means to control it. Since the end of the cold war, China has been much more successful than Russia in creating a successful hierarchical system.

This is best seen by looking at the way information is distributed. Since the rise of social media, information increasingly travels along horizontal lines, but China is different: information is distributed vertically. Within the party–state apparatus, the closer one is to the top, the better one is informed and the more latitude one enjoys in expressing an opinion. This means that the party–state apparatus offers not only an opportunity for personal enrichment but also a semblance of individual freedom. No wonder that the apparatus has been able to attract much of China’s best talent. The degree of latitude it allows is, however, strictly circumscribed by red lines. People have to walk within a grid; those who transgress the red lines may fall into the hands of the security apparatus and disappear without a trace.

The stranglehold of the security apparatus was gradually diminishing but recently there has been an ominous reversal: under the leadership of President Xi the informal rules defining the rights and status of NGOs, for instance, are now in the process of being significantly tightened.*

Comparing President Xi’s “Chinese dream” with the American dream highlights the difference between the two political and social systems. Xi extols China’s success in “rejuvenating the nation” by harnessing the talents and energies of its people in service of the state. By contrast, the American dream extols the success of the rugged individual who achieves upward social mobility and material prosperity by overcoming obstacles posed by social conventions or prejudices or authorities abusing their power, or sheer bad luck. The US would like China to adopt its values but the Chinese leadership considers them subversive.

In this respect China has more in common with Russia than with the US. Both Russia and China consider themselves victims of America’s aspiration to world domination. From the US point of view, there is much to disapprove of in China’s behavior. There is no independent judiciary and multinational companies are often mistreated and replaced by domestic favorites. And there are conflicts with the US and other nations in the South China Sea and over cyberwarfare and human rights. These are not matters on which cooperation will be easy to achieve.

Fully recognizing these difficulties, the US government should nevertheless make a bona fide attempt at forging a strategic partnership with China. This would involve identifying areas of common interest as well as areas of rivalry. The former would invite cooperation, the latter tit-for-tat bargaining. The US needs to develop a two-pronged strategy that offers incentives for cooperation and deterrents that render tit-for-tat bargaining less attractive.

The areas for cooperation may prove to be wider than is obvious at first sight. Cooperating with China in making President Xi’s financial reforms successful is definitely in the common interest. Success would fulfill the aspirations of the ever-increasing Chinese middle class. It may also allow Xi to relax some of the restrictions he has recently introduced and that would, in turn, increase the probability that his reforms will succeed and improve global financial stability. The weak point of his current approach is that both implementing and monitoring the reform process are in the same hands. Opening up the process to criticism by the media and civil society would greatly improve the efficacy of his reforms. This is particularly true of Xi’s anticorruption campaign. And if China followed this path, it would become increasingly attractive to the US as a strategic partner.

Negotiations between the US and China could not possibly be completed by October 2015, when the board of the IMF is scheduled to consider the composition of the SDR basket. Realistically it would take until President Xi’s state visit to Washington in September to complete the preparations. But there is much to be gained by extending the SDR deadline to 2016. China will then host the meeting of the G20, and 2016 will also be the last year of the Obama administration. The prospect of a strategic partnership between the US and China would mobilize all political forces in favor of international cooperation on both sides.

If a bona fide attempt fails, the US would then be fully justified in developing a strong enough partnership with China’s neighbors that a Chinese–Russian alliance would not dare to challenge it by military force. That would be clearly inferior to a strategic partnership between the US and China. A partnership with China’s neighbors would return us to a cold war, but that would still be preferable to a third world war.

The Trans-Pacific and Trans-Atlantic Partnerships, which are currently being negotiated, could offer an excellent opportunity for a two-pronged strategy but the current approach is all wrong. At present China is excluded; indeed the partnerships are conceived as an anti-Chinese alliance under US leadership. The president has asked Congress to give him and his successor authority for up to six years to negotiate trade agreements under fast-track rules that would deprive Congress of its right to introduce amendments. The bill has passed the Senate and at this writing is before the House. If the House approves, President Xi may be presented with an apparent threat on his visit in September. This is an appropriate response to China’s aggressive behavior in the South China Sea and elsewhere, but it leaves little room for an alternative approach. It would, as a result, be difficult for President Obama to make a bona fide offer of strategic partnership.

It is to be hoped that the House will not authorize putting the bill on a fast track. Instead of railroading the bill through Congress, it ought to be taken off the fast track. In that case, Congress would have plenty of time to correct the fundamental flaws in the proposed treaties that make them unacceptable as they are currently written. And that would also allow President Obama to make President Xi a genuine offer of a strategic partnership with China when he visits Washington in September.

*

See Edward Wong, “Chinese Security Laws Elevate the Party and Stifle Dissent. Mao Would Approve,” The New York Times, May 30, 2015. ↩

Xây dựng mối quan hệ đối tác với Trung Quốc nhằm tránh cuộc chiến tranh thế giới

Posted by adminbasam on 19/06/2015

Viet-studies/ NY Review of Books

Tác giả: George Soros

Người dịch: Nguyễn Hoàng Mỹ Phương

09-07-2015

Hợp tác quốc tế đang suy giảm trong cả lĩnh vực chính trị và tài chính. Liên Hiệp Quốc đã thất bại trong việc giải quyết bất kỳ cuộc xung đột lớn nào kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh; Hội nghị Biến đổi Khí hậu Copenhagen 2009 đã để lại dư vị đắng; Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã không kết thúc vòng thương mại quan trọng nào kể từ năm 1994. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đang ngày càng bị đặt nghi vấn bởi sự quản trị lỗi thời, và Nhóm G20, nổi lên trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 với vai trò là công cụ hợp tác quốc tế đầy quyền lực tiềm năng, dường như đã lạc đường. Trong tất cả các lĩnh vực, quốc gia, sắc tộc, kinh doanh, và các lợi ích đặc biệt khác được ưu tiên hơn lợi ích chung. Xu hướng này đã đạt đến cột mốc mà ở đó, thay vì một trật tự toàn cầu (global order) thì chúng ta phải nói về sự rối loạn toàn cầu (global disorder).

Trong lĩnh vực chính trị, xung đột địa phương xấu hơn và gia tăng. Từng xung đột riêng lẻ có thể được giải quyết nhưng chúng có xu hướng được kết nối với nhau và người thua cuộc trong một cuộc xung đột có xu hướng trở thành kẻ phá đám trong các cuộc xung đột khác. Ví dụ, cuộc khủng hoảng Syria xấu hơn khi nước Nga của Putin và chính phủ Iran giải cứu Tổng thống Bashar al-Assad với lý do riêng của mỗi bên. Ả Rập Saudi cung cấp số tiền ban đầu cho ISIS và Iran xúi giục phiến quân Houthi ở Yemen trả đũa Ả Rập Saudi. Thủ tướng Bibi Netanyahu đã cố gắng khiến cho Quốc hội Mỹ chống lại hiệp ước hạt nhân mà Mỹ đang đàm phán với Iran. Có quá nhiều xung đột cho dư luận quốc tế phát huy ảnh hưởng tích cực.

Trong lĩnh vực tài chính, các định chế Bretton Woods – IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) – đã mất đi vị trí độc quyền. Dưới sự lãnh đạo của Trung Quốc, một bộ định chế tương tự đang nổi lên. Liệu chúng sẽ mâu thuẫn hay chúng sẽ tìm ra được cách thức nào đó để hợp tác? Bởi các lĩnh vực tài chính và chính trị cũng được kết nối với nhau, con đường tương lai của lịch sử sẽ phụ thuộc rất nhiều vào cách Trung Quốc giải quyết quá trình chuyển đổi kinh tế từ tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang phụ thuộc nhiều hơn vào nhu cầu nội địa, và cách Mỹ phản ứng với điều đó như thế nào. Một quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc có thể ngăn chặn sự phát triển của hai khối quyền lực mà chúng hoàn toàn có thể bị lôi kéo vào cuộc xung đột quân sự.

Chúng ta đã chạm đến cột mốc của sự rối loạn toàn cầu này như thế nào? Trong suốt thời gian chiến tranh lạnh, thế giới được kiềm chế bởi hai siêu cường. Mỗi siêu cường duy trì mức độ kiểm soát nhất định đối với các đồng minh và các vệ tinh của nó, và tránh đối đầu quân sự trực tiếp với bên còn lại bởi sự nguy hiểm của Tất yếu Hủy diệt Lẫn nhau (Mutually Assured Destruction – MAD). Đây là hệ thống MAD và nó đã phát huy tác dụng: gây ra một số xung đột quân sự địa phương nhưng tránh khỏi một cuộc chiến tranh thế giới.

Khi đế chế Xô Viết sụp đổ, Hoa Kỳ có cơ hội trở thành siêu cường duy nhất và là người đảm bảo hòa bình trên thế giới, nhưng Mỹ đã không cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ này. Mỹ được thành lập trên nguyên tắc tự do cá nhân và không hành xử để trở thành cảnh sát của thế giới. Thật vậy, đã không có một cái nhìn thống nhất về ý nghĩa của sự lãnh đạo trong các vấn đề quốc tế. Trong suốt thời gian chiến tranh lạnh, đã có chính sách đối ngoại của cả hai đảng mà cả Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa phần lớn đồng ý; nhưng sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ đối tác này đã tan vỡ. Cả hai đảng tiếp tục nhấn mạnh chủ quyền của Mỹ nhưng hiếm khi đồng ý về việc đem Mỹ phụ thuộc vào các nghĩa vụ quốc tế.

Sau đó, vào năm 1997, một nhóm những người theo trường phái tân bảo thủ lập luận rằng Hoa Kỳ nên sử dụng uy thế quân sự để áp đặt lợi ích quốc gia, và thành lập một think tank được gọi là Dự án vì Thế kỷ Mới của Mỹ (New American Century), “nhằm thúc đẩy vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ”. Nhưng đó là cách tiếp cận sai lầm: lực lượng quân sự không thể được sử dụng để thống trị thế giới. Sau cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9, nhóm tân bảo thủ thuyết phục Tổng thống George W. Bush tấn công Iraq vào các căn cứ mơ hồ mà rốt cuộc hóa ra là sai, và Mỹ đã đánh mất uy thế của mình. Dự án vì Thế kỷ Mới của Mỹ có tuổi thọ xấp xỉ với Đế chế Đức Ngàn năm (Thousand-Year Reich) của Hitler: khoảng mười năm.

Về mặt tài chính, ngược lại, đã có sự đồng thuận rõ ràng – cái được gọi là Đồng thuận Washington – về vai trò của Mỹ trên thế giới. Mỹ đã thống trị trong những năm 1980 dưới sự lãnh đạo của Ronald Reagan và Margaret Thatcher. Mỹ có sự hỗ trợ ý thức hệ mạnh mẽ từ những người theo trường phái nền tảng của thị trường (fundamentalists); có một nền tảng được cho là khoa học – Giả thuyết Thị trường Hiệu quả (Efficient Market Hypothesis) và Lý thuyết Lựa chọn Hợp lý (Rational Choice Theory); và được quản lý hiệu quả bởi IMF. Sự đồng thuận này là một thỏa hiệp tinh tế hơn nhiều giữa quản trị quốc tế và lợi ích bản thân quốc gia so với quan điểm của nhóm tân bảo thủ cho rằng sức mạnh quân sự là tối cao.

Thật vậy, Đồng thuận Washington có nguồn gốc từ sự thỏa hiệp ban đầu mà dựa vào đó các thể chế Bretton Woods được thành lập. John Maynard Keynes đề xuất đồng tiền quốc tế thực sự, đồng bancor, nhưng Hoa Kỳ vẫn khăng khăng rằng đồng đô la là đồng tiền dự trữ của thế giới và nó đã thắng thế. Những lời đáng nhớ trong Animal Farm (“Trại súc vật”) của George Orwell, “tất cả các con vật đều bình đẳng, nhưng một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác”. Đồng thuận Washington thúc đẩy thương mại tự do và toàn cầu hóa các thị trường tài chính. Trong những năm cuối thập niên 90, những người theo trường phái nền tảng của thị trường thậm chí đã cố gắng sửa đổi các điều khoản thỏa thuận của IMF nhằm áp đặt khả năng chuyển đổi của tài khoản vốn, tự do trao đổi tiền tệ. Tuy nỗ lực đó thất bại nhưng bằng cách cho phép vốn tài chính di chuyển tự do, Đồng thuận Washington cũng cho phép dòng vốn thoát khỏi thuế và sự điều chỉnh. Đó là một thắng lợi cho những người theo trường phái nền tảng của thị trường.

Thật không may, các nền tảng khoa học của phương pháp này đã được nhận thức sai lầm. Thị trường tài chính không bị điều chỉnh cơ bản là đã không ổn định: thay vì tạo ra một điểm cân bằng chung đảm bảo cho việc phân bổ tối ưu các nguồn lực, chúng đã tạo ra các cuộc khủng hoảng tài chính. Điều này đã được minh chứng rõ ràng bằng sự sụp đổ vào năm 2008. Thật trùng hợp, năm 2008 cũng đánh dấu sự kết thúc của cả uy thế chính trị của Mỹ và sự sụp đổ của Đồng thuận Washington. Đó cũng là sự khởi đầu của một tiến trình tan rã tài chính và chính trị mà tự thể hiện trước tiên là trong mô hình thu nhỏ của Liên minh châu Âu, sau đó lan rộng ra cả thế giới.

Sự sụp đổ năm 2008 gây ra tác động tiêu cực lâu dài lên tất cả các nền kinh tế trên thế giới, với ngoại lệ đáng chú ý là Trung Quốc. Hệ thống ngân hàng Trung Quốc tương đối biệt lập với phần còn lại của thế giới và phần lớn sở hữu bởi chính phủ. Kết quả là, các ngân hàng Trung Quốc có thể, theo chỉ thị của chính phủ, bù đắp sự sụp đổ của cầu bên ngoài bằng cách làm ngập lụt nền kinh tế với tín dụng. Nền kinh tế Trung Quốc đã thay thế người tiêu dùng Mỹ trở thành động cơ của nền kinh tế toàn cầu, chủ yếu bằng cách bán chịu cho người tiêu dùng Mỹ. Tuy nhiên, đó là một động cơ khá yếu, phản ánh kích thước tương đối của nền kinh tế Trung Quốc và Mỹ, do đó nền kinh tế toàn cầu đã tăng trưởng khá chậm kể từ sự nổi lên của sức mạnh kinh tế quốc tế Trung Quốc.

Lý do chính vì sao thế giới tránh được cuộc suy thoái toàn cầu là các nhà kinh tế đã học được một số bài học từ kinh nghiệm của những năm 1930. Vay nợ nhiều và thành kiến chính trị kéo dài đã hạn chế quy mô của gói kích thích tài chính toàn cầu (một lần nữa với sự ngoại lệ Trung Quốc); nhưng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch, Ben Bernanke, đã bắt tay vào chính sách tiền tệ không chính thống bao gồm cả nới lỏng định lượng – bơm tiền với quy mô lớn vào nền kinh tế thông qua việc mua trái phiếu của Fed. Điều này giúp sự sụt giảm trong cầu thoát khỏi tình trạng xấu hơn để rồi lao vào cuộc suy thoái toàn cầu.

Sự sụp đổ năm 2008 cũng gián tiếp chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng đồng euro. Đồng euro là đồng tiền không hoàn chỉnh: nó có ngân hàng trung ương chung, nhưng lại không có ngân quỹ chung. Các kiến trúc sư của đồng euro đã nhận thức được lỗi này nhưng tin rằng khi điểm yếu này trở nên rõ ràng, ý chí chính trị có thể được triệu hồi để chỉnh sửa. Cuối cùng, đó là cách mà Liên minh châu Âu hoạt động – thực hiện một bước tại một thời điểm, hoàn toàn biết rằng nó không đủ nhưng khi có nhu cầu tất sẽ dẫn đến các bước tiếp theo.

Thật không may, điều kiện chính trị đã thay đổi từ giữa năm 1999, khi đồng euro được thông qua, và năm 2008, khi nhu cầu tăng lên. Đức dưới sự lãnh đạo của Helmut Kohl đã lãnh đạo quá trình hội nhập châu Âu nhằm tạo thuận lợi cho việc thống nhất Đức. Nhưng sự thống nhất đất nước đã chứng minh là tốn kém và công chúng Đức trở nên không sẵn sàng để đưa ra bất kỳ chi phí bổ sung nào. Sau sự phá sản của Lehman Brothers vào năm 2008, khi các bộ trưởng tài chính châu Âu tuyên bố rằng không có tổ chức tài chính quan trọng nào trong hệ thống được phép thất bại, Thủ tướng Angela Merkel, chính trị gia tán đồng với dư luận đang chiếm ưu thế, nhấn mạnh rằng trách nhiệm nên rơi vào mỗi quốc gia riêng biệt, không chỉ cho cả Liên minh châu Âu. Điều đó chính thức xác định khả năng có ngân quỹ chung chỉ khi cần thiết. Đó là khởi đầu của cuộc khủng hoảng đồng euro. Các cuộc khủng hoảng ở các nước riêng lẻ như Hy Lạp, Ý, hoặc Ireland cơ bản là biến thể của cuộc khủng hoảng đồng euro.

Sau đó, cuộc khủng hoảng tài chính đã biến thành một loạt các cuộc khủng hoảng chính trị. Sự khác biệt giữa các quốc gia chủ nợ và quốc gia con nợ đã biến Liên minh châu Âu từ một tổ chức liên kết tự nguyện của sự bình đẳng thành mối quan hệ giữa chủ nợ, như Đức, và con nợ, như Hy Lạp, đó không còn là tự nguyện và cũng không bình đẳng và khuấy động căng thẳng chính trị gia tăng.

Liên minh châu Âu đã bắt đầu như một cố gắng dũng cảm nhằm quản trị quốc tế trên quy mô khu vực. Sau hậu quả của năm 2008, EU trở nên bận tâm với những vấn đề nội bộ và thất bại trong việc thực hiện vai trò của mình trong nền kinh tế quốc tế. Hoa Kỳ cũng trở nên hướng nội nhưng bằng con đường hơi khác. Sự chuyển hướng vào trong của EU và Mỹ đã dẫn đến sự suy giảm trong hợp tác quốc tế trên quy mô toàn cầu.

Từ khi các cường quốc phương Tây là trụ cột của trật tự thế giới hiện hành, ảnh hưởng đang suy giảm của chúng đã tạo nên khoảng trống quyền lực trong quản trị quốc tế. Các cường quốc khu vực và chủ thể phi nhà nước đầy tham vọng, sẵn sàng sử dụng vũ lực quân sự, đã vội vã lắp vào chỗ trống. Các cuộc xung đột vũ trang tăng lên nhanh chóng và lan từ Trung Đông đến các phần khác của châu Á, châu Phi, và thậm chí cả châu Âu.

 

Bằng cách thôn tính Crimea và thiết lập ốc đảo ly khai ở Ukraine, nước Nga của Putin đã thách thức cả trật tự thế giới hiện hành, phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các cường quốc phương Tây, và các giá trị và nguyên tắc mà dựa vào đó EU được thành lập. Cả công chúng châu Âu lẫn Mỹ hoàn toàn không nhận thức được mức độ nghiêm trọng của thách thức này. Tổng thống Vladimir Putin muốn gây bất ổn toàn Ukraine bằng cách làm cho sự sụp đổ tài chính và chính trị sớm xuất hiện mà ông có thể từ chối nhận trách nhiệm, trong khi tránh chiếm đóng một phần của miền đông Ukraine, sau đó sẽ phụ thuộc sự hỗ trợ kinh tế của Nga. Ông đã cho thấy lợi thế của mình hai lần trong việc chuyển chiến thắng quân sự chắc chắn thành lệnh ngừng bắn đe dọa gây bất ổn cho toàn Ukraine. Thật không may, Putin đang thành công, điều đó có thể thấy bằng cách so sánh lệnh ngừng bắn “Minsk 2” với “Minsk 1”, ngay cả khi thành công của ông là hoàn toàn tạm thời. Putin hiện đang tìm cách sử dụng Ukraine để gieo mối bất đồng và đạt được ảnh hưởng chính trị trong Liên minh châu Âu.

Mức độ nghiêm trọng của mối đe dọa của Nga tương quan trực tiếp với sự yếu kém của Liên minh châu Âu. EU đã rất xuất sắc ở tình trạng rối ren qua các cuộc khủng hoảng tài chính và chính trị, nhưng bây giờ nó đang phải đối mặt với không chỉ một mà năm khủng hoảng: Nga, Ukraine, Hy Lạp, nhập cư, và trưng cầu dân ý sắp tới của Anh về tư cách thành viên EU – và có thể là đã quá nhiều. Sự tồn tại của EU hiện đang gặp nguy cơ.

Quản trị quốc tế trên quy mô toàn cầu cũng không kém phần mong manh. Thế giới có thể chia thành các phe đối thủ cả về tài chính và chính trị. Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng một bộ các định chế tài chính tương tự, bao gồm Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB); Sáng kiến Quỹ Trái phiếu châu Á; Ngân hàng Phát triển Mới (trước đây là Ngân hàng BRICS); và Sáng kiến Chiang Mai, là sự sắp xếp đa phương khu vực châu Á để hoán đổi tiền tệ. Hai phe có thể để giữ cho sự đối đầu của chúng trong giới hạn hay không sẽ phụ thuộc vào cách Trung Quốc quản lý quá trình chuyển đổi kinh tế của nó và cách Mỹ phản ứng với điều đó như thế nào.

IMF có thể đóng một vai trò tích cực trong việc này. IMF đã từ bỏ cam kết của mình với Đồng thuật Washington nhưng các cổ đông kiểm soát của các định chế Bretton Woods – Mỹ, Anh, Pháp, và Đức – không sẵn sàng từ bỏ quyền kiểm soát bỏ phiếu của mình bằng cách gia tăng đại diện của các nước đang phát triển. Điều này, ở vị trí của họ, là rất thiển cận, vì không nhận ra những thay đổi trong sức nặng tương đối của các nền kinh tế khác nhau và đặc biệt là sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Các cổ đông kiểm soát không có khả năng từ bỏ quyền kiểm soát của họ, tuy mong manh; nhưng IMF có cơ hội để xây dựng kết nối ràng buộc giữa hai phe. Cơ hội này phát sinh từ thực tế là thành phần của rổ Quyền Rút vốn Đặc biệt (SDR) của IMF sẽ đệ trình để xem xét mỗi 5 năm vào cuối năm 2015.

SDR là một tài sản dự trữ quốc tế, được tạo ra bởi IMF vào năm 1969 để bổ sung dự trữ chính thức hiện có của các quốc gia thành viên. Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc không đủ điều kiện để được đưa vào rổ SDR, nhưng các tiêu chuẩn được đưa vào không được quy định một cách nghiêm ngặt như vẫn thường tin tưởng. Đồng yên Nhật đã được đưa vào rổ khi nó vẫn chưa được giao dịch rộng rãi; đồng franc vào rổ khi tài khoản vốn của Pháp đang được kiểm soát chặt chẽ; và đồng riyal của Ả Rập đã được đưa vào khi nó hoàn toàn neo vào đồng đô la. Các tiêu chí đưa vào rổ đã thay đổi trong những năm qua nhưng hiện tại là (1) quốc gia xuất khẩu lớn và (2) đồng tiền “tự do sử dụng”. Thuật ngữ này thường được hiểu sai là áp đặt khả năng chuyển đổi hoàn toàn của các tài khoản vốn và tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái; nhưng không phải như vậy. Thật tế là rổ Quyền Rút vốn Đặc biệt trước đây bao gồm các đồng tiền không có hoặc có rất ít khả năng chuyển đổi tài khoản vốn.

Giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đã nỗ lực bắt đầu thực hiện để đồng nhân dân tệ được đưa vào rổ SDR, và nhận được sự đồng tình từ đội ngũ nhân viên IMF. Ví dụ, IMF đã thông báo rằng đồng nhân dân tệ “không còn bị định giá thấp”, và không đòi hỏi tự do hóa tài khoản vốn đầy đủ và nhanh chóng, mà là một tốc độ cải cách thận trọng và từng bước nhằm đảm bảo sự hoạt động trơn tru của SDR cũng như duy trì sự ổn định tài chính ở Trung Quốc.

Hiện nay phụ thuộc nhiều vào thái độ của chính phủ Mỹ – nắm giữ quyền phủ quyết trong IMF, thậm chí quyết định liên quan đến rổ SDR đòi hỏi chỉ đa số 70% của ban lãnh đạo IMF. Mỹ sẽ nhượng bộ lớn nếu Mỹ cho phép đồng nhân dân tệ trở thành đối thủ tiềm năng với đồng đô la. Đổi lại, Mỹ có thể đòi hỏi những nhượng bộ tương tự từ Trung Quốc, nhưng đó sẽ là cách tiếp cận sai. Mối quan hệ giữa hai cường quốc không phải là trò chơi có tổng bằng không: lợi ích của một bên không nhất thiết phải là một mất mát cho bên còn lại.

Trung Quốc đang tìm kiếm thân phận SDR cho đồng nhân dân tệ không phải để làm hài lòng hay làm tổn thương Mỹ mà là vì những lý do riêng của Trung Quốc – đó là tham vọng cuối cùng nhằm thay thế đồng đô la Mỹ trở thành đồng tiền thống trị thế giới. Trung Quốc tìm cách sử dụng tự do hóa tài chính như là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Trung Quốc. Trung Quốc muốn đào sâu hơn thị trường trái phiếu chính phủ và cho phép các nhà đầu tư quốc tế tham gia nhằm giúp chính phủ trung ương có thể làm sạch các khoản nợ xấu của chính quyền địa phương vỡ nợ; nó cũng muốn giảm đòn bẩy tài chính quá mức trong nền kinh tế bằng cách thúc đẩy chuyển đổi nợ thành vốn chủ sở hữu. Đưa đồng nhân dân tệ vào rổ tiền tệ IMF sẽ tạo điều kiện cho quá trình này, và thành công sẽ tự động nâng cao sức nặng và ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ trên thế giới.

Chính phủ Mỹ đạt được thì ít mà mất thì nhiều khi xử lý mối quan hệ với Trung Quốc như một trò chơi có tổng bằng không. Nói cách khác, Mỹ có ít sức mạnh thương lượng. Tất nhiên, Mỹ có thể cản trở sự tiến bộ của Trung Quốc, nhưng điều đó sẽ rất nguy hiểm. Chủ tịch Tập Cận Bình nhận trách nhiệm cá nhân đối với nền kinh tế và an ninh quốc gia. Nếu cải cách theo hướng thị trường của ông thất bại, ông có thể nuôi dưỡng một số xung đột bên ngoài để giữ cho đất nước thống nhất và duy trì quyền lực của mình. Điều này có thể khiến Trung Quốc liên kết với Nga không chỉ về mặt tài chính mà còn về chính trị và quân sự. Trong trường hợp đó, xung đột bên ngoài leo thang thành cuộc đối đầu quân sự với đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, không hề cường điệu khi nói rằng chúng ta sẽ ở ngưỡng cửa của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Thật vậy, ngân sách quân sự đang gia tăng nhanh chóng ở cả Nga và Trung Quốc, và chúng vẫn còn ở mức rất cao ở Hoa Kỳ. Đối với Trung Quốc, tái vũ trang sẽ là cách hữu hiệu nhằm thúc đẩy nhu cầu nội địa. Trung Quốc đã thể hiện sức mạnh cơ bắp quân sự tại Biển Đông, hoạt động đơn phương và thường khá hiếu chiến, đã tạo nên mối quan tâm chính đáng ở Washington. Tuy nhiên, có thể mất một hoặc nhiều thập niên cho đến khi một liên minh quân sự Nga-Trung Quốc sẵn sàng đối đầu trực tiếp với Mỹ. Cho đến lúc đó, có thể là sự tiếp tục của chiến tranh lai (hybrid warfare) và sự gia tăng của các cuộc chiến ủy nhiệm (proxy wars).

 

Cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có lợi ích thiết yếu trong việc đạt được sự thông hiểu bởi sự thay thế là khó có thể chấp nhận được. Những lợi ích của một thỏa thuận cuối cùng giữa Trung Quốc và Mỹ có thể có ảnh hưởng sâu rộng như nhau. Gần đây đã có bước đột phá thực sự về chính sách khí hậu trên cơ sở song phương. Bằng cách chấp nhận các đại diện và những cam kết không ràng buộc được thực hiện bởi hai nước, thỏa thuận đã đạt được sự đáng tin cậy hơn một số nỗ lực gần đây nhằm đưa biến đổi khí hậu dưới tầm kiểm soát. Nếu phương pháp này có thể mở rộng đến các khía cạnh khác của chính sách năng lượng và các lĩnh vực tài chính và kinh tế, mối đe dọa của liên kết quân sự giữa Trung Quốc và Nga sẽ được gỡ bỏ và triển vọng của cuộc xung đột toàn cầu sẽ bị giảm đi rất nhiều. Đó là một cố gắng đáng giá.

Trong chuyến thăm cấp nhà nước cuối cùng đến Hoa Kỳ vào năm 2013, Chủ tịch Tập nói về một “kiểu mới của mối quan hệ quyền lực rất lớn”. Chủ đề đã được thảo luận rộng rãi ở Trung Quốc kể từ đó. Tổng thống Obama nên phác thảo tầm nhìn của riêng mình bằng cách vẽ nên sự phân biệt giữa Nga của Putin, đã thay thế nhà nước pháp quyền (rule of law) bằng vũ lực (rule of force), và Trung Quốc ngày nay, không phải luôn luôn tuân theo nhà nước pháp quyền nhưng tôn trọng các nghĩa vụ hiệp ước. Cuộc xâm lược của Nga cần phải được kiên quyết phản đối; ngược lại, Trung Quốc cần phải được khuyến khích – bằng cách cung cấp sự thay thế mang tính xây dựng hơn – nhằm tránh con đường xâm lược quân sự. Kiểu đề nghị này có thể khơi gợi phản ứng thuận lợi. Sự đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc là không thể tránh khỏi nhưng nó cần phải được giữ trong giới hạn ngăn cản việc sử dụng lực lượng quân sự.

Một thỏa thuận có ảnh hưởng sâu rộng trở thành một quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ không dễ dàng thực hiện. Hai nước có hệ thống chính trị cơ bản khác nhau. Trong khi Hoa Kỳ được thành lập trên nguyên tắc tự do cá nhân, Trung Quốc lại không có truyền thống đáng kể của sự tự do như thế. Trung Quốc có cấu trúc phân cấp từ thời xa xưa và đã là một đế chế trong suốt chiều dài lịch sử. Trong những năm gần đây, Mỹ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển sáng tạo các phương tiện truyền thông xã hội, trong khi Trung Quốc dẫn đầu thế giới trong việc tìm kiếm phương tiện để kiểm soát nó. Kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh, Trung Quốc đã có nhiều thành công hơn Nga trong việc tạo ra hệ thống phân cấp thành công.

Cách nhìn tốt nhất về điều này là nhìn vào cách thức thông tin được phân phối. Do sự gia tăng của phương tiện truyền thông xã hội, thông tin ngày càng di chuyển theo chiều ngang, nhưng Trung Quốc thì khác: thông tin được phân phối theo chiều dọc. Trong bộ máy đảng-nhà nước, người gần hơn là ở đỉnh, tốt hơn là được thông báo và quyền rộng rãi hơn là được tự do bày tỏ ý kiến. Điều này có nghĩa là bộ máy đảng-nhà nước không chỉ cung cấp cơ hội làm giàu cá nhân mà còn (trông giống như) tự do cá nhân. Không có gì ngạc nhiên khi bộ máy có thể thu hút nhiều nhân tài tốt nhất của Trung Quốc. Mức độ quyền mà nó cho phép, tuy nhiên, bị giới hạn nghiêm ngặt bởi các lằn ranh đỏ. Người dân chỉ được di chuyển trong giới hạn đó; những người vượt qua lằn ranh đỏ có thể rơi vào tay bộ máy an ninh và biến mất không dấu vết.

Thòng lọng của bộ máy an ninh đã được dần dần giảm bớt, nhưng gần đây có một sự đảo ngược đáng ngại: dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập, các quy tắc không chính thức quy định quyền và vị trí của các tổ chức phi chính phủ (NGO), ví dụ, hiện đang trong quá trình đang được thắt chặt đáng kể *.

So sánh “giấc mơ Trung Quốc” của Chủ tịch Tập với giấc mơ Mỹ nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai hệ thống chính trị và xã hội. Tập tán dương thành công của Trung Quốc trong “trẻ hóa dân tộc” bằng cách khai thác những tài năng và năng lực của người dân trong việc phục vụ nhà nước. Ngược lại, giấc mơ Mỹ ca ngợi sự thành công của cá nhân mạnh mẽ – những người đạt được vị trí xã hội cao hơn và giàu có hơn bằng cách vượt qua những trở ngại gây ra bởi các quy ước hoặc thành kiến xã hội hoặc chính quyền lạm dụng quyền lực của mình, hoặc do may mắn. Mỹ muốn Trung Quốc thực hiện theo các giá trị của mình, nhưng các lãnh đạo Trung Quốc cho rằng họ đang bị lật đổ.

Ở khía cạnh này, Trung Quốc có nhiều điểm chung với Nga hơn so với Mỹ. Cả Nga và Trung Quốc tự xem mình là nạn nhân của khát vọng thống trị thế giới của Mỹ. Từ góc nhìn của Mỹ, có nhiều điều phản đối trong hành vi của Trung Quốc. Không có tư pháp độc lập và các công ty đa quốc gia thường bị ngược đãi và được thay bằng các công ty yêu thích trong nước. Và có những xung đột với Mỹ và các quốc gia khác ở Biển Đông và chiến tranh mạng và nhân quyền. Đây không phải là vấn đề mà sự hợp tác sẽ dễ dàng đạt được.

Hoàn toàn công nhận các khó khăn này, tuy nhiên, chính phủ Mỹ vẫn nên thực hiện nỗ lực có thiện chí trong việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc. Điều này sẽ liên quan đến việc xác định các phạm vi có cùng lợi ích cũng như các phạm vi của sự đối đầu. Các phạm vi có cùng lợi ích sẽ mời gọi hợp tác, các phạm vi của sự đối đầu thương lượng ăn miếng trả miếng. Mỹ cần xây dựng chiến lược hai hướng vừa thúc đẩy hợp tác vừa răn đe khiến cho thương lượng ăn miếng trả miếng kém hấp dẫn.

Các phạm vi hợp tác có thể chứng minh là rộng hơn so với cái nhìn đầu tiên. Hợp tác với Trung Quốc giúp cho cải cách tài chính của Chủ tịch Tập thành công chắc chắn là nằm trong lợi ích chung. Thành công này sẽ thực hiện được nguyện vọng của ngày càng tăng tầng lớp trung lưu Trung Quốc. Nó cũng có thể cho phép Tập nới lỏng một số hạn chế mà ông đưa ra gần đây và điều này, đến lượt nó, sẽ tăng khả năng các cải cách của ông sẽ thành công và cải thiện sự ổn định tài chính toàn cầu. Điểm yếu của phương pháp tiếp cận hiện tại của ông là cả thực hiện và giám sát quá trình cải cách nằm trong cùng một bàn tay. Quá trình này được mở ra để nhận phê bình từ giới truyền thông và xã hội dân sự sẽ cải thiện tính hiệu quả của cải cách của ông rất nhiều. Điều này đặc biệt đúng trong chiến dịch chống tham nhũng của Tập. Và nếu Trung Quốc theo con đường này, nó sẽ càng trở nên hấp dẫn đối với Mỹ như là một đối tác chiến lược.

Các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Trung Quốc có thể không được hoàn thành vào tháng 10/2015, khi ban lãnh đạo của IMF dự kiến sẽ xem xét thành phần trong rổ SDR. Thực tế là phải đến chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch Tập tới Washington vào tháng 9 mới hoàn thành việc chuẩn bị. Nhưng có nhiều điều cần đạt được bằng cách kéo dài thời hạn SDR đến năm 2016. Sau đó Trung Quốc sẽ tổ chức cuộc họp của Nhóm G20, và năm 2016 cũng là năm cuối cùng của chính quyền Obama. Triển vọng của quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ huy động tất cả các lực lượng chính trị có lợi cho hợp tác quốc tế cả hai bên.

Nếu nỗ lực thiện chí thất bại, Mỹ sau đó sẽ hoàn toàn hợp lý trong việc phát triển quan hệ đối tác đủ mạnh với các nước láng giềng của Trung Quốc mà liên minh Trung Quốc-Nga sẽ không dám thách thức bằng vũ lực quân sự. Điều đó rõ ràng là kém hơn so với quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ đối tác với các nước láng giềng của Trung Quốc sẽ đưa chúng ta trở lại chiến tranh lạnh, nhưng vẫn là thích hợp hơn so với một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương, hiện đang được đàm phán, có thể mang đến cơ hội tuyệt vời cho chiến lược hai hướng nhưng cách tiếp cận hiện nay là hoàn toàn sai. Hiện tại, Trung Quốc bị loại trừ; thực sự là quan hệ đối tác được hình thành như là một liên minh chống Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Tổng thống đã yêu cầu Quốc hội cho ông và chính quyền kế nhiệm đến sáu năm để đàm phán hiệp định thương mại theo quy định đàm phán nhanh (fast-track rules) mà có thể tước đi quyền đưa ra các sửa đổi của Quốc hội. Dự luật đã được chuyển sang Thượng viện và bài báo này được viết trước khi chuyển sang Hạ viện. Nếu Hạ viện phê duyệt, Chủ tịch Tập có thể đối mặt với mối đe dọa rõ ràng cho chuyến thăm vào tháng 9. Đây là phản ứng thích đáng đối với hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông và các nơi khác, nhưng còn rất ít chỗ trống cho cách tiếp cận thay thế. Kết quả là, rất khó cho Tổng thống Obama đưa ra đề nghị thiện chí của quan hệ đối tác chiến lược.

Hy vọng rằng Hạ viện sẽ không cho phép dự luật có quyền đàm phán nhanh. Thay vì buộc dự luật thông qua Quốc hội nhanh chóng, nó nên được đưa khỏi quyền đàm phán nhanh. Trong trường hợp đó, Quốc hội sẽ có nhiều thời gian để điều chỉnh những sai sót cơ bản trong các hiệp ước dự kiến khiến chúng không được chấp nhận khi chúng hiện đang được soạn thảo. Và điều đó cũng sẽ cho phép Tổng thống Obama đưa cho Chủ tịch Tập lời đề nghị chân thành của quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc khi ông đến thăm Washington vào tháng 9.

*Xem Edward Wong, “Chinese Security Laws Elevate the Party and Stifle Dissent. Mao Would Approve,” The New York Times, May 30, 2015.

http://www.nybooks.com/articles/archives/2015/jul/09/partnership-china-avoid-world-war  truy cập 16/6/2015

Bài viết mới

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Advertisements

48 thoughts on “Biển Đông vạn dặm

  1. Pingback: Ngày mới yêu thương | Khát khao xanh

  2. Pingback: Chào ngày mới 21 tháng 6 | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Chào ngày mới 23 tháng 6 | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Chào ngày mới 23 tháng 6 | CNM365

  5. Pingback: Đến với bài thơ hay | Khát khao xanh

  6. Đại sứ Mỹ Ted Osius trả lời phỏng vấn trực tuyến VnExpress
    ***TT Obama có thể thăm Việt Nam năm nay**
    http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tong-thong-my-obama-co-the-tham-viet-nam-nam-nay-3236132.html
    Nhân dịp Việt Nam và Mỹ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Đại sứ Mỹ Ted Osius chia với độc giả về mọi mặt trong giao kết đặc biệt hai nước vào 14h30 hôm 22/6 trên VnExpress. Trả lời phỏng vấn của độc giả VnExpress, đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius cho biết năm nay sẽ chứng kiến nhiều chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước, trong đó có thể có việc Tổng thống Obama tới Việt Nam.
    – Năm 2000, Tổng thống Bill Clinton đã nói: “Chúng tôi vinh dự được cùng các Ngài viết nên một chương mới trong quan hệ giữa hai nước Mỹ và Việt Nam, và chúng tôi biết ơn vì chương sử mới này đã có một khởi đầu tốt đẹp. Quả thực, lịch sử mà chúng ta để lại sau mình rất đau buồn và nặng nề. Chúng ta không được quên nó. Nhưng chúng ta cũng không được để nó chi phối chúng ta. Quá khứ chỉ là cái đến trước tương lai, quá khứ không phải là cái quyết định tương lai”. Xin được hỏi ngài đại sứ, chính sách của nước Mỹ hiện nay chọn những nội dung nào là trọng tâm để hiện thực quan điểm đó? Xin cám ơn. (Nguyễn Công Danh, 45 tuổi)
    – Tôi rất vui có mặt ở đây tại thời gian này, trong giai đoạn lịch sử này khi chúng ta kỷ niệm 20 năm ngày bình thường hóa quan hệ ngoại giao hai nước. Đây cũng là năm có lẽ có khoảng 6 đến 7 ủy viên Bộ Chính trị Việt Nam sang thăm Mỹ và có 5 hoặc 6 quan chức cấp bộ trưởng Mỹ, có thể cả tổng thống Mỹ, sang thăm Việt Nam. (Xem video)
    Đây cũng là năm dự kiến chúng ta hoàn tất đối tác TPP, có thể mang lợi ích to lớn cho Việt Nam và Mỹ. Vào ngày 12/7 tới chúng ta sẽ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ hai nước. Năm nay các hoạt động kỷ niệm sẽ được tổ chức tại hầu hết các tỉnh thành Việt Nam. Cho tới nay, sứ quán đã phối hợp tổ chức tại 50 tỉnh thành, với nội dung tập trung làm sâu sắc mối quan hệ này.
    Tôi muốn trả lời câu hỏi này bằng trích dẫn câu nói của Ngoại trưởng John Kerry. Ông nói “trên thế giới không có hai nước nào làm tốt hơn Việt Nam và Mỹ trong việc đưa mối quan hệ hai nước gần nhau hơn, hướng tới tương lai”.
    Hai nước ta đã xử lý vấn đề chất dioxin cùng với việc xử lý người mất tích. Sự hợp tác đó mở khả năng tiến hành nhiều hợp tác khác. Chúng ta có nhiều tiến triển trong nhiều lĩnh vực. Tin tốt là ta đã đạt được tiến độ trong kinh tế, thương mại, chính trị ngoại giao, giáo dục, môi trường, sức khỏe đến mối quan hệ hai nước.
    Tôi muốn nêu 3 lĩnh vực cụ thể mà quan hệ hai nước đã vượt qua tầm song phương ra toàn cầu. Thứ nhất là gìn giữ hòa bình. Mỹ đã giúp VN đào tạo binh sĩ, cán bộ đủ kỹ năng cần thiết để tham gia nhiệm vụ gìn giữ hòa bình trên thế giới. Thứ hai là sức khỏe toàn cầu. Việt Nam là một nước trọng điểm trong sáng kiến của tổng thống Mỹ về sức khỏe toàn cầu. Ngoài ra, Mỹ còn hơp tác cùng VN trong việc đối phó với nhiều căn bệnh, trong đó có bệnh truyền nhiễm. Thứ ba là cơ hội hơp tác kinh tế khu vực. Việt Nam là một trong những nước trọng tâm trong việc đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).
    – Liệu Mỹ có làm ngơ việc Trung Quốc muốn chiếm cả Biển Đông, khi ông Tập Cận Bình mang những miếng mồi béo bở về kinh tế sang Mỹ vào tháng 9 tới không? (Lượng Minh Trung, 61 tuổi, Đồng Tháp – Việt Nam)
    – Quan điểm của Mỹ về vấn đề Biển Đông rất rõ ràng. Từ lâu chúng tôi đã ủng hộ tự do hàng hải, các hoạt động thương mại an toàn, không bị cản trở và phù hợp với luật pháp quốc tế.
    Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên kiềm chế, không tiến hành những hành động khiêu khích, đe dọa sử dụng vũ lực.
    Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên ngừng vô thời hạn các hoạt động cải tạo đất và chấm dứt việc quân sự hóa các vị trí chiếm đóng tại khu vực này. Các bên cần tham gia vào quá trình đàm phán ngoại giao nhằm giải quyết căng thẳng tại khu vực này.
    Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền trong khu vực này có phản hồi tích cực với lời kêu gọi của chúng tôi.
    – Khi nào Việt Nam có cơ hội để mua máy bay chiến đấu F16, máy bay săn ngầm P3C Orion? Xin cảm ơn đại sứ. (Hiếu, 35 tuổi)
    – Mấy tuần trước, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã đến thăm Việt Nam. Ông ấy đã cùng Bộ trưởng Phùng Quang Thanh ký kết về tuyên bố tầm nhìn chung giữa hai nước.
    Bản tuyên bố này được xây dựng trên cơ sở biên bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng hai nước được ký từ năm 2011. Bản tuyên bố này tạo ra khả năng để mở rộng thương mại quốc phòng giữa hai nước chúng ta.
    Việt Nam sẽ xem xét các nhu cầu quốc phòng và đưa ra đánh giá để sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực quốc phòng hiệu quả. Mỹ sẽ xem xét tích cực các yêu cầu của Việt Nam, nhưng Việt Nam sẽ là người quyết định trong việc xác định nhu cầu quốc phòng phù hợp với mình. Chúng tôi sẽ xem xét các yêu cầu của Việt Nam.
    – Những gì xảy ra tại biển Đông không chỉ là tranh chấp lãnh thổ, nó làm ảnh hưởng đến tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới. Với tư cách là cường quốc số 1 thế giới về kinh tế và quân sự, Mỹ luôn chủ trương không đứng về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ, tuy nhiên, Mỹ sẽ làm gì để ngăn chặn Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông? (Nguyễn Đức Tài, 21 tuổi)
    Mỹ là một cường quốc. Chúng tôi có những lợi ích to lớn trong tương lai của châu Á. Tương lai của châu Á theo tầm nhìn của chúng tôi là một châu Á thịnh vượng, hòa bình, nơi các nước có thể giải quyết các tranh chấp thông qua luật pháp quốc tế và biện pháp ngoại giao.
    Về lịch sử mà nói, khi xuất hiện một cường quốc đang trỗi dậy thì giữa cường quốc đang trỗi dậy và cường quốc hiện tại thường có xu hướng xảy ra xung đột.
    Để tránh khả năng xung đột đó, chúng tôi mong muốn phát triển một cấu trúc an ninh bền vững ở châu Á. Một cấu trúc an ninh bền vững ở châu Á đòi hỏi ASEAN phải là một tổ chức mạnh mẽ và đóng vai trò trọng tâm.
    Chúng tôi ủng hộ và mong muốn ASEAN phát triển mạnh hơn, đoàn kết hơn, thịnh vượng hơn nhằm tiến tới một châu Á mạnh mẽ, độc lập và thịnh vượng.
    Việt Nam đóng vai trò dẫn dắt quan trọng trong các nước ASEAN và Mỹ ủng hộ vai trò này của Việt Nam.Các cơ hội để giải quyết một cách hòa bình các khác biệt về tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông sẽ trở nên khả thi hơn khi ASEAN phát triển mạnh hơn và đoàn kết hơn.
    – Tôi được biết Mỹ có hai cấp độ quan hệ với các nước khác. Một là đồng minh. Hai là đối tác bình thường. Có phải như vậy không thưa ngài? Quan hệ đối tác toàn diện là gì? Và chúng ta đang ở đâu? (Khiem Nguyen Huy, 42 tuổi, 49/7Y3 Quang Trung, P12, GV)
    Chúng ta là những đối tác mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy rằng không chỉ quan hệ đồng minh mới quan trọng mà các quan hệ đối tác cũng rất quan trọng.
    Tôi từng đến Ấn Độ để giúp xây dựng quan hệ đối tác mạnh mẽ. Sau đó, tôi tới Indonesia xây dựng quan hệ đối tác mạnh mẽ với Indonesia. Hiện tôi đang ở Việt Nam để giúp xây dựng quan hệ đối tác mạnh mẽ với Việt Nam.
    Điều khác biệt ở đây là chúng ta từng có những khó khăn trong quá khứ. Và trong thời gian qua, chúng ta đã cố gắng rất nhiều để cải thiện điều này.
    – Ông có thể kể về chuyến đi đáng nhớ nhất của mình tại Việt Nam từ khi làm đại sứ đến nay? Những trải nghiệm có khác so với hình dung ban đầu?(Phạm Bích Nga, 50 tuổi, Lâm Đồng)
    – Hồi tháng 5, tôi có dịp cùng trợ lý ngoại trưởng leo lên đỉnh Fansipang. Nhóm của chúng tôi cả người Mỹ và Việt Nam, trong đó có một số nhân viên thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam. Chúng tôi đã leo đến tận đỉnh. Đó là một chuyến đi nhiều thách thức. Núi rất dốc, đoạn gần đỉnh vừa dốc vừa trơn. Rất khó khăn nhưng rất đáng để chúng tôi cùng nhau dốc sức.
    Mấy ngày trước khi chúng tôi đi, hai bên đã tiến hành vòng đối thoại về nhân quyền và đó là một thách thức khó khăn, nhưng chúng tôi đã làm việc đó cùng nhau.
    Năm nay tôi 53 tuổi và sẽ có người nói rằng thật điên rồ khi muốn trèo lên đỉnh núi cao nhất của Việt Nam, nhưng đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam cũng là sếp cũ của tôi thường hay nói rằng không có gì là không thể và tôi hoàn toàn đồng ý với ông ấy.
    – Tôi rất hâm mộ tình yêu của ngài, ngài có hài lòng với tình yêu của mình không? (Dang tieu Tran, 33 tuổi)
    Tôi rất tự hào về gia đình mà tôi và Clayton cùng gây dựng nên.
    Bạn đời và tôi đã kết hôn 9 năm trước vào thời điểm hôn nhân đồng tính chưa hợp pháp tại Mỹ. Chúng tôi đã nhận nuôi đứa con đầu lòng cách đây một năm rưỡi và đứa thứ hai cách đây 2 tháng. Chúng tôi cảm thấy rất may mắn khi hai con đều khỏe mạnh.
    – Ông muốn để lại dấu ấn gì của mình trong nhiệm kỳ này? (Phạm Văn Bình, 23 tuổi, Quảng Ngãi)
    Điều tôi muốn là làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác giữa hai nước chúng ta. Theo quan điểm của tôi, để đạt được điều đó, ta phải cùng làm việc về các nội dung quan trọng với người dân. Những nội dung ấy là tạo điều kiện để trẻ em có sức khỏe tốt, học hành tốt, tạo công ăn việc làm cho người dân. Các hoạt động hợp tác về môi trường cũng quan trọng vì nó liên quan đến con cháu họ.
    Hợp tác giáo dục là nội dung quan trọng, vì các hoạt động về lĩnh vực này tạo cơ sở cho tương lai của người dân. Một trong những nội dung hai bên đang hợp tác và cũng là nội dung thú vị nhất chính là hợp tác thành lập trường Đại học Fulbright đầu tiên ở Việt Nam. Đây sẽ là trường kiểu Mỹ độc lập, phi lợi nhuận đầu tiên ở Việt Nam và sẽ được thành lập ở thành phố Hồ Chí Minh.
    Tới nay, chính phủ Mỹ đã góp 17,5 triệu USD và các tổ chức cá nhân khác cũng đóng góp rất nhiều, đưa tổng tiền là 40 triệu USD cho việc thành lập đại học này. Tôi tin chúng ta sẽ thành công và trường đại học này sẽ tạo ra mối quan hệ đối tác mạnh mẽ cho nhiều thập kỷ trong thời gian tới.
    – Trong các hoạt động kỷ niệm 20 năm quan hệ Việt Nam và Mỹ sắp tới, thông điệp mà phía Mỹ muốn đưa ra là gì? (Dương Văn Thanh, 55 tuổi, TP HCM)
    Thông điệp của chúng tôi rất đơn giản. Hãy nhìn lại trong 20 năm qua hai nước đã tiến xa chừng nào và từ đó có thể hình dung được khả năng tiến xa của hai nước trong 20 năm tới.
    Năm nay chúng ta có một cơ hội hiếm có để xác định tầm nhìn chung cho quan hệ hai nước. Chúng ta có thể chuyển từ hợp tác song phương hiệu quả sang hợp tác hiệu quả cấp khu vực và toàn cầu. Chúng ta có thể chứng minh rằng không gì là không thể.
    – Việt Nam và Mỹ ngày trước là hai kẻ thù, sau 20 năm là quan hệ bang giao. Người Việt Nam chúng tôi thường dùng chữ “Bạn” để nói về mối quan hệ này. Từ “Bạn” theo cách nghĩ của người Việt Nam là thân thiện, giúp đỡ, sẻ chia … và vì nhau để cùng phát triển. Vậy từ “Bạn” theo cách nghĩ của ngài và chính quyền Tổng thống Obama có giống như cách nghĩ và hành động của người Việt Nam hay không? (Nguyễn Văn Quang, 58 tuổi, 29 Lê Cơ , Quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng)
    Có. Nếu chúng ta định nghĩa “Bạn” chính là cùng nhau làm việc để đạt được phát triển và hướng tới thành công của Việt Nam thì chắc chắn đó là điều mà chúng tôi nghĩ.
    – Thưa ngài đại sứ, như chúng ta đã biết thì Mỹ đã cấp thị thực có thời hạn 10 năm cho Trung Quốc. Câu hỏi của tôi là, khi nào chính phủ Mỹ sẽ tăng hạn thị thực từ một năm lên 10 năm cho người mang hộ chiếu Việt Nam ?(Hà Quang Anh, 22 tuổi, 207 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5, TpHCM)
    Các bạn biết không, hiện nay Việt Nam cấp thị thực ba tháng xuất nhập cảnh một lần cho công dân Mỹ. Trung Quốc cấp thị thực xuất nhập cảnh nhiều lần cho công dân Mỹ trong 10 năm. Trong số các nước tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), không có nước nào ngoài Việt Nam yêu cầu Mỹ có thị thực khi xuất nhập cảnh vào Việt Nam.
    Nếu chính phủ Việt Nam thực sự mong hội nhập quốc tế toàn diện thì việc chỉ cấp thị thực ba tháng một lần cho công dân Mỹ là một điều sai lầm. Một cơ chế cấp thị thực hiện đại hơn của Việt Nam sẽ tạo điều kiện tăng thêm số lượng khách du lịch, sinh viên, nhà đầu tư Mỹ sang Việt Nam. Nhưng vì Việt Nam thực hiện chính sách thị thực rất khắt khe như vậy nên tôi có nhiệm vụ phải áp dụng các cơ chế thị thực tương ứng.
    Trong tương lai gần chúng tôi chỉ có thể cấp visa ba tháng xuất nhập cảnh một lần cho công dân vì chúng tôi chỉ được cấp thị thực tương ứng với giá trị thị thực mà các nước cấp cho chúng tôi. Tôi không muốn làm việc này nhưng chính phủ Việt Nam không cho tôi thêm sự lựa chọn nào khác. Tôi đã nêu vấn đề này với mọi quan chức chính phủ Việt Nam mà tôi gặp ở Hà Nội và các tỉnh thành khác. Tôi nghĩ việc áp dụng quy chế khắt khe như vậy là trái với lợi ích của hai nước chúng ta.
    Quý vị quan tâm đến xin visa đi Mỹ có thể tham khảo tại website:http://ustraveldocs.com/vn_vn/index.html
    – Nếu được cử làm Ngoại trưởng đầu tiên tới một xứ sở nào đó ngoài hành tinh Ngài có làm không? và tại sao? (Lê Phú Tài, 32 tuổi, ấp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, An Giang)
    Nếu tổng thống nói nhiệm vụ của tôi phải làm vậy thì tôi sẽ chấp nhận điều đó. Vì sao ư? Vì đó là nhiệm vụ. Tôi nghĩ nó sẽ là một cuộc phiêu lưu khi ta đến nơi chưa có ai từng đặt chân đến.
    – Thưa ngài đại sứ Ted Osius, hiện nay nông dân đất nước tôi rất khó khăn về vấn đề nguồn ra cho sản phẩm nông nghiệp và thuỷ sản cuộc sống nhiều nông dân đang rất khó khăn, tôi rất mong sản phẩm nông dân chúng tôi đến được thị trường Mỹ và các nước đồng minh thân Mỹ. Sau khi ký hiệp định TPP thì những mặt hàng nông sản và thuỷ sản có được đến tay người tiêu dùng Mỹ và các nước thân Mỹ không? (Nguyễn Long Hồ, 31 tuổi, TP HCM)
    Theo một số kết quả nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, việc ký kết thực hiện TPP sẽ giúp tăng 30% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Với tư cách là nước ít phát triển nhất trong số 12 nước đang đàm phán TPP, Việt Nam sẽ là nước hưởng nhiều lợi ích nhất từ hiệp định này.
    Hiện nay, một nửa lượng hàng xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam là nông sản và hơn một nửa hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ cũng là nông sản.Vì vậy chắc chắn khi TPP hoàn tất thì lượng sản phẩm nông sản của hai nước xuất khẩu sang thị trường của nhau sẽ tăng lên.
    Vì vậy, tác động lớn nhất của TPP là sẽ đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế toàn diện của Việt Nam. Chính sách đó đã được nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam công bố. Tôi rất lạc quan rằng quá trình đàm phán TPP sẽ sớm được hoàn tất. Điều này sẽ bổ sung, nâng cao đáng kể chất lượng quan hệ của chúng ta.
    – Thưa ngài Đại sứ, tôi đã nghe nói nhiều về lợi ích của Việt Nam khi tham gia hiệp định TPP mà chưa nghe nói về lợi ích của nước Mỹ. Xin ngài cho biết về điều này. (Pham Duc Ha, 64 tuổi, 635 Vu Tong Phan Ha Noi)
    Cách đây vài năm, Tổng thống Obama đã ra quyết định tái cân bằng chính sách của Mỹ sang châu Á. Có một số người diễn giải quyết định này là để chuyển các nguồn lực quân sự của Mỹ sang châu Á. Nhưng cách thể hiện chính xác hơn điều này là tuyên bố gần đây của Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter khi nói rằng TPP quan trọng hơn nhiều so với một tàu sân bay.
    Hiệp định TPP sẽ làm sâu sắc hơn nữa hợp tác kinh tế của 12 nước thành viên, chiếm 40% GDP toàn cầu. Hiệp định này sẽ tạo điều kiện để 12 nước thành viên đặt ra và thực hiện tiêu chuẩn ở cấp độ cao trong thương mại toàn cầu. Hiệp định này không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa quan trọng về chiến lược bởi vì điều này sẽ làm gia tăng lựa chọn của chúng tôi.
    Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nói với tôi rằng quyết định khi đưa Việt Nam tham gia TPP mang tính chiến lược. Và đối với Mỹ cũng vậy, việc Mỹ cùng với các nước hoàn thành hiệp định này cũng là một quyết định chiến lược.
    – Xin chào ngài đại sứ! Chúc ngài sức khỏe, thành công! Tôi xin được hỏi ngài nước Mỹ đang có những chính sách gì để khắc phục hậu quả chất độc da cam trên đất nước chúng tôi, xin cảm ơn ngài. (vu ngoc phan, 33 tuổi)
    Mỹ đã dành 100 triệu USD cho hoạt động khắc phục ô nhiễm dioxin gần sân bay Đà Nẵng và dự án này đã đạt được kết quả rất to lớn. Khi tôi lần đầu tiên tới Việt Nam, thời điểm đó hai nước còn chưa thảo luận về dioxin nhưng hiện nay vấn đề này đã trở thành một chủ đề được thảo luận tích cực giữa hai nước chúng ta.
    Từ kinh nghiệm thực tế, chúng tôi rút ra rằng nếu chúng ta tôn trọng quá khứ và làm việc cùng nhau với thái độ chân thành về quá khứ thì sẽ mở ra cánh cửa tương lai cho quan hệ giữa hai nước. Một trong những điều gây ấn tượng mạnh mẽ nhất với tôi về người dân Việt Nam là sự chú ý và quan tâm của họ đối với tương lai. Cách hướng tới tương lai đó thể hiện sự lạc quan của người Việt Nam và tôi cũng rất lạc quan về tương lai.
    – Ngài đại sứ thích điều gì nhất ở đất nước Việt Nam và có điều gì Ngài không hài lòng? (Lê Phú Tài, 32 tuổi, ấp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, An Giang)
    Điều quan trọng nhất là tôi yêu mến và tôn trọng người dân Việt Nam.
    Từ trải nghiệm của tôi, người dân Việt Nam rất mến khách, thông minh và cần cù lao động. Tôi rất thích và tôn trọng truyền thống lịch sử của Việt Nam. Ví dụ như tôi rất thích truyền thống ăn Tết, tôi đã có cơ hội nấu bánh chưng và thả cá đưa ông Táo về trời. Tôi thích các truyền thuyết của Việt Nam, đặc biệt là truyện người dân Việt Nam có dòng dõi con rồng cháu tiên.
    Truyền thuyết thể hiện tính cách và giá trị của người Việt Nam, đó là sức mạnh tinh thần, truyền thống học hỏi cũng như truyền thống nhân đạo.
    Tôi rất thích các món ăn của Việt Nam, đặc biệt là bánh xèo, phở hay bất cứ món nào có cua hoặc hoa quả tươi, kể cả sầu riêng.
    Danh sách những thứ tôi không thích ngắn hơn nhiều. Tôi không thích bất kỳ yếu tố nào làm giảm khả năng của người Việt Nam trong việc xây dựng một đất nước vững mạnh và độc lập.
    Nếu không có những tiến bộ cụ thể trong lĩnh vực nhân quyền thì không chỉ mối quan hệ đối tác của chúng ta không thể khai thác hết các tiềm năng mà bản thân người Việt Nam cũng không thể khai thác hết tiềm năng của mình.
    Vì vậy điều mà tôi mong muốn được thấy trong tương lai ở Việt Nam là mọi người dân Việt Nam có thể khai thác đầy đủ mọi tiềm năng của mình, trong đó có việc được thực hiện các quyền tự do thể hiện ý kiến, tự do tôn giáo hay tự do hội họp.
    Tôi cho rằng đã có rất nhiều tiến bộ đạt được trong các lĩnh vực nói trên kể từ khi tôi đến thăm Việt Nam lần đầu tiên và tôi rất chào mừng những tiến bộ đó.
    Tôi muốn bổ sung một điều vào danh mục những điều tôi yêu thích ở Việt Nam là người dân Việt Nam luôn tràn đầy hy vọng và lạc quan về tương lai. Tôi chia sẻ tinh thần lạc quan đó của người Việt Nam
    ( Nguồn:.VnExpress
    http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tong-thong-my-obama-co-the-tham-viet-nam-nam-nay-3236132.html

  7. Pingback: Ngày mới yêu thương | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Quà tặng cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Lộc xuân cuộc đời | Tình yêu cuộc sống

  10. Pingback: Nguyễn Hiến Lê học và viết | Tình yêu cuộc sống

  11. Pingback: GS Trần Văn Khê người Thầy âm nhạc | Tình yêu cuộc sống

  12. Pingback: Helen Keller người mù điếc huyền thoại | Tình yêu cuộc sống

  13. Pingback: Thạch Lam hạt ngọc đời nay | Tình yêu cuộc sống

  14. Pingback: Tiếng Anh cho em | Khát khao xanh

  15. Pingback: Quà tặng cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  16. Pingback: Đêm nhớ Phan Huỳnh Điểu Phan Nhân | Tình yêu cuộc sống

  17. Pingback: Quà tặng cuộc sống | Khát khao xanh

  18. Pingback: Biển Đông vạn dặm | Tình yêu cuộc sống

  19. Pingback: Đọc lại và suy ngẫm 2 | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Bà Đen Tây Ninh Bà Đen Đồng Nai | Tình yêu cuộc sống

  21. Pingback: Trần Thánh Tông | Tình yêu cuộc sống

  22. Pingback: Ngày mới yêu thương | Khát khao xanh

  23. Pingback: Ngày mới yêu thương | Tình yêu cuộc sống

  24. Pingback: Chào ngày mới 8 tháng 7 | Tình yêu cuộc sống

  25. Pingback: Chào ngày mới 8 tháng 7 | CNM365

  26. Pingback: Đợi mưa | Khát khao xanh

  27. Pingback: Đợi mưa | Tình yêu cuộc sống

  28. Pingback: Tháng Bảy mưa Ngâu | Tình yêu cuộc sống

  29. Pingback: Tiếng Anh cho em | Tình yêu cuộc sống

  30. Pingback: Khoảnh khắc tuyệt đẹp | Khát khao xanh

  31. Pingback: Khoảnh khắc tuyệt đẹp | Tình yêu cuộc sống

  32. Pingback: Giấc mơ tình yêu cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  33. Pingback: Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời | Tình yêu cuộc sống

  34. Pingback: Mạc triều trong sử Việt | Tình yêu cuộc sống

  35. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 7 | Tình yêu cuộc sống

  36. Pingback: Chào ngày mới 15 tháng 7 | CNM365

  37. Pingback: Từ Mekong nhớ Neva | Tình yêu cuộc sống

  38. Pingback: Lớp học trên đồng Đăk Glong Oxfam | Tình yêu cuộc sống

  39. Pingback: Thăm Borlaug và Hemingway ở CIANO | Tình yêu cuộc sống

  40. Pingback: Khoảnh khắc thiên thu | Khát khao xanh

  41. Pingback: Năm tháng đó là em | Tình yêu cuộc sống

  42. Pingback: Mảnh đạn trong người | Tình yêu cuộc sống

  43. Pingback: Lê Phụng Hiểu truyện hay nhớ mãi | Tình yêu cuộc sống

  44. Pingback: Henry Ford và Thượng Đế | Tình yêu cuộc sống

  45. Pingback: Rằm Xuân Hà Nội | Tình yêu cuộc sống

  46. Pingback: Khổng Tử đọc lại và suy ngẫm | Tình yêu cuộc sống

  47. Pingback: Sáng sớm ở vườn bạn | Khát khao xanh

  48. Pingback: HOÀNG KIM LONG : GS TRẦN VĂN KHÊ , NGƯỜI THẦY NHẠC VIỆT | TRẦN VĂN KHÊ / MUSIC & LIFE/ ÂM NHẠC & ĐỜI SỐNG/ MUSIQUE & VIE

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s