Biển Đông vạn dặm

BienDong16615

Tình hình biển Đông có gì mới? Báo Mỹ, tờ The Wall Street Journal có bài bình luận đáng chú ý của tác giả Andrew Browne  Can China Be Contained? (Có thể ngăn chặn Trung Quốc được không? (người dịch Huỳnh Phan). Bài tổng quan tình hình và phân tích về đối sách, động thái chiến lược của Mỹ trong trật tự thế giới biến chuyển. (Hiên nay đối với nhiều người Mỹ, hứa hẹn sẽ là một đối tác ngoại giao với TQ thật xa vời hơn bao giờ hết. Ảnh: Corbis)

Bài viết của Andrew Browne là một tài liệu đánh giá tổng quan về xu thế đối ngoại của Mỹ. Nhiều nhà chiến lược Mỹ đang đào bới lại những ý tưởng ngăn chặn có từ thời Chiến tranh Lạnh thay thế cho liên minh và sự đồng thuận đã có từ lâu trong quan hệ với Bắc Kinh. Sự thay đổi tâm trạng ở Washington hiện nay liệu có thể kết thúc cơ bản giống y như sự thay đổi đến trên toàn nước Mĩ ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, khi Mỹ chợt nhận ra rằng Liên Xô sẽ không thể tiếp tục là một đồng minh. Đó là khi nhà ngoại giao huyền thoại và là nhà tư tưởng chính sách Mĩ George F. Kennan hình thành nên kế hoạch ngăn chặn?

Nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy, chính sách đối ngoại của Mỹ ngăn chặn hay hợp tác? Trung Quốc đang cưỡng chiếm Biển Đông Việt Nam và rộng ra trên vùng biển của “đường lưỡi bò chín đoạn”. Sự căng thẳng trong khu vực đang tăng lên. Trung Quốc không còn chấp nhận vai trò của Mĩ như một cảnh sát khu vực để duy trì hòa bình và giữ cho các tuyến đường biển thông suốt. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình năm ngoái tại Thượng Hải đã tuyên bố “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn trên biển Đông (xem thêm: Biển Đông và sông Mekong). Trung Quốc tìm kiếm quyền lực trên biển Đông Việt Nam thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ. Trung Quốc  thực hiện một loạt các kế sách liên hoàn:  xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp do sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngồi cạnh Tổng Thống Nga Putin trong đại lễ 70 năm kỷ niệm Ngày Chiến thắng Chủ nghĩa Phát xít khi Tổng thống Mỹ Obama cùng nguyên thủ nhiều nước châu Âu và thế giới theo phe Mỹ không tham dự, Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg  dù mọi giá  thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế , khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới.

Việt Nam làm gì trong thế giới biến chuyển? Bài học lịch sử dân tộc và nhân loại luôn nhắc nhở  chúng ta : “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình”. “Ta lớn mau mau. Vượt qua biển lớn”. “Tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi, có lý có lợi, đúng lúc “.

Hoàng Kim


Tài liêu dẫn

CÓ THỂ NGĂN CHẶN TRUNG QUỐC ĐƯỢC KHÔNG?

Tác giả: Andrew Browne

Người dịch: Huỳnh Phan

12-06-2015

Khi căng thẳng với Trung Quốc tăng lên, các nhà tư tưởng chính sách đối ngoại của Mĩ đang đào bới lại những ý tưởng thời Chiến tranh Lạnh – và đặt câu hỏi về sự đồng thuận có từ lâu cho việc quan hệ với Bắc Kinh.

Viết vào năm 1967, lúc đỉnh cao của Chiến Tranh Lạnh, Richard Nixon nêu lên một tham vọng mới của Mĩ: “thuyết phục Trung Quốc rằng họ phải thay đổi”.

Ông viết “Với tầm nhìn lâu dài, chúng ta đơn giản là không thể kham được việc để Trung Quốc ở ngoài gia đình của các quốc gia mãi mãi, ở đó họ nuôi dưỡng cái ngông của họ, ấp ủ căm thù và đe dọa các nước láng giềng.” Bốn năm sau đó, khi ngồi vào Nhà Trắng, Nixon là kiến trúc sư mở ra một “lối mở cho Trung Quốc”, hứa hẹn sẽ chuyển nước cộng sản khổng lồ này thành một đối tác ngoại giao, một đối tác sẽ thừa nhận các giá trị của Mĩ và có thể cả hệ thống dân chủ của Mĩ.

Đối với nhiều người Mĩ hiện nay, khi thấy chính quyền Chủ tịch Tập Cận Bình trấn áp mạnh bạo bất đồng chính kiến trong nước đồng thời thách thức quyền lãnh đạo của Mĩ ở Châu Á, lời hứa hẹn đó có vẻ xa vời hơn bao giờ hết. Trong cuốn sách mới xuất bản “The Hundred-Year Marathon” (Cuộc chạy Marathon 100 năm), Michael Pillsbury – một chuyên gia Châu Á và là quan chức Lầu Năm Góc dưới thời Tổng thống Ronald Reagan và George H.W. Bush – viết rằng Trung Quốc “đã không đáp ứng hầu như tất cả những kì vọng màu hồng của chúng ta.”

Chính sách đối ngoại của Mĩ đã đi tới một bước ngoặt, khi các nhà phân tích từ khắp các xu hướng chính trị  bắt đầu đào bới lại các lập luận thời Chiến Tranh Lạnh và nói về sự cần thiết cho một chính sách ngăn chặn Trung Quốc. Đồng thuận vững chắc từng có của Washington trước lợi ích của “việc quan hệ (engagement) có tính xây dựng” với Bắc Kinh đã bị đổ vở.

Niềm xác tín rằng quan hệ là con đường hiện thực duy nhất để khuyến khích tự do hóa ở Trung Quốc đã kéo dài qua tám đời tổng thống Mĩ, Cộng hòa và Dân chủ đều vậy. Jimmy Carter để lại chính sách của Nixon cho Ronald Reagan; George W. Bush cho Barack Obama.

Sự rối loạn trong chính sách của Mĩ đã đặc biệt nổi rõ trong những tháng gần đây. Một luồng các báo cáo tư vấn chưa từng có từ các trung tâm học thuật và các nhóm tư vấn hàng đầu đã đề nghị tất cả mọi thứ từ lấn trả về quân sự chống lại Trung Quốc cho tới các nhượng bộ sâu rộng. Các đơn thuốc khác nhau, nhưng điểm khởi đầu của chúng đều như nhau: bi quan về tiến trình hiện tại trong quan hệ Mĩ-Trung.

Sự thay đổi tâm trạng ở Washington có thể kết thúc cơ bản giống y như sự thay đổi đến trên toàn nước Mĩ ngay sau Thế Chiến II, khi chợt nhận ra rằng Liên Xô sẽ không tiếp tục là một đồng minh. Đó là khi nhà ngoại giao huyền thoại và là nhà tư tưởng chính sách Mĩ George F. Kennan hình thành nên kế hoạch ngăn chặn.

Trong một bài báo năm 1947 trên tạp chí Foreign Affairs, ông đã viết rằng Mĩ “trong khả năng mình phải nâng căng thẳng lên thật lớn mà chính sách Liên Xô phải hoạt động dưa trên đó, để buộc Kremlin phải có mức độ tiết chế và thận trọng lớn hơn mức họ đã tuân theo trong những năm gần đây, và theo cách này thúc đẩy các xu hướng vốn cuối cùng phải tìm lối thoát qua việc bẽ gãy hoặc việc làm nhũn dần sức mạnh của Liên Xô.” Chiến lược của Kennan – hút máu Liên Xô thông qua việc kháng cự không khiêu khích – tạo ra sự thoải mái cho người Châu Âu vốn lo sợ rằng họ phải đối mặt với một lựa chọn khắc nghiệt giữa chiến tranh và đầu hàng.

Nỗi lo tương tự về những hành động và ý đồ của Trung Quốc hiện nay đang có trong lòng rất nhiều người Châu Á. Bạn bè và đồng minh của Mĩ trong khu vực đang đổ xô đến phía Mĩ để tìm kiếm sự bảo vệ khi Trung Quốc của Tập Cận Bình tăng cường hải quân, đưa các hạm đội của họ đi xa hơn vào đại dương xanh và đẩy mạnh chủ quyền lãnh thổ. Trong điều đúng là động thái quyết đoán mới nhất báo động khu vực, Trung Quốc hiện bồi đắp các rạn san hô nhỏ ở Biển Đông để tạo ra các đường băng, có vẻ cho các máy bay quân sự.

Hoa Kì đang chống lại. Dấu ấn ‘chuyển trục’ sang Châu Á của của Tổng thống Obama – đề ra vừa để làm yên lòng bạn bè đang lo lắng của Mĩ vừa để thừa nhận tầm quan trọng chiến lược lớn của khu vực trong thế kỉ 21 – là đưa tàu chiến tiên tiến tới Singapore, thủy quân lục chiến đến Úc và các cố vấn quân sự tới Philippines. Nhật Bản, đồng minh chủ chốt của Mĩ ở Châu Á, được tái vũ trang và đã điều chỉnh hiến pháp hòa bình sau chiến tranh cho phép quân đội của họ đóng một vai trò lớn hơn trong khu vực. Mục đích của phần lớn các hoạt động này là để bảo vệ sự độc lập của các nước Châu Á nhỏ hơn vốn đang lo sợ họ có thể không có lựa chọn nào khác ngoài việc rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc và khuất phục trước các tham vọng trong lãnh thổ của họ – nói cách khác, là đầu hàng.

Về phần mình, Trung Quốc dứt khoát tin  rằng Hoa Kì đang theo đuổi một chính sách ngăn chặn. Kevin Rudd, cựu Thủ tướng Australia (và bản thân là một chuyên gia về Trung Quốc), tóm tắt nhận thức của Bắc Kinh về mục tiêu Mĩ trong năm điểm trong một nghiên cứu gần đây của Harvard: cô lập, ngăn chặn, làm suy giảm, gây chia rẻ nội bộ và phá hoại sự lãnh đạo chính trị của TQ.

Chắc chắn những căng thẳng mới trong quan hệ Mĩ-Trung không phải là điều gì giống như việc phải nhìn chằm chằm thời Chiến Tranh Lạnh vốn vướng bận tâm trí Châu Âu trong nhiều thập kỉ, khi xe tăng của NATO và của Hiệp ước Warsaw đối mặt nhau trên lằn ranh mà không bên nào dám vượt qua. Nhưng ở một khía cạnh quan trọng, lịch sử đang tự lặp lại: cả Trung Quốc lẫn Mĩ đều đã bắt đầu xem nhau không phải là đối tác, đấu thủ cạnh tranh hoặc đối thủ mà là kẻ thù.

Việc TQ tăng thêm tên lửa và hải quân cũng như phát triển các khả năng mới về chiến tranh mạng và không gian là nhằm thẳng vào việc ngăn chặn không để quân đội Mĩ can thiệp vào bất kỳ cuộc xung đột nào ở Châu Á. Trong khi đó, nhiều dự án tuỳ hứng của Lầu Năm Góc – công nghệ chiến tranh các vì sao (Star Wars) như laser và các hệ thống vũ khí tiên tiến và lasers như máy bay ném bom tầm xa – đang được phát triển với Trung Quốc trong đầu.

Thế thì cụ thể, Mĩ nên làm gì? Trong một trong những báo cáo diều hâu nhất từ các báo cáo của các nhóm chuyên gia tư vấn gần đây, Robert D. Blackwill, cựu phó cố vấn an ninh quốc gia Mĩ và đại sứ tại Ấn Độ dưới thời Tổng thống George W. Bush, và Ashley J. Tellis, nhà nghiên cứu cao cấp tại Carnegie Endowment for International Peace cũng từng là nhân viên Hội đồng An ninh Quốc gia dưới thời Tổng thống Bush, viết rằng việc quan hệ với Trung Quốc đã làm nhiệm vụ làm đối thủ cạnh tranh mạnh lên.

Hai ông cho rằng đã tới lúc cho một chiến lược mới: quan hệ ít và  “cân bằng” nhiều đảm bảo “mục tiêu trung tâm” là vị trí đứng đầu toàn cầu tiếp tục của Mĩ. Ngoài những việc khác, Mĩ nên tăng thêm quân ở Châu Á, chặn đứt việc Trung Quốc tiếp cận với công nghệ quân sự, đẩy nhanh tiến độ triển khai tên lửa phòng thủ và tăng khả năng tấn công mạng của Mĩ.

Đối với Michael D. Swaine, cũng thuộc Carnegie Endowment, đây là một dạng công thức cho một cuộc Chiến Tranh Lạnh khác, hoặc tệ hơn. Ông phát thảo một cách giải quyết sâu rộng, theo đó Mĩ sẽ nhường đi vị trí đứng đầu ở Đông Á, biến phần lớn khu vực thành một vùng đệm được kiểm soát bởi một sự cân bằng các lực lượng, gồm cả lực lượng từ một Nhật Bản đã tăng cường. Tất cả các lực lượng nước ngoài sẽ rút khỏi Hàn Quốc. Và Trung Quốc sẽ đưa ra đảm bảo rằng sẽ không tiến hành hoạt động thù địch chống lại Đài Loan, mà họ xem là một tỉnh li khai.

Những sắp xếp như vậy, ngay cả nếu xảy ra, sẽ mất hàng thập kỉ để triển khai. Trong khi đó, David M. Lampton, giáo sư Trường Nghiên Cứu Quốc Tế Cao Cấp Đại Học Johns Hopkins, cảnh báo quan hệ Mĩ-Trung đã đạt đến đỉnh điểm. “Nỗi sợ tương ứng của chúng ta gần vượt quá hi vọng của chúng ta hơn bất cứ lúc nào từ khi bình thường hóa,” ông nói trong một bài phát biểu gần đây.

Phương Tây đã ở vị thế này trước đây. Lạc quan về triển vọng chuyển một nền văn minh xa xưa qua quan hệ, tiếp theo sau là sự vỡ mộng sâu đậm, đã là khuôn mẫu từ bao giờ từ khi các nhà truyền đạo dòng Tên đầu tiên tìm cách chuyển người Trung Quốc sang đạo Thiên Chúa. Những phái viên này chấp nhận vận mũ áo quan lại Trung Hoa, để râu dài và thậm chí diễn đạt sứ điệp Tin Mừng bằng từ ngữ Nho giáo để làm cho nó dễ được chấp nhận hơn. Linh mục Đức Adam Schall thế kỉ 17 đã đi xa tới mức trở thành nhà thiên văn học đứng đầu của triều Thanh. Nhưng ông đã bị thất sủng, và các linh mục dòng Tên này sau đó đã bị trục xuất.

Thất vọng tại Mĩ hiện nay đã lên cao bởi thực tế là việc quan hệ với Trung Quốc đã hứa hẹn rất nhiều và tiến triển cho đến nay. Giao thương và công nghệ đã làm Trung Quốc thay đổi vượt quá bất cứ điều gì mà Nixon đã có thể tưởng tượng ra, và hai nước là đối tác thương mại lớn thứ hai của nhau. Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mĩ. Hơn 250 000 sinh viên Trung Quốc theo học tại các trường đại học Mĩ.

Nhưng khoảng cách về ý thức hệ đã không thu hẹp chút nào và bây giờ TậpCận Bình đã quay ngoặt chống phương Tây. Mao Trạch Đông đã  quyết định táo bạo ra thỏa thuận với Nixon, đủ tự tin để ôm lấy tư bản Mĩ ngay cả khi đang thúc đẩy chương trình quá khích về Cách mạng Văn hóa. Sau đó, Đặng Tiểu Bình đưa ra một sự cân bằng thực dụng giữa các cơ hội về liên kết kinh tế với phương Tây và các nguy hiểm do luồng tư tưởng phương Tây đi vào gây ra. “Khi mở cửa sổ, thì ruồi muỗi cũng theovào,” ông nhún vai.

Bây giờ, Tập Cận Bình đang hung hăng tiêu diệt ruồi nhặng. Một luật mới được đề xuất sẽ đặt toàn bộ khu vực phi lợi nhuận nước ngoài dưới sự quản lí của công an, thực tế là là coi các nhóm này như kẻ thù tiềm năng của nhà nước. Báo chí nhà nước chửi bới “các lực lượng thù địch nước ngoài” và cảm tình viên của họ trong nước. “Tài Liệu số 9” của Đảng Cộng Sản Trung Quốc cấm thảo luận về dân chủ phương Tây ở các trường đại học. Và khi Tập Cận Bình cổ vũ văn hoá truyền thống Trung Quốc, chính quyền ở Ôn Châu, một thành phố ven biển có rất nhiều người theo đạo Thiên Chúa – được gọi là “Jerusalem mới” của Trung Quốc, đã phá đổ thánh giá trên nóc các nhà thờ mà họ xem như là biểu tượng không mong muốn về ảnh hưởng phương Tây.

Phản ứng dữ dội chống lại phương Tây mở rộng vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc. Trong nhiều thập kỉ, Trung Quốc chấp nhận vai trò của Mĩ như một cảnh sát khu vực để duy trì hòa bình và giữ cho các tuyến đường biển thông suốt. Nhưng năm ngoái ở Thượng Hải, Tập Cận Bình tuyên bố rằng “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”.

Washington cảm thấy có một loại cảm giác bị phản bội. Xét cho cùng, thị trường mở cửa của Mĩ làm cho việc Trung Quộc nâng lên thành nền kinh tế dựa trên xuất khẩu lớn thứ hai thế giới diễn ra suôn sẻ, và hiện nay hai nền kinh tế phụ thuộc nhau sâu rộng.

Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm khi cho rằng sự phụ thuộc lẫn nhau nhất thiết sẽ ngăn chặn xung đột. Châu Âu trướcThế chiến I cũng quyện chặt với nhau qua thương mại và đầu tư.

Ngay cả cộng đồng doanh nghiệp Mĩ, từng ủng hộ trung thành nhất Bắc Kinh ở Washington, cũng đã mất một số nhiệt tình về việc quan hệ. James McGregor, cựu chủ tịch Phòng Thương Mại Mĩ tại Trung Quốc và bây giờ là chủ tịch APCO Worldwide Trung Quốc, nhà tư vấn kinh doanh, rút lại việc giúp thuyết phục các hiệp hội thương mại của Mĩ vận động cho Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế giới (WTO), điều đó xảy ra vào năm 2001.

Sự thống nhất về mục đích đó, ông nói “đã vỡ vụn từ đó.” Hiện nay, “tất cả đều tin rằng Trung Quốc ở đó để lừa đảo họ.”

Dù có các nỗi lo của Trung Quốc, chính quyền Obama vẫn còn rất ủng hộ việc quan hệ. Thỏa thuận cấp cao năm ngoái về biến đổi khí hậu đã cho thấy rằng sự hợp tác là vẫn có thể xảy ra. Trước hội nghị thượng đỉnh ở Mĩ dự định vào tháng 9, hai nước đang hoàn tất một thỏa thuận thương mại song phương đầy tham vọng. Và thường được chỉ ra rằng không một vấn đề đơn lẻ nào trên thế giới, từ cướp biển tới ô nhiễm, có thể được giải quyết mà không có nỗ lực phối hợp của hai nước.

Tuy nhiên, trong một điệu nhảy ngày càng lúng túng, chính quyền Obama đang cố gắng duy trì chính sách quan hệ này trong khi cũng gia tăng các lựa chọn quân sự ở Châu Á. Trung Quốc cũng đang chơi trò tương tự. Và chưa rõ cả hai bên sẽ có thể tiếp tục được bao lâu trước khi có một cuộc chạm trán, do sơ suất hoặc do chủ định.

Chính Obama đôi khi cũng tấn công tư thế đối đầu với Trung Quốc. Trong cố gắng thúc đẩy một khu vực thương mại tự do Châu Á-Thái Bình Dương rộng lớn thông qua một Quốc Hội chống đối, ông đã viện dẫn mối đe dọa Trung Quốc. “Nếu chúng ta không viết ra các quy tắc thì Trung Quốc sẽ vạch ra quy tắc cho khu vực này,” ông nói với The Wall Street Journal hồi tháng 4.

Ông cũng đã theo đuổi một chiến dịch – vô vọng – ngăn chặn các đồng minh như Anh và Úc không ký kết vào ngân hàng phát triển khu vực của Trung Quốc. Mặc dù ngân hàng này sẽ giúp cung cấp cơ sở hạ tầng rất cần thiết, Nhà Trắng diễn giải nó như một phần của một nỗ lực làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Mĩ trong tài chính toàn cầu.

Về phần mình, Trung Quốc tin rằng Mĩ sẽ không bao giờ chấp nhận tính hợp pháp của một chính phủ cộng sản.

Tập Cận Bình đã đề xuất một “mô hình quan hệ mới của hai cường quốc lớn”, được đề ra nhằm phá vỡ khuôn mẫu chiến tranh qua nhiều thời đại, nó xảy ra khi một cường quốc đang lên thách thức một cường quốc đang tại vị. Nhưng Mĩ đã bác bỏ, không muốn chấp nhận một công thức không những giả định rằng hai nước là ngang hàng mà dường như còn đặt hai nước trên cùng một mặt bằng đạo đức.

Một cách thích hợp, có lẽ, những căng thẳng đang đi đến giai đoạn tồi tệ phải can thiệp ở quần đảo Trường Sa, một quần đảo gồm các rạn đá ngầm và bãi cát trong Biển Đông nguy hiểm đến mức các hải đồ cũ của Hải Quân Anh đánh dấu toàn bộ khu vực là “Khu vực nguy hiểm” (Dangerous Ground).

Trong nghĩa địa này của những người đi biển, Trung Quốc đã ồ ạt mở rộng nhiều rạn san hô qua bồi đắp; một rạn có một đường băng đủ dài cho máy bay quân sự lớn nhất của Trung Quốc có thể đáp xuống. Các nước láng giềng của Trung Quốc coi chúng như là các tiền đồn cho việc Trung Quốc cuối cùng sẽ thu tóm toàn bộ Biển Đông. Lầu Năm Góc biểu đạt chúng như là một mối đe doạ cho quyền đi lại trên biển không bị thách thức của Hải quân Mĩ

Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ Ash Carter đang xem xét việc biểu dương lực lượng – và đang chịu áp lực chính trị để làm như vậy. Tháng trước, Thượng nghị sĩ Bob Corker, Chủ tịch đảng Cộng hòa trong Ủy ban đối ngoại Thượng viện, phàn nàn rằng phản ứng của Mĩ đối với việc xây dựng đảo là quá thụ động. “Tôi không thấy Trung Quốc phải trả giá gì cho các hoạt động của họ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông,” ông Corker nói. “Chẳng có gì cả. Trên thực tế, tôi thấy chúng ta đang phải trả giá”.

Không bên nào muốn có chiến tranh. Tập Cận Bình không chống phương Tây theo cách của Tổng thống Nga Vladimir Putin, và cho đến nay, ông ta chưa hành động vội vàng như Putin với việc tóm lấy lãnh thổ ở Ukraina. Trung Quốc vẫn cần thị trường và bí quyết trỗi dậy của Mĩ. Một cuộc chiến tranh với Mĩ sẽ là một thảm họa kinh tế cho Trung Quốc.

Quan hệ Mĩ-Trung từng vượt qua giông bão trước đây. Nhớ lại những ngày sau khi quân đội Trung Quốc tấn công vào sinh viên ủng hộ dân chủ ở Quảng Trường Thiên An Môn năm 1989, khi đó hợp tác giữa hai nước đã đi vào đóng băng sâu đậm. Nhưng Tổng thống George H.W. Bush tính toán rằng quan hệ Mĩ-Trung là quá quan trọng để hi sinh, và ông đã nhanh chóng gửi phái viên đến Bắc Kinh để đảm bảo rằng nó vẫn không bị sứt mẻ.

Hiện nay, chắc chắn, tính toán đó vẫn không có ít hơn sức nặng. Hơn nữa, việc cố ngăn chận Trung Quốc sẽ vô cùng tốn kém: Một trong hai nước không thể thành công về mặt kinh tế mà không có nước kia. Chiến lược ngăn chặn Liên Xô của Kennan đã có tác dụng vì Liên Xô yếu về kinh tế và hầu như không có các ràng buộc thương mại với Mĩ. Nhưng Trung Quốc ngày nay là một cường quốc kinh tế và ngân sách quân sự hai chữ số của họ được một cơ sở công nghiệp sâu rộng và đa dạng chống đỡ.

Tuy nhiên, đối nghịch với các điều thực tế này là sự kiện rằng quan hệ Mĩ-Trung đã mất raison d’être (lí do tồn tại) chiến lược: Liên Xô, mối đe dọa chung vốn đã đưa hai nước lại với nhau [đã không còn].

Việc đối kháng với Moscow là logic thúc đẩy Nixon mở cửa cho Trung Quốc. Nhưng ngay cả Nixon, một người hiện thực chủ nghĩa cứng đầu vốn chú tâm vào việc cân bằng quyền lực, cũng không chắc việc mở cửa cho Trung Quốc cuối cùng sẽ diễn ra như thế nào. Như Nixon nói với nhà báo quá cố William Safire của tờ New York Times không lâu trước khi ông mất vào năm 1994, “Chúng ta có thể đã tạo ra một Frankenstein (quái vật giết chết người tạo ra nó -ND)”.

____

* Có thể tác giả nhầm, Chu Ân Lai chỉ kiêm nhiệm BTNG trong những năm đầu (1949-1958) còn năm 1972 BTNG TQ là Cơ Bằng Phi.

Nguồn: Lan Man


Tiếng Anh cho em (đối chiếu song ngữ Anh Việt)

CAN CHINA BE CONTAINED ?

As tensions with China rise, U.S. foreign policy thinkers are dusting off ideas from the Cold War—and questioning the long-standing consensus for engagement with Beijing

For many Americans today, the promise of being diplomatic partners with China seems more remote than ever before. Photo: Pablo Martinez Monsivais/Associated Press

Writing in 1967, at the height of the Cold War, Richard Nixon proclaimed a new American ambition: to “persuade China that it must change.”

“Taking the long view,” he wrote, “we simply cannot afford to leave China forever outside the family of nations, there to nurture its fantasies, cherish its hates and threaten its neighbors.” Four years later, having ascended to the White House, Nixon engineered an “opening to China” that promised to turn the communist giant into a diplomatic partner, one that would adopt America’s values and maybe even its system of democracy.

For many Americans today, watching the administration of President Xi Jinping crack down hard on internal dissent while challenging the U.S. for leadership in Asia, that promise seems more remote than ever before. In his recently published book “The Hundred-Year Marathon,” Michael Pillsbury—an Asia specialist and Pentagon official under Presidents Ronald Reagan and George H.W. Bush—writes that China “has failed to meet nearly all of our rosy expectations.”

U.S. foreign policy has reached a turning point, as analysts from across the political spectrum have started to dust off Cold War-era arguments and to speak of the need for a policy of containment against China. The once solid Washington consensus behind the benefits of “constructive engagement” with Beijing has fallen apart.

The conviction that engagement is the only realistic way to encourage liberalization in China has persisted across eight U.S. administrations, Republican and Democratic alike. Jimmy Carter bequeathed Nixon’s policy to Ronald Reagan; George W. Bush to Barack Obama.

The turmoil in U.S. policy has been especially evident in recent months. An unprecedented stream of advisory reports from leading academic centers and think tanks has proposed everything from military pushback against China to sweeping concessions. The prescriptions vary, but their starting point is the same: pessimism about the present course of U.S.-Chinese relations.

President Richard Nixon, right, toasts Chinese Prime Minister and Foreign Minister Zhou Enlai during a banquet in Hangzhou, China, on Feb. 27, 1972. ENLARGE
President Richard Nixon, right, toasts Chinese Prime Minister and Foreign Minister Zhou Enlai during a banquet in Hangzhou, China, on Feb. 27, 1972. Photo: CORBIS

The mood shift in Washington may end up being every bit as consequential as the one that came over the U.S. immediately after World War II, when it dawned on America that the Soviet Union wasn’t going to continue to be an ally. That is when the legendary U.S. diplomat and policy thinker George F. Kennan formulated his plan for containment.

In a 1947 article in Foreign Affairs, he wrote that the U.S. “has it in its power to increase enormously the strains under which Soviet policy must operate, to force upon the Kremlin a far greater degree of moderation and circumspection than it has had to observe in recent years, and in this way to promote tendencies which must eventually find their outlet in either the breakup or the gradual mellowing of Soviet power.” Kennan’s strategy—to bleed the Soviet Union through nonprovocative resistance—offered comfort to Europeans who feared that they faced a stark choice between war and capitulation.

A similar anxiety about China’s actions and intentions has now taken hold among many Asians. U.S. friends and allies in the region are flocking to America’s side to seek protection as Mr. Xi’s China builds up its navy, pushes its fleets farther into the blue ocean and presses its territorial claims. In what is just the latest assertive move to alarm the region, China is now dredging tiny coral reefs in the South China Sea to create runways, apparently for military jets.

The U.S. is resisting. President Obama’s signature “pivot” to Asia—designed both to calm anxious U.S. friends and to recognize the region’s vast strategic importance in the 21st century—is bringing advanced American combat ships to Singapore, Marines to Australia and military advisers to the Philippines. Japan, America’s key ally in Asia, is rearming and has adjusted its pacifist postwar constitution to allow its forces to play a wider role in the region. The purpose of much of this activity is to preserve the independence of smaller Asian nations who fear they might otherwise have no choice but to fall into China’s orbit and yield to its territorial ambitions—in other words, to capitulate.

For its part, China is utterly convinced that the U.S. is pursuing a policy of containment. Kevin Rudd, the former Australian prime minister (and himself a China expert), summarized Beijing’s perception of U.S. goals in five bullet points in a recent Harvard study: to isolate China, contain it, diminish it, internally divide it and sabotage its political leadership.

To be sure, the new tension in U.S.-China relations is not anything like the Cold War stare-down that preoccupied Europe for decades, when NATO and Warsaw Pact tanks faced each other across lines that neither side dared to cross. But in one important respect, history is repeating itself: Both China and the U.S. have started to view each other not as partners, competitors or rivals but as adversaries.

China’s missile and naval buildup, as well as its development of new cyber- and space-warfare capabilities, are aimed squarely at deterring the U.S. military from intervening in any conflict in Asia. Meanwhile, many of the Pentagon’s pet projects—Star Wars technologies such as lasers and advanced weapons systems such as a long-range bomber—are being developed with China in mind.

So what, specifically, should America do? In one of the most hawkish of the recent think-tank reports, Robert D. Blackwill, a former U.S. deputy national security adviser and ambassador to India under President George W. Bush, and Ashley J. Tellis, a senior associate at the Carnegie Endowment for International Peace who also served on the National Security Council staff under President Bush, write that engagement with China has served to strengthen a competitor.

It is time, they declare, for a new grand strategy: less engagement and more “balancing” to ensure the “central objective” of continued U.S. global primacy. Among other things, America should beef up its military in Asia, choke off China’s access to military technology, accelerate missile-defense deployments and increase U.S. offensive cyber capabilities.

For Michael D. Swaine, also of the Carnegie Endowment, this is a certain recipe for another Cold War, or worse. He outlines a sweeping settlement under which America would concede its primacy in East Asia, turning much of the region into a buffer zone policed by a balance of forces, including those from a strengthened Japan. All foreign forces would withdraw from Korea. And China would offer assurances that it wouldn’t launch hostilities against Taiwan, which it regards as a renegade province.

Such arrangements, even if possible, would take decades to sort out. Meanwhile, warns David M. Lampton, a professor at the Johns Hopkins University’s School of Advanced International Studies, U.S.-China ties have reached a tipping point. “Our respective fears are nearer to outweighing our hopes than at any time since normalization,” he said in a recent speech.

The West has been in this position before. Optimism about the prospects of transforming an ancient civilization through engagement, followed by deep disillusion, has been the pattern ever since early Jesuit missionaries sought to convert the Chinese to Christianity. Those envoys adopted the gowns of the Mandarin class, grew long beards and even couched their gospel message in Confucian terms to make it more palatable. The 17th-century German priest Adam Schall got as far as becoming the chief astronomer of the Qing dynasty. But he fell from favor, and the Jesuits were later expelled.

The disappointment in the U.S. today is heightened by the fact that engagement with China has promised so much and progressed so far. Trade and technology have transformed China beyond anything that Nixon could have imaged, and the two countries are each other’s second-largest trading partners. China is America’s biggest creditor. More than a quarter million Chinese students study at U.S. universities.

But the ideological gap hasn’t narrowed at all—and now Mr. Xi has taken a sharp anti-Western turn. Mao Zedong made the bold decision to cut a deal with Nixon, confident enough to embrace American capitalists even while pressing the radical agenda of his Cultural Revolution. Later, Deng Xiaoping struck a pragmatic balance between the opportunities of economic engagement with the West and the dangers posed by an influx of Western ideas. “When you open the window, flies and mosquitoes come in,” he shrugged.

Today, Mr. Xi is furiously zapping the bugs. A newly proposed law would put the entire foreign nonprofit sector under police administration, effectively treating such groups as potential enemies of the state. State newspapers rail against “hostile foreign forces” and their local sympathizers. The Chinese Communist Party’s “Document No. 9” prohibits discussion of Western democracy on college campuses. And as Mr. Xi champions traditional Chinese culture, authorities in Wenzhou, a heavily Christian coastal city dubbed China’s “New Jerusalem,” tear down crosses atop churches as unwanted symbols of Western influence.

The backlash against the West extends well beyond China’s borders. For decades, China accepted America’s role as a regional policeman to maintain the peace and keep sea lanes open. But in Shanghai last year, Mr. Xi declared that “it is for the people of Asia to run the affairs of Asia, solve the problems of Asia and uphold the security of Asia.”

Washington feels a certain sense of betrayal. America’s open markets, after all, smoothed China’s export-led rise to become the world’s second-largest economy, and the two economies are now thoroughly enmeshed.

Still, it would be a mistake to assume that mutual dependence will necessarily prevent conflict. Pre-World War I Europe was also closely entwined through trade and investment.

Even the U.S. business community, once Beijing’s staunchest advocate in Washington, has lost some of its enthusiasm for engagement. James McGregor, a former chairman of the American Chamber of Commerce in China and now the China chairman of APCO Worldwide, a business consultancy, recalls helping to persuade U.S. trade associations to lobby for China’s admission to the World Trade Organization, which happened in 2001.

That unity of purpose, he says “has been splintering ever since.” Today, “they all believe that China is out to screw them.”

Chinese leader Deng Xiaoping accepts a cowboy hat at a rodeo near Houston, Texas, during a tour of the U.S. in 1979. ENLARGE
Chinese leader Deng Xiaoping accepts a cowboy hat at a rodeo near Houston, Texas, during a tour of the U.S. in 1979. Photo: Wally McNamee/Corbis

China’s fears notwithstanding, the Obama administration remains very much in favor of engagement. Last year’s high-profile deal on climate change showed that cooperation is still possible. Ahead of a planned summit in the U.S. in September, the two countries are hammering out an ambitious bilateral trade agreement. And it is often pointed out that not a single problem in the world, from piracy to pollution, can be solved without their joint efforts.

In an increasingly awkward dance, however, the Obama administration is trying to sustain this policy of engagement while also ramping up its military options in Asia. China is playing a similar game. And it is not clear how long both sides will be able to continue before there is a clash, by accident or design.

Mr. Obama himself sometimes strikes adversarial postures on China. In trying to push a massive Asia-Pacific free-trade zone through a resistant Congress, he has been invoking a China threat. “If we don’t write the rules, China will write the rules out in that region,” he told The Wall Street Journal in April.

He also has pursued a campaign—ultimately futile—to prevent allies such as Britain and Australia from signing on to a Chinese regional development bank. Although the bank will help deliver much-needed infrastructure, the White House interpreted it as part of a bid to undermine America’s leadership in global finance.

For its part, China believes that the U.S. will never accept the legitimacy of a communist government.

Mr. Xi has proposed a “new model of great-power relations,” designed to break a pattern of wars through the ages that occur when a rising power challenges the incumbent one. But America has turned him down, unwilling to accept a formula that not only assumes that the two countries are peers but seems to place them on the same moral plane.

Appropriately, perhaps, tensions are coming to a head in the Spratly Islands, an archipelago of reefs and sandbars in the South China Sea so hazardous that old British Admiralty sailing charts marked the entire area as “Dangerous Ground.”

In this mariners’ graveyard, China has massively expanded several reefs through dredging; one boasts a runway long enough to land China’s largest military planes. China’s neighbors regard them as outposts for an eventual Chinese takeover of the whole South China Sea. The Pentagon presents them as a threat to the U.S. Navy’s unchallenged right to sail the oceans.

U.S. Defense Secretary Ash Carter is considering a show of force—and is under political pressure to do so. Last month, Sen. Bob Corker, the Republican chairman of the Senate Committee on Foreign Relations, complained that the U.S. response to the island-building has been too passive. “I see no price whatsoever that China is paying for their activities in the South and East China Seas,” Mr. Corker said. “None. In fact, I see us paying a price.”

Neither side wants a war. Mr. Xi is not anti-West in the manner of Russian President Vladimir Putin, and so far, he has not acted rashly, as Mr. Putin has by grabbing territory in Ukraine. China still needs U.S. markets and know-how to rise. A war against America would be an economic catastrophe for China.

The U.S.-China relationship has weathered storms before. Recall the days following the Chinese army’s 1989 assault on pro-democracy students in Tiananmen Square, when cooperation between the countries went into a deep freeze. But President George H.W. Bush calculated that the U.S.-China relationship was too important to sacrifice, and he quickly sent emissaries to Beijing to ensure that it remained intact.

Today, surely, that calculation carries no less weight. Moreover, trying to contain China would be immensely costly: Neither country can succeed economically without the other. Kennan’s containment strategy worked against the Soviet Union because it was economically weak, with almost no commercial ties to America. But today’s China is an economic powerhouse, and its double-digit military budgets are supported by a deep and diversified industrial base.

Set against these realities, however, is the fact that the U.S.-China relationship has lost its strategic raison d’être: the Soviet Union, the common threat that brought the two countries together.

Opposition to Moscow was the logic that drove Nixon’s opening to China. But even Nixon, a tough-minded realist who was focused on the balance of power, wasn’t sure how his opening to China would ultimately play out. As he told the late New York Times columnist William Safire not long before Nixon’s death in 1994, “We may have created a Frankenstein.”

Write to Andrew Browne at andrew.browne@wsj.com

Source: The Wall Street Journal, June 12, 2015 10:15 a.m. ET

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Advertisements

27 thoughts on “Biển Đông vạn dặm

  1. Pingback: Tiếng Anh cho em | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Tiếng Anh cho em | Khát khao xanh

  3. Pingback: Hoa của Đất | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Ngày mới Mạnh Hạo Nhiên | Tình yêu cuộc sống

  5. Pingback: Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình | Tình yêu cuộc sống

  6. Pingback: Con là nguồn hạnh phúc đầu tiên | Tình yêu cuộc sống

  7. Pingback: Biển Đông vạn dặm | Tình yêu cuộc sống

  8. Pingback: Chào ngày mới 23 tháng 6 | Tình yêu cuộc sống

  9. Pingback: Chào ngày mới 23 tháng 6 | CNM365

  10. Pingback: Đến với bài thơ hay | Khát khao xanh

  11. Pingback: Ngày mới yêu thương | Tình yêu cuộc sống

  12. Pingback: Quà tặng cuộc sống | Tình yêu cuộc sống

  13. Pingback: Lộc xuân cuộc đời | Tình yêu cuộc sống

  14. 40 NĂM SAU: LỊCH SỬ ĐANG LẶP LẠI
    Nguồn: Viet-studies

    Nguyễn Quang Dy

    24-06-2015

    “TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Biển Đông vạn dặm. Đọc lại và suy ngẫm : Muốn có quan hệ đối tác chiến lược hiệu quả, trước hết người Việt Nam phải đoàn kết và tự cường mạnh lên, để các đối tác tôn trọng và tin cậy. Quan hệ đối tác chiến lược sẽ trở thành vô nghĩa nếu không dựa trên tầm nhìn chiến lược và lòng tin chiến lược.”

    “Có lẽ chúng ta đã tạo ra một quái vật Frankenstein”.

    (Richard Nixon nói với William Safire (bình luận gia của New York Times) năm 1994, trước khi chết).

    40 năm sau Chiến tranh Viêt Nam, cuối cùng người Mỹ và Việt Nam đang làm những gì mà họ đáng lẽ phải làm từ năm 1978 khi nước Việt Nam thống nhất rất cần hòa giải và hợp tác với Mỹ (là kẻ thù cũ) để tái thiết và đối phó với hiểm họa mới từ Trung Cộng (là anh em bạn thù); hoặc từ năm 1945 khi nước Việt Nam mới do Hồ Chi Minh đứng đầu đang cố giành sự ủng hộ của Mỹ để hóa giải sự thù nghịch của nước Pháp thực dân và Trung hoa Dân quốc; hoặc từ năm 1875 khi vua Tự Đức cử ông Bùi Viện sang Mỹ tìm kiếm sự ủng hộ để chống lại ý đồ nước Pháp thực dân muốn biến Annam thành thuộc địa. Nhưng hai nước đã để tuột mất những cơ hội lịch sử, bây giờ phải “trở về tương lai”, sau khi bị bầm dập bởi cuộc chiến tranh sai lầm đẫm máu, và lãng phí quá nhiều thời gian, sức lực và mạng sống vào những trò chơi hậu chiến điên khùng, bao gồm cái gọi là “Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba” không kém khôc liệt giữa “anh em bạn thù” và những đồng minh mới của họ.

    Đấy là phác thảo nhanh bức chân dung đầy bi kịch của quan hệ Việt-Mỹ. Thật trớ trêu là tương lai quan hệ Việt-Mỹ lại gắn liền với tương lai của Biển Đông, mà tương lai của Biển Đông nay lại gắn liền với quan hệ Trung-Việt, cũng như quan hệ Trung-Mỹ. Để làm rõ những khía cạnh đầy uẩn khúc của những mối quan hệ này, hãy bình tâm xem lại một số bối cảnh lịch sử có liên quan và một số biến chuyển gần đây, như những dấu hiệu mới.

    Ngăn chặn Trung Quốc: Trở về tương lai?

    Ai quan tâm đến lịch sử chắc vẫn nhớ 60 năm về trước (sau chiến tranh Triều Tiên và Điện Biên Phủ), Mỹ đã triển khai chiến lược Ngăn chặn Trung Cộng bằng cách sử dụng SEATO (South East Asia Treaty Organization) làm cơ chế an ninh tập thể ở Đông nam Á. Chẳng có gì sai khi Mỹ ngăn chặn Trung Quốc lúc đó cũng như bây giờ khi họ hung hăng trỗi dậy và bành trướng ở khu vực, bằng cách “xoay trục sang Châu Á” để tái cân bằng lực lượng, và sử dụng TPP (Tran-Pacific Partnership) làm khuân khổ hợp tác mới ở khu vực. Nhưng mục đích kinh tế của TPP có lẽ không quan trọng bằng mục đích chiến lược.

    Nói cách khác, đây là trò “rượu cũ bình mới”. “Rượu cũ” là mối đe dọa tiềm ẩn của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán (không hề thay đổi). “Bình mới” là Trung Quốc nay áp đặt “Đường Lưỡi bò” và dùng dàn khoan để lấn chiếm Biển Đông, và ráo riết xây dựng các đảo nhân tạo và công trình quân sự tại các đảo san hô mà họ chiếm ở Hoàng Sa và Trường Sa, hòng kiểm soát Biển Đông (như “lợi ích cốt lõi”). “Rượu cũ” là Mỹ “Ngăn chặn” Trung Cộng, và “bình mới” là trò chơi TPP (thay cho “SEATO”). Quan hệ Trung-Việt đầy phức tạp vừa là đối tác chiến lược (cùng ý thức hệ), vừa là đối thủ chiến lược (do tranh chấp chủ quyền). Đó là mối quan hệ bất bình thường (vừa yêu vừa ghét) như “anh em thù địch”. Nhưng lúc này thật là dại dột và bất khả thi, nếu Việt Nam cố duy trì nguyên trạng mối quan hệ bất bình thường đó bằng cách đong đưa và đi trên dây để căn bằng quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ.

    Cách đây 60 năm, Mỹ đã ngăn chặn một Trung Quốc nghèo nàn (như con “hổ giấy”), tuy ngoài mặt thách thức Mỹ nhưng trong bụng rất muốn bắt tay. Còn bây giờ, Mỹ đang ngăn chặn một Trung Quốc giàu có như một “quái vật kinh tế và quân sự”, vừa muốn giữ nguyên trạng (bên trong), lại vừa muốn thay đổi nguyên trạng (bên ngoài), thách thức vai trò cầm đầu của Mỹ. Trước đây, Mỹ ngăn chặn Trung Quốc bằng cách đánh Việt Nam (tưởng là kẻ thù ý thức hệ). Còn bây giờ Mỹ ngăn chặn Trung Quốc đang hung hăng trỗi dậy bằng hợp tác với Việt Nam (như đối tác chiến lược mới).

    Đây là một sự chuyển đổi đầy kịch tính, để sửa chữa một sai lầm lớn mà cả hai nước đã mắc phải. Chiến lược Ngăn chặn và chiến tranh Việt Nam là hai chuyện khác nhau, không nên nhầm lẫn. Đáng lẽ Mỹ không nên can thiệp vào Việt Nam bằng “một cuôc chiến tranh sai lầm, tại một địa điểm sai, vào một thời điểm sai, với một kẻ thù sai” (Omar Bradley, 1951). Nhưng phải 20 năm sau cuộc chiến, ông Robert McNamara mới công khai thừa nhận sai lầm này (trong cuốn sách xuất bản năm 1995). Thực ra, ngay từ năm 1965, ông George Ball (trợ lý ngoại trưởng) đã nhìn thấy trước một cuộc chiến sai lầm, đã cảnh báo và khuyên can tổng thống John Kennedy đừng quyết định đưa quân sang Việt Nam để can thiệp trực tiếp.

    Nhưng đáng tiếc là không ai muốn nghe George Ball, mà người ta còn cười nhạo ông ấy. Theo tôi, George Ball giỏi không kém gì George Kennan. Họ là những người Mỹ thông minh, dũng cảm, có tầm nhìn xa. Nếu Chính quyền biết lắng nghe họ, thì nước Mỹ đã tránh được bao tổn thất về xương máu và nguồn lực tại Việt Nam (và Iraq sau này). Việt Nam và Iraq là những bài học đẫm máu, còn tiếp tục ám ảnh người Mỹ. Thomas Vallely (cựu chiến binh, giám đốc chương trình Việt Nam tại Harvard) đã nói rất đúng (trong tư liệu TV, 1985), “chúng ta không nên làm cái việc sai lầm là đưa thanh niên đến chỗ chết, chỉ vì lòng tự hào của mấy ông già”.

    Khi ông Archimedes Patti (cựu sĩ quan OSS) ký tặng tôi cuốn sách “Why Vietnam” (Bangkok, 1990), tôi có hỏi ông ấy, “lúc đó họ có đọc sách của ông không”. Ông Patti nói với ánh mắt buồn rầu, “chẳng ai đọc nó cả, chẳng ai nghe tao cả”. Trong một lần báo chí phỏng vấn (năm 1981), ông Patti đã nói rất rõ, “Theo tôi, chiến tranh Viêt Nam là một sự lãng phí khồng lồ. Trước hết, nó không cần phải xảy ra. Hoàn toàn không. Không đáng tí nào cả. Trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam, không ai đến gặp tôi để tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra năm 1945 hoặc 1944. Trong suốt những năm tôi làm việc ở Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại Giao, và Nhà Trắng, không một ai có quyền hành đến gặp tôi cả…”

    Điều đó làm tôi nhớ lại sự kiện “Blood Telegrams” (mà chắc nhiều người đã quên). Ông Archer Blood, tổng lãnh sự Mỹ tại Dacca (thủ phủ Đông Pakistan lúc đó) đã gửi điện khẩn về Washington (ngày 6/4/1971, có 29 cán bộ ngoại giao Mỹ ký tên) cảnh báo về nạn “diệt chủng có chọn lọc” đang biến Dacca trở thành “thành phố ma” (3/4 dân số bị giết hoặc bỏ chạy). Họ công khai phản đối chính sách của Mỹ ủng hộ chính quyền quân sự (của tướng Yahya Khan) đàn áp dã man người Bengali đòi độc lập cho Bangladesh. Nhưng tổng thống Nixon và Tiến sĩ Henry Kissinger lúc đó đã lờ đi, vì muốn tướng Yahya Khan làm cầu nối với Trung Quốc để tổng thống Nixon đến Thượng Hải bắt tay Mao Chủ tịch, như một “bước ngoặt lịch sử”. Tôi xin trích một đoạn bức điện đó, “Chính phủ chúng ta đã không lên án việc đàn áp dân chủ. Chính phủ chúng ta đã không lên án tội ác. Chính phủ chúng ta đã không có biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ công dân của mình, trong khi đó ra sức làm vừa lòng chính phủ do người Tây Pakistan nắm quyền và làm giảm bớt đi mọi sức ép tiêu cực của dư luận quốc tế đối với chính phủ Pakistan. Chính phủ chúng ta đã chứng tỏ một điều mà tất cả mọi người đều coi là phá sản về đạo đức…”.

    Tham dự tích cực: Trò chơi kết thúc?

    Tôi không biết tổng thống Nixon thực sự nghĩ gì khi ông ta bắt tay Mao chủ tịch tại Shanghai năm 1972. Nhưng tôi tin ông Nixon đã một lần nói thật khi ông ấy nhận xét một cách chí lý (năm 1994, trước khi ông ấy chết), “Có lẽ chúng ta đã tạo ra một quái vật Frankenstein”. Ông Nixon lúc sắp chết đã trở thành “thiên tài”! Thực tế là phải 42 năm sau, đến tận 2014, đa số người Mỹ mới nhận ra “hệ quả không định trước” này và bắt đầu lo ngại về sự trỗi dậy “không hòa bình” của Trung Quốc (tuy vẫn tranh cãi về nguy cơ xung đột Trung-Mỹ).

    Công bằng mà nói, không nên đổ lỗi cho ông Nixon vì Dr Henry Kissinger mới chính là kiến trúc sư của chính sách Trung Quốc, từ “Shanghai Communique” để cho Mỹ rút quân khỏi Việt Nam “trong danh dự” và chia sẻ quyền lực với Trung Quốc tại Đông Á, đến “Constructive Engagement” để thay thế “Containment” giúp Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình”, và “China Card” để biến Trung Quốc thành đồng minh “trên thực tế” chống Liên Xô, và cuối cùng “China Lobby” để vận động hành lang ủng hộ Trung Quốc trong mọi chuyện làm ăn khác.

    Trong nửa thế kỷ qua (nói chính xác là qua 8 đời tổng thống Mỹ, cả Cộng hòa lẫn Dân chủ), Washington vẫn cho rằng chủ trương “Can dự tích cực” là cách duy nhất để khuyến khích Trung Quốc cởi mở dần trong quá trình mà ông Kissinger gọi là “co-evolution” (hay diễn biến hòa bình) theo các giá trị của Mỹ, và “trỗi dậy trong hòa bình”. Chỉ gần đây, người Mỹ mới bắt đầu thất vọng như bị bạn tình Trung Quốc phản bội. Các chuyên gia về Trung Quốc bắt đầu nói đến sự cần thiết phải “ngăn chặn” Trung Quốc, và hai bên bắt đầu coi nhau như đối thủ (thay cho đối tác). “Đồng thuận Washinton” về lợi ích của “Constructive Engagement” bắt đầu đổ vỡ.

    Điều này làm ta nhớ lại trận Trân Châu Cảng (7/12/1941) khi hạm đội Mỹ tại đây đã bị hải quân Nhật đánh đắm, nhưng đa số người Mỹ lúc đó vẫn không tin là Nhật Bản dám khởi chiến. Có lẽ “Đồng thuận Washington” giống như một con voi quá lớn và quá chậm để dễ dàng chuyển động. Không biết người Mỹ có thật ngây thơ về Trung Quốc không, hay là cái bóng của ông Kisinger quá lớn, nhưng gần nửa thế kỷ qua, chính sách của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương vẫn xoay quanh “cái trục Trung Quốc” mà ông Kissinger đã thiết kế.

    Dù nguyên nhân Trung Quốc trỗi dậy ngày càng hung hăng (như đầu gấu tại khu vực) có phải do chính sách “Can dự tích cực” hay không, thì nhiều người cho rằng Mỹ và Trung Quốc khó tránh khỏi chiến tranh lạnh (thậm chí xung đột). Gần đây, tỷ phú George Soros lập luận rằng nếu không nhân nhượng Trung Quốc về vấn đề tài chính sống còn đối với họ, thì lãnh đạo Trung Quốc có thể phải dùng đến xung đột vũ trang để tồn tại, dễ gây ra chiến tranh thế giới mới. Điều này làm ta nhớ lại chính sách “Appeasement” của chính phủ Anh (Neville Chamberlain) đã thỏa hiệp quá nhiều với Hitler (tại Munich, năm 1938). “Constructive Engagement” nếu đi quá đà, mà không có điều kiện khắt khe ràng buộc, sẽ phản tác dụng hơn cả “Appeasement”.

    Michael Pillsbury (một chuyên gia kỳ cựu về Trung Quốc) nhận xét, “Trung Quốc không đạt được hầu hết những mong muốn màu hồng của chúng ta”. David Lampton (một học giả về Trung Quốc tại Johns Hopkins) kết luận, “Quan hệ Trung-Mỹ đã đi đến chỗ đổ vỡ”. Robert Blackwill (một chuyên gia về an ninh quốc tế tại Belfer Center, Harvard) cho rằng “Constructive Engement với Trung Quốc chỉ giúp cho đối thủ mạnh lên”. Kevin Rudd (cựu thủ tướng Australia, một chuyên gia về Trung Quốc) đã tóm tắt quan điểm của người Trung Quốc về mục tiêu của Mỹ là “nhằm cô lập, ngăn chặn, làm suy yếu, phân hóa Trung Quốc, và phá hoại lãnh đạo chính trị của Trung Quốc”. Ông ấy còn khuyến nghị “Constructive Realism” để thay cho “Constructive Engagement”.

    Tôi cũng không rõ liệu cao kiến của ông Kevin Rudd, tuy có thực tế hơn, nhưng liệu có hiệu quả hơn không, khi điều chỉnh quan trọng gần đây của Washington vẫn tỏ ra “quá ít và quá muộn”. Thái độ cứng rắn hơn của Mỹ (điều máy bay quân sự đến Biển Đông) là một tín hiệu tích cực và lời cảnh báo rõ ràng đối với Trung Quốc, nhưng có lẽ vẫn chưa đủ thuyết phục Bắc Kinh phải thực sự nghiêm túc, và chưa đủ thuyết phục các nước Asean đang bị Trung Quốc bắt nạt và phân hóa cần phải dựa vào Washington hơn là Bắc Kinh. Ít nhất đó là cách hiểu (không chính thức) về thái độ nhìn nhận của Trung Quốc tại Đối thoại Shangri-La gần đây (May 29-31, 2015).

    Biển Đông: Một thùng thuốc súng?

    Hơn một năm nay, từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào Biển Đông và ráo riết xây dựng các công trình quân sự và đảo nhân tạo trên các đảo san hô họ chiếm tại Hoàng Sa và Trường Sa, để chuẩn bị thiết lập khu vực nhận diện phòng không, đe dọa tự do hàng hải, thì Biển Đông đã nóng lên như thùng thuốc súng. Quốc Hội Mỹ và giới nghiên cứu đã chuyển biến mạnh, buộc Chính quyền Obama phải có thái độ cứng rắn hơn, đưa máy bay quân sự và tàu chiến vào Biển Đông để răn đe, bất chất Trung Quốc phản đối. Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế đã thực sự lo ngại. Một số nước đồng minh của Mỹ (như Japan và Australia) đã thay đổi hẳn thái độ, sẵn sàng tham gia tuần tra hải quân trên Biển Đông.

    Trong khi bức tranh địa chính trị tại khu vực thay đổi nhanh và rõ nét hơn, thì tương lại Biển Đông vẫn mù mịt và bất định. Liệu đối đầu Trung-Mỹ tại Biển Đông có dẫn đến chiến tranh thật không, hay chỉ là chiến tranh lạnh? Liệu Trung Quốc và Mỹ có thể thỏa thuận với nhau để chia sẻ quyền lực (như trước đây)? Liệu căng thẳng Trung-Việt có dẫn đến chiến tranh không, hay tiếp tục nhùng nhằng (không hòa không chiến) và Trung Quốc tiếp tục chiến thuật “cắt lát gặm dần” như “chuyện đã rồi”, không đánh vẫn thắng? Và cuối cùng, liệu sức ép của Mỹ và cộng đồng thế giới, cũng như quá trình dân chủ hóa tại Trung Quốc, có đủ sức xoay chuyển thái độ của Bắc Kinh, và hóa giải được xung đột lợi ích tại Biển Đông để biến thùng thuốc súng này thành khu vực hợp tác hòa bình và cùng khai thác?

    Một số chuyên gia về Trung Quốc theo thuyết “cái bẫy Thucydides” (Graham Allison đặt tên) cho rằng xung đột Trung-Mỹ là khó tránh khỏi, và Biển Đông có thể là cái ngòi nổ cho thế chiến thứ ba. Một số khác theo thuyết phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế (phái Neo-liberalism) lập luận rằng chiến tranh Trung-Mỹ rất khó xảy ra vì hai nền kinh tế khổng lồ này đã quá phụ thuộc vào nhau, nên khả năng cùng bị hủy diệt do chiến tranh là một sự răn đe hiệu quả. Số còn lại đưa ra nhiều giả thuyết và kịch bản khác nhau, chủ yếu dựa trên phân tích học thuật, thường làm rắc rối hơn là làm sáng tỏ vấn đề, và góp phần làm cho Biển Đông nóng hơn (trên mặt báo và các diễn đàn nghiên cứu) như thêm gia vị vào các thực đơn nghiên cứu.

    Graham Allison dựa vào thực tế lịch sử để rút ra quy luật, chủ yếu nhằm cảnh báo về một nguy cơ tiềm tàng khó tránh, để biết mà phòng tránh chứ không phải để kết luận như đinh đóng cột rằng chiến tranh nhất thiết sẽ xảy ra. Trong thế giới đầy biến động khôn lường và đầy biến số này, không ai có thể chắc chắn về một điều gì như hằng số.

    Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia trong thế giới phẳng là một thực tế hiển nhiên. Trong trường hợp quan hệ Trung-Mỹ thì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới càng lớn hơn. Nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau càng lớn thì mâu thuận cũng càng lớn và rủi ro cũng càng cao, rất khó kiểm soát. Sự khác biệt về hệ thống giá trị cơ bản giữa hai quốc gia này như mặt trăng và mặt trời. Trong khi Mỹ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển phương tiện truyền thông xã hội, thì Trung Quốc dẫn đầu thế giới trong việc kiểm soát nó. Trong khi Mỹ muốn Trung Quốc áp dụng hệ thống giá trị của mình, thì lãnh đạo Trung Quốc coi đó là lật đổ.

    Nếu cả hai xu hướng chính là “cái bẫy Thucydides” và “phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế” cùng tồn tại trong quan hệ Trung-Mỹ thì nó có thể triệt tiêu lẫn nhau, dẫn đến nhùng nhằng (không hòa không chiến) như chiến tranh lạnh kiểu mới (như xu hướng thứ ba). Nếu tình huống này thắng thế, thì Trung Quốc càng có lợi, tiếp tục “cắt lát” để gặm nhấm, biến thành “chuyện đã rồi”, và cuối cùng đạt được mục tiêu kiểm soát Biển Đông mà không tốn một viên đạn.

    Có lẽ cả Trung Quốc và Mỹ đều qúa bận tâm về các vấn đề chính trị nội bộ nên muốn hướng dư luận vào các vấn đề chính trị quốc tế. Họ cũng có thể gây căng thẳng tại vài nơi trên thế giới để thử gân nhau. Nhưng có lẽ lúc này cả hai đều không muốn và không sẵn sàng chiến tranh tổng lực. Kết quả có thể là chiến tranh lạnh kiểu mới, một dạng chiến tranh nửa dơi nửa chuột (hybrid warfare) hoặc mượn tay người khác (proxy warfare). Tuy nhiên, khi căng thẳng được đẩy lên thành kịch tính thì rủi ro càng lớn, và hai bên cần một cơ chế kiểm soát rủi ro để tránh sử dụng vũ lực. Dù sao, người ta cho rằng chiến tranh lạnh vẫn còn hơn là “Thế chiến thứ 3”.

    Trong khi chưa biết là chiến tranh lạnh hay thế chiến thứ ba, thì các học giả về Trung Quốc cho rằng màn chót của chế độ Trung Cộng có lẽ đã bắt đầu. Bề ngoài, Trung Quốc có vẻ giàu có và hùng mạnh, nhưng nó che đậy một hệ thống đã đổ vỡ bên trong. Không phải chỉ có ông Gordon Chang lâu nay dự báo “Trung Quốc sắp sụp đổ”, mà cả giáo sư Paul Krugman (được giải Nobel kinh tế) cũng báo động rằng “Trung Quốc đã kịch đường” (tới điểm giới hạn). Đáng chú ý là cả giáo sư David Shambaugh (một chuyên gia hàng đầu về Trung Quốc tại George Washington University) đã tuyên bố “màn chót của chế độ Trung Cộng đã bắt đầu”…

    Chiến dịch “đả hổ” chống tham nhũng quyết liệt của ông Tập Cận Bình để cứu chế độ (hay củng cố địa vị) đang đẩy màn chót đến nhanh hơn. Việc tăng cường đàn áp càng bộc lộ sự rạn nứt của hệ thống và đẩy nhanh quá trình sụp đổ. Thay vì mở cửa, ông Tập Cận Bình đang tăng cường kiểm soát gấp đôi. Giới tinh hoa ở Trung Quốc sẵn sàng ra đi hàng loạt nếu hệ thống bắt đầu sụp đổ. Theo Elizabeth Economy (Council on Foreign Relations) 2/3 (hoặc 64%) người Trung Quốc có tài sản trên 1.6 triệu USD đang di cư hoặc định như vậy.

    Anh em bạn thù: Làm sao để thoát?

    Định mệnh về địa lý

    Dù muốn hay không, Việt Nam vẫn phải sống cạnh người láng giềng khổng lồ, như một định mệnh về địa lý, không thể thay đổi được. Vì vậy về lâu về dài, Việt Nam phải tìm cách chung sống hòa bình tử tế với các nước láng giềng, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Là một nước nhỏ hơn, muốn bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình, Việt Nam phải thay đổi và mạnh lên để Trung Quốc phải tôn trọng. Nếu Việt Nam yếu đi trong khi Trung Quốc mạnh lên, thì chắc chắn Việt Nam sẽ mất độc lập, chủ quyền vì trở thành miếng mồi ngon cho tham vọng bành trướng bá quyền Trung Quốc. Đáng tiếc tình trạng hiện nay đúng là như vậy. Không phải Việt Nam chỉ mất đất biên giới và hải đảo tại Biển Đông, mà có thể sẽ mất tất cả, để “trở về tương lai” như thời kỳ Bắc thuộc.

    Tương quan lực lượng

    Trung Quốc đã trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới, đang thách thức vai trò số một của Mỹ, và muốn kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc không chỉ là con quái vật kinh tế, mà còn là con quái vật quân sự và ý thức hệ, với tham vọng bành trướng bá quyền như đầu gấu trong khu vực. Họ đang lợi dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hướng dân Trung Quốc vào “Giấc mộng Trung Hoa”, hòng che đậy những mâu thuẫn cơ bản đang đe dọa sự tồn tại của chế độ. Biển Đông chỉ là một mảnh trong ván cờ lớn của họ. Trung Quốc muốn giữ chặt Việt Nam trong cái bẫy ý thức hệ, như một nước chư hầu, không được thân với Mỹ và Phương Tây. Vì vậy, Việt Nam phải mạnh lên, để thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ đó. Nếu không mạnh được như Israel, thì chung ta cũng phải đi theo hướng đó. Để khai thác được cái mỏ người hơn 90 triệu dân, chúng ta phải nâng cao dân trí, đổi mới thể chế kinh tế và chính trị. Việc này không thể một sớm một chiều mà cần vài thập kỷ. (Đáng tiếc là chúng ta đã đánh mất ít nhất bốn thập kỷ).

    Chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

    Chủ nghĩa dân tộc luôn là động lực chính trong quan hệ quốc tế. Trong lịch sử, chủ nghĩa dân tộc Việt Nam và Trung Quốc đã chứng tỏ sức mạnh và sức sống tiềm tàng, như những đối thủ truyền kiếp. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bành trướng bá quyền là hiểm họa cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Khi chủ nghĩa dân tộc trở thành cực đoan và bá quyền, nó như con quái vật, xô đẩy các nước vào lò lửa chiến tranh. Chủ nghĩa dân tộc thường bị các chế độ độc tài thao túng để kích động lòng yêu nước và huy động dân chúng ủng hộ các tham vọng cực đoan của họ, hoặc che đậy những mâu thuẫn xã hội và xung đột nội bộ.

    Người Đức thông minh tài giỏi như vậy, nhưng cũng bị Hitler và đảng Quốc Xã cực đoan thao túng, dẫn đến thảm họa chiến tranh thế giới. Người Trung Hoa có bề dày lịch sử và văn hóa như vậy, nhưng cũng bị Mao và các phái cộng sản cực đoan thao túng, dẫn đến thảm họa Cách mạng Văn hóa. Người Khmer hiền lành như vậy, nhưng cũng bị Pol Pot và Khmer Đỏ thao túng, trở thành nạn nhân của họa diệt chủng. Nguy cơ xung đột tại Biển Đông là do chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa bành trướng bá quyền. Muốn tránh thảm họa chiến tranh và xung đột, cần phải nâng cao dân trí và dân chủ hóa.

    Dân chủ hóa

    Đối với các xã hội chuyển đổi (như Trung Quốc và Việt Nam), dân chủ hóa là quy luật tất yếu và quá trình cần thiết để xã hội phát triển. Quá trình này nhanh hay chậm tùy thuộc vào đặc điểm chính trị và xã hội của từng nước. Dân chủ hóa thường song hành với quá trình phát triển tầng lớp trung lưu và dân trí. Nó vừa là động lực để đổi mới và phát triển kinh tế, vừa là đối trọng để hạn chế chủ nghĩa cực đoan và cuồng tín. Do đặc điểm lịch sử, văn hóa phức tạp nên quan hệ Việt-Trung vừa bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bành trướng bá quyền, vừa bị trói buộc bởi ý thức hệ cộng sản cực đoan. Chỉ có dân chủ hóa và nâng cao dân trí thì Việt Nam và Trung Quốc mới có thể thoát khỏi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và nguy cơ xung đột. Sự phát triển bùng nổ của internet và truyền thông xã hội dựa trên kỹ thuật số gần đây có vai trò rất lớn trong quá trình này, như một cuộc cách mạng truyền thông.

    Cất cánh kinh tế

    Tuy Trung Quốc và Việt Nam có thể chế chính trị giống nhau (do Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo), nhưng kinh tế hai nước phát triển không giống nhau, làm quan hệ trở thành bất bình đẳng và lệ thuộc. Trong khi kinh tế Trung Quốc cất cánh với tốc độ tăng trưởng 2 con số trong suốt 3 thập kỷ, thì kinh tế Việt Nam không cất cánh lên được, thậm chí còn tụt hậu. Mặc dù đều độc tài và tham nhũng, nhưng Trung Quốc đã trỗi dậy mạnh mẽ và nhanh chóng theo kinh tế thị trường, trong khi Việt Nam vẫn duy trì “định hướng XHCN”, dựa vào các doanh nghiệp nhà nước tham nhũng và yếu kém làm chủ đạo, dẫn đến thua lỗ và phá sản (như Vinashin và Vinalines). Trong khi Trung Quốc vơ vét tài nguyên khoáng sản toàn cầu để nuôi con quái vật kinh tế khổng lồ, xuất khẩu hàng hóa ra khắp thế giới để tích lũy tư bản, thì Việt Nam không công nghiệp hóa và nội địa hóa sản xuất, chỉ bán rẻ tài nguyên khoáng sản lấy tiền nhập siêu hàng tiêu dùng. Đây cũng là một bi kịch quốc gia. Nếu không thay đổi cơ bản về thể chế kinh tế và chính trị, để hội nhập vào thị trường thế giới, thì Việt Nam khó tránh khỏi lệ thuộc vào Trung Quốc và mất chủ quyền tại Biển Đông.

    Đối tác chiến lược.

    Muốn đối phó với một láng giềng lớn chuyên bắt nạt (như Trung Quốc), Việt Nam phải liên kết với đối tác chiến lược mạnh hơn (như Mỹ) làm đối trọng và răn đe. Đó là quy luật tất yếu ai cũng biết, nhưng vận dụng như thế nào là một chuyện khác. Có nhiều bài học lịch sử. Ví dụ, không nên dựa hẳn vào bên này để chống bên kia, gây thù chuốc oán, như trước đây Việt Nam đã dựa hẳn vào Trung Quốc để chống Mỹ, rồi sau này lại dựa hẳn vào Liên Xô để chống Trung Quốc. Nhưng cũng không nên có quan hệ đối tác chiến lược với quá nhiều nước, mà chẳng nước nào có khả năng đương đầu với Trung Quốc để bênh vực Việt Nam. Nó giống như câu thành ngữ “lắm mối tối nằm không”. Việc giữ cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ bằng cách đi trên dây không phải là một chiến lược lâu dài. Càng không phải là một cái cớ để trì hoãn quan hệ đối tác chiến lược sống còn với Mỹ khi Trung Quốc đã lộ rõ bộ mặt thật là mối đe dọa chung đối với khu vực. Không nên nhầm lẫn mục tiêu chiến lược với phương tiện chiến thuật. Nếu không có quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ và gia nhập TPP, Việt Nam dễ bị Trung Quốc bắt nạt và đô hộ. Muốn có quan hệ đối tác chiến lược hiệu quả, trước hết người Việt Nam phải đoàn kết và tự cường mạnh lên, để các đối tác tôn trọng và tin cậy. Quan hệ đối tác chiến lược sẽ trở thành vô nghĩa nếu không dựa trên tầm nhìn chiến lược và lòng tin chiến lược.

    NQD

    6/2015

    Tham khảo

    “Hitting China’s Wall”, Paul Krugman, the New York Times, July 18, 2013
    “Pivot 2.0”, A Report of the CSIS Asia Program, CSIS, Jan 2015
    “The Coming Chinese Crackup”, David Shambaugh, the Wall Street Journal, March 6, 2015.
    “Revising US Grand Strategy Toward China”, Robert Blackwill & Ashley Tellis, Special Report, Council on Foreign Relations Press, April 2015
    “The Future of US-China Relations under Xi Jinping”, Kevin Rudd, Summary Report, Belfer Center, Harvard Kennedy School, April 2015,
    “A Tipping Point in US-China Relations is upon us”, David Lampton, speech at the Carter Center conference, May 6-7, 2015
    “Retaining America’s balance in the Asia-Pacific: Countering China’s Coercion in South East Asia”, Patrick Cronin, Crongressioanl Testimony, May 13, 2015
    “China’s Place in US Foreign Policy”, Karl Eikenberry, the American Interest, June 9, 2015
    “Can China Be Contained”, Andrew Browne, the Wall Street Journal, June 12, 2015

    Tác giả gửi cho viet-studies ngày 23-6-15

  15. Pingback: Nguyễn Hiến Lê học và viết | Tình yêu cuộc sống

  16. Pingback: GS Trần Văn Khê người Thầy âm nhạc | Tình yêu cuộc sống

  17. Pingback: Helen Keller người mù điếc huyền thoại | Tình yêu cuộc sống

  18. Pingback: Thạch Lam hạt ngọc đời nay | Tình yêu cuộc sống

  19. Pingback: Đêm nhớ Phan Huỳnh Điểu Phan Nhân | Tình yêu cuộc sống

  20. Pingback: Quà tặng cuộc sống | Khát khao xanh

  21. Pingback: Biển Đông vạn dặm | Tình yêu cuộc sống

  22. Pingback: Đọc lại và suy ngẫm 2 | Tình yêu cuộc sống

  23. Pingback: Bà Đen Tây Ninh Bà Đen Đồng Nai | Tình yêu cuộc sống

  24. Pingback: Trần Thánh Tông | Tình yêu cuộc sống

  25. Pingback: Ngày mới yêu thương | Khát khao xanh

  26. Pingback: Ngày mới yêu thương | Tình yêu cuộc sống

  27. Pingback: HOÀNG KIM LONG : GS TRẦN VĂN KHÊ , NGƯỜI THẦY NHẠC VIỆT | TRẦN VĂN KHÊ / MUSIC & LIFE/ ÂM NHẠC & ĐỜI SỐNG/ MUSIQUE & VIE

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s